Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Vợ Tom Cruise từng cô đơn trong lễ Tình nhân Khi còn đi học, Katie Holmes không bao giờ được tặng quà trong ngày Valentine. Cô vượt qua nỗi buồn bằng cách tặng thiệp cho các bạn gái.
Image
Katie Holmes thời con gái. Ảnh: Fansite.
Diễn viên Katie Holmes kể: “Tôi theo học tại một trường nữ sinh. Đến ngày lễ 14/2, nhà trường gọi các học sinh có hoa và quà tặng ra nhận quà. Tôi chẳng bao giờ được gọi cả. Tôi cũng chẳng có tiền để tự tặng quà cho mình”. Ngôi sao này đã tặng thiệp cho các bạn gái vào ngày Valentine. Cô nói: "Tôi là người lãng mạn và thích những buổi lễ long trọng, hoành tráng".

Tuy nhiên, nữ diễn viên 29 tuổi cho biết, cô đã được hưởng hương vị lãng mạn trong cuộc sống sau khi kết hôn với tài tử Tom Cruise. Vợ chồng cô còn cùng thích một ca khúc là Unchained Melody.

Mai Trần (theo Femalefirst)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Chuyện Thần Tiên: Gái Việt muôn dặm tìm cha ruột Đài Loan, mới biết người chủ cũ chính là cha mình
Với hy vọng mong manh tìm lại người cha đẻ của mình, một phụ nữ Việt đã lặn lội sang Đài Loan làm nghề giúp việc và bật ngữa khi biết chính người chủ cũ của cô là cha đẻ của cô trước đây

Câu chuyện thần tiên kết thúc có hậu do chính cảnh sát Đài loan kết luận là có thật. Cô Trần Thị Khang 40 tuổi đến Đài loan năm 2004 để tìm cha ruột. Cô đã vào đúng nhà của cha mình là ông Tsai Han-chao để giúp việc cho bà vợ già yếu của ông đã 77 tuổi mà không biết. Khi bà này qua đời, cô phải ra đi.

Cô tìm được việc làm trong gia đình thứ nhì ở Kinmen nhưng có đến cảnh sát khai trình năm 2007 với hy vọng tìm cha. Cô trình cho cảnh sát biết một chiếc nhẫn vàng có khắc chữ “Tsai Han-chao” và một tấm ảnh của ông mà mẹ của cô đã trao cho cô đã bị cô bỏ quên lại trong nhà ông Tsai.

Ông Tsai đã hết sức bàng hoàng nhận ra đó là những kỷ vật ông đã trao cho người yêu VN mà ông gặp ở Hong Kong năm 1967 trứơc khi bà này quay về VN vì bà mẹ đã yếu đau.

Ông Tsai lập tức bay sang Kinmen tìm con gái và ông đã khóc nức nở. Ôâng nói: “Đời sống cứ như một kịch bản, tôi đâu có ngờ mình có được 1 đứa con gái ruột .”

Ông cho hay ông mất liên lạc với người yêu do chiến cuộc VN trở nên khốc liệt vào các năm 1970. Tuy từ Hong Kong quay về Đài Loan ông vẫn nuôi hy vọng có ngày sẽ gặp lại người xưa.

Hai cha con đều được thử DNA và cảnh sát Đài Loan cho hay là DNA của hai người xác nhận dúng là hai cha con ruột thịt. Đây là tia sáng hiếm hoi của một câu chuyệân có hậu, khi mà “chuyện dài Đài Loan về phụ nữ VN” cứ làm mọi người đau lòng vì các thảm cảnh của họ.

Nguyễn Dương, source EarthTimes

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Cầu nguyện là đời sống, là hơi thở của người tín hữu Kitô để hiệp nhất với Thiên Chúa. Không ai có quyền cấm giáo dân cầu nguyện. Nhưng nếu có ai phải bị bắt vì cầu nguyện, bị đi tù, tôi sẽ đi thay họ vì tôi là người kêu gọi họ cầu nguyện --

Image

TGM Ngô Quang Kiệt
TGM Ngô Quang Kiệt:
"Nếu vì cầu nguyện, mà có
ai phải đi tù, tôi sẽ đi thay"

HÀ NỘI -- Ngôi nhà của Tòa Tổng Giám mục nằm bên phải lối đi vào từ cổng 40 Nhà Chung. Khi tôi đến, khu vực Tòa Tổng Giám mục thật vắng lặng. Đối với một người vốn hay quen những nơi ồn ã như tôi, nơi đây mang đến một cảm giác khác lạ. Lên tầng 2. Hành lang rộng rãi của ngôi nhà cổ làm từ thời Pháp vắng vẻ không một bóng người. Mỗi bước chân đi, tôi lại nghe thấy chính âm thanh của nó dội lại khiến tôi hơi có cảm giác chờn chợn.

Gặp Đức Tổng đã khá nhiều lần, nhưng thường là ở phòng khách, đây là lần đầu tiên tôi được bước vào phòng riêng của Ngài. Tôi khá ngỡ ngàng bởi mọi thứ không như tưởng tượng…

Trước đây, trong bài viết của phóng viên một tờ báo lá cải về Tòa Tổng Giám mục khi đoàn Tòa Thánh do Hồng y Sepe dẫn đầu sang thăm có viết rằng: ở đây có những phòng tiện nghi như khách sạn hạng sang… nhưng tinh ý thì biết rằng ông này chỉ khịa, và chắc chắn một điều là hôm đó ông không đến dự buổi lễ tấn phong 57 linh mục đó, mà ông chỉ ngồi nhà nghe hơi nồi chõ qua ông bạn nhà báo Công giáo quốc doanh mà thôi.

Trong thâm tâm tôi, phòng ở của một Tổng Giám mục, không “hoành tráng” được như nhà ở của một chủ tịch tỉnh, thì ít nhất cũng đầy đủ tiện nghi sang trọng như của một chủ tịch huyện.

Thế nhưng, khi vào đến đây tôi mới hiểu những suy nghĩ đó là sai lầm. Thật đúng là tiện nghi không làm nên nhân cách con người và không tạo nên sự
kính trọng thực sự.

Căn phòng nhỏ của Tổng Giám mục, vừa là nơi làm việc, một chiếc giường gỗ bên cạnh giá sách với chiếc laptop còn mở sẵn, một chiếc bàn viết trên có tượng Chúa Hài đồng nằm trong máng cỏ và cây Thánh giá nhỏ, mấy công văn đang soạn dở....

Với vẻ mặt tươi cười, Ngài đón tôi vào bộ bàn ghế đã cũ ngồi uống nước, nét mặt Ngài vẫn lộ những vẻ ưu tư khi nói đến vấn đề đất đai Tòa Khâm sứ và những vụ việc xảy ra ở các giáo xứ vừa qua.

Những ngày qua đối với Ngài quả là bận rộn, nhiều áp lực. Để có thể hành động nhằm đề cao công lý, sự thật, tình thương, để có thể chăn dắt đoàn chiên Chúa trong Tổng Giáo phận những ngày nước sôi lửa bỏng này, Ngài phải có nhiều đêm thao thức và trăn trở một mình.

Là Tổng Giám mục của một Tổng Giáo phận giữa Thủ đô, nhưng những năm tháng phục vụ xứ rừng Lạng Sơn với những bước chân ngày ngày trên đường đến với giáo dân vùng đồng bào dân tộc xa xôi, đơn lẻ như vẫn đang để lại cho Ngài phong thái đó: Nhanh nhẹn và niềm mở,
thân ái với tất cả mọi người.

Ngài có lẽ là Giám mục duy nhất trên thế giới đã làm lễ đêm Noel hai nơi cách nhau mấy chục km đường rừng ở Lạng Sơn trong những năm đầu lên phục vụ, khi Ngài vừa là Giám mục, vừa là người kéo chuông, là người
quét dọn, mở cửa nhà thờ.

Sau đây là cuộc nói truyện
của tôi với Đức TGM Hà Nội:

Những ngày qua, nhà nước có động thái nào thúc đẩy sự việc đi đến chiều hướng tiến bộ hơn không thưa Cha?

TGM - Chưa có gì hơn vài buổi gặp gỡ và một vài lời nghe ngóng, hứa hẹn xem xét giải quyết của ông Thủ tướng. Nhưng Thành phố lại đưa ra một văn bản cho xây dựng trên đất của Xứ Thái Hà, tôi không hiểu họ định làm gì. Chưa có gì đảm bảo là nguyện vọng giáo dân được giải quyết, còn phải cầu nguyện nhiều.

Liệu giáo dân cầu nguyện, bị công an, dân phòng và cảnh sát trang bị vũ khí như vậy theo dõi, có sợ xảy ra chuyện gì ngoài ý muốn không thưa Cha?

TGM- Chẳng có gì phải sợ khi mình làm đúng, tôi đã lưu ý tất cả giáo dân, trong khi cầu nguyện phải tự chế. Không để các việc bạo động, khiêu khích và xô xát xảy ra. Phải thể hiện tinh thần ôn hòa, là chứng nhân của Đức Kitô. Tôi tin giáo dân có đủ bản lĩnh để tự chế, giáo dân ôn hòa, chỉ cầu nguyện thì không có việc gì phải xô xát. Việc bên Thái Hà, có một số người gây sự khiêu khích,
tưới nước bẩn vào ảnh tượng, kích động giáo dân, nhưng giáo dân đã tự chế được, đó là một ví dụ.

Nếu Nhà nước hứa hẹn, hoặc có văn bản dừng lại các công việc xây dựng, sửa chữa, thậm chí không sử dụng đất đai và các công trình Tòa Khâm sứ, như thế thì sao thưa Cha?

TGM- Không. Chúng tôi khiếu nại, đề nghị trả lại quyền sử dụng đất đai và tài sản của Giáo hội. Đến khi đạt được điều đó, thì việc cầu nguyện cho vấn đề đó mới chấm dứt. Ở đây, không phải là đề nghị việc xây dựng, sửa chữa phải dừng lại, mà là trả lại tài sản của Giáo hội tại những nơi đó.

Việc đề nghị dừng lại trước đây, cũng như hiện nay, chỉ là để không làm phức tạp thêm tình hình, và Giáo hội không chịu trách nhiệm về những tài sản đã xây dựng lên trên đất đai bị chiếm đoạt đó mà thôi.

Như vậy, có khả năng việc đề nghị và Cầu nguyện sẽ còn dài thưa Cha?

TGM- Việc cầu nguyện không bao giờ chấm dứt trong đời sống người tín hữu, là hơi thở của đời sống giáo dân. Khi có những khó khăn, giáo dân sẽ cầu nguyện với Thiên Chúa để cầu xin vấn đề đó. Còn cầu nguyện cho được trả lại tài sản của Giáo hội, thì khi nào việc đó thành hiện thực, việc cầu nguyện đó mới chấm dứt. Điều này phụ thuộc vào Nhà nước có nghe theo tiếng nói, nguyện vọng chính đáng của giáo dân hay không, và
thực thi công lý vào khi nào mà thôi.

Nhưng như vậy, đời sống giáo dân sẽ có những khó khăn nào không thưa Cha? Chẳng hạn như việc các nhà chức trách làm khó dễ những người đi
cầu nguyện?

TGM - Những người giáo dân hết sức can đảm, họ có làm gì đâu mà phải sợ, ngoài chuyện cầu nguyện. Nếu cầu nguyện mà bị làm khó dễ, bị cấm thì họ sẽ phải làm điều đó với cả Giáo hội Công giáo chứ không chỉ với một số người. Cần phải hành xử đúng những điều mà Hiến pháp và pháp luật đã quy định, nên để những điều tốt đẹp trong hành
xử đời sống ở một nhà nước pháp quyền.

Nếu như bất chấp điều đó, công an, cảnh sát cứ đàn áp, cứ bắt bỏ tù những người cầu nguyện thì sao thưa Cha? Cha có tính đến khả năng đó không?

TGM - Tôi không nghĩ Nhà nước làm những điều đó với giáo dân cầu nguyện ôn hòa, bất bạo động khi nhà nước luôn nêu cao việc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Như đã nói ở trên, cầu nguyện là đời sống, là hơi thở của người tín hữu Kitô để hiệp nhất với Thiên Chúa. Không ai có quyền cấm giáo dân cầu nguyện.Nhưng nếu có ai phải bị bắt vì cầu nguyện, bị đi tù, tôi sẽ đi thay họ vì tôi là người kêu gọi họ cầu nguyện.

Cha có cầu nguyện không thưa Cha?
Cha cầu nguyện những gì?

TGM - Cầu nguyện là đời sống của tôi, tôi luôn cầu nguyện cho Giáo hội, giáo dân, cho đất nước được phồn thịnh, an bình, dân tộc được tiến bộ tiến kịp thế giới và cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo đất nước được sáng suốt, khôn ngoan đưa đất nước tiến lên, đảm bảo ấm no, dân chủ, tự do và
hạnh phúc cho nhân dân.

