Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Đâu Rồi Kỷ Niệm Xưa
Lê Ngọc Châu
(Vài kỷ niệm ghi vội để riêng tặng T. B. Dũng) Học xong lớp đệ ngũ chúng tôi bịn rịn từ giã nhau trong mùa bải trường và bùi ngùi chia tay vì từ đây phải xa mái trường Cường Để cũ với bao nhiêu kỷ niệm êm đẹp của tuổi học trò mộng mơ mà chúng tôi đã trao gởi cho nhau trong suốt ba năm chung học tại nơi này.
Sang năm học mới, lũ nam sinh chúng tôi kéo nhau về ngôi trường Cường Để mới, vừa xây xong ở đường Cường Để, phía sau Tòa Tỉnh Qui Nhơn. Còn nữ sinh thì chuyển về trường Nữ Trung Học gần bải bể Qui Nhơn, cạnh nhà thương cũ.
Từ lớp đệ tứ, ngoài những bạn cũ tôi còn có thêm một số bạn đực rựa mới được sát nhập từ lớp đệ ngũ 2 để thay thế cho “những bông hồng" đã bị cắt đi và cắm vào bình hoa của Trường Nữ Trung Học. Lớp học bây chừ toàn là con trai nên bạn bè tôi tha hồ ngỗ nghịch không còn e dè nữa. Tôi thì quá ngây thơ khờ khạo nên tương đối ngoan, chỉ nghịch ngầm nên được thầy cô thương lắm, nhất là cô Hoa phu nhân của cố Hiệu Trưởng Ân, đã dành cho tôi nhiều thương quý. Nói chung bạn bè tôi khá nhiều, gồm nhiều thành phần, giàu cũng có mà nghèo cũng có; lựu đạn cũng có và chơn chất thật thà cũng có, nhưng người bạn thân nhất của tôi là Dũng.
Tôi quen Dũng lúc còn học đệ ngũ, khi Dũng theo cha mẹ vì lý do nghề nghiệp phải rời bỏ đất thần kinh Huế vào Qui Nhơn vì mẹ Dũng là người gốc Bình Định. Không hiểu tại sao chỉ sau vài tuần nhập học tôi lại có cảm tình rất tốt đối với Dũng và từ đó chúng tôi trở thành đôi bạn chí thân. Theo tôi nghĩ chắc hẳn vì bản tính „quê mùa chơn chất" nên chúng tôi hạp nhãn nhau và thân nhau rất dễ dàng.
Từ đó, khi rảnh rỗi, tôi hay xách xe gắn máy chạy lên chơi với Dũng, nhà ở trên khu xe lửa trên bến xe QN để hít thở không khí trong lành của miền núi. Ngược lại, Dũng cũng hay lấy Honda chạy xuống chơi với tôi để hít thở không khí vùng biển mặn. Chính vì thân nhau, hay lui tới thăm nhau như vậy, nên giữa năm đệ ngũ, khi tôi bị đau nặng hầu như nằm nhà ít đi học, thì Dũng là người bạn cung cấp cho tôi đầy đủ bài vở. Nhờ vậy tôi cũng theo kịp bạn bè cùng lớp không khó khăn sau khi bình phục. Tình bạn giữa Dũng và tôi ngày càng thêm đậm đà mật thiết và thỉnh thoảng Dũng kể cho tôi nghe về kỷ niệm, về những tháng năm còn học ở Huế và tôi lúc đó chỉ biết ừ ừ ghi nhận vì thú thật, tôi chưa bao giờ có dịp thăm Huế, có chăng chỉ biết xứ thần kinh thơ mộng qua những giờ học sử địa mà cô thầy vốn gốc người xứ Huế giảng dạy, kể lại.
Hết năm đệ tứ, chúng tôi cùng nhau đi thi Trung Học (kỳ thi cuối cùng vì sau đó thì học sinh được miễn thi). Hai chúng tôi may mắn không bị trượt vỏ chuối, đều đậu khá cao. Phần thưởng của ba má tôi dành cho tôi là chuyến đi chơi thăm xứ Huế vào dịp hè năm đó. Gia đình tôi có bà con quen ở Huế nên chuyện ăn ở không có gì trở ngại. Tôi ở Huế hơn một tháng và tha hồ xách xe gắn máy tự do chạy đi chu du đó đây và nhờ vậy tôi biết thêm về xứ thần kinh nhiều hơn như đã từng nghe, mới có dịp tận mắt thấy cái vẻ đẹp thùy mị của những cô gái Huế với chiếc nón bài thơ để hiểu thêm rằng tại sao tục ngữ ta vẫn thường hay nói:
“Học trò trong Quảng ra thi,
Thấy cô gái Huế chân đi không đành“
Mà cũng đúng thật, dù còn nhỏ tuổi nhưng tôi cũng có đủ khả năng nhận xét rằng vẻ nhu mì, duyên dáng của các cô gái Huế có sức quyến rũ hơn so với vẻ thuỳ mị của những người con gái của các miền khác.
Và thật không sai như Dũng vẫn thường kể, tôi có dịp thưởng thức những món ăn nổi tiếng của xứ Huế: như bún bò Mụ Rớt, cháo lòng Đồng Ý, bánh khoái Cửa Thượng Tứ, cơm hến ở Cồn Hến, bún thịt nướng Kim Long, bánh bèo Ngự Bình đó là chưa kể đến những nem, tré, nhản lồng và rất nhiều món ăn thuần tuý đặc biệt của xứ thần kinh thơ mộng v.v…
Ở đó tôi mới có dịp bơi lội và biết được nước "sông An Cựu nắng đục mưa trong“; có dịp nhìn thấy Phú vân Lâu, thăm Nam Giao, Bến Ngự; mới có những ngày chạy tà tà dọc theo giòng sông Hương thở hít không khí trong lành của buổi sáng, vừa ngắm cảnh, ngắm thuyền bè xuôi ngược trên sông, ngang qua cầu Trường Tiền vào thăm Thành Nội với những di tích lịch sử ngàn năm còn đó; có dịp ghé thăm thôn Vĩ Dạ với người đẹp hoa khôi mang tên Th. một thời vang danh mà tôi tình cờ gặp trên lần dạo phố PBC với anh bạn; có dịp cuối tuần chạy ra cửa Thuận tắm biển, ăn kem và ngắm nhìn những cố gái Huế duyên dáng thướt tha qua lại như là “muốn làm chết lòng“ của những chàng trai hùng trong những bộ quân phục chỉ có 24 giờ phép ngắn ngủi đang cùng bạn bè ra đó ngồi thở hít khí trời của vùng biển mặn.
Thời gian qua mau thật, thấm thoát mà đã hơn 40 năm! Những kỷ niệm trên tuy vẫn còn sống trong tiềm thức của mình nhưng mãi cho đến hôm nay tôi vẫn chỉ biết ôm ấp nó trong lòng với ước mơ đơn sơ là có dịp nào đó tôi sẽ được sống thật sự và trọn vẹn lại với kỷ niệm tuổi thơ ngày xưa đã qua!
Hết hè, chúng tôi lên học lớp đệ tam. Vì cùng chọn ban B lại có cùng sinh ngữ chính nên Dũng và tôi may mắn được xếp học cùng một lớp, ngồi cạnh nhau vào một trong những hàng ghế đầu của lớp. Dũng hơn tôi gần hai tuổi, nên tâm trạng lúc nào cũng phập phồng lo sợ, lỡ thi rớt Tú Tài là phải rời nhà trường để thi hành nghĩa vụ người trai trong thời chiến chinh.
Vì lớn tuổi hơn tôi nên có lẽ con tim Dũng cũng biết rung động sớm. Riêng tôi, hồi đó hầu như rất vô tư, chỉ biết cắp sách đến trường. Một hôm, Dũng vui miệng tâm sự cùng tôi là Dũng thầm yêu H, cũng học ngang lớp có nhà ở gần đường Cường Để mà tôi cũng quen biết. Nhưng tình yêu bất thành nên Dũng đâm ra chán nản. Tôi khuyên can mãi nên Dũng cũng theo tôi học xong đệ nhị và cùng đi thi Tú Tài I với tôi. Nếu nhớ không lầm thì năm đó số người thi đậu chẳng nhiều lắm nhưng trong số những thí sinh may mắn cũng có tên Dũng và tôi. Đây cũng là lần chót thi Tú Tài I của giới học sinh thời đó.
Có lẽ buồn và thất vọng vì tình, Dũng nộp đơn xin tình nguyện đi Thủ Đức sau khi đậu xong Tú Tài I. Trong lúc đang học Đệ nhất thì có lệnh gọi nhập ngũ nên Dũng bỏ học, thu xếp hành trang từ giã tôi lên đường vào Nam. Không hiểu tại sao khoá Thủ Đức năm đó bị hoãn lại vài tháng nên Dũng lại bay về Qui Nhơn, ở đó chờ lệnh gọi nhập quân trường. Tôi được dịp tâm sự với Dũng, phân tích đủ điều và cuối cùng Dũng chấp nhận đề nghị của tôi là còn nước còn tát, rán học lấy Tú Tài II biết đâu có lúc cần đến.
Từ đó Dũng xem như thường trực ăn, ở nhà tôi và tôi từ cương vị thằng bạn thân ngày nào nay bỗng nhiên đóng vai “ông thầy bất đắc dĩ“ của Dũng cho tới ngày thi Tú Tài II. Tôi, “ông thầy không chuyên nghiệp“ phải gồng mình chỉ lại cho Dũng tất cả những gì tôi biết, nhất là những môn quan trọng như Toán, Lý Hóa mà tôi may mắn thu thập, nắm vững được do sự dìu dắt rất tận tình của quí Thầy Tấn, Thầy Tài và Thầy Quan trong suốt chuổi ngày tôi theo học ở Cường Để. Còn những môn khác thì thú thật, chúng tôi cũng chỉ học cho có lệ thôi, với hy vọng là đủ điểm qua cầu. Hết giờ học chung, chúng tôi ban ngày rủ nhau ra biển gần đó tắm, tối thì nữa đêm xách xe chạy ra quán phở ven biển góc đường Lê Lợi/Nguyễn Huệ (nếu tôi nhớ không lầm!) ăn phở, gặm xí quách lấy sức về học tiếp. Cuối tuần, hai đứa rủ nhau dạo phố Gia Long, đi ăn hủ tiếu, ăn kem gần khu nhà hát lớn để tìm quên những giây phút buồn phiền nói chung từ nhiều phương diện. Thắm thoát đến ngày thi, chúng tôi cùng bạn bè bút mực đi trả nợ đèn sách. Đến ngày xem kết quả, hai chúng tôi, nhất là Dũng rất phập phồng … để rồi Dũng bạn tôi vui mừng, hân hoan lộ ra trên khuôn mặt khi xét thấy có tên T.B. Dũng nằm trong những người may mắn. Tôi đậu khá hơn và sau một thời gian ngắn hai đứa cùng rủ nhau vào Sài Gòn hoa lệ, cũng xôn xao xuôi ngược ghi danh vào Đại Học, để lấy le với cái nhãn hiệu Sinh Viên mới toanh đó mà!
Vài tháng sau tôi được diễm phúc xuất dương du học. Còn Dũng thì nhập quân trường, chọn nghiệp lính. Từ đó chúng tôi hai đứa kẻ Đông người Tây, Âu Á nghìn trùng xa cách, chỉ biết nhau qua những lá thư từ quân trường Thủ Đức hay từ KBC. Ngày ra trường Thủ Đức, tôi chỉ biết là Dũng được gắn lon Chuẩn Uý như bao nhiêu bạn đồng ngũ khác và qua vài lá thư tôi mới rõ là Dũng được cử đi đó đây trên nhiều nẻo đường đất nước.
Thắm thoát hơn 6 năm trôi qua từ ngày Dũng ra trường, tháng 3.1975 tôi lần đầu tiên về Việt Nam thăm ba má và gia đình. Vừa đến Sài Gòn vài ngày, tôi đã nghe tin Ban mê Thuộc thất thủ làm ý định ở lại chơi vài ba tháng để đi du lịch từ Nam ra đến vùng Bắc Trung Phần, ghé thăm lại đất thần kinh Huế của tôi không thành. Tôi ra thăm gia đình, thăm QN và bạn bè. Ở đó chỉ vỏn vẹn có hơn một tuần và vì tình hình ngày trở nên căng thẳng, đêm thì súng đại bác của CS bắn vào thị xã, nhiều cuộc đụng độ xảy ra quanh vùng QN, xuống cả gần Cầu Đôi nên ba má lo sợ bị kẹt bảo tôi phải bay vào lại Sài Gòn đổi vé để về lại trời Âu. Tại Sài Gòn, tôi gặp lại Dũng, bạn tôi. Gặp nhau giữa lúc tình thế đã đến hồi gay cấn, khi mà Dũng chỉ có vài giờ phép ngắn ngủi và riêng tôi cũng có nhiều chuyện phải giải quyết nên chúng tôi đâu có dịp nói chuyện nhiều với nhau, chỉ tâm sự ngắn gọn trong quán Cà phê ở đường Lý Thái Tổ. Lúc đó Dũng mang cấp bậc Đại Úy. Tôi còn nhớ, Dũng đã nói trước khi chia tay là lần sau tôi về chắc sẽ có hoa mai bạc trên áo! Tôi chia tay bạn với câu từ giả rất đơn giản hy vọng gặp lại mày trong hai năm tới, vì lúc đó tôi và ý trung nhân của tôi có ý định về VN làm đám cưới vào 1977. Dũng trở lại với nghiệp lính, nay đây mai đó. Còn tôi bay về lại trời Âu sau khi TT Thiệu vừa ban xong lệnh cấm thanh niên trên 17 tuổi xuất ngoại, sau khi Huế, Đà Nẵng, Pleiku, Kontum rút quân di tản và sau khi có vụ lộn xộn vì bất đồng ý kiến giữa Trung Tướng Tư Lệnh vùng II với cấp lãnh đạo của VNCH xảy ra tại Dinh Độc Lập !
Vừa có mặt tại Âu Châu xong thì vài tuần sau Sài Gòn thất thủ. Miền Nam Việt Nam sau khi Big Minh đầu hàng, ra lệnh buông súng thì VNCH từ đó bị xoá tên trên chính trường thế giới. Thủ đô Sài Gòn, một thời được mệnh danh là “Hòn ngọc viễn đông“ bị đổi tên, nhưng trong riêng tôi lúc nào Sài Gòn cũng hiện hữu. Từ đó tôi không nghe tin tức gì của Dũng nữa cả. Thân nhân tôi chỉ cho biết là Dũng cũng chịu chung số phận như bao nhiêu quân cán chính khác: “bị bắt đi học tập cải tạo“. Dũng là con trai duy nhất, nên kể từ ngày phải đi tù cải tạo thì gia đình Dũng xuống giốc hoàn toàn và nghe đâu ba má Dũng đã phải bán ngôi nhà xây sau nầy ở đường Đào duy Từ, gần khu phố QN mà tôi ngày xưa vẫn thường ghé chơi. Không biết gia đình Dũng dọn đi đâu cũng như không biết rõ số phận Dũng như thế nào?
Bạn bè tôi kẻ mất người còn trước và sau 30.4.1975. Tôi đã nghe biết như vậy sau khi gặp lại một số bạn cũ tại nước ngoài khi họ may mắn vượt khỏi tử thần tìm đến bờ tự do vào khoảng cuối thập niên 70. Tôi có hỏi đến Dũng, nhưng vẫn không nhận được một tin chính xác nào cả về Dũng và gia đình!
Đã hơn 32 năm chưa một lần về thăm quê hương, từ 1975! Thêm lần nữa mùa Xuân trên xứ người lại đến và thêm một lần nữa kỷ niệm về Dũng chợt dâng đầy trong trí tưởng của tôi.
Lê Ngọc Châu
Lê Ngọc Châu
(Vài kỷ niệm ghi vội để riêng tặng T. B. Dũng) Học xong lớp đệ ngũ chúng tôi bịn rịn từ giã nhau trong mùa bải trường và bùi ngùi chia tay vì từ đây phải xa mái trường Cường Để cũ với bao nhiêu kỷ niệm êm đẹp của tuổi học trò mộng mơ mà chúng tôi đã trao gởi cho nhau trong suốt ba năm chung học tại nơi này.
Sang năm học mới, lũ nam sinh chúng tôi kéo nhau về ngôi trường Cường Để mới, vừa xây xong ở đường Cường Để, phía sau Tòa Tỉnh Qui Nhơn. Còn nữ sinh thì chuyển về trường Nữ Trung Học gần bải bể Qui Nhơn, cạnh nhà thương cũ.
Từ lớp đệ tứ, ngoài những bạn cũ tôi còn có thêm một số bạn đực rựa mới được sát nhập từ lớp đệ ngũ 2 để thay thế cho “những bông hồng" đã bị cắt đi và cắm vào bình hoa của Trường Nữ Trung Học. Lớp học bây chừ toàn là con trai nên bạn bè tôi tha hồ ngỗ nghịch không còn e dè nữa. Tôi thì quá ngây thơ khờ khạo nên tương đối ngoan, chỉ nghịch ngầm nên được thầy cô thương lắm, nhất là cô Hoa phu nhân của cố Hiệu Trưởng Ân, đã dành cho tôi nhiều thương quý. Nói chung bạn bè tôi khá nhiều, gồm nhiều thành phần, giàu cũng có mà nghèo cũng có; lựu đạn cũng có và chơn chất thật thà cũng có, nhưng người bạn thân nhất của tôi là Dũng.
Tôi quen Dũng lúc còn học đệ ngũ, khi Dũng theo cha mẹ vì lý do nghề nghiệp phải rời bỏ đất thần kinh Huế vào Qui Nhơn vì mẹ Dũng là người gốc Bình Định. Không hiểu tại sao chỉ sau vài tuần nhập học tôi lại có cảm tình rất tốt đối với Dũng và từ đó chúng tôi trở thành đôi bạn chí thân. Theo tôi nghĩ chắc hẳn vì bản tính „quê mùa chơn chất" nên chúng tôi hạp nhãn nhau và thân nhau rất dễ dàng.
Từ đó, khi rảnh rỗi, tôi hay xách xe gắn máy chạy lên chơi với Dũng, nhà ở trên khu xe lửa trên bến xe QN để hít thở không khí trong lành của miền núi. Ngược lại, Dũng cũng hay lấy Honda chạy xuống chơi với tôi để hít thở không khí vùng biển mặn. Chính vì thân nhau, hay lui tới thăm nhau như vậy, nên giữa năm đệ ngũ, khi tôi bị đau nặng hầu như nằm nhà ít đi học, thì Dũng là người bạn cung cấp cho tôi đầy đủ bài vở. Nhờ vậy tôi cũng theo kịp bạn bè cùng lớp không khó khăn sau khi bình phục. Tình bạn giữa Dũng và tôi ngày càng thêm đậm đà mật thiết và thỉnh thoảng Dũng kể cho tôi nghe về kỷ niệm, về những tháng năm còn học ở Huế và tôi lúc đó chỉ biết ừ ừ ghi nhận vì thú thật, tôi chưa bao giờ có dịp thăm Huế, có chăng chỉ biết xứ thần kinh thơ mộng qua những giờ học sử địa mà cô thầy vốn gốc người xứ Huế giảng dạy, kể lại.
Hết năm đệ tứ, chúng tôi cùng nhau đi thi Trung Học (kỳ thi cuối cùng vì sau đó thì học sinh được miễn thi). Hai chúng tôi may mắn không bị trượt vỏ chuối, đều đậu khá cao. Phần thưởng của ba má tôi dành cho tôi là chuyến đi chơi thăm xứ Huế vào dịp hè năm đó. Gia đình tôi có bà con quen ở Huế nên chuyện ăn ở không có gì trở ngại. Tôi ở Huế hơn một tháng và tha hồ xách xe gắn máy tự do chạy đi chu du đó đây và nhờ vậy tôi biết thêm về xứ thần kinh nhiều hơn như đã từng nghe, mới có dịp tận mắt thấy cái vẻ đẹp thùy mị của những cô gái Huế với chiếc nón bài thơ để hiểu thêm rằng tại sao tục ngữ ta vẫn thường hay nói:
“Học trò trong Quảng ra thi,
Thấy cô gái Huế chân đi không đành“
Mà cũng đúng thật, dù còn nhỏ tuổi nhưng tôi cũng có đủ khả năng nhận xét rằng vẻ nhu mì, duyên dáng của các cô gái Huế có sức quyến rũ hơn so với vẻ thuỳ mị của những người con gái của các miền khác.
Và thật không sai như Dũng vẫn thường kể, tôi có dịp thưởng thức những món ăn nổi tiếng của xứ Huế: như bún bò Mụ Rớt, cháo lòng Đồng Ý, bánh khoái Cửa Thượng Tứ, cơm hến ở Cồn Hến, bún thịt nướng Kim Long, bánh bèo Ngự Bình đó là chưa kể đến những nem, tré, nhản lồng và rất nhiều món ăn thuần tuý đặc biệt của xứ thần kinh thơ mộng v.v…
Ở đó tôi mới có dịp bơi lội và biết được nước "sông An Cựu nắng đục mưa trong“; có dịp nhìn thấy Phú vân Lâu, thăm Nam Giao, Bến Ngự; mới có những ngày chạy tà tà dọc theo giòng sông Hương thở hít không khí trong lành của buổi sáng, vừa ngắm cảnh, ngắm thuyền bè xuôi ngược trên sông, ngang qua cầu Trường Tiền vào thăm Thành Nội với những di tích lịch sử ngàn năm còn đó; có dịp ghé thăm thôn Vĩ Dạ với người đẹp hoa khôi mang tên Th. một thời vang danh mà tôi tình cờ gặp trên lần dạo phố PBC với anh bạn; có dịp cuối tuần chạy ra cửa Thuận tắm biển, ăn kem và ngắm nhìn những cố gái Huế duyên dáng thướt tha qua lại như là “muốn làm chết lòng“ của những chàng trai hùng trong những bộ quân phục chỉ có 24 giờ phép ngắn ngủi đang cùng bạn bè ra đó ngồi thở hít khí trời của vùng biển mặn.
Thời gian qua mau thật, thấm thoát mà đã hơn 40 năm! Những kỷ niệm trên tuy vẫn còn sống trong tiềm thức của mình nhưng mãi cho đến hôm nay tôi vẫn chỉ biết ôm ấp nó trong lòng với ước mơ đơn sơ là có dịp nào đó tôi sẽ được sống thật sự và trọn vẹn lại với kỷ niệm tuổi thơ ngày xưa đã qua!
Hết hè, chúng tôi lên học lớp đệ tam. Vì cùng chọn ban B lại có cùng sinh ngữ chính nên Dũng và tôi may mắn được xếp học cùng một lớp, ngồi cạnh nhau vào một trong những hàng ghế đầu của lớp. Dũng hơn tôi gần hai tuổi, nên tâm trạng lúc nào cũng phập phồng lo sợ, lỡ thi rớt Tú Tài là phải rời nhà trường để thi hành nghĩa vụ người trai trong thời chiến chinh.
Vì lớn tuổi hơn tôi nên có lẽ con tim Dũng cũng biết rung động sớm. Riêng tôi, hồi đó hầu như rất vô tư, chỉ biết cắp sách đến trường. Một hôm, Dũng vui miệng tâm sự cùng tôi là Dũng thầm yêu H, cũng học ngang lớp có nhà ở gần đường Cường Để mà tôi cũng quen biết. Nhưng tình yêu bất thành nên Dũng đâm ra chán nản. Tôi khuyên can mãi nên Dũng cũng theo tôi học xong đệ nhị và cùng đi thi Tú Tài I với tôi. Nếu nhớ không lầm thì năm đó số người thi đậu chẳng nhiều lắm nhưng trong số những thí sinh may mắn cũng có tên Dũng và tôi. Đây cũng là lần chót thi Tú Tài I của giới học sinh thời đó.
Có lẽ buồn và thất vọng vì tình, Dũng nộp đơn xin tình nguyện đi Thủ Đức sau khi đậu xong Tú Tài I. Trong lúc đang học Đệ nhất thì có lệnh gọi nhập ngũ nên Dũng bỏ học, thu xếp hành trang từ giã tôi lên đường vào Nam. Không hiểu tại sao khoá Thủ Đức năm đó bị hoãn lại vài tháng nên Dũng lại bay về Qui Nhơn, ở đó chờ lệnh gọi nhập quân trường. Tôi được dịp tâm sự với Dũng, phân tích đủ điều và cuối cùng Dũng chấp nhận đề nghị của tôi là còn nước còn tát, rán học lấy Tú Tài II biết đâu có lúc cần đến.
Từ đó Dũng xem như thường trực ăn, ở nhà tôi và tôi từ cương vị thằng bạn thân ngày nào nay bỗng nhiên đóng vai “ông thầy bất đắc dĩ“ của Dũng cho tới ngày thi Tú Tài II. Tôi, “ông thầy không chuyên nghiệp“ phải gồng mình chỉ lại cho Dũng tất cả những gì tôi biết, nhất là những môn quan trọng như Toán, Lý Hóa mà tôi may mắn thu thập, nắm vững được do sự dìu dắt rất tận tình của quí Thầy Tấn, Thầy Tài và Thầy Quan trong suốt chuổi ngày tôi theo học ở Cường Để. Còn những môn khác thì thú thật, chúng tôi cũng chỉ học cho có lệ thôi, với hy vọng là đủ điểm qua cầu. Hết giờ học chung, chúng tôi ban ngày rủ nhau ra biển gần đó tắm, tối thì nữa đêm xách xe chạy ra quán phở ven biển góc đường Lê Lợi/Nguyễn Huệ (nếu tôi nhớ không lầm!) ăn phở, gặm xí quách lấy sức về học tiếp. Cuối tuần, hai đứa rủ nhau dạo phố Gia Long, đi ăn hủ tiếu, ăn kem gần khu nhà hát lớn để tìm quên những giây phút buồn phiền nói chung từ nhiều phương diện. Thắm thoát đến ngày thi, chúng tôi cùng bạn bè bút mực đi trả nợ đèn sách. Đến ngày xem kết quả, hai chúng tôi, nhất là Dũng rất phập phồng … để rồi Dũng bạn tôi vui mừng, hân hoan lộ ra trên khuôn mặt khi xét thấy có tên T.B. Dũng nằm trong những người may mắn. Tôi đậu khá hơn và sau một thời gian ngắn hai đứa cùng rủ nhau vào Sài Gòn hoa lệ, cũng xôn xao xuôi ngược ghi danh vào Đại Học, để lấy le với cái nhãn hiệu Sinh Viên mới toanh đó mà!
Vài tháng sau tôi được diễm phúc xuất dương du học. Còn Dũng thì nhập quân trường, chọn nghiệp lính. Từ đó chúng tôi hai đứa kẻ Đông người Tây, Âu Á nghìn trùng xa cách, chỉ biết nhau qua những lá thư từ quân trường Thủ Đức hay từ KBC. Ngày ra trường Thủ Đức, tôi chỉ biết là Dũng được gắn lon Chuẩn Uý như bao nhiêu bạn đồng ngũ khác và qua vài lá thư tôi mới rõ là Dũng được cử đi đó đây trên nhiều nẻo đường đất nước.
Thắm thoát hơn 6 năm trôi qua từ ngày Dũng ra trường, tháng 3.1975 tôi lần đầu tiên về Việt Nam thăm ba má và gia đình. Vừa đến Sài Gòn vài ngày, tôi đã nghe tin Ban mê Thuộc thất thủ làm ý định ở lại chơi vài ba tháng để đi du lịch từ Nam ra đến vùng Bắc Trung Phần, ghé thăm lại đất thần kinh Huế của tôi không thành. Tôi ra thăm gia đình, thăm QN và bạn bè. Ở đó chỉ vỏn vẹn có hơn một tuần và vì tình hình ngày trở nên căng thẳng, đêm thì súng đại bác của CS bắn vào thị xã, nhiều cuộc đụng độ xảy ra quanh vùng QN, xuống cả gần Cầu Đôi nên ba má lo sợ bị kẹt bảo tôi phải bay vào lại Sài Gòn đổi vé để về lại trời Âu. Tại Sài Gòn, tôi gặp lại Dũng, bạn tôi. Gặp nhau giữa lúc tình thế đã đến hồi gay cấn, khi mà Dũng chỉ có vài giờ phép ngắn ngủi và riêng tôi cũng có nhiều chuyện phải giải quyết nên chúng tôi đâu có dịp nói chuyện nhiều với nhau, chỉ tâm sự ngắn gọn trong quán Cà phê ở đường Lý Thái Tổ. Lúc đó Dũng mang cấp bậc Đại Úy. Tôi còn nhớ, Dũng đã nói trước khi chia tay là lần sau tôi về chắc sẽ có hoa mai bạc trên áo! Tôi chia tay bạn với câu từ giả rất đơn giản hy vọng gặp lại mày trong hai năm tới, vì lúc đó tôi và ý trung nhân của tôi có ý định về VN làm đám cưới vào 1977. Dũng trở lại với nghiệp lính, nay đây mai đó. Còn tôi bay về lại trời Âu sau khi TT Thiệu vừa ban xong lệnh cấm thanh niên trên 17 tuổi xuất ngoại, sau khi Huế, Đà Nẵng, Pleiku, Kontum rút quân di tản và sau khi có vụ lộn xộn vì bất đồng ý kiến giữa Trung Tướng Tư Lệnh vùng II với cấp lãnh đạo của VNCH xảy ra tại Dinh Độc Lập !
Vừa có mặt tại Âu Châu xong thì vài tuần sau Sài Gòn thất thủ. Miền Nam Việt Nam sau khi Big Minh đầu hàng, ra lệnh buông súng thì VNCH từ đó bị xoá tên trên chính trường thế giới. Thủ đô Sài Gòn, một thời được mệnh danh là “Hòn ngọc viễn đông“ bị đổi tên, nhưng trong riêng tôi lúc nào Sài Gòn cũng hiện hữu. Từ đó tôi không nghe tin tức gì của Dũng nữa cả. Thân nhân tôi chỉ cho biết là Dũng cũng chịu chung số phận như bao nhiêu quân cán chính khác: “bị bắt đi học tập cải tạo“. Dũng là con trai duy nhất, nên kể từ ngày phải đi tù cải tạo thì gia đình Dũng xuống giốc hoàn toàn và nghe đâu ba má Dũng đã phải bán ngôi nhà xây sau nầy ở đường Đào duy Từ, gần khu phố QN mà tôi ngày xưa vẫn thường ghé chơi. Không biết gia đình Dũng dọn đi đâu cũng như không biết rõ số phận Dũng như thế nào?
Bạn bè tôi kẻ mất người còn trước và sau 30.4.1975. Tôi đã nghe biết như vậy sau khi gặp lại một số bạn cũ tại nước ngoài khi họ may mắn vượt khỏi tử thần tìm đến bờ tự do vào khoảng cuối thập niên 70. Tôi có hỏi đến Dũng, nhưng vẫn không nhận được một tin chính xác nào cả về Dũng và gia đình!
Đã hơn 32 năm chưa một lần về thăm quê hương, từ 1975! Thêm lần nữa mùa Xuân trên xứ người lại đến và thêm một lần nữa kỷ niệm về Dũng chợt dâng đầy trong trí tưởng của tôi.
Lê Ngọc Châu
Nắng Chiều Và Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn

Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn. Vào ngày này cách đây bốn năm, Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã lặng lẽ ra đi về cõi vĩnh hằng, để lại cho nền âm nhạc Việt Nam nhạc phẩm bất hủ “Nắng Chiều” và ba bốn mươi nhạc phẩm nổi tiếng khác.
Bà Nguyễn thị Nga, hiền thê của Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã thực hiện hai CD “Lá Rơi BênThềm” và “Lê Trọng Nguyễn Collection” để lưu lại dòng nhạc trữ tình của Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn. Nhiều buổi ra mắt hai CD này đã được tổ chức ở Cali và Paris, Pháp.
Được biết Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn sinh năm 1926 tại Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Ông rất hiếu học về văn hóa và rất yêu thích âm nhạc. Đa số các nhạc sĩ thời trước thường tự học nhạc hay qua những người thân quen. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn học nhạc qua sách vỡ của Pháp, và ông học hàm thụ ở trường âm nhạc Pháp Ecole Universelle. Ông thường gởi tác phẩm sang Pháp để trao đổi về kỹ thuật viềt nhạc. Đến năm 1952 thì Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn sáng tác nhạc phẩm “Sóng Đà Giang”. Qua nhạc phẩm đó ông được nhận vào Hội Nhạc sĩ Pháp S.A.C.E.M. Đây là bước đầu tiên và mở rộng cuộc đời sáng tác âm nhạc của ông.
Tác phẩm kế tiếp là bản “Ngày Mai Trời Lại Sáng” sáng tác năm 1946, bản này là kỷ niệm thời thanh niên yêu nước. Từ 1953 đến 1959 ông có nhiều tác phẩm ra đời trong đó có nhạc phẩm “Nắng Chiều”, “Bến Giang Đầu”…
Tác giả đã nói nhiều với những người bạn thân về bản “Nắng Chiều”. Nhiều người tưởng ông viết bài này ở Hội An vì Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã ghi lại trong âm nhạc nhiều cảnh đẹp cũng như những cảm xúc, mơ ước, tình yêu tuổi trẻ của ông ở Hội An, nhưng bản “Nắng Chiều” được sáng tác ở Cung Nội Huế. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn có lần đến Cung Nội Huế với Nhạc sĩ Vũ Đức Duy, ở đây Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn gặp lại một người bạn thân quen từ trước, trong giây phút đầy xúc cảm đó, trong nắng của Cung Nội Huế, nhạc phẩm Nắng Chiều được sáng tác.
Trong dòng nhạc của Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn trước năm 1975, tác phẩm nổi tiếng nhất là bản “Nắng Chiều”, nhưng tác giả yêu thích nhất là bản "Sao Đêm” và “Lá Rơi Bên Thềm”. Bản “Sao Đêm “có nét nhạc cổ điển Tây Phương, nội dung bản này cho thấy có một sự đam mê lãng mạn. Nguồn cảm hứng để viết bản “Lá Rơi Bên Thềm” là cuộc sống đầu đời của ông trong đó có Ca sĩ Minh Trang, Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Theo Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, Nhà Thờ Huyện Sĩ rất nhỏ nhưng là nơi đẹp nhất, vì ông có một kỷ niệm đẹp ở đây. Khi qua đây ông đã sáng tác bài “Chiều Bên Giáo Đường”.
Sau năm 1975, tình cảm giữa những người nghệ sĩ còn ở lại như Mai Thảo, Phạm Đình Chương và Lê Trọng Nguyễn đã thương nhau như anh em. Sau khi Mai Thảo và Phạm Đình Chương đi hải ngoại, Lê Trọng Nguyễn rất nhớ bạn, từ nguồn cảm hứng đó Ông đã sáng tác nhạc phẩm “Sóng Nước Viễn Phương”. Bản này phổ nhạc từ một bài thơ của Thẩm Oánh viết cho các bạn đã ra đi.
Về bản nhạc “Bến Giang Đầu “thì một nhà xuất bản đề nghị đặt tên “Nắng Chiều 2” nhưng Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn không muốn đổi tên bản nhạc vì đó là một kỷ niệm dễ thương khác của ông ở một thôn xóm đẹp, nên thơ, trên dòng sông êm đềm, bên giàn hoa tím và một người bạn gái đã lên xe hoa.
Khoảng năm 1958 có một đoàn nhạc Nhật Bản Toho Geino sang Việt Nam. Trưởng đoàn muốn một ca sĩ của đoàn hát nhạc Việt Nam. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền đưa ra 12 bản nhạc, và bản “Nắng Chiều” được đoàn nhạc Nhật Bản chọn. Ca sĩ Midori Satuki rất nổi tiếng đã trình bày nhạc phẩm “Nắng Chiều” lần đầu tiên ở Hội Chợ Thị Nghè và sau đó bản nhạc được phát thanh trên các Đài Việt Nam và Đông Kinh.
Đến năm 1960 thì đoàn nhạc Trung Hoa Dân Quồc đến Việt Nam với mục đích trao đổi văn hóa Á Châu. Trong đoàn nhạc đó Nữ Ca sĩ Ki Lo Ha không hề quen biết nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn nhưng đã biết nhạc phẩm “Nắng Chiều”. Cô muốn gặp Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, và trên đường trở về Đài Loan, cô đã viết bài này lại bằng lời Hoa . Cô đã trình bày bản này ở Đài Loan và sau đó bản nhạc được mệnh danh là “Bản tình ca đẹp nhất” ở Đài Loan trong thập niên 1970.
Nhà Thơ Du Tử Lê, Nhạc sĩ Nguyễn Hiền cùng với sự khuyến khích của nhiều anh em, tuyển tập nhạc Lê Trọng Nguyễn cùng với hai CD "Lá Rơi Bên Thềm”, “Lê Trọng Nguyễn Collection” được thực hiện và ra mắt vào dịp giỗ đầu của Lê Trọng Nguyễn năm 2005.
Sau đó một buổi ra mắt CD “Lá Rơi Bên Thềm” được ra mắt ở Paris ngày 11 Tháng 11, 2006 và năm 2007.
Về hoài bảo thì Nhạc sĩ Lê trọng Nguyễn muốn để lại cho đời những gì ông hiểu biết, những gì ông cảm nghĩ và ghi lại trong ba bốn chục tác phẩm, rõ ràng nhất là ông muốn để lại thế hệ sau kỹ thuật sáng tác nhạc. Ước muốn này thể hiện rất kiên nhẫn từ năm 2000-2003, ông đã ghi lại những hiểu biết về kỹ thuật viết nhạc qua một quyển sách là “Nghệ Thuật Viết Nhạc”. Quyẻn sách được chuẩn bị xong, ông đưa cho cô con gái đánh máy, có nhiều chỗ cần sửa lại thì ông bị trở bệnh nặng và ra đi. Có thể quyển sách sẽ được xuất bản trong một thời gian gần đây.
Qua những bản nhạc “Nắng Chiều”, “Bến Giang Đầu” chúng ta cảm thấy ở Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn một tình yêu thật nhẹ nhàng, trên quê hương xinh đẹp. Qua ca khúc “Lá Rơi Bên Thềm” và “Chiều Bên Giáo Đường” chúng ta cảm thông được những thao thức của tuổi trẻ và qua bản “Sao Đêm, “Cung Điệu Buồn” tác giả đã trình bày những u hoài, nhớ nhung, những hoài niệm không nguôi.
Cố Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã ra đi, để lại cho vườn hoa âm nhạc Việt Nam nhiều bông hoa hương sắc thăm tươi, đóng góp một phần không nhỏ cho nền văn học nghệ thuật dân tộc.
VIDEO CÁC CA SĨ TRÌNH BÀY NHẠC LÊ TRỌNG NGUYỄN:
TUYẾT MAI

Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn. Vào ngày này cách đây bốn năm, Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã lặng lẽ ra đi về cõi vĩnh hằng, để lại cho nền âm nhạc Việt Nam nhạc phẩm bất hủ “Nắng Chiều” và ba bốn mươi nhạc phẩm nổi tiếng khác.
Bà Nguyễn thị Nga, hiền thê của Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã thực hiện hai CD “Lá Rơi BênThềm” và “Lê Trọng Nguyễn Collection” để lưu lại dòng nhạc trữ tình của Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn. Nhiều buổi ra mắt hai CD này đã được tổ chức ở Cali và Paris, Pháp.
Được biết Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn sinh năm 1926 tại Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Ông rất hiếu học về văn hóa và rất yêu thích âm nhạc. Đa số các nhạc sĩ thời trước thường tự học nhạc hay qua những người thân quen. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn học nhạc qua sách vỡ của Pháp, và ông học hàm thụ ở trường âm nhạc Pháp Ecole Universelle. Ông thường gởi tác phẩm sang Pháp để trao đổi về kỹ thuật viềt nhạc. Đến năm 1952 thì Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn sáng tác nhạc phẩm “Sóng Đà Giang”. Qua nhạc phẩm đó ông được nhận vào Hội Nhạc sĩ Pháp S.A.C.E.M. Đây là bước đầu tiên và mở rộng cuộc đời sáng tác âm nhạc của ông.
Tác phẩm kế tiếp là bản “Ngày Mai Trời Lại Sáng” sáng tác năm 1946, bản này là kỷ niệm thời thanh niên yêu nước. Từ 1953 đến 1959 ông có nhiều tác phẩm ra đời trong đó có nhạc phẩm “Nắng Chiều”, “Bến Giang Đầu”…
Tác giả đã nói nhiều với những người bạn thân về bản “Nắng Chiều”. Nhiều người tưởng ông viết bài này ở Hội An vì Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã ghi lại trong âm nhạc nhiều cảnh đẹp cũng như những cảm xúc, mơ ước, tình yêu tuổi trẻ của ông ở Hội An, nhưng bản “Nắng Chiều” được sáng tác ở Cung Nội Huế. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn có lần đến Cung Nội Huế với Nhạc sĩ Vũ Đức Duy, ở đây Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn gặp lại một người bạn thân quen từ trước, trong giây phút đầy xúc cảm đó, trong nắng của Cung Nội Huế, nhạc phẩm Nắng Chiều được sáng tác.
Trong dòng nhạc của Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn trước năm 1975, tác phẩm nổi tiếng nhất là bản “Nắng Chiều”, nhưng tác giả yêu thích nhất là bản "Sao Đêm” và “Lá Rơi Bên Thềm”. Bản “Sao Đêm “có nét nhạc cổ điển Tây Phương, nội dung bản này cho thấy có một sự đam mê lãng mạn. Nguồn cảm hứng để viết bản “Lá Rơi Bên Thềm” là cuộc sống đầu đời của ông trong đó có Ca sĩ Minh Trang, Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Theo Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, Nhà Thờ Huyện Sĩ rất nhỏ nhưng là nơi đẹp nhất, vì ông có một kỷ niệm đẹp ở đây. Khi qua đây ông đã sáng tác bài “Chiều Bên Giáo Đường”.
Sau năm 1975, tình cảm giữa những người nghệ sĩ còn ở lại như Mai Thảo, Phạm Đình Chương và Lê Trọng Nguyễn đã thương nhau như anh em. Sau khi Mai Thảo và Phạm Đình Chương đi hải ngoại, Lê Trọng Nguyễn rất nhớ bạn, từ nguồn cảm hứng đó Ông đã sáng tác nhạc phẩm “Sóng Nước Viễn Phương”. Bản này phổ nhạc từ một bài thơ của Thẩm Oánh viết cho các bạn đã ra đi.
Về bản nhạc “Bến Giang Đầu “thì một nhà xuất bản đề nghị đặt tên “Nắng Chiều 2” nhưng Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn không muốn đổi tên bản nhạc vì đó là một kỷ niệm dễ thương khác của ông ở một thôn xóm đẹp, nên thơ, trên dòng sông êm đềm, bên giàn hoa tím và một người bạn gái đã lên xe hoa.
Khoảng năm 1958 có một đoàn nhạc Nhật Bản Toho Geino sang Việt Nam. Trưởng đoàn muốn một ca sĩ của đoàn hát nhạc Việt Nam. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền đưa ra 12 bản nhạc, và bản “Nắng Chiều” được đoàn nhạc Nhật Bản chọn. Ca sĩ Midori Satuki rất nổi tiếng đã trình bày nhạc phẩm “Nắng Chiều” lần đầu tiên ở Hội Chợ Thị Nghè và sau đó bản nhạc được phát thanh trên các Đài Việt Nam và Đông Kinh.
Đến năm 1960 thì đoàn nhạc Trung Hoa Dân Quồc đến Việt Nam với mục đích trao đổi văn hóa Á Châu. Trong đoàn nhạc đó Nữ Ca sĩ Ki Lo Ha không hề quen biết nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn nhưng đã biết nhạc phẩm “Nắng Chiều”. Cô muốn gặp Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, và trên đường trở về Đài Loan, cô đã viết bài này lại bằng lời Hoa . Cô đã trình bày bản này ở Đài Loan và sau đó bản nhạc được mệnh danh là “Bản tình ca đẹp nhất” ở Đài Loan trong thập niên 1970.
Nhà Thơ Du Tử Lê, Nhạc sĩ Nguyễn Hiền cùng với sự khuyến khích của nhiều anh em, tuyển tập nhạc Lê Trọng Nguyễn cùng với hai CD "Lá Rơi Bên Thềm”, “Lê Trọng Nguyễn Collection” được thực hiện và ra mắt vào dịp giỗ đầu của Lê Trọng Nguyễn năm 2005.
Sau đó một buổi ra mắt CD “Lá Rơi Bên Thềm” được ra mắt ở Paris ngày 11 Tháng 11, 2006 và năm 2007.
Về hoài bảo thì Nhạc sĩ Lê trọng Nguyễn muốn để lại cho đời những gì ông hiểu biết, những gì ông cảm nghĩ và ghi lại trong ba bốn chục tác phẩm, rõ ràng nhất là ông muốn để lại thế hệ sau kỹ thuật sáng tác nhạc. Ước muốn này thể hiện rất kiên nhẫn từ năm 2000-2003, ông đã ghi lại những hiểu biết về kỹ thuật viết nhạc qua một quyển sách là “Nghệ Thuật Viết Nhạc”. Quyẻn sách được chuẩn bị xong, ông đưa cho cô con gái đánh máy, có nhiều chỗ cần sửa lại thì ông bị trở bệnh nặng và ra đi. Có thể quyển sách sẽ được xuất bản trong một thời gian gần đây.
Qua những bản nhạc “Nắng Chiều”, “Bến Giang Đầu” chúng ta cảm thấy ở Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn một tình yêu thật nhẹ nhàng, trên quê hương xinh đẹp. Qua ca khúc “Lá Rơi Bên Thềm” và “Chiều Bên Giáo Đường” chúng ta cảm thông được những thao thức của tuổi trẻ và qua bản “Sao Đêm, “Cung Điệu Buồn” tác giả đã trình bày những u hoài, nhớ nhung, những hoài niệm không nguôi.
Cố Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã ra đi, để lại cho vườn hoa âm nhạc Việt Nam nhiều bông hoa hương sắc thăm tươi, đóng góp một phần không nhỏ cho nền văn học nghệ thuật dân tộc.
VIDEO CÁC CA SĨ TRÌNH BÀY NHẠC LÊ TRỌNG NGUYỄN:
TUYẾT MAI

Giọt Nước Mắt của Hillary Clinton Hôm 7 tháng 1, Hillary Clinton đã không kìm được những giọt nước mắt trong giây phút tuyệt vọng. Sang ngày hôm sau 8 tháng 1, bà đã có lý do để khóc một cách sung sướng. Việc bộc lộ cảm xúc của cựu đệ nhất phu nhân có vẻ như đã có tác dụng khi làm thay đổi chiều hướng của cuộc bầu cử.
Khi thượng nghĩ sĩ tiểu bang New York thực sự cảm nhận được nỗi đau của riêng mình thì phản ứng của bà trước kết quả bỏ phiếu ở New Hamsphire sẽ như thể là người ta đã phát hiện ra cuộc sống trên sao Hoả. Sự kinh ngạc thực sự pha lẫn với niềm vui sướng.
Không riêng gì bà, nhiều học giả, nhà phân tích và các công ty thăm dò ý kiến cũng hoàn toàn bất ngờ trước cú trở lại ngoạn mục của cựu đệ nhất phu nhân Hillary Clinton. Rõ ràng, với đà chiến thắng ở Iowa, ứng cử viên da màu Obama có mọi lý do để tiếp tục giành chiến thắng ở cuộc bỏ phiếu thứ hai. Các cuộc trưng cầu dân ý đều cho thấy ông Obama đang dẫn đầu. Thậm chí, một số cuộc trưng cầu còn cho ứng của viên này lợi thế 2 con số trước ứng cử viên Hillary. Nhưng bất ngờ đã xảy ra. Bà Clinton đã giành chiến thắng sít sao trước đối thủ Obama với số phiếu chênh lệch 39% so với 36%.
Vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến cú lội ngược dòng ngoạn mục của nữ ứng cử viên duy nhất trong cuộc bầu cử tổng thống? Hầu hết mọi người đều cho rằng đó là do giây phút xúc động của bà Hillary và những nỗ lực của Bill Clinton. Cựu Tổng thống Clinton đã tức giận nói rằng báo chí đã không công bằng khi theo dõi chặt chẽ nhất cử nhất động của vợ ông trong khi lại tỏ ra quá dễ dàng đối với ứng cử viên Obama. Và dường như các cử tri New Hampshire không thích bị báo chí điều khiển khi bảo họ nên bỏ phiếu cho ai. Tuy nhiên, có lẽ nguyên nhân quan trọng nhất đem đến chiến thắng cho bà Hillary đơn giản lại chỉ là những giọt nước mắt và giọng nói nghẹn ngào đầy xúc động của chính bà.
Dù là nguyên nhân nào đi chăng nữa thì cư dân mạng vẫn đang băn khoăn với một loạt câu hỏi: Liệu nước mắt của bà Hillary có phải là những giọt nước mắt thật sự? Liệu đây có phải là một trò đánh trận giả nhằm vào một nhóm đối tượng? Liệu có phải Bill đã bảo Hillary làm vậy? Hay Hillary thực sự suy sụp vì những căng thẳng của cuộc chạy đua?
Có thể nói, cựu đệ nhất phu nhân Hillary Clinton gần như đã tuyệt vọng và kiệt sức khi tờ Bưu điện New York đăng trên trang nhất tờ báo này số ra ngày 7 tháng 1 hình ảnh bà Hillary đang kêu lên: HOANG MANG! Người ta cho rằng bà đã thua trong cuộc đua của cả cuộc đời.
Và đây không chỉ là ý kiến của những nhà báo có đầu óc hẹp hòi - những người đã nhảy múa ăn mừng trên nấm mồ chính trị của bà Hillary kể từ khi có kết quả cuộc bỏ phiếu ở Iowa.
Đó còn là sự công nhận từ chính phe của bà Clinton. Một Chelsea câm lặng như thể cô vừa ăn một bao tải chanh, và thậm chí một Bill thường ngày vốn luôn có tài hùng biện đã xua tay ra dấu từ chối nói chuyện với báo chí và cử tri. "Đây là câu chuyện thần kỳ lớn nhất mà tôi đã từng chứng kiến," cựu Tổng thống Bill Clinton nói về chiến thắng của Obama.
Tuy nhiên, mọi sự đã đảo ngược hoàn toàn khi bà Hillary không kiềm chế được cảm xúc. Những giọt nước mắt đã đem đến chiến thắng bất ngờ và ngoạn mục cho cựu đệ nhất phu nhân đang mong muốn trở thành nữ tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ.
Có thể nói, khi những người phụ nữ sắt đá khóc, sức mạnh của những giọt nước mắt của họ quả thật là kỳ diệu.
Khi bà Hillary khóc, mặc dù là khóc thương bản thân, nhưng nó đã trở thành những giọt nước mắt của CHÚNG TA. Vì thế, các cử tri là nữ giới đã đổ xô về các điểm bỏ phiếu ở New Hampshire để chìa tay ra giúp đỡ người chị em của mình.
Nếu như ở Iowa nhiều phụ nữ bỏ phiếu cho ông Obama vì tình yêu thì ở New Hampshire phụ nữ đến với bà Hillary để thể hiện sự đoàn kết. Michelle, một nữ thư ký tạm thời đứng bên ngoài điểm bỏ phiếu ở Concord, phát biểu: "Họ đẩy bà ấy đi quá xa. Bà ấy cần sự giúp đỡ của chúng tôi!" Và những người phụ nữ như thế đã cứu ứng cử viên Hillary khỏi một sự thất bại thứ hai liên tiếp, đem đến cho bà hy vọng mới để tiếp tục con đường chạy đua vào tòa Bạch Ốc.
Hải Yến - (Theo BBC, Economist)
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Câu đối chào Mậu Tý
Chào Xuân Mậu Tý xui không sa hũ nếp
Rơi trúng Tam Sa , chắc hẳn cháy nhà ra mặt chuột
Tiễn chú Đinh Heo,tưởng phải bỏ lò quay
Quay nhằm hải đảo, ai dè lợn béo lòng lại thiu.
-Kiệt sức về hưu , ten nít vẫn chơi ,võ cứ luyện ,văn cư ôn , tham chính một vài câu lếu láo.
Cao sơn Kỳ mộng liệt oanh thuở ấy,nguyện với trời , thệ với đất,hồi hương dăm bữa kiếm đô la
---Tấn chốt gặp xe rình, dũng khí dung không mà xẹp xuống
Ngựa lên nhằm tượng bập, thông minh triết lý bậy vài câu.
Chào Xuân Mậu Tý xui không sa hũ nếp
Rơi trúng Tam Sa , chắc hẳn cháy nhà ra mặt chuột
Tiễn chú Đinh Heo,tưởng phải bỏ lò quay
Quay nhằm hải đảo, ai dè lợn béo lòng lại thiu.
-Kiệt sức về hưu , ten nít vẫn chơi ,võ cứ luyện ,văn cư ôn , tham chính một vài câu lếu láo.
Cao sơn Kỳ mộng liệt oanh thuở ấy,nguyện với trời , thệ với đất,hồi hương dăm bữa kiếm đô la
---Tấn chốt gặp xe rình, dũng khí dung không mà xẹp xuống
Ngựa lên nhằm tượng bập, thông minh triết lý bậy vài câu.

