Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Bài học gì từ biến cố 30/4/1975?
Lê Quế Lâm
Đây là câu hỏi mà quân-dân-cán-chính miền Nam -Việt Nam Cộng Hòa mong đợi câu trả lời trong suốt 33 năm qua. Tại sao không tìm hiểu để tự trả lời mà phải mong đợi? Vì đây là vấn đề quốc gia đại sự có liên hệ đến nhiều cường quốc, chỉ có giới lãnh đạo -những người có trách nhiệm tột đỉnh, giữ địa vị lâu dài, mới có đủ tư thế trả lời. Và bài học họ rút tỉa được (may ra) mới có giá trị. Đó là ba ông tướng lãnh cao cấp: Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Cao Văn Viên. Câu trả lời của họ sẽ giúp đồng bào cảm thông, thấy được hoàn cảnh vô cùng khó khăn của đất nước mà những người lãnh đạo đã cố hết sức mình để hoàn thành trách nhiệm do nhân dân giao phó. Hoặc ít ra, nó cũng giúp mọi người có cơ sở để phán xét việc làm của giới lãnh đạo, từ đó có thể tìm thấy được bài học gì hữu ích cho mai sau. Thật ra, không có bài học lịch sử nào giống bài học lịch sử nào, song đồng bào vẫn luôn kỳ vọng… chỉ vì tương lai đen tối của tổ quốc: kinh tế ngày càng tụt hậu, đồng bào không có dân chủ tự do, một phần đất nước lọt vào tay ngoại bang.

Có một số người, dù không nắm hết mọi khía cạnh lớn của đất nước, nhưng đã cố công theo dõi các diễn biến lịch sử để đưa ra bài học nầy, kinh nghiệm nọ, rồi đi đến khen chê, đề cao hoặc mạt sát những người lãnh đạo. Điều này vừa thiếu công bằng vừa đào sâu thêm sự hiềm khích sẵn có, mà vẫn chưa đưa ra lời giải đáp nào thỏa đáng. Rất tiếc, ba lãnh tụ VNCH nêu trên không ai viết lại hồi ký, ghi lại đoạn đường đau thương của đất nước, và tự phán xét việc làm của mình để rút ra bài học. Lúc cầm quyền, họ có rất đông tùy viên, nào là bí thư, nào là chánh văn phòng, chánh võ phòng… Những thuộc cấp đó có bổn phận ghi chép công việc thường nhật của xếp mình, cũng chính là công việc của quốc gia. Khi về hưu, các ông chỉ nhìn lại từng sự kiện, nhớ lại cách hành xử của mình mà viết hồi ký. Một việc thường tình, mà không làm được. Chả lẽ họ đã quên quê hương đất nước rồi sao?

Tuy nhiên cũng có hai nhân vật cao cấp có tầm cỡ, ghi lại hồi ký, đó là cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn và cựu Tổng trưởng Kế hoạch -Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng. Ông Cẩn luôn tự hào về con đường tiến thân và sự nghiệp chính trị của mình. Theo ông “ở Pháp có những người tốt nghiệp từ trường Quốc gia Hành chánh, nhưng tích cực tham gia sinh hoạt chính đảng hoặc hữu khuynh hoặc tả khuynh. Đa số các vị này tranh cử vào Hạ Nghị viện và từ cương vị của đại diện dân cử được mời qua Hành pháp giữ các chức vụ hoặc Thủ tướng hoặc Tổng Bộ trưởng. Họ có thế lực vì họ là đại diện cử tri tại một địa phương, là dân biểu Quốc hội và việc tham gia Nội các của họ không phải là do lời mời cá nhân mà nằm trong một thủ tục chuyển quyền hiến định của toàn thể hoặc từng phần Nội các. Điển hình là trường hợp của hai cựu và đương kiêm tổng thống Pháp Giscard d’Estaing và Jacques Chirac (ghi chú: thời điểm 2003) cả hai đều tốt nghiệp trường Hành chánh và cả hai đều từ dân biểu qua lập Nội các, giữ chức Thủ tướng nhiều năm, trước khi tranh cử tổng thống. Cựu thủ tướng Pháp Lionel Jospin cũng tốt nghiệp trường Hành chánh và từ Dân biểu Quốc hội được mời thành lập Nội các và ra tranh cử chống Tổng thống Jacques Chirac”. Ông Cẩn tự hào cũng tiến thân như vậy. Ông tốt nghiệp trường QGHC, đắc cử Dân biểu, tham gia đảng chính trị, ông là Tổng Bí thư Đảng Công Nông Việt Nam. Một bộ phận của đảng Công Nông là Tổng Liên đoàn Lao Công Việt Nam lúc bấy giờ, theo ông cho biết có độ nửa triệu đoàn viên. Và sau cùng ông là Thủ tướng. (1)

Còn Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, từ 1957 ông du học, tốt nghiệp, dạy Đại học và sống lâu năm ở Mỹ -là quốc gia đã yểm trợ VNCH. Sau 16 năm ở Hoa Kỳ, ông về nước tham chính, làm Phụ tá Tổng thống Thiệu về tái thiết, sau đó giữ chức vụ Tổng trưởng Kế hoạch qua hai đời thủ tướng: Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Bá Cẩn. Ông tự nhận “hoàn toàn không ở địa vị đủ cao cấp để nói lên lời cuối, nhưng nhờ một cơ duyên của lịch sử đã may mắn được gặp lại cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhiều lần ở London và Boston để nghe và ghi lại những lời cuối cùng của ông về cuộc chiến”. (2)

Ông cựu thủ tướng viết hồi ký “Đất Nước Tôi” năm 2003 và ông Tiến sĩ phụ tá tổng thống viết quyển “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” năm 2005. Ở tuổi trên 70, sau gần 30 năm suy ngẫm… hai tác phẩm trên tất phải có giá trị, đáng tin cậy để đồng bào đọc và thấy được tại sao nước mất với biến cố 30/4/1975. Muốn rút tỉa bài học, trước hết phải nhìn lại cẩn thận, xem xét nguyên nhân nào đã dẫn đến biến cố trên.

Hồi ký Đất Nước Tôi: Trong sách này có “Chương 18 Tại sao Miền Nam Thua” và “Chương 19 Việt Nam Bị Bán Đứng”, nghĩa là “Miền Nam thua vì Việt Nam bị bán đứng”. Ông Cẩn cho rằng: “Sau khi chiến tranh lạnh tiến dần đến giai đoạn Hoa Kỳ và Nga Xô phải bàn chuyện chung sống hòa bình trong những hoàn cảnh và điều kiện nào đó để quân bình lực lượng, quân bình ảnh hưởng trên thế giới. Chính trong khuôn khổ một trật tự mới cho thế giới này mà VNCH bị biến thành con cờ để trao đổi với Cộng sản Nga Hoa. Nói rõ hơn, thay vì phải giữ cho VNCH được tự do dân chủ với bất cứ giá nào để làm “tiền đồn cho Thế giới Tự do” hầu ngăn chặn chính sách bành trướng của Cộng sản thì nay, vì sẽ có cam kết sống chung hòa bình trong khuôn khổ một trật tự mới đã được thỏa thuận, thì nguy cơ bành trướng Cộng sản không còn nữa, tất nhiên “KHÔNG CẦN TIỀN ĐỒN NỮA”. Cũng vì đó “VNCH và Đài Loan bị bán đứng từng phần cho Trung Cộng”. Nixon đã bán đứng “quy chế cường quốc và thành viên Hội đồng Bảo An LHQ” của Trung Hoa Quốc Gia cho Trung Cộng. Và sau đó, Hoa Kỳ làm ngơ để Trung Cộng chiếm Hoàng Sa của VNCH. Riêng VNCH còn bị HK hy sinh để đổi lấy Trung Đông, vì lẽ Kissinger -ngoại trưởng HK là người Do Thái. Sự tồn tại của Do Thái và quyền lợi dầu hỏa ở Trung Đông, nên HK phải cắt viện trợ cho VN để dồn cho Do Thái. (3)

Trong chương 18, ông Nguyễn Bá Cẩn có đề cập đến chiến tranh Đông Dương 1946-1954 với nhận xét “Pháp và Đồng Minh (Anh, Hoa Kỳ…) đã thua chiến tranh Đông Dương vì không có chính nghĩa”. Còn chiến tranh Việt Nam 1967-1975, Miền Nam thua vì VNCH bị bán đứng. Không hiểu tác giả dựa vào cơ sở nào để nói rằng chiến tranh Việt Nam khởi sự từ 1967? Phải chăng ông muốn những diễn tiến của lịch sử phải phù hợp với sự nghiệp chính trị của ông. Trang 474-5, ông cho biết: “Kể từ năm 1967 cho đến 1975, trong 8 năm tại Hạ Nghị Viện VNCH, tôi có dịp tiếp xúc với hàng chục nghị sĩ vả dân biểu Hoa Kỳ đến thăm Sàigòn…”.

Cái nhìn của ông Cẩn về chiến tranh Đông Dương 1946-1954 không phản ánh đúng sự thật lịch sử. Chiến tranh Đông Dương khởi đầu từ cuộc kháng chiến chống Pháp giành độc lập do Mặt trận Việt Minh lãnh đạo. Tài liệu Ngũ Giác Đài (The Pentagon Papers) đã ghi rõ: trong cuộc xung đột Pháp/Việt Minh ở Nam Bộ và cuộc đàm phán Pháp với ông Hồ Chí Minh năm 1946, Hoa Kỳ giữ thái độ trung lập. Vì thế Tổng thống Truman từ chối lời yêu cầu của De Gaulle xin HK cung cấp phương tiện để chở quân Pháp sang Đông Dương. HK cũng bác bỏ yêu cầu của Paris xin cung cấp vũ khí để Pháp chống Việt Minh. HK cũng làm ngơ trước những lời kêu gọi của ông HCM yêu cầu HK can thiệp để VN trở thành một nước được Mỹ bảo hộ trong một thời gian, trước khi độc lập như Phi Luật Tân.

HK hoàn toàn đứng ngoài trong cuộc chiến Đông Dương cho đến giữa năm 1948. Lúc bấy giờ chiến tranh lạnh giữa Thế giới Tự do và Quốc tế Cộng sản đã diễn ra. Ông HCM từng xác nhận “kháng chiến VN là một bộ phận của nhân dân thế giới do Liên Xô lãnh đạo. Kháng chiến VN là một hình thức cao rộng của giai cấp đấu tranh, nghĩa là cuộc đấu tranh lớn trên toàn thế giới, giữa thế giới tư bản và thế giới cộng sản”. Vì vậy HK áp lực mạnh buộc Pháp trao trả độc lập cho các nước Đông Dương. Nhờ đó, thỏa ước Elysée ra đời năm 1949: Pháp nhìn nhận VN độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp (LHP), song HK vẫn chưa ủng hộ thỏa ước. Đến giữa tháng Giêng 1950, tức ba tháng sau khi chiến thắng ở Hoa Lục, Mao Trạch Đông thừa nhận nước VNDCCH, đồng thời chi viện giúp ông HCM chống Pháp. Ngay sau đó, Liên Xô và các nước cộng sản Đông Âu cũng theo gưong Trung Cộng. Đầu tháng Hai, HK và các nước Tây phương mới chính thức đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Quốc Gia Việt Nam do Bảo Đại lãnh đạo.

Theo kế hoạch giải thực (giải trừ chế độ thực dân) của LHQ, các nước thực dân phải huấn luyện người dân thuộc địa có đủ trình độ để quản trị đất nước sau khi thu hồi được độc lập. Riêng VN, đã có đầy đủ chuyên viên trí thức tốt nghiệp từ Pháp hoặc Đại học Hànội…Nhưng VN chưa đủ sức bảo vệ nền độc lập vì sự uy hiếp của Việt Minh Cộng sản. Do đó VN cần phải nằm trong khối LHP, để được Pháp và đồng minh HK -đứng đầu TGTD yểm trợ mới đủ sức đương đầu với VM được Cộng sản Nga Hoa ủng hộ. Cũng tương tự như Mã Lai, mãi đến năm 1957, sau khi dẹp yên Mã Cộng, Anh quốc mới trao trả độc lập cho Mã Lai.

Nhờ lực lượng cân bằng, đại diện hai khối Thế gìới tự do và Quốc tế Cộng sản là Anh Quốc và Trung Cộng đứng ra chủ tọa hội nghị Genève 1954, đi đến chia cắt ảnh hưởng ở Đông Dương, nhằm bảo vệ hòa bình thế giới. Miên Lào trung lập, miền Bắc VN thuộc ảnh hưởng khối Cộng, miền Nam VN thuộc ảnh hưỏng TGTD. Trách nhiệm hoàn tất, Pháp rút khỏi Đông Dương. Lãnh đạo miền Nam là thủ tướng Ngô Đình Diệm, một chí sĩ yêu nước, thanh liêm, từng từ chức Thượng thư đầu triều để phản đối Pháp. Nếu Anh Pháp Mỹ không có chính nghĩa trong chiến tranh Đông Dương 1946-1954 khiến Pháp bại trận như nhận định của ông Cẩn, thì làm sao có được VNCH, nhân dân miền Nam được sống trong dân chủ tự do 21 năm!

Khi Đồng Minh Tháo Chạy: Ngày 26/4/2005, sau khi phát hành quyển KĐMTC, đài VOA đã hỏi Ts Hưng: “Có nhiều người đã nói rằng MN sụp đổ vì hai lý do Mỹ bỏ rơi và MN thiếu ý chí tồn tại. Là người trong cuộc ông nghĩ sao? Ông Hưng trả lời “Lý do Mỹ bỏ rơi rất đúng vì MN đã được xử dụng như một quân cờ trong ván cờ thế giới. Nhưng một khi đã bắt tay được với Mao trạch Đông và hòa hoãn được với Liên Xô thì “cái tiền đồn của thế giới” không còn cần thiết nữa, và phải tìm cách tháo lui. Câu hỏi đặt ra không phải là “có nên hay không nên bỏ rơi MN” mà là “bỏ rơi như thế nào” thôi. Còn lý do “MN thiếu ý chí” thì chính đại sứ Martin đã nói ngược lại là MN không thiếu ý chí”.

