Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Giấc Mơ Dịu Dàng
Làm người ai cũng có những ước mơ. Tiền tài, hạnh phúc, và danh vọng.

Mơ ước thật nhiều. Đó là những giấc mơ vĩ đại. Nhưng cũng có người chỉ mong được sống nốt cuộc đời còn lại để làm người tử tế.
Đó là người mang một giấc mơ dịu dàng.

Image

Người đàn bà mang thai, quì gối trên biển Đông
Buổi trưa ngày Chủ nhật của tháng 2 năm 2008, tại lầu 2 của Viện Bảo tàng Việt Nam-San Jose có 2 phụ nữ xinh đẹp đứng trước tấm bản đồ lịch sử 20 năm thuyền nhân tỵ nạn. Nghẹn ngào và xúc động. Các cô là thuyền nhân vượt biển thành công 20 năm trước.

Trời mưa nặng hạt, cả khu công viên Kelley vắng lặng. Không gian ngập gió và rào rạt trong tiếng mưa rơi.

Một cô nói, cháu đi năm 1978, tay chỉ lên bàn đồ, sau bao nhiêu gian khổ, đã đến trại này. Bàn tay cô di chuyển tìm các trại tỵ nạn Đông Nam Á. Bây giờ thì định cư ở Canada. Một cô khác kể chuyện vượt biên rõ ràng hơn. Cháu đi năm 1980. Thuyền đi từ Vũng Tàu. 46 người và một đứa bé còn trong bụng mẹ. Thuyền nhỏ chở người ra tàu lớn. Dân vượt biên gọi là taxi ra cá lớn. Không chuẩn bị nhưng cứ phải đi. Tháng 10 giông bão ở Sài Gòn. Cộng sản đánh tư sản. Tháng 10 giông bão biển Đông. Con tàu vượt biên đói khát và hỏng máy trôi trên hải phận quốc tế suốt 6 ngày. Thuyền nhân nằm chờ chết trên con tầu tơi tả. Người ta đếm được 36 con tàu đi qua mà không dừng lại. Thương thuyền mang đủ cả các quốc kỳ. Có cả tầu treo cờ Hồng Thập Tự.

Vào buổi sáng tháng 10 năm 1980. Một bà mẹ 23 tuổi mang thai đứa con 8 tháng trong bụng, cố dìu đứa con gái 1 tuổi rưỡi. Mẹ con dắt nhau lên mũi thuyền quỳ xuống cầu kinh.

Mấy người vượt biên đồng hành la lên, bảo cho mẹ con nó đi xuống. Vác cái bụng bầu lên mũi tàu thì chỉ bị sui mà chết hết.

Những dù sống hay chết người Việt tỵ nạn trên ghe Vũng Tàu lúc đó cũng có chung một giấc mơ. Giấc mơ trong đau khổ, hãi hùng. Giấc mơ được sống, giấc mơ được tự do, giấc mơ đời sống Hoa Kỳ cách xa nửa vòng trái đất.

Như chuyện thần tiên, viên thuyền trưởng tàu Norwegian từ xa bỏ ống nhòm quay lại. Trong khoảnh khắc ông nhìn thấy chiếc tàu vượt biên khốn khổ đang trôi vật vờ trên biển. Ở mũi tàu có người đàn bà và đứa nhỏ đang quỳ xuống cầu nguyện. Thuyền trưởng của một nước Âu châu xa lạ không bao giờ quên được hình ảnh ông đã nhìn thấy vào buổi sáng hôm đó. Con tàu thứ 37 là con tàu nhân đạo đã quay mũi vớt thuyền vượt biên mang số đăng bộ Vũng Tàu để đưa tất cả vào trại tỵ nạn Hồng Kông.

Thuyền trưởng tầu Norwegian không hề biết rằng ông đã góp phần quan trọng vào việc tái sinh cho cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại một tiếng hát hàng đầu trong suốt 18 năm qua.

Cô gái trẻ mang bầu với đứa con bên cạnh quỳ gối trên mũi thuyền tuyệt vọng đó chính là Ý Lan. Người thiếu phụ vô danh lúc đó chưa trở thành ca sĩ. Đứa con gái nhỏ bé ngơ ngác tội nghiệp quỳ bên cạnh mẹ là cháu Mai Linh ngày nay đã tốt nghiệp bác sĩ nhi khoa. Đứa bé con trong bụng mẹ sinh tại trại tỵ nạn Hồng Kông mang quốc tịch Anh khi chào đời, sắp sửa tốt nghiệp trường Luật tại San Diego.

Tất cả mẹ con, gia đình và đồng hương trên con thuyền Vũng Tàu ngày xưa, bây giờ đều đã đạt được giấc mộng Hoa Kỳ. Năm 1980, trên biển Thái bình Dương họ chỉ mơ được một ngụm nước.

Xin nói về cuộc đời

Ý Lan là trưởng nữ của tài tử Lê Quỳnh và ca sĩ Thái Thanh. Đó là cô gái tài hoa và nhiều duyên nợ nhất. Theo học chương trình Pháp từ thuở nhỏ tại Saigon, nhưng ước mơ của cô bé suốt thời thơ ấu là muốn làm ca sĩ. Bà mẹ tuy đã trải qua cái nghiệp cầm ca với danh tiếng vượt thời gian nhưng lại không muốn con gái theo chân vào vòng phiền phức.

Cô lập gia đình sớm, đến khi miền Nam thất thủ, gia đình nhà chồng giàu có phải tìm đường ra đi vì phong trào đánh tư sản tại Saigon đã phát động.

Trước khi đi Ý Lan có gặp bà Thái Thanh để tâm sự. Mẹ nói rằng không thể đi với con vì phải có người ở ngoài để lo chạy. Con gái mang bầu sắp sanh mà lại dắt thêm 1 đứa nhỏ. Nếu có bề nào bị bắt thì ai lo công chuyện bên ngoài. Sau chuyến đi may mắn 1980 đến sáu năm sau là 1986 mẹ con, bà cháu mới gặp lại tại Hoa Kỳ theo chương trình đoàn tụ.

Được bố Lê Quỳnh lập hồ sơ đoàn tụ cho gia đình từ Hồng Kông qua định cư tại Hoa Kỳ nhưng Ý Lan vẫn chưa có dịp xây dựng lại giấc mộng thời thơ ấu. Phải đến 1990 sự nghiệp ca hát mới bắt đầu và lập tức sau một năm khán giả hết sức ái mộ và cô trở thành một trong các tiếng ca nổi tiếng khắp cộng đồng Việt Nam Hải ngoại.

Dù tiếng hát bay cao, trên sân khấu luôn luôn xiêm áo lượt là, với tiếng cười rộn rã, nhưng cuộc đời tình duyên ngang trái cũng nhiều phen trắc trở.

Ngày xưa thi sĩ Nguyễn Du viết về cuộc đời tài hoa của nàng Kiều đã tiên tri về số mệnh của các giai nhân gian truân vất vả, theo thuyết “Tài mệnh tương đố” Chữ tài liền với chữ tai một vần...Ba trăm năm sau trong số những ai là người khóc Nguyễn Du chắc hẳn phải có nàng ca sĩ. “Bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”. Tuy nhiên, với niềm tin vào tôn giáo mạnh mẽ, ca sĩ Ý Lan đã gặp được người chồng hiện nay trong cuộc sống hạnh phúc.
Không những hạnh phúc mà lại còn hết sức hạnh ngộ. Con anh, con em
Khi chàng gặp nàng, hẹn hò đi chơi. Nàng đã dẫn con gái đi theo để hộ tống. Chàng bèn dẫn theo con trai để thêm lịch sự. Cả hai bên đều trưởng thành, đã từng lập gia đình, đã ly dị và hiện đều có con riêng.

Đám cưới của chàng Lê anh Tuấn lấy ca sĩ Ý Lan có con cái của hai bên hiện diện mừng cho cha mẹ. Và có cả sự hiện diện của ông bà các cháu.

Hạnh phúc tìm thấy dù muộn màng nhưng vẫn không thiếu phần nồng thắm. Ý Lan cũng có khả năng nấu ăn để đóng vai nội trợ đàng hoàng.

Khi người ta đã nuôi 6 con rồi mới lấy chồng thì bắt buộc phải thông thạo làm bếp. Nhưng chuyện đám cưới của hai vai chính chưa phải là đề tài thú vị và dù sao cũng đã qua rồi. Bây giờ đến lượt con trai của chàng lại yêu con gái của nàng. Đó mới làï chuyện lạ. Nhưng theo ý kiến của bố Tuấn và mẹ Lan thì lại không phải là vấn đề. Yêu nhau thì cho chúng nó lấy nhau. Yêu nhau là chuyện lớn, đám cưới là chuyện nhỏ. Chuyện lớn đã xong thì chuyện nhỏ dễ dàng. Cái đám cưới con anh lấy con em mới thật là vui vẻ lạ lùng. Hai vợ chồng lại thành ông bà sui. Người xưa của chàng và người xưa của nàng cũng đến có mặt với các con. Bà ngoại Thái Thanh nói rằng: Chuyện nhà cái Lan này nó cứ rối tinh lên.

Ngày vui qua mau

Đúng vậy, chuyện nhà cô ca sĩ Ý Lan thật rắc rối, nhưng mà vẫn vui. Cô ca sĩ thông minh nói năng khéo léo của chúng ta tưởng rằng có thể vui với chồng con cho đến hết cuộc đời. Con anh con em. Bà sui vui với ông sui, mãn chiều xế bóng.. Nhưng ai biết đâu, niềm vui đã nằm trong thiên tai. Từ 5 năm qua, Ý Lan sống trong lo sợ.

Một căn bệnh hết sức hiểm nghèo và thù nghịch của phụ nữ đã tàn nhẫn chọn được nạn nhân của nó. Bệnh Ung Thư vú.

Cách đây 5 năm, Ý Lan tự khám lấy theo đúng lời khuyên của những chương trình y khoa thường thức. Cô tìm thấy có cục nhỏ (Lump) ở ngực. Lập tức khám nghiệm và tái khám. Dứt khoát đối đầu cấp tốc và quyếât liệt chiến đấu ngay khi mầm bệnh còn trong trứng nước. Trải qua nhiều tuần lễ hết sức buồn bã và hoang mang sợ hãi. Sau hai lần lấy mẫu thử nghiệm. (Surgical biopsy). Bệnh ung thư được xác định nhưng vẫn còn ở giai đoạn sơ khởi. Chương trình trị liệu bắt đầu bằng các phương pháp đơn giản dùng tia phóng xạ. (Lumpectomy ï& Radiation, Xạ trị) Chưa phải trị liệu bằng cách giải phẫu hay làm Chemotherapy (hóa trị) như các trường hợp nặng. “Của em vẫn còn nguyên”, nàng nói đùa với báo chí như thế.