Giã biệt nhạc sĩ Châu Kỳ- đón xuân này tôi nhớ xuân xưa
Trần Củng Sơn Mỗi năm vào dịp gần Tết, trong chương trình phát thanh những ca khúc mừng Xuân, tôi chọn một số bài tiêu biểu, trong đó có Ly Rượu Mừng( Ngày Xuân nâng chén ta chúc nơi nơi…), Đón Xuân( Xuân đã đến rồi gieo rắc ngàn hồn hoa xuống đời…), Anh Cho Em Mùa Xuân( Anh cho em mùa Xuân , nụ hoa vàng mới nở…), Cánh Thiệp Đầu Xuân( Hoa lá nở thắm đẹp làn môi hồng,Xuân đến rồi đây nào ai biết không…) và những bài khác tùy theo lúc.
Đa số những bài Xuân ca nghe rộn ràng không khí năm mới vì ở Việt Nam đón Xuân cũng có nghĩa là đón Tết âm lịch. Có một bản cũng với tựa đề mùa Xuân, nhưng mới hát lên câu đầu tiên,lòng người nghe bỗng chùng xuống: “ Đón Xuân này tôi nhớ Xuân xưa.Một chiều xuân em đã hẹn hò...”
Thập niên 1970, thời còn ở quê nhà, lúc còn trẻ nghe bài hát này tôi thấy không gì đặc biệt, nhưng khi qua hải ngọai sống kiếp lưu vong và tuổi đời càng cao,mới thấm thía bản Đón Xuân Này Tôi Nhớ Xuân Xưa của nhạc sĩ Châu Kỳ.
Thời gian như dòng nước chảy,trôi mãi không bao giờ trở lại,mùa xuân cũng như tuổi trẻ cùng những kỷ niệm hoa mộng, nhìn lại, là những vốn sống quí giá của một kiếp người.
Chỉ cần hai câu đầu vừa nêu, bài hát đã thành công, chinh phục trái tim thính giả. Ai mà không có một mối tình không trọn vẹn thuở thanh niên,để thỉnh thỏang nhớ về làm trái tim rung động.
Tin tức người nhạc sĩ thuộc thế hệ đầu tiên nền tân nhạc Việt đã ra đi ngày 6 tháng 1 năm 2008, tại Sài Gòn, hưởng thọ 86 tuổi, loan truyền khắp nơi. Mới năm ngóai, Châu Kỳ qua Mỹ,thu hình trên băng nhạc Thúy Nga, tâm tình cùng khán thính giả bốn phương về những nhạc phẩm của ông.
Có lẽ tuổi già đầu óc không còn nhớ nhiều nên trong cùng một bản Giọt Lệ Đài Trang, ông đã kể lý do sáng tác khác nhau trên hai lần được phỏng vấn.
Oâng đã ở Nam Cali thăm bằng hữu,người ái mộ nhưng lại không ghé San Jose chỉ cách sáu giờ lái xe. Và tôi cũng không có dịp để gặp gỡ người nhạc sĩ đàn anh, có một số bài hát được ưa thích, dù chỉ một lần.
Cái tên Châu Kỳ đến với tôi qua bản Sao Chưa Thấy Hồi Aâm. Thập niên 60,lúc mới mò mẫm từng nốt nhạc trên cây đàn ghi ta, tôi mượn bài nhạc này và bỏ ra nhiều giờ để tập. Thời đó chưa có CD để nghe mà bắt chước hát theo như bây giờ, cho nên người biết đàn có lợi thế được các em tới nhờ đàn, tập cho hát, và nhạc sĩ có uy thế được ca sĩ nể trọng.
“ Theo năm tháng hòai mong, thư gởi đi mấy lần ,đợi hồi âm chưa thấy… Một tuần một lần thư , kể nghe chuyện mưa nắng,kể nghe niềm ước mơ…”
Lời ca của bài hát gợi lại một thuở năm nào, thời đó điện thọai rất hiếm chỉ dành cho viên chức chính quyền và người giàu, cho nên kẻ ở cách xa nhau chỉ liên lạc bằng những cánh thư nhờ bưu điện chuyển dùm. Và chữ viết nắn nót hay tháu vội bằng tay là những ký hiệu thương yêu trao cho người nhận đọc.
Với điệu Bolero quyến rũ theo tiếng rải nhịp nhàng trên sáu dây đàn ghi ta, Châu Kỳ đã kể câu chuyện tình nhung nhớ của đôi lứa và bài hát thành công.
Một bài khác cũng mang dấu ấn của Châu Kỳ là Con Đường Xưa Em Đi : “ Con đường xưa em đi, vàng lên mái tóc thề, ngỏ hồn qua tái tê, anh làm thơ vu quy, khách quađường lắng nghe, chuyện tình ta đã ghi…” Với tựa đề vừa thơ mộng vừa ăn khách, lời ca dễ hiểu, ghi đúng tâm trạng nhiều kẻ thất tình từng đưa đón người yêu qua con đường tình sử, và cũng dễ hát nên ca khúc này rất nổi tiếng và được lưu truyền lâu dài. Mấy chục năm trước, nhiều ca sĩ đã hát ở Việt Nam và hiện tại các trung tâm vẫn thu băng lại bài này với các tiếng hát đương thời.
Cũng xin kể thêm rằng nhạc sĩ Trúc Phương có bản Con Đường Mang Tên Em: “ Trở lại chuyện hai chúng mình, khi em với anh…” cũng nổi tiếng nhưng bài này khó hát hơn , đòi hỏi người ca phải có khả năng mới diễn tả được. Tựa đề hai bài hơi giống nhau, thỉnh thỏang có người lẫn lộn.
Và con đường nào có em đi qua cũng đều mang tên em. Nhiều nhạc sĩ đã dùng chủ đề này để sáng tác vẽ lên hình ảnh nào là trên bước chân em âm thầm lá đổ, con đường tình em đi ngang qua cỗng trường, con đường em đi về nhà chồng đúng hay sai, con đường nhà em tuy gần mà xa đi hòai không tới..
Thời còn trung học, mùa văn nghệ thường có tiết mục múa và bài Tiếng Hát Dân Chàm được các cô nữ sinh dùng để thể hiện vũ điệu của dân tộc Chiêm Thành : “ Ngồi nhìn trăng xế, sương khói mờ ngập tràn non nước Chàm”, nét nhạc của Châu Kỳ nghe nỉ non.
Khi bản Mùa Thu Chết của Phạm Duy : “ ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo, em nhớ cho mùa thu đã chết rồi ” được tung ra thì có một bản khác đáp lại rằng “ mùa thu ơi nghe nói rằng em đã chết. Xin đừng nói thu chết rồi, không thu vẫn sống, đem hình bóng cho cuộc đời.” Đó là bản Mùa Thu Còn Đó của Châu Kỳ, hiểu câu chuyện ca nhạc sử thì mới thấy thú vị về bài hát này.
Thời còn tuyển lựa ca sĩ do đài phát thanh Sài Gòn tổ chức thập niên 60, truyền đi khắp miền Nam cho các thính giả mọi ngõ ngách từ thôn quê đến thành thị,từ mũi Cà Mau cho đến cầu Hiền Lương sông Bến Hải, một số thí sinh lựa bản Em Không Buồn Nữa Chị Ơi “ Em không buồn nữa chị ơi, vì đau thương quen rồi, tìm vui trong nụ cười” để trình diễn, tôi còn nhớ tới giờ.
Có một bản cũng khá đặc biệt của Châu Kỳ là Trở Về “ Về đây nhìn mây nước bơ vơ, về đây nhìn cây lá xác xơ” mang âm hưởng tiền chiến Việt Nam và cũng là một bản mang nét nhạc mà người ta cho là “sang” ít có của ông so với nhiều bản khác mang tính chất “ sến” của cùng tác giả. Kể như vậy để cho thấy sự phong phú cá tính trong dòng nhạc của người nhạc sĩ đất Huế, cố đô, với truyền thống văn hóa nổi tiếng, nhưng ông vẫn có những lời ca rất bình dân đi vào đại chúng.
Khi viết những dòng về ông, tôi vẫn chưa xem cuốn băng hình chủ đề Châu Kỳ để biết ông tâm tình rasao. Những dòng này chỉ là những kỷ niệm sinh họat ca nhạc của riêng mình, có liên quan tới những ca khúc của ông. Nghe nói ông có khỏang hai trăm sáng tác trong sự nghiệp viết nhạc để lại cho đời.
Một con người khi lớn lên phải chịu ảnh hưởng của thời đại mình đang sống, đã phải đọc những truyện, thơ; nghe những bài hát thuở còn trẻ và ít nhiều chịu ảnh hưởng thuận hay nghịch từ các tác phẩm đó.
Trong ký ức ca nhạc của mình, đã có vài câu hát của nhạc sĩ Châu Kỳ thỉnh thỏang lướt qua. Đang gần tới mùa Tết Mậu Tý 2008, nhạc Xuân đã văng vẳng.
Năm nay khi bản Đón Xuân Này Tôi Nhớ Xuân Xưa cất lên, ngòai cảm giác nuối tiếc thời gian vẫn thường chất ngất khi nghe bài này, còn vương vấn lời chia tay mãi mãi tác giả: nhạc sĩ Châu Kỳ.
Trần Củng Sơn
San Jose- Hoàng Hoa Cốc,12-01-2008

Giọt Nước Mắt... Vì Niềm Kiêu Hảnh: Người Việt Nam
Dương Nguyệt Ánh Tôi là người thù dai. Thù dai có cái xấu và có cái tốt. Tôi nghĩ thù dai cũng có điểm tốt. Thù dai để không quên những chuyện xấu người khác làm cho mình. Không thù dai thì làm sao Nguyễn Trãi nằm gai nếm mật suốt mười năm để trả thù nhà, để đền nợ xã tắc, giang sơn ?

Dương Nguyệt Ánh và nhà báo Trương Sĩ Lương. Thù từ năm 1975 đến nay thì có dai thật.
Năm 1975, với đợt tị nạn đầu tiên đến Mỹ, tờ Newsweek đăng một bài viết của Shana Alexander về những người Việt được đưa sang Mỹ tị nạn. Người đàn bà này lo ngại là những người Việt Nam tị nạn chưa biết sử dụng cái máy giặt, cái máy sấy, không biết Michael Angelo là ai, thì làm sao sống được ở Mỹ.
Ðó là những câu nhục mạ những người Việt quá nặng.
Nhưng chuyện không biết dùng cái máy giặt thì cũng dễ hiểu. Kìa, như thái tử Naruhito của hoàng gia Nhật, mãi đến khi sang học tại Merton College ở Oxford, ông hoàng tử này mới biết dùng cái máy giặt để khoe nhắng lên. Vậy thì dùng cái máy giặt không phải là chuyện đáng kiêu hãnh. Không biết dùng cái máy giặt thì cũng không phải là điều xấu xa gì như bài báo ngu xuẩn của Shana Alexander đã úp mở.
Từ đó, năm nào, cứ đến tháng Tư là tôi lại nhớ đến bài báo của Shana Alexander, và cứ nghĩ đến những câu nhục mạ ấy là lại run người lên vì giận.

Dương Nguyệt Ánh và nữ luật sư Thùy Dương. Nhưng người Pháp vẫn nói là trả thù cũng như thức ăn nguội, ăn lạnh mới ngon. Shana Alexander nghỉ viết từ lâu, không biết đang ở đâu để rảnh rang kiếm nàng, mời nàng đi đến thăm vài ba đại học Mỹ, ghé lại Little Saigon chơi cho bỏ những ngày cơ cực và để cho nàng thấy tận mắt những người nàng khinh bỉ ấy đã sống như thế nào.
Ðó là cách trả thù vậy.
Nhưng chưa bao giờ tôi thấy hả dạ được như cuối tuần qua, khi nhận được tờ Newsweek, tờ báo 32 năm trước từng đăng bài báo của Shana Alexander, tôi đọc được bài viết của George Will trong mục The Last Word ở trang 84 số báo NewsWeek đề ngày 17 tháng 12 năm 2007.
George Will dùng nguyên một trang để nói về đóng góp của một người Việt Nam , một phụ nữ Việt, một trong những người Việt lếch thếch kéo nhau sang Mỹ và bị Shaan Alexander đem ra nhục mạ trong bài báo.
Tôi có thể nói là chưa bao giờ tôi đọc được một bài báo viết về một người khác như George Will đã viết.
Nếu bài báo ấy do một cây bút Việt Nam viết thì người đọc cũng dễ dàng coi đó là chuyện hai con mèo khen nhau có những cái đuôi dài.
Nhưng bài viết này là của George Will một trong những cây bút bình luận chính trị bảo thủ, lỗi lạc nhất của báo chí Mỹ, thì nó là một bài báo giá trị. Mười lần Shana Alexander cũng không thể bác được điều đó.
Bài báo của George Will viết về Dương Nguyệt Ánh, mẹ đẻ ra một loại bom mói tên là Thermobaric. Chương trình nghiên cứu được hạn cho ba năm để hoàn thành, nhưng chỉ sau 67 ngày, bà Ánh đã thành công , chế ra được loại bom mới để dùng cho mặt trận Afghanistan. Loại bom mới này công hiệu hơn tất cả các loại bom khác của thế giới. Bom ném vào hang đá ở Afghanistan không công phá ngay như các loại bom cũ, mà sức nóng và sức nổ của bom ở lại lâu, tiến sâu vào các hang hốc khiến khả năng công phá và hủy diệt của bom hơn hẳn mọi loại võ khí khác.
Nước Mỹ đã phải cám ơn bà Dương Nguyệt Ánh về loại võ khi mới này. Tờ Washington Post mới đây có viết một bài khá dài về bà Ánh nhân dịp bà được trao tặng một huy chương về những thành quả và đóng góp của bà cho nước Mỹ.
George Will kể lại cảnh bà tiến ra trước máy vi âm, không đọc một bài viết sẵn, mà ứng khẩu trước một cử tọa rất đông đảo smoking, nơ đen trang trọng. Bà Dương Nguyệt Ánh nói rằng 32 năm trước, bà tới nước Mỹ với tư cách một người tị nạn, hai bàn tay trắng và một túi hành trang đầy những ước mơ tan nát.
Nhưng nước Mỹ, với bà, là một thiên đàng, không phải vì vẻ đẹp và tài nguyên phong phú, mà vì người dân Mỹ vị tha, rộng lượng đã giúp gia đình của bà khi mới tới Nước Mỹ và giúp hàn gắn những thương tích trong tâm hồn, đem lại lòng tin vào con người và cảm hứng cho công việc của bà. Bà muốn tặng lại danh dự của tấm huân chương bà nhận được cho 58 ngàn người Mỹ đã tử trận tại Việt Nam và hơn 260 ngàn chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh để cho những người như bà có được cơ hội sống trong tự do. Bà xin Thượng đế ban phúc cho những người sẵn sàng chết cho tự do, và nhất là những người sẵn sàng chết cho tự do của những người khác. Bà cám ơn nước Mỹ.
George Will kết bài viết của ông bằng mấy câu này: Cám ơn Dương Nguyệt Ánh. Xin cô hiểu là cô đã trả món nợ mà cô nói cô nợ của nước Mỹ, cô đã hoàn trả đầy đủ, không thiếu một chút nào. Cô đã trả hết món nợ đó, và luôn cả tiền lời nữa.
Tiền lời, là đóng góp rất lớn của Dương Nguyệt Ánh cho tự do và an ninh của nước Mỹ, quốc gia đã mở cửa đón gia đình của bà.
Khi Bài Hát Trở Về