Trong tác phẩm KĐMTC, TS Nguyễn Tiến Hưng cho rằng nguyên nhân Mỹ dứt khoát bỏ rơi MN là vì quyền lợi của Mỹ ở VN đã không còn nữa. Ông lập luận rằng “Sau Thế chiến II, HK giúp thành lập hai quốc gia Do Thái và VNCH. Ngày 14 tháng 5 1947, Do Thái trở thành một quốc gia độc lập. Ngày 26 tháng 10 1955, nước VNCH được thành lập, Hànội nhất quyết đòi hỏi phải tổ chức tổng tuyển cử toàn quốc để đi tới thống nhất đất nước theo qui định của hiệp định Genève. Tổng thống Diệm, với sự ủng hộ mạnh mẽ của HK, tiếp tục bác bỏ. Ngày nay, VNCH đã mai một 30 năm rồi, nhưng Do Thái vẫn còn trường tồn, lại còn mạnh mẽ hơn. Lý do là vì Mỹ vẫn còn cần đến Do Thái làm tiền đồn để trấn giữ túi dầu ở Trung Đông. “Nếu tiền đồn dầu lửa ở Trung Đông còn cần thiết thì tiền đồn của Thế giới tự do bên Á châu lại không còn cần thiết nữa”. Kể từ ngày TT Nixon bắt tay được với Trung Quốc thì giá trị của miền Nam để “ngăn chặn làn sóng đỏ” đã không còn là bao nhiêu trong những tính tóan của Mỹ về hơn thiệt (cost-benefits). Dần dần VN đã hết vai trò một tiền đồn của Thế giới tự do. Và như vậy, vấn đề còn lại đối với Mỹ thì chỉ là làm sao rút ra được cho êm thắm, ít bị tổn hại về uy tín là được rồi”. (4)

Lập luận của TS Nguyễn Tiến Hưng về việc HK giúp thành lập hai quốc gia Do Thái và VNCH không phản ánh đúng sự thật lịch sử, Theo tài liệu của Tự điển bách khoa Wikipedia…thì năm 1947, Liên Hiệp Quốc chấp nhận phân chia phần đất Palestine thành hai quốc gia: một là Jewish, một là Arab. Ngày 14/05/1948, Israel tuyên bố độc lập. Quả thật, từ đó đến nay HK luôn là đồng minh của Do Thái, có phải vì dầu hỏa hay không? Nhưng có điều chắc chắn là đất nước nhỏ bé này luôn bị các nước Á Rập láng giếng hăm dọa xóa tên trên bản đồ. Do Thái lại là quốc gia đứng đầu các nước ở Trung Đông, không những vì nền kinh tế phát triển mà còn là một nước tôn trọng nhân quyền, dân chủ tự do. Tôi nghĩ rằng đó là lý do HK phải yểm trợ Do Thái, cái nôi dân chủ tự do trong vùng đất nhiều dầu hỏa nhưng thiếu dân chủ tự do vì quá cuồng tín. Cũng tương tự như MNVN sau 1954, HK luôn yểm trợ MNVN, coi đây là mô hình tự do, phồn thịnh ở Đông Nam Á.

Còn lập luận nói rằng HK đã ủng hộ Tổng thống Diệm bác bỏ đề nghị của Hànội tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước, để thành lập VNCH đã vô tình bôi xấu TT Diệm. Ông Diệm không bác bỏ việc tổng tuyển cử thống nhất đất nước mà chỉ đưa điều kiện để tiến hành. Đó là khi nào nhân dân miền Bắc được hưởng những quyền dân chủ tự do thực sự. Việc VNCH ra đời cũng tương tự như Do Thái là do LHQ chớ không phải HK. Tại hội nghị Genève 1954, toàn thể các Hội viên thường trực Hội đồng Bảo An LHQ đồng ý chia đôi VN. Thực trạng VN cũng tương tự nước Đức và Triều Tiên. Tháng 8/năm 1955, thủ tướng Diệm đã trả lời đề nghị của Hànội về việc tổ chức tổng tuyển cử: “Tổng tuyển cử là một định chế hòa bình và dân chủ nhưng với điều kiện tiên quyết là sự tự do sinh sống và tự do đầu phiếu phải được bảo đảm”. Ông giải thích thêm “người ta không thể làm được điều gì xây dựng về vấn đề này khi mà chế độ Cộng sản miền Bắc vẫn không cho phép người dân của họ hưởng những quyền tự do dân chủ”. Ông Diệm còn cho rằng việc tổng tuyển cử chưa thể thực hiện khi chánh quyền CS ở miền Bắc ngay bước đầu đã vi phạm quyền tự do công dân. Họ không cho người dân miền Bắc được tự do lựa chọn vùng muốn sinh sống theo tinh thần hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam tứ HĐ Genève 1954. Sau đó qua chiến dịch “cải cách ruộng đất” chính quyền miền Bắc đã tiến hành khủng bố tàn bạo trong phạm vi rộng lớn để trấn áp những người không thích chế độ cộng sản.

Còn HK trong tuyên bố riêng công bố sau khi Hội nghị Genève bế mạc, họ cho biết về vấn đề VN bị chia cắt: “nếu quyết định của các cường quốc phản lại ý muốn chung của người dân bản xứ, HK sẽ mưu tìm sự thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do có LHQ giám sát”. Trong tinh thần đó, chính quyền Eisenhower đã ủng hộ lập trường của TT Diệm là cuộc tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam chỉ được tiến hành khi nào miền Bắc chấm dứt khủng bố, thực thi dân chủ và để người dân tự do thực hiện quyền đầu phiếu. Việc này HK đã hoàn thành trong HĐ Paris 1973: nhân dân MN được hưởng mọi quyền tự do, sau đó tham gia cuộc tổng tuyển cử tự do để quyết định thể chế tương lai MN. Chính phủ MN sẽ hiệp thương với chính phủ MB để thống nhất đất nước theo tinh thần HĐ Genève 1954.

Ông cựu thủ tướng là một chuyên viên hành chánh, ông Phụ tá tổng thống là một chuyên viên kinh tế, các ông chỉ trình bày tổng quát về lịch sử chính trị nhằm mục đích làm sáng tỏ lập luận của mình: HK bỏ rơi VNCH để dồn lực cho Do Thái, vì lẽ Kissinger là người gốc Do Thái. Ông Cẩn còn đi xa hơn, cho rằng Anh Pháp Mỹ không có chính nghĩa trong cuộc chiến Đông Dương 1946-1954 để có lý do lên án HK bỏ rơi miền Nam hồi năm 1975. Điều quan trọng mà đồng bào muốn biết là giới lãnh đạo đất nước đã nhận định như thế nào về sự sụp đổ của MN? Nay thì đã có câu trả lời: ‘Mỹ không cần tiền đồn nữa” và “tháo chạy”. Ông “đồn trưởng” Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu vội vàng chạy trước, tiếp theo là các viên chức giúp việc chạy sau. “Đất nước tôi” là như vậy, “Đồng minh (của Mỹ) tháo chạy” là như vậy.

Sau này, gặp lại nhau ở hải ngoại, ông Thiệu nói với cựu phụ tá của mình: “Tôi có trách nhiệm, nhưng không có tội” (Je suis responsible mais pas coupable) (5) Dù sao, ông vẫn còn biết mình có trách nhiệm (trước 1975)…Nhưng lại cho rằng mình không có tội, vì tất cả là do Hoa Kỳ. Đổ lỗi cho Mỹ là xong chuyện. Ba mươi năm sau, trong tác phẩm KĐMTC, TS Nguyễn Tiến Hưng viết rằng: “Nhìn lại lịch sử, tôi cũng không khỏi suy tư và đặt một câu hỏi khác: tại sao phía VNCH lại cứ âm thầm từ hè 1973 khi Mỹ bắt đầu cắt xén viện trợ? Tại sao lãnh đạo hành pháp và lập pháp không họp lại để bàn luận về hồ sơ mật xem phải nên đối xử làm sao với HK trong hoàn cảnh chính trị của Watergate, và dưới triều một tổng thống Mỹ mới? Việc này chỉ được làm sau khi rút khỏi Pleiku thì đã qua muộn”. (6) Ba mươi năm sau, vẫn còn ý nghĩ “ỷ lại vào Hoa Kỳ”, chả lẽ vào thời điểm đó, mang mấy chục lá thư của Tổng thống Nixon gởi Tổng thống Thiệu (Hồ sơ mật Dinh Độc lập) đến Quốc hội HK nằm vạ, hăm he: Tổng thống mấy ông hứa thì mấy ông phải giúp. “Viện trợ nhiều thì chúng tôi giữ nhiều, viện trợ ít thì giữ ít”. Không chịu giúp nữa, chúng tôi bỏ “tiền đồn” chạy cho mà coi.

Lịch sử là một chuỗi dài nhân quả, từ nhân sinh ra quả. Quả sẽ tạo nhân và cứ thế tuần tự diễn tiến theo qui luật bất di bất dịch: luật nhân quả. Phải tìm hiểu nguyên nhân mới thấy được hậu quả. Đằng này cứ ỷ lại vào Mỹ rồi lên án Mỹ, thì làm sao thấy được những nguyên nhân khác, do mình chớ không phải do Mỹ đã làm sụp đổ Miền Nam? Vì thế, đã không làm tròn trách nhiệm đối với đất nước trước 1975, còn nay thì hết trách nhiệm đối với đồng bào dân tộc.

Làm kẻ thù của HK thì dễ, nhưng làm bạn với họ thì thật là khó. Ngày 29/4/1975, bà Anna Chennault tới Đài Loan mang theo lời nhắn nhủ của (tổng thống) Ford đến cho Thiệu. Nội dung cho biết vì tình hình phản chiến ở đây, ông Thiệu không nên đến Hoa Kỳ lúc này. Ông nên đi nơi khác, nhưng gia đình ông thì có thể vào Hoa Kỳ được. Bà Chennault nói có thể dàn xếp để Thiệu đi đâu tùy ý. Ông Thiệu lạnh lùng nói với bà: “Làm kẻ thù của HK thì dễ, nhưng làm bạn với họ thì thật là khó’. (7) Bà Anna Chennault là quả phụ tướng Claire Chennault người đã chỉ huy đoàn Phi Hổ, hồi Đệ II Thế chiến. Bà rất có uy tín của đảng Cộng Hòa, ra vào tự do trong chính giới ở Hoa Thạnh Đốn. Bà đã làm trung gian giữa Nixon và Thiệu, qua đó nhóm ủng hộ đảng Cộng Hòa khuyến cáo VNCH không nên gởi phái đoàn sang dự hòa đàm Paris hồi tháng 11/1968. Thiệu chấp nhận, do đó, kế hoạch hòa bình của đảng Dân chủ Mỹ thất bại, ứng cứ viên Humphrey thất cử, Nixon đắc cử. Đây là món nợ chính trị giữa Nixon và Thiệu được TS Hưng trình bày trong Chương 2 quyển Hồ sơ Mật Dinh Độc lập.

Ngoài câu nói “Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”, đây là câu nói để đời thứ hai của ông Nguyễn Văn Thiệu. Một bài học cho ông và cho đất nước. Trong những ngày cuối tháng Tư/1975 Hoa Kỳ đã mở rộng vòng tay đón 130 ngàn người VN vào đất Mỹ, chả lẽ họ lại hẹp hòi, thiếu nhân đạo đối với vị lãnh đạo VNCH hay sao. Phải có điều gì bí ẩn, tìm hiểu mới thấy được bài học 30/4/1975. Đối với người Á Đông chúng ta, đã gọi là bạn, là tri kỷ thì phải hiểu nhau, ăn ý với nhau, không có cảnh “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Sở dĩ làm bạn với HK thật là khó, là vì không hiểu HK, chỉ biết ỷ lại, dựa dẫm vào bạn mà thôi; chớ không biết hợp lực với bạn thực hiện mục tiêu chung của Thế giới Tự do trong chiến tranh lạnh vừa qua. Anh Quốc ăn ý với HK trong việc giải trừ thuộc địa nên Anh Quốc giữ được nguyên khối Liên Hiệp Anh sau Thế chiến II. Bà thủ tướng Anh Thatcher và TT Reagan đã hợp tâm hợp ý giúp kết thúc chiến tranh lạnh không tốn một giọt máu.

Đối với VN, từ sau 1954 đã có hội “Người Mỹ bạn của Việt Nam”. Tháng Năm 1956, Thượng Nghị sĩ John F. Kennedy, bốn năm sau trở thành tổng thống Hoa Kỳ, đã tuyên bố với hội này rằng: “Hoa Kỳ coi Việt Nam như là một thí điểm của nền dân chủ ở Á châu”. Ông còn nhấn mạnh thêm “Việt Nam còn là sự trắc nghiệm về ý thức và quyết tâm của Hoa Kỳ”. Do đó, “nếu miền Nam Việt Nam sụp đổ vì cộng sản, vì rối loạn chính phủ, vì nghèo đói hoặc bất cứ lý do nào khác, thì Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm và uy tín của Hoa Kỳ ở Á Châu chắc chắn sẽ chìm sâu” (8) Hai năm trước, tổng thống Eisenhower đã gởi thư đến thủ tướng Ngô Đình Diệm, xác định mục tiêu của HK là “giúp miền Nam Việt Nam bằng viện trợ để duy trì và phát triển một nhà nước tự do có sức sống mạnh, có khả năng chống trả lại những mưu toan khởi loạn hoặc xâm lược bằng vũ lực”. Hoa Kỳ mong muốn chánh phủ Nam Việt Nam đáp ứng lại bằng cách thực hiện những cải cách cần thiết, mở rộng chánh phủ có sự tham tham gia của các đảng phái chính trị và thiết lật các cơ cấu dân chủ hơn. (9) Đối với Hoa Kỳ, Miền Nam VN là tiền đồn của Thế giới Tự do, để ngăn chận sự bành trướng của CS. Nơi đây còn là “chiếc tủ kính trưng bày sự phồn vinh và nền tự do kiểu Mỹ ở Đông Nam Á” như nhận xét của một cán bộ CS cao cấp Mặt trận giải phóng Miền Nam. (10)

Đầu năm 1965, trước sự uy hiếp nặng nề của Cộng sản Bắc Việt được Liên Xô, Trung Cộng và khối Cộng sản Đông Âu tiếp sức, VNCH sắp sụp đổ. Hoa Kỳ vội can thiệp, đưa quân vào Miền Nam, vừa dội bom miền Bắc, nhằm áp lực Bắc Việt ngồi vào bàn đàm phán giải quyết chiến tranh bằng con đường hòa bình. Sau ba năm với hai gọng kềm: tăng quân vào miền Nam, mở rộng diện oanh kích miền Bắc, Hànội chịu ngồi vào đàm phán ở Paris. Hoa Kỳ bắt đầu rút quân khỏi VN, mở đầu kế hoạch “Phi Mỹ hóa” hạn chế dần sự can dự của Mỹ ở khắp nơi trên thế giới, để làm giảm bớt sự căng thẳng giữa hai khối Tự do và Cộng sản. Nơi nào có mặt Mỹ, thì khối CS yểm trợ lực lượng địa phưong chống đế quốc Mỹ. Nơi nào bị CS đe dọa xâm lưọc để bành trướng như miền NamVN, Hoa Kỳ phải trực tiếp can thiệp. Vì thế tạo ra nhiều khu vực căng thẳng, nhiều lò lửa chiến tranh trên thế giói. Hoa Kỳ đã tự chế qua kế hoạch Phi Mỹ Hóa, rút quân khỏi VN, HK đã đi tiên phong mang lại hòa bình cho thế giới bằng cách làm sứ giả đi Trung Quốc và Liên Xô thuyết phục hai nước này cùng tự chế như Mỹ, để tạo ra một giai đoạn hòa bình, hòa hoãn mà các bên đều có lợi.

