Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

LÊ THỊ CÔNG NHÂN BẬC NỮ LƯU PHI THƯỜNG

Trần Đức Tường
Có thể nói dân tộc Việt Nam là một dân tộc có nhiều đặc tính dị biệt với nhiều dân tộc khác trên trái đất. Một trong những đặc tính ấy là tuy đã từ nhiều ngàn năm ra khỏi chế độ mẫu hệ, nhưng trên suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta, người phụ nữ đã không hề chỉ lo chuyện nội trợ mà còn lắm phen góp sức với đời, tham gia chính sự kể cả có khi cầm quân đánh giặc. Từ ngày dựng nước và trong mỗi thời đại đều thấy xuất hiện các bậc anh thư, anh tài văn võ. Dân ta ai là người không hãnh diện và tôn thờ Hai Bà Trưng, Bà Triệu, ai không trân quý Huyền Trân Công Chúa, Công Chúa Ngọc hân, ai không mến mộ văn tài của bà Đoàn Thị Điểm, bà Huyện Thanh Quan, bà Hồ Xuân Hương, ai không thánh phục Thái Hậu Dương Vân Nga, nữ tướng Bùi Thị Xuân ? Và còn bao nhiêu bậc nữ lưu, anh thư khác nữa. Đời nào cũng có.

Quả thật người phụ nữ Việt Nam luôn luôn gắn liền với dân tộc, gắn liền với vận mạng của lịch sử thăng trầm. Trong chiến tranh và nhất là từ ngày 30/04/1975 đến nay, sự hy sinh, nhẫn nhục, đau khổ của người phụ nữ đã lên đến cùng cực. Nhưng nếu tuyệt đại đa số các bà, các chị, các em âm thầm chịu đựng cảnh chồng con đi tù, nhà cửa bị cướp đoạt, bán từng mảnh vụn nữ trang gom góp thăm nuôi chồng con trong tù... Dưới chế độ cộng sản, biết bao bông hoa đã bị héo tàn trong vùi dập ? Biết bao xác thân phụ nữ đã nổi trôi trên mặt đại dương ? Tất cả đã diễn ra trong câm lặng.

Nhưng từ gần hai chục năm nay, người dân, trong đó có đông đảo phụ nữ đã lên tiếng phản đối sự trù dập của chế độ CSVN, lên tiếng bảo vệ chồng con đấu tranh cho dân chủ, nhân quyềnn. Và hơn nữa các bà, các cô đã trực tiếp đứng lên đấu tranh bất bạo động, đối đầu với bạo quyền cộng sản đòi hỏi tự do tôn giáo, tự do ngôn luận và những quyền căn bản của con người, đòi lại đất đai tài sản bị cộng sản cướp đoạt. Người ta biết đến những người phụ nữ như Dương Thu Hương, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân... đã can đảm đấu tranh cho tự do, Nhân Quyền và đã bị CSVN bắt giam, tù đày, hành hạ.

Có thể khuôn mặt tiêu biểu nhất trong những người phụ nữ phi thường này là luật sư Lê thị Công Nhân. Cô sinh năm 1979 tại Tiền Giang, tốt nghiệp cử nhân luật khoa năm 2001. Cô đã can đảm tố cáo chế độ CSVN độc tài, vận động bảo vệ quyền lợi công nhân lao động và đòi hỏi thành lập công đoàn tự do. Khi phong trào đấu tranh cho dân chủ bùng phát, cô đã mạnh dạn tham gia vào Khối 8406, và đã trở thành phát ngôn nhân của Đảng Thăng Tiến Việt Nam. Bạo quyền cộng sản Hà Nội đã tìm đủ cách uy hiếp cô và gia đình cô. Nhưng cô luôn kiên quyết giữ vững lập trường. Cô đã thẳng thắng tuyên bố : "Tôi xin khẳng định, bằng tất cả lương tâm, trách nhiệm và tình cảm của mình đối với đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam, là tôi sẽ chiến đấu tới cùng, cho dù chỉ còn có một mình tôi để đấu tranh trước hết là giành lấy nhân quyền cho riêng mình và giành lấy nhân quyền dân chủ và tự do cho người dân Việt Nam và CSVN đừng có mong chờ bất cứ một điều gì là thỏa hiệp chứ đừng nói là sự đầu hàng từ phía tôi". Đang nằm trong lòng chế độc cộng sản độc tài, đây quả là lời tuyên bố phi thường của một bậc nữ lưu phi thường. Biết không thể hăm dọa được cô, cộng sản Hà Nội đã bắt giam cô ngày 6/3/2007 và đã gán ghép cô vào tội "tuyên truyền chống chế độ" ghi trong điều 88 của bộ luật hình sự cộng sản để đưa cô ra xét xử trong một phiên tòa trò hề để kết án cô 4 năm tù giam cộng thêm 3 năm quản chế.

Cho tới ngày hôm nay, cô đã bị giam cầm từ hơn 1 năm rồi. Nhưng thế giới không quên cô, cộng đồng Hải Ngoại không quên cô vì cô là đại diện cho tất cả những người đấu tranh, những dân oan đang đòi công lý, Nhân Quyền và dân chủ tại Việt Nam. Cụ thể tại Úc Châu, cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn đã tổ chức "MỘT NGÀY DÀNH CHO LÊ THỊ CÔNG NHÂN". Ngày đó sẽ là ngày 11/04/08 tại tiểu bang Victoria; ngày 12/04 tại New South Wales, Queensland, Bắc Úc; ngày 13/04 tại Tây Úc; ngày 26/04 tại Nam Úc, Wollongong; ngày 27/04 tại ACT (Canberra). Theo Ban Tổ Chức thì ý nghĩa ngày này là

1) Ngày cho quê hương, ngày hỗ trợ công cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam;

2) Ngày phát huy tinh thần anh dũng của tiền nhân để giải trừ chế độ cộng sản tại Việt Nam;

3) Ngày phát hành tem thơ, sách báo về cuộc tranh đấu của anh thư nước Việt : Lê Thị Công Nhân.

Cũng nên biết là hiện nay bưu điện của nhiều quốc gia trên thế giới chấp nhận phát hành tem thư do các tổ chức hay tư nhân đặt thực hiện và có giá trị bưu điện chính thức để gửi thư trên toàn quốc và ra nước ngoài. Trước đây 1 tháng, nhân kỷ niệm 1 năm cô bị bắt giữ, tại Pháp đã thực hiện tem thư có hình nửa người của luật sư Lê Thị Công Nhân. Tất nhiên không thể có tem thư mang hình tất cả những người đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền đang bị cầm từ như linh mục Nguyễn Văn Lý, anh Nguyễn Quốc Quân, anh Nguyễn Thế Vũ, anh Somsak Khunmi hay từng người dân oan như các chị Vũ Thanh Phương, Lư Thị Thu Duyên, Lư Thị Thu Trang, Cụ bà Phạm Kim Thu 81 tuổi, vv...

Ngày Dành Cho Lê Thị Công Nhân phải hiểu là NGÀY DÀNH CHO NHỮNG NGƯỜI TRANH ĐẤU CHO DÂN CHỦ NHÂN QUYỀN TẠI VIỆT NAM

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Cộng Sản Bắc Kinh rớt mặt nạ
Tuesday, April 15, 2008

Ngô Nhân Dụng

Cuối tháng trước, một chủ tiệm ở thành phố Sheffield, Anh Quốc treo một lá cờ Tây Tạng trong tủ kính cửa hàng, sau khi coi những hình ảnh tăng sĩ và người dân Tây Tạng bị công an, lính tráng Trung Quốc đàn áp. Ông chỉ muốn bày tỏ thiện cảm với một dân tộc nhỏ ở Á Châu đang bị đe dọa diệt chủng. Có hai thanh niên người Trung Hoa đến cửa tiệm lớn tiếng yêu cầu ông bỏ lá cờ đi, nhưng ông từ chối. Ðêm hôm đó, có người ném đá vào cửa hàng bán giường tủ này, tủ kính bị bể.

Báo chí đăng tin này lên, người dân Anh Quốc nổi tiếng là “phớt tỉnh Ăng Lê” cũng không “phớt” được nữa. Họ hỏi nhau: Người Trung Hoa nghĩ họ là cái gì vậy? Họ muốn cả thế giới phải tuân theo đường lối “thiên triều” hay sao?

Chưa hết. Mỗi phái đoàn rước đuốc của Trung Quốc đi tới đâu cũng mang theo một đám công an mặc quần áo vận động hai màu xanh trắng trông như lực sĩ. Họ có nhiệm vụ ngăn cản, hoặc phá các đám biểu tình phản đối Bắc Kinh. Những viên công an này đã được huấn luyện đặc biệt từ Tháng Tám năm ngoái. Trong chương trình huấn luyện có cả môn học ngoại ngữ, để họ có thể nói những câu ra lệnh người ta giải tán, tránh xa, đi chỗ khác, vân vân, nói bằng năm thứ tiếng. Khi ngọn đuốc thế vận qua thủ đô London, đám biểu tình ủng hộ người Tây Tạng bị nhóm công an biệt phái Trung Cộng can thiệp quá thô bạo, Huân Tước Coe, chủ tịch ủy ban tổ chức Thế Vận Hội London 2012 cũng bị xô đẩy, ông đã gọi họ là một “lũ côn đồ” (thugs)!

Chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh tính biến màn trình diễn rước đuốc thế vận vòng quanh thế giới thành một cảnh tuyên truyền rửa mặt cho chế độ, gần 20 năm sau vụ giết người ở Thiên An Môn, 1989. Nhưng công trình chuẩn bị rất kỹ vẫn thất bại. Giống như một anh từ trong rừng ra sống ở thành phố, học ăn mặc, chải chuốt, học điệu bộ nói năng, muốn thiên hạ ngắm mình rồi gật đầu công nhận mình là một trang phong lưu công tử, nhưng vẫn không che giấu được căn chất thô lỗ vụng về, còn giữ nguyên những vẻ rừng rú chưa tẩy sạch. Cộng Sản Bắc Kinh đã làm rớt chiếc mặt nạ văn minh.

Một tỷ người dân Trung Hoa đang chờ Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch sử nước họ, giống như năm 1988 Ðại Hàn Dân Quốc đã tổ chức Olympic lần đầu. Sau một nửa thế kỷ sống dưới chế độ cộng sản, phải đứng bên lề thế giới, Trung Quốc sẽ chứng tỏ cho loài người thấy họ là một quốc gia tân tiến, cởi mở, thân hữu với các nước, theo đúng các luật chơi quốc tế, không thua gì những nước đã đi bước trước. Nhưng tất cả cuộc chuẩn bị trong năm bảy năm qua cho màn trình diễn rước đuốc và các lễ lạt của Bắc Kinh, bỗng nhiên bị hỏng hết, chỉ trong mấy tuần lễ, chỉ vì quân lính Trung Quốc đàn áp người Tây Tạng. Cuộc trình diễn rước đuốc đã biến thành những màn biểu dương chống chế độ cộng sản đàn áp dân Tây Tạng cũng như đang giúp đỡ các chế độ độc tài ở Miến Ðiện, Sudan. Người Việt Nam ở London, Paris, San Francisco đã nhân dịp này phô bày tội Trung Quốc cướp quần đảo Hoàng Sa của nước ta từ năm 1974. Chúng ta đang chờ xem dân Sài Gòn sẽ làm gì. Tại sao người ta không chọn Hà Nội mà lại cho ngọn đuốc đi qua Sài Gòn, chắc có nhiều lý do bí mật. Một lý do có thể là ở Chợ Lớn vẫn có một tập thể do Trung Quốc gài đặt rất đông đảo sẵn sàng giúp họ dẹp loạn trong cuộc rước đuốc!

Thực ra tổ chức rước đuốc không phải là một truyền thống nguyên khởi của thế vận hội. Cuộc trình diễn có mục đích phô trương này thực sự chỉ bắt đầu được bầy ra vào năm 1936, khi chế độ Ðức Quốc Xã tổ chức Thế Vận Hội ở Berlin. Rõ ràng là có mục đích tuyền truyền chính trị. Và cuộc rước đuốc có tính cách toàn cầu, như đang diễn ra năm nay, cũng chỉ mới được thực hiện vào năm 2004, khi Thế Vận Hội trở về thành phố Athens, thủ đô Hy Lạp, nơi sinh của trò thịnh diễn thể thao này.

Bắc Kinh đã theo gương Ðức Quốc Xã khi dùng cuộc rước đuốc để tuyên truyền cho sự thành công kinh tế của người Trung Hoa, và họ có quyền làm như vậy. Nhưng họ cũng không ngờ đã gây nên phản ứng ngược. Chính vì có những trạm rước đuốc trình diễn rình rang này mà loài người khắp nơi được thấy trên truyền hình, rồi đi tìm hiểu thêm hoàn cảnh sống thực của 6 triệu người dân Tây Tạng.

Một chế độ độc tài bao giờ cũng tạo ra một bức tường dối trá để che phủ cho họ. Họ dối trá đối với dân trong nước, và dối trá đối với người ngoài. Nhưng, thật thà là cha quỷ quái, không ai có thể nói dối tất cả mọi người mãi mãi. Người Âu Mỹ có thể rất kính trọng dân tộc Trung Hoa, với 4, 5 ngàn năm lịch sử văn minh, với sức làm việc tạo nên cảnh tiến bộ về kinh tế trong ba chục năm qua. Nhưng chỉ cần một biến cố lật rõ bộ mặt tàn bạo, phản nhân quyền của chế độ Bắc Kinh là người ta sẽ nhìn thấy ngay một bộ mặt khác, thay đổi thái độ với cả nước Trung Hoa.

Một cuộc nghiên cứu dư luận dân chúng Âu Mỹ đối với Trung Quốc gần đây đã chứng tỏ cách nhìn đã thay đổi sau khi Bắc Kinh cho lính giết người dân và tăng sĩ Tây Tạng. Cuộc nghiên cứu này, do hãng Harris và nhật báo Financial Times thực hiện, phỏng vấn từ ngày 27 Tháng Ba tới ngày 8 Tháng Tư năm 2008, sau khi xảy ra những cuộc đàn áp đó. Có 35% người dân ở Âu Châu nghĩ rằng Trung Quốc là nước đe dọa sự ổn định của thế giới hơn bất cứ quốc gia nào khác. Trung Quốc đã chiếm chỗ của nước Mỹ, vì năm ngoái có tới 32% người Âu Châu coi Mỹ là mối đe dọa cho thế giới, năm nay chỉ có 29% nghĩ như vậy!

Người dân Mỹ không sợ Trung Quốc bằng dân Âu Châu, chỉ có 31% người Mỹ coi Trung Quốc là mối đe dọa hàng đầu trên an ninh thế giới; tuy nhiên Trung Quốc vẫn bị e ngại hơn cả Iran và Bắc Hàn. Ở Âu Châu, dân Ý thay đổi thái độ với Trung Quốc mạnh nhất, có 47% cho Trung Quốc là mối đe dọa thế giới hạng nhất; mà trong một cuộc phỏng vấn tương tự giữa năm 2007 chỉ có 27% nghĩ như vậy. Ở các nước đều có hiện tượng thay đổi đó. Pháp, từ 22% tăng lên 36%; Ðức từ 18% lên 35%, Anh Quốc từ 16% lên 27%. Ở Âu Châu chỉ có một quốc gia duy nhất vẫn nghĩ nước Mỹ đe dọa sự ổn định của thế giới nhiều hơn Trung Quốc, đó là Tây Ban Nha, với tỷ số 41% bầu cho Mỹ, 28% cho Trung Quốc! Nhưng nói chung, thái độ dân Âu Châu đối với Trung Quốc đã thay đổi rất mạnh, khi họ biết rõ bộ mặt thật của Cộng Sản Bắc Kinh.

Cuối cùng, chính người Trung Hoa sẽ thấy rằng nếu họ muốn hãnh diện đứng lên ngang hàng với các nước văn minh thì chính quyền Bắc Kinh phải đối xử tử tế với 6 triệu dân Tây Tạng, theo đúng đạo làm người. Nhưng muốn vậy, phải xóa bỏ những điều giả trá mà đảng Cộng Sản Trung Quốc vẫn nói cho dân nghe về việc xâm lăng và chiếm đóng Tây Tạng từ hơn 50 năm qua. Hầu hết dân Trung Hoa ở lục địa đã bị tuyên truyền nhồi sọ, vẫn nghĩ rằng trong lịch sử Tây Tạng lúc nào cũng là một phần của Trung Quốc, và Trung Quốc đã giải phóng Tây Tạng. Phải xóa bỏ những màn giả trá mà chế độ Bắc Kinh đã trình diễn cho dân Trung Hoa coi, cùng những màn kịch che mắt người ngoại quốc.

Ðiều khó khăn là một chế độ độc tài bao giờ cũng phải nói dối, họ không có cách nào khác. Bắt một chế độ độc tài tôn trọng thật cũng giống như bắt một con cọp không được ăn thịt! Muốn chế độ độc tài nói thật đối với người nước ngoài thì tất cũng phải buộc họ cho người dân trong nước biết sự thật. Tức là phải có tự do báo chí, tự do ngôn luận. Còn chế độ độc tài thì không thể có những quyền tự do căn bản đó. Cho nên, nếu dân Trung Hoa muốn được người nước ngoài kính trọng thì phải xóa bỏ chế độ độc tài đảng trị đi!

Dân chúng Trung Hoa không được nhìn cảnh dân Tây Tạng và người ngoại quốc biểu tình phản đối ở Paris, London, và San Francisco vì chế độ kiểm duyệt thông tin của cộng sản đã cắt bỏ, có khi cắt bỏ ngay khi trực tiếp truyền hình, có khi cho chạy hình một người nói những lời chống Bắc Kinh nhưng cắt tiếng và không phụ đề Hoa ngữ. Trạm rước đuốc sắp tới sẽ gây sôi nổi là ở thủ đô Ấn Ðộ New Delhi vào ngày mai, 17 Tháng Tư. Ấn Ðộ là nơi Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đang tạm trú cùng hàng trăm ngàn dân Tây Tạng tòng vong từ nửa thế kỷ nay. Các đài truyền hình Trung Quốc chắc sẽ cắt xén rất kỹ những cảnh này. Cuối cùng chắc chỉ có hai nơi là ngọn đuốc Thế Vận Bắc Kinh sẽ được an toàn biểu diễn, là Bình Nhưỡng, thủ đô Bắc Hàn, và Sài Gòn, Việt Nam! Cộng Sản ở hai nước phiên thuộc này đang tranh nhau xem chính quyền ở nước nào tận tụy với thiên triều hơn. Những nhà tranh đấu dân chủ trong nước cho biết có khoảng 200 công an Trung Quốc đã được gửi sang Sài Gòn huấn luyện công an người Việt cách dẹp biểu tình.

Ðây sẽ là một thử thách cho những người yêu nước, yêu tự do dân chủ ở nước ta trong ngày 29 Tháng Tư sắp tới

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Đức Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Tình Thương, Hòa Bình

BÙI QUỐC HÙNG TỔNG HỢP .
SEATTLE, Wash. (VBMN, Bùi Quốc Hùng) -- Đức Đạt Lai Lạt Ma, vị Lãnh Đạo Tây Tạng Lưu Vong đã đến Seattle từ cuối tuần trước kéo dài đến tuần này để nói về tình thương và hòa bình. Ước lượng hơn 150 ngàn người sẽ đến nghe Ngài thuyết giảng tại một số địa điểm trong một lịch trình kéo dài 5 ngày, bắt đầu từ Thứ Sáu, ngày 11 đến Thứ Ba, ngày 15/04/2008. Ngài sẽ gặp gỡ các nhà lãnh đạo và các nhà giáo dục toàn cầu trong thời gian 5 ngày tại Seattle để khảo sát xem có bao nhiêu gia đình, nhà giáo dục và cộng đồng có thể thành công trong việc xây dựng nền tảng sư hiểu biết và tình thương trong giới trẻ em và thiếu niên. Một số người tụ tập để chiêm ngưỡng Đức Đạt Lai Lạt Ma bởi vì Ngài là một nhà lãnh đạo nổi tiếng đã được trao tặng Giải Thưởng Nobel Hòa Bình.