Trần Trung Đạo Nếu phải xếp hạng những bài hát được sinh ra và lớn lên cùng với thăng trầm của đất nước, với thao thức của thanh niên, sinh viên, học sinh, với tâm trạng của những người lính trẻ trong cuộc chiến tranh tự vệ đầy gian khổ ở miền Nam trước đây, tôi tin, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang sẽ là một trong những bài ca được xếp hàng đầu.
Không giống như một số hành khúc quen thuộc trong giới trẻ trước 1975 như Dậy mà đi của Nguyễn Xuân Tân, Tổ quốc ơi ta đã nghe của La Hữu Vang thiết tha, mạnh mẽ nhưng chỉ giới hạn trong các phong trào sinh viên tranh đấu và ngay khi ra đời đã bị Đảng sử dụng cho mục đích tuyên truyền trong các trường đại học, các đô thị miền Nam, hay Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy chan chứa tình dân tộc, kêu gọi người người thương mến nhau nhưng thiếu đi cái hùng khí, sôi nổi của tuổi trẻ, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của Nguyễn Đức Quang không dừng lại ở nỗi đau của đất nước mà còn nói lên cả những bi thương, công phẫn, thách đố của tuổi trẻ Việt Nam trước những tàn phá của chiến tranh và tham vọng của con người. Trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam, Việt Nam quê hương ngạo nghễ nổi bật lên như một biểu tượng cho khát vọng của một dân tộc đã vượt qua bao nhiêu gian nan khốn khó để tồn tại và vươn lên cùng các dân tộc khác trên mặt đất nầy.
Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm
Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loàng xoàng.
Lời nhạc của Việt Nam quê hương ngạo nghễ tương đối khó nhớ nhưng nhờ cách sử dụng ngôn ngữ trẻ trung, mạnh mẽ, tượng thanh, tượng hình như “tiếng cười ngạo nghễ”, “xích kêu loàng xoàng”, “trên bàn chông hát cười đùa vang vang” hay “Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời” đã làm cho Việt Nam quê hương ngạo nghễ trở thành độc đáo, không giống như những bài ca yêu nước khác với những ý tưởng quen thuộc và lời ca phần lớn là lập lại nhau. Việt Nam quê hương ngạo nghễ đẹp tự nhiên như một đoá lan rừng, không mang màu sắc chính trị, không nhằm cổ võ hay biện minh cho một chủ nghĩa nào, không cơ quan nhà nước nào chỉ đạo thanh niên sinh viên học sinh phải hát và bài hát cũng chẳng nhằm phục vụ lợi ích riêng của chính quyền, tôn giáo hay đảng phái chính trị nào.
Trước 1975, từ thành phố đến thôn quê, từ các trường trung học tỉnh lẻ đến đại học lớn như Huế, Sài Gòn, từ các phong trào Hướng đạo, Du ca đến các tổ chức trẻ của các tôn giáo như Thanh niên Công giáo, Gia đình Phật tử, từ các quân trường Đà Lạt, Thủ Đức, Quang Trung, Nha Trang đến các tổ chức, đoàn thể xã hội từ thiện đều hát Việt Nam quê hương ngạo nghễ.
Sau 1975, bài hát theo chân hàng trăm ngàn sĩ quan và viên chức miền Nam đi vào tù. Nhiều hồi ký, bút ký kể lại Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã được hát lên, kín đáo hoặc cả công khai, ở nhiều trại tù khắp ba miền đất nước. Trong tận cùng của đói khát, khổ nhục, đớn đau, Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã hoá thành những hạt cơm trắng, hạt nếp thơm nuôi sống tinh thần những người lính miền Nam sa cơ thất thế.
Những năm sau đó, bài hát, như tác giả của nó và hàng triệu người Việt khác lên đường ra biển tìm tự do. Việt Nam quê hương ngạo nghễ lại được hát lên giữa Thái bình dương giông bão, hát lên ở các trại tỵ nạn Palawan, Paula Bidong, Panat Nikhom trong nỗi nhớ nhà, hát lên ở Sungai Besi, White Head trong những ngày chống cưỡng bách hồi hương, hát lên ở San Jose, Santa Ana, Boston, Paris, Oslo, Sydney trong những cuộc biểu tình cho tự do dân chủ Việt Nam, hát lên ở các trại hè, trại họp bạn Hướng đạo, các tổng hội sinh viên Việt Nam tại hải ngoại.
Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, trong buổi phỏng vấn dành cho chương trình Tiếng Nói Trẻ đã kể lại câu chuyện ra đời của Việt Nam quê hương ngạo nghễ trong âm nhạc Việt Nam: “…Thế bài Việt Nam quê hương ngạo nghễ cũng vậy, nó không phải là một bài ca tôi nghĩ là quá lớn, nhưng lúc bấy giờ khi tôi kết thúc tập Trường Ca vào năm 1965, cuối 1965 hay đầu 1966 gì đó, khoảng thời gian đó, 10 bài trường ca, những bài như Nỗi buồn nhược tiểu, Tiếng rống đàn bò, Lìa nhau, Thảm kịch khó nói v.v. những bài nói về đất nước của mình rất là khổ sở, tôi nghĩ nên kết nó bằng một bài hát có tiếng gọi hùng tráng và tha thiết hơn. Thành ra tôi viết bài Việt Nam quê hương ngạo nghễ một cách rất là dễ dàng. Tất cả những ý đó tôi đem vào hết trong bài hát đó để nó vượt qua cái khốn khó, vượt qua cái quê hương nhỏ bé, nhược tiểu mà trở thành một nước to lớn, và lòng người cực kỳ dũng mãnh. Viết xong bài đó tôi nghĩ chỉ kết thúc tập Trường Ca mà thôi, không ngờ về sau càng ngày đi các nơi càng thấy nhiều người ưa thích bài đó, có lẽ đáp được ước vọng của nhiều người, tôi nghĩ tiếng gọi đáp ứng đúng được tiếng của nhiều người, không riêng gì giới trẻ đâu, cả người lớn tuổi ở các hội đoàn về sau này, rồi đi vào trong quân đội, đi rất nhiều nơi. Thành ra, tôi cho đó là một bài hát tự nó trưởng thành nhưng khi viết tôi chỉ đúc kết cho tập Trường Ca lúc đó mà thôi.”
Thật đơn giản và tự nhiên như thế. Không một ông Bộ trưởng Bộ Chiêu hồi nào đặt hàng hay một ông Tổng ủy trưởng Dân vận nào chỉ thị anh phải viết. Anh viết không phải để thi đua sáng tác hay mong mang về giải thưởng, huân chương. Trong tâm hồn của một nghệ sĩ chân chính, tình yêu nước bao giờ cũng là sự thôi thúc tự nguyện. Anh viết Việt Nam quê hương ngạo nghễ để kết thúc tập trường ca của riêng anh nhưng cũng nối tiếp tập trường ca lớn hơn của đất nước.
Sau ba mươi năm, nhiều nhạc sĩ, ca sĩ đã trở về qua nhiều ngả, trong nhiều tư cách khác nhau, một số tình ca sáng tác trước 1975 đã được nghe lại trong nước, nhưng đây là lần đầu tiên một bài hát đã về lại quê hương qua ngả của trái tim, trở về trong vòng tay nồng ấm của tuổi trẻ Việt Nam.
Bất ngờ và cảm động, một buổi sáng tuần trước, khi đi dạo một vòng qua các blog Việt ngữ, tôi bắt gặp không chỉ những mẩu tin nóng viết vội vàng trên đường phố, những đoạn phim biểu tình vừa mới đưa lên YouTube, những tấm hình ghi lại cảnh xô xát giữa đồng bào, sinh viên với công an, nhưng còn được nghe lại bài hát quen thuộc Việt Nam quê hương ngạo nghễ. Tôi cảm nhận qua lần gặp gỡ đó một niềm vui chung khi có một bản nhạc mà các em sinh viên Việt Nam ở California, Washington DC, Oslo, Paris, Hà Nội, Sài Gòn cùng hăng say hát trong những cuộc biểu tình chống Trung Quốc bành trướng bá quyền mà không cảm thấy ngần ngại, nghi ngờ, xa cách.
Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian.
Trong số một trăm em đang hát trong nước hôm nay có thể hơn chín mươi em chưa hề nghe đến tên Nguyễn Đức Quang lần nào, và nếu có nghe, có đọc qua bộ máy tuyên truyền của Đảng, cũng chỉ là một “nhạc sĩ ngụy đã theo chân đế quốc”. Biết hay không biết, nghe hay không nghe không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là bài hát đã đáp ứng được ước vọng về tương lai và tình yêu tổ quốc của tuổi trẻ. Tổ quốc, vâng, không có gì lớn hơn tổ quốc.
Văn hoá không phải chỉ là đời sống của một dân tộc mà còn là những gì giữ lại được sau những tàn phá, lãng quên. Việt Nam quê hương ngạo nghễ sau 30 tháng Tư 1975 hẳn đã nằm trong danh sách các tác phẩm “văn hoá đồi trụy” mà Đảng tìm mọi cách để xóa bỏ, tận diệt. Thế nhưng, như giọt nước rỉ ra từ kẽ đá và như bông hoa mọc giữa rừng gai, bài hát đã sống sót, đã ra đi và đã trở về. Để tồn tại, một bài thơ, một bản nhạc cũng phải trải qua những gạn lọc, những cuộc bỏ phiếu công bằng không chỉ của người nghe, người đọc dưới một chế độ chính trị nào đó mà còn của cả lịch sử lâu dài. Bài hát phát xuất từ tình yêu nước trong sáng như Việt Nam quê hương ngạo nghễ sẽ ở lại rất lâu trong lòng tuổi trẻ Việt Nam hôm nay và nhiều thế hệ mai sau.
Là một người thích tham gia các sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, bài hát mang tôi về thời trẻ tuổi của mình. Tôi còn nhớ, mùa hè 1973, khi còn là sinh viên năm thứ nhất, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cũng là nhạc sinh hoạt chính của trại hè sinh viên toàn quốc quy tụ đại diện sinh viên các trường đại học và cả sinh viên du học về nghỉ hè, do Bộ Giáo dục và Thanh niên tổ chức lần đầu và có lẽ cũng là lần cuối tại trường Thiếu Sinh Quân, Vũng Tàu. Đêm trước ngày chia tay, chúng tôi không ai ngủ được. Ngày mai sẽ mỗi người mỗi ngả, chị về Huế, anh về Đà Lạt, em về Cần Thơ và đa số chúng tôi sẽ trở lại Sài Gòn. Cùng một thế hệ chiến tranh như nhau, khi chia tay biết bao giờ còn gặp lại. Những ngày tháng đó, cuộc chiến vẫn còn trong cao điểm. Mỹ đã rút quân nên máu chảy trên ruộng đồng Việt Nam chỉ còn là máu Việt Nam. Thảm cảnh của “mùa hè đỏ lửa” chưa qua hết. Trên khắp miền Nam, đâu đâu cũng có đánh nhau, đâu đâu cũng có người chạy giặc. Mơ ước của tuổi trẻ chúng tôi là được thấy một ngày đất nước hoà bình, một ngày quê hương không còn nghe tiếng súng. Đêm cuối trại hè, chúng tôi ngồi quây quần thành một vòng tròn rộng quanh cột cờ trường Thiếu Sinh Quân và hát nhạc cộng đồng như để vơi đi những vương vấn, lo âu đang trĩu nặng trong lòng. Bài hát được hát nhiều nhất trong đêm đó là Việt Nam quê hương ngạo nghễ, và khi điệp khúc cất lên cũng là khi chúng tôi hát trong nước mắt:
Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông miệt mài
Từng giờ qua
Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi.
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam
Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng.
Những giọt nước mắt của tuổi sinh viên nhỏ xuống xót thương cho dân tộc mình. Tại sao có chiến tranh và tại sao chiến tranh đã xảy ra trên đất nước chúng tôi mà không phải tại một quốc gia nào khác?
Mấy tháng sau, tháng Giêng năm 1974, bài hát Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã được hát vang trên đường phố Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ sau khi Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc. Những bản tin đánh đi từ Đà Nẵng, danh sách những người hy sinh được đọc trên các đài phát thanh làm rơi nước mắt.
Và hôm nay, ba mươi ba năm sau, trong cái lạnh mùa đông trên xứ người, những lời nhạc Việt Nam quê hương ngạo nghễ từ YouTube phát ra như xoáy vào tim. Tôi lại nghĩ đến các anh, những người đã hy sinh ở Hoàng Sa tháng Giêng năm 1974, ở Trường Sa tháng Ba năm 1988. Các anh khác nhau ở chiếc áo nhưng cùng một mái tóc đen, một màu máu đỏ, một giống da vàng, cùng ăn hạt gạo thơm, hạt muối mặn, cùng lớn lên bằng giòng sữa mẹ Việt Nam, và cùng chết dưới bàn tay hải quân Trung Quốc xâm lăng.
Việt Nam, sau ba mươi ba năm “độc lập, tự do” vẫn chưa thoát ra khỏi số phận nhược tiểu bị xâm lược, vẫn chưa tháo được cái vòng kim cô Trung Quốc trên đầu. Việt Nam có một lãnh hải dài trên ba ngàn cây số nhưng thực tế không còn có biển. Cả hành lang Đông hải rộng bao la từ Hải Nam đến Hoàng Sa và xuống tận Trường Sa đã bị Trung Quốc chiếm. Nếu vẽ một đường cung dọc theo lãnh hải đó, ngư dân Việt Nam chỉ còn có thể đi câu cá ven bờ chứ không thể đánh cá như ngư dân Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan hay các quốc gia khác trong vùng biển Đông. Phía sau tấm bảng in đậm “mười sáu chữ vàng” hữu nghị thắm thiết giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc là thân xác của ngư dân Việt Nam trôi bềnh bồng dọc các hải đảo của tổ tiên mình để lại.
Trong suốt dòng lịch sử, hoạ xâm lăng từ phương Bắc vẫn là mối đe doạ thường xuyên. Khác với các thời đại trước đây, cái bất hạnh của Việt Nam ngày nay không phải chỉ là mất đất nhưng mất đất mà không đòi lại được ngay. Cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất trong hàng vương tước nhà Trần chỉ có mỗi Trần Nhật Hiệu chủ trương “Nhập Tống” và lần thứ hai chỉ có Trần Ích Tắc và đám hầu tước Trần Kiện, Trần Văn Lộng, Trần Tú Viên chủ trương “Hàng Nguyên” nhưng ngày nay, về mặt lập trường quan điểm, Việt Nam có đến 14 Trần Ích Tắc và 160 Trần Kiện. Trận đụng độ giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra tại Trường Sa năm 1988 theo tác giả Daniel J. Dzurek trong biên khảo Xung Đột Trường Sa: Ai có mặt trước? (The Spratly Islands Dispute: Who’s on First?) chỉ kéo dài vỏn vẹn 28 phút và Việt Nam chịu đựng hầu hết thương vong. Với một giới lãnh đạo tham quyền cố vị và sự chênh lệch quá xa về kỹ thuật chiến tranh như thế, cuộc đấu tranh giành lại hai quần đảo sẽ vô cùng khó khăn.
Dù sao, tuổi trẻ Việt Nam, khác với các thế hệ Tân Trào, Pác Bó trước đây, thế hệ Hoàng Sa, Trường Sa ngày nay có nhiều cơ hội tiếp xúc, học hỏi và so sánh giữa chế độ các em đang sống với các tư tưởng tự do dân chủ, khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ đó, hy vọng các em sẽ có những chọn lựa đúng cho mình và cho đất nước phù hợp với dòng chảy của văn minh nhân loại.
Trong cuộc chiến Việt Nam dài mấy mươi năm Đảng đã sản xuất ra không biết bao nhiêu bài hát, bài thơ kích động lòng yêu nước nhưng tại sao các em không đọc, không hát nữa? Như một độc giả trong nước đã trả lời, đơn giản chỉ vì chúng nhạt nhẽo. Ý thức sâu sắc đó đã được thể hiện không chỉ trong khẩu hiệu các em hô mà ngay cả trong những bài hát các em hát. Sau những Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng, Dậy mà đi, Nối vòng tay lớn của những ngày đầu phong trào, các bạn trẻ trong nước đã đi tìm những nhạc phẩm nói lên lòng yêu nước trong sáng, tích cực, không bị ô nhiễm, chưa từng bị lợi dụng và họ đã tìm được Việt Nam quê hương ngạo nghễ.
Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm
Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời
Ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời.
Mỗi khi nhắc đến những khó khăn đất nước, chúng ta thường nghe đến những “bất hạnh”, “nỗi đau”, “tính tự ti mặc cảm”, vâng đó là một thực tế hôm nay, thế nhưng dân tộc Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu, nước non bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” như Nguyễn Trãi khẳng định, không phải chỉ biết đau, biết tự ti mặc cảm mà thôi nhưng từ những nỗi đau đã biết lớn lên bằng tự hào và kiêu hãnh làm người Việt Nam. Chỗ dựa tinh thần của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay không có gì khác hơn là lịch sử. Không thể làm nên lịch sử mà không cần học lịch sử. Lịch sử sẽ là vũ khí, là hành trang trong hành trình tranh đấu cho một nước Việt Nam mới, cũng như để xây dựng một Việt Nam tươi đẹp sau nầy.
Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam
Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian
Hỡi những ai gục xuống ngồi dậy hùng cường đi lên.
Việt Nam quê hương ngạo nghễ như giọt nước mắt bi tráng của tuổi trẻ Việt Nam ngày nào nhỏ xuống trên quê hương chiến tranh khốn khổ, đã bốc thành hơi, tụ thành mây và sau bao năm vần vũ khắp góc bể chân trời đã trở về quê hương qua ánh mắt của em, qua nụ cười của chị, qua tiếng hát của anh, hồn nhiên và trong sáng. Từ “vết thương rỉ máu” của một dân tộc đã từng bị nhiều đế quốc thay phiên bóc lột, lợi dụng và hôm nay còn đang chịu đựng trong áp bức của độc tài đảng trị, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cất lên như một lời khuyên, hãy sống và hãy vững tin vào lịch sử, sẽ có một ngày, sẽ có một ngày.

