Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!
Sáng ngày 29/4 khi ra tụ họp trước cửa chợ Đồng Xuân,
họ đã bị hơn 300 công an cơ động chìm, nổi xong vào giựt cờ, xé biểu ngữ, bẻ tay, đánh đập.
Tất cả bị nhét lên xe ô tô và đưa về trung tâm thẩm vấn
87 Trần Hưng Đạo - Công an Thành phố Hà nội.
Đến nay một số đã được thả ra (Công an cho tiền để tống về).
Một số khác không liên lạc được.
Hằng năm đến ngày 30 tháng Tư, người tị nạn Việt Nam không khỏi bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm, những thay đổi đột ngột đắng cay cuộc đời. Sau khi miền Nam Việt Nam bi cưỡng chiếm, ngườ dân trải qua những đổi thay nghiệt ngã, bắt bớ, tù tội, kinh tế khó khăn, quyền tự do bị bóp chẹt,... Ngày nay ôn lại quá khứ kinh hoàng, những cơn ác mộng chẳng bao giờ quên đó khiến hàng triệu người liều lĩnh băng đại duơng tìm tự do. "Tự Do ơi Tự Do
Tôi trao bằng nước mắt
Tự Do hỡi Tự Do
Anh trao bằng máu xương
Tự Do ơi Tự Do
Em trao bằng thân xác
Vì hai chữ Tự Do ta mang đời lưu vong."
("Xin đời một nụ cười", Nam Lộc)
Cái giá cho những hành trình tìm cuộc sống có tự do nhân vị lắm khi phải trả bằng máu và nước mắt. Những con tàu mong manh, vì nó có thể là chiếc ghe đi trên sông không chừng. Nhưng ở cuối nẻo đường cùng, người ta chẳng chút mảy may do dự nữa. Tôi nói điều này vì bà Mona Trương xúc động đến tuôn lệ khi đứng bên cạnh chồng mình là ông Chủ tịch Cộng Đồng Mười Trương khẽ nói: "Tàu em đi tương tự như chiếc này" khi nhìn Con thuyền Tự Do đang được triển lãm tại thành phố Reseda, thuộc Thung lủng San Fernando.
Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận 30 tháng Tư 2008, sau 33 năm nền tự do công chính tại miền Nam bị ngang nhiên tước đoạt bằng vũ lực, Nhà Văn Hóa Việt Nam đã hơp tác với Hội Người Việt Vùng San Fernando Valley và Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH vùng San Fernando Valley tiếp đón Con thuyền Tự Do này, một biểu tượng văn hóa của người tị nạn ngày hôm nay.
Ông Chủ tịch đã phàt biểu trong buổi lễ:
"Chúng tôi nhiệt liệt chào mừng tất cả đồng bào đang có mặt tại buổi lễ Triển Lãm Thuyền Tự Do ngày hôm nay, chúng tôi rất trân quý và thương mến chiếc Thuyền nầy vì đây là một chứng tích lịch sử vô cùng quý giá, đã vượt biển lánh nạn Cộng Sản, đi tìm tự do, từ 2 tháng 5,1981 đến nay gần tròn 27 năm. Thuyền đã xuất phát từ Phú Khánh, Nha Trang và đã đến được bãi biển Maybayo,Bataan Philippines. Tổng Thống Marcos cảm động khi hay tin thuyền nhân của Thuyền Tự Do vì quá đói khát phải ăn cả quần áo để sinh tồn., nên ông ra lịnh đem Thuyền về Freedom Plaza để gìn giử kể từ năm 1981 đến 2000.
Thuyền đã lưu diễn qua 48 Tiểu Bang Hoa kỳ và Canada. Giờ đây Thuyền đang có mặt ở thành phố thân thương Reseda của chúng ta.
Thật khó có thể tưởng tượng Thuyền đã trãi qua 48 Tiểu Bang và sẽ còn đi thêm 2 Tiểu Bang còn lại, đó là Hawaii và Alaska, trước khi thuyền được cho vào Bảo Tàng Viện của cộng đồng chúng ta vĩnh viễn.
Kính thưa quý vị, đó chính là nhờ vào tấm lòng, một ý chí trường kỳ phấn đấu của bà Madelena Lài cùng với tất cả anh chị em trong Nhà Văn Hóa Việt Nam và với sự thương mến, bảo trợ tài chánh của đồng bào khắp mọi nơi, thông cảm những nổi khó khăn, cực khổ mà các anh chị em trong ban tổ chức đã phải hy sinh để con Thuyền Tự Do nầy có thể trình làng trong 48 Tiểu Bang Hoa Kỳ và Canada.
Chúng tôi trong Hội Người Việt và Hộị Cựu Chiến Sĩ VNCH/ SFV rất ngưỡng mộ, rất cám ơn các anh chị em trong ban tổ chức của Nhà Văn Hóa Việt Nam đã có ý và cho con Thuyền Tự Do lịch sử có mặt tại đây cùng với hơn 200 bức hình qua 48 Tiểu Bang để triển lãm cho đồng bào San Fernando Valley chúng tôi có dịp chiêm ngưỡng tận mắt con Thuyền độc đáo nầy."
Đại diện cho Nhà Văn Hóa có bà Madeleine Lài, bà Diệp Finland và ông Kỳ Linh. Các diễn giả gồm những vị thân hào nhân sĩ như Ông Mười Trương, Ông Nguyễn Quang Cảnh, Bà Madeleine Lài, Ông Phạm Khanh, Cựu Đại tá Trần Cửu Thiên, Bà Trần Kim Ánh, GS Trần Tuệ, TS Hà Thế Ruyệt và LS Nguyễn Thành Ý. Được biết LS Nguyễn Thành Ý cùng là một thuyền nhân, ông nói về giá trị và ý nghĩa của 2 chữ Tự Do, với những người hiện đang sống tại các xứ tự do dân chủ, khi ý niệm tự do được hiến pháp bảo vệ thì chúng ta đôi khi quên cái giá trị của nó. Vì tự do như sự đương nhiên của xã hội, chúng ta không cần phải vất vã đấu tranh nữa. Ông nhắc nhỡ quan khách đừng quên là quê hương Việt Nam hiện chưa có tự do, người dân ta phải cực lực tranh đấu ngày đêm cho cái ý niệm đơn giản đó.
Theo Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc thì những số liệu đáng ghi nhớ là:
- Có 25 trại tỵ nạn ở Ðông dương
- Trên 850,000 người được định cư và trên 850,000 người xem như đã bỏ mạng.
- Trên 200,000 người bị cưỡng bách hồi hương
- Vào cuối năm 1978 đã có hơn 60,000 thuyền nhân tại các trại tị nạn Ðông Nam Á.
- Tháng 6-1979 đã đạt số cao điểm với 54,000 thuyền nhân đến các trại. Nếu cho rằng chỉ có 50% thành công thì đã có 100,000 người ra đi trong một tháng. Số người thiệt mạng đáng cho chúng ta suy ngẫm.
San Fernando Valley đã tiếp nhận hơn 30,000 đồng hương, đa số là các thuyền nhân vượt biên năm xưa.
Buổi chiều tối là lễ thắp nến tưởng niệm các dồng bào bỏ mình vì hậu quả của chế độ tàn bạo CSVN dù chết vì vượt biên hay trong lao tù bức bách tù nhân. Chiến sĩ Lý Tống xuất hiện để chia sẻ những gian truân trong lao tù CSVN và Thái Lan. Ông đề nghị hãy tiếp tay với đồng bào tranh đấu ở bên nhà, với dân oan, với những vị lãnh đạo như Linh Mục Phan Văn Lợi, Hòa Thượng Thích Quảng Độ,... tiếp tay với người dân phẩn uất chế độ, sớm giải thể nhà cầm quyền CSVN.
Cộng Sản Đang Rước Nhục Lên Đất Nước
Dựa theo những tin tức từ trong nước kèm những ý kiến qua phỏng vấn bằng điện thoại hay qua blog điện toán và nhất là khi nhìn những hình ảnh cuộc rước đuốc Thế Vận Hội tại Sài Gòn ngày 29/4 vừa qua thì thật đúng là tập đoàn CSVN đã rước nhục lên đất nước Việt Nam. Theo những người chứng kiến thì đường phố Sài Gòn đã bị cờ Trung Cộng phủ kín. Lũ công an, mật vụ CSVN đã dành cho bọn Tàu hết cả lòng và lề đường để chúng mặc tình chạy tới, chạy lui, hung hăng phất cờ Trung Cộng và la hét bằng tiếng Tàu. Trong lúc đó, người dân Sài Gòn thì bị cấm ra đường đứng xem, cấm chụp hình và thậm chí cấm cả sử dụng điện thoại cầm tay vì chúng sợ chụp hình bằng máy điện thoại.
Phải chăng các vị đã hiển linh thổi tắt ngọn đuốc khi Nguyễn Thị Thu Hà mới chạy chưa được 100 mét? (Đuốc Bắc Kinh bị tắt nhiều lần sau đó).
Sau đây là nội dung một số phát biểu của người dân có mặt tại cuộc rước nhục Bắc Kinh 2008 tại Sài Gòn ngày 29/4/2008. Một thiếu nữ chứng kiến cái cảnh bọn công an CSVN đưa mắt cú vọ rình rập, nghi kỵ người dân Việt Nam trong lúc chúng coi bọn Tàu như cha mẹ của chúng, đã phát biểu: "... nhìn đám sinh viên tàu khựa mặt mày kênh kiệu phất cờ ngay tại Sài Gòn em vừa buồn vừa nhục. Mình là dân Việt Nam mà phải đứng ngoài, cầm điện thoại nói cũng sợ lại càng nhục hơn. Khán giả chứng kiến nỗi nhục của mình là dân ngoại quốc tóc vàng mắt xanh...". Một thanh niên từ tỉnh lên Sài Gòn đã hết sức bất mãn khi anh ta ra công viên và đã bị công an chất vấn rồi xua đuổi. Anh phẫn uất nói "...em là một công dân của nước Việt Nam, em ra công viên hứng mát mà bị công an đuổi em để bọn Trung Cộng tự do độc quyền tại đây...". Anh ta còn cho biết là qua tiếp xúc, nhiều người dân Sài Gòn cũng không biết đang xảy ra chuyện gì vì mấy ngày qua, không thấy báo chí đưa tin. Ngoài ra, anh cũng tiết lộ là những người trong lứa tuổi của anh đã cảm thấy nhục nhã vì bọn xâm lăng Trung Quốc ngang nhiên dày xéo lãnh thổ Việt Nam với sự toa rập, đồng lõa của chế độ nhà nước CSVN. Đây quả là vết nhơ làm ô uế đất nước thân yêu của chúng ta. Chính vì thế mà chị Hồ Thị Khánh Hòa, dân oan từ Đà Lạt xuống xem rước đuốc đã mang theo trong người một bình đựng 3 lít nước, không phải để tạt tắt ngọn đuốc; nhưng để chờ cho đuốc đi qua rồi chị sẽ lấy nước tẩy rửa những bước chân dơ bẩn của ngọn đuốc ô nhục. Như bao nhiêu người dân khác, chị đã bị công an bắt về đồn Quận Nhất. Không thấy một tên Trung Quốc nào bị bắt mặc dù chúng gây huyên náo, mất trật tự trên đường phố với cờ quạt và biểu ngữ tràn ngập khắp nơi.
Tại nhiều nơi trên thế giới, từ Châu Âu như Luân Đôn và Paris đến Châu Mỹ như San Francisco trở về Châu Á như ở Đại Hàn và Nhật Bản..., đi đến đâu ngọn đuốc Thế Vận Bắc Kinh cũng bị người dân phản đối khiến nó đã phải trốn chui trốn nhủi. Không phải vì chống thể thao, chống thế vận mà ngọn đuốc bị chống đối ở các quốc gia dân chủ trên thế giới. Nó bị chống là vì Trung Quốc đã đánh cướp Thế Vận Hội và không coi ngọn lửa này là tượng trưng cho tinh thần của phong trào thể thao thế giới, mà là tiêu biểu cho chính Trung Quốc. Thâm ý của Bắc Kinh là muốn thế giới trong lúc đón rước ngọn đuốc thế vận hội phải đón rước Trung Quốc và đồng tình với những tội ác bá quyền, xâm lăng, diệt chủng, chà đạp nhân quyền của Trung Quốc.
Riêng tại Việt Nam, ngoài những lý do trên, nhân dân ta không thể quên được những tội ác lịch sử và hiện đại của Trung Quốc đối với dân tộc Việt Nam. Trong lúc đó, đi ngược lại tình tự dân tộc, tập đoàn lãnh đạo CSVN lại tự coi mình là đầy tớ, là nô bộc của Trung Cộng. Họ sợ làm mất lòng thiên triều và răm rắp làm theo mệnh lệnh của Bắc Kinh. Từ mấy tháng nay, họ đã cô lập, bắt giam, hàng trăm người đấu tranh cho dân tộc. Báo điện tử VietNamNet, trong bài tường thuật cuộc rước đuốc, có câu như sau : "Chiều 29/4, một TP.HCM vốn sôi động, tấp nập càng trở nên rộn ràng và vui tươi, long trọng hơn. Các con đường chính được lực lượng an ninh "che chắn" rất cẩn thận, nghiêm túc". Tuy bọn tôi tớ đã "che chắn" kỹ lưỡng, nhưng thiên triều cũng đã phái một đại thần sang tận nơi kiểm soát. Trong hai ngày 23 và 24/4 vừa qua, tập đoàn chóp bu Hà Nội đã trải thảm đón tiếp, báo cáo với bộ trưởng ngoại giao Trung Cộng là Dương Khiết Trì. Dịp này CSVN đã không quên nhắc lại cam kết khuyển mã với thiên triều là "phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt". Những cam kết này đã được lãnh đạo CSVN qua lời tuyên bố của Nguyễn Thị Thu Hà, phó chủ tịch UBND thành Hồ nhắc lại khi tiếp nhận ngọn đuốc : "hoạt động rước đuốc tại TPHCM góp phần củng cố, tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước theo phương châm "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" mà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam - Trung Quốc đã xác định".
Đuốc Bắc Kinh tới Sài Gòn là mối nhục cho cả nước. Khi đưa ngọn đuốc chạy qua các đường phố mang tên Hai Bà Trưng, Lê Lợi, Nguyễn Huệ vv... CSVN đã xỉ nhục các anh hùng dân tộc. Phải chăng các vị đã hiển linh thổi tắt ngọn đuốc khi Nguyễn Thị Thu Hà mới chạy chưa được 100 mét ?
BÀN VỀ "NGHỊ QUYẾT SỐ 36/NQ-TW NGÀY 26/3/2004 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VIỆT CỘNG VỀ CÔNG TÁC ÐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI
Trần Nghi Hoàng
Cứ tưởng tượng thôi về một đất nước được cai trị bởi những "Nghị Quyết", những "Pháp Lệnh" và những "Chương Trình Hành Ðộng"..., tôi đã có cảm giác ghê người!