Những người khác đến để nghe Ngài truyền đạt về tình thương và sự tử tế.

Đức Đạt Lai Lạt Ma trở lại vùng tây Bắc lần đầu tiên kể từ kỳ thăm viếng tiểu bang Oregon năm 2001 và Seattle năm 1993.

Vị lãnh tụ tinh thần Tây Tạng sống lưu vong mang theo thông điệp của Ngài về hòa bình trong thời điểm bạo lực đang diễn ra nơi quê hương Tây Tạng của Ngài. Tháng trước, Lhasa, thủ đô của Tây Tạng rung chuyển vì những cuộc nổi dậy chống nhà cầm quyền Trung Cộng tiếp theo là các cuộc đàn áp của Trung Cộng.

Paul Ingram, Giáo Sư danh dự môn tôn giáo tại đại học Pacific Lutheran University (PLU) nói Trung Cộng đã đổ lỗi không chính đáng cho Đức Đạt Lai Lạt Ma vì những cuộc biểu tình chống Trung Cộng xâm lược. Giáo Sư Paul cũng là một thành phần của một nhóm thuộc Đại Học PLU tại một hội nghị với Đức Đạt Lai Lạt Ma.

"Ngài luôn luôn bảo mọi người đừng xử dụng bạo lực," Giáo Sư Ingram phát biểu.

"Công chúng ưa thích đạo đức, sự can đảm và tình thương yêu của Ngài."

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, đoạt giải Nobel Hòa Bình năm 1989, quý danh Tenzin Gyatso, 72 tuổi. Đạt Lai Lạt Ma có nghĩa như là "đại dương trí tuệ", đã được Phật Giáo Tây Tạng công nhận là hiện thân của người tiền nhiệm của Ngài, vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, từ khi Ngài còn là một cậu bé 2 tuổi. Dân tộc Tây Tạng coi Ngài là một biểu thị khai sáng của tình thương.

Ngài bị ép buộc phải lưu vong sau cuộc nổi dậy chống lại sự cai trị của Trung Cộng năm 1959. Ngài cư trú tại Dhrasamsala, Ấn Độ.

Tại Seattle, Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ đảm nhận một phần trong các diễn đàn và các buổi thảo luận với các nhà lãnh đạo khác, trong đó có cựu Tổng Giám Mục Anglican Archbishop Desmond Tutu của Nam Phi. Vị Cựu Tổng Giám Mục sẽ nói về một chương trình đức tin quốc tế hôm 15/4. Chương trình cũng có một buổi hòa nhạc với các ca nhạc sĩ Dave Matthews và Tim Reynolds.

Tất cả các sự kiện diễn ra trong thời gian 5 ngày, bao gồm các cuộc hội luận, thuyết giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma ở Seattle cùng các nhà lãnh đạo, khoa học, nghiên cứu, chuyên gia, trong công tác phát triển tuổi thơ ấu, và chính sách công cộng, đều cùng chia xẻ một mục đích: Cho trẻ em nền tảng xã hội và tình cảm cần thiết để trở nên người trưởng thành có tình cảm, hạnh phúc và là những thành viên tích cực trong xã hội; dưỡng dục tình thương yêu và sự tử tế nơi người lớn và trẻ em trên thế giới, khởi đầu với trẻ em và những người có ảnh hưởng đến đời sống của các em.

Trong một thông cáo báo chí về sự kiện tập họp lớn lao ở Seattle trong suốt thời gian hội nghị, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói: "Là một trong số 6 tỉ người trên thế giới, tôi tin tưởng tương lai của nhân loại là trách nhiệm của mỗi người." Ngài nói tiếp: "Tôi tin rằng để đạt được một đời sống hạnh phúc trên mỗi một cá nhân, gia đình, một quốc gia hoặc trên mức độ toàn cầu, cuối cùng chúng ta cần đạt tới sự toàn tâm toàn ý của tình thương. Tôi thực sự cảm thấy rằng hội nghị này có thể gieo trồng những hạt giống tích cực cho một tương lai hạnh phúc, một thế giới hạnh phúc, đặc biệt là cho trẻ em. Các em là thế hệ trẻ hơn, là nền tảng thực sự cho niềm hy vọng của chúng ta."

Các chương trình thuyết giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma được bảo trợ toàn phần của tổ chức Seeds of Compassion ở Bellevue, Washington. Tổ chức này là đối tác với nhiều tổ chức khác gồm có Foundation for Early Learning, Thrive by Five Washington, Bridges to Understanding và the Talaris Research Institude.

Các nhà tổ chức cho biết ngay từ đầu tháng 4, vé vào cửa để dự các buổi thảo luận đã hết.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đến Seattle

Đức Đạt Lai Lạt Ma, lãnh tụ Phật Giáo Tây Tạng lưu vong và là vị lãnh đạo tinh thần của hàng triệu người trên thế giới đã đến thành phố ngọc bích Seattle trong một chuyến viếng thăm lịch sử Hoa Kỳ.

Sau một chuyến bay quốc tế đường dài đáp xuống phi trường Sea-Tac, Ngài đã đến Khách Sạn Grand Hyatt ở downtown Seattle sáng Thứ Năm, 10/4, được bảo vệ chặt chẽ bởi các nhân viên mật vụ và cận vệ. Các tín đồ cúi đầu khi Ngài xuất hiện, và các người ủng hộ hát vang các bài hát. Vị lãnh tụ Phật Giáo chào mừng nồng ấm một đám đông nhỏ đón chào Ngài.

Đây là cuộc viếng thăm Hoa Kỳ lần đầu tiên kể từ khi bùng nổ bạo lực ở Tây Tạng.

Trung Cộng đã cáo buộc Đức Đạt Lai Lạt Ma khích động chống lại sự cai trị của họ tại Tây Tạng.

Đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh chuyến viếng thăm Hoa kỳ của Ngài là vì hòa bình và rằng Ngài không làm chính trị, mặc dầu tiếng vang về các cuộc bạo loạn chống nhà cầm quyền của Trung Cộng trên quê hương Tây Tạng của Ngài.

"Ngài rất sung sướng tới đây-vì trẻ em và cư dân Seattle," Lạt Ma Tenzen Dhoden trong phái đoàn nói.

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói với người dân Tây Tạng địa phương tại khách Sạn Hyatt Seattle rằng Ngài ủng hộ những người biểu tình bất bạo động nhưng Ngài bị buồn rầu vì những người biểu tình bao quanh ngọn đuốc thế vận Olympic ở San Francisco hôm Thứ Tư. Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng Ngài ủng hộ Thế Vận Hội Bắc Kinh khai diễn vào tháng 8 tới đây. Khi dừng chân ở Tokyo trên đường bay đến Seattle, Đức Đạt Lai Latt Ma cho biết, Ngài đã gởi một thông điệp cho những người Tây Tạng ở khu vực San Francisco; " Xin đừng có bất cứ hành động bạo lực nào. Dĩ nhiên, đây là một sự bày tỏ những cảm nghĩ của họ… không ai có quyền nói 'im đi.'

Đức Đạt Lai Lạt Ma được đón tiếp và cư xử như một nguyên thủ quốc gia, vì vậy, an ninh cực kỳ chăt chẽ. Xa lộ I-5 được đóng lại một khoảnh khắc trong khi đoàn ô tô hộ tống của cảnh sát bao quanh chạy theo xe của Ngài từ phi trường Sea-Tac về đến khách sạn Hyatt, Seattle, nơi Ngài cư ngụ.

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói chuyện về tình thương và đời sống.

Ngày đầu tiên của một chuỗi hội nghị diễn ra trong 5 ngày, khai mạc hôm Thứ Sáu 11/4, với hai sự kiện - một tại trường đại học UW (University of Washington), một diễn ra tại Key Arena- với các cuộc đối thoại giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma và các nhà khoa học về sự phát triển buổi đầu của trẻ em và tình thương.

Ngay từ sáng sớm, công chúng đã xếp hàng tại Bank of America trong khuôn viên Trường UW, mong muốn khởi đầu một ngày với Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, vị lãnh tụ tinh thần Tây Tạng lưu vong.

Othella Jenkins, một tham dự viên tại hội nghị tại UW nói: "Tôi thực sự bay từ Canada qua đây. Chúng tôi đã từng theo dõi Ngài nhiều lần, bây giờ thật là một cơ may cho chúng tôi được gặp Ngài."

Đức Đạt Lai Lạt Ma được chào đón bởi đám đông và Ngài cùng đứng trên sân khấu với các nhà nghiên cứu hàng đầu về sự phát triển cảm xúc và tình thương, gồm có Daniel Goleman, tác giả "Emotional Intelligence," Dr. Daniel Seigel, tác giả "The Mindfull Brain" và "Parenting from the Inside Out;" và các tác giả khác.

Đức Đạt Lai Lạt Ma ngồi xếp bằng trong khi nói chuyện về tình thương trong buổi hội tại UW hôm Thứ Sáu.

"Tôi quả thật vô cùng hạnh phúc," Ngài mỉm cười nói với cử tọa tham dự hội nghị.

Cử tọa và Đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh về sự quan trọng của xã hội và sự phát triển cảm xúc của trẻ em, và khả năng của các em nhanh chóng hiểu biết về cảm xúc, chẳng hạn như tình thương.

"Tôi nghĩ ở tuổi trẻ, ý thức về sự khoan dung, có thể dễ dàng hơn… các em thường đánh nhau, nhưng sau một chốc lát các em lại chơi với nhau," Ngài nói.

Vào buổi chiều cùng ngày, Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp tục nói chuyện về chủ đề nói trên trong buổi hội thảo tại Key Arena tại Seattle Center.

Bên ngoài khu vực UW, an ninh chặt chẽ với các nhân viên an ninh tại chỗ và các địa điểm khác nhau. Một trong những biện pháp an ninh là thiết lập một hàng rào bao quanh khu vực hội nghị. Đức Đạt Lai Lạt Ma đến hội nghị dưới sư bảo vệ an ninh lớn lao gồm cảnh sát đi bộ, môtô hộ tống và cảnh sát cưỡi ngựa. Duy nhất có một người biểu tình cô đơn đứng bên ngoài khu vực hội nghị, tay cầm một biểu ngữ, "Free Taiwan, then Tibet."

(Bùi Quốc Hùng tổng hợp, nguồn The NewsTribune, King5 News.)

dacung
Posts: 409
Joined: Tue Dec 13, 2005 6:26 am
Location: USA
Contact:

Post by dacung »

Âu, Mỹ, Úc, Ở Đâu Cũng Chống Cộng

VI ANH . Việt Báo Thứ Sáu, 4/18/2008, 12:02:00 AM

Dù biểu tình là quyền hiến định tại các quốc gia Tây Phương, nhưng người Tây Phương vẫn ngạc nhiên về số lần, số người , và tinh thần mẫn cán và hăng hái biểu tình của Việt hải ngoại.

Người Việt biểu tình chống Thủ Tướng VC Phan văn Khải công du Mỹ và Canada. Người Việt biểu tình chống Chủ tịch Nước VNCS Trần đức Lương, Nguyễn Minh Triết ở Pháp, Hòa Lan, và Bỉ, Mỹ, Uc. Người Việt biểu tình ở Úc chống Truyền hình VC, đã tắt đài VTV4, và chống CS Hà Nội cho văn công sang tuyên truyền quốc ngoại. Âu Mỹ Úc ở đâu, lúc nào xuân hạ thu đông, bốn mùa lúc nào cán bộ lãnh đạo VC nào xuất hiện, việc gì của VC công khai làm ở hải ngoại, người Việt cũng chống, cũng biểu tình chống. Đặc biệt, cuộc biểu tình của người Việt ở Úc chống CS Hà nội "điều" một đoàn văn công 200 người chưa tính cán bộ và chính trị viên -- hùng hậu nhứt từ đó tới giờ -- sang biểu diễn tại thủ đô hành chánh, kinh tế của Úc, nhơn kỷ niệm 60 năm ngày lập Đảng CS; một cuộc biểu tình qui tụ gần 20. 000 người Việt ở Úc chẳng những làm người Úc mà người ngoại quốc ít theo dõi thời cuộc cũng ngạc nhiên, và cũng phải đặt câu hỏi.

Người Au, Mỹ, Uc tư hỏi CS Hà Nội là chế độ chánh trị gì mà người cầm đầu đi đâu, lời nói và hành động chỗ nào cũng bị chính đồng bào mình chống đối kiên trì và quyết liệt như vậy.Thủ Tướng Chánh phủ Phan Văn Khải, Nguyễn tấn Dũng, Chủ tịch Nước Trần đức Lương, Nguyễn minh Triết đi Mỹ, đi Âu người Việt đều hàng hàng lớp lớp đồng bào hải ngoại biểu tình chống. Có thể nói đó là những người lãnh đạo quốc gia bị kiều bào hải ngoại chống mạnh nhứt so với những quốc trưởng độc tài khác như Hồ Cẩm Đào.

Nhưng người Việt hải ngoại hơn ai hết hiểu mình làm cái gì, vì sao phải làm. Chống CS là đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN. Người Việt hải ngoại có tư do, dân chủ, có quyền công dân, có quyền quốc tế vận cho nhân quyền VN, nếu mình không làm cho đồng bào mình thì ai làm cho đống bào đang bị CS kềm kẹp. Hiểu việc làm và lời nói của CS Hà nội mới nghe qua tuy ngọt mật, nào "Duyên Dáng VN", nào Việt Kiều là "khúc ruột ngàn dặm của quê hương, bộ phận không tách rời của dân tộc", nhưng thực tế là giả dối. Vỉ thế đoàn văn công VC đi tới đâu bị tẩy chay tới đó, bị biểu tình chống tới đó . Tiếng nói phát thanh phát hình của VC dù nghi trang đi tới đâu là bị biểu tình "tắt đài" ở đó.

Số người biểu tình vì thế ở Mỹ, ở Úc - tuy giờ là tiền bạc, tuy đất rộng đường dài , Úc chiếm nguyên một châu, Mỹ chiếm gần nửa tây bán cầu -- mà lúc nào cũng có hàng trăm, hàng ngàn người bỏ công ăn việc làm, lặn lội đến để chống CS.

Chế độ CS Hà Nội vì thế, đảng kỳ, và quốc kỳ bị đồng bào gọi là cờ máu, chỉ ru rú như gián ngày trong bốn bức tường của sứ quán, ló ra đâu là bị đồng bào biểu tình triệt hạ. Một học sinh tiểu học ở hải ngoại thấy sách có cờ VC cũng về "mét má" để hết cha vào, tới rồi đại diện cộng đồng vào than phiền, phản đối. Trong khi đó quốc kỳ VN dù không còn pháp nhân công pháp nữa, vẫn chẳng những được người Việt Hải Ngoại chào kính mà còn được dân chúng và nhiều chánh quyền địa phương ở ngoại quốc công nhận như biểu tượng, di sản tự do, dân chủ, nhân quyền VN - là chính nghĩa đối đầu với CS Hà Nội.

Tác phong và hành động biểu tình chống Cộng đã xuất phát và khẳng định từ khi người Việt hải ngoại dùng thuyền nan vượt đại dương, gạt nước mắt tạm rời nước nhà đi tìm tự do cho mình và hy vọng đem lại tư do cho bà con còn bị kẹt ở lại. Và người Việt hải ngoại cũng đã và đang làm cho dân chúng và chánh quyền nhiều nước trên thế giới, nơi có người Việt định cư ít nhiều đã tỏ rõ.

Người Việt Hải Ngoại không chống đất nước và nhân dân VN. Người Việt Hải ngoại chống là chống cái chế độ độc tài của CS Hà Nội, cái chủ nghĩa CS độc tài đảng trị, toàn diện vừa theo kiểu Staline vừa theo kiểu Mao Trạch Đông gần đây thì đã đổi màu, xanh vỏ nhưng vẫn đỏ lòng để tồn tại. Người Việt Hải ngoại chống nhà cầm quyền lấy quyền lợi Đảng để trên quyền lợi dân tộc, làm cho xã hội VN quằn quại vì nạn tham nhũng, vì nạn sang đoạt đất ruộng của dân, dân tộc kỳ thị vì Bắc Nam, nhà tu không được yên ổn tu hành, đồng bào thiểu số không được nâng đỡ . Chủ nghĩa mà nhà cầm quyền đang lấy làm ý thức hệ là chủ nghĩa mà Nhân Loại trong đó có người Việt trong ngoài nước đều biết, là một chủ nghĩa thử nghiệm thất bại nhưng sát nhân, đã giết hàng triệu triệu người, trong đó ác độc nhứt là giết chính đồng bào mình, như ở Liên xô với Staline, ở Trung Cộng với Mao Trạch Đông, ở VNCS với Hồ Chí Minh.

Bằng cớ đã tỏ rõ. Mỹ dù có bang giao với Hà Nội nhưng có lần đặt CS Hà nội trong qui chế "cần quan tâm đặc biệt" vì lý do vi phạm tự do tín ngưỡng. Chính CS Hà nội thừa nhận vấn đề nhân quyền VN là "trở ngại trung tâm" trong bang giao với Mỹ, và phong trào quốc kỳ VN được hàng chục chánh quyền dân cử tiểu bang, hàng trăm chánh quyền dân cử thành phố Mỹ thừa nhận, là "một xúc phạm" đối với CS Hà Nội. Vấn đề nhân quyền là vấn đề Quốc hội Mỹ quan tâm sâu sắc và làm mất thì giờ Ô. Đại sứ Mỹ ở Saigon phải nay nhắc nhở, mai đòi hỏi, mốt yêu cầu cải thiện.

Trên thế giới, ngoài nước VN, lần đầu tiên xuất hiện và đang hình thành một VN hải ngoại như Pháp Quốc Hải ngoại thời Đức Quốc Xã chiếm Pháp, gắn bó với nhau qua mẫu số chung chống CS Hà Nội, tiếp tay đem lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho 82 triệu đồng bào trong nước. Hàng 300 ngàn Nguyễn Trường Tộ trẻ trung được trang bị khoa học, kỹ thuật tiền tiến của Tây Phương, ngay trong lòng văn minh Tây Phương. Hàng triệu những nhà ngoại giao dân gian, làm công tác ngoại giao giữa dân với dân, làm công tác dân vận với người địa phương nơi quê hương thứ hai, làm chánh trị với chánh quyền dân cử để tạo áp lực gián tiếp với CS Hà nội, và đấu tranh trực diện với CS Hà Nội từ ý thức hệ chánh trị đến kinh tế, văn hóa, xã hội trên bình diện thực tế sinh động.

Thế cho nên dù gồm thâu được giang sơn, "nắm" được người dân trong nước như những con tin, bòn vét tiền rừng bạc biển của đất nước, thuế má mồ hôi nước mắt của 82 triệu người Việt trong nước, có an ninh lộ trình bang giao, có túi bạc ngân sách quốc gia kè kè, mà CS Hà Nôi đi tới đâu đều phải vào cửa hông ra cửa hậu. Ở Âu, ở Mỹ, ở Úc, ở đâu người Việt cũng chống Cộng. Và nhiều dấu chỉ cho thấy còn chống dài dài, cho đến khi nào không còn CS mới thôi.

Với tinh thần, lập trường, tác phong, hành động chống Cộng đó của hầu hết người Việt tỵ nạn CS ở hải ngoại, một trăm cái nghị quyết, chớ đừng nói một nghị quyết 36, Bộ Chánh Trị Đảng CS cũng không thể nhuộm đỏ VN Hải ngoại.

VI ANH

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Bao giờ thế giới hết dầu lửa?

Ngô Nhân Dụng

Giá xăng ở Mỹ đang lên trong khi Mùa Hè sắp tới, dân Mỹ sẽ lái xe nhiều hơn. Trên thị trường thế giới, giá dầu thô đã tăng gần một phần ba trong ba tháng đầu năm 2008; có lúc leo lên tới 115 đô la một thùng, mức cao kỷ lục. Nếu giá dầu cứ lên cao như thế, kinh tế toàn cầu sẽ bị ngưng trệ.