Trần Trung Đạo Nếu phải xếp hạng những bài hát được sinh ra và lớn lên cùng với thăng trầm của đất nước, với thao thức của thanh niên, sinh viên, học sinh, với tâm trạng của những người lính trẻ trong cuộc chiến tranh tự vệ đầy gian khổ ở miền Nam trước đây, tôi tin, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang sẽ là một trong những bài ca được xếp hàng đầu.
Không giống như một số hành khúc quen thuộc trong giới trẻ trước 1975 như Dậy mà đi của Nguyễn Xuân Tân, Tổ quốc ơi ta đã nghe của La Hữu Vang thiết tha, mạnh mẽ nhưng chỉ giới hạn trong các phong trào sinh viên tranh đấu và ngay khi ra đời đã bị Đảng sử dụng cho mục đích tuyên truyền trong các trường đại học, các đô thị miền Nam, hay Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy chan chứa tình dân tộc, kêu gọi người người thương mến nhau nhưng thiếu đi cái hùng khí, sôi nổi của tuổi trẻ, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của Nguyễn Đức Quang không dừng lại ở nỗi đau của đất nước mà còn nói lên cả những bi thương, công phẫn, thách đố của tuổi trẻ Việt Nam trước những tàn phá của chiến tranh và tham vọng của con người. Trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam, Việt Nam quê hương ngạo nghễ nổi bật lên như một biểu tượng cho khát vọng của một dân tộc đã vượt qua bao nhiêu gian nan khốn khó để tồn tại và vươn lên cùng các dân tộc khác trên mặt đất nầy.
Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm
Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loàng xoàng.
Lời nhạc của Việt Nam quê hương ngạo nghễ tương đối khó nhớ nhưng nhờ cách sử dụng ngôn ngữ trẻ trung, mạnh mẽ, tượng thanh, tượng hình như “tiếng cười ngạo nghễ”, “xích kêu loàng xoàng”, “trên bàn chông hát cười đùa vang vang” hay “Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời” đã làm cho Việt Nam quê hương ngạo nghễ trở thành độc đáo, không giống như những bài ca yêu nước khác với những ý tưởng quen thuộc và lời ca phần lớn là lập lại nhau. Việt Nam quê hương ngạo nghễ đẹp tự nhiên như một đoá lan rừng, không mang màu sắc chính trị, không nhằm cổ võ hay biện minh cho một chủ nghĩa nào, không cơ quan nhà nước nào chỉ đạo thanh niên sinh viên học sinh phải hát và bài hát cũng chẳng nhằm phục vụ lợi ích riêng của chính quyền, tôn giáo hay đảng phái chính trị nào.
Trước 1975, từ thành phố đến thôn quê, từ các trường trung học tỉnh lẻ đến đại học lớn như Huế, Sài Gòn, từ các phong trào Hướng đạo, Du ca đến các tổ chức trẻ của các tôn giáo như Thanh niên Công giáo, Gia đình Phật tử, từ các quân trường Đà Lạt, Thủ Đức, Quang Trung, Nha Trang đến các tổ chức, đoàn thể xã hội từ thiện đều hát Việt Nam quê hương ngạo nghễ.
Sau 1975, bài hát theo chân hàng trăm ngàn sĩ quan và viên chức miền Nam đi vào tù. Nhiều hồi ký, bút ký kể lại Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã được hát lên, kín đáo hoặc cả công khai, ở nhiều trại tù khắp ba miền đất nước. Trong tận cùng của đói khát, khổ nhục, đớn đau, Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã hoá thành những hạt cơm trắng, hạt nếp thơm nuôi sống tinh thần những người lính miền Nam sa cơ thất thế.
Những năm sau đó, bài hát, như tác giả của nó và hàng triệu người Việt khác lên đường ra biển tìm tự do. Việt Nam quê hương ngạo nghễ lại được hát lên giữa Thái bình dương giông bão, hát lên ở các trại tỵ nạn Palawan, Paula Bidong, Panat Nikhom trong nỗi nhớ nhà, hát lên ở Sungai Besi, White Head trong những ngày chống cưỡng bách hồi hương, hát lên ở San Jose, Santa Ana, Boston, Paris, Oslo, Sydney trong những cuộc biểu tình cho tự do dân chủ Việt Nam, hát lên ở các trại hè, trại họp bạn Hướng đạo, các tổng hội sinh viên Việt Nam tại hải ngoại.
Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, trong buổi phỏng vấn dành cho chương trình Tiếng Nói Trẻ đã kể lại câu chuyện ra đời của Việt Nam quê hương ngạo nghễ trong âm nhạc Việt Nam: “…Thế bài Việt Nam quê hương ngạo nghễ cũng vậy, nó không phải là một bài ca tôi nghĩ là quá lớn, nhưng lúc bấy giờ khi tôi kết thúc tập Trường Ca vào năm 1965, cuối 1965 hay đầu 1966 gì đó, khoảng thời gian đó, 10 bài trường ca, những bài như Nỗi buồn nhược tiểu, Tiếng rống đàn bò, Lìa nhau, Thảm kịch khó nói v.v. những bài nói về đất nước của mình rất là khổ sở, tôi nghĩ nên kết nó bằng một bài hát có tiếng gọi hùng tráng và tha thiết hơn. Thành ra tôi viết bài Việt Nam quê hương ngạo nghễ một cách rất là dễ dàng. Tất cả những ý đó tôi đem vào hết trong bài hát đó để nó vượt qua cái khốn khó, vượt qua cái quê hương nhỏ bé, nhược tiểu mà trở thành một nước to lớn, và lòng người cực kỳ dũng mãnh. Viết xong bài đó tôi nghĩ chỉ kết thúc tập Trường Ca mà thôi, không ngờ về sau càng ngày đi các nơi càng thấy nhiều người ưa thích bài đó, có lẽ đáp được ước vọng của nhiều người, tôi nghĩ tiếng gọi đáp ứng đúng được tiếng của nhiều người, không riêng gì giới trẻ đâu, cả người lớn tuổi ở các hội đoàn về sau này, rồi đi vào trong quân đội, đi rất nhiều nơi. Thành ra, tôi cho đó là một bài hát tự nó trưởng thành nhưng khi viết tôi chỉ đúc kết cho tập Trường Ca lúc đó mà thôi.”
Thật đơn giản và tự nhiên như thế. Không một ông Bộ trưởng Bộ Chiêu hồi nào đặt hàng hay một ông Tổng ủy trưởng Dân vận nào chỉ thị anh phải viết. Anh viết không phải để thi đua sáng tác hay mong mang về giải thưởng, huân chương. Trong tâm hồn của một nghệ sĩ chân chính, tình yêu nước bao giờ cũng là sự thôi thúc tự nguyện. Anh viết Việt Nam quê hương ngạo nghễ để kết thúc tập trường ca của riêng anh nhưng cũng nối tiếp tập trường ca lớn hơn của đất nước.
Sau ba mươi năm, nhiều nhạc sĩ, ca sĩ đã trở về qua nhiều ngả, trong nhiều tư cách khác nhau, một số tình ca sáng tác trước 1975 đã được nghe lại trong nước, nhưng đây là lần đầu tiên một bài hát đã về lại quê hương qua ngả của trái tim, trở về trong vòng tay nồng ấm của tuổi trẻ Việt Nam.
Bất ngờ và cảm động, một buổi sáng tuần trước, khi đi dạo một vòng qua các blog Việt ngữ, tôi bắt gặp không chỉ những mẩu tin nóng viết vội vàng trên đường phố, những đoạn phim biểu tình vừa mới đưa lên YouTube, những tấm hình ghi lại cảnh xô xát giữa đồng bào, sinh viên với công an, nhưng còn được nghe lại bài hát quen thuộc Việt Nam quê hương ngạo nghễ. Tôi cảm nhận qua lần gặp gỡ đó một niềm vui chung khi có một bản nhạc mà các em sinh viên Việt Nam ở California, Washington DC, Oslo, Paris, Hà Nội, Sài Gòn cùng hăng say hát trong những cuộc biểu tình chống Trung Quốc bành trướng bá quyền mà không cảm thấy ngần ngại, nghi ngờ, xa cách.
Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian.
Trong số một trăm em đang hát trong nước hôm nay có thể hơn chín mươi em chưa hề nghe đến tên Nguyễn Đức Quang lần nào, và nếu có nghe, có đọc qua bộ máy tuyên truyền của Đảng, cũng chỉ là một “nhạc sĩ ngụy đã theo chân đế quốc”. Biết hay không biết, nghe hay không nghe không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là bài hát đã đáp ứng được ước vọng về tương lai và tình yêu tổ quốc của tuổi trẻ. Tổ quốc, vâng, không có gì lớn hơn tổ quốc.
Văn hoá không phải chỉ là đời sống của một dân tộc mà còn là những gì giữ lại được sau những tàn phá, lãng quên. Việt Nam quê hương ngạo nghễ sau 30 tháng Tư 1975 hẳn đã nằm trong danh sách các tác phẩm “văn hoá đồi trụy” mà Đảng tìm mọi cách để xóa bỏ, tận diệt. Thế nhưng, như giọt nước rỉ ra từ kẽ đá và như bông hoa mọc giữa rừng gai, bài hát đã sống sót, đã ra đi và đã trở về. Để tồn tại, một bài thơ, một bản nhạc cũng phải trải qua những gạn lọc, những cuộc bỏ phiếu công bằng không chỉ của người nghe, người đọc dưới một chế độ chính trị nào đó mà còn của cả lịch sử lâu dài. Bài hát phát xuất từ tình yêu nước trong sáng như Việt Nam quê hương ngạo nghễ sẽ ở lại rất lâu trong lòng tuổi trẻ Việt Nam hôm nay và nhiều thế hệ mai sau.
Là một người thích tham gia các sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, bài hát mang tôi về thời trẻ tuổi của mình. Tôi còn nhớ, mùa hè 1973, khi còn là sinh viên năm thứ nhất, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cũng là nhạc sinh hoạt chính của trại hè sinh viên toàn quốc quy tụ đại diện sinh viên các trường đại học và cả sinh viên du học về nghỉ hè, do Bộ Giáo dục và Thanh niên tổ chức lần đầu và có lẽ cũng là lần cuối tại trường Thiếu Sinh Quân, Vũng Tàu. Đêm trước ngày chia tay, chúng tôi không ai ngủ được. Ngày mai sẽ mỗi người mỗi ngả, chị về Huế, anh về Đà Lạt, em về Cần Thơ và đa số chúng tôi sẽ trở lại Sài Gòn. Cùng một thế hệ chiến tranh như nhau, khi chia tay biết bao giờ còn gặp lại. Những ngày tháng đó, cuộc chiến vẫn còn trong cao điểm. Mỹ đã rút quân nên máu chảy trên ruộng đồng Việt Nam chỉ còn là máu Việt Nam. Thảm cảnh của “mùa hè đỏ lửa” chưa qua hết. Trên khắp miền Nam, đâu đâu cũng có đánh nhau, đâu đâu cũng có người chạy giặc. Mơ ước của tuổi trẻ chúng tôi là được thấy một ngày đất nước hoà bình, một ngày quê hương không còn nghe tiếng súng. Đêm cuối trại hè, chúng tôi ngồi quây quần thành một vòng tròn rộng quanh cột cờ trường Thiếu Sinh Quân và hát nhạc cộng đồng như để vơi đi những vương vấn, lo âu đang trĩu nặng trong lòng. Bài hát được hát nhiều nhất trong đêm đó là Việt Nam quê hương ngạo nghễ, và khi điệp khúc cất lên cũng là khi chúng tôi hát trong nước mắt:
Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông miệt mài
Từng giờ qua
Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi.
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam
Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng.
Những giọt nước mắt của tuổi sinh viên nhỏ xuống xót thương cho dân tộc mình. Tại sao có chiến tranh và tại sao chiến tranh đã xảy ra trên đất nước chúng tôi mà không phải tại một quốc gia nào khác?
Mấy tháng sau, tháng Giêng năm 1974, bài hát Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã được hát vang trên đường phố Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ sau khi Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc. Những bản tin đánh đi từ Đà Nẵng, danh sách những người hy sinh được đọc trên các đài phát thanh làm rơi nước mắt.
Và hôm nay, ba mươi ba năm sau, trong cái lạnh mùa đông trên xứ người, những lời nhạc Việt Nam quê hương ngạo nghễ từ YouTube phát ra như xoáy vào tim. Tôi lại nghĩ đến các anh, những người đã hy sinh ở Hoàng Sa tháng Giêng năm 1974, ở Trường Sa tháng Ba năm 1988. Các anh khác nhau ở chiếc áo nhưng cùng một mái tóc đen, một màu máu đỏ, một giống da vàng, cùng ăn hạt gạo thơm, hạt muối mặn, cùng lớn lên bằng giòng sữa mẹ Việt Nam, và cùng chết dưới bàn tay hải quân Trung Quốc xâm lăng.
Việt Nam, sau ba mươi ba năm “độc lập, tự do” vẫn chưa thoát ra khỏi số phận nhược tiểu bị xâm lược, vẫn chưa tháo được cái vòng kim cô Trung Quốc trên đầu. Việt Nam có một lãnh hải dài trên ba ngàn cây số nhưng thực tế không còn có biển. Cả hành lang Đông hải rộng bao la từ Hải Nam đến Hoàng Sa và xuống tận Trường Sa đã bị Trung Quốc chiếm. Nếu vẽ một đường cung dọc theo lãnh hải đó, ngư dân Việt Nam chỉ còn có thể đi câu cá ven bờ chứ không thể đánh cá như ngư dân Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan hay các quốc gia khác trong vùng biển Đông. Phía sau tấm bảng in đậm “mười sáu chữ vàng” hữu nghị thắm thiết giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc là thân xác của ngư dân Việt Nam trôi bềnh bồng dọc các hải đảo của tổ tiên mình để lại.
Trong suốt dòng lịch sử, hoạ xâm lăng từ phương Bắc vẫn là mối đe doạ thường xuyên. Khác với các thời đại trước đây, cái bất hạnh của Việt Nam ngày nay không phải chỉ là mất đất nhưng mất đất mà không đòi lại được ngay. Cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất trong hàng vương tước nhà Trần chỉ có mỗi Trần Nhật Hiệu chủ trương “Nhập Tống” và lần thứ hai chỉ có Trần Ích Tắc và đám hầu tước Trần Kiện, Trần Văn Lộng, Trần Tú Viên chủ trương “Hàng Nguyên” nhưng ngày nay, về mặt lập trường quan điểm, Việt Nam có đến 14 Trần Ích Tắc và 160 Trần Kiện. Trận đụng độ giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra tại Trường Sa năm 1988 theo tác giả Daniel J. Dzurek trong biên khảo Xung Đột Trường Sa: Ai có mặt trước? (The Spratly Islands Dispute: Who’s on First?) chỉ kéo dài vỏn vẹn 28 phút và Việt Nam chịu đựng hầu hết thương vong. Với một giới lãnh đạo tham quyền cố vị và sự chênh lệch quá xa về kỹ thuật chiến tranh như thế, cuộc đấu tranh giành lại hai quần đảo sẽ vô cùng khó khăn.
Dù sao, tuổi trẻ Việt Nam, khác với các thế hệ Tân Trào, Pác Bó trước đây, thế hệ Hoàng Sa, Trường Sa ngày nay có nhiều cơ hội tiếp xúc, học hỏi và so sánh giữa chế độ các em đang sống với các tư tưởng tự do dân chủ, khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ đó, hy vọng các em sẽ có những chọn lựa đúng cho mình và cho đất nước phù hợp với dòng chảy của văn minh nhân loại.
Trong cuộc chiến Việt Nam dài mấy mươi năm Đảng đã sản xuất ra không biết bao nhiêu bài hát, bài thơ kích động lòng yêu nước nhưng tại sao các em không đọc, không hát nữa? Như một độc giả trong nước đã trả lời, đơn giản chỉ vì chúng nhạt nhẽo. Ý thức sâu sắc đó đã được thể hiện không chỉ trong khẩu hiệu các em hô mà ngay cả trong những bài hát các em hát. Sau những Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng, Dậy mà đi, Nối vòng tay lớn của những ngày đầu phong trào, các bạn trẻ trong nước đã đi tìm những nhạc phẩm nói lên lòng yêu nước trong sáng, tích cực, không bị ô nhiễm, chưa từng bị lợi dụng và họ đã tìm được Việt Nam quê hương ngạo nghễ.
Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm
Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời
Ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời.
Mỗi khi nhắc đến những khó khăn đất nước, chúng ta thường nghe đến những “bất hạnh”, “nỗi đau”, “tính tự ti mặc cảm”, vâng đó là một thực tế hôm nay, thế nhưng dân tộc Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu, nước non bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” như Nguyễn Trãi khẳng định, không phải chỉ biết đau, biết tự ti mặc cảm mà thôi nhưng từ những nỗi đau đã biết lớn lên bằng tự hào và kiêu hãnh làm người Việt Nam. Chỗ dựa tinh thần của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay không có gì khác hơn là lịch sử. Không thể làm nên lịch sử mà không cần học lịch sử. Lịch sử sẽ là vũ khí, là hành trang trong hành trình tranh đấu cho một nước Việt Nam mới, cũng như để xây dựng một Việt Nam tươi đẹp sau nầy.
Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam
Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian
Hỡi những ai gục xuống ngồi dậy hùng cường đi lên.
Việt Nam quê hương ngạo nghễ như giọt nước mắt bi tráng của tuổi trẻ Việt Nam ngày nào nhỏ xuống trên quê hương chiến tranh khốn khổ, đã bốc thành hơi, tụ thành mây và sau bao năm vần vũ khắp góc bể chân trời đã trở về quê hương qua ánh mắt của em, qua nụ cười của chị, qua tiếng hát của anh, hồn nhiên và trong sáng. Từ “vết thương rỉ máu” của một dân tộc đã từng bị nhiều đế quốc thay phiên bóc lột, lợi dụng và hôm nay còn đang chịu đựng trong áp bức của độc tài đảng trị, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cất lên như một lời khuyên, hãy sống và hãy vững tin vào lịch sử, sẽ có một ngày, sẽ có một ngày.

