Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
QUÊ NHÀ, QUÊ NGƯỜI
Huy Phương Những bản tin như hồi trống trận
Thúc lòng ai nỗi nhớ quê nhà
Những hình ảnh như nghìn mũi nhọn
Đâm vào lòng những đứa con xa.
(Huy Phương)
Nói đến quê nhà, quê người là nói đến tấm thân lưu lạc, tha hương. Sao bỗng dưng một ngày nọ, bồng bế nhau đến xứ này. Thoạt đầu là lạ nước lạ non, bây giờ đâu cũng là nhà, nhiều khi quên mình đang sống trên đất khách. Sang đây thoạt đầu như cây trồng đất lạ, chưa quen thổ ngơi, lá còn héo, thân còn gầy, riết rồi cũng đâm chồi nẩy lộc.
Người bạn của tôi sang định cư tại Hoa Kỳ đã gần hai mươi lăm năm, con đàn cháu đống, đứa cháu ngoại cũng đã vào đại học. Trong khoảng thời gian này, anh chị có công ăn việc làm khá, tậu được nhà cửa, xe cộ và lẽ cố nhiên toàn gia cũng đã có quốc tịch của xứ này. Anh sống, thở, ăn mặc, làm việc, du hý như một người bản xứ, cũng có thể con anh cũng đầu quân hy sinh và chiến đấu cho đất nước này, nhưng xem ra chẳng có ai xem anh hay gọi anh là một người Mỹ. Người bản xứ xem anh là một người thiểu số nào đó đến sinh sống ở đây, đôi khi dưới con mắt kỳ thị, dù anh có cố gắng càng ngày càng cho ra Mỹ.
Phải chăng như vậy nên anh vẫn gọi nơi này là “quê người”?
Thế thì “quê nhà biết ở nơi đâu?”
Từ ngày anh bỏ nước ra đi, “quê nhà” gọi anh là những tội đồ, phản quốc chạy theo bọn đế quốc để chống phá tổ quốc. Một thời gian khá lâu sau, anh được người ta gọi là “Việt kiều”.Thương quý anh hơn theo miệng lưỡi nhà buôn thì người ta gọi anh một cách văn chương bóng bẩy là “khúc ruột nghìn dặm” nếu anh đem được đồng tiền về để “xây dựng đất nước”. Nghe đến thành ngữ “khúc ruột nghìn dặm”, ai mà không mủi lòng rơi lệ, nghĩ cùng chung một dòng máu, ai mà nỡ chia cắt khúc ruột theo cái nghĩa “đoạn trường” xót xa biết là ngần nào, cho nên ruột phải liền với ruột! Không biết ai đã mang tâm lý mỉa mai đặt ra câu ngạn ngữ “đồng tiền liền khúc ruột”.Thật là đểu giả, phũ phàng, ai lại đi so sánh tình thịt da, máu mủ với chuyện lý tài, lợi lộc.
Lúc thù hận, khinh ghét và thêm chút ganh tỵ thì người ta gọi anh là bọn “tha phương cầu thực” nghĩa là đi xứ khác để kiếm miếng ăn, lúc cần ve vãn thì gọi anh là “Việt kiều yêu nước”, “lá lành đùm lá rách”, “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.
Điều mâu thuẫn chính là nơi “quê người”, sao khi trở lại nơi này, dù là đi du lịch ở xa về, hay từ cả lúc từ “quê nhà” trở lại, sao chúng ta bỗng cảm thấy yên ổn trong lòng như chúng ta trở lại ngôi nhà thân yêu của chúng ta vậy. Vậy thì đi và về đâu là một nghĩa như nhau! Những người dù đang sống ở “quê người” mà lòng vẫn vương vấn chuyện “quê nhà”, với bao nhiêu nỗi xót xa. Không một ngày nào là không theo dõi chuyện quê hương. Chuyện con cháu chúng ta phải bỏ xứ ra đi lấy chồng xứ lạ, trẻ vị thành niên sang Kampuchea bán thân, ở Mã lai có đàn bà Việt Nam làm điếm. Chuyện lương dân bị bọn cướp ngày bức hiếp, tiếng trống đánh trước cửa quan kêu oan không vượt qua được bức tường dày điếc của chế độ. Chuyện những trang thanh niên tài hoa tuấn tú của đất nước bị còng tay trước cường quyền. Chuyện quan quyền tham ô, nhũng lạm, đục khoét công khố, vung tiền qua cửa sổ trong khi dân không có cháo mà ăn.
Đành lòng sao khi chúng ta thức ăn dư thừa phải đổ thùng rác, sữa tươi trong tủ lạnh quá hạn, sợ thịt, sợ trứng trong khi ở quê nhà những đứa trẻ đang còn bươi móc trong đống rác mỗi ngày, những bà mẹ nhấp nhem đôi mắt vét trong nồi cơm những hạt cuối cùng. Năm vừa qua, chính phủ Việt Nam “hồ hởi” loan báo số tiền Việt Kiều gởi về giúp quê nhà đã lên đến 7 tỷ rưỡi đô la, đã vượt con số tiền của di dân Mễ gởi về giúp đồng bào của họ. Ở các thành phố đông người Việt cư ngụ, các công ty chuyển tiền càng ngày càng ăn nên làm ra, một đại lý nhân thành năm bảy. Trông cái cảnh những bà cụ chỉ có tiền già mà số tiền mang đến gởi lên đến số nghìn, số tiền này gom góp từ tiền trợ cấp, tiền con cháu chu cấp. Tiền này không phải chỉ gởi về cho Saigon mà cho cả Hà Nội, Hải Phòng, Sơn Tây hay Hà Nam Ninh để cứu đói, cứu nghèo hay cho nở mặt nở mày với quê hương, bà con ruột thịt, có “thân nhân ở nước ngoài”.
Không tuần nào “quê người” không có gây quỹ, lạc quyên, không giúp người đói thì cũng giúp người nghèo, không giúp thuốc men thì cũng sách vở. Nào là người cùi, mù mắt, vá môi, nào là lụt lội, mưa bão. Mỗi chuyện sập cầu Cần Thơ cũng đã làm rúng động lòng người hải ngoại. Dù ở tha phương phải cầu thực để có miếng ăn, ở quê người không ai quên quê nhà. Trong khi ở quê người, đồng bào ruột thịt góp từng đồng mua từng ký gạo cứu đói, gởi cho kẻ neo đơn, người già không nơi nương tựa, thì ở quê nhà, Nông Đức Mạnh nhân chuyến viếng thăm quốc gia đại ác “Chí Phèo” Bắc Triều Tiên, đã biếu người anh em 20,000 tấn gạo để tỏ tình “vô sản công nông”. Những nỗi lo nghĩ ưu tư của kẻ tha phương xứ người đôi khi trở thành vô nghĩa và phi lý.
Máu chảy ruột mềm, đây mới là nỗi đau thực sự của người hải ngoại nhìn về những người xấu số trong nước, tuy không đến nỗi nhịn ăn nhịn mặc, nhưng cũng đã chia cơm xẻ áo với người kém may mắn hơn mình. Nhờ tấm lòng của “quê người”, “quê nhà” mới có số tiền hơn 7 tỷ, số tiền mà miền Nam trước đây không có đủ để chống đỡ, giữ vững miền nam. Đối với Cộng Sản, hải ngoại cứ chửi bới, đả đảo, biểu tình bao nhiêu cũng được, miễn là những người này cứ về Việt Nam như đi chợ, đồng tiền vẫn cứ tuôn về quê nhà đều đều là tốt. Cứ nhìn cung cách chính quyền o bế, tuyên dương, gắn “mác” Việt Kiều yêu nước cho những nhân vật đã “tiếp máu” cho chế độ trong nước, chúng ta sẽ thấy rõ đường lối và chủ trương của khúc ruột “quê nhà” ra sao!
Người miền Nam thua Cộng Sản miền Bắc ở cái ác, cái tráo trở. Bây giờ quê người thua quê nhà ở chỗ sống vì lòng nhân ái, không thù hận, không thể quay mặt đi để khỏi nhìn đồng bào đói khổ. Bồi dưỡng cho thân thể đang mang bệnh ung thư thì đương nhiên ung thư càng phát triển, chưa ai nỡ diệt ung thư bằng cách giết luôn mạng sống con người. Cuối cùng chúng ta đành bó tay, thúc thủ như một ngày nào đã buông súng thua trận.
Lưỡi dao “quê nhà” xuyên suốt trái tim hải ngoại, đau đớn mà ngọt ngào, biết cách nào mà chống đỡ.
Huy Phương
Huy Phương Những bản tin như hồi trống trận
Thúc lòng ai nỗi nhớ quê nhà
Những hình ảnh như nghìn mũi nhọn
Đâm vào lòng những đứa con xa.
(Huy Phương)
Nói đến quê nhà, quê người là nói đến tấm thân lưu lạc, tha hương. Sao bỗng dưng một ngày nọ, bồng bế nhau đến xứ này. Thoạt đầu là lạ nước lạ non, bây giờ đâu cũng là nhà, nhiều khi quên mình đang sống trên đất khách. Sang đây thoạt đầu như cây trồng đất lạ, chưa quen thổ ngơi, lá còn héo, thân còn gầy, riết rồi cũng đâm chồi nẩy lộc.
Người bạn của tôi sang định cư tại Hoa Kỳ đã gần hai mươi lăm năm, con đàn cháu đống, đứa cháu ngoại cũng đã vào đại học. Trong khoảng thời gian này, anh chị có công ăn việc làm khá, tậu được nhà cửa, xe cộ và lẽ cố nhiên toàn gia cũng đã có quốc tịch của xứ này. Anh sống, thở, ăn mặc, làm việc, du hý như một người bản xứ, cũng có thể con anh cũng đầu quân hy sinh và chiến đấu cho đất nước này, nhưng xem ra chẳng có ai xem anh hay gọi anh là một người Mỹ. Người bản xứ xem anh là một người thiểu số nào đó đến sinh sống ở đây, đôi khi dưới con mắt kỳ thị, dù anh có cố gắng càng ngày càng cho ra Mỹ.
Phải chăng như vậy nên anh vẫn gọi nơi này là “quê người”?
Thế thì “quê nhà biết ở nơi đâu?”
Từ ngày anh bỏ nước ra đi, “quê nhà” gọi anh là những tội đồ, phản quốc chạy theo bọn đế quốc để chống phá tổ quốc. Một thời gian khá lâu sau, anh được người ta gọi là “Việt kiều”.Thương quý anh hơn theo miệng lưỡi nhà buôn thì người ta gọi anh một cách văn chương bóng bẩy là “khúc ruột nghìn dặm” nếu anh đem được đồng tiền về để “xây dựng đất nước”. Nghe đến thành ngữ “khúc ruột nghìn dặm”, ai mà không mủi lòng rơi lệ, nghĩ cùng chung một dòng máu, ai mà nỡ chia cắt khúc ruột theo cái nghĩa “đoạn trường” xót xa biết là ngần nào, cho nên ruột phải liền với ruột! Không biết ai đã mang tâm lý mỉa mai đặt ra câu ngạn ngữ “đồng tiền liền khúc ruột”.Thật là đểu giả, phũ phàng, ai lại đi so sánh tình thịt da, máu mủ với chuyện lý tài, lợi lộc.
Lúc thù hận, khinh ghét và thêm chút ganh tỵ thì người ta gọi anh là bọn “tha phương cầu thực” nghĩa là đi xứ khác để kiếm miếng ăn, lúc cần ve vãn thì gọi anh là “Việt kiều yêu nước”, “lá lành đùm lá rách”, “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.
Điều mâu thuẫn chính là nơi “quê người”, sao khi trở lại nơi này, dù là đi du lịch ở xa về, hay từ cả lúc từ “quê nhà” trở lại, sao chúng ta bỗng cảm thấy yên ổn trong lòng như chúng ta trở lại ngôi nhà thân yêu của chúng ta vậy. Vậy thì đi và về đâu là một nghĩa như nhau! Những người dù đang sống ở “quê người” mà lòng vẫn vương vấn chuyện “quê nhà”, với bao nhiêu nỗi xót xa. Không một ngày nào là không theo dõi chuyện quê hương. Chuyện con cháu chúng ta phải bỏ xứ ra đi lấy chồng xứ lạ, trẻ vị thành niên sang Kampuchea bán thân, ở Mã lai có đàn bà Việt Nam làm điếm. Chuyện lương dân bị bọn cướp ngày bức hiếp, tiếng trống đánh trước cửa quan kêu oan không vượt qua được bức tường dày điếc của chế độ. Chuyện những trang thanh niên tài hoa tuấn tú của đất nước bị còng tay trước cường quyền. Chuyện quan quyền tham ô, nhũng lạm, đục khoét công khố, vung tiền qua cửa sổ trong khi dân không có cháo mà ăn.
Đành lòng sao khi chúng ta thức ăn dư thừa phải đổ thùng rác, sữa tươi trong tủ lạnh quá hạn, sợ thịt, sợ trứng trong khi ở quê nhà những đứa trẻ đang còn bươi móc trong đống rác mỗi ngày, những bà mẹ nhấp nhem đôi mắt vét trong nồi cơm những hạt cuối cùng. Năm vừa qua, chính phủ Việt Nam “hồ hởi” loan báo số tiền Việt Kiều gởi về giúp quê nhà đã lên đến 7 tỷ rưỡi đô la, đã vượt con số tiền của di dân Mễ gởi về giúp đồng bào của họ. Ở các thành phố đông người Việt cư ngụ, các công ty chuyển tiền càng ngày càng ăn nên làm ra, một đại lý nhân thành năm bảy. Trông cái cảnh những bà cụ chỉ có tiền già mà số tiền mang đến gởi lên đến số nghìn, số tiền này gom góp từ tiền trợ cấp, tiền con cháu chu cấp. Tiền này không phải chỉ gởi về cho Saigon mà cho cả Hà Nội, Hải Phòng, Sơn Tây hay Hà Nam Ninh để cứu đói, cứu nghèo hay cho nở mặt nở mày với quê hương, bà con ruột thịt, có “thân nhân ở nước ngoài”.
Không tuần nào “quê người” không có gây quỹ, lạc quyên, không giúp người đói thì cũng giúp người nghèo, không giúp thuốc men thì cũng sách vở. Nào là người cùi, mù mắt, vá môi, nào là lụt lội, mưa bão. Mỗi chuyện sập cầu Cần Thơ cũng đã làm rúng động lòng người hải ngoại. Dù ở tha phương phải cầu thực để có miếng ăn, ở quê người không ai quên quê nhà. Trong khi ở quê người, đồng bào ruột thịt góp từng đồng mua từng ký gạo cứu đói, gởi cho kẻ neo đơn, người già không nơi nương tựa, thì ở quê nhà, Nông Đức Mạnh nhân chuyến viếng thăm quốc gia đại ác “Chí Phèo” Bắc Triều Tiên, đã biếu người anh em 20,000 tấn gạo để tỏ tình “vô sản công nông”. Những nỗi lo nghĩ ưu tư của kẻ tha phương xứ người đôi khi trở thành vô nghĩa và phi lý.
Máu chảy ruột mềm, đây mới là nỗi đau thực sự của người hải ngoại nhìn về những người xấu số trong nước, tuy không đến nỗi nhịn ăn nhịn mặc, nhưng cũng đã chia cơm xẻ áo với người kém may mắn hơn mình. Nhờ tấm lòng của “quê người”, “quê nhà” mới có số tiền hơn 7 tỷ, số tiền mà miền Nam trước đây không có đủ để chống đỡ, giữ vững miền nam. Đối với Cộng Sản, hải ngoại cứ chửi bới, đả đảo, biểu tình bao nhiêu cũng được, miễn là những người này cứ về Việt Nam như đi chợ, đồng tiền vẫn cứ tuôn về quê nhà đều đều là tốt. Cứ nhìn cung cách chính quyền o bế, tuyên dương, gắn “mác” Việt Kiều yêu nước cho những nhân vật đã “tiếp máu” cho chế độ trong nước, chúng ta sẽ thấy rõ đường lối và chủ trương của khúc ruột “quê nhà” ra sao!
Người miền Nam thua Cộng Sản miền Bắc ở cái ác, cái tráo trở. Bây giờ quê người thua quê nhà ở chỗ sống vì lòng nhân ái, không thù hận, không thể quay mặt đi để khỏi nhìn đồng bào đói khổ. Bồi dưỡng cho thân thể đang mang bệnh ung thư thì đương nhiên ung thư càng phát triển, chưa ai nỡ diệt ung thư bằng cách giết luôn mạng sống con người. Cuối cùng chúng ta đành bó tay, thúc thủ như một ngày nào đã buông súng thua trận.
Lưỡi dao “quê nhà” xuyên suốt trái tim hải ngoại, đau đớn mà ngọt ngào, biết cách nào mà chống đỡ.
Huy Phương
MÓN ĂN QUÊ NHÀ
Huy Phương Tôi xin nói trước rằng tôi không hề có ý định quảng cáo cho bà con du lịch Việt Nam bằng cách nói về những món ăn quê hương. Tôi không thích thú gì mấy với những “làng nướng”, hay những con chó thui trần trụi treo đầy ở ngã ba Ông Tạ cùng đủ loại nhậu ba ba, dê, nhím, rắn, rít, cóc, chuột, cào cào, bò cạp... những thứ mà dân nhậu và dân chơi đã bỏ vào miệng không thiếu thức nào. Chắc đã có lần bạn tình cờ xem những cuôùn DVD nói về thú ăn nhậu “dàn trời” trong cái triết lý “born to eat” hiện nay đang nở rộ trong xã hội chủ nghĩa.
Từ ngày lếch thếch sang định cư tại xứ văn minh Hoa Kỳ ngày nay, tôi chưa bao giờ cảm thấy ngon miệng khi ăn một cái hamburgur, burrito hay một miếng pizzar những lúc phải đi xa nhà hay xa thành phố có đông người Việt cư ngụ. Chắc bạn cũng có lần đi du lịch xa, dù đã qua nhiều nhà hàng lớn đầy sơn hào hải vị, nhưng vẫn cảm thấy thiếu thốn một điều gì, vì một tuần “chưa có một hột cơm trong bụng”, hay thấy thèm một tô phở. Đó chính là tiếng gọi của những món ăn quê hương trong bao tử. Giữa thành phố Berlin, Paris hay Nice... tìm đâu ra một tô phở hay một bát canh chua, nếu có kiếm được một tô mì trong một nhà hàng Tàu nào đó, thì cũng chỉ gọi là dùng tạm mà thôi.
Nói về văn hóa ăn, cũng không trách ai ăn được món nước này mà chẳng ăn được món của nước khác và ai văn minh hơn ai. Tôi đã có lần lỡ dại mời một người Mỹ ăn một cái pathé chaud của Tây mà tôi cho là ngon hay chính tôi không hề đụng tới miếng sushi của Nhật mà bọn trẻ vẫn rất thích. Thường thì trong mỗi gia đình hay những lúc gặp bạn bè, chúng ta vẫn có dịp đi dùng cơm Đại Hàn, cơm Thái Lan, món Ý, món Tây, món Tàu...nhưng theo thiển ý, món ăn Việt Nam vẫn là ngon nhất. Hai món ăn đã trải qua thời lệ thuộc là Tàu và Tây thì bạn có thể còn chịu được, chứ không thể nào suốt một tuần chỉ dùng thức ăn Đại Hàn, Thái Lan. Mỹ mà không nhớ bữa cơm Việt Nam hay những món ăn chế biến từ hạt gạo. Chỉ với sợi bún, sợi phở, sợi mì thôi, chúng ta có hằng trăm thức ăn khác biệt từ Nam ra Bắc, mỗi nơi một vẻ.
Vào khoảng năm 1990, ở Las Vegas có duy nhất một tiệm phở, nhưng khách Việt Nam tìm được cũng khó. Ngán ngẩm làm sao với những bữa buffet, những bữa cơm Tây Tàu Mỹ làm cho chuyến đi du lịch mất đi một phần nào sự thích thú, vì có chỗ chơi nhưng chưa có chỗ ăn cho hợp khẩu. Ngày nay người Việt đã tràn về lập nghiệp ở thành phố cờ bạc này khá đông, tuy chưa có một Little Saigon ở đó, nhưng hàng quán và món ăn Việt Nam không hề thiếu một món gì.
Nếu chúng ta ăn đồ Tây ngon là vì chúng ta trong thời Pháp thuộc đã có dịp quen ăn, chúng thích đồ Tàu là vì từ đời ông cha, người Tàu đã có mặt tràn lan trên đất Việt. Rồi đây con cháu chúng ta ở Hoa Kỳ cũng sẽ cho những món Mỹ, Mễ là ngon vì các cháu đã được ăn ngay từ những ngày còn nhỏ. Tôi cũng vậy, cũng vì thói quen, từ những ngày còn nhỏ, từ khi bắt đầu biết ăn “cơm mem”, tôi đã thích cái vị cơm dẽo và mùi cá kho mớm ra từ miệng mẹ với chút lòng yêu thương dành cho con. Vì vậy nếu bây giờ có ai hỏi, đối với tôi, món ăn gì mà tôi cảm thấy ngon miệng nhất thì tôi không ngần ngại nói đó là cơm trắng với cá kho, như cái thành ngữ “cơm với cá như mạ với con” của miền Trung. Phương Tây cũng có thành ngữ “bread and butter” nhưng ở chỗ ví von “như mạ với con” thì tình nghĩa Việt Nam bỏ xa Tây Phương.
