Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Trào Lưu "Em Yêu Chị" Vô Cùng
Nhiều 9X chưa kịp trẻ đã bị gọi là “phi công trẻ” khi cặp kè cùng các "em" lớn hơn mình vài tuổi…

'Em yêu chị" có phải là một trào lưu?.

Với lối sống nhanh, vội và hiện đại, giới trẻ ngày nay thích nghi với trào lưu mới - "tình-chị-em" - rất dễ dàng. Nếu quay ngược thời gian về quá khứ 10 năm trước có vẻ còn lạ lẫm thì giờ đây những mối tình kiểu này là chuyện hoàn toàn bình thường, thậm chí còn mới lạ và hấp dẫn nhiều người.

Đa số người được hỏi cho rằng tình yêu “chị em” chỉ tồn tại khi không phải tiếng sét. Hai người chỉ có thể “chịu đựng” và “yêu thương” nhau sau quá trình bén duyên dài, tình cờ và tự nhiên.

Phương Chi, lớp 11 trường Việt Đức đang có tình ý với một “bạn” sinh năm 93 chia sẻ: “Hai đứa quen nhau tình cờ, qua bạn bè giới thiệu, mình đi ăn sinh nhật cô bạn và cũng là chị họ cậu ấy. Phải mất gần 2 tháng mới chấp nhận và thổ lộ tình cảm. Ở bên cậu ấy thấy rất hồn nhiên và yên tâm, thậm chí thấy 2 người hiểu nhau đến lạ. Chỉ có điều khi có khúc mắc thì dỗi rất lâu nhưng thường vẫn là cậu ấy chủ động làm lành trước!”.

Còn Quang Anh, một “phi công trẻ” học lớp 10 thú nhận: “Cơ bản tình cảm xuất phát từ những gì khó đoán bắt được trước. Nhìn mấy em cấp 2 chụp ảnh phồng mồm trợn má đôi lúc cũng thấy rung động nhưng quả thật không ở gần mấy em ý được. Tình tình quá trẻ con, đỏng đảnh mà mình lại chúa ghét mấy kiểu công chúa ấy.

Ngay khi gặp bạn gái hiện tại, mình đã có cảm giác bị cuốn hút, đơn giản vì sự dịu dàng và biết chăm sóc người khác của cô ấy. Sau này càng tìm hiểu càng thấy 2 người hợp nhau. Bọn mình đã được 3 tháng chính thức rồi, ban đầu bạn bè cũng lời ra tiếng vào nhưng dần cũng quen, còn vun vào ý chứ”.

Thiên hạ xì xào vẫn xì xào, thậm chí đến tai phụ huynh, tìm đủ mọi cách ngăn cấm nhưng họ vẫn cứ yêu, thậm chí không thoát khỏi nguyên lý càng khó khăn càng yêu nhiều và tha thiết. Người ngoài cuộc thì có những nhận xét bâng quơ: “Yêu chị hay yêu bạn cũng như nhau cả thôi. Thời buổi hiện giờ điều đó đâu còn quan trọng. Cả mấy chục năm trước, bà hơn tuổi ông, đến mẹ lại hơn bố, bây giờ con cái tiếp tục truyền thống cũng chẳng có gì mà ngăn cấm”.

Những chuyện tình này lại càng thành trào lưu khi các bộ phim gây sốt gần đây đề cập khá nhiều đến đề tài này như “Lời cầu hôn thứ 2, Nàng Kim Sam Soon, Mùa xuân của Dal-Ja…” hay sắp tới là “Chúc mừng tình yêu của đôi ta” với mối tình phải gọi là mẹ-con chứ không phải chị-em khi "nàng" là mẹ bạn và hơn chàng đến... 2 giáp.

Không thể phủ nhận tầm ảnh hưởng từ phim ảnh và thần tượng tới đời sống của teen là rất lớn. Nhưng điều đó cũng dễ dẫn đến những suy nghĩ sai lệch về tình yêu học trò.

Duy - cùng lớp với Quang Anh - cho biết: “Riêng mình tuy chưa có mảnh tình nào vắt vai nhưng lại không bao giờ tin chuyện tình chị em có thể kết thúc tốt đẹp. Không riêng gì Quang Anh, bạn mình phải có đến 4, 5 đứa yêu kiểu này, có đứa chấm dứt ở tháng thứ 6 vì bị đá, có đứa chán quá nói chia tay khi mới được chục ngày ngỏ lời”.

Nhiều người chọn yêu “chị gái” vì muốn đuổi kịp trào lưu, như thấy hoa khôi nào ưng mắt là tấn công ngay, cũng bài bản và giàu kinh nghiệm không thua kém các đàn anh. Cưa cẩm xong đi cùng nhau mấy hôm lại chán, rồi chia tay với lý do bị cai quản và chăm sóc còn hơn ở nhà! Dĩ nhiên, đó không phải là tất cả. Cũng có nhiều đôi đũa lệch đi cùng nhau tới đích cuối cùng nhưng số đông đều không giữ được những kỷ niệm đẹp sau khi "tạm biệt một cuộc tình”.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Những cánh bướm đêm trên đường phố Sài Gòn Image
Hai “bướm đêm” đang chạy xe máy lòng vòng để bắt khách. (Hình: của Văn Lang).


Image
Một tấm pa-nô cảnh cáo các tay chơi về sự nguy hiểm lây nhiễm bệnh HIV/AIDS trên đường phố Sài Gòn. (Hình: của Văn Lang)
Văn Lang


Một lần tôi chở người bạn già là Việt kiều từ Thủ Ðức về Sài Gòn bằng xe Honda (sau một chầu nhậu khá “đã đời” tại nhà người bạn), lúc đó đêm cũng đã khá khuya (sau lúc O giờ ).

Qua khỏi ngã tư Hàng Xanh một đoạn, đường khuya không còn đông như lúc ban ngày, nhưng đèn đường sáng và người qua lại bằng xe Honda trên đường cũng khá “lai rai”... Người bạn già của tôi thấy mấy cô gái áo dây hai mảnh, phóng xe tay ga ào ào qua mặt, đồng thời phơi tấm lưng trần “trắng nõn” thì lấy làm ngạc nhiên lắm, thắc mắc với tôi: Con gái nhà tử tế sao lại đi đêm đi hôm như thế?!”.

Tôi “cười ngất” mà “xin thưa” với anh rằng: “Ðó là những cánh bướm đêm của Sài Gòn đang hành nghề, kiếm khách đó anh à!”.

Anh bạn già của tôi càng thắc mắc:

- Sao nó thấy hai đứa mình mà chẳng chịu “tấp” vô chào mời chi cả?

Tôi lại cười “ngoác mồm” ra mà giải thích cho anh hiểu, rằng thì là:

- Tụi nó thấy anh râu tóc bạc phơ, tưởng là “tiên phong đạo cốt” như anh thì chắc là không màng tới gái, còn tôi đi xe “cà-mèng” chúng nó tưởng là dân chạy xe Honda ôm nên đâu có thèm chào mời chi anh?!.

Anh bạn già của tôi cười ngất, bảo rằng: “Chúng nó lầm!”...

Sở dĩ tôi “nhận diện” ra những “cánh bướm đêm” trên đường phố Sài Gòn là vì tôi cũng đã bị lầm mấy lần, rồi sau này tôi mới có “kinh nghiệm”...

Một lần, trời Sài Gòn vừa tắt nắng, đèn đường vừa lên (vào khoảng hơn 6 giờ chiều-tối). Tôi chạy xe Honda chầm chậm qua khu vực sân banh Ðạt Ðức (thuộc quận Gò Vấp), tính kiếm quán cà-phê vỉa hè làm ly nước cho mát. Chạy xe phía trước tôi là một cô gái còn rất trẻ, bận quần jeans áo thun (sát-nách) khoe dáng người thon thả, với mái tóc “thề” bay bay nhìn rất “bắt mắt”, nhìn cô có vẻ “tiểu thư con gái nhà giàu”.

Dĩ nhiên đàn ông ra đường thấy con gái trẻ đẹp ai mà chả ham nhìn (vì luật không cấm, mà “thuế” cũng không phải đóng) thì cứ nhìn “tới” đi chứ. Nhưng tôi cứ luôn dặn lòng: “Nhìn thì được nhưng mà ‘hy vọng’ thì đừng!”. Nào ngờ, thấy tôi nhìn nhìn “nàng tiểu thư” quay lại nở một nụ cười thật là tình tứ dễ thương, tôi vội cười đáp lễ, nhưng cứ nghĩ có khi mình... nằm mơ. Vì ai đời “giữa thanh thiên bạch nhật” này lại có một tiểu thư trẻ đẹp cười với cái thằng “kiết xác” là... tôi, cơ chứ?! Nhưng không ngờ cô nàng rà chiếc xe Honda (Dream) lại sát bên tôi và buông lời: “Ði chơi không anh?!”. Tôi nghe mà “chới với” thế là “tan tành” giấc mộng đẹp, vì dẫu biết khu này có nhiều bướm đêm hành nghề, nhưng tôi đâu có ngờ là trời còn sớm như thế mà đã có cô “xuống đường”. Tôi “ỡm ờ” hỏi cô gái trẻ đẹp về giá cả, có ta cho biết:

- Một “dù” là 200 ngàn, phòng ốc em lo!

Tôi làm bộ chê đắt, cô ta hỏi lại giọng chắc nịch: “Mà anh có định đi không?!” Tôi vội lắc đầu lấy lý do là trời còn sớm quá, tôi còn phải đi gặp... bạn. Cô gái vội quay đầu xe phóng ào đi một đoạn, rồi lại chạy chầm chậm tìm kiếm khách trên đường...

Nghe tôi kể chuyện bướm đêm giữa... ban ngày, một tay dân chơi cười ngất, hắn nói: “Tưởng gì, muốn tìm bướm đêm thì cứ ra khu vực Sở Thú, đoạn từ trước đài truyền hình ra tới cầu Thị Nghè, hoặc đoạn từ ngã tư Nguyễn Bỉnh Khiêm giao với Nguyễn Văn Thủ tới khu bùng binh hướng ra cầu Văn Thánh thì bướm đêm... bay đầy!”

Về chuyện giá cả và “phương thức giao dịch” thì tay dân chơi này ỡm ờ:

- Cứ ra đó “khảo giá” thì biết!

Ðoạn đường mà tay dân chơi cho biết thì tôi cũng đã mấy lần “đụng hàng”. Ðó là lần tôi đưa một người bạn về, lúc quay về ngang Sở Thú, trời mưa tôi chạy chậm, lúc đó mới khoảng 9 giờ tối, một cô gái phấn son chạy xe tay ga hiệu Spacy rà sát xe tôi và hỏi tôi có muốn đi vui vẻ không? Tôi hỏi địa điểm thì cô ta cho biết khách sạn cũng gần đó.

Lần khác, trời đã khuya, đưa bạn về xong tôi chạy xe ngang khu vực bùng binh mà tay dân chơi kia kể, thấy ba, bốn cô gái đi xe tay ga loại đắt tiền, vóc dáng rất tiểu thư, chạy xe dàn hàng ngang trên đường, vừa chạy xe vừa cầm điện thoại “a-lô”. Nhìn dáng vẻ của họ, tôi chẳng chút nghi ngờ chỉ nghĩ thầm trong bụng: “Mấy người đẹp ở đâu mà đi chơi khuya quá trời!” Nào ngờ, tôi vừa nhìn họ một cái thế là một em đã nhanh chóng “tách hàng” xáp lại và hỏi một câu “quen tai”: “Ði chơi không anh?!”...

Về phương thức hoạt động của các cánh bướm đêm thì một tay dân chơi cho biết. Ngoài các em hoạt động tại các nhà hàng, vũ trường, hiện nay phương thức dùng xe đắt tiền di chuyển trên những đoạn đường nhất định để bắt khách là khá phổ biến. Cách này có “ưu điểm” là có thể chạy theo “con mồi” tuy không có nhu cầu tìm gái mua vui nhưng thấy có người đẹp đi xe “hạng sang” rủ đi chơi thì cũng dễ “xiêu lòng”, hoặc khi gặp công an thì có thể nhanh chóng “tan hàng”, hoặc thả xe tà tà trên đường như khách đi đường công an cũng khó mà “vịn”...

Tôi quyết định thử đi tìm hiểu một phen xem sao. Khoảng gần chín giờ tối, trời mưa lất phất tôi chạy xe Honda qua phía cầu Thạch Lộc (cây cầu giáp ranh quận Gò Vấp và quận 12). Mới tới bên đây cầu đã thấy mấy cô từ bên kia cầu nháo nhác phóng qua. Tôi nhìn ra phía xa, hình như có tín hiệu của xe công an đi tuần, nhưng chiếc xe không qua bên đây cầu nên sau đó các cô lại quay về “vị trí” cũ.

Ðây cũng là một phương thức hoạt động của giới giang hồ Sài Gòn, thường chọn vị trí giáp ranh giữa hai quận hoặc hai phường và khi có động tĩnh gì thì chạy qua lằn ranh phía bên kia. Thế là công an tuần tra của quận hoặc phường đành thôi vì họ chỉ đi tuần trong phạm vi của họ trừ khi có chiến dịch liên phường, hoặc liên quận mà chuyện này ít khi xảy ra... Về chuyện này một anh bạn Việt kiều cho biết, bên Mỹ khi cảnh sát rượt đuổi tội phạm mà xe tội phạm sắp vượt qua lằn ranh của tiểu bang thì cảnh sát sẽ điện báo trước cho cảnh sát của tiểu bang bên kia chờ sẵn khi xe tội phạm vượt qua “biên ải” thì đã có lực lượng “chào đón” và cuộc rượt đuổi như xi-nê lại bắt đầu...

Quay trở lại khu sân banh Ðạt Ðức, gặp một bướm đêm đứng đường tại đây, hỏi thăm cô ta ra giá là 200 ngàn đồng một “dù” tiền phòng cô ta bao, kiếm cớ để từ chối, tôi rủ cô ta đi “over-night” nhưng cô ta từ chối đi qua đêm mà chỉ chấp nhận đi “dù” nào tính tiền “dù” đó.

Ðang xớ rớ thì cô một cô gái trẻ đẹp đi ngang qua miệng cười cười, rồi bước sang phía bên kia đường. Tôi rà xe theo cô ta, hỏi chuyện “over-night” cô ta “hét” giá là 800 ngàn đồng. Tôi cố tình trả giá là 500 ngàn đồng mong cô ta từ chối để có cớ bỏ đi, nhưng cô ta đã nhanh chóng móc di động ra và gọi cho một ai đó, sau khi trò chuyện qua điện thoại một chút cô ta “OK” với giá 500 ngàn đồng.

Tôi vờ thắc mắc về cuộc điện thoại vừa rồi, cô ta cho biết là đã gọi cho chủ để “xin ý kiến” và đã được chủ chấp thuận. Tôi hỏi:

- Tưởng em là gái tự do chứ!

Cô ta lắc đầu, nói:

- Tụi gái bên kia đường mới là gái không có chủ, còn hàng “xịn” như tụi em phải có người “chăn dắt” chớ!

Tôi thận trọng liếc mắt nhìn quanh, thấy có hai gã gương mặt rất “cô hồn” đang ở phía sau một gốc cây gần đó đang chú ý quan sát cuộc “ngã giá” của tôi với cô gái trẻ. Tôi giả bộ xin phép cô gái về nhà cất xe Honda rồi sẽ đi Honda ôm quay trở lại (việc này cũng thường tình vì đa số dân đi chơi ai cũng phải lo “thủ thế” tài sản của mình).

Cô gái đòi tôi cho số phone để giữ liên lạc, sau khi “nhá máy” qua mobile của tôi để kiểm tra số thật, giả cô gái cho tôi biết cô tên là Thúy (không rõ tên thật hay tên giả).

Cô ta hỏi lại một lần nữa: “Có chắc là anh sẽ quay trở ra không?”

Tôi nói là “chắc” trừ khi về nhà bị... “vợ” làm khó dễ không cho... ra. Thúy bĩu môi, nói:

- Ðàn ông đi chơi có một chút mà cũng sợ vợ!

Tôi cười: “Vợ mà không sợ thì còn sợ cái gì nữa trời?!”

Thúy hối tôi đi lẹ lẹ rồi quay trở lại, còn “đe dọa” ra trễ Thúy đi khách với người khác ráng... chịu. Tôi ừ, ào cho qua chuyện rồi phóng xe đi. Tôi chạy ra khu bùng binh giao giữa Nguyễn Bỉnh Khiêm và Ðiện Biên Phủ để xem hoạt động của những bướm đêm tại khu vực này...

Không thấy “bướm” đi hàng đàn như mọi lần, tôi dừng xe bên vỉa hè đứng chờ, nhìn đồng hồ là gần 10 giờ 30 tối. Thúy liên tục “nhá máy”vô số di động của tôi để “hối”, cuối cùng tôi đành gọi lại cho Thúy với giọng “ăn năn, thành khẩn” tôi thú nhận là “mụ vợ già” không cho đi. Thúy “nguyền rủa” tôi là đồ “sợ vợ” và yêu cầu tôi là đừng bao giờ gọi cho Thúy nữa (hú hồn hú vía!). Thấy lác đác có những cánh bướm đêm chạy qua trên những chiếc xe tay ga, tôi rất muốn chụp những tấm hình họ đang “dụ” khách trên đường, nhưng nhìn quanh thấy nhiều gương mặt “cô hồn” lảng vảng tôi bỏ ý định này và quyết định chạy xe theo những cánh bướm đêm khi thuận tiện sẽ “ra tay” chụp hình.

