QUÁN BIÊN THUỲ
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
[B]Vĩnh Biệt đại tướng Cao Văn Viên
Tin tức từ Virginia cho biết đại tướng Cao văn Viên cựu Tổng Tham mưu Trưởng QLVNCH đã từ trần sáng 22/1 /2008 tại Virgina theo giờ đông bộ Hoa Kỳ hưởng thọ 87 tuổi
Lể Hoả thiêu sẽ được tổ chức vào ngày chủ nhật 27/1 /2008.
Xin chia buồn cùng tang quyến và cầu nguyện Hương Linh cố đại tướng Cao văn Viên Sớm Về Cõi niết Bàn.[/B]
Tin tức từ Virginia cho biết đại tướng Cao văn Viên cựu Tổng Tham mưu Trưởng QLVNCH đã từ trần sáng 22/1 /2008 tại Virgina theo giờ đông bộ Hoa Kỳ hưởng thọ 87 tuổi
Lể Hoả thiêu sẽ được tổ chức vào ngày chủ nhật 27/1 /2008.
Xin chia buồn cùng tang quyến và cầu nguyện Hương Linh cố đại tướng Cao văn Viên Sớm Về Cõi niết Bàn.[/B]
Người thương binh uống rượu bên dòng sông
Thái Tú Hạp
(Ðể nhớ bạn trước ngày chia tay trên bến sông Ðà Nẵng)
Rượu uống bao nhiêu chiều rồi nhỉ
Chỉ thấy dòng sông đỏ dáng trời
Chỉ thấy lòng ta mưa chẳng tạnh
Sóng sầu nghiêng ngả mảnh hồn trôi
Bạn cứ đi. Ðừng quên người ở lại
Ta một mình. Sống được với quê hương
Như mãnh thú khép mình trong phố nhỏ
Ðốt hết tuổi đời nghiệt ngã đau thương
Bao lần bên dòng sông soi mặt
Thoáng nhớ mây trời đỉnh Chu Phong
An Lộc - Khe Sanh - Ðèo Lao Bảo
Tử sinh ta xem nhẹ như không
Ngày tháng rong chơi lửa reo đầu đạn
Ta giờ lạc mất những đường chim
Ngồi lại bên dòng u uất sử
Uống giọt cuối cùng máu rỉ từ tim
Chia với cỏ cây nỗi niềm tri kỷ
Nhân gian chừng như lãng quên ta
Chiều uống rượu bên dòng sông tủi nhục
Hát một mình bài hát cũ: Quốc Ca
Bao năm thấu triệt đời hư huyễn
Tâm động hồi chuông nhung nhớ quê
Tưởng đến ngày mai. Thầm ước nguyện
Dòng sông thắp nắng đón nhau về
Lâu quá hai phương trời cách biệt
Bạn hiền nay đã giạt về đâu!
Phố cũ chiều trôi đời nhạt nắng
Trong gió vọng nghe tiếng hát sầu...?!
Thái Tú Hạp
(Ðể nhớ bạn trước ngày chia tay trên bến sông Ðà Nẵng)
Rượu uống bao nhiêu chiều rồi nhỉ
Chỉ thấy dòng sông đỏ dáng trời
Chỉ thấy lòng ta mưa chẳng tạnh
Sóng sầu nghiêng ngả mảnh hồn trôi
Bạn cứ đi. Ðừng quên người ở lại
Ta một mình. Sống được với quê hương
Như mãnh thú khép mình trong phố nhỏ
Ðốt hết tuổi đời nghiệt ngã đau thương
Bao lần bên dòng sông soi mặt
Thoáng nhớ mây trời đỉnh Chu Phong
An Lộc - Khe Sanh - Ðèo Lao Bảo
Tử sinh ta xem nhẹ như không
Ngày tháng rong chơi lửa reo đầu đạn
Ta giờ lạc mất những đường chim
Ngồi lại bên dòng u uất sử
Uống giọt cuối cùng máu rỉ từ tim
Chia với cỏ cây nỗi niềm tri kỷ
Nhân gian chừng như lãng quên ta
Chiều uống rượu bên dòng sông tủi nhục
Hát một mình bài hát cũ: Quốc Ca
Bao năm thấu triệt đời hư huyễn
Tâm động hồi chuông nhung nhớ quê
Tưởng đến ngày mai. Thầm ước nguyện
Dòng sông thắp nắng đón nhau về
Lâu quá hai phương trời cách biệt
Bạn hiền nay đã giạt về đâu!
Phố cũ chiều trôi đời nhạt nắng
Trong gió vọng nghe tiếng hát sầu...?!

TRÊN CHIẾN TRƯỜNG XƯA -
(33 năm sau ngày gãy súng)
phạmtínanninh Hơn ba mươi năm sau, cùng với bốn anh em trong đơn vị xưa, chúng tôi trở lại Kontum tìm thăm nơi an nghỉ của những đồng đội cũ. Trong những năm 72 và 73, đơn vị chúng tôi đã có hơn hai trăm anh em vĩnh viễn nằm lại nơi này để giữ vững miền địa đầu, cửa ngõ quan trọng nhất vào Tây Nguyên, nơi có bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn nằm không xa phía dưới - thành phố Pleiku.
Dừng chân dưới chân núi ChuPao, nhớ tới những trận đánh khó khăn ác liệt với những toán địch quân bị xích chân trong những hầm núi đá, cố bám trụ những cái “chốt”, nhằm cắt đứt QL 14, con đường huyết mạch nối liền Kontum với Pleiku, và hình dung tới từng khuôn mặt của những anh em đã không bao giờ còn trở lại, một số đã gởi xác thân lại cho rừng núi nơi này, tôi xót xa khi nghĩ là mình còn mắc nợ họ. Món nợ máu xương không bao giờ trả được.
Ngày ấy chiến trường ác liệt, có nhiều người lính phải hy sinh ngay khi vừa mới bổ sung cho đơn vị, mà ban quân số chưa kịp nhận hồ sơ lý lịch. Đa số rất trẻ, độc thân, và gia đình ở tận những miền xa, nên mồ mả không có ai chăm sóc. Hơn ba mươi năm rồi, qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi, có lẽ hầu hết các nghĩa trang trong thành phố đã bị giải tỏa từ lâu, và nếu có được cải táng ở một nơi nào đó, chắc trên mộ bia không còn ghi đơn vị cũ. Chúng tôi đến đây như để tìm lại chút kỷ niệm và mong được vơi đi chút nào lòng trắc ẩn, chứ chuyện tìm lại được mồ mả của anh em – hy vọng rất mong manh.
Cả thành phố Kontum bây giờ đã đổi khác. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được các địa danh ngày trước. Những B12, B15, Thành DakPha, Đồi Sao Mai, Bệnh Viện Dã Chiến. Nơi có những bản doanh, căn cứ từng mang tên những người anh, người bạn anh hùng của tôi đã nằm xuống để bảo vệ Kontum: Võ Anh Tài, Đặng Trung Đức, Trần Công Lâm…Chúng tôi tìm đến một số nhà quen lúc truớc. Tất cả không còn. Những người chúng tôi gặp đa số mới vào từ miền Bắc. Người Kontum xưa giờ chắc cũng đã tứ tán bốn phương trời. Tội nghiêp cho người dân Kontum bất hạnh. Bao nhiêu năm tháng hứng chịu chiến tranh, có lúc thành phố bị mỗi ngày hàng ngàn quả đạn pháo, vậy mà họ vẫn ở lại, vẫn cùng với những người lính chúng tôi giữ vững thành phố này trong suốt những thời kỳ ác liệt nhất. Nhưng rồi cuối cùng, giữa tháng 3/75, Kontum bị bỏ rơi tức tưởi khi không còn bóng dáng quân thù. Những người lính ở đây được lệnh tử thủ, ngăn chặn miền địa đầu tam biên cho Pleiku di tản. Tôi từng được nghe người Kontum kể lại chuyện những người lính hào hùng, tự sát vào giờ thứ 25, khi Kontum bị lọt vào tay giặc. Nghĩ tới đó, lòng tôi thấy nghẹn ngào, nước mắt cứ trào ra.
Đúng như chúng tôi dự đoán, tất cả mọi nghĩa trang trong thành phố, nơi bạn bè tôi được chôn cất, không còn nữa, người ta đã giải tỏa để xây lên một số cơ sở công quyền và những khu giải trí.
Chúng tôi tìm đến Tòa Giám Mục, cũng là nơi mà đơn vị chúng tôi đã phải đổ khá nhiều máu xương để tái chiếm trong Mùa Hè Đỏ Lửa. Một vị linh mục đứng tuổi, tiếp chúng tôi niềm nở. Ông cho biết là, mồ mả trong các nghĩa trang lúc xưa đã được cải táng và chuyển đến địa điểm mới, nằm trên cây số 9, đường lên Tân Cảnh. Tuy nhiên chỉ có những ngôi mộ có thân nhân nhận lãnh và tự cải táng thì mới có mộ bia, còn những ngôi mộ khác thì không biết ra sao. Ngài còn tốt bụng, sẵn sàng hướng dẫn chúng tôi đến đó. Cây số 9, gần căn cứ Non Nước, nơi ngày xưa đơn vị tôi đã bao lần cùng với các chiến sĩ thiết giáp hào hùng của Chi Đoàn 1/8 KB đẩy lui những đợt tấn công biển người của địch, giữ vững cửa ngõ vào thành phố Kontum.
Mất gần hai tiếng đồng hồ, đi khắp nghĩa trang, chúng tôi vẫn không tìm ra bia mộ nào có cái tên quen. Nhiều ngôi mộ không có bia. Đưa vị linh mục trở lại Tòa Giám Mục, cám ơn và chia tay ngài. Đã hơn 12 giờ trưa, chúng tôi tìm một nơi nào đó để ăn cơm. Nhớ tới quán ăn Bạch Đằng và Thiên Nam Phúc ngày xưa, nơi có mấy cô chủ quán dễ thương, mà đám lính tráng chúng tôi thường ghé lại đây ăn uống sau những tháng ngày dài hành quân trong núi, một anh bạn hỏi thăm đường đến đó. Nhưng quán bây giờ đã đóng cửa và những người xưa cũng đã trôi dạt về những nơi nào đó. Bọn tôi rủ nhau ra bờ sông Dakbla, dọc theo con đường về làngTân Hương, nơi lúc xưa có mấy cái quán nhỏ để những ngày tương đối bình yên, bọn tôi ra ngồi uống cà phê, ngắm dòng sông chảy ngược, tạo huyền thoại một thời này, mà nhớ tới vợ con hay người tình đang ở đâu đó, để rồi sau lúc chia tay chẳng biết ngày mai ai còn ai mất. Dọc theo bờ sông bây giờ là những hotel, nhà hàng, nhà trọ và biệt thự của các ông quan lớn. Cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra được một cái quán ăn bình dân, nhưng khá sạch sẽ, nằm dưới tàng của một cây trứng cá.
- Buổi trưa nên vắng khách. Bà chủ vui vẻ vừa đón chúng tôi vừa giải thích.
Chúng tôi chọn một cái bàn nhỏ gần bờ sông. Xa xa phía bên kia là làng Phương Hòa thật dễ thương ẩn mình dưới những vườn cây. Nhìn mấy bờ đê bên bìa làng, tôi nhớ tới cái chết của người phi công anh hùng Phạm văn Thặng. Tôi đã chứng kiến phi vụ thật can trường này. Anh là trưởng phi tuần gồm hai chiến đấu cơ AD-6 , đánh bom vào một mục tiêu có nhiều ổ súng phòng không của địch. Anh lao phi cơ xuống thật thấp bắn chính xác, tiêu hủy mục tiêu, tạo một đám cháy và nhiều tiếng nổ phụ, rồi bay lên từ trong đám lửa ấy. Đang trên đường bay về, anh phát hiện có nhiều đạn phòng không bắn lên từ một khu vực khác. Anh quay trở lại, lao phi cơ xuống trút hết những quả bom còn lại, rồi bay vút lên không trung. Đúng lúc ấy, máy bay anh bị trúng đạn. Cánh bên phải phát hỏa. Anh phi tuần phó bay kèm theo, bảo vệ và hối thúc anh nhảy dù ra. Bộ binh chúng tôi cũng sẵn sàng tiếp cứu. Nhưng anh từ chối, bảo là nếu anh nhảy dù ra, phi cơ sẽ rớt xuống khu dân cư trong thành phố. Anh cố gắng bay qua bên kia bờ sông, đáp khẩn cấp (crash) xuống khu ruộng trống phía dưới. Anh điều khiển thật tài tình, nhưng vì phi cơ đã hư hỏng, không còn theo ý muốn, đâm vào một bờ đê và phát nổ. Anh Phạm văn Thặng đã anh dũng hy sinh. Điều cảm động hơn, khi người đại diện của Sư Đoàn đến nhà anh để chia buồn cùng gia đình và đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng, đã kể lại cảnh nghèo nàn của gia đình anh, một trung tá phi công của QLVNCH.
- Mấy ông anh từ xa tới. Chắc tính làm ăn gì chứ cái thành phố này thì có cái gì mà tham quan. Phải không?
Câu hỏi của chị chủ quán làm tôi giật mình. Mấy anh em khác im lặng, nhìn tôi như thầm nhắc cho tôi cái nhiệm vụ trả lời.
- Không, bọn tôi tìm thăm người quen, nhưng không gặp.
- Ở khu vực nào, có nhớ địa chỉ không ? Tôi sẽ tìm giúp các anh. Tôi là dân ở đây mà.
Tôi mỉm cười :
- Cám ơn chị. Ở trong nghĩa trang thành phố, nhưng đã bị dọn đi nơi khác rồi, biết đâu mà tìm.
Chị chủ quán khựng lại chưa kịp để thức ăn xuống bàn, nhìn tôi ngạc nhiên :
- Sao lại phải ở trong nghĩa trang ?
- Vì họ đã chết rồi. Chết từ năm 1972 lận. Tôi buồn bã trả lời .
- Vậy chắc các anh đây là lính Cộng hòa mình ? thuộc đơn vị nào ?
Nghe mấy chữ “lính Cộng hòa mình” tự dưng tôi cảm thấy gần gũi với người đàn bà xa lạ này. Tôi thân thiện :
- Anh em bọn tôi thuộc sư đoàn 23, trung đoàn 44 chị ạ.
- À, vậy có anh nào ở đại đội trinh sát ?
- Không, bọn tôi ở trung đoàn và tiểu đoàn . Một người trong chúng tôi trả lời.
Sau một khắc yên lặng, chị lên tiếng:
- Em có mấy người bạn ở trinh sát. Lúc trước cũng nằm trong nghĩa trang thành phố, nhưng khi có lệnh giải tỏa, em đã chuyển các anh ấy lên cây số 9 rồi. Chị chủ quán tỏ ra thân thiện và thay đổi cách xưng hô.
Chúng tôi vừa bất ngờ vùa xúc động. Sau khi dọn bàn xong, mang nước trà ra mời chúng tôi, chị kéo ghế ngồi xuống rồi tâm sự.
Thì ra chị là bạn gái của anh Bình, trung sĩ Bình, ở đại đội trinh sát của đại úy Minh, sau này là đại úy Mạnh. Anh tử trận hồi mùa hè 1972. Ngày đó chị còn đang đi học, nhưng chiến tranh ác liệt quá, trường phải tạm đóng cửa. Chị ở nhà phụ bán cà phê cùng với người chị ruột. Bà chị này quen khá thân với Mạnh. Khi ấy Mạnh còn là trung úy đại đội phó. Anh Bình thường theo Mạnh tới đây, rồi dần dà quen nhau. Từ khi Bình chết, chị thường đến thắp hương và chăm sóc mộ phần Bình và những đồng đội của anh nằm trong nghĩa trang thành phố.
Năm 1978, nhà cầm quyền Cộng sản ra lệnh giải tỏa nghĩa trang, chị chạy khắp nơi kêu gọi bà con cùng góp tiền góp sức với chị, nhưng cũng chỉ kịp cải táng hơn 20 ngôi mộ của những anh em trinh sát về địa điểm mới. Hầu hết mồ mả của những anh em chiến sĩ còn lại, đã bị san bằng. Chúng tôi cảm động. Không ngờ trong thời buổi nhá nhem tình nghĩa, có lắm kẻ sớm vong ơn, phản suy phù thịnh, vẫn còn có nhiều người Kontum nặng tình với lính.
Theo yêu cầu của bọn tôi, chị cùng chúng tôi đi thăm mộ anh Bình và các anh em trinh sát. Hơn hai mươi ngôi mộ được xây bằng đá đơn giản, nằm bên nhau ở khu phía đông nghĩa trang. Điều đặc biệt trên các tấm bia, trước mỗi cái tên đều có kẻ hai chữ TS. Chúng tôi thắp hương cho từng ngôi mộ xong, quay lại thì thấy chị đang ngồi sụt sùi trước mộ anh Bình. Khi thấy bọn tôi, chị lau nước mắt đứng dậy và nói một mình:
- Thật tội nghiệp, anh ấy hy sinh khi tìm cách chui qua hàng rào để bắn hạ chiếc xe tăng của VC vừa đột nhập vào chiếm bệnh viện
Tôi nhớ lại trận chiến ác liệt này. Khi VC mở đợt tấn công thứ nhì vào thành phố Kontum nhằm rửa hận lần thảm bại ở tuyến tây bắc: Hơn một trung đoàn bộ và nguyên một tiểu đoàn xe tăng của sư đoàn 320 bị chúng tôi xóa sổ. Lần này chúng dùng mấy chiếc M113 đã cướp được của Sư Đoàn 22 BB từ khi Tân Cảnh thất thủ, dẫn đầu môt đơn vị gồm những chiến xa T 54 + T59 có bộ binh yểm trợ, nhằm lừa phi cơ quan sát của ta, xâm nhập vào bệnh viện dã chiến, nằm cạnh thành DakPha, cách vòng đai phi trường chừng 800 mét, với thủ đoạn lợi dụng vào những thường dân và binh lính bị thương nằm trong bệnh viện, để uy hiếp lực lượng của ta. Tiểu Đoàn 4/44 do Thiếu Tá Võ Anh Tài chỉ huy đã đánh một trận chiến vô cùng gay go ác liệt với một lực lượng địch đông gấp ba lần, dùng chiến xa T 54 làm nổ lực chính. Xe tăng địch nép theo những vách nhà bệnh viện. Muốn diệt chúng phải tiếp cận để có thể dùng những khẩu M 72 hiệu quả, anh Tài cùng toán quân báo đã dẫn đầu đơn vị, tìm cách chui qua hàng rào bệnh viện, và anh đã hy sinh bởi bị chính mìn của ta phát nổ. Người anh cả của Tiểu Đoàn, một sĩ quan xuất thân từ khóa 16 VBĐL lừng danh, đã nằm xuống dọn đường cho đơn vị mình cứu nguy bệnh viện, nơi có đồng bào và cả đồng đội của anh bị địch quân dùng làm bàn đạp trong ý đồ bất nhân của chúng. Đại Đội Trinh Sát đang bảo vệ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn được điều động tiếp ứng, đột nhập đánh vào sườn địch. Trinh Sát 44, một đại đội với bao chiến công hiển hách từ thời đại úy Trần Công Lâm, Phan công Minh và sau này là Đoàn quang Mạnh, đã đánh một trận thật tuyệt vời, bắn cháy nhiều chiến xa địch, đuổi đám tàn quân Cộng sản chạy thoát thân ra khỏi bệnh viện và giữ vững một lần nữa vòng đai thành phố. Đại đội Trinh sát này dưới sự chỉ huy tài ba và gan dạ của trung úy Phan Công Minh, đã từng đánh một trận thần tốc, chỉ bằng lựu đạn và cận chiến, giải cứu cho một Tiểu Đoàn BĐQ /BP bị vây trên đỉnh núi ChuPao. Minh bị thương nhưng vẫn tiếp tục điều quân, vừa phá vòng vây cứu nguy cho đơn vị bạn, vừa diệt những cái chốt cuối cùng, khai thông QL 14, để lực lượng chiến xa của Lữ Đoàn II KB lên tăng cường cho mặt trận và hộ tống đoàn xe tiếp tế, lần đầu đến Kontum kể từ khi cuộc chiến khởi đầu. Tướng Trần văn Hai, nguyên Chỉ huy trưởng BĐQ, lúc ấy là TLP/ QĐII đã cùng đại tá TMT/QĐ Lê Khắc Lý, đến QYV Pleiku ôm lấy người đại đội trưởng trẻ tuổi tài ba gan dạ Phan Công Minh ngay khi vừa mới được tản thương về, và gắn lon đại úy cùng anh dũng bội tinh với nhành dương liểu cho Minh tại đây. Lúc ấy Minh vừa tròn 25 tuổi.
