Chiến Sĩ QLVNCH

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tiểu Ðoàn 88 BÐQ Và Trận Ðánh Tại Dak Pek
Tác giả: Vũ Ðình Hiếu

Căn cứ Dak Pek là một tiền đồn biên phòng nằm gần biên giới Lào Việt, giáp với quận Ba Tơ tỉnh Quảng Ngãi và cách thị trấn Kontum 80 cây số về hướng tây bắc. Lược Lượng Ðặc Biệt (LLÐB) Hoa Kỳ xây căn cứ này vào tháng 4 năm 1962 nhằm mục đích ngăn chận, phá hoại đường xâm nhập từ bắc vào nam của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV). Đến ngày 30 tháng 11 năm 1970, Hoa Kỳ chuyển giao căn cứ này lại cho Việt Nam Cộng Hòa và được Tiểu Ðoàn 88 Biệt Ðộng Quân (BÐQ) Biên Phòng trấn giữ.

Sau khi nhận căn cứ, Tiểu Ðoàn 88 được giao phó thêm nhiệm vụ huấn luyện cho các tân sĩ quan về kỹ thuật trinh sát, viễn thám, trước khi bổ sung cho các đơn vị Biệt Ðộng Quân đang hành quân trên bốn quân khu và Cam Bốt. Trong trận chiến mùa hè đỏ lửa năm 1972, các đơn vị Bắc Việt tấn công căn cứ Dak Pek nhưng thất bại, một phần vì các binh sĩ Biệt Ðộng Quân chống trả dữ dội, một phần vì vị trí chiến lược của trại có nhiều đồi núi, phân tán, nên tránh được hỏa lực pháo binh của đối phương. Thất bại trong việc đánh chiếm Dak Pek, phía Bắc Việt cho quân đi vòng xuống phía nam đánh chiếm Tân Cảnh và bao vây thành phố Kontum.

Trong năm 1973 chỉ có những cuộc chạm súng nhỏ không đáng kể. Các đơn vị Cộng Sản vẫn không chiếm được Dak Pek mặc dầu các tiền đồn khác như Ben Het, Dak Seang và quận Ba Tơ đã lần lượt rơi vào tay họ. Cuối năm 1973, Tiểu Ðoàn 88 BÐQ kết hợp với Tiểu Ðoàn 95 (từng đóng tại Bến Hết), Tiểu Ðoàn 62 (từng đóng tại Polei Kleng) để trở thành Liên Ðoàn 22 BĐQ. Liên đoàn với hai tiểu đoàn lưu động thường xuyên hành quân trên vùng cao nguyên Kontum, Pleiku,Phú Yên. Còn Tiểu Ðoàn 88 vẫn đóng quân giữ căn cứ Dak Pek. Lúc này căn cứ Dak pek đã bị cô lập hoàn toàn, mọi việc liên lạc với bên ngoài, tải thương, tiếp tế đều bằng trực thăng, ngoài ra tiểu đoàn không còn được sự yểm trợ của pháo binh bạn vì nằm quá xa, sâu trong vùng địch chiếm đóng.


Image Hình chụp tại căn cứ Dak Pek vào khoảng năm 1968-69 với các binh sĩ Dân Sự Chiến Ðấu VNCH. Căn cứ này được Hoa Kỳ xây vào năm 1962, về sau chuyển giao lại cho Tiểu Ðoàn 88 Biệt Ðộng Quân VNCH vào cuối năm 1970. Trong chiến dịch tổng tấn công mùa hè năm 1972, Bắc Việt đã thất bại trong kế hoạch đánh chiếm Dak Pek. Nhưng hai năm sau với một chiến dịch bao vây triền miên và pháo kích lâu dài, Bắc Việt đã gây tổn thất nặng nề cho đơn vị Biệt Ðộng Quân phòng thủ. Ngày 16 tháng 5/1974, căn cứ Dak Pek thất thủ. Tiểu Ðoàn 88 BÐQ tuy đã chiến đấu cực kỳ dũng mãnh, nhưng kết cuộc cũng tan rã và coi như bị thiệt hại gần 100% quân số. (HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm).

Vào cuối tháng 3 năm 1974, trong khi hai Tiểu Ðoàn 62 và 95 quần thảo với các đơn vị Bắc Việt thuộc Sư Ðoàn 320 và Trung Ðoàn 95B trong vùng Kon Sơ Lu, đông bắc Kontum thì nhận được công điện khẩn của Tiểu Ðoàn 88 gửi về. Thiếu Tá Di (tiểu đoàn trưởng) và sĩ quan tham mưu báo cáo cho biết các toán viễn thám của tiểu đoàn phát hiện sự gia tăng hoạt động của địch. Nào là xe vận tải Molotova, công binh, dân công làm đường, v.v...

"Địch quân đang chuẩn bị tấn công căn cứ chúng tôi. Stop. Yêu cầu bộ chỉ huy khẩn gửi gấp lương thực, đạn dược, mìn claymore, súng phóng hỏa tiễn M-72, thuốc men. Stop." Đó là những lời cầu cứu của các quân nhân thuộc Tiểu Ðoàn 88 BĐQ. Các công điện gửi về liên tục tại trung tâm hành quân liên đoàn. Mọi người đều lo lắng cho số phận của căn cứ Dak Pek, yêu cầu Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân tại Quân Khu 2 yểm trợ cho Tiểu Ðoàn 88. Trong khi đó Liên Ðoàn 22 nhận lệnh di chuyển đến vùng hành quân mới tại Plei Lang Ba thuộc tỉnh Pleiku.

Trong một cuộc chạm súng gần căn cứ vào ngày 27 tháng 4 năm 1974, các binh sĩ Biệt Ðộng Quân tịch thu một tài liệu cho biết Bắc Việt đang chuẩn bị cho một trận đánh dứt điểm căn cứ Dak Pek. Đầu tháng 5 toán viễn thám BĐQ khám phá một hầm chứa 60 viên đạn pháo binh 105 ly (tịch thu được của Việt Nam Cộng Hòa trong chiến trận mùa hè đỏ lửa). Tuy nhiên, một điều mà BĐQ không biết đến là Trung Ðoàn 29 (thuộc Sư Ðoàn 324B) CSBV đã được di chuyển bằng xe vận tải Molotova từ thung lũng A Shau tỉnh Thừa Thiên về vùng tam biên.

Việc xử dụng Trung Ðoàn 29 chứng tỏ khả năng di động của Bắc Việt đã được phát triển cùng với hệ thống đường xá và phòng không. Trách nhiệm dứt điểm căn cứ Dak Pek được trao cho Trung Ðoàn 29. Trung đoàn này đã bí mật di chuyển 75 dặm và đạt dưới quyền điều động của Mặt Trận B3.

Vị sĩ quan tiểu đoàn trưởng của Tiểu Ðoàn 88 BĐQ có giữ một bức mật thư, chỉ mở ra khi trường hợp căn cứ Dak Pek bị tràn ngập. Ông ta sẽ hướng dẫn các binh sĩ sống sót băng rừng vượt núi chạy về Mang Buk, một tiền đồn cách Dak Pek vào khoảng 60 cây số về hướng đông nam. Nhưng có lẽ Thiếu Tá Di không có dịp mở bức mật thư đó ra để thi hành.

Bắt đầu từ ngày 10 tháng 5/1974, các trung đội BĐQ có nhiệm vụ lục soát bên ngoài căn cứ đã bắt đầu chạm súng lẻ tẻ với các đơn vị tiền phương của địch. Hai ngày sau quân Bắc Việt khởi đầu trận pháo kích lên vị trí phòng thủ của Tiểu Ðoàn 88 bằng đủ loại đạn, hỏa tiễn, và súng cối. Sau đó Trung Ðoàn 29 bắt đầu tấn công các tiền đồn nhỏ bên ngoài.

Ở trong căn cứ, các binh sĩ Biệt Ðộng Quân chống trả mãnh liệt, đẩy lui nhiều đợt tấn công của địch. Trận đánh kéo dài bốn ngày, thiếu hỏa lực yểm trợ của pháo binh bạn, tuyến phòng thủ của Tiểu Ðoàn 88 thu nhỏ dần, tuy nhiên các binh sĩ vẫn không buông súng.

Đến sáng ngày 16, sau khi tập trung đạn pháo binh bắn vào các vị trí còn lại của Biệt Ðộng Quân, các cánh quân thuộc Trung Ðoàn 29 CSBV có chiến xa T-54 yểm trợ đã siết chặt vòng vây, tiến vào căn cứ. Tất cả lô cốt, công sự phòng thủ trong căn cứ Dak Pek đều bị sập dưới trận mưa pháo của địch. Lúc đó Thiếu Tá Di vẫn còn liên lạc với các phi cơ yểm trợ. Trong trận này Không Quân đã bay hơn 70 phi vụ yểm trợ cho Tiểu Ðoàn 88 BĐQ. Nhưng vì thời tiết xấu và hỏa lực phòng không của Bắc Việt quá mạnh mẽ nên các phi vụ oanh kích đã kém nhiều hiệu quả. Đến trưa, tiếng nói của Thiếu Tá Di trên máy vô tuyến PRC-25 đã im lặng dưới hỏa lực của địch. Quân CSBV đã bắn vào căn cứ hơn 7,000 đạn pháo binh và hỏa tiễn trong vòng 12 tiếng đồng hồ trước khi Tiểu Ðoàn 88 BÐQ và căn cứ Dak Pek thất thủ.

Sau trận đánh căn cứ Dak Pek tháng 5/1974, báo cáo tổn thất về Tiểu Ðoàn 88 BÐQ là 100%. Tiểu đoàn này đã bị cô lập hơn một năm, tất cả các vùng xung quanh như Tân Cảnh, Dakto đã mất vào tay quân Bắc Việt. Tuy đã có kế hoạch cho Tiểu Ðoàn 88 rút về tiền đồn Măng Buk, nhưng Măng Buk lại cách Dak Pek đến 60 km thì đâu thể nào các quân nhân Tiểu Ðoàn 88 có thể tìm đường đến đó khi căn cứ Dak Pek thất thủ.

Vũ Ðình Hiếu
17 tháng 6 năm 1995

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

10 Ngày Cuối Cùng Của VNCH (VI)

Bài của HÀ MAI VIỆT

(Trích từ sách Thép và Máu)
30 Tháng Tư, Saigon sụp đổ, Tây Đô vẫn hào hùng. Trước giờ nhận lệnh buông súng, Cần Thơ đã dồn 2 sư đoàn cộng quân vào tử địa. Những giờ phút của hai danh tướng Lê Văn Hưng-Nguyễn Khoa Nam...

Ngày 30 Tháng Tư tại Cần-Thơ, vào lúc mờ sáng, chuẩn-tướng Mạch-Văn-Trường, Tư-lệnh sư-đoàn 21 BB, dùng trực-thăng chỉ-huy hướng dẫn không-quân oanh-kích để yểm-trợ Trung-đoàn 32 Bộ-binh và Thiết-đoàn 9 Kỵ-binh, lực-lượng Phản-ứng, đẩy lui địch-quân ra khỏi hệ-thống phòng-thủ tuyến Vòng Cung và dồn chúng đến bờ sông Cầu Nhiếm. Địch-quân đã bị dồn vào tử-địa, ta tịch thu hàng trăm vũ-khí đủ loại, địch để lại nhiều xác chết, nhưng sư-đoàn 21 BB phải dừng lại vì bỗng dưng có lệnh ngưng chiến của đại-tướng Dương-Văn-Minh.

Khoảng 11 giờ sáng, Trung-tâm hành-quân Sư-đoàn mời tướng Trường đáp xuống gặp thiếu-tướng Lê-Văn-Hưng, tư-lệnh-phó Quân-đoàn IV, để nhận lệnh. Sau khi điện-đàm, tướng Hưng chỉ-thị:

- Anh cho quân bố-phòng nằm nguyên tại chỗ, rút Thiết-đoàn 9 và Trung-đoàn 33 BB về thị-xã Cần-Thơ, Bộ tư-lệnh Sư-đoàn 21 BB cũng rút vào thị-xã, đóng cạnh Bộ tư-lệnh Quân-đoàn IV.

Sau khi nhận lệnh và phân chia nhiệm-vụ cho đơn-vị, tướng Trường lấy xe jeep đi trước. Trên đường vào thị-xã, ông quan-sát phố-phường và ghi nhận như sau:

Trên đường đi tôi thấy một cảnh hỗn-loạn chưa từng thấy trong đời. Trên trời thì Không-quân cất cánh như ong vỡ tổ. Dưới sông thì từng đoàn Hải-quân vội-vàng lìa bến. Trên đường thì tấp-nập xe-cộ đủ loại chạy ngược, xuôi, ngang, dọc. Người ta hốt-hoảng chạy đi tìm nhau. Xe hơi, xe đạp, xe gắn máy tranh nhau giành đường mà chạy, không còn trật-tự lưu-thông nữa. Trong thành phố thì những phần-tử xấu lợi-dụng thời-cơ cướp giật, hôi của tại các cơ-sở Mỹ và tư-gia những gia-đình đã di-tản. Đoàn quân-xa của Bộ Tư-lệnh hành-quân Sư-đoàn 21 rất khó-khăn và mất nhiều thời-gian mới vào tới bộ tư-lệnh Quân-đoàn IV lúc xế chiều.

Để trả lời câu hỏi về diễn-biến xảy ra sau khi tướng Trường tới bộ Tư-lệnh Quân-đoàn IV ở Cần-Thơ vào lúc 2 giờ chiều, tướng Trường thuật lại:

Bước vào phòng làm việc của Tư-lệnh Quân-khu 4, tôi chợt thấy cảnh âm-u đen tối lạ thường. Trước đây, văn-phòng này đèn mở sáng-choang, vị tướng Tư-lệnh oai-nghiêm ngồi làm việc. Bây giờ thì đèn tắt tối-om, chỉ còn một vài bóng lờ-mờ đủ thấy hình-dáng thiếu-tướng Nguyễn-Khoa Nam đang ngồi buồn-thảm như một pho tượng. Tôi chào như thường lệ rồi bước lại gần, thì thấy rõ cặp mắt ông đỏ-hoe, dường như ngài đang khóc. Phải chăng ngài khóc cho vận nước tới hồi suy-sụp, đổi thay, khóc cho QLVNCH oai-hùng đang bị bức-tử, hay khóc cho số-phận đám em út, tàn-binh, rồi đây cuộc đời sẽ ra sao?

Theo chuẩn-tướng Mạch-Văn-Trường kể lại thì trước ngày tướng Minh tuyên-bố đầu-hàng, tại Cần-Thơ thiếu-tướng Nguyễn-Khoa-Nam đã tiếp-kiến phái-đoàn tướng-lãnh Pháp để bàn thảo về việc giữ Tây-Đô trong vòng 1 tháng chờ giải-pháp chính-trị. Ngoài ra tướng Nam còn bàn-luận với tổng-thống Trần-Văn-Hương về "tin đồn" nhờ Trung-Cộng can-thiệp nhưng giải-pháp này đã bị loại bỏ vì rất nguy-hiểm, bởi lẽ Trung-Cộng có thể nhân cơ-hội này mà lật ngược thế cờ rồi thống-trị toàn cõi Việt-Nam. Ngoài ra Vùng 4 CT còn có các giải-pháp khác như rước Chính-phủ và bộ Tổng-tham-mưu về Tây-Đô, giữ an-ninh QL4 cho binh-đoàn và đồng-bào tản-cư về miền Tây và tái tổ-chức tử-thủ. Nhưng tình-hình đột-biến quá nhanh, các tướng-lãnh then-chốt tại Bộ Tổng tham-mưu đã bỏ đi gần hết. Tổng-thống Dương-Văn-Minh tuyên-bố đầu-hàng vô điều-kiện. Hải-quân và Không-quân tự-động di-tản hết rồi. Dân chúng bấn-loạn. Đường-xá kẹt cứng khắp mọi nơi. Các đơn-vị tác-chiến không thể điều-động dễ-dàng được. Vấn đề tản thương và tiếp-vận cũng gặp nhiều khó-khăn. Do đó tướng Nguyễn-Khoa Nam đã nói với các tướng Hưng và Trường như sau:

- Là quân-nhân, mình phải tuân-lệnh thượng cấp. . . Phương-tiện quân-đội không còn gì, không thể tính chuyện lâu dài được. Tôi đã suy-nghĩ kỹ rồi, bây giờ trước mắt và thực-tế mình phải tính cho sự an-toàn của quân-lính và dân chúng.

Tướng Hưng và Trường đang im-lặng ngồi nghe thì tướng Nam cho biết:

-Vừa rồi có một vị thân-hào xin phép tôi chấp-thuận cho ông dắt phái-đoàn đại-diện Mặt-trận Giải-phóng miền Nam vào đây gặp tôi để thảo-luận về việc thi-hành lệnh của tổng-thống Dương-Văn-Minh. Để xem họ muốn gì và mình có cơ-hội đưa ra điều-kiện không làm tổn-thương đến danh-dự người chiến-sĩ VNCH.

Sau đó tướng Nam cho mời phái-đoàn đại-diện VC vào để họ trình-bày ý-nguyện, đồng-thời ông cũng đặt điều-kiện ngưng-chiến.

Phái-đoàn VC gồm 1 đại-diện cho Chính-phủ Cách-mạng Lâm-thời Cộng-hòa miền Nam Việt-Nam và 2 đại-diện của Quân-khu 9 đến xin thảo-luận về-việc bàn-giao. Sau phần trình-bầy quan-điểm của phái-đoàn VC, tướng Nam đặt 3 điều-kiện với đại-diện Chính-phủ Cách-mạng Lâm-thời được tóm lược như sau:

- Sau khi ra lệnh buông súng, không được khiêu-khích quân-nhân VNCH.

- Đừng làm điều gì nhục-mạ người chiến-sĩ Quốc-gia.

- Sau khi bàn-giao, cho họ trở về xum-họp với gia-đình. Không được trả thù như hạ sát hay giam-cầm.

Đại-diện Chính-phủ Cách-mạng Lâm-thời cho biết đó là chủ-trương, đường lối và chính sách Hòa-hợp và Hòa-giải của họ, vậy xin tướng Nam cứ an-tâm. Trước khi dứt lời, họ đưa ra một văn-bản nói về chính-sách của Chính-phủ Cách-mạng Lâm-thời để xin tướng Nam thi-hành.

Sau khi đại-diện của Chính-phủ Cách-mạng Lâm-thời ra về và tướng Hưng đã trở lại văn-phòng của ông, lúc này vào khoảng 2 giờ 30, thiếu-tướng Nam hỏi chuẩn-tướng Trường:

-Hiện giờ ông có bao nhiêu quân?

-Thưa thiếu-tướng, các đơn-vị cơ-hữu, tăng-phái và diện-địa hiện có mặt tại Cần-Thơ quân-số khoảng 16,000 người.

-16 ngàn sinh-mạng, 16,000 gia-đình trong tay các anh. Ông đừng gây đau-khổ cho họ và gia-đình. Tình-hình bây giờ Mỹ đã rút, không còn yểm-trợ cho Việt-Nam nữa. Mình không còn Chính-phủ, không còn Quân-đội. Hải-quân, không-quân cũng không còn. Thượng cấp và bạn bè phần lớn đã bỏ ta chạy rồi. Tiếp-vận không có, đạn-dược không có. Bác-sĩ quân-y đã di-tản gần hết. Bệnh-viện không còn khả-năng cứu chữa thương-binh. Nếu có đánh cũng chẳng kéo dài được bao lâu. Ông hãy nghe lời tôi, giờ này đừng để đổ máu thêm nữa.