Vì may mắn, vì phát giác rất sớm và chống trả quyết liệt nên công việc trị liệu kéo dài 5 năm qua, bây giờ tạm thời được coi như tình hình sáng sủa. Sự thật thì mầm bệnh ung thư trong cơ thể tất cả chúng ta luôn luôn có mặt nằm yên một chỗ, có thể vùng lên bất cứ lúc nào. Nhưng khi chúng ta công khai, tỉnh táo và quyết liệt đương đầu, bệnh nhân vẫn có thể chiến thắng từng giai đoạn. Bằng lời nói chân thành Ý Lan tâm sự, mới lập gia đình thì phát giác ra bệnh ung thư. Anh Tuấn nhà cháu hy sinh bỏ hết công việc ở San Francisco để dọn về Nam California lo cho vợ. Suốt 5 năm qua vừa chữa bệnh vừa đi hát. Năm năm trời đóng vai cành Lan trong héo ngoài tươi. Kéo lê hành lý đi khắp bốn phương. Quậy phá trên sân khấu, khóc thầm trên máy bay. Chủ nhật vừa qua thăm viện bảo tàng của bác Vũ văn Lộc, anh Phạm phú Nam của Dân Sinh Media phỏng vấn hỏi về con người, hỏi về chiến tranh, hỏi về thuyền nhân. Chợt nghĩ đến thân phận chính mình, cũng là một trong hàng triệu thuyền nhân sống sót, cũng lại là một trong hàng triệu bệnh nhân ung thư còn đứng vững, Ý Lan đã không cầm được nước mắt. Niềm đau giữ mãi trong lòng bấy lâu nay, bây giờ là lúc phải thổ lộ can tràng.
Ý Lan Foundation Ngày Chủ nhật 24 tháng 2-2008 vừa qua tại San Jose. Trời mưa tiếp tục bên ngoài, trong nhà hàng Paloma ấm áp, cô ca sĩ Ý Lan nhân danh người “Cancer survivor” (Thoát hiểm ung thư.) đã chính thức công bố tuyên chiến với kẻ nội thù là mầm bệnh trong người.

Một Foundation có danh hiệu hết sức êm đềm là “Ý Lan Sweet Dreams” được giới thiệu với báo giới San Jose do chính cô làm chủ tịch. Phụ tá đắc lực là cô ca sĩ Thái Hà vốn cũng là thuyền nhân 1978. Cô Trương gia Vy của tuần báo Việt Tribune giới thiệu. Lần lượt đại diện báo chí Truyền hình và Radio Việt Ngữ địa phương lên tiếng ủng hộ . Tiếng nói của các phụ nữ hiện diện lại có phần tình cảm và khích lệ mạnh mẽ hơn cả nam giới. Bằng một tiếng nói truyền cảm và xúc động Ý Lan kể lại hoàn cảnh khi lâm bệnh và giới thiệu về tổ chức thiện nguyện mới mẻ của cô. Ca sĩ Thái Hà phụ thêm để trả lời các chi tiết về điều hành và tổ chức. Cô ca sĩ với giấc mơ dịu dàng đã nhỏ lệ khi nghe 1 khán giả nghẹn ngào kể chuyện về hoàn cảnh cũng bị ung thư mới chịu giải phẫu được 2 tháng. Bà từ Salinas đã tìm đến để gặp cô tài tử thương yêu mà bây giờ hóa ra đồng bệnh tương lân. Bà Mai Chân, một phụ nữ trong cử tọa đã có dịp giới thiệu tổ chức bao gồm những nạn nhân trong tình tương trợ. Bằng một giọng nói rất rõ ràng và chuyên nghiệp bà cho biết nỗi đau đớn của phụ nữ mang bệnh ung thư ngực khác với bệnh thông thường. Sự thương tổn rất tế nhị của người phụ nữ khi bị cắt bỏ 1 bên hay cả 2 bên. Tai họa này đánh vào lòng tự ái của người nữ mà không thể chia xẻ với bất cứ ai. Chị em đồng hội đồng thuyền phải dựa vào nhau.

Sau cùng, phần cuối cùng cuộc họp báo được đề cập đến là lần đầu tiên chương trình văn nghệ Ý Lan và bằng hữu được tổ chức tại San Jose gây quỹ cho tổ hợp thiện nguyện Ý Lan Sweet Dreams với chủ đề “Mơ giấc mộng dài.” Hầu hết các danh ca đều có mặt.

Tổ chức tại Heritage Theater thành phố Campbell. Thứ Bảy 29 tháng 3 năm 2008 lúc 7:00 PM. Liên lạc: (408) 239- 4378.

Ca sĩ Ý Lan cho biết “Giấc mộng dài” cũng ra mắt vào thứ bẩy 22 tháng 3-2008 tại Royal Restaurant 9743 Bolsa Ave. thành phố Westminster với văn nghệ, dạ tiệc và dạ vũ.
Giấc mơ dịu dàng Trong cuộc sống tại Hoa kỳ, số mệnh đau thương không ngoại trừ riêng ai. Nhưng người Mỹ có truyền thống rất tuyệt vời. Khi một người nổi danh gặp điều bất hạnh, thường can đảm đương đầu và được khích lệ đứng lên tuyên chiến với định mệnh. Những bà mẹ mất con thành lập hội chống kẻ say sưa lái xe giết người trên tay bánh. Người cha có con tật nguyền gia nhập mặt trận truy tầâm nguyên nhân bệnh tật. Nhiều tài tử lập các tổ hợp thiện nguyện có mục tiêu liên hệ đến niềm đau của chính mình. Bây giờ ca sĩ Ý Lan là người Việt đầu tiên thành lập mặt trận tuyên chiến với bệnh ung thư mà chính cô đã phải âm thầm chịu đựng trong 5 năm qua. Người thiếu phụ quì gối trên biển Đông 28 năm về trước để xin Bề Trên cứu mẹ con đưa đến miền đất Hứa trong giấc mộng Hoa Kỳ. Phật từ bên ngoại và Chúa từ bên nội các cháu đã đáp lời. Năm năm qua cô tiếp tục cầu nguyện và tin tưởng ở các đấng linh thiêng. Từ trên cao, vẫn có người đặt ống nhòm nhìn xuống trần gian để giúp cho cô ca sĩ trong giấc mơ dịu dàng làm người tử tế gây dựng Sweet Dreams Foundation. Trên thế giới này luôn luôn có những người như ông thuyền trưởng xứ Norwegian lái tàu đi lại chung quanh chúng ta.

Như chuyện thần tiên trên Thái bình Dương vào tháng 10 giông bão năm 1980.

Giao Chỉ, San Jose
Last edited by khieulong on Sat Mar 08, 2008 3:02 am, edited 1 time in total.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Mỹ Phong Cấp Đại Tá Hải Quân 1 Tị Nạn Việt Tự Hào, Xúc Động



Vào đúng hai giờ chiều, ngày 1, tháng 10, 2007; một phái đoàn gồm 30 quan khách đã được long trọng hộ tống vào một văn phòng của Ngũ giác đài (Pentagon) để dự lễ thăng chức cho Hải quân Đại tá Đỗ Hữu Ngọc Thủy. Chủ toạ buổi lễ là Phó Đề đốc Hicks. Thành phần quan khách, chúng tôi nhận thấy có sự hiện diện của gia đình đại tá Thủy, gồm có chị, em, vợ và con của ĐT Thủy, cũng như hai người cháu của ĐT Thủy từ tiểu bang Oklahoma đến tham dự. Đại tá Yoon, Đại diện của toà Đại sứ Nam Hàn; Đại diện của toà Đại sứ Ấn độ; cùng những quan chức trong chương trình phòng thủ hỏa tiển của Ngũ giác đài.

Phó Đề đốc Hicks đã mở lời như sau: "Thủy Đỗ là môt người tỵ nạn Cọng sản Việt Nam …" Phó đề đốc Hicks nói tiếp "Vào những giờ phút cuối của miền Nam Việt Nam, Thủy cùng gia đình đã đi ra biển, trôi dạt nhiều ngày, sau đó đã được một tàu Hải quân Hoa kỳ cứu vớt, và giờ đây, tôi rất hãnh diện được chủ tọa lễ thăng chức cho Hải quân Đại tá Thủy Đỗ."

Phó Đề đốc Hicks cũng nhấn mạnh rằng Hải quân Đại tá Đỗ Hữu Ngọc Thủy đã chứng tỏ khả năng lãnh đạo, tinh thần dũng cảm trên mọi lãnh vực để trở thành một vị chỉ huy trong lực lượng Hải quân Hoa kỳ. Và Phó Đề đốc Hicks cũng nói rằng Đại tá Thủy là biểu tượng cho sự thành công, mơ ước của mọi gia đình tại Hoa Kỳ.

Sau phần phát biểu của Phó Đề đốc Hicks là phần gắn quân hàm. Đại tá Thủy đã chọn ba con trai của mình, tuổi từ 3 đến 8 tuổi đến thay lon trên mũ, vợ anh thay lon trên cổ áo phải và chị của anh thay lon trên cổ áo trái. Nghi lễ thay quân hàm đã diển ra trong không khí trang nghiêm và đầy xúc động. Chị của anh Thủy đã không cầm được dòng lệ khi nhìn thấy người em trai út ngày nào được chị bồng trên tay, nay là một Đại tá trong binh chủng Hải quân Hoa kỳ.

Đại tá Đỗ Hữu Ngọc Thủy sau đó đã được mời lên phát biểu cảm nghĩ của anh. Đại tá Thủy bắt đầu bằng lời cám ơn quan khách. Anh nói "Tôi xin được phát biểu cảm nghĩ của tôi qua ba chữ

HONOR/ Danh Dự,

COURAGE/Can đảm/Dũng cảm,

COMMITMENT/Lòng quyết tâm

Khi nói đến Honor/Danh dự, thì tôi xin được nói đến Bố Mẹ tôi đã một đời hy sinh, thương yêu và dạy bảo tôi. Các bạn có thể nhìn thấy những vết thương trên cơ thể của Bố tôi, khi ông phục vụ trong quân lực Cộng hoà Miền Nam Việt Nam . Bố Mẹ tôi rất nhỏ con, nhưng họ là những người vĩ đại nhất mà tôi đã gặp. Bố tôi chỉ cao khoảng ngang vai tôi. Ông không nói nhiều, vì có lẽ cuộc chiến tranh Việt Nam đã cướp đi thính thị của bố tôi và ông không còn nghe được nhiều, nhưng khi ông nói thì đó là những lời tôi ghi khắc và mang theo trong cuộc đời tôi. Tôi thật buồn khi biết là Bố, Mẹ không có mặt nơi đây để quý vị có thể gặp Bố Mẹ tôi. Họ quả thật là tiêu biểu của chữ HONOR/ DANH DỰ.

COURAGE/Dũng cảm/Can đảm thì tôi phải nói đến người chị của tôi. Bà ngồi đây và đang nhìn tôi … Lúc gia đình tôi nghèo khó, đương đầu với bao sự khác biệt của xã hội mới. Cá nhân tôi đứng giữa hai phong tục, Việt/Mỹ quá khác biệt nhau. Gia đình gặp phải những trở ngại như bao gia đình nửa Việt nửa Mỹ khác. Chị tôi đã đón nhận tôi, bất kể mọi sự phản đối hay phiền trách… Bao nhiêu khó khăn, giông bão đã qua và gia đình chúng tôi, cá nhân tôi được có ngày hôm nay. Nhìn lại, thì chị tôi là biểu tượng của COURAGE/ Sự Can đảm và Dũng cảm.

Còn nói về COMMITMENT/Lòng quyết tâm thì tôi xin nói đến người vợ của tôi. Nàng đã theo tôi, hổ trợ tôi trong suốt cuộc đời quân ngũ. Một tay nàng đã chăm nuôi, bảo bọc, dạy dỗ các con yêu quý của chúng tôi trong khi tôi phục vụ nơi chiến trường. Nàng đã hy sinh sự nghiệp cá nhân để trở thành một người vợ lính, một người mẹ. Do đó, khi nói đến chữ COMMITMENT/Lòng quyết tâm thì tôi nghĩ ngay đến vợ tôi và tôi xin được cám ơn nàng…

Hải quân Đại tá Đỗ Hữu Ngọc Thủy đã làm mọi người xúc động qua những lời nói đầy chân tình của anh.

ĐPT Việt nam Hải Ngoại Oklahoma đã ngỏ lời xin một bản sao của bài phát biểu trên. Tuy nhiên Đại tá Thủy cho biết là anh không soạn bài hay viết lên bài phát biểu đó. Anh chỉ nói qua cảm nghĩ từ trái tim của anh.