Một lý do khiến giá dầu thô lên là đồng đô la Mỹ xuống giá. Mọi người mua bán dầu đều dùng đô la, khi đồng tiền Mỹ xuống thì dầu lên giá. Nhưng trong một tháng qua đô la Mỹ không còn xuống nhiều như trước nữa, khó giải thích được tại sao giá dầu vẫn lên mạnh. Kể từ bốn năm nay, giá dầu thô tăng từ 30 đô la lên trên 110 đô la một thùng, đô la có xuống cũng không nhanh như thế. Vậy có phải vì thế giới đang cạn hết dầu hay không?

Hãy lấy Nga làm thí dụ. Ðó là nước sản xuất nhiều dầu nhất hiện nay, 10 triệu thùng mỗi ngày. Ðầu tuần lễ này, có tin trong ba tháng đầu năm nay số sản xuất dầu ở Nga đã giảm 1% so với ba tháng đầu năm 2007! Ðây là lần đầu tiên trong mười năm thấy số dầu sản xuất ở Nga đi xuống. Người Nga giải thích là vì lý do thời tiết và vì thiếu điện ở nhiều nơi. Nhưng họ cũng công nhận những mỏ dầu ở miền Tây Siberia đang giảm xuất lượng. Cơ Quan Năng Lượng Quốc Tế (IEA) ước tính trong năm 2007 số dầu sản xuất ở Nga chỉ tăng dưới 1%, so với tỷ lệ tăng 2.5% mỗi năm trong ba năm trước đó.

Nga không ở trong khối OPEC, các nước này sản xuất một phần ba số dầu trên thế giới. Từ năm 2005 đến nay lượng sản xuất dầu ở các nước OPEC đứng yên không lên. Trong khi đó, những mỏ dầu ở Alaska, Na Uy và Bắc Hải đang “đến tuổi già!”

Theo quy luật kinh tế thì khi giá dầu thô tăng các nước sẽ sản xuất nhiều dầu hơn để kiếm lời. Nhưng dầu lửa là một nguồn tài nguyên có giới hạn, không thể tái tạo được, cho nên không phải giá tăng mà người ta bơm lên nhiều hơn. Ngược lại, vì giá tăng cho nên người ta không cần bơm thêm dầu để kiếm tiền như trước! Trong ba năm, từ 2002 đến giữa năm 2005, giá dầu tăng 150% nhưng số sản xuất chỉ tăng 12%. Trong hai năm qua giá dầu thô tăng thêm 120% nữa, nhưng số sản xuất cả thế giới chỉ tăng thêm 1%!

Trong tương lai năm, mười năm nữa nguồn cung cấp dầu thô cho thế giới sẽ không tăng lên bằng sức gia tăng của nhu cầu dùng nhiên liệu này. Cung không tăng vì các nước như Nga, Nigeria không nhận cho các công ty ngoại quốc vào đầu tư tìm mỏ và cải tiến kỹ thuật khai thác. Trong khi đó loài người dùng dầu nhiều hơn. Hai khối dân lớn nhất thế giới ở Trung Quốc và Ấn Ðộ càng ngày càng tiêu thụ nhiều xăng dầu hơn. Sắp tới ngày hơn một tỷ dân của mỗi nước này sẽ dùng nhiều dầu lửa hơn dân Mỹ.

Tuy nhiên, giá dầu tăng lên trong mấy năm qua cũng không thể chỉ giải thích bằng tốc độ gia tăng của số cầu vượt trên số cung. Còn một lý do khác khiến giá tăng vọt là nhiều người đã “mua” dầu thô như một thứ đầu tư. Họ mua qua những hợp đồng định kỳ với giá cố định, để đến kỳ hạn hy vọng nếu giá dầu lên, họ sẽ bán hợp đồng lấy lời mà không cần lấy dầu. Nhưng chính vì nhiều người đầu tư như thế cho nên họ đẩy giá dầu lên cao hơn nữa. Từ năm 2004 đến nay, số tiền đầu tư vào các hợp đồng định kỳ đó đã tăng từ 40 tỷ đô la lên 250 tỷ!

Nhưng, cuối cùng thì bao giờ thế giới này sẽ hết dầu lửa?

Khi tính đến đường dài thì chúng ta lại thấy viễn ảnh không đáng lo như hiện nay! Có thể nói là thế giới sẽ còn đủ dầu lửa dùng trong 100 năm nữa, dù mỗi ngày bơm lên 100 triệu thùng, so với số sản xuất hiện nay khắp thế giới mới có 86 triệu thùng một ngày.

Các chuyên gia về năng lượng chưa đồng ý với nhau bao giờ thì số lượng dầu dự trữ của thế giới sẽ chỉ còn một nửa, vào lúc gọi là “đỉnh sản xuất dầu” (peak oil point) tức là lúc nhân loại lo giảm số dầu bơm lên mỗi ngày để bắt đầu tiết kiệm năng lượng.

Muốn tính lúc nào số sản xuất dầu lên tới đỉnh, chúng ta phải biết thế giới hiện có bao nhiêu dầu trữ dưới mặt đất, trong các mỏ “dầu cát” như ở Alberta, Canada và dưới đáy biển. Con số ước lượng hiện nay là thế giới có khoảng từ 12 đến 16 ngàn tỷ thùng dầu chưa dùng tới. Nếu lấy được hết lên và cứ dành dụm chỉ dùng 100 triệu thùng một ngày thì cũng xài được ít nhất 120 ngàn ngày tức là hơn 3 thế kỷ nữa!

Nhưng phải tính đến yếu tố thứ hai là khả năng khai thác lấy được dầu lên sử dụng. Không phải có bao nhiêu dầu dưới đất thì lấy được lên hết mà xài. Kỹ thuật khai thác hiện nay chỉ lấy được một phần ba số dầu dự trữ trong các mỏ dầu dưới đất; những loại khác như trong cát, lấy được với tỷ lệ thấp hơn. Nếu kỹ thuật không tiến chút nào cả thì, với tỷ lệ khai thác một phần ba, loài người vẫn còn đủ dầu dùng trong một thế kỷ nữa. Nhưng kinh nghiệm cho thấy thế nào kỹ thuật cũng được cải tiến, cho nên chúng ta yên tâm hơn. Ở nước Á Rập Sauđi, nơi chứa một phần tư số dầu dự trữ của trái đất, kỹ thuật thay đổi đã giúp nhiều mỏ dầu lấy được hai phần ba số dầu dưới đất thay vì một phần ba, tức là tăng gấp đôi. Kỹ thuật mới này có thể áp dụng ở nhiều nơi khác, không phải tất cả mọi nơi. Nhưng chỉ cần khả năng khai thác dầu tăng 10% thì số lượng dầu lấy ra cũng tăng được thêm khoảng một ngàn tỷ rưỡi thùng, nghĩa là có dầu lửa dùng thêm trong 50 năm nữa!

Một yếu tố quan trọng khác là nhịp độ tiêu thụ dầu của nhân loại. Hiện nay mỗi ngày tiêu thụ khoảng 86 triệu thùng dầu. Mỗi năm số tiêu thụ sẽ tăng chừng 2%, số tiêu thụ sẽ lên tới 100 thùng một ngày, thêm hoặc bớt 10%. Nếu kinh tế thế giới xuống theo kinh tế Mỹ, số lượng dầu sẽ lên chậm hơn. Con số 100 triệu thùng mỗi ngày có thể sẽ tăng thêm trong ba chục năm tới.

Một yếu tố sẽ khiến số dầu tiêu thụ giảm bớt khi giá lên cao là các nguồn năng lượng mới. Trong tuần qua, Brazil có một tin mừng là mới khám phá ra một vùng mỏ dầu lớn ngoài khơi, với số dự trữ khoảng 33 tỷ thùng, đây là khám phá dầu lớn nhất trong mười năm nay. Hai năm trước, công ty Petrobras của nước này cũng khám phá khu mỏ dầu Tupi với 8 tỷ thùng dự trữ. Nhưng Brazil cũng là nước đang phát triển việc chế tạo ethanol bằng đường, để pha vào xăng, với tỷ lệ cao nhất thế giới. Hiện nay người ta chưa sản xuất ethanol nhiều vì “xăng còn rẻ!” Nhưng khi xăng lên giá thì việc sản xuất ethanol sẽ lên cao hơn, nhu cầu dùng dầu thô sẽ giảm đi. Ngoài ra, vì giá xăng lên các công ty sản xuất xe hơi sẽ chế nhiều xe dùng điện chung với xăng, giảm bớt áp lực trên giá dầu.

Với tất cả các dữ kiện trên đây, có thể lạc quan tin rằng loài người sẽ còn dầu lửa dùng hàng thế kỷ nữa, hoặc đến vài thế kỷ chưa hết. Niềm hy vọng đó là tính về lâu dài, không lo con cháu chúng ta sẽ thiếu xăng dầu! Nhưng trong hiện tại, giá dầu thô và giá xăng vẫn lên vì thị trường phản ứng quá mạnh trước những tin tức ở Nga, ở Nigeria và tình trạng các nhà đầu tư đi mua dầu kiếm lời đẩy giá lên. Cho nên tốt nhất là chúng ta hãy “phản đối” các hãng dầu và những nước sản xuất dầu bằng cách mua xe nhỏ, bớt lái xe hơi và mua những loại xe vừa dùng xăng vừa dùng điện! Cứ như vậy, trong vài ba năm giá dầu thô sẽ phải xuống, và giá xăng sẽ xuống!

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

BA MƯƠI BA NĂM TRƯỚC, NGÀY 30-4-1975,
TỔNG THỐNG DƯƠNG VĂN MINH ÐẦU HÀNG HAY BỊ CỌNG SẢN BẮC VIỆT BẮT TẠI DINH ÐỘC LẬP?


MƯỜNG GIANG, Apr 23, 2008
Cali Today News - Ðiện Kinh Thiên ở Hà Nội, được xây dựng từ đời Nhà Hậu Lê (1428), trên nền cũ của các cung điện thời Lý,Trần.. và trở thành Hành Cung của Nhà Nguyễn từ năm 1802, vì kinh đô của nước ta, được dời vào Huế. Năm 1873, thực dân Pháp chiếm Hà Nội, chúng đã biến hoàng cung thành một pháo đài rất kiên cố.

Năm 1954 tới cuối tháng 4-1975, Cộng Sản làm chủ nửa nước Từ đó Ðiện Kinh Thiên, trở thành Tổng hành dinh của Bộ Tổng Tham Mưu/Bộ đội Bắc Việt. Ðây là chỗ của các đầu sỏ Bắc Bộ Phủ, từ Hồ Chí Minh tới Lê Duẩn,Phạm Văn Ðồng.. trực tiếp lãnh đạo 8 đời Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng và Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Phùng Quang Thanh.. Tổng Tham Mưu Trưởng, bày binh bố trận mọi kế hoạch, chiến lược xâm lăng Miền Nam VN,qua cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam , cánh tay nối dài của Trung Ương Ðảng Cộng Sản VN..

Từ năm 1967 về sau, chiến tranh càng lúc thêm ác liệt, lan rộng tới tận miền Bắc, khiến Hà Nội phải xây thêm căn cứ D-67, vừa làm nơi trốn bom đạn oanh tạc của các chóp bu, thật vô cùng khủng khiếp do Mỹ thả. Ðây cũng là nơi họp tuyệt mật, của Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương Ðảng. Theo Võ Nguyên Giáp viết trong ‘ Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng ‘, thì từ tháng 4-1973 Bộ Thống soái tối cao, đã giao cho Bộ Tổng tham mưu, lập một tổ đặc biệt gồm Lê Trọng Tấn, Vũ Lăng, Võ Quang Hồ và Lê Hữu Ðức, nghiên cứu kế hoạch tổng tấn công cưởng chiềm VNCH. Bản dự thảo đầu tiên ra đời ngày 5-6-1973 và sau đó qua bảy lần xét duyệt, cuối cùng vào ngày 30-9-1974, mới được Bộ Chính trị nghị quyết ‘ Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức tổng tấn công Miền Nam ‘.

Ngày 18-12-1974 tới 8-1-1975, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng, để quyết định lần cuối cùng kế hoạch trên. Sau khi chiếm được Thường Ðức (Quảng Nam) và Phước Long, mà không thấy phản ứng nào từ Mỹ, nên ngày 9-1-1975, Quân ủy trung ương họp với quyết định mở chiến dịch 275, tấn chiếm Ban Mê Thuột, do Văn Tiến Dũng , từ Bắc vào Nam chỉ huy trực tiếp trận địa.

Sau khi Cao nguyên và Quân đoàn 1 của VNCH thất thủ, tại Hà Nội vào ngày 31-3-1975, Cọng Sản Bắc Việt quyết định lập Bộ Chỉ huy và Ðảng Ủy Sài Gòn, do Lê Ðức Thọ, Phạm Hùng và Văn Tiến Dũng chỉ huy. Ngày 7-4-1975, Võ Nguyên Giáp ban lệnh bằng mọi cách phải đánh chiếm cho được Miền Nam. Ngày 14-4-1975, mở chiến dịch HCM. Ngày 25-4-1975, Quân Ðoàn 1 Cọng sản từ Bắc Việt vào và đúng 17 giờ ngày 26-4-1975, mở đầu cuộc tấn công vào Sài Gòn bằng 5 cánh quân. Ngày 28-4-1975, Ðại tướng Dương văn Minh thay Trần Văn Hương làm Tổng thống, để trưa ngày 30-4-1975,ra lệnh toàn dân, toàn quân VNCH buông súng đầu hàng Cọng sản.
Trong lúc đó Miền Nam VN đã bị Hoa Kỳ và Thế giới tự do bỏ rơi tức tưởi, phải một mình đơn độc tiếp tục cuộc chiến chống xâm lăng trước mặt. Ðồng lúc lại phải hứng chịu những đòn thù thê thảm, của bọn con buôn chính khứa, cứ tàn nhẩn đạp bừa trên xác lính, để múa rối bỉ ổi trên sân khấu chính trị. Dữ dằn nhất vẫn là bọn trí thức khoa bảng,tư xưng là thành phần thứ ba, đã đi đêm với Bắc Việt từ lâu, gồm có Hồ Ngọc Nhuận, Vũ Văn Mẫu, Lý Quý Chung, , Hồ Văn Minh, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Xuân Oánh.. Tháng 3-1975, tình hình VNCH trở nên nguy ngập sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, Ngô Công Ðức, nguyên Dân biểu Quốc hội VNCH phản bội đất nước , sống lưu vong tại Pháp, đã vội vã sang Mỹ đòi chấm dứt viện trợ, thay ngựa bằng lá bài Dương Văn Minh, để chuẩn bị đầu hàng. Ðó là lý do truất phế Trần Văn Hương sau 5 ngày làm Tổng thống, kế vị TT.Nguyễn Văn Thiệu từ chức ngày 21-4-1975.

Ngày 27-4-1975, đúng 17 giờ 5 phút, trong phòng khánh tiết của Dinh Ðộc Lập, đang diễn ra buổi lễ bàn giao chức vụ tổng thống VNCH, giữa Trần Văn Hương và Dương Văn Minh. Ðây là lần bàn giao tổng thống lần thứ hai xảy ra chưa đầy 10 ngày, trong chính quyền Nam VN, giữa lúc đất nước đã mất hơn hai phần ba lãnh thổ và nguy ngập nhất là nửa triệu quân Bắc Việt đã ập sát Sài Gòn.. Theo phóng viên Ðài Phát Thanh Sài Gòn, mô tả hôm đó, thấy có sự hiện diện của ba Phó Thủ Tướng Trần Văn Ðôn, Nguyễn Văn Hảo, Dương Kích Ngưỡng, Quốc Vụ Khanh Nguyễn Xuân Phong, thêm Chủ Tich Thượng Viện Trần Văn Lắm và nhiều Nghị Sĩ, Dân Biểu như Tôn Thất Ðính, Nguyễn Văn Ân, Trần Cao Ðể, Mã Sái, Hồ Ngọc Cứ, Ðinh Văn Ðệ, Huỳnh văn Cao, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu.. và cả Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện là Trần Văn Tiết. Ngoài ra còn có hơn 100 phóng viên và nhiếp ảnh tham dự, làm cho quang cảnh buổi lễ bàn giao thật sôi nổi. Vậy mà Tân Tổng Thống chỉ mới giữ chức chưa đủ hai ngày, thì đã vội vã đầu hàng giặc, khiến cho đất nước và đồng bào, suốt ba mươi ba năm qua, sống kiếp nô lệ mới cay đắng ngậm ngùi, dưới ách thống trị siêu phong kiến của bọn đầu sỏ Cộng Sản Bắc Việt, gìa nua độc ác. Vì thế có thể nói rằng , chưa có đời nào trong giòng sử Việt, cả nước phải chịu nhiều đau khổ như hiện tại.

Là người của một giai đoạn lịch sử cận đại, Tướng Dương Văn Minh, chỉ trong vòng 12 năm ngắn ngũi, đã là nhân vật chủ chốt, hai biến cố trọng đại của cận sử VN. Ngày 1-11-1963 làm sụp đổ nền Ðệ Nhất Cộng Hòa Miền Nam, ra lệnh hạ sát anh em Tổng thống Ngô Ðình Diệm. Ngày 30-4-1975, lợi dụng chức vụ tổng thống và quyền Tổng tư lệnh quân đội, bắt cả nước đầu hàng đế quốc đệ tam cọng sản. Nay ngồi đọc lại lời phát biểu của TT Trần văn Hương, trong buổi lễ bàn giao hôm đó, mới thấy thương xót tận cùng cho người lính chiến VNCH, suốt đời làm thân trâu ngựa để cho bọn sâu bọ đội lột người ưởn ngực ngẩn đầu bước lên đài danh vọng lam hề :

‘ Một trang sử mới được mở ra, do Ðại Tướng Dương Văn Minh viết. Ông Minh nhậm chức lúc này, không những chỉ vì thiện chí, mà còn là CAN ÐẢM TỪ BỎ GIẢI PHÁP QUÂN SỰ, vì đã chọn con đường Hòa Giải, Hòa Hợp để có Hòa Bình.. ’ ’

Ðúng lúc lễ bàn giao bắt đầu, thì trên bầu trời, tên phản tặc Nguyễn Thành Trung, đứa con rơi của VC bỏ lại tại Bến Tre, sống nhờ sự dưỡng dục của người miền Nam VN nhưng vô ơn bạc nghĩa, đã lái và hướng dẫn 5 phản lực A37 của VNCH bỏ lại, oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhất, đồng thời đặc công Bắc Việt cũng lội vào bờ, chiếm kho tiếp liệu của Usaid bỏ lại, sát chân cầu Sài Gòn. Nhiều người lúc đó, cho là Ðại Tướng Văn Minh bị bệnh tâm thần, nên mới tin tưởng là cọng sản Hà Nội sẽ ngưng bắn, trong khi chúng sắp chiếm được miền Nam. Ngây thơ hơn hết, là việc Dương Văn Minh, đêm 27-1-1975, đã mời Ngô Công Ðức lúc đó đang lưu vong bên Pháp, về làm Bộ trưởng thi hành Hiệp định Ba Lê 1973, thực chất chỉ là một tờ giấy lộn không hơn không kém. Ðại bàng tối cáo mà như vậy, thì trách làm sao được những trận đánh không tên trong quẩn sử đã không có đại bàng ?

Hởi ôi, khi người Mỹ còn chiến đấu ở VN, với tiềm năng quân sự to lớn, nên lúc nào nếu muốn, cũng có thể tiêu diệt Bắc Việt dễ dàng. Thế nhưng trong các lần hội nghị, để tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh bằng con đường hòa bình. Trăm lần như một, người Mỹ đều bị Bắc Việt lừa bịp, tới lần cuối cùng bị TT Nixon ra lệnh oanh tac và phong tỏa Miền Bắc kinh khiếp chưa từng có. Vậy mà sau khi hết bom rơi, Hà Nội vẫn xạo dù chịu ký vào bản hiệp ước ngưng bắn tại Paris tháng 2-1973, khi mấy trăm ngàn bộ đội Bắc Việt, được Mỹ cho phép ở lại tại chỗ, để tiếp tục xâm lăng Miền Nam.