Đó chính là loại “cơm nhà”..., nhưng mong các bạn đừng nhanh nhẩu nghĩ ra cái thành ngữ “cơm nhà, quà vợ” mà chúng ta vẫn thường dùng để chỉ những vị cù lần, không biết ăn chơi, bay bướm như các bạn mà tội nghiệp.
Chúng ta có một bờ biển quá dài, nhưng con nhà nghèo ít khi được nếm mùi cá biển, trái lại cá đồng mùa nào cũng có. Quê hương chúng ta có nhiều sông rạch và những đồng ruộng đầy tôm tép với những con cá nhỏ như cá linh, cá lòng tong, cá kèo, cá bống, cá rô, cá sặc, cá giếc, cá trê, cá lóc, cá lờn bơn, cá thác lác, cá ngạnh, cá cấn, cá mại...Hy vọng tuổi thọ của chúng ta sẽ cao như người Nhật, người Nhật sống lâu vì ăn cá biển thì chúng ta ăn cá đồng cũng ít cholesterol.
Còn kho nấu như thế nào là ngon, thì câu nói “như mẹ nấu ở nhà” bao giờ cũng đúng. Phải chăng từ lúc lọt lòng ra, từ khi biết ăn, chúng ta đã sống quen với thức ăn mặn nhạt của mẹ, mà suốt đời chúng ta vẫn nhớ.
Tôi sang đây, bất đắc dĩ vì chạy nạn Cộng Sản, vì trong thâm tâm không ai muốn sống xa quê hương, chứ không phải vì “bơ thừa sữa cặn”. Bơ thì chẳng ai dám ăn vì sợ chất béo, sữa thì sợ “té re” như ông Phó Khom đã truyên bố, nên thường là để quá ngày phải đem đi đổ. Tôi chỉ thèm những món ăn quê hương, nhất là món cơm nhà. Nhưng quý vị bà con trong nước cũng đừng lo, khi “chúng tôi đi, mang theo quê hương”, chúng tôi đã mang nước mắm, khô sặc, mắm nêm, cà pháo... và vô số món ngon. Bên nhà quý vị có gì thì bên này chúng tôi có cái ấy, chỉ sợ bên này có cái mà bên ấy quý vị không có thôi. Nếu nói chuyện thiếu thì chúng tôi chỉ thiếu cái cuốn giấy “toilet paper” cuộn ở trên ống đũa trong tiệm phở.
Nhiều người sành ăn đã công nhận phở Toronto phải ngon hơn phở Saigon (nếu phở Hồ Chí Minh thì chắc chắn thịt còn phải dai hơn nữa). Chúng tôi khen là vì chúng tôi thấy đúng, chứ không phải vì sợ ngọn rau, miếng thịt bò mang nhãn hiệu Mỹ như ngày xưa quý vị trong đảng Cộng Sản đã vì đầu óc ngu muội mà tán tụng điên khùng rằng “trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ, đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ!”
Tôi cũng nghĩ rằng món ăn quê hương phải ăn trong khung cảnh quê hương mới là nhất. Nhưng bây giờ về Huế mà đi ăn bún bò, ra Hà Nội ghé ăn phở Bắc hay vào Mỹ Tho đi tìm hủ tiếu thì chắc còn phải xét lại. Suy nghĩ như ông Tản Đà, tôi thấy bây giờ ở quê nhà còn nhiều thứ chưa ngon.
Huy Phương
Huy Phương Tôi xin nói trước rằng tôi không hề có ý định quảng cáo cho bà con du lịch Việt Nam bằng cách nói về những món ăn quê hương. Tôi không thích thú gì mấy với những “làng nướng”, hay những con chó thui trần trụi treo đầy ở ngã ba Ông Tạ cùng đủ loại nhậu ba ba, dê, nhím, rắn, rít, cóc, chuột, cào cào, bò cạp... những thứ mà dân nhậu và dân chơi đã bỏ vào miệng không thiếu thức nào. Chắc đã có lần bạn tình cờ xem những cuôùn DVD nói về thú ăn nhậu “dàn trời” trong cái triết lý “born to eat” hiện nay đang nở rộ trong xã hội chủ nghĩa.
Từ ngày lếch thếch sang định cư tại xứ văn minh Hoa Kỳ ngày nay, tôi chưa bao giờ cảm thấy ngon miệng khi ăn một cái hamburgur, burrito hay một miếng pizzar những lúc phải đi xa nhà hay xa thành phố có đông người Việt cư ngụ. Chắc bạn cũng có lần đi du lịch xa, dù đã qua nhiều nhà hàng lớn đầy sơn hào hải vị, nhưng vẫn cảm thấy thiếu thốn một điều gì, vì một tuần “chưa có một hột cơm trong bụng”, hay thấy thèm một tô phở. Đó chính là tiếng gọi của những món ăn quê hương trong bao tử. Giữa thành phố Berlin, Paris hay Nice... tìm đâu ra một tô phở hay một bát canh chua, nếu có kiếm được một tô mì trong một nhà hàng Tàu nào đó, thì cũng chỉ gọi là dùng tạm mà thôi.
Nói về văn hóa ăn, cũng không trách ai ăn được món nước này mà chẳng ăn được món của nước khác và ai văn minh hơn ai. Tôi đã có lần lỡ dại mời một người Mỹ ăn một cái pathé chaud của Tây mà tôi cho là ngon hay chính tôi không hề đụng tới miếng sushi của Nhật mà bọn trẻ vẫn rất thích. Thường thì trong mỗi gia đình hay những lúc gặp bạn bè, chúng ta vẫn có dịp đi dùng cơm Đại Hàn, cơm Thái Lan, món Ý, món Tây, món Tàu...nhưng theo thiển ý, món ăn Việt Nam vẫn là ngon nhất. Hai món ăn đã trải qua thời lệ thuộc là Tàu và Tây thì bạn có thể còn chịu được, chứ không thể nào suốt một tuần chỉ dùng thức ăn Đại Hàn, Thái Lan. Mỹ mà không nhớ bữa cơm Việt Nam hay những món ăn chế biến từ hạt gạo. Chỉ với sợi bún, sợi phở, sợi mì thôi, chúng ta có hằng trăm thức ăn khác biệt từ Nam ra Bắc, mỗi nơi một vẻ.
Vào khoảng năm 1990, ở Las Vegas có duy nhất một tiệm phở, nhưng khách Việt Nam tìm được cũng khó. Ngán ngẩm làm sao với những bữa buffet, những bữa cơm Tây Tàu Mỹ làm cho chuyến đi du lịch mất đi một phần nào sự thích thú, vì có chỗ chơi nhưng chưa có chỗ ăn cho hợp khẩu. Ngày nay người Việt đã tràn về lập nghiệp ở thành phố cờ bạc này khá đông, tuy chưa có một Little Saigon ở đó, nhưng hàng quán và món ăn Việt Nam không hề thiếu một món gì.
Nếu chúng ta ăn đồ Tây ngon là vì chúng ta trong thời Pháp thuộc đã có dịp quen ăn, chúng thích đồ Tàu là vì từ đời ông cha, người Tàu đã có mặt tràn lan trên đất Việt. Rồi đây con cháu chúng ta ở Hoa Kỳ cũng sẽ cho những món Mỹ, Mễ là ngon vì các cháu đã được ăn ngay từ những ngày còn nhỏ. Tôi cũng vậy, cũng vì thói quen, từ những ngày còn nhỏ, từ khi bắt đầu biết ăn “cơm mem”, tôi đã thích cái vị cơm dẽo và mùi cá kho mớm ra từ miệng mẹ với chút lòng yêu thương dành cho con. Vì vậy nếu bây giờ có ai hỏi, đối với tôi, món ăn gì mà tôi cảm thấy ngon miệng nhất thì tôi không ngần ngại nói đó là cơm trắng với cá kho, như cái thành ngữ “cơm với cá như mạ với con” của miền Trung. Phương Tây cũng có thành ngữ “bread and butter” nhưng ở chỗ ví von “như mạ với con” thì tình nghĩa Việt Nam bỏ xa Tây Phương.
Đó chính là loại “cơm nhà”..., nhưng mong các bạn đừng nhanh nhẩu nghĩ ra cái thành ngữ “cơm nhà, quà vợ” mà chúng ta vẫn thường dùng để chỉ những vị cù lần, không biết ăn chơi, bay bướm như các bạn mà tội nghiệp.
Chúng ta có một bờ biển quá dài, nhưng con nhà nghèo ít khi được nếm mùi cá biển, trái lại cá đồng mùa nào cũng có. Quê hương chúng ta có nhiều sông rạch và những đồng ruộng đầy tôm tép với những con cá nhỏ như cá linh, cá lòng tong, cá kèo, cá bống, cá rô, cá sặc, cá giếc, cá trê, cá lóc, cá lờn bơn, cá thác lác, cá ngạnh, cá cấn, cá mại...Hy vọng tuổi thọ của chúng ta sẽ cao như người Nhật, người Nhật sống lâu vì ăn cá biển thì chúng ta ăn cá đồng cũng ít cholesterol.
Còn kho nấu như thế nào là ngon, thì câu nói “như mẹ nấu ở nhà” bao giờ cũng đúng. Phải chăng từ lúc lọt lòng ra, từ khi biết ăn, chúng ta đã sống quen với thức ăn mặn nhạt của mẹ, mà suốt đời chúng ta vẫn nhớ.
Tôi sang đây, bất đắc dĩ vì chạy nạn Cộng Sản, vì trong thâm tâm không ai muốn sống xa quê hương, chứ không phải vì “bơ thừa sữa cặn”. Bơ thì chẳng ai dám ăn vì sợ chất béo, sữa thì sợ “té re” như ông Phó Khom đã truyên bố, nên thường là để quá ngày phải đem đi đổ. Tôi chỉ thèm những món ăn quê hương, nhất là món cơm nhà. Nhưng quý vị bà con trong nước cũng đừng lo, khi “chúng tôi đi, mang theo quê hương”, chúng tôi đã mang nước mắm, khô sặc, mắm nêm, cà pháo... và vô số món ngon. Bên nhà quý vị có gì thì bên này chúng tôi có cái ấy, chỉ sợ bên này có cái mà bên ấy quý vị không có thôi. Nếu nói chuyện thiếu thì chúng tôi chỉ thiếu cái cuốn giấy “toilet paper” cuộn ở trên ống đũa trong tiệm phở.
Nhiều người sành ăn đã công nhận phở Toronto phải ngon hơn phở Saigon (nếu phở Hồ Chí Minh thì chắc chắn thịt còn phải dai hơn nữa). Chúng tôi khen là vì chúng tôi thấy đúng, chứ không phải vì sợ ngọn rau, miếng thịt bò mang nhãn hiệu Mỹ như ngày xưa quý vị trong đảng Cộng Sản đã vì đầu óc ngu muội mà tán tụng điên khùng rằng “trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ, đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ!”
Tôi cũng nghĩ rằng món ăn quê hương phải ăn trong khung cảnh quê hương mới là nhất. Nhưng bây giờ về Huế mà đi ăn bún bò, ra Hà Nội ghé ăn phở Bắc hay vào Mỹ Tho đi tìm hủ tiếu thì chắc còn phải xét lại. Suy nghĩ như ông Tản Đà, tôi thấy bây giờ ở quê nhà còn nhiều thứ chưa ngon.
Huy Phương
Phan Khôi
Tình Già và Giai Thoại Phan Khôi
Từ năm 1917 trên Nam Phong Tạp Chí học giả Phạm Quỳnh (1892-1945) nhận xét về thi ca Việt Nam “phiền phức luật lệ ràng buộc ...”, năm 1928 báo Trung Bắc Tân Văn xuất hiện bài thơ đầu tiên không niêm luật hoàn toàn mới lạ, La cigale et la fourmi / Con ve sầu của La Fontaine nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) dịch. Mãi cho đến năm 1932 sinh hoạt văn nghệ được đổi mới khởi đầu phong trào thơ mới, chống lại khuôn sáo cũ của Đường thi gò bó, chật hẹp, niêm luật trở ngại nhiều cho thi nhân với ý thơ đang bay vào cõi mộng.
Tờ Phụ Nữ Tân Văn ngày 10.3.1932 trình làng bài Tình Già của nhà văn Phan Khôi (1887-1959) là một nhà cách mạng trong nền thi ca Việt Nam, thể mới tự do, không theo lối thơ đường luật, đã ảnh hưởng lâu đời của các thi nhân lão thành. Phan Khôi đã can đảm như Kha Luân Bố đi tìm miền đất hưá cho thế hệ mai sau.
Tình Già của Phan Khôi là một làn gió mới, xô ngã bức tường thành khép kín dưới thời phong kiến, thơ mới ra đời thật phong phú, mang tinh tuý của dân tộc Việt Nam, thơ không bị gò bó, bị phái cựu học chống đối ,nhưng được sự đón nhận và hoà nhịp cổ động cho phong trào thơ mới như: Lưu Trọng Lưu, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Huy Thông, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Đông Hồ, Tế Hanh, Nguyễn Vỹ ... Thơ mới là một di sản vô giá, xóa bỏ được ngăn cách giữa con người và thiên nhiên, thi sĩ làm thơ theo rung động của con tim, không phải ngồi ôm đầu tìm niêm luật điển tích ước lệ theo khuôn vàng thước ngọc ... Từ năm 1933 ảnh hưởng văn học Tây phương mở đầu một nền thi ca thi nhân với sinh khí mới .
Kỷ niệm ngày giỗ thứ 46 của nhà văn Phan Khôi mất ngày 16.01.1956, tôi trích lại một vài giai thọai và bài Tình Già của nhà văn Phan Khôi để tưởng nhờ người có công đóng góp cho văn học Việt Nam.
Học giả Nguyễn Tấn Long đã viết “Phan Khôi đem đến làng thơ Việt Nam bầu không khí khác lạ, một thể thơ mới hoàn toàn từ hình thức đến nội dung. Nó đã phá cái cổ lệ để chính thức cho chào đời một lối thơ mới, mở màn cuộc thay đồi quan trọng của thi ca dân tộc ...” (VN thi nhân tiền chiến trang 87).

Tình Già
Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai mái đầu xanh kề nhau than thở.
Ôi đôi ta tình thương thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn là không đặng;
Ðể đến rồi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau
Hay! Nói mới bạc làm sao chớ! Buông nhau làm sao cho nở?
Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng, mà tính việc thủy chung?
Hai mươi bốn năm sau, tình cờ nơi đầt khách gặp nhau!
Ðôi mái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố nhìn ra được!
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi! con mắt còn có đuôi
Tình già tiêu biểu cho thể thơ mới từ hình thức đến nội dung và âm điệu, tình yêu thời ấy ảnh hưởng Nho giáo “Nam nử thụ thụ bất thân”, Nhưng Phan Khôi đã đưa tự do luyến ái, hai người “dám” ngồi bên nhau trong gian nhà nhỏ than thở chuyện tình ,tình yêu “thì vẫn nặng”, nhưng có thể hoàn cảnh gia đình hay xã hội để rồi “lấy nhau thi hẳn là không đặng” nên phải chia tay nhau …
Tình già của Phan Khôi cũng như mối tình của thế hệ chúng ta sau 1975. Tình yêu bị chi phối bởi biến cố đất nước, nhiều người phải đi vào tại tập trung cải tạo, hay đi vượt biên tìm tự do, đành bỏ người yêu ở lại, thời gian đi mãi không thể đợi chờ, nên mỗi người phải chọn cho mình một mái ấm gia đình. Đến giai đoạn lúc chính quyền Việt Cộng đổi mới mở cửa cho Việt kiều về thăm Quê hương, tìm thăm lại cố nhân mái tóc đã đổi màu “nếu chẳng quen lung chớ nhìn ra được”! Dù tình cũ nghiã xưa có trở về trong lòng của hai người, nhưng phải dừng lại trong giới hạn “ôn chuyện cũ mà thôi, Liếc mắt đưa nhau đi rồi, con mắt còn có đuôi.”
Nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan trong tập Nhà Văn Hiện Đại “Phan Khôi là một trong nhưng nhà văn xuất sắc nhất trong phái nho học ở một nhà cựu học như ông, người ta đã thấy nhiều cái mới quá, nhiều cái mà nhiều nhà tân học cũng cho là mới quá . Đó thật là một bất ngờ.”
Phan Khôi với bút hiệu “Tout seul / một mình” có lẽ đúng với đời ông, sống cô đơn, chết cũng trong cô đơn ở Hà Nội. Tuổi già bị bệnh mất ngày 16.01.1956 không người thân bạn bè đưa tiễn đến nơi an nghỉ cuối cùng (!!) bởi vì kẹt trong vụ án Nhân Văn (mời độc giả vào trang www.phanchautrinhdanang.com số tháng giêng năm 2005 tôi viết rõ về cuộc đời và sự nghiệp của Phan Khôi).
Phan Khôi từng lưu lạc ở Cà Mau, rừng núi thưọng du Bắc Việt trong thời gian kháng chiến chống Tây, không viết báo nhưng đã để lại những vần thơ thương cảm
Chơi thuyền trên sông Tân Bình
Eo đất vắt rừng già ra nước
Khỉ ho cò gáy tư bề
Ta đem thạn đến chốn nầy làm chi
Nhớ từ trẻ gian nguy từng trải
Bước giang hồ bước mãi chưa thôi
Mảnh thân còn chọi với đời
Hiểm nghèo là bạn, chơi vơi là nhà
Cảnh hiêu quạnh, có ta có chủ
không ta chẳng phụ lòng hoá công
Vẻ ra cái cảnh lạ lùng.
Làm cho cọp biển, cá đồng hay sao
Xuồng ba lá đâu là chàng Thổ
Rượu đế mang theo mỗ lưng bầu
Mũi chàng trước, lái ta sau
Mái chèo khoan nhặt con trào ngược xuôi
...
Người như rọ biết ý ta
Thi nâng chén rượu ma ca khúc nầy
Thơ Phan Khôi
Ngừng tim bặt óc lặng dòng tình
Tai mắt như không phải của mình
Thấy dưới ánh trăng muôn khúc nhạc
Nghe trong tiếng ếch một màu xanh
Suối tiên mát mẻ bao cho chán
Giấc mộng vờn mơn vẫn chẳng thành
Cái thú vui xưa nào thấy nữa
Ngủ say thức tỉnh dậy buồn tênh
Một mình đêm giao thừa
Ðến ngọn đèn làm bầu bạn cũng không có
Ðắp lên thân suy tàn một tấm chăn kép
Chợp mắt mơ là nhằm miếng chua cay
Có vợ con mà sống chia cách
Không sinh kế đành phải ăn nhờ
Nghe tiếng gà mừng vùng dậy
Kháng chiến bốn lần gặp xuân rồi!
Hớt tóc
Tuổi già thêm bệnh hoạn
Kháng chiến thấy thừa ra
Mối sầu như tóc bạc
Cứ cắt lại dài ra
Phan Khôi nổi tiếng trong thi đàn Việt Nam, ông còn là nhà viết báo, lý luận hay, thường bút chiến với nhiều nhà văn thuộc giới nho học, như Huỳnh Thúc Kháng, Phạm Quỳnh, ông dám kết án Phạm Quỳnh là “học phiệt” phê bình bộ Nho Giáo của sử gia Trần Trọng Kim. Ông xuất thân từ Quảng Nam “Quảng Nam hay cãi …”, nhưng cãi để đưa những đề tài trong sáng và xây dựng, không ác ý vì nghề nghiệp. Phan Khôi với đức tính muốn phục vụ chân lý, và lẽ phải. Phan Khôi lúc 18 tuổi đậu tú tài Hán văn, sau nầy học thêm chữ Quóc ngữ Pháp văn. từng dịch bộ Kinh thánh Tin Lành đầu tiên tại Việt Nam. Ông không ngại sửa văn của những người thuộc giới cựu trào nho học, “không phải tôi chê các cụ đã viết sai, nhưng tôi chê các cụ chưa viết đúng theo lề lối và tinh thần của người Tàu. Nên nhớ chữ Nho là chữ Tàu ...”
Nhà văn Lại Nguyên Ân đã sưu tầm những bài báo in thành sách (Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1928, do nhà xuất bản Đà Nẳng phát hành năm 2003).
Phan Khôi còn nhiều giai thoại khá hấp dẫn như “lý luận Phan Khôi”, “Khoai nhạc ngựa”, “Con gà xã hội chủ nghiã”, nhưng tôi trích lại câu chuyện! châm biếm giới quan lại dốt nát (ngày xưa gọi là quan còn ngày nay là Huyện, Tỉnh, Bí thư, Giám đốc ...) giữ việc trị dân để độc giả đọc thêm cho vui :
“Đọc lệch giết người”
Thừa đêm mưa gió, một tên đạo chích lén trộm chiếc chuông của chùa làng, và bị bắt. Nội vụ giải đến huyện quan. Ai cũng tưởng tên trộm sẽ bị tù, nào ngờ Quan huyện (ngày nay trong nước thường gọi là “Thủ Trưởng / hay Thủ Tướng” tha ngay hắn về.