Ngày 26 tháng 3 năm 2004, Bộ Chính Trị Nhà Nước Việt Cộng tung ra Nghị Quyết 36/NQ-TW (xin gọi tắt là Nghị Quyết 36), chuyên về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Nhưng để rõ ràng hơn, tôi cho rằng cần phải chú thích là Nghị Quyết này đặc biệt để "đối phó" với những người Việt lưu vong tị nạn cộng sản.
Những văn bản mang các tên gọi như "Nghị Quyết", "Pháp Lệnh", "Chương Trình Hành Ðộng"..., thường khiến cho người ta liên tưởng đến các nhóm chữ "nhất thời", "tạm thời", "trong giai đoạn ngắn"... Có nghĩa là nó chỉ để giải quyết một hiện tình hiện trạng đang tức thì xảy ra. Những "Nghị Quyết", "Pháp Lệnh" hay "Chương Trình Hành Ðộng" chẳng thể nào hàm ẩn một kế hoạch lâu dài hay thể hiện tính "lịch sử" cần thiết!
Bởi đó, theo đúng "bài bản" và "truyền thống" của Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng, sau khi "Nghị Quyết 36" được công bố không bao lâu, khoảng một tháng rưởi sau, vào sáng ngày 21 tháng 7 năm 2004, Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng phải triệu tập một buổi "Hội Nghị Phổ Biến Và Quán Triệt Nghị Quyết 36 Của Bộ Chính Trị Về Công Tác Ðối Với Người Việt Nam Ở Nước Ngoài". Mục đích rốt ráo của "Hội Nghị" này là để hình thành một văn bản mang tên "Chương Trình Hành Ðộng Của Chính Phủ Thực Hiện Nghị Quyết 36 Của Bộ Chính Trị Về Công Tác Ðối Với Người Việt Nam Ở Nước Ngoài".
Những bài viết về các nhân vật được phỏng vấn trong Nếu Ði Hết Biển (NÐHB) của Trần Văn Thủy (TVT), tôi đã hoàn tất, và sẵn sàng để xuất bản. Tuy nhiên, tôi muốn thêm mấy bài ở phần "phụ lục" cho cuốn "Trần Văn Thủy: Chuyện KHÔNG Tử Tế", là tên cuốn sách gồm những bài viết đăng trên báo Văn Nghệ (Virginia) và các trang Web với tựa cũ là "Những Nhịp Cầu Tre - Không Nối Ðược Hai Bờ Của Một Ðại Dương" - Phần "Ohụ Lục" sẽ gồm những bài tôi viết về "Nghị Quyết 36" (NQ 36), về "Hội Nghị Phổ Biến Và Quán Triệt Nghị Quyết 36" (HNPBVQTNQ 36) và "Chương Trình Hành Ðộng Của Chính Phủ (Việt Cộng) Thực Hiện Nghị Quyết 36..." (CTHÐ... NQ 36).v.v..
Tôi tin rằng sau "HNPBVQTNQ 36", Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng sẽ còn rất nhiều những "Nghị Quyết Bổ Túc", "Hội Nghị Phổ Biến Và Quán Triệt Nghị Quyết 36 Bổ Túc" để rồi sẽ đẻ ra thêm những "Chương Trình Hành Ðộng... về Nghị Quyết 36 Bổ Túc" nữa.
Ðó là sách lược chuyển biến từng giờ từng ngày của Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng, với mục đích tối hậu là "nối lại khúc ruột ngàn dặm" mà từ 28 năm qua (và cho đến bây giờ vẫn còn) được Ðảng và Nhà Nước e dè và căm hờn nhắc nhở đến trong các phương tiện thông tin tuyên truyền văn hóa lẫn trong kinh điển của Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng là một "bọn Ngụy"!
Xin mời quý vị, chúng ta sẽ cùng đọc một số đoạn "cần thiết" trong "Nghị Quyết 36" để dễ bề cho tôi hầu chuyện.
Mở đầu "Nghị Quyết 36", tiểu đề (I) là:
"Tình Hình Và Công Tác Ðối Với Người Việt Nam Ở Nước Ngoài Thời Gian Qua", có vài điểm quan trọng sau:
1- Hiện nay có khoảng 2,7 triệu người Việt Nam đang sinh sống ở gần 90 nước và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% ở các nước công nghiệp phát triển, phần đông bà con ngày càng ổn định cuộc sống và hòa nhập vào xã hội nơi cư trú, có tác động ở mức độ khác nhau tới mối quan hệ giữa các nước đó với Việt Nam. Bên cạnh đó, trong những năm qua hàng trăm nghìn người Việt Nam đã ra nước ngoài lao động, học tập, tu nghiệp, đoàn tụ gia đình, hình thành các cộng đồng người Việt tại một số địa bàn mới.
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm lực kinh tế nhất định, có mối quan hệ với nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài và quốc tế, có khả năng tìm kiếm đối tác và làm cầu nối với các doanh nghiệp, tổ chức trong nước. Nhiều trí thức có trình độ học vấn và chuyên môn cao; một số người giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan, cơ sở nghiên cứu, đào tạo, các công ty và tổ chức quốc tế, có khả năng tạo doing quan hệ với các cơ sở kinh tế, khoa học ở nước sở tại."
(Trích Nghị Quyết 36, phần 1)
Con số 2.7 triệu người Việt Nam đang sống ở hải ngoại tôi tin là chính xác. Khi Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng đã nhìn thấy tầm quan trọng của người Việt hải ngoại, và muốn chuyển biến "bọn Ngụy" thành "khúc ruột ngàn dặm, một bộ phận không thể tách rời khỏi khối dân tộc", chắc chắn họ, Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng có đủ nhân lực và tài lực để làm cái thống kê này. Tuy nhiên, trong 2.7 triệu người Việt hải ngoại, đã có tính luôn "hàng trăm nghìn người Việt Nam đã ra nước ngoài lao động, học tập, tu nghiệp v.v...". Hàng trăm nghìn người mà Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng cho ra nước ngoài lao động, học tập, tu nghiệp chỉ là một cánh tay vươn dài nhiều khi trở cờ tát ngược vào mặt Ðảng và Nhà Nước. Hàng trăm nghìn người này hầu hết có sự hiểu biết, kinh nghiệm thấu đáo về Ðảng và Nhà Nước một cách tường tận hơn những người Việt Nam lưu vong tị nạn. Họ dễ bị "ngoại hóa". Họ "sống khổ" lâu rồi dưới sự cai trị của Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng. Cho nên, có cơ hội tách rời khỏi cái "khối dân tộc" của Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng, là họ sẽ nhanh chân không chút ngại ngần! Mấu chốt quan trọng nhất vẫn là thành phần số đông những người Việt từ Miền Nam tị nạn Cộng Sản. Con số hơn 1 triệu người tị nạn ra nước ngoài từ thập niên đầu sau 1975 nay đã ổn định và thành tựu. Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng tha thiết với những con người này. Bởi vì, như trong Nghị Quyết 36 đã ghi rõ: Họ có tiềm lực kinh tế nhất định, có mối quan hệ với nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài và quốc tế.v.v...
Tức là, những người Việt Nam tị nạn, "bọn Ngụy phản bội dân tộc" cách nay 15, 30 năm trước giờ đã thành những con mồi béo bổ ngon lành. Những người này vừa có tiền và đã ổn định đời sống, con cháu hầu hết đã nên danh phận. Và vì xa Việt Nam lâu nên lòng hoài hương càng thấm thía. Vì bỏ đi sớm nên chưa kinh nghiệm nhiều với Việt Cộng... Con chấu những người này, thành phần ra ngoại quốc lúc 5, 6 tuổi; hay 15, 16 tuổi là những thế hệ rất dễ được các bậc cha mẹ "lôi" cho "về nguồn".
Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng tin rằng lung lạc giai tầng này dễ dàng hơn và lại có lợi lớn hơn. Do đó, Nghị Quyết 36 đã công bố những lời nồng nàn: "Mặc dù sống xa Tổ quốc, đồng bào luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, giữ truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn, dòng tộc, gắn bó với gia đình, quê hương..."
Ðiều rất rõ, Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng luôn mập mờ đồng hóa ý nghĩa của những chữ Tổ Quốc, Ðất Nước, Tự Tôn Dân Tộc, Truyền Thống Văn Hóa, Cội Nguồn, Quê Hương với Ðảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam. Do đó, khi hô hào công cuộc "đổi mới và phương án đại đoàn kết toàn dân tộc" được nhấn mạnh là quốc sách "Của Ðảng Và Nhà Nước Việt Cộng", tức là kêu gọi những người Việt tị nạn lưu vong hải ngoại cùng góp tay "đại đoàn kết với Ðảng và Nhà Nước" đấy thôi!
Sau gần 30 năm lưu lạc tha hương, từng giờ bị chính quyền trong nước ra rả phỉ báng là "bọn Ngụy" ác ôn bỏ nước chạy theo liếm gót giày đế quốc và bọn quân phiệt này nọ đủ thou! Bây giờ, Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng ưu ái lo cho Việt Kiều hải ngoại... từng miếng ăn giấc ngủ. Xin đọc:
"Tuy nhiên, người Việt Nam ở một số nước còn khó khăn trong việc ổn định cuộc sống, chưa được hưởng quy chế rõ ràng, thậm chí ở một số nơi còn bị kỳ thị. Một bộ phận đồng bào do chưa có dịp về thăm đất nước để tận mắt thấy được những thành tựu của công cuộc đổi mới hoặc do thành kiến, mace cảm, nên chưa hiểu đúng về tình hình đất nước. Một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam. "
(Trích Nghị Quyết 36, phần 1)
Những đau thương, tủi nhục... trên đường vượt thoát; những khó khăn, bất hạnh bất lực trên xứ lạ quê người của những con dân Việt Nam tị nạn Cộng Sản, lưu xứ khắp cùng thế giới cùng cực diễn ra là vào 10 năm đầu tiên sau tháng Tư 1975. Bây giờ, người tị nạn Việt Nam đa số đã ổn định, và tôi đã từng nhìn thấy, từng biết rất rõ trong các cộng đồng tị nạn Việt Nam ở khắp nơi mà tôi đã đi qua, đã sống, tỷ lệ người Việt tha hương giúp đỡ nhau nhiều hơn là mũ ni che tai ngó lơ nhau. Người đến trước, thành tựu trước, ổn định trước hướng dẫn người qua sau. Ðường đi nước bước, giới thiệu việc làm, cách mướn nhà mướn apartment, nhà thương bác sĩ.v.v... Và một sự thực cần nói rõ là, tuy người Việt tị nạn thỉnh thoảng cũng có gặp một vài trường hợp phải chịu đựng sự kỳ thị, phân biệt đối xử của một vài người bản xứ, nhưng rất là hiếm hoi không đáng kể. Nếu so với sự kỳ thị của Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng bằng những Nghị Quyết và Pháp Lệnh như cấm các trẻ em, con cháu "bọn Ngụy" không được thi vào đại học; kiểm soát hộ khẩu, truy xét lý lịch mấy đời v.v.. của Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng đã đối xử với người dân Việt Nam, đặc biệt là những gia đình Miền Nam sau khi Việt Cộng đã thống nhất lãnh thổ, thì xem ra sự kỳ thị của người bản xứ với dân Việt tị nạn chẳng thấm thía vào đâu!!! Những khó khăn trong cuộc sống của người Việt tị nạn, xét cho cùng chỉ là những khó khăn thường nhật trong đời sống con người. Nhất là những con người đã "bật gốc" ra khỏi quê hương mình để đến một vùng trời xa lạ. Ngôn ngữ khác biệt. Tập quán khác biệt. Xã hội khác biệt.... Tuy nhiên, những "quy chế" của hầu hết những xứ sở mà dân tị nạn Việt Nam đang sinh sống, nhất là những đất nước giàu mạnh như Hoa Kỳ, Úc, Anh, Pháp... đều rất rõ ràng. Họ đã đưa ra những "quy chế" bằng luật pháp có sự nghiên cứu hẳn hoi, có sự đồng thuận của số đông dân biểu nghị sĩ trong quốc hội tức là những nhân vật "thực sự" đại biểu cho người dân bản xứ.
Và hơn hết, nếu còn đa số những người Việt tị nạn nơi hải ngoại phản đối, đương đầu lại với Chính Quyền và Ðảng Việt Cộng, không thể gọi họ là "đi ngược lại lợi ích chung dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa các nước sở tại và Việt Nam." Bởi vì, sau gần 30 năm thống nhất lãnh thổ, người Việt tị nạn lưu xứ vẫn từng ngày từng giờ nghe biết được bao nhiêu là sự trì trệ, chậm tiến, băng hoại trong tất cả các lãnh vực dưới sự cai trị của Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng.Từ chính trị kinh tế cho tới xã hội. Ðàn áp tôn giáo, không cho tự do tư tưởng và ngôn luận, cấm đóan chèn ép những cởi mở văn hóa và kiểm soát những lý luận chính trị cần có để đưa dân tộc đất nước theo kịp trào lưu của thế giới.
Nếu sau gần 30 năm cai trị Việt Nam, Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng đem lại được cơm no, áo ấm, yên bình tự do và quang vinh dân chủ cho dân tộc đất nước Việt Nam, thì những ai còn phản đối, còn chống pháÐảng và Nhà Nước Việt Cộng - tôi sẽ đồng ý đó là nhửng kẻ "chống phá đất nước, phản bội quê hương dân tộc".
Nghị Quyết 36 còn đưa ra những điều võ đoán thật buồn cười:
"Tính liên kết cộng đồng, sự gắn bó giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng chưa cao. Còn thiếu các biện pháp duy trì, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; việc giữ gìn tiếng Việt và bản sắc dân tộc trong thế hệ trẻ còn khó khăn. Nhu cầu giao lưu văn hóa giữa cộng đồng với đất nước, giữ gìn và phát triển tiếng Việt trong cộng đồng là rất lớn và trở nên bức thiết song chưa được đáp ứng. Sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây doing đất nước, nhất là về trí thức, chưa tương xứng với tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài."
(Trích Nghị Quyết 36)
Sau biến cố phân hóa cùng cực tháng Tư 1975, những người Việt tị nạn bủa ra khắp cùng thế giới, thì ưu tư đầu tiên của mỗi người là tự tìm cách sinh tồn. Nhưng trong tiềm thức bản năng của sự tự tìm cách sinh tồn đó, những người Việt lưu xứ đã từng khối quần tụ lại với nhau, chọn những vùng đất thích hợp rồi sinh hoạt rồi sống rồi phát triển cùng nhau. Orange county, San Jose, Virginia Washing D.C., Texas, Montreal, Toronto, Paris.v.v... Từng ấy nơi là từng khối người Việt với những sinh hoạt rõ nét.
