Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Ai Thống Trị Việt Nam Ngày Nay:
Đảng Cộng Sản Hà Nội Hay Một Đảng Hán Ngụy?


STEPHEN B. YOUNG
Việt Báo Thứ Hai, 4/21/2008, 12:02:00 AM

Image

Có một tổ chức hiện nay cai trị Việt Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau như là vua chúa Phong kiến ở Tàu hay ở Âu châu thời Trung cổ . Một bộ máy võ trang tập trung các quyền hành lớn trong tay; không được dân bầu lên, và dân tuyệt đối không có quyền kiểm soát hay phê bình. Tổ chức này mang tên là "Đảng Cộng Sản Việt Nam".

Nhưng, thực sự, tổ chức nầy có phải là một Đảng đúng nghĩa của một đảng hay không?

Đáng lẽ ra một Đảng chánh trị phải có một chánh nghĩa, một sức mạnh do một lý tưởng, một nền tảng triết lý hay lý thuyết, một khuynh hướng thể hiện nguyện vọng của đảng viên để hành dộng nhằm phục vụ đất nước và dân tộc của mình.

Vì vậy, nếu cái gọi là Đảng Cộng Sản mà không phải là một Đảng đúng nghĩa, thì bộ máy đó là cái gi?

Một tập thể những người có chung một chí hướng tôn thờ người ngoài, một công ty làm ăn, một tổ chức mafia khai thác thị trường đất nước của họ chăng?

Như vậy chúng ta có vài tiêu chuẩn để đánh giá cái gọi là Đảng Cộng Sản bây giờ, đó là một đảng phái hay chỉ là một bọn làm ăn thiếu lương thiện?

Tôi đồng ý đã có thời gian cái gọi là đảng Cộng Sản ngày nay có những hoạt động như là đảng phái đúng nghĩa. Nhưng những hoạt động ấy tốt xấu, hay dở, có lợi hay có hại cho đất nước Việt nam là chuyện khác .Tôi nói đó là một "thứ đảng phái "vì lúc ấy đảng Cộng Sản theo ý thức hệ Mác-Lê, vận dụng chủ thuyết mác-lê làm cách mạng võ trang cướp chánh quyền thực dân . Tiếp theo, đảng cộng sản phát động cuộc cách mạng xã hội, tiến hành giai cấp đấu tranh, đấu tố địa điền chủ, ám sát công chức, trí thức, lãnh đạo tôn giáo, tịch thâu tài sản của người giàu có để sau cùng đưa giới lao động, những tên du thủ du thực, lên cầm quyền và khi vào Bộ chánh trị, lại lãnh đạo đất nước, dân tộc. Hành động của đảng cộng sản lúc đó có mục đích thi hành "chính nghĩa xã hội chủ nghĩa " theo ý hệ Mác-Lê .

Nhưng từ lâu lắm rồi, cái gọi là đảng Cộng Sản không còn giống như trước đó nữa. Nó đã hoàn toàn biến chất để trở thành một cái gì khác hẳn. Tức nó không phải cộng sản, không mang nội dung mác-lê, không chủ trương giai cấp đấu tranh để tiến lên xã hội công bằng, người không bốc lột người, như kinh điển mác-lê dạy người cộng sản .

Cách đây vài năm , ông Đặng Quốc Bảo, Khoa giáo trung ương, trong một báo cáo phổ biến hạn chế cho đảng viên cao cấp, nói rằng "hiện tại đảng Cộng Sản không còn chính nghĩa chút nào vì thuyết Mác-Lê lỗi thời và cũng không đúng, không khoa học ". Theo ông Bảo, thì đảng cộng sản không nên áp dụng thuyết ấy nữa. Hai ông Mác và Lê đã nghĩ sai về vũ trụ, về trời đất, về đời sống nhân loại. Vậy người thông minh phải vứt bỏ chủ thuyết Mác-Lê.

Nếu ông Bảo đánh giá lý thuyết Mác-Lê đúng, thì đảng Cộng Sản không có một chính nghĩa nào để vẫn khẳng định tiếp tục đưa Việt nam đi theo con đường củ mác-lê .

Vậy đảng cộng sản là cái gì? Chỉ là một tập hợp những người đầy tham vọng và quyền lực. Họ không khác gì một thứ giặc cướp đối với nhân dân.

Ông Bảo nói thêm rằng "tổ chức anh chị em cán bộ phải giữ quyền cai trị Việt nam vài năm nữa, vì nếu không có một lực lượng mạnh giử ổn định chính trị xã hội, thì nước sẽ loạn và dân sẽ khổ ".

Lấy sự ổn định làm chính nghĩa của mình không có ý nghĩa tốt đẹp vì hoàn toàn thiếu thuyết phục. Chính nghĩa ổn định, nhiều người bình thường có thể nói và thi hành . Cần gì phải có cái gọi là đảng Cộng Sản với 3 triệu đảng viên, với vai trò lãnh đạo toàn diện đất nước và xã hội ? Quân Đội làm được. Phật Giáo làm được. Việt Quốc làm được. Ai cũng hy vọng làm được. Cái gọi là đảng Cộng Sản không thể tự cho là chỉ có họ mới làm được.

Theo tuyên truyền của đảng cộng sản, trong quá khứ, họ có công đức lớn để đứng trên và trước mọi người khác. Tức họ cho rằng họ có vai trò lịch sử

Có đúng như vậy không?

Để trả lời, giờ đây, Bộ Chính Trị hảy tổ chức gọi hồn các đồng chí của họ đã chết, chết vì hi sinh hay chết oan vì đảng cũng được, để hỏi công việc đảng làm. Rồi, có lẽ họ nên gọi hồn để hỏi cái gọi là đảng cộng sản thật sự có công đức với dân tộc việt nam hay không? Rồi, họ có thể gọi hồn để hỏi đảng cộng sản tại sao ngày nay vẫn nói đi theo mác-lê, mà trên thực tế không thấy xã hội việt nam chuyển biến theo mô hình" chính nghĩa Mác-Lê." một chút nào nữa Vậy thì cái đảng này nên tự giải táng, và có mang tội với đất nưóc, với dân tộc không?

Chúng tôi cũng có thể gọi hồn như Bộ Chính Trị. Chúng tôi có thể gọi hồn các vị cũng nằm xuống, vì nhiều lý do khác nhau, hỏi họ về công đức của cái gọi là đảng Cộng Sản.

Thí dụ, hỏi Đức Huỳnh Giáo Chủ của Phật Giáo Hòa Hảo, hỏi ông Trương Tử Anh, Đảng trưởng Đại Việt Quốc Dân Đảng , ông Lý Đông A, Thư ký trưởng Đảng Duy Dân, các nhân sĩ yêu nước Ngô Đình Khôi, Nguyễn văn Bông, Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Hồ văn Ngà, Phan văn Hùm, Nguyễn văn Sâm,… và những người dân Huế chết hồi Tết Mậu Thân, vân, vân,… cho đến 1 ,2 triệu người Việt nam bình thường khác, chết trên biển cả, trong rừng sâu, trong các trại tù rải rác khắp cả nước .

Gọi hồn tất cả những người này về và lắng tai nghe họ nói số phận của dân tộcViệt nam từ khi Đảng Cộng Sản vận dụng "chính nghĩa Mác-Lê" để cướp lấy quyền lãnh đạo đất nước và giử độc tôn cho đảng .

Xin trả lời: Công đức ở đâu?

Bằng chứng thứ hai cho thấy cái gọi là đảng Cộng Sản là một đảng thì đảng ấy có hành động cụ thể như thế nào?

Ngoài sự hiểu biết, sự suy nghĩ, sự tính toán của con người, các hành động của người đó phải cho chúng ta thấy rõ, một cách minh bạch, để kết luận người đó tốt hay xấu, giỏi hay dở, đạo đức hay gian ác, cần tồn tại hay nên vứt đi thôi ?

Cái gọi là đảng Cộng Sản đó, cách đây 8 năm, đã tự động hiến dâng đất đai của tổ tiên để lại cho Bắc Triều mới . Và cả biển nữa Tại sao?

Để đáp ứng sự đòi hỏi của Bắc Triều mới ? Phải.

Ở điểm này, chúng ta hảy nhìn rõ. Cái gọi là đảng Cộng Sản đó vì nhu cầu tồn tại đã dâng đất, dâng biển cho Bắc kinh. Đây là nhu cầu sanh tử.

Đảng cộng sản phải làm một việc tội lỗi như vậy chỉ vì đảng lo sợ nhân dân Việt nam hỏi tội của họ đối với tổ quốc và nhân dân từ trước đến giờ. Mà nhân dân hỏi tội có nghĩa là đảng sẽ bị mất quyền cai trị. Hoặc một vụ Thiên An Môn Việt nam sẽ xảy ra .Trước nỗi ám ảnh mất quyền lực, đảng cộng sản cần sự ủng hộ, sự tiếp tay của Bắc Triều mới, mặc dầu có tổn hại đến quyền lợi tối thượng của Quốc gia .

Như vậy đảng cộng sản ở Hà nội không thể tự cho là một đảng có chính nghĩa yêu nước được, mà phải bị kết án là một đảng bán nước mới đúng.

Nếu đảng Cộng Sản hà nội chuyên tâm phục vụ cho đòi hỏi , tham vọng của Bắc Triều mới, thì Việt nam tất nhiên phải lâm nguy làm thân nô lệ cho Hán Tộc. Nếu chỉ có riêng cái đảng cộng sản làm nô lệ hán tộc thì chúng ta hà tất phải tốn lời.

Thực tế ở Việt nam cho ta thấy công an, tình báo của Việt Nam đều do công an, tình báo Trung Quốc đào tạo và cố vấn. Nhờ đó mà công an, tình báo Hà nội mới có đủ bản lãnh đàn áp những người dân chủ ở Việt nam, đàn áp dân oan nạn nhân của những vụ đất đai bị đảng cộng sản tước đoạt, đàn áp những vụ biểu tìng chống Trung quốc xăm chiếm đất đai bằng vũ lực và thô bạo .

Nhìn lại lịch sử Việt nam thì từ thời Ngô Quyền đến nay, chỉ có vài nhà vua Việt nam theo Bắc Triều một cách xấu hổ như vậy. Có Nhà Mạc phải xin sự ủng hộ của Hoàng đế phương Bắc để đối phó với Nhà Lê. Có vua Lê Chiêu Thống xin Trung Quôc gởi binh qua Hà nội để đánh anh em Nhà Tây Sơn. Có vua Gia Long và Minh Mạng lấy y thức hệ Tống Nho của Nhà Thanh bên Tàu để làm nền tảng đạo lý xây dựng uy quyền cho Nhà Nguyễn . Nhưng các ông vua này không làm mất đất, mất biển vào tay ngoại bang chỉ vì quyền lợi riêng tư như đảng cộng sản ngày nay.

Cầu viện thường hay lệ tuộc tư tưởng của kẻ khác, khó tránh khỏi bị dẩn đến mất chánh nghĩa quốc gia. Phải chăng vì thế mà Nhà Mạc đã không thắng Nhà Lê, vua Lê Chiêu Thống thua Quang Trung Nguyễn Huệ. Riêng Nhà Nguyễn vì chọn lựa sai lầm học thuyết lỗi thời mà cứ khăn khăn ôm giử nên thua người Pháp. Tức một thứ lệ thuộc tư tưởng.

Khi có được chổ dựa mạnh là Bắc kinh, cái gọi là đảng Cộng Sản sẽ đánh bại được toàn dân Việt nam chăng? Tức đảng cộng sản vỉnh viển đàn áp, bốc lột nhân dân chăng?

Mới đây khi nghe tin Bắc Kinh tổ chức Hoàng Sa và Trường Sa trở thành môt đơn vị hành chánh mới trực thuôc Tỉnh Hải nam, lập tức xảy ra nhiều cuộc biểu tình của dân chúng thanh niên, sinh viên ở Sài Gòn, ở Hà nội, chống chánh sách xăm lược của Trung Quốc . Cái gọi là Đảng Cộng Sản không dám lên tiếng phản đối kẻ cướp đất, trái lại thô bạo đàn áp dân chúng công khai bày tỏ lòng yêu nước. Khí thế của nhân dân việt nam bây giờ làm cho đảng cộng sản hà nội bắt đầu lo sợ. Nếu đảng cộng sản khôn ngoan thì hảy thấy ở đây, tức ở nhân dân, mới là chổ dựa vửng chắc hơn thế của Trung Quốc .

Nhưng cái gọi là Đảng Cộng Sản nghe theo ai?

Buồn mà nói. Vì nói cho đúng thì phải nói lớn và nói rỏ phe nhóm cai trị Việt Nam hiện nay là một bọn Hán Ngụy.

Tiếc vì chúng tôi biết chắc chắn có nhiếu đảng viên của cái gọi là Đảng Cộng Sản không muốn như vậy. Họ thương dân, yêu nước thật lòng. Nhưng họ lo sợ, có thể vì bất lực, cho sự an nguy của bản thân và gia đình trước những thủ đoạn khéo léo, gian ác, đê hèn của lực lượng Công An, Tình Báo đang có mặt kắp nơi rình rặp.

Bọn Hán Ngụy thật sự không có nhiều người, nhưng họ có thế mạnh và nhiều tiền bạc . Họ quyết tâm giữ quyền lực cai trị đất nước mãi mãi Họ sẽ làm cái gì phải làm để không mất địa vị cầm quyền, tức quyền làm ăn, làm giàu của họ.

Lệ thuộc Bắc Kinh, đối với họ, là một giá phải trả, họ chấp nhận trả, để có phương tiện ổn định xã hội chính trị Việt nam, tức duy trì chế độ độc tài toàn trị . Ổn định là cho quyền lợi của họ . Đất nước đối với họ chỉ là phương tiện trao đổi.

Trung Quốc có một triết lý bình định thiên hạ từ đời Tần Thủy Hoàng Ông ấy lấy ý kiến của phái Pháp Gia gồm lý thuyết âm dương, ngũ hành để kiến tạo thái hòa. Làm chính trị như vậy không theo sự giảng dạy của Khổng Mạnh, trái lại, đưa ra chính sách đại đoàn kết, giữ phép nước dưới sự lãnh đạo đọc tôn theo một vị hoàng đế . Đó là thuyết của Mặc Địch .

Cái đạo chính trị này - " hoàng đế chính thuyết "- là lý thuyết xây dựng xã hội không cần nghe ý dân. Đi từ trên xuống, không phải từ dân lên. Ngày nay là tập trung dân chủ, tức dân chủ xã hội chủ nghĩa và tư tưởng hồ chí minh. Hoàng Đế nghe trời, ra lịnh và thiên hạ phải tuân theo. Dân không nghe theo thì sẽ bị phạt, nặng nhẹ tùy theo mức độ của sự phản bội, bất hiếu đối với chế độ.

Một ông Hoàng Đế không cần đức, không cần uy tín mà vẫn giữ được ổn định xã hội. Hiếu nghĩa thay thế nhân nghĩa. Cấp trên nói cái gì thì cấp dưới vâng dạ theo răm rắp. Nói vô phép, mất dạy, thì bị phạt, không được phần thưởng.

Đạo làm hoàng đế có mục đích lấy ý trời và qua cơ cấu hành chánh, ép thiên hạ vâng lịnh làm theo ý đó, mặc cho họ muốn hay không.

Trong lịch sử Việtnam, các Nhà Lý, Trần và Lê không lấy đạo Hoàng Đế của Bắc Triều để trị dân. Nhà Lý và Nhà Trần theo đạo Phật. Nhà Lê cho đến Vua Lê Thánh Tôn theo quan điểm nhân nghĩa do Nguyễn Trãi viết ra.

Vua Lê Thánh Tôn bắt đầu theo chủ nghĩa Bắc Triều , tức lấy Tống Nho bênh vực ngôi vị Hoàng Đế một cách mù quán với đạo hiếu nghĩa cha mẹ, vua chúa . Đến Nhà Mạc, Chúa Trịnh, thì ảnh hưởng Tống Nho ở cấp quan văn và các đại gia đình quan chức mở rộng. Nhà Nguyễn áp dụng Tống Nho và quan điểm hoàng đế, đưa triều đình Huế đi theo gương Nhà Thanh bên Tàu.

Trước đây, cái gọi là đảng Cộng Sản chụp mũ những người Việt nam không Cộng Sản mà hợp tác với Mỹ Quốc để giữ độc lập cho miền Nam Việt Nam là "Mỹ Ngụy" .

Bây giờ, nhìn về quá khứ thì chúng ta có thể đánh giá ai có công lớn hơn cho Dân Tộc Việt nam: Mỹ Ngụy hồi đó hay Hán Ngụy bây giờ?