Theo con biết, các hãng truyền thông trên thế giới rất quan tâm vấn đề này, có một vài hãng truyền thông muốn phỏng vấn Cha, sao cha lại từ chối thưa Cha?

TGM - Không phải từ chối, nhưng tôi đang muốn dành một thời gian ngắn chờ đợi những động thái của Nhà nước và mong muốn những hành động thiện chí, theo đúng sự công bằng, công lý từ phía họ. Tôi không muốn làm phức tạp thêm vấn đề.

Xin cảm ơn Cha, chúc Cha luôn mạnh khỏe và được sự quan phòng của Thiên Chúa.

*
Căn phòng đơn sơ của Ngài nhìn thẳng ra Tòa Khâm sứ. Tôi trộm nghĩ, mỗi phút giây qua đi trong căn phòng cũng là nỗi niềm đau đáu của Ngài về trách nhiệm lớn lao nặng nề với Giáo hội, giáo dân và sự công bằng trong xã hội này.

Tôi muốn lên tầng thượng của căn nhà này để tận mắt chứng kiến những vệt mòn do bước chân cố Hồng y Trịnh Như Khuê để lại trong những đêm thao thức của một thời kỳ khắc nghiệt trong lịch sử Giáo hội Việt Nam nhưng không thể.

Trong tôi, một liên tưởng không rõ ràng nhưng mãnh liệt về những sự nhẫn nại, chịu đựng biết bao nhiêu năm tháng qua của mấy đời Giám mục và Linh mục đoàn cũng như giáo dân Hà Nội đã dồn nén, đã chất chứa trong lòng mà chưa thể giãi bày cùng ai. Tôi càng hiểu hơn sự kiên quyết trong ánh mắt của Ngài khi nói về việc đòi lại những tài sản mà Giáo hội đã bị chiếm đoạt vô cớ.

Ngài đưa tôi đến tận chân cầu thang. Tôi thấy mình xúc động trước một vị thủ lĩnh tinh thần
đáng kính của Tổng Giáo phận, một “cán bộ” thật sự “của dân, do dân và vì dân” bằng những hành động, lời nói và việc làm thiết thực, bằng cả đời sống và sinh mạng của mình mà không cần những lời tán tụng những vần thơ ca ngợi nào, ở Ngài là sự bình dị và khiêm cung.

Bài phỏng vấn này được thực hiện từ khá lâu, nhưng với bản tính hòa hiếu của mình, Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt chưa muốn cho đưa lên công luận. Ngài vẫn hi vọng vào một sự cởi mở và tinh thần thiên chí nào đó. Nhưng có lẽ Ngài đã nhầm
đối tượng chăng?

Vì vậy, tôi thiết nghĩ chúng ta
cần biết những suy tư của Ngài để hiểu hơn về sự việc.

Cầu mong Thiên Chúa bớt đi một phần gánh nặng trên đôi vai của Ngài. Cầu mong công lý, sự bình an sớm được trở lại nơi mảnh đất này.

Hà Nội,
Ngày 25 tháng 1 năm 2008
J.B. Nguyễn Hữu Vinh

www.vietcatholic. net

KÍNH NHỜ PHỔ BIẾN RỘNG RÃI
Ba^'m nghe nha.c Kinh Ho`a Bi`nh
Download Kinh Ho`a Bi`nh



Kinh Hòa Bình

Lạy Chúa từ nhân!
Xin cho con biết mến yêu
Và phụng sự Chúa trong mọi người.
Lạy Chúa xin hãy dùng con
Như khí cụ bình an của Chúa
Ðể con đem yêu thưong vào nơi oán thù,
Ðem thứ tha vào nơi lăng nhục,
Ðem an hòa vào nơi tranh chấp,
Ðem chân lý vào chốn lỗi lầm.
Ðể con đem tin kính vào nơi nghi nan,
Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng
Ðể con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm
Ðem niềm vui đến chốn u sầu.
Lạy Chúa xin hãy dạy con:
Tìm an ủi người hơn được người ủi an
Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết
Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu
Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh
Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân
Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ
Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời
Ôi Thần Linh thánh ái xin mở rộng lòng con
Xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí
Ơn An Bình.
Kinh Hòa Bình của Thánh Phanxicô khó khăn, Linh Mục Kim Long phổ nhạc, nhạc sĩ Liên Bình Định hòa âm, www.catruong. com

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

UBND Hà nội đã gởi văn thư yêu cầu TGM phải chuyển tượng Đức Mẹ và Thánh Giá về,
thời hạn cuối cùng là 5 giờ chiều Chúa Nhật 27.1.2008.
Trong tinh thần hiệp nhất với Đức Tổng Giám Mục, các Linh Mục và Nam Nữ Tu Sĩ cùng với Giáo Dân Hà Nội,
xin tất cả Anh Chị Em tín hữu Công Giáo hãy đến cầu nguyện với anh chị em giáo dân Hà Nội tại Tòa Khâm Sứ
.


Image

TIN BÁO KHẨN CẤP LIÊN QUAN TỚI TÒA KHÂM SỨ:
NGÀY MAI SẼ CÓ BIỆN PHÁP MẠNH

HÀ NỘI -- Tin từ Tòa Tổng Giám mục chiều hôm nay ngày 26.1.2008 (giờ Hà nội) cho biết UBND Hà Nội đã có văn thư cho Tòa Tổng Giám Mục yêu cầu thời hạn cuối cùng là 5giờ chiều ngày Chúa Nhật 27.1.2008 phải tháo rỡ tất cả ảnh tượng mang về, nếu không sẽ có biện pháp mạnh.

Như vậy là chính quyền đã quyết định sẽ cưỡng chế và đàn áp giáo sĩ và giáo dân Hà nội những người đang cầu nguyện và bảo vệ các tượng ảnh tại Tòa Khâm Sứ.

Trong tinh thần hiệp nhất với Đức Tổng Giám Mục, với các Linh Mục và Nam Nữ Tu Sĩ và với Giáo Dân Hà Nội, xin tất cả Anh Chị Em tín hữu Công giáo hãy đến cầu nguyện với anh chị em giáo dân Hà nội tại Tòa Khâm Sứ và chứng kiến tận mắt cuộc đàn áp chắc chắn sẽ diễn ra.

Máu có thể sẻ chảy, nhưng sẽ là những chứng nhân cho Chúa, cho Sự Thật, cho Công Lý, và bảo vệ quyền Tự Do và Dân Chủ cho Quê Hương Việt Nam.

Quân đội hôm nay đã có mặt để nghe ngóng tình hình ở đây

VietCatholic News

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


Mùa Xuân nói chuyện hoa mai

Tuyết Mai
Hoa mai là loại hoa nở đầu tiên trong mùa Xuân. Nói đến mùa Xuân người ta liên nghỉ đến hoa mai, nói đến hoa mai người ta liên nghỉ đến mùa Xuân. Hoa mai là một trong những loài hoa được ưa chuộng nhất từ trước đến nay. Có nhiều loại hoa mai, hầu hết các loại mai đều có năm cánh, hay tám cánh, có loại có nhiều tầng nên có rất nhiều cánh. Nhưng hai loại phổ thông, được nhiều người biết đến là hoa mai vàng (huỳnh hoa) và mai trắng (bạch mai). Mai vàng là hoa mai người ta thường nói tới, nở rộ vào mùa Xuân từ miền Trung vào Miền Nam. Màu vàng tượng trưng cho sự cao thượng, cao sang, màu của vua chúa. Vào khoảng Tết ta, ra khỏi ngoại ô Saigon, đi về hướng Lái Thiêu, Bình Dương, dọc đường nhà nào cũng có một cội mai già, hoa đua nở đầy cành, vàng rực, đẹp không thể diễn tả.

Loại hoa mai thứ hai là “bạch mai”, có màu trắng, cũng có năm cánh hay tám cánh như huỳnh mai, nhưng mai trắng rất hiếm quý và có hương thơm dìu dịu, thanh khiết. Có người gọi mai trắng là “Tuyết Mai”, vì tuyết có màu trắng.

Hoa mai không có hương sắc quyến rũ như hoa hồng, cũng không sực nức hương thơm như dạ lý, nhưng hoa mai mỏng mãnh, đính trên cành, trên thân cây gầy guộc, cằn cỗi tạo một nét đẹp tương phản, thật duyên dáng, độc đáo.

Tại Việt Nam có một loại hoa mai gọi là “mai tứ quý”. Hoa cũng có năm cánh vàng như huỳnh mai, khi hoa tàn thì năm cánh rụng, năm đài hoa đổi thành màu đỏ, úp lại, ôm lấy nhụy là hạt màu xanh. Hạt lớn dần đẩy năm đài hoa bung ra giống như hoa mai đỏ. Vì vậy mai tứ quý được gọi là “Nhị Độ Mai” tức là hoa mai nở hai lần, lần đầu cánh hoa có màu vàng, lần sau cánh hoa có màu đỏ. Loại hoa này nở quanh năm.

Ngoài hương sắc và duyên dáng, hoa mai được các nhà Nho và các bậc Thiền sư coi là một biểu tượng của hai đức tính “Nhẫn” và “Dũng”. Chịu đựng thời tiết khắc nghiệt lạnh lẽo mùa Đông, hoa vẫn kết nụ để là đóa hoa đầu tiên chào đón Chúa Xuân. Cảm cáí đức hạnh thủy chung, cái khí tiết nhẫn nhục và kiêu dũng đó, Chúa Xuân phong cho hoa mai là vua của tất cả các loài hoa khác, có tên là “Đông Quân”. Nhiều nữ sĩ có tên “Mai” lấy bút hiệu là “Đông Quân” cũng từ điễn tích này.

Từ nét duyên dáng, thuần khiết bên ngoài cho đến tính khí đức hạnh, kiêu dũng bên trong, hoa mai được người Trung Hoa tôn vinh là “quốc hoa”. Các nhà Nho và các Thiền sư Trung Hoa cũng như Việt Nam luôn coi hoa mai là một tấm gương, một biểu tượng của vẽ đẹp vẹn toàn, “bách hoa khôi”. Họ đem ghép hoa mai với “tùng” và “trúc” thành một bộ ba “Tam Hữu”. Cây tùng tượng trưng cho trượng phu, cứng cõi, ngay thẳng; cây trúc tượng trưng cho sự kiên nhẫn, rộng lượng và hoa mai được gọi là “ngự sử mai” tượng trưng cho sự hiểu biết và nét đẹp vẹn toàn. Người xưa rất quý “tam hữu”.

Trong Hội Thơ Tao Đàn, Vua Lê Thánh Tôn có bài thơ “Mai Thụ” (Cây mai) như sau:

“Trội cành nam chiếm một chồi

Tin Xuân mãi mãi điểm cây mai

Tinh thân sáng, thuở trăng tĩnh

Cốt cách Đông khi gió thôi (ngừng)

Tiết cứng trượng phu, thông (tùng) ấy bạn

Nết trong quân tử, trúc là đôi (sánh đôi)

Nhà truyền (thống) thanh bạch dăng từng khối

Phỉ xứng danh thơm đệ nhất thời!”

Ngoài ra hoa mai cũng được ghép với lan, cúc, trúc, thành bộ “tứ quý”, tức là bốn loại hoa, kiểng quý, tượng trưng của bốn mùa Xuân, Hạ Thu , Đông.

Cụ Chu Thần, Cao Bá Quát là một nho sĩ kiệt liệt, một tài năng văn chương lỗi lạc, một đại anh hùng thế thiên hành đạo, suốt quảng đời bôn ba khắp chốn cầu cổ kiếm để xây dựng sự nghiệp bá vương, cụ không gặp bậc chính nhân quân tử nào có cốt cách như “mai ngự sử”, vì vậy cụ đã làm hai câu thơ :


”Thập tải luân giao cầu cổ kiếm

Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”

Có nghĩa là :

“Mười năm xuôi ngược giao du cốt tìm thanh kiếm cổ

Một đời chỉ cúi đầu vái lạy trước hoa mai”.

Cụ Chu Thần , Cao bá Quát đã hết lời xưng tụng “bách hoa khôi”. Cụ cũng có bốn câu thơ “Trồng mai” được dịch ra như sau:

“Đầu non nắm hạt mai gieo

Giống thanh gửi chốn núi đèo xanh tươi

Nữa mai xuân điểm bầu trời

Bức tranh tuyệt tác cho đời ngắm chung”.

Được bái lạy như vậy, hoa mai quả là một loài hoa rất quý?

Hoa mai đã gợi nhiều cảm hứng cho thi nhân, nên ảnh hưởng rất lớn trong văn hóa Trung Hoa và Việt Nam. Lý Bạch làm thơ:


“Ngồi trên lầu Hoàng Hạc, nghe tiếng sáo thổi

Giữa tháng năm, chợt vang khúc “hoa mai rơi” ở chốn Giang thành”

Nguyễn Trãi, vị khai quốc công thần nhà Hậu Lê yêu hoa mai vì:

“Yêu mai, yêu tuyết bởi vì đâu?