Không bao lâu, làng lại bắt được một tên trộm chiếu và cũng giải nạp lên huyện đường. Nhưng lạ thay, quan Huyện (Thủ trưởng) dạy đem chém đầu tên trộm chiếu.
Hội đồng làng chẳng hiểu ra sao cả, trộm chuông là trọng tội mà được tha, còn trộm chiếu coi như cắp vặt lại bị giết, Thế là cả hội đồng làng kéo nhau lên huyện đường để nhờ quan chỉ dạy.
Huyện quan tỏ ra là bậc “dân chi phụ mẫu” dạy rằng:
“Các ngươi làm sao hiểu thấu phương cách chăn dân trị nước của bậc Thánh hiền. Ta đây xét xử mọi việc đều theo sách vở nghìn xưa để lại, bởi sách có câu: Phu tử chi đạo kỳ chung thứ giả, nghiã là Đức Phu tử dạy, trộm chuông thì hãy tha. Lại có câu: Triều văn đạo tịch tử khả hỉ, nghiã Triều đình truyền ăn trộm chiếu thì phải tội chết, Bởi các ngươi còn tối sách vở thánh hiền thì làm sao thông đạt nghiã lý.”
Hội đồng làng gật gù, tỏ vẻ khâm phục xá dài nói:
“Bẩm quan ngài, Ngài qủa là người thông đạt thiên kinh vạn sử, lũ chúng con sao sánh bằng.”
Vì bị chết oan, hồn tên trộm chiếu vất vưởng xuống Diêm đình đầu cáo Diêm Vương cho qủi sứ lên bắt hồn quan huyện xuống đối chất.
Diêm vương phán hỏi:
“Nhà ngươi xét xử thế nào mà tên nầy xuống đây kêu oan?”
Huyện quan thưa:
“Bẩm Diêm chuá, chúng con đứng ra chăn dân, cầm cân nẩy mực lẻ nào không hiểu lời Thành hiền dạy , Sách có câu “Phu tử chi đạo kỳ chung thứ giả” và “Triều văn đại tịch tử khả hỉ”. Con đã theo đúng sách vở mà tha cho tên trộm chuông và giết tên trộm chiếu để răn dạy kẻ khác.”
Nghe xong Diêm vương vổ án:
“Thôi rồi, Nhà ngươi làm đến chức Huyện quan mà hiểu sai bét cả sách vở Thánh hiền thì làm sao sao không giết oan uổng mạng người “Phu tử chi đạo kỳ trung (không phải chung) thứ giả”, nghiã là Đạo của Phu tử chi đạo kỳ trung thứ giả. chữ trung là trung dung, tức cái đạo không thiên về mặt nào mà mi đọc lệch chung ra cái chuông. Còn câu kia Triêu (không phải là triều là chữ đồng tự dị âm), văn đạo tịch tử khả hỉ, nguyên văn câu cuả thầy Nhan Hồi, học trò đức Khổng Tử viết để tỏ nhiệt tình với đạo của thấy có nghiã “sáng mà nghe được mùi đạo trung thứ chiều chết cũng cam”.
Triêu mà mi đọc là lệch là “triều” là triều đình, còn tịch là “buổi chiều” tịch dương mà mi đọc là “chiếu”. Để rồi giết oan một mạng người. cái dốt của nhà ngươi sẽ còn gây thêm nhiều oan khổ cho dân lành. Vậy ta bắt nhà ngươi đầu thai làm chó để bù tội lỗi.”
Quan lại sợ hãi, khúm núm thưa van xin:
“Thưa Ngài, Ngài có cho con đầu thai làm chó xin Ngài thương tình cho con làm con chó nái.”
Diêm vương ngạc nhiên hỏi:
“Chó đực hay chó cái đều là kiếp chó. Tại sao nhà ngươi xin đầu thai làm chó nái?”
“Bẩm Ngài, sách có câu “Lâm tài mẫu cẩu đắc, lâm nạn mẫu cẩu miễn”, con muốn đầu thai làm chó nái để “Gặp tiền thì chó mẹ được hưởng, gặp nạn thì chó mẹ được miễn.” Xin Ngài cho con làm chó nái.”
Diêm vương lắc đầu, chán nản:
“Thôi lại là cái dốt đặc cán mai của nhà ngươi. Lâm tài mẫu (mẫu đây có nghiã là không nên chứ không phải mẫu là mẹ) cẩu đắc, lâm nạn mẫu cẩu miễn nghiã là: gặp tiền tài không nên lấy bửa bãi, gặp nạn chớ bỏ qua. Thế mà nha ngươi hiểu ra “Chó nái dễ được tiền, tránh được tai nạn”. Thôi ta không cho ngươi đầu thai làm chó nái mà phải chôn sống nhà ngươi.”
Huyện quan than khóc: “con đập đầu trăm lạy nếu Ngài chôn sống con xin ngài rộng lượng chôn từ cổ trở xuống”.
Diêm Vương hỏi: "Chừ đầu cho mi thở"?
Huyện quan thưa:
“Thưa sách có câu: Thiên niên mai cốt bất mai tu (tu đây có nghiã là xấu hổ, giống như cọp chết để da người ta chết để tiếng) tu ở đây không phải là râu nhưng Huyện quan hiểu rằng ngàn năm chôn xác chứ không chôn râu …” (VN thi nhân tiền chiến trang 85)
Xã hội thời phong kiến, không phát triển về tự do ngôn luận hay nhân quyền, bởi vì đời sống dân trí còn thấp, nhưng ngày nay cũng nhiều nơi trên thế giới dù đất nước phát triển, thống nhất, hoà bình nhưng vẫn còn dung túng bọn quan lại dốt nát, không học nhưng mua bằng cấp ăn trên ngổi trốc có điạ vị cai trị dân độc tài bóc lột làm đất nước thêm khổ đau, người dân luôn sống trong trình trạng thấp cổ bé miệng! Chúng tôi xin đốt nén nhang tuởng nhớ cụ Phan Khôi mong Cụ chia sẻ với thế hệ chúng tôi, dù ngày nay là thế kỷ thứ 21!! vẫn còn như ngày Cụ còn tại thế!!
Nguyễn Quý Đại
Tình Già và Giai Thoại Phan Khôi
Từ năm 1917 trên Nam Phong Tạp Chí học giả Phạm Quỳnh (1892-1945) nhận xét về thi ca Việt Nam “phiền phức luật lệ ràng buộc ...”, năm 1928 báo Trung Bắc Tân Văn xuất hiện bài thơ đầu tiên không niêm luật hoàn toàn mới lạ, La cigale et la fourmi / Con ve sầu của La Fontaine nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) dịch. Mãi cho đến năm 1932 sinh hoạt văn nghệ được đổi mới khởi đầu phong trào thơ mới, chống lại khuôn sáo cũ của Đường thi gò bó, chật hẹp, niêm luật trở ngại nhiều cho thi nhân với ý thơ đang bay vào cõi mộng.
Tờ Phụ Nữ Tân Văn ngày 10.3.1932 trình làng bài Tình Già của nhà văn Phan Khôi (1887-1959) là một nhà cách mạng trong nền thi ca Việt Nam, thể mới tự do, không theo lối thơ đường luật, đã ảnh hưởng lâu đời của các thi nhân lão thành. Phan Khôi đã can đảm như Kha Luân Bố đi tìm miền đất hưá cho thế hệ mai sau.
Tình Già của Phan Khôi là một làn gió mới, xô ngã bức tường thành khép kín dưới thời phong kiến, thơ mới ra đời thật phong phú, mang tinh tuý của dân tộc Việt Nam, thơ không bị gò bó, bị phái cựu học chống đối ,nhưng được sự đón nhận và hoà nhịp cổ động cho phong trào thơ mới như: Lưu Trọng Lưu, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Huy Thông, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Đông Hồ, Tế Hanh, Nguyễn Vỹ ... Thơ mới là một di sản vô giá, xóa bỏ được ngăn cách giữa con người và thiên nhiên, thi sĩ làm thơ theo rung động của con tim, không phải ngồi ôm đầu tìm niêm luật điển tích ước lệ theo khuôn vàng thước ngọc ... Từ năm 1933 ảnh hưởng văn học Tây phương mở đầu một nền thi ca thi nhân với sinh khí mới .
Kỷ niệm ngày giỗ thứ 46 của nhà văn Phan Khôi mất ngày 16.01.1956, tôi trích lại một vài giai thọai và bài Tình Già của nhà văn Phan Khôi để tưởng nhờ người có công đóng góp cho văn học Việt Nam.
Học giả Nguyễn Tấn Long đã viết “Phan Khôi đem đến làng thơ Việt Nam bầu không khí khác lạ, một thể thơ mới hoàn toàn từ hình thức đến nội dung. Nó đã phá cái cổ lệ để chính thức cho chào đời một lối thơ mới, mở màn cuộc thay đồi quan trọng của thi ca dân tộc ...” (VN thi nhân tiền chiến trang 87).

Tình Già
Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai mái đầu xanh kề nhau than thở.
Ôi đôi ta tình thương thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn là không đặng;
Ðể đến rồi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau
Hay! Nói mới bạc làm sao chớ! Buông nhau làm sao cho nở?
Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng, mà tính việc thủy chung?
Hai mươi bốn năm sau, tình cờ nơi đầt khách gặp nhau!
Ðôi mái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố nhìn ra được!
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi! con mắt còn có đuôi
Tình già tiêu biểu cho thể thơ mới từ hình thức đến nội dung và âm điệu, tình yêu thời ấy ảnh hưởng Nho giáo “Nam nử thụ thụ bất thân”, Nhưng Phan Khôi đã đưa tự do luyến ái, hai người “dám” ngồi bên nhau trong gian nhà nhỏ than thở chuyện tình ,tình yêu “thì vẫn nặng”, nhưng có thể hoàn cảnh gia đình hay xã hội để rồi “lấy nhau thi hẳn là không đặng” nên phải chia tay nhau …
Tình già của Phan Khôi cũng như mối tình của thế hệ chúng ta sau 1975. Tình yêu bị chi phối bởi biến cố đất nước, nhiều người phải đi vào tại tập trung cải tạo, hay đi vượt biên tìm tự do, đành bỏ người yêu ở lại, thời gian đi mãi không thể đợi chờ, nên mỗi người phải chọn cho mình một mái ấm gia đình. Đến giai đoạn lúc chính quyền Việt Cộng đổi mới mở cửa cho Việt kiều về thăm Quê hương, tìm thăm lại cố nhân mái tóc đã đổi màu “nếu chẳng quen lung chớ nhìn ra được”! Dù tình cũ nghiã xưa có trở về trong lòng của hai người, nhưng phải dừng lại trong giới hạn “ôn chuyện cũ mà thôi, Liếc mắt đưa nhau đi rồi, con mắt còn có đuôi.”
Nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan trong tập Nhà Văn Hiện Đại “Phan Khôi là một trong nhưng nhà văn xuất sắc nhất trong phái nho học ở một nhà cựu học như ông, người ta đã thấy nhiều cái mới quá, nhiều cái mà nhiều nhà tân học cũng cho là mới quá . Đó thật là một bất ngờ.”
Phan Khôi với bút hiệu “Tout seul / một mình” có lẽ đúng với đời ông, sống cô đơn, chết cũng trong cô đơn ở Hà Nội. Tuổi già bị bệnh mất ngày 16.01.1956 không người thân bạn bè đưa tiễn đến nơi an nghỉ cuối cùng (!!) bởi vì kẹt trong vụ án Nhân Văn (mời độc giả vào trang www.phanchautrinhdanang.com số tháng giêng năm 2005 tôi viết rõ về cuộc đời và sự nghiệp của Phan Khôi).
Phan Khôi từng lưu lạc ở Cà Mau, rừng núi thưọng du Bắc Việt trong thời gian kháng chiến chống Tây, không viết báo nhưng đã để lại những vần thơ thương cảm
Chơi thuyền trên sông Tân Bình
Eo đất vắt rừng già ra nước
Khỉ ho cò gáy tư bề
Ta đem thạn đến chốn nầy làm chi
Nhớ từ trẻ gian nguy từng trải
Bước giang hồ bước mãi chưa thôi
Mảnh thân còn chọi với đời
Hiểm nghèo là bạn, chơi vơi là nhà
Cảnh hiêu quạnh, có ta có chủ
không ta chẳng phụ lòng hoá công
Vẻ ra cái cảnh lạ lùng.
Làm cho cọp biển, cá đồng hay sao
Xuồng ba lá đâu là chàng Thổ
Rượu đế mang theo mỗ lưng bầu
Mũi chàng trước, lái ta sau
Mái chèo khoan nhặt con trào ngược xuôi
...
Người như rọ biết ý ta
Thi nâng chén rượu ma ca khúc nầy
Thơ Phan Khôi
Ngừng tim bặt óc lặng dòng tình
Tai mắt như không phải của mình
Thấy dưới ánh trăng muôn khúc nhạc
Nghe trong tiếng ếch một màu xanh
Suối tiên mát mẻ bao cho chán
Giấc mộng vờn mơn vẫn chẳng thành
Cái thú vui xưa nào thấy nữa
Ngủ say thức tỉnh dậy buồn tênh
Một mình đêm giao thừa
Ðến ngọn đèn làm bầu bạn cũng không có
Ðắp lên thân suy tàn một tấm chăn kép
Chợp mắt mơ là nhằm miếng chua cay
Có vợ con mà sống chia cách
Không sinh kế đành phải ăn nhờ
Nghe tiếng gà mừng vùng dậy
Kháng chiến bốn lần gặp xuân rồi!
Hớt tóc
Tuổi già thêm bệnh hoạn
Kháng chiến thấy thừa ra
Mối sầu như tóc bạc
Cứ cắt lại dài ra
Phan Khôi nổi tiếng trong thi đàn Việt Nam, ông còn là nhà viết báo, lý luận hay, thường bút chiến với nhiều nhà văn thuộc giới nho học, như Huỳnh Thúc Kháng, Phạm Quỳnh, ông dám kết án Phạm Quỳnh là “học phiệt” phê bình bộ Nho Giáo của sử gia Trần Trọng Kim. Ông xuất thân từ Quảng Nam “Quảng Nam hay cãi …”, nhưng cãi để đưa những đề tài trong sáng và xây dựng, không ác ý vì nghề nghiệp. Phan Khôi với đức tính muốn phục vụ chân lý, và lẽ phải. Phan Khôi lúc 18 tuổi đậu tú tài Hán văn, sau nầy học thêm chữ Quóc ngữ Pháp văn. từng dịch bộ Kinh thánh Tin Lành đầu tiên tại Việt Nam. Ông không ngại sửa văn của những người thuộc giới cựu trào nho học, “không phải tôi chê các cụ đã viết sai, nhưng tôi chê các cụ chưa viết đúng theo lề lối và tinh thần của người Tàu. Nên nhớ chữ Nho là chữ Tàu ...”
Nhà văn Lại Nguyên Ân đã sưu tầm những bài báo in thành sách (Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1928, do nhà xuất bản Đà Nẳng phát hành năm 2003).
Phan Khôi còn nhiều giai thoại khá hấp dẫn như “lý luận Phan Khôi”, “Khoai nhạc ngựa”, “Con gà xã hội chủ nghiã”, nhưng tôi trích lại câu chuyện! châm biếm giới quan lại dốt nát (ngày xưa gọi là quan còn ngày nay là Huyện, Tỉnh, Bí thư, Giám đốc ...) giữ việc trị dân để độc giả đọc thêm cho vui :
“Đọc lệch giết người”
Thừa đêm mưa gió, một tên đạo chích lén trộm chiếc chuông của chùa làng, và bị bắt. Nội vụ giải đến huyện quan. Ai cũng tưởng tên trộm sẽ bị tù, nào ngờ Quan huyện (ngày nay trong nước thường gọi là “Thủ Trưởng / hay Thủ Tướng” tha ngay hắn về.
Không bao lâu, làng lại bắt được một tên trộm chiếu và cũng giải nạp lên huyện đường. Nhưng lạ thay, quan Huyện (Thủ trưởng) dạy đem chém đầu tên trộm chiếu.
Hội đồng làng chẳng hiểu ra sao cả, trộm chuông là trọng tội mà được tha, còn trộm chiếu coi như cắp vặt lại bị giết, Thế là cả hội đồng làng kéo nhau lên huyện đường để nhờ quan chỉ dạy.
Huyện quan tỏ ra là bậc “dân chi phụ mẫu” dạy rằng:
“Các ngươi làm sao hiểu thấu phương cách chăn dân trị nước của bậc Thánh hiền. Ta đây xét xử mọi việc đều theo sách vở nghìn xưa để lại, bởi sách có câu: Phu tử chi đạo kỳ chung thứ giả, nghiã là Đức Phu tử dạy, trộm chuông thì hãy tha. Lại có câu: Triều văn đạo tịch tử khả hỉ, nghiã Triều đình truyền ăn trộm chiếu thì phải tội chết, Bởi các ngươi còn tối sách vở thánh hiền thì làm sao thông đạt nghiã lý.”
Hội đồng làng gật gù, tỏ vẻ khâm phục xá dài nói:
“Bẩm quan ngài, Ngài qủa là người thông đạt thiên kinh vạn sử, lũ chúng con sao sánh bằng.”
Vì bị chết oan, hồn tên trộm chiếu vất vưởng xuống Diêm đình đầu cáo Diêm Vương cho qủi sứ lên bắt hồn quan huyện xuống đối chất.
Diêm vương phán hỏi:
“Nhà ngươi xét xử thế nào mà tên nầy xuống đây kêu oan?”
Huyện quan thưa:
“Bẩm Diêm chuá, chúng con đứng ra chăn dân, cầm cân nẩy mực lẻ nào không hiểu lời Thành hiền dạy , Sách có câu “Phu tử chi đạo kỳ chung thứ giả” và “Triều văn đại tịch tử khả hỉ”. Con đã theo đúng sách vở mà tha cho tên trộm chuông và giết tên trộm chiếu để răn dạy kẻ khác.”
Nghe xong Diêm vương vổ án:
“Thôi rồi, Nhà ngươi làm đến chức Huyện quan mà hiểu sai bét cả sách vở Thánh hiền thì làm sao sao không giết oan uổng mạng người “Phu tử chi đạo kỳ trung (không phải chung) thứ giả”, nghiã là Đạo của Phu tử chi đạo kỳ trung thứ giả. chữ trung là trung dung, tức cái đạo không thiên về mặt nào mà mi đọc lệch chung ra cái chuông. Còn câu kia Triêu (không phải là triều là chữ đồng tự dị âm), văn đạo tịch tử khả hỉ, nguyên văn câu cuả thầy Nhan Hồi, học trò đức Khổng Tử viết để tỏ nhiệt tình với đạo của thấy có nghiã “sáng mà nghe được mùi đạo trung thứ chiều chết cũng cam”.
Triêu mà mi đọc là lệch là “triều” là triều đình, còn tịch là “buổi chiều” tịch dương mà mi đọc là “chiếu”. Để rồi giết oan một mạng người. cái dốt của nhà ngươi sẽ còn gây thêm nhiều oan khổ cho dân lành. Vậy ta bắt nhà ngươi đầu thai làm chó để bù tội lỗi.”
Quan lại sợ hãi, khúm núm thưa van xin:
“Thưa Ngài, Ngài có cho con đầu thai làm chó xin Ngài thương tình cho con làm con chó nái.”
Diêm vương ngạc nhiên hỏi:
“Chó đực hay chó cái đều là kiếp chó. Tại sao nhà ngươi xin đầu thai làm chó nái?”
“Bẩm Ngài, sách có câu “Lâm tài mẫu cẩu đắc, lâm nạn mẫu cẩu miễn”, con muốn đầu thai làm chó nái để “Gặp tiền thì chó mẹ được hưởng, gặp nạn thì chó mẹ được miễn.” Xin Ngài cho con làm chó nái.”
Diêm vương lắc đầu, chán nản:
“Thôi lại là cái dốt đặc cán mai của nhà ngươi. Lâm tài mẫu (mẫu đây có nghiã là không nên chứ không phải mẫu là mẹ) cẩu đắc, lâm nạn mẫu cẩu miễn nghiã là: gặp tiền tài không nên lấy bửa bãi, gặp nạn chớ bỏ qua. Thế mà nha ngươi hiểu ra “Chó nái dễ được tiền, tránh được tai nạn”. Thôi ta không cho ngươi đầu thai làm chó nái mà phải chôn sống nhà ngươi.”
Huyện quan than khóc: “con đập đầu trăm lạy nếu Ngài chôn sống con xin ngài rộng lượng chôn từ cổ trở xuống”.
Diêm Vương hỏi: "Chừ đầu cho mi thở"?
Huyện quan thưa:
“Thưa sách có câu: Thiên niên mai cốt bất mai tu (tu đây có nghiã là xấu hổ, giống như cọp chết để da người ta chết để tiếng) tu ở đây không phải là râu nhưng Huyện quan hiểu rằng ngàn năm chôn xác chứ không chôn râu …” (VN thi nhân tiền chiến trang 85)
Xã hội thời phong kiến, không phát triển về tự do ngôn luận hay nhân quyền, bởi vì đời sống dân trí còn thấp, nhưng ngày nay cũng nhiều nơi trên thế giới dù đất nước phát triển, thống nhất, hoà bình nhưng vẫn còn dung túng bọn quan lại dốt nát, không học nhưng mua bằng cấp ăn trên ngổi trốc có điạ vị cai trị dân độc tài bóc lột làm đất nước thêm khổ đau, người dân luôn sống trong trình trạng thấp cổ bé miệng! Chúng tôi xin đốt nén nhang tuởng nhớ cụ Phan Khôi mong Cụ chia sẻ với thế hệ chúng tôi, dù ngày nay là thế kỷ thứ 21!! vẫn còn như ngày Cụ còn tại thế!!