Tô Thùy Yên, thơ như người bị bức tử
Nguyễn Mạnh Trinh Ai hét trong lòng ta mỗi lúc /như người bị bức tử canh khuya? Xé toang từng mảnh đời tê điếng/ Mà gửi cùng mây đỏ thảm thê/… Trong buổi chiều gió giật loạn cuồng của những cơn bão kéo tới, tôi đọc những câu thơ ấy mà nghe dường như có điện giật trong châu thân. Thơ như u uất của đất trời. Thơ như lòng người đang cơn phẫn nộ. Bây giờ, cả dân tộc Việt Nam đang đau đớn với sự hiếp đáp của đế quốc phương bắc mà những người lãnh đạo lại hèn nhát yếu mềm cam chịu… Thơ như lời tiên tri, như những vết hằn trên đá từ năm tháng.
Trường Sa Hành. Bài thơ viết vào tháng 3 năm 1974 của Tô Thùy Yên sau trận hải chiến Hoàng Sa hơn một tháng. Lúc ấy, thời cuộc như lò nung hơi chờ bùng vỡ. Ơû trong thì nội chiến, ở ngoài thì ngoại xâm. Thế mà, những chiến sĩ vẫn giữ gìn từng tấc đất của tổ quốc. Tô Thùy Yên trong một chuyến công tác ra quần đảo Trường Sa đã làm những câu thơ như tiên đoán một định mệnh tàn khốc:
”Sóng thiên cổ khóc biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời
Mùa gió xoay chiều gió khốc liệt
Bãi Đông lở mất bãi Tây bồi
Đám cây bật gốc chờ tan xác
Có hối ra đời chẳng chọn nơi?”
Thơ như nỗi ngậm ngùi. Thơ như nỗi niềm u uất của những người đi tìm kiếm những điều xa xôi khó lý giải. Làm một bài thơ có phong vị hành chỉ là một cái cớ, để mượn thiên nhiên độc thoại với mình, để thấy kiếp người với nỗi niềm mãn khai và thời gian sẽ thành ngôi mộ với tấm bia kết từ đời u tịch.
Thật là khó giải nghĩa một bài thơ, nhất là một bài thơ có không gian rộng mênh mông như Trường Sa Hành. Trích một vài câu, diễn giải một vài đoạn, sẽ chẳng làm rõ ràng thêm được những điều tác giả muốn nói, muốn trao gửi trong thơ. Mà, chỉ làm vụn vặt đi cái vời vợi khôn cùng của cảm xúc
Cho nên phải đọc một hơi để những hình ảnh nối tiếp nhau để thấy tràn ngợp một nỗi cô đơn của con người nhỏ nhoi trước cao rộng của thiên nhiên và tiềm thức Ngôn ngữ của Tô Thùy Yên không có những từ khó hiểu và thơ bảy chữ ấy cũng man mác âm điệu của những bài hành của thời kỳ Hành Phương Nam của Nguyễn Bính hay Tống Biệt Hành của Thâm Tâm. Thế mà, có một điều gì mới mới, cũng không hẳn từ ngôn ngữ mà cũng chẳng phải là hình ảnh, cảm giác ấy có từ những liên tưởng từ tất cả : ý thơ, tứ thơ, âm vận thơ, hình tượng thơ tạo thành.
Có một điều rõ ràng trong thơ Tô Thùy Yên là cái hứng cảm hiện ra trong một lúc hòa hợp với những suy tư tích chứa mỗi ngày mỗi tháng nên có sức truyền cảm mạnh. Lý Chất, một phê bình gia đời Minh trong Tạp Thuyết đã viết về hiện tượng này. Người làm thơ tích lũy vốn liếng sống ỡ mức độ dồi dào thì một sớm “tức cảnh sinh tình, xúc động thở than, giựt cả chén rượu của người khác, dốc nỗi oán giận ở trong lòng, thở lời bất bình từ trong bụng, từ số phận đau khổ của mình, liên hệ tới biết bao nhiên chuyện xa xưa muôn thuở... Khi đã viết là nhả ngọc phun châu, ánh sáng soi rọi tận vân hán, như nét đẹp giữa trời, thế rồi bèn tự phụ, giữa cõi đất trời hét vang, khóc lóc như điên không tự chế được“. Tóm lại, cái hứng cảm được nảy sinh từ cuộc sống hiện thực và trong một phút giây nào đó đã tạo thành xúc động của một người lên cơn đồng thiếp.
Trong thơ Tô Thùy Yên, thơ có phải là những vần điệu vang vọng trong cơn đồng thiếp ?
Làm thơ về Trường Sa, để thấy được cái hữu hạn của con người cũng như niềm cô đơn của những người luôn đi kiếm tìm một đích đến dường như rất xa xăm nhưng lại có lúc gần gũi. Mỗi một bài thơ, có phải là một cơ duyên, để con người cất lên tiếng nói của mình, của những nỗi niềm u uẩn khó lý giải…
Trở lại với thi sĩ Tô Thùy Yên, tôi trong cái chủ quan của mình vẫn cho rằng ông làm mới thi ca trong những nét cổ điển. Nhắc tới Tô Thùy Yên, mà những bài thơ bảy chữ như Ta Về, như Quỷ Xướng Thi, hay Hề, Ta Trở Lại Căn nhà Cỏ… hay tám chữ như Chuyện Tình Người Lỡ Vận… đã tạo thành một thế giới thi ca riêng, mà trong đó cái đời sống đã tượng hình trong cái chưa rõ nét, mà cái cảm xúc làm nền tảng hơn là những sự kiện thật. Ở đó, Tô Thùy Yên đã phả lên một lớp sương mù của suy tư và đã làm thay đổi cả hiện thực trong ngôn ngữ và vần điệu…
Trong suốt bao nhiêu năm làm thơ ở trong nước, ông chưa in một tập thơ nào cho mình. Để đến khi ra định cư ở hải ngoại, mới in Thơ Tô Thùy Yên và Thắp Tạ. Những bài thơ, chọn lọc suốt bao nhiêu năm sáng tác, có nhiều bài chỉ không những tiêu biểu cho riêng Tô Thùy Yên mà còn cho cả văn chương Việt Nam nữa.
Khi mới xuất hiện trên Sáng Tạo, với những bài thơ, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, … đã tạo một khí hậu mới cho thi ca. Thơ tiền chiến đã thành những tiêu điểm để vượt qua. Thanh Tâm Tuyền viết “Trèo lên cây bưởi hái hoa“ để làm rõ ràng hơn những ý tưởng làm mới. Nguyên Sa mang lại những khí hậu phương tây vào văn chương với những bài thơ mượt mà, những hình ảnh mới lạ. Còn Tô Thùy Yên, thì như “Cánh Đồng Con Ngựa Chuyến Tàu”:
“Trên cánh đồng hoang thuần một màu
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu
Tàu chạy mau tàu chạy rất mau
Ngựa rượt tàu rượt tàu rượt tàu
Cỏ cây cỏ cây lùi chóng mặt
Gò nổng cao rồi thung lũng sâu
Ngựa thở hào hển thở hào hển
Tàu chạy mau vẫn mau vẫn mau
Mặt trời mọc xong mặt trời lặn
Ngựa gục đầu gục đầu gục đầu
Cánh đồng a cánh đồng sắp hết
Tàu chạy mau càng mau càng mau
Ngữa ngã lăn mình mướt như cỏ
Như giữa nền nhung một vết nâu”
Đọc xong bài thơ có lẽ sẽ có nhiều ý tưởng ập đến. Tôi độ chừng tâm tư mình xuôi ngược theo những trục thời gian. Rượt đuổi, gắng rượt đuổi nhưng vô vọng. Có phải chúng ta đang trong một lộ trình hào hển, với đích đến gần kề nhưng lại vời xa. Bây giờ, sống trong ngày tháng mà vòng quay nhân sinh mù mịt đến chóng mặt thì những hình ảnh như chuyến tàu như con ngựa lại mở rộng ra biết bao nhiêu liên tưởng, gợi ý biết bao nhiêu tâm tư để rồi trong cái hữu hạn để chấm dứt một vô cùng. Hình ảnh thật đẹp “ ngựa ngã lăn mình mượt như cỏ/như giữa nền nhung một vết nâu/...”
Bài thơ ấy Tô Thùy Yên làm thời tuổi trẻ nhưng đã có sự suy tư già trước tuổi, với những hình ảnh hiện thực gợi hình chuyên chở được những tâm ý gửi theo. Thơ như một ám ảnh, của những nỗi muộn màng, của những nỗi niềm dìm sâu từ qúa khứ. Dù chỉ là vài hình tượng có chất đặc trưng, những ý niệm siêu hình đã làm bước chân người đọc đi xa hơn vào những lãnh địa mà chất động và chất tĩnh nhòa nhạt với nhau, để thành một cảm giác rung động trong lòng người đọc.
Chiến tranh với Tô Thùy Yên, có lúc là những ám ảnh, có khi là niềm phẫn nộ, nhưng cũng là hiện thực của một đời sống binh lửa. Những câu thơ hào sảng, những ý nghĩ bất cần, những ngày sống chỉ biết cho hiện tại:
“...Thiệt tình, tên bạn ta không nhớ
nhưng mà trông mặt thấy quen quen
hề chi ta uống cho say đã
nào có ra gì một cái tên.
Tới đây toàn những tay hào sĩ
sống chết không làm thắt ruột gan
cũng không ai nhắc gì thân thế
có vợ con mà như độc thân
bạn hỏi thăm ta cho có lệ
cuộc đời binh nghiệp. Ta cười bung
còn mươi tháng nữa lên trung úy
có thể ngày mai chửa biết chừng...”
những câu thơ của “Anh Hùng Tận“ có cái thô nhám nhưng chân thực của cuộc sống. Thời tên bay đạn lạc, biết đâu ngày mai thành cố trung úy lên bàn thờ ngồi cho nên : “Giờ cất quân, đưa tay bắt/ Ước cõi âm còn gặp để say.”
Tô Thùy Yên đã nhìn cuộc chiến với những hình ảnh của gian khổ, của những ngày tháng vô định, những cái chết trẻ đau thương. Bài Qua Sông có những câu tả chân, phác họa lại một không gian đầy tử khí:
”Giặc đánh lớn- mùa mưa đã tới
Mùa mưa như một trện mưa liền
Châu thổ mang mang trời nước sát
hồn chừng hiu hắt nỗi không tên
tiếp tế khó- đôi lần phải lục
trên người bạn gục đạn mươi viên
di tản khó – sâu dòi lúc nhúc
trong vết thương người bạn nín rên
người chết mấy ngày chưa lấy xác
thây sình, mặt nát, lạch mương tanh...”
Một thời làm lính rồi một thời đi tù, cía mẫu số chung của cả một thời đại ấy đã được thi sỉ viết thành nỗi niềm riêng, tuy cũng là chung của nhiều người.
Một bài thơ, có mang chút thời thế vào trong vần điệu trầm buồn. Ngồi hái rau, giữa cái thinh lặng của đất trời để nghe như trong thiên nhiên có hồn người lẩn khuất.
“Chiều ra đồng hái rau hoang
Nghe sầu theo gió thổi tràn mặt ta
Ơn trời ơn đất bao la
Hái đi này những xót xa kiếp người
Cổ kim chung một mái trới
Kinh Thi cũng có bóng người hái rau
Cúi mình khổ lụy như nhau
Tập tàng mót nhặt trả hần nợ thân
Cơ trới núi đổ sông dâng
Miếu đường bay mái, thánh thần lạc thây
Ta nhìn ta, lạ lùng thay
Tả tơi, đâu chỉ hình hài thấy đây…”
Trong phần ghi chú ở cuối tập thơ, tác giả đã viết khá nhiều về bài thơ Hái Rau này. Nếu ở ý định làm rõ xuất xứ của câu thơ htì thật không cần thiết nhưng nếu để làm rõ ra những ý nghĩ của mình thì có lẽ còn tác dụng.
“Sống đong bữa một, tâm chèn khổ sao.
Một cực hình cấp địa ngục: phải đối diện chăm chăm với mỗi cảnh khổ duy nhất thường trực bất biến, triền miên sao đồ lại. Phải chăng sự luân phiên chuyển đổinhưng cảnh khổ khác nhau trong đời người phần nào cũng giúp được cho con người chịu đựng nổi đời sống”
Sau đó tác giả viết về xuất xứ của những câu thơ như:
“miếng ăn đắng nuốt nghẹn ngào
chỗ sân thấp biết nơi nào sạch dơ”
gợi ý từ bài thơ Paradiso của Dante Alighieri.
Hay câu thơ ”quán xanh còn mở cho chàng về qua?” gợi ý từ thơ trong Comedie De La Soif của Rimbaud.
Theo suy nghĩ của tôi, thi sĩ quá cẩn thận và làm cho người đọc mất đi cái thú tìm kiếm.
Đọc hai tập thơ, hai bài viết về những tháng ngày lao ngục chuyên chở được nhiều ý hướng của Tô Thùy Yên nhất là Tàu Đêm và Ta Về. Một đi, trong nửa đêm tranh tối tranh sáng, trong những toa tàu đặc nghẹt người, trong nỗi ê chề của những người thất trận. Một về, trong nỗi chán chường của một người lưu lạc, như một kẻ lạ trở về quê cũ của mình.
“Tàu đi như một cơn điên đảo
sắt thép kinh hoàng va đập nhau
ta tưởng chừng nghe thời đại động
xô đi ấm ĩ một cơn đau
ngồi đây giữa những phân cùng bụi
trong chuyến đời xung sát bạo tàn
ta trở thành than thành súc vật
tiếng người e cũng đã quên ngang…”
Chuyến đi như một ác mộng kinh hoàng chuyến về lại ngậm ngùi của những năm hoang phế.
“Ta về như bóng ma hời tủi
lục lại thời gian kiếm chính mình
ta nhặt mà thương từng phế liệu
như từng hài cốt sắp vô danh
ngồi đây nền cũ nhà hương hỏa
đọc lại bài thơ thuở thiếu thời
ai đó trong hồn ta thổn thức?
Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi
Ta về như hạc vàng thương nhớ
một thuở trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta. ”
Viết về thơ Tô Thùy Yên, có lẽ còn phải dài hơn. Có những bài thơ như Chiều Trên Phá Tam Giang, như Mùa Hạn, như Hề, Ta Trở Lại Căn Nhà Cỏ, như Thắp Tạ... đều có những đoạn thơ hay, đều có những ý tưởng thích thú. Và để tổng kết lại những cảm nghĩ, tôi đã viết một bài thơ, mà rất lâu, khi nhà thơ còn ở Việt Nam. Bài thơ “ Chiều trên xa lộ đọc thơ Tô Thùy Yên“, viết lại ở đây như một chia sẻ:
“buổi chiều lái xe trên xa lộ
sao nghe tiếng sóng Phá Tam Giang
tâm tư cánh cửa vừa bung mở
khuôn trời xanh biếc tận ngàn năm
Mỏi bánh xe đời lăn miết miết
Lạnh buốt trong tâm quỷ xướng thi
Gần xa quanh quẩn vòng sinh diệt
Sao ta vẫn sống thật lạ kỳ
Lòng cứ mênh mang ngàn câu hỏi
Mặt trời phương đông hay phương tây
Hay như ghềng đá thiên thu đợi
Bọt nước rêu loang những gót giày
Sống qua thế thời này chẳng dễ
Vút lao muôn sóng cửa Thần Phù
Trôi theo vạn kiếp từ hạt lệ
Dấu vết còn hằn đá vọng phu
Nói với thinh không vài chuyện phiếm
Đèn chưa vàng nhem nhuốc hoàng hôn
Đến khi bạc tóc đành sương điểm
Vỡ lẽ chưa xong nỗi mất còn
Bỗng dưng tay nhỏ che trời đất
Làm gã cuồng rảo đến vô cùng
Có gã vương tôn miền trí tuệ
Hoài hoài chưa hết ý vô chung
Lái xe mà tưởng qua Vàm Cống
Thân thế mênh mang đến mấy đời?
Xưa cũ đành hanh vài huyễn mộng
Tràng thành trống điểm nguyệt còn soi
Chiều chủ nhật một mình xa lộ
Bên cạnh dường như có một người
Chân dung mờ nhạt như không rõ
Thơ hoài giọng đọc mãi khôn vơi
Nguyễn Mạnh Trinh

Tâm tình người Thủ Đức San Diego
Trong môt không gian đầy ấm cúng , thân tình , vui tươi . Với sự hiện diện của gần 300 quan khách , thân hữu , bằng hữu cùng với anh em gia đình Thủ Đức San Diego . Buổi dạ tiệc " Nhớ Người Thương Binh " do Hội Cựu SVSQTB Thủ Đức San Diego tổ chức trong đêm 20 tháng 1 năm 2008 được coi như đã hoàn toàn thành công vô cùng tốt đẹp .
Trong số các quan khách tham dự đến từ xa chúng tôi nhận thấy có sự hiện diện của phái đoàn Hội HO Cứu TrợThương Phế Binh cô nhi qủa phụ QLVNCH đến từ SanTa Ana do bà Hạnh Nhơn dẫn đầu , phái đoàn Hội cựu SVSQTB Orange county , phái đoàn Hội cựu SVSQTB Los Angeles .
Nhiều tổ chức cũng như hội đoàn điạ phương San Diego đã nhiệt tình tham gia với các đại diện đến tham dự trong đó có Cộng Đồng Người Việt San Diego , Hội Không Quân QLVNCH San Diego , Hội Hải Quân QLVNCH San Diego , Hội Thủy Quân Lục Chiến San Diego , Gia Đình Mũ Đỏ SD , Hội Thánh Chúa Cứu Thế Phục Sinh , Hội Đồng Hương Rạch Giá , Khối 8406 San Diego . Đặc biệt với sự yểm trợ tích cực của các cơ quan truyền thông điạ phương như Nhật Báo Điện Tử Hải Ngoại Phiếm Đàm , Đài Tiếng Nước Tôi , Tuần Báo Tiếng Việt , Tuần Báo Người Việt ToDay , Tuần Báo Thời Mới , Tuần Báo Việt Time , Việt Báo San Diego .
Như một thông lệ , hàng năm gia đình Thủ Đức SD đều tổ chức buổi dạ tiệc tất niên vào những dịp cuối năm với các chủ đề thay đổi khác nhau . Đây chính là dịp cho anh em trong gia đình Thủ Đức có cơ hội gặp gỡ , thăm hỏi , chia xẻ những vui buồn , tình thân trong suốt một năm làm việc bận bịu , mà thực sự vì hoàn cảnh công ăn việc làm , hoặc khác nhau vùng cư ngụ anh em đã không gặp hoặc ít gặp được nhau trong đời sống đầy vội vã và lôi cuốn nơi nước Mỹ này dù cùng sống chung trong một thành phố .
Đặc biệt năm nay với sự thống nhất và chấp thuận của Ban Chấp Hành cũng như ban Cố Vấn Giám Sát , gia đình Thủ Đức đã dành trọn số tiền thu được sau khi đã thanh toán các phần chi phí thay vì sung vào qũy điều hành , Gia Đình Thủ Đức đã xin được đóng góp gởi về cho các anh em thương phế binh còn kẹt lại quê nhà trong dịp đón xuân Mậu Tý 2008 .
Đó cũng chính là lý do tại sao gia đình Thủ Đức San Diego chọn chủ đề cho đêm dạ tiệc tất niên năm nay là " Nhớ Người Thương Binh " .
Hội Cựu SVSQTB Thủ Đức hoàn toàn không gây qũy , không giữ qũy và không xử dụng qũy theo ý riêng , hội chỉ đóng góp và kêu gọi sự cùng đóng góp của các người có lòng nghĩ đến thân phận nhục nhằn khổ đau của các anh em thương phế binh đang vất vưởng nơi quê nhà trong những ngày tết đến .
Số tiền của Hội Thủ Đức SD cộng với số tiền mà qúy vị hảo tâm cũng như mạnh thường quân có lòng giúp đỡ các anh em TPB trong đêm dạ tiệc sau khi trừ các khoản chi thu được là 7,000. dollas , cộng thêm chi phiếu 1,000.dollars của Hội Không Quân SD đã được trao tận tay cho bà Hạnh Nhơn đại diện Hội HO cứu trợ Thương Phế Binh Cô Nhi Qủa Phụ QLVNCH , vì đây là một tổ chức cứu trợ chính thức có giấy phép hoạt động của Tiểu Bang , Liên Bang được công nhận với rất nhiều uy tín từ trước đến nay tại California .
Với những người đã từng mặc bộ quân phục trên người , tình đồng đội luôn vô cùng trân trọng trong những trái tim của người lính , dù hoàn cảnh có thay đổi , có khắc nghiệt như thế nào người lính QLVNCH không bao giờ quay lưng bỏ quên đồng đội . Trong cuốc chiến bảo vệ miền nam thân yêu đã có biết bao người lính đã sống và chiến đấu cho toàn dân có những ngày tháng yên lành , thanh bình nơi hậu phương. Biết bao nhiêu người lính đã anh dũng hy sinh nằm xuống , nhưng sau chiến tranh hiện vẫn có hàng mấy chục ngàn người lính thương binh đã mất đi những phần thần thân thể họ cho chính nghĩa tự do của miền Nam ngày trước.
Sau cuộc chiến đến nay hơn ba mươi năm qua họ vẫn còn đó, và họ đã bị kỳ thị vất ra bên lề cuộc sống một cách tàn nhẫn rẻ khinh , họ đã phải sống nhọc nhằn đầy đau khổ trong bóng tối của quá khứ bằng kiếp sống lây lất bên đường . Dù lịch sử đã sang trang nhưng tất cả chúng ta vẫn là những người cùng chung quá khứ và cùng chịu ơn của họ, những người thương binh Việt Nam Cộng Hòa.
Những người lính thương binh mà hơn ba mươi năm trước chúng ta đã thấy, đã gặp , hiện nay họ vẫn hiện diện với những tan tác đến tận cùng , xin phải hết lòng luôn biết ơn và thương kính những sự hy sinh của họ với quê hương , đất nước , lý tưởng và trong đó chắc chắn có cả cuộc sống tốt đẹp của chúng ta ngày hôm nay và chúng ta càng thương cảm hơn khi mà tâm sự trong lòng của họ vẫn luôn còn nặng trĩu .........
Sau hơn ba mươi năm bọn mình vẫn là những người hành khất
Vẫn lất lây , lê lết , khổ đau trên khắp nẻo đường
Nhưng trong tận cùng trái tím bọn mình vẫn dạt dào mong đợi
Màu cờ vàng kiêu hùng ngày nào bay rợp khắp quê hương .....
Xin hãy cho chúng tôi những anh em trong gia đình Thủ Đức San Diego được gởi những lời chúc tốt lành đến những người thương binh Việt Nam Cộng Hòa với lòng biết ơn và trân trọng nhất ! Những gì chúng tôi đóng góp trong ngày hôm nay có thể thật nhỏ nhoi không đáng gì , nhưng đó chính là chút tâm tình rất thực của chúng tôi với những người thương phế binh , những người đã một thời chúng tôi gọi nhau là đồng đội .
Chúng tôi xin được chân thành cám ơn , xin được tri ân tất cả sự hiện diện , sự chia sẻ , sự đóng góp , sự giúp đỡ của tất cả qúy vị có lòng cho các anh em thương phế binh nơi quê nhà trong đêm dạ tiệc hôm nay .
Có thể hành động chân tình của chúng tôi với những kẻ ganh ghét , đố kỵ họ sẽ dèm pha chỉ như một vài cánh én đơn độc giữa mùa xuân , Nhưng một điều khẳng định không thể chối bỏ , những cánh én đó dù muốn hay không cũng báo hiệu cho chúng ta biết ràng mùa xuân thắm tươi trên quê hương yêu thương đang rộn ràng trở lại ....
Hội cựu SVSQTB Thủ Đức San Diego xin được vô cùng tri ân sự hiện diện , sự chia xẻ , sự đóng góp của tất cả qúy vị quan khách , qúy vị hảo tâm trong buổi dạ tiệc " Nhớ Người Thương Binh " với tấm lòng biết ơn vô cùng trân trọng .
Vũ Phong
Một Số Hình Ảnh Trong Đêm Dạ Tiệc " Nhớ Người Thương Binh "
Do Gia Đình Cư An Tư Nguy San Diego Tổ Chức
Đêm Chủ Nhật 20 Tháng 1 Năm 2008

Các Nàng Dâu Thủ Đức Tiếp Tân Quan Khách

Lễ Chào Quốc Kỳ Hai Nước Việt Mỹ

Phút Mặc Niệm anh hùng chiến sĩ QLVNCH đã chiến đấu hy sinh vì Tổ Quốc.