Người Mỹ khi họ giúp các Chính Phủ Việt nam Cộng Hòa, khi họ làm cố vấn cho Chính phủ và quân đội quốc gia, họ thật sự muốn gì? Họ khuyến khích người Quốc Gia làm gì? Họ đòi hỏi Chính Phủ Sài gòn có chính sách nào?

Nói chung, người Mỹ từ Tổng Thống Eisenhower cho đến Tổng Thống Nixon, từ Đại Sứ Elbridge Durbrow cho đến Đại Sứ Ellsworth Bunker, tất cả đều yêu cầu Chính Phủ Sài gòn lo cho dân, áp dụng chế độ hiến trị, tổ chức các cuộc bầu cử từ xã ắp đến trung ương, trong sạch, dân chủ, cải cách ruộng đất, phát triển kinh tế, mở rộng giáo dục theo tôn chỉ tôn chỉ "nhân bản, khoa học, khai phóng " …

Đối với Mỹ thì ý dân là hơn ý trời. Mỹ không bao giờ theo " hoàng đế chính thuyết".

Như vậy làm “Mỹ Ngụy” là chọn phương pháp lo cho dân, cho quê hương Việt nam, cho văn hóa, đạo đức dân tộc. Người Mỹ đến Việt nam, không ở lại Việt nam. Và "dân ngụy" không hiến dâng đất dai, biển cả cho ngoại bang. Hơn nữa, trong lịch sử, người Mỹ không làm thuộc địa, không làm Thái thú, chỉ làm bạn đồng minh giai đoạn.

Cờn người Việt nào bây giờ làm Hán Ngụy thì phục vụ ai Họ có lo sợ số phận Tổ quốc của họ không ? Hay chỉ có chung một thứ Tập hợp những người cùng chí hướng tôn thờ quyền lợi bản thân mà thôi?

Stephen B. YOUNG

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Giải thoát khỏi cái đói

Ngô Nhân Dụng

Ðầu thập niên 1980, tôi tham dự một nhóm công dân người Canada tranh đấu cho nhân quyền, họ đang vận động chính phủ Canada can thiệp đòi Cộng Sản trả tự do cho nhà văn Doãn Quốc Sĩ ở Việt Nam. Tôi đã kể chuyện về Doãn Quốc Sĩ cho những bạn trẻ này nghe, về con người, về các sáng tác của ông.

Một người trong nhóm yêu cầu tôi giới thiệu một tác phẩm ngắn của Doãn Quốc Sĩ để giúp anh hiểu thêm về con người mà anh đã vận động, tranh đấu đòi trả tự do từ mấy năm qua. Tôi đã chọn truyện ngắn “Chiếc chiếu hoa cạp điều.” Người Việt nào mà không biết truyện này? Cảnh chạy loạn trong đó là cảnh mà tôi đã sống qua khi còn nhỏ. Nhân vật người mẹ trong đó có đủ những sức mạnh và những lúc mềm yếu không khác gì mẹ tôi. Anh bạn người Canada gốc Bỉ, nói tiếng Pháp, ngồi nghe tôi dịch từng câu trong truyện ngắn đó. Ðến một chỗ anh tỏ vẻ không hài lòng.

Ðó là chỗ nhà giáo Doãn Quốc Sĩ bàn về chính trị. Ông nói đại ý là người ta đang sống giữa một cuộc tranh chấp giữa hai ý thức hệ, tư bản và Cộng Sản, mà ông thấy cả hai đều hỏng. Tư bản thì chỉ vụ lợi, lấy cái lợi để nhử con người. Cộng Sản thì tìm cách kiểm soát con người bằng mọi phương tiện. Câu văn của Doãn Quốc Sĩ khiến anh bạn tôi không tin là khi nhà văn nói chế độ Cộng Sản đưa con người vào cảnh đói khát để dễ kiểm soát người ta hơn. Anh Warrot không thể tin là có một chế độ đưa con người vào cảnh đói khổ. Giống như phần lớn các thanh niên cấp tiến Tây phương, anh biết chế độ Cộng Sản là độc tài, đàn áp dân, xâm phạm nhân quyền, nhưng anh vẫn cho là họ chỉ lầm lẫn về chính sách cai trị chứ không dùng kinh tế nghèo đói làm lợi khí cai trị. Tôi chỉ có thể giải thích với anh rằng Doãn Quốc Sĩ chỉ viết theo kinh nghiệm sống của ông. Mà tôi biết, Doãn Quốc Sĩ là một người hiền hòa, chính trực, không bao giờ bịa đặt để nói xấu người khác.

Trong lúc chúng tôi đang bàn cãi nhau về văn chương như vậy, thì nhà văn Doãn Quốc Sĩ hay nhà báo Như Phong ở trong trại cải tạo đang ngồi thiền và nhịn đói. Trong những cái nhà tù đó, quả thật người ta dùng cái đói, cái thiếu thốn, thèm khát kéo dài nhiều tháng, nhiều năm, để biến con người thành nô lệ cho những nhu cầu căn bản của thân xác: ăn, ngủ. Hơn thế nữa, họ muốn giản lược hóa con người vào tình trạng như muông thú chỉ biết sống theo bản năng sinh tồn. Những người như Doãn Quốc Sĩ, Như Phong, Thanh Tâm Tuyền, Hà Thượng Nhân, vẫn sống thản nhiên, đĩnh đạc, giữ vững tư cách của bậc đại trượng phu “bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” vì nhờ họ đã được giáo dục trong nền nếp đạo lý truyền thống của ông bà từ nhiều thế hệ trước.

Những ông Stalin, ông Mao Trạch Ðông, và đệ tử của họ là ông Hồ Chí Minh dùng chế độ hộ khẩu, tem phiếu để kiểm soát miếng ăn của người dân bị trị, họ biết đó là một phương pháp kiểm soát con người rất có hiệu quả. Khi miếng ăn đã là mối quan tâm hàng ngày lớn nhất, khi mọi người phấn đấu suốt ngày đêm, suốt cuộc đời để được ăn một miếng thịt nhiều hơn nhà hàng xóm, thì “bảo quỳ nó sẽ quỳ, bảo bò nó sẽ bò,” như lời một anh quản giáo nói. Người dân bị trị sẽ không ngần ngại hô to các khẩu hiệu “tiến tới xã hội xã hội chủ nghĩa” hay là “yêu nước là yêu Chủ Nghĩa Xã Hội” miễn là được thưởng một miếng thịt. Vừa được ăn thịt, lại vừa tin tưởng rằng mình đang xây dựng một thiên đường cho cả nhân loại, ai chẳng sẵn sàng hy sinh và hết lòng tuân phục theo lãnh đạo? Giống như con chó thuần phục ông bà chủ cho mình miếng xương, những con người phải nhịn đói lâu ngày cũng biết ơn những kẻ đã cho mình được ăn no bụng. Nhờ ơn Bác, nhờ ơn Ðảng mới có mớ rau muống, mới có miếng thịt gà!

Ngày xưa Machiavelli dậy các ông hoàng hai phương pháp trị dân: Hoặc làm cho chúng nó sợ, hoặc làm sao được chúng nó yêu. Cách thứ nhất dễ hơn và hiệu quả chắc chắn hơn. Các lãnh tụ Cộng Sản sáng tạo thêm một phương pháp thứ ba: Ðể cho chúng nó đói. Ðó là cách chắc chắn nhất. Nếu không sống trong chế độ như vậy thì khó tin đó là sự thật.

Trong đám cộng sản ở Á Châu, chỉ còn ông Kim Chính Nhật vẫn trung thành với Stalin, Mao Trạch Ðông. Guồng máy cai trị của bố con ông Kim là kiểu mẫu hoàn hảo, đưa phương pháp của Xít và Mao đến mức tuyệt kỹ. Hồ Chí Minh hay Pol Pot cũng không tài như vậy.

Nhưng ông Xít cũng như ông Mao không ngờ phương pháp trị dân của họ còn tạo được hậu quả lâu dài, chính nó giúp các đảng Cộng Sản Á Châu bảo vệ được quyền hành ngay cả khi chính cán bộ Cộng Sản không còn tin ở chủ nghĩa của họ nữa. Có ông bà nào trong Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam còn tin ở Chủ Nghĩa Xã Hội hay không? Họ không tin, nhưng vẫn nhân danh các khẩu hiệu cũ nát đó để cai trị. Và điều thần tình là ngay cả khi họ tháo gỡ guồng máy kiểm soát bằng tem phiếu rồi, dân bắt đầu được tự do kiếm miếng ăn ngoài biên chế, nhưng nhiều người vẫn cúi đầu chấp nhận sống như con thú nuôi trong chuồng! Guồng máy cai trị đã được thiết lập kiên cố, người dân được tập sống trong đó quen rồi, họ được tự do kiếm miếng thịt ăn thì chỉ biết cắm cúi lo ăn cho sướng. Sau khi đã phải nhịn đói cả đời, được ăn là thỏa mãn, ai còn muốn suy nghĩ đến những vấn đề khác? Thói quen thần phục nó giam giữ con người, bỏ ngay không được, giống như những con gà được nuôi trong chuồng đã quen, cứ đến tối lại tìm về nằm trong chuồng vậy.

Các chế độ Cộng Sản Á Châu vẫn tồn tại được sau khi đã thay đổi guồng máy kinh tế chỉ huy từ hai chục năm nay, cũng là nhờ chính sách cai trị kiểu Xít và Mao đã tập cho dân thói quen vâng lời, giống như những con thú đã được thuần hóa. Cho nên, mối đe dọa duy nhất cho các chế độ này là những người dân còn trẻ quá, từ lúc lớn lên không được nuôi nấng theo phương pháp cũ. Thế hệ trẻ này bắt đầu “hư” vì suy nghĩ theo lối khác với cha anh họ.

Hồi đầu thập niên 1990, khi qua các nước Ðông Âu, tôi vẫn còn gặp những thanh niên suy nghĩ theo lối “gà về chuồng.” Có những chị sinh viên 30 tuổi được đảng và nhà nước cho du học hay đi làm lao động ở nước ngoài thì coi đó là một ân huệ mà đảng và nhà nước dành cho mình. Nhờ cha mẹ mình và chính mình “phấn đấu” cho nên được tưởng thưởng xứng đáng. Họ thấy những sinh viên hay thanh niên lao động khác có ý tưởng khác với chính sách của đảng thì họ coi đó là những phường bội bạc! Có những người chỉ trích Hà Sĩ Phu, coi là một người phản bội vì anh tuyên bố chia tay với chủ nghĩa Mác! Anh đã được đảng cho đi du học, trở về nước không chịu chui vào guồng máy phục vụ đảng! Ðã được đảng đãi ngộ tốt đến thế mà còn chống lại đảng, đúng là bất hiếu bất mục! Ðến bây giờ vẫn còn một số người nói như thế, đặc biệt là nhân viên sứ quán, để khuyên nhủ các người Việt ở Ðông Âu.

Nhưng từ dăm năm qua, khi gặp những người bạn trẻ ở Ðông Âu, tôi thấy họ bắt đầu suy nghĩ khác. Họ đã bắt đầu suy nghĩ tự do, không sợ hãi. Tự do bao giờ cũng đi đôi với quyết định. Khi quyết định, dù chỉ quyết định nêu ý kiến, tức là phải đối phó với những hậu quả của điều mình quyết định. Suy nghĩ là chọn tự do và chọn rủi ro!

Nhiều người còn trung thành với chế độ Cộng Sản là vì họ từ chối, không muốn suy nghĩ, không muốn tự chuốc lấy mối rủi ro vì suy nghĩ mà phải gánh. Còn đa số các bạn trẻ người Việt, ở trong nước cũng như ở ngoài, họ chọn con đường suy nghĩ độc lập. Nhiễm thói quen suy nghĩ độc lập rồi, điều đầu tiên họ cảm thấy là họ không nợ nần gì đảng và nhà nước Cộng Sản cả. Kinh tế thị trường, dù chưa đủ tự do, cũng giải thoát con người khỏi mối lo sợ vì đói, mất nỗi ám ảnh về đói mà thế hệ trước ở Việt Nam còn phải chịu. Khi một người dân được ăn no, mà nghĩ rằng chính họ, cha mẹ, gia đình họ đã dùng sức mình kiếm được miếng ăn, thì không còn ai nghĩ theo kiểu “Nhờ ơn bác, nhờ ơn đảng” theo lối kinh nhật tụng ngày xưa nữa. Con người được giải phóng khi cái bao tử được giải phóng! Một thanh niên khi được anh chị khuyên nên phấn đấu để được kết nạp vào đảng,đã phát biểu rất hồn nhiên: Em “đ...” cần vào đảng em cũng có tiền!

Khi bắt đầu được tự mưu sinh, tập sống độc lập, suy nghĩ độc lập, thì điều đầu tiên người ta khám phá ra là họ không nhờ vả gì những người ngồi trên đầu trên cổ họ cả. Không phải chịu ơn bác và đảng nào cả. Trái lại, người ta ý thức được rằng chính guồng máy cai trị đó được mình nuôi, ý thức rằng “người dân đóng thuế” là những người nuôi các ông công an, các ông cán bộ, chứ không phải chịu ơn các ông đó.

Ðảng Cộng Sản đang lo một điều mà trước đây họ không bao giờ phải lo, là người dân Việt Nam, bắt đầu với thanh niên, đòi nhà nước phải thỏa mãn những quyền lợi mà họ ý thức là họ được hưởng. Thí dụ, nhà nước phải ngăn ngừa lạm phát. Phải tránh cảnh thóc cao gạo kém, ngăn không cho nạn đói xẩy ra. Trước đây 20 năm, dân Việt Nam không dám nói đến quyền lợi, mà lúc nào cũng được nhà nước nhắc nhở phải làm bổn phận. Giới thanh niên đã thay đổi thái độ, và họ sẽ kích thích, lôi kéo cả xã hội thay đổi theo.

Những phong trào phản kháng gần đây ở trong nước đang thu hút những người trẻ. Họ đã đặt ra những vấn đề mới khác hẳn thế hệ trước. Chính vì họ đã được giải thoát khỏi mối lo bị đói. Họ đã được giải thoát, không còn giữ trong ký ức riêng và ký ức tập thể những ám ảnh về đói, không còn mang ơn guồng máy cai trị phát cơm cho ăn nữa. Từ đó, nẩy sinh ra ý thức về quyền công dân, quyền của những người đóng thuế nuôi hệ thống nhà nước. Họ bắt đầu đặt những câu hỏi mới. Khi bớt lo bị đói, người ta sẽ đặt những câu hỏi mới.

Mươi năm trước, những ông Trần Ðộ, Hà Sĩ Phu, Phan Ðình Diệu đặt những câu hỏi về chủ nghĩa, về hệ thống xã hội. Ngày nay, các thanh niên hỏi: “Ðảng Cộng Sản Việt Nam lấy tiền đâu ra mà nuôi cả guồng kềnh càng máy đảng?” “Có phải đó cũng là tiền do người dân đóng thuế hay không?” Ðó là những điều mà ngày xưa cha mẹ họ không nghĩ tới, không ai dám hỏi. Nhưng đó là những câu hỏi ai cũng hiểu được, ai cũng thấy là cần phải hỏi.

Cho nên, khi các đảng Cộng Sản ở Á Châu bắt đầu thay đổi guồng máy kinh tế, chúng ta biết sẽ có những hậu quả chính trị. Thế hệ trẻ biết giá trị của họ, với tư cách những công dân biết suy nghĩ và dám suy nghĩ. Không sớm thì muộn, chế độ sẽ phải thay đổi về chính trị.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

NƠI KHÔNG THỂ QUÊN

Lê Thị Hải Âu
Cám ơn bạn đã gửi cho tôi xem “Đọc nếu đi hết biển…” của tác giả VA. Bài này đọc xong để lại trong tôi nỗi buồn thấm thía. Năm 75 tôi đang cắp sách đi học, chiến tranh chấm dứt, thật vui mừng khi tưởng đến tương lai rộng mở cho những người trẻ được lớn lên trong cảnh thái bình thịnh trị. Thế rồi tôi và các bạn đồng lứa lớn lên mà không nhìn thấy thịnh trị đâu cả. Chỉ thấy quanh mình toàn tù đày, đói kém… Chiến tranh vẫn tiếp tục không phải trên xương máu mà trong lòng người, vùi xé tan nát cả một dân tộc vốn đã dư thừa lầm than.