- Đại úy Mạnh bây giờ ở đâu, các anh có gặp anh ấy không ?
Câu hỏi của chị đã cắt mất dòng hồi tưởng của tôi. Tôi lên tiếng trả lời chị :
- Anh Mạnh đã chết trong tù cải tạo từ năm 1978 chị ạ.
Im lặng một lúc, tôi lại nghe tiếng chị khóc .
- Chị Hà em, bạn gái của anh Mạnh lúc xưa cũng bị chết năm 75 khi VC vào chiếm Kontum. Mộ chị nằm ở ngay phía trước đây.
Vừa nói, chị vừa dẫn chúng tôi đến đó. Nhìn bức ảnh trên mộ bia tôi mang máng nhớ lại người con gái tên Hà ở một quán cà phê nhỏ nằm trong vườn cây sau nhà, hơn ba mươi năm về truớc.
Nghĩa địa mới này nằm không xa làng Trung Nghĩa. Tôi rủ chị cùng với chúng tôi ghé lại lại thăm làng và khu nhà thờ. Nơi mà ngày xưa ông cha chánh xứ đã cùng chúng tôi chiến đấu bảo vệ những giáo dân ngoan đạo . Nghe nói ngài đã bị tra tấn đến chết trong trại tù cải tạo.
Ra khỏi nghĩa trang, nhìn về phía bắc, rừng núi ngày xưa, dù không tránh được dấu vết của đạn bom, nhưng vẫn còn xanh tốt, giờ sao lại xơ xác điêu tàn. Tôi hỏi chị bạn gái anh Bình, nghe tiếng chị thở dài :
- Tham nhũng bây giờ còn tàn phá nhiều hơn cả chiến tranh ngày trước .
Tôi nhớ lại những vụ án ở đây, có liên quan đến nhiều ông lớn. Mới đây bà Thao Y Bình, Bí Thư Tỉnh Đoàn Kontum đã ăn cướp đến gần 140 tỷ đồng của dân nghèo, và ông Trần văn Thiên, chủ tịch huyện Dak Glei đã thông đồng bán bao nhiêu gỗ quí.
Trên đường vào làng Trung Nghĩa, tôi hồi tưởng tới trận chiến trên tuyến Tây Bắc Kontum. Nơi đơn vị tôi đã thắng một trận thật lẫy lừng, làm tiêu hao cả sư đoàn 320 mà địch quân thường hãnh diện là Sư Đoàn Thép, mở đầu cho bao nhiêu chiến thắng sau đó để Kontum, Tây Nguyên không lọt vào tay giặc.
Đúng vào sáng 30 tết năm 1972, khi chuẩn bị buổi tiệc tất niên cho các đơn vị tại hậu cứ Sông Mao sau một năm đối mặt với chiến trường, Trung Đoàn 44 chúng tôi nhận khẩu lệnh của Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh QĐ II, di chuyển khẩn cấp lên An Khê để thay thế vị trí Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ vừa rút quân về nước. Vừa đến An Khê vào chiều mồng một tết, chúng tôi đã cùng với Thiết Đoàn 3 KB tham chiến, giải tỏa áp lực địch đang bao vây một số căn cứ phòng thủ của các đơn vị thuộc Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn dọc theo đèo An Khê nằm trên QL 19. Tình hình tương đối yên tĩnh, các căn cứ Đại Hàn được giải tỏa, QL 19 đã khai thông, chúng tôi vừa đảm trách giữ an ninh cho QL19 từ Pleiku đến Bình Khê, vừa thiết lâp lại các căn cứ pháo binh, phòng thủ. An Khê là một địa danh làm người ta nhớ tới hai đoạn đèo Mang Yang và An Khê cùng những khúc quanh “tử thần”, mà ngày xưa cả một tiểu đoàn thiện chiến của đội quân viễn chinh Pháp bị lọt vào ổ phục kích, để gần như phải xóa sổ.
Ngày 24/4/72, Tân Cảnh thất thủ khi BTL Tiền Phương của SĐ22 bị tràn ngập. Đại tá Lê Đức Đạt, vị tư lệnh không được sự ủng hộ của tay phù thủy John Paul Vann, cố vấn Mỹ QĐII&QK2, đã từ chối lời mời lên máy bay của người cố vấn SĐ khi phòng tuyến bị chọc thủng bởi nhiều chiến xa T 54 của địch. Ông ở lại chiến đấu và vùi thây nơi chiến địa. Căn cứ Tân Cảnh thất thủ, quận Dakto mất, một BTL/Sư Đoàn bị rơi vào tay giặc mà không hề có bất cứ sự yểm trợ nào của lực lượng đồng minh, cùng cái chết của vị tư lệnh liêm sỉ, khí phách hào hùng thời ấy đã là một trang chiến sử nói lên cái bi phẫn của QLVNCH, báo trước sự bỏ rơi của người bạn đồng minh Mỹ, đã từng cam kết bảo vệ miền Nam, tiền đồn của Thế Giới Tự Do.
Căn cứ địa đầu thất thủ, kéo theo sự xáo trộn của một Sư Đoàn bao nhiêu năm trấn thủ tam biên, tạo thuận lợi để địch quân tràn xuống uy hiếp Kontum.
Trung Đoàn 44 nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum. Lúc này thành phố Kontum đang bất ổn, VC đã có mặt một số nơi trong thành phố và pháo kích thường xuyên vào phi trường, một vài phi cơ bị trúng đạn phải nằm ụ tại chỗ. Chúng tôi được lần lượt không vận vào ban đêm bằng C 130. Khi sắp vào không phận, máy bay tắt hết đèn. Phi cơ không đáp mà chỉ bay rà qua phi đạo để chúng tôi nhảy xuống từ cửa phía sau.
Tiểu Đoàn 1 và 2/44 đựơc chở thẳng tới phòng tuyến tây bắc, thay thế cho một liên đoàn BĐQ vừa bị tiêu hao quân số. Hai vị tiểu đoàn trưởng lại là hai người bạn cùng tốt ngiệp khóa 19 VBĐL thao lược, can trường: Đại úy Đặng Trung Đức và Nguyễn Xuân Phán. Ngay sau khi nhận khu vực trách nhiệm, từ vị tiểu đoàn trưởng đến binh sĩ cùng nhau lập phòng tuyến chiến đấu, đặc biệt là đào những hầm hố chống chiến xa phía trước.
Vào khoảng 5 giờ sáng, ánh trăng hạ tuần còn mờ ảo dưới màn sương, các toán tiền đồn phát hiện có nhiều chiến xa địch đang tiến về hướng nam. Các đơn vị được lệnh xuống giao thông hào, và dỡ bỏ tất cả các lều poncho để tránh sự phát hiện của địch. Trên hệ thống vô tuyến, tất cả báo cáo đã sẵn sàng. Địch quân tập trung đánh vào phòng tuyến TĐ 2 của Đại úy Nguyễn Xuân Phán. Chúng không ngờ có một đơn vị thiện chiến mới toanh vừa mới có mặt trên chiến trường này, nên sau một loạt tiền pháo, chúng xua những chiếc T54 dàn hàng ngang, lực lượng bộ binh ồ ạt theo sau. Mặc dù đây là lần đầu tiên trực chiến với xe tăng địch nhưng không hề nao núng, mặc cho những xích sắt tha hồ rú gào đe dọa, Đại úy Phán bình tĩnh vừa gọi pháo binh tác xạ ngăn chặn, phân tán và tiêu diệt bộ binh địch, vừa ra lệnh cho đơn vị chỉ khai hỏa khi những chiếc T 54 tới gần trước mặt, trong tầm bắn chính xác hữu hiệu của những khẩu M 72, loại vũ khí chống tăng duy nhất mà đơn vị được cấp, và một số B40, B41 của địch thu dược từ chiến trường An Khê. Đó là một quyết định táo bạo và sáng suốt. Chiếc T54 đầu tiên bị bắn hạ do chính anh Tiểu Đoàn Phó, đại úy Nguyễn văn Hướng. Ngay sau đó, hàng loạt xe tăng địch bị bắn cháy. Cả một tiểu đoàn ồ ạt hô xung phong. Cộng quân bị đánh bất ngờ, khiếp sợ, quay đầu chạy. Một chiếc T54 ủi thẳng vào hầm BCH/TĐ, bị ta bắt sống cả xe lẫn địch, trong đó có tên đại đội trưởng. Tiểu Đoàn 1/44 của Đại úy Đức trở thành lực lượng ngăn chặn hữu hiệu, đánh bất ngờ bên hông địch, đám tàn quân chỉ còn kịp buông súng đầu hàng. Chiến thắng ấy tất nhiên là công trạng của tất cả mọi người, nhưng sẽ là thiếu sót lớn lao, nếu không nhắc tới thiếu tá Ngô văn Xuân, vị trung đoàn phó tốt nghiệp khóa 17 VBĐL hiền lành mà tài năng đảm lược. Lúc nào tiếng nói thật bình tĩnh, trấn an, dặn dò, đốc thúc của Bá Hòa (danh hiệu của anh) cũng vang trên hệ thống vô tuyến làm nức lòng chiến sĩ. Ngay sáng hôm ấy, khi khói lửa chưa an, Thiếu Tướng Nguyễn văn Toàn vừa nhận chức vụ Tư lệnh QĐII thay thế Tướng Ngô Dzu, bay lên thị sát mặt trận. Ông vẫn đội bê rê đen, đứng trên xe M113 và đi bộ ngay trên phòng tuyến, bắt tay từng anh em binh sĩ, vui mừng với chiến tích đầu tiên của ông và gắn lon thăng cấp cho vị trung đoàn trưởng. Người ta đã nói nhiều về cá nhân ông, nhưng ít ai biết được ông là một dũng tướng ngoài chiến trường.
Chiến công hiển hách này đã mở đầu cho hằng loạt chiến thắng khác của tất cả những đơn vị tham chiến để bảo vệ Kontum và giữ vững vùng địa đầu Tây Nguyên trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.
Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu lên thăm Kontum, mừng chiến thắng. Khi trực thăng ông đáp xuống căn cứ B 12, bản doanh của BTL/SĐ23BB, đạn pháo của VC thi nhau rót xuống, nhưng vị Tổng Tư lệnh đã xua tay từ chối nhận chiếc áo giáp từ vị đại tá Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn. Ít nhất ông cũng đã chứng tỏ được cái uy dũng của một người xuất thân từ lính. Nhân dịp này Tổng Thống đã gắn lon Tướng cho đại tá Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư Đoàn. Các anh Tiểu Đoàn Trưởng đều được vinh thăng một cấp. Riêng vị trung đoàn phó thầm lặng Ngô văn Xuân được thăng cấp bằng một quyết định riêng sau đó. Anh được điều về làm Trưởng Phòng 3 Sư Đoàn và sau này là một trong những vị trung đoàn trưởng thao lược của QLVNCH.
Trung Nghĩa bây giờ chẳng còn môt chút gì dấu tích chiến tranh, nhưng nhìn ở đâu tôi cũng thấy bóng dáng anh em đồng đội cũ, những người bạn trẻ tuổi can trường của chúng tôi ngày trước. Đặng Trung Đức đã hy sinh vào mùa hè 1973 khi vừa được trực thăng vận xuống phía bắc căn cứ Non Nước. Tên anh được đặt cho bản doanh BTL/SĐ. Vợ con anh đã sang Pháp, nhưng chị Đức đã mất từ năm 1982, hai đứa con nhỏ phải nhờ ông bà ngoại nuôi nấng. Bà mẹ già góa bụa, mà Đức là con một, cũng đau buồn mà đi theo Đức chưa đầy một năm sau ngày Đúc hy sinh. Trần Công Lâm, người bạn cùng khóa thân thiết nhất của tôi - người sĩ quan chưa hề biết mùi chiến bại, đi hành quân mà chưa gặp địch là không chịu quay về -, trước khi nắm Tiểu Đoàn 3/44, đã từng là một đại đội trưởng Trinh Sát lừng danh với bao chiến công hiển hách, vang dội khắp Quân Đoàn, cũng đã nằm xuống cuối năm 1973 trên đỉnh Ngok Wang đèo heo gió hú. Nguyễn xuân Phán sau những năm tháng tù đày, hiện lưu lạc ở một thị trấn nhỏ thuộc tiểu bang Washington bên Mỹ và vẫn hăng say trong các tổ chức xã hội, cộng đồng. Thỉnh thoảng anh xuống San Jose gặp gỡ bù khú với anh em, vẫn cạn ly một trăm phần trăm, dễ thương, vui vẻ như ngày nào. Anh bảo chỉ có những lúc vui với anh em và say mèm mới có thể quên được nỗi đau. Phan Công Minh thì đang sống âm thầm ở một thành phố biển ngoại ô New York. Hơn 10 năm đi cày 2, 3 “job”, để đủ lo cho các con ăn học, thời gian còn lại chỉ đủ để uống rượu tiêu sầu. Bây giờ tương đối rảnh rang, truyền nghề đánh giặc lại cho thằng con trai lớn vừa tình nguyện vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, đang hành quân trên chiến trường Irak. Riêng anh Ngô văn Xuân, mòn mỏi, bệnh hoạn sau hơn 13 năm tù. Nhưng dường như những vết thương chiến trường, tù ngục còn trên thân xác không làm cho anh đau đớn bằng vết thương trong lòng. Nỗi đau của một người đã hiến đời cho binh nghiệp mà giữa đường phải đành vất cung bẻ kiếm. Bây giờ anh sống lặng lẽ ở một nơi gần thành phố San Jose, làm thơ Hoa Tâm, nghiên cứu về Thiền và Phật học. Còn lại, những đồng đội khác, hoặc đang sống lê lết khốn cùng ở đâu đó bên quê nhà với thương tích trên người, hoặc lưu lạc muôn phương, một số đã hy sinh, xác thân nằm ở một nơi nào đó, giữa núi rừng Kontum này, hay hoang lạnh trong các nghĩa trang, đã dời đi hoặc bị san bằng, nhưng có lẽ hồn thiêng vẫn còn phảng phất đâu đây. Tôi đốt hết bó nhang còn lại chia cho anh em. Chị bạn gái của anh Bình cũng xin được chia phần. Chúng tôi đứng nghiêm khấn vái bốn phương trời. Cầu nguyện hồn thiêng của những đồng đội cũ được sớm siêu thoát trên chốn vĩnh hằng, và xin tất cả tha lỗi cho chúng tôi, những người còn sống nhưng đã không trả được – dù chỉ một phần nhỏ nào - món nợ máu xương cho họ.
Suốt đêm hôm ấy không ngủ được, chúng tôi nằm kể lại bao nhiêu chuyện vui buồn trên chiến trường xưa, nhắc lại từng tên, từng khuôn mặt bạn bè. Chúng tôi cũng tranh luận thật nhiều về cuộc chiến đã qua và những cái chết của đồng đội mà thấy lòng nặng trĩu những đau buồn với bao điều tức tưởi.
Sáng hôm sau, chị chủ quán, bạn gái anh Bình, mời chúng tôi ăn sáng rồi tiễn chúng tôi ra đầu cầu Dakbla. Chị đứng yên lặng không nói một lời gì. Nhìn những giọt nước mắt chảy dài trên má chị, trong lòng chúng tôi có lẽ ai nấy cũng đang giữ riêng một nỗi ngậm ngùi. Nhìn dòng sông Dakbla chảy ngược qua cầu, tôi có cảm giác như lòng mình cũng đang chảy ngược về những nơi nào đó, những chiến trường xưa, mà mãi mãi vẫn còn in bóng dáng hào hùng của bao nhiêu bè bạn, anh em - những người đồng đội cũ. Tất cả đã từng có một thời sống rất đáng sống.
phạmtínanninh

Lam Sơn gọi
Trạch Gầm
Thằng số 5 mầy đi đâu rồi hử
Hãy cùng ta trở lại chốn Lai Khê
Đêm Lam Sơn tha hồ mà tâm sự
Gợi nhớ thương của một thuở đi ... về
Tao khởi đi từ Bưng Cầu mầy nhé
Ngã ba đường vào An Lộc, Phước Long
Quán cháo lòng thường giữa khuya mở cửa
Đủ mềm môi - Cạn - Đất đỏ bụi hồng
Đèn hỏa châu dục mầy về Phú Giáo
Gõ cửa Đồng Xoài - Mở cửa Đức Phong
Bắt tay bạn cái bắt tay bằng máu
Còn chửi nhau là còn được yên lòng
Lộ 13 tao lội dài thương nhớ
Mỗi lần đi là gẫy đổ hẹn hò
An Lộc - Lộc Ninh - Tàu Ô - Sa Nhỏ
Đã bao lần hôn mặt đất cam go
Lúc rỗi rảnh lại gặp nhau dưới phố
Phố quận quen như hơi thở người tình
Rừng cao su dàn hàng ngang đứng ngó
Thằng mất thằng còn - ve vẩy lặng thinh
Đời chinh chiến - Nuôi dài bao mơ ước
Đội hoang tàn vẫn đứng thẳng hai chân
Mình đâu nghĩ có một ngày mất nước
Trôi lang thang giữa đất khách vô chừng !
Còn nghe rõ 5 trên 5 mầy nhỉ
Chớ vội nghe tắt máy giũ phong sương
Mười năm tù đong đầy bao nuối tiếc
Mơ một ngày trở lại với quê hương
Thằng số 5 mầy đi đâu rồi hử
Hãy kéo nhau cùng về lại Bình Long
Để được đứng dưới mùa Hè Đỏ Lửa
Dẫu chết đi - Lòng mới được yên lòng.