Các cô gái chạy xe lòng vòng trên đường, mỗi khi gặp đèn đỏ thì họ quay xe trở lại chứ không chịu dừng như tôi tính toán. Một cô gái thấy tôi chạy xe chầm chậm trên đường thì tưởng là khách làng chơi nên vượt qua tôi một đoạn rồi dừng xe... chờ. Tôi rà xe lại, và lại “điệp khúc” cũ, giá “một dù”, qua đêm... Khi cô gái bỏ đi, tôi chạy vòng qua hướng cầu Thị Nghè. Bên kia cầu mấy người dân phòng đứng gác, bên này cầu các cô gái đứng đường bình thản “ngã giá” với khách, có lẽ việc ai người đó làm, quen rồi. Trong ánh đèn đường sau làn mưa nhạt nhòa bên cạnh những gương mặt phấn son chán chường là những cô gái trẻ, khá đẹp với gương mặt rất thanh tú...

Tôi quay trở lại đoạn đường Nguyễn Bỉnh Khiêm một lần nữa trước khi trở về nhà (đêm đã khá khuya, gần 12 giờ đêm). Ngay khu bùng binh tôi thấy năm, sáu cô gái tóc dài đi xe tay ga dàn hàng ngang và mấy tên thanh niên choai choai cũng trên xe Honda nhưng đứng trên vỉa hè, cả hai “toán” nhanh chóng thỏa thuận giá cả rồi cùng lên xe phóng đi, tôi tò mò chạy theo phía sau họ. Ðoàn xe Honda quẹo gấp vào một con đường nhỏ trên xa lộ, tôi quẹo theo, thấy cả hai nhóm cho xe chạy thẳng vào một “ Mini Hotel”...

Mấy ngày sau, gặp lại tay dân chơi kia, kể lại chuyến đi “khảo giá” chợ đêm của mình, tay kia cười ngất. Hắn cho biết, mấy lần hắn đã đi kiếm “bò lạc” và tới một “Mini Hotel” gần cầu Thị Nghè, tại đây dân chơi ra vô tấp nập như một... siêu thị (?!)và đặc biệt là giới bướm đêm vô đây em nào cũng đẹp như... các tiên sa (!).

Khi tôi thắc mắc tại sao có nhiều em là gái đứng đường mà lại rất đẹp không có vẻ gì là “hàng dạt”. Tên dân chơi “cảnh cáo” tôi bằng câu của dân chơi: “Hoa đẹp là hoa độc!”. Hắn đã từng gặp lại mấy cô gái đứng đường trước kia là gái hạng sang tại các vũ trường, nhưng bị giới dân chơi cho rớt vì nghe đồn là bị bệnh aids, nên bí đường các cô phải đi đứng đường. Nghe tay dân chơi nói không biết thiệt hư thế nào nhưng tôi cũng thấy rùng mình đúng là hoa đẹp là hoa có... gai, mà là “cầu gai” mới chết chứ.

Tay dân chơi cũng cảnh báo tôi đừng có thấy mấy em trẻ đẹp ra giá rẻ mà ham, đi theo em coi chừng... mất mạng (?!).Tôi lơ mơ hỏi lý do, hắn cười ngất: “Coi chừng sập bẫy mỹ nhân kế!”, nhiều băng cướp đường phố dùng gái đẹp để “điều” khách tới những nơi bọn chúng phục sẵn, thế là nhẹ thì tiền mất tật mang, nặng thì có thể... toi đời.

Hú hồn hú vía! Ðúng là nghề đi chơi đêm coi vậy mà cũng lắm chông gai...

SG, ngày 21 tháng 05 năm 2008.

Văn Lang

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Tán gẫu trong quán cà phê
Tác giả: Lâm Chương



Vác đá. Đốn cây. Bửa củi. Gánh nước. Những công việc nặng nề như thế, lúc nào cũng có thể làm được, chỉ cần vận dụng bắp thịt và thêm một chút cố gắng là xong. Thế nhưng làm thơ viết văn thì khác. Nó không cần bắp thịt và cố gắng cũng không xong. Nói thế cũng hơi quá. Cố gắng cũng có thể xong, nhưng bài viết không đủ sức lôi cuốn, làm người đọc dễ buồn ngủ.

Tình cờ tôi đọc một quyển sách “dạy” làm thơ viết văn, khuyên những người cầm bút, dù muốn dù không cũng nên ngồi vào bàn viết ít nhất 2 giờ mỗi ngày. Viết bất cứ ý nghĩ gì trong đầu. Viết hoài, viết mãi sẽ có ngày làm nên tác phẩm. Một ý kiến hay. Làm văn thi sĩ cũng dễ thôi. Một hôm, tôi gặp ông bạn viết văn than phiền rằng cả năm không viết được chữ nào. Tôi mách cho ông tựa đề quyển sách mà tôi đã đọc. Tháng sau gặp lại, ông bảo theo lời chỉ dẫn ngồi vào bàn viết 2 giờ mỗi ngày, cũng viết ra chữ đấy nhưng toàn là những ý tưởng vụn vặt nhảm nhí chẳng ra làm sao cả. Vậy thì làm thơ viết văn đâu phải cố gắng là viết hay được. Tệ hại hơn nữa, khép mình theo thời biểu định sẵn, viết theo chỉ tiêu thì cái đầu càng đóng băng cứng ngắc. Khi cái đầu đã đóng băng, lại phải hoàn thành bài viết theo “đơn đặt hàng” thì bài viết ấy hoàn toàn vô vị, nhạt thếch. Cũng có nhiều trường hợp, người ta viết như một “thiên tài”, lúc nào và ở đâu cũng có thể viết được. Viết tràng giang đại hải, cuối cùng đọc lại thấy chẳng ra chi. Có tác phẩm đấy, nhưng toàn là rác rưởi. Vì không là “thiên tài” nên khi viết, tôi rặn từng chữ như người táo bón. Rặn mãi cũng ra được chữ, nhiều chữ làm thành một bài. Đắc ý, đưa vợ đọc thử. Vợ đọc như người bị mắc nghẹn. Vợ bảo, hành văn trúc trắc, chữ nghĩa đá sỏi khô khan. Đọc không suông, nuốt không vô. Vất! Viết văn làm thơ không dễ chút nào.

“Văn mình vợ người”. Ý nói văn mình hay, vợ người đẹp. Đó là cái bệnh chung của người cầm bút. Đem hết tâm sức còng lưng ngồi viết thì bài của mình không hay sao được? Văn ta là số 1, thơ ta hay nhất! Thỉnh thoảng có báo nào đăng bài của ta. Cầm tờ báo, ta đọc bài của ta trước nhất, dù trước khi gửi bài, ta đã đọc hàng trăm lần rồi. Bây giờ thấy nó nằm chình ình trên mặt báo, nghĩa là được chính thức ra mắt người đọc. Lấy tư cách là độc giả, ta đọc lại bài ta. Trời ơi, sao mà hay dữ vậy? Sau đó, đọc lướt qua những bài của tác giả khác. Cũng có vài bài khá đấy, nhưng bài ta vẫn là bài khá nhất. Không còn nghi ngờ gì nữa, ta là một tài năng lớn. Sở dĩ ta chưa nổi tiếng vì người đời chưa khám phá ra ta đấy thôi. Nếu có ai “góp ý” xuyên tạc bất lợi cho ta, chắc họ thấy ta có tài nên sinh lòng ghen tị muốn “ém tài” ta. Gặp người mới quen, họ chưa biết ta là nhà thơ kiêm nhà văn A, ta hỏi trên văn thi đàn ông thích những tác giả nào? Mục đích để dò xem họ đánh giá ta ra sao. Người quen nêu một lô những tác giả mà họ thích, trong đó không có tên ta. Ta hơi thất vọng về người mới quen. Hỏi thêm lần nữa, ông nghĩ thế nào về nhà thơ kiêm nhà văn A? Người quen bảo, ông này viết lảm nhảm chẳng ra chi. Vậy mà có vài tờ báo cũng đăng bài của ông ấy. Có lẽ ông ấy mướn đăng bài như các cơ sở thương mại mướn đăng quảng cáo. Ta xám mặt lãng đi nơi khác, thầm nghĩ thằng cha này trình độ hiểu biết thấp quá, chưa đủ tư cách nhận định về văn chương. Hơn nữa, nó ít đọc sách, làm sao theo kịp trào lưu tư tưởng mới của thế thế kỷ 21. Chỉ những ai uyên bác mới hiểu được ta thôi.

Cái bệnh “văn mình vợ người” coi bộ khó trị. Bởi nhìn ra cái tệ của ta là điều khó. Nếu có kẻ chỉ ra khuyết điểm của ta, lập tức ta phản kháng rằng thằng đó bới lông tìm vết. Phản kháng là ý thức tâm lý, nó luôn ứng chiến sẵn sàng đối đầu với bất cứ ai dám chạm đến ta. Nhưng một đôi khi trầm tĩnh, ta cũng thấy thằng đó nói có phần đúng. Chỉ đúng chút xíu thôi. Vậy ta phải sửa sai cho văn ta được hoàn hảo hơn. Bởi ta là người có tinh thần cầu tiến mà. Sửa sai nghĩa là tự đánh mình. Đánh ai cũng dễ, nhưng tự đánh mình là điều khó quá, mình cảm thấy đau quá. Thôi thì cứ để nguyên như thế. Coi như một nét văn phong độc đáo của riêng ta, để người đọc dễ phân biệt ta và người khác. Nếu không, sao gọi văn tức là người? Cuối cùng, ta vẫn là số 1. Độc Cô Cầu Bại đốt đuốc đi tìm cũng không ra kẻ tài danh nào đánh bại được ta.

Có một nhà văn (hình như Lâm Ngữ Đường, tôi không dám tin chắc nơi trí nhớ) bảo rằng, “tác giả tự khen tác phẩm mình thì cũng tệ như bà mẹ khen con mình”. So sánh nghe có vẻ mỉa mai châm biếm. Nhưng nếu ta không tự khen ta thì ai vào đây khen ta? Nỗi buồn thời đại lớn nhất của tác giả là khi in ra tác phẩm chẳng có ma nào thèm nói tới một lời. Tác phẩm bị chìm vào quên lãng một cách tội nghiệp. Vậy để gây sự chú ý, ta phải nhờ một bạn thân nào đó viết bài làm bộ phê bình, nhưng thật ra là ca tụng một cách kín đáo. Người viết bài phê bình có chút danh tiếng càng tốt. Do đó, nhiều khi người đọc thấy tác giả của bài phê bình là nhà văn X, hoặc thi sĩ Y. Phê bình đâu phải lãnh vực của mấy ông này, sao lại nhào vô đây khoác lác tùm lum? Dù cùng là nghề cầm bút, nhưng sáng tác và phê bình là hai bộ môn khác biệt. Sáng tác hay, chưa chắc đã biết cách phân tích phê bình. Phê bình giỏi, chưa chắc đã sáng tác được bài văn cho ra hồn.

Buồn cười hơn nữa, trong lãnh vực văn nghệ, thấy tên tác giả kèm theo học vị tiến sĩ hoặc bác sĩ. Nếu tiến sĩ khoa học hay kinh tế thì biết chi về văn học? Ông chỉ nên đề tiến sĩ khi viết về chuyên ngành của ông thôi. Sang lãnh vực văn học mà vác theo cái bằng tiến sĩ là có ý muốn khoe khoang, hù thiên hạ. Cũng như thế, y khoa là ngành chuyên biệt, bác sĩ khi thích cũng có thể làm thơ, và khi đề tên tác giả xin đừng kèm theo hai chữ bác sĩ. Điều đó không có gì bảo đảm cho giá trị của bài thơ. Nhưng nếu ông viết về y khoa thì lại rất nên kèm theo học vị để người đọc tin rằng ông có đủ thẩm quyền nói về lãnh vực chuyên môn của mình. Tôi rất thích đọc những bài viết bàn về vấn đề môi trường của tiến sĩ Mai Thanh Truyết, hoặc nói về sức khoẻ của bác sĩ Nguyễn Ý Đức, bác sĩ Trầ Mạnh Ngô và vân vân. Nhất là bác sĩ Nguyễn Ý Đức khi nói về tứ sát thủ âm thầm: mập, cao mỡ, cao máu, tiểu đường. Đề tài khô khan, nhưng qua ngòi bút hóm hỉnh của ông, thỉnh thoảng người đọc có thể nở một nụ cười. Ngay cách đặt tựa đề Tứ Sát Thủ Âm Thầm cũng nghe như có chút hơi hướm của giới giang hồ kiếm hiệp. Một lần duy nhất tôi gặp ông ngoài bãi đậu xe của hội trường cộng đồng người Việt Dallas. Khi biết ông là bác sĩ Nguyễn Ý Đức, và thấy ông đang vui, tôi hỏi người bị tiểu đường có thể làm thằng nhỏ bị ủ rủ buồn hiu. Vậy có thể dùng Viagra để nó lấy lại sức mạnh tinh thần vui tươi phấn khởi hơn không? Ông bảo, đúng thuốc rồi, Viagra ra đời là cứu tinh và vực dậy thằng nhỏ ủ rủ buồn hiu của mấy ông tiểu đường, hahaha!

“Văn hay chẳng luận đặt dài”. Câu này như một châm ngôn. Ngày còn trên ghế nhà trường, tôi sợ nhất là môn tập làm văn. Trong đầu không có bao nhiêu chữ nghĩa, nhưng phải nặn óc viết cho ra chữ, càng dài càng tốt. Tưởng sẽ được khen, nào ngờ cô giáo phê một câu độc địa: “nhiều lời ít ý”. Sau này ngẫm lại thấy đúng. Nhất là khi nhân loại đạt đến tốc độ phi thuyền, đời sống thôi thúc phải chạy đua từng giờ từng phút, không ai có thì giờ ngồi đọc những bài dài lê thê, nhưng nội dung tư tưởng nghèo nàn. Không thể dùng vài trang giấy chỉ để tả một đoá hoa. Mất thì giờ lắm. Người đọc chỉ muốn biết chuyện gì đã xảy ra. Nói thế không phải tôi hoàn toàn phủ nhận những bài dài đầy tính nghệ thuật và ý nghĩa sâu xa. Những bậc phù thủ văn nghệ có tài biến hoá một Tôn Ngộ không thành trăm ngàn Tôn Ngộ Không mà vẫn lôi cuốn người đọc. Một tác giả viết được nhiều quyển sách, chưa chắc đã hay. Số lượng nhiều vẫn không có gì bảo đảm chất lượng cao. Viết văn trong thời buổi @ giống như sắc thuốc Bắc, ba chén nấu còn tám phân. Chỉ giữ lại phần cốt tủy mà thôi. Ngắt bỏ những chi tiết râu ria rườm rà không cần thiết cho bài viết cô đọng gọn gàng càng đỡ tốn thì giờ người đọc.

Đọc sách, nhiều khi thấy tác giả liệt kê đã in được vài chục quyển sách, và những tựa đề một số sách sắp in. Sắp in thì nói làm gì? Đôi khi chỉ là những dự định trong đầu, chắc gì sẽ viết xong? Mà viết xong, chắc gì in được? Có thấy mới tin! Tôi từng gặp nhiều người khoe rằng đang viết quyển sách dày cỡ vài trăm trang. Chờ mấy năm sau, vẫn không thấy mặt mũi quyển sách ra đời. Còn chuyện liệt kê sách đã in vài chục quyển ư? Số lượng thì nhiều thật đấy, nhưng văn chương đâu cần số lượng? Người ta chỉ cần phẩm. Viết văn làm thơ đâu phải bửa củi mà tính số lượng nhiều hay ít? Bửa được một đống củi, được khen là giỏi. Nhưng viết một đống sách, lựa hoài chẳng có quyển nào đáng đọc thì cũng xem như củi đốt lò mà thôi.

Hành văn tối nghĩa là một trong những bệnh bất trị của người cầm bút bất tài. Người đọc không hiểu nội dung bài viết là lỗi ở tác giả. Không thể nói người đọc không đủ trình độ lãnh hội, mà phải quy trách nhiệm về tác giả không có tài diễn đạt tư tưởng của mình một cách sáng sủa, hoặc thiếu khả năng trình bày một vấn đề cho thông suốt và dễ hiểu. “Cơn gió nhan nhác thổ ngơi quê nhà muối mặn điều tiết hơi thở ta phả vào ngực em khí hậu lá xanh nõn giây phút sinh thái của đá tảng đầu thai núi non và rừng cây đại thụ vỗ cánh ký ức hung hãn động huyệt mùi mẩn thân xác run cọ rời rợi đường cong mềm mại va chạm phế tích rùng mình ở phía chân trời duỗi rộng tiền kiếp hun hút phận người còn vang vọng mãi tiếng chuông câm.” Trời đất! Cái gì vậy? Thần chú hả? Dạ thưa, không phải. Tôi vừa trích dẫn một đoạn thơ xuôi. Chữ nghĩa thật là kinh khủng. Có ai hiểu ý tác giả muốn nói gì không? Nếu không hiểu, có phải tại người đọc không đủ trình độ lãnh hội, hay tại cách viết tối nghĩa? Riêng tôi, đọc qua một lần không hiểu. Đọc lại vài lần nữa với sự chú tâm đặc biệt, vẫn không hiểu. Vô nghĩa và răc rối khó khăn như một bài thần chú. Thần chú là ngôn ngữ của thần linh, người phàm không thể hiểu. Tác giả sáng tác đoạn thơ trên trong cơn đồng thiếp. Kẻ phàm phu đọc đi đọc lại hoài, nếu không “ngộ”, ắt bị tẩu hoả nhập ma.