Tất nhiên, vì phải bỏ một thời gian đầu để củng cố đời sống nơi xứ lạ, những người Việt tị nạn tránh không khỏi sự lơ là trong vấn đề giữ gìn tiếng Việt cho con em. Nhưng tôi đã nhìn thấy được sự quan tâm của rất nhiều cộng đồng khắp nơi về khiếm khuyết này. Những lớp Việt ngữ đã được hình thành. Khó khăn chắc chắn là có. Tuy nhiên, gần nay tôi đã tiếp xúc với nhiều nhóm trẻ nhiệt tâm nhiệt tình. Các em các cháu này thành lập những trang Web tiếng Việt. Có nhóm chuyên cứu về văn hóa văn chương chính trị. Có nhóm chuyên cưứ về loch sử Việt Nam. Ðặc biệt một nhóm những em trẻ, người lớn tuổi nhất chỉ trên ba mươi. Họ thành lập một trang Web chỉ chuyên nghiên cứu, sưu tầm tất cả những tài liệu về việc những phần đất Việt Nam đã bị mất, bị "bán", bị "đổi chác"... như thế nào. Họ hầu như có đầy đủ những tài liệu về việc Ðảng và Nước Việt Cộng đã cắt đất, bán dâng cho Trung Quốc bao nhiêu lần. Diễn tiến mỗi lần ra sao. Ai là thủ phạm của từng lần cắt đất dâng bán cho ngoại bang như thế.
Ðóng góp của từng nhóm trẻ này cho sự duy trì, phát huy văn hóa, bảo tồn lịch và "bản sắc" dân tộc Việt Nam, theo tôi, không phải là nhỏ! Họ khước từ thứ ngôn ngữ Việt Nam của Ðảng và Nhà nước Việt Cộng đề ra, chỉ với mục đích làm ngu dân. Họ không chấp nhận phong cách "bản sắc dân tộc" lũy tre đình làng theo kiểu Mặt Trận Tổ Quốc khuyến khích người dân Việt Nam chỉ biết làm ruộng và tiếp tục thất học u mê.
Cho nên, mặc dù:
"Ðảng và Nhà Nước (Việt Cộng) ta luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách rộng mở và biện pháp cụ thể nhằm tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho đồng bào về thăm nước, người thân, đầu tư, kinh doanh, hợp tác v.v..."
(Trích Nghị Quyết 36)
thiết nghĩ cũng sẽ chẳng đi đến đâu! Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng dù có hay không "coi" cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, thì họ vẫn ngang nhiên là những đồng bào Việt Nam của đất nước Việt Nam. Họ biết bổn phận và trách nhiệm của họ đối với quê hương dân tộc! Và hẳn nhiên, trách nhiệm của và bổn phận này của từng người là đối diện với dân tộc quê hương Việt Nam, chứ không phải đối với Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng!
Vấn đề là Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng phải làm gì, làm như thế nào với đất nước Việt Nam và người dân Viêt Nam. Không phải cứ đưa ra những Nghị Quyết, Pháp Lệnh... Triệu tập những Hội Nghị này nọ năm này qua tháng khác để rồi sửa sai, làm lại mãi!
Xin đọc:
"Tuy nhiên, các chủ trương chính sách của Ðảng và Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài chưa được quán triệt sâu sắc, thực hiện nay đủ. Công tác nghiên cứu, tham mưu về chính sách chưa theo kịp những chuyển biến mới. Công tác bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài chưa được quan tâm đúng mức. Chính sách đã ban hành chưa đồng bộ và chưa thể hiện nay đủ tinh thần đại đoàn kết dân tộc; chưa khuyến khích mạnh mẽ người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, đóng góp cho công cuộc phát triển đất nước..."
(Trích Nghị Quyết 36)
Chuyện ông nói gà, bà nghe ra là vịt vốn là phương án hành chánh của Ðảng và Nhà nước Việt Cộng. Trách sao được những "chưa quán triệt sâu sắc", "chưa theo kịp những chuyển biến mới. Cái cũ còn đó, còn y nguyên. Những cốt lõi của vấn nạn phân hóa vẫn tồn tại và dường như còn có cơ phát triển nữa. Tù cải tạo chưa thả hết, đã có tù chính trị bất đồng chính kiến thêm vào. Ðàn áp tôn giáo chưa giải quyết xong, đã ra tay đàn áp đồng bào sắc tộc. v.v...
Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng chưa ổn định được tình hình chính trị, kinh tế, tôn giáo... trong nước, thì sự việc với tay ra níu kéo làm ra vẻ lo lắng cho an nguy của những người Việt tị nạn lưu vong ở hải ngoại, chỉ là một trò hề "nhà mình cháy không chịu chữa, lại lo di đóng cửa nhà hàng xóm sợ trộm vào"!!!
Những "lo lắng" của Ðảng và Nhà Nước dành cho người Việt tị nạn hải ngoại lắm lúc rất ngô nghê nhưng lại chẳng kém phần đểu cáng vô duyên như cảnh mèo lo âu cho chuột. Xin đọc Phần II, Chủ Trương Và Phương Hướng Công Tác Với Người Việt Nam Ở Nước Ngoài Trong Thời Gian Tới:
"Nhà Nước có trách nhiệm thỏa thuận với các nước hữu quan về khuôn khổ pháp lý để đồng bào ổn định cuộc sống và bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo luật pháp, công ước và thông lệ quốc tế.
Ðảng và Nhà Nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, chăm lo xây doing cuộc sống, làm ăn thành đạt, nêu cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà, tùy theo khả năng và điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước, chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc.
Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài can mang tính đồng bộ, kết hợp việc xây dựng cơ chế, chính sách với công tác vận động, kết hợp các hoạt động trong nước với các hoạt động ở nước ngoài và phải được tiến hành thông qua nhiều loại hình hoạt động và biện pháp phù hợp với các đối tượng và địa bàn khác nhau, trên cơ sở tự nguyện và không trái với pháp luật, phong tục tập quán của nước sở tại".
(Trích Nghị Quyết 36)
Chẳng biết gần 30 năm qua, Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng đâu chẳng thấy xuất hiện để có sự "thỏa thuận" với các nước "hữu quan" về khuôn khổ pháp lý hòng "bảo vệ quyền lợi chính đáng" của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài? Ðến nay, khi những người Việt tị nạn lưu xứ đã gửi về được cho thân nhân ở Việt Nam mỗi năm hàng hai ba tỉ đô la, hốt nhiên Ðảng và Nhà Nước bỗng xáp vào đòi "ổn định cuộc sống" và "bảo vệ quyền lợi chính đáng" cho cộng đồng người Việt hải ngoại!!!
Những người Việt tị nạn sau gần ba mươi năm lưu xứ, hầu hết họ đã biết cách "ổn định cuộc sống" và "bảo vệ quyền lợi chính đáng" của họ, nhất là ở những xứ sở văn minh thực sự có luật pháp chứ không phải chỉ cai trị và đối ngoại bằng những Nghị Quyết, Pháp Lệnh và Hội Nghị.
Lần này, chiến thuật chiến lược để đối phó, chiêu dụ Việt kiều lưu vong với Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng đã thực sự là một "Quốc Sách"! Trong Nghị Quyết 36, không ngớt lập đi lập lại ba chữ Tính Ðồng Bộ, để nhắc nhở cho các Ðảng viên và cán bộ thừa hành rằng, công tác đem "khúc ruột ngàn dặm" Việt Kiều Hải Ngoại hàn gắn lại với Ðảng và Nhà Nước là công tác tối khẩn, tối cần thiết phải được từ trên xuống dưới tuân thủ thi hành nghiêm túc!
Qua phần III với tiêu đề "Nhiệm Vụ Chính Yếu", Nghị Quyết 36 lại tiếp tục ân cần âu lo cho người Việt lưu vong:
"1.Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn sinh sống, yên tâm làm ăn sinh sống, hội nhập vào đời sống xã hội nước sở tại, đồng thời duy trì quan hệ gắn bó với quê hương, đất nước.
Thông qua các hoạt động ngoại giao tích cực vận động chính quyền sở tại tạo thuận lợi cho kiều bào có điều kiện làm ăn sinh sống bình thườg; chủ động tiến hành đàm phán và ký kết các thỏa thuận can thiết với các nước, trong đó có các hiệp định lãnh sự, hiệp định tư pháp, bảo vệ lợi ích chính đáng của bà con, chống các biểu hiện kỳ thị, các hành động chống lại người Việt Nam ở nước ngoài. Giải quyết nhanh chóng, thỏa đáng yêu cầu của người Việt Nam ở nước ngoài liên quan đến vấn đề quốc tịch.
...... "
(Nghi Quyết 36)
Tôi chẳng thể không nói một vài điều về cái mức độ càng lúc càng trơ trẽn, vô liêm sỉ của ngôn ngữ trong Nghị Quyết 36!!! Chẳng hiểu Ðảng và Nhà nước Việt Cộng sẽ làm cách nào để "tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ người Việt tị nạn ổn định cuộc sống, hội nhập vào đời sống nước sở tại"??? Thực ra, cốt lõi của đoạn Nghị Quyết trên nằm trong câu cuối: "đồng thời duy trì quan hệ gắn bó với quê hương, đất nước".
Tôi muốn thưa với Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng rằng, sau gần ba mươi năm lần lượt chạy trốn quý Ðảng và Nhà Nước, những người Việt lưu vong đã ngày càng ổn định đời sống nơi xứ người. Tôi thấy những người Việt tị nạn rất "yên tâm làm ăn sinh sống nơi đất khách", và đa số họ "hội nhập vào xã hội nước sở tại" khá nhanh và hiện đang trong đà tiến bộ khả dĩ theo kịp tầng lớp trung lưu của người bản xứ. Những người Việt tị nạn được bảo vệ và giúp đỡ làm ăn như những người bản xứ, thậm chí còn được những đặc quyền riêng dành cho "người thiểu số" trong các vấn đề xin việc làm, hay mở những thương vụ nhỏ. Trái hẳn với những đồng bào lương thiện Việt Nam trong nước đang sống dưới sự cai trị của Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng, qua những lần về thăm quê hương, tôi chưa thấy họ có được sự "yên tâm làm ăn sinh sống", mặc dù đa số người dân đặc biệt là miền Nam đã cật lực cố gắng để "hội nhập vào xã hội chủ nghĩa" của quý Ðảng và Nhà Nước!
Còn vấn đề "duy trì quan hệ gắn bó với quê hương, đất nước" của những người Việt lưu vong thì thiết nghĩ, quý Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng chẳng cần phải bận tâm. Con số từ hai tới ba tỉ đô la được gửi về hàng năm đã chứng minh điều này một cách rất hùng hồn! Họ tự nguyện tự ý làm bổn phận của con người Việt Nam với thân nhân gia tộc, đồng bào Việt Nam. Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng có ráo riết vận động, lôi kéo hay khuyến dụ thì cũng chỉ từng ấy khả năng mà người Việt lưu xứ có thể làm được và họ đã làm rồi!
Rất nhiều những người Việt tị nạn lưu vong đã lập nên những cơ sở từ thiện, xã hội nhằm vào bao người dân Việt Nam trong nước đang thiếu thốn trăm bề! Trẻ em đường phố. Trẻ em mồ côi, Trẻ em thất học. Những thương phế binh. Những người cùi người tật bệnh. Những nạn nhân của cuộc chiến.v.v... Ðã có không ít các cơ sở tư nhân từ người Việt hải ngoại lập nên để thi hành những công tác này. Người Việt tị nạn lưu xứ đã thực hiện các công tác này cho đồng bào Việt Nam của họ đang bị tang thương tụt hậu nơi quê nhà. Ðiều tất yếu là họ tuy đã không làm công tác từ thiện xây dựng này cho Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng, nhưng nó đã góp phần gỡ rối cho Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng rất nhiều trong những vấn nạn về xã hội và kinh tế!
Do đó, Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng nên quay về lo cho những người dân Việt Nam đang lầm than, khó khăn trong nước. Hãy lo cho sinh viên đại học sau khi tốt nghiệp có việc làm, không còn phải thất thểu làm những nghề tay trái, thậm chí đi đạp xích lô! Hãy giúp cho nông dân Việt Nam biết được những tiến bộ trong ngành nông nghiệp trên thế giới, cho nhà nộng Việt Nam bớt nhọc nhằn.v.v.. Công việc vận động ngoại giao "tích cực" với các nước sở tại, để tạo thuận lợi cho kiều bào, tức là những người Việt tị nạn có điều kiện làm ăn sinh sống bình thường, tôi thấy không cần thiết và không hợp lý! Bởi vì, từ bao nhiêu năm qua, các cộng đồng Việt lưu vong hải ngoại có lớn mạnh thực sự về kinh tế, giáo dục một cách rất rõ ràng như mọi người đã biết. Bàn tay của Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng mà nhúng vào để vận động gì đó, lắm khi lại làm rối beng đi đời sống đang bình yên, phát triển của những người Việt hải ngoại! Tôi không tin là những người Việt lưu xứ cần bất cứ sự "bảo vệ" quyền lợi nào của họ từ Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng đối với các chính quyền sở tại. Gần ba mươi năm qua, các cộng đồng người Việt lưu xứ đã tồn tại và trưởng thành rất đáng kể. Như chính trong văn bản của Nghị Quyết 36 đã có ghi, là trong cộng đồng người Việt lưu vong giờ đã có những người từ thế hệ thứ hai hiện diện trong các chính quyền bản xứ. Cộng Việt lưu vong giờ đã có con em trong tất cả mọi ngành nghề chuyên môn. Từ kỹ sư bác sĩ, giáo sư học giả cho tới chuyên viên các phòng lab., các ngành khoa học kể cả lãnh vực nhân văn.
Các hành động kỳ thị, "chống lại người Việt Nam ở nước ngoài" từ những người bản xứ nếu có, cũng rất hiếm hoi không đáng kể. Nếu so với những "kế hoạch, chủ trương" kỳ thị người Miền Nam sau tháng tư 1975, và đối xử phân biệt với người Việt hải ngoại về thăm gia đình của Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng, thì chẳng khác gì mang một con sông mà so bì với cả một đại dương!
Tuy nhiên, những điều sau đây trong tiết (1) phần III của Nghị Quyết 36, tôi thấy rất đáng ca ngợi và ghi nhớ:
"Tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, thân nhân, thờ cúng tổ tiên. Cụ thể hóa và hoàn thiện hơn nữa các quy định về xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại trong nước của người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng thông thoáng, thuận tiện và đơn giản thủ tục. Giải quyết thuận lợi, nhanh chóng thủ tục cho người Việt Nam ở nước ngoài hồi hương hoặc về làm ăn sinh sống có thời hạn trong nước; tiếp tục giải quyết những vấn đề tồn tại về mua nhà trong nước, thừa kế, hôn nhân gia đình, nhận con nuôi... liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài. Dành cho người Việt Nam ở nước ngoài giá dịch vụ như công dân trong nước.
Có hình thức thích hợp tổ chức thu thập ý kiến của đồng bào ở nước ngoài trước khi ban hành các văn bản pháp quy, chính sách có liên quan nhiều tới người Việt Nam ở nước ngoài"
(Nghị Quyết 36)
Ðoạn Nghị Quyết vừa trích là những gì thiết thực, cần thiết nên làm. Và nhất là, những điều này nầm trong "tầm tay" quyền lực của Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng. Những quan tâm xa vời về đời sống, về sự thành công hay thất bại của người Việt hải ngoại trên thực tế, Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng chẳng có chút khả năng nào "can thiệp" tới.