Trạch Gầm
(Chỉ riêng tặng cho các thằng bạn loại đại bàng ngày xưa)
------------------
Đêm Lam Sơn là tên Câu lạc bộ của Sư đoàn 5 BB QLVNCH

Cuộc chiến đã khuất dần trong quá khứ hơn một phần tư thế kỷ nhưng dư âm của nó vẫn còn phảng phất khắp nơi nơi, in đậm trên từng khuông mặt héo gầy của những chàng trai Việt một thời ngang dï
NHỮNG TÌNH KHÚC CHIẾN TRƯỜNG
MỘT THỜI TUỔI LÍNH. DẪN TA ÐI TÌM ÐỒNG ÐỘI CŨ KHẮP CHỐN THÂN QUEN
MƯỜNG GIANG
(Viết tặng Anh Nam Lộc và Trung Tâm ASIA)

(Hình Mường Giang chụp tháng 6-1963 tại quân trường, kỷ niệm những ngày đầu đời của lính)
Cuộc chiến VN kéo dài gần ba mươi năm (1945-1975) nay xem như đã kết thúc nhưng đâu đó dường như vẫn còn những tiếng rên nghẹn ấm ức của những người lính già Miền Nam thua trận đã may mắn được sống sót sau một cuộc đổi đời. Tất cả như một màn kịch có nhân vật, thời gian và địa điểm, được đạo diễn cho mở màn và kết thúc sân khấu một cách tài tình. Có điều màn kịch được các diễn viên hay nói đúng hơn đó là những người lính trận mà hầu hết đang ở cái tuổi "xuân thì đầy mộng mơ hoa bướm" ghi lại qua những "Tình Khúc" được viết từ mặt trận đang còn nghi ngút khói, bên xác của bạn lẫn thù, đã làm cho những người xem sửng sốt tới rơi lệ vì không mấy ai tin là sự thật.
"băng đạn cuối chìm rơi khi qua sông
người lính mệt nhoài nằm ngủ
đầu dựa góc đa
hàng bình vôi trắng răng cười cợt
thép súng khô dầu bụi nước hoen
có phải hòa bình vừa nở một bông hoa
nở giữa tình yêu và tiếng hát..."
(Thi Vũ tháng 1/1973 - thơ tình của người lính)
Họ là lính nên ai cũng viết rất chân thật về tâm trạng của mình qua sự lo âu, thương xót, phẫn nộ, bi ai và chán đời trong lúc đang đối mặt với tử thần từng phút từng giây vì tình hình bất ổn tại hậu phương và cảnh chiến tranh loạn lạc hầu như khắp bốn vùng chiến thuật mà người lính trận nào cũng phải đăt chân tới. Tất cả đã trở thành những sự kiện có tính chất lịch sử qua những tiếng khóc thực dù không dám khóc to trước mặt bạn bè đồng đội. Mà dù có khóc to thì cũng chẳng để làm gì vì ai biểu chúng ta sinh ra làm trai hùng nước Việt ?
"em mắt nghìn thu xanh cỏ biếc
ta lên rừng thắm ngủ chiêm bao
vòng tay thần thánh xa biền biệt
ta gặp nhau mà vẫn nhớ nhau
em nhớ ta hay ta nhớ em ?
từng đêm lặn lội giữa bưng biền
ta qua Hậu Nghĩa ngày mưa xám
róc vỏ thân chàm ta viết tên
năm tuổi chiến trường xuôi vạn lý
núi sông biết mặt đứa phong trần
yêu em ta bổng thành thi sĩ
thơ lính hào hoa vỗ súng ngâm..."
(Chiêm Bao - Tôn Nữ Kim Phượng)
Ðó là cái đỉnh cao của thơ văn do lính viết qua suốt cuộc chiến từ 1960-1975. Cho dù nay phần lớn những tác giả đã không còn nhưng kỷ niệm ngày xưa vẫn cứ ngổn ngang trong tâm trí mọi người, một phần bởi tiếng thơ đầy nước mắt tuy rất cởi mở và ấm áp tình người. Ðó cũng là lý do xuân tết xưa nay luôn được thi nhân ưu ái trong thi ca nhưng với lính thì ngày nào cũng như mọi ngày, vất vã cơ cực tới cái mức không còn ai khổ hơn. Cho nên với họ lấy gì vui để mà xuân hay Tết như người lính Vũ Hoàng qua bài thơ "Mưa Xuân Ngoài Biên Khu "viết tặng Lâm Hảo Dũng:
"hãy uống cạn cho lòng vơi nỗi nhớ
rượu chất đầy: nón sắt bình đông
người lấy rượu đốt men xuân càng nồng
ta say khướt để quên đời dưới đó
dẫu là xuân hay hạ đông gì cũng thế
bởi quanh năm ta với rượu: đôi bạn già
(tiễn thằng bạn vừa mất ta nốc đầy cốc rượu
mừng kẻ nhập đàn ta lại cụng ly)..."
"bó gối trong căn hầm tránh đạn
chia nhau một cốc cà phê đen
hít dăm ba điếu quân tiếp vụ
ấy tết cô đơn của lính quèn
rừng vẫn viễn miên buồn ủ rủ
gục đầu tắm đạn pháo thương đau
chim rừng cũng bỏ đàn về núi
để mặc chinh nhân vạn cổ sầu..."
(Xuân chiến địa - Phong Nhân Hoài)
Thân phận và hiện hữu là hai mộng ước mà người lính trận nào cũng canh cánh bên lòng. Vì vậy nó đã chắp cánh thành thơ đậu trên đầu súng, đầy ắp trong chiếc ba lô và chan chứa khắp mặt đất. Nhờ vậy mà người lính mới phần nào phôi pha cái ranh giới tử sinh trước mắt. nỗi nhớ của người lính khác hẳn với những tình cảm thừa mứa nơi chốn hậu phương vì ở đây con người có nhiều thời gian để mà yêu hờn ghét giận như Thanh Tâm Tuyền đã viết "ôm em trong tay mà nhớ em những ngày sắp tới" hay cùng lắm thì "vắt mẫu thuốc cuối cùng xuống dòng sông mà lòng phơi trên kè đá". Ngược lại người lính Trần Văn Sơn thì tự mình kể chuyện trong một đêm kích ở Dốc Ðồn Ðền làm cho những người một thời trong cuộc, đọc tới thấy thật là gần gũi thân thương và hối tiếc vì nó đã không còn:
"Ðêm nằm nghe vượn hú
ba lô, súng gối đầu
mắt mở trừng không ngủ
rừng tiếp rừng âm u
gió lòn qua kẽ lá
cuốn tròn trong ba lô
rét rừng cơn mệt lả
đồi tiếp đồi bao la"
hay:
"dẫu nước mắt mọi người có vỗ về hy vọng
ta vẫn cười khan nhìn bạn bè say
có phải không em dù mây vẫn cứ bay
và mai mốt ta có nằm yên trong lòng đất
em hãy giữ trong lòng những điều thành thật
ta đã cho em và chưa vội mang theo
giữa đời ta không phân biệt bạn thù
chuyện sinh tử là chuyện từng giây phút"
(Khi xa Bình Tuy)
Phần lớn những bài thơ của lính là loại thơ "Tự Sự" được viết như những "tình khúc chiến trường" vì tự nó có đủ tầm vóc của môn thi ca chứa đựng các phần ngôn ngữ, nhạc điệu, cảm xúc và sự gợi cãm. Sự đồng điệu ngẫu hứng giữa thơ lính và những nhạc khúc được Nhật Trường Trần Thiện Thanh, Dũng Chinh Nguyễn văn Chính... sáng tạo trước tháng 5-1975, phải chăng đó là tâm cảnh của đời lính, nên ai cũng đều có sự suy nghĩ giống nhau cho dù xa cách muôn trùng. Nhưng yếu tố tạo nên sự đồng cảm đó, trước hết cũng là do tình yêu quê hương của mọi người. Có yêu nước thương dân mọi người mới hy sinh đời mình để chấp nhận tử sinh thua thiệt. Chân thành trong câu chuyện kể đã làm rung cảm một cách sâu sắc tới người đọc, nhất là những em gái hậu phương, vì yêu lính bằng lời, nên đã cất giữ những hình bóng cũ, nhờ vậy mà nó đã trở thành bất tử tới ngày nay, cho dù anh có hiên ngang hay đã trở thành tàn phế:
"Rừng thưa dạt gió Hạ Lào
đêm nằm phục kích nhìn sao, nhớ nhà
tháng tư thương nụ hoa cà
hồn quê gởi ngọn mây xa cuối trời
(viết ở căn cứ Tiên Sa)
Phất phơ áo lụa trên cầu
nắng nghiêng cổ tháp ngã màu thời gian
gió xao sóng nước mênh mang
thương em, nhớ mẹ ngập tràn nhánh sông
(chiều qua sông)
Ba mươi tuổi bóng tôi về hối hả
đàn em nhìn như người lạ quây quanh
chân khập khểnh đứng trên bờ đất lở
tuổi ngày xuân theo lá rụng tan tành..."
(Trần Vạn Giả -Tình cảnh người về)
Bạch Cư Dị là một trong những nhà thơ cổ Trung Hoa được nỗi tiếng khi ông viết "Tỳ Bà Hành" kể lại số phận hẳm hiu của người ca kỷ về chiều trên bến Tầm Dương. Trong xã hội Miền Nam VN thời chinh chiến, số phận của người lính cũng thương đau chất chứa hằng hằng, cho dù là người đã chết hay bị thương tật tàn phế như Phế Binh Trần Quang Thiếu đã ghi lại trong bài thơ "Buổi nhớ núi":
"mới hôm nào dừng chân ven núi
bè có bè có đứa còn vui
anh có anh, chúng ta đời lính
còn lúc này tay nắm môi cười
đêm nằm ngủ cay hơi khói đạn
chân co tìm dấu mất chân xưa
ta bỏ quên bên ngoài biên trận
tặng cho rừng ướt lá thêm mưa
Buổi đến rừng cây cao nhớ núi
gió nhớ đời ta nhớ anh em
giờ một chân, tật nguyền đau dại
mưa móc người, ơn núi nghĩa sông"
Ðời ai mà không có bạn nhưng đậm đà thắm thiết hơn vẫn là tình lính sống chết có nhau, chính cái thâm giao huynh đệ chi binh đó, đã làm bén lửa trong hồn những con người mà ai cũng tưởng là chai đá nhưng thật sự có ai sưót mướt trữ tình bằng họ ?
Chợt nhớ xuân nào trên chiến địa,
Tao mày hiu hắt đón xuân chơi
Một thằng lính bộ đời như bỏ
Một đứa nhảy dù cũng tả tơi...
Bốn câu thơ của người lính Phong Nhân Hoài viết cho bạn năm nào, đã làm cho người lính gia tha hương càng thêm trơ trọi, lạc lõng giữa tối ba mươi lạnh lẽo nơi chốn quê người... Trong quán khách bên đường, ta một mình sóng đôi với ngọn đèn hiu hắt, qua đêm lại một năm buồn. Rượu chưa nhắp mà môi dã muốn cay sè, ngoài trời con chim kỹ niệm vẫn như thiết tha giục giã dù khói lửa đã ngưng trên chiến địa, bạn bè cũng không còn quan hà cạn chén ly bôi, sau những tiếng tỳ bà nhặt khoan nức nở. Tan tác, chia xa,giờ đây chúng ta đang lang thang như mây chiều, sau những năm tháng đã giốc ngược đời mình cho quê hương.
"Tội nghiệp đời trai chưa thỏa chí
sa trường dung ruổi đã phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẩm lối gầy
Chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nỗi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
đêm hát vang lừng nơi chiến địa
mộng hoàng hôn khép giữa hư vô..."
Thời gian trôi đi tưởng có thể làm vơi phần nào nỗi đau của thân phận nhưng ai có thể làm ngơ khi được đọc qua những lời thơ viết của Trần Dzạ Lữ, của Tô Thùy Yên, của Trần Ðức Uyển... những người lính được sống sót sau chiến trận, đã gởi vào gió đất những tiếng thầm thì, để cố níu lại thời gian để mình được sóng với đồng đội vừa gục ngã:
"giặc đánh lớn, mùa mưa đã tới
mùa mưa như một trận mưa liền
châu thổ mang mang trời sát nước
hồn chừng hiu hắt nỗi không tên
tiếp tế khó, đôi lần phải lục
trên người bạn gục đạn mười viên
di tản khó, sâu giòi lúc nhúc
trong vết thương người bạn nín rên
người chết mấy ngày chưa lấy xác
thây sình, mặt nát lạch mương tanh..."
(qua sông)
"bốn năm thằng lơ láo
áo quần rách tả tơi
ăn cơm bên xác người
tay bốc tay cầm súng
lòng nhớ mẹ phương tây
ý thương em chạy giặc
xóm làng sầu khôn khuây
ăn xong múc nước ruộng
uống đại cho qua ngày
quê nhà em có biết
chinh chiến thân lưu đày
ăn được là điều may
có khi hai ba ngày
không ăn chẳng có uống
ta nằm với cỏ cây..."
(Trần Dzạ Lữ - Bữa cơm ngoài chiến trường)
"Tự hỏi về đâu, đâu chả được ?
hãy tìm bên suối ngủ đêm nay
gối đầu lên đá nhìn trăng sáng
rừng núi sương mù ướt chẳng hay..."
(Trần Ðức Uyển - Buổi chiều ngồi trên đá)
Cuộc chiến đã khuất dần trong quá khứ hơn một phần tư thế kỷ nhưng dư âm của nó vẫn còn phảng phất khắp nơi nơi, in đậm trên từng khuông mặt héo gầy của những chàng trai Việt một thời ngang dọc, đã bỏ lại chiến trường một phần cơ thể của mẹ ban cho. Nhưng xương máu của chúng ta tới nay cũng vẫn là những đóng góp cao quý trong công cuộc ngăn chống giặc thù bảo vệ quê hương Miền Nam suốt hai mươi năm chinh chiến.
"Trên non năm bảy thằng tuổi trẻ
buổi chiều thu uống rượu không cười
ôi người tuổi trẻ sầu trong mắt
đêm trong rừng mộng gởi quê cxa
quê xa ta có em và mẹ
nhớ ao bèo xanh bông tím thiết tha
nhớ người con gái bên hàng xóm
chiều thả thuyền vớt mộng nở hoa."
Vũ Hữu Ðinh viết cho Trần Dạ Lữ).
Trên đường mênh mang đi tìm đồng đội cũ khắp miền yêu thương trong ký ức, qua hàng ngàn bài thơ được viết từ chiến trường lửa đạn, nơi chòi canh đồn vắng, trong giao thông hào hay nơi quán lẻ bên đường những lúc người lính tạm dừng chân. Cao Thoại Châu một người lính trẻ, hồi tưởng lại thời gian theo học tại Trường Bộ Binh Thủ Ðức với tâm trạng thương nhớ em nên chỉ muôn cho mau tới kỳ đi phép hay mãn khóa để chúng mình lại tương ngộ:
"thứ hai này nhớ em buồn vỡ mắt
ước làm chim bay qua cổng quân trường
qua cánh đồng có lúa mạ xanh non
những mái nhà đỏ tươi ngói mới
muốn bay lên từ tối tăm hiện tại
phải qua cổng nào em chọn cho anh ?
ký ức anh phai mờ như bụi đóng
áo ngả màu ba lô mũ sắt
và giấc ngủ vẫn rình trên mắt
và tương lai như một góc phòng
mà bóng đêm đã lấp dần ánh sáng
như tận cùng ước muốn đời ta"
(Cao Thoại Châu viết trong cánh cửa quân trường)
Ðời lính gian lao cực khổ nên đâu sá gì chuyện đổi thay của trời đất. Nhưng thật tình mà nói mỗi khi tới mùa mưa làm nhớ không chịu được, dù là mưa bụi lất phất từng hạt nhẹ hay những cơn mưa đầm đìa nước mắt rơi lộp độp trên nón sắt hay những tấm poncho. Bởi vì mỗi mùa mưa là những mùa kỷ niệm buồn vui của tuổi học trò. Thời tao loạn, mấy đứa con trai tới tuổi lớn đã không còn được cắp sách đến trường, đã xa rồi một cuộc tình thương nhớ. Năm 1966, từ chiến trường Bùi Khiết đã viết gửi về em những niềm thương nhớ:
"Vào đêm em ngủ chưa em ?
Trong mơ có gặp ưu phiền nhiều không ?
Ðèn xanh thành phố xa trông
Hoang vu anh đứng mà lòng chiêm bao
Mưa rừng tiếng lá xôn xao
Tay ôm súng lạnh buồn sao là buồn..."
(Thơ Bui Khiết viết trong Ðêm mưa hành quân 1966)
Nhận được tin con đầy tháng, Vũ Trong Quang người lính Sư Ðoàn 2 Bộ Binh rất vui nhưng rồi buồn vì đang hành quân đâu có phép để về thăm con vợ. Cùng một tâm trạng, Tô Nhược Châu cũng viết những lời thơ rất nồng nàn trìu mến gửi lại cho vợ con trước giờ hành quân:
"Hay tin con đầu vừa tròn một tháng
vui thì vui nhưng lòng cũng thật buồn
vui vì con hiện hữu trên đời sống
buồn bởi ta không được phép về thăm
Ta còn phải lội vượt sông trèo núi
đường vào Ba Gia trăm nẻo hiểm nguy
sáng pháo Sa Huỳnh lửa chiều Mộ Ðức
đêm nằm Trà Bồng xôi đậu phân ly..."
(Ðầy tháng con - 1973)
"Hãy ngủ ngoan đừng kinh hoàng nghe con
dù đêm nay thật nhiều súng nổ
hãy ngủ yên đừng đợi chờ nghe em
dù đêm nay anh đi ra trận
dù đêm nay anh đi không về..."
(Tô Nhược Châu - Lời dặn vợ con trước giờ hành quân)
Buồn quá đời lính thú đã kéo chúng ta ra khỏi cuộc gối chăn, tất cả những con đường ngắn dài của tuổi thơ đã trở thành những nẻo đường trong trí nhớ nên chỉ còn biết vui với rừng sâu mưa núi qua cuộc rượu những lúc dừng chân bên quốc lộ đêm nhớ ngày mong:
"rượu pha xá xị đầy nón sắt
dăm thằng chuyền nhau uống vòng vòng
đuổi bắt nhau như ngày với tháng
như khoanh tròn tựa một số không"
(Linh thú - 1973)
Ðà Lạt mù sương với những đồi thông và muôn ngàn cỏ hoa nỏn nưởng khoe hương sắc, Ban Mê Thuộc, PleiKu, Kon Tum cát bụi mịt mù, những địa danh đến và đi của người lính biên trấn Quân Khu II một thời oanh liệt, những chiến sĩ Lôi Hổ, Biệt Ðộng Quân, Nhảy Dù, Sư Ðoàn 22 và 23 Bộ Binh một thời vẫy vùng ngang dọc, đã được người lính Vũ Hữu Ðịnh ghi lại qua nhiều tình khúc rất nồng nàn. Tiếc thay Anh đã qua đời quá sớm vào năm 1980 khi mới có 34 tuổi (1946-1980)
"phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương
em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trông
xin cám ơn thành phố có em
xin cám ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc trên đường biên giới
còn một chut1 gì để nhớ để quên..."