Có quá nhiều phân tích, mổ xẻ về vấn đề miền Nam thất trận suốt ba chục năm và sẽ còn tiếp tục bàn cãi, phân tích, quy trách nhiệm hay đổ thừa cũng thế cho đích danh từng cá nhân, từng tập thể, từng thế lực… Ba mươi năm cay đắng đã trôi qua sau một cuộc chiến hai mươi năm. Thời gian đó vẫn chưa đủ dài để viết nên lịch sử lắng đọng. Các sự kiện vẫn nóng hổi như mới ngày hôm qua, chiến tranh trong thời bình dưới những hình thức, chiều hướng khác nhau vẫn tiếp tục.

Thời gian sau 75 thật khủng khiếp. Miền Nam chìm đắm trong hoang mang, sợ hãi cùng lúc cuộc mưu sinh đầy vật lộn khó khăn để giữ lấy sự tồn tại cho cả người trong và ngoài tù. Đời sống người dân miền Bắc cũng cơ cực không kém nếu không muốn nói cùng cực vì họ hoàn toàn đúng nghĩa vô sản trong khi dân Saigon còn có thể nhặt nhạnh các thứ trong nhà ra bán để ăn dần. Khi đã kiệt quệ, những gói quà từ ngoại quốc bắt đầu gửi về cứu trợ. Những hộp thuốc, những thước vải lãnh từ trạm phát hàng Cô Giang hay bưu điện về, chắt chiu đổi thành chút thực phẩm lặn lội đi tiếp tế cho người học tập ở Long Giao, Hàm Tân, Tân Kỳ, Sơn La… Có khi chỉ là bo bo nấu giả xôi hay ba ký khoai xắt lát, cơm nguội phơi khô… mỗi tháng gửi đi để người tù thoi thóp cầm hơi qua ngày. Bây giờ mới có chủ trương không gửi tiền về trợ giúp thân nhân, không công tác từ thiện… e rằng quá muộn. Sự trợ giúp này lẽ ra phải ngăn chặn từ những năm tháng đó để các trại tù sớm đóng cửa do nạn đói lan tràn, và chính quyền CS cũng sụp đổ mau chóng theo con số tù nhân mạng vong! Những người có chủ trương này chắc đã vượt biên rất sớm, đã không trải qua những năm tháng đen tối sau 75. Hay là những năm tháng ấy, những ngày tù đày đã xa rồi, giờ chỉ còn hiện thân trong những lời hô hào. Bởi vì cột đèn nào có chân thì đã đi hết rồi để làm nhiệm vụ hô hào, tố cáo nên chỉ những “con tin” của ngày ấy và bây giờ ở lại, sống hay chết trong thiếu đói cho lý tưởng cao cả tiêu diệt CS, quang phục quê hương!

Tuy nhiên, sự thiếu thốn về vật chất không quan trọng lắm, kinh tế thời hậu chiến của các quốc gia chiến tranh bắt buộc phải trải qua giai đoạn đó. Điều đáng than van chính là chính thể độc tài và sự đối xử phân biệt của kẻ thắng trận áp đặt trên phần đất tự do bại trận khiến hòa bình và thống nhất không mang ánh hào quang đáng lẽ phải có. Bao trùm lên khắp đất nước là màu sắc đen tối, ảm đạm. Bầu không khí nghi kị, sợ sệt đã tác động mạnh mẽ và nhiều khi trở thành chấn thương trong tâm hồn nhiều người. Những người trẻ lớn lên cặm cụi với nợ áo cơm như con trâu cặm cụi với luống cày. Nhưng con người chứ đâu phải cục đất vô tri lăn lóc hay loài thú không biết đến nghĩ suy. Sự hà khắc trong việc kiểm soát, khống chế tư tưởng như vậy đã làm nổi lên sự căm phẫn mà càng bị đè nén càng muốn bứt tung trỗi dậy.

Những người dân cúi đầu xuống cặm cụi với luống cày, đừng nhìn lên, đừng ngó quanh vì đâu có được phép nhìn lên, ngó quanh. Cứ mắt mù, tai điếc, miệng câm để được sống an toàn. Nhà nước đã rất thành công trong việc cai trị, khóa chặt miệng người dân bằng đường lối chuyên chính, bằng cách bóp bao tử của họ lại. Và điều này thật khủng khiếp vì đa số dân chúng dần dần hình thành thói quen sống một cuộc sống lầm lụi chỉ để tích cóp thu vén miếng cơm manh áo. Lý tưởng cao đẹp trở nên những từ ngữ, ý tưởng chỉ nằm trong sách vở, phim truyện, thật xa lạ, mơ hồ trong cuộc sống đời thường.

Một số trí thức miền Bắc ray rứt, nóng lòng với thực trạng của quê hương, còn lại hầu hết dân chúng đều rất thờ ơ. Sự đói khát thiếu thốn kéo dài quá lâu khiến họ lao vào cuộc sống vật chất mấy vẫn không cảm thấy đủ, nhìn lại quá khứ vẫn mơ hồ cơn ác mộng của những năm tháng chiến tranh cay nghiệt hiện về ám ảnh. Những năm tháng ấy đi qua đã cuốn trôi lớp màu mè phủ ngoài, chỉ còn trơ lại sự thật trần trụi của cuộc chiến phơi bày. Thật đau đớn và càng đau đớn hơn nữa khi sự thật phơi bày rành rành rồi mà vẫn không giải quyết được gì.

Miền Nam cũng vậy, sự phân biệt đối xử với người thua cuộc khiến chẳng ai dám bới việc, chỉ lo lủi thủi kiếm ăn kẻo tai bay họa gió ập xuống lúc nào. Và người ta cứ sống như thế, ù ù cạc cạc, mũ ni che tai. Cho nên thật buồn cười khi tưởng tượng có phép màu xuất hiện một cuộc bầu cử để người dân được tự do chọn lựa những khuynh hướng chính trị mình ưa thích. Rất nhiều người dân chẳng bao giờ nhìn thấy mặt mũi tờ báo. Họ cũng chẳng nghe tin tức thời sự nhiều trên TV hay radio, những tin tức một chiều nhắm mắt, bịt tai cũng biết. Một cuộc bầu cử nếu diễn ra thì đa số có biết gì đâu mà bầu. Trình độ dân trí thấp cộng với nếp sinh hoạt chính trị lành mạnh chưa bao giờ hiện diện trên đất nước này, một số rất ít trí thức cất lên tiếng chuông gióng giả nhưng hầu hết quần chúng cử tri rất dễ dàng bị lừa mị, và những thế lực chính trị đen tối sẽ lại đẩy đất nước rơi vào cảnh hỗn loạn như đã từng như thế.

Ván cờ tưởng chừng tàn cuộc vẫn chưa xong, những người lính già sót lại vẫn ngồi đâu đó giữa bãi chiến trường để lặng nghe chung quanh tiếng giáo gươm mỏi mệt.

Cho đến tận bây giờ, ngoài vô số lý do được phân tích thì sự thua cuộc có thể đã được tiên đoán khi người miền Nam luôn dằn vặt trong lòng bởi một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Còn miền Bắc thì lương tâm lúc nào cũng vô cùng yên ổn với khẩu hiệu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Dân miền Bắc đã được đặt mọi điều vào óc. Họ suy nghĩ và nói những điều nhà nước muốn họ suy nghĩ và nói. Muốn khác đi cũng không được vì họ không thể biết được trên đời có những điều khác hơn. Hồi đó, có người đã bị bắt vì nghe đài BBC. Tin này được rỉ tai tới đâu, người ta phải trùm chăn kín mít để nghe radio tới đó, phương tiện duy nhất để biết được tin quốc ngoại và nhất là quốc nội. Điều đó không phải chuyện quá khứ bởi vì ở thời điểm hiện nay cũng phải nhờ NET, dân chúng mới biết đến tình hình xảy ra chung quanh, ngay trên dải đất mình đang sống như Trường đảo Hoàng Sa… chẳng hạn. Còn không thì chịu thua.

Trước 75, người Việt tàn sát nhau. Bây giờ vẫn thóa mạ nhau. Không chơi với nhau thì còn thù nhau đến bao giờ? Đúng vậy, những trang sử lấm lem cứ tiếp diễn không ngưng. Duy một bên muốn chơi, còn một bên có thực sự muốn chơi không hay cử chỉ bắt tay chỉ che dấu cho những mưu đồ khác. Một bên kêu gọi hòa giải và một bên lúc nào cũng đằng đằng đối phó với “các thế lực đen tối”. Cứ như ông chẳng bà chuộc, ông nói gà bà nói vịt. Có vẻ hòa giải vẫn chỉ là chữ dùng của người Việt hải ngoại, tức là người sống tại miền Nam di tản ra nước ngoài bởi vì những người này có tiền, có mối quan hệ rộng rãi hơn nên có phần nào tiếng nói cất lên trên trường thế giới. Nhà nước chỉ nói chuyện hòa giải với giới này, là đại diện chính thức có quyền ngang vai bằng vế để nói đến hòa giải. Còn dân miền Nam ở lại bị đặt dưới quyền sinh sát, cho sống thì sống, cho chết thì chết thì quyền gì nói tới hòa giải. Thảng hoặc đôi ba tiếng kêu đơn lẻ cất lên của bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Lê Chí Quang…thì bị tống thẳng vào tù để hòa giải, đối thoại với… cai ngục! Nhà cầm quyền VN có hòa giải không, có cùng mục đích hướng tới dân tộc như người miền Nam không hay chỉ nhắm đến quyền lợi của Đảng cầm quyền thì chuyện đó đã quá minh bạch.

Cho nên khi nói tới hòa hợp hòa giải đối với người miền Nam trong nước là điều gì thật xa lạ, không tưởng, một câu chuyện xa xí của những ai ai. Họ không ra biển trốn đi, ở lại quê hương làm chứng nhân, để đối với người di tản đã định cư ở nước ngoài, đôi khi họ bị đồng hóa với chính thể trong nước để trở thành một biểu tượng của đói nghèo, thất học, lạc hậu…trở thành một gánh nặng khi sự tiếp tế, giúp đỡ dường như không bao giờ chấm dứt khiến lòng tốt trở nên chán nản. Đối với chính quyền, ngay cả khi qua khỏi giai đoạn khắc nghiệt cả nước là một trại tù khổng lồ, cho đến nay họ vẫn là một thứ công dân hạng hai, với vị trí của kẻ bại trận, đã ăn nhờ ở đậu, sống nương nhờ ngay trên chính mảnh đất của mình. Quyền lực nằm trong tay người thắng và quyền lợi nằm trong tay quyền lực cho nên mảnh đất mầu mỡ miền Nam là một chiến lợi phẩm để xâu xé, giành giật. Tất cả các cán bộ cao cấp đều mua nhà ở ngoại quốc, gửi con ra nước ngoài du học và định cư. Nếu có quay về lại cha truyền con nối những chức vụ chóp bu. Vâng, tầng lớp tư bản đỏ đã xuất hiện. Chỉ những người dân bé nhỏ dù thời nào, ở đâu vẫn sống cô độc, quờ quạng trong bùn đen và bóng tối mù lòa.

Trong bài viết của tác giả VA. có đề cập đến bộ phim của Trần văn Thủy và cho rằng bộ phim không được nhận giải thì tác giả đã rục xương trong tù. Nói vậy lẽ ra đạo diễn đã bị bắt từ lúc nó còn là ý tưởng trong đầu, thoát thành lời nói. Có đâu an toàn xuôi chèo mát mái qua nhiều giai đoạn từ khi xét duyệt kịch bản cho đến quay phim, hoàn tất. Mỗi giai đoạn đều qua các hội đồng chuyên môn chính thức chứ đâu phải lén lút đút kịch bản đi cổng sau. Tới lúc bấm máy gồm phó đạo diễn, thư ký trường quay, diễn viên… vô số nhân viên và công việc trường quay rầm rộ chứ bộ phim cũng đâu có quay một cách âm thầm. Sau đó phim được mang đi dự thi và mọi người thong thả ngồi đợi. Nếu đoạt giải thưởng thì cấm phổ biến để gây tò mò kích thích người ta tìm xem, không đoạt giải thì tính tiếp. Nhưng rõ ràng chuyện tính tới khá rắc rối vì số lượng người liên quan đến bộ phim để tống giam khá nhiều. Cho nên chẳng bao giờ có chuyện tù đày ở đây cả. Và cuối cùng bộ phim cũng như vài đầu sách của một số tác giả được phổ biến rộng rãi ở hải ngoại, để mang tới cái nhìn từ bên ngoài là chính quyền đã có phần dễ thở hơn. Lẽ đương nhiên nếu không phù hợp với chủ trương, chính sách của nhà nước thì chẳng tác giả nào có thể ngồi yên ổn ngắm mấy tác phẩm kiểu đó được bày hàng la liệt khắp nơi!

Khi chính sách mở cửa, một vài tác phẩm phơi bày được trưng ra, và chỉ là tác phẩm của miền Bắc. Dân miền Nam chớ dại mà hó hé. Chỉ người CS có quyền chửi CS còn người miền Nam đừng hòng, biết thân phận chớ mở miệng, không bao giờ có quyền mở miệng cả. Nhiều người quốc gia chán chường chế độ quốc gia cũ đã tuyên bố rằng mình là thành phần thứ ba chỉ biết yêu quê hương, đất nước, không thuộc quốc gia cũng không CS. Còn người sống dưới chế độ CS thì được giáo dục rằng hoặc bạn hoặc thù, hoặc trắng hoặc đen chứ không bao giờ có thành phần thứ ba. Vì vậy những người tự nhận mình là thành phần thứ ba hay thứ mấy tùy thích đều là những người sống ngoài thế giới CS, mà ngoài CS là thế giới tự do, và chỉ trong thế giới tự do thì mới có thể tuyên bố nhận mình là thành phần thứ ba, thứ bảy hay thứ một trăm, một ngàn gì đó. Những ai sống trong phạm vi kiểm soát CS thì sự chọn lựa hết sức đơn giản, dễ dàng. Tức hoặc mày hoặc tao, hoặc phải hoặc trái, hoặc xanh hoặc đỏ, hoặc bên này hay bên kia... Thành thử nếu có đối thoại với nhau lại trở về ông chẳng bà chuộc và chuyện bên nào thắng thua thì cũng tạm đoán được.

Tôi chỉ nhắc lại những chuyện cũ xì chẳng có gì mới cả. Sao tôi chỉ nhắc lại những chuyện ai cũng biết rồi nghe hoài đến phát ngấy. Bởi vì từng ngày, từng giờ tôi đang ở nơi không thể nào quên. Tôi sống nơi mà hiện tại không nguôi nhắc về quá khứ. Tôi tự nhủ mình quên đi, hướng đến tương lai, vẽ ra một con đường đầy hoa bướm nhưng làm cách nào để vẽ ra hoa bướm thì tôi không biết. Các bạn bè quanh tôi đều tin tưởng sẽ có một bình minh tươi sáng trên đất nước, chỉ có điều không phải đời này mà là đời con cháu hay chút chít của chúng tôi may ra.

Dù sao có dăm ba người bắt tay nhau cũng còn hơn không. Mặc dù một bên chủ trương tôn trọng sự khác biệt và một bên lợi dụng ngay sự dễ dàng để lấn tới. Chắc chắn sẽ nhiều người cho rằng nhận xét này quá đa nghi, quá bi quan. Quả tôi ao ước có được sự bao dung, tin tưởng và lạc quan mà không thể nào có được. Tôi mong một chút lạc quan để bước chân bớt nặng trên đường đời còn rất dài, mà sao toàn nghe lời kêu gào của Tuệ Sĩ, của Hà Sĩ Phu… Tôi thấy tướng NCK về nước bị hạ nhục, thầy TNH đón tiếp lạnh nhạt, tôi thấy các nghệ sĩ hải ngoại quay về quỵ lụy để xin một buổi hát thì lòng bao dung và hy vọng còn khuất đâu xa mịt mùng. Dăm cái bắt tay như vài giọt nước trên diện tích 3.247 km vuông khô hạn. Thôi thì vẫn ghi nhớ có vài giọt nước đó trong lúc mang tâm trạng của đám đông. Mặc kẻ chép công ta chép oán. Công riêng ai đó oán ta chung.

Chép oán là chuyện không nên, chẳng phải chép một đời người mà nhiều đời nối tiếp nhau chép toàn điều ai oán… Chỉ có điều vin vào đâu để đừng kể oán nữa. Có ai nói cho biết làm sao để thôi kể oán, sao trên đất nước này mau chóng vang lên những khúc âu ca. Mong chuyện kể oán sớm chấm dứt để những thế hệ sau biết đến một VN thực sự thanh bình, để dù cư ngụ bất cứ nơi đâu cách muôn dặm trùng dương thiên lý, người dân VN cũng quay về tìm nhau hội ngộ trên quê hương.