Lại nói đến hành văn rắc rối, chữ nghĩa khó khăn. Xưa nay tôi vẫn thầm ngưỡng mộ những người làm thơ viết văn. Chữ nghĩa đầy bụng, họ là bậc thầy của ngôn ngữ. Trong một bài chỉ ngần ấy chữ, nhưng họ khéo léo sắp xếp đúng vị trí ngôn từ làm thành bài thơ hay, đọc lên nghe truyền cảm lạ lùng. Ngược lại cũng có những người nhân danh đổi mới cấu trúc, làm mới ngôn từ, họ không đi theo “đường xưa lối cũ” nữa. Họ chủ trương khai phá những vùng đất âm u chưa có người đặt chân đến bao giờ. Vậy thì tốt thôi. Nhưng hãy coi chừng, phía trước có nhiều hầm chông gai lửa lắm đấy. Can đảm cầm súng xông pha ngoài trận mạc, người ta gọi là anh hùng. Nhưng can đảm cầm súng đi phá phách xóm làng, người ta lại gọi là quân bất lương. Lòng can đảm thể hiện không đúng chỗ, tác hại còn lớn hơn kẻ nhát gan. Các ngài vác dao đi khai phá thì cứ đi. Xin đừng chê bai những người theo “đường xưa lối cũ”. Cái gì là “hậu hiện đại” chứ? Tôi có đọc những bài lý thuyết về “hậu hiện đại”, nhưng thật tình không hiểu các ngài muốn nói cái gì? Đừng bảo rằng tôi không đủ trình độ lãnh hội nhé. Trình bày một vấn đề mà người đọc không hiểu là lỗi của các ngài. Người đời xưa hay sợ thần linh. Tất cả những gì không hiểu, không giải thích được đều phảng phất nhang khói thần linh. Ngày nay đừng hù nhau theo kiểu đó nữa. Đổi mới cách hành văn, làm mới ngôn từ ư? “Anh chàng mây nào kia nhỉ? Sao lại xuất hiện vào lúc này? Trời oản lưng gánh đá. Rét bắt đầu ngun ngoe. Thi vị gì chứ cho việc rong chơi? Đã không hào hứng với mình mà còn gây trở ngại cho người khác. Tốt nhất là chui vào chăn đánh một một giấc thật đẫy. Bạn bè anh ta ngủ hết cả. Mình? Đang thèm đóng đôi mắt đã bắt đầu trông một thành hai này rồi. Giá không màn bi kịch sắp diễn, mình cũng xếp tóc thả gồng bắp gỗ sượng trơ mặc trời đất gừ gào sương muối.” Lại cái gì nữa đây? Lại cũng xin thưa rằng, đây là đoạn trích dẫn mở đầu một bài viết thể hiện sự đổi mới ngôn từ. Mới đọc chừng ấy thôi, tôi cũng nổi hứng muốn làm thơ, và thấy rằng làm thơ theo kiểu đổi mới ngôn từ cũng dễ thôi:

Hiểu gì? Có hiểu gì không?

Ngun ngoe gánh đá. Oản lưng gừ gào

Hiểu gì? Không hiểu gì sao?

Thả gồng bắp gỗ chui vào chăn mây

Sau khi làm 4 câu thơ “bí hiểm”, tôi chợt nhớ đến nhà thơ Bùi Giáng. Ông điên, và vì thế thơ ông cũng khó hiểu đối với một người bình thường. Ông xứng đáng đại diện cho “trường phái thơ bí hiểm” đang thịnh hành thời “hậu hiện đại”. Nhiều người bắt chước ông làm thơ điên, nhưng tất cả đều thất bại. Dù cuộc đời có quá nhiều lọc lừa dối trá, nhưng người đời lại không thích kẻ giả danh. Ông Bùi Giáng điên có căn bản, nghĩa là điên thật tình. Kẻ nào giả điên, họ đang đóng kịch giữa cuộc đời. Có lúc màn kịch phải ngừng lại cho diễn viên nghỉ mệt. Họ hiện nguyên hình là người không điên. Không điên mà muốn làm thơ điên, khó lắm.

Trong “Ngàn Thu Rớt Hột”, nhiều bài thơ làm tôi như đi lạc vào vào cơn điên mê mộng ảo. Trích dẫn một bài:

Lạc về đầu rú khe truông

vốc năm ngón nhỏ gieo buồn rã riêng

Tuổi xanh nhiếp dẫn sai miền

đổ xiêu phấn bướm phi tuyền vọng âm

Tuần trăng quẩy gánh đau ngầm

Cõi bờ phôi dựng gió nhầm tin hoa

Em về rắc cỏ tháng ba

xuống trang hồng hạnh tin già in rêu

Bùi Giáng


Chữ nghĩa nhẹ nhàng êm ái, có sức truyền cảm thẩm thấu sâu tận lòng người. Nhưng bảo giải thích ý thơ liền lạc thì không thể nào. Bởi thế người ta mới cho rằng yếu tính của thơ là truyền cảm. Hay nói cách khác, truyền cảm là yếu tính quan trọng nhất của một bài thơ. Nhiều người mê thơ Bùi Giáng, hết lời ca tụng. Hơi thơ phảng phất một điệu buồn xa xăm huyển mộng không có thực ở cõi đời này. Vì là thơ điên vô nghĩa, nên bạn đọc cũng có thể chơi trò “xóc chữ” đảo lộn những chữ trong câu, làm thành bài thơ khác. Hai bài thơ chơi “xóc chữ” thơ Bùi Giáng sau đây, tôi trích dẫn trong nguyệt san Hương Xưa, xuất bản vào tháng 7 & 8, năm 2002, tại Na Uy:

1.

Khe về rú lạc đầu truông

Gieo năm ngón nhỏ vóc buồn rã riêng

Dẫn xanh sai nhiếp tuổi miền

bướm xiêu phấn đổ vọng tuyền phi âm

Gánh đau quẩy xuống trăng ngầm

bờ phôi tin gió dựng nhầm cõi hoa

Cỏ em về rắc tháng ba

hồng in tin hạnh trăng già xuống rêu

2.

Rú đầu khe lạc về truông

vốc năm ngón rã gieo buồn nhỏ riêng

Nhiếp sai dẫn tuổi xanh miền

phấn xiêu phi bướm vọng tuyền đổ âm

Trăng đau tuần quẩy gánh ngầm

dựng bờ tin gió cõi nhầm phôi hoa

Rắc em về cỏ tháng ba

xuống in trang hạnh hồng già tin rêu


Sau khi “xóc chữ” bài thơ của Bùi Giáng, ta có được 2 bài thơ khác. Từ đây ta không cần làm thơ nữa. Ta mượn thơ Bùi Giáng và “xóc chữ” làm thành thơ ta. Nổi danh thi sĩ mấy hồi. Nếu không nói trước, người đọc dễ lầm 2 bài “xóc chữ” trên là thơ Bùi Giáng. Hay ít ra cũng mang âm hưởng Bùi Giáng. Êm đềm truyền cảm, nhưng hoàn toàn vô nghĩa. Bùi Giáng là bậc thầy về ngôn từ lạ và là phù thủy của thơ.

Về Bùi Giáng, tôi nghe kể một giai thoại rất lý thú trong thời gian lúc điên lúc tỉnh của ông. Ông có nuôi con khỉ nhỏ. Đi đâu ông cũng để nó ngồi trên vai. Một hôm, vào quán ăn, ông để khỉ trên bàn. Ông cầm đủa, khỉ nhỏ bốc bằng tay. Cả hai cùng ăn chung. Có người khách thấy lạ, hỏi sao lại để người và khỉ cùng ăn chung như thế? Bùi Giáng nói, chúng sinh bình đẳng! Chỉ một câu trả lời đơn giản, ông đã nói lên được cái thuyết uyên áo thâm trầm sâu xa của nhà Phật. Ai bảo rằng ông điên? Ai bảo rằng ông tỉnh? Bao giờ ông cũng là người khó hiểu như chính thơ ông. Có lẽ, cõi trần gian đối với ông chỉ là chốn rong chơi của một vì tiên mắc đoạ lỡ sa chân vào vòng sinh tử.

Nói tới cái điên Bùi Giáng, lại nhớ thêm một người điên cầm bút nữa, Nguiễn Ngu Í. Ông chủ trương không dùng chữ “Y” trong chữ Việt. Ông thể hiện điều ấy ngay cách viết tên ông, và trong tất cả bài của ông trên báo. Ông có bệnh, mỗi năm ông phải vào dưỡng trí viện Biên Hoà vài tháng. Phần lớn những bài của ông trên báo Bách Khoa được hoàn thành trong thời gian này. Ông là một bệnh nhân hay phạm nội quy, hay trốn viện về Sài Gòn rong chơi, vài bữa thấy chán lại tự động về nhập viện. Ông điên mà vui hết biết, lúc nào miệng cũng nở nụ cười rất tươi. Ông Nguyễn Văn Xung là bạn của ông Nguiễn Ngu Í. Tôi thường thấy hai ông nói chuyện rất tâm đắc. Có lần Nguiễn Ngu Í vừa về từ dưỡng trí viện Biên Hoà, ghé lại nhà Nguyễn Văn Xung. Ông Xung hỏi, trốn đi chơi hay được cấp giấy xuất viện? Nguiễn Ngu Í cười ha hả, được xuất viện và có giấy bác sĩ chứng nhận tôi là người không điên. Còn ông? Ông có giấy bác sĩ chứng nhận là người không điên không? Ông Xung nói, tôi bình thường, cần gì phải có giấy đó? Nguiễn Ngu Í lại cười lớn, không có giấy chứng nhận của bác sĩ, vậy thì không có gì bảo đảm rằng ông không điên. Nói xong, ông móc túi đưa ra tờ chứng nhận của bác sĩ. Ông nói, thiên hạ đều điên hết, chỉ Nguiễn Ngu Í này là tỉnh thôi!

Phần trên có nói tới “đơn đặt hàng”, không thể không nói đến báo Xuân. Trời đang tiết mùa Đông, các ông chủ báo gọi bài giục giã viết về Tết và mùa Xuân năm sau. Báo chí phải chuẩn bị trước bài vở, chứ nếu để tới nơi thì trở tay sao kịp? Những tay viết báo nhà nghề đang nhìn mùa Đông ảm đạm, cây cối trơ cành rét mướt, nhưng họ có thể viết về mùa Xuân chan hoà nắng ấm và cây lá xanh tươi. Viết một cách sống động y như người người đang hớn hở trước mặt. Thông thường làm 3 số báo: Tất Niên, Xuân và Tân Niên. Xuân là số quan trọng nhất, tuyển chọn những bài chủ lực. Ngày đầu năm, độc giả trịnh trọng mở tờ báo Xuân ra coi. Hình ảnh vui tươi, nội dung bài viết rộn ràng đầy sức sống như trẫy hội trên đường phố. Buồn cười nhất là những bài về “Đầu Năm Đi Xông Đất” ông Thần này, ông Thánh kia. Toàn là láo cả. Tết và Xuân nào vậy? Xuân năm ngoái hay năm nay? Nhưng độc giả phần đông dễ tính, miễn sao có chữ Xuân và Tết là vui rồi. Qua Tết, liệng bỏ. Giữ lại làm gì nhữngh bài viết láo. Chẳng trách người ta hay bảo, nhà báo nói láo ăn tiền!

Trước năm 1975, tôi có ông bạn chuyên viết truyện dài cho các nhật báo. Ông đảm trách viết một lúc 3 cái truyện dài. Không bao giờ ông viết trước. Buổi sáng, ông làm trong tòa soạn về kỹ thuật và sắp xếp bài vở tin tức. 2 giờ chiều xong việc, ông xách xe đi nhậu với bạn bè. Thường là nhậu đến 8 giờ tối, đôi khi cuộc vui kéo dài đến 12 giờ khuya. Tàn tiệc, trong hơi men chếnh choáng, ông về nhà ngủ đến khi đồng hồ báo thức là 4 giờ sáng. Ông nhỏm dậy, đi rửa sơ cái mặt cho tỉnh người. Sau đó, ông ngồi vào bàn viết. Viết một mạch đến 8 giờ sáng là vừa đủ số trang tiếp theo của 3 cái truyện dài. Mỗi ngày, ông làm việc đều đặn theo thời biểu như một cái máy. Tôi thắc mắc, làm sao một lúc có thể hoàn thành phần tiếp theo đúng số chữ, số cột báo cuả 3 cái truyện dài với 3 đề tài khác biệt? Ông nói, viết mãi thành thói quen. Tôi lại thắc mắc, nếu không cảm hứng thì làm sao viết được? Ông cười, đâu cần phải hứng. Có sức mạnh của đồng tiền thúc đẩy thì làm việc gì cũng xong. Tôi lại hỏi, ông có viết theo dàn bài định sẵn trong đầu không? Ông bảo, nghĩ tới đâu viết tới đó, chẳng dàn bài gì cả. Khi nào thấy cái truyện dài vừa đủ in một quyển sách thì tìm cách chấm dứt. Tóm lại, ông viết thật dễ dàng, nhưng giá trị văn học còn phải coi lại. Và ông cũng đâu cần gì giá trị văn học. Đối với ông, cầm bút như cầm chiếc cần câu cơm. Càng câu được nhiều cơm, đời càng thoải mái. Nguyễn Du thắc mắc “không biết ba trăm năm sau, người trong thiên hạ có còn ai khóc Tố Như?” Bạn tôi không hề nghĩ xa như thế. Ông chỉ cần hiện tại mà thôi. Sau khi mất rồi, dù ai khóc lóc, binh phẩm khen chê, nhớ hay không nhớ cũng chẳng đem lại lợi ích gì cho nắm xương tàn trong lòng đất. Đời người như chim bay mất dấu. Vì vậy, khi ông bỏ đời mà đi cũng không để lại một tác phẩm nào cho thế gian.

Nhân đây, thuật lại một chuyện vui vui trong làng báo. Chuyện vui vui này, tôi cũng đọc trên báo, chứ bản thân không hề quen với nhà văn Lê Xuyên. Khi Lê Xuyên đang viết truyện dài Chú Tư Cầu. Độc giả thích thú theo dõi tình tiết diễn biến câu chuyện mỗi ngày. Chuyện hấp dẫn đến mức trong quán cà phê người ta cũng bàn tán, đoán già đoán non tình huống sắp xảy ra của một cặp tình nam nữ nhà quê. Chẳng biết cái gã nông dân quê mùa chất phác có “làm thịt” được con nhỏ kia không? Lê Xuyên cũng ra ngồi quán cà phê, lắng nghe người ta bàn tán về cái truyện của mình. Nếu người ta tiên đoán tình huống sắp tới sẽ xảy ra thế này, thì ông sẽ lái câu chuyện sang hướng khác. Cứ thế, ông gây cho độc giả nhiều lý thú bất ngờ. Ông lại có tài viết đối thoại. Hai người nói qua nói lại một cách rất ỡm ờ, có lúc tưởng xáp lại gần làm cái chuyện truyền giống tự nhiên của loài người. Nhưng không, họ cảm thấy bẽn lẽn, và tiếp tục ỡm ờ nữa. Ông kéo dài cuộc đối thoại đến mấy chục trang. Vào thời Lê Xuyên, viết truyện dài cho nhật báo, tính dòng ăn tiền. Càng viết đối thoại, càng xuống dòng nhiều. Có khi mỗi dòng chỉ vài chữ. Và dĩ nhiên, nhiều dòng thì nhiều tiền.

Lê Xuyên cũng mất rồi. Vài tờ báo hải ngoại đăng lại bài của ông như một niềm… hoài cổ, chứ không phải vì giá trịc tác phẩm.

Lâm Chương

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Ta Đi Sài Gòn
Tác giả: Nguyễn Giang, BBC


Trên chuyến bay ra Bắc, tôi mở tạp chí Heritage của Vietnam Airlines ra đọc và ngạc nhiên thấy địa danh Sài Gòn được dùng rất tự nhiên, như thể đấy mới là tên gọi chính thức của đô thị lớn nhất Việt Nam.
Không kể bài về khu Nam Sài Gòn, các bài khác về chủ đề văn hóa, xã hội đều gọi Sài Gòn một cách bình thường. Thậm chí có bài song ngữ, phần tiếng Việt viết "Sài Gòn" còn bản tiếng Anh lại để là TP Hồ Chí Minh.

Ra đến Hà Nội, ngồi lên taxi thấy ngay trước mặt dòng chữ "Taxi Sao Sài Gòn" và nghe người lái hỏi: "Anh ở Sài Gòn ra?". Đi qua ga Hàng Cỏ thấy dòng chữ chạy trước mắt trên bảng điện tử: "Tuyến tàu Hà Nội - Sài Gòn".

Ta đi Sài Gòn

Gần như chính thức cái tên Sài Gòn cũng trở lại mặt báo, trên truyền thông, trong giao thông công cộng. Chỉ có đi máy bay thì vẫn nghe đều đặn "Hàng khách đi chuyến bay VN...đi TPHCM ra cửa số...".

Phải chăng tàu hỏa thì bình dân hơn nên dễ "Sài Gòn hóa" hơn phi cơ vốn nhiều quan chức bay đi bay lại? Nhưng ra khỏi Việt Nam hay bay về nước thì lại thấy ngay ký hiệu chuyến bay từ lâu nay vẫn là SGN. Lịch sử quả là kỳ lạ.

Thực ra, theo tôi biết, việc dân chúng sống ở phía Nam và nhất là trên địa bàn TPHCM đã có những cách dùng hai chữ Sài Gòn hay gọi tên thành phố này theo kiểu riêng của họ từ lâu nay.

Nhưng tại Hà Nội, việc Sài Gòn trở lại trong ngôn ngữ và báo chí, văn hóa có phần mới và đậm nét đáng chú ý.

Nếu để ý kỹ thì sẽ thấy việc dùng cách tên ngoại tỉnh hay ngoại quốc ở Hà Nội là một trào lưu có từ mấy năm nay.


Hà Nội nay đang mở rộng ra nhiều vùng phụ cận

Tâm lý "thương nhớ đồng quê" - một chỉ dấu về gốc tích làng xã của nhiều người sống ở thủ đô, được thể hiện trong các biển hiệu: "Gà đồi, lợn Mán, cơm quê", "Vịt Lạng Sơn", "Gà Mạch Hoạch", (có chỗ viết là Mạnh Hoạch), hay các món "cơm niêu", "cháo cá".