Việc thu thập ý kiến của người Việt tị nạn lưu vong, tại sao lại chỉ giới hạn trong các vấn đề "có liên quan nhiều đến người Việt Nam ở nước ngoài"??? Nêu đã công nhận sự "cần thiết" của cộng đồng Việt hải ngoại, tất nhiên phải công nhận cả quyền công dân đóng góp quyết định cho đất nước của họ. Tôi không tin Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng thực tâm muốn thi hành đường lối này! Vả lại, những văn bản mang tên "Nghị Quyết", "Pháp Lệnh" và "Chương Trình Hành Ðộng" theo tôi thấy, nó chẳng có giá trị gì hết về mặt công pháp. Những văn bản loại này chỉ là những "quyết định" nhất thời, như tôi đã viết ở phần vào đầu bài. Nhửng văn bản mang tính "Ðảng trị", chỉ nên có ở những tổ chức, những "hội kín" còn trong thời kỳ làm cách mạng hay đối kháng kiểu du kích.
Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng hiện nay đang nắm quyền hành xử trên cả một lãnh thổ Việt Nam. Ðang có trong tay chủ quyền cả một đất nước, thì nên cai trị đất nước và người dân đang sống trên đất nước ấy bằng những luật pháp rõ ràng, đã được toàn dân dự khán và góp ý qua hai nhà quốc hội. Những "Nghị Quyết", "Pháp Lệnh" hay "Chương Trình Hành Ðộng" không biểu tỏ được tính chất nghiêm túc của một chính quyền, một đất nước đang đứng trong cộng đồng thế giới.
Nếu Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng thực thi được những điều tôi vừa nêu trên, thì sẽ không cần phải:
"2.Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước.Xây dựng chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với những chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn về quản lý, điều hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao cho đất nước, góp phần phát triển văn hóa, nghệ thuật của nước nhà.
Tranh thủ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiến haàh hoạt động vận động, tư vấn pháp lý trong quan hệ với nước bà con làm ăn sinh sống.""
(Nghị Quyết 36)
Ðể tiến hành được công việc "hoạt động vận động" (???), rồi tư vấn về pháp lý trong quan hệ với nước bà con đang sinh sống", trước hết, Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng nên học để biết "pháp lý" là gì? Người dân Việt Nam hiện đang sống trong tay Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng hiện đã có "pháp lý" bảo vệ chưa?
Ở tiết 4 và 5 của phần III Nhiệm Vụ Chủ Yếu trong Nghị Quyết 36, Bộ Chính Trị Ðảng Việt Cộng nêu rõ mục đích tối hậu của "Quốc Sách" về Việt kiều tị nạn:
"4.Ðổi mới và đa dạng hóa các phương thức vận động, các hình thức tập hợp với mục đích đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, khuyến khích những hoạt động hướng về Tổ quốc của bà con, nhất là của thế hệ trẻ trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với pháp luật và phong tục tập quán nước sở tại. Hỗ trợ các dự án của người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả với những người còn có định kiến, mặc cảm với Nhà Nước ta.
5.Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và qua mạng Internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt. Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên người Việt Nam ở nước ngoài.
Tổ chức cho các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ cộng đồng. Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ, vận động viên là người Việt Nam ở nước ngoài về nước biểu diễn, thi đấu, tham gia các đoàn Việt Nam đi biểu diễn và thi đấu quốc tế. Thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật, triển lãm, hội thảo, du lịch về cội nguồn."
(Nghị Quyết 36)
Phương cách hành động của Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng ở tiết (4) đối với người Việt hải ngoại, xem ra, chẳng khác chi mấy phương cách hành động của Ðảng và Bắc Việt trước đây đối với nhân dân miền Nam! "Chủ động mở rộng tiếp xúc, kể cả với những người còn định kiến."
Biết được nhu cầu của người Việt lưu vong tị nạn sau gần 30 năm dồn hết tâm ý vào việc sinh tồn, tạo dựng đời sống kinh tế ở nước người, và bây giờ là lúc cấp thiết để lo nghĩ đến vấn đề "tiếng Mẹ", "văn hóa phong tục" Việt Nam cho con em nơi xứ người. Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng nới tay hòng mong lấn chiếm qua vấn đề giáo dục tiếng Việt cho con em người Việt hải ngoại! Nhưng sách lược này xem chừng khó thành công! Vì hiện nay, trong cộng đồng Việt tị nạn khắp nơi, hầu như người ta đã đang cố gắng hình thành những lớp tiếng Việt cho con em mình. Qua những tổ chức tự nguyện như Hướng Ðạo Việt Nam, Hướng Ðạo Phật Giáo, các Cộng Ðồng Thiên Chúa Giáo v.v... Ngoài ra, các em sinh viên tại các đại học cũng đã quần tụ vào nhau, cùng làm những sinh hoạt có tính cách giữ gìn tiếng Việt, phong hóa lịch sử Việt như tôi đã có nhắc tới ở phần đầu.
Vả lại, thứ tiếng Việt Nam mà xã hội con người dưới chế độ Việt Cộng đang sử dụng, theo tôi là một nguy cơ của ngôn ngữ Việt! Ðó là một loại tiếng Việt làm ngu dân, làm mòn khựng sự tiến bộ của con em Việt Nam. Những danh từ, những cụm chữ đóng khung ngô nghê cố tình ra vẻ mộc mạc để dễ thâm nhập vào tầng lớp bình dân thời Nam Bộ kháng chiến, cộng thêm những ước lệ nửa Tàu nửa Nga nửa người nửa ngợm làm tiếng Việt trong nước hiện nay vô hình trung biến thành những thou để chọc cười!
Con đường "giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật v.v... còn quá cùn mằn giới hạn trong chủ đích tuyên truyền cho chế độ Việt Cộng. Không thấy nói tới việc cho các tác phẩm từ hải ngoại được phổ biến rộng rãi tự do vào trong nước!
Việc quan trọng ngay tức thì là làm sao cho người dân trong nước, cho các Ðảng viên cán bộ trong nước... hấp thụ được những văn minh, thành tựu của thế giới. Tôi nghĩ, người Việt hải ngoại hầu như đã thấu hiểu tình hình trong nước ở vào mức độ cần thiết rồi! Ngay cả những ai có "cảm tình" với Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng, cũng khó bào chữa cho những trì trệ, chậm tiến và bất công của đất nước Việt Nam hiện tại.
Do đó, thay vì quá chú trọng vào tiết (6) trong phần III, là:
"Hỗ trợ kinh phí vận chuyển và đơn giản hóa thủ tục đối với việc gửi sách báo, văn hóa phẩm ra ngoài phục vụ cộng đồng".
(Nghị Quyết 36)
Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng lại cũng nên quay về chăm lo cho sự cởi mở, tiến bộ một cách "thông thoáng" (chữ của Việt Cộng!) của đất nước và nhân dân Việt Nam, bằng cách cho người Việt hải ngoại được gửi sách báo, văn hóa phẩm vào trong nước một cách tự do dễ dàng.
Tiết (7) trong phần III lại là một cú trình diễn, dụ khị tầm phơ nữa:
"7.Hoàn chỉnh chính sách khen thưởng đối với người Việt Nam ở nước ngoài, đưa vào nền neap việc khen thưởng các tổ chức và cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có thành tích torng vận động xây dựng cộng đồng, đóng góp xây dựng đất nước, tổ chức và cá nhân trong nước có thành tích trong công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài. Giải quyết có tình, có lý và trên cơ sở đạo lý Việt Nam các vấn đề nhân đạo do lịch sử để lại nhằm thực hiện chủ trương đại đoàn kết oàn dân tộc, đồng thời có biện pháp phù hợp đấu tranh với những biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích dân tộc, phá hoại quan hệ giữa các nước có đông người Việt Nam sinh sống với Việt Nam hoặc gay chia rẽ trong cộng đồng người Việt Nam ở nước sở tại."
(Nghị Quyết 36)
Những biện pháp "đấu tranh" và "khen thưởng" của Ðảng và Nhà nước Việt Cộng đưa ra bên trên, xem chừng chẳng dựa trên "cơ sở đạo lý" nào của Việt Nam cả. Dĩ nhiên, đạo lý của Việt Cộng không phải là đạo lý Việt Nam!
Và như tôi đã khẳng quyết nhiều lần, những "cố tình di ngược lại chủ trương của Ðảng và Nhà nước Việt Cộng", tất nhiên không đồng nghĩa với "đi ngược lại lợi ích dân tộc". Ðùng "đồng hóa" dân tộc Việt Nam với Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng!
Ở tiết (9) phần III của Nghị Quyết, chúng ta nhận thấy được tầm quan trọng hàng đầu của "Quốc Sách" về người Việt tị nạn hải ngoại:
"9.Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài cần được kiện toàn với cơ cấu tổ chức, biên chế và phương tiện hoạt động đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới. Tăng cường cán bộ chuyên trách về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài tại cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở những nơi có đông người Việt Nam sinh sống. Một số bộ, ngành và một số tỉnh, thành phố có quan hệ nhiều với người Việt Nam ở nước ngoài can có bộ phận giúp cơ quan lãnh đạo trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Bổ sung kinh phí cho công tác này."
(Nghị Quyết 36)
Xem ra, lần này Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng đã dồn nhiều tâm trí, kể cả "kinh phí' cho công tác "kiều vận". Hơn hai triệu người Việt tị nạn lưu vong đang trên đà có giá và lên giá! Những "bọn Ngụy" liếm giày thực dân ác ôn, "chạy trốn tổ quốc" (chữ của Hoàng Khởi Phong); giờ đã thành "khúc ruột ngàn dặm" thắm tình đồng bào dân tộc. Công cuộc "đại đoàn kết toàn dân tộc" của Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng chỉ mới bắt đầu.
Nghị Quyết 36 kết thúc ở phần IV với tiểu đề "Tổ Chức Thực Hiện". Tất nhiên là thực hiện những điều, những tiết trong nghị quyết đã đề ra. Tiết (4) của phần IV nghị quyết khẩn thiết kêu gọi:
"4.Các tỉnh ủy, thành ủy, các ban cán sự Ðảng, Ðảng đoàn, Ðảng ủy trực thuộc Trung ương, các ban Trung ương Ðảng có kế hoạch thực hiện Nghị quyết. Ban cán sự đảng Bộ ngoại giao chủ trì cùng Ban cán sự Ðảng ngoài nước giúp Ban Bí Thư và Bộ Chính Trị theo dõi việc thực hiện Nghị Quyết. Ban Bí Thư tổ chức kiểm tra, định kỳ nghe báo cáo về tình hình và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài."
(Nghị Quyết 36)
Từ Ban Bí Thư, Bộ Chính Trị, Bộ Ngoại Giao cho đến toàn Ðảng đã được huy động để thi hành Nghị Quyết 36. Xem đó đủ thấy được tầm quan trọng của Nghị Quyết này.
Như vậy, những người Việt Tị Nạn Cộng Sản, những người Việt lưu vong chúng ta nghĩ gì về Nghị Quyết 36? Và thái độ cần thiết nào chúng ta nên có để đối phó với "toàn Ðảng và Nhà Nước Việt Cộng", trong "Quốc Sách" vận động, lôi kéo khúc ruột ngàn dặm Việt Kiều hải ngoại... "về nguồn" với Ðảng và Nhà nước của Chính Quyền Cộng Sản Việt Nam?
Ðường trần quên lối cũ
Người đời xa cách mãi
Tình trần khôn hàn gắn thương lòng...
(Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay -
Ðoàn Chuẩn-Từ Linh)
Vĩnh Phú, địa danh tôi muốn quên mà không thể nào quên. Trong suốt hơn mười năm qua và trong cả cuộc đời . K1, K2, K3, K4...những chữ số ký hiệu kinh hoàng. Của tôi. Của những người tù và gia đình họ. Ở rồi, đến rồi, đi rồi...mấy ai muốn quay trở lại? Vậy mà hôm nay tôi vẫn phải trở về đây. Cảnh vật không khác xưa là bao nhiêu dù thời gian trôi qua bốn năm rồi...
Những khẩu hiệu:"Chào mừng thành công Ðại Hội Ðảng 5" ,"Ðảng Cộng sản Việt Nam - Người lãnh đạo Tài Tình", "Ðảng Cộng sản Việt Nam muôn năm..." lem luốc màu đỏ vì nước mưa, chảy dài xuống như những dòng nước mắt pha máu ngoằn ngoèo trên từng bờ tường loang lổ, cũ kỹ. Ngay phía dưới lại có hàng chữ mang tính "pháp lệnh" bằng những lời thô tục "Cấm ỉa đái" . Có cả những nét chữ nguệch ngoạc chửi thề. Hình như không một ai để ý.
Ở cái ga xép èo uột gần tận cùng của đất nước này, những con người lam lũ, ngác ngơ, còn đang loay hoay với ký trà, bao gạo, rổ rá nhựa, nồi niêu xoong chảo, xấp vải Chợ Lớn hoa xanh, hoa đỏ...Che che, giấu giấu, tránh con mắt dòm ngó của bọn Công an kinh tế. Chính sách của Ðảng đổi mới rồi, tự do buôn bán nhưng người dân lại khổ vì sưu cao thuế nặng.
Theo lời chỉ dẫn, chúng tôi không đến trại Tân Lập bằng đường sông nữa.
Ðạp xe trên bờ đê. Dắt xe đi bộ qua bãi cát lổn nhổn những vỏ sò, vỏ ốc. Băng ngang qua những thửa ruộng khô cằn của vùng đất miền trung du. Cái hình ảnh "quê em miền trung du, đồng chiêm lúa xanh rì..."của một thời hoàng kim nào xa lắm, nay ở đâu? Giặc tràn về đốt phá thôn làng. Gia đình ly tán. "Vườn không nhà trống tàn hoang" còn trong trí óc non nớt của tuổi thơ tôi. Giờ đây, giặc nào đã làm cho miền Bắc điêu tàn?
Ðảng Cộng Sản Việt Nam, đỉnh cao của trí tuệ loài người! Ôi, mỉa mai thay những khẩu hiệu kêu to như những chiếc thùng rỗng! Ðảng lãnh đạo tài tình làm sao để bao nhiêu năm đời ta có Ðảng, bấy nhiêu năm Ðảng phá nát tan? Ðể những người dân quê hiền hoà cởi mở trở nên ngu ngơ câm lặng đến thế kia sao?
Dân cư ở đây rất thưa thớt. Họ sống trong những mái nhà lụp xụp, vách đất, mái tranh. Mảnh vườn. Rào thưa. Khoảng sân đất. Giếng nước. Chiếc gầu..tất cả đều quá nhỏ bé, trơ trụi, xa lạ. Trẻ con gầy còm, ốm yếu. Quần đùi vá víu miếng nọ miếng kia. Cởi trần, ngồi nghịch đất. Không tiếng nô đùa. Không tiếng hát. Không tiếng nhạc của máy thu thanh. Không cả tiếng hót. Như một vùng đất chết.