Khoảng 5 giờ chiều, chuẩn-tướng Lê-Văn-Hưng điện-thoại mời chuẩn-tướng Mạch-Văn-Trường lại tư-dinh để phân-trần về việc tổng-thống Dương-Văn-Minh đột-ngột đầu-hàng, làm hỏng cả kế-hoạch dự-trù của Quân-đoàn IV. Ngoài ra tướng Hưng còn cho biết, vào lúc 4 giờ chiều, phái-đoàn Hội-đồng-tỉnh Phong-Dinh cũng đến van xin ông đừng chống-trả, nếu kháng-cự VC sẽ pháo-kích bình-địa thị-xã Cần-Thơ như An-Lộc, gây chết-chóc đau-khổ cho đồng-bào vô-tội. Trong lúc này, tướng Hưng cũng cho tướng Trường biết:

- Tôi đã quyết-định không đầu-hàng, không di-tản, mà cũng không để địch bắt sống. Tôi sẽ tự-sát.

Đoạn ông nâng ly bia mời tướng Trường cạn ly để vĩnh-biệt rồi vỗ vai tướng Trường mà nói:

- Anh hãy trở về Sư-đoàn lo cho anh em.

Khoảng 8 giờ tối, phái-đoàn MTGPMN với 1 trung-đội võ-trang tháp-tùng, đến bộ Tư-lệnh Quân-đoàn IV xin gặp thiếu-tướng Nguyễn-Khoa-Nam. Tướng Nam ủy-quyền cho chuẩn-tướng Mạch-Văn-Trường đại-diện nhưng có dặn như sau:

- Nếu họ xác-nhận đồng-ý điều-kiện của tôi thì anh thay tôi lo cho em út được an-toàn trở về nguyên-quán.

- Còn như họ không đồng-ý thì sao?

- Ông trọn quyền.

Khi tướng Trường tiếp-xúc với đại-diện phái-đoàn VC, Tham-mưu-trưởng Quân-khu 9 xác-nhận là họ hoàn-toàn đồng-ý về những điều-kiện mà thiếu-tướng Tư-lệnh Quân-đoàn IV đưa ra hồi trưa và xin quân-đoàn thi-hành việc giải-giới bằng cách bỏ súng tại chỗ rồi tự-động giải-tán, nhưng tướng Trường đề-nghị cả 2 bên án-binh bất-động cho đến khi trời sáng sẽ thực-hiện, kết-quả là phía bên kia họ cũng đồng-ý như vậy. Tướng Trường liền báo-cáo sự việc lên tướng Nam và tướng Hưng, rồi ra lệnh cho các đơn-vị trực-thuộc tự-động giải-tán vào sáng sớm hôm sau, ngày mồng 1 tháng 5-1975. Trong khi tướng Hưng đàm-thoại với tướng Trường, ông đã gửi lời chào đến tất cả các anh em, rồi sau đó tự-sát bằng súng lục, bắn xuyên tim, vào lúc 8 giờ 45 đêm 30-4-1975.

Ngay sau khi được tin tướng Hưng tự-sát, tướng Nam điện-thoại cho tướng Trường, trong dịp này, tướng Trường liền trình lên tướng Nam:

- Trình thiếu-tướng Tư-lệnh, chuẩn-tướng tư-lệnh-phó đã tự-tử chết rồi!

- Tôi biết rồi! Xứng đáng lắm. Xứng đáng lắm.

Với một giọng thân-mật tướng Nam căn dặn:

- Ông Trường nè, kể từ giờ phút này tôi muốn ông thay tôi lo cho anh em.

Tướng Trường đáp:

- Thưa thiếu-tướng, phạm-vi quân-khu rộng lớn quá, sợ không lo nổi!

Nhận thấy tướng Trường còn e-ngại, bằng một giọng nghiêm-nghị, tướng Nam nói tiếp:

- Đây là lệnh, giờ phút này tôi muốn ông luôn-luôn thi-hành mệnh-lệnh. Làm tướng mà không giữ được nước thì tôi phải chết theo nước. Tôi chỉ e đám tàn-quân rồi đây sẽ ra sao? Được ông giúp cho việc này tôi rất an-tâm. Vĩnh-biệt anh Trường!

Đến gần sáng 1-5-1975, tướng Trường được tin thiếu-tướng Nguyễn-Khoa-Nam đã tự-sát bằng súng lục, bắn vào đầu, ngồi chết trên ghế tại tư-dinh vào khoảng 3 giờ sáng ngày 1-5-1975.

Mờ sáng ngày 1-5-1975, với nét mặt nghiêm-trang nhưng buồn-thảm và xúc-động của các chiến-sĩ Quân-đoàn IV vừa bị bức-tử, họ lặng-lẽ nhìn nhau trào lệ-cảm, nghẹn-ngào không nói nên lời, chỉ nhẹ-nhàng vẫy tay chào tạm-biệt.

Tại Sài-Gòn, đại-tá Bùi-Tín, một nhà báo Bắc-Việt ngồi trên 1 trong 3 chiến-xa T-54, dẫn đầu tiến vào Sài-Gòn. Vì tình cờ Bùi-Tín giữ được tấm hình dinh Độc-lập mà ông chụp vào năm 1973 trong dịp tham-dự ủy-ban Liên-hợp Quân-sự Bốn bên. Nhờ tấm hình này, ông trở thành vị sĩ-quan CS duy-nhất biết đường tới dinh Độc-Lập và đã hướng dẫn 3 chiến-xa nói trên đột-nhập vào dinh Độc-Lập lúc 11 giờ sáng ngày 30-4-1975.

Nơi đây không có một sự chống-trả nào của QLVNCH vì đại-tướng Dương-Văn-Minh, tổng-thống kiêm tổng-tư-lệnh QLVNCH, đã ra lệnh cho toàn-thể Quân-lực buông súng. Dinh Độc-Lập vẫn còn nguyên-vẹn, không hề bị sứt mẻ dù chỉ một viên gạch, ngoại trừ cánh cửa sắt của hàng rào mặt tiền đã bị một chiến-xa T-54 húc đổ và sau đó chiếc xe này đã cán nát bãi cỏ xanh ở trước dinh.

Lúc bấy giờ ở trong dinh chỉ có tổng-thống Dương-Văn-Minh và nội-các Vũ-Văn-Mẫu đang chờ đón Mặt-trận Giải-phóng để thương-thuyết.

Về phía Cộng-quân, cũng chỉ có 3 chiến xa T-54 với 12 người thuộc xa-đội, được chỉ huy bởi một sĩ-quan cấp-úy. Trong đoàn chiến-xa này, người có cấp-bậc cao nhất là đại-tá Bùi-Tín tháp-tùng đoàn xe, nhưng đại-tá Tín lại giữ vai trò nhà báo, chứ không trách-nhiệm chỉ-huy tác-chiến, cũng như không có thẩm-quyền thương-thuyết hay nhận lãnh bàn giao và cũng không được ủy-quyền.

Các nhân-vật CS có thẩm-quyền như thượng-tướng VC Trần-Văn-Trà, tư-lệnh Quân-đội Giải-phóng miền Nam, mãi đến 5 giờ 30 chiều ngày 30-4-1975 mới tới Dinh Độc-Lập và sau đó không lâu, Chính-ủy Phạm-Hùng cũng có mặt trong Dinh. Riêng Lê-Đức-Thọ, đại-diện Trung-ương đảng, mãi đến sáng ngày hôm sau, 1-5-1975, mới vào Dinh Độc-Lập.

Có lẽ vào lúc này đại-tướng Dương-Văn-Minh hiểu lầm về thẩm-quyền của đại-tá Bùi-Tín nên nói:

- Tôi đang chờ các ông để bàn-giao.

Sự việc xảy ra khoảng sau 11 giờ sáng, nhưng làm như Bùi-Tín chưa hề nghe tuyên-cáo do tướng Minh đọc vào lúc 10 giờ 30 nên không hiểu ý tướng Minh đã vội-vàng đáp cho có chuyện:

- Các ông không còn gì để bàn-giao.

Tại đô-thành, mãi đến chiều tối ngày 30-4, quân Bắc-Việt mới lần lượt tụ-tập tại các cơ-sở trọng-yếu như sau: Quân-đoàn II và IV tại dinh Độc-Lập, bộ Quốc-phòng, bến Bạch-Đằng và đài Phát-thanh. Quân-đoàn I và III tại bộ Tổng tham-mưu và phi-trường Tân-Sơn-Nhứt. Đoàn 232 tại Biệt-khu Thủ-đô và Tổng-nha Cảnh-sát.

Ngày 1-5-1975, thủ-đô Sài-Gòn được Mặt-trận Giải-phóng Miền Nam đổi tên là Thành-phố Hồ-Chí-Minh, hai bên đường treo đầy cờ Mặt-trận Giải-phóng. Nhưng khoảng một tuần sau, nhìn chung quanh đường phố, người ta chẳng thấy bóng dáng cờ Mặt-trận Giải-phóng Miền Nam đâu nữa, mà chỉ còn lại cờ đỏ sao vàng bay phấp-phới trên nóc các cao ốc.

Một trang sử đau-thương của một nhược-tiểu quốc được lật qua.

HÀ MAI VIỆT

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

Dịch giả Dương Hiếu Nghĩa
và tác giả Pierre Darcourt

Tiểu Sử:

DƯƠNG HIẾU NGHĨA
Image

PIERRE DARCOURT:

Pierre Darcourt, sinh năm 1926 ở Sài Gòn. Theo tiểu sử, ông gia nhập du kích chống Nhật ở Đông Dương sau biến cố tháng Ba 1945; sau đó làm lính nhảy dù Pháp cho đến 1954.

Ông trở thành phóng viên chiến trường Việt Nam, đi qua nhiều mặt trận, quen biết hầu hết các gương mặt tướng lĩnh và chính khách – thuộc cả chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và đối lập. (Theo Lê Quỳnh, BBC)


Tác phẩm:

VIỆT NAM - QUÊ MẸ OAN KHIÊN
Tác giả: Pierre Darcourt - Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa
Tủ sách Tiếng Quê Hương tại Virginia ấn hành, 2007

Image

Nguyên tác được in lần đầu ở Paris tháng 11-1975,
và bản dịch tiếng Việt ra mắt năm 2007

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên (bản dịch của Dương Hiếu Nghĩa) ghi lại những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa và một vài tháng sau ngày 30-4.

Nhà văn Uyên Thao, chủ của Tủ sách Tiếng Quê Hương (bang Virginia), nơi ấn hành bản tiếng Việt của tác phẩm, gọi điều “đáng trân trọng” qua cuốn sách này là “tâm tư chia sẻ của tác giả với những thống khổ của đồng loại mà bất kỳ người Việt Nam nào cũng phải ao ước là sẽ hiện hình trong con tim của hết thẩy những người đang mang dòng máu Việt Nam”.
(theo Lê Quỳnh, BBC)

MẸ VIỆT NAM ƠI!
DÂN TA CÓ TỘI TÌNH GÌ?
(VIETNAM, QU'AS TU FAIT DE TES FILS?)



http://nhd18.esmartweb.com/mevietnam/bia.html

---------------------------------

Bìa

Vài Dòng Cảm Nghĩ

Lời Giới Thiệu Của Nhà Xuất Bản Albatros
Thay Lời Tựa
Chương 01 Một Năm Sửu Thuận Lợi
Chương 02 Hà Nội Đánh Phá Uy Tín Của Sài Gòn
Chương 03 Chiến Dịch Hồ Chí Minh
Chương 04 Tổng Thống Thiệu Cố Gắng Giữ Thế Chủ Động Chánh Trị
Chương 05 Các Tướng Lãnh Tức Giận Vì Thấy Mình Bị Nhục
Chương 06 Dinh Tổng Thống Bị Dội Bom
Chương 07 Linh Mục Thanh: Đội Quân Thanh Lọc
Chương 08 Đừng Bao Giờ Tin Tưởng Vào Hoa Kỳ Như Một Đồng Minh
Chương 09 Chiến Trận Đẫm Máu ở Xuân Lộc
Chương 10 Chúng Tôi Không Hèn Nhát, Chúng Tôi Không Sợ Chết
Chương 11 Với Đoàn Người Chạy Loạn
Chương 12 Với Người Pháp Lớn Tuổi ở Sài Gòn
Chương 13 Quốc Hội Hoa Kỳ Bàn Cãi Về Ngân Sách Trong Lúc Người Dân Miền Nam Lo Chôn Con Mình
Chương 14 Phnom Penh Thất Thủ - Một Triệu Chứng Đáng Buồn Cho Sài Gòn
Chương 15 Thời Kỳ Của Những Trái Bom Thí Nghiệm
Chương 16 Tổng Thống Thiệu Từ Chức
Chương 17 Đến Lượt Đại Sứ Mérillon Lên Sân Khấu
Chương 18 Ngọn Đồi Cuối Cùng
Chương 19 Tướng Dương Văn Minh Xuất Hiện
Chương 20 Những Trò Chơi Vô Vị Cuối Cùng
Chương 21 Ông Dương Văn Minh Là Ai ?
Chương 22 Một Buổi Lễ Trao Quyền Đầy Sóng Gió
Chương 23 Sự Rẫy Chết Của Một Thành Phố
Chương 24 "Bộ Đội" Tràn Vào Thủ Đô
Chương 25 Sự Hiện Diện Của Người Pháp?
Chương 26 Thật Là Chua Chát Thay Cho Cái Gọi Là "Giải Phóng"

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA

LS Đỗ Thái Nhiên

Lúc bấy giờ là tháng năm, 1985, người Việt Nam tại quốc nội, nhất là dân chúng cư ngụ vùng Saigòn, Gia Định, vẫn nô nức nhưng kín đáo tìm đường vượt biên. Trong trường hợp âm mưu vượt biên thất bại, người vượt biên sẽ bị Cộng Sản Việt Nam hành hạ dưới tội danh "phản quốc". Vì thế, công việc chuẩn bị vượt biên cần phải được bảo mật tuyệt đối.
Chính vì hai chữ "bảo mật", nhiều người đã ra khơi một cách hoàn toàn bất ngờ, không một lời giã biệt bằng hữu. Riêng tôi, tôi nhất định vượt biên, nhất định bảo mật, nhất định ân cần thăm viếng và từ biệt bạn bè cũ. Nhằm đáp ứng các "nhất định" vừa nêu, một ngày trước khi rời xa quê hương, tôi quyết định tìm gặp những người bạn đặc biệt của tôi. Những người bạn đó hoàn toàn kín tiếng. Những người bạn đó không còn bận tâm chọn lựa đời sống ở bên này hay bên kia bờ đại dương. Những người bạn đó đã đi trọn đường trần bằng tất cả gian khổ với một ước mơ bất thành: ước mơ Việt Nam thống nhất, dân chủ và thịnh vượng. Những người bạn đó chính là các bạn đồng ngũ thương mến của tôi đang an nghỉ tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa.

Chiều hôm ấy, khoảng ba giờ, một mình tôi thẫn thờ bước vào nghĩa trang Biên Hòa. Bức tượng Thương Tiếc nằm ở ngay cổng đã bị mang đi nơi khác tự bao giờ. Con đường từ xa lộ chạy vào tới đài kỷ niệm Chiến Sĩ Trận Vong vẫn còn đó, vẫn dài, vẫn thẳng, nhưng hai hàng phượng đứng bên đường trông thật tiều tụy và ủ dột. Có thể vì phượng thiếu nước, thiếu gió. Có thể vì phượng muốn biểu tỏ tấm lòng trắc ẩn của cỏ cây dành cho hàng ngàn anh linh chiến sĩ đã vị quốc vong thân nhưng nay phải ngậm đắng nuốt cay nơi suối vàng trước cảnh "quốc" đang bị đè bẹp dưới ách độc tài Cộng Sản. Vào tới khu dành cho mộ phần của chiến sĩ, khách viếng mộ tận mắt chứng kiến toàn thể nghĩa trang đều bị đập phá tàn nhẫn. Đây là một ngôi mộ bị đào bới để lộ cả quan tàI mở nắp, di cốt tử sĩ đã biến mất. Kia là một ngôi mộ nằm ở triền đồi, bia đá vẫn còn nguyên nhưng di ảnh của ngườI quá cố có dấu vết vài phát đạn vào mắt, vào miệng. Kế đó là nơi an nghỉ của một sĩ quan cấp tá, trên bia đá, người nào đó lấy sơn đen viết một câu giễu cợt, rất phản văn hóa.

Cứ như vậy, khách viếng nghĩa trang lần lượt ghi nhận vô số hình ảnh não nề của một nghĩa trang bị nhận xuống tận cùng của hố ô nhục. Mặc cho ô nhục chồng chất, toàn bộ mộ phần của nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa vẫn lặng lẽ hướng về đài chiến sĩ trận vong. Đài này nằm trên đỉnh một ngọn đồi tọa lạc tại trung tâm nghĩa trang. Kiến trúc trọng yếu của đài chiến sĩ trận vong là một tháp xi-măng xám, cao vời vợi. Tháp này gợi nhớ hình ảnh cây bảo kiếm của người chiến sĩ vô danh năm xưa đã để lại nơi dương thế trước khi đi vào cõi vĩnh hằng. Từ cõi vĩnh hằng xa xăm kia, người ta vẫn nghe vang vọng một câu hỏi, nửa như kinh ngạc, nửa như phẫn hận: tại sao nghĩa trang của những anh hùng vị quốc vong thân lại có thể bị lăng nhục???

Bây giờ nhiều năm đã trôi qua... Bây giờ những xót xa về cảnh tượng hoang phế và cô tịch của nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa đã lắng đọng... Bây giờ những uẩn ức về lệnh buông súng tức tưởi đã trôi xa vào quá khứ... Bây giờ thời gian là năm 2002, một chiều tĩnh lặng cuối thu. Không gian là công viên tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ thuộc thị xã Westminster, California.