HK không dùng quyền phủ quyết, giúp Trung Cộng trở thành Hội viên Thường trực Hội đồng Bảo An LHQ, có địa vị ngang hàng với Anh, Pháp, Mỹ, Nga. Hoa Kỳ còn mặc nhiên thừa nhận Trung Cộng như là lãnh tụ Thế giới Thứ ba, tạo thế chân vạc ba thế giới để cùng nhau bảo vệ hòa bình thế giới. Hoa Kỳ đã thuyết phục được Liên Xô và Trung Cộng áp lực BV chấp nhận chấm dứt chiến tranh VN bằng cách tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN. Nhân dân miền Nam sẽ quyết định tương lai miền Nam chớ không phải do HK hay BV áp đặt. Hội đồng Quốc gia hòa hợp hòa giải dân tộc gồm ba thành phần sẽ được thành lập để tổ chức cuộc tổng tuyển cử dân chủ tự do, để người dân miền Nam thể hiện quyền tự quyết của mình. Ở Miền Nam có ba thành phần chính trị, phù họp với xu thế chung toàn cầu cũng có ba thế giới: HK lãnh đạo Thế giới Tự do, Liên Xô khối Xã hội chủ nghĩa còn Trung Cộng lãnh đạo Thế giới thứ ba.

Hiệp định Paris 1973 ra đời trong bối cảnh “tiền đồn chống Cộng” ở miền Nam Việt Nam vô cùng bền vững, VNCH kiểm soát 80% đất đai, hơn 90% dân số. Trung Cộng đã bị bao vây chặt chẽ: ở đông bắc là Đại Hàn do tướng Pak Chung Hee lãnh đạo, ở phía đông là Trung Hoa Quốc gia do Thống chế Tưởng Giới Thạch, Phi luật Tân do tướng Ferdinand Marcos, ở hướng Nam là Nam Dương do tướng Suharto, ở Cam Bốt do tướng Lon Nol, ở Thái Lan do thống chế Kittykachorn lãnh đạo. Đây là thời điểm, HK kỳ vọng nhân dân miền Nam tự do sẽ chiến thắng CS qua cuộc tổng tuyển cử dân chủ tự do theo tinh thần HĐ Paris 1973. Chiến thắng của MNVN cũng là chiến thắng của HK trong chiến tranh lạnh. HK đã dồn sức viện trợ biến MNVN thành một thí điểm của sự phồn vinh và dân chủ tự do ở Châu Á. Gần 60 ngàn binh sĩ Mỹ đã hy sinh, trên 300 tỷ mỹ kim chiến phí đã giúp MNVN vượt qua sự đe dọa của chiến tranh xâm lược, nay là lúc gặt hái thành quả hòa bình. Nhưng cuối cùng diễn ra cảnh “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” giữa HK và VNCH.

Sau HĐ Paris, Nixon mời Thiệu sang HK, hội đàm với ông ở San Clemente. Nixon cam kết sẽ viện trợ đầy đủ cho VNCH với điều kiện VNCH phải cùng Mỹ nghiêm chỉnh thực hiện HĐ Paris 1973. Nếu BV vi phạm, HK có lý do để tái can thiệp...Nhưng Thiệu vẫn kiên trì với lập trường “bốn không”, tiếp tục chiến đấu chớ không hòa giải. Ông đẩy thành phần thứ ba về phía CS, khiến CS có thêm thế lực, MN càng sụp đổ mau. Trong khi đó, sau 1975, Thế giới thứ ba do Trung Cộng lãnh đạo đứng về phía HK đã góp phần làm sụp đổ Liên Xô và khối Xã hội chủ nghĩa thế giới.

Từ 21/5/1973, Kissinger và Lê Đức Thọ trở lại Paris để thảo thuận và ra một tuyên cáo chung xác định hai bên quyết tâm thi hành nghiêm HĐ Paris. Trong thời gian này, Nixon đã gởi gần chục lá thư thuyết phục Thiệu: “Như Ngài rõ, tôi đã công khai tuyên bố nhất quyết thi hành bản hiệp định Paris với tất cả uy tín và thiện chí của Hoa Kỳ. Ở Hoa Kỳ sẽ không ai hiểu nổi vấn đề này nếu bây giờ sự thương thuyết bị thất bại vì những trở ngại ta có thể tránh được. Tôi xin lập lại rằng ước vọng duy nhất của chúng tôi là muốn thấy bản Hiệp định được thi hành nghiêm chỉnh và thắt chặt tình liên đới với VNCH. Tôi không tin rằng Ngài muốn tôi phải ra trước dân chúng Hoa Kỳ dễ giải thích sự bế tắc của cuộc thương thuyết hiện nay ở Paris. Điều này chắc chắn sẽ đưa tới sự cắt đứt ngân khoản cho Lào và Căm Bốt và cuối cùng là Miền Nam VN. Khi ở San Clemente, tôi đã nói rõ với Ngài về việc xin Quốc hội HK viện trợ đầy đủ khó khăn như thế nào. Tuy nhiên tôi cũng đã trình bày với Ngài rằng chúng tôi sẽ dồn mọi nổ lực không những xin đầy đủ viện trợ cho những nhu cầu hiện tại của VNCH, mà còn yểm trợ cho những kế hoạch kinh tế dài hạn Ngài vừa công bố! Nổ lực này đang tiến hành tốt đẹp và được đặt vào hàng ưu tiên đầu. Nhưng tôi thẳng thắn khuyến cáo Ngài rằng chỉ một mối bất đồng nhỏ nhoi của chúng ta trong tình thế này cũng đủ làm tiêu tan nổ lực trên. Tôi tin chắc rằng Ngài sẽ cân nhắc kỹ lưỡng điều trên khi đọc lá thư này” (11) TT Nixon đã khuyến cáo thảm trạng sụp đổ miền Nam VN từ hai năm trước, bằng giấy trắng mực đen rõ ràng, chớ không phải âm thầm tính chuyện bán đứng VNCH hay đang chuẩn bị tìm cách bỏ chạy.

Dù cố thuyết phục song Thiệu vẫn không nhượng bộ. Ngày 13/6/1973, Nixon gởi lá thư cuối cùng cho Thiệu với lời lẽ đắng cay: “Lá thư của Ngài đề ngày 12/6 là một đòn giáng mạnh vào tình bằng hữu, sự tương kính và quyền lợi chung của chúng ta. Căn cứ vào những hy sinh và rủi ro của HK phải gánh chịu vì Ngài, tôi không thể ngờ Ngài có thể trả lời một cách tiêu cực như vậy. Tôi chẳng cầu dấu diếm sự căng thẳng trong mối bang giao giữa chúng ta vì Ngài đã phủ nhận những cam kết của tôi trong việc ký kết bản tuyên cáo này. Nếu Ngài lựa chọn đường lối tiêu cực này thì chính Ngài đã vạch ra chính sách tương lai của HK đối với Việt Nam. Tôi sẽ bắt buộc phải chiều ý Quốc hội và công luận HK, chỉ yểm trợ vừa đủ những nhu cầu có tính cách nhân đạo cho nhân dân miền Nam và bỏ qua những quyết định và nhiệm vụ khó khăn để viện trợ kinh tế và quân sự cho VNCH như ta đã thảo luận ở San Clemente. Chẳng cần phải nói dài dòng, nổ lực của chúng tôi trên toàn cỏi Đông Dương sẽ chấm dứt. Tôi coi sự lựa chọn của Ngài như chống đối sự phán đoán và cam kết của chính bản thân tôi. Đây không còn là vấn đề của người đi thương thuyết hay của luật sư và chuyên viên. Đây là vấn đề giữa tôi và Ngài. Sự lựa chọn là do Ngài”. (12)

Từ đó, Quốc hội Hoa Kỳ từng bước giảm dần viện trợ cho VNCH, tước bớt những quyền hạn của tổng thống. Kế hoạch hòa bình của Nixon kể như thất bại, Quốc hội Mỹ mượn vụ Watergate để áp lực Nixon từ chức. Tám tháng sau đến lượt Thiệu. Đúng như lời Nixon trong lá thư cuối cùng, hành động của Thiệu “là một đòn giáng mạnh vào tình bằng hữu, sự tương kính và quyền lợi chung của chúng ta” và Hoa Kỳ “chỉ yểm trợ vừa đủ những nhu cầu có tính cách nhân đạo cho nhân dân miền Nam và bỏ qua …viện trợ kinh tế, quân sư”. Trong tình thế như vậy, TT Ford đành phải yêu cầu Thiệu không nên đến Hoa Kỳ. Tình bằng hữu giữa Nixon và Ford với Thiệu đã mất, miền Nam Việt Nam cũng không còn. Điều đau buồn nhất, là hành động của ông Thiệu và những người phụ tá đã làm mất đi cả tình đồng minh Việt Mỹ trong thời kỳ hậu 1975, vì luôn luôn coi HK là phản bội, ký HĐ Paris 1973 để bán đứng miền Nam VN cho CS. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh rất nhiều xương máu với người bạn đồng minh Hoa Kỳ trong cuộc chiến bảo vệ lý tưởng dân chủ tự do. Cuối cùng, Hoa Kỳ chiến thắng, trở thành siêu cường quốc số một thế giới. Còn người bạn đồng minh ngày trước, chỉ vì ông tổng tư lịnh tối cao đã trở mặt, nên ngày nay không còn là đồng minh của Mỹ nữa -Đồng minh trong hòa bình mà HK đã vạch ra sau khi ký HĐ Paris 1973 và rút lui khỏi VN. Đồng minh để tiếp tục trách nhiệm lịch sử chưa hoàn thành: giành dân chủ tự do trong phạm vi rộng lớn, cho đồng bào cả nước.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vì quá ỷ lại vào HK, khước từ quyền tự quyết của nhân dân miền Nam được ghi rõ trong điều 9 HĐ Paris 1973 là “thiêng liêng bất khả xâm phạm phải được tất cả các nước công nhận” (The South Vietnames people’s right to self determination is sacred, inalienable, and shall be respected by all countries), tạo ra thảm cảnh 30/4/1975. Sau đó, đến lượt những người CS, cũng tin tưởng và ỷ lại vào sự “hùng mạnh tất thắng” của Liên Xô, nên khước từ bình thường hóa bang giao với HK, đứng về phía LX chống lại Trung Cộng, tạo thêm cuộc chiến Đông Dương lần thứ ba giữa Cộng Sản Việt Nam và CS Trung Quốc. Khi cuộc chiến này kết thúc cũng là lúc Liên Xô và hệ thống Xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ. CSVN lại quay về thần phục Bắc Kinh. Biết được ý đồ của đàn em từng phản bội mình: “thà mất đất, mất biển, chớ không để mất đảng”, giới lãnh đạo Trung Cộng tự do chèn ép. Họ đưa ra 16 chữ vàng làm nền tảng cho mối bang giao mới với CSVN, trong đó có bốn chữ “họp tác toàn diện”. Đó là hình thức “lệ thuộc toàn diện”, họ cũng chưa vừa lòng, họ còn bành trướng thêm tí đất, tí biển của đàn em.

Bài học: Thảm họa của dân tộc Việt Nam trong hơn 60 năm qua, là do những người lãnh đạo đất nước tạo ra. Họ làm theo ý riêng, dựa vào ngoại bang mà còn độc tài độc tôn, độc đảng. Lãnh đạo miền Nam trước 1975 thì “thả mồi”, lãnh đạo đất nước sau 1975 thì “bắt bóng”. Câu chuyện “thả mồi bắt bóng” trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư ngày trước, tưởng rằng chỉ là chuyện vui…Nhưng đó là bài học, giúp những người hằng ưu tư đến tiền đổ suy ngẫm và luận bàn thế sự trong những dịp trà dư tửu hậu. Còn bài học lớn của những người lãnh đạo, muốn đất nước trường tồn phải biết quý trọng văn hóa dân tộc, khắc ghi ý niệm: “quyền tự quyết của nhân dân là thiêng liêng bất khả xâm phạm, phải tôn trọng nó”. Chỉ có nhân dân mới hóa giải được thảm họa bị đồng hóa, mới chấm dứt tình trạng kinh tế tụt hậu, đưa đất vào kỷ nguyên Độc lập, Dân chủ, Tự do và Giàu mạnh.

Lê Quế Lâm

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân

(Đặc biệt xin gởi anh chị Thái Tú Hạp-Ái Cầm)

Hôm nay đúng ngày 30 tháng Tư, 2008, những ký ức cũ sau 33 năm nghiệt ngã lại hiện về khi người Cộng Sản Việt Nam nhẫn tâm trả thù người dân Việt Nam Cộng Hòa qua nhiều chính sách tàn bạo, gây điêu đứng cho người dân bị trị miền Nam. Để rồi trong sách báo ghi nhận những tiếng hờn cô đơn trong lao tù, những tiếng khóc oan khiên dưới đáy mồ lòng đại dương. Tôi xót xa xem bài thơ của thi sĩ Ngô Minh Hằng như sau:
Khóc người đáy biển

Tháng Tư ra biển khóc người
Oan hồn hỡi, đáy trùng khơi, xin vệ
Biển chiều vàng ánh tà huy
Dài tay sóng níu bước đi vô hồn
Ðứng trên bờ đá cô đơn
Khóc người bằng tiếng thơ buồn xót xa
Ai hay đáy biển là nhà
Máu pha lệ hận chan hòa đại dương
Thịt da nát dưới bạo cuồng
Ngàn trang huyết sử bên đường tử sinh!
Mắt buồn nhìn sóng biển xanh
Thấy sương khói vẫn vô tình khói sương
Mà lòng đòi đoạn đau thương
Xót người đáy biển đoạn trường chưa nguôi
Tháng Tư ra biển khóc người
Hiển linh,chứng giám đôi lời thơ đau
Tôi viễn xứ, người biển sâu
Chung hồn lưu lạc, chung sầu quê hương
Người trên sóng nước trùng dương
Tôi khung cửa hẹp, gió sương bốn mùa
Bóc tờ lịch. Lại Tháng Tư!
Ðau tình sông núi làm thơ khóc người
Người vùi xương trắng biển khơi
Còn tôi sống kiếp dân Hời vì ai?

Ngô Minh Hằng
(Viết để khóc cho mình và cho những thuyền
nhân kém may mắn trên đường vượt biển tìm
Tự Do sau 1975.)