Rồi gần thì bánh cuốn Thanh Trì, rượu làng Vân, xa thì quán Huế, phở Nam Định, mì Quảng...cũng Việt Nam ta cả thôi nhưng nghe cũng khoái khẩu ra phết. Xa và lạ hơn chút nữa thì "Lẩu Tứ Xuyên", "Bia Đức, Xúc-xích Tiệp" đủ kiểu.

Ngoài ra, cứ ngồi trên taxi lúc kẹt xe mà nhìn biển phố thì còn thấy đủ kiểu cách ghép thương hiệu, biển hàng pha trộn Âu-Á hoặc chơi nguyên tiếng Anh, tiếng Pháp. Nào Cà phê Honey, Laptop Khoa Nam, Phở Bò nằm cùng Games Online.

Xuyên vùng văn hóa

Một nhịp của toàn cầu hóa chính là việc tự kiến tạo bản sắc của mỗi người hay từng nhóm người qua sinh hoạt, tiêu dùng, dựa vào những nhãn hiệu, thương hiệu tự chọn, tự chế biến. Tính cách xuyên vùng văn hóa là một trào lưu không tránh khỏi.

Trong bối cảnh đó, tôi tin rằng nhãn hiệu Sài Gòn có vẻ như được dùng để mô tả những gì có phần mới lạ, hiện đại hơn những thứ vịt gà hay cơm cháo kể trên.

Nó nằm trong dòng trở lại những cái tên thời Pháp, thời Mỹ mà người nước ngoài dùng để đặt cho khu vực này. Cứ để ý sẽ thấy những chữ như Indochine, thậm chí Tonkin hay Orient nay được dùng khá nhiều trong mảng liên doanh, đầu tư du lịch.

Nhưng cách dùng hai từ Sài Gòn không chỉ có vậy.

Theo tôi, trong trái tim người Hà Nội và những người mang tâm thức Bắc Hà chân chính, Sài Gòn luôn chiếm một vị trí đầy tình cảm. Cảm giác vừa tự hào vì đó là miền đất cha ông gây dựng được, vừa thương, vừa nể, vừa mặc cảm có lỗi gì đó với Sài Gòn, nhất là vì giai đoạn sau 1975, luôn bâng khuâng trong tâm trí.

Kể từ thời Pháp, rồi sang đến thời đất nước bị chia làm hai, Sài Gòn là nơi người Bắc hướng đến.


Cảnh Sài Gòn nhìn từ một cao ốc gần trung tâm thành phố

Trong làn sóng mở cửa, người Hà Nội, cả gốc Hà thành và những người đến sống một hai thế hệ nhưng hấp thụ văn hóa Thăng Long, đã và đang chứng kiến một cuộc xâm nhập ào ạt, nóng hổi thời Đổi Mới của quan chức và người dân các tỉnh. Lúc đó, họ lại càng thầm thông cảm với tâm trạng của người Sài Gòn sau 1975.

Bây giờ dù mức sống hai thành phố đã không còn khoảng cách xa như thập niên 70, với người Hà Nội thì Sài Gòn xưa và nay, vẫn đậm chất Pháp, chất Mỹ và nét miền Nam ngày trước.

Với cả nước, đây vẫn là cửa ngõ lớn nhất hướng sang Hoa Kỳ vì chỉ người Sài Gòn mới thực sự có liên hệ gia đình đông đảo với khối Việt Kiều ở Bắc Mỹ, còn quan hệ với Phương Tây của Hà Nội vẫn nặng tính quan chức, ngoại giao.

Nhưng cũng phải nói rằng trong tình cảm dành cho Sài Gòn, người Hà Nội cũng có đôi điều ghen tị pha lẫn tự hào riêng về phong cách người ta cho là thuần Bắc.

Ý thức hệ cộng sản - tư bản và cuộc chiến vài chục năm trước giữa hai chính thể cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình bản sắc hai thành phố. Chính vì thế, người ta đã phản ứng mạnh trước những lời chê bai Hà Nội một cách thô ráp của một cô bé blogger từ Sài Gòn ra hồi 2007.

Chính trị Việt Nam là chính trị Hà Nội và sẽ còn như thế trong nhiều năm tới. Nhưng theo tôi, sự cạnh tranh, đi cùng giao lưu giữa hai đô thị này sẽ còn tăng, với Sài Gòn trở thành một điểm đối trọng quý báu và cần thiết.

Và như sự trở lại Hà Nội một cách tự nhiên của cái tên Sài Gòn cho thấy, việc xích lại gần nhau không đến từ những mệnh lệnh chính trị, mà từ sinh hoạt của người dân, từ các dòng chảy của văn hóa của ẩm thực sôi động.

Ra phố Vọng buổi tối, thấy tấm biển sáng choang "Tẩm quất Sài Gòn" thì tôi cũng "choáng" luôn. Đấm bóp kiểu Sài Gòn là kiểu gì thế, có đê mê hơn kiểu Thanh Hóa hay Nghệ Tĩnh? Hai chữ Sài Gòn đã đi vào tận da thịt người Hà thành thế này thì chỉ còn cách ngả mũ chào sức sống dân gian!

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Đau lòng nghề đẻ mướn, bán con
Tác giả: Quang Thành


Diều Luông một bản thuộc vùng rừng núi xa xôi của huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình, có nhiều cô gái bỏ rừng xuống phố “bán hoa”. “Ngoài tệ nạn mại dâm, Tân Minh còn có thêm nghề đẻ mướn. Đau lòng lắm!”

Đó là câu nhận xét của một số độc giả gọi điện đến Tòa soạn báo Gia đình và Xã hội, sau khi GĐ&XH đăng phóng sự về bản Diều Luông, Tân Minh này.

Nơi “khan hiếm” phụ nữ

Vượt gần 40km đường rừng, quanh co, ôm hết ngọn núi này đến ngọn núi khác, chúng tôi mới vào được đến Tân Minh. Tân Minh chỉ có 3.426 người dân sống rải rác trên diện tích khoảng 7.793 ha. Ngoài con đường được rải nhựa ra, từ trung tâm xã đi vào các bản làng đều phải đi bộ. Địa hình nơi đây dốc và hiểm trở không cho phép bất cứ một phương tiện giao thông nào khác có thể hoạt động được. Chúng tôi lại phải mất hơn hai giờ đồng hồ nữa để vượt 5, 6 km đường rừng từ UBND xã Tân Minh tới bản Diều Luông, nơi “nóng” nhất thời gian gần đây về thực trạng đáng buồn này.

Diều Luông, như một “ốc đảo” lọt thỏm giữa đồi núi trập trùng. Cả bản có khoảng 70 hộ với trên 400 con người nằm thưa thớt, hoang lạnh giữa đại ngàn.

Đi từ đầu bản đến cuối bản, chỉ thấy đàn ông con trai, người già và trẻ con. Phụ nữ nơi đây đi đâu hết. Họ đi làm nương? “Làm nương gì bây giờ, đã vào vụ đâu. Đi xuống thành phố làm “cave” là chính” - Chị Đinh Thị Nga, chi hội trưởng phụ nữ xóm Diều Luông không ngần ngại nói với chúng tôi.

Quả đúng như chị Nga nói. Những thửa ruộng bậc thang khiêm tốn, lúa mới bén rễ, nhìn lên nương rẫy chỉ là những quả đồi trơ trọi không một màu xanh của lá. Mảnh đất nghèo, vốn từ xa xưa đã khô cằn sỏi đá, thưa thớt bóng người, nay lại trông thảm hại hơn khi vắng bóng bàn tay người phụ nữ.

“Đến tuổi cập kê, mười chín, đôi mươi, cho đến ngoài 30, con gái rủ nhau xuống Hoà Bình hết. Đổi đời nhanh lắm. Một năm về thăm nhà đôi ba lần, đưa tiền cho gia đình, gấp mấy chục lần làm nương. Gớm! cái nghề kiếm ra tiền nhanh đấy” - Chị Nga nói giọng mỉa mai.

Lạ đời thật. Nơi đây, phụ nữ lại rời bỏ bản làng xuôi xuống thành phố kiếm tiền, đàn ông ở nhà cắm bản, nuôi trẻ con. Chị Nga kể tiếp: “Trước đây, mọi người cứ tưởng chị em rủ nhau xuống Hoà Bình, rồi sang cả Xuân Mai (Chương Mỹ. Hà Tây) làm việc. Ai cũng tưởng thật vì đó là chốn đô thị, kiếm được việc mà làm là dễ. Nghe chị em đồn nhau việc gì đó bở ăn lắm. Sự việc được giấu kín bưng cho đến một ngày, Công an Hoà Bình triệt phá các hang động hoạt động mại dâm. Gia đình, chồng con, cả bản mới vỡ lẽ ra, người thân họ rời bỏ bản làng đều sa ngã vào con đường mại dâm”.

Đâu đó quanh bản lại có tiếng trẻ con khóc ré lên vì khát sữa và những tiếng ru không thành thạo của những ông chồng tội nghiệp dỗ cho chúng ngủ, càng làm cho không khí nơi đây vốn đã xác xơ vì nghèo lại thêm hoang vắng.

Chồng ép vợ làm gái “bán hoa”

Chỉ tay về một mái tranh, lụp xụp phía cuối bản, chị Nga kể: “Nhà của Th đó. Nhà nó có hai đứa con, vợ chồng làm nương làm rẫy không đủ tiền nuôi con ăn học. Anh chồng bàn vợ mình xuống phố “làm gái”, ban đầu Th không chịu, nhưng sau đó do chồng bắt đi, với lại hoàn cảnh quá túng bấn không có cái gì để ăn, để nuôi con, đành phải theo chị em đi “làm gái”. Tiền cũng có mang về đấy, nhưng mà cùng với tiền là cả cái bụng to phình ra. Về đến nhà anh chồng đuổi thì thương, vương thì tội, đành phải làm ông bố bất đắc dĩ của đứa trẻ. Đẻ rồi đấy. Mới tháng trước đây thôi”.

Hay như trường hợp của Luồng Thị Kh, là một câu chuyện buồn của một cô gái mới tuổi đôi mươi. Kh chưa chồng. Bố mẹ cho đi “làm gái” ở Xuân Mai để góp tiền trả nợ cho gia đình. Nợ thì chưa trả hết mà đã có chuyện không hay ập đến. Chính bà Khang, mẹ của Kh kể cho chúng tôi nghe, giọng bà thở dài trong lo âu: “Kh đi lần này là lần thứ hai rồi. Năm kia, sau khi làm được một thời gian, lỡ có bầu với khách làng chơi. Tìm về quê đẻ. Đẻ xong, cai sữa cho con, để ông bà nuôi lại xuống Xuân Mai. Hôm trước đây thôi, nghe chị em cùng đi với nó về mách, thấy Kh cứ buồn nôn, khóc một mình, và nhắn với người nhà là chuẩn bị về. Không hiểu chuyện gì đây, hay là lại...”.

Những đứa trẻ bị đặt mua từ... trong bụng

Chị Đinh Thị Nga thống kê một con số gây sốc, khi chị chắc chắn cho rằng ở Diều Luông có 12 trường hợp “ma cũ” “hành nghề” lâu năm ở thành phố Hoà Bình và Xuân Mai, Hà Tây. Thỉnh thoảng các cô ấy lại tay xách nách mang, bánh kẹo, quần áo, tiền bạc cho gia đình, rồi còn mổ lợn mổ gà liên hoan linh đình mừng gia đình đoàn tụ sau những tháng ngày xa cách. Mỗi lần quay trở lại chốn “ngõ liễu tường hoa” là y như rằng lại rủ rê thêm vài ba em 17, 18 tuổi bỏ nhà theo. Ai có hỏi đi làm gì, bọn trẻ thản nhiên trả lời “em đi làm Cave”.

Mới nhất là có em Luồng Thị Cảnh (18 tuổi) bỏ nhà ra đi có một thời gian, đã thấy vác một cái bụng to uỵch về, nhưng ngay cả Cảnh cũng nào có biết bố của nó là ai đâu. Gia đình Cảnh đang tính đến nước lúc Cảnh sinh đứa bé kia ra thì sẽ ngay lập tức rao bán. Nhưng chưa kịp đến ngày sinh đã có người ở đâu tận Phú Thọ xuống “đặt mua” rồi.

Nghe qua cứ ngỡ chuyện đùa, nhưng đó là câu hỏi nhức nhối và khó giải đáp của các bản làng trong xã Tân Minh này. Rồi một ngày, những đứa trẻ sinh ra “ngoài dự kiến” của bố mẹ chúng, sẽ buột miệng hỏi mẹ chúng rằng: “Bố con là ai?”. Đau đớn hơn khi chúng biết rằng mình chỉ là sản phẩm của thú tiêu khiển đồi bại.

“5, 6, 7 triệu đồng một đứa trẻ đấy! Ở cái nơi chỉ có lao động chân tay gắn với nương rẫy bòn kiếm từng hạt lúa bắp ngô thì chừng ấy tiền không phải là nhỏ. Vì thế họ cứ như thiêu thân ấy” - vị Phó chủ tịch xã Hà Văn Tăm phân trần. Cũng chính vì thế mà con cháu ngày nay đã “bẻ cong” cái phong tục của ông cha ngày trước. Đầu tiên là từ hậu quả của việc hoạt động mại dâm của con gái Tân Minh ở dưới thành phố, cái nơi đông đúc, sầm uất nhưng nhiều cám dỗ, mà ông Phó chủ tịch gọi nơi ấy là “phố Hồng Kông”.

Đa số, phụ nữ Tân Minh vượt qua con dốc Láo - con dốc hiểm trở đã tự bao đời nay ngăn cách Tân Minh với cuộc sống bên ngoài, xuống với “phố Hồng Kông” đều mang “hậu quả” về quê. Bây giờ thì sự hiểm trở của dốc Láo không ngăn nổi, không bảo vệ nổi sự trong trong trắng trinh tiết của phụ nữ Tân Minh.

Đông con quá, bán bớt cho... đỡ khổ (???)

Nếu như, trước kia sinh hoạt cho, bán con diễn ra trong bản làng thì ngày nay, hầu hết là người ngoại tỉnh đến tìm mua vì “biết tiếng” Tân Minh có loại hàng không tên này.

Không biết thông tin lọt ra từ đâu mà cứ có phụ nữ Tân Minh nào mang bầu là có người ngoại tỉnh đến dạm hỏi mua. Mua ngay khi còn đang trong bụng người mẹ. Ngoài tiền mua dăm sáu triệu gì đó, họ còn bỏ tiền ra bồi dưỡng bà bầu để chăm sóc thai nhi.

Đầu tiên là việc bán những đứa con không cha của gái mại dâm. Dần dần tình trạng này còn lan sang cả những đứa con có đủ cả bố mẹ. “Do đẻ nhiều, muốn kiếm đứa con trai, cố mãi ra một đàn con nên họ tìm cách bán bớt đi cho đỡ khổ” - ông Tăm lý giải.

Tuy nhiên, nói bán con không phải lúc nào cũng thuận buồn xuôi gió. Không ít những trường hợp éo le cười ra nước mắt. Hôm vào đến tận bản Diều Luông của Tân Minh, chị Nga đã kể cho chúng tôi về hoàn cảnh của Lường Thị Tươi. Chả là nhà Tươi sau khi có bầu đã hứa bán con cho một người bản khác. Sinh con ra chưa kịp bỏ bú thì theo giao kèo, đã bị người ta lấy con đi.

Thương nhớ con nhưng Tươi chỉ biết khóc nức nở chứ chẳng đòi lại được. “Có hôm, nhớ con quá, Tươi chạy sang nhà bố mẹ nuôi, cầu xin cho nhìn mặt con một chút, cho con bú mà nghẹn ngào không nói lên lời nào. Xin lại con không được, Tươi cầu xin nuôi con cho đến khi cai được sữa. Thương hại Tươi, người ta đồng ý. Rồi thì cũng đến cái ngày người ta xin lại con. Tươi trao con cho người mà nước mắt giàn dụa, rồi ngất lên ngất xuống. Cũng từ ngày đó mà do sầu muộn Tươi trở nên lầm lỳ, khó gần, rồi cũng bỏ bản đi đâu một thời gian rồi không thấy trở về” - chị Nga buồn bã kể...

Cái lắc đầu buồn bã của ông Phó chủ tịch xã

Không phải bỗng dưng các bản của Tân Minh có thêm cái nghề “đẻ mướn”. “Mấy năm trước người ta chỉ bán những đứa con không có cha, mẹ chúng là những gái mại dâm hoạt động dưới “phố Hồng Kông” (thành phố Hoà Bình), nay lại sang cả những cháu có cả cha mẹ hẳn hoi. Người Tân Minh coi đẻ thuê là một “nghề” mất rồi” - ông Hà Văn Tăm buồn bã tâm sự.

Ông Tăm “còn 2 năm nữa là tròn 60 tuổi”, từng tham gia kháng chiến ở các chiến trường, hoà bình trở lại, ông được nhân dân tín nhiệm bầu làm người cán bộ UB xã từ đó tới giờ. Qua bao nhiêu năm, mà ông nói rằng không nhớ nổi, “lâu lắm rồi” làm việc ở UBND xã, hơn ai hết ông thấu hiểu và đang phải chứng kiến sự đổi thay buồn ở quê ông.

Ông tiết lộ: “Ngày trước, ở Tân Minh, có tập tục cho nhận con nuôi. Nhưng lễ cho nhận diễn ra rất trang trọng và cũng tốn kém. Những người được nhận con phải là những cặp vợ chồng hiếm muộn. Lễ nhận con nuôi diễn ra rất bài bản. Đúng ngày giờ đã hẹn với bố mẹ đẻ đứa bé, bố mẹ nuôi mang lễ vật gồm trâu bò lợn gà, một bộ chăn và cả một khoản tiền rồi mời thầy cúng đến làm lễ hương khói. Về đến nhà rồi, bố mẹ nuôi đó còn phải mổ trâu bò để thết đãi bà con lối xóm để ăn mừng. Và những lúc như thế, tuy tốn kém nhưng trong làng ngoài bản vui như ngày hội. Bố mẹ đẻ cũng mừng vì con được những gia đình có điều kiện nuôi dưỡng, bố mẹ nuôi thì phấn khởi khi có con. Bây giờ thì nhiều đứa trẻ bị mua bán thẳng thừng như thế”.