Ba người anh cùng đi với tôi chuyến này đều là những thanh niên đầy nhiệt huyết của hơn ba mươi năm về trước. Thoát ly gia đình, mang tuổi trẻ của mình cống hiến cho đất nước . Ðể rồi khi biết mình bị lừa thì đã muộn. Cũng dòng sông Lô nắng vàng lấp lánh nhưng còn đâu tiếng hát rộn ràng? Cũng con đê này của những buổi chiều vai đeo ba lô từ chiến khu về, rầm rập bước chân.
Trong không gian, hồi chuông ngân nga trong chiều thu lộng gió, ba người anh tôi ôn lại một vài kỷ niệm xưa. Tiếc nuối. Tôi làm các anh tỉnh giấc mơ:"Phải chi ngày ấy các anh không đi theo phong trào Thanh Niên Cứu Quốc thì nay em đâu phải đi bốc mộ chồng ở một nơi đèo heo hút gió này!" Ba người anh im lặng. Họ như muốn quên đi những năm tháng sục sôi khí thế cách mạng. Yêu tự do. Yêu tổ quốc. Ðánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước . Chiến thắng Ðiện Biên Phủ, ngày trở về giải phóng thủ đô Hà Nội. Những người bộ độ với tuổi hai mươi. Trẻ trung. Học thức. Hà Nội đã bừng lên một sức sống mới.
Hà Nội rực rỡ cờ hoa. Hà Nội tưng bừng tiếng hát. Không bao lâu, những cuộc đấu tố dã man diễn ra khắp nơi. Ông bác tôi bị đấu tố, dù có năm người con đi kháng chiến. Nghe tin dữ, các anh về quê xin Ðảng khoan hồng. Không những không tha, họ còn xúi giục các anh tôi: phải giác ngộ cách mạng, phải đứng vào hàng ngũ nhân dân, cùng vạch tội, chỉ tên địa chủ, cường hào, ác bá. Ông bác tôi bị tù. Khổ sai lao động. Thất vọng, đớn đau nhìn bố vác cây, đào đất, khiêng đá, trộn hồ...Những người tù già này làm việc suốt ngày đêm để đạt chỉ tiêu biến khu đất hoang quanh hồ Bảy Mẫu, Hà Nội, thành một công viên mang tên Thống Nhất. Ðến thập niên 1980 đổi thành công viên Lê Nin.
Cũng vì sự khổ nhục của người bác thân yêu mà bao lần ra Hà Nội là bấy nhiêu lần tôi không đặt chân vào công viên này. Cũng như tôi đã không đến vui chơi khu K4 Long Khánh, một địa điểm du lịch mới lạ của miền Nam. Vì nơi đây được tạo nên bởi những bàn tay của cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bị Cộng sản tù đầy, hành hạ.
Các anh tôi, vài năm đầu "Sài Gòn giải phóng", vì đường lối của Ðảng, hay vì muốn các em của mình ở miền Nam sớm "giác ngộ" để hoà nhập ngay với cuộc sống mới, đã có những lần tranh luận. Bao giờ cũng trở thành lớn tiếng cãi nhau. Tôi đã làm các anh nhức đầu không ít. Lần cuối cùng, tôi không cãi lại các anh nữa. "Ðảng đã cho các anh tôi sáng mắt sáng lòng". Ðó là lần một anh nói với tôi:"Người em không yêu làm em khổ, em đâu có đau bằng anh? Anh đã yêu, anh đã dâng hiến cả cuộc đờim mà ngày nay anh bị phụ bạc, anh bị lừa dối...". Một anh khác:"Viên gạch đã trót để vào xây tường, giờ có rút ra cũng bị vỡ tan. Thôi em ạ, không còn con đường nào khác!"
Trên con đê này, giữa khung cảnh hoang vắng của buổi chiều trung du, bốn anh em đi bên nhau. Thương cho thân mình. Thương cho các anh. Lý tưởng sụp đổ tan tành. Ngày mai đen tối.
Trời chạng vạng. Tôi đã bắt đầu đi những bước thấp bước cao. Quãng đường này làm tôi nhớ lại những lần vượt biên. Xuống ghe tại Nhà Bè khi thành phố còn chìm trong màn đêm. Lên bờ đi bộ băng qua bao nhiêu là thửa ruộng. Vấp ngã bao lần mà không cảm thấy đau đớn vì thần kinh đang trong tình trạng căng thẳng: hồi hộp, lo sợ.
Lần này trên cánh đồng: mệt mỏi, chán chường…
Cũng phải vài giờ nữa mới tới trụ sở Ban Chỉ Huy. Tiếng dế nỉ non. Xa xa ánh đèn leo lét. Cố lê bước tới đó để xin ngủ nhờ qua đêm. Nhìn một căn nhà tương đối khang trang, chúng tôi vào gặp chủ nhà xin ngủ đỡ ngoài mái hiên. Nhưng cũng bị từ chối. Ðang lo lắng không biết tôi có đủ sức đi tiếp hay không, thì như có phép lạ, một người đàn bà gánh lúa từ xa đi tới. Bà ta dừng lại:"Các bác tìm nhà ai thế?" Khi biết ý, bà ta mời chúng tôi về nhà. Bốn anh em mừng rỡ như người sắp chết đuối vớ được chiếc phao. Dù gánh lúa nặng trĩu trên vai, bà ta vẫn bước đi thoăn thoắt. Trong khi tôi lẽo đẽo theo sau.
Khi bà đẩy cánh cổng tre, bóng tối làm tôi không thể nhìn rõ một người đàn ông đang xếp lúa ngay đầu nhà. Ông ta không quay lại và cũng không lên tiếng đáp lại lời chào của các anh tôi. Trước thái độ lạnh nhạt đó, chúng tôi hơi e ngại. Trong lòng vẫn mừng thầm không bị đuổi ra.
Một gian nhà ba gian bằng tre sơ sài nhưng gọn ghẽ. Nhìn cách trang trí nhà cửa, nhìn bức tượng Chúa nho nhỏ trên bàn thờ cao, tôi có thể đoán chủ nhân không phải là người quê mùa. Tôi ôm bộ quần áo ra giếng. Những giọt nước mát lạnh làm tôi tỉnh táo lại. Trăng bắt đầu lên. Tôi đã nhìn rõ khung cảnh chung quanh. Mảnh sân hình chữ nhật. Khu vườn nhỏ. Chái bếp cuối sân. Ánh lửa bập bùng. Hàng cây cau vươn cao đón ánh trăng. Tôi liên tưởng tới hàng cau của khu vườn trước nhà tôi ở quê hương. Ngày còn nhỏ, tôi vẫn thường trèo lên nhanh như một chú mèo con để hái quả cau cho mẹ tôi têm trầu đãi khách. Trong không gian thoang thoảng mùi hương hoa thiên lý. Âm thanh tiếng đàn mandoline bản Valse Favorite vui tươi, tiếng hát chan chứa tình quê "Làng tôi xanh bóng tre. Hồn lắng tiếng chuông ngân. Tiếng chuông nhà thờ rung..." chợt khua động trong tôi ngày tháng êm đềm thời thơ ấu.
Tôi thở thật sâu để nén xúc cảm. Ðêm yên lặng. Ðêm mờ ảo. Tất cả đều rất mong manh. Một tiếng động nhỏ cũng đủ làm tan vỡ giấc mơ xưa thoáng đến với tôi, đưa tôi về thực tại. Tôi phải vào nhà để bàn chuyện ngày mai.
Tiếng cười nói làm tôi ngạc nhiên. Ông chủ nhà cùng ba anh tôi đang vui vẻ quây quần bên khay trà bốc khói. Thấy tôi vào, ông kéo ghế trịnh trọng mời ngồi. Tôi còn đang ngơ ngác trước thái độ thay đổi nhanh chóng thì một anh đã giải thích:"Ban đầu ông Tuyển tưởng anh em mình đi thăm nuôi tù. Bây giờ ở đây có tù hình sự (những thanh thiếu niên can tội cướp của giết người ) Tù chính trị chuyển đi từ lâu rồi. Một số về trại Hà Nam Ninh. Ða số vào Nam.
Ông Tuyển đặt ly trà thơm phức trước mặt tôi: "Ðược biết cô về đây bốc mộ cho chồng, chúng tôi vô cùng cảm kích. Gia đình chúng tôi xin hết sức giúp đỡ cô và các ông anh đây."
Vầng trán cao. Khuôn mặt chữ điền. Cách nói chuyện lưu loát cùng dáng điệu từ tốn, cử chỉ lịch sự, chứng tỏ ông Tuyển là một người có một số vốn kiến thức về học vấn cũng như về xã hội. Ông cho biết có một người anh là linh mục trong một ngôi nhà thờ vùng đất đỏ Long Khánh.
Ông Tuyển đã sắp xếp chỗ ngủ cho chúng tôi. Ðể khách được tự do, ông Tuyển dặn dò vợ con và đi vào thôi tìm người quen chuyên việc cải táng.
Gian phòng khách rộng, sơ sài nhưng ngăn nắp. Giường tre, bàn gỗ mộc mạc, thô kệch, được hình thành có lẽ do bàn tay của chủ nhà. Tượng Chúa và tượng Ðức Mẹ trên cao là một hình ảnh cảm động hiếm có trong những ngôi nhà tại miền Bắc. Theo như lời ông Tuyển, đời sống gia đình ông bắt đầu khá hơn kể từ khi hợp tác xã nhà nước tan vỡ. Lối làm ăn tập thể nhường lại cho lối khoán sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn phải nộp đủ cho nhà nước , cả nhà xúm nhau cày cấy mới có gạo ăn.
Dưới nhà ngang, các con ông bà Tuyển đang đập lúa, giã gạo, sàng sẩy...Mọi người chăm chú làm việc, không tò mò để ý khách phương xa. Tôi mệt mỏi nằm thiếp đi trong chốc lát.
Khi tôi tỉnh dậy, trăng đã lên cao. Ông Tuyển vừa về tới. Tay cầm hai chai rượu và một bó hoa tươi. Ông cho biết đã tìm được một người rất thành thạo trong việc bốc mộ. Chai rượu này để rửa hài cốt. Tìm mua được rượu ở miền núi không phải là chuyện dễ dàng.
Bà Tuyển bưng mâm cơm từ nhà bếp lên. Chúng tôi trải chiếu ngoài hiên, ngồi ăn cơm dưới ánh trăng. Ðĩa thịt gà luộc thơm mùi lá chanh thái chỉ rắc lên trên. Tô canh rau "tập tàng"- đủ mọi loại rau hái ngoài vườn - mát ngọt. Tôi không ngờ anh em chúng tôi được đối xử như một thượng khách ở nơi đây. Thế mới biết ở một nơi tưởng chừng như không có, ta vẫn tìm thấy một tấm lòng.
Qua một đêm ngủ với nhiều mộng mị, sáng sớm hôm sau, tôi và các anh đến Bộ Chỉ Huy. Có quãng đường đi được bằng xe đạp. Có quãng đường đá lởm chởm phải dắt bộ. Chỉ huy trại là người mới. Không phải Thiếu Tá Nguyễn Huy Thùy tôi gặp lần trước. Hắn vồn vã thái quá, khiến tôi chỉ im lặng ngồi nghe. Hắn kể chuyện, có một người nước ngoài, cách đây không lâu, về đây bốc mộ bố. Cầm bình hài cốt lên xe, xe không nổ máy. Gọi xe ngựa đến kéo, con ngựa nhảy quớ lên không chịu chạy.
Nhìn hắn ba hoa, ngồi bỏ cả hai chân lên ghế, tôi hơi khó chịu. Nhất là cặp mắt hắn thỉnh thoảng lại nhìn vào mấy bao thuốc là "555" anh tôi mang đến làm quà. "Ba con năm vừa nằm vừa ký", cho nên bọn tôi mới được chấp thuận một cách dễ dàng.
Những chuyện hắn nói có thể xảy ra ở đâu, hắn nghe được. Hắn muốn nói đến đời sống tâm linh. Anh em tôi thì có rất ít thời gian. Cũng có thể sau một thời gian quá dài bị đè nén, những con người triệt để chống chủ nghĩa duy tâm ngày nay bắt đầu duy tâm hơn ai hết.
Xe Volga cọc cạch chở chúng tôi đi lên ngọn đồi, nơi an nghỉ của những quân nhân chế độ cũ. Ít ra từ ngày Việt Cộng muốn bang giao với Mỹ, đã có lúc họ bỏ được từ ngữ "ngụy quân ngụy quyền". Nhưng tiếc tay những tên gọi này vẫn là vết hằn trong lòng người Việt.
Tôi ngồi đợi trong một căn nhà nhỏ dựng sơ sài bằng tre nứa. Nền đất lồi lõm. Trên vách nhỏ treo đủ thứ khẩu hiệu, kế hoạch công tác hàng tháng, tuần... Hình ảnh các lãnh tụ Cộng Sản thế giới và trong nước quá khổ so với bức vách, treo xộc xệch như sắp rơi. Ðây là nơi làm việc của toán công an canh gác.
Cách đây bốn năm, khi tôi đến nơi đây nhận mộ chồng, cảnh vật chung quanh gọn ghẽ hơn. Hàng ngày còn có bàn tay bạn tù săn sóc. Giờ đây cỏ cây, dây leo chằng chịt, không nhìn thấy lối đi. Hơn một giờ đồng hồ trôi qua, tên công an cầm bản đồ nghĩa trang và các anh tôi trở lại trụ sở với gương mặt thất vọng. Không tìm thấy mộ vì cỏ cây che lấp cả một vùng rộng lớn. Tim tôi như muốn ngừng lại. Chẳng lẽ lại về không?
Tôi xin mọi người hãy cho tôi đến tìm. Tôi thầm cầu nguyện cũng như ở Sài Gòn, mẹ tôi và các em tôi đã cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được tốt đẹp.
Kỳ lạ thay! Tôi chỉ vạch lá chui vào đúng một quãng ngắn là tìm ra mộ. Tôi reo to lên. Các anh tôi đứng ngoài không tin. Ngôi mộ có hai bia đá. Tôi lầm thế nào được. Một tấm bia tôi mang từ Hà Nội lên. Một tấm bia nữa của anh em bạn tù đẽo gọt bằng tay. Nét chữ khắc vào đá mờ đi vì rêu phủ.
Trong khi người thợ cải táng chặt cây cối chung quanh, tôi thắp nhang lui cui cắm trên từng ngôi mộ. Ðêm mưa, cỏ ướt, ngửi thấy có hơi người, những con vắt nhảy ra, bám lấy chúng tôi. Máu chảy ròng ròng. Tôi muốn ngất người đi vì sợ. Cây cối quang dần. Dầu nóng tôi bôi đầy mặt, mũi, chân, tay, khiến những chú dế bé xíu cũng không dám nhảy ra đột kích nữa.