Nguyễn Quý Đại
TRẦN THỦY CHÂU VÀ VŨ ÁNH
Những Tâm Địa Hèn Kém Bạn thân mến,
Tin nhà văn Trần Khải Thanh Thủy được ra khỏi nhà tù nhỏ đã được cộng đồng hải ngoại đón nhận một cách vui mừng, nhưng theo sự hiểu biết của riêng Tuyết-Lan thì chắc có một vài người không vui lắm!? Không vui là vì họ không còn đối tượng dùng để tự đánh bóng tổ chức mình, vì số tác phẩm của Trần Khải Thanh Thủy mà họ dự định xuất bản dài dài, đã không còn “hot” nữa... Buồn năm phút! Vì tưởng sau chuyến kinh doanh đầy hệ lụy mấy tháng trước đây, nghe nói họ còn có một “xo-cờn sen-xơ” (second chance) để làm lại... chuyến khác, nào ngờ cộng sản chơi độc, hại anh em! Thật ra, chỉ có những tâm địa hèn kém mới không được vui thôi, phải không Bạn? Mất mối Trần Khải Thanh Thủy, nghe nói tập đoàn này đã tìm mối khác do ký giả Đê Vực Nguyễn Văn Thối lãnh đạo, nhằm kiếm tiền mua ống thổi cho “tiếng nói dân chủ bay xa”.
Niềm vui của cộng đồng tỵ nạn về tin nhà văn Trần Khải Thanh Thủy được ra tù đã không trọn vẹn, vì tại Cali vừa xảy ra một chuyện hèn hạ, thiếu lương thiện trí thức của một sinh viên Hội Họa và chủ bút một tờ báo lớn và lâu năm nhất.
Đó là chuyện tờ báo Người Việt số Xuân đã nhập nhằng hèn hạ có hành động xúc phạm đến lá cờ của Người Việt quốc gia. Báo Người Việt đã đăng bức hình nói là của nữ họa sĩ Huỳnh Thủy Châu, vẽ một cái bồn rửa chân của tiệm “Nail” sơn màu vàng tươi, chung quanh thành bên trong có ba sọc đỏ song song giống hệt lá cờ của quốc gia Việt Nam và một “lỗ cắm điện màu đỏ máu, có “phích” găm và dây điện màu vàng.
Rõ ràng bức hình này có ngầm chứa “một ý đồ” miệt thị một đối tượng mà bản thân của sinh viên hội họa Huỳnh Thủy Châu mang mặc cảm thua kém. Về mặt tâm lý, nói lén, vẽ theo lối ám chỉ để đánh phá kẻ khác là do ganh tỵ và sợ hãi đối tượng đánh phá, tương tự như những đứa tôi tớ nói lén chủ. Tất cả những hành vi này đều xuất phát từ bản chất hèn hạ, tâm địa đê tiện. Ở trường hợp của Huỳnh Thủy Châu, có thể còn một mục tiêu khác nữa đó là “lập công” với Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa, vì chính cái nhà nước Xui Hết Chỗ Nói này cũng rất sợ lá cờ vàng ba sọc đỏ đang hùng dũng tung bay trên khắp vùng trời Tự Do. Một sinh viên Hội Họa và chủ bút tờ báo Người Việt đã có chung một tâm địa hèn ha, nên đã toa rập nhau, lập công dâng đảng trong ngày Tết.
Ban ơi, thật đáng trách và đáng khinh là tay chủ bút báo Người Việt và thật đáng thương, đáng xót cho sinh viên Hội Họa Huỳnh Thủy Châu. Chủ bút báo Người Việt thì chắc không còn bao lâu nữa, nhưng Huỳnh Thủy Châu thì còn cả một chuỗi năm tháng dài thoòng trước mắt. Một nghệ sĩ mà mang tâm địa hẹp hòi, hèn hạ, lén lút, thì sẽ không có tương lai cho những sáng tác của mình. Bạn thử nhìn kỹ cái gọi là tranh của Huỳnh Thủy Châu: về bố cục, không có gì thể hiện “khiếu thẩm mỹ”, về chất liệu đã bộc lộ sự yếu kém về “études – studies”, về quan sát thẩm mỹ. Nguyên do chỉ vì muốn đem một ý tưởng xiên xỏ, méo mó chính trị vào trong tranh.
Mới nhìn qua, ai cũng tưởng là hình chụp, chứ không thấy giống tranh vẽ. Đây là một thất bại trong hội họa. Vẽ giống như chụp hình thì không phải là họa sĩ, mà chỉ là thợ vẽ, mà đã là thợ vẽ thì chỉ có thể về Việt Nam vẽ theo đơn đặt hàng của Đảng để nuôi thân, chứ ở Mỹ thì không có tương lai. Nếu bà sinh viên Hội Họa Huỳnh Thủy Châu không rời bỏ cái tâm hèn hạ đi, thì sự nghiệp vẽ vời của bà sẽ giống như cái “bọt nước” là tên chữ của bà mà thôi. Trong cuộc sống của con người có ba lý tưởng cần phải vươn tới để làm tròn chức vụ làm người đích thực, đó là “Chân, Thiện và Mỹ”. Cái đẹp phải đi với Thiện và sự Thật. Nơi một người nhờ thẩm mỹ viện mà trở nên rất đẹp... nếu người ta phát giác ra toàn “đồ giả” thì cảm thức về đẹp sẽ tiêu tan ngay. Lý do đơn giản: Mỹ không đi với Chân nên bất Thiện.
Trường hợp của bà sinh viên Hội Họa Huỳnh Thủy Châu, tranh của bà còn mang một điều bất thiện thứ hai: đó là, bà đã không tôn trọng quá khứ của gia đình Mẹ Chồng. Nếu không có lá cờ vàng ba sọc đỏ của miền Nam Tự do che chở, thì Mẹ Chồng bà lấy cái gì làm thông hành chạy trốn cộng sản để qua Mỹ, làm lụng nuôi con trai, cho ăn học để nay bà qua lấy làm chồng? Bà lấy chồng người quốc gia mà tâm tư bà mơ màng cộng sản, rồi cái tiềm thức phản bội của bà đã chuyển vào bức tranh cái bồn rửa chân của ngành nghề Mẹ Chồng, thật là nguy hiểm cho tương lai của gia đình bà.
Mục đích của nghệ thuật là đem lại hạnh phúc cho người thưởng ngoạn, làm cho tâm hồn thăng hoa, không nên lợi dụng nghệ thuật vào mục đích chính trị, nhất là để lén lút xỏ xiên người khác. Phải không Bạn?
Thân mến chào Bạn.
Tuyết-Lan

ĐÀN ÔNG YÊU BẰNG GÌ?
° HÀ THÚC SINH
YÊU BẰNG MŨI? Trong số báo “Ngày Nay Houston” của người Trương Trọng Trác mới đây, tác giả Nguyễn Ngọc Bảo có bài bàn về “yêu” mang tựa đề bên trên. Bài hay. Tác giả ra công vinh danh cái hơi hướm nơi người đàn bà và dõng dạc khẳng định rằng: “Chúng tôi yêu các bà bằng mũi!!!”
Ông Bảo viện dẫn từ những câu Quan Họ như: “Cô kia có áo mới may, xin cho tôi mượn vài ngày lấy hơi.” (Xin có tí ý kiến: áo mới may thì không thể có hơi của nàng được, nếu có ắt là của... ông thợ may thôi. Cẩn thận kẻo bé cái nhầm thì nguy!) Miền Nam cũng thế: “Chim quyên ăn trái nhãn lồng; Lia thia quen chậu vợ chồng quen hơi.” Tới Tự Đức thì: “Xếp tàn y lại để cầm hơi.” Đến Thúc Sinh cứ tưởng Kiều chết, bao đêm trăn trở nhớ nhung để: “Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa.” Và gần hơn cả là câu thơ bất hủ của Quang Dũng: “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới; Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm.”Nhớ cái hương gái Hà Thành (ngày xưa thôi!) mà khi ngóng qua biên giới mắt chàng cứ trợn dọc như người lên kinh phong thế kia thì kể là ghê thật, cái hơi hướm của người đàn bà quả là đáng nể thật!
Người viết đọc xong rất là tán đồng với tác giả, kể cả việc ông khéo léo khuyên một số chị em “... rằng mỗi phụ nữ có một hơi hướm tự nhiên, nhưng mức độ quyến rũ của những thứ hơi này lắm khi khác nhau một cách khá phũ phàng. Ấy thế nhưng các chị đừng lo, ngành công kỹ nghệ mỹ phẩm đã bổ túc những khuyết điểm Tạo hoá lỡ mắc phải khi tạo nên con người các chị. Các chị còn chần chừ gì nữa? Hãy ghé shopping nhanh nhanh lên...”
Tán đồng là vì trong nghề viết của chúng tôi, chúng tôi cũng đã lắm phen... hít hà bày tỏ những điều tương tự. Cứ thử tưởng tượng mùa đông ở đây lạnh lùng là thế, những ngày nghỉ ngồi nhìn qua cửa sổ, nghe gió rét vi vu thổi trên những cành Lê cành Đào trơ xương, nhìn bầu trời ảm đạm và vầng thái dương thì như một con mắt mù lòa, còn ảo giác nào đẹp hơn khi lời cầu nguyện củamột nhạc sĩ: “... Ôi có phép lạ nào, cho tự nhiên trời, mùa đông rực sáng, về đây tà áo còn thơm mùi nắng...” trở thành sự thật. Trời ơi, một người đẹp Gia Long của một ngày xưa nào đó chẳng hạn, hiện đến với mình mà từ tóc tới chân đều thơm một mùi nắng Sài Gòn...
Nhưng việc tán đồng vụ cái mũi vẫn có một giới hạn, và chắc quý bạn đọc cũng đồng ý với người viết như thế.
Cứ thử tưởng tượng một người đẹp... thơm ơi là thơm, được mai mối cho một người đàn ông tuyệt nhiên không bị bệnh nặng tai, và câu đầu tiên nàng thủ thỉ vào tai chàng sẽ như thế này: “Reâ xu ma... tìm ra cái quán chỗ anh hẹn này thật naø rêm rả hết cả tứ chi, cứ như bị quân rữ nó rằn ấy thôi!” Giọng oanh như thế có mà không nhảy chàng vẫn cứ tưng lên khỏi mặt ghế chư chơi!
Người viết, vì đó, lại hơi tin rằng đa phần cánh đàn ông nếu được tuyên bố, sẽ nói: “Không, chúng tôi yêu các bà bằng tai cơ!”
YÊU BẰNG TAI? Thưa vâng, chẳng có lớp nhạc vỡ lòng nào trên thế giới từ cổ chí kim mà các môn sinh lại không từng nghe giảng câu châm ngôn này: “Có Âm Nhạc Trước Tất Cả Mọi Sự!” Thủa hồng hoang đã có gió thổi trên cây, nước chảy trong khe... Rồi bên cái khe nào đó có cây táo mọc trong vườn địa đàng. Cứ thử hỏi lúc bị con rắn rù quến, bà E-và nhà ta mà cọc cằn như nhà mụ Tú Bà thì làm sao xúi nổi ông A-dong dám muốn to ngang bằng Chúa đến nỗi liều nuốt quả táo để mắc kẹt nơi họng? Ôi tiếng nói ấy phải bùi tai lắm, phải ngọt như mật và thấm thía như đường phèn mới tạo ra được nông nỗi... ở truồng cả đám và bị đuổi khỏi vườn địa đàng.
Vừa nhắc đến Tú Bà thì người viết làm sao tránh khỏi liên tưởng đến Kiều, đến anh chàng Kim Trọng! Lúc sơ ngộ, Kim Trọng nào có sử dụng chi đến cái mũi. Rõ ràng là chàng đã sử dụng cái tai. Để thử xem giọng nàng tốt xấu ra sao, chàng bèn “Ngụ tình tay thảo một thiên luật Đường.” Thơ Trọng hay đến nỗi vừa trao cho Kiều xem, nàng đã phải buột miệng khen rằng: “Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu.” Ơ hay, bộ người ta huỗn lắm sao mà phóng thơ ra để chỉ nhận được một lời khen công thức! Kiều vốn thông minh, lại “pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm” thì nhất định là nàng đã lấy giọng ngâm ngay bài này. Vâng, người viết nói không sợ ngoa ngôn, có số bách phân rất cao là Kim Trọng đã đi vào mê lộ của Kiều bằng ngã này, ngã lỗ tai.
Francis Lais đã mở đầu tình ca nổi tiếng của ông, “Love Story,” bằng câu “With the first hello...” có lẽ vì ông cũng là một người... yêu bằng lỗ tai. Thử tưởng tượng chữ “hello” ngắn ngủi ấy được người đẹp nói ra mà không tạo nổi một chấn động âm thanh lớn trong lòng nhạc sĩ, biết đâu ông đã không tắt ngấm ngay ở trường canh thứ 2 và trần gian đã không có được bài hát hay như vậy. Vâng, chúng tôi yêu quí nương vì cái giọng nói sang, êm, lôi cuốn, phát âm chỉnh và có sức mạnh đến nỗi khi quí nương ngâm thơ thi sĩ phải thức đêm đến bơ phờ mà làm thêm thơ, khi hát nhạc sĩ phải xin nghỉ sở ở nhà mà sáng tác thêm nhạc, và khi đọc truyện thì nhà văn chỉ có nước thác vì lỡ bỏ bút từ lâu, và việc viết trở lại không bao giờ là một việc dễ dàng. Nói tóm lại, đám đàn ông phần lớn yêu người đàn bà vì cái giọng trước tiên, nhất là giọng ấy, nói một cách thậm xưng, có sức lôi cuốn làm cho “kiến đang dưới lỗ phải bò ngay lên.”
Giong ấy không thể là “giọng chuông vàng thủ đô.” Người đàn ông yêu người đàn bà bằng cái tai mà giọng nàng lại dội như cái chuông thì bố ai mà chịu thấu. Người viết không hiểu nổi hồi xưa ai xúi dại các bà Kim Chung Kim Chưởng để đi lấy cái câu “Tiếng chuông vàng thủ đô” mà quảng cáo cho đoàn hát của họ. Ngày ở Sài Gòn thời tiền 75 cái băng đánh chén thường xuyên của người viết gồm Nguyễn Vương, Anh Việt Thu, và anh Hưởng (giám đốc đoàn Kim Chung). Đã có lần người viết hỏi anh câu này anh đã bí rị. Nhảm thật. Hỏi thử đời này mấy ai dám đem lòng yêu một người đàn bà có giọng nói vang như tiếng chuông. Đinh tai nhức óc lắm nếu nói về sự chấn động, còn nói về tinh thần thì tiếng chuông chùa chỉ làm người ta nghĩ đến chuyện... diệt dục, và tiếng chuông thánh đường chỉ khiến người ta cố làm sao để nếu không trở thành “em hiền như ma soeur” được, thì ít ra cũng phải hiền như một... mon frère. Người viết lần đầu tiên được người lớn dẫn đi coi tuồng “Lan và Điệp” ở Hà Nội năm 1953. Khi cảnh Lan cắt đứt dây chuông đoạn tình với Điệp, xin thú thật chú lỏi tôi thời ấy đã... hực lên mà khóc. Sau vào Nam, khôn lớn dần, có lúc nghĩ lại và tự hỏi tại sao hồi ấy mình khóc. Câu tự trả lời là: Thương anh Điệp dại khờ quá. Gõ cửa không gõ, cứ giật chuông chùa thì cái dục (nếu còn sót lại) ở Lan chắc chắn đã bị turned off và nàng cắt đứt luôn dây chuông cho đỡ bực mình là phải.
Hồi còn sống dưới miền Nam California người viết từng lâm những cơn hãi hùng. Ở dưới đó có một đài trong vùng mà cô em xướng ngôn có giọng nói không ai đoán nổi cô vốn sinh đẻ ở miền nào của đất nước. Chỉ biết mỗi điều ông chủ đài và cô xướng ngôn đều có vẻ hơi coi thường thính giả. Vâng, quý vị đã bao giờ vượt biên bằng ngả Bạc Liêu chưa? Cuối năm 80 từ tỉnh lỵ Bạc Liêu đi ra quận duyên hải Vĩnh Châu chỉ có một con lộ duy nhất trải đá, không phải đá vụn, đá sỏi hay đá cuội nhỏ đâu, nó là loại đá núi, tảng nào tảng nấy to như cái ấm tích nước. Mỗi ngày từ Bạc Liêu chạy ra Vĩnh Châu chỉ có một chuyến xe chở hành khách duy nhất (bằng một chiếc GMC ngày cũ), thế mà cánh vượt biên dám liều mạng đánh đường này. Thật là kinh khủng. Đoạn đường đã nhồi họ như những cầu thủ bóng rổ nhồi quả bóng. Xuống tới Vĩnh Châu già trẻ đều như gãy hết xương sống.
Giờ quý vị hãy tưởng tượng phải nghe một giọng phụ nữ đọc một đoạn thơ sau đây bằng cái giọng không hiểu là nam, bắc, hay trung, và tất cả mọi dấu hỏi đều được thay bằng dấu ngã:
Anh hõi rằng em mấy tuỗi rồi,
Em rằng còn trẽ lắm anh ơi;
Chồng em thì chữa, vâng em chữa,
Nhưng đám con em đã bẫy rồi...
Em ỡ nơi này tưỡng đã lâu,
Anh nào đễ ý đến em đâu.
Người chi giờ hõi vô duyên nhĩ!
Mập đấy, còn đâu được bễ bầu...
Đại khái thế. Nghe một giọng oanh vàng gồ ghề khấp khểnh đến như vậy mà làm truyền thông thì thật là cỡi xe GMC trên đoạn đường đá tảng Bạc Liêu—Vĩnh Châu e đau lưng cũng đến thế là cùng.
Nhưng giọng sang, êm, phát âm chỉnh, lôi cuốn... coi vậy mà vẫn có thể chưa đủ. Chữ nghĩa còn phải giàu và phải tao nhã nữa mới được. Cứ thử tưởng tượng cô em đi chơi lần đầu với chàng, mua sắm nhiều, rồi khi trở ra xe, thấy chàng loại “vai năm tấc rộng lưng mười thước cao,” người đẹp chìa cái giỏ đựng đầy trái cây, nói như rót mật vào tai chàng: “Anh ơi, anh đô con phát khiếp thế kia, anh cầm giùm em cái đồ này được không” là muốn hỏng kiểu đến nơi rồi. Ấy là chưa kể sau đó cả hai kéo nhau vào tiệm ăn, thấy chàng cứ ngồi thừ người ra mà nhìn mình, nàng gắp bỏ vào bát chàng thức ăn, rồi dịu dàng bảo: “Anh ăn cái cục thịt này đi, nó hầm với cái quỷ sứ gì mà ngon tàn nhẫn!”
KẾT LẠI Đến đây đọc lại từ đầu người viết có hơi giật mình và tự thấy không nên lan man thêm, vì cứ lan man kiểu này sợ rồi cánh viết lách không lâu nữa đều sẽ trở thành những bác sĩ tai mũi họng hết. Vả lại, càng nghĩ, càng thấy cánh đàn ông yêu đàn bà còn nhiều trường phái lắm chứ chẳng riêng gì trường phái tai mũi họng. Xem, nhà thơ Đinh Hùng nếu còn tại thế mà đọc bài này có thể ông cũng cao hứng viết ngay một bài “Tôi Yêu Đàn Bà Bằng Tay” vì thơ ông có câu “Một sợi tóc đủ làm nên mê hoặc” (Tóc thì để vuốt mà lẽ tất nhiên vuốt thì phải bằng tay); hoặc giả ông Lý Bạch cũng thế, còn sống dám ông cũng viết một bài “Tôi Yêu Đàn Bà Bằng Mắt” vì ông đã có thơ tán tụng Dương Quý Phi rằng “Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung” (Nhìn y phục mà nghĩ đến mây, nhìn nhan sắc mà nghĩ đến hoa); hoặc ngay kẻ viết bài này, tư nhiên giật mình tự hỏi không rõ mình từng yêu đàn bà theo trường phái nào, khi mà năm mười bảy tuổi, trong một lần... hoảng hốt đã làm một bài thơ có ý tạ lỗi trong có câu “Nếm nước mắt em thấy tình mằn mặn...”
Vậy thì thôi vậy, xin tự xếp đề tài trên vào ngăn kéo của những vấn đề bất khả tranh luận.