Trao đổi với chúng tôi vấn đề nan giải này, ông Hà Văn Tăm không khỏi băn khoăn, ông lý giải những cái khó khăn của chính quyền địa phương là không thể quản lý được, nếu như không có sự phối hợp đồng bộ với các cơ quan chức năng. Theo ông Tăm: “Vấn đề mấu chốt ở đây là mại dâm mà ra nhiều biến chứng”. Trong những lần họp Hội phụ nữ Tân Minh, chính quyền cũng đã nhiều lần đưa vấn đề này ra bàn bạc, khuyên bảo, hướng dẫn chị em nhưng “không ăn thua gì”. Ông kết thúc câu chuyện với chúng tôi bằng một cái lắc đầu buồn bã.

Chia tay Diều Luông, chia tay Tân Minh, trên đường về, trong ánh chiều đỏ sậm, khi ngoái lại, chúng tôi vẫn thấy những đứa trẻ lem luốc đang tha thẩn nơi sườn đồi đỏ quạch.

Quang Thành

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

CÁI LƯỠI

Gã Siêu.
Ngày xưa có một ông vua nước Ai Cập gửi cho nhà hiền triến Bias một con vật vừa quí lại vừa hiếm để tế lễ các thần minh. Thế nhưng ông vua này muốn chơi khăm nhà hiền triến một vố, bèn phán :

- Sau khi cúng kiếng xong, ngươi phải trả lại cho ta cái gì vừa tốt nhất lại vừa xấu nhất nơi con vật quí hiếm ấy.

Nhà hiền triết cũng không phải là tay vừa, bèn xẻo ngay cái lưỡi mà trao cho ông vua.

Cử chỉ đó gián tiếp nói lên rằng :

- Cái lưỡi là phần tốt nhất nếu biết sử dụng, nhưng đồng thời cũng là phần xấu nhất nếu không biết sử dụng.

Đúng thế, cái lưỡi là một bộ phận quan trọng để phát ra tiếng nói. Hồi tôi còn bé, mẹ gã thường răn đe :

- Con mà chửi tục, thì cái lưỡi sẽ thụt vào trong cổ, để rồi từ rày mà đi cho đến lúc rình xinh thì sẽ chẳng còn nói năng được nữa !

Hay :

- Con mà chửi tục, ông ba bị nghe thấy, thì ông ấy sẽ cắt ngay cái lưỡi để xơi…tái.

Và như chúng ta đã thấy :

- Tiếng nói là một phương tiện hữu hiệu để chuyển đạt cho người khác biết những tư tưởng, những ý nghĩ, những ước muốn thầm kín ấp ủ tận đáy tâm can tỳ phế, nhờ đó bắc lấy một nhịp cầu cảm thông.

Chính vì thế, mấy ông triết gia đã phát biểu :

- Người là một con vật có ngôn ngữ, có tiếng nói. Sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng chân lý ấy ngàn đời vẫn không thây đổi.

Một kẻ câm ú a ú ớ, diễn tả bằng cử điệu thật là vất vả và người không quen cũng khó mà hiểu được những cử điệu ‘’búa xua’’ ấy.

Tuy nhiên, cái lưỡi cùng với lời nói lại là điều chúng ta thường hay vấp phạm hơn cả, bởi vì chúng ta có thể vấp phạm bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào và bất kỳ với ai.

Do đó Kinh thánh đã bảo :

- Số người chết vì cái lưỡi thì nhiều hơn số người ngã gục vì gươm giáo ngoài chiến trường.

Và tục ngữ dân Ăng lê cũng xác quyết :

- Không nọc nào độc cho bằng cái lưỡi.

Trước hết là trong lãnh vực gia đình.

Nhiều khi sóng gió nổi lên chỉ vì một lời nói nóng nảy và thiếu tế nhị.

Có một chị vợ cặm cụi nhổ cỏ ở thửa ruộng sau nhà. Theo sự phân công thì hôm đó anh chồng đóng vai tề gia nội trợ. Và thế là anh chồng bèn trổ mấy món ruột của mình để lấy điểm ‘’mí’’ bà xã.

Mồ hôi mồ kê chảy xuống ròng ròng. Khi đã nấu nướng xong, yên chí nhớn và hớn hở bắn một điếu thuốc lào, anh chồng mới sai đứa con nhỏ ra mời mẹ.

Đứa bé chạy tới và nói :

- Bu ơi bu, bố bảo về ăn cơm.

Chẳng nói chẳng rằng, chị vợ vẫn cứ lặng lẽ nhổ cỏ.

Đứa bé trở về, mặt xụ xuống như bánh bao chiều.

Một lúc sau, anh chồng lại sai đứa khác ra mời, nhưng chị vợ vẫn cứ nín thinh cặm cụi nhổ cỏ.

Đứa bé trở về, mặt xìu xìu như trái bóng xì hơi.

Dường như không chờ đợi được nữa, vả lại sợ thức ăn để lâu sẽ nguội và mất ngon, nên lát sau anh chồng liền sai đứa út ra mời, ông cười ruồi và thầm nghĩ trong bụng :

- Quá tam ba bận. Ba keo mèo phải mở mắt đứt đuôi con nòng nọc chứ còn gì.

Thế nhưng lần thì chị vợ lại tỏ ra tức tối. Chị ta đứng lên. Hai tay chống nạnh. Mắt long còng cọc như một tia chớp. Miệng hét toáng chẳng khác gì sư tử rống :

- Bố con mày có hốc thì cứ việc hốc đi.

Trước sự nổi tam bành của chị ta, đứa út run cầm cập, ba chân bốn cẳng vội chạy về méc bố.

Đến đây thì chuyện phải đến ắt sẽ đến. Sau khi nhổ hết đám cỏ bợ, chị vợ đủng đỉnh về nhà. Thế nhưng vừa mới tới sân thì hàng xóm đã phải nghe thấy những tiếng kêu la thất thanh :

- Ối giời ơi ! Ối đất ơi ! nó đánh tôi, nó giết tôi, làng nước ơi, cứu tôi với…

Rồi thì nồi niêu soong chảo, chổi cùn rế rách, mâm bàn chén đĩa cùng với những thứ cao lương mỹ vị thi nhau bay ra ngoài sân, bởi sức người chịu đựng có hạn. Và lúc này đến lượt anh chồng đang nổi máu yêng hùng, đùng đùng nổi trận lô đình như Trương Phi !

Giá như chị vợ biết nhún nhường và tế nhị một chút trong lời nói của mình thì đâu đến nỗi xảy ra sự việc đáng tiếc kể trên. Còn thân thể ‘’liễu yếu đào tơ’’ của chị ta đâu đến nỗi tím bầm và lãnh đủ những thứ cú thượng cẳng chân hạ cẳng tay của đức ông chồng, ‘’vai năm thước rộng, thân mười thước cao’’, như vóc dáng của anh chàng Từ Hải trong truyện Kiều !

Bởi đó, tục ngữ đã dậy :

- Chồng giận thì vợ làm lành

Miệng cười tươi hỏi rằng anh giận gì.

- Chồng giận thì vợ bớt lời

Cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê.

Còn nếu ông cũng ghê bà cũng gớm, thì chắc chắn phải kết thúc bằng xô xát, bằng tan hoang và đổ vỡ.

- Bên thẳng thì bên phải chùng

Hai bên đều thẳng thì cùng đứt dây.

- Bên giận thì bên phải lùi

Hai bên cùng giận thì… dùi nó quăng.

Cho nên, muốn gia đình được êm ấm thì phải biết nhường nhịn và tha thứ :

- Một sự nhịn là chín sự lành.

Đồng thời phải biết phát ngôn cho êm dịu và tế nhị, bởi vì :

- Lời nói chẳng mất tiền mua

Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau.

Tiếp đến là trong tương quan xã hội, trong mối liên hệ với người khác.

Hẳn rằng, đã có lần chúng ta bực bội tức tối trước những luồng dư luận xuyên tạc, trước những miệng lưỡi thâm độc và xảo trá của người đời. Bởi vì dư luận vẫn thường là luận dư, lời đôn thổi bao giờ cũng phóng đại tô màu, chẳng biết đâu mà lường :

- Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.

Hay như ca dao đã diễn tả :

- Ở sao cho vừa lòng người

Ở rộng người cười ở hẹp người chê

Cao chê ngỏng, thấp chê lùn

Béo chê béo trục béo tròn

Gầy chê xương sống, xương sườn hở ra.

Tuy nhiên, chúng ta không thể nào sống cu ky, đơn độc, lẻ loi như một hòn đảo giữa biển khơi hay như một pháp đài biệt lập. Trái lại, sống là sống là sống với người khác. Và trong cuộc sống chung này, chúng ta không thể tránh đi cho hết những va chạm, những bực bội, những buồn phiền.

Nếu biết dùng những lời nói ôn tồn, chúng ta sẽ hóa giải được những thù oán, triệu tiêu được những giận hờn, bởi vì mật ngọt chết ruồi. Người ta có thể giết được nhiều ruồi chỉ bằng một giọt mật, còn hơn là bằng cả một thùng dấm chua.

Một lời thiếu ý thức được sánh ví như một lon dầu đổ vào lửa, làm bừng lên sự tức giận, thiêu hủy hết tình ruột thịt cũng như nghĩa bà con lối xóm.

Một lời nói vu oan có thể làm người khác mất hết tiền bạc, mất hết danh dự, tiêu tan sự nghiệp để rồi thân bại danh liệt và đi vào thế giới lao tù.

Sau cùng là trên bình diện cá nhân.

Như chúng ta đã biết :

- Lòng đầy thì mới tràn ra ngoài.

Dựa vào lời nói, người khác có thể biết được phần nào tâm hồn chúng ta. Dựa vào lời nói, thiên hạ sẽ đánh giá con người và nhận rõ bộ mặt thực của chúng ta.

Nếu chúng ta nói những điều hữu lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là người tài giỏi và khôn ngoan. Nếu chúng ta nói những điều vô lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ ngu ngốc và dại khờ. Nếu chúng ta nói những điều xằng bậy, thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ tầm phào và láo khoét.

Được yêu mến và kính trọng hay bị khinh bỉ và ghét bỏ một phần lớn là do bởi cái lưỡi và lời nói của chúng ta.

Như thế, cái lưỡi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành uy tín và thế giá của mọi người, như một câu danh ngôn đã bảo :

- Lưỡi người khôn ngoan tạo nên danh dự, còn mồm kẻ ngu dại gây đổ vỡ tan hoang.

Bởi đó, phải biết đắn đo cân nhắc, để tránh đi những lời lộng ngôn xúc phạm đến Đấng Tối Cao, những lời chua cay độc địa nhằm hạ nhục uy tín người khác, cũng như những lời côc cằn tục tĩu làm hoen ố những tâm hồn đơn sơ trong trắng, đồng thời bôi nhọ chính bản thân mình, vì ngậm máu phun người dơ miệng mình.

Như thế, nếu không biết sử dụng cái lưỡi cho đúng đắn, thì lời nói sẽ là nguồn ngốc phát sinh rất nhiều giống tội thay vì là một phương tiện giúp chúng ta cảm thông và xích lại gần nhau.

Êsôpe là một tên lô lệ, nhưng lại được ông chủ tên là Santô rất yêu mến và kính trọng.

Ngày kia có khách đến chơi, ông chủ sai Êsôpe ra chợ mua thức ăn, nhưng không bảo là mua những thứ gì. Êsôpe bèn dinh về đủ các thứ lưỡi : lưỡi lợn, lưỡi bò và lưỡi ngựa… để nấu nướng.

Lạ miệng nên xơi ngon. Ông chủ và khách khứa đều hài lòng về tài bếp núc của Êsôpe. Rồi khen lấy khen để.

Lần sau cũng có khách, ông chủ lại sai Êsôpe đi chợ và cũng không dặn phải mua những gì, Êsôpe cũng lại dinh về toàn những lưỡi là lưỡi, chỉ khác ở cách chế biến và thêm bớt gia vị.

Thấy vậy, ông chủ rất đỗi ngạc nhiên, còn Êsôpe thì kính cẩn làm một màn lý luận, bàn về cái lưỡi như sau :

- Phàm ở trên đời này, mọi sự tốt hay xấu, lợi hay hại… tất tật đều do bởi việc sử dụng cái lưỡi một cách khôn khéo hay vụng về.

Chính nhờ vậy, mà Êsôpe được chủ yếu mến và sau này được giải thoát khỏi kiếp nô lệ lầm than.

Ý thức được tầm mức quan trọng của cái lưỡi là như vậy, chúng ta hãy lắp đặt một cái phanh vào miệng, để những lúc ngứa mồm, muốn phát ngôn bừa bãi, thì biết “sì tốp” lại đúng nơi và đúng lúc.

Viết tới đây, gã bèn nhớ tới lời khuyên của người xưa, đó là :