Tôi ngồi tựa lưng vào chân tượng đài, trầm ngâm suy nghĩ về quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
I. Phương pháp đánh giá một Quân Ðội. Trước tiên, tôi nghĩ tới những luận cứ chê trách QĐVNCH. Có người nêu rõ danh tánh vài ba ông tướng buôn lậu để đơn giản cho rằng QĐVNCH là quân đội buôn lậu. Người khác đã viện dẫn trường hợp đào ngũ, nghịên ngập của năm bẩy quân phạm trong quân lao Gò Vấp để vội vàng kết luận: QĐVNCH là quân đội vô kỷ luật. Người khác nữa đã kể lại câu chuyện một quân nhân đầu hàng địch quân trên trận địa đê? Nhanh chóng nhận định QĐVNCH là quân đội hèn nhát... Tất cả các đánh giá vừa kể hiển nhiên là kiểu đánh giá xuất phát từ những người rất giầu ác ý nhưng vô cùng nghèo nàn hiểu biết về phương pháp đánh giá. Làm thế nào để chúng ta có thể đánh giá một tập thể trên căn bản chừng mực và nghiêm chỉnh?
Đi tìm giải đáp cho câu hỏi vừa kể, có lẽ chúng ta nên suy nghĩ về một phương pháp đánh giá trong khoa kinh tế học. Mỗi khi tổng sản lượng quốc gia gia tăng, chưa hẳn người dân được sống trong thịnh vượng. Những năm gần đây, tổng sản lượng quốc gia Việt Nam được ghi nhận là gia tăng nhưng tuyệt đa số quần chúng Việt Nam vẫn bị giam cầm trong cuộc sống cùng khổ.
Lợi nhuận của sinh hoạt kinh tế phải là lợi nhuận chung của toàn bộ xã hội. Lợi nhuận kia phải được phân bổ hợp lý cho toàn dân. Thế nhưng CSVN đã cưỡng chiếm lợi nhuận kinh tế cho đảng CS và cho cá nhân đảng viên nhất là đảng viên thuộc giai cấp tư bản đỏ. Đó là lý do giải thích tại sao tổng sản lượng quốc gia VN gia tăng nhưng hai chữ "thịnh vượng" vẫn là ngườI khách cực kỳ xa lạ đối với quần chúng nghèo túng. Vì vậy, muốn so sánh mức độ thịnh vượng giữa hai hay nhiều nền kinh tế, các chuyên viên kinh tế phải đồng thuận với nhau về một người tiêu thụ mẫu mực gọi là "kinh tế nhân". Kinh tế nhân là người tiêu thụ một số lượng nhất định về các sản phẩm kinh tế căn bản như vải vóc, lương thực v...v... trong một thời lượng đã được quy ước trước. Thế rồi từ ý niệm kinh tế nhân, chúng ta có thể xác định mức độ thịnh vượng của một nền kinh tế bằng cách cân đo xem nền kinh tế đó đã thực sự nuôi dưỡng được bao nhiêu kinh tế nhân trên tổng dân số. Kết quả của việc cân đo này giúp chúng ta dễ dàng thiết lập bảng xếp hạng kinh tế thịnh vượng giữa các quốc gia.
Đánh giá một nền kinh tế, chúng ta cần "kinh tế nhân" làm thước đo. Đánh giá một quân đội, chúng ta cũng cần một thước đo tương tự. Thước đo đó chính là một người lính bình thường. Người lính đó không phải là một ông tướng lúc nào cũng sẵn sàng "bỏ quân chạy lấy người". Người lính đó không phải là anh binh nhì, suốt ngày ngồi ở vọng gác thì thầm ca bài "Ky? Vật Cho Em". Người lính đó mang trong người đầy đủ "tính lính" mà hầu hết binh lính trong QĐVNCH đều có. NgườI lính đó là "người lính tiêu biểu". Bây giờ chúng ta hãy khảo sát phẩm cách người lính tiêu biểu, mà bài viết này chỉ gọi tắt là người lính.
II. Quá trình thụ giáo của người lính. Muốn xác định phẩm chất của một quân đội, chúng ta không thể không tìm hiểu cội nguồn giáo dục đã đào tạo ra hàng ngũ quân nhân cho quân đội đó. Chế đô. CSVN là chế độ độc tài, tham ô và bóc lột. Vì vậy chế độ này cần rất nhiều tay sai để bảo vệ giới thống trị. Cũng vì vậy giáo dục của CSVN là giáo dục đào tạo tay sai. Chủ nghĩa Marx Lenine và luận cứ ca tụng đảng, suy tôn Hồ Chí Minh, là các công cụ trọng yếu của guồng máy giáo dục CS. Ngược lại, VNCH có một nền giáo dục "rất Người". Trên toàn lãnh thô? VNCH, các môn học như: công dân giáo dục, sử học, văn chương, triết học v...v... không hề có chỗ đứng dành cho tư tưởng độc tôn lãnh tụ hay độc tôn chế độ. Đó là nội dung cốt lõi của chương trình giáo dục nhân bản mà người lính của QĐVNCH đã được hấp thụ trong toàn bộ học trình của tiểu, trung và đại học. Đó là một sự thực mà không một người nào đã từng sinh ra và lớn lên trong xã hội VNCH có thể phủ nhận được. Một sự thực mà guồng máy thông tin tuyên truyền của
CSVN không thể xuyên tạc hoặc bóp méo.

Ngay sau khi "xếp bút nghiên theo việc đao cung", người lính lại bước vào trường học mới: ngành tâm lý chiến của QĐVNCH. Tại đây người lính không hề bị nhồi sọ để trở thành tay sai cho lãnh tụ hay chế độ chính trị nào. Người lính của QĐVNCH chỉ được trang bị một loại võ khí tinh thần duy nhất là lòng yêu nước và tinh thần tôn trọng kỷ luật quân đội.
Song song với giáo dục học đường dân sự và giáo dục tâm lý chiến của quân đội, người lính còn được hấp thụ một nền giáo dục nhân bản của toàn bộ xã hội. Người ta có thể không đồng ý với các chế độ chính trị tại VNCH về một số sự việc nào đó nhưng không thể chối cãi rằng VNCH là một chế độ tôn trọng quyền tự do tư tưởng. Quyền tự do này được thể hiện đậm nét trên hai lãnh vực: nghệ thuật trình diễn và nghệ thuật văn học. Điều này giải thích lý do tại sao sau nhiều năm bi. CSVN tìm đủ mọi phương cách để tiêu diệt, những tác phẩm văn học nghệ thuật xuất phát từ xã hội VNCH vẫn được lưu truyền càng ngày càng mạnh mẽ trong dân gian ở cả hai miền Nam và Bắc.

Nhìn chung lại, giáo dục học đường, giáo dục tâm lý chiến cùng với giáo dục xã hội là ba nguồn giáo dục nhân bản mà người lính VNCH đã được tôi luyện từ thời niên thiếu cho đến hết cuộc đời binh nghiệp.Trong thực tiễn đời sống, ba nguồn giáo dục căn bản kia đã hướng dẫn người lính VNCH sống và chiến đấu đúng với hướng phát triển tình cảm trong sáng của một Con Người. Hướng phát triển đó được triết học cụ thể hóa bằng biểu đồ hình trôn ốc. Vạn vật vận động theo hình trôn ốc. Hình trôn ốc triết học có đỉnh đặt trên mặt đất, đáy hướng lên trời. Hình trôn ốc là hình vẽ diễn ý rằng mỗi vận động trong vạn vật đều xuất phát từ một điểm để sau đó phát triển rộng ra, cao lên, cả về lượng lẫn phẩm. Khảo sát diễn tiến phát triển tình cảm của một cá nhân,chúng ta thấy: ngay sau khi được cha mẹ cho chào đời, đứa bé quyến luyến cha me. Đó là tình con cái đối với cha mẹ (đỉnh của hình trôn ốc) Thế rồi theo đà khôn lớn, đứa bé tìm tới tình anh chị em ruột thịt, rồi tình họ hàng gần xa, rồi tình làng xã, tình quốc gia dân tộc, tình nhân loạị.. Cứ như thế tình cảm của con người sau khi rời đỉnh hình trôn ốc đã men theo các vòng xoáy hình trôn ốc để từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phong phú cả về phẩm lẫn lượng. Không còn nghi ngờ gì nữa, quá trình giáo dục của người lính VNCH hoàn toàn phù hợp với nhận định của triết học về vận động của vạn vật. Sự phù hợp vừa nói khẳng định mạnh mẽ rằng: môI trường sống cùng với môi trường giáo dục tại miền Nam Việt Nam trước 1975 đã tạo điều kiện cho người lính VNCH trở thành những người thực sự yêu quê hương đất nước theo đúng quy luật sinh hoạt tình cảm tự nhiên của Con Người.
III. Bản chất của người lính VNCH. Do yêu quê hương đất nước, người lính VNCH đã nhận thức được rằng cuộc chiến đấu chống quân đội CSVN trước 1975 là cuộc chiến đấu cho tự do dân chủ, cho chính nghĩa. Sau 1975, nhà khoa học Nguyễn Thanh Giang đã kêu gọi mọi người Việt Nam (Bắc cũng như Nam) hãy tri ân chiến sĩ VNCH trong trận hảI chiến chống Trung quốc ơ? Hoàng Sa. Mới đây nhà văn Dương Thu Hương, một "chiến sĩ chống Mỹ cứu nước" trước kia đã giác ngộ chính nghĩa bằng cách viết bài "Tiếng Vỗ Cánh Của Bầy Qua. Đen". Qua bài viết này, Dương Thu Hương tố cáo cuộc chiến tranh tại Việt Nam trước 1975 do CSVN phát động là một tội ác phỉnh gạt vĩ đại. CSVN phỉnh gạt đồng bào miền Bắc bằng cách nhân danh tự do và cơm áo, đẩy đồng bào lao thân vào cuộc chiến tàn khốc tại miền Nam Việt Nam. Để rồi sau 30/4/1975, CSVN đã để lộ nguyên hình là một đảng Mafia tham ô và bóc lột. Nói ngắn và gọn, nhà văn Dương Thu Hương đã xác nhận điều được gọi là chiến tranh "Giải Phóng Miền Nam" do CSVN phát động chẳng qua chỉ là một hành động phi nghĩa. Các sự thể kể trên đã mạnh mẽ làm nổi bật tính chất chính nghĩa trong cuộc chiến đấu bảo vệ tự do cho miền Nam VN của người lính VNCH.

Do yêu quê hương đất nước, người lính VNCH chấp nhận phục vụ quê hương với những điều kiện sinh hoạt rất thanh bạch. Nghèo khổ không than trách. Nguy hiểm không sờn lòng. Người lính VNCH bao giờ cũng tận tình với nghĩa vụ bảo quốc, an dân. Người lính tuyệt vời kia đã được đền thưởng những gì? Phần đền thưởng đó lại chính là con đường "vị quốc vong thân" trong tuyệt đối hiu quạnh. Con đường ấy đưa đẩy người lính rơi vào một tình huống cực kỳ quái dị, cực kỳ tê táị "Đám Ma Tù" là điển hình của tình huống vừa kể:
"Vài tên cầm súng bước đi đầu
Tên nữa AK tiếp theo sau
Một xác bó tròn đôi manh chiếu
Hai đầu buộc tréo bốn dây lau
Không kèn, không trống, không đưa tiễn
Chẳng khói, chẳng nhang, chẳng nguyện cầu
Chỉ có bạn tù khiêng lặng lẽ
Vùi nông một khối hận thù sâu !!!"

NgôMinh Hằng--Thi Phẩm Gọi Đàn
Do yêu quê hương đất nước, người lính VNCH bao giờ cũng chuyên cần đổ mồ hôi trên thao trường của các quân trường, bao giờ cũng thiện chiến và anh dũng đoạt chiến thắng lừng danh trên mọi hình thái trận địa. Các chiến thắng Bình Long, An Lộc, tái chiếm cổ thành Quảng Trị, mùa Hè Đo? Lửa 1972, phản ứng nhanh và chính xác trong biến cố Tết Mậu Thân v...v... là những thí dụ điển hình tạo nên "Quân Sư? Vàng" của QĐVNCH.
Do yêu thương quê hương đất nước, người lính VNCH bao giờ cũng nêu cao gương trách nhiệm trong mỗi hành động chiến đấu. Hải Quân Thiếu Tá Ngụy Văn Thà anh dũng trầm mình theo chiến hạm do ông chỉ huy trong trận hải chiến với Trung Cộng tại quần đảo Hoàng Sa. Các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Nguyễn Văn Hai,Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và vô số anh hùng quân đội vô danh khác đã ngạo nghễ chọn cái chết thay vì đầu hàng địch quân vào ngày 30/4/1975.
Do yêu thương quê hương đất nước, người lính VNCH bao giờ cũng tôn trọng quân kỷ. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là người lính chỉ biết tuân hành mọi loại mệnh lệnh một cách mù quáng. Trong rất nhiều trường hợp, nghĩa vụ ân cần chăm sóc thương bệnh binh phải được xem trọng hơn nghĩa vụ tự giam bó trong quân kỷ. Đó là ý nghĩa của Kinh và Quyềợn trong tinh thần quân kỷ của người lính VNCH. Đó là ý nghĩa của kỷ luật tự giác mà người lính VNCH muốn đề cao. Đó còn là lý do giảI thích tại sao trong QĐVNCH lại có những hành động phản kháng kiểu Bác Sĩ Quân Y Hà Thúc Nhơn, Bác Sĩ Quân Y Phạm văn Lương.
IV. Hệ lụy của một quân đội bị bức tử. Phẩm chất người lính tiêu biểu của QĐVNCH như đã trình bày ở trên chính là phẩm chất của toàn thê? QĐVNCH. QĐVNCH sinh ra, lớn lên và hùng mạnh trong môi trường nhân bản. QĐVNCH không hề là, không thể là quân đội tay sai của ngoại bang hay bất kỳ chế độ chính trị nào. QĐVNCH là hình ảnh sinh động của lương tri và ái quốc. QĐVNCH thiện chiến và chiến đấu dũng cảm.
Thế nhưng, hành động phản bội của người bạn đồng minh Hoa Kỳ đã mặc nhiên trói tay QĐVNCH. Khai thác hoàn cảnh "bị trói tay" đó, CSVN vội vàng tạo tội ác 30/4/75. Nói rõ ràng hơn, Hoa Kỳ phản bội cộng với bản chất gian ác của CSVN là hai lý do chủ yếu dẫn đến "cái chết" của QĐVNCH. Thông thường chết có nghĩa là từ giã mọi hệ lụy. Thế nhưng, ngay sau ngày bị "bức tử", QĐVNCH đã để lại cho dương gian ba hệ lụy căn bản như sau:

Hệ lụy 1: Hơn ai hết, VC nhận biết rất rõ bản chất nhân bản và ái quốc của QĐVNCH. Vẫn hơn ai hết VC tự nhận biết bản chất Mafia của CSVN. Nhà văn Dương Thu Hương gọi Mafia VC là "Bầy Qua. Đen". Lo sợ lòng yêu nước và tính dũng cảm của QĐVNCH được dư luận truyền tụng rộng rãi và lâu dài. Sự thể này sẽ làm gia tăng vượt bực lòng căm phẫn của nhân dân VN đốI với "Bầy Qua. Đen". Vì vậy trong các thập niên qua, CSVN không ngừng nỗ lực phá hoại uy danh của QĐVNCH. Ngày 24/9/2002 trên báo The Orange County Register, qua bài viết "Victory most can celebrate" của ký gia? Gordon Dillow, đã nhắc lại các sự việc:
VC phá hủy có phương pháp nghĩa trang QĐVNCH
VC đẩy hàng ngàn cựu chiến binh tàn phế của QĐVNCH vào cảnh sống hành khất.
VC kiên trì và nỗ lực phá hoại công cuộc xây dựng tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ tại Westminster, California.

Ba sự việc nêu trên đi kèm với khối sách báo của VC viết về QĐVNCH là những bằng chứng mạnh mẽ cho thấy ác ý hủy diệt uy danh QĐVNCH của VC.

Hệ lụy 2: Sau chiến tranh Việt Nam, dư luận không hề cho rằng Hoa Kỳ đã thua kém VC trên địa bàn quân sự. Tuy nhiên "Hoa Kỳ phản bội QĐVNCH" là một sự thực không thể chối cãị nhằm xóa bỏ mặc cảm phản bội, giới truyền thông Hoa Kỳ đã cố gắng làm cho thế giới hiểu rằng chiến tranh VN là chiến tranh giữa Hoa Kỳ và VC. Đó là lý do giải thích tại sao sách báo và nhất là điện ảnh Hoa Kỳ triệt để tránh né đề cập tới vai trò của QĐVNCH trên chiến trường VN. Sự thể "tránh né" vừa nói đã làm cho dư luận hiểu lệch đi rằng QĐVNCH chỉ là cáI bóng mờ bên cạnh binh sĩ Hoa Kỳ và rằng QĐVNCH rất ngại chiến đấu. Để bác khước kiểu "hiểu lệch" kia, chúng ta hãy mang con số 400.000 tử sĩ VNCH đặt bên cạnh con số 50.000 binh sĩ Hoa Kỳ tử vong trong chiến tranh VN (http://encyclopediạcom/section/ vietnam w. end of the war) . Sự sai biệt lớn lao giữa hai con số là một bằng chứng bằng máu về lòng ái quốc và dũng cảm của QĐVNCH.
Hệ lụy 3: Đương đầu với hệ lụy (1) và (2), QĐVNCH hoàn toàn im lặng trong cõi bức tử. Tình trạng im lặng kia là cơ hội làm cho một số người, nhất là những người ra đời sau 1975 hiểu lầm tai hại về thanh danh của QĐVNCH. Đó là hệ lụy thứ ba mà QĐVNCH đang gánh chịu.
V. Giải trừ oan khiên.

Những điều trình bày ở trên đã minh chứng cả ba hệ lụy là ba oan khiên. Làm thế nào để giải trừ oan khiên?

Giải trừ một: qúi vị cựu quân nhân của QĐVNCH hãy hãnh diện về tư cách cựu quân nhân của mỗi quý vị. Quý vị gia đình cựu quân nhân và tất cả những người xuất thân từ xã hội VNCH hãy ghi khắc trong tim óc của mỗi quý vị: chúng ta đã có nhiều thập niên sống trong sự che chở ân cần của QĐVNCH. Một quân đội đã bảo vệ người dân bằng chính sinh mệnh của người lính.

Giải trừ hai: người Việt Nam lớn lên trong chiến tranh hãy giải thích cho người VN ra đời sau 1975, nhất là những người VN sinh trưởng tại quốc ngoại để họ hiểu biết tường tận về lương tri và lòng ái quốc của QĐVNCH trêạn những liên hệ thân thiết giữa người dân và QĐVNCH. Hành động giải thích này hoàn toàn không mang ý nghĩa của một cảm tính. Nó là sự truyềợn đạt từ thế hệ này qua thế hệ khác những hiểu biết về vận động quan trọng của lịch sử. Nó ẩn chứa trong nó ước mơ rằng: trong tương lai, quốc gia Việt Nam sẽ có một quân đội thực sự vì nhân dân. Các loại quân đội tay sai của "Bác", của Đảng, của bất kỳ phe phái chính trị nào phải triệt để bị loại bỏ. Ước mơ vừa nêu tuy gián tiếp nhưng mạnh mẽ vinh danh QĐVNCH.

Giải trừ ba: đất nước là tài sản chung của toàn dân. Người dân phải thực sự là chủ nhân ông tối cao và duy nhất của đất nước. Đó là chân ý nghĩa của công bằng và lẽ phải. Đó là quy luật sống tự nhiên của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại. Quy luật sống tự nhiên kia đòi hỏi những hoạt động kiểu giáo dục, luật pháp, kinh tế, nhất là quân sự phải là sinh hoạt nhân bản và công bằng của xã hội. Bài viết này chỉ xin nhấn mạnh đến guồng máy quân đội.
Quân đội dân chủ bao giờ cũng vận động theo chuẩn mực bởi dân, của dân và vì dân. Nhà cầm quyền dân chủ không bao giờ nuôi tham vọng biến quân đội trở thành công cụ bảo vệ ngôi vị cầm quyền. Qua quá trình giáo dục, qua quân sử và nhất là qua thực tiễn chiến đấu và phục vụ, QĐVNCH đích thực là một quân đội của xã hội dân chủ. QĐVNCH và dân chủ như hình vớI bóng. Chế độ dân chủ bị chà đạp, QĐVNCH bị lăng nhục. Vì vậy mọi người Việt Nam trong cũng như ngoài nước hãy nỗ lực mang lại dân chủ cho Việt Nam. Ngày chế độ dân chủ được tái lập tại Viet Nam chính là ngày danh dự của QĐVNCH được phục hồi.