° HÀ THÚC SINH
Những Tiếng Rao Đêm
Tuổi thơ sống trong một hẻm phố nghèo và hay ăn quà vặt, những tiếng rao đêm qua nhiều năm tháng trở thành một nỗi ám ảnh trong tôi. Có bao nhiêu thức quà bánh, thì cũng có chừng ấy tiếng rao. Mà ngay cả những người bán cùng một mặt hàng quà bánh, tiếng rao cũng không có một chút gì giống nhau. Tiếng rao của các em nhỏ khác rất nhiều tiếng rao của người già. Phụ nữ rao hàng cũng khác đàn ông. Nó không chỉ mang sắc thái của giới tính, tuổi tác mà dường như thoảng trong tiếng rao là cái gì đó rất hoàn cảnh của một đời người. Có thể cảm được, và hình dung được. Có một điểm chung là tiếng rao nào nghe cũng buồn buồn xa xót, cứ bị ngắt quãng ở những âm vực không thể ngờ được. Bạn hãy hình dung giúp tôi, vào một ngày mùa đông, mưa gió bão bùng, rét thâm tím phố, bỗng xé toanh màn đêm là tiếng rao khàn "mì nóng dòn... đơi..". Rồi một cụ già nhỏ thó bó mình trong một tấm tơi mỏng, bước đi dò dẫm như thể không có mục đích. Hàng đêm, cứ vào một giờ nhất định, cụ lại đi qua ngõ phố nhà tôi. Cho đến một ngày không thấy cụ nữa...
Thèm đi và hay đi, qua mỗi vùng đất, tôi lại nhận ra cái nết riêng của những tiếng rao đêm. Trong sổ tay riêng của tôi ghi chép nhiều tiếng rao hay và lạ, có kí âm và ghi chú hẳn hoi. Một lần trú lại Bình Định, suốt ngày đã mệt nhoài với mấy cái tháp Chàm, đêm về ngã lưng đã nghe tiếng rao "Ơi bén hò đơi..." (ai bánh hỏi đây) vừa lạ vừa vui. Rao vui nhất là người bán trứng vịt lộn. Tôi ước chừng thị xã Pleiku là nơi bán rao trứng vịt lộn nhiều nhất. Đêm nào nằm ở nhà người quen trên đường Hai Bà Trưng, cũng nghe "Hô... vi lô đơi..." (hột vịt lộn đây). Có hôm mệt mỏi, chỉ nghe một tiếng rao tắt: "lộn đơi"... Chữ "lộn" do nguyên tắc hài thanh, khi rao nghe tục nhưng mà thanh, vừa buồn cười vừa thú vị.
Lại nhớ có một lần cùng anh bạn người xứ Nẫu, ngồi lai rai trên một vỉa hè ở Huế. Đang vui và hăng, bỗng tôi thấy mặt anh đực ra lo lắng như con ngỗng. Cố át tiếng mưa tôi hỏi "cậu đau à ?". Anh đưa tay lên miệng ra dấu im lặng "dường như tau nghe có tiếng rao bán bánh cốm". Tôi chả nghe thấy gì còn anh thì cứ thấp thỏm "đấy, đấy, đấy, đang đến gần đấy". Và đúng là... cuối cùng trong làn mưa, xuất hiện hai cái bầu to như trong truyện Tam quốc và tiếng rao cấp thúc hối hả "Cúm, cúm, cúm...đơi". Tiếng rao đi qua, anh như một con người khác, không nói không cười, mặt buồn dàu dàu. Mãi sau trước lúc về anh bảo: "Tau nhớ quê...Ba tau ngày xưa bán cốm dạo nuôi tau thành bác sĩ bây giờ".
Gần đây phố xá cứ cao mãi lên. Người thì nhiều, mà tiếng rao đêm lại cứ vắng dần. Hôm rồi, ra Hà Nội, ở tít trên tầng sáu của khu phố trung tâm. Bỗng dưng thèm nghe thèm biết người Hà Nội bán quà bánh đêm rao như thế nào. Nhưng làm sao nghe được. Chỉ nghe có tiếng rao của gió Tây hồ vọng đến, thao thao như tiếng nói của người.
Nguyễn Xuân Hoàng
Tuổi thơ sống trong một hẻm phố nghèo và hay ăn quà vặt, những tiếng rao đêm qua nhiều năm tháng trở thành một nỗi ám ảnh trong tôi. Có bao nhiêu thức quà bánh, thì cũng có chừng ấy tiếng rao. Mà ngay cả những người bán cùng một mặt hàng quà bánh, tiếng rao cũng không có một chút gì giống nhau. Tiếng rao của các em nhỏ khác rất nhiều tiếng rao của người già. Phụ nữ rao hàng cũng khác đàn ông. Nó không chỉ mang sắc thái của giới tính, tuổi tác mà dường như thoảng trong tiếng rao là cái gì đó rất hoàn cảnh của một đời người. Có thể cảm được, và hình dung được. Có một điểm chung là tiếng rao nào nghe cũng buồn buồn xa xót, cứ bị ngắt quãng ở những âm vực không thể ngờ được. Bạn hãy hình dung giúp tôi, vào một ngày mùa đông, mưa gió bão bùng, rét thâm tím phố, bỗng xé toanh màn đêm là tiếng rao khàn "mì nóng dòn... đơi..". Rồi một cụ già nhỏ thó bó mình trong một tấm tơi mỏng, bước đi dò dẫm như thể không có mục đích. Hàng đêm, cứ vào một giờ nhất định, cụ lại đi qua ngõ phố nhà tôi. Cho đến một ngày không thấy cụ nữa...
Thèm đi và hay đi, qua mỗi vùng đất, tôi lại nhận ra cái nết riêng của những tiếng rao đêm. Trong sổ tay riêng của tôi ghi chép nhiều tiếng rao hay và lạ, có kí âm và ghi chú hẳn hoi. Một lần trú lại Bình Định, suốt ngày đã mệt nhoài với mấy cái tháp Chàm, đêm về ngã lưng đã nghe tiếng rao "Ơi bén hò đơi..." (ai bánh hỏi đây) vừa lạ vừa vui. Rao vui nhất là người bán trứng vịt lộn. Tôi ước chừng thị xã Pleiku là nơi bán rao trứng vịt lộn nhiều nhất. Đêm nào nằm ở nhà người quen trên đường Hai Bà Trưng, cũng nghe "Hô... vi lô đơi..." (hột vịt lộn đây). Có hôm mệt mỏi, chỉ nghe một tiếng rao tắt: "lộn đơi"... Chữ "lộn" do nguyên tắc hài thanh, khi rao nghe tục nhưng mà thanh, vừa buồn cười vừa thú vị.
Lại nhớ có một lần cùng anh bạn người xứ Nẫu, ngồi lai rai trên một vỉa hè ở Huế. Đang vui và hăng, bỗng tôi thấy mặt anh đực ra lo lắng như con ngỗng. Cố át tiếng mưa tôi hỏi "cậu đau à ?". Anh đưa tay lên miệng ra dấu im lặng "dường như tau nghe có tiếng rao bán bánh cốm". Tôi chả nghe thấy gì còn anh thì cứ thấp thỏm "đấy, đấy, đấy, đang đến gần đấy". Và đúng là... cuối cùng trong làn mưa, xuất hiện hai cái bầu to như trong truyện Tam quốc và tiếng rao cấp thúc hối hả "Cúm, cúm, cúm...đơi". Tiếng rao đi qua, anh như một con người khác, không nói không cười, mặt buồn dàu dàu. Mãi sau trước lúc về anh bảo: "Tau nhớ quê...Ba tau ngày xưa bán cốm dạo nuôi tau thành bác sĩ bây giờ".
Gần đây phố xá cứ cao mãi lên. Người thì nhiều, mà tiếng rao đêm lại cứ vắng dần. Hôm rồi, ra Hà Nội, ở tít trên tầng sáu của khu phố trung tâm. Bỗng dưng thèm nghe thèm biết người Hà Nội bán quà bánh đêm rao như thế nào. Nhưng làm sao nghe được. Chỉ nghe có tiếng rao của gió Tây hồ vọng đến, thao thao như tiếng nói của người.
Nguyễn Xuân Hoàng
Tờ giấy trắng
Có một lần, tại một trường trung học, ngài hiệu trưởng đến gặp các em học sinh để nói chuyện. Trong khi nói, ông giơ lên cho các em thấy một tờ giấy trắng, trên đó có một chấm tròn đen ở một góc nhỏ, và hỏi:
- Các em có thấy đây là gì không?
Tức thì cả hội trường vang lên:
- Đó là một dấu chấm.
Ngài hiệu trưởng hỏi lại:
- Thế không ai nhận ra đây là một tờ giấy trắng cả ư?
Và ngài kết luận:
- Thế đấy, con người luôn luôn chú ý đến những lỗi nhỏ nhặt, mà quên đi tất cả những phẩm chất tốt đẹp còn lại. Khi phải đánh giá một sự việc, hay là một con người, thầy mong các em sẽ chú ý đến tờ giấy trắng nhiều hơn là những vết bẩn có trên nó.
Câu chuyện của cái tách trà
Trước đây, tôi không phải là tách trà đâu, tôi là đất sét đỏ cơ. Rồi có 1 người đem tôi cuộn lại, đập dẹt ra, rồi nhào, rồi lại đập dẹt. Cứ như thế và tôi đã hét lên: "Buông tôi ra", nhưng ông ấy chỉ cười: "chưa được đâu!". Rồi ông ta lại đặt tôi lên 1 cái bàn xoay liên tục đến mức tôi lại phải kêu oai óai: "dừng lại đi, tôi chóng mặt lắm". Thế nhưng ông ta chỉ gật gù: "Chưa đâu"!. Rồi ông ấy lại đặt tôi vào lò, nóng khủng khiếp. Tôi ko hiểu tại sao ông ta lại muốn hành hạ tôi, đốt tôi. Tôi đập vào thành lò bôm bốp, nhưng rất lâu sau ông ta mới chịu mở ra: "Chưa đâu, chưa được đâu!"
Một lúc sau, tôi được ông ta lôi ra & đặt ngồi lên kệ và tôi nguội dần. "Dễ chịu quá". Nhưng chẳng được bao lâu, con người khó tính kia lại lôi tôi ra & lấy sơn vẽ lên khắp người tôi. Tôi không chịu được cái mùi ấy. Tôi gào lên: "Dừng lại đi mà" nhưng ông ta vẫn chỉ gật gù: "Chưa đâu". 1 lần nữa tôi lại bị đặt vào lò & lần này cái lò nóng gấp đôi lần trước. Tôi sắp chết ngạt đến nơi. Tôi khóc, van xin, nhưng ông chủ vẫn nói: "Chưa đâu!". Tôi chẳng còn hi vọng & sẵn sàng đầu hàng. Đột nhiên cửa lò bật mở, ông ta bế tôi ra & cẩn thận đặt lên kệ. Ông đi đâu đó & khi trở lại, ông đưa cái gương lại trước mắt tôi: "Nhìn mình xem". Tôi nhìn & chính tôi cũng phải thốt lên: "Đó ko phải là mình được. Mình đẹp quá đi mất"!
Ông chủ của tôi bây giờ mới nói: " Con của ta, ta biết là bị nhào nặn là đau đớn lắm nhưng nếu ta không làm thế, con sẽ khô đi & vô dụng. Ta biết bị xoay trên bàn nặn là chóng mặt lắm, nhưng nếu ngừng lại con sẽ bị bở ra & méo mó bất thành nhân dạng, ta biết lò nung rất nóng và làm con rát bỏng nhưng nếu ko vào trong đó, con sẽ mong manh và nứt vỡ. Ta biết bị sơn lên người thì mùi khó chịu lắm, nhưng nếu không làm vậy, con sẽ nhạt nhẽo chẳng có màu sắc nào trong đời cả. Nếu ta không đặt con vào lò nung thêm lần nữa thì con sẽ chẳng cứng và bền. Còn giờ đây, sau bao nhiêu khổ luyện, con là 1 sản phẩm hòan chỉnh, đẹp như ta tưởng tượng ngay từ lúc đầu, tách trà nhỏ bé ạ!"
Tôi trở thành 1 tách trà đẹp như thế! Còn bạn, bạn có dám trở thành 1 tách trà đẹp như tôi không?
3G siu tìm trên Internet
Có một lần, tại một trường trung học, ngài hiệu trưởng đến gặp các em học sinh để nói chuyện. Trong khi nói, ông giơ lên cho các em thấy một tờ giấy trắng, trên đó có một chấm tròn đen ở một góc nhỏ, và hỏi:
- Các em có thấy đây là gì không?
Tức thì cả hội trường vang lên:
- Đó là một dấu chấm.
Ngài hiệu trưởng hỏi lại:
- Thế không ai nhận ra đây là một tờ giấy trắng cả ư?
Và ngài kết luận:
- Thế đấy, con người luôn luôn chú ý đến những lỗi nhỏ nhặt, mà quên đi tất cả những phẩm chất tốt đẹp còn lại. Khi phải đánh giá một sự việc, hay là một con người, thầy mong các em sẽ chú ý đến tờ giấy trắng nhiều hơn là những vết bẩn có trên nó.
Câu chuyện của cái tách trà
Trước đây, tôi không phải là tách trà đâu, tôi là đất sét đỏ cơ. Rồi có 1 người đem tôi cuộn lại, đập dẹt ra, rồi nhào, rồi lại đập dẹt. Cứ như thế và tôi đã hét lên: "Buông tôi ra", nhưng ông ấy chỉ cười: "chưa được đâu!". Rồi ông ta lại đặt tôi lên 1 cái bàn xoay liên tục đến mức tôi lại phải kêu oai óai: "dừng lại đi, tôi chóng mặt lắm". Thế nhưng ông ta chỉ gật gù: "Chưa đâu"!. Rồi ông ấy lại đặt tôi vào lò, nóng khủng khiếp. Tôi ko hiểu tại sao ông ta lại muốn hành hạ tôi, đốt tôi. Tôi đập vào thành lò bôm bốp, nhưng rất lâu sau ông ta mới chịu mở ra: "Chưa đâu, chưa được đâu!"
Một lúc sau, tôi được ông ta lôi ra & đặt ngồi lên kệ và tôi nguội dần. "Dễ chịu quá". Nhưng chẳng được bao lâu, con người khó tính kia lại lôi tôi ra & lấy sơn vẽ lên khắp người tôi. Tôi không chịu được cái mùi ấy. Tôi gào lên: "Dừng lại đi mà" nhưng ông ta vẫn chỉ gật gù: "Chưa đâu". 1 lần nữa tôi lại bị đặt vào lò & lần này cái lò nóng gấp đôi lần trước. Tôi sắp chết ngạt đến nơi. Tôi khóc, van xin, nhưng ông chủ vẫn nói: "Chưa đâu!". Tôi chẳng còn hi vọng & sẵn sàng đầu hàng. Đột nhiên cửa lò bật mở, ông ta bế tôi ra & cẩn thận đặt lên kệ. Ông đi đâu đó & khi trở lại, ông đưa cái gương lại trước mắt tôi: "Nhìn mình xem". Tôi nhìn & chính tôi cũng phải thốt lên: "Đó ko phải là mình được. Mình đẹp quá đi mất"!
Ông chủ của tôi bây giờ mới nói: " Con của ta, ta biết là bị nhào nặn là đau đớn lắm nhưng nếu ta không làm thế, con sẽ khô đi & vô dụng. Ta biết bị xoay trên bàn nặn là chóng mặt lắm, nhưng nếu ngừng lại con sẽ bị bở ra & méo mó bất thành nhân dạng, ta biết lò nung rất nóng và làm con rát bỏng nhưng nếu ko vào trong đó, con sẽ mong manh và nứt vỡ. Ta biết bị sơn lên người thì mùi khó chịu lắm, nhưng nếu không làm vậy, con sẽ nhạt nhẽo chẳng có màu sắc nào trong đời cả. Nếu ta không đặt con vào lò nung thêm lần nữa thì con sẽ chẳng cứng và bền. Còn giờ đây, sau bao nhiêu khổ luyện, con là 1 sản phẩm hòan chỉnh, đẹp như ta tưởng tượng ngay từ lúc đầu, tách trà nhỏ bé ạ!"
Tôi trở thành 1 tách trà đẹp như thế! Còn bạn, bạn có dám trở thành 1 tách trà đẹp như tôi không?
3G siu tìm trên Internet

NHỮNG TÌNH KHÚC CHIẾN TRƯỜNG
MỘT THỜI TUỔI LÍNH DẪN TA ÐI TÌM ÐỒNG ÐỘI CŨ KHẮP CHỐN THÂN QUEN
MƯỜNG GIANG
(Viết tặng Anh Nam Lộc và Trung Tâm ASIA) Cuộc chiến VN kéo dài gần ba mươi năm (1945-1975) nay xem như đã kết thúc nhưng đâu đó dường như vẫn còn những tiếng rên nghẹn ấm ức của những người lính già Miền Nam thua trận đã may mắn được sống sót sau một cuộc đổi đời. Tất cả như một màn kịch có nhân vật, thời gian và địa điểm, được đạo diễn cho mở màn và kết thúc sân khấu một cách tài tình. Có điều màn kịch được các diễn viên hay nói đúng hơn đó là những người lính trận mà hầu hết đang ở cái tuổi "xuân thì đầy mộng mơ hoa bướm" ghi lại qua những "Tình Khúc" được viết từ mặt trận đang còn nghi ngút khói, bên xác của bạn lẫn thù, đã làm cho những người xem sửng sốt tới rơi lệ vì không mấy ai tin là sự thật.
"băng đạn cuối chìm rơi khi qua sông
người lính mệt nhoài nằm ngủ
đầu dựa góc đa
hàng bình vôi trắng răng cười cợt
thép súng khô dầu bụi nước hoen
có phải hòa bình vừa nở một bông hoa
nở giữa tình yêu và tiếng hát..."
(Thi Vũ tháng 1/1973 - thơ tình của người lính)
Họ là lính nên ai cũng viết rất chân thật về tâm trạng của mình qua sự lo âu, thương xót, phẫn nộ, bi ai và chán đời trong lúc đang đối mặt với tử thần từng phút từng giây vì tình hình bất ổn tại hậu phương và cảnh chiến tranh loạn lạc hầu như khắp bốn vùng chiến thuật mà người lính trận nào cũng phải đăt chân tới. Tất cả đã trở thành những sự kiện có tính chất lịch sử qua những tiếng khóc thực dù không dám khóc to trước mặt bạn bè đồng đội. Mà dù có khóc to thì cũng chẳng để làm gì vì ai biểu chúng ta sinh ra làm trai hùng nước Việt ?
"em mắt nghìn thu xanh cỏ biếc
ta lên rừng thắm ngủ chiêm bao
vòng tay thần thánh xa biền biệt
ta gặp nhau mà vẫn nhớ nhau
em nhớ ta hay ta nhớ em ?
từng đêm lặn lội giữa bưng biền
ta qua Hậu Nghĩa ngày mưa xám
róc vỏ thân chàm ta viết tên
năm tuổi chiến trường xuôi vạn lý
núi sông biết mặt đứa phong trần
yêu em ta bổng thành thi sĩ
thơ lính hào hoa vỗ súng ngâm..."
(Chiêm Bao - Tôn Nữ Kim Phượng)
Ðó là cái đỉnh cao của thơ văn do lính viết qua suốt cuộc chiến từ 1960-1975. Cho dù nay phần lớn những tác giả đã không còn nhưng kỷ niệm ngày xưa vẫn cứ ngổn ngang trong tâm trí mọi người, một phần bởi tiếng thơ đầy nước mắt tuy rất cởi mở và ấm áp tình người. Ðó cũng là lý do xuân tết xưa nay luôn được thi nhân ưu ái trong thi ca nhưng với lính thì ngày nào cũng như mọi ngày, vất vã cơ cực tới cái mức không còn ai khổ hơn. Cho nên với họ lấy gì vui để mà xuân hay Tết như người lính Vũ Hoàng qua bài thơ "Mưa Xuân Ngoài Biên Khu "viết tặng Lâm Hảo Dũng:
"hãy uống cạn cho lòng vơi nỗi nhớ
rượu chất đầy: nón sắt bình đông
người lấy rượu đốt men xuân càng nồng
ta say khướt để quên đời dưới đó
dẫu là xuân hay hạ đông gì cũng thế
bởi quanh năm ta với rượu: đôi bạn già
(tiễn thằng bạn vừa mất ta nốc đầy cốc rượu
mừng kẻ nhập đàn ta lại cụng ly)..."
"bó gối trong căn hầm tránh đạn
chia nhau một cốc cà phê đen
hít dăm ba điếu quân tiếp vụ
ấy tết cô đơn của lính quèn
rừng vẫn viễn miên buồn ủ rủ
gục đầu tắm đạn pháo thương đau
chim rừng cũng bỏ đàn về núi
để mặc chinh nhân vạn cổ sầu..."