Vì tuyết trắng, mai thơ và tinh khiết”

Trong chuyện Kiều, Cụ Nguyễn Du có rất nhiều câu thơ nói về hoa mai.

“Thướt tha vóc liễu Xuân đầy

Cành mai xa bẻ ngất ngây ý sầu

Biết chàng lòng có thương sâu

Chúa Xuân ngán nỗi chờ lâu mỏi mòn”

Nhiều Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam đã dùng hoa mai làm ẩn dụ cho sự hạnh phúc, niềm vui giác ngộ trong những bài kệ để truyền dạy Phật pháp cho phật tử, cho hậu thế. Bài kệ về “Mùa Xuân Hoa Mai”của Thiền Sư Thích Mãn Giác được phổ biến rộng rãi trong giới phật tử:

“ Xuân đi trăm hoa rụng

Xuân đến trăm hoa cười

Trước mắt việc đi mãi

Trên đầu già đến rồi

Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai”

Bài thơ có nghĩa là, cuộc đời là một dòng sinh diệt, vô thường , biến chuyển theo thời gian và không gian. Xuân đến rồi Xuân đi , hoa cười rồi hoa rụng…là lẽ đương nhiên của vũ trụ, hể có sinh thì có diệt. Nhưng trong sự sinh diệt của vũ trụ vẫn còn có một cái không sinh diệt đó là Phật tánh, là chân tâm, chân như. Nếu chúng ta luôn tu tập, Phật tánh đó giúp ta có được cuộc sống an lành , hạnh phúc. Tâm an bình gọi là Tâm Xuân, trong tâm Xuân, cành mai (biểu tượng của hạnh phúc) sẽ còn mãi mãi, không tàn, không rụng. Cần gì phải chờ đến mùa Xuân mới có hoa mai? Hoa nở rồi hoa cũng tàn. Chỉ có cành mai trong tâm Xuân là tồn tại mãi mãi, ngoài dòng sinh diệt, vô thường, bể dâu của vũ trụ.

Từ ngày lưu lạc tha hương, những thi sĩ hải ngoại luôn mang theo trong tâm tưởng những hoài niệm dấu yêu về một mùa Xuân êm đềm nơi quê cũ. Nhà thơ Nguyễn Vô Cùng thương xót cội mai già:

“Xót cội mai khô , bình rạn vỡ

Thương cành Xuân héo, dạ đầy vơi

Khói hương tàn lạnh từ Xuân ấy

Mà quyện tim ai mãi cuối đời”

Trong mãnh vườn hoài niệm đó có tang tóc, đổ vỡ, chia ly, bom đạn…Nhà thơ NguyễnVô Cùng viết:

“Mùa Xuân này em có về quê mẹ

Thăm dùm anh vườn cũ có còn xanh

Tới gốc mai từng trúng đạn bao lần

Xem có nở nụ hoa nào kịp Tết”

Nhà thơ Đăng Nguyên diễn tả mùa Xuân ở Huế tuyệt đẹp với mai vàng, mai trắng:

“Xuân nào đẹp hơn Xuân Huế

Mai vàng, mai trắng hương xưa

Em cười tươi như hoa ngọc

Thơ ơi! Thương mấy cho vừa



Bao giờ mùa Xuân trở lại

Bao giờ non nước đơm hoa!”

(Nhung nhớ vườn Xuân)

Làm thân viễn khách trên miền đất lạ, Nhà thơ Phan Khâm luôn thiết tha nhớ về cố quận, hồi tưởng lại cảnh mai vàng nở rộ trên đường quê :

“Mùa Xuân nào mình về thăm Cam Lộ

Ghé chợ Phiên đầy bắp đậu sắn khoai

Đường nhà em còn hoa vàng nở rộ

Mít ổi trong vườn chính cho ai?”

Một lần nữa Xuân lại về trên đất khách, nếu chúng ta may mắn có được một cành mai để chưng trong nhà ngày Tết thì nét diễm kiều thanh tú của hoa mai cũng không đem lại cho chúng ta niềm vui Xuân rội rã như những mùa Xuân kỷ niệm êm đẹp quê nhà. Xuân đến rồi xuân cũng đi, mai nở rồi mai cũng tàn, thôi thì chúng ta hãy vun xới mãnh vườn tâm trong ta, biến vườn tâm thành vuờn Xuân tuyệt đẹp của thế gian. Trong Tâm Xuân luôn có những cành mai.


Mu`a Xua^n no'i chuye^.n hoa mai
Tuye^'t Mai

Hoa mai la` loa.i hoa no+? dda^`u tie^n trong mu`a Xua^n\. No'i dde^'n mu`a Xua^n ngu+o+`i ta lie^n nghi? dde^'n hoa mai, no'i dde^'n hoa mai ngu+o+`i ta lie^n nghi? dde^'n mu`a Xua^n\. Hoa mai la` mo^.t trong nhu+~ng loa`i hoa ddu+o+.c u+a chuo^.ng nha^'t tu+` tru+o+'c dde^'n nay\. Co' nhie^`u loa.i hoa mai, ha^`u he^'t ca'c loa.i mai dde^`u co' na(m ca'nh, hay ta'm ca'nh, co' loa.i co' nhie^`u ta^`ng ne^n co' ra^'t nhie^`u ca'nh\. Nhu+ng hai loa.i pho^? tho^ng, ddu+o+.c nhie^`u ngu+o+`i bie^'t dde^'n la` hoa mai va`ng (huy`nh hoa) va` mai tra('ng (ba.ch mai)\. Mai va`ng la` hoa mai ngu+o+`i ta thu+o+`ng no'i to+'i, no+? ro^. va`o mu`a Xua^n tu+` mie^`n Trung va`o Mie^`n Nam\. Ma`u va`ng tu+o+.ng tru+ng cho su+. cao thu+o+.ng, cao sang, ma`u cu?a vua chu'a\. Va`o khoa?ng Te^'t ta, ra kho?i ngoa.i o^ Saigon, ddi ve^` hu+o+'ng La'i Thie^u, Bi`nh Du+o+ng, do.c ddu+o+`ng nha` na`o cu~ng co' mo^.t co^.i mai gia`, hoa ddua no+? dda^`y ca`nh, va`ng ru+.c, dde.p kho^ng the^? die^~n ta?\.

Loa.i hoa mai thu+' hai la` “ba.ch mai”, co' ma`u tra('ng, cu~ng co' na(m ca'nh hay ta'm ca'nh nhu+ huy`nh mai, nhu+ng mai tra('ng ra^'t hie^'m quy' va` co' hu+o+ng tho+m di`u di.u, thanh khie^'t\. Co' ngu+o+`i go.i mai tra('ng la` “Tuye^'t Mai”, vi` tuye^'t co' ma`u tra('ng\.

Hoa mai kho^ng co' hu+o+ng sa('c quye^'n ru~ nhu+ hoa ho^`ng, cu~ng kho^ng su+.c nu+'c hu+o+ng tho+m nhu+ da. ly', nhu+ng hoa mai mo?ng ma~nh, ddi'nh tre^n ca`nh, tre^n tha^n ca^y ga^`y guo^.c, ca(`n co^~i ta.o mo^.t ne't dde.p tu+o+ng pha?n, tha^.t duye^n da'ng, ddo^.c dda'o\.

Ta.i Vie^.t Nam co' mo^.t loa.i hoa mai go.i la` “mai tu+' quy'”\. Hoa cu~ng co' na(m ca'nh va`ng nhu+ huy`nh mai, khi hoa ta`n thi` na(m ca'nh ru.ng, na(m dda`i hoa ddo^?i tha`nh ma`u ddo?, u'p la.i, o^m la^'y nhu.y la` ha.t ma`u xanh\. Ha.t lo+'n da^`n dda^?y na(m dda`i hoa bung ra gio^'ng nhu+ hoa mai ddo?\. Vi` va^.y mai tu+' quy' ddu+o+.c go.i la` “Nhi. DDo^. Mai” tu+'c la` hoa mai no+? hai la^`n, la^`n dda^`u ca'nh hoa co' ma`u va`ng, la^`n sau ca'nh hoa co' ma`u ddo?\. Loa.i hoa na`y no+? quanh na(m\.

Ngoa`i hu+o+ng sa('c va` duye^n da'ng, hoa mai ddu+o+.c ca'c nha` Nho va` ca'c ba^.c Thie^`n su+ coi la` mo^.t bie^?u tu+o+.ng cu?a hai ddu+'c ti'nh “Nha^~n” va` “Du~ng”\. Chi.u ddu+.ng tho+`i tie^'t kha('c nghie^.t la.nh le~o mu`a DDo^ng, hoa va^~n ke^'t nu. dde^? la` ddo'a hoa dda^`u tie^n cha`o ddo'n Chu'a Xua^n\. Ca?m ca'i' ddu+'c ha.nh thu?y chung, ca'i khi' tie^'t nha^~n nhu.c va` kie^u du~ng ddo', Chu'a Xua^n phong cho hoa mai la` vua cu?a ta^'t ca? ca'c loa`i hoa kha'c, co' te^n la` “DDo^ng Qua^n”\. Nhie^`u nu+~ si~ co' te^n “Mai” la^'y bu't hie^.u la` “DDo^ng Qua^n” cu~ng tu+` ddie^~n ti'ch na`y\.

Tu+` ne't duye^n da'ng, thua^`n khie^'t be^n ngoa`i cho dde^'n ti'nh khi' ddu+'c ha.nh, kie^u du~ng be^n trong, hoa mai ddu+o+.c ngu+o+`i Trung Hoa to^n vinh la` “quo^'c hoa”\. Ca'c nha` Nho va` ca'c Thie^`n su+ Trung Hoa cu~ng nhu+ Vie^.t Nam luo^n coi hoa mai la` mo^.t ta^'m gu+o+ng, mo^.t bie^?u tu+o+.ng cu?a ve~ dde.p ve.n toa`n, “ba'ch hoa kho^i”\. Ho. ddem ghe'p hoa mai vo+'i “tu`ng” va` “tru'c” tha`nh mo^.t bo^. ba “Tam Hu+~u”\. Ca^y tu`ng tu+o+.ng tru+ng cho tru+o+.ng phu, cu+'ng co~i, ngay tha(?ng; ca^y tru'c tu+o+.ng tru+ng cho su+. kie^n nha^~n, ro^.ng lu+o+.ng va` hoa mai ddu+o+.c go.i la` “ngu+. su+? mai” tu+o+.ng tru+ng cho su+. hie^?u bie^'t va` ne't dde.p ve.n toa`n\. Ngu+o+`i xu+a ra^'t quy' “tam hu+~u”\.

Trong Ho^.i Tho+ Tao DDa`n, Vua Le^ Tha'nh To^n co' ba`i tho+ “Mai Thu.” (Ca^y mai) nhu+ sau:

“Tro^.i ca`nh nam chie^'m mo^.t cho^`i
Tin Xua^n ma~i ma~i ddie^?m ca^y mai
Tinh tha^n sa'ng, thuo+? tra(ng ti~nh
Co^'t ca'ch DDo^ng khi gio' tho^i (ngu+`ng)

Tie^'t cu+'ng tru+o+.ng phu, tho^ng (tu`ng) a^'y ba.n
Ne^'t trong qua^n tu+?, tru'c la` ddo^i (sa'nh ddo^i)
Nha` truye^`n (tho^'ng) thanh ba.ch da(ng tu+`ng kho^'i
Phi? xu+'ng danh tho+m dde^. nha^'t tho+`i!”

Ngoa`i ra hoa mai cu~ng ddu+o+.c ghe'p vo+'i lan, cu'c, tru'c, tha`nh bo^. “tu+' quy'”, tu+'c la` bo^'n loa.i hoa, kie^?ng quy', tu+o+.ng tru+ng cu?a bo^'n mu`a Xua^n, Ha. Thu , DDo^ng\.

Cu. Chu Tha^`n, Cao Ba' Qua't la` mo^.t nho si~ kie^.t lie^.t, mo^.t ta`i na(ng va(n chu+o+ng lo^~i la.c, mo^.t dda.i anh hu`ng the^' thie^n ha`nh dda.o, suo^'t qua?ng ddo+`i bo^n ba kha('p cho^'n ca^`u co^? kie^'m dde^? xa^y du+.ng su+. nghie^.p ba' vu+o+ng, cu. kho^ng ga(.p ba^.c chi'nh nha^n qua^n tu+? na`o co' co^'t ca'ch nhu+ “mai ngu+. su+?”, vi` va^.y cu. dda~ la`m hai ca^u tho+ :

”Tha^.p ta?i lua^n giao ca^`u co^? kie^'m
Nha^'t sinh dde^ thu? ba'i hoa mai”

Co' nghi~a la` :

“Mu+o+`i na(m xuo^i ngu+o+.c giao du co^'t ti`m thanh kie^'m co^?
Mo^.t ddo+`i chi? cu'i dda^`u va'i la.y tru+o+'c hoa mai”\.