- Hãy ngoáy lưỡi bảy lần trước khi nói.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Hận Thù Hai Mặt
Vào thời Chiến Quốc ở Trung Hoa, nước Ngô (địa phận tỉnh Triết Giang, Giang Tô và một phần Sơn Đông ngày nay) và nước Việt (địa phận nam sông Hoài, sông Tứ cho đến tỉnh Triết Giang) đánh nhau. Vua Ngô là Hạp Lư thua trận, quân Việt đâm chết. Con Hạp Lư là Ngô Phù Sai, nối ngôi làm vua, thề thế nào cũng phục thù báo hận cho cha mới nghe. Phù Sai bèn cho người đứng ở sân, mỗi khi nhà vua ra vào, người ấy phải nói to lên rằng:
- “Phù Sai kia! Nước Việt nó giết cha mầy mà mầy quên ư?.”
Phù Sai thưa rằng:
- “Dạ, không dám quên”
Ba năm sau, quả nhiên Ngô Phù Sai đánh được nước Việt, báo thù cho cha. Việt Vương Câu Tiễn bại trận, phải cùng vợ sang làm người tù chăn ngựa cho nước Ngô. Sau khi được thả về, Câu Tiễn được cầu hòa. Tuy nhiên, lòng căm thù, uất hận mong rửa được thù nhà. Đêm ngày âu sầu, lo nghĩ nát gan, tan ruột. Chất củi làm giường nằm, treo cái mật trước chỗ ngồi. Khi nằm thì trông cái mật; khi ăn thì nếm cái mật. Nhà Vua đích thân cày cuốc, vợ dệt vải, làm ăn lao khổ như thường dân. Ai là bực hiền tài thì trọng dụng, ai là kẻ khốn khó thì cứu giúp. Hơn hai mươi năm trời, lúc nào cũng như vậy. Sau khi thu phục được nhân tâm, Đại phu Văn Chủng hiến 7 kế để phục thù báo hận, đánh dẹp nước Ngô. Trong đó, mỹ nhân kế dùng Tây Thi để cho Ngô Phù Sai say đắm trong sắc dục, bỏ bê việc trị quốc, an dân. Nước Ngô càng ngày càng suy yếu. Nắm được thời cơ, nước Việt thừa kế tấn công. Ngô bại trận. Ngô Vương Phù Sai tự tử.
Nếu trong bối cảnh đó, Ngô Vương Phù Sai, Việt Vương Câu Tiễn cam tâm quên mối nhục để cúi đầu toại nguyện, thụ hưởng trên ngai vàng thì sự hưởng thụ đó bị thiên hạ cười chê, khinh bỉ. Phù Sai trả được thù cho cha, cai trị giang sơn nhưng rồi không biết “ôn cố tri tân” quên đi ý chí dấn thân ngày xưa mà say đắm trong tửu sắc, ăn chơi, tinh thần bạc nhược... để rồi bị kẻ thù năm xưa rửa hận.
Trên bước đường phục quốc, trong bối cảnh đen tối của lịch sử ở Trung Hoa được ghi trong Hán Sở Tranh Hùng, nhân vật Trương Lương với hình ảnh trong sáng đã lưu truyền hơn hai nghìn năm.
Vào thế kỷ thứ II trước Công Nguyên, Tần Thủy Hoàng (246-209) đem hùng binh tướng mạnh gồm thâu lục quốc Sở, Hàn, Ngụy, Triệu, Yên, Tề... thống nhất Trung Hoa, áp dụng chính sách bạo tàn, dã man, giết hại muôn vạn sinh linh. Tước đoạt tài sản 20 vạn nhà phú hào, đốt sách, chôn sống học trò, bắt dân chúng xây Vạn Lý Trường Thành, bắt hơn 70 vạn người cắt sinh thực khí để làm cung A phòng.
Trương Lương, tự là Tử Phòng, dòng dõi cự tộc của nước Hàn. Đất nước bị mất trong tay bạo chúa, Trương Lương uất hận, muốn trả thù ngay, thuê mướn võ sĩ hành thích tên bạo chúa gian ác. Mướn người võ sĩ cầm dùi, chờ Tần Thủy Hoàng đi ngang, xông ra đập chết, nhưng chỉ đập trúng bánh xe, việc bất thành, Trương Lương cảm thấy hành động của mình hữu dõng vô mưu trước kẻ đầy quyền lực, tiền hô hậu ủng, bèn bỏ xứ phiêu bật giang hồ, nuôi mộng phục quốc.
Trên bước đường phiêu bạt gian lao, Trương Lương gặp được vị dị nhân truyền dạy cho binh pháp mưu lược. Nhờ có kiến thức, tâm thức trong sáng, kiên nhẫn trên con đường quang phục quê hương, từ đó Trương Lương nhận định thế mạnh suy trong thiên hạ, đánh giá được con người để dấn thân. Hai khuôn mặt nổi bật nhất trong anh hùng khởi nghĩa là Sở Bá Vương Hạng Vũ và Hán Bái Công Lưu Bang trong thời điểm diệt Tần.
Trương Lương nhận thấy Hạng Vũ có sức lực vô song, quân hùng tướng mạnh nhưng hống hách, kiêu ngạo, say mê với quyền uy, thích kẻ ton hót, không biệt trọng người tài trí mưu lược như quân sư Phạm Tăng.
Khi hội kiến Lưu Bang cùng những cận thần tín cẩn có tài, có đức. Trương Lương nhận thấy Bái Công là người có chí lớn, nhẫn nại, biết quý trọng nhân tài, thận trọng trên bước đường trung hưng đất nước. Trương Lương đầu quân, trở thành mưu thần của Lưu Bang, thu phục được Hàn Tín về nắm giữ binh quyền. Quân sư Trương Lương và dũng tướng Hàn Tín sát cánh cùng Lưu Bang thân chinh trận mạc, tiêu trừ Hạng Vũ, quang phục giang sơn xã tắc. Nhà Tần bị tiêu diệt, Lưu Bang lên ngôi vua, Hán Cao Tổ lập ra triều đại nhà Hán kéo dài đến bốn thế kỷ, trước và sau Công Nguyên .
Nhà Tần bị tiêu diệt, giết được Hạng Vũ đã sát hại phụ thân, trả được thù nhà, đền được nợ nước, Trương Lương tự Trương Tử Phòng mãn nguyện mộng ước, không theo mộng công hầu khanh tướng, bỏ quan về quy ẩn, vui chốn sơn lâm.
Thế gian được bao người như Trương Tử Phòng, con người thể hiện được chính khí, tâm thành, trả nợ núi sông, không màng danh lợi!
*
Lịch sử nước nhà đã lưu lại trang sử oai hùng với hình ảnh bậc anh thư trước nỗi uất hận khi quân Bắc Phương xâm lược, dấy binh chống trả, rửa mối hận thù.
Vào đầu thế kỷ thứ I, nước ta còn bị lệ thuộc nhà Đông Hán (25-220) bên Tàu, Thái thú Giao Chỉ là Tô Định vô cùng bạo ngược, làm lắm điều tàn ác, người người oán hận. Chính sách ngoại biên của nhà Hán với nhiều luật lệ ngặt nghèo, khắt khe đã khơi dậy ngọn lửa oán hờn trong lòng dân nước Việt.
Trưng Trắc sinh năm Giáp Tuất, năm 14 sau Công Nguyên, quê ở Mê Linh (nay thuộc vùng Hạ Lôi, Yên Lãng, Vĩnh Phúc). Cha là Trưng Định, làm quan Lạc Tướng ở huyện Mê Linh. Mẹ là bà Man Thiên, tức Trần Thị Đoan, dòng dõi Hùng Vương.
Gia đình ông Đặng Tập ở Chu Diên thuộc dòng dõi Lạc Tướng, con trai ông là Đặng Thi Sách, khôi ngô, giỏi võ nghệ, có tinh thần yêu nước. Được tin ở Mê Linh có hai nữ lưu có ý chí kiên cường, dám chém đầu Tích Lâm khi buông lời khả ố, chọc ghẹo nên cảm kích tinh thần bất khuất, tìm đến kết thân.
Thi Sách và Trưng Trắc cùng chung chí hướng, tài giỏi võ nghệ, tâm đầu ý hợp nên kết nghĩa phu thê.
Năm 39, Tô Định giết Thi Sách. Vừa giận thù nhà, vừa hận nợ nước, nên Trưng Trắc cùng với em là Trưng Nhị chiêu binh mãi mã phất cờ khởi nghĩa đánh quân nhà Hán. Sau khi làm lễ để tang chồng, Trưng Trắc thảo tờ hịch kể tội ác của quân nhà Hán và kêu gọi dân chúng đứng dậy chống giặc thù để phổ biến khắp nơi.
Dưới bóng cờ nương tử, nghĩa binh Mê Linh phá quận trị Giao Chỉ của nhà Hán, ngày càng có thêm nhiều đoàn quân từ các nơi đổ về dưới bóng cờ khởi nghĩa nhằm tiêu diệt quân xâm lăng.
Theo tiếng gọi của Trưng Trắc, Trưng Nhị, ngoài các anh hùng đáp ứng tiếng gọi thiêng liêng, cao cả, nhiều vị nữ lưu đã dấn thân trong đó có nữ tướng Lê Chân, quê ở An Biên, Quảng Ninh, ái nữ của Lê Đạo, nhân sĩ tài đức, nặng tình yêu nước. Tô Định cho người đến gặp Lê Đạo để nói chuyện cầu hôn Lê Chân làm vợ nhưng bị từ chối nên bày thủ đoạn trả thù, khép tội bội phản nhà Hán để thanh toán. Lê Chân bỏ nhà vào chạy xuống vùng biển hoang vu để lẩn tránh và chiêu nạp người tài đức để mong đợi thời cơ khởi nghĩa. Nữ tướng Lê Chân chỉ huy nghĩa binh đánh quân Tô Định từ phía Bắc, lập được nhiều chiến công hiển hách. Năm 42, quân Mã Viện hai mũi giáp công với thủy bộ, tuy quân ít nhưng bà vẫn kiên trì cầm cự trong thời gian khá lâu cho đến khi thất thế bà tự vẫn để nêu cao khí tiết bậc nữ tướng.
Nữ tướng Thánh Thiên ở Bích Uyển (Hải Hưng), mang nặng thù nhà nợ nước, có tài thao lược, đứng lên chiêu tập nghĩa quân, lực lượng của bà đồn trú ở phía Bắc, áp đảo quân Tô Định. Bà được Hai Bà Trưng trọng vọng, sau khi Hai Bà Trưng tự vẫn, bà vẫn tiếp tục chiến đấu với quân của Mã Viện, bởi quân ít thế cô bà theo gương Hai Bà Trưng để giữ vững tiết tháo.
Nữ tướng Thiều Hoa ở Lăng Xương, Vĩnh Phúc, hưởng ứng tiếng gọi của Trưng Trắc, Trưng Nhị, bà đầu quân và là người có tài, đức nên được giao phó chỉ huy đạo quân, mở những trận đánh làm quân Đông Hán khiếp sợ.
Là bậc nữ lưu thuở đó nhưng rất kiên cường và đầy khí phách. Lời thề của Trưng Trắc đã được ghi lại trong Thiên Nam Ngữ Lục:
“Một, xin rửa sạch thù nhà
Hai, xin dựng lại nghiệp xưa vua Hùng
Ba, kẻo không oan ức lòng chồng
Bốn, xin vẻn vẹn sở công lênh nầy”
Chẳng bao lâu, quân của Hai Bà Trưng đã đánh hạ được tất cả 65 thành, Tô Định khiếp sợ, chạy về Nam Hải chịu tội với vua Hán.
Tin thắng trận bay đi, nhân dân các quận Hợp Phố (Quảng Đông ngày nay), Cửu Chân và Nhật Nam (Bắc Việt và Bắc Trung Việt ngày nay) hưởng ứng rất đông theo tiếng gọi của hai vị nữ anh thư. Thanh thế của lực lượng khởi nghĩa thật lừng lẫy.
Trưng Trắc lên ngôi vua, tự xưng là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh chấm dứt 150 năm Bắc thuộc lần thứ nhất (111 trước Tây Lịch đến 39 sau Tây Lịch). Trưng Trắc lên ngôi vua, phong cho Trưng Nhị làm Bình Khôi Tướng Quân, nắm giữ toàn thể quân lực.
Tháng Chạp năm 41, vua Hán Quang Võ phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, mang 20 vạn quân sang đánh. Trận kịch chiến dữ dội giữa đại quân của Mã Viện với dân binh do Trưng Nữ Vương thống lĩnh đã diễn ra ở Lăng Bạc (Đông Triều - Yên Phong, Hà Bắc). Quân Mã Viện mai phục trên các triền đất cao giữa vùng Lăng Bạc bị Trưng Nữ Vương đem quân tới chận đánh. Trận chiến đầu tiên với đạo quân của Mã Viện đã mang lại thắng lợi nhưng quân sĩ đã hy sinh quá nhiều; trước tình thế đó, Trưng Nữ Vương thu quân về giữ Cấm Khê (Hà Nội - Quốc Oai - Hà Tây).
Mã Viện xin tang cường thêm quân rồi tiếp tục kéo binh xâm lược, trận huyết chiến lại xảy ra, máu chảy đỏ sông Hồng, sông Đáy. Qua bốn trận thư hùng với quân địch, hàng vạn quân dân Việt đã bị giết và bị bắt. Quyết chống trả với quân giặc đến cùng, Trưng Nữ Vương phải bỏ Cấm Khê lui quân về đến Hát Giang, nơi đây vì quân ít, thế cô và cùng đường, hai vị anh thư không muốn rơi vào tay quân địch bèn gieo mình xuống sông tự vận để bảo toàn danh tiết.
Đó là ngày 6 tháng 2 năm Quý Mão (năm 43). Theo Nam Sử, Trưng Trắc hưởng hương 29 tuổi.
Mã Viện đem phủ trị về đóng ở Mê Linh, dựng trụ đồng nơi phân chia địa giới, khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” nhằm đe dọa, khống chế người dân cam phận sống trong cảnh lầm than!
Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sỹ viết:
“Xét quân Hai Bà Trưng bị thua chạy đến núi Hy Sơn rồi không biết đi đâu. Trong đền thờ Hai Bà Trưng, phàm những đồ thờ tự đầu sơn đen, tuyệt không có sơn đỏ, dân địa phương ấy không dám mặc áo đỏ, những khi đến yết cáo, ai có mặc áo đỏ đều cởi bỏ đi, không ai dám xúc phạm đến cấm lệ. Tục truyền rằng Trưng Vương chết vì việc binh đao nên không sắc đỏ vì giống như máu”.
Để tỏ lòng tôn kính, hàng năm vẫn tổ chức lễ kỷ niệm hai vị anh thư Trưng Trắc và Trưng Nhị vào ngày mùng 6 tháng 2 Âm lịch.
Trong “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca” có bốn câu:
“Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân”
Sách “Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập” có những vần thơ vịnh Hai Bà Trưng:
“Giúp dân dẹp loạn trả thù mình
Chị rủ cùng em kết nghĩa binh...
... Còn nước, còn non, còn miếu mạo
Nữ trung đệ nhất đấng tài danh”.
Đây là hai vị nữ lưu đầu tiên trong lịch sử nước nhà đã dấy lên phất ngọn cờ khởi nghĩa, với hận thù trước kẻ bạo tàn, mang nặng tình nhà, nợ nước mà kết hợp với bao người cùng chung chí hướng, chính nghĩa để dấn thân.
Ngày nay, ngoài quê hương Mê Linh, tại bãi Đồng Nhân ở vùng ngoại ô thành phố Hà Nội có ngôi đền cất từ năm Nhâm Tuất (1142) thờ Trưng Trắc, Trưng Nhị. Tại Hát Môn, Sơn Tây có Miếu Hát thờ phụng, theo dân gian, nơi nầy rất linh thiêng...
*
Bên cạnh nhân vật lịch sử trước và sau Công Nguyên với hình ảnh tốt đẹp; cùng mang ý chí phục thù nhưng thiếu chính nghĩa, với lòng tà, không những kết hợp để cùng nhau chung tay gầy dựng mà còn gây nguy hại cho mọi người mà ngay cả bản thân.
Điển hình qua hình ảnh đó, nhân vật hư cấu Cô Tô Mộ Dung được Kim Dung mô tả trong Thiên Long Bát Bộ nói lên mối hận thù của người mất nước nhưng mất nhân tính nên trở thành điên loạn.
Tổ tiên là hoàng tộc nước Tiên Ty, gọi là Đại Yên, nằm ở khu vực Đông Bắc Trung Hoa ngày nay, gồm Liêu Ninh, Hà Bắc, Sơn Đông, Sơn Tây, Hà Nam... được hình thành vào thời kỳ Nam Bắc triều trong thế kỷ thứ II và thứ IV. Thuở đó, người Hán coi các giống dân Thác Bạt, Hung Nô, Khất Đan, Tiên Ty, Nhung Địch... như “rợ” nhưng trong giai đoạn tranh chấp quyền lực, các giống dân nầy đã dùng sức mạnh để chinh phục người Hán. Mộ Dung Tuấn lợi dụng lúc nhà Hán suy yếu, đem quân đánh Ngụy, lập ra Đại Yên.

Dựa vào lịch sử trải qua nhiều thế kỷ, dòng họ Mộ Dung xuất hiện Thiên Long Bát Bộ vào bối cảnh nhà Tống trong thế kỷ XI. Con của Mộ Dung Bác là Mộ Dung Phục, còn gọi Cô Tô Mộ Dung, Mộ Dung công tử xuất hiện giữa chốn giang hồ như nhân vật kỳ tài, khuôn mặt thần tượng văn võ song toàn, thông minh tuyệt đỉnh, hào hoa phong nhã... làm tê tái, ngất ngây bao trái tim nữ lưu.

Nhắc đến Cô Tô Mộ Dung, giới võ lâm liên tưởng đến ngón đòn độc đáo “gậy ông đập lưng ông” đã gây kinh hoàng cho võ lâm Trung Nguyên. Nhờ mưu trí và thông minh tuyệt đỉnh, Mộ Dung Phục biết hầu hết võ công từ ngũ đại môn phái, cao thủ võ lâm đến bàng môn thổ tả... vì vậy khi đối thủ xuất chiêu, phóng kiêm... chàng biết được đường gươm, chiêu thức, chưởng phong và dùng ngay “ngón nghề” của đối phương để hóa giải và khuất phục. Chiêu thức “gậy ông đập lưng ông” làm độc giả say mê, thường được nhắc nhở, đề cập và ảnh hưởng cho đến ngày nay, liên tưởng đến ngón đòn độc đáo của nhân vật hư cấu đó, lại nhắc đến “gậy ông đập lưng ông” vô hình trung biến thành điển tích.

Biến cố đau thương xảy ra làm tiêu tan nước Đại Yên, dòng họ Mộ Dung ngậm ngùi cho thân phận kẻ mất nước. Mộ Dung Bác trá tử, tìm cách xâm nhập vào Thiếu Lâm Tự, xuống tóc làm sư qui ẩn nhằm học được 72 võ kinh trác tuyệt của môn phái Thiếu Lâm để có được võ nghệ siêu quần nhằm khôi phục đất nước Đại Yên.
Cô Tô Mộ Dung không như thân phụ, quang minh chính đại tái xuất giang hồ, đem văn võ và mưu chước của mình để thu phục nhân tài hai phái hắc, bạch như phượng hoàng trong chốn võ lâm nhằm phát triển thế lực trên con đường phục quốc Đại Yên.

Mộ Dung say mê phục quốc, bỏ mặc tình yêu với hình ảnh Vương Ngọc Yến, con cô con cậu. Vương Ngọc Yến tươi như hoa, văn võ thuộc hàng cao thủ và có trí nhớ tuyệt vời, thông minh khôn lường nhưng Cô Tô Mộ Dung vẫn lửng lơ như con cá vàng chỉ sử dụng người đẹp ghi chép hầu hết bí kiếp để nắm hết võ công trong thiên hạ. Tiểu thư Vương Ngọc Yến lấy họ mẹ là Vương phu nhân, chủ nhân Cô Tô Yến Tử Ổ, là giọt máu của Vương phu nhân và Nam Vương Đoàn Chính Thuần. Mộ Dung Phục là biểu huynh của Vương Ngọc Yến, theo phong tục Trung Hoa, được quyền yêu thương. Mộ Dung Phục không chọn tình yêu bằng trái tim mà bằng mưu đồ chính trị vì vậy nhân vật thần tượng của giai nhân Vương Ngọc Yến trải qua thời gian lâu dài chu du trong chốn võ lâm, lại cầu hôn với con người xấu hết cỡ thợ mộc - công chúa Tây Hạ - nhằm có được địa vị trọng yếu để mượn binh, trung hưng đất nước. Thế nhưng, nửa đường đứt gánh, Mộ Dung Phục quay sang đầu quân làm con của nhân vật đứng đầu trong tứ ác, mệnh danh Ác Quán Mãn Doanh Đoàn Diên Khánh, đang mưu đồ làm vua nước Đại Lý. Thần phục kẻ ác để tạo thế lực, Mộ Dung Phục nhẫn tâm sát hại thủ hạ thân tín một lòng một dạ nhằm giữ kín bí mật nhưng rồi tay trắng vẫn trắng tay.