(còn một chút gì để nhớ)
cũng có khi nào anh trở lại
phố xưa đường cũ mùa mưa bay
mưa như gió ướt nên lòng lạnh
gió thổi sầu sương đậu tóc bay
phố không đèn điện con đường lặng
những ánh đèn cây sáng chập chờn
anh gặp em ngồi đang rẽ tóc
mái tóc dài xanh những ngón tay
và anh yêu lấy sầu chẳng nói
mình anh ở lại quán mù mù
tưởng bao năm trước ta là bạn
chỉ nhìn nhau mà cảm được nhau."
(Cũng có khi nào)
Thật là cảm động biết bao những người lính sau cuộc chiến may mắn được sống sót, ngồi hồi tưởng lại những đêm say cùng bạn trong "Quán Cô Hồn" với bửa tiệc nơi quán xếp bằng xị rượu nồng, miếng khô nai cứng ngắc nhai trong miệng mà ta cứ tưởng như đang nhai cả cuộc đời lận đận đắng cay của kiếp lính, cho nên uống vào như ta uống cả niềm đau sầu cháy long đong. Buồn quá đổi lại càng buồn thêm khi chạnh nhìn cô quán trẻ vừa mới làm quả phụ khi cuộc tình chưa quá một mùa đông. Sau đó bạn ra đi và đã gảy cánh tại Kon Tum năm 1974, được Tiếp Sĩ Trường một phi công ở Phi Ðoàn 218 ghi lại qua bài thơ "Nửa Mảnh Phi Bào" khóc bạn cố Trung Uý Nguyễn Văn Phú:
"... cởi mảnh phi bào anh để lại
trao về quê mẹ một trời xuân
mai đây nếu có ai thương tiếc
xin đốt cho người một nén hương
ngày xưa anh đứng bên song cửa
nhìn áng mây trời ngó cánh bay
giờ đây mây trắng anh xây mộng
lại biến vành tan buổi xum vầy..."
(nửa mãnh phi bào)
Lính là thế đó, buồn nhiều vui ít, với một chút nhun nhén tình cờ bắt gặp, trên các nẻo đường hành quân vô định, qua dăm ba ngày Tết dưỡng quân hay canh giặc chốn tiền đồn, lẻ loi ngoài quan tái. Ai đã từng là lính, mới cảm thông cho lính, sống thật cô đơn lếch thếch và chết cũng rất hiu hắt ngậm ngùi. Thời gian và không gian đời lính cũng chẳng qua chỉ là một cái mốc vô tình để biết ta hiện hửu. Nhưng thôi tiếc làm gì ai biểu ta sinh ra làm trai hùng đất Việt ? nên phải chấp nhận kiếp lính “ôm yên gối trống đã chồn, nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh“ để rồi thui thủi “đêm từng đêm ngó mông lung, vỗ bờ kiếm thép hát rừng mà nghe". nỗi buồn của lính đã được Yên Bằng viết trong một bức thư gửi về cho người vợ lính của Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, đọc sao mà thảm thiết quá:
"Nghe ta chết ở một nơi nào trong rừng U Minh
em rót rượu uống mừng nhau nhé
hỡi người vợ lính Sư Ðoàn 21 Bộ Binh
có nhìn thấy mặt trời mỗi khi lặn khuất
là cuộc tình ta đó
trên tháng ngày chờ ôm tấm mộ bia
nên mỗi sáng ngồi uống chum cà phê
ta bổng thấy tim hồng rớm máu
Em hãy nhận dùm ta tấm thẻ bài
ở đó có số quân cùng loại máu
vì máu ta đã chảy
trong khu rừng vàng úa cỏ vô tâm
chẳng biết rằng khi chết có vui không ?
nhưng chắc hẳn em buồn quá đổi
vì ở Ðầm Dơi có nhiều chuyện lạ
người chôn người như thể thù nhau...
là nỗi đau thương của người vợ lính...
quyển sổ dầy mở rộng
tôi ghi gì nữa đây ?
từng đốt tay tê cóng
máu trong tim đã đầy..."
Với lính thì tết nào cũng tết tha hương, xuân nào cũng xuân lữ thứ. Ðêm trừ tịch giữa tối ba mươi, cái khoảnh khắc năm cũ sắp tàn, khi mà mọi nhà chặt then kín cửa, để sửa soạn đón giao thừa, trong niềm hạnh phúc của gia đình, thì lính cũng đón chào năm mới trong chiếc hầm trốn đạn hay mái chòi canh giặc đen tối lạnh lùng. Nhớ từ đâu bỗng kéo tới, vây kín cái không gian nhỏ hẹp. Chu Trầm Nguyên Minh, tác giả của "Cuộc Tình Người 1969" cũng là một người lính trẻ, viết thư gởi về cho người yêu trong một phiên gác đêm:
"Súng kê giấc ngủ mơ hồ
đêm nghe tiếng nhảy ngựa thồ đổi phiên
xin cho em ý ngoan hiền
biển sương rơi đọng trên miền dung thân
anh nhìn anh những phân vân
đời trai giờ chỉ có ngần ấy sao ?
(Chu Trầm Nguyên Minh viết trong Phiên Gác Ðêm tại đồi 182)
Ngoài trời mưa xuân đến sớm nhưng sao buốt lạnh quá chừng, khiến cho ta thêm buồn rầu trong bóng tối một tết tha hương. Dường như có ai đang hát ru NHỮNG TÌNH KHÚC CHIẾN TRƯỜNG giúp ta nhắp một chút men nồng để thấy lại ngày xưa, để ta dìu ta trở về trong kỷ niệm buồn vui của đời lính với những tết không bao giờ quên được dù nay bạn bè người còn kẻ mất, trong đó có rất nhiều anh em đã gục chết ngay giữa tuổi thanh xuân mộng thắm tràn đầy.
"Giữa đồi sương và gió
Tình cờ ta ghé qua
Ngu ngơ nhìn ngọn cỏ
Quanh mộ đời phôi pha
Giun dế đọc dùm ta.
Tên một loài dễ vỡ
Chim một bầy gọi nhỏ
Tên một loài hư vô
Người ôm bờ huyệt lạnh
Ngủ cùng đất ngàn năm
Ta ôm đời lẽ bạn
Mang mang sầu uanh quanh...
(Chinh Yên một chiều viếng mộ bạn)
Ngày đầu tiên về đơn vị cũng là ngày cuối năm, nên khi xe lủa tới Ðà Lạt, cũng là lúc thiên hạ đang rộn rịp đón giao thừa. Cao nguyên Lâm Viên mùa Tết, nên trời rét căm căm. Chúng tôi tát cả là dân miền biển và miền nam, nên chịu không thấu với cái lạnh miền núi, cát da tím thịt, trong bộ đồ trận mõng manh, qua đêm đầu tiên tại nhà vãng lai của Tiểu Khu Tuyên Ðức. Viết sao cho hết nỗi buồn rầu của bọn lính xa nhà trong đêm Tết ? dù đêm Xuân Ðà Lạt thật tuyệt vời, khiến ta cứ ngỡ như mình đang lạc lối đào nguyên, giữa hoa và người đẹp, cả hai sắc hương đường như cùng với mây trời ngạt ngào trong sương giá. Ðà Lạt đêm xuân thú vui không kể xiết, khắp phường phố thiên hạ quần áo là lượt hạnh phúc, gắn bó từng cặp, từng đôi trong muôn màu đam mê rực rỡ nhưng với bọn lính mới đầu đời, Ðà Lạt lại vô tình hờ hững.
"Xin chào mi, hỡi núi rừng Trung Việt
Ta đã qua và ta đã dừng chân
Ta đã nhiều đêm giấc ngủ chập chờn
Những tối trăng sao không buồn ló dạng
Những tối nghe mưa lòng buồn vô hạn
Những hạt mưa như nước mắt mẹ già
Những hạt mưa lạnh buốt cõi hồn ta
(Hạ Ðình Thao giả từ)
Không dưng mà lạnh thật đầy
với hồn thương tích với thây ma người
chiều lên ôm súng nhìn trời
bâng quơ ngó xuống cuộc đời buồn tênh
rươu đâu mà uống cho quên
người đâu mà họp đủ phiên chợ nghèo
lá rừng ai đốt đen thui
chim về ngơ ngẩn ngày vui năm nào
hỡi em tình thoảng chiêm bao
giờ không khí đó đã vào cổ sơ "
(Giang Hữu Tuyền viết ở biên giới Việt Miên)
Bởi vậy cả bọn đều mong mau sáng, để sớm trả lại cái thiên đường hạnh phúc mà trời trót dành cho những giai nhân tài tử. Rồi thì chia tay, dăm đứa gọi là kém may mắn khi về TD 3/43 gần mặt trời. số còn lại bổ sung cho TD 1 và 2/43. Một cuộc hành quân mở ra vào ngày mùng ba tết nguyên đán, mục đich khai thông quốc lộ 12, đưa lính mới và quân trang quân dụng bổ sung cho hai đơn vị tại Bình Thuận. Nhờ vậy mới có dịp hưởng được một cái tết núi rừng vui nhộn với người Koho, quanh bếp lửa hồng.
"Những chiều Trường Sơn gió cao, gió nhớ
Sao người không về theo gió chiều nay
Cho em tình ấm vui hồn nhỏ
Ðợi chờ nhiều, em giận cả mây bay
Những chiều buồn đường lên dốc thẳng
Em ngỡ chừng đang về cửa trời cao
Mây đệm trắng êm đềm thân thể mới
thông rừng xanh gọi gió nhớ lao xao
Thôi Anh rượu đắng thôi đừng rót
Sương khuya chùng lạnh xuống vai em
Như đời băng giá trong đáy cốc
Người đi làm rượu đổ nghiêng nghiêng..."
(Nẻo Cao thơ Hoàng thị Bích Ni)
Ðược vui Tết với người Koho là một thích thú tột cùng. Ở đây hoa nhiều không đếm hết nhưng cũng không có hoa gì đẹp hơn hoa mai làm đêm thêm ngát, làm cho lính đã ngây ngất bên ché rượu cần, lại càng ngẩn ngơ hóa bướm vì tiếng hát ngây thơ hồn nhiên của các cô gái vùng cao, khiến cho mấy chục năm qua rồi, mà trong hồn mỗi lần chợt nhớ, như muốn khựng vì mùi chua của rượu cần và muì hương của núi rừng tây bắc. Sáng tới lính lại lên đường, không được như người Koho, sung sướng tiếp tục cuộc vui Tết quanh các gia đình, cho đến hết tháng giêng mới chấm dứt khi cả Buôn không còn rượu và thịt:
“Ớ chàng trai lính ơi,
đùng quên đêm nay bên vũ điệu Lam Tơi,
đôi ta tình cờ quen nhau ngắn mgũi,
nhưng em nguyện chờ chàng trở về...”
"Mai mốt em về em về đâu ?
Con sông nước chảy trắng chân cầu
Tiếng hát già nua người bạn cũ
Ðêm dài muôn thuở buộc lòng nhau
Ngoài kia buồn buồn không em ?
Xa hỡi ngàn xa bóng nhạn chìm
Thương ai ái ngại tìm đôi mắt
Chưa biết đêm nào thức trắng đêm...
(Cõi Nghìn Trùng - Hoàng Trúc Ly)
“Ðón giao thừa một phiên gác đêm
chào xuân đến súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên bán súng... ngỡ pháo tung bay, ngỡ tóc em vương...”
Bài hát cũ của nhạc sỹ Nguyễn văn Ðông, mấy chục năm về trước, nay sao vẫn nhớ như niềm nhớ về một cái tết xa xưa rất tình cờ với đồng bào Thái Trắng, khi tiểu đoàn nằm tiền đồn, giữ an ninh ngoài vòng đai Tùng Nghĩa.
"Buổi cà phê cuối cùng
Thôi rời trường Thủ Ðức
ta lên đường lên đường
tiếng ca buồn ở lại
Bốn đứa nhìn bàn ăn
đĩa thịt bò kỷ niệm
những bãi nắng khô cằn
bước chân buồn xa lạ
Chung quanh anh toàn là dây cháy chậm
ô vuông bản đồ sao toàn màu rừng man thiên
nhìn một bận bóng thiết tha nhòa bóng tối
anh giật mình kinh rạch nhện đan luôn
Anh trằn trọc từng nằm đêm nhẩm từng tọa độ địch
màu bút chì xanh đỏ đứng nghênh nhau
nghe một thoáng tên em nhòa tiếng súng
anh đứng nhìn hoa lửa cháy trăng sao..."
(Thư gởi người phương cũ của Hoàng Yên Trang cũng la Trần Như Liên Phượng tử trận tại Chương Thiện năm 1965 mới 29 tuổi)
“Chốn biên thuỳ này xuân tới chi, tình lính chiến khác chi bao người“, nên đêm tiền đồn được vui ké với bản làng một cái tết vui nhộn từ đầu thôn tới cuối ấp, nơi nào cũng vang vang tiếng pháo, khiến người lính trẻ xa nhà chạnh lòng để rơi nước mắt, khi nhớ về những ngày xuân củ, nhớ màu hoa cúc hoa mai, tết đến nở tròn như mắt môi em một thời tuổi học “tay anh ghì nhẹ trên bán súng, cứ ngỡ cùng em sóng bước xuân“.
"Dưới chân đồi Xích Thổ này có con sông
Con sông có cây cầu bắt qua
Bên này là vườn táo là nghĩa địa là ruộng hoang
Là lô cốt là hầm chông là bãi mìn
Buổi sáng anh ở nơi đây
Ðu đưa lời tình bên khóm táo
Với bầy te te với tiếng gió sang mùa
Anh phải ngủ thật hiều vào ban ngày
Ðể đêm từng đêm ngồi ôm súng gác
Anh phải cười nơi đây thật to
Ðể khỏi nghe tiếng súng
Mỗi khi đài quân đội đưa lời "em yêu lính"
Anh phải văng tục nơi đây cho đã
Vì thiếu bóng đàn bà suốt tháng..."
(Huỳnh Hữu Võ viết nơi đồn trú duới chân Ðồi Xích Thổ)
Ðâu đâu cũng là chiến trường, nơi nào cũng chết chóc đau thương kể cả những ngày Tết đến. Bởi vậy chỉ mong gặp nhau một lần thôi để lòng bớt vấn vương thương cảm, rồi thì cứ phó mặc cho số phận đẩy đưa bởi chiến trận đâu phải là trò đùa:
"... sau những đợt xung phong ào thác lũ
còn lại gì vườn trống cạnh nhà hoang
và hoa cỏ im lìm nghe đón gió
bầy gà con vừa lạc mẹ kêu đàn
trên sân nắng nhiều quân thù phơi xác
thanh AK Tiệp Khắc lỏng tay gầy
ngoài bờ lúa nhiều anh em nhắm mắt
vuông đất hồng làm gối lạnh từ đây
khi tôi đến quê xa chìm tiếng hát
chiều hành quân vai nặng túi cơm rời
để nép bóng tòa bin đinh cao ngất
trên đường về nghe đắng mặn đầy vơi..."
(Sau Chiến Trận - Ý Yên)
Chiến tranh tàn nhẩn, oan nghiệt khiến suốt đời lính không quên được hình ảnh chết chóc của những người dân lành vô tội, giữa nhang đèn bánh mứt... chờ đón xuân về.
"thằng Vũ chết rồi trong trận Pleime đó em
khủng khiếp và khốc liệt
những lần về phép sau này em ra cửa đón anh
sẽ không bao giờ thấy nó
nó chết rồi
nó chết cho quê hương đó..."
(Phan Huy Mộng - Người chết ở Pleime)
Cố nhân xa rồi nên đâu còn ai thương nhớ ai, khiến cho người lính trận thêm cô đơn lạc lỏng nơi chốn thị thành khi nhớ lại những ngày còn tóc bồng còm em mười sáu thơ ngây, để ngày ra đi người lính trẻ chỉ còn có môi em gói lại làm hồn nhớ bâng khuâng:
"mai ta trở về với núi cao
có mây xanh ngắt lá reo sầu
đêm chờ đạn nổ ngày tạp dịch
ta còn lúc nào để nhớ thu
mai ta trở về cùng khói núi
tình mình còn chăng sợi khói bay
nhớ thu ta đứng trên triền dốc
mà lối đi về mây xám bay
đã lỡ một đời thân lính thú
còn mơ ước gì chuyện tương lai
tuổi trẻ cháy dần trong khói súng
ta lấy đời mình đánh cuộc chơi..."
(Vũ Hoàng - với thu như một giã từ).
Một thơi dại chinh chiến bao lớp người nối tiếp ra đi vì nước non nên chỉ biết giã từ tất cả mà Hoàng Trọng đã gom lại để viết thành một ca khúc rất nỗi tiếng ngay từ năm 1962:
"biết đến bao giờ gặp lại người em thời thơ ấu
để báo tin rằng cuộc đời từ nay đã khác xưa
một phút gần nhau rồi tình mãi mãi lìa xa
quà nghèo chỉ có lời ca
tặng nàng trước khi từ giã
(Giã từ)
Em yêu hãy hôn anh một lần trước khi anh đi lính
giữa thời đại chiến tranh cái gì cũng vội vã hết
phải không em
nhưng nhớ hôn anh một lần này thôi
vì không chừng anh sẽ ra đi
hoặc trong mười năm mười lăm năm
hay vĩnh viễn
bây giờ anh còn tay bây giờ anh còn chân
bây giờ anh còn mắt
bây giơ anh chưa đui mù
chưa câm điếc chưa què quặt
nhưng biết mai anh còn đủ không
và cả trái tim anh nữa
biết còn rung động hay im lìm ngừng đập
nhiều lúc anh tự hỏi chiến tranh để làm gì ?
(Trần Uyên Phương - Trước khi đi lính).
"tao để Tiểu đoàn 6 cho mày
trạm cứu thương
có thằng Khiên mù
có thằng Nhu ngọng
tao để Vũng Tàu lại cho mày
bãi trước bãi sau
gió biển ngây ngây mùi gái
hỡi thằng Y Sĩ Dù bé nhỏ của chúng tao ơi
đi chưa bao giờ biết mệt
chiến đấu chưa bao giờ biết nằm
Ðêm Gio Linh xác địch chất bên miệng hầm
Chiều Cao Lãnh đạn ghìm sâu vào gối
và Dakto mãnh sướt bờ vai
để một sớm mai buồn chúng tao thức dậy
lặng người đau đớn
nghe tin mày hy sinh..."