Như vậy là ba phương pháp giải trừ đi kèm với ba hệ lụy.
Mỗi giải trừ tượng trưng bởi một nén nhang.
Nén nhang thứ nhất là lời tri ân của TỔ QUỐC
Nén nhang thứ hai là lời vinh danh tinh thần TRÁCH NHIỆM của QĐVNCH
Nén nhang thứ ba là lời nguyền quyết tâm phục hồi DANH DỰ cho QĐVNCH, một quân đội thực sự yêu nước , thiện chiến, và dũng cảm.

Người viết bài này kính cẩn đặt ba nén nhang kia dưới chân TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ Việt Mỹ ,Westminster, California. Hành động này mang hàm ý chúc mừng ngày khánh thành tượng đài.
Hành động này còn là sự biểu tỏ lòng tuyệt đối tôn kính và thương yêu đối với QĐVNCH./.

Đỗ Thái Nhiên
Nguyên thiếu úy , trưởng ban Quân số
Tiểu Đoàn 3, Pháo Binh Phòng Không
KBC 4314

Việt Nam Cộng Hòa muôn năm

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

30 tháng Tư, Người Lính nghĩ gì?

Bỉnh bút Phạm Lễ, BMD
Người lính mang số quân 700426
KBC.4339. CTF.228
11 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 đài phát thanh Saigòn đã phát thanh lời kêu gọi buông súng của Đại Tướng Dương Văn Minh. Lời tuyên bố này đã làm cho dân chúng cả ba miền Nam, Trung, Bắc bàng hoàng sửng sốt.

Một mầu đen tăm tối đã phủ xuống đất nước Việt Nam.

Khi lệnh đầu hàng phát đi từ Dinh Độc Lập và những tiếng xích sắt của T.54 nghiến trên các nẻo đường tiến vào Thủ đô Sài Gòn của Việt Nam Cộng Hòa. Chính lúc đó có những người Lính VNCH đã tự bắn vào đầu, đã tự ôm nhau cùng rút chốt lựu đạn tự sát để khỏi bị rơi vào tay giặc thù Việt Cộng.

Họ là những anh hùng của dân tộc trong quan điểm nếu không giữ được nước, không bảo vệ được đồng bào của mình thì phải chết vinh còn hơn là sống nhục.

Những hoạt cảnh bi thảm của ngày 30 tháng 4 từ ba mươi ba năm trước đã “HẠ MÀN CỦA SÂN KHẤU CHÍNH TRỊ” Việt Nam Cộng Hòa.

Người Lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa khi trước chỉ vì ba chữ :

”Tổ quốc - Danh Dự – Trách Nhiệm”,

tôn trọng quân phong quân kỷ và tuân theo quân luật.

Nên người Lính Việt nam Cộng Hòa luôn luôn sẵn sàng và hãnh diện chiến đấu cho Mầu Cờ, Sắc Aùo để giữ vững vùng đất Tự Do, Dân Chủ của VNCH và bảo vệ đồng bào của mình.

Vì cuộc chiến miễn viễn này, người Lính VNCH ít khi nào có đủ thì giờ để bình tâm suy nghĩ đến những hoạt cảnh chính trị, để kịp nhận định thời cuộc về đất nước.

Vì thế vai trò của người Lính VNCH vì thế đôi khi đã bị bạc đãi một cách bất nhân và thiếu sự đánh giá khách quan của đồng bào là những người khán gỉa đã dự khán vở Bi Trường Kịch chiến tranh giữa VNCH và Cộng Sản Bắc Việt của những tay phù thủy đạo diễn chính trị. Kế đó là những ngòi bút thiếu lương tâm khi viết bôi nhọ lên sự chiến đấu của người Lính VNCH.

Sự lơ là của đồng bào khi nhìn về sân khấu trình diễn tấm thảm kịch Chiến Tranh Việt Nam đã không xử dụng hết quyền phán xét của mình trong khi dự khán. Trong khi đó những diễn viên chính lànhững người Chiến Sĩ VNCH đã và đang xả thân giữ từng tấc đất, bảo vệ đồng bào của mình đã bị các diễn viên phụ là người lãnh đạo, là người lên kế hoạch, là người cố vấn chính trị và người làm Tổng Tham Mưu Trưởng của mình vì thiếu nhạy cảm, thiếu đầu óc sáng suốt trong trận tranh hùng qua bàn cờ quốc tế. Vì thế những diễn viên phụ ấy đã làm lu mờ, đã làm cho danh dự của Tập Thể Chiến Sĩ VNCH bị trà đạp chết một cách tức tưởi…

Máu của các diễn viên chính, những người Lính VNCH đã đổ xuống trên quê hương Việt Nam chưa chấm dứt ở ngày 30 tháng 4 năm 1975, mà vẫn còn tiếp tục đổ xuống sau đó trong các lao tù cộng sản miền bắc, trên chặng đường vượt biên tìm Tự Do.

Những tay đạo diễn ngoại bang và những diễn viên chính trị phụ của Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Sản Bắc Việt vẫn đang cố gắng dựng lại vở Bi Hài Kịch này dưới một danh từ mới

“Hòa Hợp Hòa Giải – Hãy Xếp Lại Chuyện Quá Khứ Để Nhìn về Tương Lai…”

những từ ngữ đao to buá lớn, mỹ miều này đang quảng cáo rầm rộ để làm nhạt phai đi ngày mà chúng ta gọi là Quốc Hận 30 tháng 4.

Trên quan điểm đoàn kết là sức mạnh, người Lính VNCH chúng tôi minh định không đứng trong bất cứ một phe phái hay đảng chính trị nào. Những tranh chấp tị hiềm có tính cách cá nhân, đảng phái người Lính VNCH không màng tới. Mà không những thế người lính VNCH còn cho đó là những âm mưu xảo trá của cộng sản qua đường lối tuyên vận tại hải ngoại bằng nghị quyết 36 từ Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam nhằm phá nát tiềm năng chống cộng của mọi người quốc gia chân chính nói chung và của tập thể anh em chiến sĩ VNCH nói riêng.

Đây là mối hiểm họa rất tai hại giống như những “Trái Lựu Đạn Ngôn Ngữ” mà Cộng Sản Việt Nam đang mượn bàn tay bọn nằm vùng, bọn đón gió trở cờ, tầng lớp trí thức chính trị xa lông đang ném và cho nổ tung vào cộng đồng người Việt Tị Nạn Cộng Sản.

Trước khi vở kịch mới đang diễn xuất, người viết chỉ muốn quý đọc gỉa, quý chiến hữu trong Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa khi trước phải dành lại thế đứng của mình sau 30 năm tập dợt lại, bên cạnh những học hỏi, cố gắng của những diễn viên trẻ bắt đầu nhập cuộc. Chúng ta phải thuần thục vai trò và trách nhiệm của từng diễn viên ngõ hầu làm cho vở kịch mới “Đường Về Quê Hương”này phải được sự ủng hộ nhiệt tình của khán thính gỉa là những đồng bào của chúng ta từ hải ngoại đến quốc nội. Cũng như làm thức tỉnh những phù thủy đạo diễn phải kinh ngạc về sự thực hiện vai trò diễn viên chính của chúng ta.

Vì chính lề lối suy tư và hành xử tự tôn, tự mãn, mục hạ vô nhân của những người đạo diễn chính trị này đã phá vỡ mọi nỗ lực kết hợp từng bị trì hoãn trong công cuộc vận động mang lại sự Tự Do và Dân Chủ cho đất nước Việt Nam. Cũng những người này tự coi minh là người lãnh đạo có khả năng, nhưng thật ra họ chỉ là những chuyên viên chính trị xa lông tiếp tục muốn tự giam cầm trong các khuôn đúc cũ theo kiểu “Sông Lạch” của xã hội nông nghiệp, và đã làm che khuất đôi mắt nơi họ về thứ viễn kiến “Đại Dương” tối cần thiết trong kỷ nguyên mới hiện đại.

Vì bất hạnh của biến cố 30 tháng 4 năm 1975 cho đến nay đã là 33 năm. Nhưng cũng là một cơ may để cho gần một triệu người Việt Nam đang quen nếp sống chậm tiến được viễn du trong thập tử nhất sinh, xuất dương tìm học những điều văn minh mới trong đó có thêm tầng lớp thế hệ thứ hai, thứ ba đang cố gắng với chúng ta trên con đường đấu tranh đòi hỏi Tự Do Dân Chủ và sẵn sàng về xây dựng đất nước sau khi có bầu cử tự do dưới sự giám sát của quốc tế.

Những người Chiến Sĩ VNCH chúng tôi nhận thức rằng, công cuộc Kháng Chiến không thể thành công với sự lãnh đạo của vài ba quân nhân chuyên nghiệp già nua, của những chính khách xa lông một thời vang bóng, trí thức biển lận đang tiếc nuối quyền lực chưa chịu thức tỉnh với kiến thức khoa học và siêu tốc độ như hiện nay.

Công cuộc phục quốc đòi hỏi phải được lãnh đạo, quản trị một cách tối tân với những kế hoạch, sách lược chính trị, kinh tế, kỹ thuật tinh vi và dài hạn. Như vậy chỉ còn trông cậy vào giới trẻ có tài và thực tâm đóng góp với cha anh…

Phục hoạt đất nước theo chiều hướng kháng chiến phục quốc không thể được lãnh đạo theo kiểu hội kín cổ xưa. Mà phải được theo lối điện toán hoá, chuyên môn hoá, kỹ thuật hoá. Lãnh tụ không thể là một người.

Mà lãnh tụ phải là một tập đoàn Đa Năng Đa Hiệu, biết Cư An Tư Nguy cho người dân, biết Tự Thắng Để Chỉ Huy, biết Vì Dân…Có thế mới mong canh tân đất nước, mới bắt kịp được sự tiến bộ của các nước khác trên thế giới.

Người Lính VNCH hôm nay không chống cộng theo kiều thập niên 30-40, không tố cộng theo kiểu thập niên 50-60. cũng như khống chống cộng theo kiểu máy móc của nửa thập niên 1970-75, theo lối kháng chiến 5-7 người tại Thái Lan vào những năm giữa thập niên 80. Tất cả hiện nay đều là những sự xa vời thiếu thực tế đối với chính trường và ngay cả chiến trường cũng vậy.

Vấn đề căn bản đặt ra cho người Lính VNCH còn yêu nước hiện nay là phải nghĩ gì, hành động ra sao cho thích nghi, để ra khỏi những con lạch, con sông hạn hẹp thì mới tiến tới đại dương của vận hội mới được. Với hoàn cảnh đấu tranh mới cho sự đòi hỏi Tự Do, Dân Chủ cho đất nước rút ngắn lại con đường phục hồi xứ sở chúng ta những ngừơi Lính VNCH còn hiện diện nơi đây hãy cùng nhau cúi đầu tưởng niệm những anh linh chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh vì lý tưởng Tự Do đã vị quốc vong thân.

Sau ba mươi ba năm vở trường kịch cộng sản rồi cũng phải chấm dứt bởi sự hạ màn. Vở kịch diễn trong ba mươi ba năm qua trên đất nước Việt Nam cũng như ở hải ngoại có gì gọi la mang lại hạnh phuc cho đồng bào hay không ?

Dở như thế nào?

Nội dung có được nhiều ngừơi khen hay chê ra sao?

Và những đoàn kịch hát “Live” sẽ tồn tại như thế nào khi đất nước chúng ta có
Tự Do – Dân Chuû thật sự trở lại.

Chúng ta hãy tạm khép kín nỗi buồn riêng tư, để đêm đêm chúng ta không còn phải khắc khoải u sầu vì đời của người lưu vong. Chúng ta hãy nhìn thẳng vào đại sự để nhận lấy vị trí diễn viên khiêm nhường của chính mình trong công cuộc chung mà mọi người khi còn tấm lòng nghĩ về đồng bào, về quê hương Việt Nam bên kia bờ Thái Bình Dương.

Viết cho muà tưởng niệm 30 tháng 4.
Bỉnh bút Phạm Lễ, BMD

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Lễ Phủ Kỳ Trung Tướng Dư Quốc Đống

Bài: Tuyết Mai
Ảnh: Phạm Hòa


Image

Cố Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Sư Đoàn Dù đã mệnh chung ngày 22 Tháng Tư, 2008 tại Hungtington Beach, CA hưởng thọ 76 tuổi. Trong niềm thương tiếc vô vàn, các cựu quân nhân Gia Đình Mũ Đỏ nhiều nơi đã tề tựu về đây, trang trọng tổ chức tang lễ. Buổi chiều lúc 5:30 ngày 2 Tháng 5, để tỏ lòng biết ơn một chiến sĩ quả cảm, một cấp chỉ huy nhân hậu, tài ba, để tiễn đưa vị huynh trưởng kính mến, khoảng một trăm cựu quân nhân Gia Đình Mũ Đỏ đã trang trọng cử hành lễ phủ cờ Quốc Gia VNCH lên quan tài của Cố Trung Tướng Du Quốc Đống. Đây là một nghi lễ đặc biệt để ghi nhận, để đền đáp tấm lòng trung kiên, tinh thần tận tụy của Trung Tướng đối với binh chủng Nhảy Dù , đối với Quân Lực VNCH và đối với Quốc Gia Dân Tộc Việt Nam.

Quan tài được đặt trong một phòng rộng, bên trái phía đầu quan tài có cờ vàng Việt Nam CH và quân kỳ Nhảy Dù, bên phải có cờ Trung Tướng và hoa tươi kết hình huy hiệu Dù “con ó và cánh dù trên nền đỏ”, phía sau quan tài, dọc theo tường tràn ngập những vòng hoa tuyệt đẹp.

Trong lời vinh danh trước nghi lễ phủ kỳ, Cựu Đại Uý Phạm Ngọc Đăng đã giới thiệu, suốt cuộc đời binh nghiệp Trung Tướng Dư Quốc Đống đã sống trọn tình đồng đội với anh em Mũ Đỏ và các chiến sĩ trong QLVNCH. Cố Trung Tướng đã tận tụy phục vụ dưới lá quốc kỳ linh thiêng, sát cánh với thuộc cấp của mình trong những lúc khó khăn nhất, Trung Tướng rất xứng đáng cho chúng ta ngưỡng mộ.

Ba vị cựu quân nhân đại diện GĐMĐ là Cựu Đại Tá NguyễnVăn Tường, Cựu Đại Tá Lê Văn Phát, Cựu Trung Tá Lê Ngọc Tỉnh, được mời lên niệm hương trước bàn thờ. Ngay sau đó tất cả mọi người đứng dạy nghiêm chào, nhạc khai quân hiệu trầm hùng trổi lên. Theo lệnh, sáu cựu quân nhân Nhảy Dù trong toán danh dự tiến vào vị trí hành lễ, đến gần quan tài, vị chỉ huy trang trọng nói:”Xin linh hồn Huynh Trưởng Dư Quốc Đống chấp nhận nghi lễ phủ cờ này”. Lá quốc kỳ VNCH được sáu cựu quân nhân trải rộng ra thật thẳng rồi nhẹ nhàng phủ lên quan tài theo lễ nghi quân cách phủ kỳ trong tiếng quân nhạc.

Tiếp theo là một phút mặc niệm và lễ truy điệu, tiếng kèn oai oán trổi lên, sau đó là băng ngâm thơ, để tưởng nhớ Cố Trung Tướng Dư Quốc Đống. Nhân dịp này mọi người cùng tưởng nhớ truy điệu những quân cán chính đã hy sinh vì chính nghĩa quốc gia và những anh em Nhảy Dù đã có công tô thắm màu cờ Quốc gia làm rạng danh GĐMĐ VNCH, đem an bình no ấm cho đồng bào. Sau đó nhiều người đến thắp hương và cầu nguyện trước bàn thờ Cố Trung Tướng Dư Quốc Đống.
Image
Ngày hôm sau, 3 Tháng 5, chương trình lễ tưởng niệm Cố Trung Tướng Dư Quốc Đống được bắt đầu lúc 11:30 sáng, với sự hiện diện của hơn hai trăm quan khách, trong đó có khoảng một trăm cựu quân nhân Sư Đoàn Dù trong quân phục chỉnh tề. Trong số những quan khách tham dự có Cựu Trung Tướng Tôn Thất Đính, Chuẩn Tướng Lê Văn Tư, Mục sư Trần Thanh Vân, Ủy Ban Liên Tôn VN tại HK, Ông Nguyễn Văn Giàu , Hòa Hảo…

Mở đầu Cựu Đại Tá Nguyễn Phúc Hùng, Khóa 5 Hoàng Diệu Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt bày tỏ lòng thương tiếc và đọc tiểu sử của Cố Trung Tướng Dư Quốc Đống.

Kế đến Cựu Trung Tá Phạm Đình Cung, Chi Hội Trưởng Chi Hội GĐMĐ Nam Cali đại diện GĐMĐ cảm ơn quan khách tham dự và đọc điếu văn. Ông nói, chúng tôi hôm nay tất cả đang hiện diện đông đủ, quân nhân các cấp thuộc binh chủng Nhảy Dù, những người lính hằng chiến đấu và nhận lệnh chỉ huy trực tiếp của Tư Lệnh từ hơn hai mươi năm truớc…Trung Tướng là một trong những Tư Lệnh kiệt liệt của đạo binh nhân nghĩa, Sư Đoàn Nhảy Dù - binh chủng bách thắng uy vũ cùa Quân Lực VNCH”.

Trong bài điếu văn này nhiều chiến trận lẫy lừng mà Cố Trung Tướng Du Quốc Đống đã tham dự, từ binh biến Bình Xuyên đến Bình Giả, Đồng Xoài, Pleime, Pleiku, Thung lũng Sông Ia Drang, Tổng công kích toàn cõi Miền Nam Tết Mậu Thân, Tây Ninh, Hạ Lào, KongTum, An Lộc, Quảng Trị… được nhắc lại.

Các giới chức chỉ huy trong binh chủng Nhảy Dù luôn luôn nghe từ hệ thống truyền tin…”Đây Bạch Long , có sĩ quan nào đầu máy?” Và Bạch Long xuống trực thăng chỉ huy bất cứ đơn vị hành quân nào…dẫu là rừng sâu hay Thung lũng Tử Thần (Death Valley). Bạch Long là vị Tư Lệnh độc nhất đã chiến đấu bên cạnh chiến sĩ của mình …Trung Tướng Dư Quốc Đống không hề vắng mặt một trận chiến nào, Người cũng là vị Tư Lệnh của chiến trường uất hận cuối cùng của Miền Nam, Phước Long Tháng 12/1974.