Hình ảnh Cô Tô Mộ Dung với thù nhà, nợ nước phải hy sinh để quang phục Đại Yên vô cùng cao cả và trong sáng. Thế nhưng trên con đường chiêu hiền đãi sĩ để thu phục nhân tài, uy thế, Mộ Dung Phục đầy mưu trí, tài ba nhưng lại quá mưu mô, thủ đoạn, bất chấp nhân nghĩa, miễn sao đoạt được mục đích để nắm lấy quyền lực nên cuối cùng bị thảm hại, “thần kinh thương nhớ”. Mộ Dung Phục nuôi chí phục thù nhưng tâm đầy thủ đoạn, đơn phương hành động theo mưu đồ của mình nên bị thất bại. Muốn trung hưng Đại Yên để trong tay có đầy quyền lực, thống trị bá tánh nên tự nó đã bị cô lập, không thu phục được nhân tài hỗ trợ cho công cuộc phục quốc. Mộ Dung Phục độc đoán với mưu mô, chước quỷ để nắm trọn quyền lực, không biết kết hợp giữa tâm và trí, giữa đức độ và tài năng, vì vậy không trả được hận thù mà chuốc lấy tai hại!...
Mộ Dung Bác trá tử để trau dồi võ nghệ tuyệt đỉnh cho mộng phục quốc nhưng nơi cửa thiền đã cảm hóa hận thù. Với cá nhân, bản thân, ông đã ngộ được lòng từ tâm, nhưng với đất nước, ông bỏ mặc, không trả nợ nước, không biết nghĩ đến tiền đồ đã bị diệt vong!? Nhà văn Kim Dung xây dựng nhân vật hai nhân vật trong cùng dóng máu với hai con đường khác nhau, cho thấy ý nghĩa, tâm trí và tâm thành của con người khi dấn thân cho công cuộc.
Hình ảnh “Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung” rạng danh khi xuất hiện trong chốn giang hồ thì Kiều Phong giữ được hình ảnh trong sáng còn Mộ Dung lại chôn vùi tên tuổi.
Mộ Dung Phục sát hại người tâm phúc của mình, nhận kẻ ác làm cha, giao thiệp với ai cũng đều nhẫn tâm lừa đảo để đậy được ý muốn riêng của mình. Lúc nào cũng cảm thấy bất yên, hận thù vây quanh và không biết phân biệt chính, tà để chọn hướng đi chính đáng!
*
Ngẫm chuyện thế gian, tự cổ chí kim có muôn vàn hình ảnh cao đẹp đã đề cao tinh thần, dũng khí của bậc tiền nhân, chiến sĩ đã duy trì và thể hiện ý chí phục thù với lý do chính đáng. Với bậc anh thư, anh hùng dân tộc và cả những chiến sĩ vô danh luôn luôn nêu cao ngọn cờ chính nghĩa, quyết chí phục thù để bảo vệ giang sơn, xã tắc. Bao nhiêu anh hùng vị quốc vong thân được lưu truyền trang sử, trong đó tinh thần phục thù cho đất nước bị xâm chiếm giữ vai trò trọng yếu.

Chọn lọc những câu chuyện xưa, Cổ Học Tinh Hoa đã đơn cử hình ảnh ở Trung Hoa cách đây hơn hai nghìn năm về giá trị của tinh thần, ý chí phục thù với lời bàn: “Một bên thù cha mà báo thù, một bên vì nước mà báo thù, hai cái thù không đội trời chung, mà dụng tâm theo đuổi đến lúc báo thù kỳ được mới nghe thực là chính đáng, khiến ai nghe thấy cũng phải kính phục...”.

Lời bàn trong Cổ Học Tinh Hoa cho thấy trân quý ý chí bất khuất của hình ảnh người xưa trước niềm đau của kẻ chiến bại, không chùn bước mà đứng đậy đối đầu với lòng dũng khí và thức thời trước danh lợi.
Đơn cử hình ảnh nước nhà với bậc nữ lưu như Trưng Trắc, Trưng Nhị mà vua Tự Đức đã ca ngợi: “Hai Bà Trưng là khách quần thoa, thế mà lòng hăng việc nghĩa, còn làm rung động được triều đình nhà Hán! Dẫu thế lực yếu, thời vận ngửa nghiêng, cũng đủ dấy dức lòng người, rỡ ràng sử sách...”. Thời kỳ trọng nam khinh nữ của thuở xa xưa mà trước cảnh lầm than của đất nước, phái yếu đứng dậy để ghi lại trang sử tốt đẹp cho dân tộc, thắp sáng ngọn lửa cho hậu thế, quả là phi thường.

Và, cùng con đường phục quốc với hận thù sát cánh bên mình nhưng mang bản chất đố kỵ, chỉ biết mưu đồ với bản thân, gian xảo, độc đoán... như hình ảnh nhân vật hư cấu trong Thiên Long Bát Bộ, quả là bài học cho kẻ có tâm tà, thiếu đạo lý không thể mượn danh nghĩa nào cả để đánh bóng mà nói chuyện hận thù.

Vương Trùng Dương

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Rực Nóng Đêm Vũ Trường
Saigon là miền đất hứa của các vũ trường, quán bar. Nếu vũ trường Phương Đông, nằm ngay ngã tư Nguyễn Thị Minh Khai - Hai Bà Trưng dành riêng cho giới doanh nhân, Mưa Rừng đường Tôn Thất Thuyết dành nhiều cho giới trẻ hơn, thì các vũ trường khác như Kim Đô đường Lê Lợi hay CLB Khiêu vũ Bến Thành, tầng 3 của Nhà hát Bến Thành ban đêm lại biến thành một tụ điểm vũ trường trá hình. Nhưng cái khó nhất là làm sao thâm nhập vào vũ trường với những bức ảnh nóng nhất. Và tôi đang loay hoay tìm cách...

Thâm nhập

Thông qua người bạn tên Dũng - một tay chơi thứ thiệt ở quận 3, tôi tiếp cận K. là bảo vệ CLB Khiêu vũ Bến Thành, nằm trên tầng 3 trực thuộc Trung tâm Văn hóa quận 1. Sàn nhảy này hiện là điểm đến của thanh niên, đa số là học sinh-sinh viên (HS-SV) đông nhất trên địa bàn TP và là nơi kháo nhau của giới trẻ Saigon, nhất là khi một số vũ trường khác đang bị tạm dừng để sửa chữa.

Buổi sáng, từ khoảng 9 - 11 giờ, ở đây có những người đàn bà sồn sồn đến tìm những chàng trai lực lưỡng. Nhiều bạn của K. đã vớ bở những bà, những cô lắm tiền nhiều của, phút chốc lên đời bằng xe con hay những chiếc xe tay ga SH, Dylan... Từ 18 giờ, K. cùng các bạn làm nhiệm vụ cảnh vệ phải có mặt. 20 giờ vũ trường mới mở cửa đến hơn 23 giờ.

K. là một thanh niên cao ráo, đẹp trai vì nể bạn bè nên mới dắt tôi vào. Nhưng trước khi “xuất kích”, K. dặn: “Vào đây, bạn phải thật cẩn thận. Mọi động tĩnh phải nghe theo lời sắp xếp của tôi, chứ không bảo vệ sẽ phát hiện đó. Thâm niên 5 năm trong nghề cho phép chúng tôi biết được đối tượng vào sàn là ai, huống hồ là chụp hình. Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho bạn khi đúng thời cơ”.

Để tốt cho cả đôi bên, tôi và K. thấy nhau cứ lơ đi. Một người bạn thâm niên đi vũ trường còn bảo rằng tôi chỉ cần giơ ĐTDĐ ra là sẽ bị vệ sĩ bảo xóa ngay nếu không muốn ăn đòn hội đồng, chứ chưa nói đến máy ảnh. Anh N., một nhà báo khác, từng kể phải dùng máy kỹ thuật số nhỏ xíu ra sàn nhảy đàng hoàng như một dân chơi thứ thiệt rồi chụp từ trên cao khi lấy tay quơ quơ từ bên trên mới chụp được.

Tiếp cận

20 giờ, chúng tôi leo thang máy lên tầng 3, giữa lúc khách nhảy là HS-SV đang lũ lượt kéo tới theo nhóm. Mùi nước hoa nồng nặc. Trong tuần, thứ năm đông nhất vì tích-kê 40.000 đồng; thứ sáu và thứ bảy là 50.000 đồng, trong khi riêng tối thứ hai là đêm riêng của giới gay; những ngày khác không đông lắm.

Cửa thang máy mở ra, 5 vệ sĩ to cao đứng ngáng ngay lối ra vào như... biểu dương sức mạnh. Thấy chúng tôi, K. nháy mắt nhưng không nói gì. Sau khi mua tích-kê, chúng tôi được một vệ sĩ khác dẫn sâu vào trong sàn. Lúc này hơn 100 người cả trên lầu và dưới đất đang quây quần chờ bạn, vừa ngồi vừa nghe những bản ballad chầm chậm trôi. Trong tích-kê, mỗi người được một chai Heineken trở xuống, còn thực đơn giá bia gọi thêm là 30.000 đồng/chai, rượu Hennessy 250 ml là 300.000 đồng, Hennessy 750 m là 700.000 đồng, rượu Cognac (Pháp) 35.000 đồng/ly, 300.000 đồng/ chai...
Image Chúng tôi gọi hai chai Heineken và tu một hồi cho ra vẻ... sành điệu. Vừa uống vừa đi lòng vòng quan sát. 20 giờ 30, sàn chật kín chỗ vì sắp tới giờ disco. Ghế đứng xung quanh sàn, các bàn ngồi đông như dự kiến. Những bạn HS-SV vào thay đồ tại phòng vệ sinh nếu lỡ mặc đồ không “bốc”. “Em nói mẹ là đi học, rồi theo nhóm bạn vào đây!”- Dung, HS lớp 11, nói khi nghe tôi hỏi tại sao lại phải thay đồ. Trong khi bạn của mình toàn đồ hai dây, Dung cũng không lạc loài với chiếc áo trắng hở trước, hở sau cùng với chiếc quần đùi trắng phau, đôi má ửng hồng.

Sau những âm thanh chát chúa, sau những bước nhảy điên cuồng là những cạm bẫy mà không phải người trẻ nào cũng vượt qua được...

Nhạc nổi lên. Không ai nói ai, tất cả ra sàn. Mỗi nhóm có một người cầm trịch ở giữa với những điệu nhảy biến hóa theo từng điệu nhạc mạnh hay nhẹ sẽ có từng màn múa lửa hay hip-hop. Trong tiếng nhạc và đèn quay cuồng, đầu óc tôi cũng quay cuồng theo bởi ánh sáng chói chát. Đáng, HS lớp 12, ghé vào tai tôi: “Uống đi anh, uống cho say rồi nhảy. Chút nữa, anh em mình đi lòng vòng nha”. Tôi gật đầu OK. Những đôi trai gái quấn lấy nhau, hoàn toàn không để ý đến ai, tôi để ý thấy cô gái mặc toàn váy ngắn cùng bạn mình đầu đội mũ hay kính đen che mờ. Lúc này, hai cô bạn học cấp 3 với váy ngắn, áo hai dây cũng vào chiếc bàn cạnh sàn có bảng ghi: “Bàn đặt sẵn”.

Chờ bạn một hồi không có, Linh, tên một cô gái gọi chai Hennessy để cùng cô bạn “cưa” bên những ly trà đá. Sau một cái nháy mắt, tôi ra nhảy cùng hai nàng. Tôi đã thấm mệt sau vài bản rock thì hai cô nàng hớp một ngụm rượu tây là có thêm “năng lượng”... nhảy tiếp, trong hơi thở đầy mùi men.

Đối diện tôi, đôi bạn trẻ nọ ở quận 1 sau khi cắn mỗi người nửa viên thuốc lắc hiệu “con cá voi”, uống thêm chai nước suối đã “phê” ngay tại chỗ. Nếu như anh chàng kia đổ sập xuống bàn, mắt lim dim thì cô gái có vẻ có “sức rướn” hơn khi nhảy ngay tại bàn với tư thế rất quằn quại. Lát sau, mệt quá, cô ấy lao vào lòng chàng trai tình tự. “Đi dạo thôi anh!”- tiếng Khôi, bạn học trung học của Đáng, hiện học một trường trung cấp nghề gần Công viên Lê Thị Riêng ghé sát tai tôi.

Tôi đi trước, Đáng và Khôi theo sau. Vừa đi cả ba phải tránh những pha múa lửa của các bạn gái mặt búng ra sữa nhưng vô cùng “bốc” đang dúi vào... mình. Thấy tôi đi nhanh, Khôi kéo tôi đáp vào một nhóm bạn gái đang ở giữa sàn. Lúc này, tôi mới hiểu những cậu thanh niên choai choai đi vòng vòng như thế này là đi tìm... “đào đẹp” đây.

Thanh, HS một trường cấp 3 ở quận Gò Vấp, mặc chiếc áo đen hai dây nhảy như... quên trời đất khiến tôi phải rùng mình. Khoanh tay đứng nhìn, Đáng bảo tôi: “Thả lỏng người để nhảy cho dễ anh ơi”. Tôi nhịp nhịp theo với một nhóm 3 cô gái vừa mới vào. Thấy không ai ngã giá, 3 cô gái này đi chỗ khác tìm khách.

Giữa tiếng nhạc, tôi quay lại ghế để tìm cách chụp hình thì bắt gặp ánh mắt đầy cảnh giác của cậu nhân viên cạnh đó. Bốn góc của sàn đều có 4 nhân viên to cao đứng quan sát. Trên lầu nhìn xuống cũng có 2 nhân viên, chưa kể vòng ngoài luôn có người sẵn sàng “tác chiến”. Tôi đem theo chai bia mới qua cụng với một nhóm HS vừa tốt nghiệp THPT ở quận 4.

Châm điếu thuốc rất sành điệu, Dũng cho biết rất hay đi những nơi này thâu đêm suốt sáng. Trong khi đó, Tiên và Trang cùng nhóm đang “phê” cao trào mặc dù không dùng thuốc. Nhảy nửa chừng, Tiên ra hiệu nhờ tôi mồi thuốc. Rít một hơi dài, cô nàng nằm dài xuống ghế sa lông, sau khi hồi phục cô khỏe re và nhảy tiếp trong chiếc váy cực ngắn và chiếc áo thun ôm sát người chốc chốc “trào lên” mà cô nàng cũng không buồn sửa lại!

Xô xát

21 giờ 30, tiếng của K., đại diện cho vũ trường, thông báo đã đến giờ nhảy của vũ đoàn. Một nhóm 4 thanh niên của vũ đoàn ra sàn trong trang phục hip-hop vàng chói, tung hứng thậm chí chống đầu xoay người giữa vòng vây nhóm tuổi teen cùng những tiếng vỗ tay và xuýt xoa không ngớt. Bốn phía quá đông người không còn một chỗ trống. Trang rủ tôi ra xem nhưng chỉ còn cách leo lên ghế... quan sát từ xa. 15 phút sau, nhóm nhảy đi ra ngoài. Vũ trường lại trở về với dáng vẻ ầm ĩ ban đầu.

Tôi ngồi nghỉ trên ghế trong khi Trang ra nhảy tiếp với những cậu bạn, cô bạn cùng nhóm. Bất thình lình, Trang ngã chúi đầu lăn quay ra sàn. Cả vũ trường nháo nhào lên nhưng các vệ sĩ đã nắm tay cô gái kéo sàn sạt ra ngoài. Tiên, bạn Trang, giải thích: “Nó uống say mèm rồi”. Hóa ra, những chai Heineken “tu” vội đã làm nàng... say khướt.

Gần 23 giờ, hai vệ sĩ cao to khiêng thùng phiếu xổ số ra giữa sàn nhảy. Mọi người im bặt để chờ may mắn, 3 giải thưởng được xướng lên giữa bao tiếng la ó của người trúng giải và những điệu nhảy cẫng lên không giống ai của tuổi teen. Trong phút giây sau đó, trong những màn múa lửa cuối cùng, D., một SV trong trạng thái say mèm, đã có hành động “dê xồm” với một nữ sinh tên S. trong nhóm nhảy giữa sàn. Lập tức, S. la lớn và đánh D. Anh này cũng không vừa đã... bụp lại. Nhóm của S. lao tới vây quanh nhưng rất may các vệ sĩ đã kịp kéo cả hai ra ngoài. H., chàng vệ sĩ lúc nãy dẫn độ D. ra ngoài theo đường riêng, trong khi S. bị một vệ sĩ khác kéo ra ngoài nhưng miệng thì chửi liên hồi giữa mùi rượu nồng nặc.

Bộ đàm của H. liên tục phát tín hiệu để các vệ sĩ vòng ngoài “phân luồng” các nhóm đang chờ ẩu đả.

Đi đâu?

24 giờ, khi tình hình có vẻ yên tĩnh, tôi chạy “thoát” ra ngoài thì gặp nhóm của cô bạn tên Tiên lúc nãy. Ba chiếc xe ga lao nhanh trên đường Hai Bà Trưng, hướng về ngã tư Phú Nhuận. Tân đang chở bạn gái, nói lớn: “Ăn mì gõ nha, nhảy đói bụng quá”, tức thì cả bọn hưởng ứng. Sau đó, Tân chở bạn về thẳng hướng Gò Vấp, một chiếc SH về hướng quận 1, còn anh bạn của Tiên chở nàng về hướng Thủ Đức. Tôi nhấn ga phóng theo, qua cầu Bình Triệu, chiếc Attila này quẹo xuống đường Kha Vạn Cân để tới khu nhà nghỉ cực rẻ tại đó, giá chỉ 60.000 đồng/đêm. Vào đó làm gì thì chỉ có Tiên mới biết…

Theo Phạm Nguyên

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Anh Bán Vợ - Em Bán Con
Chúng Ta Cùng Bán Ebay!


phạm hải châu

Một bữa nọ, khách mua trên eBay nổ đom đóm mắt khi đọc lời quảng cáo rao hàng hết sức hùng dũng của một ông chồng.
Chàng đòi bán vợ giá… 1 đồng mỹ kim!
Dân đi chợ đổ xô chen lấn xô xát nhau tới u đầu sứt trán để xem … mặt hàng trên còm- pu- tơ. Người khách cuối cùng dấu tên nhưng hớn hở tươi rói bỏ gần 1 triệu bạc mỹ kim để tậu lại món hàng bở! Anh quốc được tiếng là xứ phớt tỉnh Ăng Lê, vậy mà tin rao bán vợ trên eBay đã làm rúng động tới nỗi trong một bữa ăn điểm tâm của Hoàng gia, Hoàng Tế Philip và Thái Tử Charles không hẹn mà hai cha con cùng ngó lén Nữ Hoàng Elizabeth và Hoàng Phi Camilla, gật gù đầu đăm chiêu suy nghĩ "Thằng nào mà ngon dữ dzậy cà?Không biết chết là gì sao?!".