Cu. Chu Tha^`n , Cao ba' Qua't dda~ he^'t lo+`i xu+ng tu.ng “ba'ch hoa kho^i”\. Cu. cu~ng co' bo^'n ca^u tho+ “Tro^`ng mai” ddu+o+.c di.ch ra nhu+ sau:

“DDa^`u non na('m ha.t mai gieo
Gio^'ng thanh gu+?i cho^'n nu'i dde`o xanh tu+o+i
Nu+~a mai xua^n ddie^?m ba^`u tro+`i
Bu+'c tranh tuye^.t ta'c cho ddo+`i nga('m chung”\.

DDu+o+.c ba'i la.y nhu+ va^.y, hoa mai qua? la` mo^.t loa`i hoa ra^'t quy'\?

Hoa mai dda~ go+.i nhie^`u ca?m hu+'ng cho thi nha^n, ne^n a?nh hu+o+?ng ra^'t lo+'n trong va(n ho'a Trung Hoa va` Vie^.t Nam\. Ly' Ba.ch la`m tho+:

“Ngo^`i tre^n la^`u Hoa`ng Ha.c, nghe tie^'ng sa'o tho^?i
Giu+~a tha'ng na(m, cho+.t vang khu'c “hoa mai ro+i” o+? cho^'n Giang tha`nh”

Nguye^~n Tra~i, vi. khai quo^'c co^ng tha^`n nha` Ha^.u Le^ ye^u hoa mai vi`:

“Ye^u mai, ye^u tuye^'t bo+?i vi` dda^u\?
Vi` tuye^'t tra('ng, mai tho+ va` tinh khie^'t”

Trong chuye^.n Kie^`u, Cu. Nguye^~n Du co' ra^'t nhie^`u ca^u tho+ no'i ve^` hoa mai\.

“Thu+o+'t tha vo'c lie^~u Xua^n dda^`y
Ca`nh mai xa be? nga^'t nga^y y' sa^`u
Bie^'t cha`ng lo`ng co' thu+o+ng sa^u
Chu'a Xua^n nga'n no^~i cho+` la^u mo?i mo`n”

Nhie^`u Thie^`n su+ Trung Hoa va` Vie^.t Nam dda~ du`ng hoa mai la`m a^?n du. cho su+. ha.nh phu'c, nie^`m vui gia'c ngo^. trong nhu+~ng ba`i ke^. dde^? truye^`n da.y Pha^.t pha'p cho pha^.t tu+?, cho ha^.u the^'\. Ba`i ke^. ve^` “Mu`a Xua^n Hoa Mai”cu?a Thie^`n Su+ Thi'ch Ma~n Gia'c ddu+o+.c pho^? bie^'n ro^.ng ra~i trong gio+'i pha^.t tu+?:

“ Xua^n ddi tra(m hoa ru.ng
Xua^n dde^'n tra(m hoa cu+o+`i
Tru+o+'c ma('t vie^.c ddi ma~i
Tre^n dda^`u gia` dde^'n ro^`i
DDu+`ng tu+o+?ng Xua^n ta`n hoa ru.ng he^'t
DDe^m qua sa^n tru+o+'c mo^.t ca`nh mai”

Ba`i tho+ co' nghi~a la`, cuo^.c ddo+`i la` mo^.t do`ng sinh die^.t, vo^ thu+o+`ng , bie^'n chuye^?n theo tho+`i gian va` kho^ng gian\. Xua^n dde^'n ro^`i Xua^n ddi , hoa cu+o+`i ro^`i hoa ru.ng…la` le~ ddu+o+ng nhie^n cu?a vu~ tru., he^? co' sinh thi` co' die^.t\. Nhu+ng trong su+. sinh die^.t cu?a vu~ tru. va^~n co`n co' mo^.t ca'i kho^ng sinh die^.t ddo' la` Pha^.t ta'nh, la` cha^n ta^m, cha^n nhu+\. Ne^'u chu'ng ta luo^n tu ta^.p, Pha^.t ta'nh ddo' giu'p ta co' ddu+o+.c cuo^.c so^'ng an la`nh , ha.nh phu'c\. Ta^m an bi`nh go.i la` Ta^m Xua^n, trong ta^m Xua^n, ca`nh mai (bie^?u tu+o+.ng cu?a ha.nh phu'c) se~ co`n ma~i ma~i, kho^ng ta`n, kho^ng ru.ng\. Ca^`n gi` pha?i cho+` dde^'n mu`a Xua^n mo+'i co' hoa mai\? Hoa no+? ro^`i hoa cu~ng ta`n\. Chi? co' ca`nh mai trong ta^m Xua^n la` to^`n ta.i ma~i ma~i, ngoa`i do`ng sinh die^.t, vo^ thu+o+`ng, be^? da^u cu?a vu~ tru.\.

Tu+` nga`y lu+u la.c tha hu+o+ng, nhu+~ng thi si~ ha?i ngoa.i luo^n mang theo trong ta^m tu+o+?ng nhu+~ng hoa`i nie^.m da^'u ye^u ve^` mo^.t mu`a Xua^n e^m dde^`m no+i que^ cu~\. Nha` tho+ Nguye^~n Vo^ Cu`ng thu+o+ng xo't co^.i mai gia`:

“Xo't co^.i mai kho^ , bi`nh ra.n vo+~
Thu+o+ng ca`nh Xua^n he'o, da. dda^`y vo+i
Kho'i hu+o+ng ta`n la.nh tu+` Xua^n a^'y
Ma` quye^.n tim ai ma~i cuo^'i ddo+`i”

Trong ma~nh vu+o+`n hoa`i nie^.m ddo' co' tang to'c, ddo^? vo+~, chia ly, bom dda.n…Nha` tho+ Nguye^~nVo^ Cu`ng vie^'t:

“Mu`a Xua^n na`y em co' ve^` que^ me.
Tha(m du`m anh vu+o+`n cu~ co' co`n xanh
To+'i go^'c mai tu+`ng tru'ng dda.n bao la^`n
Xem co' no+? nu. hoa na`o ki.p Te^'t”

Nha` tho+ DDa(ng Nguye^n die^~n ta? mu`a Xua^n o+? Hue^' tuye^.t dde.p vo+'i mai va`ng, mai tra('ng:

“Xua^n na`o dde.p ho+n Xua^n Hue^'
Mai va`ng, mai tra('ng hu+o+ng xu+a
Em cu+o+`i tu+o+i nhu+ hoa ngo.c
Tho+ o+i! Thu+o+ng ma^'y cho vu+`a

Bao gio+` mu`a Xua^n tro+? la.i
Bao gio+` non nu+o+'c ddo+m hoa!”
(Nhung nho+' vu+o+`n Xua^n)


La`m tha^n vie^~n kha'ch tre^n mie^`n dda^'t la., Nha` tho+ Phan Kha^m luo^n thie^'t tha nho+' ve^` co^' qua^.n, ho^`i tu+o+?ng la.i ca?nh mai va`ng no+? ro^. tre^n ddu+o+`ng que^ :

“Mu`a Xua^n na`o mi`nh ve^` tha(m Cam Lo^.
Ghe' cho+. Phie^n dda^`y ba('p dda^.u sa('n khoai
DDu+o+`ng nha` em co`n hoa va`ng no+? ro^.
Mi't o^?i trong vu+o+`n chi'nh cho ai?”

Mo^.t la^`n nu+~a Xua^n la.i ve^` tre^n dda^'t kha'ch, ne^'u chu'ng ta may ma('n co' ddu+o+.c mo^.t ca`nh mai dde^? chu+ng trong nha` nga`y Te^'t thi` ne't die^~m kie^`u thanh tu' cu?a hoa mai cu~ng kho^ng ddem la.i cho chu'ng ta nie^`m vui Xua^n ro^.i ra~ nhu+ nhu+~ng mu`a Xua^n ky? nie^.m e^m dde.p que^ nha`\. Xua^n dde^'n ro^`i xua^n cu~ng ddi, mai no+? ro^`i mai cu~ng ta`n, tho^i thi` chu'ng ta ha~y vun xo+'i ma~nh vu+o+`n ta^m trong ta, bie^'n vu+o+`n ta^m tha`nh vuo+`n Xua^n tuye^.t dde.p cu?a the^' gian\. Trong Ta^m Xua^n luo^n co' nhu+~ng ca`nh mai\.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

LÁ CỜ VIỆT NAM

Bùi Bảo Trúc
Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh có hai bức ảnh rất nổi tiếng, đó là bức Tiếc Thương chụp một phụ nữ tay cầm tấm thẻ bài, những giọt lệ lăn trên má và bức Vá Cờ với một phụ nữ đang khâu lại lá cờ.

Một người khóc thương một người nằm xuống, một người kim chỉ vá lại chỗ rách của lá cờ là hai hình ảnh bi thảm của cuộc chiến. Một bức làm người ta nghĩ ngay đến người vì lá cờ ở dưới mà bỏ mình. Lá cờ có chỗ rách được vá lại cho lành, gìn giữ cái mà người lính trong bức ảnh kia đã vì nó mà hy sinh.

Tờ Xuân Người Việt ở trang 194 có đăng một bài viết nửa trang của một người tên là Trần Thủy Châu nói là đang học cao học khoa Mỹ Thuật Đại Học UC Davis.

Bài viết đại khái nói về một gia đình làm móng tay, móng chân nuôi con đi học đại học.

Chuyện ấy không có gì đáng nói, nhưng kèm theo bài viết ngắn này là một bức hình chụp cái-gọi-là-tác-phẩm-nghệ-thuật của cô. Gọi nó là “ tác phẩm ” vì đó là chữ của cô ta, chứ bình thường ra mà xét thì cái mà cô ta sáng tác, nếu gọi việc lấy một cái chậu plastic mua sẵn về, quệt thêm một ít sơn vào là sáng tác thì cũng tội cho hai chữ sáng tác quá. Bức hình mầu chụp một chiếc chậu rửa chân dùng tại các thẩm mỹ viện, các tiệm làm tóc, làm móng tay.

Trông hình thì khó mà nghĩ nó là một tác phẩm nghệ thuật.

Chiếc chậu bằng plastic mầu vàng, có dây điện cắm vào ổ điện để giữ cho nước trong chậu được đúng nhiệt độ. Vòng quanh thành của cái chậu rửa chân mầu vàng là ba sọc mầu đỏ chạy hết vành phía trong chậu.
Image
http://img186. imageshack. us/img186/ 6999/baoxuannvis 9.jpg
Phải là người chậm hiểu và thiếu thông minh và ngu xuẩn nhất mới có thể nói cái chậu với ba sọc đỏ trên thành chậu mầu vàng đó không làm cho người ta nghĩ tới lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa.

Và như thế, biểu tượng của một quốc gia đã được đặt vào cái chậu rửa chân.

Lá cờ phải bao nhiêu máu mới dựng được lên ở Quảng Trị, ở Huế, nay nằm trong cái chậu để rửa chân cho những thân chủ của một tiệm nail nào đó, bất kể đó là những bàn chân dơ dáy, hôi thối, ghẻ lở thế nào đi chăng nữa. Những cái chậu mà sau khi rửa chân cho khách hàng, nước ở trong trở thành “ dơ dáy, đục ngầu ” như chính cô ta viết trong bài viết bên cạnh.

Con người ta là sinh vật duy nhất biết dùng biểu tượng. Lá cờ không phải chỉ là một miếng vải. Nó là biểu tượng của một quốc gia, của lịch sử, của máu xương những người đã chết vì nó.

Đem xé nó, đốt nó, ném nó xuống đất, đạp lên nó là lăng mạ cái quốc gia mà nó biểu tượng. Những cuộc biểu tình bài Mỹ đều có kèm theo cảnh đốt cờ Mỹ, ném lá cờø xuống đất rồi lấy chân đạp lên.

Chỉ có loài vật, những con chó, những con ngựa mới không biết dùng biểu tượng.

Sáng tác phẩm của Trần Thủy Châu, nếu gọi đó là sáng tác của cô, là một sự lăng mạ, sỉ nhục cái đất nước mà cô có thể đã ra đời ở đó, mà gia đình cô, cha mẹ cô cũng đã có thời sống ở đó, dưới lá cờ đó, ở Huế, nơi những người lính nhẩy dù Việt Nam phải đổ bao nhiêu máu mới kéo được lá cờ mầu vàng có ba cái sọc mầu đỏ lên cột cờ ở Phú Văn Lâu.

Hình ảnh mang đầy sỉ nhục đó mà lại được đem đăng trong giai phẩm Xuân của báo Người Việt thì không hiểu được.

Cô ta và báo Người Việt sẽ nói việc làm đó là quyền tự do mà hiến pháp Mỹ bảo vệ. Đúng. Nhưng cứ thử vẽ hình một người đàn ông râu ria tay cầm cuốn kinh Koran vào cái chậu rửa chân rồi đăng lên báo coi những chuyện gì sẽ xẩy ra.