Cựu Đại Tá Nguyễn Văn Tường, Chủ tịch BCH/TƯ – GĐMĐVN Trung Ương đã đại diện cho các anh em trong Sư Đoàn Dù phát biểu: dưới sự chỉ huy của Trung Tướng, binh chủng Nhảy Dù đã chiến đấu thật kiên cường, chưa bao giờ phải khuất phục thất bại trước đối phương. Các nhà bình luận quân sự trên thế giới thừa nhận Sư Đoàn Nhảy Dù là một trong những sư đoàn thiện chiến nhất thế giới. Theo ông, sự trưởng thành của Sư Đoàn Nhảy Dù là nhờ Trung truớng rất nhiều, nên tất cả anh em Nhảy Dù có một cảm tình rất là sâu xa đối với vị tư lệnh của mình.

Ông nói tiếp, con đường đi tới để hoàn thành nhiệm vụ còn rất nhiều chông gai và thời gian, giờ đây Trung Tướng đã về yên nghỉ nơi Nước Chúa xin hãy phù trợ cho mỗi người anh em chiến binh Dù luôn có nghị lực và sức khỏe để hoàn thành trách nhiệm đã nhận lãnh…

Trong suốt thời gian tưởng niệm, nhiều quân nhân Dù xúc động ứa nước mắt vì thương mến vị chỉ huy của họ cũng như khi nghe nhắc lại những chiến tích lẫy lừng in sâu trong tâm khảm của họ.

Trong dịp này Trung Tướng James B. Vaught, Cố vấn HK đến từ Myrtle Beach, South Carolina được mời lên phát biểu, ông nhắc lại những kỷ niệm lúc làm việc với Cựu Trung Tướng Dư Quốc Đống từ Tháng Tư, 1971, ông nhắc lại ông và Cựu Trung Tướng Dư Quốc Đống coi nhau như anh em ruột. Ông được chỉ định đến đề làm Cố Vấn thật ra chỉ để giúp đỡ, hợp tác. Ông ca ngợi Trung Tướng Dư Quốc Đống là người can đảm, tài ba. Trước khi dứt lời, Ông Vaught đã xin lỗi cách đối xử của HK đối với dân tộc VN. Vào năm 1973, lúc đó QLVNCH sắp chiến thắng, Cựu Tổng Thống Nixon muốn được tái đắc cử nên ông ta đem quân đội HK về nước.

Theo Hiến Pháp HK thì Tổng Thống là vị Tổng Tư Lệnh, là quân nhân, chúng tôi là những quân nhân đã tuyên thệ phải tuân theo lệnh cấp trên. Hoa Kỳ đã hy sinh trên 50 ngàn chiến binh trong nỗ lực giúp quý vị chiến thắng và quý vị sắp chiến thắng. Nhưng những nhà chính trị đã quyết định bỏ rơi những người bạn đồng minh. Hoa Kỳ đã để cho quý vị không có cách nào để tự vệ chống lại Cộng Sản Bắc Việt. Và chúng tôi, Hoa Kỳ sẽ làm y như vậy bây giờ, trong chiến tranh Iraq. Hoa Kỳ sắp sửa lập lại sự ngu xuẫn trước đây. Một lần nữa tôi xin lỗi về cách xử sự của quốc gia chúng tôi, họ đã để cho quý vị phải đương đầu mọi khó khăn một mình… Khi Tướng Vaught dứt lời, mọi người trong tang lễ đứng dậy vỗ tay vang dội.
Image Dân biểu Quốc Hội California Trần Thái Văn, cháu ruột của Cựu Trung Tướng Dư Quốc Đống, có vài lời cảm tạ và chia sẻ với các bậc trưởng thượng. Dân biểu Văn nói, “Cậu Ba” có ra đi, nhưng chí khí vẫn còn mãi mãi. Như Bác Tường đã nói, cuộc chiến chưa xong, nhưng với tất cả những sự hy sinh và mất mát của thế hệ thứ nhất để bảo vệ sự tự do và dân chủ của Miền Nam VN, thế hệ thứ nhì như chúng tôi và các bạn đồng lứa sẽ tiếp tục tranh đấu để đem ngọn lửa chính nghĩa đó đến với nhân dân VN và cộng đồng VN chúng ta. Đó là lời hứa và trách nhiệm tối thiểu mà thế hệ thứ nhì, các hậu duệ của quý vị có thể làm được và chúng tôi xin nhân cơ hội này mà cùng hứa với quý vị và chúng ta không quên trách nhiệm đó. (Tiếng vỗ tay vang dội).

Sau đó Dân biểu Trần Thái Văn có một vài lời với người cậu thân yêu của ông là Trung Tướng Dư Quốc Đống. Bằng một giọng đầy xúc động, ứa lệ Dân biểu Trần Thái Văn nhắc lại nhiều kỷ niệm với “Cậu Ba” của ông làm không khí tang lễ thêm phần xúc động.

Những ngưới thân trong gia đình Cựu Trung Tướng lần lượt được mời lên phát biểu cảm tưởng hay cảm tạ quan khách. Được biết lễ di quan được bắt đầu vào lúc 2 giờ chiều, mọi người tiễn đưa được mời lên xe bus đi đến nhà hỏa táng và lễ thu cờ được thực hiện ở đây.
Image

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

Vinh Danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà
Niên trưởng Hồ Thị Vẻ,


Một mảnh nhung y điểm má hồng (Thơ Đinh Hùng)
Giao Chỉ – San Jose 2005, Aug 10, 2005


Từ 20 năm qua, mỗi khi đặt bút xuống viết bài bình luận về các niên trưởng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tôi không hề nghĩ rằng sẽ viết về một bậc nữ lưu. Thật không ngờ 30 năm sau ngày tan hàng mới chợt nhớ ra rằng chúng ta đã có rất nhiều anh thư liệt nữ nhập ngũ từ năm 1950, trải qua bao nhiêu là gian truân vất vả cho đến những ngày cuối cùng với 25 năm quân vụ.

Đại tá Cẩm Hương, vị trưởng đoàn nữ quân nhân cao cấp nhất sau khi bị tù cải tạo trên 10 năm đã qua đời tại Sài Gòn. Bà là người phụ nữ duy nhất đã từng bị giam chung một thời gian với nam quân nhân cấp đại tá.

Nhưng nữ chiến sĩ bị giam giữ lâu nhất là chị Thanh Thủy, Chỉ huy Biệt đoàn Thiên Nga của Cảnh Sát Quốc Gia. Đây là một đơn vị nữ cảnh sát tình báo với nhiều thành tích đã trở thành huyền thoại để rồi con Thiên Nga đầu đàn đã phải trả nợ đến 13 năm tù cải tạo.

Lịch sử khởi thủy của Nữ Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu từ cả 3 miền Trung Nam Bắc. Vào đầu thập niên 50, Hà Nội, Huế, Sài Gòn đều tuyển mộ các nữ nhân viên dân chính, các cán sự xã hội và y tế để giúp việc tại các đơn vị Tổng Hành Dinh và các Quân Y Viện.

Năm 1950 có đôi bạn trẻ của đất Thần Kinh gia nhập Việt Binh Đoàn. Đó là các cô Hồ Thị Vẻ và Nguyễn Hạnh Nhân. Cả hai đều bắt đầu công việc phụ tá văn phòng và sau đó cải danh thành nữ quân nhân từ cấp dưới đi lên để trở thành các sĩ quan cấp tá. Bà Vẻ với chức vụ sau cùng là trung tá chỉ huy trưởng Trường Nữ Quân Nhân nơi đào tạo cả hạ sĩ quan và sĩ quan cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Bà Hạnh Nhân là trung tá trưởng đoàn Nữ Quân Nhân của binh chủng Không quân.

Cả hai đã cống hiến 25 năm của tuổi thanh xuân cho quân đội để rồi sau cùng đều phải sống nhiều năm tại trại giam nữ quân nhân Hàm Tân.

Trong số các sĩ quan cao cấp còn có Trung tá Nguyễn Thị Hằng và Trung tá Huỳnh Mai. Chị Huỳnh Mai là Trưởng đoàn Nữ Quân Nhân sau cùng của Bộ Tổng Tham Mưu. Phần lớn các sĩ quan Nữ Quân Nhân đơn vị trưởng đều có dịp tham dự các lớp huấn luyện và tu nghiệp tại Hoa Kỳ và các khóa chỉ huy tham mưu cao cấp tại Việt Nam.

Cũng như đa số sĩ quan Nữ Quân Nhân, các chị không có cơ hội di tản năm 1975 nên đã phải trình diện kẻ thù để trở thành những người tù chính trị đau thương nhất của Việt Nam Cộng Hòa.

Vào những năm chiến tranh khốc liệt, quân số Việt Nam Cộng Hòa lý thuyết là một triệu binh sĩ, trong đó có 1% là nữ quân nhân tức là 10,000 chiến binh phụ nữ. Tuy nhiên, việc tuyển mộ khó khăn nên thực tế quân số hiện diện dưới cờ thường trực chỉ có trên 6,000 nữ quân nhân qua 4 vùng chiến thuật thuộc 3 quân chủng Hải, Lục, Không quân.

Sau 1975, nhiều gia đình sĩ quan cả vợ chồng đều đi tù cộng sản, đành đoạn bỏ con cái cho họ hàng bà con đùm bọc.

Cũng trong suốt 25 năm chinh chiến từ 1950 đến 1975 đã có rất nhiều Nữ Quân Nhân hy sinh trên chiến trường mặc dù không trực tiếp cầm súng chiến đấu.

Trong trận rút lui của Sư đoàn 3 Bộ binh tại Quảng Trị năm 1972, Trung tá Lê Huy Linh Vũ đã tả về cái chết đau thương của một Nữ Quân Nhân với máu đào đỏ thắm chiếc cáng cứu thương nằm ở bên đường. Những người lính quân y đã bị pháo kích chết, xe cứu thương bị lật nghiêng. Pháo địch như mưa. Tất cả đều tìm đường chạy.

Trung tá Linh Vũ kể rằng, khi đoàn di tản suôi Nam thì Nữ Quân Nhân Xuân Hồng tuy bị thương nặng nhưng vẫn còn tỉnh táo. Em nói rằng: “Trung Tá về nhắn mẹ em ở Thị Nghè sau này ra tìm mộ em ở Quảng Trị.” Em Xuân Hồng 19 tuổi hoa niên đeo lon trung sĩ nhất với anh dũng bội tinh ngôi sao đồng. Chưa hề có nửa mối tình đầu. Em nằm lại trên phòng tuyến của Sư đoàn 3 tan vỡ để chờ chết từng giờ. Nơi em nằm lại sau này người ta gọi là Đại Lộ Kinh Hoàng. Nữ Quân Nhân Xuân Hồng của Đại đội Tổng hành dinh Sư đoàn 3 Bộ binh là một trong nhiều nữ quân nhân đã hy sinh cho Việt Nam Cộng Hòa.

Trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa có mộ bia của Thiếu úy Quỳnh Hoa bên cạnh mộ bia của Thiếu sinh quân Tô Đình Hương. Chiến tranh khốc liệt tàn phá cả hương hoa đất nước. Những đóa hoa Quỳnh mang quân phục và các em thiếu nhi của gia đình nghĩa tử.

Sau này còn nhiều nữ quân nhân đã chết trong trại cải tạo, hay chết trên đường vượt biên. Toán Nữ Quân Nhân được biết đến nhiều nhất là các cô mũ đỏ của Sư đoàn Nhảy dù. Một vài tên tuổi thường được nhắc đến là mũ đỏ ký giả Võ Thị Vui và Phan Cẩm Phi. Vui đã qua đời ở miền Nam, Cẩm Phi hiện ở San Jose.
Cả hai cô sau 1975 đều sinh hoạt rất tích cực trong các lãnh vực xây dựng cộng đồng, báo chí và tôå chức ái hữu Nữ Quân Nhân ở hải ngoại.

Riêng ký giả Phan Cẩm Phi là người đã có dịp tham dự nhiều chiến dịch tại Việt Nam khắp các vùng chiến thuật và cô là người hoạt động rất đắc lực cho tổ chức Phục Quốc của ông Võ Đại Tôn ngay từ đầu thập niên 1980 tại hải ngoại.

Trong cuốn tuyển tập 16 Ngàn Tử Sĩ Ở Lại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, chúng tôi có đề cập đến trường hợp hai cô sĩ quan nữ quân nhân Nông Thị Thanh Nga và Mai Tố Ngọc. Thanh Nga 20 tuổi, nhập ngũ năm 1973. Ra trường xuất sắc được giữ lại làm huấn luyện viên cho Trung tá Hồ Thị Vẻ. Hai năm quân ngũ trả giá cả cuộc đời. Bây giờ, cô thiếu úy xinh đẹp một thời đang bán hàng rong trên vỉa hè Sài Gòn.

Mai Tố Ngọc là thiếu úy trưởng ban xã hội của Trường Võ Bị Đà Lạt.

Năm 75, trường di tản bỏ lại cô nữ thiếu úy trong bệnh xá với thương binh.

Bây giờ đang sống dở chết dở ở kinh tế mới Sông Bé.

Số mệnh của những người con gái thời chiến.

Một lần vào nơi gió cát, bụi suốt cuộc đời.

Cả hai cô, mỗi năm hai lần được giao phó công tác về Biên Hòa tham dự vào công việc tảo mộ chui tại Nghĩa Trang Quân Đội.

Anh nằm xuống, chợt nghe “từ đáy hồn thương tích, vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa.” (Thơ Thanh Nam)

Em là hương hoa của quân đội, đi xe ôm từ xa về thắp hương trên những nấm mồ hiu quạnh cho trọn nghĩa ân tình. Đó là những chiến hữu nam nữ Việt Nam Cộng Hòa mà chúng ta bỏ lại Sài Gòn.

Đó là một vài nét đan thanh mà chúng ta còn có thể ghi lại về hình ảnh Gia Đình Nữ Quân Nhân của niên trưởng Hồ Thị Vẻ.

Riêng về cuộc đời của bà Vẻ là một tấm gương hoạt động đấu tranh từ gia đình, xã hội, qua hướng đạo và quân đội.

Từ những ngày thơ ấu Hồ Thị Vẻ đã hoạt động hướng đạo và trở thành huynh trưởng. Khi vừa lập gia đình thì toàn quốc kháng chiến, cả hai vợ chồng đều tham gia chống Pháp và đều bị cầm tù.

Sau khi chồng bị Pháp giết, vợ tần tảo đi làm nuôi con và gây dựng phong trào hướng đạo tại Huế và Đà Nẵng.

Người chồng sau này của chị là chuyên viên ngành hỏa xa cũng là một huynh trưởng hướng đạo. Cô con gái lớn của chị cũng theo con đường của mẹ đi học lớp sĩ quan Nữ Quân Nhân rồi về phục vụ tại Pleiku.

Sau 1975, chồng của chị Vẻ là anh Thanh cũng phải đi học tập, khi được tự do đã tham gia kháng chiến phục quốc và bị cộng sản Việt Nam sát hại.

Riêng về phần chị Vẻ, khi được tự do sau 10 năm tù đày đã lập hồ sơ HO qua Hoa Kỳ và đã có dịp sinh hoạt với Gia Đình Nữ Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa tại hải ngoại.

Tháng 4-2005, Bộ Tổng Tham Mưu họp mặt Đêm Hội Ngộ 30 Năm của Trại Trần Hưng Đạo, Thiếu tá Nữ quân nhân Lê Thị Nuôi của San Jose sốt sắng liên lạc khắp nơi. Trung tá Hồ Thị Vẻ, Trung tá Huỳnh Mai và chị em Nam Bắc Cali về DC để gặp lại các niên trưởng và chiến hữu của Bộ Tổng Tham Mưu.

Nhân dịp này, niên trưởng Hồ Thị Vẻ cho biết hiện còn lưu giữ một số hình ảnh của các sĩ quan Bộ Tổng Tham Mưu chụp chung với Đại tá Trần Cẩm Hưng. Bà ước mong trong Viện Bảo Tàng Việt Nam Cộng Hòa sẽ có một nơi ghi nhận riêng về sự tham dự của phụ nữ trong quân đội và trong Cảnh Sát Quốc Gia.

Tại thủ đô Hoa Kỳ trong đêm hội ngộ có chị Đào Đức Minh cũng là Nữ Quân Nhân và đồng thời cũng là một huynh trưởng hướng đạo miền Trung đã từng tham dự khóa đầu tiên do Hồ Thị Vẻ tổ chức.

Tình đồng hương, tình hướng đạo, tình chiến hữu Nữ Quân Nhân trải qua bao nhiêu năm dâu bể đã làm cho đêm họp mặt vừa hào hứng vừa ngậm ngùi.

Ngay sau khi từ giã thủ đô về lại miền Nam Cali, bà Vẻ đã soạn sẵn một bao thư với nhiều hình ảnh tài liệu dán tem sẵn đề tên Giao Chỉ để gửi cho chúng tôi dùng làm di sản cho Viện Bảo Tàng. Bao thư lớn chưa kịp gửi thì bà lại có dịp đi thăm gia đình và chiến hữu Úc châu. Khi trở về bà đã mắc bệnh hiểm nghèo và qua đời lúc 78 tuổi.

Bà mất ngày thứ Năm 26 tháng 5-2005.

Hoàn toàn tình cờ, anh em chúng tôi từ San Jose xuống dự tiệc về hưu của bạn Lê Xuân Định chiều thứ Sáu 27 tháng 5-2005, mở tờ báo Orange County thấy có cáo phó báo tang niên trưởng Hồ Thị Vẻ.

Một phái đoàn đại diện Tổng Tham Mưu bèn được thành lập đến viếng linh cữu vào ngày Chủ Nhật trước khi lên máy bay trở về Bắc California. Chút duyên liên hệ muộn màng mở ra từ ngày hội ngộ tháng 4 năm 2005 tại thủ đô mới được chưa đầy hai tháng đã đóng lại.

Trước khi tiễn đưa niên trưởng Hồ Thị Vẻ về nơi vĩnh cửu, Trung tá Hạnh Nhân đã thay mặt toàn thể Nữ Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa để đọc bài ai điếu.

Đôi bạn Đồng Khánh của sông Hương núi Ngự một thời cùng gia nhập binh đoàn, cùng nổi trôi với đất nước, cùng tù đày và cùng xây dựng cuộc sống tha hương nay đã đến lúc chia tay theo định mệnh.

Đó là câu chuyện sinh ly tử biệt trong các niên trưởng của tôi. Bài tường thuật đến đây tưởng chừng đã hết. Nào ngờ, tang gia bối rối đã xong, con cháu chị Vẻ xem lại di vật của mẫu thân đã tìm thấy một bao thư dày đã dán kín đề tên Giao Chỉ – San Jose. Bèn chuyển cho chị Hạnh Nhân để duyệt lại và gửi lên miền Bắc cho người nhận. Thư đến thấy đề tên người gửi là bà Hồ Thị Vẻ, người mình vừa đi đưa đám tháng trước, thật quá ngỡ ngàng.

Mở ra đọc thư tóm lược của Trung tá Hạnh Nhân kèm theo cả lá thư của Trung tá Hồ Thị Vẻ nay đã trở thành di chúc.

Trong số các tài liệu của người ra đi giao lại, có một tấm hình rất quý là bản chính chụp các sĩ quan cao cấp của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nhân buổi họp hàng tháng.