(Trang Châu - Một bài thơ cho Tuấn)
Hình như giao thừa sắp đến, trong mông mênh cùng tận, như những năm nao, tôi lại âm thầm lâm râm cầu nguyện cho mẹ già, em gái, cho ngươi yêu củ, bạn bè, đồng đội, đồng bào... được may mắn an bình trong buổi hổn mang dâu bể... Kỹ niệm xưa từng mảng lại trôi bềnh bồng trên mắt, lén lút đẩn dắt hồn người lính trẻ về thuở hoa niên, khi những cánh hoa phượng đỏ ối nối hàng, dọc theo con đường Nguyễn Hoàng dẫn vào lớp học, đã bắt đầu rụng rơi lã tã giữa các trang lưu bút, trên từng rèm mắt ô môi, cũng là lúc bọn học trò nghĩ hè làm gã giang hồ lãng tử, trên những chuyến tàu hỏa chui Phan Thiết-Sài Gòn rồi Sài Gòn-Phan Thiết, đi hoài vẫn không thấy chán. Nhưng em đã đi rồi từ khi tôi vào lính:
"năm năm rồi không gặp
từ khi em lấy chồng
anh dặm trường mê mãi
đời chia hai nhánh sông
phong thư tình ngây dại
đường xưa quen lối về
trong mịt mùng gió cuốn
nghe nhạt nhòa mưa qua
ngày nhà em pháo nổ
anh cuộn mình trong chăn
như con sâu làm tổ
trong trái vải cô đơn
năm năm rồi ly biệt
một màu tang ngút trời
chúa buồn trên thánh giá
nằm trơ vơ gác chuông..."
(năm năm rồi không gặp - Phạm Văn Bình).
Rồi những ngày dài chinh chiến, định mệnh lại đẩy đưa đời lính về chốn cũ Long Khánh-Bình Tuy-Phan Thiết. Tuy tàu hỏa đã bị gián đọan nhưng suốt con đường sắt từ Mường Mán về Gia Ray, con đường mòn Võ Xu tới Suói Kiết, kể cả những suối rạch, bải đá ven sông La Ngà, đều là những lối lại qua quen thuộc, đã cùng tôi chắt chiu suốt đoan đường tuổi trẻ. Làm sao quên được những ngày dừng quân ở Văn Phong, Mường Mán ? ngày ngày ngồi ngâm nga tách cà phê đen ngon tuyệt nơi quán lẽ ven sông, ngó nhìn các chuyền tàu xuôi ngược.
"quê cũ mười năm mây lớp lớp
mười năm mưa khóc buổi sang mùa
dưới trời sương lạnh rơi tan tác
rét mùa đông cũ rét lê thê
đường tôi đi có bom và đạn
có hận thù trên mỗi dấu chân
ai thả vào hồn tôi mới lớn
những mùa xương máu ngập tang thương..."
(Ði giữa chiến tranh - Phạm Cao Hoàng)
Những người tuổi trẻ như chúng ta một thời chinh chiến đã lần lượt rủ nhau đi trong lửa đạn, làm kiếp lang thang mây chiều, cũng vì ai mà xương máu ngất núi trên quê hương hận thù. Tan tác, chia ly kẻ còn người mất, kỷ niệm chỉ còn vương lại một hớp rượu cay mà ta cố giữ lại trên đầu lưỡi.
Hồn ta nay đã mất, có còn chăng là dư ảnh của ngày xưa, của đồng đội bạn bè... như những giọt nước mắt cứ chảy dài của những người góa phụ trẻ mà Lê Xuân Hảo đã viết cho chồng là cố Thiếu Tá Pháo Binh VNCH Nguyễn Tấn Hưng thuộc Tiểu Ðoàn 155 ly Pháo Binh, đã mất tích tại Kon Tum vào mùa hè đỏ lửa 1972:
"Ngày anh lên thiếu tá
với chữ cố đứng đầu
em trở thành góa phụ
trầm mình trong vực sâu
ngày anh lên thiếu tá
sao chẳng có rượu nồng ?
ngoài năm vành khăn trắng
nay dật dờ cô đơn
(Ngày vinh thăng của Anh)
25 tuổi đầu, tôi làm góa phụ
bốn đứa con thơ tỉnh yêu chưa tròn
10 năm chiến chinh vai đời pháo thủ
chồng tôi bây giờ nằm xuống cô đơn
25 tuổi đầu tôi làm góa phụ
má đỏ môi hồng còn gì nữa đâu
thu đến đông sang xuân qua hè lại
màu trắng khăn sô: tôi chít trên đầu"
(Góa phụ 25)
Trong số phát hành vào ngày chủ nhật 28 tháng 8 năm 1994, nữ ký giả Lily Le Diron của tờ Los Angeles Times đã đăng bài ""A Viet Nam Odyssey "được Lê Xuân Hảo dịch ra tiếng Việt "Ði tìm cha tôi: một cuộc hành trình vô vọng". Ðây là một câu chuyện có thật do cô Nguyễn Tấn Băng Phương, tức là nữ ký giả trên, ghi lại cuộc hành trình đi tìm xác người cha đã mất tích từ năm 1972 trong cuộc chiến "Mùa Hè Ðỏ Lửa". Ông là Cố Thếu Tá PB/VNCH Nguyễn Tấn Hưng mà vợ là Lê Xuân Hảo đã nhắc tới trong bài thơ "Ngày anh vinh thăng cố thiếu tá và tôi là góa phụ", đã được Phó Tổng Thống VNCH Trần văn Hương trao tặng giải nhất trong cuộc thi thơ năm 1973.
Gọi là cuộc hành trình vô vọng dù cô Băng Phương đã ròng rã suốt hai tháng trường, đi khắp lãnh thổ Miền Nam, từ Nghĩa Trang Quân Ðội tai Biên Hòa ra tới miền Bắc, lên tận Pleiku, Kon Tum... nhưng tin tức của người cha yêu dấu vẫn biền biệt phương ngàn. Thật là cảm động biết bao về tấm lòng hiếu thảo của một người con chí hiếu, xin chân thành dâng lên một nén hương lòng lên các Anh: Những người lính oai hùng của VNCH một thời lửa đạn, người có tên, người còn mồ hay người đã biệt tích. Tất cả đều xứng đáng được hậu thế tôn vinh, sử xanh ghi công rạng rỡ:
"mai về nẻo ấy chiều sương khói
ta biết tìm đâu bước bạn hiền
vượt thác Mé Kông qua cầu khỉ
Paské héo hắt bóng trăng đơn
mai về quê mẹ qua biên giới
thăm lại Trường Sơn thuở kiếm cung
rừng núi vẫn xanh màu khát vọng
chỉ ta hờn tủi kiếp tha hương
(Phong Nhân Hoài ố Thì thôi hãy khóc để quên đời 1972).
Có ai còn nhớ lối xưa để tìm về mà có tim chăng nữa thì cũng chỉ thấy những thành mộ chí hoang vu, cỏ lau xưa hiu quạnh, khiến cho những người lính già cứ ngẩn ngơ hóa bướm dù bàn tay vẫn ấp trên những trang báo ngày nào. Ngoài đêm bây giờ hình như tiếng ngựa vẫn còn lao xao hí hoài những hồi thúc giục, đời vẫn mỡ ra trước mắt như đang gọi hồn người lính đi vào cõi mộng lung muôn trùng.
"còn ba năm nữa anh sẽ về
anh biết chắc không còn quê hương để ở
em gắng sắm cho anh một cây đàn bầu
làm bằng nắp hòm người lính nghèo
chết ngoài mặt trận
anh sẽ đàn cho mọi người cùng nghe
mà không xin tiền
chỉ tìm lại những đôi mắt trân tráo
những bước chân đi qua vỉa hè
với nụ cười
mà nhiều năm anh đã mất..."
(Khi giải ngũ - thơ Hà Nguyên Dũng). -/-
Xóm Cồn
Hăm nhăm tháng chạp Ðinh Hợi
MƯỜNG GIANG
Nhìn lại
Viết cho ngày Quân Lực 19 tháng 6
Anh lính Cộng Hoà ơi !
Ba mươi ba năm rồi kẻ còn người mất
Ván cờ Việt Nam người ta định đặt
Bán đứt nửa quê hương
Bạn bè anh không chết ở chiến trường
Buông súng đầu hàng
Oái ăm, nghiệt ngã
Anh bỏ cuộc, xuôi tay đi đành đoạn
Máu trong tim rưng rức giọt đau buồn
Em là gái hậu phương
Phơi nổi sầu lên mắt biếc
Ơi những con lái buôn làm trò xiệc
Phường chính khách xa lông
Phía trong giặc ngoài bờ cõi
Nuôi Tự Do rồi buộc trói Tự Do
Ngày Ba mươi tháng Tư
Triệu người như chết trong mơ
Triệu người bơ vơ ôm vết thương nhức nhối
Cộng sản tới
Cả nước thêm một lần khói lửa
Cây núi Trường Sơn trụi lá
Máu căm hờn sùng sục cửa Nam Quan
Chúng về đây cướp đất đuổi dân
Cười sặc sụa tấm thân tàn mẹ Việt
Chết !Chết ! Chết ! Chúng quen tay bắn giết
Sáu mươi năm mang chủ thuyết nghịch đời
Độc quyền đảng trị
Anh lính Cộng Hoà ơi !
Cho em xin nhận diện cuộc đời
Anh đã đổ máu Hoàng Sa
Mang nghĩa khí hào hoa người lính biển
Giữ giọt nước sơn hà
Quê hương chan hoà tình ái quốc
Năm bốn -Bảy lăm là mấy chốc
Anh đã tung hoành ngang dọc
Diệt bạo trừ gian
Đánh vào đầu thằng Cộng sản
Anh bỏ cuộc chơi –Anh vẫn là “chân lý”
Huế-Sài Gòn-Hà Nội vẫn ba miền ruột cắt
Đảng chơi trò trấn lột
Ăn cướp giữa ban ngày
Nhân dân làm bình phong cho bầy quỷ đỏ
Ba triệu cái vòi con bạch tuộc
Vơ vét tài nguyên Tổ Quốc
Bán đứng giang sơn cho tay giặc.
Anh lính Cộng Hoà ơi !
Anh bỏ súng, quê hương mình tan tác
Dân chủ Tự Do họ cướp mất đi rồi
Anh Lính Cộng Hoà ơi !
Ba mươi ba năm đau thương quằn quại
Đảng chất chồng oán thù tội lổi
Mãi đến hôm nay
Chính nghĩa miền Nam vẫn rạng ngời
Dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ
Khắp nơi nơi trong lòng người :
“Tự Do hay là Cộng sản ? ”
Ta tới dung thân miền đất lạ
Lửa trong hồn sôi sục nhớ quê hương
Thương bến nước giòng sông
Những người dân oan sắp hàng đòi Công lý
Những vị thầy tu mặc áo nâu sòng
Những cụ già tóc bạc chờ mong
Những chị em gánh lúa trên đồng
Những thanh niên đứng đường kêu gào lẻ phái
Những chiến sĩ Tự do vô tù không trở lại
Những bàn tay tìm về nhau nối kết
Đòi cho bằng được Dân Chủ , Áo cơm
Dưới bạo lực lưỡi gươm
Chính nghĩa muôn đời thắng thế !
Lê Hải Lăng
Viết cho ngày Quân Lực 19 tháng 6
Anh lính Cộng Hoà ơi !
Ba mươi ba năm rồi kẻ còn người mất
Ván cờ Việt Nam người ta định đặt
Bán đứt nửa quê hương
Bạn bè anh không chết ở chiến trường
Buông súng đầu hàng
Oái ăm, nghiệt ngã
Anh bỏ cuộc, xuôi tay đi đành đoạn
Máu trong tim rưng rức giọt đau buồn
Em là gái hậu phương
Phơi nổi sầu lên mắt biếc
Ơi những con lái buôn làm trò xiệc
Phường chính khách xa lông
Phía trong giặc ngoài bờ cõi
Nuôi Tự Do rồi buộc trói Tự Do
Ngày Ba mươi tháng Tư
Triệu người như chết trong mơ
Triệu người bơ vơ ôm vết thương nhức nhối
Cộng sản tới
Cả nước thêm một lần khói lửa
Cây núi Trường Sơn trụi lá
Máu căm hờn sùng sục cửa Nam Quan
Chúng về đây cướp đất đuổi dân
Cười sặc sụa tấm thân tàn mẹ Việt
Chết !Chết ! Chết ! Chúng quen tay bắn giết
Sáu mươi năm mang chủ thuyết nghịch đời
Độc quyền đảng trị
Anh lính Cộng Hoà ơi !
Cho em xin nhận diện cuộc đời
Anh đã đổ máu Hoàng Sa
Mang nghĩa khí hào hoa người lính biển
Giữ giọt nước sơn hà
Quê hương chan hoà tình ái quốc
Năm bốn -Bảy lăm là mấy chốc
Anh đã tung hoành ngang dọc
Diệt bạo trừ gian
Đánh vào đầu thằng Cộng sản
Anh bỏ cuộc chơi –Anh vẫn là “chân lý”
Huế-Sài Gòn-Hà Nội vẫn ba miền ruột cắt
Đảng chơi trò trấn lột
Ăn cướp giữa ban ngày
Nhân dân làm bình phong cho bầy quỷ đỏ
Ba triệu cái vòi con bạch tuộc
Vơ vét tài nguyên Tổ Quốc
Bán đứng giang sơn cho tay giặc.
Anh lính Cộng Hoà ơi !
Anh bỏ súng, quê hương mình tan tác
Dân chủ Tự Do họ cướp mất đi rồi
Anh Lính Cộng Hoà ơi !
Ba mươi ba năm đau thương quằn quại
Đảng chất chồng oán thù tội lổi
Mãi đến hôm nay
Chính nghĩa miền Nam vẫn rạng ngời
Dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ
Khắp nơi nơi trong lòng người :
“Tự Do hay là Cộng sản ? ”
Ta tới dung thân miền đất lạ
Lửa trong hồn sôi sục nhớ quê hương
Thương bến nước giòng sông
Những người dân oan sắp hàng đòi Công lý
Những vị thầy tu mặc áo nâu sòng
Những cụ già tóc bạc chờ mong
Những chị em gánh lúa trên đồng
Những thanh niên đứng đường kêu gào lẻ phái
Những chiến sĩ Tự do vô tù không trở lại
Những bàn tay tìm về nhau nối kết
Đòi cho bằng được Dân Chủ , Áo cơm
Dưới bạo lực lưỡi gươm
Chính nghĩa muôn đời thắng thế !
Lê Hải Lăng

Lựu Đạn
Hình như Ta gặp người nơi tiền kiếp
Trên cầu đoạn trường ta ... té gãy chân
Bởi nụ cười người, chao ôi hết biết...
Ta tương tư và... từ bỏ cõi trần
Mười tám năm sau trở thành hảo hán
Ta nhịn ăn bước qua cửa luân hồi
Ta chạy tìm người mịt mờ trời đất
Trời đất loạn ly khói lửa tơi bời
Biết người khôn... ta lao vào Thủ Đức
Gái khôn tìm chồng, tìm kiếm đâu xa
Hỏa châu lững lờ rũ người thao thức
Có khốc liệt nào ta chẳng bước qua
Rãnh được phút nào... ta ra phố chợ
Say ngất ngư vẫn nhớ nụ cười người
Ta cố tình quên, quên trong nỗi nhớ
Gặp được người ta tơi tả tả tơi
Người ngồi xuống uống cùng ta vài chén
Có được kiếp nầy sẽ có kiếp sau
Có thằng lính nào lại không lỗi hẹn
Người đừng quê... và khỏi phải cầu nhầu
Nụ cười người ta mang vào chiến trận
Địch bắn tùm lum, chẳng trúng nụ cười
Trạch Gầm
MAY MÀ CÓ EM...
Tường Lam
Quỳnh lấy vé máy bay về Việt Nam một cách vội vàng, mấy ngày nay nàng ăn, nói, đi, đứng như người mộng du.
Tình cờ sang Cali dự đám cưới người cháu, Quỳnh gặp lại Trang, người bạn học thân nhất, ngồi cạnh nhau trong giảng đường Văn Khoa. Trang cho Quỳnh biết mới sang Mỹ được hai tháng. Trước khi đi Trang về thăm quê nội ở Trà Vinh và đã gặp Tân! Thương binh cụt một chân, ngồi bán vé số ngoài vỉa hè độ nhật.
Nghe tin Tân còn sống, tim Quỳnh co thắt, toát mồ hôi và xây xẩm cả mặt mày. Quỳnh thì thầm như người mất hồn. “Trời ơi! Tân ơi! Anh còn sống sao? Mấy chục năm rồi, Tân ơi! Anh có biết rằng em tiếc thương anh ngần nào không? Cám ơn trời Phật đã cho Tân còn sống!!!” Dù hoàn cảnh thế nào Quỳnh cũng phải trở về gặp lại Tân! Gặp lại sự sống của chính nàng.
Theo gia đình Trang dự lễ mãn khóa 22 sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Ngồi trên khán đài trong Vũ Đình Trường, sau bài diễn văn của Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng, tiếng loa uy nghi dõng dạc:
- Quỳ xuống các sinh viên sĩ quan.
Sinh viên sĩ quan thủ khoa nhận kiếm, cung bắn đi bốn hướng tượng trưng chí trai tang bồng hồ thỉ, sau khi hàng ngàn sinh viên khác nhịp nhàng quỳ xuống thẳng hàng để được gắn cấp bậc sĩ quan.
- Đứng lên các tân sĩ quan.
Chỉ cần hai động tác quỳ xuống, đứng lên với cấp bậc trên cầu vai biết bao tháng ngày gian lao! Những bữa cơm chan mồ hôi, nước mưa trong rừng cao su ... Ngoài bãi tập và biết bao gian nguy ngoài chiến trường chờ đón họ! Sau mười ngày phép cuối khóa của những người trai trong thời ly loạn! Phải “xếp bút nghiên theo việc đao cung”.
Trên hai mươi năm qua rồi, đêm mãn khóa bập bùng kỷ niệm vẫn còn mới nguyên trong tâm hồn Quỳnh, đêm định mệnh để Quỳnh quen Tân do anh trai Trang; người bạn cùng khóa với Tân giới thiệu.
Ngồi trong xe cạnh nhau, hai người chỉ trao đổi những lời thăm hỏi xã giao chừng mực. Ở Tân, Quỳnh thấy người con trai đã được tôi luyện qua gian lao, nắng mưa quân trường, tóc hớt cao, nước da bánh mật sạm nắng, tự dưng với tuổi mười bảy của đứa con gái mới lớn, Quỳnh thấy thương và tội nghiệp Tân quá đi thôi. Tân từ biệt mọi người – sau khi xin địa chỉ Quỳnh -ra bến xe miền Tây về quê thăm mẹ! Tân chỉ có hai mẹ con.
Trước ngày ra đơn vị, Tân chọn binh chủng mũ nâu Biệt Động Quân như lời tâm sự: “Không đi lính thì thôi, đi phải chọn binh chủng xứng đáng và phải đánh đấm ra trò”. Tân có đến thăm Quỳnh đi phố, ăn trưa và trong bóng tối rạp Ciné Lê Lợi, cầm tay Quỳnh, Tân nói lời từ giã:
- Mai anh đi! Quỳnh ở lại vui! Ráng học giỏi.