Nói rằng vẽ cái cờ vào chậu rửa chân thì có sao đâu thì có thể gia đình của cô cũng đặt bài vị tổ tiên, bàn thờ gia tiên trong cầu tiêu, vì để như thế chắc cũng không sao phải không cô họa sĩ.

Cô nói là cô hy vọng qua tác phẩm nghệ thuật -- chữ của cô – cô hy vọng ít nhiều tôn vinh được những người Việt Nam dũng cảm.

Việc vẽ lá cờ vào cái chậu rửa chân không thể là việc tôn vinh những người Việt Nam và đất nước Việt Nam như con ranh con hỗn láo vô giáo dục, mất dậy Trần Thủy Châu này đã nói. Phải dùng những chữ như thế để nói về một một con nhãi con đã lăng mạ lá cờ của mấy chục triệu người Việt, mà vì lá cờ đó, bao nhiêu người đã chết. Lá cờ bay trên cột cờ Phú Văn Lâu, trên cổ thành Quảng Trị, ở Bình Long, đắp trên quan tài của những người lính, trên những nấm mộ tử sĩ ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.

Nó phải được tôn kính thay vì đem vẽ vào cái chậu rửa chân như con ranh con khốn nạn đã làm và gọi đó là tác phẩm nghệ thuật và được đăng trên báo Xuân Người Việt.



Bùi Bảo Trúc

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Ðại tướng của tôi (Mon General)
Giao Chỉ

Bài viết của chúng tôi về đại tướng Cao văn Viên gồm có ba phần, ghi nhận vào ba thời gian khác nhau. Năm 2003, năm 2005 và năm 2008.

Mon General: (Tháng 10-2003)

Mùa Ðông năm nay, niên trưởng Cao Văn Viên sẽ trải qua những ngày băng giá khó khăn. Năm nay 82 tuổi, ông mới bị té ngã. Tưởng đã quỵ luôn, nhưng một lần nữa y khoa Hoa Kỳ đã đỡ vị Tổng Tham Mưu Trưởng cuối cùng của QLVNCH đứng lên để tập cho ông đi lại từng bước ngắn. Chắc chắn là các bác sĩ và chuyên viên Mỹ đều không biết vị cao niên Á Châu này là người đã từng làm chức vụ gì ở Việt Nam. Bởi vì hàng ngày cũng không có nhiều người đến thăm ông. Sau trận té gẫy xương chậu, chân ông đã sưng thật to, nhưng mãi cả mấy tuần lễ sau ông mới có cơ hội chiếu điện và chữa trị chính thức. Trước đó ông tự soa lấy bằng dầu nóng và mùi Nhị Thiên Ðường thơm ngát cả căn phòng tại khu chung cư cao niên lầu hai của quận Fairfax miền Virginia. Ông đang cố gắng đứng lên tập đi trở lại trong một chương trình hồi phục để tránh phải ngồi xe lăn là điều mà tuổi già rất quản ngại.
30 năm trong quân ngũ, ông Cao Văn Viên chỉ sống với cấp trên và cấp dưới. Riêng cá nhân ông, gần như không có nhiều bằng hữu tương giao để chén tạc, chén thù. Gần 30 năm sống cuộc đời di tản, vị Ðại Tướng đứng đầu Bộ Tổng Tham Mưu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bây giờ cũng vẫn tiếp tục độc hành. Ông luôn luôn cố tránh liên hệ vào các tranh chấp chính trị ngay từ lúc còn trong quân đội cũng như trong hoàn cảnh di dân tỵ nạn hiện nay.Từ khi người vợ quán xuyến của ông qua đời, rồi đến người con trai duy nhất của ông cũng vắn số, ông Cao văn Viên đã trải qua những mùa đông cô độc ở Nữu Ước, hoàn toàn xa cách mọi người. Ông đi chợ nấu ăn lấy, đóng vai ông già Á Châu vô danh giữa chốn đô thị phồn hoa đông đảo nhất thế giới. Những năm gần đây ông dọn về ở luôn trong một căn hộ của khu chung cư ở miền Ðông Hoa Kỳ, bên cạnh Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn. Nơi đây đa số là người già Ðại Hàn. Ông tiếp tục đi chợ và nấu ăn lấy. Cô con gái lớn trưởng thành của ông đã tốt nghiệp luật, đi dạy học, lập gia đình và làm việc ở nơi xa. Ðời sống đã không cho phép cha con được gần nhau và vị tướng già cũng đã quen sống như thế. Bây giờ thực ra ông cũng không có nhiều nhu cầu. Người già ở Hoa Kỳ lợi tức thấp hoặc không có lợi tức được lãnh bao nhiêu thì niên trưởng Viên của tôi cũng lãnh được bằng đó. Số tiền này đã dành trả hết cho gian phòng ông đang cư ngụ. Trung tá Tâm là một sĩ quan hiếm hoi trong số các thân hữu quân ngũ còn lại quanh ông. Vâng, chính cái anh Tâm đó đang tìm cách xin cho niên trưởng của anh vào một Nursing Home có người săn sóc ngày đêm. Ðó là nhu cầu thực tế và là một ước mơ nhỏ bé của một con người đã một thời mang hình ảnh lớn lao của quân đội chúng ta. Vào đầu thập niên 50, gặp nhau tại tiểu khu Hưng Yên, bên bờ sông Hồng Hà có 3 sĩ quan Việt Nam còn trẻ. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu, quê Phan Rang miền Trung, lém lỉnh tinh ranh. Ðại úy Trần Thiện Khiêm quê miền Nam, ít nói, thâm trầm. Trung úy Cao Văn Viên, quê miền Bắc, cao lớn, trắng trẻo và đẹp trai nhất. Nếu coi đây là nhóm bạn đầu đời quân ngũ thì quả thực họ đã từng là chiến hữu. Và Trung úy Cao văn Viên lại là niên trưởng.

Ông Viên tuy người Bắc nhưng thực ra vì cha mẹ làm ăn bên Lào nên ông ra đời tại Vạn Tượng và Thủ Ðô Vientian là dấu ấn của thân phụ đặt tên cho con trai. Vào thời còn trẻ trung, các sĩ quan quốc gia bắt đầu trưởng thành trong vòng tay của quân đội Liên Hiệp Pháp. Các ông quan một, quan hai còn đeo trên vai những gạch kim tuyến vàng chóe với tương lai mở rộng một đời binh nghiệp. Nhưng không ai có thể nghĩ rằng Trung úy Thiệu sẽ trở thành Tổng Thống. Ðại úy Khiêm trở thành Thủ Tướng và Trung úy Viên trở thành Ðại Tướng, Tổng Tham Mưu Trưởng. Ðó là chuyện sau này. Ðịnh mệnh quả nhiên đã có những ước hẹn với lịch sử. Cả ba người chiến binh Bắc Trung Nam, cùng thăng trầm với chiến tranh, với đất nước để cùng thăng tiến. Họ làm việc với nhau, họ chia nhau những chức vụ tối cao của quân đội và chính quyền. Cùng yểm trợ nhau, nhưng đồng thời cũng rất xa cách dù ở bên trong hay bên ngoài công vụ. Họ không còn ngồi với nhau những giây phút tửu hậu trà dư. Ông Viên đã nói rằng mối liên hệ của ông với Tổng Thống Thiệu hoàn toàn là công vụ. Các niên trưởng của tôi khi nói chuyện đều thưa gửi với nhau bằng chức vụ. Thưa Tổng Thống, Thủ Tướng, Ðại Tướng vân vân. Khách sáo vô cùng. Cái thời “toa moa” ngày xưa ở Secteur Hưng Yên bây giờ đã xa lắm rồi, chẳng ai còn nhớ nữa.

Với sĩ quan Cao Văn Viên, từ cấp Úy lên cấp Tá, ông luôn luôn là người cần mẫn và hòa nhã. Bước ngoặt của đời ông là cánh chim bằng nhảy dù trên ngực áo. Khi ông còn là Trung Tá tại Tham Mưu Biệt Bộ lúc đó ông Nguyễn Chánh Thi đang coi Liên đoàn Nhảy dù. Cả hai cùng là bạn cũ. Thi rủ Viên học nhảy dù để gột rửa bớt cái vẻ sĩ quan văn phòng. Nhảy thì nhảy. Trung tá Viên lấy bằng Dù và tiếp tục ngồi bên Tham Mưu Biệt Bộ thời kỳ ông Diệm còn đang tại chức. Ðảo chính xẩy ra, Ðại tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Dù chạy qua Cam Bốt. Tổng thống Diệm vừa thoát nạn, ngó tới ngó lui thấy ông sĩ quan thân cận gần gũi có bằng cấp nhẩy dù bèn đưa qua nắm liên đoàn Mũ Ðỏ. Từ đó ông Cao Văn Viên bắt đầu làm tư lệnh và cuộc đời đi vào khúc quanh mới. Nhảy dù vốn là đơn vị ưu tú của quân đội, nhưng mũ đỏ đang bị thất sủng vì cú đảo chánh hụt. Giai đoạn này là lúc thử thách của cả vị tư lệnh lẫn các tiểu đoàn nhảy dù. Hai bên thăm dò lẫn nhau. Ông Viên trở thành một vị Ðại Tá tư lệnh hăng hái xông xáo từ kỹ thuật nhảy dù đến các chiến trường trên khắp bốn quân khu. Ông lấy bằng huấn luyện viên Dù và nhảy biểu diễn tự điều khiển cùng với các cố vấn Hoa Kỳ. Cuộc đảo chánh ông Diệm lần thứ hai mới là giai đoạn đặc biệt của Ðại tá Cao Văn Viên. Trong khi hầu hết các tư lệnh quân đội đều ngả theo cách mạng thì riêng mình ông từ chối. Ðó là hành động mà sau này ông cũng không chắc là một thái độ khôn ngoan. Ông Viên thực sự cũng không muốn đóng vai anh hùng, nhưng chỉ muốn giữ tấm lòng chung thủy. Ðã có những người chống đảo chánh bị giết chết như vị Tư lệnh Hải quân, Tiểu đoàn trưởng Nhảy dù và sau này chính anh em Tổng thống Diệm cũng bị giết chết. Nếu viên Tư lệnh Nhảy dù không chịu theo cách mạng mà bị thanh toán thì cũng là chuyện có thể xảy ra. Nhưng chính bà vợ quán xuyến và can đảm đã lên tiếng khi ông chồng bị giam riêng một chỗ. Bà Viên đã quyết liệt can thiệp trực tiếp với tất cả các tướng lãnh đảo chánh mà ngày hôm trước vẫn còn là anh em thân hữu với gia đình ông. Cho đến sau này ông Viên vẫn còn ghi nhớ thái độ mạnh mẽ của người vợ đã cứu sống ông trong năm đảo chánh. Ông cũng không ngần ngại mà nói thẳng ra như thế. Sau khi cách mạng thành công, ngôi sao bản mệnh của ông lại trở nên rực rỡ. Phe thân hữu của Ðệ Nhất Cộng Hòa tuy đang bị thất thế nhưng vẫn kín đáo ca ngợi thái độ của vị Tư lệnh Nhảy dù. Ngay cả các tướng lãnh và sĩ quan phe cách mạng cũng đều vì nể thái độ của ông. Ông Cao Văn Viên gần như là người duy nhất không theo cách mạng nhưng vẫn được tiếp tục về chỉ huy nhảy dù.