Hình các tướng lãnh, các đại tá trưởng phòng và có mặt Đại tá Cẩm Hương của đoàn Nữ Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa.

Niên trưởng Hồ Thị Vẻ dặn rằng hình bà Cẩm Hương là đại diện cho 6,000 nữ quân nhân, phải được lưu giữ trong Viện Bảo Tàng Việt Nam. Đó là phấn son tô điểm sơn hà. Đó là những bậc nữ nhi như Đinh Hùng đã viết:

Nàng đã trao hồn cho núi sông.
Thuyền quyên vướng mắc chí tang bồng.
Chín lần gươm báu trao tay ngọc.
Một mảnh nhung y điểm má hồng.

Xin vĩnh biệt niên trưởng Hồ Thị Vẻ, và xin cảm ơn chị Hạnh Nhân. Vâng cả niên trưởng Hạnh Nhân nữa. Giao Chỉ tôi tuy lâu nay vẫn cậy mình ở tuổi cao niên nhưng bây giờ thì đã biết rằng vẫn còn thua các thuyền quyên xứ Huế về cả tuổi tác lẫn thâm niên quân vụ.

Giao Chỉ – San Jose 2005

Image

Ghi chú: Đính kèm bài viết này là tấm hình di chúc của Đại tá Cẩm Hương giao cho Trung tá Hồ Thị Vẻ. Bây giờ là di chúc của chị Vẻ gửi cho tác giả. Nếu quý vị còn có những di vật của Nữ Quân Nhân hoặc bất cứ di vật nào của Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa, xin liên lạc với chúng tôi IRCC, Inc. 420 Park Ave., San Jose, CA 95110. Điện thoại: (408) 971-7878. Fax: (408) 971-7882. Email: locvu@irccsj.com. Xin đa tạ.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image
NÊU CAO "TINH THẦN NGUYỄN KHOA NAM"
Trong Ngày Giỗ Thứ 33 Của Người


Bài viết: Trần Kim Vy
Ảnh chụp: Trần Minh Tâm
Chiều Chủ Nhật 04 tháng 5 năm 2008 tại nhà hàng Ocean Palace đã có khoảng trên dưới 700 quan khách tham dự Lễ Giỗ và Tưởng Niệm cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, một trong năm vị hổ tướng đã tuẫn tiết thà chết theo thành chứ không để lọt vào tay giặc. Hành động anh hùng của danh tướng Nguyễn Khoa Nam đã để lại nhiều thương tiếc và kính phục, không những chỉ từ những quân nhân trong Quân Ðội VNCH mà ngay cả trong lòng toàn thể người dân Việt Nam từ quốc nội lẫn hải ngoại.


Theo lời của ông Nguyễn Khoa Tần trong tộc họ Nguyễn Khoa thì: "Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam sinh tại Ðà Nẵng ngày 23-9-1927, gốc làng An Cựu Tây, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, xuất thân từ một gia đình văn học, tôn sùng đạo Phật. Thân phụ ông là cụ Nguyễn Khoa Túc, Thanh Tra Học Chánh thời Pháp thuộc tại Ðã Nẵng, hồi hưu năm 1941. Thân mẫu ông là cụ bà Công Tôn Nữ Mộc Cần, thuộc dòng Tuy Lý Vương. Trong nhiều khía cạnh, ông được thừa hưởng tất cả tinh anh của hai bên nội, ngoại.


"Ông là con trai giữa trong gia đình có năm anh em, nhưng hai anh lớn mất sớm, đến năm 1975 chỉ còn lại ba chị em. Chị ông là bà Nguyễn Khoa Diệu Khâm, phục vụ trong ngành Y Tế tại SàiGòn và đã hồi hưu. Em trai là ông Nguyễn Khoa Phước, phục vụ trong ngành giáo dục và cũng là cựu Thượng Nghị Sĩ dưới chế độ VNCH.


"Tướng Nguyễn Khoa đậu bằng Thành Chung Pháp năm 1944 sau đó bằng Tú Tài I năm 1946. Tốt nghiệp trường Hành Chánh Huế, ông làm việc tại Sở Ngân Sách Trung Việt cấp bậc Chủ Sự Phòng từ năm 1951.


"Cũng như nhiều thanh niên cùng lứa tuổi, ông đã bị gọi động viên, gia nhập khóa 3 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức vào tháng 4 năm 1954. Mãn khóa tháng 10-1953, ông đã gia nhập binh chủng Nhảy Dù với cấp bậc Thiếu Úy. Trong suốt thời gian từ tháng 12 năm 1953 cho đến ngày chia đôi đất nước vào tháng 7-1954, trên cương vị một Trung Ðội Trưởng thuộc Tiểu Ðoàn 7 Nhảy Dù, Thiếu Úy Nam đã tham gia nhiều cuộc hành quân trên chiến trường Bắc Việt .


"Mùa hè 1955, là Ðại Ðội Trưởng thuộc Tiểu Ðoàn 7 Nhảy Dù, Trung Úy Nam đã tham gia chiến dịch hành quân tảo thanh lực lượng Bình Xuyên ra khỏi Thủ Ðô Sài Gòn. Cuối năm 1955, ông được bổ nhiệm chức vụ Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội Kỹ Thuật Dù. Trong thời gian này ông được cử đi viếng thăm các trung tâm huấn luyện Nhảy Dù tại Pháp và Nhật. Ðầu năm 1961, ông được thăng cấp Ðại Úy. Năm 1962, Ðại Úy Nam được đề cử tham dự khóa học về Chiến Tranh Rừng Rậm tại Fort Braggs, đến năm 1963, khóa Bộ Binh Cao Cấp tại Fort Benning, Hoa Kỳ.


"Cuối năm 1965, ông được thăng cấp Thiếu Tá và giữ chức vụ Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù. Tháng 02-1966, đơn vị ông tham dự cuộc hành quân Liên Kết 66 tại Quảng Ngãi do Sư Ðoàn 2 Bộ Binh tổ chức nhằm tấn công một đơn vị của Sư Ðoàn 2 Bắc Việt, và do chiến công này Thiếu Tá Nam được trao tặng Ðệ Tứ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương.


"Sau đó, ông được vinh thăng Trung Tá và được đề cử giữ chức vụ Chiến Ðoàn Trưởng Chiến Ðoàn 3 Nhảy Dù. Cuối năm 1967, chiến đoàn Dù do ông chỉ huy đã chiến thắng trận đánh đồi 1416 Ngok Van ở Kontum, tiêu diệt một Trung Ðoàn Chủ Lực Bắc Việt. Ông được ân thưởng Ðệ Tam Bảo Quốc Huân Chương và là sĩ quan thứ hai của Sư Ðoàn Nhảy Dù sau Trung Tướng Ðỗ Cao Trí, được trao tặng huy chương cao quý này lúc còn mang cấp bậc Trung Tá. Ông cũng được gắn huy chương Distinguished Service Medal của Tổng Thống Hoa Kỳ.


"Ðầu năm Mậu Thân 1968, các chiến đoàn Dù được nâng cấp thành các lữ đoàn. Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù được điều động về Sài Gòn tham gia trong trận Mậu Thân 1 và 2 ở ven Ðô Thành Sài Gòn - Chợ Lớn và ông được vinh thăng Ðại Tá trong thời gian này.


"Ðầu năm 1970, ông được đề cử giữ chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh kiêm Tự Lệnh Khu Chiến Thuật Tiền Giang. Giữa năm 1970, ông được vinh thăng Chuẩn Tướng Nhiệm Chức tại mặt trận, cho đến tháng 10-1971 thì được vinh thăng Chuẩn Tướng Thực Thụ. Năm 1972, ông được vinh thăng Thiếu Tướng Nhiệm Chức và tháng 10-1973 được lên Thiếu Tướng thực thụ.


"Vào tháng 11 năm 1974, Thiếu tướng Nguyễn Khoa được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân Ðoàn IV - Quân khu 4 cho đến ngày 30-4-1975. Khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam, với tư cách Tư Lệnh Quân Ðoàn IV - Quân khu 4, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đã quyết định không đầu hàng địch và đã tuẫn tiết vào sáng ngày 01 tháng 5 để bảo toàn khí tiết của một vị tướng lãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông tự sát khi mới 48 tuổi."

Cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa đã khuất bóng 33 năm. Năm nay, Lễ Giỗ cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam có phần trang nghiêm và đặc biệt hơn những năm trước, vì ngoài gia đình tộc họ Nguyễn Khoa còn có sự tham dự đầy đủ của các Hội Ðoàn Quân Ðội tại Houston Texas qua lễ nghi quân cách, lễ trao quốc kỳ cho đại diện gia đình do cựu Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường chủ lễ trước sự hiện diện của trên dưới 700 quan khách, đại diện các hội đoàn tương trợ, ái hữu và các cơ quan truyền thông Việt ngữ địa phương.
Image Chương trình tổng quát được điều hợp bởi hai MC Nguyễn Khoa Diệu Quyên và Nguyễn Khoa Diệu Thảo là những con cháu đời thứ hai của tướng Nguyễn Khoa . MC Nguyễn Khoa Diệu Quyên là phu nhân của nhạc sĩ Trúc Hồ, hiện là Giám Ðốc hệ thống truyền hình SBTN cũng là thành viên trong Ban Giám Ðốc và điều hành của Công ty Asia Network. Công ty này đã và đang đóng góp một phần không nhỏ vào nền ca, vũ, nhạc kịch Việt từ thời tiền chiến cho đến hôm nay. MC Nguyễn Khoa Diệu Thảo tốt nghiệp chương trình đại học với cấp bằng Tiến sĩ Dược khoa là phu nhân của Bác sĩ Nha Khoa Nguyễn Văn Diệu. Bác Sĩ Nha Khoa Diệu & Dược sĩ Thảo là đôi uyên ương rất dễ thương, có những đóng góp không nhỏ trong các sinh hoạt Cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn tại thành phố Houston.


Mở đầu Lễ Giỗ, ông Nguyễn Khoa Hoạt ngỏ lời chào mừng quan khách. Ông nói rằng:


"Thừa lệnh ông Tộc Trưởng, tôi xin thay mặt bà con Tộc Nguyễn-Khoa tại quê nhà và hải ngoại để cảm ơn sự hiện diện của quý vị tại hội trường này vào ngày hôm nay để cùng chúng tôi cử hành Lễ Húy Kỵ một thân nhân trong gia tộc Nguyễn Khoa, đó là cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, một chiến sĩ QLVNCH, đã anh dũng hy sinh tính mạng của mình vào những ngày cuối cùng của nền tự do dân chủ tại miền Nam Việt Nam hầu bảo toàn thương vong cho đồng bào và các chiến hữu thuộc cấp.


"Sự ra đi vĩnh viễn của một danh tướng được lòng kính mến từ mọi tầng lớp dân và quân của miền Nam Việt . Sự hy sinh đã để lại cho hậu thế một gương sáng, để chúng ta có thể nhìn vào đó hầu xây dựng cho những thế hệ tương lai, hầu tạo dựng một niềm tin vững chắc hơn cho việc bảo tồn những di sản tinh thần vô giá mà Ông Bà Tổ Tiên đã để lại cho chúng ta đến ngày hôm nay".


Cảm tạ lòng thương mến của quan khách và đặc biệt các hội đoàn quân đội. Ông Nguyễn Khoa Hoạt xúc động nói thêm:

"Ðã một phần ba thế kỷ trôi qua, đặc biệt năm nay, Lễ Húy Kỵ của cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam được các hội đoàn quân đội tại địa phương và các vùng phụ cận đã không quản ngại giúp đỡ gia tộc Nguyễn Khoa trong phần nghi lễ quân cách để ngày húy kỵ thứ 33 của cố Thiếu tướng được thêm phần uy nghiêm và trang trọng. Chúng tôi không bao giờ dám quên nghĩa cử cao quý này."


Một thành viên trong gia đình được MC Diệu Thảo trang trọng giới thiệu là Tộc Trưởng lên khán đài đọc diễn văn chủ tọa Lễ Giỗ là ông Nguyễn Khoa Khương. Ðược biết ông Nguyễn Khoa Khương chính là thân phụ của MC Nguyễn Khoa Diệu Quyên. Người viết xin đăng lại nguyên văn để độc giả biết được tâm tình của gia đình vị tướng mà mỗi khi nghĩ đến ai cũng sa lệ tiếc thương và kính phục:


"Kính thưa quý quan khách;

"Kính thưa quý vị đại diện các Quân, Binh chủng Quân Lực Việt , thưa bà con thân mến trong Tộc Nguyễn Khoa;

"Thật là vinh dự cho tôi được thay mặt bà con tộc họ Nguyễn Khoa để chủ tọa Lễ Giỗ cố Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn IV và Quân Khu 4 của Việt Nam Cộng Hòa cho đến ngày 30 tháng Tư 1975.

"Bình thường giỗ húy-kỵ là một lễ đơn giản và ấm cúng trong gia đình. Ðặc biệt năm nay Lễ Giỗ cố Thiếu tướng lần thứ 33 được thêm phần trang trọng nhờ các cựu chiến sĩ đại diện QLVNCH tham gia và thực hiện phần nghi lễ quân cách. Với tư cách đại diện Tộc trưởng họ Nguyễn Khoa ở hải ngoại, tôi xin thành thật cảm tạ sự tham gia đặc biệt của quý vị đại diện các Quân, Binh chủng QLVNCH.


"Tôi thường cảm nghĩ, và hôm nay xin mạo muội trình bày cùng quý vị, đức độ trong đời sống binh nghiệp và gia đình cũng như hành động tối hậu của Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam là một tấm gương sáng đang tiếp nối truyền thống trung-hiếu-nghĩa của các tiền nhân tộc Nguyễn-Khoa trong lịch sử Việt Nam. Như có ghi chép trong gia phả Nguyễn Khoa và trong bộ Quí Hương Tiên Nguyên Sử, gần 5 thế kỷ trước, năm 1557, vị thủy tổ của tộc họ theo chân Chúa Nguyễn Hoàng trấn nhậm miền Nam từ dãy Hoành Sơn trở vào. Qua các thế kỷ, vì lập công trạng lớn với quốc gia, có bốn vị trung thần thuộc tộc Nguyễn Khoa được phong chức hiệu "Khai Quốc Công Thần" và tước vị "Quận Công" và không biết bao nhiêu vị khác đã giữ những nhiệm vụ và chức vụ quan trọng tại triều đình Huế và ở các miền gần xa, kể cả biệt phái bình định giúp nước lân cận. Lịch sử đã gây cảm hứng cho một giáo sư người Pháp, ông Georges Rivière, và ông đã viết bài sưu khảo tỉ mỉ đăng trong tạp chí Biên Khảo Cố Ðô Huế (Bulletin des Amis du Vieux Hue) với tựa đề "Một Dòng họ Trung Thần" (Une Lignée de Loyaux Sujets.)

"Nói riêng về tướng Nguyễn Khoa Nam, tôi xin nhắc lại lối hành xử của một viên tướng dũng mãnh khác trong tộc Nguyễn Khoa đúng 200 năm về trước, tức là năm 1775: đó là Kiệt Tiết Tướng quân Nguyễn Khoa Kiên, đã dùng gươm tử tiết khi bị bão đắm tàu và cô thế, thay vì nghe lời dụ dỗ mời phục chức tương đương của địch. Lúc tuẫn tiết, dũng tướng Nguyễn Khoa Kiên được sắc phong "Hầu Tước Triệu Thành", với chức hiệu "Chiêu-Dũng Tướng Quân Cẩm-Y Vệ", tức là Tham Mưu Trưởng Biệt Quân Hoàng Gia (mặc Cẩm y, tức là quân phục màu đỏ tím).


"Nói về khía cạnh đạo đức, chúng ta nhớ lại một vị Thượng-quan thuộc tộc Nguyễn Khoa, cảm thấy buồn bực trước sự bất lực của Triều đình đối với quân Pháp thuộc địa, đã treo ấn từ quan để xuất gia, rồi tu hành chính đạo trở thành Ðại Sư Viên Giác, lập nên chùa Ba-La-Mật có tiếng ở Huế, và tạo nên dòng tu có nhiều danh sư như Hòa Thượng Viên Thành và Hòa Thượng Thích Trí Thủ.


"Chúng ta nhắc lại lịch sử oai hùng của quốc gia cũng như lịch sử các vị đã dày công bảo vệ giang san, không phải chỉ để ôn cố tri tân suông. Chúng ta ước mong các thế hệ trẻ sau này, bất cứ ở nơi nào, nhìn lại lịch sử để tri ân và tôn vinh các bậc tiền nhân đã có công lớn với nước nhà, nhất là luôn luôn cố gắng trau giồi và hành xử thế nào cho xứng đáng là hậu duệ của các ngài.


"Tôi xin cảm tạ tất cả quý vị đã có lòng đến dự Lễ Giỗ Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam hôm nay, tỏ lòng ngưỡng mộ một trong số các sĩ quan và chiến sĩ vị quốc vong thân."
Image
Trước bàn thờ có di ảnh của vị tướng hùng anh QLVNCH Nguyễn Khoa , một chương trình Lễ Nghi Quân cách do các hội đoàn quân đội thực hiện hết sức trang nghiêm và cảm động. Ðiều động và sắp xếp công việc sau hậu trường, người viết thấy có cựu Ðại Tá Nhảy Dù Liêu Quang Nghĩa, cựu Trung Tá TQLC Nguyễn Văn Phấn, cựu HQ Ðại Uý Lưu Ðức Huyến. Trên khán đài có hai sĩ quan nghi lễ là HQ Ðinh Quang Tiến và TSQ Hồ Sắc đồng điều hợp chương trình Lễ Nghi Quân Cách thật nhịp nhàng, các cựu quân nhân phía dưới vào hàng thật nghiêm chỉnh.
Image Sau nghi lễ rước Quốc Quân Kỳ là Lễ chào Quốc Kỳ Hoa Kỳ và VNCH, là phút mặc niệm để tưởng nhớ công ơn tiền nhân đã có công dựng nước và những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh để bảo vệ gìn giữ giang sơn tổ quốc VN, những chiến sĩ, quân dân cán chính VNCH và Ðồng Minh đã hy sinh để bảo vệ tự do cho miền Nam VN, và những chiến sĩ đã bỏ nình trong lao tù CS. Chúng ta cũng không quên nhớ đến những đồng bào thân yêu của chúng ta đã bỏ mình trên biển cả rừng sâu, trên con đường tìm tự do. Ðặc biệt hôm nay chúng ta cùng tưởng nhớ đến cố Thiếu tướng Nguyễn Khoa , và những anh hùng liệt sĩ đã tuẫn tiết hy sinh, nêu cao tinh thần bất khuất của quân nhân QLVNCH.

Sau Lễ An Vị Quốc Quân Kỳ là nghi lễ trao quốc kỳ VNCH cho thân nhân cố thiếu tướng Nguyễn Khoa . Ðây là lá Quốc Kỳ lẽ ra được phủ trên quan tài của bất cứ chiến sĩ nào đã hy sinh tánh mệnh cho Tổ Quốc. Nhưng trường hợp của cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa tuẫn tiết trong thời điểm đau thương của đất nước nên QLVNCH dù muốn thực hiện nghi lễ tri ân này cũng không thể nào thực hiện được. Hôm nay trong dịp gia đình tộc họ Nguyễn Khoa tổ chức Lễ Giỗ lần thứ 33 cho tướng Nguyễn Khoa Nam, các Hội đoàn Quân đội dưới sự chủ toạ của Thiếu Tướng Mạch Văn Trường tiến hành nghi lễ trang trọng này nhằm làm ấm lòng gia tộc Nguyễn Khoa và bày tỏ lòng tôn kính của người còn sống đối với anh linh của cố Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam.