Tân ra đơn vị, Quỳnh thấy hụt hẫng trong lòng và tình cờ tình tiết thương tâm trong cuốn phim “Le temps d’aimer c’est le temps de mourir” mà Quỳnh và Tân đã xem! Suốt thời gian dài sau này Quỳnh cứ tự hỏi: “Tại sao có một thời để yêu lại phải có một thời để chết???”.
Chiến trận đã cuốn Tân đi biền biệt! Những địa danh mịt mùng xa xôi: Bình Định, Bồng Sơn, Tam Quan, Sa Huỳnh, Phá Tam Giang...tiếp nối trên đầu mỗi cánh thư đầy ắp yêu thương của Tân gởi về; một thứ hạnh phúc nhỏ nhoi mà nhiều lần Quỳnh đã mang vào giấc ngủ.
Tình yêu qua những cánh thư đã làm Quỳnh trưởng thành, nàng đọc báo, nghe đài phát thanh, tin tức những trận đánh lớn đã khiến nàng bỏ ăn! Đóng cửa nằm yên trong phòng một mình.
Quỳnh thường đi chùa! Một lần nghe có ông thầy ở Thủ Đức rất tài; làm phép trong tờ giấy bạc xếp thành hình tam giác, tránh được lằn tên mũi đạn. Quỳnh vội vàng thỉnh phép bọc bằng vải nhung tím, ép nylon gởi cho Tân và nàng bắt buộc Tân phải đeo bên mình, Tân phải sống để yêu thương nàng.
Những gói mè xửng, chiếc nón bài thơ! Nhận được quà của Tân gởi về Quỳnh cảm động mừng rơi nước mắt.
Đơn vị Tân tham dự hành quân vượt biên sang Lào! Lam Sơn 719. Tiểu đoàn Tân vừa được đổ xuống một đỉnh đồi, xe tăng địch đã nằm sẵn từ chân đồi dàn hàng ngang tiến lên! Cái giá của một trực thăng của Bộ Tư Lệnh Hành Quân đã bị bắn rớt! Phóng đồ hành quân đã rơi vào tay địch trước đó hai ngày. Sau hai giờ chiến đấu bằng lựu đạn, đơn vị Tân đã bị tràn ngập. Ra trường chưa được hai năm Tân đã được thăng cấp tại mặt trận hai lần và giữ chức vụ Đại Đội Trưởng.
Thân nhân gia đình đến hậu cứ đơn vị hỏi thăm tin tức về chồng con họ một cách nhiệt tình; tự nhiên. Thấy Quỳnh đứng rụt rè bỡ ngỡ, người sĩ quan hậu cứ đến hỏi:
- Xin lỗi cô tìm ai?
Quỳnh lí nhí:
- Dạ! Em muốn biết tin tức Trung Uùy Tân Đại Đội Trưởng.
- Cô là gì của Trung Úy Tân?
- Dạ! Vợ.
Má Quỳnh ửng đỏ. Người sĩ quan hậu cứ ranh mãnh trả lời nàng:
- Đơn vị đang trong vùng hành quân! Có tin tức gì tôi sẽ thông báo cho bà sau.
Chữ bà đã làm Quỳnh ngượng ngùng làm sao ấy. Nghĩ cho cùng rồi cũng đúng thôi. Quỳnh đã trao đời con gái cho Tân sau lần thăm ở Pleiku, khi Tân đang nằm điều trị ở Quân Y Viện để gắp một mảnh lựu đạn xuyên vào vai. Quỳnh chưa biết đam mê xác thịt, nàng muốn có con với Tân. Nếu lỡ Tân không về nàng còn giữ được giọt máu cho Tân! Cho mẹ Tân có người nối dõi tông đường! Quỳnh không có thời gian chọn lựa trong vòng tay Tân! Tình yêu đếm bằng phút giây với nỗi chết không rời! Tội cho Quỳnh biết bao! Khi lỡ có người yêu ngoài mặt trận.
Quỳnh tỉnh dậy trong nhà thương, khi tuần sau lên hậu cứ và được người sĩ quan trực trả lời:
- Xin thành thật chia buồn cùng bà! Trung Úy Tân được báo cáo đã mất tích.
Ba năm trời Quỳnh đi mọi nơi, hỏi không biết bao người đội mũ nâu; không nhận ra được một tin tức nào của Tân.
Những ngày cuối tháng tư năm 1975! Cộng quân đánh vào Xuân Lộc pháo kích dữ dội vào Biên Hoà; gia đình gồm cha, mẹ Quỳnh và đứa em trai di tản, sau đó định cư tại thành phố Montreal Canada.
Chuyện tình nàng và Tân phút chốc thoáng như mơ mà đã gần ba mươi năm! Một nửa đời người rồi còn gì!!!
Phi cơ ở độ cao! Quỳnh kéo chăn đắp lên ngực và thì thầm với chính mình:
- Tân ơi! Em phải về gặp anh! Dù thế nào em cũng không thể dối lòng mình được, em yêu anh suốt cuộc đời này.
Người tiếp viên thông báo, phi cơ đã vào địa phận Việt Nam.
Trước khi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, phi cơ đảo đi một vòng lớn, qua khung cửa kính Quỳnh vẫn thấy thửa ruộng, mái tranh lụp sụp, sự nghèo đói làm vòng đai rộng lớn bao quanh thành phố Sài Gòn hoa lệ.
Qua báo chí, Quỳnh biết rằng hơn bảy mươi lăm phần trăm dân tộc mình là nông dân, suốt đời úp mặt xuống bùn cũng không kiếm đủ miếng ăn cho gia đình! Cộng thêm sự áp bức, bất công! Giàu sang chỉ dành riêng cho thành phần thiểu số cai trị và tất cả thảm trạng đó điều xuất phát ở cấp lãnh đạo có vầng trán quá thấp! Với vầng trán đó, họ đưa một dân tộc cần cù siêng năng thông minh trở nên nghèo đói nhất thế giới. Sài Gòn bây giờ là ô nhiễm, xe cộ đủ loại chen chúc luồn lách vô trật tự! Sự công xúc tu sỉ xảy ra ở mọi gốc cây, nhiều lần Quỳnh phải quay mặt đi vì hổ thẹn.
Ra xa cảng miền Tây, đón xe tốc hành, Quỳnh về Trà Vinh, thành phố Quỳnh đến lần đầu. Quỳnh xuống xe với hai chiếc va li nặng trĩu. Ngơ ngác cố nhớ lời Trang tả; nàng đi lần về phía đầu chợ; thành phố đã lên đèn.
Hàng chục anh xe lôi, xúm quanh hỏi Quỳnh về đâu? Nàng hỏi thăm Tân, cụt chân bán vé số ở đầu phố chợ. Có người nhanh nhẩu trả lời:
- Trung úy Tân! Biệt động Quân bán vé số! Cô lên xe tôi chở đến nhà ổng cho.
- Tân! Biệt Động Quân! Những tiếng thân thương Quỳnh mừng khôn tả.
Quỳnh đền ơn người chạy xe lôi hậu hĩnh! Trước khi mở cổng bước vào căn nhà ngói ba gian loang lổ gạch vôi nói lên đời sống khó khăn của chủ nhân nó. Quỳnh đưa tay đè lên trái tim, nén xúc động, Quỳnh gõ cửa. Người đàn ông chống nạng bước ra! Nhìn sững nàng! Miệng há hốc kinh ngạc! Đất như sụp dưới chân Quỳnh.
Tân không còn tin ở mắt mình:
- Có phải Quỳnh của anh đây không?
Nàng phóng tới ôm chầm lấy Tân:
- Vâng, em đây! Quỳnh của anh đây.
Ngoài ngõ, hàng xóm và trẻ em thật đông, tò mò nhìn vào. Người đàn bà tóc bạc như cước, từ nhà sau bước ra lắp bắp hỏi Tân:
- Cô này là ai vậy con?
Tân trả lời mẹ trong xúc động:
- Thưa má! Quỳnh bạn con.
Quỳnh chắp tay lễ phép chào bà. Mẹ Tân bước tới ôm tay Quỳnh vừa mếu máo khóc, vừa nói:
- Thằng Tân gặp lại con! Bây giờ có chết bác cũng vui lòng.
Mẹ Tân vén tay áo lau nước mắt. Tân chống nạng phụ Quỳnh mang mấy va li vào nhà.
Quỳnh đi tắm, thay đồ mát và bữa cơm đạm bạc được dọn ra gồm: một tô mắm chưng, hai trái cà nâu nướng chan nước mắm tỏi ớt, một dĩa bông so đũa luộc. Ba người cầm đũa, Quỳnh ăn thật ngon miệng! Mấy chục năm ở Canada làm gì có những món này. Tân và mẹ nhìn Quỳnh ăn một cách ái ngại.
Gắp cho Quỳnh bông so đũa luộc, mẹ Tân hỏi Quỳnh:
- Cháu ở đâu về? Lập gia đình được mấy đứa con rồi?
Nàng liếc sang Tân, hình như anh hồi hộp chờ câu trả lời của Quỳnh.
- Thưa Bác, con ở Canada về! Con chưa lập gia đình. Dạ thưa bác, nãy giờ con quên hỏi thăm về vợ con anh Tân.
Tân ngượng ngùng cúi đầu và mẹ Tân cười! Niềm vui trong ánh mắt:
- Bác đã tám mươi tuổi rồi! Thèm cháu nội lắm. Thằng Tân nhiều lần tâm sự với bác, thân nó tật nguyền và suốt đời nói chỉ thương mỗi mình con thôi! Có mấy mối được lắm, nết na có học, nhưng nó đều từ chối. Mỗi chiều bán vé số về tắm rửa cơm nước xong, nó nằm trên võng mắt nhìn lên tấm ảnh nó và con chụp chung chưng trên bàn viết đó! Tay đàn, miệng hát tới khuya. Lần nào bác cũng nghe nó hát bản...Em lây cu...lây cưa...gì đó. Nó hát bản đó hoài sao không chán. Nó nói bản nhạc đó là cuộc đời nó.
- Nghe xong, Quỳnh buông đũa, ngưng ăn! Nắm chặt tay Tân và Quỳnh quay mặt đi để dấu dòng nước mắt tuôn trào. Hồi lâu, nén xúc động, nghẹn ngào Quỳnh hỏi:
- Anh thương em nhiều đến thế sao Tân?
Tân xoa xoa vai Quỳnh giọng như muốn khóc:
- Quỳnh! Em có biết tình yêu và hình bóng em đã nuôi sống cuộc đời tật nguyền của anh.
Hai người dìu nhau ra ngồi trên băng đá trước hiên nhà. Gió đi lào xào trên tàng cây vú sữa xum xuê trước ngõ, với giọng xúc động, Tân kể lại diễn biến cuộc hành quân sang Lào! Thiết giáp Cộng quân tràn ngập đơn vị, Tân bị đạn đại liên tiện đi mất chân trái. Tân bị bắt làm tù binh, bị giam cầm tại các tỉnh thượng du Bắc Việt, mười ba năm bị giam cầm, cách biệt với thế giới bên ngoài! Mười ba năm ở địa ngục trần gian.
Năm 1985 họ thả anh, về đây sống với đời buồn tủi tật nguyền, hằng ngày anh đi bán vé số! Hai mẹ con sống cuộc đời cháo rau túng thiếu trong căn nhà kỉ niệm của ba anh, người sĩ quan dù đã chết trong trận Điện Biên Phủ.
Quỳnh cũng kể cho Tân nghe! Từ năm 1972 sau nhiều lần hỏi thăm, kiếm tìm, đơn vị cho biết Tân đã mất tích.
Tháng 4 năm 1975 gia đình nàng di tản và định cư tại Canada; cha mẹ nàng đã qua đời! Nàng làm việc ở một bệnh viện, em trai nàng đỗ bác sĩ đã lập gia đình được hai con.
Riêng Quỳnh vẫn ở vậy. Em nghĩ rằng anh đã chết và em sẽ sống với hình bóng anh suốt cuộc đời này. Bây giờ đang ngồi bên anh em cứ nghĩ mình nằm mơ.
Tân cúi xuống, vén tóc Quỳnh, hai người hôn nhau say đắm! Một nụ hôn của ba mươi năm và dài bằng nửa vòng trái đất.
Buông nhau ra, Quỳnh nũng nịu:
- Em muốn anh đàn và hát cho em nghe.
Tân gật đầu và Quỳnh vào nhà mang đàn ra. Dáng hao gầy, gương mặt nhiều nét kỷ hà học, dạo phiếm và Tân cất tiếng hát! Lời bài hát của một thi sĩ té lầu chết trong một cơn say và Phạm Duy phổ nhạc:
“Phố núi cao phố núi đầy sương
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
Anh khách lạ đi lên đi xuống
May mà có em, đời còn dễ thương...”
Tân có ngón đàn thật điêu luyện! Giọng hát khàn đục chuyên chở nỗi niềm chia sẻ, xuyên suốt tim Quỳnh; trôi về thành phố núi của những cô gái má đỏ môi hồng, mái tóc ướt mềm! Thành phố đi năm phút đã về chốn cũ và trong khách sạn Bồng Lai, trên chiếc giường ra trắng muốt, nàng đã trao thân cho Tân trong một đêm mưa kéo dài.
Trời thật khuya! Trăng thượng tuần sáng vằng vặc. Quỳnh theo Tân vào phòng! Chiếc giường ngủ trải chiếu bông! Quỳnh ngất ngây trong vòng tay Tân! Mùi đàn ông, mùi nếp non rạ mới đã làm Quỳnh phiêu diêu trong hoan lạc tột cùng. Rõ ràng “đêm nay mới thật là đêm - ai đem trăng sáng trải lên vườn chè”.
Suốt ba tuần lễ ở nhà Tân! Quỳnh và mẹ Tân đi sắm đồ trang trí lại nhà cửa theo sự yêu cầu nhiều lần của Quỳnh. Quỳnh thuê một chiếc xe du lịch đưa mẹ, Tân và Quỳnh ngắm cảnh Ao Bà Ôm, Tân chỉ cho Quỳnh nơi chú Đạt hôn cháu Diễm trong phim Yêu của Chu Tử do tài tử Anh Ngọc và Thanh Lan đóng. Những hàng cổ thụ, rễ dâng cao trên mặt đất! Mặt hồ gió mát! Phong cảnh tuyệt vời. Ba người cũng đi ngắm biển Long Toàn với những đồi cát chập chùng và những bữa ăn cua luộc ngon nhớ đời.
Bên Quỳnh, Tân như trẻ lại! ăên nói hào sảng như ngày nào, khoác áo hoa rừng và đội chiếc mũ nâu.
Khỏi phải nói! Mẹ Tân thương quýù Quỳnh qua cách đối xưa phải đạo của nàg! Nhiều lần bà cảm ơn Quỳnh đã mang về đây niềm vui, hạnh phúc cho Tân! Đứa con trai duy nhất và cũng là tài sản của đời bà.
Riêng Quỳnh, sau nhiều đêm ngỏ lời! Trước khi chấp nhận, Tân hỏi Quỳnh suy nghĩ kỹ chưa khi chọn một người tật nguyền làm chồng.
Quỳnh chọn căn nhà cũ kỹ! Có giếng nước mát lạnh, tàng cây vú sữa cho bóng mát suốt ngày, làm nơi cư trú suốt đời bên tình yêu nồng nàn của Tân.
Quỳnh cùng Tân dạo phố! Không một mặc cảm ngại ngùng nào “bên người yêu tật nguyền chai đá”. Trái lại, Quỳnh còn thầm hãnh diện có người chồng đã hy sinh một phần thân thể cho quê hương đất nước.
Trước khi Quỳnh trở lại Canada, gia đình Tân tổ chức một bữa tiệc, mời một ít bà con và một số hàng xóm cạnh nhà để tuyên bố lễ cưới giữa Tân và Quỳnh. Mọi người đều cảm động trước mối tình nồng thắm, cách chia gần ba mươi năm của hai người. Trong tiệc cưới, mẹ Tân đã không cầm được nước mắt khi nhìn thấy hạnh phúc của con trai mình.
Ba tháng sau, trên chuyến bay Cathay Pacific Airline, Quỳnh đã thu xếp mọi việc ổn thỏa để trở về sống suốt đời ở Việt Nam bên cạnh Tân - chồng nàng.
Khách cùng chuyến bay ngưỡng mộ nhìn Quỳnh, tay xách túi nhỏ và vai mang một hộp da như đựng nhạc khí kèn đồng.
Trong quầy khám hành lý! Nhân viên hải quan hách dịch hỏi nàng:
- Sao không thấy bà kê khai hộp da bà mang trên vai. Chúng tôi được lệnh khám xét.
Quỳnh mở dây kéo! Mọi người đều ồ!!! lên một tiếng, ngạc nhiên bên trong lót lớp nỉ đỏ! Không có thứ nhạc cụ nào cả mà là một cái chân giả tuyệt đẹp.
- Bà mang chân giả này về cho ai? Nguyên do nào người này bị tật? Viên hải quan gắt gỏng.
Quỳnh trả lời một cách bình tĩnh:
- Nếu ở phi trường nước khác, tôi sẽ từ chối trả lời câu hỏi này. Nhưng ở đây tôi xin trả lời ông: Tôi mang chân giả này về cho chồng tôi! Anh bị thương trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở chiến trường Hạ Lào.
- Sau một lúc bàn thảo! Hải quan đồng ý cho Quỳnh đi. Đẩy xe hành lý bước nhanh một đỗi, Quỳnh còn nghe rõ câu nói hằn học lớn tiếng sau lưng:
- Mẹ nó! Mấy thằng thương binh ngụy bây giờ có giá dữ ha!!!
Quỳnh mỉm cười bước nhanh khi nhìn thấy Tân và mẹ vẫy tay chào nàng ngoài khung của kính bên kia đường
(trích trong tập truyện Tám Hổ của Nhà Văn Tường Lam )
Tường Lam
Quỳnh lấy vé máy bay về Việt Nam một cách vội vàng, mấy ngày nay nàng ăn, nói, đi, đứng như người mộng du.
Tình cờ sang Cali dự đám cưới người cháu, Quỳnh gặp lại Trang, người bạn học thân nhất, ngồi cạnh nhau trong giảng đường Văn Khoa. Trang cho Quỳnh biết mới sang Mỹ được hai tháng. Trước khi đi Trang về thăm quê nội ở Trà Vinh và đã gặp Tân! Thương binh cụt một chân, ngồi bán vé số ngoài vỉa hè độ nhật.
Nghe tin Tân còn sống, tim Quỳnh co thắt, toát mồ hôi và xây xẩm cả mặt mày. Quỳnh thì thầm như người mất hồn. “Trời ơi! Tân ơi! Anh còn sống sao? Mấy chục năm rồi, Tân ơi! Anh có biết rằng em tiếc thương anh ngần nào không? Cám ơn trời Phật đã cho Tân còn sống!!!” Dù hoàn cảnh thế nào Quỳnh cũng phải trở về gặp lại Tân! Gặp lại sự sống của chính nàng.