Một ít trái cây mua vội dọc đường, bó hoa ông Tuyển mua dùm, chúng tôi chỉ có những tấm lòng thành trước linh hồn người đã khuất. Người anh lớn nhất của tôi khấn thật lâu. Những cây nhang cháy rất nhanh, tàn cong vòng...khói nhang thơm toả ngát. Nhát cuốc đầu tiên bổ xuống đất, lòng tôi đau buốt. Tiếng cuốc, xẻng đều đều vang vọng giữa miền rừng núi hoang vu. Từng tảng đất bật lên, tâm hồn tôi nhu vỡ vụn. Cho tới lúc lưỡi cuốc đụng vào quan tài. Tôi hồi hộp. Các anh tôi nôn nóng.
Khi tôi ra đến Hà Nội, các bậc lão thành có trấn an:"Ðất núi miền khô ráo, xương cốt lâu ngày sẽ tan đi. Phải chuẩn bị tinh thần: có thể đứng trước một cái hòm chỉ có đầy cát bụi!"
Thế cho nên khi những nhát búa đầu tiên bổ xuống để nạy nắp quan tài, tôi cứ giật thót mình. Một cảm giác đớn đau như lần đầu tiên nghe thấy tiếng đóng đinh vào quan tài bố tôi lúc liệm quan...
Gỗ áo quan dầy và chắc. Khi chiếc nắp bật lên, tôi lạnh người: chiếc chăn len màu đỏ! Suốt đêm qua, người anh lớn của tôi cứ chợp mắt là nằm mơ thấy xác chồng tôi quấn bằng mảnh vải màu đỏ. Gương mặt các anh tôi xúc động. Bóc lượt chăn len ra là quần áo. Hết lớp áo này đến lớp quần khác. Bàn bè đã dồn tất cả cho người chết mang đi. Nước mắt tôi ràn rụa. Màu xanh lá cây đậm của chiếc áo len mẹ tôi mua tặng, gửi trong năm ký lô quà đầu tiên ra Bắc. Chiếc sơ-mi trắng ngà có từng sợi chỉ xanh xanh, hồng nhạt, mang về Sài Gòn sau chuyến du học tại Mỹ năm 1971. Chai dầu gió, đôi giày ba ta...tất cả tôi đã tự tay xếp vào ba lô trước ngày anh đi trình diện "học tập cải tạo".
Không còn lầm được. Không còn ảo tưởng:"Ðã trốn trại, còn đang ẩn trốn tại một nơi nào." Tôi mất anh thật rồi! Thế là hết. Tôi khóc nức lên. Trời như nổi gió. Cỏ cây chao đảo. Ðồi núi quay cuồng. Quanh tôi cảnh vật mờ đi...
Lâu lắm, khi tôi tỉnh dậy, đống tro tàn của áo quần vừa đốt còn âm ỉ cháy. Trong một cái sanh to bằng gang dùng thổi cơm cho trại tù đã gẫy tay cầm, các anh tôi đã đổ bột nhang thơm với rượu trắng để ngâm xương cốt. Người thợ cải táng cùng các anh tôi quấn giấy bao từng lóng xương, đặt từng mảnh vào trong nhiều túi ni-lông ...
Không gian mênh mông yên lặng. Tôi lặng lẽ theo các anh tôi bước nhanh cho kịp chuyến đò cuối cùng...
(Chuyến bốc mộ vào năm 1985)
Trích tập truyện Lối Cũ Chẳng Sao Quên
(The Trail I Never Forget)
tác giả: Bích Huyền
Sau hai mươi lần Tháng Tư anh dũng kiêu hùng gìn giữ đất mẹ tự do
Có một Tháng Tư ta thua trận.
Người đàn ông 47 tuổi
Ba lần chiến thương bội tinh, một bảo quốc huân chương đệ tứ
Cởi áo lính ở quân vụ thị trấn
Ðứng nghiêm chào tạ lỗi cùng quân dân vì thất bại:
Không bảo vệ nổi miền đất tự do ở Phương Nam
Bạn hẹn tàu, gọi trực thăng, bảo ta đi
Vợ khóc con buồn, thúc giục.
Nhưng sao ta đi được
Còn bao nhiêu chiến hữu đồng đội xung quanh
Còn kỷ luật quân đội
Còn danh dự người lính
Nên ta ở lại.
Tháng Năm
Không cúi đầu nhưng lưng ta đã oằn xuống
Lặng lẽ chấp nhận địch thù
Những đứa con trai con gái còn trong tuổi đến trường
Mới hôm qua gặp trên đường lí nhí thưa chú thưa bác
Hôm nay tay đeo băng đỏ vai vác AK
Ðập bàn đá ghế gọi ta là thằng ngụy
Thôi đời đã đổi
Ta buồn gì chút ngôn từ thời thua trận
Chị bán rau ở góc chợ
Giờ cũng đã là chủ tịch ủy ban
Gã nhạc sĩ chuyên viết nhạc tình rên rỉ có thời trốn lính
Sáng nay hát nghêu ngao hớn hở trên đài phát thanh
Phố xá tan hoang
Từng đoàn người già trẻ xuôi ngược tìm đường ra biển
Tháng Sáu
Ta bắt đầu cuộc đời trong các ngục tối
Gông cùm theo ta lang thang suốt các trại tù Bắc Nam
Xin lỗi em và con, anh đi tù chẳng để lại tài sản gì
Ngồi căn nhà cũ trong hẻm nhỏ
Cả đời ta miệt mài chiến trận vì hai chữ tự do.
Nhiều Tháng Tư đi qua không tin tức gia đình
Cho đến ngày có thư con gái út
Từ một vùng đất chưa hề có tên trên bản đồ, vùng kinh tế mới
Bố ơi, mẹ đã mất sau cơn bệnh,
Tụi con sẽ dắt díu nhau trốn về lại Sài Gòn
Nhưng không phải để đi học
Anh Hai xin đạp xe ba gác mướn
Chị Ba và con bán mía rong, trà đá ở bến xe
Và sẽ lấy địa chỉ bà ngoại để ba gửi thư
Bà ngoại nghèo lắm không có gì gửi bố đâu
Ta nhỏ giọt nước mắt lặng lẽ trong đêm
Tội nghiệp con tôi, con của những người lính miền Nam thua trận
Ðành viết lại, bố xin lỗi và xin con đừng buồn
Bố không biết ngày về nhưng chắc cha con rồi sẽ gặp nhau
Tháng Tư cùm chân, Tháng Tư khoai sắn, Tháng Tư bệnh tật,...
Mười hai Tháng Tư qua đi
Ta theo tàu suốt Hà Nội Sài Gòn xuống ga Hòa Hưng một chiều mưa lạnh lẽo
Những mặt người buồn tênh qua lại thiểu não
Phố Nguyễn Thông, Kỳ Ðồng quanh ga bắt đầu lên đèn, đèn dầu
Hai đứa con gái đen đủi gầy guộc đứng bên ga đợi bố
Nhìn chúng buồn tủi và ốm yếu như những con hạc lạc đàn
Còn anh con đâu?
Anh con tìm cách ra đi và không thấy tin tức gì nữa.
Chắc đã mất ở một nơi nào trên bờ, giữa biển, hay rừng sâu.
Người phu xích lô đen đúa hỏi nhỏ: anh có phải mới về từ... ừ
anh muốn đi đâu, em chở không lấy tiền
Em hai chấm của tiểu khu Long An, về từ tám mốt
đạp xích lô hơn sáu năm rồi
Chút tình đồng đội bất ngờ đã làm ta bớt lạnh
Thêm một người sửa xe đạp ở góc phố
Ba cuộc đời hè đường nuôi nhau
Và một Tháng Tư khác đến,
Bạn gửi thư bảo ta đi thôi, lần này không phải đi bằng trực thăng hay tàu chiến
Mà là máy bay hàng không dân sự
Chúng đã nhận tiền đầy đủ rồi
Các con ơi, đi thôi, đi thôi.
Các con sẽ phải làm lại cuộc đời
Chúng ta chẳng còn nợ nần gì dân tộc này nữa
Tháng Tư này, trên đất tự do
Ta đã gần 80 tuổi
Rất nhiều năm đã qua,
Có những kẻ sinh ra sau chiến tranh vẫn vừa gọi ta là ngụy vừa hô hào xóa bỏ hận thù
Ta cười khà
Có buồn gì chút ngôn từ thời thua trận.
Nửa đêm, giờ Tý, đang say ngủ, bỗng có ai lay dậy thật mạnh. Giật mình, mở mắt ra, thấy rất đông Tướng Sĩ đứng chật phòng. Oai nghiêm đứng trước hàng là một vị Tướng Quân tay cầm gươm sáng lóa đang chỉ vào mặt người viết. Hoảng sợ quá, người viết vội thụp xuống lạy. Một vị Tướng trẻ, tay cầm quả cam, vội bước đến, trấn an:
-Ngươi đừng sợ! Hãy ngẩng đầu lên, nghe hiểu dụ của Đại Vương.
Người viết run rẩy "dạ" nhỏ. Vị tướng trẻ kia phất tay, đột nhiên một tờ dụ bay ra, rơi xuống trước mặt người viết. Dùng mũi kiếm chỉ vào tờ dụ, vị tướng trẻ nghiêm giọng:
-Ngươi đem phổ biến tờ dụ này cho bàn dân thiên hạ ngay lập tức.
Nói xong, biến mất. Tất cả các Tướng Sĩ cũng đều như một làn gió thoảng qua, không còn thấy bóng hình nào nữa, chỉ còn tờ dụ mầu vàng trên sàn.
Người viết vội đem tờ dụ chuyển đi ngay, không dám chậm trễ.
Kính xin cùng đọc và tha lỗi cho người viết, nếu việc ghi chép có điều chi thất thố.
HỊCH HẠCH TỘI QUÂN BÁN NƯỚC
Việc trị nước vốn ở yên dân.
Làm cha đẻ phải lo con khó
Đất nước ta bao lần thịnh nộ
Đuổi xâm lăng hung hãn kinh hoàng
Vì dân ta dạ đá, gan vàng
Đánh Mông Cổ, vạn quân chạy loạn
Trận Phú Thọ, chết tiêu hàng vạn
Quân Mông kia, kình ngạc thương vong
Lũ Thóat Hoan, năm chục vạn băng đồng
Chạy trối chết, chạy quên mũ áo
Trần quốc Toản, một tay gan bạo
Đánh quân Mông vài trận tơi bời
Vừa hợp lòng dân, vừa hợp ý Trời
Như Ta từng bẩm: "Xin cắt đầu Thần đi đã!"
Các ngươi hãy nhớ, ghi lòng tạc dạ
Hội nghị Bình Than, Diên Hồng đó làm gương
Bạch đằng Giang, thuyền giặc tang thương
Tên Thái Tử chui ống đồng chạy trốn
Nay ta nghe,
Dân chúng hoang mang vì một lũ khốn
Rước voi dầy mồ, làm nhục cha ông
Bọn Bắc Phương kia, có gì mà cuồng ngông?
Nay lũ khốn lại cúi đầu dâng đất!
Dâng cả biển, Thác Bản Giốc, dâng tất!
Thế còn gì là đất nước tổ tiên?
Chúng có liêm sỉ không? Sao ngậm miệng ăn tiền?
Ta thấy nhục, nhục tiên, nhục tổ
Ngày đánh vật của Bắc Phương, chúng ra đường, cổ võ
Đất của ta, mà Tầu Cộng dương oai?
Thành Thăng Long, nơi đuổi chúng chạy dài
Giờ trở lại, từng đoàn, ca múa
Bọn chúng thi đua với nhau, kệ cha chúng chứ!
Sao bắt dân đi hầu, như giỗ Tổ Hùng Vương?
Sao đất nước mình, mà cờ Tầu lại giương?
Đánh trống, gõ mõ, múa Lân, múa khỉ?
Sao biểu tình chống xâm lăng mà lại cấm chỉ?
Người yêu nước bị tù, bị phạt trăm ngàn?
Lũ Tầu Cộng còn hoạnh họe, ngang tàng
Coi nước Việt như sân nhà của chúng
Nhốt thanh niên biểu tình như úp thúng
Hễ nhô ra là chúng xúm lại vây
Ta thấy từ ngàn xưa cho đến ngày này
Chưa lúc nào dân ta nô lệ thế!
Lũ khốn kia quá hèn, quá tệ!
Sợ Cộng Tầu đến vãi đái, vãi phân
Công An không phục vụ nhân dân
Lại bợ đít lũ Cộng Tầu xâm lược
Nên ta đây,
Phải ra tay trị loài ngang ngược
Truyền Phạm Ngũ Lão hồi kinh, chém bọn vong nô!
Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản, Trần Khánh Dư
Mau phong tỏa lũ xâm lăng, chém hết!
Yết Kiêu, Dã Tượng đâu? Không được tha chết
Cho bất cứ tên nào chiếm đất dân ta
Truyền các tướng bủa vây, địa võng thiên la
Những tên cháu con của Trần Ích Tắc,
Là Hồ Chí Minh Ích Tắc, Phạm văn Đồng Ích Tắc
Và lũ khốn kýgiấy nhượng nước nhà
Đem đóng gông, phơi nắng, không tha
Cho vạn kỷ sau, không còn tên bán nước
Không còn lũ bợ đít, lòn trôn, mua quan bán tước
Tham nhũng tung hoành, tàn hại dân ta.
Truyền cho toàn dân, họp lại muôn nhà
Hội Nghị Diên Hồng, thêm một lần hạch tội
Bọn xâm lăng, cuồng vọng Bắc Phương.
Ta truyền cho các ngươi:
Phải làm sao cho hậu thế lưu hương
Phải chứng tỏ con Lạc, cháu Hồng dũng cảm
Giòng dõi vua Hùng, trung can, nghĩa đảm
Không nô lệ ai, dù cho Tầu Cộng gầm gừ
Hãy nhớ lời Lý Thường Kiệt:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
Thôi, mấy lời căn dặn
Không được làm nhục Lịch Sử dân ta!
Ta quyết chém chết, không tha!
Bergen tưởng niệm ngày quốc hận 30.04.2008
Những năm trước dây, mỗi lần tưởng niệm ngày Quốc Hận 30 tháng 4, đồng bào VNTNCS tại Bergen thường dồn nỗ lực vào công tác phổ biến thông tin cho người bản xứ và các sắc dân chung sống hiểu rõ hơn về thực trạng chính trị tại VN dưới chế độ độc tài toàn trị của đảng CSVN. đồng thời kêu gọi sự hỗ trợ cho các phong trào tranh đấu đòi nhân-quyền và dân chủ tại VN.