Lê Thị Hải Âu

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Đọc ‘Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam’
VI ANH .

"Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam" là tựa một bài viết của một phụ nữ Việt đang sống và làm việc trong gọng kềm CS Hà Nội. Đó là đạo diễn Song Chi từng hợp tác với hãng TFS trong hai bộ phim, 'Nữ bác sĩ' đoạt giải vàng Liên Hoan Phim Truyền Hình Toàn Quốc Tháng 1-2008, và phim 'Phố Hoài' được giải khuyến khích Hội Điện Ảnh Việt Nam 2002. Sau khi tham dự cuộc biểu tình phản đối Trung Cộng xâm chiếm hai đảo Trường Sa và Hoàng Sa lập thành huyện Tam Sa của Trung Cộng, "đạo diễn Song Chi bất ngờ bị yêu cầu ngưng công tác đạo diễn cho bộ phim truyền hình nhan đề "Ai?" sắp khởi quay vào tháng 7 tới đây sau nửa năm hợp tác chuẩn bị cho bộ phim bấm máy, (phóng sự của Trà Mi trên Đài Á Châu Tự Do).

"Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam" đó không chỉ riêng đạo diển Song Chi buồn. Không phải là một nỗi buồn nghệ thuật, nỗi buồn man mác (melancholie), lãng mạng (romantique) , "tôi buồn chẳng biết vì sao tôi buồn". Mà là nỗi buồn lịch sử VN. Đó là một nỗi buồn thiên cổ mà quốc gia, dân tộc VN đã trải qua. Và nhờ nỗi buồn đó mà các nhà khảo sử thế giới khen VN là một dân tộc bất khuất, dân tộc duy nhứt ở Đông Nam Á, đã 4 lần đánh đuổi quân Tàu không lồ. Đó là nỗi buồn nhược tiểu VN bên cạnh Anh Khổng lồ Trung Hoa, Trung Quốc với 1000 năm chiếm lấy VN mà không đồng hoá được. Nỗi buồn nhược tiểu, nổi nhục Da Vàng trước phong trào Thực dân của Au Châu, Pháp chiếm VN làm thuộc đia, cai trị gần 100 năm, trước Ong Bạn Đồng minh của Việt Nam Cộng Hoà là Mỹ vào VN làm thay nghĩ thế người Việt, gài VN làm một cuộc chiến tranh ủy nhiệm, đánh mà không cho thắng và sau cùng vì thay đổi chiến lược toàn cầu bức tử VNCH. Nhưng rút được nhiều kinh nghiệm, người Việt hải ngoại đang làm một cuộc quốc tế vận vô tiền khoáng hậu cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN. Nỗi buồn bị CS Hà nội, những người mặt mày là Việt Nam nhưng tâm tư là Cộng sản đặc sệt, tuyên truyền lường gạt và vận dụng người dân Việt đánh Tây để gọi là giành độc lập dân tộc , đánh Mỹ để gọi là thống nhứt lãnh thổ, nhưng chánh yếu là để chiếm chánh quyền với bất cứ giá nào cho Cộng sản. Nhưng người Việt Quốc Gia tiếp tục đấu tranh cho tư do dân chủ nhân quyền VN, tức chống Cộng độc tài không ngừng nghỉ, không mệt mỏi. 30 tháng Tư năm 1975 lở thua một trận, chớ chưa thua cuộc Chiến Tranh Quốc Cộng.

"Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam" là nỗi buồn chung cuả người Việt dám hay không dám nói ra trong hiện tại, trong thời CS Hà Nội. Thời đại CS Hà nội là thời đại "tự thực dân" (auto-colonialisme) , người Việt cai trị ngươi Việt mà còn khắc nghiệt hơn 1000 năm giặc Tàu, 100 giặc Tây nữa. Lời của Song Chi, "Nỗi buồn đó tôi cũng đã đọc thấy trong những đôi mắt ngơ ngác của những em sinh viên học sinh trong những ngày 9.12, 16.12 vừa qua khi những cuộc biểu tình của sinh viên học sinh và một số văn nghệ sĩ phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc xâm lược Trường Sa, Hoàng Sa đã bị cản trở, làm khó dễ và sau đó là đủ mọi biện pháp đã được áp dụng để ngăn chặn ngay từ đầu".

Đó là nỗi buồn, yêu nước là cái tội đối với CS. Nỗi buồn chống quân xâm lăng Trung Cộng là cái tội đối với nhà cầm quyền Hà Nội. Nỗi buồn chưa bao giờ VN mất một tấc đất mà không có tiếng gươm đao, tiếng súng nổ - trừ thời CS Hà nội. Nỗi buồn [lời của Song Chi] , "những người biểu tình phản đối Trung Quốc về vụ Trường Sa - Hoàng Sa ngày 19-1-2008 trước cửa Nhà Hát Thành Phố bị mời về công an, người bị giữ nhanh nhất là một ngày, người bị giữ lâu nhất là 30 tiếng." Đó là nỗi buồn có miệng mà không cho nói, suy nghĩ mà buộc phải câm, mới bày tỏ thái độ chánh trị của người công dân, chớ chưa hành động chính trị là đã bị trừng trị rồi. Đó cũng là nỗi buồn trước cái nhìn của những người vô cảm trước vận mạnh quốc gia dân tộc. Nhìn những người như đạo diển Song Chi và những nhà dân chủ đấu tranh bảo toàn đất tổ, đấu tranh cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN, là "điên rồ", làm chuyên ruồi bu, chỉ chuốc hoạ vào thân.

Nhưng trả lời phóng viên Trà Mi, nữ đạo diễn Song Chi, khẳng khái, "...nếu như quay trở lại thì chắc chắn là tôi cũng sẽ phản ứng như mọi người trong ngày 19 tháng 1 ấy, bởi vì điều đó là điều hoàn toàn tôi thấy không có gì là sai trái cả. Trong một số đông im lặng thì rõ ràng là chỉ có một thiểu số thì chắc chắn là rất mệt mỏi. Nhưng mà tối thiểu những điều mình làm có nhỏ xíu đi chăng nữa thì cũng vẫn phải làm. Nếu không thì mọi chuyện nó sẽ lại càng chậm hơn nữa."Đó mới là vấn đề; đó mới là giá trị của"Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam".

Thói thưòng, trong buồn đau người ta quần tụ lại, đoàn kết, gắn bó với nhau. Nhìn tấm hình của Song Chi, Song Chi còn trẻ hơn ngừơi Việt tỵ nạn CS thế hệ thứ nhứt. Nỗi buồn xa nước càng yêu thêm nước, xa quê càng nhớ thêm quê; nỗi đau mất mất nước tư do, dân chủ là mất tất cả, đã làm cho người Việt Hải ngoại biến đau thương thành hành động. Đoàn kết nhau như con một cha.

Không có Bắc, Nam, Trung, mà chỉ có người Việt ôm nhau kềm nước mắt lo cho vận nước và cho đồng bào khổ đau vì CS. Cảm nghĩ thuộc về nhau đã làm nên một Việt Nam hải ngoại. Đã thực hiện một quốc tế vận cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN, lớn mạnh và chưa bao giờ có trong lịch sử Việt. Đã chuyển niềm tin và cảm hứng thành làn gió cách mạng tư do, dân chủ, nhân quyền qua không gian và thời gian. Chuyển về về nước nhà. Truyền qua lớp ngưòi trẻ trong và ngoài nước.

Đã giúp cho đồng bào thoát khỏi nỗi sợ nhà cầm quyền là điều kiện tiên quyết của bất cứ cuộc cách mạng nào. Nỗi sợ " diễn biến hoà bình" của CS Hà nội đã biến thành bất tuân hành dân sự, phát triển từ phẩm sang lượng, từ điểm sang diện, suốt từ Bắc chí Nam.Thổi bay khuynh hướng hoà giải hoà họp theo kiểu xin cho. Thổi banh tâm lý thực dụng của một số ít thấy đấu tranh lâu ngày mà CS Hà nội hãy còn, thôi thì "tránh đâu" đó để mưu cầu lợi riêng. Dưạ hơi mé CS Hà nội để làm ăn, để đi VN dễ dàng, để gọi là phát triễn đạo, để lạc quyền tiền đem đi VN gọi là làm công tác từ thiện nhưng cho ngưòi nghèo thì ít mà cho mình thì nhiều.

Sau cùng, số đông không có nghĩa đúng. Nhiều người vô cảm với vận mạng nước non không có nghĩa là chánh nghĩa đấu tranh cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN không trội yếu. Cứ nhìn thời sự quốc tế về VN thì thấy.

Chế độ CS Hà nội làm kinh tế tăng gia nhưng không phát triễn vì không thăng tiến cần lao đồng tiến xã hội VN. Trái lại đào thêm hố sâu ngăn cách nghèo giàu giũa quan lại CS thống trị và người dân Việt bị trị. Đảng Nhà Nước CS là sát thủ tự do, dân chủ, nhân quyền VN, là một đối tác thương mại xấu, lương thăng tráo đấu. Tham nhũng nhứt Á Châu, vơí bao nhiêu tai tiếng xấu, bán phụ nữ trẻ em làm nô lệ tình dục, bán đàn ông làm lao nô.

Gió đã đổi chiều. Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam chóng hay chày sẽ biến thành Niềm Vui Mang Tên Cách Mạng Tư Do, Dân Chủ, Nhân quyền Việt Nam. Hy vọng đời đạo diễn Song Chi thừa thì giờ để thấy.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Hệ thống Chính trị-Báo chí tại Việt Nam qua vụ bắt giam 2 nhà báo?
Nguyễn Khanh, phóng viên đài RFA, May 17, 2008
Từ đầu tuần này, dư luận trong và ngoài nước đều chú y đến sự kiện công an bắt 2 nhà báo là các ông Nguyễn Việt Chiến, 56 tuổi, làm việc cho tờ Thanh Niên; ông Nguyễn Văn Hải, 33 tuổi, phóng viên của tờ Tuổi Trẻ.

Cả hai người bị công an bắt đều là những nhà báo nổi tiếng của giới truyền thông Việt Nam, được biết đến như những cây viết đi xung phong trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực.

Theo chính phủ, cả hai nhà báo có tên vừa nêu đều bị bắt về tội thông tin sai lạc trong vụ án từng gây sôi nổi một thời mang tên vụ án PMU 18.

Vụ án này có liên quan đến một ông thứ trưởng, ông này bị đưa ra tòa, bị kêu án, và chỉ mới một vài tuần trước đây bản án của ông ta được hủy bỏ, kẻ đang sống cuộc sống của một người tù được trắng án, được phục chức và được trả lại cả đảng tịch. Điều đó khiến dư luận hoang mang không ít.

Chỉ vài tuần sau đó, công an bắt hai nhà báo từng đi đầu trong những bài viết nói về vụ án và tội của ông cựu thứ trưởng. Lần này dư luận lại càng hoang mang hơn nữa.

Chuyện nhà báo Việt Nam bị bắt là đề tài được Ban Việt Ngữ chúng tôi chọn cho Tạp Chí Câu Chuyện Thời Sự Hàng Tuần do Nguyễn Khanh phụ trách.

Tạp chí tuần này được thực hiện với sự cộng tác của Thiện Giao và Thanh Quang ở Washington, cùng với một số người đang hoạt động trong ngành truyền thông trong nước.

Từ PMU18 tới vụ bắt phóng viên

Khởi thuỷ, người ta gọi tên vụ án này là “vụ PMU 18.” Rồi sau đó, vụ PMU 18 được nâng cấp lên, thành “Vụ Nguyễn Việt Tiến.” Những ngày gần đây, nếu xét về chiều rộng và cả chiều sâu của dư luận, người ta gọi đây là “vụ bắt phóng viên.”

Vụ bắt 2 phóng viên Nguyễn Văn Hải báo Tuổi Trẻ và Nguyễn Việt Chiến báo Thanh Niên đã tạo một sự xúc động sâu rộng trong dư luận Việt Nam: “Từ một vài người dân trong nước, bất bình với việc bắt phóng viên”.

Trong toàn bộ vụ PMU 18, có một điều ít ai để ý, nhưng lại là yếu tố gần như quyết định trong toàn bộ sự tiến hoá từ đầu cho đến khi trở thành đẳng cấp “bắt phóng viên” gây xôn xao dư luận, đó là sự có mặt và chi phối của dư luận trong các quyết định của cơ quan chức năng.

Tin tức báo chí trong nước loan tải vào thời điểm ông cựu thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến được trả tự do, đăng lời nhận định do Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao đưa ra, rằng rõ ràng ở thời điểm ông Tiến bị bắt, ở Bộ Giao Thông Vận Tải, Nguyễn Việt Tiến đang là “ngôi sao sáng.”

Và nếu con đường phát triển thuận lợi thì Nguyễn Việt Tiến không phải là Nguyễn Việt Tiến bây giờ mà phải có cái gì khác hơn nữa. Trong bối cảnh như vậy, chắc là cơ quan điều tra đã khởi tố điều tra với ông Tiến, vừa có cả vấn đề về pháp lý, vừa có cả vấn đề dư luận.

Viện Kiểm Sát còn nhận định thêm, rằng vào thời điểm ấy, các vụ đánh bạc lên đến cả triệu rưỡi đôla của Bùi Tiến Dũng, những đường dây chạy án, và “hàng loạt vấn đề bùng nhùng” khiến cho “dư luận nhìn vào chỗ ấy là đen tối.”

Dư luận phẫn nộ, bàng hoàng

Rõ ràng, dư luận đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ sự việc. Và dư luận tạo nên một vòng tròn khép kín khởi đi từ vụ PMU 18 với Bùi Tiến Dũng cho đến vụ bắt hai phóng viên cách đây ít hôm.

Khởi đầu, dư luận phẫn nộ về việc quan chức dùng tiền công đi đánh bạc lên đến cả triệu đô la. Rồi dư luận phẫn nộ hơn nữa khi được thông tin là trong vụ PMU 18, cả một thứ trưởng của Bộ Giao Thông Vận Tải cũng dính dáng đến tham nhũng.
Chưa hết, dư luận tiếp tục bàng hoàng khi thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến được tuyên bố gần như vô tội sau 2 năm điều tra.

Đến trung tuần tháng Năm, dư luận dường như không còn không gian để có thể phát triển sâu hơn và rộng hơn, khi một đêm thức giấc dậy, cả nước được biết 2 phóng viên của 2 tờ báo lớn nhất Việt Nam, được xem là đi đầu trong chiến dịch thông tin phanh phui vụ PMU 18, bị bắt. Mà lý do được đưa ra lại liên quan trực tiếp đến công tác đưa tin trong quá trình phanh phui vụ án này.

Trong toàn bộ vụ tham nhũng có thể được xem là lớn nhất từ trước đến nay, cả hệ thống báo chí, cả hệ thống tư pháp, đều hành xử dựa trên nền tảng của dư luận. Và trong ngữ cảnh ấy, chính dư luận được sử dụng, hay đúng hơn, bị lợi dụng, như vũ khí then chốt để những phía tham gia tác động lên quyết định của cơ quan chức năng.

Nói một cách ngắn gọn, giới báo chí, tức phía có thể tạo ra dư luận, trong một chừng mực nào đó đã bị lợi dụng để tác động dư luận; rồi dựa trên đó, một ai đó ra lệnh bắt một ai khác.

Những mâu thuẫn trong Luật báo chí VN

Đầu tiên, hãy xem lý do mà cơ quan chức năng ra lệnh bắt, khởi tố hai phóng viên Hải và Chiến. Rõ ràng, hai người này bị bắt vì “lợi dụng chức vụ và quyền hạn trong khi thi hành công vụ.”

Yếu tố này cho thấy, trên tất cả, hai anh Hải và Chiến là những công chức đang thực hiện nhiệm vụ báo chí. Điều này có nghĩa, các phóng viên này được đối xử như bất cứ một công chức nào khác trong hệ thống công quyền.

Là một công chức, cả Hải và Chiến có quyền, thậm chí, có trách nhiệm, tin vào, cũng như sử dụng thông tin từ một công chức khác trong hệ thống của mình. Đó là điều tự nhiên.

Chính điều tự nhiên này tạo ra sự mâu thuẫn nội tại của hệ thống báo chí hiện nay tại Việt Nam.

Trước hết, hãy trở lại với chi tiết, rằng hai phóng viên Hải và Chiến bị bắt khi đang thi hành công vụ. Như đã nói, chi tiết này cho thấy, các phóng viên làm việc trong hệ thống báo chí Việt Nam là những công chức. Tính chất công chức càng rõ nét hơn cho những người có vị trí cao hơn trong các ban biên tập.