Trong lúc đó, khi Ðại Tướng Dương Văn Minh lên nắm quyền Tổng Thống VNCH vào chiều ngày 28-4-1975, thì đất nước đang ở vào giờ thứ 25 hấp hối. Vậy chúng ta có điều kiện gì để mà bắt cọng sản chịu ngưng bắn, để hòa hợp có hòa bình ?. Nham nhở nhất, là từ sáng ngày 29-4-1975, đài VC lên tiếng phủ nhận luôn chính phủ Dương Văn Minh mới lên tối hôm qua, đồng thời ra lệnh đánh chiếm Gia Ðịnh-Sài Gòn.

Sau này Trần Văn Hương có tiết lộ với tác giả ‘ L’Adieu à Sài Gòn ‘ cũng là sử gia người Pháp Jean Larteguy, rằng sự thật Dương Văn Minh cũng giống như ông, chẳng có liên lạc được ai bên phía Bắc Việt, để mà hòa hợp hòa giải. Còn Ðại Tướng Minh cho biết là mình đã tin vào lời của Vũ Văn Mẫu. Rốt cục tất cả đều là những người mù rờ voi, sau đó ảo tưởng đẻ ra kế hoạch vĩ đại đề cứu nước cứu dân, trong khi mặt thật là chẳng nắm được gì hết, ngoài bên cạnh có một đám quân sư xôi thịt xúi bậy làm càn.

Trong lần kỷ niệm 17 năm quốc hận vào năm 1992, tờ nguyệt san Phụ Nữ Diễn Ðàn của người Việt Hải Ngoại, số đặc biệt , có đăng những bài bút chiến, của Bùi Tín, Bùi văn Tùng, Nguyễn Trần Thiết, Bùi Biên Thuỳ,.. quanh hai chủ đề : ‘ Ai là người đầu tiên vào Dinh Ðộc Lập ? và Ai là người có thực quyền lúc đó, nhận sự đầu hàng của TT và Nội Các Dương Văn Minh ?’

Mượn lại danh từ của những người cọng sản, trong cuộc đấu võ mồm vô duyên trên, là họ đã biếm xưng lịch sử. Vì thật ra cả bọn chẳng có ai là người đầu tiên bước vào Dinh Ðộc Lập. Mà từ xa lắc xa lơ, nơi này đã có hằng tá điệp viên cao cấp Bắc Việt như Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Phạm Ngọc Thảo, Trần Ngọc Hiển, Lê Ðình Ẩn,Ðinh văn Ðệ.đã.bước chân vào rồi..

Riêng việc đầu hàng cọng sản của Dương Văn Minh, thì cũng chẳng có gì là lạ, vì Ðại Tướng là Thủ Lãnh của Lực Lượng Thứ Ba, có chủ trương Phản Gián qua lớp võ Hòa Giải, để đầu hàng giặc từ lúc chưa được lên ngôi Tổng Thống vào những ngày cuối tháng 4-1975. Có khác chăng, là phải đóng kịch đầu hàng như thế nào, để sau này trước Tòa Án Lương Tâm và trên trang lịch sử, Tổng Thống Dương Văn Minh , được trắng án và tiếng thơm là người yêu nước, vì đã dám hy sinh ở lại giữa chốn ba quân, trong lúc giặc xâm lăng đã ập sát biên thành.

Vì vậy từ lúc nhận lời đuổi Mỹ, tới khi lên đài ra lệnh cho quân đội buông súng rã ngủ, thời gian từ trưa 29-4-1975 cho tới trưa 30-4-1975, tổng thống không hề chợp mắt. Ðây là thời gian dài nhất trong đời làm chính trị của một vị nguyên thủ cuối cùng của VNCH, tuy ngắn ngủi nhưng lại bị tai tiếng nhất trong dòng Việt Sử cận đại.

Trong lần kỹ niệm 30 năm (4/1975 ố 4/2005), cả nước VN được sống trong thiên đàng xã nghĩa. Dịp này, trên các báo Khoa Học Phổ Thông (18) và Thế Giới Mới (631-632), xuất bản tại thành Hồ,có Phùng Bá Ðạm lớn tiếng về cái gọi ‘ Bắt Tổng thống Dương Văn Minh và Nội các Chính quyền Sài Gòn’ vào trưa ngày 30-4-1975 tại Dinh Ðộc Lập. Ðặc biệt trong những bài viết trên, không hề nhắc tới nhân vật Bùi Tín,một thời qua tập sách ‘ Sài Gòn Trong Ánh Chớp Chói Lọi Của Lịch Sử ‘ , lúc nào cũng to tiếng, nhận là mình cho Dương Văn Minh đầu hàng.

Vậy đâu là sự thật vì Tổng Thống Dương Văn Minh giờ đã mất, còn đồng bào cả nước từ ấy đến nay, sống dưới thiên đàng xã nghĩa, sau hàng rào kẽm gai, lưởi lê, họng súng, nên chỉ dám nói viết những lời đảng dạy, để mà giữ lấy cái mạng cùi rất mong manh. Vì vậy làm sao, có ai dám nói hết lời, cho dù rất muốn nói , ngoại trừ những kẽ cò mồi được đảng dựng lên làm đối lập qua mấy thúng ‘ dân chủ ‘ nghe thấy rất tình tứ và lãng mạn.

Nay nhìn lại cuộc tranh giành quyền lực của các chóp bu trong đảng và thảm trạng VN sắp diệt vọng trước cuộc xâm lăng không tiếng súng của giặc Tàu đỏ, Vì vậy, cho dù ai trong tập đoàn lãnh đạo của đảng cướp hiện nay, thì cũng chỉ đưa dân tộc và non sông Việt, đến hố sâu của ngu dốt, nghèo đói và trên hết là mất nước vào tay ngoại bang. Tất cả cũng chỉ vì chúng ta trong quá khứ ,đã thờ ơ với vận nước,phần lớn lại quá tin vào lãnh đạo, cho dù đó là những sâu bọ hại nước hại người .

‘ Ba mươi ba năm rồi, nay quá đủ
hãy đứng lên tự bẽ gảy xích xiềng
cả tội hèn làm đất nước đảo điên
giúp cho giặc thành bạo quyền ác chúa
chôn chúng đi nhưng thây ma thúi rửa
vứt vào mồ lũ quan tướng âm binh
để cả nước quên bớt nổi bất bình
vì trót lở tin theo phường đạo tặc.. ’ ’
1- TỔNG THỐNG DƯƠNG VĂN MINH ÐI TÌM HÒA BÌNH Ở CUỐI ÐƯỜNG HẦM : Ba muoi ba qua, kể từ ngày Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh cho QLVNCH buông súng rả ngủ, giúp cho cọng sản Bắc Việ, có cơ hội kết thúc sớm cuộc chiến xâm lăng Miền Nam. Cũng kể từ đó, đã có nhiều tài liệu của mọi phía liên hệ tới lịch sử, bật mí vén màn bí mật những uẩn khúc một thời, mà nguời Việt đọc tới, cứ tưởng như đang trong mộng hay đi trên mây, vì tất cả đều do bàn tay lông lá của ngoại bang dàn dựng.

Riêng về sự nghiệp của tổng thống cuối cùng của VNCH là Dương Văn Minh, cũng có rất nhiều nhưng chỉ có các bài viết của ký giả Pierre Denicron, ‘ SaiGon et Moi ‘ của cựu đại sứ Pháp là J.M.Mérilon và ‘ Decent Interval ‘ của Frank Sneep.. là viết rõ ràng nhất.

Theo ‘ Những Ngày Cuối Cùng VNCH ‘ của Nguyễn Khắc Ngử xuất bản sau năm 1975 tại Canada, thì ngay khi Bắc Việt vừa chiếm được Cao Nguyên Trung Phần (QDII) ngày 24-3-1975. Nhận thấy thời cơ đả tới, Phạm Văn Ðồng lúc đó là Thủ tướng Bắc Việt, đã ra lệnh cho bọn phản tặc ăn cơm Quốc Gia thờ ma Hồ, với cái gọi Lực Lượng Thứ Ba (LLTB) ở Sài Gòn, công khai ra mặt chống đối Chính Phủ VNCH, qua trung gian Ðại Sứ Pháp ở Hà Nội là Phillipe Richer. Ðồng noí : ‘ thế nào ?bao giờ người Pháp mới hành động ? giờ đã đến lúc các bạn ông trong phe thứ ba ở Sài Gòn, ra khỏi sự dè đặt, công khai lật đổ Nguyễn VănThiệu, để lập chính phủ mới trung lập, mới có đủ tư cách nói chuyện thương thuyết với chúng tôi ‘.Ðó chính là lý do mà Ðại sứ Pháp tại Sài Gòn, J.M.Mérillon, tiếp xúc với LLTB, áp lực Mỹ thay ngựa hết TT. Thiệu tới TT.Hương và tìm đủ mọi cách đưa Dương Văn Minh lên ghế Tổng Thống
+ NHỮNG NGÀY CHUẨN BỊ LÊN NGÔI VUA : Người Pháp hết bị Nhật rồi tới VN đánh đuổi ra khỏi Ðông Dương một cách nhục nhã và thảm bại vào năm 1955, nhưng De Gaule và thực dân lúc nào cũng hằng nuôi ảo vọng trở lại làm trùm miền đất này. Bởi vậy không lúc nào chúng bỏ quên mọi cơ hội, rình rập và chợp thời cơ để trục lợi. Ðó cũng lý do Hòa đàm Paris được tổ chức trên đất Pháp . Ngoài ra đây cũng là nơi dung thân của các chính khưa lưu vong, sào huyệt của phong trào trí thức sinh viên tôn giáo thân Cộng Sản. Vì vậy suốt cuộc chiến, Hà Nội đã lập ra tại đây 4 Tổ Tuyên truyền, thuộc thành phần MTGPMN, Phòng Thông tin Bắc Việt và Hội Việt kiều yêu nước XHCN.nhưng tất cả , đều đặt dưới sự chỉ đạo của Trung ương cục miền Nam, một tổ chức nối dài của Ðảng Cộng Sản .

Ý đồ lưu manh trên, đã được Mérillon nói một cách công khai và hãnh diện, trong tác phẩm của mình. Ðó chính là những ngày cuối tháng 4-1975, giữa lúc VNCH đang hấp hối vì Hoa Kỳ phản bội, đại bàng bỏ trốn, Việt gian đâm sau lưng, tạo dịp tốt ngàn năm một thuở, cho Pháp nhảy vào ăn ké hột hụi chót, được hay thua, cũng không bị lỗ vốn.

Cũng theo lời kể của vị cựu đại sứ Pháp, kể từ ngày 18-4-1975, Hoa Kỳ coi như đã dứt khoát bỏ VN, qua vai trò của đại sứ Martin. Nói chung người Mỹ nhờ Pháp thay thế, lo giùm hậu sự cho cái xác của VNCH, đang hấp hối chờ chôn. Bởi vậy Mérilon đã liên hệ khắp nơi, kể cả phái đoàn của Bắc Việt trá hình là VC, do Phan Hiền cầm đầu, được Mỹ bảo vệ và cho ở làm gián điệp, nơi trại David nằm trong phi trường Tân Sơn Nhất, để xúc tiến thành lập một chính phủ MA mới tại VNCH, gồm ba thành phần Quốc Gia, Cọng sản và Trung Lập, như lệnh của Phạm Văn Ðồng.

Ðảng đối lập tức Lực lương thứ ba lúc đó, gồm có Thủ Lãnh là Ðại Tướng Dương Văn Minh, hợp với Huỳnh tấn Mẩm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Bá Thành, Huỳnh Liên, Vũ Văn Mẫu, Lý Quý Chung.. được Mérilon tiếp kiến ngày 22-4-1975 nhưng tất cả lũ đều là bọn hề, không có một chút tiếng tăm gì trên trường chính trị lúc đó, ngoài vai trò làm tay sai phá hoại, nên bị đuổi về vì không đủ điều kiện để lọt vào mắt của Bắc Bộ Phủ. Riêng Dương văn Minh được giữ lại, chờ nói chuyện với Hà Nội, qua đường dây chuyển tiếp của Toà đại sứ Pháp tại Sài Gòn-Tân Gia Ba-Bắc Việt, do Võ Ðông Giang làm trung gian.

Trong lúc chờ đợi, Ðại sứ Pháp dâng lên tổng thống tương lai, kế sách bình thiên hạ, trung lập hóa miền Nam, chung qui cũng vẫn là vai trò của Pháp, Trung Cộng và Nhật sẽ thay chân Mỹ làm chủ nhân ông VNCH.

Ðể Miền Nam mau chết, Hoa Kỳ đã quyết định cắt đứt hết mọi quân viện, khiến Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng cắt đứt luôn sự liên hệ với Tòa Ðại Sứ. Bởi vậy, trong đêm 20-4-1975, thân hành đại sứ Martin phải vào Dinh Ðộc Lập, áp lưc TT phải từ chúc tức khắc, bằng tối hậu thư của CS Bắc Việt gửi Mỹ. Tóm lại TT Thiệu lúc đó chỉ có hai con đường lựa chọn, một là từ chức TT để giữ mạng, nếu không sẽ chết như TT Diệm vào ngày 2-11.1963.

Theo luật pháp quốc gia, cũng như Hiến Pháp và Quốc Hội qui định, nên Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay thế chức vụ TT. Nhưng cụ Trần Văn Hương, từ trước tới nay vốn nổi tiếng Diều Hâu, điếc không sợ sấm dù là sấm Chúa hay Phật, một nhân vật chống Cộng cực đoan, tuổi tuy già nhưng đầu óc tỉnh táo và cương quyết. Cho nên ông đâu phải là nhân vật tuyển của thực dân Pháp và giặc xâm lăng Bắc Việt. Bởi vậy Dương Văn Minh được mời ra cứu nước, đó cũng là bài bản tuồng tích đã được các soạn giả sắp xếp, đâu có gì lạ.

Ðể áp lực với tổng thống Hương nhường ngôi cho Dương văn Minh, tối 24-4-1975, cọng sản lại ra thông cáo :

1- Trần văn Hương bù nhìn của Nguyễn Văn Thiệu, phải ra đi.
2-Mỹ phải rút khỏi VN.
3-Không chấp nhận các cơ cấu của VNCH hiện tại.

Như vậy việc Dương văn Minh lên làm tổng thống, theo thông cáo trên, là do ý của cọng sản Hà Nội, chứ không phải do Hiến Pháp VNCH quyết định. Ý đồ cướp nước của giặc đã công khai rõ ràng như ban ngày, vậy mà Tướng Minh và phe nhóm vẫn mù tịt. Khôi hài nhất là việc ông đại sứ Pháp, cứ liên tục thúc hối Tổng thống Trần Văn Hương mau từ chức, để Dương Văn Minh kịp cứu dân cứu nước ?
Nhưng cụ Hương tuy tuổi già chứ không lẫm cẩm, hơn nữa lại là thầy của Dương Văn Minh, nên đâu có lạ gì tánh tình và nhân phẩm của người học trò mình.

Theo ‘ Saigon et Moi’, chính cụ Hương đã trả lời thẳng với Mérilon như sau ‘ Nước Pháp luôn hái nho trái mùa, tưởng chọn ai, chứ Dương văn Minh không phải là hạng người dùng được, trong lúc dầu sôi lửa bỏng’.

Do các lý do trên, TT Hương không muốn trở thành một tội nhân thiên cổ đối với lịch sử, nên đã khôn khéo trao quyền quyết định cho Quốc Hội và Tối Cao Pháp Viện. Cuối cùng Tướng Minh được chỉ định làm Tổng Thống thứ tư của VNCH, vào lúc 20 giờ 45’ đêm 27-4-1975, với tỷ số 132/02. Rồi lễ bàn giao được diễn ra tại Phòng khánh tiết, Dinh Ðộc Lập lúc 17 giờ 01 phút, chiều ngày 28-4-1975. Lần nửa Việt Sử cận đại lại được lật sang trang nhưng vô cùng ngắn ngủi, vì tổng thống Dương Văn Minh, chỉ nắm quyền chưa tới 48 giờ, thì mất nước.
+ 30-4-1975, NGÀY DÀI NHẤT CỦA TỔNG THỐNG DƯƠNG VĂN MINH : Theo các tác phẩm dẫn thượng, thì suốt 40 giờ tham chính, TT Minh và Nội Các của ông, hoàn toàn làm việc tại Dinh Hoa Lan và dưới sự chỉ đạo kiểm soát của Ðại sứ Pháp gần như 24/24. Jean Larteguy, tác giả ‘ L’adieu à Saigon ‘, có viết rằng cụ Hương trước khi mất, cho tác giả biết, cả ông, Dương văn Minh lẫn Vũ Văn Mẫu, đều chẳng liên lạc được gì với cọng sản Bắc Việt.

Ðiều này cho thấy ông Dương văn Minh cùng phe nhóm, chẳng có một kế hoạch nào để giải quyết cuộc chiến, mà mặt thật chỉ là những người bị cọng sản Bắc Việt lừa bịp, phỉnh gạt mà thôi. Bởi vậy khi Dương Văn Minh vừa đăng quang xong lúc 17 giờ ngày 28-4-1975, lập tức VC cho Nguyễn Thành Trung oanh tạc phi trường, đồng thời trở mặt tức khắc.

Trong trại David vào đêm 28-4-1975, Võ Ðông Giang bảo thẳng với phái đoàn thương thuyết của Dương Văn Minh, gồm Chân Tín, Châu Tâm Luân và Trần Ngọc Liễng ‘giờ tấn công đã sẵn sàng, nên Dương văn Minh chỉ có hai điều kiện : Ðầu hàng hay không Ðầu hàng ‘.Cả ba sứ giả bị giữ lại làm con tin. Sáng sớm ngày 29-4-1975, Hà Nội lập tức ra thông cáo, đòi tổng thống Minh cùng nội các từ chức, giao Miền Nam cho chúng, ban lệnh đuổi Mỹ, ngưng bắn và đầu hàng vô điều kiện.

Trong lúc ngoài vòng đai thủ đô, các đại đơn vị còn lại của QLVNCH đang tử chiến, để ngăn giặc khắp năm cửa ô, thi Sài Gòn đã hỗn loạn vì sự trốn chạy của Mỹ bằng trực thăng trên mái nhà.Nhiều phi công vì ham sống, đã bỏ chiến đấu, bỏ đồng đội đang tử chiến dưới đất, bay sang tận Thái Lan, trả máy bay cho Mỹ để đước tới định cư ở Hoa Kỳ. Theo W.W.Monyer trong ‘ Vietnammese Airforce (1955-1975), thì Mỹ đã thu hồi lại được 132 phi cơ đủ loại, qua lệnh của Phụ tá Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ, lúc đó là R.Armitage và E.V Marbod. Các đại bàng lớn nhỏ lần lượt chắp cánh tung trời , từ TT Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Ðại Tướng Viên, Quang rồi Ðồng văn Khuyên, Vĩnh Lộc, Nguyễn văn Chức, Nguyễn văn Toàn.. đều ra đi.

Tóm lại giặc đang còn tận Biên Hòa, Bến Cát, Long Thành, Củ Chi và Long An.. thì Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư Lệnh KQ,HQ, BTL QDIII và Biệt Khu Thủ Ðô đã tan hàng, khiến Tổng Thống Minh như cua gãy càng, đành gọi bọn sâu bọ Nguyễn Hửu Có, Nguyễn Hữu Hạnh, Triệu Quốc Mạnh vào dinh, cho mang lon trở lại, để giúp ngài có đủ can đảm đầu hàng giặc. Tổng thống đã thức trọn đêm, cho tới sáng 30-4-1975, để bin một canh bài xì phé khi con tẩy của mình chỉ là lá bài lũng, để định một sự kiện lịch sử, mà thật ra khả năng của ông, vốn không bao giờ có thể vói tới được.