Ðịnh mệnh vẫn tiếp tục chiều đãi. Ông tham dự hành quân Cao Lãnh miền Tây đạt chiến thắng và bị thương. Thêm vào chiến thương bội tinh với ngôi sao đỏ, ông lên Thiếu Tướng với hai sao lấp lánh trên cổ áo và nón đỏ vẫn đội trên đầu.Trong thời gian đảo chánh ông Diệm xảy ra, ông Cao Văn Viên đã không có những kỷ niệm tốt đẹp với tướng Dương Văn Minh. Mấy năm sau, vào giai đoạn chỉnh lý bắt các tướng cách mạng giam lỏng trên Ðà Lạt và cô lập Big Minh thì cũng toàn là lính Nhảy dù của ông Cao Văn Viên. Vì vậy lại thêm một kỷ niệm không đẹp giữa hai người. Ðó cũng là lý do mà sau này ông nghĩ rằng không thể ngồi lại trong chính phủ Dương Văn Minh. Phải chăng đây cũng là một cái cớ chính thức để có thể ra đi vào đúng thời điểm cần thiết. Tuy nhiên, đó là câu chuyện 75. Trở lại với giai đoạn giữa thập niên 60, từ giã nhảy dù, tướng Viên về làm Tư lệnh Quân đoàn III và sau cùng lên chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Với chức vụ quan trọng nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tướng Viên là người có vóc dáng đường bệ nên trong các cuộc thăm viếng đơn vị, hình ảnh của ông cạnh các tướng lãnh Hoa Kỳ đem lại niềm hãnh diện cho các binh đoàn. Lớn tuổi hơn các tướng lãnh cùng thời, nhưng ông có khuôn mặt trẻ trung và giữ được thân thể gọn gàng của một cựu huấn luyện viên thể dục lúc còn niên thiếu. Và mặc dù có dư luận chê trách, nhưng tướng Viên vẫn thực sự là người hiếu học ngay từ lúc còn làm Tư lệnh Quân đoàn III. Ông rất chịu những bài giảng về triết học bay bướm của thầy Trần Bích Lan tức nhà thơ Nguyên Sa đã một thời là Trung úy Quân nhu. Phần lớn các tư lệnh quân chủng và các quân đoàn đều kính nể vị Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng vốn từ bên Nhảy Dù đi lên. Ngay cả sau này khi các Tư lệnh Quân đoàn liên lạc thẳng với Tổng thống Thiệu những vẫn giữ lễ độ lịch sự với Bộ Tổng Tham Mưu. Tướng Viên có biệt nhãn với ngành Tiếp Vận vì ngày xưa ông đã từng là trưởng phòng 4 đầu tiên dưới thời quân đội quốc gia phôi thai năm 1954. Mặt khác, ông cũng giữ mối thiện cảm và theo dõi các hoạt động của binh chủng mũ đỏ mà ông luôn luôn hãnh diện đã góp phần trong binh nghiệp. Tướng Viên cũng được sự tin cậy và vị nể của các giới chức Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chính ông cũng tự nhận thấy chưa bao giờ nghĩ đến ngày có thể lên đến chức tước lớn lao như vậy. Ông luôn luôn mong được làm tròn nhiệm vụ, nhưng ông không phải là hàng tướng lãnh nóng nẩy ồn ào, lấy gậy chỉ huy đập vào đầu sĩ quan, hay la hét thuộc cấp tối ngày. Tướng Viên cảm nhận vai trò phối hợp của một vị Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân như bên Ngũ Giác Ðài Hoa Kỳ chứ không phải là Tổng Tư Lệnh ban hành các lệnh trực tiếp. Như ông đã giãi bày trong tác phẩm mới xuất bản, khi nhận thấy bị Tổng thống Thiệu qua mặt dành trực tiếp quyền điều hành bộ máy chiến tranh thì ông lặng lẽ lui vào vai trò tư vấn cho đến khi xin từ nhiệm.

Tháng 10-2003 khi dịch giả Nguyễn kỳ Phong cho phát hành bản Việt ngữ tác phẩm của Ðại tướng Cao Văn Viên, phóng viên BBC Luân Ðôn có hỏi đi hỏi lại Kỳ Phong nhiều lần một câu hỏi. Ðó cũng là thắc mắc của rất nhiều thính giả và độc giả. Tại sao Ðại Tướng bị thất sủng, xin từ nhiệm lại không được chấp thuận. Dịch giả Kỳ Phong không thể thay mặt tác giả mà trả lời cho suôi câu hỏi phức tạp này. Quả thực đã có lúc ông Thiệu muốn tìm người thay ông Viên nhưng không phải là dễ dàng. Chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng phải lựa chọn trong các Tư lệnh Quân đoàn xuất sắc. Tướng Ngô Quang Trưởng với sự yểm trợ của phía Hoa Kỳ cũng không phải là người làm ông Thiệu an tâm. Tướng Ðỗ Cao Trí cũng đã được phía Hoa kỳ tiến cử trong danh sách nhưng ông Trí vừa nghe tin đã tuyên bố lăng nhăng nên đã làm ông Thiệu quản ngại và gạch tên ngay cả trước khi trực thăng của ông Trí lâm nạn. Ðối với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, việc thay thế tướng Cao Văn Viên chưa phải là nhu cầu cấp thiết. Ông Thiệu hoàn toàn yên tâm với một vị Tổng Tham Mưu Trưởng dứt khoát không chịu tham dự vào các cuộc đảo chánh chính trị. Ông không sợ ông Viên làm phản. Trước sau như một tướng Viên đã kiên định như thế. Thông thường ông Viên thân với tướng Kỳ hơn là gần gũi ông Thiệu. Nhưng không bao giờ ông Kỳ rủ được ông Viên tham gia đảo chánh ông Thiệu, ngay như vào giờ thứ 25 của thời điểm năm 75.Ông Thiệu và ông Viên, như trên đã viết ra, các niên trưởng của tôi sinh hoạt xa cách và khách sáo. Không có cái kiểu như thời kỳ còn ở Hưng Yên: “Này, Moi làm ở État Major lâu quá, thôi Toi kiếm thằng khác để Moi nghỉ một thời gian. Việc gì Toi cũng chơi thẳng với các Quân đoàn như thế thì còn cần Moi ở đây làm gì?” Không, các Xếp của tôi không ăn nói lăng nhăng như vậy. Ðại Tướng thưa rằng xin Tổng Thống cho tôi tạm nghỉ vì sức khỏe. Tổng Thống nói là xin Ðại Tướng vui lòng tiếp tục ở lại một thời gian. Bây giờ là lúc khó khăn, quân đội cần ổn định v.v... Và Ðại tướng Viên có lúc đã nhờ quân nhu tìm cho một số dụng cụ làm vườn để thực sự chuẩn bị vui thú điền viên, nhưng khi ông Thiệu nói như vậy đành chần chờ ở lại Bộ Tổng Tham Mưu cho qua ngày. Cũng phải ghi lại là trong chức vụ cao cấp nhất của quân đội, tướng Viên đã có lần phác thảo kế hoạch tấn công ra Bắc và đó là một trong các phương cách tự vệ mãnh liệt nhất. Tuy nhiên chắc chắn rằng phía Hoa Kỳ hoàn toàn không yểm trợ và ông Thiệu không thể nào đơn phương quyết định được. Thêm vào đó, một trong các quyết định quan trọng nhất của tướng Cao Văn Viên là xử dụng tướng Ðồng Văn Khuyên từ Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận lên Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Tiếp Vận rồi là Tham Mưu Trưởng Liên Quân. Ông Khuyên đã không phụ lòng tin cậy của tướng Viên trong các chức vụ này và đặc biệt ông cũng được Hoa Kỳ hoàn toàn yểm trợ. Và chính guồng máy Tiếp Vận với viện trợ Mỹ là con bài tẩy của chiến tranh Việt Nam.
Trong phần ghi chú của tác giả Cao Văn Viên viết trong tác phẩm Việt ngữ mới phát hành, một đề nghị chiến lược tối mật quan trọng nhất cho chiến tranh Việt Nam là việc bỏ đất, triệt thoái do Tổng Cục Tiếp Vận, Tổng Tham Mưu soạn thảo. Hoàn toàn dựa vào bài toán quân viện, nghiên cứu khả năng thực sự giữ đất, giữ dân, Việt Nam Cộng Hòa muốn tồn tại thì phải thu về các vùng đồng bằng và duyên hải. Kế hoạch phải áp dụng ngay từ sau Hiệp Ðịnh Paris chứ không thể căng mỏng quân lực ra khắp nơi theo kiểu dành dân lấn đất và chôn chân các đơn vị Tổng Trừ Bị tại các tiền đồn. Ðại tướng Viên đã chỉ thị tướng Ðồng Văn Khuyên lên trình riêng Tổng Thống để rồi không hề nghe được bất cứ một chỉ dấu gì của ông Thiệu cho đến những ngày đau thương 30 tháng 4-1975.

Chuyến đi thăm: (Tháng 4-2005)

Ba mươi năm trôi qua như một giấc mộng dài. Tháng tư năm 2005 từ San Jose CA, chúng tôi lên thủ đô tổ chức họp mặt anh em chiến hữu trại Trần Hưng Ðạo. Ðây chính là tổng hành dinh của bộ Tổng tham Mưu ngày xưa. Ba mươi năm hội ngộ, gặp lại lần đầu nhưng ai cũng biết đây là lần cuối. Ðại tướng lấy lý do già yếu nên không đến được. Hội họp xong, tôi nhờ trung tá Tâm đưa đến thăm ông. Tháng tư là tháng không vui mà cảnh trí nơi ông ở trông thật là buồn. Tâm nói rằng, đại tướng rất đúng hẹn và rất nguyên tắc. Khi chúng tôi bước vào phòng khách của khu cao niên Á châu, “Mon General” đã đứng chờ sẵn, quần áo chỉnh tề. Hình ảnh của vị tướng lãnh cao lớn mang 4 sao, áo hoa dù, mũ đỏ không còn nữa. Ðại tướng của tôi bây giờ là một cụ già tóc bạc lưng còng, vóc dáng nhỏ bé, chỉ còn lại cặp mắt long lanh, và tiếng nói dịu dàng. Chúng tôi ngồi xuống bên nhau nói chuyện không có chủ đề. Trung tá Tâm ngồi một bên luôn luôn để ý săn sóc cho ông cụ. Bao nhiêu câu hỏi cần tìm hiểu vị niên trưởng mà tôi đã chuẩn bị bây giờ buông suôi hết. Nào là rút quân, nào là tử thủ, từ chuyện ông Thiệu đến chuyện ông Kỳ, chuyện Mỹ, chuyện Tàu. Trong cái buổi chiều buồn và ảm đạm đó, tôi chợt thấy tất cả đều trở nên vô nghĩa. Toàn quân, toàn dân, cấp trên cấp dưới, bây giờ không quá khứ, chẳng vị lai. Lời người xưa còn vẳng bên tai. Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng. Tướng lãnh thua trận, không thể nói mạnh. Bây giờ là tháng tư, 30 năm sau ngồi đây mà đổ tội cho ai. Nhất tướng công thành, vạn cốt khô. Mà công thành, có thành công cho cam. Tôi không hỏi và ông cũng chẳng nói. Tôi đưa cả hai tay cho ông nắm thật chặt. Hình như có một lời ca từ 50 năm trước trong bài Tình Lính: Thương nhau, tay nắm lấy bàn tay; Ông nắm thật chặt và Ông bắt đầu giảng cho tôi về Thiền Tông và Phật Pháp. Chẳng có thu thanh, thu hình phỏng vấn gì cả. Hai mươi năm chinh chiến điêu linh và ba mươi năm lưu lạc tù đầy của cả đạo quân nay bỏ qua một bên để ngồi bàn về đường đi của Phật. Trước khi chia tay, tôi ngỏ lời xin đại tướng một di vật cho viện Bảo tàng. Ông nói: Tôi có còn gì đâu. Bèn hỏi rằng hôm niên trưởng ra đi đem theo cái gì. Ông cho biết có cầm cái cặp. Bên trong có cuốn sách viết về đạo Phật. Tôi xin ông cuốn sách đó, có bút tự ghi dấu của đại tướng. Quay sang anh Tâm, tôi xin xác nhận, khi nào... Chúng tôi ra xe, ông cụ đứÔng ngó theo... Giữa những người lính trẻ ngày xưa, cuộc ra đi nào cũng có thể là lần cuối. Bây giờ chúng tôi là những người lính già, chắc chắn phải hẹn nhau gặp lại ở nơi khác.

Lần cuối. (Tháng Giêng 2008)

Giây phút .. khi nào.. đã đến. Ðại tướng Cao văn Viên ra đi ngày 22 tháng 1 năm 2008 tại Fairfax, VA. cũng không xa nơi ông cư ngụ những ngày sau cùng. Gia đình tuy đơn chiếc nhưng chiến hữu rất đông đảo.

Những vị niên trưởng lừng lẫy của tôi, quý vị do thời thế tạo nên. Lúc còn trẻ tôi có thể đã kỳ vọng và trách cứ quý vị rất nhiều, nhưng bây giờ cấp dưới chúng tôi cũng già rồi, tôi đã suy nghĩ khác đi nhiều. Quả thực chúng ta không thay đổi được định mệnh và không vượt qua được thời thế. Tôi cũng đã từng là anh Thiếu Úy trẻ Bắc kỳ của mùa thu 54, bây giờ cũng đã cao niên như mọi người. Tôi bao dung với chính tấm thân già của mình. Nhìn cuộc đời nhẹ nhàng hơn và tôi thông cảm với niên trưởng Cao Văn Viên. Tôi vẫn hình dung những buổi chào cờ đầu năm ở Bộ Tổng Tham Mưu. Lá cờ sao của Ðại Tướng Tổng Tư Lệnh bay trên nhà lầu chính. Tướng Cao Văn Viên đội mũ đỏ, áo hoa dù đứng giữa hàng quân để đọc nhật lệnh tại Vũ Ðình Trường Tổng Tham Mưu mênh mông. Hàng chục ông tướng xếp hàng ngang. Trên 50 cấp Ðại Tá xếp hàng dọc. Các sĩ quan, HSQ và binh sĩ của các phòng sở với đủ mọi loại quân phục Liên Quân. Bên trái là đoàn xe với quân cảnh hộ tống thật uy nghi lẫm liệt. Phía xa là trực thăng riêng đậu chờ sẵn.