Buổi lễ chấm dứt vào khoảng 2 giờ 45 cùng ngày. Quan khách đã lần lượt đến chúc mừng tân Hải quân Đại tá Thủy và gia đình.

Tưởng cũng nên biết, Đại tá Đỗ Hữu Ngọc Thủy xuất thân từ Oklahoma. Anh đã được xếp hạng Thủ khoa khi tốt nghiệp trung học tại trường Northeast Highschool, Oklahoma City. Anh theo học chương trình Sĩ quan Hải quân trừ bị tại trường đại học Purdue, tiểu bang Indiana. Sau đó được tuyển chọn theo học chương trình Cao học tại trường đại học Monteré, California. Tại đây anh đã tốt nghiệp với bằng Thạc sĩ về Chiến thuật và Thạc sĩ về Hỏa tiễn phòng thủ.

Hiện Bố Mẹ và một số người thân của anh vẫn cư ngụ tại Oklahoma City. Chúng tôi thành thật chúc mừng gia đình Đại tá Đỗ Hữu Ngọc Thủy và cám ơn niềm hãnh diện mà anh và gia đình anh đã mang đến cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Oklahoma, nói riêng, và khắp mọi nơi trên thế giới, nói chung.

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Nhà Văn lãng Nhân Phùng tất Đắc Đã Qua Đời

Tin London cho biết nhà văn lão thành Lãng Nhân Phùng tất Đắc vừa qua đời tại London hưởng thọ 100 tuổi.

Nhà văn lãng Nhân Phùng tất Đắc là tác giả của các cuốn sách "Giai thoại lành Nho ",Trước Đèn , Chơi Chữ ,"Chuyện Cà kê " Hương sắc Quê mình. Dưới thời chính thể đệ nhất Cộng hoà ,nhà văn Lãng Nhân được đề cử trông nom Nhà In Kim Lai Ấn quán nằm trên đường Thái lập Thành Sàigon.

Sau 1975 , nhà văn Lãng Nhân và gia đình định cự Tị nạn tại Anh Quốc cho đến ngày nay.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Giọt Nước Mắt... Bụi Đời

Bài và ảnh của Lệ Loan
“Nói thật, hai ngày rồi chú chưa có hột cơm trong bụng, đói hoa cả mắt”- người đàn ông da sạm nắng, tay run run bưng cốc nước hướng cái nhìn khắc khoải nửa như van xin về phía tôi.

Họ - những con người lang thang, không nhà cửa, không nghề nghiệp, lẳng lặng như chiếc bóng bên lề cuộc đời, thường quay mặt đi để giấu giọt nước mắt tủi cực chực trào ra.
Image Đi bụi vì... thích

Gió từ sông Sài Gòn thốc từng đợt mang không khí mát rượi lẫn mùi tanh nồng của nước. Đang tìm chỗ nghỉ trưa, tôi lò dò lại gần ba người đàn ông đang ngủ vùi dưới chân cầu Sài Gòn. Tiếng xe chạy rầm rì, tiếng gọt dừa rất ngọt của anh bán dừa cứ sột sột, đều đều đơn điệu, buồn tẻ. Người đàn ông to, mập, đang say giấc vẫn không quên quàng tay giữ chặt chiếc xe đạp cũ. Một đôi dép nhựa sứt quai gối đầu, tấm mền rách và ít quần áo lỗ chỗ thâm kim của anh treo vất vưởng trên cổ xe. Rất thính nhạy, anh mở to mắt nhìn tôi cảnh giác. Hàng chân mày tỉa tót kỹ lưỡng, anh mặc quần đen nên nhìn vào tôi tưởng là bà béo ị nào đó. Vẻ mặt bặm trợn mà nói chuyện hiền lành, anh hỏi:

- Sao không về nhà mà ra đây nằm?

- Chán, mới bỏ nhà đi bụi.

- Mấy bữa nay ngủ ở đâu?

- Vỉa hè.

Thứ ngôn ngữ cụt ngủn, cộc lốc pha chút bất cần của dân bụi vận vào tôi lúc nào chẳng hay. Tôi buột miệng:

- Mới lên chưa có việc làm à? Theo tui lượm bọc đi, ngày cũng kiếm được vài chục. Tối tui hay ngủ ở vỉa hè ngoài Hàng Xanh ấy. Ở đó có đứa cỡ tuổi cô hoặc nhỏ hơn cô tận Đà Nẵng vào, tụi nó cũng đi lượm bọc”. Tuấn “Vũng Tàu” - người đàn ông chết tên với địa danh quê mình cho biết. Không vợ con, không giấy tờ lận lưng, một mình Tuấn lên Sài Gòn sống bằng nghề lượm bọc mười mấy năm rồi. Lâu lâu anh cũng về thăm nhà nhưng chỉ vài hôm lại đi. Người ở quê anh không biết thằng Tuấn đi đâu, làm gì trong suốt thời gian đó, chỉ thấy lúc nào về bộ dạng của anh cũng lê thê lếch thếch với chiếc xe đạp cà tàng, vẫn nghèo rớt mồng tơi dù đã gần 30 tuổi...

Tôi hỏi: “Tắm ở đâu?”. “Dưới đó”. Nhìn khúc sông Sài Gòn đang lặng lờ chảy, chỗ nào nông, sâu, làm sao biết. Thấy tôi ái ngại, anh cười khẩy: “Ngoài mé sông có bậc thềm, đứng đó tắm, giặt tại chỗ, phơi đồ ở mấy lùm cây kia kìa. Anh chỉ về phía những bụi cỏ khô cháy, rậm rạp đến xác xơ mà một thằng nhóc vừa chui vào phóng uế; có vài bộ quần áo cũ nhăn như miếng giẻ lau nằm rạp trên ngọn cỏ lất phất theo gió. Ban ngày nằm đây ngủ, đêm xuống anh đi lượm, mệt quá thì lăn lóc đâu đó ngủ bừa.
Image Những mảnh đời côi cút

Rời cầu Sài Gòn, tôi lần về hướng chợ Thủ Đức. Có khá nhiều người sống bằng nghề móc bọc, vác bao đi thất thểu cố tìm cái gì có thể lượm để bán. Đêm xuống thật nhanh, mới nắng vàng tươm, nóng hầm hập giờ lại mát dịu như tấm khăn voan. Tôi theo chân hai cậu nhóc đi chân đất, da đen nhẻm, còm nhom, mặc độc chiếc quần tà lỏn, mái đầu lơ thơ khét nắng. Hai cậu bé độ 9, 10 tuổi ôm một đống cây sắt vừa lượm được kéo lê vô vỉa hè. Thằng nhỏ phanh cái bao tời con cho thằng lớn bẻ cong bỏ vào. Tôi lại gần hỏi:

- Hai em lượm ở đâu vậy?

- Hỏi chi? Để lượm hả? - thằng nhỏ hỏi ngược. Thằng lớn nạt:

- Ăn cắp chớ đâu.

Vừa nói, nó trân gân đạp cong cây sắt, mắt láo liên như sợ ai nhìn thấy. Tôi nói như tạo sự an tâm:

- Tui cũng mới đi lượm bọc, chưa có chỗ ngủ, tối ngủ ở đâu cho tui theo với!

- Tụi tui đi bụi, không có nhà, ngủ ở chợ đầu mối - thằng nhỏ trả lời thành thật. Nó ngây thơ, thiệt thà bao nhiêu thì thằng lớn khôn ranh, lọc lõi bấy nhiêu:

- Thôi xạo quá bà ơi, đừng có giả điên!

Nó lôi bao sắt đi xềnh xệch rồi như nặng quá nó bảo: “Mày vác đi!”. Thằng nhỏ ghé vai, mím chặt môi cho thằng lớn đặt lên, mấy ký sắt oằn vai khiến thân thể ốm như que tăm của nó lảo đảo. Nó hỏi tôi bằng một giọng hụt hơi:

- Bà nói thiệt không, chứ ba mẹ bà đâu, hổng ai nuôi bà hết hả, mà sao thấy bà thơm dữ vậy?

Câu nhận xét vừa ngây ngô vừa thành thật của thằng nhỏ làm tôi bật cười:

- Thì mấy ngày rồi tui mới được tắm chứ bộ, tui không có ba mẹ...

Thằng nhỏ hồn nhiên quá khiến tôi bối rối. Tôi hỏi như cố lấp liếm những lời nói dối:

- Còn em thì sao?

- Từ nhỏ “tự nhiên” tui lớn lên, không có ai nuôi hết, đi lạc, lượm bọc nilon tới giờ. Mặt nó thoáng buồn xo, rồi nó lại cười toe khi thấy cuộn thước dây ai đó làm rớt. Thích thú như vừa lượm được món đồ chơi quý, nó kéo ra rút vào đến tội nghiệp. Lục lọi trong đống rác bên đường, hai đứa nhỏ lôi ra ống nhựa dài ngoằng, kéo lê dưới lòng đường một cách mệt mỏi.

Đi từ chiều tới giờ mà cái bao tời con của hai đứa chỉ được mấy cây sắt, vài vỏ lon sữa bò, một bọc bánh sandwich đã “quá đát” người ta vứt lẫn trong thùng rác trước nhà. Thằng nhỏ hí hửng phủi lớp bụi bám ngoài bọc bánh mốc thếch, mở ra lấy một cái nhai nhồm nhoàm. Đưa cho tôi nguyên bọc, nó bảo: “Ăn đi, ngon lắm!”. Thằng lớn giật lại: “Chê thì thôi, để tao, mà sao bà cứ lẽo đẽo theo tụi tui vậy?”. Ánh mắt nó nhìn tôi dè chừng. Thỉnh thoảng nó đi tụt lại phía sau để canh chừng như sợ tôi giật mất “chiến lợi phẩm”. Nó sợ cũng phải, dân lượm bọc thường hay chôm đồ của nhau, hở một chút là mất... Lâu lâu, nó kéo thằng nhỏ lại xầm xì cái gì đó, thằng nhỏ nghe xong cười khì: “bả” không có nhà thiệt mà, hay mình chỉ “bả” ra ba trong một hen!”.

- Ra đó mấy thằng đó “làm thịt” bả ráng chịu! Thằng lớn nói xong mắc cỡ nhìn tôi cười ngượng nghịu.

Đã khá khuya, chợ tan, lòng chợ vắng hoe. Hai thằng nhỏ ngập ngừng trước đống rác ngay chợ Thủ Đức. Tụi nó không dám vào bởi có người đàn bà phục phịch, xăm cặp mắt sắc lẻm án ngữ ở đó, bà “đôn” vào bao những gì chú bé đi cùng nhặt được từ đống rác. Còn một chồng bao lành lặn để gần đó chưa dùng đến, hai chú nhóc lại nhìn săm soi:

- Dì Chín, cho con cái nghen!

- Để đó, thằng nào lấy tao đập què tay - cất giọng the thé bà quát. Rồi bà sấn lại nhìn kỹ coi có mất cái nào không. Hai thằng nhóc rụt cổ, thằng lớn moi trong bịch rác cố tìm cái bao lớn hơn nhưng không có, bực bội nó quay sang quát tôi:

- Đã bảo bà đừng theo tụi tui rồi mà, bà có tiền trong túi á, đi thuê phòng mà ngủ, cứ theo ám không à! Thằng lớn thật tinh mắt, nó nhìn thấy vài chục ngàn trong túi quần tôi lòi ra vì sơ ý. Tôi cười giả lả:

- Có ít à! Để dành ăn chớ.

Thằng nhỏ nhìn tôi mủi lòng bảo:

- Hay bà về chợ Tam Bình trước đi, bà xin khuân, bốc hàng cho mấy chủ vựa ở đó, một đêm người ta trả cho bà 50.000 đồng lận, có chỗ ngủ, tụi tui còn phải đi lượm nữa, thằng Tí Chuột nó không thích cho bà theo. Tôi đứng nhìn theo hai dáng nhỏ liêu xiêu khuất sau con hẻm, chẳng biết đêm nay tụi nó có lượm thêm được nhiều thứ!?