Điều này thể hiện rất rõ trong luật báo chí Việt Nam. Theo luật, chỉ có cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội của nhà nước mới có quyền ra báo. Và quyền ra báo phải được thừa nhận bởi một giấy phép do Bộ Văn Hoá Thông Tin cấp.

Theo luật, khi tờ báo là cơ quan ngôn luận của các tổ chức ấy, thì tờ báo ấy là cơ quan trực thuộc tổ chức đó. Trong trường hợp có nhu cầu một tổng biên tập. Đề nghị một tổng biên tập sẽ được xem xét theo rất nhiều tầng nấc.

Báo chí và Chính quyền

Bắt đầu bằng Ban Văn Hoá Tư Tưởng Thành Phố trực thuộc trung ương. Rồi đến Ban Văn Hoá Tư Tưởng Thành Uỷ, rồi sau đó gởi lên cho ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương mà ngày nay người ta gọi là Ban Tuyên Giáo.

Sau khi cơ quan Đảng có ý kiến về đề nghị bổ nhiệm Tổng Biên Tập, họ chuyển cho chính quyền phê duyệt. Trên nguyên tắc, sự bổ nhiệm tổng biên tập phải có sự đồng ý của ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương và Bộ Văn Hoá Thông Tin.

Tính chính trị rõ nét trong tiến trình bổ nhiệm các vị trí cao cấp trong ngành báo chí cho thấy sự phụ thuộc chính trị của báo chí với chính quyền.

Sự phụ thuộc này có thể được suy diễn rằng, báo chí thiếu sự độc lập cần thiết. Nói đúng hơn, báo chí là công cụ của nhà nước trong các công tác tuyên truyền:

“Nhà nước ra nhiều luật liên quan đến báo chí, và gần đây nhất là chỉ thị 37 của thủ tướng cấm tư hoá báo chí. Tôi cho rằng với hoàn cảnh như vậy, báo chí phát triển rất khó khăn.”

“Tôi thấy 600 tờ báo thì cũng là một tiếng nói thôi.”

“Theo luật báo chí Việt Nam, chỉ có cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội thuộc nhà nước mới có quyền ra báo.”

Đó là nhận định của các nhà báo tự do phát biểu từ Việt Nam.

Trở lại vụ bắt nhà báo. Hai nhà báo bị bắt cách đây ít hôm là hệ quả đến từ sự mâu thuẫn giữa thực tế công cụ và nhu cầu độc lập trong nền báo chí.

Thách thức của cạnh tranh, hội nhập

Từ trước đến nay, nhà nước dùng báo chí như công cụ, và chính báo chí cũng tự xem mình là công cụ. Xét trên khía cạnh ấy, báo chí đã tạo ra một số dư luận tốt, có tính định hướng cho nhà nước.

Tính chất này, những năm về sau, trở nên bị thách thức khi giữa các tờ báo có sự cạnh tranh khốc liệt để chiếm độc giả. Cạnh tranh báo chí, tức là cạnh tranh thông tin. Các báo phải có những phương cách lấy tin riêng, nhất là những tin “độc” và “đắc”.

Hệ quả là, các phóng viên phải dựa vào thông tin từ các cơ quan công quyền khác, như kết quả thanh tra của cơ quan thanh tra, kết luận điều tra của cơ quan điều tra, cáo trạng của viện kiểm sát và các bản án của toà án. Đa số, nếu không phải là tất cả các tờ báo, thường loan tải tin tức khá giống nhau, từ sự kiện, nội dung sự kiện, cho đến quan điểm.

Sự khác biệt, nếu có, chỉ là thời điểm.

Một người có quá trình lâu năm theo dõi hoạt động báo chí, nhận định:

“Vụ Hoàng Linh trong vụ án Năm Cam, có hàng loạt nhà báo bị dính. Các nhà bào này là thân hữu của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Những người có tỳ vết với pháp luật thường phải làm thân với phóng viên, giữ quan hệ với phóng viên. Vụ Năm Cam có ai?

Có Hoàng Linh, phóng viên nội chính của Tuổi Trẻ; có Thư Lê, phóng viên nội chính của Sài Gòn Giải Phóng; có Quang Thắng, thư ký toà soạn báo Công An.... Những nhà báo này viết về nội chính, họ bị bắt vì sự biến chất. Họ đã từng rất nổi tiếng, họ viết tin rất nóng, vì có quan hệ rất chặt, luôn luôn có tin trước những nhà báo khác. Những bài họ viết thường kéo cơ quan pháp luật vào cuộc”.

Nghiệp vụ và Công vụ?

Có một số chi tiết đáng chú ý trong vụ bắt hai phóng viên Hải và Chiến, cũng như việc phanh phui các vụ án trước đây. Đó là, những nhà báo trong lãnh vực Nội Chính và Giáo Dục thường được công chúng Việt Nam biết đến nhiều nhất. Lý do là vì đây là những lãnh vực có nhiều vấn đề không thể chấp nhận được đối với đa số công chúng Việt Nam.

Những nhà báo nội chính là những người có mối quan hệ tốt với các cơ quan công quyền trong lĩnh vực nội chính, như công an, thanh tra, kiểm sát, toà án.

Làm sao họ có thể tạo dựng mối quan hệ tốt với các cơ quan công quyền này?

Theo lời một nhà báo làm việc lâu năm cho những tờ báo lớn tại Việt Nam, cánh nhà báo phải chứng minh với các cơ quan công quyền rằng, mình là người có thể tin được, rằng hai bên có thể hợp tác được.

Vì vậy, những tin, bài nóng trong thẩm quyền của các cơ quan như vừa kể sẽ được tiết lộ, và được tiết lộ cho một số nhà báo có mối quan hệ tốt.

Sau một thời gian đeo bám mảng nội chính, các nhà báo cũng trở thành nhân vật quan trọng. Quan trọng vì họ có thể chi phối dư luận, thậm chí có thể chi phối cả một số cơ quan bảo vệ pháp luật. Quan trọng vì, hễ họ đề cập đến ai, thì một thời gian ngắn sau, người đó bị bắt hoặc bị thanh tra.

Nói cách khác, những nhà báo như Hoàng Linh, Quang Thắng, Thư Lê vừa được đề cập, trở thành một thứ quyền lực; quyền lực không cần chức vụ.

Sự gay cấn trong vụ bắt hai phóng viên Hải và Chiến còn nằm ở chỗ: 2 phóng viên này bị chính nguồn tin của mình lợi dụng bằng cách tung tin bịa đặt. Điều này khiến dư luận tự hỏi, vậy, họ bị bắt vì lý do nghiệp vụ, hay vì lý do công vụ? Trên thực tế, họ bị bắt và khởi tố vì “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.”

“Vụ bắt 2 phóng viên cho thấy, thông tin do cơ quan điều tra, thậm chí ở vị trí rất cao, và rất chuyên nghiệp là Cục Cảnh Sát Điều Tra, tung ra, và đó, thậm chí là tin giả. Tin giả là để tạo dư luận áp lực lên các bộ phận khác của nhà nước. Do đó, người dân thấy báo chí không đáng tin cậy.”

Lệnh ngưng loan tin

Chính vì tất cả những mâu thuẫn về vị trí và tư cách tác nghiệp khiến việc biện hộ của báo giới, đặc biệt là hai tờ Thanh Niên và Tuổi Trẻ, mang tính chất vừa có thể chấp nhận vừa không thể chấp nhận. Hai tờ báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên lập luận, rằng họ lấy tin từ cơ quan nhà nước, và từ đó loan đi, nên không thể có tội.

Lập luận này xem chừng không thuyết phục. Đối chứng với báo chí phương Tây, tiến trình thu thập, đối chứng, loan tải thông tin phức tạp hơn nhiều.

Điều quan trọng là, báo chí chịu trách nhiệm với bạn đọc. Uy tín của tờ báo thành hình từ tính độc lập, không bị chi phối của ai. Trong trường hợp này, 2 tờ báo lớn nhất, có uy tín nhất Việt Nam phần nào đã thể hiện tâm lý chấp nhận trở thành công cụ.

Vụ bắt hai phóng viên Nguyễn Văn Hải của báo Tuổi Trẻ và Nguyễn Việt Chiến của báo Thanh Niên đặt ra một số câu hỏi.

Các phóng viên, khi nhận được thông tin từ các cơ quan điều tra, có kiểm chứng thông tin hay không?

Báo chí có tiếp tục đứng vững với kết luận của mình, rằng cựu thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến có tội hay không?

Nếu tin rằng ông Tiến có tội, báo chí có tiếp tục đến cùng bằng những chứng cứ riêng của mình, để chứng minh điều này không?

Ngược lại, nếu không thể chứng minh ông Tiến có tội, báo chí có sẵn sàng trong việc xin lỗi ông Tiến và nhận trách nhiệm trước độc giả hay không?

Có lẽ, cũng còn quá sớm để đặt những câu hỏi này.

Theo 2 nguồn tin riêng, nhắn đi từ Sài Gòn vào tối ngày 14 và sáng ngày 15 tháng Năm, trong cuộc họp giao ban với báo chí, các cơ quan có thẩm quyền đã ra lệnh báo chí ngưng không tiếp tục đưa tin về vụ bắt hai phóng viên của Tuổi Trẻ và Thanh Niên. Thay vào đó họ phải đưa tin về sự kiện Đại Lễ Vesak 2008 đang diễn ra tại Việt Nam.

Nội dung các tờ báo, trên mạng cũng như báo in, cho thấy lệnh tạm ngưng đưa tin đã bắt đầu có hiệu quả.

dacung
Posts: 409
Joined: Tue Dec 13, 2005 6:26 am
Location: USA
Contact:

Post by dacung »

Đọc ‘Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam’

VI ANH . Việt Báo Thứ Sáu, 5/16/2008, 12:02:00 AM


"Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam" là tựa một bài viết của một phụ nữ Việt đang sống và làm việc trong gọng kềm CS Hà Nội. Đó là đạo diễn Song Chi từng hợp tác với hãng TFS trong hai bộ phim, 'Nữ bác sĩ' đoạt giải vàng Liên Hoan Phim Truyền Hình Toàn Quốc Tháng 1-2008, và phim 'Phố Hoài' được giải khuyến khích Hội Điện Ảnh Việt Nam 2002. Sau khi tham dự cuộc biểu tình phản đối Trung Cộng xâm chiếm hai đảo Trường Sa và Hoàng Sa lập thành huyện Tam Sa của Trung Cộng, "đạo diễn Song Chi bất ngờ bị yêu cầu ngưng công tác đạo diễn cho bộ phim truyền hình nhan đề "Ai?" sắp khởi quay vào tháng 7 tới đây sau nửa năm hợp tác chuẩn bị cho bộ phim bấm máy, (phóng sự của Trà Mi trên Đài Á Châu Tự Do).

"Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam" đó không chỉ riêng đạo diển Song Chi buồn. Không phải là một nỗi buồn nghệ thuật, nỗi buồn man mác (melancholie), lãng mạng (romantique) , "tôi buồn chẳng biết vì sao tôi buồn". Mà là nỗi buồn lịch sử VN. Đó là một nỗi buồn thiên cổ mà quốc gia, dân tộc VN đã trải qua. Và nhờ nỗi buồn đó mà các nhà khảo sử thế giới khen VN là một dân tộc bất khuất, dân tộc duy nhứt ở Đông Nam Á, đã 4 lần đánh đuổi quân Tàu không lồ. Đó là nỗi buồn nhược tiểu VN bên cạnh Anh Khổng lồ Trung Hoa, Trung Quốc với 1000 năm chiếm lấy VN mà không đồng hoá được. Nỗi buồn nhược tiểu, nổi nhục Da Vàng trước phong trào Thực dân của Au Châu, Pháp chiếm VN làm thuộc đia, cai trị gần 100 năm, trước Ong Bạn Đồng minh của Việt Nam Cộng Hoà là Mỹ vào VN làm thay nghĩ thế người Việt, gài VN làm một cuộc chiến tranh ủy nhiệm, đánh mà không cho thắng và sau cùng vì thay đổi chiến lược toàn cầu bức tử VNCH. Nhưng rút được nhiều kinh nghiệm, người Việt hải ngoại đang làm một cuộc quốc tế vận vô tiền khoáng hậu cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN. Nỗi buồn bị CS Hà nội, những người mặt mày là Việt Nam nhưng tâm tư là Cộng sản đặc sệt, tuyên truyền lường gạt và vận dụng người dân Việt đánh Tây để gọi là giành độc lập dân tộc , đánh Mỹ để gọi là thống nhứt lãnh thổ, nhưng chánh yếu là để chiếm chánh quyền với bất cứ giá nào cho Cộng sản. Nhưng người Việt Quốc Gia tiếp tục đấu tranh cho tư do dân chủ nhân quyền VN, tức chống Cộng độc tài không ngừng nghỉ, không mệt mỏi. 30 tháng Tư năm 1975 lở thua một trận, chớ chưa thua cuộc Chiến Tranh Quốc Cộng.

"Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam" là nỗi buồn chung cuả người Việt dám hay không dám nói ra trong hiện tại, trong thời CS Hà Nội. Thời đại CS Hà nội là thời đại "tự thực dân" (auto-colonialisme) , người Việt cai trị ngươi Việt mà còn khắc nghiệt hơn 1000 năm giặc Tàu, 100 giặc Tây nữa. Lời của Song Chi, "Nỗi buồn đó tôi cũng đã đọc thấy trong những đôi mắt ngơ ngác của những em sinh viên học sinh trong những ngày 9.12, 16.12 vừa qua khi những cuộc biểu tình của sinh viên học sinh và một số văn nghệ sĩ phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc xâm lược Trường Sa, Hoàng Sa đã bị cản trở, làm khó dễ và sau đó là đủ mọi biện pháp đã được áp dụng để ngăn chặn ngay từ đầu".

Đó là nỗi buồn, yêu nước là cái tội đối với CS. Nỗi buồn chống quân xâm lăng Trung Cộng là cái tội đối với nhà cầm quyền Hà Nội. Nỗi buồn chưa bao giờ VN mất một tấc đất mà không có tiếng gươm đao, tiếng súng nổ - trừ thời CS Hà nội. Nỗi buồn [lời của Song Chi] , "những người biểu tình phản đối Trung Quốc về vụ Trường Sa - Hoàng Sa ngày 19-1-2008 trước cửa Nhà Hát Thành Phố bị mời về công an, người bị giữ nhanh nhất là một ngày, người bị giữ lâu nhất là 30 tiếng." Đó là nỗi buồn có miệng mà không cho nói, suy nghĩ mà buộc phải câm, mới bày tỏ thái độ chánh trị của người công dân, chớ chưa hành động chính trị là đã bị trừng trị rồi. Đó cũng là nỗi buồn trước cái nhìn của những người vô cảm trước vận mạnh quốc gia dân tộc. Nhìn những người như đạo diển Song Chi và những nhà dân chủ đấu tranh bảo toàn đất tổ, đấu tranh cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN, là "điên rồ", làm chuyên ruồi bu, chỉ chuốc hoạ vào thân.

Nhưng trả lời phóng viên Trà Mi, nữ đạo diễn Song Chi, khẳng khái, "...nếu như quay trở lại thì chắc chắn là tôi cũng sẽ phản ứng như mọi người trong ngày 19 tháng 1 ấy, bởi vì điều đó là điều hoàn toàn tôi thấy không có gì là sai trái cả. Trong một số đông im lặng thì rõ ràng là chỉ có một thiểu số thì chắc chắn là rất mệt mỏi. Nhưng mà tối thiểu những điều mình làm có nhỏ xíu đi chăng nữa thì cũng vẫn phải làm. Nếu không thì mọi chuyện nó sẽ lại càng chậm hơn nữa."Đó mới là vấn đề; đó mới là giá trị của"Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam".

Thói thưòng, trong buồn đau người ta quần tụ lại, đoàn kết, gắn bó với nhau. Nhìn tấm hình của Song Chi, Song Chi còn trẻ hơn ngừơi Việt tỵ nạn CS thế hệ thứ nhứt. Nỗi buồn xa nước càng yêu thêm nước, xa quê càng nhớ thêm quê; nỗi đau mất mất nước tư do, dân chủ là mất tất cả, đã làm cho người Việt Hải ngoại biến đau thương thành hành động. Đoàn kết nhau như con một cha.