Tôi có xem một bài báo viết dịp kỷ niệm 20 năm xa xứ, đúng vào tháng 4 năm 1995, thủ đô Ottawa của Canada đã cho ra đời Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam tại đây với bức tượng Mẹ Bồng Con của điêu khắc gia Phạm Thế Trung tọa lạc ngay tại trung tâm thành phố sầm uầt này, ông vốn là người tị nạn vượt biển đến Canada với kỷ niệm u buồn về chuyến hành trình gian nan đầy hiểm nguy, là nguồn cảm hứng khiến ông sáng tác tác phẩm độc đáo này. Người Việt du lịch từ các nơi có dịp ghé xem hay cư ngụ tại Canada không khỏi hãnh diện vì đã dựng được một bức tượng thật ý nghĩa và tạo xúc động cho nhân loại do một biến cố chính trị đau thương do nạn Cộng Sản tàn ác gây ra. Bức tượng đồng đen "Mẹ Bồng Con" đang chạy giặc, cho thấy nét lo âu hối hả. Gương mặt người mẹ đầy can đảm nhìn về phía trước, bà đi tìm một chỗ an toàn cho đứa con đang ngủ bình yên trên cánh tay mẹ. Tượng Mẹ Bồng Con to giống như người thật, là tấm lòng ưu ái mà chính quyền Canada dành cho người Việt tị nạn chính trị, quốc gia đã cưu mang tiếp nhận hơn 200,000 người Việt, mà làn sóng thuyền nhân chiếm độ 80% trên tổng số cộng đồng người Việt sinh sống tại Canada. Dưới chân tượng Mẹ Bồng Con, có bảng lưu niệm viết bằng tam ngữ: Việt, Anh và Pháp thật xúc động:
"Tưởng niệm những người đã bỏ mình trên đường tìm tự do".


Bác sĩ Dương Anh Dũng, một thuyền nhân đến Đức do con tàu Cap Anamur vớt, ông là thủ quỹ trong Ban Chấp Hành của Hội Xây Dựng Tượng Đại Thuyền Nhân tại cảng Hamburg cho tôi biết Tượng Đài Thuyền Nhân dự trù hoàn tất sang năm, 2009. Mô hình điêu khắc đang chuẩn bị.

Hải cảng Hamburg bên Đức quốc là khởi điểm hải hành của các con tàu nhân đạo Cap Anamur đã đi cứu vớt 11,300 thuyền nhân tị nạn VN ngoài Biển Đông đưa về bến bờ tự do và chăm sóc y tế cho 35,000 thuyền nhân VN trong các đảo tỵ nạn tại Đông Nam Á. Chính Hamburg cho thấy sự rộng mở từ tâm và nhân ái với những nạn nhân tị nạn Việt Nam tại Biển Đông liều mình ra đi tìm ý nghĩa của hai chữ tự do, họ được cứu vớt mà nơi xuất phát và trở về của những con tàu nhân đạo Cap Anamur và các vị chủ tàu đều là người Đức đang sinh sống tại Hamburg.
Hamburg từ lâu đã được xem như Cửa ngõ ra thế giới, và giờ đây với sự hiện diện của tượng đài tị nạn Việt Nam thì Hamburg còn được gọi là Cửa ngõ đến tình người. Nó là một hải cảng lớn bận rộn và quan trọng của Âu châu, và là một danh lam ghi dấn tích can trường của thuyền nhân Việt Nam .

Để tưởng niệm Thuyền Nhân Việt Nam bỏ mình trên Biển Đông, hai nơi Bỉ và Thụy Sĩ cũng đã xây dựng bia tưởng niệm tại Liège và Genève. Tượng Đài Thuyền Nhân thì có tại Canada , Đức và Hoa Kỳ.

Tại Hoa Kỳ, mô hình của Tượng Đài Thuyền Nhân đã có rồi, nó là biểu tượng người mẹ bồng con trườn trên cát dang tay cầu cứu và người thanh niên dìu bà cụ già đứng phía sau. Dự án nguyên thủy được nhà văn Thái Tú Hạp và hiền thê là thi sĩ Ái Cầm thực hiện lời ước nguyện từ Biển Đông khi ông bà ra đi vượt biên. Chuyến đi tưởng chừng vô vọng vì bị thiên nhiên bão táp đe dọa.

"Ði về đâu thuyền lạc giữa mênh mông
Không thể hiểu khi an bình đất nước
Người giết hại người thù hận đau thương
Người đày đọa người chết thảm giữa biển đông
Biển ơi! Xin hãy dừng cơn thịnh nộ
Hãy mở đường đưa ta đến niềm hy vọng bình an"

Đó là trích đoạn bài thơ dài "Lời Nguyện Giữa Biển Đông" của Thái Tú Hạp vào năm 1979, khi ông dâng cảm xúc tận cùng bắt nguồn từ khi con tàu ra khơi với 200 người tị nạn vượt trùng dương từ Ðà Nẵng và bị bão tố đánh vỡ vào bờ hoang đảo Hải Nam, 13 người tử nạn. Ông đã thầm nguyện đến xứ sở Tự Do nào đó sẽ lập bia thờ và để tưởng niệm đến những đồng hương đã vĩnh viễn ở lại giữa Biển Ðông u trầm oan khuất.

Dự án đã được thai nghén và thi hành từng bước một từ nhiều năm qua, với bao khó khăn trên bước đường thực hiện. Vì tính cách vô vị lợi và mang một ý nghĩa cao đẹp, dự án được nhiều đồng hương tiếp tay hỗ trợ. Điểm đặc sắc là ngoài bức tượng đúc bằng đồng màu nâu, do điêu khắc gia kiêm họa sĩ Vi Vi thực hiện, còn có Bia Đá Hoa Cương màu đen rất thẩm mỹ khắc tên các thuyền nhân và bộ nhân không đến được đích điểm tự do, hoặc vì mất tích hay đã tử nạn, tên họ được ghi nhận lên bia đó. Đến nay hơn 5,000 nạn nhân đã ghi nhận trong danh sách làm bia. Việc tìm kiếm tên nạn nhân quá cố hay mất tích đã được cung cấp bởi thân nhân hay bạn bè của họ, việc khắc tên tên nạn nhân hoàn toàn miễn phí. Theo sự phác họa đài tưởng niệm này, bức tượng bằng đồng có chiều cao là 7.2 feet và nặng 4,000 pounds sẽ được đặt trên một bệ bê tông nằm giữa một hồ nước. Xung quanh hồ nước, phía bên ngoài sẽ là những bia đá hoa cương có khắc tên các nạn nhân. Tượng đài này cuối cùng đã tìm được nơi tọa lạc thích hợp là khu vực gần Vườn Vĩnh Cửu thuộc đất nghĩa trang Westminster Memorial Park, trong thành phố Westminster, ngay kế cận vùng Little Saigon, nơi tập trung đông đảo nhất đồng hương Việt Nam tại hải ngoại.

Ngày 26 tháng 4 năm 2008, nhiều đồng hương đã tề tựu cùng với các thành viên trong Ủy Ban Thực Hiện Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam và các nhân viên của Westminster Memmorial Park đã chính thức làm lễ động thổ khởi công xây dựng tượng đài.

Nếu trong một phút suy tư nào đó, ta tự hỏi có bao nhiêu người đã tử nạn trên bước đường tìm tự do như vậy. Nếu biết quá nguy hiểm thì tại sao hàng triệu người đành dứt khoát là phải rời bỏ quê cha đất tổ để ra đi. Theo Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc thì những số liệu về người tị nạn được ghi nhận như sau:

Đã có trên 850,000 người được định cư và trên 850,000 người xem như đã tử mạng trên đường vượt biên. Vào cuối năm 1978 đã có hơn 60,000 thuyền nhân tại các trại tị nạn Ðông Nam Á. Vào tháng 6 năm 1979 đã đạt số cao kỷ lục với 54,000 thuyền nhân đến các trại. Nếu chúng ta ước tính chỉ có 50% sắc suất vượt biên thành công thì đã có 100,000 người ra đi trong vòng một tháng. Số người thiệt mạng rất đáng cho chúng ta suy ngẫm. Lý do người ta liều mình trên Biển Đông cũng vì họ không thể sống dưới sự cai trị tàn ác của nhà cầm quyền hung bạo Cộng Sản Việt Nam .

Với con số khổng lồ gần một triệu nạn nhân coi như đã mất tích hay tử nạn, thì danh sách 5,000 người này được ghi nhận vào đợt đầu khắc tên sẽ là nổ lực tiêu biểu cho sự ghi ân và nhớ ơn những nạn nhân vượt biên chấp nhận đối diện với những rủi ro, những liều lĩnh thà chết còn hơn sống nhục nhã trong chế độ phi nhân tính của CSVN. Sự ra đi vĩnh viễn của hàng trăm ngàn nạn nhân của những thách đố biển cả hay vượt xuyên rừng núi để tạo ra thảm trạng đánh động lương tâm thế giới, để rồi chúng ta có những chuyến tàu ra khơi cứu vớt người vượt biển như Cap Anamur từ Đức, con tàu Đảo Ánh Sáng (Ile de Lumière) từ Pháp, hay Hải quân Hoa Kỳ,...

Trong những ý tưởng như vậy, đại diện cho Ủy Ban Thực Hiện Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam đã phát biểu những cảm nhận như sau:

"Cho đến nay thảm trạng Thuyền Nhân vẫn còn vang vọng như những thông điệp, những chứng tích cụ thể đầy đau thương và dũng cảm nhất trong lịch sử dân tộc, đã in sâu vào tâm khảm hàng triệu người Việt Nam rời khỏi quê hương vượt biển tìm tự do. Đã có hàng trăm ngàn thuyền nhân, bộ nhân trên những chặng đường gian nan đầy máu và nước mắt nhưng cuối cùng không đến được bến bờ nguyện ước. Đã đánh thức lương tâm nhân loại, đón nhận chúng ta vào định cư nơi các miền đất Tự Do, An Bình và Thịnh Vượng."

oOo

Lời Nguyện Giữa Biển Đông là tiếng kêu gào thống thiết vọng về từ biển cả xa xăm, những vong hồn bơ vơ bỏ lại với trùng dương sóng dử, tiếng khóc thê lương của những cuộc chia ly bi thảm ngút ngàn trời cao mà thơ Thái Tú Hạp đã diễn tả, những ước nguyền từ chuyến hải hành oan nghiệt, nhưng may mắn... Chuyện thuyền nhân là những chứng tích ghi nhận trang sử bi hùng nhất của người tị nạn mưu cầu sự tự do và nhân quyền trong đời sống, mà trong những chứng tích đã qua, có người thành công và có kẻ thất bại. Cuối cùng, những thất bại trong bất cứ cuộc hành trình tìm tự do nào cũng được tôn vinh và ghi nhớ qua biểu tượng của Tượng Đài Thuyền Nhân ngày nay.

"Biển sóng đừng xô nhau chìm sâu đáy nước
Ðừng xé em tôi từng mảnh cuồng điên
Em chỉ là cánh hoa mong manh thánh thiện
Em hồn nhiên trinh trắng ngây thơ
Tiếng mẹ khóc, mẹ gào to hơn sóng cả
Cuộc chia ly bi thảm ngút trời cao
Biển ơi! Xin hãy đưa ta đến trái tim người
Trái tim như thác nguồn yêu thương từ ái
Biển vỗ về nhau những nghiệt ngã trầm kha
Hoa Tự Do nở bằng nước mắt
Bằng máu xương khổ lụy hãi hùng

Con đường sáng biển khơi thức dậy
Trong tình thương của nhân loại thăng hoa
Biển ơi! Dù sao ta vô cùng cảm tạ
Lời nguyện một lần mãi khắc ghi
Xin hãy bốc hơi thành mưa thành suối Cam Lồ
Gieo xuống ruộng đồng xanh thắm ước mơ
Chảy vào trái tim người hiểm độc
Cho cuộc đời chuyển hóa Thiện Tâm

Chuyện Thuyền Nhân là những trang sử
Máu xương và nước mắt nghìn năm
Những thảm kịch từ Việt Nam réo gọi
Từ biển đông trầm thống kêu gào
Biển xót xa và loài người cứu khổ
Trong vòng tay Thánh Mẫu Từ Bi
Trong trái tim Mẹ Quan Âm Bồ Tát
Biển hết trầm luân bất hạnh thảm sầu
Biển thắp ngọn hải đăng tỉnh thức trong hồn nhau
Tạ ơn đất trời xóa tan thù hận
Ánh sáng nhiệm mầu trong tăm tối thương đau
Cho chúng ta niềm tin yêu hạnh phúc
Mùa xuân như triều sóng vươn lên
Tỏa ngát tình thương khắp cùng thế giới"
(Thơ Thái Tú Hạp)

Việt Hải
Ngày 30 tháng Tư, 2008.

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Những lập luận chệch hồng tâm - bênh vực Việt Tân

by: Hoàng NguyênApril 13, 2008


Nguồn: http://www.tamthucviet.com/articleview. ... %80%9dG%1e

Friday, May 02 2008
Contributed by: HoChiMinh



Sau khi ông Đỗ Hoàng Điềm, CT đảng VT, điều trần và đính chính, có hai bài viết, một của ông Ngô Quang Giai và một của BS Đặng Vũ Chấn, bênh vực cho ông Điềm (xin xem bên dưới bài này).

Hoàng Nguyên xin có vài hàng bình luận về hai bài ấy.

Ngô Quang Giai: Víu áo ông Tuấn, ông Tuấn Ơi

Kính thưa quý vị,

Bài viết của ông Ngô Quang Giai khá dài. Tuy không đồng ý với nhiều đoạn, song để đi thẳng vào điểm chính, chúng tôi chỉ xin trích lại một đoạn chính yếu và có đôi dòng góp ý. Đoạn ông Giai viết, được trích dẫn là:

"Những điều ông Điềm trình bày trong bài diễn văn của ông ấy, là hoàn toàn nói lên cái thực trạng của Việt Nam hiện nay, tức là nhà nước CSVN chỉ bắt bớ truy bức giam giữ những người nào chống họ, họ phân biệt đối xử với những người nào không theo họ...Đơn giản là vậy!"

Thưa quý vị (và ông Giai, nếu ông đọc được bài này),

Trong câu hỏi thượng nghĩ sĩ Webb dùng chữ "discrimination" có nghĩa là "kỳ thị", hay "phân biệt". Trong ý này, lúc điều trần, ông Đỗ Hoàng Điềm đã trả lời. Ở đây, cả ông Webb lẫn ông Điềm không có nhắc đến các chữ "bắt bớ", "truy bức" hay "giam giữ" mà ông Ngô Quang ai đã dùng.