Chợ đầu mối Tam Bình 12 giờ đêm mà nhộn nhịp như ban ngày. Đèn đường sáng choang, tấp nập những xe cút kít, xe tải chở hàng... Nhịp sinh học của những người ở đây dường như bị đảo lộn, công việc mưu sinh cuốn hút khiến người ta quên mất giấc ngủ đêm. Thằng nhóc chừng 10 tuổi trải bao trên đám cỏ gần cổng ra vào ngủ chập chờn. Tôi vừa ngồi xuống cạnh liền bị nó đuổi thẳng: “Chỗ này có người nằm rồi, bà đi chỗ khác đi”. Định hỏi nó dăm ba câu, nhưng thấy mắt nó mỏi nhừ, tôi lại thôi.

Ngang qua những khuôn mặt túa mồ hôi đẩy những xe cút kít hàng đi vội vã, có em chừng 8, 9 tuổi cởi trần trùng trục làm xăng xái, gương mặt tươi tỉnh; có bác xích lô già đang co ro trong “tổ ấm” của mình đợi khách. Vài anh bảo vệ nhìn chằm chằm từng dòng người qua lại, như chờ có tên trộm nào chạy qua là “thộp cổ”.

Thằng bé tên Minh đẩy một lúc hai chiếc cút kít nhiệt tình chỉ cho tôi chỗ ngủ. Rồi nó dắt tôi lại làm quen với một chú bé bằng tuổi nó. Không biết Minh đã nói gì mà thằng nhóc gặp tôi ngơ ngác: “Nó nói em lại chị cho em đồ hả?”. Tôi phì cười: “Ừ!”. Thằng nhóc mở to đôi mắt nhìn tôi chờ đợi. Gương mặt nó bầu bĩnh, lem luốc, như thể mấy ngày không được tắm: “Nói chuyện với chị chút nha! Em ở đây với ai, ba mẹ đâu ?”

- “Biết chết liền!”.

Thằng nhỏ trả lời cộc lốc, nhưng rồi lại cho tôi biết trước đây nó cùng cu Sún, bé Bẻo, thằng Tèo lượm củ cải dạt ở chợ Cầu Muối. Đêm xuống, chờ chủ vựa phân hàng, những rau, củ dạt đổ đi, tụi nó xúm lại lượm lặt, sáng ra phân thành “mớ” bán lẻ. Bây giờ chợ Cầu Muối giải tỏa cũng đồng nghĩa với miếng cơm bị cắt mất, tụi nó lên đây kiếm sống. Trong đám bạn đi cùng, có đứa có mẹ mà chẳng có ba, có đứa “tự nhiên” lớn lên như nó với thằng Tèo ở gầm cầu Ông Lãnh.
Image Có ai đó vừa ngang qua chỗ chúng tôi ngồi văng tục mắng yêu nó. Tiến còi (tên thằng bé) nhe hàm răng sún cười hì. Nó hất mặt về phía bờ tường chỉ: “Ngủ bên kia kìa”. Tôi nhìn theo, thấy mấy con người nằm lấp xấp ngủ ngon lành trên manh chiếu rách trải dưới nền đất lạo xạo đá cuội. Mặc cho mấy chị hàng rau, củ sát cạnh xăng xái gọt, bưng bê, xê dịch, ồn ào... thỉnh thoảng thằng bé nằm ngoài cựa quậy nó gãi khắp mình vì ngứa ngáy, muỗi chích tứ phía... Tấm mền ngắn cũn không đủ che hết bàn chân mốc thếch, đen sì của nó.

Tiến còi dắt tôi tìm chỗ ngả lưng sau khi tôi dúi cho nó vài đồng ăn kẹo. Trải tấm chiếu rách bươm mà nó giấu ở một góc khuất nào đó xuống khoảng đất trống, nó nằm cựa quậy một lúc thì ngáy khò. Tôi ngồi cạnh thằng bé ngả lưng qua đêm. Ý nghĩ những nguy hiểm xung quanh rình rập khiến tôi không sao chợp mắt. Bất giác tôi đưa tay vuốt nhẹ má Tiến còi, nhìn nó vùi mình vào giấc ngủ hồn nhiên không trăn trở, mặt buồn như phủ một lớp sương giá, tôi chắc trong trái tim nhỏ của nó cũng cồn lên sự khao khát được vỗ về. Giá mà những người mẹ, người cha không đang tâm vứt bỏ núm ruột mình thì đâu có những Tiến còi, bé Bẻo... sống cù bất cù bơ trong cảnh đói rách, thiếu thốn tình thương. Vậy mà nhiều đứa trẻ được nuông chiều, yêu thương, sống sung túc trong cảnh giàu sang thì lại bỏ nhà đi bụi khiến mẹ cha khóc hết nước mắt.

Một đêm ngồi ăn hủ tíu trên đường Võ Văn Ngân, tôi được nghe tâm sự của hai bà mẹ đi tìm hai đứa con gái bỏ nhà theo “tiếng gọi tình yêu”. Một bà than thở: “Ở nhà mở mắt ra là réo mẹ ơi con đói bụng, mẹ ơi con nhức đầu... không biết nó ra ngoài có được ăn no, tối ai đắp chăn cho. Đêm nghe tiếng kéo cửa rột rột, tôi cứ tưởng nó về mà đâu phải. Bưng chén cơm cứ nghĩ tới nó là nước mắt lưng tròng, nuốt không nổi!”. Bà kể: Một thằng lang thang bảo có gặp con bé ốm nhách, đen thui sống cùng thằng bụi đời trong căn chòi lá gần Saigon Water Park . Tụi nó lấy mì tôm sống nhúng nước sông cho nở rồi ăn, con bé chỉ có một bộ đồ mặc trên người nên khi tắm sợ ướt, nó treo đồ trong lùm cây, trần trụi trầm mình xuống sông. Thằng đó thấy tội nghiệp cho cái quần đùi mặc đỡ.

Bà mẹ tới tìm con, bà băng qua những bãi đất bồi lắng bùn đặc quánh, mênh mông, vắng bóng người, nhiều lần thót tim vì sợ. Người cha thì lầm lì không nói, ông quá đau lòng đã bỏ mặc đứa con gái “muốn làm gì thì làm”. Đã mấy lần ông lặn lội tìm nó về nhốt lại, dỗ dành, đe nẹt, nhưng rồi nó cũng trốn đi. Căn chòi lợp bằng lá dừa mà con bà ở nằm heo hút dưới rừng dừa nước rậm rạp. Nó sơ sài đến nỗi chỉ cần cơn gió mạnh thổi qua là mọi thứ có thể bị cuốn bay. Dưới nền là đống rơm khô mà nhìn vào người ta cứ tưởng lót ổ cho heo con nằm. Không gặp con gái mà gặp thằng bụi, bà khóc lóc, năn nỉ tha cho con gái bà, năm nay nó chỉ mới 15 - cái tuổi còn bồng bột, nông nỗi. Hôm sau, bà tìm đến thì căn chòi chỉ là đống tro tàn. “Nó đốt nhà đi rồi!” - giọng bà thảng thốt, đau khổ. Những cô con gái “rượu” của hai bà mẹ, có biết từng đêm hai bà rong ruổi khắp ngõ ngách trong thành phố, chỉ mong được tìm thấy chúng.


Bài và ảnh của Lệ Loan

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

CON DÊ VÀ MƯỜI CÁI GHẾ

Chưa bao giờ con dê thấy một đồi cỏ xanh um như thế. Bên này sườn đồi là cỏ úa, ai ngờ bên kia đầy cỏ non! Con dê soàn soạt nhai cỏ, mặc cụ Sĩ Ghềnh giục về hai ba lần vì trời đã đứng bóng. Nhìn con dê ăn ngon miệng quá, cụ không nỡ dục thêm lần nữa, nhưng khi nghe con gà dưới làng gáy trưa, bụng cụ cồn cào, cụ đứng phắt dậy, ra lệnh:

- Dê Tuyết! Về thôi! Trưa quá rồi!

- Thong thả cụ ạ, cháu chỉ mới xong bốn món ăn chơi.

- Không được! Tao với mày cùng đi từ sáng sớm, bây giờ tao đói mày no, quyền bình đẳng của tao ở đâu?

Con dê ngước mắt, ngúng nguẩy:

- Từ sáng đến giờ cháu chỉ thấy cụ tủm tỉm ngồi đọc "Nắng Và Hoa", bây giờ cụ cứ đọc và cháu cứ ăn, thế là tự do!

Cụ Sĩ Ghềnh dọa:

- Này, tao nói cho mày biết, tao đang đọc đến cái đoạn con chó sói thè lưỡi liếm mép trước khi xơi tái mày đấy. Mày không chịu về, tao gọi nó đến cho mày xem!

Con dê đỏng đảnh:

- Thà một phút huy hoàng, cụ ạ. Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt ... Cỏ ngon thế này, mười con chó sói đến cháu cũng chẳng coi ra gì.

- Cho mày chết nhé, tao đi gọi chó sói đây!

Cụ Sĩ Ghềnh giả bộ bước đi vài bước, tưởng con dê sẽ chạy theo, nhưng dê cứ ăn và cụ cứ bước. Tự ái nổi dậy, cụ đi tìm con chó sói.

- Sói! Tao vừa mới cãi nhau với con Dê Tuyết. Tao nói răng của mày nhọn nhất; nó nói sừng của nó cứng nhất. Tao nói: mười cái sừng của dê không đâm nổi một cái lưỡi của sói. Nó nói: mười cái lưỡi của sói cũng chỉ đáng cho nó ...

Cụ đằng hắng vài cái, giả vờ bỏ lửng câu nói. Con sói sốt ruột:

- Chỉ đáng thế nào?

- Ối dào! Mày lạ lùng gì giống dê nhà tao. Con Dê Tuyết quý phái như công chúa, nhưng trời sinh dê sinh tính, ăn nói vẫn dê, tao kể ra sợ mày giận, thôi mày bỏ qua ...

Con sói cong mình lại như sắp nhảy bổ ra đàng trước. Nó gắt ầm lên:

- Cái cụ Sĩ Ghềnh này cứ ỡm ờ! Cụ nói mau: con dê nói mười cái lưỡi của sói cũng chỉ đáng thế nào?

- Mày thành khẩn muốn biết, lẽ nào tao giấu mày! Nhưng tao nói ra là vì mày năn nỉ đấy nhé. Con dê nhà tao nói: mười cái lưỡi của mày cũng chỉ đáng để nó … tè lên mà thôi.

Con sói nhảy chổm lên trời ba lần, rớt xuống đất ba lần, ào ào tưởng đến nát mông. Chưa đủ, nó hùng hục chạy quanh gốc cây ba lần, đến lần thứ ba thì soạt cẳng, mất đà, đầu húc vào cây, lộn nhào ba vòng. Ngồi dậy, nó nói không ra hơi:

- Đồ hỗn láo! Con dê khốn kiếp ấy đang ở đâu? Tao nhai nát xương mày ra!

Cụ Sĩ Ghềnh khuyên can:

- Mày ăn thịt nó thì tao lấy sữa đâu mà uống? Đại trượng phu chấp gì cái bọn liễu yếu đào tơ! Mày mắng cho nó một trận là đủ. Con Dê Tuyết đang ham ăn cỏ đàng kia, mày đi với tao đến dạy cho nó một bài tiên học lễ. Rồi bảo nó trưa rồi, về nhà để tao còn kiếm cái gì lót bụng.