Từ 7 giờ sáng ngày 30-4-1975, Nguyễn Hữu Thái tới Chùa Ấn Quang, yêu cầu Thượng Tọa Trí Quang, dùng uy tín khuyên Dương văn Minh đầu hàng. Chính cuộc điện đàm ngắn ngủi giữa Trí Quang, Nguyễn Hữu Thái và bộ ba Minh, Mẫu và Lý Quý Chung , khiến Dương văn minh, quyết định đầu hàng giặc sau một đêm dài thức tron đủ năm canh.
+ NGUYỄN ÐÌNH ÐẨU LÀM SỨ GIẢ HÒA BÌNH : Vào ngày 30-4-2005 tại Sài Gòn, VC có đưa bốn nhân vật liên quan tới những giờ phút cuối cùng của VNCH vào tháng 4-1975 lên TV phỏng vấn : Ðó là Nguyễn Hửu Có, Nguyễn Hửu Hạnh, Phạm Quốc Mạnh và Nguyễn Ðình Ðẩu. Trong 4 người, Có, Hạnh và Mạnh là sĩ quan cao cấp của QLVNCH. Riêng Ðẩu là một nhà nghiên cứu địa bạ rất nổi tiếng, qua các sách đã xuất bản, trong đó có tỉnh Bình Thuận xưa.

Qua hồi ký đăng trên ‘ Thế Giới Mới số 385 ‘, xuất bản tại thành Hồ vào năm 2000, Ðẩu cho biết mình là một trong 4 sứ giả hòa bình, vào những ngày cuối tháng 4-1975, được Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền, mời vào phái đoàn, đến trại David là nơi đóng quân của Phái đoàn Bắc Việt, trong phi trường Tân Sơn Nhất, để thương thuyết ngưng bắn. Ðẩu viết :

Ngày 29-4-1975 : Lúc 6 giờ 30 sáng, Ðẩu đi tìm Nguyễn Văn Huyền, mới được TT Minh phong chức ‘ Phó Tổng thống đặc trách hòa đàm ‘.Theo Ðẩu, lúc đó chính phủ Dương Văn Minh chưa có ai liên lạc hay tiếp xúc với phía bên kia. Do đó Ðẩu xung phong, cùng với Nguyễn Văn Diệp (Tổng trưởng kinh tế thương mại vừa mới phong), Nguyễn Văn Hạnh (Nhà thầu), Tô Văn Cang (kỹ sư). Lúc 11 giờ 15 cả bọn vào trại David bằng công xa của Bộ trưởng Diệp, có cận vệ, nhưng trống không vì phái đoàn VC đã rút đi hết. Lúc 13 giờ 30, theo lệnh Nguyễn Văn Huyền, Ðẩu viết lời tuyên bố của Chính phủ VNCH, chấp nhận điều kiện của VC đòi hỏi ngày 25-4-1975., sau đó được đọc trên đài phát thanh Sài Gòn vào lúc 14 giờ 30’.

Lúc 19 giờ cùng ngày, Ðẩu cùng Nguyễn Văn Huyền vào Dinh Hoa Lan gặp Tổng Thống Minh và cho biết ‘ Giải pháp chính trị chấm dứt chiến tranh ‘ đã không thể thực hiện được, vì Bắc Việt không chấp nhận trong lúc đang thắng thế quân sự.. Ngày 30-4-1975, lúc 7 giờ 30 sáng, Ðẩu lại theo Nguyễn Văn Huyền, đi trên công xa của Tổng thống, tới họp tại Văn phòng Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, ở số 7 đường Thống Nhất. Theo Ðẩu, ngay trên xe lúc đó, Huyền nói với đương sự bằng tiếng Pháp ‘ Phải đầu hàng ‘.

Tại Phủ Thủ tướng lúc 8 giờ 30 sáng, bộ ba Minh, Huyền, Mẫu hợp kín. Lúc 9 giờ 15, cũng tại đây, TT Minh dùng điện thoại, đọc lệnh ngưng bắn đơn phương trên Ðài Phát thanh Sài Gòn và Quân Ðội. Lúc 9 giờ 30 cùng ngày, bộ ba Minh-Huyền-Mẫu và nhiều người trong nội các, dùng công xa kéo về Dinh Ðộc Lập, chờ Cộng Sản Bắc Việt tới giao quyền hành. Dịp này Ðẩu cũng tháp tùng nhưng lại bỏ về nhà, nên cho biết không chứng kiến những gì đã xảy ra tại Dinh Ðộc Lập, vào lúc 11 giờ 30 khi xe tăng Bắc Việt có mặt ở đây.
2 - NGÀY 30-4-1975 TẠI DINH ÐỘC LẬP, TT DƯƠNG VĂN MINH ÐẦU HÀNG HAY BỊ QUÂN CỘNG SẢN BẮC VIỆT BẮT ? : Theo Nguyễn Khắc Ngữ, thì sau khi cuộc di tản của người Mỹ trên mái nhà chấm dứt vào 7 giờ sáng. Lúc đó Tổng thống Dương Văn Minh cũng chưa biết là mình phải làm gì trước giờ thứ 25 của VNCH. Tuy nhiên xung quanh lại có nhiều thành phần trở cờ, thân hay là VC nằm vùng xúi giục, nhất là Vũ Văn Mẫu, Lý Quý Chung, Nguyễn Hữu Thái, Nguyễn Hữu Hạnh, Phạm Quốc Mạnh.. bởi vậy đã ra TUYÊN CÁO ÐẦU HÀNG, thâu băng ở Dinh Thủ tướng và được Ðài phát thanh Sài Gòn, phát lúc 9 giờ sáng, với nội dung :

“ Ðường lối chủ trương của chúng tôi là Hòa Giải và Hòa Hợp Dân Tộc, để cứu vãn sinh mệnh của đồng bào. Chúng tôi tin tưởng sâu-xa vào sự hòa giải của người VN với nhau, để phải khỏi phí phạm xương máu của người VN chúng ta . Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và đâu ở đó . Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Lâm thời miền Nam VN hãy ngưng nổ súng. Chúng tôi đang ở đây chờ gặp Ðại diện Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam VN, để cùng nhau thảo luận, về việc bàn giao chính quyền, trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào .”

Sau đó Nguyễn Hữu Hạnh, mới được TT.Dương Văn Minh gắn lon Chuẩn tướng và phong chức Phụ tá Tổng Tham mưu mưởng QLVNCH lúc đó là Trung tướng Vĩnh Lộc. Vì tướng Lộc đã di tản hồi sáng sớm, nên Hạnh phải thay thế đọc NHẬT LỆNH , với đại ý bắt QLVNCH phải tức khắc tuân lệnh TT. Dương Văn Minh, buông súng đầu hàng Cộng Sản Bắc Việt. Chính lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh, đã làm tan rã ngay QLVNCH, một Quân đội hào hùng, dũng liệt, lúc đó dù đã bị Hoa Kỳ bán đứng và bỏ rơi nhưng vẫn can trường tiếp tục chiến đấu với kẻ thù xâm lăng phương Bắc.

Những tướng lãnh Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Lê Minh Ðão, Lý Tòng Bá, Trần Quang Khôi, Lê Văn Thân, Ðổ Kế Giai.. người quyên sinh chết, kẽ vào tù khổ sai tại các trại giam ở tận biên giới Việt Bắc. Riêng đồng bào cả nước cũng cùng chung số phận với người linh, chịu cảnh hẳm hiu, lầm than.suốt ba mưoi ba năm qua, dưới chế độ tham tàn bạo ngược, mà Tổng thống Dương văn Minh và phe nhóm, đã vô tình hay cố ý, lót đường, trải thảm , rước giặc vào tàn sát đồng đội, đồng bào.qua danh từ hoa mỹ “ Hòa hợp, hòa giải dân tộc “.

Ðầu hàng để bom đạn khỏi tàn phá Sài Gòn và tránh bớt đổ máu cho đồng bào, vào những ngày cuối tháng tư quốc hận. Nhưng Sài Gòn và cả nước vẫn bì tàn phá hũy diệt, đồng bào cả nước vẫn đổ máu gục ngả, ngay sau khi Cộng Sản Bắc Việt chiếm được cả nước ngày 1-5-175. Chết nào cũng chết, tàn phá nào cũng là hũy diệt. Vậy tại sao không để cho QLVNCH và đồng bào chết một cách oanh liệt khi đối mặt với giặc thù, mà lại bắt họ và đất nước phải chết đau hận nhục. dưới gót giầy xâm lược của Ðế quốc Ðệ tam Cộng Sản ?

Có một sự kiện lịch sử cần phải viết nhớ, là lúc Dương văn Minh cùng phe nhóm vừa từ Dinh Thủ tướng về Dinh Ðộc lập, đã thấy trong sân cỏ có rất nhiều Chiến xa M48 của VNCH nhưng đã bị Tổng thống ra lệnh trở về đơn vị, để chờ đầu hàng. Cũng vì vậy mà Tăng 54 của Bắc Việt mới phách lối ủi xập được cửa sắt của Dinh Ðộc lập và những trận giặc miệng trên báo chí trong và ngoài nước, của Bùi Tín, Bùi văn Tùng, Bùi Biên Thùy và mới đây thêm Nguyễn Ðình Ðẩu, Phùng Bá Ðạm, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Khang Thái.. về cái gọi là ‘ Bắt Dương Văn Minh tại Dinh Ðộc Lập ‘.

Ngày nay đọc ba quyển hồi ký của Võ Nguyên Giáp và Bộ Chung Một Bóng Cờ của Tập đoàn Giải Phóng Miền Nam gồm Nguyễn Hửu Thọ,, Trần Nam Trung, Trần Bạch Ðằng, NguyễnThị Bình.. viết chung, do Nhà xuất bản Chính trị của Ðảng độc quyền phát hành , qua những tiết lộ về các bí mật hậu trường chính trị miền Nam trước năm 1975. Nhờ đó ta mới biết chân tướng của Nguyễn Xuân Oánh, Phó Thủ tướng ‘ Tôi cảm thấy sống rất thoải mái và phấn chấn, vì trong mấy chục năm qua nằm vùng trong Chính quyền miền Nam, tôi cũng đã giúp Ðảng ta nhiều công lớn ‘.Còn Nguyễn Hửu Có, nguyên Tổng trưởng Quốc phòng thì nói ‘ Ðảng ta mau tuyên truyền ra hải ngoại, để Việt kiều biết tìm cơ hội cống hiến yêu nước XHCN ‘.Nhưng nhức nhối hơn cả vẫn là Nguyễn Khánh, trong lúc Miền Nam đã nguy ngập vào tháng 3-1975, chẳng những không tìm cách giúp đở, mà còn đâm sau lưng chiến sĩ , bằng cách đòi hỏi Mỹ phải chấm dứt ngay quân viện cho VNCH. Ngày 17-4-1975 khi Cộng Sản đang vây khổn Sài Gòn, thì Khánh viết ‘ The Peace must be Vietnamized ốPhải VN hóa hòa bình ‘ , đăng trên tờ New York Times. Cuối cùng, khi được tin Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Khánh lại liên lạc với MTGPMN hỏi là ‘ Mình phải tiếp tục làm gì ? ‘

Còn Ðại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống hai ngày cũng là tổng thống chót của VNCH, ngoài việc dùng quyền hành vua nước và tổng tư lệnh quân đội, bắt QLVNCH buông đầu hàng rã ngủ. Sau ngày 1-5-1975, còn Họp báo công bố ‘ Chính Sách Khoan Hồng Của Cách Mạng ‘ và nói ‘ Riêng cá nhân tôi rất hân hoan, vì cho tới năm 60 tuổi , tôi mới được trở thành công dân của một nước VN độc lập, tự do ‘.

Về chuyện gì đã xảy ra trong Dinh Ðộc Lập, vào trưa này 30-4-1975, hiện đã có rất nhiều tài liệu của cả hai phía, cũng như ngoại quốc ghi nhận. Nói chung tất cả sự kiện gần giống nhau, chỉ có khác biệt là ai cũng dành công, việc bắt TT Dương Văn Minh và Nội các VNCH, là của mình.
+ NGUYỄN KHẮC NGỮ : Viết trong ‘ Những ngày cuối cùng của VNCH ‘ cho biết vào lúc 12 giờ 30 ngày 30-4-1975, lúc quân Bắc Việt do Bùi văn Tùng chỉ huy, đã vào được bên trong Dinh Ðộc Lập. Về phía VNCH, tại phòng Khánh Tiết , hầu như có đủ các nhân vật thuộc phe nhóm DVM và nội các của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, tất cả đang ngồi trên ba hàng ghế chờ. Chính TT.Minh đã ra đón cán binh Bắc Việt , tận cửa Phòng Khánh Tiết và nói về việc ban giao. Nhưng chúng nhất định không chịu, đòi Dương Văn Minh phải đầu hàng VÔ ÐIỀU KIỆN và cho biết TUYÊN CÁO phía VNCH do Minh và Hạnh vừa đọc, không có giá trị. Sau cùng Lê Văn Minh nói thẳng là Dương Văn Minh đã bị bắt, thì còn gì để bàn giao.

Biết mình đã lở dại, nên TT Minh, Thủ tướng Mẫu đành để cho giặc áp giải tới Ðài phát thanh, ra lệnh cho QLVNCH buông súng đầu hàng vô điều kiện, đồng thời tuyên bố giải tán Chính quyền VNCH, từ trung ướng trở xuống địa phương. Còn Vũ văn Mẫu thì nhân danh Thủ tướng chính phủ, kêu gọi đồng bào hoan hĩ đón giặc vào.
+ BÙI TÍN CÓ BẮT ÐƯỢC DƯƠNG VĂN MINH ? Ðây là bài viết của Bùi Văn Tùng, trả lời Thành Tín, tức Bùi Tín qua ‘ Sài Gòn trong ánh chớp chói lọi của lịch sử ‘, được VC in và phát hành năm 1978. Trong bài viết của Thành Tín, cho biết Bùi Văn Tùng, Chính Ủy Lữ Ðoàn Thiết giáp 203, đã áp giải TT Minh và Thủ tướng Mẫu, từ Dinh Ðộc Lập tới Ðài phát thanh Sài Gòn, rồi tự Tùng và Thệ viết ‘ Bản Tuyên bố đầu hàng ‘ đưa cho Tổng thống đọc nhưng Minh không muốn dùng chức vụ ‘ Tổng thống ‘, mà chi muốn xưng danh hiệu ‘ Ðại tướng ‘.Cuối cùng trước mũi súng, Tổng thống kiêm Ðại tướng Dương Văn Minh, đã phải tuân hành theo mọi mệnh lệnh.

Năm 1992, Bùi văn Tùng có viết một bài liên quan tới các sự kiện trưa ngày 30-4-1975 tại Dinh Ðộc Lập, Sài Gòn. Trong bài viết, Tùng cho biết sau năm 1975, Bùi Tín có làm một Bộ phim về chiến tranh VN nhưng Tùng đã tố Tín, cố tình đạo diễn, để cho mọi ngưởi tưởng lầm, chính Tín đã bắt và buộc Dương Văn Minh đầu hàng. Cuối cùng Bùi văn Tùng xác nhận Bùi Tín đã có mặt tại Dinh Ðộc Lập vào chiều ngày 30-4-1975, qua tư cách một nhà báo phóng viên. Nhưng theo Tùng, thì việc bắt Tổng Thống Minh đầu hàng vào lúc 13 giờ 15 ‘ tại Ðài phát thanh Sài Gòn, chứ không phải Dinh Ðộc Lập. Sự thật là thế nào, chỉ có TT Minh mới biết, tiếc thay ông đã không còn để trả lời.
+ NGUYỄN TRẦN THIẾT : Thiết là một nhà báo Bắc Việt, cho biết vào lúc 12 giờ 12 ‘, Ðại tá CS Nam Long lúc đó đang có mặt Trong Dinh Ðộc Lập, đã tiếp phái đoàn báo chí phe mình, trong đó có Bùi Tín. Thiết cho biết mình vào Dinh DL, với nhiệm vu phỏng vấn TÙ BINH VNCH có mặt tại chỗ lúc đó, gồm TT kiêm Ðại tướng Dương Văn Minh , Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu.. Theo Thiết, vì chỉ trong mấy ngày, mà VNCH đã thay đổi ba lần nội các , qua các Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Bá Cẩn, cuối cùng là Vũ Văn Mẫu, nên quá nhiều ông lớn, nên chẳng biết đâu mà mò.

Trong bài của Thiết, có nhắc tới việc Bùi Tín chửi Dương Văn Minh khi Tổng thống đòi bàn giao Chính quyền với MTGPMN ‘ Nhưng ông đâu có chính quyền để bàn giao ? Người ta không thể giao cái gì không có trong tay bọn Ngụy quyền cũ từ dưới lên trên đã sụp đổ hoàn toàn ‘.Nhưng Minh vẫn có cãi ‘ Các ông có thấy Sài Gòn không đổ máu ? đó là mơ ước của tôi ‘.Và đã được Bùi Tín trả lời ‘ Ðúng, Sài Gòn gần như không đổ máu, không bi tàn phá. Ðó là do sức áp đảo và khí thế thần tốc của cách mạng ‘.

Mai mĩa nhất là Nguyễn văn Hảo lúc đó đòi được bắt tay với bộ đội Bắc Việt và khoe chính mình đã ngăn cản không cho bất cứ kẻ nào phá hoại nguồn lợi kinh tế của nước ta. Kho bạc còn, vàng dự trữ còn. Công lao của tụi này đấy..

Tóm lại, tại Dinh Ðộc Lập ngày 30-4-1975, theo Nguyễn Trần Thiết thì chính Sáu Hoàng Cao Minh Chiếm, mới là người Ðại diện chính thức của Bắc Việt, chấp nhận sự đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh và nội các.

Riêng Nguyễn Hửu Hạnh nhờ năm vùng, nên sau tháng 5-1975 được Cộng Sản thưởng công làm Ủy viên Ủy Ban Mặt Trận GPMN, thành phố Sài Gòn-Gia Ðịnh rồi lên Ủy viên Ủy Ban Trung Ương Mặt trận Tổ Quốc VN.
+ PHÙNG BÁ ÐẠM : Tháng 4-2005, trên báo Khoa học phổ thông số 18 xuất bản tại Thành Hồ, có đăng bài ‘ Gặp lại một nhân chứng lịch sử ‘ của Nguyễn Khang Thái ‘.Bài viết ghi lại lời kể của Phùng Bá Ðạm, tự nhận thuộc Trung đoàn 66, Sư đoàn 304, Quân đoan 2, là đơn vị đã vào Dinh Ðộc Lập đầu tiên ngày 30-4-1975. Theo Ðạm kể, khi xe tăng Bắc Việt còn cách Dinh Ðộc Lập khoảng 300m, thì Tô Văn Thành,thuộc Ðại đội 3, Tiểu đoàn 7, ngồi trên xe tăng trúng đạn chết. Vì vậy khi tới gần Dinh DL, xe tăng VC đã mở hết tốc lực ủi sập cổng và tiến vào sân cỏ trước dinh.

Nhờ các nhà báo hướng dẫn, Phạm Xuân Thệ, Phùng Bá Ðạm, Ðào Ngọc Vân.. với lá cờ của MTGPMN chạy lên lầu và gặp Nguyễn Hửu Hạnh ở tầng 2, đón đưa vào phòng khánh tiết, lúc đó đã có TT Minh và nội các đang ngồi chờ đầu hàng. Do Ðài phát thanh Sài Gòn lúc đó đã ngưng hoạt động, nên Thệ, Ðạm áp giải TT Minh và Vũ Văn Mẫu, tới nơi để lên đài, mặc dù Ðại tướng cố từ chối.

Trên đường tới Ðài phát thanh, ngồi trên xe Jeep do Ðào Ngọc Vân lái. Ở băng trước TT Minh ngồi với Phạm Xuân Thệ. Còn Vũ văn Mẫu, Phùng Bá Ðạm, Ðinh Thái Quang cùng 2 bộ đội, ngồi phía sau.

Ðài phát thanh Sài Gòn lúc đó đã bị Tiểu đoàn 8 Bắc Việt chiếm. Chính bản văn ‘ Tuyên bố đầu hàng ‘, mà TT Dương Văn Minh đọc trên đài, là do Phạm Xuân Thệ, Ðinh Thái Quang, Trịnh Ngọc Ước và Phùng Bá Ðạm đạo diễn. Lúc này Trung tá Bùi văn Tùng, Chính Ủy Lữ đoàn 203 Thiết giáp cũng vừa tới. Theo Ðạm kể, vì lúc đó trong bọn, Bùi văn Tùng có cấp bậc cao nhất, nên thay mặt quân Bắc Việt, chấp nhận lời đầu hàng của TT Dương Văn Minh, vào lúc đồng hồ chỉ 11 giờ 30 ‘, ngày 30-4-1975.