HQ Ðinh Quang Tiến kể lại rằng: "Kính thưa quý vị, 33 năm trước, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa , Tư Lệnh Quân Ðoàn 4, Quân khu 4, đã anh dũng tuẫn tiết không đầu hàng địch quân. Nhưng trong hoàn cảnh đau thương của đất nước lúc bấy giờ, QLVNCH đã không thể truy điệu an táng Thiếu Tướng theo lễ nghi quân cách. Hôm nay, lễ giỗ lần thứ 33 của Thiếu tướng, tập thể Quân Nhân các Quân Binh chủng QLVNCH tại Houston kính cẩn nghiêng mình trước hương linh của vị anh hùng liệt sĩ Nguyễn Khoa Nam, và xin trao Quốc Kỳ VNCH tượng trưng cho hồn thiêng sông núi của Tổ Quốc VN, ghi ơn người anh hùng dân tộc đến Gia Tộc Nguyễn Khoa."
Image Nghi lễ trao cờ được bắt đầu, Phan Thuận một cựu sĩ quan HQ đến trước mặt cựu Chuẩn tướng Mạch Văn Trường chào kính và escort cựu Tướng Mạch Văn Trường lên khán đài. Bác sĩ Nha Khoa Nguyễn Văn Diệu đến chào và escort ông trưởng tộc Nguyễn Khoa Phước lên khán đài. Sĩ quan phụ tá Lê Ðắc Lực (81 Biệt Cách Dù) tiến lên bàn thờ, nghiêm chỉnh chào tay di ảnh Cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam rồi nâng lá Quốc Kỳ trên bàn thờ xuống trao cho Thiếu Tướng Mạch Văn Trường. Cựu Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường có đôi lời cùng đại diện gia tộc Nguyễn Khoa và trao quốc kỳ VNCH cho ông Nguyễn Khoa Phước trong khi đó quân nhạc tấu kèn Bế Quân Hiệu. Các hội đoàn quân đội trong tư thế nghỉ và tan hàng chấm dứt phần Lễ Nghi Quân Cách.


Ông Nguyễn Khoa Phước người em ruột của cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam xúc động nói lên lời tri ân chân thành đến cựu Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường và toàn thể các cựu chiến sĩ đã thực hiện một nghi thức trang trọng mà 33 năm qua gia đình ông mới nhận được lá cờ tượng trưng hồn thiêng sông núi trong đó có sự chứng giám của anh linh vị Tướng trong QLVNCH là người anh người em người bác người cậu của gia tộc họ Nguyễn Khoa. Chương trình tiếp tục với nghi thức viếng di ảnh và dâng hương lên bàn thờ cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa .


Chia xẻ cùng quan khách hiện diện những kỷ niệm thực về cái chết bi hùng của cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là cựu Y sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng giám đốc Tổng Y viện Phan Thanh Giản, người đã chôn cất cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Một câu chuyện cuối cùng xảy ra giữa Thiếu Tướng Nguyấn Khoa và cựu Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường, người nhận lệnh cuối cùng lo cho sự an toàn của 16 ngàn quân lính và gia đình của họ được tướng Trường kể lại từng chi tiết. Ðặc biệt bà Nguyễn Khoa Phước, người em dâu thuật lại việc cải táng người anh chồng là cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam như thế nào trong lúc chồng bà là ông Nguyễn Khoa Phước còn bị CS nhốt trong tù. Sau đó là phần phát biểu của cựu Y Sĩ Thiếu Tá Nhảy Dù Trần Văn Tính. Bài nói chuyện của ông Trần Văn Tính thật xúc tích nêu cao được "TINH THẦN NGUYỄN KHOA " như sau:


"Kính thưa quý bậc Trưởng Thượng và quý Niên Trưởng tôn kính; Kính thưa quý vị cùng quý anh chị em trẻ thân mến:

"Trước anh linh Thiếu Tướng Tư Lệnh, và sự hiện diện quý báu của Quý vị, chúng tôi xin góp chút tâm tình, để cùng quý vị và gia tộc Nguyễn Khoa, tưởng niệm vị Anh hùng Dân Tộc Vị Quốc Vong Thân: NGUYỄN KHOA NAM.


"Trong quân sử Hoa Kỳ và VNCH, có ghi một chiến tích lừng danh trên ngọn đồi chiến lược 1416 trong cuộc Hành Quân Phối Hợp Việt-Mỹ được đặt tên là Darkto tại tỉnh Kontum vào tháng 10 năm 1966. Song song hành quân với Lữ Ðoàn 173 Nhảy Dù của Hoa Kỳ, Mũ Ðỏ Trung Tá Nguyễn Khoa Nam chỉ huy Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù VN gồm các TÐ3, TÐ6 và TÐ8ND. Ðịch có một Trung Ðoàn chạm trán TÐ1/LÐ Hoa Kỳ và một Trung Ðoàn khác đánh với TÐ8ND Việt . Kết quả: Ðịch bỏ lại hơn 300 xác chết; phía ta có khoảng 50 tử thương và bị thương. Riêng phía HK, có một số mất tích rất khó hiểu, có lẽ vì hết đạn. Tổng Thống Hoa Kỳ L.B. Johnson đã tặng huy chương Silver Star cho Mũ Ðỏ Trung Tá Nguyễn Khoa và huy chương Ðơn Vị Chiến Thắng cho TÐ8ND.

"Do gương can trường tại chiến trận, tài chỉ huy khéo léo và tính cẩn trọng cố hữu khi chuẩn bị hành quân cũng như khi trực tiếp điều động chỉ huy TÐ8ND của Mũ Ðỏ Nguyễn Khoa Nam, bên ta thắng lớn, ít thương vong và, đặc biệt khác với phía Hoa Kỳ, chúng ta không có ai mất tích. Cho đến nay, các vị tướng lãnh Nhảy Dù Hoa Kỳ vẫn còn ca tụng chiến thắng Darkto đồi 1416 và dùng làm tài liệu học tập quân sự.

"Với Hùng-Tài và Trí-Dũng đặc biệt ở đồi 1416 cũng như được thăng đến cấp tướng sau rất nhiều chiến công hiển hách khác, câu hỏi được đặt ra về Mũ Ðỏ Nguyễn Khoa Nam: (A) Người Từ Ðâu Tới? (B) Người Ðể Lại Những Gì? và (C) Người Ði Về Ðâu?

"A. Nguyễn Khoa đến từ lòng đất Mẹ VN như tất cả chúng ta. Người là một đứa con của đại dân Tộc Việt, gia tộc Nguyễn Khoa, một gia tộc với nhiều Văn Thần-Võ Tướng mở mang bờ cõi và phục vụ an dân, tận từ thời Chúa Nguyễn Hoàng vượt Ðèo Ngang, vâng theo câu "Hoành Sơn Nhất Ðái, Vạn Ðại Dung Thân" của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Dân gian hay hát:


Thương em, anh cũng muốn vô

Sợ truông nhà Hồ, sợ Phá Tam Giang

Phá Tam Giang đày rày đã cạn

Truông nhà Hồ, Nội Tán cấm nghiêm.


"Nội Tán đó là Nội Tán Ðại Thần Nguyễn Khoa Ðăng với công dẹp tan giặc cướp bình định an dân vùng truông cuối làng Hồ Xá và choa đào xả thêm nước Phá Tam Giang ra cửa biển Thuận An ở miền Trung. Tại miền , còn có nhiều chùa ghi lại công đức của Tổng Trấn Nam Kỳ Nguyễn Khoa Thuyên, và chúng ta có vị Ðại sứ VNCH đầu tiên tại Thái lan là cụ Nguyễn Khoa Toàn, người đã đặt nền tảng ngoại giao giữa hai quốc gia mà phúc lợi còn tồn tại đến ngày nay.

"Năm 1953, thanh niên Nguyễn Khoa là:

Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt

Xếp bút nghiên theo việc đao cung

(Ðoàn Thị Ðiểm)


"Cùng với những sinh viên ưu tú gia nhập trường Võ Bị Thủ Ðức trong thời kỳ phát triển Quân Lực do biến chuyển thời cuộc thực thi Ước Kết Atlantic Chrter ngày 14-9-1941; theo đó Thủ Tướng Anh Churchill đã phải đồng ý với Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt là, nếu được Mỹ tham chiến giúp Anh-Pháp thì sau khi thắng Thế Chiến II, phải để cho tất cả mọi Quốc Gia độc lập tự do theo tinh thần Dân Tộc Tự Quyết. Tất nhiên là Tự Trị với Quân Lực riêng của mình, hầu Tư Bản Hoa Kỳ có thị trường mở rộng trên thế giới và được mua bán tài nguyên chiến lược trực tiếp, khỏi phải qua các điều kiện thương mại bất lợi hay luật lệ khắc khe, có khi cấm đoán, của những nước chủ thuộc địa cũ.


"B. Ðến từ lòng đất Mẹ Việt Nam, sinh ra từ gia tộc Nguyễn Khoa, xuất thân từ Quân Trường Võ Khoa Thủ Ðức, tôi luyện trong Binh Chủng Nhảy Dù, Tướng Nguyễn Khoa Nam đã để lại gì cho thế hệ tương lai? Tuổi trẻ của chúng ta có thể học được gì?


"Với tư cách Y sĩ Trưởng Sư Ðoàn 7 BB, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 7 Quân Y, phục vụ cạnh Sáu lẽ Một (601 là Danh hiệu Truyền Tin Tướng Nguyễn Khoa Nam tự chọn cho mình ở Sư Ðoàn 7), chúng tôi xin ghi lại 7 "Kỷ Niệm" sáng soi cho tuổi trẻ.


"Thứ I: Hành quân ở cùng Ðồng Tháp, Ðại Tá tỉnh trưởng thỉnh cầu Thiếu Tướng Tư Lệnh ở tại dinh tỉnh trưởng, đầy đủ tiện nghi và an toàn. Tướng từ chối và cho Công Binh kéo một thùng sắt Conex chất bao cát chung quanh, làm chỗ ở sát cạnh Trung Tâm Hành Quân. Ăn uống đơn giản với Cơm Câu Lạc Bộ lấy về. Cả tại Hậu-Cứ Sư Ðoàn, cũng không có đầu bếp riêng: Ðức tính sống đơn giản, bình dị, không hề xa xỉ này, chúng ta có cố gắng theo không?


"Thứ II: Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 BB, rồi Tư Lệnh Quân Ðoàn IV kiêm Quân Khu 4, một vùng giàu có sung úc vào bậc nhất nước Việt Nam, nhưng tướng Nam không tậu nhà riêng, không có xe hơi riêng, không tơ hào tài sản, chẳng bao giờ tích lủy của cải riêng tư: Ðức tính Thanh Liên, Trong Sạch giữa môi trường đầy cám dỗ, chúng ta có học được không?

"Thứ III: Tại căn cứ Ðồng Tâm, hậu cứ sư đoàn 7BB, cho xây một hang đá Ðức Mẹ khổng lồ, nhưng trên bàn thờ cạnh đầu giường ngủ, lại có một tượng Phật nhỏ, rồi hàng năm đến ngày Tết của người Miên, thì nhắc nhở các Ðơn Vị Trưởng chăm lo cho lính gốc Miên nghỉ lễ ăn Tết: Gương tôn trọng mọi Tín Ngưỡng, thương yêu mọi sắc dân, không phân biệt màu da hay chủng tộc, chúng ta có tránh thiên vị Tôn giáo mình, hài hòa trải tình thương như thế không?


"Thứ IV: Từ Thiếu Úy Trung Ðội Trưởng đến Ðại Tá Lữ Ðoàn Trưởng Nhảy Dù, lên đến Thiếu Tướng Tư Lệnh Sư Ðoàn, rồi Tư Lệnh Quân Ðoàn kiêm Tư Lệnh Quân Khu, oai chấn cả một phần tư Quốc Gia nhưng Tướng Nam, ngoại trừ khi hô trước hàng quân, chưa hề to tiếng hay cải vả với ai: Ðức tính hiền hòa, khiêm cung trang nhã, khi trong tay đầy quyền hành, chúng ta có rèn nhân cách và theo được phần nào không?


"Thứ V: Gần như quanh năm suốt tháng, từợ 6 giờ sáng đến 9 giờ tối, lúc nào cũng trang nghiêm trong quân phục và giầy trận, uy nghi ở Trung Tâm Hành Quân hay Phòng Thuyết Trình. Ra ngoài lúc nào cũng nón sắt, đi xe quân đội. Luôn luôn cẩn trọng, quý sinh mạng và tài sản của từng người lính, từng người dân. Hy sinh phục vụ liên tục đến nỗi không còn thì giờ riêng để lập gia đình, như tự áp dụng cho chính mình câu thơ của Hồng Hà nữ sĩ: "Phép công là trọng, niềm tây sá nào": Ðức tính nghiêm túc, mẩn cán, tận tụy phục vụ, hy sinh cao độ và thương yêu quân dân đó, chúng ta có theo được phần nào không?


"Thứ VI: Chỉ huy ít hao quân, ít thiệt hại cho dân, nhưng thành công vì lúc nào cũng chuẩn bị chu đáo, cẩn trọng điều quân và theo dõi sát tình hình từng ngày, từng giờ; lại tìm hiểu tài năng đặc biệt của từng cá nhân, từng đơn vị và xử dụng chính xác khả năng của thuộc cấp: Tài tiên liệu, chuẩn bị cho lúc khó khăn, tính cẩn trọng, chu đáo và khả năng dùng người này, chúng ta có cố gắng học, theo gương và áp dụng được phần nào không?


"Và thứ VII: Ba mươi tháng Tư, 75: Lệnh đầu hàng. Tướng Nguyễn Khoa , một Quân Nhân gương mẫu, với tánh chín chắn, lòng can đảm cố hữu, đã có quyết định phi thường: Bất Khuất, không khuất phục bạo tàn. Hy sinh: Tuẩn Tiết. "Thời đã thế, thế thời phải thế! Nhưng Anh hùng tử, khí hùng nào tử!"

"Trong niềm thương tiếc vô biên, từ tâm khảm chúng tôi hiện ra một gương sáng chói ngời. Ðó là gương Ðức Ðộ - Thanh Liên - Hùng Tài - Trí Dũng - Mẩn Cán - Hy Sinh - Bất Khuất.


"Kính thưa quý vị;

"Chúng ta hãy tôn xưng Dũng Khí và Tài Ðức của vị Anh hùng Vị Quốc Vong Thân là: Tinh Thần Nguyễn Khoa ". Tinh Thần Nguyễn Khoa Nam sẽ là "nhân tố đạo học" nẩy mầm trong thế hệ trẻ Việt Nam, góp phần đào tạo những con ngươi xứng đáng là NGƯỜI, tạo dựng những nhà lãnh đạo Ðức Ðộ, Thanh Liêm, Hùng Tài, Trí Dũng, Mẩn Cán, Hy Sinh và Bất Khuất của một nước Việt Nam tươi sáng.

"C. Người đi về đâu? Tướng Nguyễn Khoa ? Chết không được phủ lá cờ, không có chút lễ nghi Quân táng, không có những tiếng súng chào vang vọng, nhưng:

- Người đi vào Lịch Sử oai hùng của Dân Tộc Việt

- Người đã trở về lòng Ðất Mẹ Quê Hương và gia phả tộc Nguyễn Khoa.

"Xin ghi khắc:

"Trí Dũng Tài Cao Trời Việt;

"Hùng Tài Ðức Trọng Tộc Nguyễn Khoa

"Kính thưa quý vị: Người đã đi sâu vào tim của mỗi người, mọi nơi với niềm mến thương và kính phục.

"Hình ảnh Tướng đã ngự vào tâm khảm của chúng ta, của thế hệ trẻ, của Quân Dân VNCH kiên cường, bất diệt bởi: Tinh Thần "Nguyễn Khoa "

"Trân trọng kính chào quý vị;

"Trần Văn Tính.
Image Một tiết mục tiêu biểu khác là "Nghi Thức Trao Biểu Tượng Cho Thế Hệ Tương Lai" cũng được diễn ra trong trang nghiêm do Bác sĩ Trần Văn Tính và Gia Ðình Mũ Ðỏ thực hiện.

Buổi Lễ Giỗ thứ 33 của cố Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam nặng về phần phát biểu, nhưng quan khách tham dự không ai thấy chán. Bởi vì mỗi một kỷ niệm với vị danh tướng này được nhân chứng sống kể lại là một tài liệu quý giá để sau này kẻ hậu sinh chép vào trang Sử Việt.

Quan khách tham dự được gia đình Nguyễn Khoa khoản đãi buổi cơm chiều thân mật. Buổi lễ Giỗ chấm dứt vào lúc 9 giờ. Image
Trước khi chấm dứt bài phóng sự, người viết nhận một cú điện thoại từ Dược sĩ Diệu Thảo. Sau những lời cảm ơn sự hiện diện của báo Ðẹp trong buổi Lễ Giỗ, Dược sĩ Diệu Thảo cho biết ông Nguyễn Khoa Phước em ruột của cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam rất cảm động khi nhận lá Quốc Kỳ VNCH từ tay cựu Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường. Lúc cô đứng bên cạnh nghe giọng người bác run run nói: "Anh ơi! 33 năm rồi em mới nhận lá cờ này!" cô đã chảy nước mắt. Người viết hỏi cô Diệu Thảo có biết gì về tướng Nguyễn Khoa thì cô trả lời: "Em không biết gì hết, chỉ nghe kể lại thôi vì lúc đó em chưa ra đời. Hai năm sau em mới sinh ra. Bây giờ em mới có 31 tuổi thôi!".


Dược sĩ Diệu Thảo tha thiết tiếp: "Chị Kim Vy ơi, chị có viết bài xin cho em gửi lời tri ân tất cả mọi người đã thương mến gia tộc Nguyễn Khoa và đặc biệt là cụ Bác sĩ Hoàng Như Tùng. Bác sĩ là người đã lo chôn cất Bác và làm dấu nơi chôn cất bác để sau này gia đình Nguyễn Khoa biết chỗ mà cải táng bác . Gia đình em cũng ngõ lời tri ân các Hội đoàn Quân Ðội đã giúp cho tiết mục Lễ Nghi Quân Cách thật trang trọng. Gia đình thật cảm động không biết dùng lời lẽ gì để bày tỏ trọn vẹn tấm lòng của gia tộc Nguyễn Khoa đến tất cả quý quan khách..."