Cụ Sĩ Ghềnh chỉ nghĩ đến cái bụng của cụ mà quên nhìn cái đầu của con sói. Đầu nó húc vào cây khi nãy chảy máu lai láng. Nó nằm thừ ra, cằm dán vào đất, miệng thở hộc hộc. Thỉnh thoảng một giọt máu chảy từ trán, rơi xuống mũi, khiến nó khịt khịt.

- Cụ ạ, thôi, ta tha cho nó lần này làm phúc. Người quân tử thấy lỗi mình, quên lỗi người. Huống hồ nó là thứ ranh con vô học. Nhân bất học bất tri lý. Cụ về nhà ăn cơm đi, cháu về hang kiếm chút lá nhai làm thuốc.

- Ô hay, bây giờ mày đâm ra sợ dê à? Mày không đến, nó không chịu về đâu. Dậy, đi với tao!

- Chịu thôi cụ ạ, cái đầu cháu sắp bể làm hai rồi.

Cụ Sĩ Ghềnh cầm cây gậy chỉ vào mặt con sói:

- Mày không chịu đi, tao mang con bé quàng khăn đỏ đến đây thì mày chết! Mày đã lừa con bé để ăn thịt bà ngoại nó, tội ấy nó thù bất cộng đái thiên. Thiên bất dung gian, mày chạy đâu cho thoát.

- Cụ ạ, cháu cũng biết tội, nhưng dậy không nổi nữa rồi. Thôi chào cụ, cháu ngủ đây.

Nó nhắm mắt ngủ thật, mặc ruồi bay đến bu quanh vết máu.

Cụ Sĩ Ghềnh tức tốc đi tìm cô bé quàng khăn đỏ. Cô bé nào đi học mà chẳng quàng khăn đỏ như trong chuyện cổ tích, cho nên cụ vừa ra đường là gặp ngay một cô.

- Chào bé đi học. Bé giúp lão việc này tý nhé. Con Dê Tuyết của lão ham ăn cỏ không chịu về nhà, lão nhờ con sói đến dọa, con sói lần khân không chịu đi, bây giờ lão nhờ bé mang khăn đến dọa con sói, con sói chỉ sợ cái khăn đỏ thôi, bảo gì cũng nghe.

- Chào cụ ạ ... ba lần ba là chín, ba lần bốn mười hai, ba lần năm ... ba lần năm ... ấy, cụ làm cháu quên rồi. Good morning là chào buổi sáng ... Bill Gates là danh nhân Việt Nam ... Chân dép lốp là người đầu tiên bay vào vũ trụ ... Nàng Kiều là con gái nông thôn bán mình đi lao động bên xứ Đài Loan ... Hội nghị Diên Hồng mở đầu cho mùa xuân đại thắng...

- Bé! Mày lẩm bẩm cái gì bậy bạ thế?

- Cụ để yên cho cháu trả bài. Trăm năm trong cõi người ta / Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau / Trải qua một cuộc bể đầu ...

- Này, mày có điên không đấy? Tao nhờ mày đi đến đàng kia dọa con chó sói cơ mà!

- Cháu phải học cụ ạ ... Bình Ngô đại cáo là con cáo lớn chưa từng thấy trong lịch sử ... Nàng Tô Thị là con gái của ông Tô Định ... Trương Phụ là cháu ba đời của Trương Phi ... Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây là truyền thuyết tương tư của dân tộc ít người ... Chiến tranh lạnh là chiến tranh trên Bắc cực … Mẹ cháu bán bún bò từ năm giờ sáng để kiếm tiền trả học phí, cháu đâu dám bỏ học đi với cụ? Sáng nay cháu cũng bụng đói đi học đấy ạ, bụng cháu với bụng cụ kiến bò như nhau. Cụ có biết bà Thị Lộ không? Bà ấy là thủy tổ của phong trào nữ quyền đấy, cụ ạ. Xuân xanh chừng độ trăng tròn lẻ / Chồng còn chưa có có chi con ... Chồng thì chưa có mà con thì có rồi.

Cụ Sĩ Ghềnh trợn tròn hai mắt:

- Thế này thì tao phải đi gặp thầy giáo của mày! Mày sợ thầy giáo không?

- Cháu sợ lắm cụ ạ, vì cháu học lõm bõm, chữ được chữ mất, bỏ học đi làm hoài …

Không chờ nghe hết câu, cụ Sĩ Ghềnh đã chạy một mạch đến trường học, gặp ngay thầy giáo.

- Thầy ạ, con Dê Tuyết nhà tôi ham ăn cỏ không chịu về nhà, tôi nhờ con sói đến dọa, con sói lần khân không chịu đi, tôi nhờ con bé quàng khăn đỏ đến dọa con sói, con bé bảo học bài chưa thuộc, vậy tôi nhờ thầy đến dọa con bé ...

Thầy giáo khoác tay:

- Cụ ạ, tớ đang tham khảo tài liệu để mai đi thi trạng nguyên, cả trường này đều trạng nguyên, bảng nhãn cả rồi, chỉ còn mình tớ lận đận, đang bù đầu nát óc đây, không đi được đâu.

Cụ Sĩ Ghềnh ngần ngừ một lát rồi đánh bạo:

- Thế tôi giúp thầy được không?

Thầy giáo bây giờ mới ngẩng đầu lên:

- Cụ làm nghề gì? Viện sĩ hả?

- Thì tôi vừa mới nói, tôi chăn dê.

Thấy giáo rối rít:

- Vậy là trời xui đất khiến rồi! Phúc đức quá! Đề tài trạng nguyên của tớ là "Con dê trong văn chương". Luận văn thì đã thuê người làm xong, hội đồng bảo vệ thì đã bồi dưỡng chu đáo, các câu hỏi vấn đáp đã được mật báo trước hẳn hoi, chỉ còn soạn trả lời thôi, nhưng đang bí rị đây, cụ ở trong nghề xem ra giúp được gì nào.

- Tôi đang đói bụng muốn xỉu đây, thầy hỏi nhanh nhanh.

- Đây này, năm vị giám khảo sẽ hỏi năm câu. Câu thứ nhất là: "Lưỡng dương quá kiều" là gì? Câu này dễ; ngày nào dân Sài Gòn cũng làm hai con dê đọ sừng trên cầu, không con nào nhường con nào đi qua, người cứ ối một chỗ. Câu thứ hai, cụ nghe cho rõ nhé : Cắt nghĩa câu thơ : "Đẹp như ngọc nữ uốn mình trong không". Trong luận văn của tớ chỉ có ngọc dương thôi. Câu hỏi thứ ba còn hóc búa hơn nữa, không biết hội đồng sẽ dẫn mình đến đâu. Cắt nghĩa câu thơ: "Lòng thiếp như hoa hướng dương". Nếu giám khảo hỏi tiếp: "Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, phải chăng phụ nữ nơi nơi đều hướng cả vào con dê?", cụ trả lời thế nào?

Cụ Sĩ Ghềnh hứng chí, tham gia tích cực vào hội đồng giám khảo:

- Ấy, thầy cũng phải coi chừng, nhỡ có vị hỏi: "Dương đông kích tây" là gì? Bên đông có con dê, bên tây có con kích; vậy con kích là con gì? Hề hề ... thầy trả lời cho tôi nghe.

Thầy giáo nhăn nhó:

- Thi cử khó thế này chắc tớ bỏ cuộc. Câu hỏi thứ tư, thứ năm, tớ đầu hàng. Cái gì mà "Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách", cắt nghĩa câu thơ đó của Bạch Cư Dị. Ông Dị là ông nào? Tìm con dê làm gì trên bến canh khuya? Lại nữa: "Ai là tác giả hai câu thơ Đường nổi tiếng: "Dương Tử giang đầu dương liễu xuân / Dương hoa sầu sát độ giang nhân"? Có trời mà biết! Chỉ đoán mò ông ấy mắc bệnh hoa liễu, vì chỉ hai câu thơ mà có đến ba con dê! Cụ ạ, nếu tớ không vì cái ghế thì tớ bỏ cuộc từ lâu. Chẳng giấu gì cụ, tớ đang nhắm cái ghế chủ tịch cơ quan cụ ạ, nhưng thời buổi này phải có trạng nguyên mới ngồi được vào cái ghế ấy. Bây giờ cái ghế là tối thượng, có ghế thì có tất, không ghế thì chỉ đi chăn dê như cụ thôi. Tớ học trạng tớ biết: theo luật tiến hóa, thủy tổ của con người là con khỉ, con khỉ thì có cái đuôi; đến khi con người thành người thì không còn cái đuôi nữa nhưng vẫn cứ thấy thiếu thiếu cái gì ở đàng sau, bởi vậy phải luôn luôn đi tìm một cái gì để dán vào dính cứng ngắt đàng sau cho đỡ nhớ. Cái ấy là cái ghế đấy, cụ ạ.

Cụ Sĩ Ghềnh nghe thế, chạy một lèo đến cơ quan, xách cái ghế chủ tịch, tưởng mang đến cho thầy giáo ngồi lên để lấy hên, mai đi thi trôi chảy, ai ngờ ba bốn người rượt theo cụ, tay gậy tay dao. Tội nghiệp cụ Sĩ Ghềnh! Cụ đâu biết cái ghế ấy đã có ba bốn ông trạng nhắm mòn con mắt từ khuya! Thấy cơ nguy diễn ra ngoài ngõ, thầy giáo quẳng tài liệu tham khảo, chui hàng rào, tẩu vi thượng sách. Thầy lọt ra đường, gặp ngay cô học trò quàng khăn đỏ, con bé chưa thuộc bài thấy thầy xông tới hoảng quá, ù té chạy dài. Cô nhảy vào bụi, suýt đạp con chó sói đang nằm thở hồng hộc. Con chó sói giật mình tuôn chạy, phóng thẳng về phía đồng cỏ. Cụ Sĩ Ghềnh ba chân bốn cẳng chạy theo, sợ con sói đuổi dê lên núi.

Cụ lầm to! Con dê đang nằm ngủ ngon lành. Thấy cụ hớt hải chạy đến, nó đỏng đảnh:

- Mê quá, cụ ạ. Ăn một bụng no nê, đánh một giấc no mắt. Cụ đứng làm gì đấy? Về nhà chứ, chiều rồi!

Trên đường về, nó kể:

- Cụ ạ, cháu nằm mơ thấy chuyện kỳ kỳ. Thấy cụ đấu láo với con chó sói, thấy cụ cà kê với cô bé quàng khăn đỏ, thấy cụ văn chương thi phú với thầy giáo, rồi thấy cụ xách ghế đội trên đầu chạy te, dao búa gậy gộc rượt theo. Sao cụ lại đội cái ghế trên đầu vậy? Mười cái ghế ấy ... cụ chờ cháu tý nhé, cháu vào cái bụi kia, ngủ trưa dậy chưa kịp tè cụ ạ.


Cao Huy Thuần

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Người Mỹ ngày càng thiếu ngủ vì làm việc quá nhiều giờ

WASHINGTON (Business Review) - Cơ quan National Sleep Foundation (NSF), chuyên nghiên cứu về giấc ngủ, nói rằng ngày nay người Mỹ thường không nghỉ ngơi đủ mức và có lẽ nguyên nhân là do việc làm của họ.

Cơ quan NSF, trụ sở ở Washington, D.C., nói trong một cuộc nghiên cứu mới rằng thời gian trung bình 6 giờ 40 phút trong giấc ngủ của người Mỹ là thấp hơn thời gian trung bình 7 giờ 18 phút mà đa số người nói rằng họ cần được ngủ.

Nguyên nhân của tình trạng thiếu ngủ có thể là vì công việc làm càng ngày càng bận rộn hơn. Theo phúc trình của NSF, giới công nhân ở Hoa Kỳ đang dành thêm trung bình 4 giờ 30 phút mỗi tuần lễ để làm việc thêm ở nhà, ngoài thời gian trung bình 9 giờ 30 phút mà họ làm việc hàng ngày.