Trưởng ban tổ chức đêm " Nhớ Vế Thương Binh " Bùi Ngọc Hỷ

Phát biểu của Bà Hạnh Nhơn Hội Tri7ởng Hội HO Cứu Trợ TPB & Cô Nhi Quả Phụ QLVNCH

Kết toán chi thu tại chỗ của Ban Tổ Chức

Tiền thu được trong đêm được goao trực tiếp tận tay bà Hạnh Nhơn sau khi kết toán.

Niềm Vui và lời cảm tạ về những tâm tình mà
gia đình Thủ Đức San Diego dành cho anh em TPB nơi quê nhà trong tết năm nay.

Alfa Phạm Ngọc Hùng giúp vui qua nhạc phẩm Phút Giao Mùa

Tiếng hát Thuỳ Trang qua nhạc phẩm Tâm Sự Người Lính Trẻ

Nữ Ca sĩ Mai Lệ Huyền

Nữ Ca Sĩ Đan Thanh đến từ Santa Ana

Dạ Vũ Mừng Xuân Mậu Tý 2008 bắt đầu với tiếng hát Mai Lệ Huyền
Last edited by VuPhong on Wed Jan 23, 2008 8:33 pm, edited 2 times in total.
MƯỜI HAI CON GIÁP
HUY PHƯƠNG Ông thầy bói hấp hem đôi mắt nửa mù nửa sáng, mấy ngón tay co lại, đếm ngay trên bàn tay mình, lẩm bẩm, rồi xuýt xoa mấy chữ: “Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân” hay “Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ...” Ông thầy bói đang nói tới mười hai địa chi và mười thiên can để tính tuổi khách xem bói. Mười hai địa chi mà dân gian gọi là mười hai con giáp gồm: Tý (chuột), Sửu (trâu), Dần (cọp), Mão hay Mẹo (mèo) Thìn (rồng), Tỵ (rắn), Ngọ (ngựa)ï, Mùi (dê hay cừu), Thân (khỉ), Dậu (gà), Tuất (chó), Hợi (heo). Theo lịch Trung Hoa, chúng ta ai cũng phải mang một con Giáp, nghĩa là sinh vào một năm nào, mang theo một con vật biểu tượng cho năm sinh, xoay một vòng là mười hai năm. 12 con Giáp phải đi theo 10 thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Những năm cùng tên sẽ trở lại tên cũ sau một vòng xoay 60 năm. Tên năm Âm Lịch năm nay Đinh Hợi 2007, đã có năm 1947, sẽ trở lại vào năm 2007+60= 2067.
Ngày xưa dân quê ta thường không nhớ tới năm sinh theo những con số của dương lịch của mình mà chỉ nhớ sinh vào tuổi con gì của âm lịch, cũng không cần nhớ tới “can” đi theo nữa, cứ tính theo Tý lớn hay Tý nhỏ, Sửu lớn, Sửu nhỏ mà biết tuổi. Tên của 12 chi và 10 can cũng thường đem đặt tên cho con để dễ nhớ tuổi, những tên Tý, Sửu hay Giáp, Ất rất thông dụng ở thôn quê.
Hình ảnh những con vật trong 12 con giáp có con trông oai phong lẫm liệt như cọp, rồng... nhưng cũng có con trông bẩn thỉu như chuột, heo, chó. Để mỉa mai và mô tả một nhân vật nào kỳ quái ngoài đời, người ta hay dùng thành ngữ “chẳng giống con Giáp nào”. Và cũng không mấy ai vui khi được giới thiệu là tuổi con heo mang tiếng bẩn lại lười như tuổi năm này, hay con rắn có vẻ luồn lách, hiểm độc. Vì vậy hiện nay ở Trung Quốc, người ta đang thảo luận để tìm cách đổi tên lại cho 12 con giáp, loại trừ các con “chuột, rắn, gà, heo” ra và đem thay vào đó các con vật tốt đẹp hơn là các con “sư tử, cá, chim hạc và phượng hoàng”. Con gà không xấu nết như heo, rắn hay chuột nhưng khi phát âm lại nghe tiếng “ji”(kê) là đói, nên cứ tới năm gà lại lo nạn đói sẽ xẩy ra, trong khi con cá (ngư) thì phát âm như từ “dư ” (yu) là dư dả, no ấm. Người ta chọn con chim hạc là biểu tượng cho sự trường thọ (tuổi hạc), chim phượng hoàng là giống chim cao sang (phượng múa rồng bay), còn sư tử là giống oai vệ (Hà Đông sư tử hống).
Người Việt vẫn còn những điều tin tưởng về mười hai con Giáp một cách đơn giản và vô căn cứ, cứ tuổi Sửu là phải đi... cày mới có ăn, tuổi Hợi là ... “nằm đợi mà ăn”, trai thuộc can “Nhâm- Đinh”, gái thuộc “Giáp – Quý” là sang, “Quý Mùi không chùi cũng sáng”, tuổi Dậu như con gà là phải... bươi móc. Vợ chồng cùng tuổi thì “nằm duỗi mà ăn”. Trong khi dân Trung Hoa chọn năm Thìn để sinh con trai cho nó sang vì Rồng tượng trưng cho Vương quyền , thì người Nhật, con gái tuổi Ngọ là tuổi cao số, không ai dám rước về Dinh, nên nhiều cô phải tự tử. Nam mạng nào có tới ba... Tý thì số được làm lớn, không Vua thì cũng Tổng Thống, vì vậy nên nhiều nhân vật đã sửa lại ngày tháng năm sinh, đánh bóng lại tử vi để tạo huyền thoại, gây lòng tin cho dân chúng.
Vì sao tuổi Đinh Hợi là tuổi của năm nay (2007), cũng như tuổi Bính Tuất là tuổi tốt, mà người Trung Hoa muốn chọn để đẻ con? Sách vở nói hai tuổi này là tuổi “ốc thượng thổ” (ngói lợp nhà), rất tốt, nó hợp với tất cả tuổi khác. Ngói lợp nhà trước hết là đất (thổ), phải dùng cuốc (kim) để đào xới lên, đem nhào nặn với nước (thuỷ), xong đem vào lò đốt (hoả), lên mái nhà có rui, mè (mộc) đỡ, nghĩa là đầy đủ ngũ hành: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ.
Hai năm Thân Dậu (1944-1945) ở Việt Nam được coi như hai năm đói kém, nên ca dao dân gian đã nhắc nhở:
“Được mùa chớ phụ môn khoai,
Đến năm Thân, Dậu lấy ai bạn cùng.”
Có những năm, người ta không còn nhớ đến những con số mà chỉ gọi đến tên của con giáp, như cơn bão năm Thìn ở Huế, trận đói năm Thân, Dậu. Cũng như dân Huế, mỗi khi nói đến Mậu Thân (1968), người ta không nghĩ đến thứ tự của một con giáp mà người ta nghĩ đến một vụ thảm sát man rợ nhất của Việt Cộng trong lịch sử của cuộc chiến Việt Nam.
Sấm Trạng Trình có một bài thơ thất ngôn, nói đến các biến chuyển của những niên biểu mà cho mãi đến bây giờ, người ta vẫn chưa đoán ra được là đích xác năm nào:
“Long vĩ (cuối năm Thìn), xà đầu (đầu năm Tỵ), khởi chiến tranh
Can can xứ xứ khởi đao binh
Mã đề (trán ngựa- đầu năm Ngọ), dương cước (chân dê- cuối năm dê) anh hùng tận, (1)
Thân, Dậu niên lai kiến thái bình.”
Về vấn đề xung khắc của các con giáp, ngày xưa, đã biết bao nhiêu đôi trai gái thương yêu nhau nhưng phải chịu cảnh chia lìa vì cha mẹ mê tín đị đoan, không cho lấy nhau vì kỵ tuổi, tuổi xung khắc. Theo sách tử vi, Dần Thân Tỵ Hợi là bốn tuổi xung khắc:
“Dần Thân Tỵ Hợi tứ hành xung
Dặn anh hãy xét lại cho cùng,
Đính hôn mai mối,em sợ trùng không nên.”
hoặc:
“Biết con đặng hữu phước hay phải chịu vô phần
Gặp mặt nhau đây, nguyện ước Châu Trần,
Nhưng mà em e tuổi Hợi, tuổi Dần khắc xung”.
Riêng tuổi Thân không nghe nói kỵ, xung với ai, tuổi Thân cũng không được coi như là một tuổi xấu, nhưng vì chữ “tuổi” đọc âm lên nghe tựa như “tủi”, nói “tuổi thân” nghe như “tủi thân”:
“Người ta tuổi Sửu tuổi Mùi
Tôi nay phải chịu ngậm ngùi tủi... Thân.”
Do vậy ai là tuổi Thân thì cũng cảm thấy chút buồn buồn. Mặc dầu đây là một lối chơi chữ hiếm thấy trong văn chương bình dân.
Là người Việt Nam, ảnh hưởng văn hoá của người Tàu tự nghìn xưa, chúng ta sinh ra dưới tên gọi của một năm với một con vật tượng trưng, thì dù là Tý Sửu hay Dần Mão, dù suy ra nó cũng vô nghĩa nhưng chúng ta cũng phải chấp nhận nó và mang bên mình, nghĩ cũng vô hại. Nhưng nếu sống không ra con người, để cho bàng dân thiên hạ gọi chúng ta là con người “không giống con giáp nào”, thì đó không phải là con người có cá tính nữa, mà là một khuôn mặt kỳ quái, và chắc chắn đó không thể nào là một con người tử tế được.
(1) Đề còn có nghĩa là móng chân thú. Móng chân thì không thể giải nghĩa là cuối năm được. Chữ đề trong câu này theo nghĩa là cái trán (đầu năm) có lẽ đúng hơn.
Huy Phương
HUY PHƯƠNG Ông thầy bói hấp hem đôi mắt nửa mù nửa sáng, mấy ngón tay co lại, đếm ngay trên bàn tay mình, lẩm bẩm, rồi xuýt xoa mấy chữ: “Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân” hay “Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ...” Ông thầy bói đang nói tới mười hai địa chi và mười thiên can để tính tuổi khách xem bói. Mười hai địa chi mà dân gian gọi là mười hai con giáp gồm: Tý (chuột), Sửu (trâu), Dần (cọp), Mão hay Mẹo (mèo) Thìn (rồng), Tỵ (rắn), Ngọ (ngựa)ï, Mùi (dê hay cừu), Thân (khỉ), Dậu (gà), Tuất (chó), Hợi (heo). Theo lịch Trung Hoa, chúng ta ai cũng phải mang một con Giáp, nghĩa là sinh vào một năm nào, mang theo một con vật biểu tượng cho năm sinh, xoay một vòng là mười hai năm. 12 con Giáp phải đi theo 10 thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Những năm cùng tên sẽ trở lại tên cũ sau một vòng xoay 60 năm. Tên năm Âm Lịch năm nay Đinh Hợi 2007, đã có năm 1947, sẽ trở lại vào năm 2007+60= 2067.
Ngày xưa dân quê ta thường không nhớ tới năm sinh theo những con số của dương lịch của mình mà chỉ nhớ sinh vào tuổi con gì của âm lịch, cũng không cần nhớ tới “can” đi theo nữa, cứ tính theo Tý lớn hay Tý nhỏ, Sửu lớn, Sửu nhỏ mà biết tuổi. Tên của 12 chi và 10 can cũng thường đem đặt tên cho con để dễ nhớ tuổi, những tên Tý, Sửu hay Giáp, Ất rất thông dụng ở thôn quê.
Hình ảnh những con vật trong 12 con giáp có con trông oai phong lẫm liệt như cọp, rồng... nhưng cũng có con trông bẩn thỉu như chuột, heo, chó. Để mỉa mai và mô tả một nhân vật nào kỳ quái ngoài đời, người ta hay dùng thành ngữ “chẳng giống con Giáp nào”. Và cũng không mấy ai vui khi được giới thiệu là tuổi con heo mang tiếng bẩn lại lười như tuổi năm này, hay con rắn có vẻ luồn lách, hiểm độc. Vì vậy hiện nay ở Trung Quốc, người ta đang thảo luận để tìm cách đổi tên lại cho 12 con giáp, loại trừ các con “chuột, rắn, gà, heo” ra và đem thay vào đó các con vật tốt đẹp hơn là các con “sư tử, cá, chim hạc và phượng hoàng”. Con gà không xấu nết như heo, rắn hay chuột nhưng khi phát âm lại nghe tiếng “ji”(kê) là đói, nên cứ tới năm gà lại lo nạn đói sẽ xẩy ra, trong khi con cá (ngư) thì phát âm như từ “dư ” (yu) là dư dả, no ấm. Người ta chọn con chim hạc là biểu tượng cho sự trường thọ (tuổi hạc), chim phượng hoàng là giống chim cao sang (phượng múa rồng bay), còn sư tử là giống oai vệ (Hà Đông sư tử hống).
Người Việt vẫn còn những điều tin tưởng về mười hai con Giáp một cách đơn giản và vô căn cứ, cứ tuổi Sửu là phải đi... cày mới có ăn, tuổi Hợi là ... “nằm đợi mà ăn”, trai thuộc can “Nhâm- Đinh”, gái thuộc “Giáp – Quý” là sang, “Quý Mùi không chùi cũng sáng”, tuổi Dậu như con gà là phải... bươi móc. Vợ chồng cùng tuổi thì “nằm duỗi mà ăn”. Trong khi dân Trung Hoa chọn năm Thìn để sinh con trai cho nó sang vì Rồng tượng trưng cho Vương quyền , thì người Nhật, con gái tuổi Ngọ là tuổi cao số, không ai dám rước về Dinh, nên nhiều cô phải tự tử. Nam mạng nào có tới ba... Tý thì số được làm lớn, không Vua thì cũng Tổng Thống, vì vậy nên nhiều nhân vật đã sửa lại ngày tháng năm sinh, đánh bóng lại tử vi để tạo huyền thoại, gây lòng tin cho dân chúng.
Vì sao tuổi Đinh Hợi là tuổi của năm nay (2007), cũng như tuổi Bính Tuất là tuổi tốt, mà người Trung Hoa muốn chọn để đẻ con? Sách vở nói hai tuổi này là tuổi “ốc thượng thổ” (ngói lợp nhà), rất tốt, nó hợp với tất cả tuổi khác. Ngói lợp nhà trước hết là đất (thổ), phải dùng cuốc (kim) để đào xới lên, đem nhào nặn với nước (thuỷ), xong đem vào lò đốt (hoả), lên mái nhà có rui, mè (mộc) đỡ, nghĩa là đầy đủ ngũ hành: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ.
Hai năm Thân Dậu (1944-1945) ở Việt Nam được coi như hai năm đói kém, nên ca dao dân gian đã nhắc nhở:
“Được mùa chớ phụ môn khoai,
Đến năm Thân, Dậu lấy ai bạn cùng.”
Có những năm, người ta không còn nhớ đến những con số mà chỉ gọi đến tên của con giáp, như cơn bão năm Thìn ở Huế, trận đói năm Thân, Dậu. Cũng như dân Huế, mỗi khi nói đến Mậu Thân (1968), người ta không nghĩ đến thứ tự của một con giáp mà người ta nghĩ đến một vụ thảm sát man rợ nhất của Việt Cộng trong lịch sử của cuộc chiến Việt Nam.
Sấm Trạng Trình có một bài thơ thất ngôn, nói đến các biến chuyển của những niên biểu mà cho mãi đến bây giờ, người ta vẫn chưa đoán ra được là đích xác năm nào:
“Long vĩ (cuối năm Thìn), xà đầu (đầu năm Tỵ), khởi chiến tranh
Can can xứ xứ khởi đao binh
Mã đề (trán ngựa- đầu năm Ngọ), dương cước (chân dê- cuối năm dê) anh hùng tận, (1)
Thân, Dậu niên lai kiến thái bình.”
Về vấn đề xung khắc của các con giáp, ngày xưa, đã biết bao nhiêu đôi trai gái thương yêu nhau nhưng phải chịu cảnh chia lìa vì cha mẹ mê tín đị đoan, không cho lấy nhau vì kỵ tuổi, tuổi xung khắc. Theo sách tử vi, Dần Thân Tỵ Hợi là bốn tuổi xung khắc:
“Dần Thân Tỵ Hợi tứ hành xung
Dặn anh hãy xét lại cho cùng,
Đính hôn mai mối,em sợ trùng không nên.”
hoặc:
“Biết con đặng hữu phước hay phải chịu vô phần
Gặp mặt nhau đây, nguyện ước Châu Trần,
Nhưng mà em e tuổi Hợi, tuổi Dần khắc xung”.
Riêng tuổi Thân không nghe nói kỵ, xung với ai, tuổi Thân cũng không được coi như là một tuổi xấu, nhưng vì chữ “tuổi” đọc âm lên nghe tựa như “tủi”, nói “tuổi thân” nghe như “tủi thân”:
“Người ta tuổi Sửu tuổi Mùi
Tôi nay phải chịu ngậm ngùi tủi... Thân.”
Do vậy ai là tuổi Thân thì cũng cảm thấy chút buồn buồn. Mặc dầu đây là một lối chơi chữ hiếm thấy trong văn chương bình dân.
Là người Việt Nam, ảnh hưởng văn hoá của người Tàu tự nghìn xưa, chúng ta sinh ra dưới tên gọi của một năm với một con vật tượng trưng, thì dù là Tý Sửu hay Dần Mão, dù suy ra nó cũng vô nghĩa nhưng chúng ta cũng phải chấp nhận nó và mang bên mình, nghĩ cũng vô hại. Nhưng nếu sống không ra con người, để cho bàng dân thiên hạ gọi chúng ta là con người “không giống con giáp nào”, thì đó không phải là con người có cá tính nữa, mà là một khuôn mặt kỳ quái, và chắc chắn đó không thể nào là một con người tử tế được.
(1) Đề còn có nghĩa là móng chân thú. Móng chân thì không thể giải nghĩa là cuối năm được. Chữ đề trong câu này theo nghĩa là cái trán (đầu năm) có lẽ đúng hơn.
Huy Phương