Kể từ giờ phút đó Sài Gòn tan hoang và thê thảm nhất là tại Tòa Ðại sứ Mỹ, nằm trên đường Thống Nhất-Mạc Ðỉnh Chi. Phủ Thủ tướng Mẫu, cả con dấu cũng lăn lóc dưới sàn gạch. Trong Bộ Quốc Phòng, Tổng Nha Cảnh Sát, Bộ Tổng Tham Mưu.. đâu đâu cũng ngổn ngang xe Jeep, súng ngắn.. mà người xưa đã đi đâu mất.

Từ đó người VN chịu cảnh đổi đời. Tất cả đều bị Rợ Hồ gọi là Nguỵ, lính tráng là Ngụy quân, công chức là Ngụy quyền và đồng bào Miền Nam cũng thành Ngụy Dân. Nhờ Tổng Thống Minh kịp thời đầu hàng, tránh cho Sài Gòn còn nguyên vẹn, kể cả 16 tấn vàng của Ngân hàng quốc gia do Nguyễn văn Hảo giữ, giúp cho Bắc bộ Phủ, thâu tóm trọn vẹn tài sản của dân chúng và công khố nhà nước một cách đầy đủ. Từ đó nhờ công cách mạng giải phóng, nên người Việt từ bắc vào nam, chịu chung cảnh người thành vượn, đói rách thảm thê, không có bút mực nào diễn tả cho trọn vẹn.

Cũng từ đó dân chúng căm hờn, đổ hết mọi trach nhiệm cho ông Dương văn Minh, một tổng thống cuối cùng của VNCH, vì ngu muội khiến cho dân chúng lầm than dưới chế độ bạo tàn của đệ tam quốc tế, tạo cợ hội cho đảng cọng sản VN, đem đất đai biển đảo, tài nguyên quốc gia, nhượng bán cho kẻ thù không đội trời chung của Dân Tộc là Trung Cộng. Thế là cuộc bút chiến xảy ra công khai trên báo chí hải ngoại giữa hai phe thương và ghét Dương Văn Minh.

Người ta trách ông Minh không phải là trách ông đã ra lệnh cho QLVNCH buông súng đầu hàng giặc, nhưng trách ông, tự biết mình là người rất ấu trĩ về chính trị, từng là bại tướng của Khánh, Khiêm, Thiệu nhiều lần. Tài năng như vậy, mà dám xưng phong ra nhận lãnh trách nhiệm cứu nước trong giờ thứ 25, khiến cho nước non phải thảm nhục.

Người ta trách ông Minh ham sống sợ chết, không biết hành xử xứng đáng với cương vị và thân phận của mình. Ðường đường là một Ðại tướng, Lãnh tụ phe thứ ba và trên hết là Tổng thống của một nước nhưng ông Dương Văn Minh, đã cố tình làm ngơ, các gương trung liệt nghĩa khí của người xưa, gương anh hùng bất khuất của thuộc hạ trước mắt ‘ Chết để giữ tròn khí tiết, chết vinh hơn sống nhục ‘.

Thật vậy hoàn cảnh của tướng Minh, đâu khác gì thảm trạng của hai tướng giữ thành Bình Ðịnh, vào năm Tân Dậu 1801. Lúc đó thành bị Tây Sơn vây hãm lâm vào cảnh tuyệt lộ, trong không lương ngoài chẳng binh cứu. Trong nổi tuyệt cùng, Võ Tánh và Ngô Tùng Chu đã viết thư cho tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu ‘ Phận ta làm chủ tướng, thì đành liều chết dưới cờ. Còn tướng sĩ và dân chúng không có tội tình gì, không nên giết hại ‘.Sau đó Võ Tánh tự đốt chết, còn Ngô Tùng Châu uống thuốc độc quyên sinh.

Trưa 30-4-1975, khi TT Minh ra lệnh QLVNCH buông súng đầu hàng. Nhiều binh sĩ đang chiến đấu tại mặt trận đã tự tử chết, vì họ không muốn đối mặt với kẻ thù tàn ác dã man. Các tướng lãnh Phạm Văn Phú (Tư Lệnh QD2), Nguyễn Khoa Nam (Tư lệnh QD4), Lê văn Hưng (Tư Lệnh Phó QD4), Lê Nguyên Vỹ (Tư lệnh SD5BB), Trần Văn Hai (Tư Lệnh SD7BB).. kẻ trước người sau, quyên sinh để bảo toàn khí tiết cho quân đội Miền Nam nói chung và danh dự của một cấp chỉ huy, lúc sa cơ thất thế.

Trái lại Ðại Tướng cũng là Tổng thống Dương Văn Minh, khúm núm ra trình diện trước các tên cán binh tép riu của Bắc Việt như Bùi Quang Thận, Ðại Ðội Trưởng, DD Chiến Xa, để rồi bị tên chủ nhiệm chính tri của đoàn xe tăng mang số 203 là Lê Văn Minh nạt nộ :’ các anh đã bị bắt, không có bàn giao gì cả ‘.
Mới đây đào hát cởi truồng một thời phản chiến Jane Fonda, vì muốn quảng cáo cho một tuỳ bút nói về chuyện tình của mình, đã lên đài CBS, nhỏ những giọt nước mắt cá sấu, để nhận tội phản quốc với Hoa Kỳ, khi ả sang Bắc Việt, vào năm 1972, ngồi trên các khẩu cao xạ chửi Mỹ. Câu chuyện khôi hài của đám con buôn chính trị thập thành cũng chẳng có gì lạ nhưng đối với người Việt tị nạn, thì lại có một ý nghĩa, vì ít ra cô đào hát còn có can đảm nhận sự sai lầm của mình. Trong lúc đó thử hỏi những kẻ từng đâm sau lưng người lính đã hy sinh cho họ, hiện nay đang sống nơi hải ngoại, có ai dám muối mặt như Fonda để nhận sai trái năm nào, dù thời gian tới 33 năm và mặt nào phản chiến, phản tặc, tới nay ai cũng đều biết.

Thanh niên nam nữ, miền Nam VN, thế hệ sinh từ 1900 về sau, thường mượn tư tưởng làm trai của Nguyễn Công Trứ, để làm hành trang xử thế khi vào đời :

‘ Ðã mang tiếng đứng trong trời đất
phải có danh gì với núi sông ‘

Còn ông Dương văn Minh lại là một nhân vật lớn của lịch sử, tại sao không vì lịch sử, mà lưu lại cho hậu thế cái khí tiết ‘ Nhất Tướng Công Thành, Vạn Cốt Khô ?’

Thì ra con người cũng có năm bảy hạng người .

Ngày 29-4-1975 Dương Văn Minh làm tổng thống ra lệnh cho quân dân Miền Nam đầu hàng CS Bắc Việt, khiến cho cả nước phải sống trong cảnh cùm gông địa ngục, hận tủi trùng trùng vì giặc Hồ bán nước cầu vinh. Ngày 29-4-2008, tập đoàn lãnh đạo Bắc Việt mở cửa để đón Tàu đỏ vào VN, qua vở tuồng rước đuốc thế vận Bắc Kinh 2008. Cùng chung một ý nghĩa ‘ thể thao ‘ nhưng tại các quốc gia khác, đuốc máu của Tàu đỏ , được đón hay bị tẩy chay là do người dân quyết định. Trái lại tại VN, chính quyền gần như công khai hoan hô đuốc máu của giặc, hết lòng bảo vệ và cấm tuyệt dân chúng trong nước biểu tình phản đối. Ðau nhất là đuốc máu của giặc sẽ ra tận Hoàng Sa & Trường Sa của chúng ta, để biểu dương cho thế giới biết là VN ngày nay chỉ còn là một quận huyện của thiên triều.

Non nước điêu linh mạt rệp tới độ không còn chữ nghĩa nào để mà diễn tả cho hết niềm đau nổi nhục này nhưng biết làm sao hơn ?
TÀI LIỆU THAM KHẢO : - Những ngày cuối cùng của VNCH ốNguyễn Khắc Ngử
- VN. Niên Biểu Nhân vật Chí của Chánh Ðạo
- Nam Kỳ Lục Tỉnh (IV) của Hứa Hoành
-Ðôi dòng ghi nhớ của Phạm bá Hoa
-QLVNCH trong giai đoạn hình thành của Bộ TTM.
-Những bí mật cuộc cách mạng 1-11-1963 của Lê Tử Hùng
-Hồi ký của Nguyễn Chánh Thi
-Les Guerres du VietNam của Trần văn Ðôn
-Saigon et Moi của Mérilon
-sách vở bao chí KBC,PNDD,TP..

Xóm Cồn
Tháng 4 Quốc Hận 2008
MƯỜNG GIANG

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Bài học của nguyên thủ tướng Trung Quốc Triệu Tử Dương cho Việt Nam:
phát triển kinh tế cần đi đôi với dân chủ


Dưới mắt GS Kishore Mahbunani: tân Á Châu 2010, 'thời kỳ Phục Sinh' của Á Châusẽ không còn lệ thuộc Tây Phương
Việt Nguyên (Từ Bàn Viết Houston-đặc biệt của Ngày Nay)
LTS – Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa... do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston.

HOUSTON (NN) – ThángTư, đọc cuốn “Tân bán cầu Á Châu” (The new Asian Hemisphere) để cảm thấy nhục, mối nhục quốc thể thua kém.

Trong hơn 30 năm qua, các nước Á Châu đã đi một bước tiến rất xa trên con đường phát triển kinh tế trong khi đó Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản từ năm 1975, mới bắt đầu thức tỉnh trong mấy năm gần đây đi vào con đường kinh tế thị trường luôn luôn tự so sánh và tự khoe. Các nhà lãnh đạo VN như thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong chuyến công du các nước Âu Châu gần đây, tự thổi phồng như trong chuyện ngụ ngôn “Con ếch muốn to thành con bò!”.

Giáo sư Kishore Mahbubani, khoa trưởng phân khoa chánh sách công cộng Đại học Quốc gia Singapore, chủ trương phát triển chính sách kinh tế với nền độc tài chính trị, đã xem Việt Nam như là một con con cọp mới trong cộng đồng kinh tê Á châu. Ông đã viết một cuốn sách đầy lạc quan, nhìn về tương lai với Á Châu dân số hơn 5 tỷ 600 triệu người sẽ thống trị thế giới. Anh hưởng Tây phương nhất là Hoa Kỳ sẽ cáo chung. Cuốn sách viết trước khi cuộc khủng hoảng kinh tế xẩy ra ở Hoa Kỳ như bệnh cúm đang làm tất cả nền kinh tế của các nước Á Châu kể cả Trung Quốc đang phải nhảy mũi!


Tân Á Châu


Ông Mahbubani dự tính đến năm 2010, 50% dân Đông Nam Á sẽ sống ở đô thị với đời sống tốt đẹp hơn hiện nay. 5 tỷ 600 triệu người sống bên ngoài thế giới Tây phương sẽ không còn phải chấp nhận những quyết định ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày và sự sống còn của họ từ những quyết định của khối Tây phương. Giới Tây phương sẽ mất ảnh hưởng, ngược lại sự thành công kinh tế ở Á Châu vượt qua tất cả những mơ ước của người dân Á Châu, sẽ tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn.


50 năm trước khi nói đến Á Châu, người ta chỉ nghĩ đến hai quốc gia tiên tiến, Nhật Bản ở phương Đông và Do Thái ở phía Tây. Sau đó Nam Hàn, Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan và Singapore chạy theo chánh sách hiện đại hóa và trở thành các con rồng kinh tế. Tây bán cầu mới, theo cái nhìn của ông Kishore Mahbubani, sẽ được Trung Quốc, An Độ và Nhật Bản lãnh đạo. Trung Quốc đi sau nhưng nhờ chánh sách hiện đại bốn điểm thời Đặng Tiểu Bình đã trở thành con rồng kinh tế Á châu.

Điều mỉa mai là sự hiện đại hóa của các nước Á châu đã thành công được là nhờ họ thức tỉnh và thực hành bẩy điều cột trụ căn bản khôn ngoan của Tây phương: kinh tế thị trường, dân chủ, kinh tế thực tiễn, cơ hội đồng đều, hòa bình, tuân theo luật pháp, nhấn mạnh đến giáo dục, khoa học và kỹ thuật. Điều khác biệt là nền dân chủ (Democracy) theo định nghĩa của ông Mahbubani khác với định nghĩa của nền dân chủ Tây phương đến từ văn minh Hy Lạp và ông Mahbubani quên rằng “giáo dục” là căn bản của nền văn hóa Á Đông.

Con đường đi đến hiện đại hóa các nước Á Châu đến từ thời Minh Trị Thiên Hoàng ở Nhật năm 1860. Những người Nhật có đầu óc cải tổ về nước sau khi học ở Hoa Kỳ đã có nhiều ấn tượng mạnh mẽ về khoa học kỹ thuật của Hoa Kỳ từ đường xe hỏa, vũ khí cho đến những bồn nước trong nhà cầu của người Mỹ. Họ canh tân đất nước trên tinh thần dân chủ. Chìa khóa căn bản của dân chủ là: công dân trong nước dân chủ hiểu rõ họ làm chủ vận mạng của chính họ.

Những người Á Châu trong những năm gần đây trở thành giới tiêu thụ lớn và có tinh thần trách nhiệm trong thế giới mới. Hơn trăm triệu người thoát khỏi cảnh nghèo sẽ sống có tương lai nhờ giá trị của kinh tế thị trường và nhờ kinh tế phát triển thế giới sống hòa bình như Hoa Kỳ và Gia Nã Đại hai quốc gia láng giềng nhờ kinh tế sung túc mà chiến tranh không xẩy ra.

Ông Mahbubani ca tụng Trung Quốc đã biết giữ gìn Tự Do nên ngăn được “loạn”, ổn định và trật tự để phát triển kinh tế nhờ sự khôn ngoan của ông Đặng Tiều Bình học được bài học từ ông Gorbachev giữ được Trung Hoa với nền kinh tế thị trường, được yên ổn không như Nga sau thời kỳ chiến tranh lạnh.

Các nước Á châu đã đi lên nhờ họ hiểu rõ những tư tưởng cột trụ của phương Tây và nhờ tính thực tiễn của ông Đặng Tiểu Bình trong năm cải tổ kinh tế 1979. Điển hình là Thẩm Quyến được xem là vùng kinh tế đặc biệt từ 1980 đến 2005 có nền kinh tế tăng trưởng 28% mỗi năm, dân số tăng từ 30 ngàn lên 11 triệu, Thẩm Quyến đã tăng lên 126 lần, qua mặt Singapore. Thẩm Quyến được xây dựng trên nền tảng xã hội chủ nghĩa với đặc tính Trung Quốc.

Nhờ nền giáo dục vững mạnh mà An Độ và Trung Hoa phát triển khác hẳn với Việt Nam với nền giáo dục bị quên lãng, học sinh bỏ học, chánh quyền không chú trọng đến chánh sách giáo dục. Đến năm 2010, 90% tiến sĩ khoa học là người Á châu.

Nhờ đầu tư vào nghiên cứu khoa học mà bộ óc của những người trẻ tuổi An Độ được phát triển. Các nhà khoa học An Độ thành công mà không cần phải tốt nghiệp từ các trường đại học Hoa Kỳ và Tây phương. Họ không còn mặc cảm thua kém Tây phương về khoa học kỹ thuật. Trung Quốc trong những năm gần đây đạt được những thành quả tương tự như An Độ. Năm 2004 họ sản xuất 30,000 tiến sĩ so với 12,000 người năm 2001 và 200,000 kỹ sư.


Phát triển kinh tế cần đi đôi với phát triển dân chủ


Chánh sách thực tiễn của ông Đặng Tiểu Bình “làm giầu là vinh quang” với ví dụ “mèo đen, mèo trắng, mèo nào cũng được miễn là bắt được chuột” được ông Mahbubani ca tụng, hạp với Singapore nhỏ nhưng áp dụng vào một nước lớn như Trung Quốc trong những năm gần đây rõ ràng đã đưa đến nhiều vấn đề. Cái mô hình Trung Quốc đang rạn nứt do sự thiếu dân chủ hiện rõ qua “viễn kiên” của cựu Thủ tướng Triệu Tử Dương.

Ông Triệu Tử Dương, Thủ tướng Trung Quốc từ năm 1980 đến 1987 và Tổng bí thư đảng Cộng Sản từ 1987 đến 1989 đã có công đưa nền kinh tế Trung Quốc lên con đường phát triển. Ông là người chủ trương cải tổ hệ thống chính trị. Trong cuộc biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn năm 1989, ông đã tiếc là đến trễ trước khi những người biểu tình bị tàn sát, ông chủ trương dùng luật và dân chủ để giải quyết biểu tình ngược vớiông Đặng Tiểu Bình đã chủ trương đàn áp. Sau ngày tàn sát 4-6-1989, họ Triệu đã bị kết án “chia rẽ Đảng và giúp đỡ những kẻ gây rôi loạn”, từ chối không viết bản tự kiểm ông bị quản thúc tại gia 16 năm trong căn nhà số 6 đường Tài Lực ở Bắc Kinh. Năm2005 ông chết vì bịnh phổi, thọ 85 tuổi trong khi chánh sách Đặng Tiểu Bình “kinh tế thị trường, không dân chủ” tiếp tục qua đến Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào. Hơn một triệu người ở Quảng trường Thiên An Môn ngày 17/5/1989 theo phe Triệu Tử Dương nhưng họ Triệu thiếu cá tính của Yeltsin nên Trung Quốc mất một cơ hội như Sô Viết.

Không còn cầm quyền, ông Triệu Tử Dương đã có một cái nhìn khác hẳn thời ông còn cai trị với bàn tay sắt của Tổng bí thư Đảng. Cuốn “Mạn Đàm” ghi lại bởi bạn ông, Phương Minh, cuốn sách được xuất bản ở Hồng Kông và cấm xuất bản ở Trung Quốc.

“Mạn Đàm” của họ Triệu đã nhấn mạnh đên những vấn đề của Trung Quốc, bàn sâu sắc về những hiện tượng phản kháng. Sau những năm quản thúc, ông đã nhìn thây rõ ràng “dân chủ không phải là sự xa hoa của một quốc gia tân tiến mà còn là một điều kiện sống còn của nền kinh tế lành mạnh.” Trong thập niên 1980, ông nói với bạn ông: Tôi nghĩ khi chúng ta cải tổ kinh tế đúng, kinh tê phát triển, dân sẽ thỏa mãn và xã hội ổn định. Quan niệm này giống như quan niệm của TT Bill Clinton và TT George W.Bush, những người quan niệm kinh tế toàn cầu hóa sẽ tự động đưa đến dân chủ, một chánh sách đã thất bại ở Trung Hoa và Việt Nam.

Năm 1991, họ Triệu cảm thấy: cải tổ chính trị phải đi cùng với cải tổ kinh tế, nếu không, rất nhiều vấn đề xã hội và kinh tế sẽ xuất hiện. Năm 2004, ông Triệu Tử Dương kết luận rằng “kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo độc đảng sẽ không tránh khỏi được nạn tham những” và sự phát triển kinh tế ở Trung Quốc đang bị méo mó. Ngày 18-9-1998, ông giải thích rõ: khi kinh tế thị trường tăng trưởng nó sẽ dẫn đến thị trường hóa quyên lực và sự nẩy nở quyền lực và tiên bạc sẽ đến đến sự cạn tài nguyên quốc gia, rôi loạn vốn tư bản, tham nhũng, đe dọa và tống tiền (black mail), dẫn đến tầng lớp con ông cháu cha, cách biệt giầu nghèo ngày càng lớn và những vân đề xã hội càng ngày càng lớn theo.