Phúc trình của NSF nói rằng tính trung bình ngày làm việc của người Mỹ bắt đầu vào lúc 5:35 giờ sáng. Họ cần trung bình 47 phút để di chuyển tới nơi làm việc. Thời gian làm việc trong ngày cũng kéo dài hơn, với 25% công nhân làm từ 9 tới 10 tiếng đồng hồ, và 33% nói rằng họ làm việc mỗi ngày 10 tiếng đồng hồ hoặc lâu hơn.

Thời điểm lên giường ngủ trung bình là vào lúc 10:53 giờ tối, theo cuộc khảo sát của NSF.

Các chuyên gia tại Trung Tâm Nghiên Cứu Ánh Sáng (Lighting Research Center) của viện Rensselaer Polytechnic Institute, ở Troy, N.Y., nói thêm rằng tuy ngày nay nhiều người Mỹ thiếu ngủ nhưng không phải chỉ số giờ của giấc ngủ là điều quan trọng.

Các nhà khoa học đang nghiên cứu về kỹ thuật liên quan ánh sáng để giúp cho người ta điều chỉnh cách nào thích hợp với chu kỳ ngày và đêm, để họ có thể nghỉ ngơi một cách hữu hiệu nhất. Cơ thể của chúng ta phản ứng để thích nghi với mô hình hàng ngày của ánh sáng và bóng tối.

Ông Mark Rea, giám đốc của trung tâm Lighting Research Center, nói: “Có nhiều cấp độ ngủ khác nhau. Không phải chỉ giấc ngủ là điều đáng kể.”

Lighting Research Center đang cầm đầu một toán chuyên gia của hai trường đại học Yale University và Brown University trong một dự án nghiên cứu được tài trợ bởi cơ quan National Institutes of Health - NIH (Viện Nghiên Cứu Y Tế Quốc Gia) để cố gắng chế tạo một khí cụ có khả năng “hòa điệu” (synchronize) “đồng hồ” của cơ thể con người với chu kỳ 24 tiếng đồng hồ của ngày và đêm.

Ông Rea nói: “Ðiều này không có nghĩa là mọi người cần phải lên giường ngủ vào lúc 10 giờ tối và thức dậy lúc 6 giờ sáng. Có sự khác biệt về di truyền. Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc của giấc ngủ có thể khác nhau tùy theo mỗi nhóm trong dân chúng.” (n.m.)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Trung Quốc sẽ kiểm soát chặt chẽ ca sĩ ngoại quốc đến trình diễn
THƯỢNG HẢI, Trung Quốc - Bộ Văn Hóa Trung Quốc hôm 7 Tháng Ba cho biết chính phủ Trung Quốc sẽ bắt đầu kiểm soát chặt chẽ các nghệ sĩ ngoại quốc đến nước này trình diễn, sau khi nữ ca sĩ Bjork của Iceland (Băng Ðảo) đã la lớn “ Tây Tạng! Tây Tạng” trong một buổi trình diễn của cô tại Thượng Hải hồi cuối tuần qua.

Bjork đã la lớn tên vùng đất Tây Tạng hiện do Trung Quốc kiểm soát, sau khi cô trình bày bài hát quen thuộc “ Hãy Tuyên Bố Ðộc Lập” (Declare Independence), một bài hát mà Bjork thường hát trong quá khứ để khuyến khích các phong trào độc lập tại các nơi khác trên thế giới, chẳng hạn như ở Kosovo.

Bộ Văn Hóa Trung Quốc cho phổ biến một bản tuyên bố, được Tân Hoa Xã trích dẫn, nhấn mạnh rằng:

“Hành động hô khẩu hiệu đó không những vi phạm vào các luật lệ và qui định của Trung Quốc mà còn xúc phạm đến các cảm nghĩ của người dân Trung Quốc, và đi ngược lại qui định nghề nghiệp của một nghệ sĩ.”

Bộ Văn Hóa Trung Quốc cho biết họ sẽ cho mở cuộc điều tra về buổi trình diễn của nữ ca sĩ Bjork và sẽ có hành động theo đúng luật lệ, tuy nhiên không cho biết chi tiết hành động đó sẽ ra sao cả.

Tổ chức Tây Tạng Tự Do, một tổ chức tranh đấu cho Tây Tạng, đặt văn phòng ở Anh Quốc, luôn kêu gọi chấm dứt quyền cai trị Tây Tạng của Trung Quốc, đã tỏ ra hài lòng về “hành động dũng cảm của nữ ca sĩ Bjork, mà chính (thủ tướng Anh) Gordon Brown và (ngoại trưởng Anh) David Miliband, cũng phải giữ im lặng trong các chuyến thăm vừa rồi của các ông tại Trung Quốc...” (L.T.)

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Những cuốn sách cũ


Huy Phương
Nếu có một cuốn sách dạy làm người, làm người lương thiện và tử tế thì tôi không ngần ngại nói đó là tập sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Xin lỗi các bạn trẻ, chúng tôi, những người bây giờ đã quá tuổi 60, tâm hồn ai lại không đẫm chất “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” của một thời thơ ấu. Quen quá với “Xuân đi học coi người hớn hở”, hay “cậu Thu đi ở giữa đường”. Làm sao chúng ta không nhớ đến cậu bé “ngất nghểu trên mình trâu”, hình ảnh cụ già hì hục khuân tảng đá, như nghe được tiếng ru của bà trong một buổi trưa “trời nắng chang chang, gió im phăng phắc”. Không có Quốc Văn Giáo Khoa Thư, những ngày còn thơ ấu, làm sao chúng ta biết những chuyện bên Tàu như thầy Tử Lộ đội gạo nuôi song thân, ông Lý Tích nấu cháo cho chị mà bị cháy râu, ông Lưu Khoan tha thứ cho người nữ tỳ đổ cháo lên áo ông, rồi cả chuyện bên trời Tây như ông Carnot trở lại trường xưa thăm thầy cũ. Chúng ta cũng được biết những hiếu học như chàng Thừa Cung chăn lợn qua trường học, ông Châu Trí ở tại chùa Long Tuyền đốt lá đa làm đèn. Tất cả những nhân vật quen thuộc của “một thời giáo khoa thư” đều là những gương tốt, đôn hậu, thật thà, thương yêu, nhân ái và một ý tưởng luôn luôn nghĩ đến người khác.

Thương biết mấy “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” với những vần thơ lục bát, mỗi bài chỉ có từ sáu đến mười câu nhưng chan chứa ý nghĩa thâm sâu, vần điệu ngọt ngào như ru. Chúng ta đã thuộc nằm lòng những mẩu chuyện trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, nhiều câu văn đã trở thành những “thành ngữ” phù hợp với những chuyện thường xẩy ra trong đời thường. Chúng ta ai cũng đã nghe và thuộc những câu “chốn quê hương đẹp hơn cả”, “ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy”. Cuốn sách do các ông Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Ðặng Ðình Phúc và Ðỗ Thận biên soạn thuộc “Nha Học Chính Ðông Pháp” dưới thời kỳ Pháp thuộc (khoảng năm 1940) nhưng không có lấy một dòng ca tụng “mẫu quốc”, những “Liên Xô, Trung Quốc vĩ đại” như cái thời “độc lập, tự do, hạnh phúc” thời nay.

Một cuốn sách khác, tuy là phát xuất từ phương trời Âu, một cuốn sách dịch, nhưng đã gây ấn tượng mạnh trong tâm hồn thơ dại của chúng tôi trong những ngày tháng cũ. Làm sao tôi quên được cái câu “Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng Hè trôi qua như một giấc mộng. Sáng nay mẹ tôi đưa tôi vào trường Ba Lệ Tư để ghi tên lên lớp ba...” trên bài thứ nhất viết về Tháng Mười của cuốn Tâm Hồn Cao Thượng do ông Hà Mai Anh dịch từ cuốn Grand Coeur của Edmond De Amicis (1846-1908). Chúng tôi biết đến cái tên Hà Mai Anh rất sớm. Mặc dầu với những cái tên phiên âm rất trúc trắc, xa lạ, tôi như đã có nhiều bạn bè quen biết với những cái tên như An Di, Phan Tín, Hạ Long như những thằng bạn cùng lớp cũng như hình ảnh của thầy Bích Niên với mái tóc bạc hay cô Ðan Cát Tiên hiền lành.

Cuốn sách có 10 chương, mỗi chương là một tháng học trong niên khóa, mỗi tháng có sáu câu chuyện thể ký sự của một cậu bé 11 tuổi tên An Di và một câu chuyện kể trong tháng. Những câu chuyện của An Di trong “Tâm Hồn Cao Thượng” chỉ là những câu chuyện chung quanh rất “đời thường” xẩy ra trong lớp học, ở một thành phố nhỏ tên Turin ở phía Bắc nước Ý. “Tâm Hồn Cao Thượng” là những chuyện về lòng thương yêu của cha mẹ, sự tận tụy của thầy cô giáo, lòng nhân ái của con người, làm cho chúng ta xúc động có khi rơi nước mắt về những câu chuyện kể. Chúng ta đã nghe câu chuyện về những trẻ em mù, khi một em bé đã thốt lên câu nói xót xa: “Lạy trời cho tôi được mở mắt một phút thôi, để tôi nhận lại mặt mẹ tôi mà tôi đã quên mất rồi!” Cuốn “Tâm Hồn Cao Thượng” nói cho chúng ta biết hạnh phúc là gì, nói về những điều chúng ta hiện có mà chúng ta không hay. Ðây chỉ là những câu chuyện kể rất bình thường, tỉ tê, dịu dàng của một người thầy nói với học trò, một người mẹ nói với con, không chỉ làm rung động những tâm hồn ấu thơ và ngay đối với những cụ già, lần giở những trang sách cũ mà không khỏi bồi hồi xúc động về những câu chuyện bình thường mà chan chứa những điều nhân nghĩa. Dù cuốn sách lấy bối cảnh của một thành phố xa xôi tận bên nước Ý, nhất là vào một thời điểm mà thế giới chưa thu hẹp như ngày nay, nhưng chúng ta vẫn thấy gần gũi với những câu chuyện “rất người”. Như nhan đề “Tâm Hồn Cao Thượng”, cuốn sách làm cho tâm hồn người đọc hướng thượng, tốt hơn, hiền hơn, biết yêu thương hơn.

Những danh từ “hy sinh”, “nghĩa hiệp”, “trách nhiệm”, “danh dự” trong “Tâm Hồn Cao Thượng” hình như chúng ta khó tìm thấy trong cái xã hội Cộng Sản đạo lý suy đồi hiện nay.

Một cuốn sách khác là cuốn thơ ngụ ngôn “Les Fables de La Fontaine” do ông Nguyễn Văn Vĩnh dịch từ Pháp ngữ, với phần minh họa của họa sĩ tài hoa Mạnh Quỳnh. Chắc chắn nếu không có học giả Nguyễn Văn Vĩnh, thơ ngụ ngôn của thi hào La Fontaine (1612-1695) không phổ biến đến đại đa số người Việt Nam trong những thập niên 1940, 1950. Ngày nay những lời dịch của ông Nguyễn Văn Vĩnh từ thơ La Fontaine đã thành những thành ngữ rất quen thuộc như “lý kẻ mạnh bao giờ cũng đúng” (la raison du plus fort est toujour la meilleur), “Con Nhái Muốn To Bằng Con Bò” (La Grenouille Qui Se Veut Faire Aussi Grosse Que Le Boeuf), “Con Cáo với Giàn Nho” (Le Renard et Les Raisins), “Hội Ðồng Chuột” (Conseil Tenu Par Les Rats), “Bán Da Gấu”(vendre la peau de l'ours), “Gà Ðẻ Trứng Vàng” (La Poule aux Oeufs d'Or),”Chuyện Cô Bê Rét” (La Laitière et Le Pot Au Lait).