Cách đó thật xa hơn nữa về cả không gian lẫn thời gian là hình ảnh Trung úy Cao Văn Viên trẻ trung của Secteur Hưng Yên trên chiến trường Bắc Việt. Rồi đến những ngày qua khi niên trưởng Cao Văn Viên sống một mình từ Nữu Ước đến DC. Ông chậm chạp đi bộ từ chợ về nhà, leo lên lầu hai của căn phòng nhỏ, tự mình chuẩn bị bữa ăn. Sáng nay ông ăn món gì? Bánh mì trứng hay trứng bánh mì? Ông có uống sữa hay không? Ông còn nhớ gì đến chuyện di tản ở miền Bắc 54. Chuyện di tản ở miền Nam 75. Trung úy Thiệu ngày xưa nay đã đi xa rồi, Ðại úy Khiêm ngày xưa vẫn im lìm như thuở nào. Và Trung úy Viên ngày xưa mãi mãi vẫn cô đơn. Tuổi trẻ và danh vọng rồi cũng qua đi. Ai rồi cũng chỉ còn lại một mình. Khi ra đi lần cuối cũng chỉ có một mình. Tất cả quý niên trưởng và chúng tôi ai cũng muốn sống lại cái thời đeo lon cấp Úy của tuổi hoa niên. Phải mà được làm lại từ đầu thì chúng ta sẽ làm biết bao nhiêu điều tử tế hơn, đẹp đẽ hơn, cho bản thân, cho chiến hữu và cho đất nước.“ Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y. Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp. Tám mươi năm, kiếp người như gió thoảng. Chiều cô đơn về chậm hồn cao niên.”

Giao Chỉ – San Jose
Mùa Ðông 2008

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Bài báo của Trần Thúy Châu

Đỗ Văn Phúc

Chiều nay, đang lu bu về những chuyện Tết nhất sắp đến, tôi nhận lien tiếp hai cú điện thoại. Một từ Utah, một từ Houston. Hai bạn chiến hữu đã hỏi tôi tới tấp về việc một tờ báo lớn ở California đăng hình ảnh một chậu rửa chân có vẽ lá cờ Tổ quốc. Tôi vào ngay trang web Người Việt Online, chỉ đọc được tin cuộc biểu tình phản đối và một bài viết ngắn của cô Trần Thúy Châu viết để ca ngợi công lao bà mẹ chồng đã 20 năm làm nghề rửa chân cho thiên hạ để nuôi nấng các con thành tài.

Trong lòng tôi bán tín bán nghi. Tôi tự nhủ: “Chắc mấy anh ở Cali quá nhậy cảm, nên dễ nhìn thấy cái gì cũng sai. Kiểu Việt Cộng gọi là “đeo cặp kính quan điểm.””

Nhưng sau khi vào trang Take 2 Tango, nhìn rõ cái chậu màu vàng có vẽ 3 sọc đỏ chạy theo cái vành chậu; thì cơn phẫn nộ của tôi lên cực điểm.

Tôi không thể ngờ rằng có kẻ bạo gan và táo tợn dám làm chuyện này. Nhất là do một cô gái có trình độ học thức tương đối cao.

Có lẽ trước hết phải dạy cho cô một bài học về Công Dân Giáo Dục và Lịch Sử (vì chưa hẳn người có bằng cấp cao là người có trí tuệ và đạo đức).



Kể từ khi con người biết sống quần tụ thành những nhóm, những xã hội, những quốc gia; thì biểu hiệu đầu tiên để phân biệt các nhóm, các tập thể, quốc gia là lá cờ. Dù ở bất cứ quốc gia nào, dưới chế độ chính trị nào, thời đại nào, thì lá cờ cũng là biểu tượng thiêng liêng nhất của một quần thể nhân dân sống trong đó. Lá cờ không phải là một mảnh vải màu sắc để trang trí, mà là hình ảnh đại diện cho tập thể, cho quốc gia, dân tộc. Nó được kèm theo với bản quốc ca, quốc thiều để trở thành hai biểu tượng gắn bó trong đời sống nhân dân. Người ta chào cờ hàng ngày và trong các dịp lễ long trọng.

Sở dĩ lá cờ linh thiêng vì đó là hồn nước, nó thắm máu đào bao thế hệ đã bỏ mình để bảo vệ và di dưỡng cho thế hệ sau. Người ta đứng nghiêm chào lá quốc kỳ với một lòng tự hào và con tim thổn thức.

Để cắm được lá cờ sao sọc tại Iwo Jima, quân đội Hoa Kỳ đã có bảy ngàn hy sinh và mười chin ngàn chiến thương. Để cắm được lá cờ vàng trên cổ thành Quảng Trị, gần năm ngàn quân sĩ VNCH đã hy sinh anh dũng sau nhiều tuần chiến đấu.

Vì thế, chỉ có kẻ thù mới đem lá cờ của đối phương ra bêu nhục. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, bọn phản chiến côn đồ đã dày xéo lá cờ Sao Sọc, đốt xé nó tàn tệ đã đưa đến những tranh luận về quyền tự do trong Tu Chính Án thứ Nhất (Freedom of Expression). Những nhóm tả khuynh, cấp tiến (Liberal) bênh vực quyền này; và hậu quả là những nhà chế trang phục đã đem màu cờ in lên áo quần lót, thậm chí có những tên điên khùng mất dạy đã lấy lá cờ Mỹ làm giẻ lau xe. Chỉ mới đây thôi, Tối Cao Pháp Viện mới chấp thuận việc truy tố những tội làm nhục lá cờ.

Cô Trần Thúy Châu, năm nay chắc chưa quá ba mươi, viết tiếng Việt có vẻ thong thạo, rành rẻ; thì chắc chắn đã từng được sinh và lớn lên ở Việt Nam. Dù bị giáo dục bởi Cộng Sản, cô cũng phải được dạy rằng lá cờ là thứ không thể đem ra làm trò chơi. Cô chắc cũng chưa ở Hoa Kỳ lâu đến độ tiêm nhiểm thói côn đồ của bọn Mỹ tả khuynh đem cờ ra hành nhục. Chúng tôi không muốn mang tiếng chụp mũ cô, nhưng hành vi của cô chắc chắn chỉ có những người Cộng Sản mới dám làm để thách thức cộng đồng tị nạn.

Chúng tôi biết gần đúng rằng cô rời Việt Nam hoặc theo cha mẹ trong thành phần cựu tù, chương trình HO; hoặc liều mạng trên những chiếc tàu mong manh vượt biển khơi để né tránh chế độ Cộng Sản; hoặc được bảo lãnh qua trong chương trình đoàn tụ. Dù thuộc thành phần nào, thì cô cũng có gắn bó, có ơn nghĩa với những người từng sống ở miền Nam, từng phục vụ chiến đấu dưới lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ.

Việc làm của cô - nếu quả thực không nằm trong mưu đồ của Cộng Sản – thì cũng chứng tỏ cô là con người phản bội, vong ân đối với những tín niệm mà cha anh cô đã tôn thờ, hay đã được bao bọc nhiều năm trước ngày đen tối 30-4-1975. Vẫn biết rằng từ nỗ lực riêng của cô mà cô có được bằng cấp cao, thân thể xinh tốt, đời sống đầy đủ hạnh phúc ngày nay; nhưng chính đó là cũng một phần rất lớn về tinh thần mà cộng đồng tị nạn đã đóng góp cho cô chứ không phải những người Cộng Sản bên kia đại dương chu cấp cho.

Việc làm của cô chứng tỏ rằng dù cô có đến trường, đỗ đạt bằng cấp cao, nhưng cô là một kẻ vô hạnh, có tri mà không có trí vì đã đem biểu tượng thiêng liêng của người khác (hay của chính cô) ra bêu rếu.

Tôi tin chắc chắn cộng đồng Người Việt Tị Nạn California sẽ có thái độ dứt khoát với việc làm ngu muội, phản phúc của cô.

Chúng tôi cũng vô cùng phẫn nộ việc tờ báo lớn nhất tại California đã đưa hình ảnh bêu rếu này trong số báo Xuân Mậu Tý. Giữa Người Việt và chúng tôi từng có những quan hệ mật thiết. Những bài chính luận chống Cộng của chúng tôi thường đuợc Người Việt đăng một cách trang trọng và nhanh chóng cho kịp lúc. Vì thế, chúng tôi yêu cầu Ban Biên Tập báo Người Việt - mà trong đó có người bạn của tôi từng chia xẻ những năm tù khổ sai ở trại A-20 – có lời thích đáng với cộng đồng và rà soát lại nhân sự để xem có bàn tay nối dài nào của phía bên kia không. Chứ cứ lâu lâu, rình đánh một phát như thế này thì khó bào chữa lắm.

Đỗ Văn Phúc.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image


THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 1.2.2008


Hàng trăm nhân sĩ, trí thức quốc tế, giáo sư đại học và dân biểu các Quốc hội Châu Âu, Hoa Kỳ, Pháp, Ý... đề cử Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ lãnh giải Nobel Hoà bình năm 2008
PARIS, ngà1.2.2008 (PTTPGQT) - Hôm qua thứ năm, 31 tháng Giêng 2008, là ngày Ủy ban Nobel Hòa bình tại thủ đô Oslo, NaUy, khóa sổ chấm dứt việc nhận đơn đề cử Giải Nobel Hòa bình năm 2008.


Năm nay Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, đã được hàng trăm nhân sĩ, trí thức quốc tế, giáo sư đại học từ Á châu sang Châu Âu, Châu Mỹ, hay các dân biểu thuộc nhiều Quốc hội tại Đông Âu, Bắc Âu, Tây Âu, Trung Đông, Hoa Kỳ, v.v... viết thư đề cử.


Tại Quốc hội Châu Âu đã có 60 Dân biểu ký tên hậu thuẫn. Những tên tuổi đáng chú ý là năm vị Phó chủ tịch Quốc hội Châu Âu : Edward Mc-Millian Scott (Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo), Diana Wallis (Đảng Xanh), Luigi Cocilovo (Đảng Tự do, Dân chủ và Cải cách Châu Âu), Gerard Onesta (Đảng Xanh), và Mario Mauro (Đảng Bình dân Châu Âu và Dân chủ Châu Âu). Ngoài ra còn có những Dân biểu nổi tiếng như ông Graham Watson (Chủ tịch Đảng Tự do, Dân chủ và Cải cách Châu Âu), ông Daniel Cohn-Bendit và bà Monica Frassoni (Đồng chủ tịch Đảng Xanh), ông Bronislaw Geremek (cựu Ngoại trưởng Ba Lan), ông Marco Pannella (Chủ tịch Đảng Cấp tiến Bất bạo động Liên quốc gia và Liên đảng), ông Marco Cappato (Báo cáo viên Nhân quyền tại Quốc hội Châu Âu), ông Charles Tannock (Anh quốc), ông Paolo Casaca (Bồ Đào Nha), ông Richard Czarnecki (Ba Lan), bà Pia Locatelli (Chủ tịch Quốc tế Phụ nữ thuộc Đảng Xã hội), bà Bá tước Sarah Ludford (Phó chủ tịch Phân ban Nhân quyền Quốc hội Châu Âu), v.v...


Trong bản Thông cáo báo chí đánh đi từ Quốc hội Châu Âu ở thủ đô Brussels, Dân biểu Marco Cappato tuyên bố : “Đề cử Giải Nobel Hoà bình cho Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, chúng tôi không chỉ tôn vinh nhân cách xứng đáng và giá trị mà phần lớn cuộc đời Hoà thượng phải chịu vòng lao lý qua bao chế độ, mà chúng tôi còn thừa nhận giá trị chính trị với tính hiệu quả của phương pháp bất bạo động của Hoà thượng như con đường thiện hảo làm thăng tiến dân chủ và nhân quyền”.



67 Dân biểu Quốc hội Ý đủ mọi khuynh hướng từ tả sang hữu, kể cả Đảng Cộng sản, hậu thuẫn Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ. Qua thông cáo báo chí đánh đi từ Roma, Dân biểu Bruno Mellano phát biểu : “Tự do tôn giáo là chìa khoá cho dân chủ tại Đông Nam Á. Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ là biểu tượng cho cuộc đấu tranh bất bạo động cho tự do tôn giáo và nhân quyền”.


Tại Pháp, rất nhiều điện thoại báo tin đã viết thư đề cử sang Na Uy, nhưng chúng tôi mới nhận được các bản sao của các Dân biểu Emile Blessig, Olivier Carré, Jacques Grosperrin, Laure de La Raudière, Noël Mamère, Jean-Marie Cavada, Françoise Hostalier. Bà Françoise Hostalier, cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục, tuyên bố : «Viễn kiến dân chủ của Hòa thượng Thích Quảng Độ vượt khỏi biên giới Việt Nam. Tháng 9 năm 2007, Hòa thượng tỏ tình liên đới với nhân dân và chư Tăng Miến Điện biểu tình đòi hỏi dân chủ, đồng thời Hòa thượng kêu gọi LHQ có hành động ngăn chặn đàn áp bạo động. Nhà cầm quyền Việt Nam đã phản ứng bằng chiến dịch quy mô vu khống, mạ lỵ Hòa thượng».