Không có Bắc, Nam, Trung, mà chỉ có người Việt ôm nhau kềm nước mắt lo cho vận nước và cho đồng bào khổ đau vì CS. Cảm nghĩ thuộc về nhau đã làm nên một Việt Nam hải ngoại. Đã thực hiện một quốc tế vận cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN, lớn mạnh và chưa bao giờ có trong lịch sử Việt. Đã chuyển niềm tin và cảm hứng thành làn gió cách mạng tư do, dân chủ, nhân quyền qua không gian và thời gian. Chuyển về về nước nhà. Truyền qua lớp ngưòi trẻ trong và ngoài nước.

Đã giúp cho đồng bào thoát khỏi nỗi sợ nhà cầm quyền là điều kiện tiên quyết của bất cứ cuộc cách mạng nào. Nỗi sợ " diễn biến hoà bình" của CS Hà nội đã biến thành bất tuân hành dân sự, phát triển từ phẩm sang lượng, từ điểm sang diện, suốt từ Bắc chí Nam.Thổi bay khuynh hướng hoà giải hoà họp theo kiểu xin cho. Thổi banh tâm lý thực dụng của một số ít thấy đấu tranh lâu ngày mà CS Hà nội hãy còn, thôi thì "tránh đâu" đó để mưu cầu lợi riêng. Dưạ hơi mé CS Hà nội để làm ăn, để đi VN dễ dàng, để gọi là phát triễn đạo, để lạc quyền tiền đem đi VN gọi là làm công tác từ thiện nhưng cho ngưòi nghèo thì ít mà cho mình thì nhiều.

Sau cùng, số đông không có nghĩa đúng. Nhiều người vô cảm với vận mạng nước non không có nghĩa là chánh nghĩa đấu tranh cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN không trội yếu. Cứ nhìn thời sự quốc tế về VN thì thấy.

Chế độ CS Hà nội làm kinh tế tăng gia nhưng không phát triễn vì không thăng tiến cần lao đồng tiến xã hội VN. Trái lại đào thêm hố sâu ngăn cách nghèo giàu giũa quan lại CS thống trị và người dân Việt bị trị. Đảng Nhà Nước CS là sát thủ tự do, dân chủ, nhân quyền VN, là một đối tác thương mại xấu, lương thăng tráo đấu. Tham nhũng nhứt Á Châu, vơí bao nhiêu tai tiếng xấu, bán phụ nữ trẻ em làm nô lệ tình dục, bán đàn ông làm lao nô.

Gió đã đổi chiều. Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam chóng hay chày sẽ biến thành Niềm Vui Mang Tên Cách Mạng Tư Do, Dân Chủ, Nhân quyền Việt Nam. Hy vọng đời đạo diễn Song Chi thừa thì giờ để thấy.

VI ANH

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Chế độ đang rạn nứt

Ngô Nhân Dụng
Bắt tham nhũng là một hiện tượng lạ trong chế độ cộng sản. Ðó là những triệu chứng cho thấy trong đám lãnh tụ cao cấp của đảng có những xung khắc lớn, đến mức không thể hòa giải được.

Mỗi vụ tham nhũng, những tổ chức trong xã hội đen buôn lậu, tội phạm, ma túy, đều có ô dù của một cánh trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp bảo kê. Khi Bùi Tiến Dũng và mấy quan chức trong bộ Giao Thông Vận Tải bị bắt, vào đầu năm 2006, người ta biết rằng có một cánh trong Bộ Chính Trị bị cánh khác đánh một đòn chí tử. Ăn cắp của công hàng triệu đô la rồi nhơn nhơn đem đánh cá, nếu không có ô dù lớn ở cấp cao nhất thì không ai dám làm. Những vụ đất đai ở Bình Dương, Thủ Thiêm, Hải Phòng, những vụ Thủy Cung Thăng Long hay Năm Cam, Khánh Trắng, sở dĩ được đưa ra trước dư luận cũng đều vì phe này đánh phe kia cả.

Có thể nói hầu hết những vụ cáo giác, bắt bớ và truy tố những tay tham nhũng trong xã hội cộng sản đều do các phe cánh tranh ăn với nhau sinh ra đụng chạm. Ngay các băng đảng mafia ở New York cũng có lúc tranh chấp và thanh toán lẫn nhau, mạng lưới mafia của đảng cộng sản cũng không tránh khỏi. Nhưng cũng có thể tin rằng trong nội bộ đảng Cộng Sản có những người thực lòng muốn làm cho chế độ sạch sẽ hơn, cho nên đụng chạm tới công cuộc làm ăn của các phe cánh.

Chỉ khi nào chế độ cộng sản sụp đổ, hồ sơ các vụ điều tra được giải mật, lúc đó người ta mới biết ai là những người thực tâm muốn chống tham nhũng, ai chỉ làm tay sai của phe này tấn công cánh kia.

Vì vậy, trong vụ một ông tướng và một thượng tá công an Việt Cộng mới bị khởi tố, chúng ta không biết chắc nguyên nhân vì đâu. Họ có thể là những anh hùng chống tham nhũng đang bị thế lực tham ô trừng phạt. Họ cũng có thể chỉ là những người đã đóng vai thừa hành do một phe này dùng để tấn công phe khác; bây giờ họ bị bị hy sinh vì trong một cuộc đấm đá từ trên cấp cao những người bảo kê cho họ đã chịu thua.

Trung Tướng Phạm Xuân Quắc và Thượng Tá Ðinh Văn Huynh là những người lo điều tra Bùi Tiến Dũng và đồng đảng trong cánh PMU 18 thuộc bộ Giao Thông Vận Tải, sau khi hồ sơ đánh bạc bằng tiền ăn cắp của dân bị khui ra. Chỉ trong một thời gian ngắn, hai người này bị thay thế, và ông Phạm Xuân Quắc đã mất chức rồi còn bỗng nhiên bị cho về vườn. Ngay lúc đó, đã thấy cuộc điều tra đang bị chặn lại, thế chính trị đã xoay chiều, guồng máy quyền lực đổi hướng, việc điều tra được biến thành một vận động để chạy tội cho cả bọn tham ô. Ðúng ra là chạy tội cho cả băng đảng từ trên cao nhất.

Cứ bình thường thì câu chuyện có thể chấm dứt ở đó. Bùi Tiến Dũng bị 13 năm tù vì lộng hành quá đáng, nhưng sẽ sống đế vương trong nhà tù và sẽ được thả sớm. Dũng đã từng bị tố cáo tìm đường “chạy” với 40 nhân vật quan trọng, nhưng rồi cũng không ai hỏi tới các nhân vật đó, chẳng biết là ai. Hai năm sau Nguyễn Việt Tiến được miễn tố, coi như không có tội gì cả. Báo chí được lệnh ngưng bàn tán. Các lãnh tụ đảng Cộng Sản có thể xoa tay coi như giữa “anh em cả” đã thu xếp xong một “vụ việc đáng tiếc”. Mà chắc là dư luận sẽ quên thật. Mặc dù có hàng trăm tờ báo loan tin, với hàng ngàn bài báo tung ra những tin tức của các cuộc điều tra đang tiến hành, nhưng khi đảng cộng sản đã ra lệnh ngưng thì cả “bộ nhớ” của xã hội có thể bị xóa sạch, không ai nhắc đến vụ PMU 18 nữa.

Bây giờ, không hiểu tại sao chính những người trong đảng Cộng Sản lại làm cho vụ này được nhắc lại trong dư luận? Họ ra lệnh khởi tố hai ông Phạm Xuân Quắc và Ðinh Văn Huynh, cùng một lúc với hai nhà báo, Nguyễn Văn Hải (Tuổi Trẻ) và Nguyễn Việt Chiến (Thanh Niên). Những người này bị cáo buộc tội “lợi dụng chức vụ và quyền hạn” trong khi “thi hành công vụ!” Hai nhà báo bị đem ra đánh, 2 năm sau khi họ làm công việc điều tra và tường thuật vụ PMU 18. Ðây là một biện pháp trừng phạt những người muốn đi tìm sự thật, chúng ta có thể hiểu được. Nhưng tại sao lại truy tố cả hai tướng, tá công an?

Hai ông quan chức công an phải thi hành công vụ, tức là việc nhà nước giao cho; còn những nhà báo thì làm cái gì mà gọi là “công vụ?”. Chúng ta đặt câu hỏi như vậy vì quen sống trong những xã hội tự do, các nhà báo tự do đóng vai tư nhân, làm công việc thông tin, không ai “thi hành công vụ cả.” Trong xã hội cộng sản thì khác, các nhà báo đều là “công cụ” của đảng, ngay khi họ đi ngồi quán cà phê tán gẫu vả nghe lóm, họ cũng đang làm “công vụ” mà đảng trao phó. Nguyên một tội danh đó đã cho thấy bản chất của chế độ vẫn là “toàn trị.” Chế độ cộng sản vốn vẫn không công nhận một “lãnh vực tư.” Hồi xưa, ai có công việc làm đều là làm cho đảng và nhà nước. Ngày nay họ đã nới lỏng bớt đi nhưng trong bản chất vẫn theo chủ trương toàn trị.

Nhưng tại sao đảng Cộng Sản lại đem truy tố hai nhà báo nổi tiếng và được các đồng nghiệp kính trọng như vậy? Trong lúc này nhà nước đủ các khó khăn phải giải quyết; dân chúng đang lo thóc gạo, xăng dầu lên giá; chính quyền đang lúng túng đối phó với nạn lạm phát; nỗi bất mãn vì chênh lệch giầu nghèo ngày càng tăng; dân làng Mê Ðiền, tỉnh Bắc Giang đã công khai đánh lại công an để bảo vệ ruộng đất bị chiếm cho tư bản Ðài Loan làm sân cù. Chưa kể, các sinh viên, thanh niên đang uất hận vì tình trạng đảng cộng sản lệ thuộc Trung Quốc! Bấy nhiêu khó khăn cũng đủ nhức đầu rồi!

Như vậy, thì tại sao guồng máy tư pháp của đảng cộng sản lại tạo ra thêm một loạt những vụ án sôi nổi để gây thêm trong dư luận những phản ứng bất lợi cho chế độ?

Chúng ta chỉ có thể hiểu là họ bất chấp dư luận. Và họ muốn cho tất cả mọi người biết là họ bất chấp. Họ đã có kinh nghiệm rồi. Dư luận giới trí thức, văn nghệ và thanh niên đã từng sôi nổi về vụ Trung Cộng lập huyện Tam Sa để chính thức hóa việc chiếm Hoàng Sa. Nhưng dư luận có làm được gì không? Dư luận đã bất mãn về việc rước đuốc thế vận Bắc Kinh qua Sài Gòn. Nhưng không một người Việt Nam nào có khả năng biểu tình phản đối, trong khi các lực sĩ công an Trung Quốc ngang nhiên biểu tình ủng hộ ngay giữa Sài Gòn.

Với kinh nghiệm đó, giới lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam có thể bầy tỏ công khai là họ khinh thường dư luận. Không những họ đánh các nhà báo, họ đập thẳng vào mặt cả dư luận quốc dân Việt Nam. Ðể cho thấy chính họ là chủ nhân của đất nước này, quyền hành độc đoán của họ kiên cố, vững chãi, họ muốn làm gì cũng được! Việc đem hai nhà báo nổi tiếng chống tham nhũng ra truy tố cho thấy đảng Cộng Sản không sợ đối đầu với dư luận. Ngược lại, họ đánh hai nhà báo để làm gương cho tất cả các nhà báo khác, hãy biết giữ phận không được vượt qua những giới hạn mà đảng cho phép. Các nhà báo nhận được thông điệp này thì từ nay sẽ phải rụt rè hơn khi đụng tới các vấn đề “phức tạp” khác, như những vụ công dân mất đất khiếu kiện, vụ Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, vân vân.

Hai vị tướng tá công an cũng bị truy tố vì khi đưa các nhà báo ra tòa thì thế nào qua những lời khai báo nhiều công an cũng bị liên lụy vì tiết lộ tin tức. Và đó cũng là một lời cảnh cáo cho các tay công an khác, không nên hăng hái quá trong việc chống tham nhũng. Vì công tác quan trọng nhất của công an là bảo vệ chế độ. Nếu chế độ này nuôi tham nhũng thì công an phải bảo vệ tham nhũng. Việc truy tố hai tướng tá công an chứng tỏ ban lãnh đạo đảng cộng sản đã quyết định cánh nào thắng, phe nào bại trong những cuộc tranh chấp ở cấp cao nhất. Người ngoài không thể gọi đó là là một sự rạn nứt bên trong chế độ. Vì khi cần phải bảo vệ quyền lợi chung của những người đang nắm Trung Ương Ðảng và Bộ Chính Trị thì lúc nào họ cũng đoàn kết, “nhất trí” với nhau.

Nhưng việc tấn công hai nhà báo nổi tiếng cho thấy một khe nứt nằm phía dưới. Từ 20 năm nay, giới lãnh tụ đảng Cộng Sản có một bản hợp đồng với các cán bộ, đảng viên cấp dưới, hai bên ngầm hiểu cùng ngầm hiểu. Họ ban phát nhiều quyền lợi cho các thuộc hạ, từ quyền lợi kinh tế đến một số quyền tự do nho nhỏ mà các người dân khác không được hưởng. Những nhà kinh doanh, và nhiều nhà báo, thuộc thành phần nền tảng phía dưới của chế độ, đã được hưởng những thành quả của cuộc đổi mới kinh tế trong những năm qua. Báo chí được bán nhiều hơn, tiền thu về quảng cáo cao, tiền trà nước được hưởng khi hành nghề, tất cả đã biến các nhà báo thành những người vừa được sống khá giả lại vừa được tiếng là cấp tiến. Họ phải ý thức được là những quyền lợi đó họ được hưởng là do chế độ ban cho, không phải người dân nào cũng được hưởng. Do đó, họ phải ngầm hiểu việc bảo vệ chế độ là một bổn phận của họ. Ðó là một bản hợp đồng bất thành văn giữa đảng cộng sản và giới truyền thông, ngoài những mệnh lệnh trực tiếp từ cấp trên.

Nhưng nhiều nhà báo cũng là những người trí thức, biết suy nghĩ và có lương tâm. Không chế độ chính trị nào hủy diệt được lương tâm con người. Chính vì vậy, một phong trào phản kháng âm ỉ đang phát sinh trong giới trí thức, văn nghệ và báo chí ở Việt Nam. Vết rạn nứt đã bắt đầu khi các nhà báo được hưởng chút tự do nào thì tận dụng những quyền tự do bị hạn chế đó. Các ông Nguyễn Văn Hải, Việt Chiến đã quá yêu nghề, yêu tự do, và cố làm theo lương tâm chức nghiệp. Những nhà báo tự do như ông Ðiếu Cầy cũng muốn đóng góp vào sự tiến bộ của nghề nghiệp và của xã hội. Vết rạn nứt này có triển vọng sẽ lan rộng và sâu hơn, có thể xóa bỏ bản hợp đồng ngầm với đảng Cộng Sản.

Ðó là lý do khiến ban lãnh đạo cộng sản ở Việt Nam phải ra tay. Nguyễn Tấn Dũng đã nhiều lần nhắc nhở các giới hạn mà đảng cộng sản đặt ra cho báo chí. Báo chí phải đi theo đường một chiều, không được chệch hướng! Nhưng việc bắt hai nhà báo ra tòa về tội “lợi dụng chức vụ” là đòn đánh mạnh nhất để “đập vào mặt” báo chí và tất cả những người nghĩ rằng có thể đòi được thêm một số quyền tự do căn bản cho các công dân Việt Nam. Ðảng cộng sản đang xác định lại vai trò chủ nhân của họ. Nhưng vết rạn nứt trong nền tảng của chế độ có thể vỡ toang ra, gây nên một cuộc khủng hoảng về tín nhiệm. Nếu nỗi phẫn uất của những người bị trị nổ bùng lên thì chế độ có thể sụp đổ. Nhưng nếu guồng máy công an đủ mạnh thì người dân sẽ cúi đầu chịu lép một lần nữa. Chúng ta phải chờ coi những thanh niên trí thức Việt Nam sẽ chịu lép cho tới bao giờ.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tương Quan Giữa Văn Hóa Và Chính Trị

Tác giả: Đinh Lâm Thanh

Gần đây nhiều nhà trí thức cũng như một vài tổ chức văn học nghệ thuật chủ trương rằng, hoạt động văn hóa phải hoàn toàn tách khỏi môi trường chính trị. Một điều đáng chú ý là nhiều diễn đàn, hội văn hóa thường lên tiếng cổ võ vấn đề nầy rập theo luận điệu tuyên truyền ru ngủ của nghị quyết 36.