Thơ ngụ ngôn của La Fontaine đã đưa ông lên vị trí của những nhà thơ cổ điển nước Pháp và đối với một đất nước xa xôi như Việt Nam, phải ba thế kỷ sau, đa số quần chúng Tây học mới biết nhiều đến những chuyện ngụ ngôn Tây phương nhờ qua những bài thơ ngụ ngôn của La Fontaine. Có những ví von, những câu nói cửa miệng chúng ta dùng ngày nay mà ít khi nghĩ đến nó phát xuất từ những chữ nghĩa mỉa mai, răn đời của nhà thơ thiên tài La Fontaine.

Ngày nay, trong hàng nghìn cuốn sách không cần đến tác quyền được in lại, những tập sách cũ này được xuất bản tại Việt Nam, nhưng nó không hề được xem như một loại sách giáo khoa hay được phụ huynh học sinh khuyến khích con em tìm đọc. Những danh từ “luân lý”, “đạo đức” nghe như ngô nghê, lỗi thời trong một xã hội vị lợi mà con người chỉ biết chạy theo đồng tiền và vật dục không lý gì đến nhân nghĩa. Ðây chỉ là những cuốn sách cũ không còn được ai lưu tâm, nó nằm trong góc tối của một những nhà sách không ai buồn hỏi mua và trong tâm hồn những người của một thế hệ trước, ngày nay phần lớn không còn tồn tại trên cõi đời này nữa. Phải chăng đây là những cuốn sách dễ thương của những con người tử tế, giở lại từng trang như thấy những ngày thơ ấu xưa kia hiện về, và mặc dù ngày nay nó được in trên những trang giấy mới, bìa mới, có thể thơm mùi mực mới, nhưng đây chính là... những cuốn sách cũ trong cái “thư viện tâm hồn” cổ kính, già nua của chúng ta...

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


TƯỜNG THUẬT CỦA ÔNG JOHN McCAIN VỀ VIỆC TRA TẤN CỦA VIỆT CỘNG
10/03/2008
(NHL chuyển ngữ )
" Tôi chuẩn bị cho chuyến oanh tạc miền Bắc Việt Nam lần thứ 23 của tôi từ sáng sớm – đó là trận đánh đầu tiên vào thủ đô của địch, Hà Nội" Ứng cử viên Tổng Thống Hoa Kỳ John McCain viết. [tường thuật]