Đối xử phân biệt, kỳ thị có thể là không cho cơ hội công bằng khi đi học, khi xin việc, khi xin môn bài làm ăn vân vân, chứ không nhất thiết phải là "bắt bớ", "giam giữ". Không có ai đặt thẳng vấn đề CSVN hiện nay bắt bớ, giam cầm quân cán chính VNCH và gia đình ở đây cả. Ông Giai đã suy diễn chệch hồng tâm, đi đến mức bỏ chữ vào miệng người khác rồi.

Hiện tình VN trước mắt mà chúng tôi, một người không có khả năng phối kiểm chi tiết bên trong nước, thấy là VC đối xử phân biệt với tất cả những người thấp cổ bé miệng, với tôn giáo. Tôi không nghĩ có lý do nào, VC đối xử phân biệt với người dân thường, mà lại công bằng với quân cán chính VNCH và thân nhân của họ.

Ông Ngô Quang Giai đã bẻ lái chữ "discrimination", thay vào bằng chuyện "bắt bớ", "giam giữ". Tuy những mệnh đề của ông Giai đưa ra không hẳn sai, nhưng việc ông "cải cách" ý chính để biện luận khiến người đọc cảm thấy những điều ông viết là ngụy luận.

Lối ngụy luận khéo léo này có thể mà mắt được một số độc giả, song nó làm cho người có phân tích cảm thấy sự bất lương thiện, thiếu thành thật của tác giả.


Đặng Vũ Chấn: Thấy gì qua một phát biểu của ông Ðồ Hoàng Ðiềm tại Thượng Viện Hoa Kỳ
Riêng bài viết của BS Đặng Vũ Chấn, chúng tôi cũng chỉ xin có một vài nhận định nhỏ. BS Chấn viết:

" Không như những lời dịch không đúng vô tình hay cố ý bóp méo rằng ông Điềm đã khẳng định rằng tình trạng kỳ thị thành phần chế độ VNCH đã chấm dứt (stopped, ceased) từ năm 90, ông Điềm đã dùng từ "faded away" có nghĩa là phai nhạt đi..."

Sau đó BS Chấn tiếp tục phân tích vào câu nói "fade away" này của ông Điềm.

BS Chấn đã bắn một mũi tên, tuy chệch hồng tâm, nhưng ghim đúng những ai đang chỉ trích ông Đỗ Hoàng Điềm. Bảo rằng không đúng hồng tâm là vì hồng tâm không nằm ở câu có chữ fade away ấy, mà nằm ở câu "So, right now, at this point, there's no particular incident that I am aware of" của ông Đỗ Hoàng Điểm.

(tạm dịch câu này là "Vậy, bây giờ, ngay thời điểm này, tôi không hay biết có một trường hợp đạc biệt nào cả").

Cách biện luận né tránh vấn đề của BS Chấn có thể không thể gọi là ngụy luận, nhưng đó là "nửa ổ bánh mì" mà đảng Việt Tân vẫn muốn dùng để làm no lòng dân tộc. Câu nói trên của ông Đỗ Hoàng Điềm như là một luật sư bênh vực cho VC trên tòa án quốc tế. Và, như được lập luận trong phần trên, VC không đối đãi công bằng với thường dân thì có thể nào họ đối xử công bằng với quân cán hính VNCH và gia đình?

BS Chấn cũng viết:

"Ông Webb cắt lờI ông Ðiềm để khoe hay chia xẻ rằng chính ông trực tiếp biết sự kỳ thị vần còn tiếp diễn sang tớI thập niên 90, rồI tự ông kể ra một loạt các sự việc và thành phần khác nhau bị VC kỳ thị."

Thưa quý vị,

Theo dõi đoạn video đó, người ta thấy ông Đỗ Hoàng Điềm bắ đầu lập lại ý cũ. Ông Điềm nói:

"However, my understanding is that by the late '80s into the '90s, the situation seems to have faded away, if you will. So, right now, at this point, there's no particular incident that I am aware of. Now is that still going on? I have to say that I'm not 100 percent certain, but I do know that it did go on, and I have talked to people who have suffered that greatly, but, like I said, until the late '80s, early '90s, that..."

Khi BS Chấn bảo ông Webb cắt lời "để khoe hay để chia xẻ" thì BS Chấn đã dùng nhận định chủ quan của mình. Một ngòi bút trong sáng thì không dùng chủ quan của mình phỏng đoán, một ngòi bút chân chính cũng không cần viết như vậy. Điều hiển nhiên mà nhiwều người cùng thấy là ông Điềm đã lập lại và ở trình độ của chính trị gia thượng thặng, người ta không lập đi lập lại, không nói những chữ thừa như "if you will" (trong câu trên).


Theo cá nhân tôi, BS Chấn là ngòi bút hay, song vì việc sai quấy của ông Điềm đã rõ, muốn biện hô cho ông ta là việc ngoài tầm tay của nhiều người.

Chính ông Điềm cũng đã nhận sai sót, tại sao ông Giai và BS Chấn lại phải dài dòng biện hộ làm chi? Nếu không có bài viết của ông Giai và BS Chấn thì cũng không có bài viết của Hoàng Nguyên hôm nay, như vậy cái mụt nhọt của ông Đỗ Hoàng Điềm và đảng VT cũng không bị nặn qua nặn lại. Mụt nhọt mà càng bị nặn thì càng viêm.

Trong ngành y có câu châm ngôn "nhiều khi không dùng thuốc là phương pháp trị liệu tốt nhất", có lẽ, trong chính trị cũng nên có một câu tương đương, hóm hỉnh hơn một chút, "Im lặng là vàng, điếm đàng thì chúng ghét".

Hoàng Nguyên


April 13, 2008

Nguồn: http://www.tamthucviet.com/articleview. ... %80%9dG%1e
band4 3G McKeno

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

33 năm ngày kết thúc cuộc chiến Việt Nam
May 02, 2008

Ngày hôm nay là ngày 30 tháng 4, kỷ niệm 33 năm ngày kết thúc cuộc chiến Việt Nam, với hình ảnh quê hương Việt Nam dù đã chấm dứt chiến tranh nhưng vẫn còn bất công nghèo đói, trong khi chế độ Cộng sản Việt Nam vẫn xiết chặt kiểm soát và đàn áp người dân trong nước.

Tại hải ngoại đặc biệt là tại Hoa Kỳ, lễ tưởng niệm ngày Quốc Hận đã được tổ chức ở nhiều nơi trong suốt cuối tuần qua. Tại Việt Nam, hôm nay nhiều viên chức cấp cao của nhà cầm quyền, kể cả Tổng Bí thư đảng Cộng sản Nông Đức Mạnh và Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Phú Trọng, đã tham dự một buổi mít tinh tại Hà Nội để kỷ niệm sự kiện này. Điều đáng nói là trong buổi lễ đã vắng mặt cả Nguyễn Minh Triết lẫn Nguyễn Tấn Dũng, hai nhân vật nằm trong bộ ba lãnh tụ của Cộng sản Việt Nam. Tại Hoa Kỳ, tiểu bang California ghi nhận việc Thượng Viện tiểu bang đã công nhận một nghị quyết tuần tưởng niệm 30 tháng 4 đen, và các buổi lễ tưởng niệm diễn ra liên tục từ hôm thứ bảy cho đến ngày hôm nay. Tối nay sẽ có những đêm thắp nến và văn nghệ đấu tranh kéo dài cho đến khuya.

Được biết nhiều cộng đồng Việt tỵ nạn tại các thành phố cũng tổ chức lễ treo cờ vàng, trong khi báo chí Mỹ cũng ghi nhận những hình ảnh và những sinh hoạt của người Việt trong dịp này. Cuộc chiến Việt Nam chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 làm khoảng 58,000 binh sĩ Hoa Kỳ và 3 triệu người Việt Nam thiệt mạng. Ở trong nước, đa số dân chúng và nhất là giới trẻ lợi dụng dịp nghỉ lễ để vui chơi, rất ít người tham dự những sinh hoạt ngày 30 tháng 4 do nhà nước Cộng sản Việt Nam tổ chức, khác với những buổi lễ rầm rộ vào dịp này trong những năm đầu tiên sau khi chiếm được miền Nam.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Huy Chương Bạc Thế Vận

Trần Khải

Năm nay sẽ là lần đầu tiên có Huy Chương Rước Đuốc Thế Vận và dự kiến sẽ trao giải này trong lễ Bế Mạc Thế Vận Bắc Kinh vaò cuối tháng 8-2008.

Thế Vận Bắc Kinh 2008 sẽ là tự hào lịch sử của dân tộc Trung Quốc vì được lần đầu đứng vai tổ chức các trò chơi thể thao cho các lực sĩ xuất sắc nhất của thế giới.

Và lần này, trong lễ bế mạc sẽ trao thêm các huy chương đặc biệt: Huy Chương Vàng Rước Đuốc Thế Vận sẽ trao cho lãnh tụ Kim Jong-Il của Bắc Hàn, và Huy Chương Bạc Rước Đuốc Thế Vận sẽ trao cho lãnh tụ Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam...

Bản tin của Donga.com hôm 29-4-2008 cho biết Bắc Hàn đã nồng nhiệt đón Đuốc Thế Vận hôm chủ nhật, thân thiện hơn xa so với kỳ mở tiệc quốc tế hồi tháng 10 năm ngoaí, khi lúc đó Tổng Thống Nam Hàn Roh Moo-hyun viếng thăm để dự thượng đỉnh lần thứ nhì Liên Triều.

Bản tin báo Nam Hàn cho biết 100,000 người đứng xếp hàng các vệ đường dài 6 cây số để đón Roh, nhưng hôm chủ nhật có tới hàng trăm ngàn dân Bắc Hàn ra đứng dọc 20 cây số để đón Đuốc Thế Vận.

Bản tin Xinhua của nhà nứớc Trung Quốc một ngaỳ trước đã loan tin lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong Il đã ban nhiều lệnh để đón Đuốc Thế Vận. Câu chuyện viết y hệt như trong phim xi-nê hay truyện thần thoại.

Bản tin Donga.com viết là "Cư dân Bình Nhưỡng đã dọn sạch con đường từ Tòa Đaị Sứ Trung Quốc xuyên suốt đoạn đường chạy chuyền đuốc bằng chính bàn tay của họ trong buổi sáng."

Làm sạch đường phố bằng chính bàn tay? Đúng thế, bản tin viết:

"Pyongyang residents cleaned the road from the Chinese Embassy throughout the torch relay route with their own hands from early in the morning," the report said..." (hết trích)

Nhưng vì đói thê thảm, nên dân Bắc Hàn không có vải may cờ. Thế là bản tin viết là "Được biết là Bắc Hàn đã nhập cảng 10,000 lá cờ Trung Quốc và 10,000 lá cờ Bắc Hàn từ Trung Quốc."

Chữ của dân Việt Nam mình khi ca ngợi các trường hợp naỳ là "Xuất sắc trong vai tỳ nữ..." không rõ có xài đúng cho lãnh tụ họ Kim được chưa. Dù sao đi nữa, thế là dư sức lãnh Huy Chương Vàng Rước Đuốc rồi.

Còn trường hợp Việt Nam thì sao? Chuyện quái chiêu là rất nhiều người dân không biết gì về chuyện rươc Đuốc Thế Vận, vì báo chí nhà nứơc không loan tin bao nhiêu.

Đài BBC kể hôm 29-4, "Ngọn đuốc Olympic đã tới Việt Nam, sẵn sàng cho cuộc rước thứ Ba 29/4 trong không khí báo chí quốc nội có phần im ắng."

Cuộc rước Đuốc Thế Vận thực tế đã diễn ra êm thắm tại Sài Gòn, nhưng nhiều nhà hoạt động dân chủ và dân oan đã bị bắt tại Hà Nội khi biểu tình trứơc Chợ Đồng Xuân để phản đối Thế Vận. Dù sao đi nữa, như thế cũng là êm thắm.

Bản tin AP kể rằng, cuộc chạy rước Đuốc Thế Vận lúc đầu lạng quạng "sau khi ngọn lửa bị tắt ngúm khi mới chạy chưa đầy 200 mét từ Nhà Hát Lớn Sài Gòn, nhưng các viên chức Thế Vận đã mồi lửa trở lại sau nhiều phút..." (The relay got off to a shaky start in Ho Chi Minh City after the flame went out less than 200 meters (feet) from the start outside the city's 19th century opera house, but Olympic officials reignited it after several minutes.)

Có điềm gì đây mà Lửa Thế Vận chạy chưa đâỳ 200 mét ở Sài Gòn đã bị tắt? Có phải hồn thiêng sông núi dập tắt để cho đàn anh Phương Bắc biết sợ anh linh các tử sĩ nhiều ngàn năm giữã đất, giữa đảo ở quê nhà?

Bản Nhận định của đảng Việt Tân về cuộc Rước Đuốc Bắc Kinh qua Việt Nam ngay chiều Thứ Ba 29-4-2008 (giờ Calif.) đã nói đầy đủ hình ảnh đau buồn, xin trích:

"Cuộc rước đuốc Thế Vận Hội Bắc Kinh chấm dứt vào tối ngày 29 tháng 4 năm 2008 tại thành phố Sài Gòn đánh dấu một vết đen ô nhục mới lên trang sử Việt Nam. Ngay trên những con đường mang tên Hai Bà Trưng, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, ... những con đường mang tên các vị anh hùng dân tộc dày công cứu nước đã tràn ngập hình ảnh của tập đoàn bá quyền: cờ đỏ, biểu ngữ của Trung Quốc tung bay thách đố. Ngay trên những con đường gọi là Đồng Khởi, Lý Tự Trọng cũng vang dội các khẩu hiệu tán dương Bắc Kinh bằng tiếng Tàu. Những mật vụ Trung Quốc trá hình du khách ngang nhiên tuần hành, phô diễn thanh thế dưới sự bảo vệ của công an CSVN. Trong khi đó, người dân thành phố Sài Gòn yên lặng trước những cặp mắt đằng đằng sát khí của hàng hàng lớp lớp những công an cùng giòng máu. Hàng rào sắt được dựng lên để ngăn ra, bên ngoài là quần chúng Việt Nam uất ức và căm phẫn, bên trong là những đầy tớ không phải của nhân dân Việt Nam mà là của đàn anh bá quyền phương Bắc. "Nhìn đám sinh viên Tàu mặt mày kênh kiệu phất cờ ngay tại Sài Gòn em vừa buồn vừa nhục. Mình là dân Việt Nam mà phải đứng ngoài. Cầm điện thoại nói cũng sợ, lại càng nhục hơn. Khán giả chứng kiến nỗi nhục của mình là dân ngoại quốc tóc vàng mắt xanh …" lời của một thiếu nữ đứng nhìn trước khách sạn Continental đủ để nói lên nỗi uất ức và phẫn nộ của hàng triệu công dân Việt Nam.

Việt Nam không những đã mất đất, mất biển mà còn mất cả danh dự của một quốc gia vào ngày 29 tháng 4 năm 2008..." (hết trích)

Nhưng phảI như thế, ông Nguyễn Tấn Dũng mới đươc Trung Quốc trao cho Huy Chương Bạc Rước Đuốc Thế Vận.