Năm năm sau, họ Triệu đã thấy: “chánh quyền chiêm đất của dân, đẩy giá xuống thấp rồi bán lại cho những kẻ xây cất, bọn này bán lại với giá thật cao. Dân chúng chạy theo thị trường chứng khoán, không để dành tiền, thị trường chứng khoán bị giật dây, tiền gởi ra nước ngoài dẫn một giai đoạn dân sợ rút tiền khỏi ngân hàng gây ra cuộc khủng hoảng”. Tình trạng này đang xẩy ra ở Trung Hoa và Việt Nam, năm năm sau “viễn kiến” của họ Triệu.

Ông Triệu Tử Dương năm2004 đã phê bình giới trí thức “cải tổ kinh tế thị trường tạo ra một nhóm nhỏ liên hệ chặt chẽ nay được những sinh viên tốt nghiệp ở ngoại quốc về gia nhập. Bọn họ tùng phục quyền lực. Nay xã hội có ba nhóm trưởng giả: chánh trị, kinh tế và trí thức, hợp tác với nhau ngăn chặn những cuộc cải tổ cần thiết cho đất nước”. Họ Triệu kết luận rằng “xã hội chủ nghĩa với đặc tính Trung Quốc đã tạo ra “nhóm quyền lực trưởng giả tư sản”. Khi còn cầm quyền có khi ông nghĩ rằng: “tự do ngôn luận là xa xí phẩm” nhưng năm 1998 ông thấy hai vấn đề liên hệ mật thiết “không có tự do ngôn luận thì kinh tế méo mó”.

Những vấn đề xã hội ở Trung Hoa xẩy ra đúng như dự đoán của ông Triệu Tử Dương. Nông dân bị chiếm đất, công nhân viên bị thất nghiệp, về hưu bị mất hết tiền hưu bổng đang biểu tình phản đối càng ngày càng tăng từ sau thập niên 1990. Số biểu tình tăng sáu lần từ 1993. Ông đã nhận xét “bọn họ trong chánh quyền đang lo sợ”. Họ sợ vết nứt lớn. Họ sợ khi nới rộng dân chủ mọi vấn đề sẽ tràn ra. Họ phải bảo vệ quyền lợi của họ và quyền lợi phe nhóm họ.”

Cuối đời, họ Triệu nghĩ chánh trị Trung Hoa cần ít nhất ba điêu: tự do báo chí, tư pháp độc lập và chấm dứt sự độc quyền của đảng Cộng sản Trung Quốc”. Nếu không có tự do báo chí, dân sẽ trở thành “công cụ trung thành” của chánh quyền. Đảng phải chấm dứt mọi kiểm soát, nếu không “các tổ chức xã hội khác không thể bắt đầu và không thể kiểm soát sự lạm quyền.”

Nhận xét của họ Triệu về cuối đời khác hẳn với nhận xét của họ Triệu Cộng sản. Đặc biệt là Triệu Tử Dương đã ngưỡng mộ Tưởng Kinh Quốc con ông Tưởng Giới Thạch vì “Tưởng Kinh Quốc là một người đặc biệt, cần được nghiên cứu. Ông đã theo chiều hướng thế giới, đẩy sự cải tổ chính trị, mặc dù ông đã được giáo dục độc đảng Quốc Dân Đảng và nhiều năm ở Sô Viết theo truyên thống độc đảng Cộng Sản. Ông đã thoát ra được những mô hình này, đó là điêu đáng ngưỡng mộ.”

Anh hưởng của ông Triệu Tử Dương rất mạnh. Quan niệm dân chủ của ông đã làm Chủ tịch Hồ Cẩm Đào lo sợ. Ngay sau khi ông mất, họ Hồ đã lập ra nhóm khẩn cấp lãnh đạo đặt quân đội nhân dân vào tình trạng báo động, ra lệnh cho bộ lưu thông đưa dân nhất là sinh viên ra khỏi Bắc Kinh và kiểm soát những người vào thành phố.

33 năm sau ngày cầm quyền, các nhà lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam đang theo đuổi mô hình Trung Quốc và giáo sư Kishore Mahbubani chủ trương phát triển kinh tế mà không cần cải tổ chánh trị, cần đọc những tư tưởng của ông Triệu Tử Dương. Người Trung Hoa có ngạn ngữ: con chim trước khi chết, hót tiếng thành thật tha thiết.

Việt Nguyên

(Houston 5 tháng 4-2008)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

33 Năm của Người Lính 33 năm đã trôi qua, đếm từ cái mốc thời gian 30 tháng 4 năm 75 đến 30 tháng 4 năm nay 2008. 33 lần Tháng Tư, lại Tháng Tư, lại 30 Tháng Tư!.

33 lần xoáy mũi dao nhọn vào vết thương vẫn còn ứa máu của những người lính miền Nam trước năm 1975 may mắn sống còn sau cuộc chiến.

33 năm tiếc, nhớ, thương bạn bè chiến hữu bỏ mình trong cuộc chiến, trong trại tù Cộng Sản hoặc ra đi vì tuổi đời chồng chất.

33 năm những người lính còn ở lại quê nhà oằn oại chịu đựng ngon roi thù của kẻ chiến thắng.

33 năm những người thương binh vẫn từng ngày ngậm ngùi nhìn thân thể với những vết sẹo, những thương tật chiến trận để lại.

33 năm còng lưng gánh nặng những đau buồn, tủi nhục, khắc khoải của người lính thua trận mà không phải vì mình bất tài, hèn yếu.

33 năm đã trôi qua, những người lính vẫn mắc nợ những người lính, nợ nghiệp lính, nợ quê hương tổ quốc nhưng cuối nẻo đường trần không bao giờ trả được!

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma!!

33 năm đã trôi qua nhưng vết hằn cuộc chiến vẫn còn đó!

33 năm trăn trở, tiếc nuối một quãng đời dang dở, nửa đường đứt gánh ... đời lính!
* Cái nghịch lý của hòa bình 30 tháng 4. 33 năm đã trôi qua, người Việt lưu vong nhìn lại quê hương Việt Nam , không ai không khỏi ngậm ngùi chua sót. Chiến tranh là tàn phá, là tai ương, là tử vong điều không thể tránh được và người dân cả hai miền Nam Bắc đều trông đợi hòa bình, nhưng cái mốc hòa bình 30 tháng tư năm 1975 đầy nghịch lý, người dân miền Nam đã trốn chạy hòa bình!

Những người tị nạn đầu tiên sợ hãi, hốt hoảng ra đi, những cặp vợ chồng lếch thếch, tay bồng, tay bế, tay dắt con cái, tay xách, tay mang những tài sản cá nhân gom góp vội vàng, gỏn gọn chỉ là cái bao, cái túi, họ chạy đi mà không biết mình sẽ đi đâu, đến đâu. Chồng mất vợ, vợ lạc chồng, con cái thất tán, giữa sự sống và chết họ chen lấn xô đẩy, dành giật lấy một chỗ đứng, chỗ ngồi trên máy bay, trên những con tầu rời bỏ quê hương.

Chấm dứt chiến tranh, hòa bình, nhưng hàng triệu người đã trốn chạy ra biển, họ vượt biển bằng những chiếc thuyền mong manh phó mặc cho số mệnh, họ cầm bằng cái chết để trốn chạy cộng sản, đó là cái nghịch lý của hòa bình 30 tháng tư, 33 năm về trước.

33 năm nghiền ngẫm cái nghịch lý của ngày chấm dứt cuộc chiến 30 tháng tư. Cái nghịch lý của luật trời: Người hiền lương thua kẻ gian ác? Cái nghịch lý của định mệnh: Những người tù lương thiện ở trong các nhà tù mà người cai tù là những tội phạm.

*
33 năm CS tàn phá đất nước. Sau cuộc chiến, Cộng Sản Việt Nam thay vì xây dựng, đoàn kết, hướng về một chân trời mới đầy hứa hẹn cho dân tộc, họ lại đạp đổ, phá nát, tàn phá, bần cùng đất nước nhiều hơn trong chiến tranh. Họ quỷ quái mưu mô hơn bất cứ một dân tộc nào trên thế giới, họ cướp bóc tài sản trắng trợn, họ giết phe bại trận một cách tinh xảo che mắt được thế gian, nhân loại, họ giết từ từ, giết chầm chậm, giết người mà không thấy máu, giết thể xác, giết phần hồn, giết cả triệu quân dân cán chính miền Nam, giết bằng đầy ải, tù đày, giết gián tiếp cả những người thân thuộc, gia đình, cha mẹ, vợ con.

33 năm những oan hồn của người tù cải tạo, của thuyền nhân trên biển vẫn còn vất vưởng nơi trại tù, nơi rừng sâu núi thẳm, trên biển khơi mênh mông.

33 năm văn minh xã hội chủ nghĩa thụt lùi, đạo đức suy đồi, đầy dẫy những tệ đoan, tham nhũng, ăn chơi, đĩ điếm đồi trụy trong cuộc sống hiện nay ở trong nước.

33 năm hàng vạn những người con gái Việt phải đi làm vợ làm đầy tớ xứ người, lũ lượt khắp nơi người dân Việt phải đi làm lao công, tôi mọi, làm nô lệ xứ người, những xứ mà trước năm 75, thua kém, chậm tiến lạc hậu hơn miền Nam VN.

33 năm, người dân Việt trong nước lẫn hải ngoại vẫn phải nặng trĩu hoài vọng tự do, dân chủ, phú cường, niềm hoài vọng xa tầm tay với khi vẫn còn tập đoàn thống trị CS, cai trị bằng công an, nhà tù.

33 năm người Việt lưu vong vẫn còn phải trầm tư hướng vọng về quê hương với tủi hận, xót xa, thương phận nước long đong đầy ắp oan khiên.

33 năm kết thúc một cuộc chiến, đất nước không còn chia đôi bằng tên gọi, chính quyền, trên bản đồ, nhưng thực tế, dân Việt vỡ ra thành nhiều mảnh phiêu dạt khắp nơi trên thế giới. Không còn tiếng súng nhưng thù xưa vẫn còn, chiến tranh không còn bằng súng đạn nhưng chiến tranh vẫn tiếp diễn, không chỉ ở trong nước mà cả ở khắp nơi hải ngoại có người Việt sinh sống. Chiến tranh vẫn còn giữa người Việt quốc gia và Cộng Sản, giữa người dân trong nước đang đòi tự do dân chủ với tập đoàn cai trị, với đảng cộng sản. Chiến tranh chỉ thật sự chấm dứt khi đảng Cộng Sản bị khai tử và Việt Nam thực sự có tự do dân chủ, có chính quyền dân cử, chính quyền từ dân mà ra.
* 33 năm làm người tị nạn. Tôi là người tị nạn, đúng nghĩa của một người tị nạn, nếm đúng mùi vị đắng, chát của thân phận tị nạn. Tôi đến xứ sở này, thành phố này không tính toán, không chọn lựa 33 năm về trước, khi gần đến tuổi 30 với độc nhất một bộ quần áo lính màu xanh hải quân đã bạc mầu, không lon lá huy hiệu, nó chỉ khác với quần áo thường vì có hai túi trước và có cầu vai. Chân đi đôi dép Nhật đã mòn quẹt vì lê lết trong các trại tị nạn. Trong túi không có lấy một đôla. Tôi đến đây không được đón tiếp ở phi trường chờ lấy hành lý như những người tị nạn sau này. Không được nghe lời chào hỏi bằng tiếng Việt. Và, cả mấy tháng sau tôi vẫn còn thẫn thờ, câm lặng, bậm môi chịu đựng nhát búa khốc liệt của định mệnh. Tôi mất tất cả những gì đã có trong cuộc đời, nghề nghiệp, cấp bậc, tương lai... và khởi đầu cuộc đời như một đứa bé mới bập bẹ tập nói, tập đi. Tôi đến đây đơn độc, để lại vợ và hai con còn bé nhỏ nơi quê nhà, lúc bấy giờ, nơi ấy, nơi này giống như âm dương cách trở, mờ mịt, bít bùng tin tức và, ngày ấy ai cũng nghĩ là vĩnh viễn không có ngày gặp lại như những người di cư vào Nam năm 1954 bỏ lại người thân ngoài Bắc. Chung quanh tôi lúc ấy, cái gì cũng xa lạ, tôi không thể ngày nào cũng ăn nhạt nhẽo miếng sandwich, trứng, thịt, hot dog, hamburger. Tôi thèm một bát cơm với chén nước mắm chanh ớt, ước muốn một đĩa rau muống luộc, thèm một lát cá kho... mong tìm được một người Việt để chào hỏi, để tâm sự bằng tiếng Việt.

Những ngày đầu tị nạn, tôi cô đơn lầm lũi trong gia đình một người Mỹ khá giả ở một khu rất sang trọng của thành phố, mặc dù hai vợ chồng này tôi đã quen biết từ trước, người sĩ quan cố vấn của tôi khi còn phục vụ tại Việt Nam .

Tôi ngỡ ngàng sao đường phố ở Mỹ im vắng, không có người đi bộ. Tôi đi suốt một ngày trên xe Bus, từ sáng sớm đến tối khuya, chuyển hết xe này đến xe khác, dò theo những tuyến đường trên bản đồ lộ trình, thành phố sao rộng lớn mênh mông, lẫn lộn cả với đồi, núi, rừng cây... tôi ngóng nhìn khắp phía để hy vọng tìm được một người VN...
* Những kẻ phản bội. 33 năm ở thành phố này, tôi được cái hân hạnh làm người đến trước tiếp đón nhiều người đến sau, được nhìn những nét mặt tị nạn còn xạm đen khắc khổ ngơ ngác của những đợt thuyền nhân đến từ các trại tị nạn Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương. Rồi đến những đợt HO, những đợt đoàn tụ cha con, chồng vợ... Những người tị nạn đến sau đều có thân nhân, bạn bè, đồng hương người Việt ra tận phi trường tiếp đón, hôm trước hôm sau đã vui vẻ, cười nói tiếng Việt ồn ào, có tiệc tiếp đón dù sơ sài, có phở, có bún bò Huế, có bánh xèo, bánh cuốn và mau chóng hội nhập nếp sống rất Việt Nam giữa lòng xứ sở Hoa Kỳ..

Cảm-nghỉ
Tôi nhắc đến kỷ niệm chuyện tị nạn của tôi ở đây để trần tình với những người có ý nghĩ là đến sau thiệt thòi, trâu chậm uống nước đục. Sau cái mốc thời gian 30 tháng tư, không có cái buồn nào hơn hay kém cái buồn nào, và người tị nạn đến trước, đến sau chưa biết ai buồn, ai khổ hơn ai...!!

Tôi muốn nhắc đến những ngày đầu tị nạn của mọi người vì hôm nay, quanh tôi đã có nhiều người làm bộ quên, hay cố tình quên quá khứ tị nạn, quên đi những con thuyền mong manh trên sóng biển, quên đi những ê chề nhục nhã với cướp biển, hải tặc, quên những ngày tù đầy cộng sản, quên những cán bộ quản giáo ngu dốt nhưng có quyền lên mặt dậy bảo, quên những ngón đòn thù, những báng súng nện lên thân thể.

Những gì đau khổ trong quá khứ cũng nên bỏ lại cho quá khứ để sống với hiện tại và tương lai, quên được là điều đáng mừng nhưng đừng quay lưng trở mặt với chính nghĩa quốc gia, cuộc chiến chống cộng vẫn còn, người Việt cả ở trong nước lẫn hải ngoại vẫn đang phản kháng, chiến đấu để đạp đổ chế độ Cộng Sản, đòi tự do, dân chủ, đòi hỏi chính quyền CS phải bảo toàn lãnh thổ đừng âm mưu, lén lút dâng đất dâng biển cho Tầu Cộng.

Quên quá khứ tị nạn cũng được, nhưng đừng làm cản trở, đừng tiếp sức cho Cộng Sản trong cuộc chiến đòi tự do, dân chủ cho quê hương, đừng phản bội xương máu chiến sĩ đã hy sinh cho cuộc chiến vì tự do chống giữ miền Nam chống lại sự xâm lăng của Cộng Sản.

Tôi muốn nhắc lại chuyện tị nạn vì hôm nay quanh tôi, những người chỉ mới đây, như mới ngày hôm qua đến xứ sở này còn ngơ ngác xin làm người tị nạn Cộng Sản mà hôm nay đã xuênh xoang áo gấm về làng, hưởng thụ, huênh hoang với hai chữ Việt Kiều.

Có những người, những đảng phái vì ham danh hám lợi còn quay về hợp tác, bênh vực cho cái chế độ CS tàn ác.

Có những con buôn, những nhà báo đốn mạt, chỉ vì vài trăm bạc, vài chục bạc trả cho một cái quảng cáo thương mại hàng tháng trên những tờ báo chợ, mà bán rẻ lương tâm, trơ trẽn tuyên truyền, ca ngợi Cộng Sản.

Tôi đã nhìn một người chủ báo, một người hám-danh mà nghĩ thầm "Cái mặt kia, cái con người này chỉ đáng giá 10 xu".

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

1975: Những gì thay đổi?
Friday, April 25, 2008
Ngô Nhân Dụng

Mỗi năm sắp đến ngày 30 Tháng Tư, nhiều người Việt Nam lại tự hỏi ngày lịch sử đó có ý nghĩa thế nào. Năm 1975, các lãnh tụ Cộng Sản vào Nam ăn mừng tuyên bố rằng đó là ngày “chiến thắng” của nhân dân Việt Nam. Sự thật ra sao?

Trước ngày 30 Tháng Tư năm 1975, trẻ em miền Nam có lời nói, cử chỉ kính trọng các thầy cô giáo hơn bây giờ. Chỉ 3 năm sau năm 75 là các em đã thay đổi rồi, theo kịp các trẻ em miền Bắc. Mà các thầy cô hồi đó cũng nhiều người giữ được tư cách đạo đức hơn bây giờ. Trước năm 1975 trẻ em miền Nam dưới 10 tuổi đều được đi học, các trường công lập không thu học phí. Ngay cả trong các trại tị nạn của các đồng bào chạy xa chiến trận, cũng có các lớp học miễn phí. Trẻ em ngoan ngoãn, biết nói năng lễ phép với cha mẹ, với những người lớn tuổi trong lối xóm. Bây giờ đã thay đổi hẳn.

Trước ngày 30 Tháng Tư 75 ở miền Nam trai thiếu gái thừa, nhưng chưa có người mẹ nào bán con đi lấy những người chồng ngoại quốc không hề quen biết, với giá mấy trăm đô la Mỹ. Không có những cô gái xếp hàng trưng bầy cho đàn ông ngoại quốc chọn. Không có người mẹ nào đem con gái bán cho các mụ Tú Bà. Bây giờ phong cảnh đã khác.

Trước ngày 30 Tháng Tư năm 1975, trong miền Nam cũng có nạn tham nhũng, mà một nước đang chiến tranh khó tránh khỏi nạn đó. Nhưng những quan lại tham nhũng thường cố tìm cách che đậy, giấu giếm, khi bị lộ thì biết hổ thẹn, vì bị họ hàng, bạn hữu coi khinh. Bây giờ cả nước đầy những tay tham nhũng, nhưng họ không biết hổ thẹn. Nếu bị phe đảng tranh ăn tố cáo, thì bắt rồi lại thả, coi như vô tội!

Trước ngày 30 Tháng Tư 1975 trong Nam cũng có nạn ma túy, nhưng tỷ lệ thanh niên ghiền ma túy thấp hơn, chỉ bằng một phần mười ngày nay. Hồi đó cảnh sát công an ít hơn bây giờ so với dân số, nhưng họ lùng bắt những kẻ buôn ma túy mạnh hơn. Người ta đồn hồi đó có những ông tướng buôn ma túy, nhưng chỉ là đồn đại. Còn bây giờ, số công an cảnh sát đông như thế, nhưng con buôn ma túy vẫn hoành hành, không biết mạng lưới ma túy đã được ai bảo trợ!

Trước ngày 30 Tháng Tư 75, dân miền Nam lâu lâu vẫn tổ chức biểu tình phản đối chính phủ, không thua gì dân Nam Hàn cùng thời gian đó mặc dù đang có chiến tranh. Sinh viên Sài Gòn biểu tình đòi giáo sư phải dậy bằng tiếng Việt, ký giả biểu tình phản đối bộ thông tin đóng cửa báo, các công nhân đình công, bãi thị, các học sinh lâu lâu bãi khóa vì những nguyên do khác nhau. Ðến những ngày chót của chế độ Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn những cuộc biểu tình đòi bài trừ tham nhũng, bất công. Tinh thần độc lập, tự chủ của người dân rất cao, chính quyền không dám bắt họ. Ngày nay công an đi lùng bắt những người “có thể” đi biểu tình chống Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa, hàng tháng trước ngày cuộc biểu tình có thể diễn ra! Và như vậy, người ta gọi là dân miền Nam đã “được giải phóng.”