Theo gia đình Trang dự lễ mãn khóa 22 sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Ngồi trên khán đài trong Vũ Đình Trường, sau bài diễn văn của Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng, tiếng loa uy nghi dõng dạc:
- Quỳ xuống các sinh viên sĩ quan.
Sinh viên sĩ quan thủ khoa nhận kiếm, cung bắn đi bốn hướng tượng trưng chí trai tang bồng hồ thỉ, sau khi hàng ngàn sinh viên khác nhịp nhàng quỳ xuống thẳng hàng để được gắn cấp bậc sĩ quan.
- Đứng lên các tân sĩ quan.
Chỉ cần hai động tác quỳ xuống, đứng lên với cấp bậc trên cầu vai biết bao tháng ngày gian lao! Những bữa cơm chan mồ hôi, nước mưa trong rừng cao su ... Ngoài bãi tập và biết bao gian nguy ngoài chiến trường chờ đón họ! Sau mười ngày phép cuối khóa của những người trai trong thời ly loạn! Phải “xếp bút nghiên theo việc đao cung”.
Trên hai mươi năm qua rồi, đêm mãn khóa bập bùng kỷ niệm vẫn còn mới nguyên trong tâm hồn Quỳnh, đêm định mệnh để Quỳnh quen Tân do anh trai Trang; người bạn cùng khóa với Tân giới thiệu.
Ngồi trong xe cạnh nhau, hai người chỉ trao đổi những lời thăm hỏi xã giao chừng mực. Ở Tân, Quỳnh thấy người con trai đã được tôi luyện qua gian lao, nắng mưa quân trường, tóc hớt cao, nước da bánh mật sạm nắng, tự dưng với tuổi mười bảy của đứa con gái mới lớn, Quỳnh thấy thương và tội nghiệp Tân quá đi thôi. Tân từ biệt mọi người – sau khi xin địa chỉ Quỳnh -ra bến xe miền Tây về quê thăm mẹ! Tân chỉ có hai mẹ con.
Trước ngày ra đơn vị, Tân chọn binh chủng mũ nâu Biệt Động Quân như lời tâm sự: “Không đi lính thì thôi, đi phải chọn binh chủng xứng đáng và phải đánh đấm ra trò”. Tân có đến thăm Quỳnh đi phố, ăn trưa và trong bóng tối rạp Ciné Lê Lợi, cầm tay Quỳnh, Tân nói lời từ giã:
- Mai anh đi! Quỳnh ở lại vui! Ráng học giỏi.
Tân ra đơn vị, Quỳnh thấy hụt hẫng trong lòng và tình cờ tình tiết thương tâm trong cuốn phim “Le temps d’aimer c’est le temps de mourir” mà Quỳnh và Tân đã xem! Suốt thời gian dài sau này Quỳnh cứ tự hỏi: “Tại sao có một thời để yêu lại phải có một thời để chết???”.
Chiến trận đã cuốn Tân đi biền biệt! Những địa danh mịt mùng xa xôi: Bình Định, Bồng Sơn, Tam Quan, Sa Huỳnh, Phá Tam Giang...tiếp nối trên đầu mỗi cánh thư đầy ắp yêu thương của Tân gởi về; một thứ hạnh phúc nhỏ nhoi mà nhiều lần Quỳnh đã mang vào giấc ngủ.
Tình yêu qua những cánh thư đã làm Quỳnh trưởng thành, nàng đọc báo, nghe đài phát thanh, tin tức những trận đánh lớn đã khiến nàng bỏ ăn! Đóng cửa nằm yên trong phòng một mình.
Quỳnh thường đi chùa! Một lần nghe có ông thầy ở Thủ Đức rất tài; làm phép trong tờ giấy bạc xếp thành hình tam giác, tránh được lằn tên mũi đạn. Quỳnh vội vàng thỉnh phép bọc bằng vải nhung tím, ép nylon gởi cho Tân và nàng bắt buộc Tân phải đeo bên mình, Tân phải sống để yêu thương nàng.
Những gói mè xửng, chiếc nón bài thơ! Nhận được quà của Tân gởi về Quỳnh cảm động mừng rơi nước mắt.
Đơn vị Tân tham dự hành quân vượt biên sang Lào! Lam Sơn 719. Tiểu đoàn Tân vừa được đổ xuống một đỉnh đồi, xe tăng địch đã nằm sẵn từ chân đồi dàn hàng ngang tiến lên! Cái giá của một trực thăng của Bộ Tư Lệnh Hành Quân đã bị bắn rớt! Phóng đồ hành quân đã rơi vào tay địch trước đó hai ngày. Sau hai giờ chiến đấu bằng lựu đạn, đơn vị Tân đã bị tràn ngập. Ra trường chưa được hai năm Tân đã được thăng cấp tại mặt trận hai lần và giữ chức vụ Đại Đội Trưởng.
Thân nhân gia đình đến hậu cứ đơn vị hỏi thăm tin tức về chồng con họ một cách nhiệt tình; tự nhiên. Thấy Quỳnh đứng rụt rè bỡ ngỡ, người sĩ quan hậu cứ đến hỏi:
- Xin lỗi cô tìm ai?
Quỳnh lí nhí:
- Dạ! Em muốn biết tin tức Trung Uùy Tân Đại Đội Trưởng.
- Cô là gì của Trung Úy Tân?
- Dạ! Vợ.
Má Quỳnh ửng đỏ. Người sĩ quan hậu cứ ranh mãnh trả lời nàng:
- Đơn vị đang trong vùng hành quân! Có tin tức gì tôi sẽ thông báo cho bà sau.
Chữ bà đã làm Quỳnh ngượng ngùng làm sao ấy. Nghĩ cho cùng rồi cũng đúng thôi. Quỳnh đã trao đời con gái cho Tân sau lần thăm ở Pleiku, khi Tân đang nằm điều trị ở Quân Y Viện để gắp một mảnh lựu đạn xuyên vào vai. Quỳnh chưa biết đam mê xác thịt, nàng muốn có con với Tân. Nếu lỡ Tân không về nàng còn giữ được giọt máu cho Tân! Cho mẹ Tân có người nối dõi tông đường! Quỳnh không có thời gian chọn lựa trong vòng tay Tân! Tình yêu đếm bằng phút giây với nỗi chết không rời! Tội cho Quỳnh biết bao! Khi lỡ có người yêu ngoài mặt trận.
Quỳnh tỉnh dậy trong nhà thương, khi tuần sau lên hậu cứ và được người sĩ quan trực trả lời:
- Xin thành thật chia buồn cùng bà! Trung Úy Tân được báo cáo đã mất tích.
Ba năm trời Quỳnh đi mọi nơi, hỏi không biết bao người đội mũ nâu; không nhận ra được một tin tức nào của Tân.
Những ngày cuối tháng tư năm 1975! Cộng quân đánh vào Xuân Lộc pháo kích dữ dội vào Biên Hoà; gia đình gồm cha, mẹ Quỳnh và đứa em trai di tản, sau đó định cư tại thành phố Montreal Canada.
Chuyện tình nàng và Tân phút chốc thoáng như mơ mà đã gần ba mươi năm! Một nửa đời người rồi còn gì!!!
Phi cơ ở độ cao! Quỳnh kéo chăn đắp lên ngực và thì thầm với chính mình:
- Tân ơi! Em phải về gặp anh! Dù thế nào em cũng không thể dối lòng mình được, em yêu anh suốt cuộc đời này.
Người tiếp viên thông báo, phi cơ đã vào địa phận Việt Nam.
Trước khi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, phi cơ đảo đi một vòng lớn, qua khung cửa kính Quỳnh vẫn thấy thửa ruộng, mái tranh lụp sụp, sự nghèo đói làm vòng đai rộng lớn bao quanh thành phố Sài Gòn hoa lệ.
Qua báo chí, Quỳnh biết rằng hơn bảy mươi lăm phần trăm dân tộc mình là nông dân, suốt đời úp mặt xuống bùn cũng không kiếm đủ miếng ăn cho gia đình! Cộng thêm sự áp bức, bất công! Giàu sang chỉ dành riêng cho thành phần thiểu số cai trị và tất cả thảm trạng đó điều xuất phát ở cấp lãnh đạo có vầng trán quá thấp! Với vầng trán đó, họ đưa một dân tộc cần cù siêng năng thông minh trở nên nghèo đói nhất thế giới. Sài Gòn bây giờ là ô nhiễm, xe cộ đủ loại chen chúc luồn lách vô trật tự! Sự công xúc tu sỉ xảy ra ở mọi gốc cây, nhiều lần Quỳnh phải quay mặt đi vì hổ thẹn.
Ra xa cảng miền Tây, đón xe tốc hành, Quỳnh về Trà Vinh, thành phố Quỳnh đến lần đầu. Quỳnh xuống xe với hai chiếc va li nặng trĩu. Ngơ ngác cố nhớ lời Trang tả; nàng đi lần về phía đầu chợ; thành phố đã lên đèn.
Hàng chục anh xe lôi, xúm quanh hỏi Quỳnh về đâu? Nàng hỏi thăm Tân, cụt chân bán vé số ở đầu phố chợ. Có người nhanh nhẩu trả lời:
- Trung úy Tân! Biệt động Quân bán vé số! Cô lên xe tôi chở đến nhà ổng cho.
- Tân! Biệt Động Quân! Những tiếng thân thương Quỳnh mừng khôn tả.
Quỳnh đền ơn người chạy xe lôi hậu hĩnh! Trước khi mở cổng bước vào căn nhà ngói ba gian loang lổ gạch vôi nói lên đời sống khó khăn của chủ nhân nó. Quỳnh đưa tay đè lên trái tim, nén xúc động, Quỳnh gõ cửa. Người đàn ông chống nạng bước ra! Nhìn sững nàng! Miệng há hốc kinh ngạc! Đất như sụp dưới chân Quỳnh.
Tân không còn tin ở mắt mình:
- Có phải Quỳnh của anh đây không?
Nàng phóng tới ôm chầm lấy Tân:
- Vâng, em đây! Quỳnh của anh đây.
Ngoài ngõ, hàng xóm và trẻ em thật đông, tò mò nhìn vào. Người đàn bà tóc bạc như cước, từ nhà sau bước ra lắp bắp hỏi Tân:
- Cô này là ai vậy con?
Tân trả lời mẹ trong xúc động:
- Thưa má! Quỳnh bạn con.
Quỳnh chắp tay lễ phép chào bà. Mẹ Tân bước tới ôm tay Quỳnh vừa mếu máo khóc, vừa nói:
- Thằng Tân gặp lại con! Bây giờ có chết bác cũng vui lòng.
Mẹ Tân vén tay áo lau nước mắt. Tân chống nạng phụ Quỳnh mang mấy va li vào nhà.
Quỳnh đi tắm, thay đồ mát và bữa cơm đạm bạc được dọn ra gồm: một tô mắm chưng, hai trái cà nâu nướng chan nước mắm tỏi ớt, một dĩa bông so đũa luộc. Ba người cầm đũa, Quỳnh ăn thật ngon miệng! Mấy chục năm ở Canada làm gì có những món này. Tân và mẹ nhìn Quỳnh ăn một cách ái ngại.
Gắp cho Quỳnh bông so đũa luộc, mẹ Tân hỏi Quỳnh:
- Cháu ở đâu về? Lập gia đình được mấy đứa con rồi?
Nàng liếc sang Tân, hình như anh hồi hộp chờ câu trả lời của Quỳnh.
- Thưa Bác, con ở Canada về! Con chưa lập gia đình. Dạ thưa bác, nãy giờ con quên hỏi thăm về vợ con anh Tân.
Tân ngượng ngùng cúi đầu và mẹ Tân cười! Niềm vui trong ánh mắt:
- Bác đã tám mươi tuổi rồi! Thèm cháu nội lắm. Thằng Tân nhiều lần tâm sự với bác, thân nó tật nguyền và suốt đời nói chỉ thương mỗi mình con thôi! Có mấy mối được lắm, nết na có học, nhưng nó đều từ chối. Mỗi chiều bán vé số về tắm rửa cơm nước xong, nó nằm trên võng mắt nhìn lên tấm ảnh nó và con chụp chung chưng trên bàn viết đó! Tay đàn, miệng hát tới khuya. Lần nào bác cũng nghe nó hát bản...Em lây cu...lây cưa...gì đó. Nó hát bản đó hoài sao không chán. Nó nói bản nhạc đó là cuộc đời nó.
- Nghe xong, Quỳnh buông đũa, ngưng ăn! Nắm chặt tay Tân và Quỳnh quay mặt đi để dấu dòng nước mắt tuôn trào. Hồi lâu, nén xúc động, nghẹn ngào Quỳnh hỏi:
- Anh thương em nhiều đến thế sao Tân?
Tân xoa xoa vai Quỳnh giọng như muốn khóc:
- Quỳnh! Em có biết tình yêu và hình bóng em đã nuôi sống cuộc đời tật nguyền của anh.
Hai người dìu nhau ra ngồi trên băng đá trước hiên nhà. Gió đi lào xào trên tàng cây vú sữa xum xuê trước ngõ, với giọng xúc động, Tân kể lại diễn biến cuộc hành quân sang Lào! Thiết giáp Cộng quân tràn ngập đơn vị, Tân bị đạn đại liên tiện đi mất chân trái. Tân bị bắt làm tù binh, bị giam cầm tại các tỉnh thượng du Bắc Việt, mười ba năm bị giam cầm, cách biệt với thế giới bên ngoài! Mười ba năm ở địa ngục trần gian.
Năm 1985 họ thả anh, về đây sống với đời buồn tủi tật nguyền, hằng ngày anh đi bán vé số! Hai mẹ con sống cuộc đời cháo rau túng thiếu trong căn nhà kỉ niệm của ba anh, người sĩ quan dù đã chết trong trận Điện Biên Phủ.
Quỳnh cũng kể cho Tân nghe! Từ năm 1972 sau nhiều lần hỏi thăm, kiếm tìm, đơn vị cho biết Tân đã mất tích.
Tháng 4 năm 1975 gia đình nàng di tản và định cư tại Canada; cha mẹ nàng đã qua đời! Nàng làm việc ở một bệnh viện, em trai nàng đỗ bác sĩ đã lập gia đình được hai con.
Riêng Quỳnh vẫn ở vậy. Em nghĩ rằng anh đã chết và em sẽ sống với hình bóng anh suốt cuộc đời này. Bây giờ đang ngồi bên anh em cứ nghĩ mình nằm mơ.
Tân cúi xuống, vén tóc Quỳnh, hai người hôn nhau say đắm! Một nụ hôn của ba mươi năm và dài bằng nửa vòng trái đất.
Buông nhau ra, Quỳnh nũng nịu:
- Em muốn anh đàn và hát cho em nghe.
Tân gật đầu và Quỳnh vào nhà mang đàn ra. Dáng hao gầy, gương mặt nhiều nét kỷ hà học, dạo phiếm và Tân cất tiếng hát! Lời bài hát của một thi sĩ té lầu chết trong một cơn say và Phạm Duy phổ nhạc:
“Phố núi cao phố núi đầy sương
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
Anh khách lạ đi lên đi xuống
May mà có em, đời còn dễ thương...”
Tân có ngón đàn thật điêu luyện! Giọng hát khàn đục chuyên chở nỗi niềm chia sẻ, xuyên suốt tim Quỳnh; trôi về thành phố núi của những cô gái má đỏ môi hồng, mái tóc ướt mềm! Thành phố đi năm phút đã về chốn cũ và trong khách sạn Bồng Lai, trên chiếc giường ra trắng muốt, nàng đã trao thân cho Tân trong một đêm mưa kéo dài.
Trời thật khuya! Trăng thượng tuần sáng vằng vặc. Quỳnh theo Tân vào phòng! Chiếc giường ngủ trải chiếu bông! Quỳnh ngất ngây trong vòng tay Tân! Mùi đàn ông, mùi nếp non rạ mới đã làm Quỳnh phiêu diêu trong hoan lạc tột cùng. Rõ ràng “đêm nay mới thật là đêm - ai đem trăng sáng trải lên vườn chè”.
Suốt ba tuần lễ ở nhà Tân! Quỳnh và mẹ Tân đi sắm đồ trang trí lại nhà cửa theo sự yêu cầu nhiều lần của Quỳnh. Quỳnh thuê một chiếc xe du lịch đưa mẹ, Tân và Quỳnh ngắm cảnh Ao Bà Ôm, Tân chỉ cho Quỳnh nơi chú Đạt hôn cháu Diễm trong phim Yêu của Chu Tử do tài tử Anh Ngọc và Thanh Lan đóng. Những hàng cổ thụ, rễ dâng cao trên mặt đất! Mặt hồ gió mát! Phong cảnh tuyệt vời. Ba người cũng đi ngắm biển Long Toàn với những đồi cát chập chùng và những bữa ăn cua luộc ngon nhớ đời.
Bên Quỳnh, Tân như trẻ lại! ăên nói hào sảng như ngày nào, khoác áo hoa rừng và đội chiếc mũ nâu.
Khỏi phải nói! Mẹ Tân thương quýù Quỳnh qua cách đối xưa phải đạo của nàg! Nhiều lần bà cảm ơn Quỳnh đã mang về đây niềm vui, hạnh phúc cho Tân! Đứa con trai duy nhất và cũng là tài sản của đời bà.
Riêng Quỳnh, sau nhiều đêm ngỏ lời! Trước khi chấp nhận, Tân hỏi Quỳnh suy nghĩ kỹ chưa khi chọn một người tật nguyền làm chồng.
Quỳnh chọn căn nhà cũ kỹ! Có giếng nước mát lạnh, tàng cây vú sữa cho bóng mát suốt ngày, làm nơi cư trú suốt đời bên tình yêu nồng nàn của Tân.
Quỳnh cùng Tân dạo phố! Không một mặc cảm ngại ngùng nào “bên người yêu tật nguyền chai đá”. Trái lại, Quỳnh còn thầm hãnh diện có người chồng đã hy sinh một phần thân thể cho quê hương đất nước.
Trước khi Quỳnh trở lại Canada, gia đình Tân tổ chức một bữa tiệc, mời một ít bà con và một số hàng xóm cạnh nhà để tuyên bố lễ cưới giữa Tân và Quỳnh. Mọi người đều cảm động trước mối tình nồng thắm, cách chia gần ba mươi năm của hai người. Trong tiệc cưới, mẹ Tân đã không cầm được nước mắt khi nhìn thấy hạnh phúc của con trai mình.
Ba tháng sau, trên chuyến bay Cathay Pacific Airline, Quỳnh đã thu xếp mọi việc ổn thỏa để trở về sống suốt đời ở Việt Nam bên cạnh Tân - chồng nàng.
Khách cùng chuyến bay ngưỡng mộ nhìn Quỳnh, tay xách túi nhỏ và vai mang một hộp da như đựng nhạc khí kèn đồng.
Trong quầy khám hành lý! Nhân viên hải quan hách dịch hỏi nàng:
- Sao không thấy bà kê khai hộp da bà mang trên vai. Chúng tôi được lệnh khám xét.
Quỳnh mở dây kéo! Mọi người đều ồ!!! lên một tiếng, ngạc nhiên bên trong lót lớp nỉ đỏ! Không có thứ nhạc cụ nào cả mà là một cái chân giả tuyệt đẹp.