Trong thời bình và dưới ảnh hưởng tự do dân chủ của một quốc gia đã có sẵn nền tảng văn minh vững chắc, đôi lúc cũng không thể tách chính trị và văn hóa ra làm hai lãnh vực riêng biệt hoặc đối đầu lẫn nhau. Nếu so với hiện tình của một đất nước cai trị bởi Cộng sản và dân tộc bị phân hóa làm hai như tình trạng Việt Nam và cộng đồng chúng ta hiện nay thì vấn đề càng không thể xảy ra.

Hai lãnh vực văn hóa và chính trị, bất luận dưới thời nào cũng phải được kết hợp, dung hòa đồng thời bổ túc lẫn nhau để đưa đời sống con người đến Chân Thiện Mỹ (Nhân bản, Tự do) hoặc phục vụ tối đa cho quyền lực phe nhóm đảng phái (Quân phiệt, Cộng sản).

Vậy dựa vào chế độ chính trị để làm nền tảng phát triển văn hóa, hay dùng văn hóa để cải tạo và xây dựng chế độ ?

Dù hiểu cách nào thì văn hóa và chính trị là hai hành động lúc nào cũng phải liên quan mật thiết với nhau. Đất lành sinh trái ngọt hoặc nói ngược lại, cây tốt khó mọc từ bùn dơ. Vậy chế độ chính trị tốt tự nhiên sẽ nẩy sinh một nền văn hóa tự do nhân bản và ngược lai một nền văn hóa nô bộc chắc chắn sẽ giúp chế độ càng ngày càng thêm độc tài thối nát. Điều nầy có thể chứng minh hai lãnh vực chế độ và chính trị đều liên hệ mật thiết với nhau. Do đó không thể kết luận, văn hóa phải tách khỏi ảnh hưởng của chính trị.

Trước khi đề cập đến hai nền văn hóa riêng biệt cũng như hai khuynh hướng chính trị đối lập của Việt Nam tại quốc nội cũng như người Việt Quốc Gia hải ngoại, xin quý vị đừng đơn giản hóa và đóng khung hai danh từ "văn hóa" cũng như "chính trị" trong một nghĩa hạn hẹp, mà đề nghị một hướng nhìn bao quát rộng lớn hơn.

Không thể hạn chế nền văn hóa của một dân tộc vỏn vẹn chỉ nằm trong phạm vi văn chương, ngôn ngữ và nghệ thuật mà cần phải đề cập đến truyền thống, phong tục tập quán, tôn giáo, y phục, ẩm thực… Cũng vậy, đối với hành động chính trị, không nên gò bó bằng những hình thức bên ngoài, hội họp, xuống đường hô hào mà phải nghĩ đến những mục đích tối hậu của các hành động trên. Vậy để được khách quan, cần nghiên cứu nhiều chi tiết và lãnh vực khác nhau trong đường hướng phục vụ đời sống tinh thần lẫn vật chất của con người để những người làm chính trị có một lối nhìn bao quát hơn. Ngoài ra cũng nên tìm hiểu những hành động chính trị một cách rộng rãi trong các chương trình tranh đấu, xây dựng, bảo vệ lý tưởng, sự toàn vẹn quê hương và hạnh phúc của nhân dân Việt Nam để những suy nghĩ của người làm văn hóa khỏi bị lệch lạc.

Nói đến văn hóa và chính trị của Việt Nam trước và sau 1975 cũng như trong và ngoài nước thì thật không đơn giản. Từ việc thay đổi chế độ trong nước rồi nền văn hóa đỏ ra đời, đến môi trường tự do với các phong trào cách mạng đời sống Âu-Mỹ và việc bảo vệ văn hóa cổ truyền ở hải ngoại, là những ưu tư của những người hằng quan tâm đến vận nước và gia tài văn hóa dân tộc.

Chúng ta không thể khách quan xem việc bảo tồn văn hóa Việt Nam một cách đơn giải như dưới thời bình và trong một chế độ tự do dân chủ, vì nền văn hóa của tổ tiên để lại đã bị đổi chiều trong quốc nội và đang bị phá sản tại hải ngoại. Việc bảo tồn văn hóa của chúng ta không thuận buồm xuôi gió mà phải đương đầu trực diện trước một cuộc chiến khốc liệt, không ranh giới, không quy ước. Đó là cuộc chiến ý thức hệ giữa Tự Do và Cộng Sản mà văn hóa chính là vũ khí của chiến trường để đối đầu với nhau.

Nếu xét về lượng, trận chiến hiện nay giữa ta và địch không cân xứng cả chính trị lẫn văn hóa. Cộng sản đã dốc toàn lực, như một kẻ liều mạng, để ăn thua đủ trong giai đoạn quyết liệt một mất một còn với chúng ta. Hà Nội đã tung hết khả năng, từ vật lực đến nhân lực, đánh một lượt hai mặt chính trị lẫn văn hóa vào cộng đồng người Việt Quốc Gia. Chúng đã xử dụng môi trường văn hóa làm bàn đạp cho thế chính trị, hai mặt trận phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ với nhau. Cộng đồng chúng ta trong thế bị động và chỉ có chống đỡ. Lượng đã yếu mà còn bị một số trí thức, nhiều tổ chức hải ngoại kêu gọi loại bỏ yếu tố chính trị ra ngoài chương trình phát triển và bảo tồn văn hóa là một điều bất lợi cho công cuộc tranh đấu hiện nay. Nếu chúng ta thiếu lý tưởng không có tinh thần để chống đỡ, bảo tồn và phát triển văn hóa cổ truyền dân tộc Việt Nam thì xem như chưa đánh đã thua ! Trước một đối thủ dư thừa nhân-vật-lực cộng thêm những thủ đoạn tráo trở gian manh, nếu chúng ta không sức, thiếu khả năng và sáng suốt thì chắc chắn chúng ta sẽ đi vào con đường hỏa mù mà kẻ thù đã giăng ra.

Không thể thuần túy và đơn giản kêu gọi giới trẻ theo học tiếng Việt, nghe một buổi thuyềt trình hay đọc vài cuốn sách là xong việc bảo tồn và phát triển văn hóa như chương trình của một vài tổ chức đề ra. Nếu chỉ có thế thì không khác gì chúng ta mời giới trẻ đến xem một cuộc triển lãm, nghe một chương trình ca nhạc xong rồi ai về nhà nấy. Như vậy làm văn hóa trong tình hình chính trị hiện nay thì chẳng đi đến đâu mà còn đem lại một kết quả ngược chiều. Điều quan trọng là phải biết tạo cho mọi người, nhất là thành phần trẻ có một tinh thần yêu nước, biết đâu là nguồn gốc dân tộc, đâu là lịch sử oai hùng, đâu là di sản của tổ tiên. Phải làm thế nào cho thế hệ trẻ hiểu được nỗi khổ tâm kẻ ra đi cũng như cảm thông thân phận của người ở lại, phải biết đâu là chính nghĩa, đâu là con đường phải tiến tới để mai kia quay về phục vụ quê hương.

Trước các chương trình đầu độc ru ngủ qua văn hóa của Cộng sản, chúng ta cũng phải mượn con đường chính trị để phát huy tính chất nhân bản chống lại văn hóa vô sản, dùng tôn giáo đối đầu văn hóa vô thần, lấy tình người cãi tạo văn hóa loài thú !

Trong lúc địch ru ngủ chúng ta bằng văn hóa đỏ mà những người trong cộng đồng làm văn hóa bằng hình thụ động, chống đỡ hoặc chạy theo chiêu bài "loại chính trị ra khỏi văn hóa", thì không khác gì chưa ra trận chúng ta đã đầu hàng vô điều kiện. Tóm lại trong hoàn cảnh hiện tại chúng ta không thể tách rời "chiến tranh văn hóa" ra khỏi "chiến tranh chính trị". Hai mặt trận phải song song hổ trợ cho nhau để đối đầu với Cộng sản khi chúng dùng văn hóa để phục vụ mưu đồ chính trị bất chánh. Nếu chúng ta muốn bảo tồn văn hóa nhân bản mà loại hẳn vấn đề chính trị ra ngoài thì lấy gì làm căn bản cho trận chiến không biên giới ngày nay ?

Xin ghi nhớ, chúng ta là những chiến sĩ trong cuộc chiến giữa hai nền văn hóa nhân bản và văn hóa vô sản. Kẻ thù với khả năng dư thừa sẵn có, chúng đang lấn áp chúng ta trên mọi lãnh vực. Nếu những nhà làm văn hóa không tiếp tay với Cộng đồng Người Việt Quốc Gia thì xin im lặng, đừng lên tiếng đòi hỏi loại bỏ yếu tố chính trị ra ngoài vòng chiến, vì thái độ và hành động nầy không khác gì việc nối giáo cho giặc, phá hoại công cuộc tranh đấu chung của toàn thể dân tộc Việt Nam hiện nay.

Paris, 15.5.2008
Đinh Lâm Thanh

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Bài học quí giá cho Báo Chí, Quân Đội và Công An CSVN
Tác giả: Nam Nguyen


Hơn 60 năm bị nhồi sọ nên thấm nhuần tư tưởng người Cộng Sản. Nhiều thế hệ đã đem hết cuộc đời ra phục vụ cho CNXH. Cho dù phải chết, cho dù phải làm trâu ngựa, cho dù làm dã thú không có lương tâm con người hay làm hình người dạ thú để bảo vệ cái gọi là XHCN. Từng thế hệ bị biến thành những cái máy biết ăn và những khúc gỗ biết nói vì tư duy của một con người hoàn toàn bị đảng cộng sản khống chế và điều khiển. Từ trung ương cho đến địa phương đều một giọng điệu: tất cả vì “Bác và Đảng”. Họ đã mù quáng và ngu trung với tập đoàn ác nhân bội bạc là đảng cộng sản việt nam.


Ngày xưa có câu chuyện: Người thợ săn và con chó, khi con chó không còn săn được mồi thì người thợ săn phải biết ăn thịt chó. Con chó vẫn trung thành với chủ nhưng người chủ vẫn bình thản giết con chó để ăn thịt …
Khi nhắc đến Quân đội Nhân Dân Việt Nam, không ai nổi danh bằng Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, người hùng Điện Biên Phủ. Ngay cả thế giới cũng biết tiếng tướng Giáp. Cả đời nghĩ là đã gắn bó, vào sinh ra tử cho đảng CSVN, vinh dự và tự hào là người trung kiên với đảng. Một thời oanh liệt trong cuộc cải cách ruộng đất, ở ngôi vị trong bộ chính trị đồng tình với cách giết người dã man của hạ thuộc. Đường hoạn lộ lên như diều, oai phong lẫm liệt. Nào ngờ đâu con chó trung thành cũng đã đến lúc bị chủ nhân ăn thịt, từ một danh tướng lừng lẫy oai phong được đảng điều sang làm “Tổng tư lệnh kế hoạch sinh đẻ”.

Dân gian ca rằng:
Ngày xưa Đại Tướng cầm quân.
Ngày nay Đại tướng cầm quần chị em…

Nhưng có người tếu lâm hơn nên họ ca rằng:

Ngày xưa trấn thủ lưu đồn.
Ngày nay Đại Tướng bịt l… chị em.

Oai phong bao năm, trung thành với đảng cộng sản bao năm, nghe theo lời đảng làm biết bao nhiêu điều oan nghiệt cho dân tộc, cuối cùng đã được ban cho một ân sủng tàn tệ nhất. Bài học đau xót cả một đời đi theo “Bác và Đảng”, làm biết bao nhiêu chuyên trái với lương tâm, đạo lý của một con người, giờ đây bừng tỉnh thì đã muộn rồi. Đại Tướng trở thành con vật tế thần. Các vị tướng lãnh và các bộ đội của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, hãy học lấy bài học của Đại Tướng Giáp mà suy gẫm và đánh giá lại niềm tin và lòng trung thành với đảng CSVN. Ở chung với đảng CSVN giống như sống chung với lang sói, không biết nó ăn thịt lúc nào. Hãy suy nghĩ mà hành động …nhân dân đang chờ.


Ở Việt Nam không ai xa lạ với uy danh của Thiếu Tướng Phạm Xuân Quắc. Một người hùng trong giới điều tra hình sự. Một lời nhỏ nhẹ của vị Tướng công an này cũng khiến cho nhiều người dở sống dở chết. Có thể nói là thét ra lửa, uy quyền bao la, dân chúng nghe đến tên cũng phải nể mặt. Một lòng trung thành với “Bác và Đảng”, Tướng Quắc ngu trung tột cùng, chỉ cần có lệnh đảng là xua đoàn quân an ninh dẫm nát lòng dân, tra khảo và đày đoạ tù nhân không thương xót. Làm công an không phải như quân đội ra trận mạc lập chiến công lên chức mà là đàn áp dân lành, trấn áp làm cho người dân phải khiếp nhược phục tùng đảng. Giam cầm đày đoạ người dân để lãnh công với đảng. Do đó lên được đến hàng Tướng lãnh của công an thì cũng đã làm không biết bao nhiêu người điêu đứng. Nhưng đến khi đảng không còn xài nữa thì Thiếu Tướng cũng phải chịu số phận làm con vật tế thần. Từ xưa đến nay, Thiếu Tướng chỉ có điều tra hạch hỏi người ta, nên Thiếu Tướng không biết được cảm giác của người bị truy tố, bị điều tra hỏi cung… Luật bù trừ, nhân quả là gieo giống nào ăn quả đó. Cả đời ngu trung với đảng CSVN thì giờ đây phải sáng mắt và trả giá cái ngu trung mà bản thân Thiếu Tướng đã gây ra.

Ngưòi ta ca rằng:

Ngày xưa hạch hỏi oai phong
Ngày nay Thiếu Tướng phủi mông thở dài

Trong dân gian có câu: hãy “phủi mông” mà chờ ngồi tù…

Các vị tướng và chiến sĩ công an nhân dân hãy lấy bài học của Tướng Quắc mà suy gẫm, đánh giá lại niềm tin và lòng trung thành với đảng CSVN. Ở chung với đảng CSVN giống như sống chung với bầy mãnh thú, không biết nó sẽ ăn thịt lúc nào. Bài học của Tướng Quắc là một bài học điển hình và quí giá. Hãy đứng về phía đồng bào, đừng bảo vệ và nghe theo đảng CSVN mà đàn áp dân ta.

Ở Việt Nam có trên 600 tờ báo. Lượng thông tin hàng ngày được copy, nháy lại, xào nấu đến nhuyễn nhừ. Nhưng tất cả trên 600 tờ báo phải viết theo ý đảng. Phải đi đúng lề bên phải, cho dù viết sai với sự thật, bẻ cong ngòi bút, nhắm mắt viết trái với lương tâm người cầm bút, miễn sao đảng vừa lòng là được. Đảng đàn áp dân, thì phải theo ý đảng viết là dân chống đảng. Đảng ăn cướp tài sản của dân thì phải viết là dân ngoan cố …



Nhưng khi Trung Cộng xâm chiếm lãnh thổ thì đảng “bịt miệng, bẻ tay” không cho viết thì không ai dám viết một chữ. Bốn chữ “tự do ngôn luận” đã bị người dân quên mất, không biết đánh vần vì đã mấy chục năm rồi không ai dám nhắc đến. Vụ PMU-18 do 2 nhà báo Nguyễn Viết Chiến và Nguyễn Văn Hải viết báo và được đưa lên báo xem như thời sự nóng bỏng lúc bấy giờ. Hai nhà báo này được xem như người hùng thực hiện theo chủ trương của đảng và chính phủ là “chống tham nhũng”. Họ luôn luôn nghĩ rằng họ đang thực hiện theo chỉ thị của đảng, nên rất hăng say đem hết năng lực và sở trường của mình ngỏ hầu cống hiến cho đọc giả những bản tin nóng bỏng với đầy đủ tình tiết ly kỳ hấp dẫn.




Xã thân vào đại cuộc chống tham nhũng để bảo vệ uy tín cho đảng. Những bài báo của họ quả là có tác dụng đáng kể, nhiều cán bộ đảng viên cao cấp phải mất chức, bị bắt ở tù. Họ cảm thấy vui sướng trước những thành tích chống tham nhũng. Nhưng họ quên rằng, chỉ thị của đảng chống tham nhũng là mỵ dân, là đánh lừa dư luận, là bịp bợm để xoa diệu lòng phẩn uất của người dân. Họ đã bứt dây động rừng, vì vậy họ đành làm vật tế thần, chính lòng ngu trung của họ với đảng CSVN đã làm hại và đưa họ vào vòng lao lý, mà chính đảng đã ra lệnh bắt giam họ. Suốt đời của họ chỉ biết nghe theo lệnh đảng, làm theo lệnh đảng, tư tưởng cũng theo sự sắp xếp và chỉ đạo của đảng. Cho dù ý họ khác ý đảng nhưng họ cũng không dám làm trái, vì sợ đảng nghi ngờ lòng trung thành. Giờ đây trong lao ly, họ gác tay lên trán để suy gẫm và tự hỏi lòng mình: Lòng trung thành với đảng giờ đây được cái gì? Trả lời:”Là lao lý và thấu hiểu lòng bất nhân của đảng CSVN”. Một bài học quá quí giá và phải trả một giá quá đắt phải không? Có lẽ họ đang khóc vì hối hận hay vì căm hận ... Những giọt nước mắt này thật là có giá trị vì nó là những giọt nước mắt của nạn nhân của chế độ cộng sản, của những người đã thức tỉnh với chế độ cộng sản.