Bài viết TRẦN KIM VY
Ảnh chụp TRẦN MINH TÂM

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Ðôi Mắt Người Chiến Sĩ VNCH

Nam Dao
Thời điểm 30/4 là cái mốc thời gian mà có lẽ hầu hết những thuyền nhân tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam đều lắng tâm tư mình để hồi tưởng lại quãng đời tỵ nạn gian truân và những nguyên nhân nào đưa đến sự chọn lựa đổi đời này. Một sự chọn lựa can đảm dẫu biết rằng mình phải trả một cái giá rất đắt là cái chết của chính mình để đổi lấy hai chữ Tự Do. Một sự chọn lựa chưa từng xảy ra trong 4000 năm lịch sử Việt Nam mà trong đó gần 3 triệu người dân Việt vượt biên đi tìm tự do và gần một triệu người bỏ thây ngoài trùng dương. Cho dù đặt chân đến được bến bờ tự do vào những thời điểm khác nhau, nhưng hầu hết những ai mang thông hành tỵ nạn chính trị cũng mặc nhiên coi ngày Quốc Hận 30/4/1975 là nguyên đưa đến sự quyết định ra đi đổi đời của mình.

Dù không vượt biên, đối với tôi, Quốc Hận 30/4/1975 là ngày mở đầu cuộc đời tỵ nạn CSVN của tôi nơi xứ người. Tôi muốn nhấn mạnh sáu chữ tỵ nạn CSVN chứ không phải là tỵ nạn kinh tế mà nhà cầm quyền CSVN cố tình xuyên tạc để bôi nhọ chính nghĩa của chúng ta. Trong ngày tưởng niệm 33 năm quốc hận 30/4/1975 năm nay, tôi muốn trải lòng mình viết về một người chiến sĩ vô danh trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Tôi muốn ghi lại trên trang giấy này ánh mắt anh, đối với tôi là biểu tượng cho sự âm thầm hy sinh cao cả của tập thể chiến binh VNCH để bảo vệ từng tấc đất, từng giây phút sống an lành cho người dân miền Nam. Ánh mắt nhiệm mầu đã thay đổi cuộc đời của một người con gái từ sống vô tư vị kỷ quay sang con đường đấu tranh khá xa lạ đối với phái nữ.

Người ta bảo ánh mắt là cửa sổ tâm hồn cũng không sai. Chỉ cần nhìn ánh mắt của một người là có thể đoán được một phần nào cá tính, lòng dạ tốt xấu và tâm trạng của người đó. Trong đời tôi đã gặp đủ loại ánh mắt, nhưng tôi có đâu ngờ được rằng ánh mắt mà tôi gặp nơi bờ sông Bến Hải đã để trong tôi một tác động tâm lý mãnh liệt làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời tôi sau đó. Sinh trưởng ở miền Bắc và di cư vào Saigon, tôi có cơ may có được một cuộc sống sung túc, ngày cắp sách đến trường, nhìn cuộc đời với đôi mắt màu hồng của tuổi dậy thì. Hình ảnh chiến tranh thời đó tôi cảm nhận được là những ngọn đèn hỏa châu và những tiếng đại bác đêm đêm vọng về. Thế nhưng cuộc đời tôi đã rẽ sang một khúc quanh khi gặp đôi mắt bờ sông Bến Hải.

Trong một chuyến du lịch trở về thăm quê hương (1973) cùng với phái đoàn Tổng Hội Sinh Viên Paris do ông Hoàng Ðức Nhã tổ chức, các sinh viên du học được đưa đi thăm Huế, Quảng Trị, đại lộ kinh hoàng, những địa danh bị tàn phá bởi chiến tranh và bờ sông Bến Hải để sinh hoạt cùng với các anh chiến binh VNCH. Nơi dòng sông Bến Hải, nhìn qua bên kia sông là lá cờ máu của CS. Ngước nhìn lên chòi canh bên này là lá đại kỳ vàng ba sọc đỏ phất phới bay và hình ảnh người chiến binh VNCH trong quân phục tác chiến, tay cầm khẩu súng im lặng mắt hướng về phía bên kia sông. Khuôn mặt sạm màu nắng chiến chinh và ánh mắt khắc khổ chịu đựng gió sương nhưng cương quyết, sẵn sàng quyết tử để bảo vệ màu cờ vàng ba sọc đỏ, đã làm lòng tôi chùng xuống một niềm xúc động lớn pha lẫn xấu hổ. Xấu hổ vì thấy rằng mình đã sống quá vị kỷ chưa làm được gì hữu ích cho quê hương dân tộc. Xúc động vì giờ đây qua ánh mắt người chiến binh đó tôi mới thực sự hiểu được, trong khi tôi và người dân miền Nam được sống yên lành với gia đình thì ở ngoài tiền tuyến lại có hàng trăm ngàn chiến binh VNCH âm thầm chấp nhận đốt cháy tương lai, tuổi thanh xuân, lẫn hạnh phúc, bên ánh đèn hỏa châu lửa đạn.

Người chiến binh VNCH không phải chỉ mất tuổi thanh xuân không thôi. Ðã có hàng trăm ngàn chiến binh trở về sau cuộc chiến "với đôi nạng gỗ", để lại nơi chiến trường một phần máu và thân thể của đời mình. Trở về với cuộc đời dang dở tàn phế tương lai! Và cũng đã có biết bao nhiêu anh hùng liệt sĩ vô danh bỏ thây nơi chiến trường để lại gia tài cho vợ con một tấm thẻ bài và những vành khăn tang trắng làm đổ nát đời người cô phụ và gia đình họ. Tôi đã ngộ những mất mát to lớn đó khi đi trên Ðại Lộ Kinh Hoàng mà cái tên tự nó cũng đủ nói lên trận chiến khốc liệt đã xảy ra tại nơi đây. Dẫu chiến trường đã được dọn sạch từ lâu, nhưng quang cảnh hoang tàn và thê lương cũng đủ làm tôi rùng mình vì tôi vẫn còn cảm nhận được một luồng âm khí của các vong linh hình như chưa siêu thoát nên vẫn còn lảng vảng ở đâu đây. Khi đôi chân mình đi trên mặt đất thấm máu và nước mắt của dân tộc tôi mới thấu hiểu hai chữ tự do vô cùng quý báu như thế nào. Lá cờ vàng ba sọc đỏ biểu tượng cho khát vọng tự do được gìn giữ bởi máu và nước mắt của dân tôi giờ thiêng liêng biết ngần nào!

Cũng vì thế khi ngước nhìn lá đại kỳ phất phới bay nơi dòng sông bến Hải tôi đã nghẹn ngào thầm cám ơn đôi mắt kia và tập thể chiến binh VNCH đã âm thầm hy sinh cho người dân miền Nam trong đó có tôi được thở hít không khí tự do cho đến ngày 30/4/1975. Một món nợ tinh thần mà tôi phải trả dù là một phần rất nhỏ, cho các anh, cho gia đình tử sĩ và cho quê hương dân tộc. Trước khi ra đi tôi đã quay lại nhìn lá cờ vàng ba sọc đỏ phất phới bay trên bờ sông Bến Hải lần cuối và thầm nhắn gửi với đôi mắt vô danh kia rằng tôi hứa cùng anh và các đồng đội của anh nguyện bảo vệ chính nghĩa của lá cờ vàng ba sọc đỏ đã được gìn giữ bởi máu và nước mắt của những tấm lòng yêu nước. Ðôi mắt vô danh kia tôi không còn nhìn thấy nhưng vẫn in hằn trong đầu tôi.

35 năm trời đã trôi qua kể từ ngày giã từ lá đại kỳ nơi dòng dông Bến Hải vào năm 1973, tôi không biết đôi mắt kia giờ ở nơi đâu? Anh còn sống hay đã mất? Nếu đã mất thì anh mất ở nơi đâu? Bỏ thây ngoài biển khơi hay ở nơi lao tù rừng thiêng nước độc? Nếu còn sống thì giờ này anh ở nơi đâu? Trại cải tạo hay ở một vùng trời tỵ nạn xa xăm nào đó? Hay nếu còn ở Việt Nam, chế độ tàn bạo CS đã đối xử bất công bạc ác với người chiến binh VNCH như anh ra sao? Những câu hỏi trên luôn trở lại với tôi mỗi khi ngày quốc hận 30/4/ trở về. Những câu hỏi luôn làm nhức nhối trái tim tôi mỗi khi nghĩ đến anh, nghĩ đến các thương binh VNCH và lá đại kỳ nơi dòng dông Bến Hải.

Hôm nay trong ngày tưởng niệm 33 năm Quốc Hận, tôi muốn viết những dòng tâm tư này gửi đến anh. Nếu anh còn sống nơi xứ người, tôi xin được chia sẻ chung với anh nỗi đau của một người chiến binh già khi phải nhìn hình lá cờ vàng ba sọc đỏ bị bôi bác vẽ trong một cái chậu rửa chân. Một hành động vô ơn bạc nghĩa của những kẻ ngày xưa đã từng ăn cơm quốc gia nay đâm sau lưng chiến sĩ VNCH. Tôi cũng xin được chia sẻ chung với anh sự nổi giận khi thấy những con buôn chính trị cho phổ biến năm chương trình lịch sử phản động của Cộng sản H.D.D. bôi nhọ chính nghĩa quân cán chính VNCH. Nếu anh đã qua đời và đang an giấc nơi Nghĩa Trang Quân Ðội, tôi cũng xin được san sẻ chung với anh nỗi u uẩn của một người chết không thể thét lên được khi phải chứng kiến cảnh những kẻ thời cơ quỵ lụy xin xỏ bạo quyền cái đặc ân được trùng tu nghĩa trang quân đội đã bị CSVN biến thành nghĩa trang dân sự Bình An, là một hình thức xóa sổ cái chết vì lý tưởng của anh lẫn thành tích lịch sử đấu tranh hào hùng của quân lực VNCH. Những kẻ thời cơ chính trị đó tất phải thừa hiểu, bất cứ một người chiến binh VNCH nào khi đã cầm súng ra trận tức là họ không sợ chết banh thây ngoài chiến tuyến thì không có lý do gì họ phải nhờ ai van xin kẻ thù trùng tu mộ phần giùm cho họ. Hành động xin/cho đó nào có khác chi cầm dao đâm sau lưng vong linh chiến sĩ VNCH.

Cũng trong ngày tưởng niệm 33 năm quốc hận 30/4 năm nay, tôi xin xác quyết một lần nửa lời thầm hứa với anh nơi bờ sông Bến Hải năm nào giờ đây vẫn còn nguyên vẹn: dù bất cứ ở nơi nào trên thế giới nếu có những ai bôi nhọ lá cờ vàng ba sọc đỏ hay chính nghĩa của quân lực VNCH thì tôi cũng sẽ một lòng cùng với đồng bào ở nơi đó quyết tâm lên tiếng phản đối những kẻ ăn cơm quốc gia thờ ma CS.

Ðối với những vị anh hùng liệt sĩ vô danh bị CSVN tàn phá nơi nghĩa trang quân đội, dẫu các anh đã nằm xuống nhưng chúng tôi và thế hệ mai sau vẫn tiếp nối con đường các anh đi, bởi vì cuộc chiến này chưa phân thắng bại. Sẽ có một ngày màu cờ vàng ba sọc đỏ sẽ phất phới bay trở lại trên bầu trời các anh an nghỉ và cái tên Nghĩa trang Quân Ðội sẽ được phục hồi trả lại cho vong linh anh hùng liệt sĩ VNCH. Tôi và đồng bào miền Nam không hề quên ơn các anh, những chiến binh oai hùng của quân lực VNCH đã một thời đổ máu trên Trường Sa Hoàng Sa, trên khắp nẻo đường Việt Nam để giữ từng tấc đất của tổ tiên không bị rơi vào tay CSVN bán nước buôn dân nay biến thái thành tư bản đỏ.

Nam Dao

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Memorial Day tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington -
Sư Đoàn 101 Nhảy Dù Hoa Kỳ kết nạp hội viên danh dự gốc Việt


Bài: Thiện Giao/RFA (tường trình từ Washington DC)
WASHINGTON DC.- Trên đại lộ dẫn vào Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington buổi sáng ngày Chủ Nhật 25 Tháng Năm trước lễ Chiến Sĩ Trận Vong, tại địa điểm dành riêng cho Sư Ðoàn 101 Nhảy Dù (101 st Airborne Division), một cựu quân nhân quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã được vinh dự kết nạp trở thành thành viên danh dự của một trong những sư đoàn nổi tiếng nhất thế giới.

“Ðối với tôi, hôm nay, một lần nữa là ngày hội ngộ của Ðịnh Mệnh.” Cựu Trung Tá Trần Ngọc Huế, nguyên đại đội trưởng đại đội Hắc Báo Sư Ðoàn 1 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phát biểu trong buổi lễ dành cho mình. “Chúng ta có mặt tại đây hôm nay, dưới đôi cánh đại bàng của sư đoàn 101 nhảy dù, để một lần nữa nghiêng mình trước những người anh hùng đã hy sinh cho danh dự và vì lý tưởng tự do.”

Quyết định kết nạp cựu Trung Tá Trần Ngọc Huế làm hội viên danh dự Tổng Hội Cựu Chiến Binh Sư Ðoàn 101 Nhảy Dù Hoa Kỳ được tuyên đọc bởi ông Charles K. Gailey, chủ tịch chi hội khu vực Washington DC. Trong diễn văn của mình, ông Gailey phát biểu rằng: “Cựu Trung Tá Huế, từng phục vụ tại Sư Ðoàn 1 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã tham gia nhiều cuộc hành quân hỗn hợp chung cùng Sư Ðoàn 101 Nhảy Dù. Sự phối hợp chung được triển khai thành công trong nhiều cuộc hành quân tại tỉnh Quảng Trị, đặc biệt trong nỗ lực tái chiếm Huế giai đoạn sau Tết Mậu Thân 1968.”

Trung Tá Huế cho biết, ý định kết nạp ông làm hội viên danh dự của “Screaming Eagle” được đích thân cựu đại tá lữ đoàn trưởng Lữ Ðoàn 1, Sư Ðoàn 101 thông báo tại tư gia ông Huế.

Ông phát biểu: “Cuộc hội ngộ, một lần nữa, là sự sắp đặt của Ðịnh Mệnh. Tôi tham gia chiến dịch Lam Sơn 719, là chiến dịch được sự hỗ trợ đặc biệt của Sư Ðoàn 101. Bị bắt tại Lào vào Tháng Ba năm 1971, trở thành tù nhân chiến tranh trong 13 năm tại Bắc Việt. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng, một ngày nào đó, tôi lại được đứng tại đây cùng tất cả các bạn. Ðối với tôi, đó là một phép lạ.”

Tưởng cũng nên nhắc lại, Sư Ðoàn 101 Nhảy Dù được thành lập vào trung tuần Tháng Tám năm 1942. Bốn ngày sau khi thành lập, vị tư lệnh đầu tiên, là Thiếu Tướng William C. Lee đã phát biểu với những chiến binh đầu tiên của sư đoàn tân lập, rằng “101 chưa có lịch sử; những đã có một hội ngộ của định mệnh.”

Trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam, cựu Trung Tá Huế chỉ huy đại hội Hắc Báo thuộc Sư Ðoàn 1 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Trong giai đoạn này, đơn vị của ông đã thực hiện nhiều cuộc hành quân hỗn hợp chung cùng các lữ đoàn 1, 2, và 3 thuộc Sư Ðoàn 101 Nhảy Dù.

Cựu Trung Tá Huế nói rằng, ông nhớ nhất là hai trận đánh trong đó đơn vị của ông được tăng phái cho Lữ Ðoàn 2 của Sư Ðoàn 101 tại vùng Quảng Ðiền, làng Phước Yên giai đoạn 2, chiến cuộc Mậu Thân 1968. Vào giai đoạn đó, người chỉ huy Lữ Ðoàn 2 là Ðại Tá Cushman, về sau hồi hưu với cấp bậc trung tướng. Ðại Ðội Hắc Báo lúc ấy phát hiện Tiểu Ðoàn 9, Trung Ðoàn 90 của phía Bắc Việt đang ém sâu tại Phước Yên. Trung Tá Huế kể lại: “Chúng tôi tấn công, còn phía Sư Ðoàn 101 có nhiệm vụ bao vây. Trong 2 ngày chiến đấu, chúng tôi bắt sống 112 tù binh và hầu như xóa sổ Tiểu Ðoàn 9.” Cuộc hành quân này sau đó trở thành mặt trận mẫu (example battle) cho Quân Lực VNCH và quân đội các đồng minh trong những tình huống dùng lực lượng nhỏ, cấp đại đội phát hiện tiểu đoàn địch, dùng hỏa lực và lực lượng bao vây để tiêu diệt.

Trong buổi lễ kết nạp Trung Tá Huế, một cựu chiến binh của Sư Ðoàn 101, đến từ California, đã đến chào và ôm thật chặt đồng minh Việt Nam của mình. Ông Johnny Velasquez nói với Trung Tá Huế rằng ông hãnh diện là cựu đồng minh hồi quá khứ, bây giờ trở thành những thành viên cùng một Tổng Hội. Ông Valasquez nhớ lại, rằng: “Những ngày ấy, hơn 40 năm trước, tên tuổi của nhân vật này (Trung Tá Huế) được nhắc đi nhắc lại và lan truyền trong các đơn vị Hoa Kỳ. Mọi người đều biết về phẩm chất can trường của Trung Tá Huế. Ðến khi tin tức loan đi cho biết ông được trao tặng huân chương Silver Star từ tay Ðại Tướng Creighton Abrams thì mọi người đều nói: ‘Thật là tuyệt vời, một người Việt Nam nhận huy chương Silver Star của quân đội Hoa Kỳ.’”

Trung Tá Huế nói rằng cuộc hành quân cuối cùng trong đời binh nghiệp của ông, cũng là cuối cùng với Sư Ðoàn 101, là trận Lam Sơn 719 tại Hạ Lào. Ông nhớ lại: “Thời điểm ấy, Sư Ðoàn 1 Bộ Binh của Việt Nam Cộng Hòa đổ bộ qua Lào. Còn phía Sư Ðoàn 101 yểm trợ trực thăng vận cho việc đổ bộ. Tôi chưa từng thấy lực lượng phòng không Bắc Việt nào lại mạnh đến như vậy. Có những bãi đáp ‘nóng,’ bị pháo liên tục. Vậy mà trực thăng của Sư Ðoàn 101 Hoa Kỳ vẫn tiếp tục đổ bộ không nao núng. Chính mắt tôi chứng kiến điều đó, và cảm phục cho những chiến binh chiến đấu cách xa quê hương hàng ngàn dặm, cho hai chữ tự do.”

Cựu Trung Tá Trần Ngọc Huế sinh năm 1942. Ông tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, trở thành sĩ quan tác chiến và được thăng cấp rất nhanh trong giai đoạn chiến tranh. Một đêm cuối Tháng Ba năm 1971, trong khuôn khổ chiến dịch Lam Sơn 719, Trần Ngọc Huế lúc đó đang ở Tchepone, bị thương và ngất lịm. Ông ra lệnh cấp dưới mở đường máu thoát thân, để ông lại trận địa nhằm tránh gây cản trở trên đường tháo lui. Sau đó, ông bị phía Bắc Việt bắt làm tù binh. Sau nhiều lần chiêu dụ Trung Tá Huế hợp tác, nhưng bất thành, phía miền Bắc giam giữ ông cho đến năm 1983. Sau đó ông được thả ra, về sống tại Sài Gòn cho đến ngày sang định cư Virginia, Hoa Kỳ.

Post Reply