(Xuân chiến địa - Phong Nhân Hoài)
Thân phận và hiện hữu là hai mộng ước mà người lính trận nào cũng canh cánh bên lòng. Vì vậy nó đã chắp cánh thành thơ đậu trên đầu súng, đầy ắp trong chiếc ba lô và chan chứa khắp mặt đất. Nhờ vậy mà người lính mới phần nào phôi pha cái ranh giới tử sinh trước mắt. nỗi nhớ của người lính khác hẳn với những tình cảm thừa mứa nơi chốn hậu phương vì ở đây con người có nhiều thời gian để mà yêu hờn ghét giận như Thanh Tâm Tuyền đã viết "ôm em trong tay mà nhớ em những ngày sắp tới" hay cùng lắm thì "vắt mẫu thuốc cuối cùng xuống dòng sông mà lòng phơi trên kè đá". Ngược lại người lính Trần Văn Sơn thì tự mình kể chuyện trong một đêm kích ở Dốc Ðồn Ðền làm cho những người một thời trong cuộc, đọc tới thấy thật là gần gũi thân thương và hối tiếc vì nó đã không còn:
"Ðêm nằm nghe vượn hú
ba lô, súng gối đầu
mắt mở trừng không ngủ
rừng tiếp rừng âm u
gió lòn qua kẽ lá
cuốn tròn trong ba lô
rét rừng cơn mệt lả
đồi tiếp đồi bao la"
hay:
"dẫu nước mắt mọi người có vỗ về hy vọng
ta vẫn cười khan nhìn bạn bè say
có phải không em dù mây vẫn cứ bay
và mai mốt ta có nằm yên trong lòng đất
em hãy giữ trong lòng những điều thành thật
ta đã cho em và chưa vội mang theo
giữa đời ta không phân biệt bạn thù
chuyện sinh tử là chuyện từng giây phút"
(Khi xa Bình Tuy)
Phần lớn những bài thơ của lính là loại thơ "Tự Sự" được viết như những "tình khúc chiến trường" vì tự nó có đủ tầm vóc của môn thi ca chứa đựng các phần ngôn ngữ, nhạc điệu, cảm xúc và sự gợi cãm. Sự đồng điệu ngẫu hứng giữa thơ lính và những nhạc khúc được Nhật Trường Trần Thiện Thanh, Dũng Chinh Nguyễn văn Chính... sáng tạo trước tháng 5-1975, phải chăng đó là tâm cảnh của đời lính, nên ai cũng đều có sự suy nghĩ giống nhau cho dù xa cách muôn trùng. Nhưng yếu tố tạo nên sự đồng cảm đó, trước hết cũng là do tình yêu quê hương của mọi người. Có yêu nước thương dân mọi người mới hy sinh đời mình để chấp nhận tử sinh thua thiệt. Chân thành trong câu chuyện kể đã làm rung cảm một cách sâu sắc tới người đọc, nhất là những em gái hậu phương, vì yêu lính bằng lời, nên đã cất giữ những hình bóng cũ, nhờ vậy mà nó đã trở thành bất tử tới ngày nay, cho dù anh có hiên ngang hay đã trở thành tàn phế:
"Rừng thưa dạt gió Hạ Lào
đêm nằm phục kích nhìn sao, nhớ nhà
tháng tư thương nụ hoa cà
hồn quê gởi ngọn mây xa cuối trời
(viết ở căn cứ Tiên Sa)
Phất phơ áo lụa trên cầu
nắng nghiêng cổ tháp ngã màu thời gian
gió xao sóng nước mênh mang
thương em, nhớ mẹ ngập tràn nhánh sông
(chiều qua sông)
Ba mươi tuổi bóng tôi về hối hả
đàn em nhìn như người lạ quây quanh
chân khập khểnh đứng trên bờ đất lở
tuổi ngày xuân theo lá rụng tan tành..."
(Trần Vạn Giả -Tình cảnh người về)
Bạch Cư Dị là một trong những nhà thơ cổ Trung Hoa được nỗi tiếng khi ông viết "Tỳ Bà Hành" kể lại số phận hẳm hiu của người ca kỷ về chiều trên bến Tầm Dương. Trong xã hội Miền Nam VN thời chinh chiến, số phận của người lính cũng thương đau chất chứa hằng hằng, cho dù là người đã chết hay bị thương tật tàn phế như Phế Binh Trần Quang Thiếu đã ghi lại trong bài thơ "Buổi nhớ núi":
"mới hôm nào dừng chân ven núi
bè có bè có đứa còn vui
anh có anh, chúng ta đời lính
còn lúc này tay nắm môi cười
đêm nằm ngủ cay hơi khói đạn
chân co tìm dấu mất chân xưa
ta bỏ quên bên ngoài biên trận
tặng cho rừng ướt lá thêm mưa
Buổi đến rừng cây cao nhớ núi
gió nhớ đời ta nhớ anh em
giờ một chân, tật nguyền đau dại
mưa móc người, ơn núi nghĩa sông"
Ðời ai mà không có bạn nhưng đậm đà thắm thiết hơn vẫn là tình lính sống chết có nhau, chính cái thâm giao huynh đệ chi binh đó, đã làm bén lửa trong hồn những con người mà ai cũng tưởng là chai đá nhưng thật sự có ai sưót mướt trữ tình bằng họ ?
Chợt nhớ xuân nào trên chiến địa,
Tao mày hiu hắt đón xuân chơi
Một thằng lính bộ đời như bỏ
Một đứa nhảy dù cũng tả tơi...
Bốn câu thơ của người lính Phong Nhân Hoài viết cho bạn năm nào, đã làm cho người lính gia tha hương càng thêm trơ trọi, lạc lõng giữa tối ba mươi lạnh lẽo nơi chốn quê người... Trong quán khách bên đường, ta một mình sóng đôi với ngọn đèn hiu hắt, qua đêm lại một năm buồn. Rượu chưa nhắp mà môi dã muốn cay sè, ngoài trời con chim kỹ niệm vẫn như thiết tha giục giã dù khói lửa đã ngưng trên chiến địa, bạn bè cũng không còn quan hà cạn chén ly bôi, sau những tiếng tỳ bà nhặt khoan nức nở. Tan tác, chia xa,giờ đây chúng ta đang lang thang như mây chiều, sau những năm tháng đã giốc ngược đời mình cho quê hương.
"Tội nghiệp đời trai chưa thỏa chí
sa trường dung ruổi đã phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẩm lối gầy
Chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nỗi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
đêm hát vang lừng nơi chiến địa
mộng hoàng hôn khép giữa hư vô..."
Thời gian trôi đi tưởng có thể làm vơi phần nào nỗi đau của thân phận nhưng ai có thể làm ngơ khi được đọc qua những lời thơ viết của Trần Dzạ Lữ, của Tô Thùy Yên, của Trần Ðức Uyển... những người lính được sống sót sau chiến trận, đã gởi vào gió đất những tiếng thầm thì, để cố níu lại thời gian để mình được sóng với đồng đội vừa gục ngã:
"giặc đánh lớn, mùa mưa đã tới
mùa mưa như một trận mưa liền
châu thổ mang mang trời sát nước
hồn chừng hiu hắt nỗi không tên
tiếp tế khó, đôi lần phải lục
trên người bạn gục đạn mười viên
di tản khó, sâu giòi lúc nhúc
trong vết thương người bạn nín rên
người chết mấy ngày chưa lấy xác
thây sình, mặt nát lạch mương tanh..."
(qua sông)
"bốn năm thằng lơ láo
áo quần rách tả tơi
ăn cơm bên xác người
tay bốc tay cầm súng
lòng nhớ mẹ phương tây
ý thương em chạy giặc
xóm làng sầu khôn khuây
ăn xong múc nước ruộng
uống đại cho qua ngày
quê nhà em có biết
chinh chiến thân lưu đày
ăn được là điều may
có khi hai ba ngày
không ăn chẳng có uống
ta nằm với cỏ cây..."
(Trần Dzạ Lữ - Bữa cơm ngoài chiến trường)
"Tự hỏi về đâu, đâu chả được ?
hãy tìm bên suối ngủ đêm nay
gối đầu lên đá nhìn trăng sáng
rừng núi sương mù ướt chẳng hay..."
(Trần Ðức Uyển - Buổi chiều ngồi trên đá)
Cuộc chiến đã khuất dần trong quá khứ hơn một phần tư thế kỷ nhưng dư âm của nó vẫn còn phảng phất khắp nơi nơi, in đậm trên từng khuông mặt héo gầy của những chàng trai Việt một thời ngang dọc, đã bỏ lại chiến trường một phần cơ thể của mẹ ban cho. Nhưng xương máu của chúng ta tới nay cũng vẫn là những đóng góp cao quý trong công cuộc ngăn chống giặc thù bảo vệ quê hương Miền Nam suốt hai mươi năm chinh chiến.
"Trên non năm bảy thằng tuổi trẻ
buổi chiều thu uống rượu không cười
ôi người tuổi trẻ sầu trong mắt
đêm trong rừng mộng gởi quê cxa
quê xa ta có em và mẹ
nhớ ao bèo xanh bông tím thiết tha
nhớ người con gái bên hàng xóm
chiều thả thuyền vớt mộng nở hoa."
Vũ Hữu Ðinh viết cho Trần Dạ Lữ).
Trên đường mênh mang đi tìm đồng đội cũ khắp miền yêu thương trong ký ức, qua hàng ngàn bài thơ được viết từ chiến trường lửa đạn, nơi chòi canh đồn vắng, trong giao thông hào hay nơi quán lẻ bên đường những lúc người lính tạm dừng chân. Cao Thoại Châu một người lính trẻ, hồi tưởng lại thời gian theo học tại Trường Bộ Binh Thủ Ðức với tâm trạng thương nhớ em nên chỉ muôn cho mau tới kỳ đi phép hay mãn khóa để chúng mình lại tương ngộ:
"thứ hai này nhớ em buồn vỡ mắt
ước làm chim bay qua cổng quân trường
qua cánh đồng có lúa mạ xanh non
những mái nhà đỏ tươi ngói mới
muốn bay lên từ tối tăm hiện tại
phải qua cổng nào em chọn cho anh ?
ký ức anh phai mờ như bụi đóng
áo ngả màu ba lô mũ sắt
và giấc ngủ vẫn rình trên mắt
và tương lai như một góc phòng
mà bóng đêm đã lấp dần ánh sáng
như tận cùng ước muốn đời ta"
(Cao Thoại Châu viết trong cánh cửa quân trường)
Ðời lính gian lao cực khổ nên đâu sá gì chuyện đổi thay của trời đất. Nhưng thật tình mà nói mỗi khi tới mùa mưa làm nhớ không chịu được, dù là mưa bụi lất phất từng hạt nhẹ hay những cơn mưa đầm đìa nước mắt rơi lộp độp trên nón sắt hay những tấm poncho. Bởi vì mỗi mùa mưa là những mùa kỷ niệm buồn vui của tuổi học trò. Thời tao loạn, mấy đứa con trai tới tuổi lớn đã không còn được cắp sách đến trường, đã xa rồi một cuộc tình thương nhớ. Năm 1966, từ chiến trường Bùi Khiết đã viết gửi về em những niềm thương nhớ:
"Vào đêm em ngủ chưa em ?
Trong mơ có gặp ưu phiền nhiều không ?
Ðèn xanh thành phố xa trông
Hoang vu anh đứng mà lòng chiêm bao
Mưa rừng tiếng lá xôn xao
Tay ôm súng lạnh buồn sao là buồn..."
(Thơ Bui Khiết viết trong Ðêm mưa hành quân 1966)
Nhận được tin con đầy tháng, Vũ Trong Quang người lính Sư Ðoàn 2 Bộ Binh rất vui nhưng rồi buồn vì đang hành quân đâu có phép để về thăm con vợ. Cùng một tâm trạng, Tô Nhược Châu cũng viết những lời thơ rất nồng nàn trìu mến gửi lại cho vợ con trước giờ hành quân:
"Hay tin con đầu vừa tròn một tháng
vui thì vui nhưng lòng cũng thật buồn
vui vì con hiện hữu trên đời sống
buồn bởi ta không được phép về thăm
Ta còn phải lội vượt sông trèo núi
đường vào Ba Gia trăm nẻo hiểm nguy
sáng pháo Sa Huỳnh lửa chiều Mộ Ðức
đêm nằm Trà Bồng xôi đậu phân ly..."
(Ðầy tháng con - 1973)
"Hãy ngủ ngoan đừng kinh hoàng nghe con
dù đêm nay thật nhiều súng nổ
hãy ngủ yên đừng đợi chờ nghe em
dù đêm nay anh đi ra trận
dù đêm nay anh đi không về..."
(Tô Nhược Châu - Lời dặn vợ con trước giờ hành quân)
Buồn quá đời lính thú đã kéo chúng ta ra khỏi cuộc gối chăn, tất cả những con đường ngắn dài của tuổi thơ đã trở thành những nẻo đường trong trí nhớ nên chỉ còn biết vui với rừng sâu mưa núi qua cuộc rượu những lúc dừng chân bên quốc lộ đêm nhớ ngày mong:
"rượu pha xá xị đầy nón sắt
dăm thằng chuyền nhau uống vòng vòng
đuổi bắt nhau như ngày với tháng
như khoanh tròn tựa một số không"
(Linh thú - 1973)
Ðà Lạt mù sương với những đồi thông và muôn ngàn cỏ hoa nỏn nưởng khoe hương sắc, Ban Mê Thuộc, PleiKu, Kon Tum cát bụi mịt mù, những địa danh đến và đi của người lính biên trấn Quân Khu II một thời oanh liệt, những chiến sĩ Lôi Hổ, Biệt Ðộng Quân, Nhảy Dù, Sư Ðoàn 22 và 23 Bộ Binh một thời vẫy vùng ngang dọc, đã được người lính Vũ Hữu Ðịnh ghi lại qua nhiều tình khúc rất nồng nàn. Tiếc thay Anh đã qua đời quá sớm vào năm 1980 khi mới có 34 tuổi (1946-1980)
"phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương
em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trông
xin cám ơn thành phố có em
xin cám ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc trên đường biên giới
còn một chut1 gì để nhớ để quên..."
(còn một chút gì để nhớ)
cũng có khi nào anh trở lại
phố xưa đường cũ mùa mưa bay
mưa như gió ướt nên lòng lạnh
gió thổi sầu sương đậu tóc bay
phố không đèn điện con đường lặng
những ánh đèn cây sáng chập chờn
anh gặp em ngồi đang rẽ tóc
mái tóc dài xanh những ngón tay
và anh yêu lấy sầu chẳng nói
mình anh ở lại quán mù mù
tưởng bao năm trước ta là bạn
chỉ nhìn nhau mà cảm được nhau."
(Cũng có khi nào)
Thật là cảm động biết bao những người lính sau cuộc chiến may mắn được sống sót, ngồi hồi tưởng lại những đêm say cùng bạn trong "Quán Cô Hồn" với bửa tiệc nơi quán xếp bằng xị rượu nồng, miếng khô nai cứng ngắc nhai trong miệng mà ta cứ tưởng như đang nhai cả cuộc đời lận đận đắng cay của kiếp lính, cho nên uống vào như ta uống cả niềm đau sầu cháy long đong. Buồn quá đổi lại càng buồn thêm khi chạnh nhìn cô quán trẻ vừa mới làm quả phụ khi cuộc tình chưa quá một mùa đông. Sau đó bạn ra đi và đã gảy cánh tại Kon Tum năm 1974, được Tiếp Sĩ Trường một phi công ở Phi Ðoàn 218 ghi lại qua bài thơ "Nửa Mảnh Phi Bào" khóc bạn cố Trung Uý Nguyễn Văn Phú:
"... cởi mảnh phi bào anh để lại
trao về quê mẹ một trời xuân
mai đây nếu có ai thương tiếc
xin đốt cho người một nén hương
ngày xưa anh đứng bên song cửa
nhìn áng mây trời ngó cánh bay
giờ đây mây trắng anh xây mộng
lại biến vành tan buổi xum vầy..."
(nửa mãnh phi bào)
Lính là thế đó, buồn nhiều vui ít, với một chút nhun nhén tình cờ bắt gặp, trên các nẻo đường hành quân vô định, qua dăm ba ngày Tết dưỡng quân hay canh giặc chốn tiền đồn, lẻ loi ngoài quan tái. Ai đã từng là lính, mới cảm thông cho lính, sống thật cô đơn lếch thếch và chết cũng rất hiu hắt ngậm ngùi. Thời gian và không gian đời lính cũng chẳng qua chỉ là một cái mốc vô tình để biết ta hiện hửu. Nhưng thôi tiếc làm gì ai biểu ta sinh ra làm trai hùng đất Việt ? nên phải chấp nhận kiếp lính “ôm yên gối trống đã chồn, nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh“ để rồi thui thủi “đêm từng đêm ngó mông lung, vỗ bờ kiếm thép hát rừng mà nghe". nỗi buồn của lính đã được Yên Bằng viết trong một bức thư gửi về cho người vợ lính của Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, đọc sao mà thảm thiết quá:
"Nghe ta chết ở một nơi nào trong rừng U Minh
em rót rượu uống mừng nhau nhé
hỡi người vợ lính Sư Ðoàn 21 Bộ Binh
có nhìn thấy mặt trời mỗi khi lặn khuất
là cuộc tình ta đó
trên tháng ngày chờ ôm tấm mộ bia
nên mỗi sáng ngồi uống chum cà phê
ta bổng thấy tim hồng rớm máu
Em hãy nhận dùm ta tấm thẻ bài
ở đó có số quân cùng loại máu
vì máu ta đã chảy
trong khu rừng vàng úa cỏ vô tâm
chẳng biết rằng khi chết có vui không ?
nhưng chắc hẳn em buồn quá đổi
vì ở Ðầm Dơi có nhiều chuyện lạ
người chôn người như thể thù nhau...
là nỗi đau thương của người vợ lính...
quyển sổ dầy mở rộng
tôi ghi gì nữa đây ?
từng đốt tay tê cóng
máu trong tim đã đầy..."
Với lính thì tết nào cũng tết tha hương, xuân nào cũng xuân lữ thứ. Ðêm trừ tịch giữa tối ba mươi, cái khoảnh khắc năm cũ sắp tàn, khi mà mọi nhà chặt then kín cửa, để sửa soạn đón giao thừa, trong niềm hạnh phúc của gia đình, thì lính cũng đón chào năm mới trong chiếc hầm trốn đạn hay mái chòi canh giặc đen tối lạnh lùng. Nhớ từ đâu bỗng kéo tới, vây kín cái không gian nhỏ hẹp. Chu Trầm Nguyên Minh, tác giả của "Cuộc Tình Người 1969" cũng là một người lính trẻ, viết thư gởi về cho người yêu trong một phiên gác đêm:
"Súng kê giấc ngủ mơ hồ
đêm nghe tiếng nhảy ngựa thồ đổi phiên
xin cho em ý ngoan hiền
biển sương rơi đọng trên miền dung thân
anh nhìn anh những phân vân
đời trai giờ chỉ có ngần ấy sao ?
(Chu Trầm Nguyên Minh viết trong Phiên Gác Ðêm tại đồi 182)
Ngoài trời mưa xuân đến sớm nhưng sao buốt lạnh quá chừng, khiến cho ta thêm buồn rầu trong bóng tối một tết tha hương. Dường như có ai đang hát ru NHỮNG TÌNH KHÚC CHIẾN TRƯỜNG giúp ta nhắp một chút men nồng để thấy lại ngày xưa, để ta dìu ta trở về trong kỷ niệm buồn vui của đời lính với những tết không bao giờ quên được dù nay bạn bè người còn kẻ mất, trong đó có rất nhiều anh em đã gục chết ngay giữa tuổi thanh xuân mộng thắm tràn đầy.
"Giữa đồi sương và gió
Tình cờ ta ghé qua
Ngu ngơ nhìn ngọn cỏ
Quanh mộ đời phôi pha
Giun dế đọc dùm ta.
Tên một loài dễ vỡ
Chim một bầy gọi nhỏ
Tên một loài hư vô
Người ôm bờ huyệt lạnh
Ngủ cùng đất ngàn năm
Ta ôm đời lẽ bạn
Mang mang sầu uanh quanh...
(Chinh Yên một chiều viếng mộ bạn)
Ngày đầu tiên về đơn vị cũng là ngày cuối năm, nên khi xe lủa tới Ðà Lạt, cũng là lúc thiên hạ đang rộn rịp đón giao thừa. Cao nguyên Lâm Viên mùa Tết, nên trời rét căm căm. Chúng tôi tát cả là dân miền biển và miền nam, nên chịu không thấu với cái lạnh miền núi, cát da tím thịt, trong bộ đồ trận mõng manh, qua đêm đầu tiên tại nhà vãng lai của Tiểu Khu Tuyên Ðức. Viết sao cho hết nỗi buồn rầu của bọn lính xa nhà trong đêm Tết ? dù đêm Xuân Ðà Lạt thật tuyệt vời, khiến ta cứ ngỡ như mình đang lạc lối đào nguyên, giữa hoa và người đẹp, cả hai sắc hương đường như cùng với mây trời ngạt ngào trong sương giá. Ðà Lạt đêm xuân thú vui không kể xiết, khắp phường phố thiên hạ quần áo là lượt hạnh phúc, gắn bó từng cặp, từng đôi trong muôn màu đam mê rực rỡ nhưng với bọn lính mới đầu đời, Ðà Lạt lại vô tình hờ hững.