“…hội trường sinh hoạt của chúng ta không đầy người, nhưng…”
Năm nay việc tưởng niệm biến cố lịch sử đau thương của dân tộc, BA MƯƠI THÁNG TƯ, mang một chiều sâu tâm-thức hơn, khi đồng bào xum họp với nhau trong phòng kín để cùng một lúc tưởng niệm 40 năm biến cố thảm sát Tết Mậu Thân, 1968-2008. Thư mời của ban tổ chức mong mỏi tất cả “chúng ta là những kẻ mất nhà, mất nước, tha hương viễn xứ, nhưng trong tim luôn ước mong quê hương Việt Nam sẽ có ngày thực sự tự do, dân chủ, toàn dân ấm no, hạnh phúc; tất cả hãy đến với nhau và cùng tưởng niệm biến cố kinh hoàng nhất trong lịch sử dân tộc tương tàn, lắng tâm cầu nguyện cho đồng bào bị thảm sát; và nhất là, qua buổi họp mặt này, chúng ta có dịp cho nhau hơi ấm đấu tranh vì lý tưởng tự do, dân chủ và sự toàn vẹn lãnh thổ của quê hương Việt Nam yêu dấu.
Buổi tưởng niệm diễn ra tại thính-phòng trường St.Paul, chiều ngày thứ tư 30.04.2008, từ 18g30 đến 20g30. Sau phần nghi thức là lời mở đầu của vị đại diện nhóm tổ chức. Ông nói: “Quang cảnh nơi cử hành tưởng niệm hôm nay của chúng đơn sơ chưa từng thấy, hội trường sinh hoạt của chúng ta không đầy người, nhưng tất cả chúng ta, những người vẫn có thể đến được với nhau hôm nay, tôi chắc chắn đều cảm nhận được ở nơi nhau một lòng yêu mến chân thành dành cho nhau và cho quê hương VN yêu dấu”.
Ô.Nguyễn Tấn Vinh đang nói chuyện
Bài nói chuyện của ông Nguyễn Tấn Vinh hôm nay nhắm khai triển ba vấn đề:
1. Nhìn lại cuộc tấn công và thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế.
2. Hiện tình đất nước và ý đồ ve vuốt để khống chế khối người việt hải ngoại của CSVN.
3. Lập trường và lý tưởng của người việt tị nạn.
Phụ diễn bài nói chuyện, có phần trình chiếu các đoạn phim tài liệu liên quan sưu tầm được. Ca khúc “Chuyện một chiếc cầu đã gẫy” và “Những con đường trắng” của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng được phát lên và nghe trong không khí nghiêm trang, bồi hồi, xúc động.
Phần thảo luận sau bài nói chuyện tạo được một không khí nóng bỏng, cởi mở, chân thành. Đề tài liên quan đến lập trường và lý tưởng của người việt tị nạn chiếm ưu tư sâu đậm trong mọi người. Có thể ghi nhận các vấn đề sau đây:
1. Nặng lòng nhất vẫn là vấn đề làm sao để dẫn dắt các thế hệ con cháu đến gần và tiếp nối cuộc hành trình của các bậc cha anh.
2. Việc nối kết các mối liên hệ với người bản xứ nhằm vận động sự hỗ trợ cho các cuộc tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam được đề cập và cổ võ. Tuy nhiên đề nghị gia nhập RAFTO được tiếp nhận một cách dè dặt, rất có thể vì những khiếm khuyết do tuổi đời đã cao…
3. Vấn đề phức tạp trong môi trường chính trị giữa cộng đồng VNTNCS ngày nay cũng được nêu ra và kêu gọi sự cảm thông, tôn trọng, nên thấu hiểu và tìm cách vận động lẫn nhau, hơn là chỉ trích, cách biệt và đố kỵ, gây xa lánh, chia rẽ trong cộng đồng…
Thời lượng thảo luận quá ít ỏi, nên cũng chưa mang lại một kết luận cụ thể nào khả thi. Tuy nhiên tinh thần cởi mở, chia sẽ và lắng nghe cũng đã là một dấu hiệu đáng mừng và đáng ca ngợi.
Ước mong tinh thần của buổi sinh hoạt hôm nay sẽ là chiếc chìa khóa có khả năng mở dần dần những cánh cửa vẫn thường đóng kín từ lâu.
Nói Với Con Yêu Nhân Ngày 30 Tháng 4 Tác giả: Nguyễn Ngọc Duy & Hân Kính tặng những Tấm Lòng tha thiết với Quê Hương và mến yêu Màu Cờ Tổ Quốc
Con yêu của ba,
Bây giờ đã quá nửa đêm. Ba biết con đang chìm trong giấc ngủ êm đềm của tuổi thơ. Nhưng riêng ba thì không ngủ được. Con có biết tại sao không? Hôm nay là ngày gần cuối tháng 4. Cũng như mọi năm, cứ mỗi lần đến gần ngày 30 tháng 4 là trong lòng ba xao xuyến lạ thường. Ban ngày khi làm việc, ba không chăm chú vào công việc như bình thường, nhưng hay lơ đãng, nhớ nhung về thời dĩ vãng. Ban đêm, dù rất mệt mỏi sau nhiều giờ làm việc cực nhọc, nhưng ba cứ thao thức, tâm trí cứ mãi trôi bềnh bồng về những hình ảnh đã xảy ra trong thời gian cuối tháng 4 của một năm xa xưa, cách đây đã 33 năm trời.
Năm ấy ba chưa tròn 16 tuổi, đang còn cắp sách đến trường, nhưng ba cũng đã đủ khôn để hiểu biết sự việc xảy ra chung quanh mình. Ba còn nhớ rõ, tình hình chiến sự dai dẳng, kéo dài đã nhiều năm giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam đột nhiên gia tăng dữ dội. Càng về gần cuối tháng 4 thì càng có thêm nhiều tin buồn, miền Nam cứ tiếp tục di tản, bỏ mất từ thành phố này đến thành phố khác, bắt đầu từ các tỉnh miền Trung. Đồng Bào không chịu ở lại để sống với kẻ xâm lăng, ùa nhau chạy về hướng các tỉnh miền Nam để lánh nạn, và thảm cảnh đã xảy ra: kẻ xâm lăng tràn đến, thấy đồng bào bỏ đi thì điên tiết, đem súng đạn ra bắn giết, đem cả súng đại pháo bắn vào đoàn người vô tội đang di chuyển trên quốc lộ, trên bãi biển chờ lên tàu. Da thịt đồng bào tan nát, văng vãi khắp nơi. Xác chết không toàn thây nằm đầy không đếm xuể. Dưới bãi biển thì máu nhuộm đỏ nước, thây trôi ngập tràn. Ôi! Cảnh hãi hùng này tưởng chỉ tìm thấy trong hỏa ngục, nhưng đã xảy ra cho hàng ngàn vạn đồng bào thân yêu trên chính mảnh đất ruột thịt của họ.
Con biết không, một số người may mắn sống sót, chạy vô được trong miền Nam, mừng rỡ tưởng mình thoát nạn. Nhưng họ lầm. Quân xâm lăng có bao giờ chịu buông tha. Họ tiếp tục đuổi theo, tấn công, bắn giết đồng bào vô tội, và cuối cùng, đã cưỡng chiếm cả miền Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, lấy mất đi hoàn toàn sự tự do của người dân miền Nam.
Một số người ngây thơ, nghĩ rằng sau khi "giải phóng" được miền Nam, kẻ thắng trận đã nguôi được sự hung tàn, sẽ nghĩ chuyện xây dựng lại quê hương, và nới tay với đồng bào ruột thịt của chính họ. Nhưng những người này cũng lầm lớn. Họ đã lùa hàng trăm ngàn người vào trại cải tạo, tiêu diệt lần mòn cả một thế hệ nơi rừng sâu nước độc. Họ dùng bao nhiêu kế sách để đoạt lấy tài sản của dân qua các lần đổi tiền và "cải tạo tư sản".
Nhiều người đã bỏ lại gia đình, sản nghiệp, chạy ra nước ngoài để tìm lấy tự do. Riêng ba bị kẹt lại và phải sống nhiều năm dưới sự cai trị của chế độ mới. Nhưng cũng nhờ thế mà ba đã học được nhiều điều, và thấy thêm được bộ mặt của họ. Cuối cùng thì ba cũng đi thoát, và đến được bến bờ tự do như một số đồng bào may mắn khác. Nhưng phần lớn đồng bào vẫn còn ở lại để tiếp tục chịu sự thống trị tàn ác, bóc lột không thương tiếc của người đồng chủng. Tính đến hôm nay, ba đã sống nơi xứ sở tự do này được gần 30 năm. Thời gian dài gần cả nửa đời người, nhưng không khi nào lòng ba nguôi thương nhớ quê hương mà vì hoàn cảnh, ba đành phải đứt ruột ra đi. Ba vẫn luôn ngậm ngùi thương cho mấy mươi triệu đồng bào bao nhiêu năm sống cảnh đọa đày trên chính quê hương của mình. Hình ảnh bao đồng bào chết tan nát, tức tưởi trên đường tị nạn vì súng đạn, đại pháo và sự hận thù cuồng điên của họ vẫn còn ghi rõ trong tâm trí của ba, đại pháo và sự hận thù cuồng điên của họ vẫn còn ghi rõ trong tâm trí của ba, và càng hiện ra mãnh liệt hơn mỗi khi ngày 30 tháng 4 trở về.
Con yêu,
Chắc bây giờ con hiểu được vì sao đã khuya mà ba không thể ngủ. Không ngủ được thì cũng chẳng sao, ba dùng cơ hội này để ghi tâm sự gởi cho con. Ba cũng thức để cầu nguyện, xin ơn trên thương đến đồng bào bất hạnh của mình.
Còn một điều nữa ba cũng muốn tâm tình với con. Đúng ra phải nói là ba muốn xin lỗi con. Từ lúc con còn rất nhỏ, mỗi năm ba mẹ đều dắt con đi dự Lễ Chào Cờ ngày 30 tháng 4. Ngày đánh dấu giai đoạn đen tối của dân tộc ta. Trước kia, khi con còn nhỏ, thì con chỉ biết đi theo ba mẹ, chứ không thắc mắc gì. Nhưng khi con lớn thêm được mấy tuổi và biết suy nghĩ kha khá, con thường hỏi "con có phải đi chào cờ không?" Câu trả lời của ba luôn luôn là "có chứ" và không cần giải thích gì thêm. Vài năm kế đó, thì câu hỏi của con có đổi khác "tại sao con phải đi chào cờ?". Câu hỏi của con làm ba không vui, nên ba hay lấy quyền làm ba mà nói át con "ba nói đi thì con cứ đi, tại sao phải thắc mắc?". Rồi năm ngoái, câu hỏi mới của con lại làm cho ba suy nghĩ nhiều hơn "con nghe người ta nói đi chào cờ là làm chính trị. Con không thích chính trị, con ở nhà được không ba?". Lúc đầu nghe con hỏi như vậy, ba thấy bối rối và hơi bực mình, nhưng rồi ba nghĩ lại, và cố gắng giải thích cho con hiểu sự khác biệt giữa việc làm chính trị và việc đi dự lễ chào cờ. May quá, con đã kiên nhẫn ngồi nghe ba giảng giải, con hiểu ra được chào cờ là bổn phận của mọi thành phần công dân trong một nước, không phải việc dành riêng cho những người làm chính trị. Hơn nữa, trong hoàn cảnh đặc biệt của người tỵ nạn tha hương như chúng ta, việc chào cờ còn mang thêm ý nghĩa tưởng nhớ về quê hương, tỏ lòng biết ơn ông bà tổ tiên và góp phần gìn giữ lá cờ mà cha ông ta đã hy sinh bao xương máu để gầy dựng nên. Con nói "cám ơn ba, bây giờ con hiểu rồi. Từ nay con không bao giờ thắc mắc nữa. Con sẽ đi chào cờ với ba mẹ mỗi năm".
Con ơi, con có biết lời nói đơn sơ đó của con đã làm ba vui sướng lắm không? Con đã giúp ba trút bỏ được bao nhiêu ưu tư trong lòng. Ba cũng chợt thấy ân hận sao bao nhiêu năm qua ba đã không chịu nhẹ nhàng giải thích cho con hiểu, mà cứ làm ngơ trước những thắc mắc của con. Ba đã quên rằng dù con còn nhỏ, nhưng con cũng cần được tôn trọng, cần được hướng dẫn một cách đúng đắn để con hiểu được, và tự nguyện chấp nhận chứ không nên bị cưỡng ép. Năm ấy, con đã làm hơn điều đã hứa với ba. Chẳng những con đi chào cờ, con còn rủ thêm các bạn của con đi rất đông, và cùng nhau đứng trên sân khấu để hát quốc ca nữa. Con thật đã làm ba vừa vui vừa hãnh diện vì con nhiều lắm đó.
Con ạ,
Điều cuối cùng ba muốn nói với con: Ngày rời quê hương, ba ra đi với hai bàn tay trắng. Trên vai ba không có túi hành trang, trong túi ba không có một đồng bạc. Ngay cả khi đến xứ sở này để làm lại cuộc đời mới, ba cũng đã bắt đầu từ con số không. Nhìn bề ngoài thì ba nghèo lắm đó con. Nhưng thực sự thì khi ra đi ba có mang theo trong tim mình một số hành trang. Đó là một chút lòng thành với quê hương, và màu cờ của tổ quốc con ạ. Nhờ đó, lúc nào ba cũng thấy cuộc đời mình còn ý nghĩa vì ba có tài sản, tài sản tinh thần đó con. Ba đã được thừa hưởng những thứ này như di sản quý báu nhất từ ông bà của con. Ba đã trân quý chúng như chính mạng sống của mình. Nếu không may bị mất đi, thì cuộc sống của ba sẽ không còn ý nghĩa nữa. Bây giờ, ba thấy con đã khôn lớn, nên người.
Ba muốn trao di sản quý báu ấy lại cho con. Ba mong con hãy nhận lấy, hãy trân trọng, hãy giữ gìn kỹ lưỡng, và nếu cần, hãy hy sinh tất cả những gì con có, ngay cả chính bản thân con, để bảo vệ những giá trị này. Thế hệ của những người đi trước ba đã qua đi, thế hệ của ba mẹ rồi sớm muộn cũng sẽ không còn nữa, cho nên ba thấy ngay từ bây giờ con và các bạn trẻ của con cần phải chuẩn bị để tiếp nhận lấy trách nhiệm của mình, tiếp nối truyền thống của cha ông và bảo vệ lá cờ Vàng, biểu tượng của Tự Do và Tình Người mà Tổ Tiên và bao nhiêu người đã nằm xuống để giữ gìn cho đến ngày hôm nay. Có như thế, dù mai sau con có lưu lạc đến đâu, hay gặp phải hoàn cảnh đen tối như thế nào, con cũng sẽ thấy lòng mình ấm áp, vì hãnh diện mình là một người Việt Nam yêu Quê Hương, yêu Giống Nòi và yêu Màu Cờ Tổ Quốc.
Ba của con.
Nguyễn Ngọc Duy & Hân
“Ai người yêu nước lại đây
Hướng về Quê Mẹ, chung tay dựng cờ”
Giao Chỉ, San Jose. 150 sinh viên đại học Stanford đi tìm hình ảnh về chiến tranh Việt Nam nhưng chỉ thấy nước mắt của những đứa con Thuyền nhân thế hệ thứ hai. Nước mắt chảy ra trên khuôn mặt của 2 cô sinh viên cùng trường.