Cả một bộ máy truyền thông báo chí phải trung thành tuyệt đối với đảng, một bộ máy với những con người phải “đui, điếc, câm” bán rẻ cả luơng tâm người cầm bút để bày tỏ lòng trung thành tuyệt đối với đảng CSVN. Họ cũng giống như những con cá nằm trong chậu, đảng vui thì để cho bơi lội trong “chậu” như cá cảnh, khi muốn ăn thịt thì đảng bắt bỏ vào rọ đập đầu làm thịt. Ngòi bút bị bẻ cong thì không xứng đáng lương tâm của người cầm bút, lòng trung thành của kẻ sĩ là trung thành với quốc gia dân tộc, khi quốc gia bị xâm phạm thì người làm báo phải loan truyền đến hang cùng ngỏ hẻm để toàn dân đều biết tình hình của quốc gia. Khi dân bị cường quyền hà hiếp thì phải đứng trên công lý mà vạch trần lên án kẻ mạnh hiếp thế cô. Cái dũng của người làm báo là dùng ngòi bút đâm gian tặc bút chẳng tà. Chứ không phải đội ngũ ký giả của 600 tờ báo ngu trung theo đảng, bênh vực và bảo vệ đảng. Để rồi khi cần hy sinh thì đảng đem vài người ngu trung ấy đưa lên đoạn đầu đài để tế thần nhằm làm xì hơi cái bong bóng căng thẳng trong nội bộ của các thế lực tranh quyền ở thựợng tầng kiến trúc.


Bài học của 2 ký giả Nguyễn việt Chiến và Nguyễn văn Hải là một điển hình, để đội ngũ ký giả của hơn 600 tờ bào cần phải suy gẫm lại niềm tin và lòng trung thành với đảng CSVN. Ở chung với đảng CSVN như ở chung với loài thú dử, không biết nó sẽ ăn thịt lúc nào. Hãy mạnh dạn đòi quyền tự do ngôn luận và bất hợp tác đồng thời vạch trần bộ mặt gian trá của đảng CSVN cho đồng bào và thế giới biết.


Dân gian ca rằng:
Mấy nhà báo đảng lao xao
Văn chương thì ít, tào lao thì nhiều.

Hãy nhập cuộc với đồng bào để đòi đảng CSVN trao lại quyền dân tộc tự quyết. Đảng CSVN đã làm cho đất nước băng hoại, đã chiếm đoạt quyền tự do của người Việt Nam. Đừng ngu trung mà bảo vệ tập đoàn hại dân bán nước, đừng dùng vũ lực đàn áp đồng bào. Hãy đứng về phía đồng bào để thay đổi vận mạng của đất nước.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Chính trị hóa một đại lễ tôn giáo !!
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 51
Các chế độ độc tài từng xuất hiện trên thế giới như quốc xã Đức, phát xít Ý, quân phiệt Miến, Nhật… thường chỉ thi thố quyền lực độc tôn trên phương diện kinh tế và chính trị. Riêng chế độ độc tài Cộng sản có cái đặc biệt là toàn trị, nghĩa là muốn thống trị con người và xã hội trên toàn thể mọi phương diện, kể cả phương diện văn hóa và tinh thần. Đây là một chế độ, ngoài việc định hình lại cơ cấu kinh tế và chính trị của một quốc gia, còn muốn định hình lại chiều hướng văn hóa và tinh thần của toàn xã hội. Bởi lẽ cái học thuyết làm linh hồn cho nó vừa mang tính chính trị (cộng đảng độc tôn), vừa mang tính kinh tế (nhà nước sở hữu), lại vừa mang tính triết lý (vô thần duy vật). Lênin, thiên tài tội ác bậc thầy, đã thấy rõ đảng CS cần phải nắm trong tay không những quốc hội, pháp viện, chính phủ, công an, quân đội, truyền thông (điều này dễ dàng một khi đảng đã thâu tóm quyền lực), mà còn phải khống chế cho được các lực lượng làm nên văn hóa và tinh thần của xã hội là giới trí thức và giới tu sĩ, có thế mới giữ được quyền lực lâu dài. Ban đầu, CS đã đàn áp dã man giới trí thức (chiến dịch Trăm hoa đua nở bên Trung Quốc và vụ án Nhân văn Giai phẩm tại VN là những ví dụ), và tiêu diệt giới tu sĩ của mọi tôn giáo (sách lược vô thần hóa trong mọi nước CS từ trước tới nay đã gây nên cái chết cho hàng triệu linh mục, mục sư, sư sãi…). Nhưng rồi, CS đã thấy hai giới làm nên đầu óc, trái tim, tinh thần của xã hội ấy không thể nào đàn áp hay tiêu diệt nổi, bèn nghĩ ra một kế sách khác: công cụ hóa! Đối với giới trí thức thì lùa vào các Hội trí thức, Hội nhà văn, Hội nhà báo, Hội nghệ sĩ… Đối với giới tu sĩ thì lùa vào Mặt trận Tổ quốc, Ủy ban đoàn kết, hay cho đông đảo hơn nữa là lùa vào các giáo hội do Nhà nước thành lập bên cạnh các Giáo hội chính truyền mà liền đó bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Thành ra trong chế độ CS, chẳng có lực lượng nào mà không bị đảng CS dùng mọi cách công cụ hóa cho bằng được!

Tại VN, hầu như ai cũng biết Giáo Hội Phật Giáo VN đã được nhà nước CS thành lập ngày 04-11-1981 từ đề án “Thống nhất Phật giáo” do ông Đỗ Trung Hiếu, một cán bộ cộng sản cao cấp thực hiện theo mệnh lệnh của Xuân Thủy, Nguyễn Văn Linh và Trần Quốc Hoàn. Chính nhân vật này, sau khi phản tỉnh, “hồi đầu thị ngạn”, đã thuật lại tất cả những âm mưu biến Giáo Hội Phật Giáo thành một công cụ cho đảng và nhà nước. Ông cho biết: “Nội dung đề án là biến hoàn toàn Phật Giáo VN thành một hội đoàn quần chúng. Còn thấp hơn hội đoàn, vì chỉ có tăng, ni, không có Phật tử; chỉ có tổ chức bên trên, không có tổ chức bên dưới, tên gọi là Giáo Hội Phật Giáo VN… Nội dung hoạt động là lo việc cúng bái chùa chiền, không có hoạt động gì liên quan tới quần chúng và xã hội… Cuộc thống nhất Phật Giáo lần này bên ngoài là do các hòa thượng gánh vác, nhưng bên trong bàn tay đảng CSVN xuyên suốt qúa trình thống nhất để nắm và biến tướng Phật giáo VN trở thành một tổ chức bù nhìn của đảng” (trích theo Võ Văn Ái, Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, Paris) .

Đã từ lâu, Giáo hội Phật giáo công cụ quốc doanh này chẳng làm nên trò trống gì cho đạo pháp (y như mọi Giáo hội quốc doanh và Ủy ban Đoàn kết quốc doanh khác), chẳng che chắn nổi cho tên hộ pháp đồ tể đằng sau lưng mình đang bóp cổ đồng đạo của mình. Nhà cầm quyền CSVN vẫn nức tiếng là một trong 11 nhà nước đàn áp tôn giáo dữ dội nhất thế giới theo đánh giá của Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ hôm 02-05-2008 ở Washington. Uỷ hội cho biết tình trạng tự do tôn giáo ở Việt Nam năm qua vẫn tệ hại. Số tín đồ bị trù dập tuy có giảm nhưng các hành động sách nhiễu, bắt bớ, giam cầm, trừng phạt vẫn thường xuyên diễn ra, cho thấy nhà cầm quyền tiếp tục giới hạn tự do tôn giáo của dân chúng; và như thế VN đáng bị đặt vào lại danh sách “Các nước cần quan tâm đặc biệt - CPC” (theo bản tin RFA ngày 02-05-08).

Để bộ mặt mình bớt lem luốc và bàn tay mình bớt vết máu, nhà cầm quyền CS năm nay đã đăng cai tổ chức đại lễ Vesak của Liên Hiệp quốc. Trang mạng Báo điện tử Đảng CSVN ngày 29-11-2007 đã giới thiệu việc này qua bài viết “Một minh chứng cho chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam”, với dòng mở đầu như sau: “Việc đăng cai tổ chức Đại lễ Vesak Liên Hiệp quốc 2008 tại Việt Nam thể hiện đường lối đối ngoại rộng mở, chính sách tôn giáo đúng đắn của Nhà nước Việt Nam, đề cao vị thế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, góp phần đấu tranh có hiệu quả với các thế lực thiếu thiện chí với Việt Nam lợi dụng vấn đề nhân quyền, tự do tôn giáo để chống phá sự nghiệp xây dựng đất nước”. Tức là đăng cai tổ chức đại lễ Vesak LHQ để chống lại bất cứ ai khác biệt chính kiến với đảng, ở cả VN lẫn nước ngoài. Điều phối đại lễ là ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng ban Tôn giáo nhà nước. Cầm đầu các tiểu ban Tuyên truyền, An ninh, Tài chánh, Hậu cần cũng là các cơ quan nhà nước. Đọc diễn văn bế mạc là Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng và khai mạc đại lễ là Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước! Toàn là nhà nước cả! Thật diễm phúc cho Giáo hội Phật giáo VN !?! Bài báo trên kết luận: “Trong xu thế hội nhập quốc tế, bối cảnh Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, là Uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc làm cho vị thế Việt Nam ngày thêm vững mạnh. Đây là một duyên lành cho GHPGVN có cơ duyên giao lưu, trao đổi với các Giáo hội Phật giáo và Tăng già trên toàn thế giới, gắn kết tình thân hữu với bạn bè Phật giáo quốc tế…”. Tức là để xác định “công đức” của đảng CSVN trong tiến trình hội nhập với thế giới và giới thiệu Giáo hội Phật giáo quốc doanh với các Giáo hội Phật giáo và Tăng Già toàn cầu. Trên trang mạng Đàm Thoại Phật Giáo, thượng tọa Thích Nhật Từ (Tổng Thư ký Ủy ban Tổ chức) còn giải thích thêm về ý nghĩa việc tổ chức đại lễ Vesak như sau: “Đây là cơ hội quý báu nhất để thiết lập sự hiểu biết, cảm thông, hợp tác và tháo mở tất cả các gút kết giữa các GHPG của cộng đồng Việt kiều trên khắp thế giới đối với Chính phủ Việt Nam và GHPGVN” (www.damthoaiphatgiao.net/). Tức là nhằm thu gom các GHPG “ngoài luồng” về nhập chung một mối dưới bảng hiệu Mặt trận Tổ quốc và cây gậy Chính Phủ VN. Bất kể những gút mắc về cuộc ám sát Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, Hòa thượng Thích Thiện Minh. Bất kể những dàn dựng để phân hóa Phật giáo và Công giáo suốt nhiều thập kỷ, gần nhất là sự kiện đất đai của Tòa Khâm Sứ và Nhà thờ lớn Hà Nội. Bất kể việc quản chế ngặt nghèo hai vị lãnh đạo cao cấp nhất của Giáo hội PGVNTN là Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Viện trưởng Viện Hóa Đạo Thích Quảng Độ. Nghĩa là nhà nước CSVN muốn tổ chức đại lễ Vesak thật linh đình nhắm mục đích tuyên truyền trong khi vẫn tiếp tục đàn áp Phật giáo và các tôn giáo khác.

Thành thử chẳng lạ gì mà Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch), ngày 08-05-2008, đã ra một thông cáo tố giác sự gian dối này. Bà Elaine Pearson, Phó Giám đốc Phân bộ Mỹ của Tổ chức đã tuyên bố: “Thật là một trò đùa khi Việt Nam tổ chức một đại lễ Phật Đản quốc tế trọng đại đang lúc quốc sách của họ vẫn là kiểm soát chính trị tất cả các tổ chức tôn giáo. Việt Nam vẫn tiếp tục nhốt tù, trấn áp các Phật tử, tu sĩ Phật giáo cũng như các tu sĩ và tín hữu các tôn giáo khác một cách có hệ thống”. Thành thử chẳng lạ gì mà Hòa thượng Quảng Độ, trong Thông bạch Phật Đản Phật lịch 2552 ngày 18-4-2008, đã viết: “Đối với ngày lễ Phật Đản Vesak năm 2008 của Liên Hiệp Quốc mà Nhà cầm quyền Cộng sản Hà Nội đăng cai tổ chức tại Hà Nội, chúng tôi nhận định rằng:… CSVN có thương gì các tôn giáo đâu ! Có thương gì Phật giáo đâu ? Lợi dụng được thì làm bàn đạp tiến thân và tồn tại; không lợi dụng được thì “đào”, thì “tróc”. Đó là bản chất cố hữu của CSVN… Hơn 30 năm qua, sau ngày cưỡng chiếm miền Nam, CSVN đã gây ra không biết bao nhiêu điêu linh thống khổ cho dân tộc. Cùng chung vận nạn với toàn dân, Giáo Hội PGVNTN cũng đã liên tục bị đàn áp, bức hiếp, hãm hại. Vậy mà nay Nhà cầm quyền CSVN lại bày trò đăng cai tổ chức lễ Phật đản Vesak 2008, chúng tôi không tin sự kiện này phát xuất từ cõi lòng chân thật của Cộng sản đối với Đức Phật, đối với Phật giáo, mà xuất phát từ động cơ chính trị, lợi dụng Phật đản để sơn phết bộ mặt yếu kém về tự do, dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo của CSVN trước đông đảo quan khách quốc tế đến tham dự Phật đản Vesak 2008 tại Hà nội… Từ suy nghĩ này, GHPGVNTN, trong hoàn cảnh đang bị CSVN truy quét, bức tử, sẽ không tham dự, cũng không cử đại biểu tham dự…”

Có kẻ cho rằng dầu sao thì qua đó, người CS cũng chứng tỏ mình bắt đầu quan tâm đến tôn giáo rồi đấy! Bằng chứng là từ hơn cả thập niên nay, cán bộ đảng viên đua nhau đi viếng các đền thiêng miếu thánh, xì xụp cúng vái, hậu hĩ dâng lễ, thậm chí còn lập bàn thờ tại cơ quan hay gia đình. Thật ra đấy chỉ là một thứ tôn giáo duy vật và duy lợi, nhằm 3 mục đích chính: mong thăng quan tiến chức, thoát bàn tay luật pháp nếu tham nhũng, khỏi dính căn bệnh thế kỷ sau lúc chơi bời. Ý thức tôn giáo biến tướng này còn diễn ra thành chủ trương thần thánh hóa Hồ Chí Minh, tên đại gian đại ác, kẻ đã giết biết bao nhà tu hành và phá sập biết bao thánh thất, nhà thờ, chùa miễu, đặt ông ta lên bàn thờ cùng với các anh hùng dân tộc và các giáo tổ lập đạo. Đại Nam Quốc tự ở Bình Dương, nơi có tượng Đức Phật, Vua Hùng và Hồ Chí Minh trên điện thờ là một bằng chứng.

Ngoài ra, đứng trước thứ tôn giáo quốc doanh, giáo hội nhà nước, chức sắc công cụ như nói trên, đứng trước sự kiện một đại lễ tôn giáo bị chính trị hóa như nói trên, hàng lãnh đạo các Giáo hội chính truyền lẽ ra cần phải có thái độ thận trọng, nếu không muốn nói là phải bất liên hệ. Thế nhưng, trong màn kịch khoác áo tôn giáo vĩ đại này, người ta vẫn thấy có Thư chúc mừng của một Giáo hội “bạn” với lời lẽ như sau: “Chúng tôi chung vui với Quý Vị vì năm nay đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc được tổ chức tại Việt Nam. Hi vọng qua đại lễ này tình đoàn kết giữa hai Giáo Hội càng thêm tốt đẹp để cùng nhau phục vụ hạnh phúc của đồng bào”. Phải chăng đây là do không biết, do ngộ nhận, hay “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”, “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”??

BAN BIÊN TẬP

Post Reply