Huy Chương Bạc Thế Vận mà không cần phải thi đấu gì? Đúng vậy. Lịch sử sẽ không quên giây phút này, cũng như sẽ không quên hàng trăm nhà dân chủ và dân oan biểu tình ở Đồng Xuân.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Phát Biểu Của Ô. Võ Đại Tôn Trong Buổi Phát Hành Sách "Đóa Hồng Gai"


LGT: Trong buổi phát hành tác phẩm "Đóa Hồng Gai" của Nữ Tù Nhân Chính Trị Nguyễn Thanh Nga tại Sydney, Ông Võ Đại Tôn, trong cương vị là người cùng chung khổ nạn bị biệt giam hơn 10 năm trong ngục tù CS, đồng thời cũng là một người anh tinh thần, và là người đồng hương Quảng Nam - Đà Nẵng với tác giả, đã được Ban Tổ Chức mời phát biểu giới thiệu Tác Giả Nguyễn Thanh Nga. Sau đây là nguyên văn lời phát biểu vô cùng cảm động và có ý nghĩa được Ông ứng khẩu ngay tay buổi phát hành sách.

*

Kính thưa Quý Vị,
Thưa Quý Chiến Hữu và Quý Bạn,

Chỉ còn hơn một tuần lễ nữa, chúng ta tưởng niệm 33 năm Quốc Hận 30.4. Trong thế hệ thứ nhất đành phải lìa xa Tổ Quốc, chúng ta đã cố gắng lau khô những dòng nước mắt đau thương để vùng dậy tiếp tục cuộc hành trình chống Cộng còn lại. Dù thời gian 33 năm đã trôi qua nhưng tội ác của Cộng Sản đối với toàn Dân Tộc vẫn còn nguyên vẹn và ngày càng tăng trưởng, đưa quê hương đất nước vào hố thẳm diệt vong, và trong lòng của mỗi người chúng ta - nạn nhân trực tiếp hay gián tiếp - vẫn còn hằn sâu những vết thương rỉ máu ngày đêm. Trong muôn ngàn tội ác do người Cộng Sản tạo ra, có những chính sách phi nhân đã được triệt để thi hành để hủy diệt thể xác và tinh thần anh chị em tù nhân chính trị chúng tôi, những người may mắn thoát ra khỏi ngục tù Cộng Sản, đang sống trong lòng xã hội và gia đình với những cơn ác mộng âm thầm ngày đêm, và có những người đã bị tàn phế suốt những năm tháng còn lại trong đời.

Cộng Đồng Úc Châu chúng ta đã từng đón tiếp trong tình thương và sự cảm thông những nam tù nhân chính trị tiêu biểu như Nguyễn Chí Thiện, Đặng Chí Bình, Nguyễn Hữu Luyện, Lý Tống… nhưng hôm nay là lần đầu tiên đón tiếp một nữ tù nhân chính trị đã bị Cộng Sản đày đọa suốt hơn 10 năm giam cầm và bị tra tấn dã man đến tàn phế cuộc đời. Trên cương vị là người cùng chung khổ nạn bị biệt giam hơn 10 năm trong ngục tù Cộng Sản Hà Nội, bị tra tấn tàn nhẫn, đồng thời cũng là một người anh tinh thần, một trong những chiến hữu Phục Quốc đầu tiên trong không gian liên hoàn hải ngoại - quốc nội ngay sau ngày 30 tháng 4, 1975, và lại là đồng hương Quảng Nam - Đà Nẵng, tôi được Ban Tổ Chức mời phát biểu giới thiệu Tác Giả hồi ký "Đóa Hồng Gai" từ Hoa Kỳ qua đây và đang hiện diện trong hội trường cùng quý Vị và quý Chiến Hữu hôm nay.

Tất nhiên, chúng ta nên dành thời gian để nghe người nữ tù nhân chính trị này trang trải nỗi lòng nhưng tôi cũng xin phép quý Vị để nói lên những cảm tưởng chân thành về một người phụ nữ Việt Nam kiên cường trong một giai đoạn oan khiên của Dân Tộc trong dịp tưởng niệm 33 năm Quốc Hận.

Trong cuộc chiến chống Cộng tại miền Nam trước đây, đã có những người Mẹ, người vợ Lính QLVNCH anh hùng, hữu danh hoặc vô danh, đã âm thầm chiến đấu trên khắp 4 Vùng Chiến Thuật, theo con theo chồng, với hình bóng đơn sơ mộc mạc như thửa ruộng bờ đê. Một trong những người vợ Lính anh hùng đó mà cá nhân tôi đã từng biết rõ sự tuẫn tiết lẫm liệt là chị Phạm Thị Thàng tại vùng trời Cai Lậy thuộc tỉnh Định Tường. Hình của chị đã được dựng lên tại đường Hồng Thập Tự, Saigon, trước năm 1975. Chị Thàng là vợ của nghĩa quân Lê Văn Hùng, đồn trưởng Cai Lậy. Khi chồng đã bị tử thương trong một cuộc tấn công của Cộng Sản, chị Thàng ẵm hai con nhỏ núp sau chiến hào để tử thủ với một thùng lựu đạn 16 quả. Chị đã bình tĩnh vung tay ném vào làn sóng quân địch đang ào ạt tấn công hết 15 quả lựu đạn. Cuối cùng, trước khi khu đồn bị chiếm, chị Thàng đã tuẫn tiết cùng với hai đứa con nhỏ dại bằng quả lựu đạn thứ 16. “Thùng lựu đạn chỉ còn đây một quả - Em dâng Anh với cả Tình Yêu”. Tôi đã viết những câu thơ như vậy để vinh danh một trong muôn ngàn người phụ nữ Việt Nam anh hùng trong quân sử.

Hôm nay, sau cuộc chiến, trong muôn ngàn người phụ nữ Việt Nam anh hùng đó, và trong số những người còn sống sót, có một nữ tù nhân chính trị, tác giả cuốn hồi ký "Đóa Hồng Gai", đã bị Cộng Sản đày đọa đến tàn phế thân xác. Vào một đêm trời mưa tại vùng trời Nam California, khi tôi lái xe đưa người nữ tù nhân chính trị này về lại căn phòng trong cư xá chính phủ, tôi đã nghe người nữ chiến hữu này nói với tôi qua nước mắt: “Em nhớ quê nhà mình quá, anh ơi. Biết bao giờ mới về lại đất Quảng Nam? Ở đây, sống nơi xứ người, em không có gia đình, cô đơn quá, và những vết thương tù làm em đau lịm người, chắc không sống nổi. Người đàn bà có hai thiên chức là được làm vợ và làm mẹ. Nhưng Cộng Sản đã tra tấn em đến độ em không còn được hưởng hạnh phúc lập gia đình như những người đàn bà khác…”

Tiếng khóc ấy hôm nay vẫn còn đọng lại trong lòng tôi. Những dòng nước mắt, những tật nguyền vì bị tra tấn, những vũng máu đổ trong xà lim tăm tối, của anh chị em tù nhân chính trị chúng tôi đã được cô đọng lại thành những trang hồi ký lao tù. Đấy là những chứng từ về tội ác của người CS. Chúng tôi không bán máu cho ai cả, chỉ mong đón nhận sự cảm thông và ủng hộ để trang trải chi phí ấn loát và chút phương tiện để tiếp tục cuộc hành trình còn lại trong đời, làm nhân chứng cho một giai đoạn đau thương của cả Dân Tộc dưới chế độ bạo tàn CSVN.

Hồi ký "Đóa Hồng Gai" chỉ ghi ra một phần rất nhỏ về tội ác của CSVN, với văn phong tả chân bình dị, nhưng đấy là chân dung của một người phụ nữ VN đã bị đày đọa suốt đời. Muốn đem chân dung này đến với quý Vị và các Bạn hôm nay, Tác Giả đã phải vượt qua hơn nửa vòng trái đất với một người bạn cùng đi theo để dìu những bước chân tật nguyền và săn sóc sức khỏe. Chi phí phương tiện di chuyển phải tăng gấp đôi, lại còn phải in sách tại đây cho bớt phần tốn kém chuyên chở. Kính mong quý Vị cảm thông ủng hộ và chúng ta hãy cùng nhau tặng cho Tác Giả "Đóa Hồng Gai" những bông hồng không có gai cho ấm lòng nhau.

Trên đất Quảng Nam của anh em chúng tôi có một câu ca dao: “Tay bưng dĩa muối chấm gừng - Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau”. Trong cuộc đời của mỗi người chúng ta, có nhiều lúc đã nếm mùi cay của gừng, chất mặn của muối, và hôm nay, trong tình cảm “Xin đừng bỏ nhau” đó, tôi xin trân trọng giới thiệu đến quý Vị, quý Chiến Hữu và quý Bạn Trẻ, một người phụ nữ VN kiên cường từ lao tù CS trở về, tuy thân xác bị tàn nhưng tinh thần chưa bị phế. Đó là nữ tù nhân chính trị Nguyễn Thanh Nga yêu quý của chúng ta. Xin mời Thanh Nga lên diễn đàn.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Mối ám ảnh về mầu da

Ngô Nhân Dụng

Sáu tháng nữa, cử tri Mỹ sẽ đi bầu. Sáu tháng là một thời gian khá dài, nhất là trong thời đại thông tin đại chúng lan rộng và truyền nhanh như hiện nay, bao nhiêu chuyện có thể làm người dân thay đổi ý kiến.

Uy tín các ứng cử viên sẽ còn lên, xuống. Vì các đề tài tranh cử có thể thay đổi, trong 6 tháng bao biến cố sẽ xẩy ra. Mối lo lắng của cử tri cũng thay đổi, lúc này họ đang lo về kinh tế, lúc khác chuyện an ninh, quốc phòng có thể nổi lên. Một ứng cử viên chỉ nói lỡ một câu; hay bà vợ hoặc ông chồng của họ nói lỡ một câu, những chuyện mới được tiết lộ, nhiều người dân sẽ có thái độ khác. Trong sáu tháng nhiều chuyện có thể xẩy ra ảnh hưởng tới lựa chọn khi họ bỏ phiếu.

Các cuộc phỏng vấn cho chúng ta biết dư luận của người dân, nhưng khi phỏng vấn họ thường đặt câu hỏi: “Nếu hôm nay đi bỏ phiếu thì ông, hoặc bà, sẽ chọn ai?” Không người nào hỏi, “Sáu tháng nữa quý vị sẽ bỏ phiếu cho ai.” Vì thế, các cuộc nghiên cứu dư luận lâu lâu lại loan báo những kết quả mới.

Một cuộc nghiên cứu trong mấy ngày cuối cùng của Tháng Tư 2008 cho thấy đảng Dân Chủ có nhiều triển vọng tiếp tục kiểm soát cả hai viện Quốc Hội trong năm tới. Nhật báo Wall Street và đài NBC cho biết dân Mỹ tỏ ra đã chán đảng Cộng Hòa, nguyên nhân chính là vì Tổng Thống Bush. Chỉ có 27% cử tri coi ông Bush đã thành công trong vai trò tổng thống, cũng như chỉ có 27% dân có thiện cảm với đảng của ông. Theo báo Wall Street, một tờ báo khuynh hướng bảo thủ và thường đồng quan điểm với đảng Cộng Hòa, từ năm 1992 đến nay đảng Cộng Hòa mới bị dân cho “điểm thấp” đến như vậy. Năm đó, ông Bill Clinton thắng ông Bush bố, chấm dứt 12 năm đảng Cộng Hòa ngồi trong Tòa Bạch Ốc.

Hiện nay ba phần tư dân Mỹ đang nghĩ quốc gia đang đi lạc hướng, chỉ có 15% cho là đi đúng đường. Ðối với quan tâm hàng đầu của cử tri là nền kinh tế đang suy yếu, chỉ có 21% tin rằng các chính sách của Tổng Thống Bush là đúng.

Vì vậy, đa số các cử tri Mỹ đang ủng hộ đảng Dân Chủ trong cuộc bầu cử tổng thống năm nay. Nếu không nêu tên ai là các ứng cử viên tổng thống thì có 51% cử tri nói họ sẽ bầu cho đảng Dân Chủ, chỉ có 33% bầu cho đảng Cộng Hòa. Tuy nhiên, khi nêu tên các ứng cử viên của hai đảng thì sự tỷ số thắng bại lại khác. Nếu ông Barack Obama tranh cử thì sẽ thắng ông McCain với tỉ số 46%-43%. Còn nếu đảng Dân Chủ chọn bà Hillary Clinton làm đại diện thì bà chỉ thắng với tỉ số 45%-44%. Có thể coi cả hai trường hợp là bất phân thắng bại. Vì trong những cuộc phỏng vấn chừng 1,000 người để suy ra dư luận cả nước như vầy, kết quả tìm ra có thể sai đến 3% cao hay thấp hơn sự thật. Trong những cuộc nghiên cứu dư luận khác, có khi bà Clinton lại thắng ông McCain với điểm chênh lệch cao hơn ông Obama nhưng mức chênh lệch cũng không xa vơi sai số là bao nhiêu. Có thể nói Nghị Sĩ John McCain được tín nhiệm đặc biệt, uy tín cá nhân ông cao hơn đảng ông. Và dù ai đại diện đảng Dân Chủ trong Tháng Mười Một này, thì cuộc tranh tài với ông McCain đều nhiều gay go.

Trong vài tháng sau cùng trước ngày dân Mỹ đi bỏ phiếu, các ứng cử viên sẽ sử dụng đến những “chiêu độc.” Khi dư luận cứ nghiêng ngửa không rõ thắng bại, những đòn tranh cử thấp có thể được đưa ra nếu muốn đánh vào “tử huyệt.” Thường chính các ứng cử viên tổng thống không công khai hạ độc thủ, nhưng không ai cấm các người cùng phe họ tấn công bằng những đòn thấp. Năm 1988, ông Gorges H.W. Bush (bố) thắng ứng cử viên Dân Chủ Dukakis một phần nhờ những cuộc tấn công trên ti vi trong tháng sau cùng. Màn quảng cáo này kể chuyện một tử tội được ông Dukakis giảm án khi ông là một thống đốc tiểu bang; tử tội đó sau đã trốn ra ngoài, phạm tội cưỡng hiếp và sát nhân lần nữa.

Câu chuyện kể bằng phim ảnh đó gây cho dân chúng Mỹ cảm tưởng ông Dukakis phán đoán sai lầm, mềm yếu đối với tội phạm. Nhưng điều ám ảnh các cử tri khi họ vào phòng kín chọn lá phiếu bầu, là mầu da kẻ sát nhân. Trong phim không có một câu nào nhắc đến chủng tộc của anh ta. Nhưng ai cũng phải thấy và nhớ mãi anh là người Mỹ da đen. Cảnh đó ám ảnh nhiều người Mỹ, gợi lại mối lo của họ là đảng Dân Chủ thường theo những chính sách dễ dãi với người Mỹ da đen. Và cũng gợi lại mối ám ảnh của cử tri về tình trạng người da đen phạm pháp nhiều hơn bình thường.