"Xin chào mi, hỡi núi rừng Trung Việt
Ta đã qua và ta đã dừng chân
Ta đã nhiều đêm giấc ngủ chập chờn
Những tối trăng sao không buồn ló dạng
Những tối nghe mưa lòng buồn vô hạn
Những hạt mưa như nước mắt mẹ già
Những hạt mưa lạnh buốt cõi hồn ta
(Hạ Ðình Thao giả từ)
Không dưng mà lạnh thật đầy
với hồn thương tích với thây ma người
chiều lên ôm súng nhìn trời
bâng quơ ngó xuống cuộc đời buồn tênh
rươu đâu mà uống cho quên
người đâu mà họp đủ phiên chợ nghèo
lá rừng ai đốt đen thui
chim về ngơ ngẩn ngày vui năm nào
hỡi em tình thoảng chiêm bao
giờ không khí đó đã vào cổ sơ "
(Giang Hữu Tuyền viết ở biên giới Việt Miên)
Bởi vậy cả bọn đều mong mau sáng, để sớm trả lại cái thiên đường hạnh phúc mà trời trót dành cho những giai nhân tài tử. Rồi thì chia tay, dăm đứa gọi là kém may mắn khi về TD 3/43 gần mặt trời. số còn lại bổ sung cho TD 1 và 2/43. Một cuộc hành quân mở ra vào ngày mùng ba tết nguyên đán, mục đich khai thông quốc lộ 12, đưa lính mới và quân trang quân dụng bổ sung cho hai đơn vị tại Bình Thuận. Nhờ vậy mới có dịp hưởng được một cái tết núi rừng vui nhộn với người Koho, quanh bếp lửa hồng.
"Những chiều Trường Sơn gió cao, gió nhớ
Sao người không về theo gió chiều nay
Cho em tình ấm vui hồn nhỏ
Ðợi chờ nhiều, em giận cả mây bay
Những chiều buồn đường lên dốc thẳng
Em ngỡ chừng đang về cửa trời cao
Mây đệm trắng êm đềm thân thể mới
thông rừng xanh gọi gió nhớ lao xao
Thôi Anh rượu đắng thôi đừng rót
Sương khuya chùng lạnh xuống vai em
Như đời băng giá trong đáy cốc
Người đi làm rượu đổ nghiêng nghiêng..."
(Nẻo Cao thơ Hoàng thị Bích Ni)
Ðược vui Tết với người Koho là một thích thú tột cùng. Ở đây hoa nhiều không đếm hết nhưng cũng không có hoa gì đẹp hơn hoa mai làm đêm thêm ngát, làm cho lính đã ngây ngất bên ché rượu cần, lại càng ngẩn ngơ hóa bướm vì tiếng hát ngây thơ hồn nhiên của các cô gái vùng cao, khiến cho mấy chục năm qua rồi, mà trong hồn mỗi lần chợt nhớ, như muốn khựng vì mùi chua của rượu cần và muì hương của núi rừng tây bắc. Sáng tới lính lại lên đường, không được như người Koho, sung sướng tiếp tục cuộc vui Tết quanh các gia đình, cho đến hết tháng giêng mới chấm dứt khi cả Buôn không còn rượu và thịt:
“Ớ chàng trai lính ơi,
đùng quên đêm nay bên vũ điệu Lam Tơi,
đôi ta tình cờ quen nhau ngắn mgũi,
nhưng em nguyện chờ chàng trở về...”
"Mai mốt em về em về đâu ?
Con sông nước chảy trắng chân cầu
Tiếng hát già nua người bạn cũ
Ðêm dài muôn thuở buộc lòng nhau
Ngoài kia buồn buồn không em ?
Xa hỡi ngàn xa bóng nhạn chìm
Thương ai ái ngại tìm đôi mắt
Chưa biết đêm nào thức trắng đêm...
(Cõi Nghìn Trùng - Hoàng Trúc Ly)
“Ðón giao thừa một phiên gác đêm
chào xuân đến súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên bán súng... ngỡ pháo tung bay, ngỡ tóc em vương...”
Bài hát cũ của nhạc sỹ Nguyễn văn Ðông, mấy chục năm về trước, nay sao vẫn nhớ như niềm nhớ về một cái tết xa xưa rất tình cờ với đồng bào Thái Trắng, khi tiểu đoàn nằm tiền đồn, giữ an ninh ngoài vòng đai Tùng Nghĩa.
"Buổi cà phê cuối cùng
Thôi rời trường Thủ Ðức
ta lên đường lên đường
tiếng ca buồn ở lại
Bốn đứa nhìn bàn ăn
đĩa thịt bò kỷ niệm
những bãi nắng khô cằn
bước chân buồn xa lạ
Chung quanh anh toàn là dây cháy chậm
ô vuông bản đồ sao toàn màu rừng man thiên
nhìn một bận bóng thiết tha nhòa bóng tối
anh giật mình kinh rạch nhện đan luôn
Anh trằn trọc từng nằm đêm nhẩm từng tọa độ địch
màu bút chì xanh đỏ đứng nghênh nhau
nghe một thoáng tên em nhòa tiếng súng
anh đứng nhìn hoa lửa cháy trăng sao..."
(Thư gởi người phương cũ của Hoàng Yên Trang cũng la Trần Như Liên Phượng tử trận tại Chương Thiện năm 1965 mới 29 tuổi)
“Chốn biên thuỳ này xuân tới chi, tình lính chiến khác chi bao người“, nên đêm tiền đồn được vui ké với bản làng một cái tết vui nhộn từ đầu thôn tới cuối ấp, nơi nào cũng vang vang tiếng pháo, khiến người lính trẻ xa nhà chạnh lòng để rơi nước mắt, khi nhớ về những ngày xuân củ, nhớ màu hoa cúc hoa mai, tết đến nở tròn như mắt môi em một thời tuổi học “tay anh ghì nhẹ trên bán súng, cứ ngỡ cùng em sóng bước xuân“.
"Dưới chân đồi Xích Thổ này có con sông
Con sông có cây cầu bắt qua
Bên này là vườn táo là nghĩa địa là ruộng hoang
Là lô cốt là hầm chông là bãi mìn
Buổi sáng anh ở nơi đây
Ðu đưa lời tình bên khóm táo
Với bầy te te với tiếng gió sang mùa
Anh phải ngủ thật hiều vào ban ngày
Ðể đêm từng đêm ngồi ôm súng gác
Anh phải cười nơi đây thật to
Ðể khỏi nghe tiếng súng
Mỗi khi đài quân đội đưa lời "em yêu lính"
Anh phải văng tục nơi đây cho đã
Vì thiếu bóng đàn bà suốt tháng..."
(Huỳnh Hữu Võ viết nơi đồn trú duới chân Ðồi Xích Thổ)
Ðâu đâu cũng là chiến trường, nơi nào cũng chết chóc đau thương kể cả những ngày Tết đến. Bởi vậy chỉ mong gặp nhau một lần thôi để lòng bớt vấn vương thương cảm, rồi thì cứ phó mặc cho số phận đẩy đưa bởi chiến trận đâu phải là trò đùa:
"... sau những đợt xung phong ào thác lũ
còn lại gì vườn trống cạnh nhà hoang
và hoa cỏ im lìm nghe đón gió
bầy gà con vừa lạc mẹ kêu đàn
trên sân nắng nhiều quân thù phơi xác
thanh AK Tiệp Khắc lỏng tay gầy
ngoài bờ lúa nhiều anh em nhắm mắt
vuông đất hồng làm gối lạnh từ đây
khi tôi đến quê xa chìm tiếng hát
chiều hành quân vai nặng túi cơm rời
để nép bóng tòa bin đinh cao ngất
trên đường về nghe đắng mặn đầy vơi..."
(Sau Chiến Trận - Ý Yên)
Chiến tranh tàn nhẩn, oan nghiệt khiến suốt đời lính không quên được hình ảnh chết chóc của những người dân lành vô tội, giữa nhang đèn bánh mứt... chờ đón xuân về.
"thằng Vũ chết rồi trong trận Pleime đó em
khủng khiếp và khốc liệt
những lần về phép sau này em ra cửa đón anh
sẽ không bao giờ thấy nó
nó chết rồi
nó chết cho quê hương đó..."
(Phan Huy Mộng - Người chết ở Pleime)
Cố nhân xa rồi nên đâu còn ai thương nhớ ai, khiến cho người lính trận thêm cô đơn lạc lỏng nơi chốn thị thành khi nhớ lại những ngày còn tóc bồng còm em mười sáu thơ ngây, để ngày ra đi người lính trẻ chỉ còn có môi em gói lại làm hồn nhớ bâng khuâng:
"mai ta trở về với núi cao
có mây xanh ngắt lá reo sầu
đêm chờ đạn nổ ngày tạp dịch
ta còn lúc nào để nhớ thu
mai ta trở về cùng khói núi
tình mình còn chăng sợi khói bay
nhớ thu ta đứng trên triền dốc
mà lối đi về mây xám bay
đã lỡ một đời thân lính thú
còn mơ ước gì chuyện tương lai
tuổi trẻ cháy dần trong khói súng
ta lấy đời mình đánh cuộc chơi..."
(Vũ Hoàng - với thu như một giã từ).
Một thơi dại chinh chiến bao lớp người nối tiếp ra đi vì nước non nên chỉ biết giã từ tất cả mà Hoàng Trọng đã gom lại để viết thành một ca khúc rất nỗi tiếng ngay từ năm 1962:
"biết đến bao giờ gặp lại người em thời thơ ấu
để báo tin rằng cuộc đời từ nay đã khác xưa
một phút gần nhau rồi tình mãi mãi lìa xa
quà nghèo chỉ có lời ca
tặng nàng trước khi từ giã
(Giã từ)
Em yêu hãy hôn anh một lần trước khi anh đi lính
giữa thời đại chiến tranh cái gì cũng vội vã hết
phải không em
nhưng nhớ hôn anh một lần này thôi
vì không chừng anh sẽ ra đi
hoặc trong mười năm mười lăm năm
hay vĩnh viễn
bây giờ anh còn tay bây giờ anh còn chân
bây giờ anh còn mắt
bây giơ anh chưa đui mù
chưa câm điếc chưa què quặt
nhưng biết mai anh còn đủ không
và cả trái tim anh nữa
biết còn rung động hay im lìm ngừng đập
nhiều lúc anh tự hỏi chiến tranh để làm gì ?
(Trần Uyên Phương - Trước khi đi lính).
"tao để Tiểu đoàn 6 cho mày
trạm cứu thương
có thằng Khiên mù
có thằng Nhu ngọng
tao để Vũng Tàu lại cho mày
bãi trước bãi sau
gió biển ngây ngây mùi gái
hỡi thằng Y Sĩ Dù bé nhỏ của chúng tao ơi
đi chưa bao giờ biết mệt
chiến đấu chưa bao giờ biết nằm
Ðêm Gio Linh xác địch chất bên miệng hầm
Chiều Cao Lãnh đạn ghìm sâu vào gối
và Dakto mãnh sướt bờ vai
để một sớm mai buồn chúng tao thức dậy
lặng người đau đớn
nghe tin mày hy sinh..."
(Trang Châu - Một bài thơ cho Tuấn)
Hình như giao thừa sắp đến, trong mông mênh cùng tận, như những năm nao, tôi lại âm thầm lâm râm cầu nguyện cho mẹ già, em gái, cho ngươi yêu củ, bạn bè, đồng đội, đồng bào... được may mắn an bình trong buổi hổn mang dâu bể... Kỹ niệm xưa từng mảng lại trôi bềnh bồng trên mắt, lén lút đẩn dắt hồn người lính trẻ về thuở hoa niên, khi những cánh hoa phượng đỏ ối nối hàng, dọc theo con đường Nguyễn Hoàng dẫn vào lớp học, đã bắt đầu rụng rơi lã tã giữa các trang lưu bút, trên từng rèm mắt ô môi, cũng là lúc bọn học trò nghĩ hè làm gã giang hồ lãng tử, trên những chuyến tàu hỏa chui Phan Thiết-Sài Gòn rồi Sài Gòn-Phan Thiết, đi hoài vẫn không thấy chán. Nhưng em đã đi rồi từ khi tôi vào lính:
"năm năm rồi không gặp
từ khi em lấy chồng
anh dặm trường mê mãi
đời chia hai nhánh sông
phong thư tình ngây dại
đường xưa quen lối về
trong mịt mùng gió cuốn
nghe nhạt nhòa mưa qua
ngày nhà em pháo nổ
anh cuộn mình trong chăn
như con sâu làm tổ
trong trái vải cô đơn
năm năm rồi ly biệt
một màu tang ngút trời
chúa buồn trên thánh giá
nằm trơ vơ gác chuông..."
(năm năm rồi không gặp - Phạm Văn Bình).
Rồi những ngày dài chinh chiến, định mệnh lại đẩy đưa đời lính về chốn cũ Long Khánh-Bình Tuy-Phan Thiết. Tuy tàu hỏa đã bị gián đọan nhưng suốt con đường sắt từ Mường Mán về Gia Ray, con đường mòn Võ Xu tới Suói Kiết, kể cả những suối rạch, bải đá ven sông La Ngà, đều là những lối lại qua quen thuộc, đã cùng tôi chắt chiu suốt đoan đường tuổi trẻ. Làm sao quên được những ngày dừng quân ở Văn Phong, Mường Mán ? ngày ngày ngồi ngâm nga tách cà phê đen ngon tuyệt nơi quán lẽ ven sông, ngó nhìn các chuyền tàu xuôi ngược.
"quê cũ mười năm mây lớp lớp
mười năm mưa khóc buổi sang mùa
dưới trời sương lạnh rơi tan tác
rét mùa đông cũ rét lê thê
đường tôi đi có bom và đạn
có hận thù trên mỗi dấu chân
ai thả vào hồn tôi mới lớn
những mùa xương máu ngập tang thương..."
(Ði giữa chiến tranh - Phạm Cao Hoàng)
Những người tuổi trẻ như chúng ta một thời chinh chiến đã lần lượt rủ nhau đi trong lửa đạn, làm kiếp lang thang mây chiều, cũng vì ai mà xương máu ngất núi trên quê hương hận thù. Tan tác, chia ly kẻ còn người mất, kỷ niệm chỉ còn vương lại một hớp rượu cay mà ta cố giữ lại trên đầu lưỡi.
Hồn ta nay đã mất, có còn chăng là dư ảnh của ngày xưa, của đồng đội bạn bè... như những giọt nước mắt cứ chảy dài của những người góa phụ trẻ mà Lê Xuân Hảo đã viết cho chồng là cố Thiếu Tá Pháo Binh VNCH Nguyễn Tấn Hưng thuộc Tiểu Ðoàn 155 ly Pháo Binh, đã mất tích tại Kon Tum vào mùa hè đỏ lửa 1972:
"Ngày anh lên thiếu tá
với chữ cố đứng đầu
em trở thành góa phụ
trầm mình trong vực sâu
ngày anh lên thiếu tá
sao chẳng có rượu nồng ?
ngoài năm vành khăn trắng
nay dật dờ cô đơn
(Ngày vinh thăng của Anh)
25 tuổi đầu, tôi làm góa phụ
bốn đứa con thơ tỉnh yêu chưa tròn
10 năm chiến chinh vai đời pháo thủ
chồng tôi bây giờ nằm xuống cô đơn
25 tuổi đầu tôi làm góa phụ
má đỏ môi hồng còn gì nữa đâu
thu đến đông sang xuân qua hè lại
màu trắng khăn sô: tôi chít trên đầu"
(Góa phụ 25)
Trong số phát hành vào ngày chủ nhật 28 tháng 8 năm 1994, nữ ký giả Lily Le Diron của tờ Los Angeles Times đã đăng bài ""A Viet Nam Odyssey "được Lê Xuân Hảo dịch ra tiếng Việt "Ði tìm cha tôi: một cuộc hành trình vô vọng". Ðây là một câu chuyện có thật do cô Nguyễn Tấn Băng Phương, tức là nữ ký giả trên, ghi lại cuộc hành trình đi tìm xác người cha đã mất tích từ năm 1972 trong cuộc chiến "Mùa Hè Ðỏ Lửa". Ông là Cố Thếu Tá PB/VNCH Nguyễn Tấn Hưng mà vợ là Lê Xuân Hảo đã nhắc tới trong bài thơ "Ngày anh vinh thăng cố thiếu tá và tôi là góa phụ", đã được Phó Tổng Thống VNCH Trần văn Hương trao tặng giải nhất trong cuộc thi thơ năm 1973.
Gọi là cuộc hành trình vô vọng dù cô Băng Phương đã ròng rã suốt hai tháng trường, đi khắp lãnh thổ Miền Nam, từ Nghĩa Trang Quân Ðội tai Biên Hòa ra tới miền Bắc, lên tận Pleiku, Kon Tum... nhưng tin tức của người cha yêu dấu vẫn biền biệt phương ngàn. Thật là cảm động biết bao về tấm lòng hiếu thảo của một người con chí hiếu, xin chân thành dâng lên một nén hương lòng lên các Anh: Những người lính oai hùng của VNCH một thời lửa đạn, người có tên, người còn mồ hay người đã biệt tích. Tất cả đều xứng đáng được hậu thế tôn vinh, sử xanh ghi công rạng rỡ:
"mai về nẻo ấy chiều sương khói
ta biết tìm đâu bước bạn hiền
vượt thác Mé Kông qua cầu khỉ
Paské héo hắt bóng trăng đơn
mai về quê mẹ qua biên giới
thăm lại Trường Sơn thuở kiếm cung
rừng núi vẫn xanh màu khát vọng
chỉ ta hờn tủi kiếp tha hương
(Phong Nhân Hoài ố Thì thôi hãy khóc để quên đời 1972).
Có ai còn nhớ lối xưa để tìm về mà có tim chăng nữa thì cũng chỉ thấy những thành mộ chí hoang vu, cỏ lau xưa hiu quạnh, khiến cho những người lính già cứ ngẩn ngơ hóa bướm dù bàn tay vẫn ấp trên những trang báo ngày nào. Ngoài đêm bây giờ hình như tiếng ngựa vẫn còn lao xao hí hoài những hồi thúc giục, đời vẫn mỡ ra trước mắt như đang gọi hồn người lính đi vào cõi mộng lung muôn trùng.
"còn ba năm nữa anh sẽ về
anh biết chắc không còn quê hương để ở
em gắng sắm cho anh một cây đàn bầu
làm bằng nắp hòm người lính nghèo
chết ngoài mặt trận
anh sẽ đàn cho mọi người cùng nghe
mà không xin tiền
chỉ tìm lại những đôi mắt trân tráo
những bước chân đi qua vỉa hè
với nụ cười
mà nhiều năm anh đã mất..."
(Khi giải ngũ - thơ Hà Nguyên Dũng). -/-
Xóm Cồn
Hăm nhăm tháng chạp Ðinh Hợi
MƯỜNG GIANG
Chuyện trò cùng đồng đội: Người lính vô danh
Huy Phương Tôi nhớ lúc đó vào khoảng năm 1972, lúc đó là vào Mùa Hè 1972, các mặt trận Quảng Trị, Bình Long, An Lộc, KonTum dậy lửa, chiến thắng cũng có nhưng chết chóc cũng nhiều. Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị lúc đó có yêu cầu Cục Tâm Lý Chiến tung ra một loạt hình ảnh các vị sĩ quan cao cấp, vẽ trên những tấm biển lớn dựng trên đường phố Saigon như cố Chuẩn Tướng Thiết Giáp Trương Hữu Ðức (rớt trực thăng), cố Ðại Tá Nhảy Dù Nguyễn Ðình Bảo (căn cứ Charlie) và một vài vị cấp tá khác mà qua thời gian, tôi không nhớ hết tên, để ca ngợi sự hy sinh anh hùng của các vị này.
Lúc bấy giờ đang làm việc tại Cục Tâm Lý Chiến, trước sự việc này, tôi đã viết một bài ngắn trên tuần báo Diều Hâu do ông Nguyễn Ðạt Thịnh làm chủ nhiệm, nêu ra vấn đề là vì sao, trong cuộc chiến, chúng ta có bao nhiêu anh hùng cấp nhỏ, binh sĩ hay hạ sĩ quan mà không thấy nêu tên mà chỉ thấy toàn ca tụng những sĩ quan cao cấp như trên. Kết quả bài báo là ông Nguyễn Ðạt Thịnh cấp chỉ huy trực tiếp của tôi được ông Tổng Cục Trưởng CTCT lúc bây giờ gọi lên than phiền là một sĩ quan thuộc ngành lại phê bình công việc của Tổng Cục và có lẽ ông cũng không đồng ý cho lắm với quan điểm của một sĩ quan cấp nhỏ như tôi. Tôi không bị phạt hay bị đổi đi đơn vị khác là nhờ ông Nguyễn Ðạt Thịnh đã bênh vực ý kiến của tôi một cách thẳng thắn và công bằng.
Cái “tôi” quả là trơ trẽn, nhưng tôi muốn đưa câu chuyện này trở lại là để thấy chúng ta thường có thói quen ca tụng những “anh hùng cấp lớn” mà không để ý đến những gương hy sinh anh dũng của những cấp nhỏ, thậm chí là những anh hùng vô danh không hề có tên tuổi. Những tướng lãnh “công thành” trên “vạn cốt khô” của những người lính thật thà, chết đi vì tổ quốc, tên tuổi và thân xác tan biến vào sự quên lãng vô tình của con người và thời gian. Chúng ta không hề thiếu những người binh sĩ sống trong lô cốt ở tuyến đầu giáp với đất giặc cùng với vợ con của họ, bắn đến băng đạn cuối cùng, sử dụng đến quả lựu đạn cuối cùng và cùng chết với cả gia đình trong cái “chốt” nhỏ bé này. Nhiều khi chúng ta có cái cảm tưởng rằng cuộc chiến này chúng ta chỉ có Tướng Lãnh mà không có hàng binh sĩ hay sĩ quan cấp nhỏ.