Trước ngày 30 Tháng Tư 1975 trong miền Nam có đủ thứ báo chí. Có báo ủng hộ nhà nước, có báo chống chính quyền, phần lớn những tờ báo đều độc lập và nếu không chống mạnh thì cũng chống nhà nước nhè nhẹ. Báo Thần Chung, Ðuốc Nhà Nam chống ông Nguyễn Văn Thiệu một cách, báo Chính Luận chống cách khác, báo Ðại Dân Tộc (trong đó ký giả này viết hàng ngày) lại chống cách khác nữa. Những nhà báo kỳ cựu như Trần Tấn Quốc, Nam Ðình, Chu Tử, Nguyễn Vĩ, vân vân, mỗi người một vẻ. Bây giờ tất cả báo chí do một nhóm người lãnh đạo, bảo viết thì được viết, bảo im thì phải im. Và như vậy, người ta gọi là “giải phóng.”

Trước ngày 30 Tháng Tư 1975 ở Sài Gòn có một Quốc Hội, trong đó có những người đối lập dám lên tiếng chỉ trích, có khi còn tuyệt thực để phản đối chính phủ. Họ hoạt động mạnh không thua gì những dân biểu đối lập ở Nam Hàn và Ðài Loan cùng thời. Chưa nói chuyện ai đúng ai sai, nhưng không khí sinh hoạt hào hứng. Những đại biểu Quốc Hội còn nêu tấm gương đạo đức trong sáng, tư cách bất khuất, như Trần Văn Văn, Phan Khắc Sửu, Nguyễn Văn Huyền, Trần Văn Tuyên, đến giờ nói tới vẫn khiến nhiều người dân hãnh diện. Bây giờ không ai biết các đại biểu Quốc Hội đang làm gì, ở đâu, trong lúc lạm phát lên tới 20%, trong lúc Trung Cộng đang in bản đồ Hoàng Sa thuộc nước họ đi phô bầy khắp nơi!

Trước ngày 30 Tháng Tư 1975 ở miền Nam báo chí có tự do, chính trị được tự do, rất nhiều con mắt nhắm vào chính quyền để quan sát và chỉ trích, khiến những kẻ cầm quyền có muốn làm bậy cũng phải e ngại. Chính vì thế mà nạn tham nhũng không bột phát mạnh như bây giờ.

Vậy thì ở Sài Gòn bây giờ ai vui mừng kỷ niệm ngày 30 Tháng Tư, sau cuộc rước quác Thế Vận Bắc Kinh được chế độ Cộng Sản gồng mình bảo vệ?

Hồi sinh thời, ông Nguyễn Hữu Chung, cựu dân biểu Việt Nam Cộng Hòa mươi năm trước đã viết trên báo Người Việt rằng có hai nơi nhiều người ăn mừng ngày 30 Tháng Tư, một là ở Ban Mê Thuột, hai là ở Sài Gòn. Ở Ban Mê Thuột thì có nhiều người đã kéo lên đó chiếm đồn điền, chiếm đất, nếu không nhờ ngày 30 Tháng Tư thì cả đời họ có đổ mồ hôi sôi máu mắt cũng không được hưởng những chiến lợi phẩm lớn như vậy. Còn ở Sài Gòn, số người hưởng lộc nhờ ngày 30 Tháng Tư còn đông hơn. Họ từ rừng kéo ra hay từ Bắc kéo vô, chiếm được những ngôi nhà, những cửa tiệm, có khi chiếm cả vợ con người khác. Từng lớp tư bản đỏ phát triển lên bắt đầu từ những cuộc chiếm đoạt đó, họ thuộc lớp người muốn bảo vệ chế độ để bảo vệ những “chiến lợi phẩm” thu được từ năm 1975 đến nay. Nhờ một chế độ kiểm soát các công đoàn, kiểm soát báo chí, ngăn cấm những người có ý kiến độc lập, thì giới tư bản đỏ mới có cơ hội lợi dụng guồng máy kinh tế hoang dã, đổi mới nửa nạc nửa mỡ, để thủ lợi.

Cứ nghĩ đến những gì đã thay đổi ở miền Nam Việt Nam kể từ năm 1975 thì chỉ buồn. Nếu có niềm vui, thì ở miền Bắc được hưởng nhiều hơn; cho nên bà con miền Nam cũng nên chia sẻ nỗi vui mừng với đồng bào miền Bắc. Sau năm 1975 nhiều người ở miền Bắc đã khá giả hơn nhờ chiến tranh chấm dứt. Nhờ chế độ Cộng Sản sụp đổ ở Âu Châu và Liên Xô, guồng máy kìm kẹp của đảng Cộng Sản cũng được tháo lỏng hơn. Người dân dễ thở hơn, nên những vụ cãi cọ nhau, đánh lộn nhau, giữa hàng xóm láng giềng, giữa vợ chồng, cha con, cũng giảm bớt. Những cảnh mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp mô tả bây giờ cũng bớt đi. Nhiều người ở miền Bắc khi mua hàng đã biết nói cám ơn những người bán hàng, hai bên cùng bầy tỏ lòng tương kính. Nhiều bậc cha mẹ ở miền Bắc lấy lại được quyền dậy dỗ con cái thay vì hoàn toàn để cho đảng Cộng Sản nhồi sọ, cho nên trẻ em cũng học được lễ độ, phép tắc con nhà. Tất nhiên, đời sống kinh tế người dân miền Bắc đã vượt cao lên bằng trăm lần những ngày trước năm 1975.

Nhắc đến ngày 30 Tháng Tư năm 1975, nhưng trong cả bài này quên chưa nhắc đến khẩu hiệu “chống Mỹ cứu nước” mà Hồ Chí Minh đã dùng để cổ động cho hàng triệu thanh niên miền Bắc hy sinh mạng sống. Quên, cũng dễ hiểu thôi. Bởi vì bây giờ chẳng ai nhắc đến khẩu hiệu đó nữa. Chống Mỹ? Bây giờ ai bỏ cả triệu đô la đăng một trang quảng cáo trên nhật báo Wall Street, chỉ để đem về nói dối với dân khoe rằng tờ báo lớn nhất của tư bản Mỹ cũng phải viết về thành tích làm giầu của đảng Cộng Sản! Chống Mỹ? Vậy ai đưa con cái qua Mỹ lấy cớ du học để mua nhà, mua cơ sở thương mại và dần dần đưa vợ con sang Mỹ sống?

Còn cứu nước thì sao? Có chính phủ miền Nam nào đã viết thư nhượng đất đai, hải đảo cho nước Mỹ hay không? Chỉ có ông Phạm Văn Ðồng ký cho Trung Quốc hưởng! Chính phủ Mỹ có bao giờ tính chiếm lấy một mảnh đất nào của người Việt Nam không? Chính quân đội Trung Quốc đã cướp Hoàng Sa sau khi giết chết các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa giữ đảo! Tại sao đảng Cộng Sản ngăn cấm không cho dân Việt Nam biểu tình phản đối tội xâm lăng Hoàng Sa của chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh?

Từ năm 1954 cho đến năm ông chết, trong 15 năm mỗi năm ông Hồ đều hô hào chống Mỹ cứu nước. Chắc trong đảng Cộng Sản không còn ai muốn nhắc đến khẩu hiệu đó nữa.

Ðể kết thúc bài này, xin kể một câu chuyện gia đình.

Một người cháu ở Hà Nội vào Sài Gòn thăm ông chú đã từng bị giam giữ nhiều năm trong trại cải tạo. Ông cháu là đảng viên Cộng Sản muốn an ủi chú, nói rằng, cuối cùng đất nước ngày nay đã đổi mới, đời sống dân hai miền Nam Bắc đã được cải thiện hơn trước nhiều so với trước đây, chắc chú cũng vui trong cuộc sống mới.

Người chú nói: “Nếu như đảng Cộng Sản của cháu không phát động kế hoạch xâm chiếm miền Nam từ năm 1959 thì dân trong Nam không cần chính sách đổi mới nào cả cũng vẫn tiến được. Chắc chắn người miền Nam đã có mức sống cao như vầy từ nhiều năm trước rồi. Bây giờ nói chung người mình cũng chỉ mới tiến lên bằng dân Ðại Hàn vào khoảng năm 1975 thôi. Giả thử dân mình không giỏi như dân Nam Hàn chăng nữa, dù mình chậm hơn họ 5 đến 10 năm, nếu không bị ‘giải phóng’ thì vào năm 1980, 85 miền Nam cũng tiến lên không kém gì bây giờ rồi.”

“Tại sao người mình lại chịu thua kém, chậm tiến hơn các nước trong vùng Á Ðông, tụt hậu đi sau họ đến 30 năm? Vì đảng Cộng Sản đã gây chiến tranh Nam Bắc. Từ năm 1960 họ đã phá hoại liên tục, cái gì cũng phá, khiến cho miền Nam không xây dựng gì được. Sau năm 1975 họ lại tìm cách Cộng Sản hóa người miền Nam, theo đúng lối Nga Xô, Trung Cộng như ông Hồ Chí Minh vẫn mong muốn. Họ tập thể hóa nông nghiệp, xóa bỏ công thương nghiệp tư nhân. Vì thế mà kinh tế suy sụp, lần đầu tiên dân miền Nam cũng thiếu ăn, trong khi ở miền Bắc thì nhiều người chết đói. Làm dân tộc thụt lùi như thế, họ còn khoe công đổi mới làm gì nhỉ? Tại sao họ không thú nhận đã lầm lẫn, đã gây nên tội với đất nước, với tổ tiên và con cháu? Tại sao không can đảm tuyên bố thẳng là tất cả đảng họ đã sai lầm đi theo chủ nghĩa Cộng Sản, hãy đổi tên đảng đi, vì đằng nào thì cũng đang đi theo đường lối tư bản rồi? Mà lại đi theo thứ hình thức tư bản lạc hậu nhất trong các chế độ tư bản nữa chứ!”

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt: Con chim báo bão
Nam Nguyên, phóng viên đài RFA,
RFA - Bài viết theo dạng thư ngỏ của cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt được báo chí Việt ngữ trong ngoài nước phổ biến hôm 12/4, có thể xem là lời cảnh báo mạnh mẽ nhất từ trước tới nay đối với chế độ chính trị ở Việt Nam hiện nay.

Người nghèo vẫn phải chạy ăn từng bữa, và chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng kinh tế.

Phê phán các chính sách kinh tế

Nhiều báo giấy và báo điện tử trong đó có Tuổi Trẻ và Vietnam Net đã đăng hầu như nguyên văn bài viết của ông Võ Văn Kiệt, người đứng đầu chính phủ Việt Nam thời kỳ đổi mới cuối thập niên 1980 sang đầu những năm 1990.

Rời chính trường từ lâu, nhưng ở tuổi 86, ông Võ Văn Kiệt đã đưa ra lời phê phán nặng nề đối với đường lối chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước Việt Nam.

Theo lời người được xem là kiến trúc sư thời kỳ đổi mới tiên khởi, thì hiện nay người nghèo, những hộ thu nhập thấp những người phải chạy ăn từng bữa, trên thực tế, chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng trong khi chính họ gần như phải lãnh trọn những hậu quả do lạm phát đang diễn ra.

Ông Võ Văn Kiệt nhận định rằng, Việt Nam cần có những chính sách cốt lõi để giải quyết căn cơ vấn đề dân nghèo.

Trả lời chúng tôi, ông Nguyễn Quốc Thái một nhà báo lâu năm hiện làm việc tại TP.HCM đưa ra nhận định:

“Tôi có đọc bài của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt đó là những phát biểu chân thành tự đáy lòng của một người làm chính trị lâu năm và đã luống tuổi lắm rồi.
Tôi nghĩ rằng đó là con chim báo bão mà trong hòan cảnh nào đó người ta có thể qui chụp ông Võ Văn Kiệt theo chủ nghĩa xét lại.

Nhưng mà những phát biểu chân tình đó vì lòng thiết tha với đất nước, tôi nghĩ phải làm cho người khác suy nghĩ, nhìn lại cách áp dụng ở đó về vấn đề điều khiển đất nước.

Một nhận xét nữa là thời gian gần đây ông Võ Văn Kiệt có nhiều bài viết làm cá nhân tôi suy nghĩ rất nhiều, trong hòan cảnh đất nước như thế này một người làm chính trị lâu năm như ông Võ Văn Kiệt đã có nhưng nhận xét như vậy, hẳn rằng những người lãnh đạo đất nước này cũng phải cùng chung suy nghĩ với ông Võ Văn Kiệt.”

Thành tích xóa đỏi giảm nghèo?

Trong bài viết, cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt tỏ ra nghi ngờ thành tích xóa đói giảm nghèo của Nhà nước Việt Nam. Ông nói rằng một số viên chức quốc tế đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam, nhưng theo lời ông Kiệt thì những đánh giá như vậy chủ yếu dựa trên các báo cáo trong nước và nên hiểu rằng, có một khỏang cách đáng kể giữa thực tế và báo cáo.

Theo báo cáo 2007, tỷ lệ người nghèo ở Việt Nam có mức sống dưới 1 đô la Mỹ mỗi ngày hiện chỉ còn chưa tới 15%. Nhưng cựu thủ tướng nhấn mạnh rằng, mới đây báo chí phát hiện rất nhiều nhà tranh vách đất ở một số địa phương mà theo báo cáo thì trước đó đã ngói hóa 100%.

Ông thêm rằng, những người được xem là đã thóat nghèo thì chỉ cần sau một mùa bão lụt, sau một đợt rét hại, những thành quả kinh tế mà người dân tần tảo tích góp lại gần như bị xóa sạch.

Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt dẫn chứng là ông vừa đi đến một số vùng như vậy và cảm nhận người nghèo đang chiếm một tỷ lệ lớn thế nào, đang phải sống vất vả ra sao.

Trong một đọan khác, cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã cay đắng đặt câu hỏi là, Nhà nước đã làm gì cho dân nghèo khi việc chăm lo cho người nghèo là cam kết lịch sử của cách mạng. Ông trích dẫn số liệu của chương trình phát triển LHQ UNDP, theo đó người giàu ở Việt Nam có mức sống cao hơn đại đa số người nghèo tới gần 35 lần.

Cụ thể nhóm 20% những người giàu nhất VN hiện đang hưởng tới 40% lợi ích từ các chính sách an sinh xã hội của Nhà nước; Trong khi nhóm 20% những người nghèo nhất chỉ nhận được 7% lợi ích từ nguồn này.

Cần tham khảo các nước Tư bản

Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt có thể gây kinh ngạc cho các cán bộ chính trị của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, khi ông viết rằng, phúc lợi cho người lao động, người nghèo ở nhiều nước tư bản hiện cao đến mức mà ông nghĩ là các nhà lý luận cần tham khảo.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho Nam Nguyên, TS Lê Đăng Doanh một nhà kinh tế nổi tiếng ở Việt Nam nhận định:

“Tình trạng phúc lợi ở Việt Nam đang có ba vấn đề. Một là chúng ta chưa có chế độ công khai về kiểm sóat thu chi một cách nghiêm ngặt, vì vậy cho nên rất nhiều nguồn thu ngân sách không thu thuế được.

Thí dụ nguồn thu từ đầu tư bất động sản, nguồn thu từ chứng khóan hoặc nguồn thu từ các phi vụ kinh doanh lọt ra khỏi sự kiểm sóat của Nhà nước, thí dụ báo chí đưa tin buôn lậu than lên tới 10 triệu tấn ở những tỉnh mất nguồn thu rất lớn.

Vì vậy tạo ra sự chênh lệch giàu nghèo, những người giàu thì quá giàu mà lại không đóng góp gì cho xã hội, không có trách nhiệm trong việc xây dựng xã hội đóng góp cho phúc lợi xã hội. Và Nhà nước phải sử dụng nguồn thu từ dầu lửa trong khi nguồn thu này không phải là quá lớn quá nhiều như ở Trung Đông.

Vấn đề thứ hai là Việt Nam chưa pháp lý hóa được qui chế về vấn đề phúc lợi. Tức là chúng ta có chương trình giúp đỡ người nghèo, có chương trình cho trẻ em đi học và chữa bệnh miễn phí, nhưng lại chưa có luật và chưa đưa tiền đến cho người dùng mà lại chuyển tiền cho những cơ quan như là trường học, bệnh viện. Cách làm đó tạo ra sơ hở, có thể ý đồ của chính phủ là tốt nhưng tiền không đến được người nghèo.

Điều thứ ba là thực trạng, chúng ta thấy hiện nay trong chế độ phúc lợi xã hội, người giàu được hưởng nhiều phần về chế độ phúc lợi chữa bệnh mà Nhà nước đưa ra. Tức là người giàu tiếp cận được với bệnh viện tốt hơn và nhiều hơn người nghèo.

Đấy là ba vấn đề mà Việt Nam cần phải khắc phục từ nguồn thu đến chi và việc điều tiết xã hội một cách công bằng. Chính các điều ấy ở các nước khác như Thụy Điển, Đức người ta làm tốt hơn cho nên người ta có chế độ phúc lợi xã hội mà chúng ta chưa biết đến bao giờ có thể mơ tưởng thấy được.”

Những cảnh tỉnh cuối đời

Trong bài viết, cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhấn mạnh rằng kinh nghiệm sau hơn hai thập kỷ đổi mới cho thấy không thể có công bằng đúng nghĩa trong một xã hội mà tất cả đều nghèo, như tình trạng Việt Nam thời bao cấp.

Ông Kiệt thêm rằng, cũng không thể cào bằng theo cách điều tiết hết lợi ích của người giàu để chia cho người nghèo. Xã hội sẽ không phát triển nếu không có chính sách kích thích một bộ phận dân chúng vươn lên làm giàu chính đáng.

Theo nguyên văn, ông Võ Văn Kiệt nói rằng: nếu không có chính sách hợp lý và không chống được tham nhũng để quá trình tích lũy tư bản diễn ra như thời hoang dã thì không bao giờ tạo ra được công bằng và sự phát triển bền vững. Tích lũy tư bản diễn ra như thời hoang dã có nghĩa là nhờ hối mại quyền lực và có được đặc quyền khai thác tài nguyên, đặc biệt là đất đai.

Trong bài viết, cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt đặt trọng tâm sự lưu ý của ông về quốc sách công nghiệp hóa mà Việt Nam đang theo đuổi. Ông Kiệt trích lời quốc vương Thái Lan trong một dịp ông được nhà vua tiếp kiến, theo đó bài học sai lầm dẫn đến thất bại của nhiều quốc gia là khi công nghiệp hóa, họ không quan tâm đúng mức hoặc bỏ bê nông thôn nông nghiệp.

Nhà báo Nguyễn Quốc Thái ở TP.HCM mà chúng tôi đã trích ý kiến thêm rằng: “Tôi nghĩ rằng trong những ngày cúôi đời ông đã nhìn lại để cảnh tỉnh những người đang đi con đường tiếp theo ông.”

Ông Kiệt mô tả ở Việt Nam đang diễn ra công nghiệp hóa theo kiểu tiếp nhận những đầu tư chủ yếu khai thác lao động giá rẻ, tuy có giải quyết được công ăn việc làm có tính nhất thời cho một số lao động thiếu việc làm, về lâu về dài không thể nào thay đổi địa vị nghèo khó của nông dân. Trong khi đó, sự trả giá về mặt tinh thần là rất lớn vì đa số những nông dân này đang phải ly hương ly gia để có việc làm.

Ông Võ Văn Kiệt nhận định rằng, công nghiệp hóa đô thị của chế độ hiện tại mà không nhất quán quan điểm, không xuất phát từ số đông người nghèo, thì khỏang cách giàu nghèo sẽ càng sâu hơn nữa.

Post Reply