Sau cuộc bầu cử, không ai còn nhắc đến những người sản xuất màn quảng cáo tranh cử trên. Nhưng mục đích của họ đã đạt được ông Bush đắc cử năm 1988.

Năm nay, chúng ta thấy Nghị Sĩ Barack Obama đang có triển vọng sẽ được đảng Dân Chủ chọn ra tranh cử tổng thống gốc da đen. Và cho tới nay mọi người thuộc cả hai đảng đều tránh không đem vấn đề mầu da ra nói. Ai cũng muốn tỏ ra mình là người phong nhã và cao thượng; không ai tấn công đối thủ về chuyện chủng tộc, tôn giáo, đời tư.

Nhưng trong tuần trước, những người lãnh đạo đảng Cộng Hòa ở tiểu bang North Carolina đã đụng chạm tới “điều cấm kị” này. Họ đã chuẩn bị đưa ra những hình ảnh Mục Sư Wright, của giáo hội mà ông Obama vẫn tham dự từ 20 năm nay, tuyên bố những lời “chửi” cả nước Mỹ. Nghe tin đó, Nghị Sĩ John McCain và giới lãnh đạo đảng Cộng Hòa đã lập tức yêu cầu ngưng không cho chiếu những màn quảng cáo đó nữa. Nhưng cấm họ cho tới bao giờ? Và sau này còn có thể ngăn cản họ được không?

Những lời thóa mạ nước Mỹ và người Mỹ da trắng của Mục Sư Wright đã được đưa lên mạng lưới từ Tháng Ba. Barack Obama đã công khai nói ông không đồng ý với vị mục sư đã làm phép cưới cho ông cũng như rửa tội cho 2 người con của ông và bà Michelle. Tuy nhiên, ông Obama cũng nói ông không thể từ bỏ vị mục sư và giáo hội của ông được. Và từ đó tới tuần rồi, không ai nhắc tới câu chuyện này nữa. Cho tới khi, chính ông Wright nhắc nhở mọi người phải nhớ lại. Tại câu lạc bộ Báo chí ở Washington, ông mục sư này lập lại những lời nói được người ta chiếu trước đây: Chính phủ Mỹ có thể gây bệnh liệt kháng (ADIDS) cho người Mỹ da đen, và đã tự gây tội khiến dân Mỹ bị thù ghét và bị khủng bố. Nghị Sĩ Barack Obama bây giờ phải công khai chỉ trích vị mục sư của mình, những vấn đề mầu da lại được gợi ra, không tránh được.

Và khi cuộc tranh cử tổng thống đến những ngày chót thì người ta không thể lờ đi không nói tới vấn đề mầu da, người này tránh sẽ có người khác nói. Trong màn quảng cáo ti vi mới bị chặn lại, đảng Cộng Hòa ở North Carolina còn chiếu cảnh ông Obama đứng vòng tay ôm ngang lưng một ứng cử viên Quốc Hội của đảng Dân Chủ. Ứng cử viên đó là một phụ nữ da trắng. Cảnh này rõ rệt muốn “đánh lá bài mầu da” trong cuộc tranh cử địa phương. Ðảng Cộng Hòa ở North Carolina muốn cổ động cho các ứng cử viên Quốc Hội của họ, những cảnh họ trưng ra sẽ được truyền đi trên mạng lưới khắp nước Mỹ, không ai ngăn được.

Liệu Nghị Sĩ John McCain có thể ngăn cản không cho ai nhắc tới Mục Sư Wright trong cuộc tranh cử tổng thống, nếu Nghị Sĩ Barack Obama đại diện cho đảng Dân Chủ hay không? Nếu những màn vận động tương tự được chiếu vào Tháng Mười năm nay thì ảnh hưởng trên cử tri Mỹ như thế nào? Ðó là một điều mà giới lãnh đạo đảng Dân Chủ đang lo ngại.

Cuộc bỏ phiếu ngày Thứ Ba tới ở North Carolina và Indiana chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng của câu chuyện Mục Sư Wright mới được nêu ra. Ở North Carolina, ông Obama chắc sẽ thắng bà Clinton, vì trong đảng Dân Chủ rất nhiều cử tri da đen ủng hộ ông. Nhưng nếu ông chỉ thắng với một tỷ số khiêm tốn trên 10% thì mọi người sẽ thấy các cử tri da trắng ở đó đã bị ảnh hưởng về chuyện đen trắng. Tại Indiana, ông Obama gần đây vẫn dẫn trước bà Clinton, nếu Thứ Ba tới ông không thắng thì chắc chắn vì ảnh hưởng của chuyện ông Wright. Indiana xưa nay vẫn bầu cho đảng Cộng Hòa làm tổng thống, cuộc chạy đua giữa ông Obama và bà Clinton sẽ chỉ có tính cách biểu tượng. Ðó sẽ là một biểu tượng rất mạnh, ảnh hưởng tới sự lựa chọn của các đại biểu trong kỳ đại hội đảng Dân Chủ vào Tháng Tám.

Các đại biểu sẽ chọn ứng cử viên nào có nhiều hy vọng thắng ông McCain vào cuối năm nay. Trong những tiểu bang then chốt, như Ohio, Pennsylvania và Florida, mà sự lựa chọn sẽ quyết định ai làm tổng thống, số cử tri “đàn ông, da trắng và thuộc giới lao động” sẽ là thành phần mà cả hai đảng cần tranh thủ. Cho tới nay, bà Hillary Clinton được giới cử tri này trong đảng Dân Chủ ủng hộ nhiều hơn.

Hiện nay, đảng Cộng Hòa có vẻ lo ngại ông John McCain sẽ khó thắng ông Obama, đối đầu với bà Clinton có vẻ dễ hơn. Nhưng nếu đảng Dân Chủ chọn ông Obama thì trong cuộc tranh cử vấn đề mầu da không tránh khỏi sẽ được đưa ra. Chỉ cần gây cho dư luận chú ý đến những cảnh Mục Sư Wright tuyên bố những câu nẩy lửa “chống Mỹ” là sẽ khích động được rất nhiều cử tri da trắng. Hiện nay còn khoảng 300 đại biểu đương nhiên được tham dự đại hội đảng Dân Chủ chưa quyết định sẽ chọn ai, nhưng nếu lo lắng về vấn đề này thì họ sẽ ngần ngại hơn khi chọn Nghị Sĩ Barack Obama. Không ai muốn đem mầu da vào cuộc tranh cử, nhưng rất khó gạt vấn đề đó ra khỏi đầu óc mọi người!

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Nhân Quyền: Chiếc Đũa Thần Giựt Sập Chế Độ CSVN.
Tác giả: Long Quân


NHÂN QUYỀN: Chiếc đuã thần giật sập chế độ Cộng Sản! Từ học thuyết Marxism, đảng Cộng Sản Nga đã cướp được chính quyền NgaHoàng năm 1917,tạo lập triều đại Cộng Sản và mở rộng ảnh hưởng,lấn chiếm ra khắp thế giới.Từ Âu sang Á,xuống phi châu xuyên Điạ Trung Hải,Trung Mỹ...nơi nào chế độ cộng sản khống chế,ngự trị đều dưới hình thức độc tài, đảng trị !
Chúng dùng mọi chiêu bài,lợi dụng mọi hình thức đấu tranh từ những phong trào,phe nhóm đấu tranh giải phóng dân tộc,chống thực dân phong kiến...Cứu cánh cuả chúng là cướp chính quyền và từ đó biến đảng cộng sản thành những “ông hoàng cai trị” và con người thành những “con vật bị trị” !
Sự cai trị- nói khác đi là sự tác oai tác quái cuả những “vị đầy tớ trung thành cuả nhân dân” dưói chế độ cộng sản khắp nơi. Điều này đã là những bằng chứng hùng hồn,những dẫn chứng lịch sử về sự nghèo đói,lạc hậu,man rợ,tàn ác,cũng như sự khát máu,vô tâm,phi nhân bản cuả tập đoàn cộng sản cai trị thế giới.
Chế độ cộng sản đã đem lại bần cùng,nghèo đói cho con người. Đó là một thực trạng bi đát mà mọi người đều đã nhận thấy trong các chế độ cộng sản khắp nơi trên thế giới từ hơn bảy chục năm qua,từ Nga Sô, Đông đức,Balan,Hunggialợi,Lỗmani...cho đến TrungCộng,ViệtNam,BắcHàn...sang Cuba,xuống PhiChâu...tất cả đều là những thảm kịch khốn khổ,bi đát mà tập đoàn Cộng sản mang đến cho con người !
Thập niên 80,các chế độ cộng sản,khởi đầu là chế độ Nga Cộng, đã chịu đựng không nỗi,không thể cưu mang “nghiã vụ quốc tế”,buộc lòng rút quân ra khỏi A Phú Hãn,phải bỏ rơi không thể tiếp tục can thiệp vào nội bộ các quốc gia khác bằng con đường bạo lực.Chế độ cộng sản đã bị lung lay từ gốc rễ.Phương tiện để bảo vệ quyền hành cai trị cuả chế độ cộng sản mọi nơi vẫn là bạo lực, đã không còn hữu hiệu nữa trước sự đề kháng,tranh đấu cho sự sống còn cuả con người.
Trong quá trình chống lại sự bành trướng cuả tà thuyết Marxism-Leninism,người ta đã dùng nhiều sách lược,nhiều chiêu thức khác nhau như quân sự ,ngoại giao,kinh tế...nhưng đến nay vẫn chưa có chiêu thức nào hữu hiệu hơn,kết quả hơn là “chiếc đũa Nhân Quyền” chọt mạnh vào tim óc cuả kẻ thù cộng sản !
Cộng sản tan vỡ ra từng mãnh nhỏ.Sào huyệt cuả chúng tại Mạc tư Khoa,nơi phát xuất và đề xướng ra nhiều chiêu thức làm đau khổ, đói nghèo cho nhân loại,hiện còn thoi thóp trước sự đấu tranh đòi lại quyền làm người cuả con người.
Nhân Quyền vẫn là phương thức hữu hiệu,thiết thực nhất để giựt sập mọi chế độ độc tài,mọi tập đoàn thống trị đi ngược lại quyền sống chính đáng cuả con người .
Nhân Quyền là chiếc đũa thần cuả nhân loại, đánh đỗ mọi hình thái độc tài, áp bức, phi nhân bản,chống lại nguyện vọng khát khao tự do,dân chủ cuả con người.
Nhân Quyền ,thế tất thắng cuả chính nghiã tự do,cuả con người đứng trước bạo lực và khủng bố cuả bọn phi nhân tàn bạo.
Nhân Quyền,một sự đề kháng tất nhiên cuả con người cho tự do,vì tự do và cuả tự do. Sự đấu tranh cho Nhân Quyền tại các nước cộng sản được đồng nghiã với chính danh lý tưởng : Phải giải trừ đảng cộng sản,tiêu diệt chế độ cộng sản ; từ đó xây dựng một chế độ tự do để phục vụ cho quyền lợi chính đáng cuả con người.
Sự đấu tranh cho Nhân Quyền tại các quốc gia bị cộng sản thống trị, áp đặt chế độ độc tài phải được hiểu là giựt sập bạo quyền cộng sản ở các xứ đó chứ không phải là cải thiện,sửa đổi,canh tân, đổi mới... để làm chế độ đó sống còn , đẹp hơn...
Sự đấu tranh cho Nhân Quyền tại Việt Nam phải được định danh, được hiểu là giải trừ chế độ độc tài đảng trị Việt Cộng,dẹp tan bè lũ cộng sản già nua,tham quyền cố vị,những kẻ phi nhân,khát máu... đã đem lại bần cùng lạc hậu, đói nghèo tang tóc cho dân tộc Việt Nam hơn nữa thế kỷ nay....chớ không phải cài thiện, hợp tác,canh tân, đổi mới chế độ đó,làm cho chúng sống còn,nhằm củng cố địa vị và duy trì chế độ vô sản chuyên chính, để chúng tiếp tục cai trị, áp bức người dân như chúng đã làm và đang làm.
Ý thức được như vậy,nhận định rõ ràng như vậy là chúng ta đã nhận chân được phương thức đấu tranh, biết dùng “chiếc đũa thần Nhân Quyền” với vai trò cứu dân,cứu nước,và giải phóng người dân Việt thoát ra khỏi tù đày, đói nghèo lạc hậu...Bằng không,ngược lại chỉ đấu tranh khơi khơi,kêu gọi cổ võ cho Nhân Quyền,tự do cho Việt Nam mà vẫn để cho tập đoàn cộng sản còn nguyên đó thì có khác gì những tên tay sai cò mồi, đấu tranh dân chủ “cuội”!
Tóm lại chủ nghiã Marxism đồng nghiã với nhà tù,với súng đạn,với xe tăng,máu và nước mắt! Với lý thuyết thì đầy láo khoét và lừa bịp,với thũ đoạn “treo đầu heo,bán thịt chó” mà áp dụng thì bằng khủng bố,bằng cùm kẹp tù đày,bằng đàn áp dã man,bằng sát hại thủ tiêu chẳng gớm tay!
Trước sức mạnh cuả nhân dân,cuả con người,trước sự sống còn là vĩnh cửu và cần thiết,khi con người chẳng còn biết sợ là gì nữa,khi các dụng cụ giết người kể trên không còn hiệu lực,khi con người quyết vùng lên đạp đổ xích xiềng, đòi hỏi Tự Do, đòi hỏi Nhân Quyền thì chủ nghiã Marxism cũng như chế độ Marxism rơi rụng và tan rã.Huyền thoại Marxism đã cáo chung,Xả Hội Chủ Nghiã là trò hề thế kỷ.Màn đã hạ,không ai thèm xem trò hề đó nữa!
Vậy mà tập đoàn Cộng Sản bên quê nhà,bọn giáo điều Mác-Xít “cuối muà lạc hậu” vẫn còn đang say máu,cố quyết bám chặt “Xả Hội Chủ Nghiã- trò hề thế kỷ” mà quan thầy của chúng đã vứt bỏ từ lâu.Chúng chỉ có thể kéo dài kiếp sống mong manh thêm giây lát, để rồi đây, cuối cùng nhận lấy phần thưởng như tên độc tài khát máu Ceausescu cuả xứ Romania kia vậy !
Bởi bất cứ chế độ nào,làm cho con người mất đi tự do,dân chủ,mất đi quyền sống,quyền làm người.. đều phải bị giải thể. Đó là cứu cánh cuả công cuộc đấu tranh cho Nhân Quyền và đó là lý tưởng cuả người chiến sỉ Nhân Quyền vậy.