Trong cuộc “lui binh” trên tỉnh lộ 7B từ Phú Bổn về duyên hải, hàng nghìn quân nhân và gia đình phải chạy bộ hoặc chất chồng trên những chuyến xe hàng, xe vận tải hay xe gắn máy, họ không có trực thăng như những chỉ huy cao cấp nhưng cũng nơi này, trong suốt cuộc hành trình đẫm máu, như lời cựu Ðại Tá Phạm Văn Ðồng, Tư lệnh Lữ đoàn II Kỵ Binh, không hề nghe một tiếng gọi nào trong máy truyền tin để hướng dẫn, yểm trợ cho đoàn quân “tái bố trí” này. Cấp chỉ huy cao cấp đã tắt máy truyền tin và đang ở một nơi nào đó an toàn ở vùng duyên hải.
Hình ảnh người lính địa phương quân vẫn đứng lặng lẽ gác cầu Bạch Hổ Huế trong những giờ phút hấp hối của Quân Khu I, khi tất cả các lực lượng khác đang rời bỏ phòng tuyến để rút về phía Nam là hình ảnh của một người lính chỉ biết tuân phục, không bao giờ bỏ trách nhiệm. Họ tuân thủ luật lệ của đất nước họ để được động viên vào quân ngũ hay tình nguyện theo sở nguyện của mình, tất cả đều nhắm mục đích phục vụ quốc gia và dân tộc. Phần lớn họ chết trên chiến trường giữa tuổi thanh xuân, có người chưa hề biết qua lạc thú của cuộc đời. Có người trấn đóng ở nơi rừng núi xa xôi, ở các tiền đồn heo hút, cắt bỏ mọi luyến ái gia đình, có khi dở dang cả một cuộc tình thời niên thiếu.
Chúng ta hãy nhìn lại đời sống của một người lính địa phương quân, nghĩa quân trong những xóm làng xa xôi, vợ con cùng ở chung trong cái lô cốt hay dưới nhưng mái tôn nóng bức, chật hẹp, thiếu thốn mọi bề. Ðồng lương lính không qua nỗi mười ngày đầu tháng, chắc chắn là cơm bữa đói bữa no, nhưng các người lính này không bao giờ than vãn hay xót xa đến số phận của mình. Những người lính chiến đấu dưới lá cờ quốc gia, mong sẽ được phục vụ tổ quốc, sẵn sàng lao về phía trước, mặc dầu họ biết trong vài mươi giây trước mặt, họ có thể bị kết liễu cuộc sống bằng một viên đạn hay một mảnh trái phá.
Ðất nước trông cậy vào đám đông, đa số là những người lính vô danh, thầm lặng, thường rơi vào sự quên lãng. Tên tuổi họ không bao giờ được nêu cao và thậm chí thân xác bị vùi dập dưới những tấm bia mộ ghi là “vô danh”. Ðó là những người cần phải được chúng ta ghi nhớ và đề cao.
Huy Phương Tôi nhớ lúc đó vào khoảng năm 1972, lúc đó là vào Mùa Hè 1972, các mặt trận Quảng Trị, Bình Long, An Lộc, KonTum dậy lửa, chiến thắng cũng có nhưng chết chóc cũng nhiều. Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị lúc đó có yêu cầu Cục Tâm Lý Chiến tung ra một loạt hình ảnh các vị sĩ quan cao cấp, vẽ trên những tấm biển lớn dựng trên đường phố Saigon như cố Chuẩn Tướng Thiết Giáp Trương Hữu Ðức (rớt trực thăng), cố Ðại Tá Nhảy Dù Nguyễn Ðình Bảo (căn cứ Charlie) và một vài vị cấp tá khác mà qua thời gian, tôi không nhớ hết tên, để ca ngợi sự hy sinh anh hùng của các vị này.
Lúc bấy giờ đang làm việc tại Cục Tâm Lý Chiến, trước sự việc này, tôi đã viết một bài ngắn trên tuần báo Diều Hâu do ông Nguyễn Ðạt Thịnh làm chủ nhiệm, nêu ra vấn đề là vì sao, trong cuộc chiến, chúng ta có bao nhiêu anh hùng cấp nhỏ, binh sĩ hay hạ sĩ quan mà không thấy nêu tên mà chỉ thấy toàn ca tụng những sĩ quan cao cấp như trên. Kết quả bài báo là ông Nguyễn Ðạt Thịnh cấp chỉ huy trực tiếp của tôi được ông Tổng Cục Trưởng CTCT lúc bây giờ gọi lên than phiền là một sĩ quan thuộc ngành lại phê bình công việc của Tổng Cục và có lẽ ông cũng không đồng ý cho lắm với quan điểm của một sĩ quan cấp nhỏ như tôi. Tôi không bị phạt hay bị đổi đi đơn vị khác là nhờ ông Nguyễn Ðạt Thịnh đã bênh vực ý kiến của tôi một cách thẳng thắn và công bằng.
Cái “tôi” quả là trơ trẽn, nhưng tôi muốn đưa câu chuyện này trở lại là để thấy chúng ta thường có thói quen ca tụng những “anh hùng cấp lớn” mà không để ý đến những gương hy sinh anh dũng của những cấp nhỏ, thậm chí là những anh hùng vô danh không hề có tên tuổi. Những tướng lãnh “công thành” trên “vạn cốt khô” của những người lính thật thà, chết đi vì tổ quốc, tên tuổi và thân xác tan biến vào sự quên lãng vô tình của con người và thời gian. Chúng ta không hề thiếu những người binh sĩ sống trong lô cốt ở tuyến đầu giáp với đất giặc cùng với vợ con của họ, bắn đến băng đạn cuối cùng, sử dụng đến quả lựu đạn cuối cùng và cùng chết với cả gia đình trong cái “chốt” nhỏ bé này. Nhiều khi chúng ta có cái cảm tưởng rằng cuộc chiến này chúng ta chỉ có Tướng Lãnh mà không có hàng binh sĩ hay sĩ quan cấp nhỏ.
Trong cuộc “lui binh” trên tỉnh lộ 7B từ Phú Bổn về duyên hải, hàng nghìn quân nhân và gia đình phải chạy bộ hoặc chất chồng trên những chuyến xe hàng, xe vận tải hay xe gắn máy, họ không có trực thăng như những chỉ huy cao cấp nhưng cũng nơi này, trong suốt cuộc hành trình đẫm máu, như lời cựu Ðại Tá Phạm Văn Ðồng, Tư lệnh Lữ đoàn II Kỵ Binh, không hề nghe một tiếng gọi nào trong máy truyền tin để hướng dẫn, yểm trợ cho đoàn quân “tái bố trí” này. Cấp chỉ huy cao cấp đã tắt máy truyền tin và đang ở một nơi nào đó an toàn ở vùng duyên hải.
Hình ảnh người lính địa phương quân vẫn đứng lặng lẽ gác cầu Bạch Hổ Huế trong những giờ phút hấp hối của Quân Khu I, khi tất cả các lực lượng khác đang rời bỏ phòng tuyến để rút về phía Nam là hình ảnh của một người lính chỉ biết tuân phục, không bao giờ bỏ trách nhiệm. Họ tuân thủ luật lệ của đất nước họ để được động viên vào quân ngũ hay tình nguyện theo sở nguyện của mình, tất cả đều nhắm mục đích phục vụ quốc gia và dân tộc. Phần lớn họ chết trên chiến trường giữa tuổi thanh xuân, có người chưa hề biết qua lạc thú của cuộc đời. Có người trấn đóng ở nơi rừng núi xa xôi, ở các tiền đồn heo hút, cắt bỏ mọi luyến ái gia đình, có khi dở dang cả một cuộc tình thời niên thiếu.
Chúng ta hãy nhìn lại đời sống của một người lính địa phương quân, nghĩa quân trong những xóm làng xa xôi, vợ con cùng ở chung trong cái lô cốt hay dưới nhưng mái tôn nóng bức, chật hẹp, thiếu thốn mọi bề. Ðồng lương lính không qua nỗi mười ngày đầu tháng, chắc chắn là cơm bữa đói bữa no, nhưng các người lính này không bao giờ than vãn hay xót xa đến số phận của mình. Những người lính chiến đấu dưới lá cờ quốc gia, mong sẽ được phục vụ tổ quốc, sẵn sàng lao về phía trước, mặc dầu họ biết trong vài mươi giây trước mặt, họ có thể bị kết liễu cuộc sống bằng một viên đạn hay một mảnh trái phá.
Ðất nước trông cậy vào đám đông, đa số là những người lính vô danh, thầm lặng, thường rơi vào sự quên lãng. Tên tuổi họ không bao giờ được nêu cao và thậm chí thân xác bị vùi dập dưới những tấm bia mộ ghi là “vô danh”. Ðó là những người cần phải được chúng ta ghi nhớ và đề cao.

Cấm Gái Cam Bốt Lấy Chồng... Ngoại
ĐỪNG MUA GAO GIÁ CAO – TRUNG CỘNG BỊ PHÁP THIÊU – CAM-BỐT SẼ KHÔNG CÓ... ME. Tuần này có nhiều tin cần nóng hổi và người viết sẽ tổng hợp trong bản tin này.
Các bà nội trợ Mỹ gốc Việt ở xứ Cờ Hoa đang rúng động vì giá gạo ở các chợ tăng gấp đôi. Bạn đã đi mua gạo chưa? Khoan – Khoan – và – Đừng – Đừng nhé! Đừng mua nếu trong nhà còn gạo. Giá gạo không thật sự cao đâu, mà lợi dụng những xáo trộn về lương thực do giá thực phẩm và năng lượng lên cao, nên các con buôn gạo đã đột ngột đẩy giá gạo lên gấp đôi. Việc các chợ Tàu và Việt tại Mỹ tự động tăng giá gần gấp đôi, có thể là không đúng với quy luật của thị trường lương thực. Lý do rõ ràng là số lượng gạo bị tăng giá hiện nay không phải là số lượng mới nhập vào.
Vậy thì các bà nội trợ đồng hương người Việt nên bình tĩnh, không nên hốt hoảng đổ xô đi mua gạo về tích trữ, có thể mắc mưu con buôn, bị thiệt thòi tiền bạc của gia đình. Dường như mọi người Việt sống tại Hoa Kỳ đều thấy rõ là trong bữa ăn của gia đình, cơm không còn là thức ăn cho no bụng nữa, vì còn nhiều thực phẩm khác như thịt, cá, đồ biển vân vân. Do đó, có thể nói rất ít gia đình người Việt ở Mỹ mang nỗi lo sợ thiếu gạo. Vậy thì tích trữ gạo giá cao làm gì? Đã ở Mỹ thì lo gì đói, lo gì không có thư gì thay thế gao hở Bạn? Thế mà người viết thấy ở chợ, có bà đã đẩy trên xe từ hai đến năm bao gạo. Để làm gì thế nhỉ? Thường ngày với giá cả bình thường, có thấy họ mua gạo nhiều như thế đâu? Cái thói quen mua nhiều hàng lúc giá cao, đã vô tình đẩy giá cả lên cao và một cách vô ý thức làm cho hàng hóa bị khan hiếm giả tạo.
Hơn nữa, nếu gạo nhập cảng (từ Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam) giá quá cao, chúng ta có thể ăn gạo nội địa Hoa Kỳ (gạo tròn, gạo dài) với giá phải chăng. Ngoài ra, chúng ta còn có các lương thực khác như mì, khoai, bắp, đậu là những lương thực khá phong phú tại Hoa Kỳ. Nói tóm lại, đồng hương người Việt không nên vội lo trước các nguồn tin về khan hiếm lương thực. Sự biến động giá cả chẳng qua chỉ là biểu hiện nhất thời và trong một số khu vực nhất định. Hơn nữa, đây là một vấn đề của toàn cầu và Liên Hiệp Quốc đang tìm biện pháp đối phó.
Mời Bạn đọc lá thư của Luật Sư Vũ Thành Lập về việc giá gạo vụt tăng:
Trái Với Pháp Luật , Các Chủ Chợ Hùa Nhau Tăng Giá Gạo.
Xin đồng hương tránh đừng bị bọn Ba Tàu lừa quý vị . Gạo là một món ăn chính trong gia đình người Việt chúng ta . Gần đây, gía gạo tăng lên đột ngột từ một bao gạo 50 lbs $24 nay tăng gần gấp đơi là $40 . Thử tìm hiểu xem vấn đề nầy ra sao.
Gạo được nhập cảng qua Mỹ từ các nước Á Châu như Thái, Tàu , Ấn Độ, Phi Luật tân , Việt Nam, Miến Điện ... Tại Texas Hoa Kỳ cũng là nơi sản xuất gạo chính cho tịan quốc Hoa Kỳ nhưng vì gạo Mỹ khơng ngon bằng các lọai gạo thơm tại Á Châu nên người Việt chúng ta đã ít ăn gạo Texas và thích ăn gạo thơm từ Thailand.
Trên thị trường hiện nay cĩ rất nhiều Hãng Nhập Cảng Gạo từ Châu Á để bán lại ra thị trường . Những chợ Việt Nam hay các chợ Á Châu khác đa số đã nhận gạo từ các hãng của Ba Tàu làm chủ. Hiện nay các chú Ba Tàu nầy chơi gian lận bằng cách đầu cơ tích trữ số lượng gạo lớn, sau đĩ lấy cớ là vì gạo bây giờ hiếm hoi , giá mắc nên phải bán ra lại thị trường với giá cao hơn. Trong một cuộc phỏng vấn được đăng trên tờ Calitoday , Ơng Trần Dũ, chủ chợ Á Châu, giải thích "Việt Nam, Thái Lan và Ấn Độ giảm xuất cảng gạo trong mấy ngày qua. Trước đây giá mua chỉ chừng 400 tới 500 một tấn, bây giờ lên tới 2000 đơ-la một tấn."
Sau khi chúng tôi điều tra với cơ quan xuất nhập cảng Hoa Kỳ để tìm hiểu về gía tăng bất chợt của gạo có hợp pháp hay khơng . Cơ quan xuất nhập cảng Hoa Kỳ cho biết là khơng nước nào cĩ quyền tăng vọt gía nhập cảng đột ngột vì các hiệp ước song phương đã được ký kết " Fair Trade " với nhau . Quí vị cĩ thể vào trang mạng FAIR TRADE CERTIFIED để tìm hiểu về sự gian lận nầy .
http://transfairusa.org/content/certifi ... orters.php
Như ông Trần Dũ nói là gạo đã tăng từ 400-500 USD lên tới 2000 USD trong một thời gian ngắn là trái với thảo hiệp "FAIR TRADE" . Chúng tơi kêu gọi đồng hương sáng suốt trong thời gian nầy đừng để bọn Ba Tàu đầu cơ tích trữ lừa tiền quí vị . Trong tời gian nầy chúng tơi sẽ tới các chợ Việt Nam để điều tra giá gạo, đồng thời sẽ báo cáo việc gian lận nầy đến với cơ quan Xuất Nhập Cảng Hoa Kỳ cũng như nhiều cơ quan khác liên quan tới vấn đề nầy . Vì đây là sự gian lận liên quan tới Hình Sự nên chúng tơi sẽ thơng báo tới cơ quan FBI sau khi cĩ đủ bằng chứng.
Trong lúc nầy, xin quí đồng hương có thể ăn những thức ăn khác để thay cho gạo Thailand như gạo của Texas vẫn bán với khơng tăng, Bánh mì hay bún v.v . Chúng ta cương quyết khơng để bọn Ba Tàu đầu cơ tích trữ ăn trên xương máu của đồng bào mình được . Chúng tơi nghĩ rằng trong một thời gian ngắn, sau khi cơ quan chính quyền Hoa Kỳ nhảy vào cuộc thì gía gạo sẽ bình thường trở lại .
Xin quí vị giúp chúng tơi một tay bằng cách giữ hết biên lai các chợ nào bán gạo giá cao mà quí vị đã mua, gửi cho chúng tơi bản sao biên lai về cho email info@vietland.net . Chúng tơi sẽ chuyển hết những biên lai nầy để làm bằng chứng cho các cơ quan thåm quyền Hoa Kỳ .
Hết chuyện gạo tăng phi mã, đến chuyện Tàu Cộng bị Pháp đốt cháy bằng lửa Thế Vận Hội Olympic 2008. Bản tin viết sau khi lễ rước đuốc Olympic được tổ chức Chui – Lậu - Lén tại San Francisco như sau:
“Rước Đuốc Chui tại San Francisco:
Cuộc rước đuốc Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 đã không diễn ra tại địa điểm xuất phát McCovey Cove, thành phố san Francisco như đã được công bố vì sợ bị phản đối, bạo động và sợ bị dập tắt đuốc nên đã bí mật thay đổi lộ trình. Mọi người ngao ngán ra về khoảng 2:00 PM kết thúc sự tham dự một cuộc rước đuốc chui.”
Bản tin thứ hai cho biết: Sau cuộc biểu tình tại Paris ngày 07-04-2008, bọn cầm quyền Tàu cộng đa đe dọa những thể tháo gia tham dự thế vận của Pháp. Tên đại sứ Tàu cộng tại Paris đã thơng báo đến ơng Sérandour, Chủ Tịch Ủy Ban Thế Vận Quốc Gia Pháp (CNOSF) rằng nhà cầm quyền Bắc Kinh sẽ giật bỏ huy hiệu "POUR UN MONDE MEILLEUR".... Nhà vơ địch Judo: David Douillet tuyên bố: "Họ cứ thử giật bỏ huy hiệu của chúng tơi đi... Họ sẽ thấy những điều gì sẽ xảy đến cho họ..." và ơng Chủ Tịch CNOSF, Sérandour tức giận đã phản pháo: "Một huy hiệu với những cái cịng"... Với những luận điệu bạo lực, trấn áp đe dọa của nhà cầm quyền Tàu cộng đối với những nhà thể thao gia Pháp như thế, hy vọng Tổng Thống Pháp sẽ tích cực tẩy chay thế vận hội Tàu cộng tháng Tám sắp tới. Đúng là "PARIS ĐỐT CHÁY TRUNG CỘNG BẰNG NGỌN LỬA THẾ VẬN".
Cam Bốt cấm lấy chồng ngoại quốc
Ngày 08-4-2008, Chính phủ Cam Bốt vừa ra lệnh cấm công dân Cam Bốt kết hôn với người ngoại quốc, bởi lo ngại rằng các trung tâm môi giới lạm dụng những cô gái nghèo thất học.
Quyết định trên được đưa ra sau khi Tổ Chức Di Dân Quốc Tế cho biết ngày càng nhiều phụ nữ Cam Bốt lấy chồng Hàn qua môi giới và nhiều người lâm vào cảnh khó khăn. Năm ngoái, số visa kết hôn mà sứ quán Nam Hàn tại Nam Vang cấp là 1759 người, trong khi cách đây ba năm, con số này chỉ là 72 người.
Nguồn tin cho biết tổ chức IOM loan báo dù chưa có con số chính xác, nhiều trường hợp phụ nữ bị lạm dụng đã khiến chính phủ báo động. Đã có 7 người phải bỏ về từ Nam Hàn vì không thể chịu đựng được những gì diễn ra tại đây, theo lời Bộ Trưởng Phụ nữ You Ay cho biết. Lệnh cấm kết hôn với người ngoại quốc đã được thông qua tuần trước và có thể được xóa bỏ sau khi chính phủ Cam Bốt hoàn tất khung pháp lý giải quyết các vấn đề liên quan đến hôn nhân với người ngoại quốc. Các chú rể tương lai đến từ Triều Tiên được cho là phải trả trung tâm môi giới 20,000 đô-la.
Tuy nhiên, gia đình cô dâu chỉ nhận được khoảng 1,000 đô-la, phần còn lại rơi vào túi của các tổ chức trung gian. Hiện chưa rõ có bao nhiêu cơ sở môi giới kiểu này ở Cam Bốt nhưng các trung tâm này vừa bị đóng cửa để chờ quyết định của chính phủ. Sứ quán Nam Hàn cũng ngừng cấp visa cho những phụ nữ Cam Bốt lấy chồng Hàn.
Điều này cho thấy dù là một quốc gia nhỏ bé hơn Việt Nam, nhưng chính quyền Cam Bốt còn biết lo cho dân hơn là nhà nước Cộng sản Việt Nam chỉ biết lấy tiền chất đầy túi, và mặc kệ trước những thống khổ của những cô gái Việt Nam lấy chồng Hàn gặp thảm họa khi sang đến quốc gia này.”
Như vậy, qua quyết định trên, kể từ nay, phụ nữ nước Cam Bốt sẽ thực hành câu “Ta về ta cưới trai ta, Dù trong dù đục, trai nhà vẫn hơn” và “trâu ta ăn cỏ đồng ta”. Nếu CSVN mà có luật này, chắc chắn các cô gái Việt khỏi phải làm dâu xứ Đài, xứ Hàn, xứ Mã, xứ Sing để khỏi mang tiếng là me này me kia, mà đôi khi còn mất mạng nữa.
Bạn ơi, hết giờ rồi. Bạn chờ thư, nhưng không “khẩn trương” bằng Ban Biên Tập chờ bài. Tôi ngừng đây nghe Bạn!
Hen Bạn thư sau.
Tuyết-Lan