Tại Hoa Kỳ chúng tôi mới nhận được các bản sao thư đề cử của các vị Dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ : Edward Royce (Cộng hoà), Zoe Lofgren (Dân chủ), Tom Davies (Cộng hoà.) và Loretta Sanchez (Dân chủ). Trong thư đề cử các vị Dân biểu viết rằng : «Sự đóng góp cho tự do của Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ mang tầm vóc quy mô lịch sử xứng đáng được quý thành viên trong Ủy ban thừa nhận. (...) Giải Nobel Hòa bình không chỉ vinh danh cho sự dũng cảm đề xướng hòa bình, mà còn công nhận sự chiến đấu âm thầm cho những ai đang hy sinh thân xác hằng ngày nhằm bênh vực nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam hay bất cứ nơi nào khác». Bà Loretta Sanchez thì viết : «Tôi đã được hân hạnh gặp Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ. Tối rất khâm phục sự tận tuỵ của Hoà thượng trong công cuộc đem lại dân chủ cho người công dân nước ngài. Dù kinh qua những giai đoạn tù đày, quản chế, và liên tục bị chính quyền sách nhiễu, Hoà thượng vẫn kiên trì thúc đẩy tự do cho dân tộc ngài. Hoà thượng là nguồn khởi hứng cho dân tộc Việt Nam, cho những người Việt sống ở hải ngoại, kể cả những người đang sống trong vùng do tôi làm đại biểu. Tôi tin quyết rằng dù chính quyền Việt Nam có đàn áp đến đâu, Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ vẫn tiếp tục đấu tranh trong nước để mang lại dân chủ cho Việt Nam. Tôi nghĩ trách nhiệm của những người như chúng ta đang sống ngoài này phải tiếp tục hỗ trợ cho những nỗ lực của Hoà thượng».


Ngoài ra còn nhiều nhân sĩ, trí thức quốc tế, giáo sư đại học viết thư đề cử Hoà thượng Thích Quảng Độ, như Tiến sĩ Paul Scott, Giáo sư ngành Á châu học tại Đại học Kansai Gaidai ở Kyoto, Nhật bản và cũng là Giáo sư thỉnh giảng tại Trường Cao đẳng Thực hành tại Sorbonne ở Paris. Ông viết : «Ủy ban Nobel Hòa bình đã vinh danh cho tất cả chúng tôi khi trao giải cho Tiến sĩ Matin Luther King. Cảm nhận sâu đậm trong tôi là Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, một Cao tăng Phật giáo, một nhà văn nổi danh, nhân vật lãnh đạo thứ hai trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, đứng ngang hàng với Tiến sĩ Matin Luther King».

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

ĐẢNG CƯỚP



• Tiến sĩ TRẦN AN BÀI


Mỗi khi năm hết Tết đến, ai cũng có cảm tưởng: Thời gian đi mau quá! Mới hôm nào đây còn nghe tiếng súng nổ vang trời trong dịp Tết Mậu Thân 1968, mà nay đã tròn 40 năm rồi!

Mới ngày nào đây, đồng bào miền Nam Việt Nam (VN) còn miệt mài lo việc nhà việc nước. Vậy mà chỉ trong khoảnh khắc, nước mất nhà tan, họ hốt hoảng tìm đường tị nạn, với những tiếng thở vắn thở dài đầy uất nghẹn!

Mới ngày nào đây, Nguyễn Minh Triết, một anh chàng thất học, giả mạo bằng cấp để gia nhập ngành sĩ quan Cảnh Sát tại Học Viện CSQG, nhưng khi vừa bị phát giác thì chàng bỏ trường, trốn thày, trốn bạn, đi theo Đảng cướp, để rồi ngày hôm nay, thầy của chàng, bạn của chàng phải bỏ nước đi tỵ nạn. Còn chàng thì lọt vào ghế Chủ Tịch Nhà Nước! Đảng cướp của chàng có tên thật là Đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN). Cuộc đời, thật lắm chuyện trớ trêu!

Tại sao người ta lại gọi Đảng CSVN là Đảng Cướp? Bởi vì điều 23 Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam định rằng: "Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức, không bị quốc hữu hóa." Có nghĩa rằng tuy mang danh là Cộng Sản, nhưng chế độ Cộng Sản đã bị thế giới khai tử rồi. Thành ra, CSVN bây giờ không còn là Cộng Sản nữa, mà đang bám gót theo tư bản chủ nghĩa. Người dân Việt Nam hiện nay có quyền tư hữu, có quyền làm chủ động sản và bất động sản. Ngày xưa, khi chủ thuyết Cộng Sản còn đang hưng thịnh, Đảng CSVN đã xảo quyệt tịch thu rất nhiều cơ sở của các tôn giáo để hạn chế việc hành đạo và giữ đạo của các tín hữu. Điển hình là đất đai của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam (GHCGVN) đều có bằng khoán chứng minh sở hữu chủ từ bao nhiêu năm nay, trước khi Đảng CSVN nứt mắt chào đời. Vậy mà khi nắm được quyền hành, Đảng này phát động chiến dịch tịch thu các tài sản đó một cách bất hợp pháp, chà đạp lên chính luật lệ mà họ đã viết ra.

Điều 23 Hiến Pháp của CSVN đã xác nhận quyền tư hữu của dân chúng và các tổ chức tư nhân, nhưng Đảng này đã đưa ra nguyên tắc sau đây để che đậy hành vi ăn cướp tài sản của người dân:

"Dân là chủ, Nhà Nước quản lý và Đảng lãnh đạo".

Tiêu chuẩn gì mà rừng rú, ngược đời như vậy?

Nếu thực sự dân là chủ tài sản thì theo nguyên tắc thông thường, dân có quyền tự quản lý tài sản của mình hoặc nếu ký giấy giao quyền quản lý cho người khác trong một thời gian nhất định nào thì sau khi hết hạn quản lý, sở hữu chủ có quyền thu hồi tài sản. Quản lý có bổn phận phải giao trả tài sản về cho sở hữu chủ ngay khi được yêu cầu.

Trên thực tế, tại Việt Nam, mọi việc đã không diễn tiến một cách hợp tình, hợp lý như vậy. Theo sự lãnh đạo tối cao của Đảng, Nhà Nước tự ý ban cho mình quyền quản lý, bất chấp người dân là chủ có đồng ý hay không. GHCGVN không hề bao giờ ký giấy hợp pháp trao quyền quản lý đất đai cho Nhà Nước. Như vậy hành vi quản lý này hoàn toàn bất hợp pháp. Hơn thế nữa, đã từ bao nhiêu năm nay, GHCG liên tục, nhưng cương quyết đòi lại những tài sản đã bị Nhà Nước chiếm giữ bất hợp pháp.

Và việc gì phải đến đã đến. Hiện nay, hàng ngàn giáo dân đã nhất loạt đứng lên tại Hà Nội để đòi lại nhà đất của Giáo Hội đã bị Đảng CSVN chiếm đoạt, để chia chác nhau hoặc dùng vào việc bất chính.

Trước tình thế khó xử này, Đảng CSVN đã chống chế một cách rất ấu trĩ: Chính phủ muốn dùng đất đó để xây trường học hay làm nhà cô nhi. Hoàn toàn là ngụy biện! Nguyên tắc sơ đẳng mà Đảng cần biết là không ai có thể đi ăn cướp ngân hàng để lấy tiền nuôi người nghèo. Không thể dùng cứu cánh để biện minh cho phương tiện. Tài sản đã có chủ phải trả lại cho chủ của nó. Nếu Đảng muốn có cơ sở làm việc công ích thì hãy dùng tài sản của Nhà Nước mà làm. Rất nhiều cơ sở của Nhà Nước đang được sử dụng rất lãng phí. Ví dụ: Cái Lăng ở Ba Đình đang dùng để ướp xác thối của Hồ Chí Minh nên dẹp đi, vì nó hôi thối, trái tự nhiên, phản khoa học và vô tích sự. Với cái mảnh đất mênh mông bát ngát đó, Nhà Nước có thể xây được biết bao nhiêu trường học, bệnh viện hoặc cô nhi viện.

Trên phương diện hình luật, hành vi Đảng chiếm đoạt tải sản của dân đã hội đủ yếu tố của tội ăn cướp và Đảng lãnh đạo cuộc ăn cướp này phải được xếp vào loại Đảng Cướp quy mô nhất trong lịch sử loài người.

Một tên đạo tặc cạy cửa ban đêm, dùng vũ khí hăm dọa khổ chủ để lấy đồ đạc trong nhà. Đó là hành động ăn cướp. Còn Đảng CSVN công khai tước đoạt tài sản của dân chúng giữa ban ngày và chủ nhà đốt nến ban đêm cầu khẩn đòi lại thì Đảng cho đó là hành vi phạm pháp, phá rối trật tự công cộng. Ông cha chúng ta đã để lại một câu ca dao thật chí lý:

Con ơi, nhớ lấy lời này:
Giặc đêm là cướp, giặc ngày là quan.

Đảng CSVN quả đúng vừa là "quan" vừa là "cướp"!

Có bao giờ Đảng Cộng Sản nghĩ rằng nếu "Dân làm chủ, Nhà Nước quản lý và Đảng lãnh đạo" thì vợ của các đồng chí cũng phải do Nhà Nước quản lý, rồi một ngày nào đó, qua sự lãnh đạo tối cao của Đảng, Nhà Nước giao vợ Thủ Tướng cho Chủ Tịch Quốc Hội quản lý, giao vợ Chủ Tịch Nhà Nước cho Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc quản lý hoặc giao bà phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân cho ông Trưởng Ban Tôn Giáo quản lý. Liệu như vậy có được hay không? Các "quan" Cộng Sản có đồng ý như vậy hay không?

Đảng CSVN xưa nay vẫn rêu rao rằng họ đã lãnh đạo nhân dân đánh Pháp, đuổi Mỹ. Thế nhưng tại sao ngay lúc này đây, Trung Cộng ngang nhiên lấn biên giới, cướp Hoàng Sa và Trường Sa của đất nước VN, mà Đảng vẫn câm, Nhà Nước vẫn điếc và Mặt Trận Tổ Quốc vẫn mù. Không ai dám đả động gì tới quan thày Trung Cộng, dù chỉ là một lời phản đối xuông? Phi lý hơn nữa, khi nhân dân và thanh niên yêu nước nổi dậy biểu tình phản đối Trung Cộng thì Đảng lại ra lệnh đàn áp các cuộc biểu tình ấy? Có gan đánh Pháp, có gan đuổi Mỹ, mà sao không có gan giết Tàu?

Tại sao lại có sự kiện vô lý như vậy?

Câu trả lời cho vấn nạn trên thật quá rõ ràng: Tất cả những cái mà xưa nay Đảng vẫn huyênh hoang gọi là "thành tích đánh Pháp, đuổi Mỹ" đều là giả dối, bịp bợm hết. Lịch sử chiến tranh Việt Nam đã được giải mã và đã chứng minh rằng Đảng CSVN không bao giờ đủ khả năng đánh Pháp. Chính Trung Cộng đã đem vũ khí và quân đội đánh dùm trận Điện Biên Phủ.

Đảng cũng không đủ sức mạnh đuổi Mỹ khỏi VN, mà chính Trung Cộng đã đuổi dùm cho họ. Chứng cớ là sau khi Kissinger và cựu TT. Nixon viếng thăm Trung Cộng năm 1972 thì chỉ một năm sau, hai quốc gia này đã trả giá xong xuôi cho cuộc bán đứng Miền Nam VN bằng hiệp định Paris 1973. Cũng chính vì thế, ngày nay Trung Cộng chiếm đất đai của VN thì Đảng CSVN đành ngậm đắng nuốt cay, im lặng một cách nhục nhã.

Đảng CSVN đã được Tướng Cướp Trung Cộng vẽ đường chỉ lối cho đi ăn cướp. Nay đến lượt chính thày đi ăn cướp trò thì làm sao trò biết đường nào mà chống trả?

Hiểu được sự thực này rồi thì ngọn đuốc đòi Công Lý sẽ được mỗi người dân Việt nhen nhúm, mỗi gia đình nhen nhúm, mỗi tôn giáo nhen nhúm, mỗi tổ chức nhen nhúm; miền Bắc đốt lên, miền Trung đốt lên, miền Nam đốt lên, khắp nơi đốt lên. Rồi tới một ngày, cả nước sẽ biến thành một khối lửa hùng vĩ, thiêu rụi hết mọi tàn dư của Đảng CSVN.

Chắc chắn bài kinh Hòa Bình mà giáo dân Hà Nội đang hát hôm nay sẽ là ca khúc Khải Hoàn cho ngày mai. Ngày đó chắc hẳn sẽ không còn xa.

Tiến Sĩ TRẦN AN BÀI

Post Reply