- Bà mang chân giả này về cho ai? Nguyên do nào người này bị tật? Viên hải quan gắt gỏng.
Quỳnh trả lời một cách bình tĩnh:
- Nếu ở phi trường nước khác, tôi sẽ từ chối trả lời câu hỏi này. Nhưng ở đây tôi xin trả lời ông: Tôi mang chân giả này về cho chồng tôi! Anh bị thương trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở chiến trường Hạ Lào.
- Sau một lúc bàn thảo! Hải quan đồng ý cho Quỳnh đi. Đẩy xe hành lý bước nhanh một đỗi, Quỳnh còn nghe rõ câu nói hằn học lớn tiếng sau lưng:
- Mẹ nó! Mấy thằng thương binh ngụy bây giờ có giá dữ ha!!!
Quỳnh mỉm cười bước nhanh khi nhìn thấy Tân và mẹ vẫy tay chào nàng ngoài khung của kính bên kia đường
(trích trong tập truyện Tám Hổ của Nhà Văn Tường Lam )
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
VĨNH BIỆT TRUNG TƯỚNG VĨNH LỘC
Tin từ Texas cho biết Cựu Trung tướng Vĩnh Lộc pháp danh Minh Tâm Cựu Tổng Tham mưu Trưởng QLVNCH (cuối cùng ) - Cựu Chỉ huy trưởng trường Cao Đẳng Quốc Phòng - Cựu Tư lệnh Quân Đoàn 2 và Quân khu 2 đã từ trần vào lúc 4 giờ 30 sáng ngày 8 tháng 1 năm 2009 hưởng thọ 86 Tuổi .
Nhân dịp đau buồn này xin chia buồn cùng nữ ca sĩ Minh Hiếu và tang quyến. Nguyện cầu hương linh Trung tướng Vĩnh Lộc sớm về Cõi Di Đà của Đức Phật A Di Đà .
Nam mô tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật .
Tin từ Texas cho biết Cựu Trung tướng Vĩnh Lộc pháp danh Minh Tâm Cựu Tổng Tham mưu Trưởng QLVNCH (cuối cùng ) - Cựu Chỉ huy trưởng trường Cao Đẳng Quốc Phòng - Cựu Tư lệnh Quân Đoàn 2 và Quân khu 2 đã từ trần vào lúc 4 giờ 30 sáng ngày 8 tháng 1 năm 2009 hưởng thọ 86 Tuổi .
Nhân dịp đau buồn này xin chia buồn cùng nữ ca sĩ Minh Hiếu và tang quyến. Nguyện cầu hương linh Trung tướng Vĩnh Lộc sớm về Cõi Di Đà của Đức Phật A Di Đà .
Nam mô tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật .
Những người lính của sình lầy dự hội ngộ Tất Niên
Tuesday, January 06, 2009

Những người vợ chung thủy của Biệt Ðộng Quân, đã qua những gian lao cùng chồng trong suốt cuộc chiến Việt Nam,
nay đang cùng chồng cất lên những tiếng hát chiến đấu trong các khúc quân hành.

Ðại diện Tổng Hội BÐQ và Hội BÐQ Nam Cali đang làm lễ trước bàn thờ Tổ Quốc, tưởng niệm đến những chiến hữu đã vị quốc vong thân. Bài và hình: Nguyên Huy/Người Việt
Lính Biệt Ðộng Quân (BÐQ) của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) thường được gọi là những người lính của sình lầy. Rất nhiều các sĩ quan và hạ sĩ quan đã được theo học các khóa học chống du kích tại Mã Lai, nơi quân đội Hoàng Gia Anh và Mã Lai trao cho những kinh nghiệm chống du kích Mã Cộng đã thành công.
Trên thực tế, người lính Biệt Ðộng Quân VNCH là một đội quân trừ bị chiến lược của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH cùng với Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến, nên người lính Biệt Ðộng Quân VNCH không chỉ là những chuyên viên diệt giặc nơi bùn lầy thuộc Vùng 4 Chiến Thuật mà họ còn có mặt khắp nơi bất kể rừng sâu, biên giới.
Tháng năm chiến trận liên tục khiến người lính Biệt Ðộng Quân VNCH coi nhau như ruột thịt, bởi cận kề cái chết từng phút từng giờ, bên cạnh mình chỉ là những người lính cùng đơn vị, che chở cho nhau, tiếp cứu lẫn nhau và có khi chết trên tay nhau nữa. Mối tình ấy không có trong đời thường nên sau hơn 33 năm giã từ vũ khí, người lính Biệt Ðộng Quân lúc nào cũng mong mỏi gặp gỡ nhau để nhớ lại những ngày tung hoành oanh liệt mà chỉ có thể kể cho nhau nghe mới có được thông cảm mà thôi.
Vào tối hôm Chủ Nhật 4 Tháng Giêng vừa qua, hơn 400 anh em cựu chiến sĩ BÐQ lại có cuộc gặp mặt tất niên “ta,” tân niên “tây” tại nhà hàng Emerald Bay do Hội BÐQ Nam California tổ chức đến lần thứ 20. Biệt Ðộng Quân Nguyễn Thế Ðỉnh, có tục danh là Ðỉnh Ðầu Bạc, trong ban tổ chức cho biết, “Nào ai nhớ là bao nhiêu lần. Chỉ biết rằng cứ sau mỗi lần gặp là nhiều anh em lại hỏi kỳ tới là ngày nào. Hình như bao nhiêu lần gặp gỡ ấy, anh em đều thấy chưa đủ cho nhau.”
Nếu như trước 1975, người dân miền Nam quá quen thuộc với những người lính mũ nâu mà quân phục thường còn đầy bùn đất thì sau 1975 đồng hương tị nạn cộng sản ở khắp nơi nhất là ở Little Saigon, ít ai không biết tới những BÐQ Ngô Minh Hồng, Trần Tiễn San, Ðỗ Mạnh Trường, Nguyễn Minh Chánh, Nguyễn Thế Ðỉnh, Cai Văn Trung, Nguyễn Ngọc Chấn CNN, Nguyễn Văn Học... vì họ là những người luôn có mặt trong bất cứ một cuộc tranh đấu chống Cộng cũng như trong các sinh hoạt cộng đồng.
Trong buổi gặp gỡ lần này, những người lính BÐQ lại nhắc nhở nhau một mất mát lớn, đó là sự ra đi của người anh cả, cựu Ðại Tá Nguyễn Thành Chuẩn, cựu chỉ huy trưởng BÐQ. Một bàn thờ vọng được dựng lên bên cạnh bàn thờ Tổ Quốc trên sân khấu để anh em cùng tưởng nhớ đến người anh cả từng chung vai sát cánh anh em diệt giặc thù cứu lấy quê hương. Chủ tịch hội BÐQ Nam Cali trong lời chào mừng quan khách và thân hữu đến tham dự cùng anh em đã nhắc lại tiểu sử của người anh cả BÐQ Nguyễn Thành Chuẩn.
Xuất thân từ khóa 6 quân trường Võ Bị Quốc Gia, người lính Nguyễn Thành Chuẩn đã có mặt trong những đơn vị tác chiến anh hùng của QLVNCH. Ông cũng là tư lệnh chiến trường An Lộc. Sau Tháng Tư 1975, ông bị cộng sản bắt tập trung cải tạo và khi đến được Hoa Kỳ vào năm 1991 qua diện H.O. ông đã cùng anh em BÐQ quy tụ trong Tổng Hội BÐQ hoạt động rất tích cực và được anh em tín nhiệm trong trách nhiệm tổng hội trưởng.
Nói về người tù bất khuất Nguyễn Thành Chuẩn, niên trưởng Lê Minh Ðảo, tư lệnh SÐ18 cho biết, “Trong suốt thời gian ở trong tù cộng sản, Ðại Tá Nguyễn Thành Chuẩn lúc nào cũng là người thẳng thắn, cương quyết, giữ trọn tư cách một sĩ quan cao cấp của QLVNCH. Chính ông là người đưa được những tin tức từ bên ngoài vào qua ngả thăm nuôi để anh em được biết tình hình bên ngoài.
“Ông cũng là người ký tên vào một bức thư mà chúng tôi viết gửi cho Tổng Thống Ronald Reagan chúc mừng ông đắc cử và nói lên nghịch cảnh mà hàng trăm ngàn cựu quân cán chính VNCH đang bị cộng sản cầm tù.
“Bức thư do ba tướng và bốn đại tá ký và đã bí mật được chuyển ra ngoài rồi tới Mỹ và qua Tướng Trưởng, bức thư đã tới tay tổng thống Hoa Kỳ. Sau này tôi có dịp được ông Robert Funshett và một vị trong Hội Ðồng Cố Vấn TT xác nhận thư có đến tay Tổng Thống Reagan.”
Buổi tất niên của anh em Biệt Ðộng Quân các binh chủng bạn đều đến tham dự như Liên Hội Cựu Chiến Sĩ, Tập Thể Chiến Sĩ Tây Nam Hoa Kỳ, Hội Võ Bị, Cảnh Sát Quốc Gia (CSQG), Gia Ðình Mũ Ðỏ, Thiếu Sinh Quân, Pháo binh Thủy Quân Lục Chiến (TQLC), Cửu Long Hải Quân, thân hữu Không Quân, Quân Cán Chính Hải Ninh, và anh em trong các khóa 16, 19 Võ Bị Quốc Gia, khóa 17 Thủ Ðức. Ðiều đó cũng nói lên tình thắm thiết mà cộng đồng người Việt tị nạn dành cho anh em BÐQ không hề thay đổi.
Các niên trưởng trong QLVNCH có cựu Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo, cựu Ðại Tá TQLC Cổ Tấn Tinh Châu, cựu Ðại Tá BÐQ Lê Khắc Lý, Tổng Hội Trưởng CSQG Trần Quang An.
Nhiều đại diện BÐQ từ xa về như từ Arizona, Pennsylvania, và Bắc California cũng có mặt.
Và đương nhiên là có mặt của những người vợ chung thủy của BÐQ trong đồng phục mầu nâu đất, mầu của chiếc nón BÐQ. Những người vợ chung thủy này đã từng chia sẻ ngọt bùi với lính BÐQ trong thời chiến, thủy chung trong thời gian nan BÐQ bị tù đầy và lại sát cánh bên nhau lúc cuối đời trong các cuộc đấu tranh tự do dân chủ và nhân quyền cho đất nước cùng BÐQ.
Một dấu son cho các hoạt động của hội BÐQ là tờ báo của binh chủng này. Ðó là tập san Biệt Ðộng Quân, cơ quan ngôn luận của BÐQ. Tờ báo không bán nhưng đã được anh em trong hội hỗ trợ dư dả nên có mặt liên tục từ nhiều năm nay với những bài viết về những đơn vị cũ, những chiến trường xưa với đủ mọi khía cạnh giúp cho người viết quân sử VNCH sau nay thêm nhiều tài liệu tra cứu. (NH)
Tuesday, January 06, 2009

Những người vợ chung thủy của Biệt Ðộng Quân, đã qua những gian lao cùng chồng trong suốt cuộc chiến Việt Nam,
nay đang cùng chồng cất lên những tiếng hát chiến đấu trong các khúc quân hành.

Ðại diện Tổng Hội BÐQ và Hội BÐQ Nam Cali đang làm lễ trước bàn thờ Tổ Quốc, tưởng niệm đến những chiến hữu đã vị quốc vong thân. Bài và hình: Nguyên Huy/Người Việt
Lính Biệt Ðộng Quân (BÐQ) của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) thường được gọi là những người lính của sình lầy. Rất nhiều các sĩ quan và hạ sĩ quan đã được theo học các khóa học chống du kích tại Mã Lai, nơi quân đội Hoàng Gia Anh và Mã Lai trao cho những kinh nghiệm chống du kích Mã Cộng đã thành công.
Trên thực tế, người lính Biệt Ðộng Quân VNCH là một đội quân trừ bị chiến lược của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH cùng với Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến, nên người lính Biệt Ðộng Quân VNCH không chỉ là những chuyên viên diệt giặc nơi bùn lầy thuộc Vùng 4 Chiến Thuật mà họ còn có mặt khắp nơi bất kể rừng sâu, biên giới.
Tháng năm chiến trận liên tục khiến người lính Biệt Ðộng Quân VNCH coi nhau như ruột thịt, bởi cận kề cái chết từng phút từng giờ, bên cạnh mình chỉ là những người lính cùng đơn vị, che chở cho nhau, tiếp cứu lẫn nhau và có khi chết trên tay nhau nữa. Mối tình ấy không có trong đời thường nên sau hơn 33 năm giã từ vũ khí, người lính Biệt Ðộng Quân lúc nào cũng mong mỏi gặp gỡ nhau để nhớ lại những ngày tung hoành oanh liệt mà chỉ có thể kể cho nhau nghe mới có được thông cảm mà thôi.
Vào tối hôm Chủ Nhật 4 Tháng Giêng vừa qua, hơn 400 anh em cựu chiến sĩ BÐQ lại có cuộc gặp mặt tất niên “ta,” tân niên “tây” tại nhà hàng Emerald Bay do Hội BÐQ Nam California tổ chức đến lần thứ 20. Biệt Ðộng Quân Nguyễn Thế Ðỉnh, có tục danh là Ðỉnh Ðầu Bạc, trong ban tổ chức cho biết, “Nào ai nhớ là bao nhiêu lần. Chỉ biết rằng cứ sau mỗi lần gặp là nhiều anh em lại hỏi kỳ tới là ngày nào. Hình như bao nhiêu lần gặp gỡ ấy, anh em đều thấy chưa đủ cho nhau.”
Nếu như trước 1975, người dân miền Nam quá quen thuộc với những người lính mũ nâu mà quân phục thường còn đầy bùn đất thì sau 1975 đồng hương tị nạn cộng sản ở khắp nơi nhất là ở Little Saigon, ít ai không biết tới những BÐQ Ngô Minh Hồng, Trần Tiễn San, Ðỗ Mạnh Trường, Nguyễn Minh Chánh, Nguyễn Thế Ðỉnh, Cai Văn Trung, Nguyễn Ngọc Chấn CNN, Nguyễn Văn Học... vì họ là những người luôn có mặt trong bất cứ một cuộc tranh đấu chống Cộng cũng như trong các sinh hoạt cộng đồng.
Trong buổi gặp gỡ lần này, những người lính BÐQ lại nhắc nhở nhau một mất mát lớn, đó là sự ra đi của người anh cả, cựu Ðại Tá Nguyễn Thành Chuẩn, cựu chỉ huy trưởng BÐQ. Một bàn thờ vọng được dựng lên bên cạnh bàn thờ Tổ Quốc trên sân khấu để anh em cùng tưởng nhớ đến người anh cả từng chung vai sát cánh anh em diệt giặc thù cứu lấy quê hương. Chủ tịch hội BÐQ Nam Cali trong lời chào mừng quan khách và thân hữu đến tham dự cùng anh em đã nhắc lại tiểu sử của người anh cả BÐQ Nguyễn Thành Chuẩn.
Xuất thân từ khóa 6 quân trường Võ Bị Quốc Gia, người lính Nguyễn Thành Chuẩn đã có mặt trong những đơn vị tác chiến anh hùng của QLVNCH. Ông cũng là tư lệnh chiến trường An Lộc. Sau Tháng Tư 1975, ông bị cộng sản bắt tập trung cải tạo và khi đến được Hoa Kỳ vào năm 1991 qua diện H.O. ông đã cùng anh em BÐQ quy tụ trong Tổng Hội BÐQ hoạt động rất tích cực và được anh em tín nhiệm trong trách nhiệm tổng hội trưởng.
Nói về người tù bất khuất Nguyễn Thành Chuẩn, niên trưởng Lê Minh Ðảo, tư lệnh SÐ18 cho biết, “Trong suốt thời gian ở trong tù cộng sản, Ðại Tá Nguyễn Thành Chuẩn lúc nào cũng là người thẳng thắn, cương quyết, giữ trọn tư cách một sĩ quan cao cấp của QLVNCH. Chính ông là người đưa được những tin tức từ bên ngoài vào qua ngả thăm nuôi để anh em được biết tình hình bên ngoài.
“Ông cũng là người ký tên vào một bức thư mà chúng tôi viết gửi cho Tổng Thống Ronald Reagan chúc mừng ông đắc cử và nói lên nghịch cảnh mà hàng trăm ngàn cựu quân cán chính VNCH đang bị cộng sản cầm tù.
“Bức thư do ba tướng và bốn đại tá ký và đã bí mật được chuyển ra ngoài rồi tới Mỹ và qua Tướng Trưởng, bức thư đã tới tay tổng thống Hoa Kỳ. Sau này tôi có dịp được ông Robert Funshett và một vị trong Hội Ðồng Cố Vấn TT xác nhận thư có đến tay Tổng Thống Reagan.”
Buổi tất niên của anh em Biệt Ðộng Quân các binh chủng bạn đều đến tham dự như Liên Hội Cựu Chiến Sĩ, Tập Thể Chiến Sĩ Tây Nam Hoa Kỳ, Hội Võ Bị, Cảnh Sát Quốc Gia (CSQG), Gia Ðình Mũ Ðỏ, Thiếu Sinh Quân, Pháo binh Thủy Quân Lục Chiến (TQLC), Cửu Long Hải Quân, thân hữu Không Quân, Quân Cán Chính Hải Ninh, và anh em trong các khóa 16, 19 Võ Bị Quốc Gia, khóa 17 Thủ Ðức. Ðiều đó cũng nói lên tình thắm thiết mà cộng đồng người Việt tị nạn dành cho anh em BÐQ không hề thay đổi.
Các niên trưởng trong QLVNCH có cựu Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo, cựu Ðại Tá TQLC Cổ Tấn Tinh Châu, cựu Ðại Tá BÐQ Lê Khắc Lý, Tổng Hội Trưởng CSQG Trần Quang An.
Nhiều đại diện BÐQ từ xa về như từ Arizona, Pennsylvania, và Bắc California cũng có mặt.
Và đương nhiên là có mặt của những người vợ chung thủy của BÐQ trong đồng phục mầu nâu đất, mầu của chiếc nón BÐQ. Những người vợ chung thủy này đã từng chia sẻ ngọt bùi với lính BÐQ trong thời chiến, thủy chung trong thời gian nan BÐQ bị tù đầy và lại sát cánh bên nhau lúc cuối đời trong các cuộc đấu tranh tự do dân chủ và nhân quyền cho đất nước cùng BÐQ.
Một dấu son cho các hoạt động của hội BÐQ là tờ báo của binh chủng này. Ðó là tập san Biệt Ðộng Quân, cơ quan ngôn luận của BÐQ. Tờ báo không bán nhưng đã được anh em trong hội hỗ trợ dư dả nên có mặt liên tục từ nhiều năm nay với những bài viết về những đơn vị cũ, những chiến trường xưa với đủ mọi khía cạnh giúp cho người viết quân sử VNCH sau nay thêm nhiều tài liệu tra cứu. (NH)