LONG QUÂN.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Cứu nước là trách nhiệm của người Việt đang sống trong tự do
Tác giả: Đặng Mỹ Dung



Các bạn của tôi ơi!

Ba mươi hai năm chúng ta sống với những giấc mộng không bình thường, trong đó có những ước mơ tưởng như tầm tay nầy vói được, nhưng chánh quyền cộng sản Việt Nam vẫn còn cỡi voi của cộng sản về giầy mả tổ của quê hương chúng ta...

Một điều tôi biết tiếng bom đạn không còn xé màng đêm ở quê hương của mình nữa, người dân không chết bằng súng, bằng đạn, bằng mìn nổ chậm nhưng tiếng thì thầm đòi quyền làm người của một dân tộc không có tự do làm điên đảo lòng người từ bắc chí nam trong 32 năm dài vô tận. Dân tộc của chúng ta chết trong tù, chết dưới những bàn tay của cộng sản, chết vì đi tìm tự do, chết vì muốn sống chết trong âm thầm.


32 năm nay những người con của Việt Nam phải lần lượt bỏ nước ra đi tìm tự do nhưng chúng ta không ai bỏ quên người ở lại. Mỗi lần bên nhà có thiên tai các cộng đồng ở hải ngoại tổ chức cưứ trợ đồng bào. Tết đến ai không về thăm nhà cũng đóng góp cho bà con, làng mạc ăn được một cái Tết vui. Thanh Minh con cháu không về tảo mộ, thì con cháu ở hải ngoại gởi tiển cho con cháu ở Việt Nam nhận trách nhiệm nầy dùm. Con người tự do của chúng ta là thế đó!

Nhưng cộng sản đã lợi dụng người những tấm lòng nầy để cho chúng ta nuôi dân cho họ nhờ trong suốt 32 năm nay. Người tỵ nạn cộng sản đã nâng cao đời sống của người dân Việt Nam trong 32 năm nay? Ai về Việt Nam rồi trở qua Mỹ với nhận xét như: "Ở Việt Nam bây giờ thay đổi nhiều lắm, nhà nào cũng có đèn điện, nhà nào cũng có ít nhút một cái điện thoại, chiếc xe Honda, đường xá đi từ quê lên tỉnh tốt hơn hồi trước gắp trăm ngàn lần."


Hãy nhớ lại: Chính bàn tay của ông già tỵ nạn cộng sản quét trường học nâng cao đời sống đó của gia đình ở Việt Nam. Bàn tay cô thợ làm móng tay, móng chân cho người Mỹ đã lót những con lộ cho xe đi thẳng một thừng từ quê lên tỉnh. Nhà trong làng có điện sáng trưng cũng là do người đàn bà đứng trong hảng rau lạnh cóng làm từ 4 giờ sáng tới 3 giờ chiều có tiền gởi về cho dâu con đó bà con ơi. Ông gìa có điện thoại để lâu lâu con cháu gọi về thăm ông nội, điện thoại đó không phải của chánh phủ cách mạng cấp cho ông để nghe được tiếng nói của thế giới bên ngoài ông ơi! Anh thất nghiệp nên em gởi tiền cho anh mua xe Honda chạy xe ôm kiếm gạo nuôi con, nuôi vợ. Em có mặc áo lụa, áo là đẹp như vợ con cán bộ cũng đừng quên áo đó không phải là di sản của Bác Hồ chết để lại mà là mồ hôi nước mắt của người anh tỵ nạn còn nhiều quá tình thương gởi về cho em có áo mặc đó thôi.


32 năm chúng ta đã xây dựng cho Việt Nam được đến ngày nay, trong khi đó cộng sản vơ vét, tham nhũng, bốc lột, chà đạp lên người dân của chúng ta, cộng sản hại dân, phản quốc. Người dân trong nước chịu cảnh tù tội để đòi tự do, chịu cảnh bắt bớ tra khảo để gởi qua đây cho chúng ta một mật mã là đừng giúp cho cộng sản làm giàu, nước giàu cộng sản mạnh, người dân Việt Nam mất tự do, mất quyền làm người.


32 năm, có người không sống được tới 32 tuổi, nhưng chúng ta còn sống đây, còn trí tuệ, còn tình yêu thương cho giống nòi, cho đất nước, cho nhau. Tôi biết bạn bè, thân hữu của tôi toàn là người yêu nước, có tài, có trí, có tất cả để đánh đổ cộng sản ở Việt Nam, xin tất cả đòng lòng với nhau quyết liệt hy sinh một lần nữa. Kêu gọi bà con bên nhà buộc bụng, tiết kiệm, từ hải ngoại đến trong nước tất cả vùng lên diệt bỏ bạo tàn. Bằng nhiều cách, nhiều chiến lược, mỗi người một tay, một sự hy sinh to lớn. Mong các lực lượng đấu tranh tự do đứng lên ngay bây giờ, đây là thời điểm mà bạo quyền Hà Nội đang thụt lùi vì dân chúng trong nước đã gởi mật mả ra cho các lực lượng tiến vào Việt Nam rồi đó.


Xin nhớ đến những anh hùng đã hy sinh dưới ngọn cờ vàng để bảo vệ núi sông và hàng triệu người đã bỏ thây ngoài biển khơi khi họ không thể nào sống được với cộng sản.

Cứu nước là trách nhiệm của người Việt đang sống trong tự do.

Kính

Đặng Mỹ Dung

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Làm Mẹ

Ngô Nhân Dụng
Nhiều người ví đất nước quê hương với mẹ. Nhưng ví như vậy là chưa thấy đúng giá trị của các bà mẹ. Người ta có thể hờn dỗi với quê hương, có người oán giận quê hương suốt đời, có người từ bỏ đi luôn không thương tiếc. Nhưng không mấy ai oán giận mẹ đến như vậy. Nhiều chàng trai gặp cơn thất bại (hoặc thất tình), giận thân giận đời, chẳng biết trút hận cho ai bèn trút hết cơn giận dữ lên quê hương, nòi giống: “Lũ chúng ta lạc loài dăm bẩy đứa - bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh!”. Có người giận đến mức gọi tên tổ quốc ra bắt ông (hay bà ấy) phải “ăn năn” mới bớt giận. Lúc hờn giận như vậy chắc họ nghĩ đến tổ quốc như một người đàn ông (một người cha đầy lầm lỗi), chứ không phải là một bà mẹ. Có ai nỡ lòng oán mẹ mình như vậy hay không? Chắc là không.

Các bà mẹ đã làm gì để được người ta yêu thương như vậy? Tốt nhất là các bà không làm cái gì ghê gớm cả. Họ chỉ cần “làm mẹ” thôi, cũng đủ mang hạnh phúc đến cho mọi người và được nhân loại biết ơn rồi. Làm mẹ nghĩa là sao? Nếu bạn là một người mẹ, bạn không cần hỏi câu đó. Làm mẹ là làm mẹ. Một người cha nhìn đứa con là thấy một “đối tượng” để mình dạy dỗ, để uốn nắn, rèn cặp, nâng đỡ, xây dựng,vân vân. Các bà mẹ không cần như vậy; họ chỉ làm mẹ thôi là đủ. Phần lớn những gia đình mà người mẹ không quan tâm đến việc răn dạy, đe nẹt, uốn nắn các con, là những gia đình sống vui nhất, và những bà mẹ đó thường được các con yêu thương nhất. Mà rồi những đứa trẻ từ các gia đình đó ra đời cũng đều thành công, tất cả đều nhờ phúc đức ông bà, không khác gì những gia đình sống trong quy củ “học tập cải tạo” vì lúc nào cũng được người cha khép trong vòng kỷ luật.

Trong văn chương, sách vở, những người hay bày tỏ nỗi hờn giận đối với quê hương, tổ quốc phần lớn cũng là đàn ông cả. Ðó là văn chương của những người đàn ông oán hận vì những đàn ông khác. Chẳng mấy khi chúng ta thấy các nữ văn sĩ tỏ ý hờn giận quê hương mình như vậy. Trái lại, cả những phụ nữ phải rời bỏ quê hương mà đi, vì sống ở đó không nổi, họ cũng vẫn sẵn lòng tha thứ, bao dung cho đất mẹ. Thử hỏi các bà Trần Khải Thanh Thủy (đang chống chọi với căn bệnh ngặt nghèo ở trong nước), hay bà Dương Thu Hương (đang ở nước ngoài) xem các bà có oán giận quê hương mình như các ông nhà văn hay không? Hình như trong bài vở, văn chương của họ, những vai xấu nhất, đáng giận nhất, là đàn ông. Những người đáng kính, đáng yêu nhất vẫn là phụ nữ.

Những tác phẩm của ông Nguyễn Huy Thiệp là các biến khúc của một bài hợp tấu ngợi ca người phụ nữ. Trong cả cuốn “Ðêm Giữa Ban Ngày” của Vũ Thư Hiên, nhà văn (đàn ông) này mở ra bao nhiêu hồ sơ nhơ nhuốc của một chế độ. Nhưng trên bối cảnh của một xã hội meo mốc, đen tối và nhiều khi ti tiện đó, chỉ có một nhân vật kiên cường dũng cảm nhưng vẫn hiền đức, dịu dàng, là bà mẹ của tác giả. Người phụ nữ đó nổi bật lên như một vầng trăng giữa sa mạc; sau khi đọc xong cuốn sách người đọc ghi nhớ nhất trong lòng hình ảnh của bà. Nguyễn Văn Trấn viết về Mẹ và Tổ Quốc, nhưng trong cuốn hồi ký của ông chúng ta thấy nhiều nhất là một nỗi oán hận khó tả. Ông oán những người đàn ông, những nhân vật đóng vai cha. “Cha già” lại càng đáng giận hơn nữa.

Có những chế độ trong đó các bà mẹ chỉ được đề cao khi họ đóng “mẹ nuôi chiến sĩ,” hoặc “công nhân tiên tiến” vượt các mục tiêu sản xuất, chứ không phải vì họ làm mẹ. Còn chúng ta, loài người bình thường, không ai cần hô khẩu hiệu “Toàn dân yêu quý mẹ!”. Chúng ta yêu thương mẹ vì các bà chỉ làm mẹ thôi. Chỉ cần làm những việc bình thường của một bà mẹ, họ đã được loài người yêu kính một cách tự nhiên không ai cần thưởng huy chương, cũng không cần một bộ máy tuyên truyền nào cổ động cả.

Có những bà mẹ nấu nướng không giỏi, thêu thùa may vá không hay, tướng người thô kệch, cư xử cũng vụng về; nhưng cả đời bà chỉ có một công đức đáng nhớ là yêu con, thương con một cách giản dị, tự nhiên. Khi các con lớn lên không cần bàn tay mẹ chăm lo săn sóc nữa, thì các bà quay ra yêu cháu. Và cứ như vậy, đời này qua đời khác, các bà mẹ thay phiên nhau vun đắp cho nền công đức ấy cho cả loài người. Và chỉ thế thôi cũng đủ để loài người tôn kính các bà, gọi các bà bằng một danh hiệu cao quý, là Mẹ!

Có những người cha suốt đời lo làm việc lớn, kinh bang tế thế, đội đá vá trời, đến cuối đời mình mới biết bầy tỏ lòng biết ơn đối với bà mẹ của các con mình. Những người phụ nữ bình thường đó xây góp công xây dựng nên dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam, nhiều hơn là những người đàn ông hay hô khẩu hiệu và thích làm những chuyện lớn lao.

Lúc cuối đời, cụ Phan Bội Châu viết cho người con trưởng, kể công đức của cụ bà, một người mẹ hiền, vợ thảo cũng là một người con dâu chí hiếu. Cụ Phan Bội Châu lo rằng mình sắp nhắm mắt lìa đời, nếu không kể những công lao, các đức tính của cụ bà thì người con sẽ không biết đầy đủ về mẹ. Phan Bội Châu ca ngợi: “Khổ cực mấy nhưng sắc mặt không buồn; khó nhọc mấy nhưng không tiếng giận.” Cho nên Phan Bội Châu ghi ơn: “Nếu không có mẹ mày thì chí khí cha mày đã hư hỏng từ những bao giờ kia.” Bài viết của Phan Bội Châu cho thấy hình ảnh một người phụ nữ Việt Nam đời xưa bây giờ không còn nữa; và chắc phụ nữ thời nay cũng không nên sống nhẫn nhục chịu đựng và chịu thiệt thòi nhiều như thời một trăm năm trước. Nhưng cũng có những đức tính của cụ bà mà dù là nam hay nữ người nào cũng nên học.

Cụ bà Phan Bội Châu đã hy sinh nhẫn nhục trong suốt thời gian cụ ông lìa bỏ gia đình ra đi tìm đường cứu nước; ra Bắc, vào Nam, khi vượt biển sang Trung Hoa, Nhật Bản, Xiêm La. Hơn hai mươi năm sau cụ bị Pháp bắt cóc đem về Việt Nam xử án, rồi lưu đầy, vẫn tiếp tục phải xa gia đình cho đến khi qua đời. Cụ giữ được ý chí kiên trì suốt đời cũng là nhờ người vợ “không hé răng một lời” ngăn trở. Cụ Phan kể, sau khi lãnh án tù giam lỏng, được đưa từ Hà Nội vào Huế, trên đường đi, sau hai mươi năm mới được gặp cụ bà một lần: “Tới ngày ta bị bắt về nước, mẹ mày được gặp ta một lần ở thành tỉnh Nghệ An, hơn nửa tiếng đồng hồ chỉ nói có một câu rằng ‘Vợ chồng ly biệt nhau hơn hai mươi năm, nay được một lần giáp mặt thầy, trong lòng tôi đã mãn túc rồi. Từ đây về sau chỉ trông mong thầy giữ được lòng thầy như xưa; thầy làm những việc gì mặc thầy, thầy không (cần phải) phiền nghĩ đến vợ con.’” Phan Bội Châu tán thán: “Hỡi ơi câu nói ấy bây giờ còn phảng phất bên tai ta...”.

Cụ bà Phan Bội Châu phải là một con người có một tấm lòng luôn luôn bình thản, an lành, ngay trong cảnh sống khó khăn, vất vả nhất. Cụ hy sinh, nhẫn nhục, im lặng làm đầy đủ những bổn phận mà ngày nay chúng ta không có quyền đòi hỏi các phụ nữ phải làm như vậy nữa. Nhưng trong lúc chúng ta muốn vai trò xã hội của người phụ nữ thay đổi, thì cả loài người chắc không bao giờ thay đổi quan niệm về vai trò của một người mẹ. Xin các bà mẹ cứ làm mẹ, cho chúng con nhờ!

Ngô Nhân Dụng

Post Reply