Câu chuyện đã xảy ra như thế nào?
Kim họ Trần ở Texas. Kim họ Nguyễn ở Oregon. Hai mươi hai và hai mươi mốt tuổi. Một cô cao và hơi đen. Như người mẫu gốc Phi luật Tân. Một cô giống Nhật bản. Cùng học rất giỏi. Cha mẹ thuyền nhân nhưng có con vào đại học Stanford. Học bổng toàn phần. Ðang theo lớp về Sử thế giới. Nói tiếng Việt rất vớ vẩn. Nhưng cũng vẫn thì thào mày tao với nhau. Như những đứa bé con. Ðây chính là 2 cô sinh viên thuộc toán thứ ba trong số 150 sinh viên Mỹ thăm vườn lịch sử San Jose chiều thứ sáu Tháng 4 - 2008. Mỗi toán ghé viện Bảo tàng Việt Nam 30 phút. Bà giáo sư Sally Hayden, làm việc cho IRCC từ lâu năm, am tường lịch sử Việt Nam và lịch sử viện Bảo tàng đã mở lời chào đón. Tài liệu hướng dẫn được phát cho mọi người. Tổng cộng có chừng 20 điểm lưu ý cần xem. Từ hình dựng cờ Thành Nội năm Mậu Thân đến người mẹ Việt Nam trên chiến trường Sông Bé. Mỗi toán từ 30 đến 40 em. Dưới nhà là khu triển lãm chiến tranh và định cư. Trên lầu là triển lãm về Thuyền nhân. Ða số các em là Mỹ trắng. Một số sinh viên Âu Châu, và một số Á Châu. Chưa thấy có em nào là Việt Nam.
Cả toán tập trung trên lầu để tham dự phần hỏi đáp. Ðây là toán số 3. Bỗng ở góc phòng 2 em sinh viên Á Châu ôm nhau khóc. Các em đứng bên cạnh tấm bản đồ ghi con số gần 1 triệu thuyền nhân đi thoát. Vào khoảng 1/3 tức 300 ngàn đi mà không đến. Hai mươi lăm phần trăm của 1 triệu Thuyền nhân đến bến tự do đã từng bị nạn hải tặc cướp bóc hãm hiếp nhưng vẫn sống còn và xây dựng lại cuộc đời tại Hoa Kỳ và 100 quốc gia trên thế giới.
Thấy các em khóc mọi người đều xửng sốt yên lặng. Các em sinh viên khác chậm chạp bước xuống thang. Những thanh niên thiếu nữ Hoa kỳ hết sức tôn trọng đời sống riêng tư nên không ai hỏi han hay xôn xao lên tiếng. Không gian yên lặng. Người quay phim hướng ống kính vào khuôn mặt đẫm nước mắt, nhưng em sinh viên đã quay đi và cố gắng ngăn cơn xúc động. Khi giây phút nghẹn ngào trôi qua. Hỏi tên các em là Kim Texas và Kim Oregon. Cả hai đều sinh ra tại Hoa Kỳ. Cô thì cha mẹ gặp nhau kết duyên bên đảo. Qua Mỹ đứa con mới chào đời. Nhưng cuộc sống trong bụng mẹ đã bắt đầu từ trại tỵ nạn Bidong. Bố vẫn nói con gái của bố có nước da của biển Mã Lai. Cô Kim Oregon thì nói mẹ em cứ nhắc đến chuyện Boat People là khóc. Rồi những đứa con gái trong nhà khóc theo. Bây giờ đến đây mới thấy con thuyền và hình ảnh người ta vớt boat people. Thế là cô bé khóc ngon lành. Mặc dù không biết gì hơn để kể ra. Cũng chẳng bao giờ nghe được mẹ của cô nhắc lại những đau thương của nhiều chuyến vượt biên hơn 20 năm trước. Câu chuyện riêng tư đầy bí ẩn chìm trong nước mắt. Chỉ biết khóc thôi.
Sau này cả hai cô tên Kim của trường đại học Stanford dù có làm giáo sư, bác sĩ thì cũng phải nhớ mãi câu chuyện hôm nay. Vào một buổi chiều Museum tại San Jose. Cứ thấy Boat People là nước mắt chan hòa.
Việt Nam mang ý nghĩa gì:
Thực ra cũng chẳng phải là trường đại học danh tiếng Stanford đã hâm mộ gì mà tìm đến viện bảo tàng Việt Nam tại San Jose. Tất cả chỉ là tình cờ. Trường có chương trình dành cho sinh viên đi dã ngoại để tìm hiểu thế giới bên ngoài. Bà giáo dạy văn hóa lịch sử Á Châu nhân vụ Bắc Kinh tổ chức Thế vận hội bèn cho các sinh viên đi thăm nơi nào có chuyện cổ tích Tàu. Trường không có tiền cho các em đi xa. Ði San Francisco thì quá thường rồi. Nghe nói ở History Park tại San Jose có 1 viện bảo tàng của Tàu. Bèn làm chương trình xuống thăm. Nhân tiện ta gặp luôn Ðông Nam Á ở cái Museum Việt nam mới ra mắt.
Hai chiếc xe bus khổng lồ chở sinh viên từ Palo Alto xuống San Jose. Một trăm năm mươi sinh viên ưu tú, toàn là thứ được học bổng toàn phần đi thăm vườn cảnh và bảo tàng tại San Jose.
So với viện Bảo tàng trên thế giới thì bảo tàng tại đây là các cơ sở thuộc cấp tiểu học, ngoại trừ Museum của Việt Nam. Vì Viện Bảo tàng của Việt Nam không có cái thứ hai để so sánh. Ðầu tiên và duy nhất.
Khu vườn Hòa Bình vừa hoàn tất bao quanh Museum Việt Nam. Những cây thông thật cao và hàng cây phong đủ màu vừa được hạ thổ. Một dãy cây Anh đào Nhật Bản bên hàng rào. Hoa Ðỗ Quyên cùng với hoa Ngọc Anh điểm thêm Trà hoa nữ. Bãi cỏ xanh nổi lên những gò đất vườn cảnh Á Châu đem lại cho viện bảo tàng tỵ nạn một hình ảnh thanh bình bao bọc vết chiến tranh bên trong.
Bước vào khuôn viên nhỏ bé của viện bảo tàng mang tên “Thuyền nhân và Việt Nam Cộng Hòa” các cô cậu sinh viên Hoa Kỳ đều tỏ ra hết sức ngạc nhiên vì nội dung phong phú được phô diễn sống động.
Anh John Hubra của Illinois cho biết không thể ngờ được sẽ thấy 1 khu triển lãm có tích cách Museum thực sự như ở đây. Anh có nhiều bạn Việt Nam tại Chicago và không ai có thể cho anh biết những kinh nghiệm phong phú về miền Nam Việt Nam kể cả trong sách vở.
Khi thấy bộ sưu tầm huy chương có một nửa là huy chương dân sự nói lên ý nghĩa xây dựng. Huy chương nông nghiệp, huy chương lao động, giáo dục, xã hội, y tế để cấp cho các anh hùng của đủ mọi ngành chứng tỏ đã có 1 nền văn minh trong xã hội công dân miền Nam trước 1975. Không phải chỉ toàn huy chương cấp cho người lính. Cô sinh viên Blizabet hỏi ai là tác giả các bức tượng hết sức linh động. Cô cho biết có phụ thân là cựu chiến binh chết tại Việt Nam và hứa sẽ đem tặng bộ quân phục của cha cô. Hỏi chung các sinh viên là khi nghe đến Việt nam thì chữ nào đã hiện ngay trong đầu các bạn trẻ mà phần lớn đã sinh ra sau năm 1975.
Ða số gần như tuyệt đối đều nói là Chiến tranh.
Việt Nam: Chiến tranh.
Chỉ có 25% khi nói đến Việt Nam thì nghĩ đến Boat People. Việt Nam qua các sinh viên tại đại học Stanford làm họ nghĩ đến chữ cộng sản và chống cộng.
Khi nói đến Việt Nam các sinh viên cũng nghĩ đến sự thua trận của người Mỹ và họ cũng nghĩ đến dân tỵ nạn Việt Nam tại Hoa Kỳ. Nhưng chỉ 20%.
Một số rất ít biết có quân đội miền Nam hiện diện trong chiến tranh. Chỉ 10%.
Qua hơn 25 phút, các sinh viên Hoa Kỳ được biết toàn thể câu chuyện về 20 năm chiến tranh, Hiệp định Geneve, Hiệp định Paris. Tại sao 1 triệu người Việt bỏ miền Bắc vào Nam và ngày nay 3 triệu người Việt bỏ Việt Nam ra đi. Người Việt Nam là ai, tại sao ra đi, đi bằng lối nào và vào thời gian nào.
Và cũng lần đầu tiên các em biết rằng, con cái Thuyền nhân cũng đang ngồi học Stanford cùng với họ, dưới 1 mái trường.
Ðể chào đón đoàn sinh viên đi dã ngoại, đại diện của History Park nói đây là các nhà lãnh đạo tương lai của nước Mỹ. Các sinh viên khác nghe được đều cười, dường như không dám thừa nhận. Nhưng có 1 cậu rất trẻ gốc Ðông Âu sanh tại My, tóc vàng hãnh diện gật đầu nhận danh hiệu nầy 1 cách rất tự nhiên. Dù trời nóng nhưng anh vẫn mặc áo thể thao khá dầy có chữ Stanford lớn cả phía trước và phía sau.
Anh chàng tự nhận sẽ là nhà lãnh đạo nước Mỹ hứa sẽ trở lại Museum tham khảo thêm. Cậu ta có vẻ thích bộ hình ảnh lịch sử chiến tranh Việt Nam của Thầy Nguyễn ngọc Hạnh.
Bụt chùa nhà không thiêng.
Vào giờ chót, ban tổ chức đón sinh viên Stanford cho nhiếp ảnh gia Nguyễn ngọc Hạnh biết sẽ có chuyến viếng thăm Bảo tàng Việt Nam. Có lẽ gần ngày 30 tháng 4 năm 2008 nên chuyến thăm viếng đã có một ý nghĩa liên quan đến cuộc chiến đau thương 33 năm trước. Hay là ta đưa ra 1 số hình đen trắng của bác về chiến tranh. Tôi bàn như vậy.
Bác Hạnh hăng hái đồng ý. Xe Van chở 1 số tranh vào buổi sáng. Sắp xếp buổi trưa và chiều đến là khách vào thăm. Cũng rất là bõ công chuẩn bị. Ai mà biết rằng trong đám 150 sinh viên nầy sẽ có anh làm tổng thống hay bộ trưởng quốc phòng tương lai của Hoa kỳ?
Gần như lần đầu tiên các em thấy chiến tranh Việt Nam bằng hình ảnh đen trắng rất nghệ thuật. Các cô cậu dừng lại bên bức Tiếc Thương. Người vợ lính khóc chồng hay khóc người yêu là 1 bức thông điệp muôn đời không cần giải thích. Tay người đàn bà cầm chiếc thẻ bài của lính chết trận. Những giọt lệ là ngôn ngữ của trời đất dù là đất trời Âu hay Á!
Tác giả là nhiếp ảnh gia Nguyễn ngọc Hạnh 84 tuổi đầu bạc đứng ngoài hành lang ngó vào. Rất ít người biết bức ảnh nầy đã được bao nhiêu là giải thưởng quốc tế qua bao nhiêu năm triển lãm trên thế giới. Lại còn được triển lãm tại Nga vào năm 1993 trong hội nghị nhân quyền Mạc Tư Khoa.
Trong số các nhiếp ảnh gia quân đội còn sống đến hôm nay, ông Trung tá hội trưởng nhiếp ảnh KBC là 1 người hiếm hoi vẫn còn tiếp tục chăm nom các tác phẩm như những đứa con của ông.
Quả thực các tay nhiếp ảnh Việt Nam và ngay cả thế giới cũng không mấy người hạ sanh được các mẫu ảnh thời chiến tranh Việt Nam sống động như thế.
Kỳ triển lãm của Nguyễn ngọc Hạnh tại Nam Cali vừa qua đã làm tác giả vất vả về chuyến đi và tốn kém nhiều tiền ảnh, tiền khung. Ðể bù lại, ông đã có duyên tiền định. Chợt một hôm có người ghé phòng triển lãm trao tặng 5000 mỹ kim để nhận 1 bộ ảnh chiến tranh dành cho thư viện của Tổng Thống.
Thật là hiếm có khi tác giả được những người ủng hộ tác phẩm như vậy. Lần nầy câu chuyện của các sinh viên Hoa Kỳ thưởng lãm và tán thưởng bộ hình chiến tranh, tác giả hết sức vui mừng như ông bà già có dịp khoe hình con cháu.
Còn bây giờ, tại San Jose bác Nguyễn ngọc Hạnh của chúng ta vẫn chống gậy rất cẩn thận bằng chiếc ghế 4 chân. Ði đâu đều có xe Bus đưa đón. Ngày nào cũng trăn trở với hàng ngàn tấm hình chất đầy trong cái kho nhỏ hẹp. Mỗi khi triển lãm bầy hàng rồi khi đêm về, xếp tác phẩm vào kho không kịp, sợ bị mất trộm, ông Trung tá mũ đỏ, nhiếp ảnh gia lừng danh của mặt trận Bồng Sơn, Quảng Ngãi, bèn đi 1 đường giải ngay tấm nệm ở hành lang để làm một phiên gác đêm Xuân.
Tác phẩm của ông quý lắm, nhưng ở San Jose bây giờ bụt chùa nhà không thiêng, phải chờ đám sinh viên Stanford nầy lớn lên làm Tổng thống rồi khi về hưu, lập thư viện riêng lại phái sĩ quan tùy viên đi tìm tác giả lại mua bức hình Thương Tiếc. Lúc đó ai còn tác phẩm cũ, giá chẳng phải $5000 mà phải 10 lần cao hơn.
Thực vậy, không phải chuyện đùa. Mấy tháng trước, bác Hạnh gặp vận may nhận được món quà của thư viện Tổng thống. Viên sỹ quan với sắc phục đứng chào kính nghiêm chỉnh trao bao thơ $5,000 đồng tiền mặt. Số tiền được nhiếp ảnh gia đang thiếu nợ trang trải ngay cho kỳ triển lãm. Di vật ngày nay còn lại là chiếc phong bì. Suốt cuộc đời chụp hình chiến tranh, cho đến năm 2008 mới nhận được ngân khoản viện trợ trực tiếp của Hoa Kỳ. Tiền đã tiêu hết. Chiếc bao thơ của cựu tổng thống vẫn giữ lại, còn thơm mùi vị Bạch cung.
Trong gian phòng nhỏ, cô sinh viên Hoa kỳ của đại học Stanford nhìn bức hình người vợ Bồng Sơn khóc chồng trong Thương tiếc. Mắt cô bé cũng rưng rưng. Việt Nam, Chiến tranh và Mỹ quốc bây giờ đã xa cách 1 phần ba thế ky và nửa vòng trái đấtƯ. Làm sao đem quá khứ gửi đến tương lai.