Mục tiêu của chúng tôi là nhà máy nhiệt điện ở gần một cái hồ nhỏ giữa thành phố
Trên độ cao khoảng 9000 feet, khi chúng tôi chuyển hướng vào phía trong thành phố để tới mục tiêu thì đèn báo động loé sáng và tín hiệu báo có ra đa địch bắt đầu vang lên lớn đến nỗi tôi phải tắt nó đi.
Tôi đã nhìn thấy khói và bụi bốc lên từ mặt đất như những đám mây khổng lồ khi hỏa tiễn đất đối không bắn vào chúng tôi. Chúng tôi càng tới gần mục tiêu, hệ thống phòng không càng ác liệt hơn.
Tôi nhận ra mục tiêu ở cạnh một cái hồ nhỏ và tôi nhào ngay xuống đó vừa lúc tín hiệu báo động ngưng kêu để báo cho tôi biết là hoả tiễn địch đang lao vào tôi.
Tôi biết là phải cho máy bay lăn vòng ra phiá ngoài và dùng thao tác tránh né – bay "luồn lách" theo cách nói của các phi công – nhưng chính đó là lúc tôi sắp sửa thả bom, và nếu tôi bay luồn lách thì tôi sẽ không bao giờ có thời gian, và chắc chắn là cũng không có cả can đảm để bay trở lại mục tiêu, một khi tôi thoát được qủa hoả tiễn đó.
Như vậy là từ độ cao 1000 mét, tôi thả qủa bom, rồi tôi kéo cần lái trở lại để bắt đầu cho máy bay vọt thẳng lên một độ cao an toàn hơn. Trong giây phút chớp nhoáng, trước khi máy bay bắt đầu phản ứng thì qủa hoả tiễn đã thổi tung mất cánh máy bay bên phải.
Tôi biết là máy bay của mình đã bị hoả tiễn bắn trúng. Chiếc máy bay A-4 của tôi đang bay với tốc độ khoảng 900 cây số/giờ, đã lao nhanh xuống mặt đất theo vòng xoáy chôn ốc. Khi bị trúng hoả tiễn, tôi đã phản ứng một cách máy móc là với lấy và kéo cái cần bật của ghế ngồi.
Tôi bị đập vào máy bay làm gãy cánh tay trái, ba chỗ của cánh tay phải, đầu gối phải và ngất đi. Những người chứng kiến nói rằng cái dù của tôi chỉ vừa mở là tôi rớt ngay xuống chỗ nước nông của hồ Trúc Bạch.
Đồ trang bị trên người nặng khoảng 25 ki-lô, tôi chìm xuống đáy hồ, và chạm đất bằng cái chân còn lành của tôi. Tôi không hề cảm thấy đau khi chạm đáy hồ, và tôi không hiểu tại sao tôi không thể dùng cánh tay để kéo cái chốt áo cứu đắm của tôi.
Tôi lại bị chìm xuống đáy hồ một lần nữa.
Khi chạm đáy hồ lần thứ hai, tôi đã cố gắng để bơm phồng cái áo cứu đắm của tôi bằng cách dùng răng để kéo cái chốt của nó ra. Sau đó tôi lại bị bất tỉnh một lần nữa. Lần thứ hai bị chìm thì tôi được kéo lên bờ bằng những cái sào tre. Một đám đông khoảng vài trăm người Việt Nam bu quanh tôi, lột trần tôi ra, khạc nhổ vào mặt tôi, đá và đánh tôi.
Sau khi quần áo và đồ trang bị của tôi bị lột ra hết, tôi thấy đau nhói ở đầu gối bên phải. Tôi nhìn xuống thì thấy cái bàn chân phải của tôi nằm ngay cạnh đầu gối bên trái của tôi ở một góc 90 độ. Tôi bật kêu lên: "Trời ơi! Cái chân của tôi!"
Một người nào đó đã dùng báng súng phang mạnh vào tôi làm xương vai của tôi bị gẫy ra. Một người khác thì dùng lưỡi lê đâm vào mắt cá chân và háng của tôi. Môt người đàn bà, có thể là nữ y tá, đã cố gắng thuyết phục đám đông không nên hành hạ tôi thêm nữa. Sau đó bà ấy dùng các thanh nẹp tre để kẹp chân và cánh tay phải của tôi. Tôi cảm thấy đôi chút nhẹ nhõm khi chiếc xe tải của quân đội tới chỗ tôi bị bắt.
Mấy người lính đặt tôi vào cái cáng, mang lên xe tải và lái đi vài khu phố tới một nhà tù được xây cất theo kiểu Pháp, đó là Hoả Lò mà tù binh chúng tôi gọi là khách sạn Hilton Hà Nội. Khi cánh cửa sắt đồ sộ được đóng lai vang lên tiếng loảng xoảng phía sau tôi, tôi chưa bao giờ cảm thấy khiếp sợ ghê gớm như vậy. Hôm đó là ngày 26 tháng 10, năm 1967. Lúc đó tôi 31 tuổi, và là Thiếu Tá Hải Quân Hoa Kỳ khi máy bay của tôi bị bắn rớt.
Suốt hai thế kỷ, thanh niên trong dòng họ tôi được dạy dỗ để ra chiến trường với tư cách là sỹ quan trong quân lực Hoa Kỳ. Tôi là con và cháu của các sỹ quan Hải Quân, và cha của tôi tin tưởng rằng mỗi khi gặp nghịch cảnh, tôi phải noi theo những tấm gương mà cha tôi đã nêu lên.
Mấy người lính dẫn tôi vào trong một xà lim trống, đặt cái cáng tôi đang nằm trong đó xuống sàn và phủ cái chăn lên mình tôi. Trong vài ngày sau, tôi sống trong tình trạng lúc tỉnh, lúc mê. Những người hỏi cung gọi tôi là tội phạm chiến tranh, và khai thác tin tức quân sự. Họ đánh đập tôi liên hồi, và tôi bắt đầu cảm thấy đau khủng khiếp ở những chỗ chân tay bị gãy.
Tôi bất tỉnh sau vài cú đánh.
Tôi nghĩ, nếu mình có thể chịu đựng được, họ sẽ mủi lòng và đưa tôi đi bệnh viện. Nhưng tới ngày thứ tư, tôi nhận biết tình trạng của tôi đã trở nên nghiêm trọng hơn. Tôi bị sốt nóng và thời gian bất tỉnh trở nên lâu hơn. Tôi nằm trong cái vũng của những thứ do tôi nôn mửa cùng với những thứ do cơ thể tôi bài tiết ra, và đầu gối tôi đã bắt đầu xưng tấy lên khủng khiếp và bị biến mầu đi. Nhân viên y tế gọi Zorba tới bắt mạch cho tôi.
Tôi hỏi rằng: "Các ông sắp đưa tôi đi bệnh viện có phải không?
Ông ta trả lời: "Không, quá trễ rồi"
Nỗi kinh hoàng về cái chết ập tới bất thần. Người Việt Nam luôn luôn từ chối điều trị cho những người bị thương trầm trọng. Thật là hạnh phúc, tôi lại rơi vào cơn mê. Một lúc sau tôi tỉnh lại khi viên trưởng trại, một tên chó đẻ hèn hạ tên là Bug [Bắc] xô vào xà lim của tôi với vẻ hốt hoảng, lớn tiếng rằng: "Cha của anh là một Đô Đốc có uy tín lớn, bây giờ chúng tôi đưa anh đi bệnh viện"
"Xin Trời ban phước cho cha tôi"
Thật không thể hiểu được nếu không nhìn thấy họ đã sung sướng biết bao khi bắt được con trai của một Đô Đốc và tôi hiểu rằng chính cái địa vị của cha tôi đã trực tiếp liên can đến sự sống còn của tôi.
Tôi được chuyển đến một bệnh viện ở trung tâm thành phố Hà Nội. Tới hai ngày sau đó, tôi thấy mình nằm trong một căn phòng bẩn thỉu, muỗi "nhiều như trấu" và chuột nữa. Mỗi khi trời mưa, bùn và nước đọng thành vũng trong sàn nhà. Không có ai lưu tâm đến việc giúp tôi rửa những cáu ghét nhầy nhụa trên thân thể tôi. Tôi đã bắt đầu phục hồi được trí não, và những người thẩm vấn đã tới bệnh viện để tiếp tục làm việc. Sự đánh đập cũng giới hạn trong thời gian ngắn bởi vì tôi đã thốt ra những tiếng kêu thét rợn tóc gáy khi tôi bị đánh và những người thẩm vấn tôi tỏ ra lo ngại rằng nhân viên của bệnh viện có thể phản đối họ.
Cuối cùng thì tôi cho họ biết tên chiến hạm của tôi và số hiệu của hạm đội. Khi bị hỏi về những mục tiêu dự trù trong tương lai, tôi kể tên những thành phố đã từng bị oanh tạc.
Đầu tháng 12, họ giải phẫu chân phải của tôi, cắt hết các giây chằng ở một bên đầu gối, chỗ đó không bao giờ có thể hồi phục hoàn toàn được. Tới cuối tháng 12, họ quyết định cho tôi xuất viện. Tôi bị sốt cao độ, tiêu chảy và mất khoảng 25 ki lô, chỉ còn nặng 45 ki lô thôi. Ngực tôi vẫn còn bó bột và chân đau nhừ tử.
Tôi bị bịt mắt, đặt trong thùng xe tải và đưa tới một nhà tù gọi là Đồn Điền (The Plantation).
Thật là một niềm khuây khỏa lớn lao cho tôi, vì được giam chung xà lim với 2 người tù khác là hai Thiếu Tá không quân "Bud" Day và Norris Overly. Có một điều không thể nghi ngờ được là chính Bud và Norris đã cứu mạng sống của tôi. Sau đó hai người này đã nói ra cái ấn tượng đầu tiên của họ khi gặp tôi là thấy tôi sinh lực kiệt quệ, mắt lồi ra, đờ đẫn vì sốt, đó là một người đứng trước ngưỡng cửa của tử thần. Hai bạn đó nghĩ rằng người Việt Nam đợi cho tôi chết và giao tôi cho hai bạn đó săn sóc tôi để họ khỏi bị lên án nếu tôi chết..
Bud đã bị thương nặng khi nhảy dù khẩn cấp ra khỏi máy bay. Sau khi bị bắt, anh ấy đã trốn thoát gần tới một phi trường dã chiến của Mỹ thì bị bắt lại. Bọn người bắt anh ấy đã dùng vòng thòng lọng bằng giây thừng để cuốn quanh vai của anh ấy rồi xiết thật chặt cho tới khi hai bả vai của anh ấy hầu như sắp chạm vào nhau, rồi trói hai cánh tay của anh ấy lại và treo anh lên xà nhà của nơi tra tấn làm hai vai của anh ấy bị xé rời nhau ra. Tình trạng như thế kéo dài trong nhiều giờ đồng hồ. Bud không bao giờ chấp nhận sự khai thác của người Việt Nam về những tin tức quân sự. Thà Bud để cho bọn đó đập gẫy cánh tay phải của anh lần thứ hai, đó là cánh tay vốn dĩ đã bị gẫy, và chúng còn doạ đập gẫy nốt cánh tay kia, chứ anh không hề cho chúng một mẩu tin nào.
Vì những thương tích của Bud nên anh không thể giúp gì trong việc săn sóc thân thể của tôi. Norris là người có bản chất hoà nhã, nhẫn nhục, đã làm vệ sinh thân thể cho tôi, đút cho tôi ăn và giúp tôi đổ bô phân và nước tiểu. Nhờ có hai người bạn này, tôi đã bắt đầu hồi phục. Tôi đã sớm tự đứng dậy và có thể dùng đôi nạng để đi lại trong cái xà lim đó. Tháng 4 năm 1968, Bud bị chuyển đi nhà tù khác. Norris thì được trả tự do dưới cái gọi là "ân xá" và tôi còn bị giam riêng trong hai năm nữa. Mặc dàu tôi còn phải dùng đôi nạng để đi lại khập khiễng trong xà lim của tôi, hình dạng tôi vẫn còn thê thảm lắm, tôi không thể nhặt lên hoặc cầm bất cứ một cái gì. Bệnh kiết lỵ đả làm tôi khổ sở. Thức ăn và nước uống bị thải ra ngay tức khắc, và dạ dày bị đau quặn đã làm tôi rất khó ngủ.
Cô độc là một vấn đề hải hùng, nó đã đè bẹp tinh thần và làm suy yếu sức kháng cự của con người một cách có hiệu quả hơn bất cứ một hình thức hành hạ nào khác.
Không có ai để tham vấn, con người bắt đầu nghi ngờ sự phán xét và can đảm của mình. Vài tuần lễ đầu tiên là gay go nhất. Tuyệt vọng ập đến ngay tức khắc, và đó là một kẻ thù ghê gớm, tôi đã phải dựng lại trong trí nhớ những cuốn sách, những bộ phim mà tôi đã thưởng thức.
Tôi đã thử viết sách và kịch bản về chính mình, trình diễn những chuỗi sự kiện trong cô đơn của xà lim. Tôi phải thận trọng ngăn ngừa trí tưởng tượng đã trở nên mãnh liệt đến nỗi thường xuyên đưa đẩy tôi tới một nơi trong tâm trí mà từ đó tôi không thể trở lại được nữa.
Xà lim của tôi đối diện với phòng thẩm vấn ở bên kia sân. Giường nằm là một tấm ván, và một cái bóng đèn treo lủng lẳng trên sợi giây điện từ trần nhà thòng xuống. Bóng đèn thắp sáng suốt ngày đêm. Cộng thêm với những khổ sở của chúng tôi là cái mái nhà lợp tôn đã làm tăng cái nóng của mùa hè lên khoảng 5 độ hoặc hơn thế.
Giữa tháng 6 năm 1968, viên Trưởng Trại gọi tôi tới gặp hắn, có bày ra bánh bích quy, thuốc lá và hỏi tôi có muốn về với gia đình không. Tôi muốn nói là có: Tôi bị mỏi mệt, bệnh hoạn và sợ hãi. Nhưng cái Quy Tắc Hành Xử đã rõ ràng: "Những tù nhân Mỹ không thể chấp nhận tha có điều kiện, ân xá hoặc đặc ân". Tôi nói là để tôi suy nghĩ về vấn đề đó. Tôi hiểu việc phóng thích tôi sẽ ảnh hưởng như thế nào tới cha tôi và các bạn đồng tù, và sau đó tôi được biết cái mà người Việt Nam hy vọng sẽ dành được.
Ngày 4 tháng 7 cha tôi được thăng lên chức Tư Lệnh Thái Bình Dương. Phía Việt Nam định chào mừng cha tôi bằng một ấn tượng tuyên truyền gây chú ý là trả tự do cho con trai của ông và coi đó như một hành động "thiện chí".
Hai tháng trôi qua, không có gì xảy ra. Và những đợt hành hạ lại bắt đầu. Tôi bị lôi vào trong căn phòng trống và giam ở đó 4 ngày. Từng đợt, bọn lính gác trở lại đánh đập tôi. Một tên giữ tôi cho những tên khác đánh đập túi bụi. Tôi bị gãy mấy xương sườn và hai cái răng. Suy nhược vì bị đánh đập và kiết lỵ, chân phải của tôi lại trở nên vô dụng, do đó tôi không thể đứng được.
Tới đêm thứ ba thì tôi nằm trên máu, phân và nước tiểu của mình, vì mệt mỏi và đau đớn, tôi không thể chuyển động được. Ba tên lính gác đỡ cho tôi đứng dậy rồi chúng đánh tôi cực kỳ khủng khiếp. Chúng để tôi nằm trên sàn nhà rên rỉ vì cực kỳ đau đớn ở cánh tay lại mới bị gãy ra.
Tuyệt vọng vì đau đớn không thuyên giảm và tra tấn thì tàn bạo hơn. Tôi cố tự sát. Sau vài lần không thành công, tôi tìm cách để đứng dậy. Lật úp cái bô đựng phân và nước tiểu, tôi đứng lên đó, níu vào tường bằng cánh tay còn lành, tôi luồn cáo áo của tôi qua cái cửa chớp và buộc thành vòng tròn. Khi tôi đang lồng cái vòng ấy vào cổ. Tên lính gác nhìn thấy cái áo của tôi luồn qua cửa sồ, kéo tôi xuống và đánh tôi. Sau đó tôi lại làm lần thứ hai, một cố gắng tự sát nhẹ nhàng hơn. Vào ngày thứ tư, tôi đành chịu thua. Tôi đã ký vào bản tự thú rằng: "Tôi là một tên tội phạm độc hại, và tôi đã thực hiện những công việc của một phi công" . Mấy tên lính gác bắt tôi cho thâu lời thú tội này vào trong băng ghi âm. Tôi từ chối, và bị đánh đập cho tới khi tôi đồng ý.
Đó là hai tuần lễ kinh khủng nhất trong đời tôi. Tôi rùng mình, như thể sự nhục nhã của tôi là một cơn sốt, và sẽ không còn ai nhìn tới tôi nữa, ngoại trừ trong sự thương hại hoặc khinh bỉ. Người Việt Nam dường như không bao giờ bận tâm tới việc làm thương tổn tới chúng tôi, nhưng họ luôn luôn thận trọng không để chúng tôi bị chết.
Chúng tôi tin chắc rằng một số tù binh đã bị tra tấn tới chết và hầu hết là bị đối xử dã man. Có một người, Dick Stratton, có những vết sẹo lớn bị nhiễm độc trên hai cánh tay vì bị tra tấn bằng giây thừng. Hai móng ngón tay cái bị xé rách toạc ra, và anh ấy bị châm bỏng bằng thuốc lá.
Tuy nhiên, người Việt Nam đánh giá chúng tôi như những con bài để mặc cả trong vấn đề thương lượng hoà bình, và thường thì họ không có ý định giết chúng tôi khi họ tra tấn để buộc chúng tôi phải hợp tác với họ.
Tới cuối năm 1969, những sự đánh đập thường lệ được ngừng lại, thỉnh thoảng chúng tôi nhận được những khẩu phần ăn thêm. Hoàn cảnh của chúng tôi không còn thảm khốc như những năm trước đó nữa.
Tôi được trả tự do và trở về Mỹ khi chiến tranh kết thúc, tính tới tháng 3 năm 1973, tôi đã bị cầm tù trong 5 năm rưỡi.
Chúng tôi được dạy phải có niềm tin nơi Thượng Đế, nơi tổ quốc, và tin nhau. Hầu hết chúng tôi đã sống như vậy. Nhưng điều cuối cùng của những niềm tin này - niềm tin vào nhau – là vũ khí phòng vệ tối hậu của chúng ta, là những thành lũy mà kẻ thù của chúng ta không thể vượt qua được. Đó là niềm tin tôi đã ấp ủ từ trong Học Viện Hải Quân.
Đó là niềm tin của cha tôi, ông tôi. Trong nhà tù, tôi là một người dơ dáy, què quặt, suy nhược, tất cả những gì tôi còn giữ lại trong phẩm hạnh của tôi là niềm tin của cha-ông (FATHERS) tôi. Như vậy là đủ.
Phỏng theo và trích dẫn từ niềm tin của Tổ Tiên (FATHERS) dòng họ tôi .

Tác giả: JOHN McCAIN

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Thống đốc New York bị áp lực từ chức
Tuesday, March 11, 2008


NEW YORK (Reuters) – Hôm Thứ Ba, Thống Đốc Eliot Spitzer của New York đứng trước áp lực đòi hỏi ông từ chức sau khi một báo cáo nói ông có liên hệ tới một đường dây mãi dâm thượng lưu.


Ông Spitzer, một đảng viên Dân Chủ 48 tuổi, có vợ con, người đã điều tra về mãi dâm khi còn là bộ trưởng tư pháp của New York, đã xin lỗi về điều mà ông mô tả như “một vấn đề riêng tư” nhưng đã không nói gì về chuyện từ chức. Ông không xác nhận cũng không phủ nhận bản báo cáo.


Các đảng viên Cộng Hòa tại tiểu bang đã kêu gọi ông từ chức.


Ông Spitzer đã được bầu làm thống đốc với gần 70% số phiếu vào cuối năm 2006 tiếp theo một thời gian làm bộ trưởng tư pháp của tiểu bang, nổi tiếng với những cuộc điều tra nhắm vào Wall Street.


Tờ New York Times nói ông Spitzer là người đã được gọi là Khách Hàng số 9 trong các giấy tờ tòa án vào tuần trước. Khách Hàng số 9 đã thu xếp để gặp “Kristen,” một gái mãi dâm tính tiền 1,000 mỹ kim một giờ, vào ngày 13 Tháng Hai, trong một khách sạn ở Washington, và đã trả 4,300 mỹ kim về công phục vụ và như một khoản trả trước cho những lần gặp trong tương lai, theo các tài liệu của tòa án.


Trong số những cáo trạng chống lại bốn bị cáo vào tuần trước có việc chuyên chở phụ nữ vượt ranh giới tiểu bang cho các mục tiêu mãi dâm. (n.n.)

Post Reply