Đó là ông Paul Osborn dân Ăng Lê chính hiệu 100%, tuy mới có 44 cái xuân xanh nhưng đã chôn đời độc thân từ lúc 20 tuổi! Sau mấy chục năm sống chung đột nhiên một ngày đẹp trời, khi nghe tin đồn nàng đã đi chơi với con mèo khác (không có lửa sao có khói!) ông chồng lập tức leo lên mạng truy lùng email, tìm ra bà vợ đang lập kế hoạch… một đi không trở lại (!) với một con mèo đực đồng nghiệp. Tức điên lên chàng Paul quăng quần áo của nàng Sharon ra đường nhưng giữ lại nữ trang đã tặng (!) và tống cổ vợ ra khỏi túp lều lý tưởng. Mà thói đời kỳ lắm, khi tình cho không biếu không thì con mèo đực kia lại hết hứng thú, nên chỉ ba tuần sau Sharon trở về xin được tha thứ.

Cũng bởi lúc nhỏ sanh nhằm giờ thứ 25 nên tánh tình dễ dãi, Paul lại đưa tay cứu vớt Sharon về ở lại. Nhưng ngựa quen đường cũ, chỉ thời gian ngắn sau chị vợ trời đánh của anh chàng đàn ông nhẹ dạ này lại rù rì rúc ra rúc rích với chàng mèo đực lần nữa. Mà loại đàn ông nhẹ dạ thì tánh tình hay cộc cằn nóng nảy đụng đâu phang đó, nên chàng Paul nhảy dựng lên tới trần nhà, vội vàng mang ngay nàng Sharon lên eBay bán đứng! Nhưng sau đó thấy vợ mình … đắt gía quá, nên ông chồng có một không hai này tá hỏa tam tinh vì tiếc của (!) lập tức lôi ngay cái tin rao bán vợ xuống và thú thật rằng "Tôi đã đăng quảng cáo bán vợ trên eBay, nhưng sau đó lại gỡ bảng xuống vì nghĩ mình đã sai. Lúc đó tôi quá nóng!".

Lần này cả bà vợ lẫn con mèo đực của chị phản công tới tấp, cùng nhau đệ đơn thưa chồng tội mang máu thực dân thích bán nô lệ như thời Trung Cổ! Chỉ có anh khách đấu giá mua được Sharon thì không được nhắc đến tên tuổi, nhưng đã đi vào lịch sử mua bán trên eBay vì dân đi chợ ….khen chàng là người đàn ông mạo hiểm nhất, bởi cái tánh thích được biến thành con hươu có cặp sừng dài thoòng cứng ngắc!
Anh bán vợ thì em bán con! Dân Âu châu chưa hết ngạc nhiên chuyện anh chàng Ăng Lê phớt tỉnh bán vợ trên eBay, thì lại nhận được một tin rao bán con ngay sau đó. Hai chủ nhân món hàng độc nhất vô nhị đễ thương, sinh sống tại miền Nam nước Đức ở Krumbach thuộc vùng Bavaria "Chúng tôi muốn bán một đứa con trai còn mới tinh, dài 70 cm, người mua có thể để nó trong nôi, trên xe đẩy hoặc trong giỏ xách tay. Lý do tôi muốn bán vì nó làm ồn quá".

Bà mẹ trẻ mới có 23 tuổi và ông bố được 24 tuổi đời. Khách đi chợ không ai nỡ mua hàng quí, nên khoảng vài tiếng đồng hồ sau cả hai vợ chồng bị bắt, khi tin bán con được báo cảnh sát vì họ bị tình nghi dính líu vào tổ chức của đường dây buôn người. Khi bị còng tay bà mẹ quí gân cổ cãi chày cãi cối "Tụi tôi dỡn chơi thôi mà". Dỡn chơi sao được. Rao bán vợ rao bán chồng còn… được, ai nỡ rao bán con! Có bà vợ nọ thù ông chồng nhẹ dạ với nhiều đàn bà khác, nghe tin rao bán vợ con trên mạng, bèn tuyên bố "Nếu rao bán thằng chả trên trên eBay tui phải kêu gía cao hơn chút đỉnh, bị vì… giả cao tới một thước sáu chớ chơi sao!"

Giá rao bán thằng nhỏ dài chưa tới 100 cm có đúng 1 euro, tương đương khoảng 1 đồng rưỡi mỹ kim!

Trong lúc con nít sơ sanh tại xứ của Hitler bị rao bán trên eBay, thì bên xứ Mỹ từ giới mệnh phụ giàu sang phú quí tới các nữ tài tử như Angelina Jolie, Nicole Kidman, Tori Spelling, Swen Stefani lại hè nhau… vác trống! Tài tử này đi cấy cho sanh đôi sanh ba, tài tử nọ bay qua tuốt luốt xứ Việt Nam xin con trai về đặt tên Pax Thiên Jolie- Pitt. Giới sản xuất phim kêu trời như bọng, vì phải trả thêm nhuận bút cho văn sĩ sửa kịch bản để theo kịp trào lưu mới!

Chuyện mua bán trên eBay trở thành cái mốt. Không biết mua bán trên eBay là đồ nhà quê lạc hậu!

Mới đây theo truyền thống thanh toán hành lý thất lạc sau một thời gian không tìm ra chủ nhân của những hãng hàng không, Bristish Airways rao bán số hành lý vô chủ cho các nhà bán đấu giá, số tiền thu được cho các tổ chức từ thiện. Ở nhà ga số 5 sân bay Heathrow ở Luân Đôn xảy ra hỗn loạn vừa qua, có đến 138 hành lý bị thất lạc. Khoảng 50 chục nhà buôn thời đại Hi- tech đã chen chúc chờ cuộc bán đấu gía này để mang về bán lại trên eBay!

Các món đồ trong hành lý được phân loại ngay tại khu đấu giá. Thứ có gía trị như laptop, nữ trang được bày bán riêng. Số hổ lốn còn lại được nhét vô bao không phân biệt xì líp xú cheng Victoria’s Secret hay loại đồ lót đàn ông Calvin Klein giống y chang đồ…(?!) của chàng cầu thủ David Beckham mặc nằm dài đưa … vòng ba phía trước ra quảng cáo! Miễn sao nhét đầy bao là có con buôn liên mạng chớp ngay cái rụp. Gía mỗi bao rẻ mạt bắt đầu bằng 5 bảng Anh!

Nhưng đời có số!

Có khi các tay buôn liên mạng cũng bị chớt quớt! Sáng ra ngõ gặp gái đẹp thì mua được hàng tươi sạch sẽ gói gém kỹ lưỡng. Lỡ gặp mặt hầm hầm chần dần của bà vợ đang thù muốn rao bán" thằng chả" trên eBay, thì kể như mua nhằm bao toàn tã con nít, vớ chân cũ rích hôi rình!

Vậy mà theo thống kê của ba hãng Cefrio, VDL2, SOM, thì trong tháng 2 vừa qua, mặc dù bị dân xứ Cờ Hoa chê là cù lần, nhưng đã có khoảng gần 1 triệu dân… nhà quê tại tỉnh bang Québec ở Canada đã mua sắm trên Internet, với số tiền tổng cộng lên cỡ 268 triệu, gần gấp đôi so với tháng 1, trong khi tổng số tiền mua hàng trong tháng 11, 12 năm 2007 là 400 triệu. Nếu tính trung bình thì mỗi dân Québec mua hàng khoảng 300$ trên Internet trong tháng 2. Mặt hàng tiêu thụ nhiều nhất là nữ trang, quần áo, sách báo phim ảnh, vé du lịch, dụng cụ máy móc điện toán.

Thời buổi chiến tranh Trung Đông chưa ngã ngũ, dầu thô xăng nhớt ùn ùn biểu tình, dân chơi xe tối tăm mặt mày bẻ vòng lái tứ tung mỗi khi thấy gía xăng chạy lên không chạy xuống! Chợ eBay thành .. shopping hiện đại dzui nhất! Ồn ào náo nhiệt như chợ Tết. Đàn bà khỏi mất công trang điểm tóc tai quần áo thơm phức lái xe ra khỏi nhà tranh dành parking lot. Đàn ông vừa ngồi canh mặt hàng coi có bà vợ nào được gía cao hơn vợ Paul Osborn, vừa ngoái cổ qua màn ảnh tivi coi Obama thắng Clinton, rồi coi làm sao John Mccain thắng cho được ứng cử viên Tổng Thống da màu này!

Nhất cử lưỡng tiện.
Anh bán vợ
Em bán con
Chúng ta cùng nhau… mua bán.
eBay!

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

VÌ TÔI LÀ LINH MỤC Đối với người Việt nam, đề tài linh mục cho đến bây giờ vẫn còn là một đề tài lạ lẫm, bởi đó thỉnh thoảng nó lại được lôi lên sân khấu, nhét vào phim ảnh hay được những ngòi bút đá động tới, mỗi lần như thế thì thường gây nên nhiều ấn tượng, nhiều chú ý và nhiều ồn ào.

Nếu gã nhớ không lầm thì hồi trước giải phóng, Lệ Hằng, một nhà văn nữ, đã viết cuốn tiểu thuyết mang tựa đề là “Tóc mây”, nói về cuộc tình giữa Tố Kim, một cô sinh viên Đà lạt, với Hà vĩnh Duy (?), một linh mục nhạc sĩ.

Tác phẩm này đã tạo nên một cơn lốc, mà lúc bấy giờ thiên hạ gọi là “hiện tượng tóc mây”. Vào thời điểm ấy, gã đang dạy Việt văn tại một trường trung học hẻo lánh vùng Thất sơn khỉ ho cò gáy. Các em nhỏ học sinh, nhất là phe kẹp tóc, đa số là người Phật giáo, thậm chí còn có cả đôi ba cậu sư Miên, đến tuổi thì vào ở chùa theo tục lệ, rồi sau đó mới được thả về nhà lấy vợ…thế mà cũng nhao nhao đòi thuyết trình và hội thảo về tác phẩm này.

Hình như trước hay sau đó ít lâu, nhạc phẩm “Vì tôi là linh mục” cũng được ra lò và chiềng làng.

Bài hát này đã gây được một âm vang khá lớn, thậm chí những lúc buồn tình, các cô gái ngây thơ cũng chu mỏ và ngay cả các “ma xơ” cũng mở miệng nghêu ngao :

- Vì tôi là linh mục,
Không mặc chiếc áo dòng,
Nên chi đời đau khổ,
Nên trót đời lang thang…

Hẳn đây là tâm sự buồn của một linh mục lỡ dại trót yêu một tín đồ duy nhất, nên đã cởi bỏ chiếc áo chùng thâm mà đi bụi đời ?

Sau giải phóng, hễ nghe có cuốn chuyện nào viết về linh mục, gã cũng vội vã đi mua hay đi mượn mang về coi cọp, chẳng hạn như Bão biển của Chu văn, Người mục tử trong sương mù…

Lúc đầu thì đọc ngấu đọc nghiến vì tò mò, nhưng chỉ được dăm bảy trang thì bèn giở quẻ ngáp dài ngáp vắn, ngáp lên ngáp xuống, ngán đến tận cần cổ, đành phải cố nhướng mắt mà nuốt cho hết thế mà nó vẫn chẳng chịu trôi.

Bởi vì, ngay từ những trang đầu gã đã ngửi thấy sặc sụa mùi bôi bác và đã nhận ra ý đồ đen tối của những tác giả trong luồng, đó là chụp lên đầu những vị linh mục tội nghiệp ấy cái mũ phản động hay cái mũ đồi trụy.

Chính vì những toan tính bẩn thỉu và lộ liễu ấy, nên những cuốn chuyện này đã mau chóng bị chìm vào quên lãng, chẳng cuốn hút được người đọc, thậm chí còn phản tác dụng, khiến thiên hạ lại càng thương cho…mấy ông cha hơn.

Xét về nguyên do của việc tu trì, thiên hạ thối mồm thường bảo :
- Trốn việc quan đi ở nhà chùa…Chán đời, hay thất tình thì đi…tu, bởi vì tu là cõi phúc, tình là giây…thung.

Và người ta đã khai thác chủ đề này, viết thành những tác phẩm nổi tiếng, chẳng hạn như “Hồn bướm mơ tiên”, hay dàn dựng thành những vở kịch ăn khách, chẳng hạn như “Chuyện tình Lan và Điệp”

Gã chơi thân với một anh chàng. Anh chàng này thương một cô nàng, nhưng đây chỉ là một tình yêu đơn phương, có nghĩa rằng thì là anh chàng thì thương da thương diết, còn cô nàng thì lại lạnh lùng, ngoảnh mặt làm ngơ, khiến cho lái tim của anh chàng cứ héo hắt và quay quắt.

Thế rồi, cô nàng đi lấy chồng, kết tóc xe duyên với một thằng bạn cùng học chung “mí nhau” từ thuở còn mặc quần thủng đũng. Lái tim anh chàng tan nát theo kiểu :
- Ngày nhà em pháo nổ,
Anh cuộn mình trong chăn,
Như con sâu làm tổ,
Trong trái vải cô đơn.

Anh chàng thẫn thờ thờ thẫn như kẻ mất hồn, lang thang như người cõi trên và miệng thì lảm nhảm theo giai điệu của bài “Love story” :
- Ôi biết nói gì cuộc tình quá lớn.
Cuộc tình quá lớn ôi biết nói gì cuộc tình lớn quá.
Cuộc tình lớn quá ôi biết nói gì cuộc tình quá lớn.
Cuộc tình quá lớn ôi biết nói gì cuộc tình lớn quá…

Sau cú sốc quá đau vì cuộc tình quá lớn bị vỡ tung, anh chàng lặng lẽ khăn gói quả mướp, lê từng bước chân âm thầm vào một nhà dòng và tu ở đó. Ơn Chúa tuôn đổ. Một thời gian sau, anh chàng được thụ phong linh mục. Trong ngày mở tay, cô nàng dắt cháu bé tới và nói :
- Con ạ cha đi con.
Cha mới chớp chớp đôi mắt “mơ huyền” và lãng đãng nhìn về chốn xa xôi…Bây giờ mỗi khi nhắc lại chuyện xưa, vị linh mục này thường hay mỉm cười nói với bè bạn :
- Nếu không bị cô nàng đá lên đá xuống, toạc đầu xẻ mũi, thì có lẽ mình đã làm bố cụ, chứ đâu có thèm làm cụ như anh em thấy đó. Chúa chọn con như sét chọn một cây tầm thường. Quả là ý Ngài nhiệm màu hết xảy.

Bên đạo chúng ta, lý do “thất tình đi tu” chẳng phải là không có, nhưng xem ra rất họa hiếm vì chú nhóc thường vào chủng viện hay nhà dòng từ hồi nhỏ, tóc còn để chỏm.Thế nhưng, ở cái thuở “thò lò mũi xanh” ấy, chú nhóc làm sao hiểu được ơn gọi là đí gì ?

Đơn giản, chú nhóc thích đi tu chỉ vì thấy mấy “cụ” được đi giày tây, ăn bánh tây và ở nhà tây. Ra ngoài đường được cả và thiên hạ khoanh tay cúi đầu chào :
- Con xin phép lạy cha ạ.

Đôi khi cha mẹ muốn cho con cái đi tu chỉ để sau này chúng được nhàn hạ và hạnh phúc, như lời phát biểu hăng tiết vịt của bà hiền mẫu nọ với cha phó kia trong một cuộc hội họp hàng tháng :
- Đi tu như các cha các dì thế mà sướng, chứ đèo bồng ở ngoài đời như chúng con khổ lắm cha ạ.

Có chú nhóc đi tu chỉ vì ông già, bà già thầm mong được mọi người gọi mình là “ông cố”, “bà cố”. Bởi cái giấc mộng vàng ấy, khi thấy chú nhóc của mình trở chứng, muốn giã từ đời tu, một ông “chuẩn cố” đã thẳng thừng nói với “chú nhà tràng” như sau :
- Thà rằng mày làm con chó nhà Đức Chúa Trời, còn hơn là làm vương làm tướng ngoài thế gian, con ạ.

Những lý do “lôm côm” ban đầu này cùng với năm tháng dần dần được đẽo gọt, được mài dũa, để rồi kết tinh và cô đọng lại thành cái lý tưởng phục vụ Thiên Chúa và tha nhân.

Trong thánh lễ mở tay của cha mới, các vị giảng thuyết thường hùng hổ đến xùi cả bọt mép đề cao vẻ đẹp tuyệt vời của thiên chức linh mục, ít ai cả gan dám đề cập tới những thập giá của tước vị này, khiến cho cha mới chỉ nhìn thấy bông hồng mà quên đi những gai nhọn của nó.

Với những lời ca ngợi và chúc tụng ấy, ngày mở tay được coi như là đỉnh vinh quang Taborê của cha mới, không khéo thì cha mới cũng thưa lên với Chúa như Phêrô ngày xưa :
- Lạy Thày, chúng con được ở đây thì thích lắm. Chúng con xin làm ba lều, một cho Thày, một cho Maisen và một cho Elia.

Thế nhưng, tiệc rượu thì chóng tàn, ngày vui thì qua mau, vinh quang Taborê chỉ kéo dài trong thoáng chốc, để rồi tới lúc phải xuống núi và đối đầu với thập giá đời thường. Và đời thường thì nhiêu khê, lắm nỗi truân chuyên và nhiều phen lao đao, xất bất xang bang…
Các bậc lão thành thường đề cập tới ảnh hưởng của linh mục đối với giáo dân như sau :
- Linh mục thánh thiện thì giáo dân đạo đức. Linh mục đạo đức thì giáo dân loàng xoàng. Linh mục loàng xoàng thì giáo dân nguội lạnh. Linh mục nguội lạnh thì giáo dân xấu xa. Linh mục xấu xa thì giáo dân biến thành… quỉ dữ.
Như thế, giáo dân bị đánh tụt một bậc so với linh mục. Đó cũng là điều dễ hiểu bởi vì linh mục là sư phụ, còn giáo dân là đệ tử về đàng thiêng liêng. Đệ tử làm sao hơn sư phụ. Linh mục là người hướng dẫn. Nếu người hướng dẫn mà mù, thì như lời Chúa đã dạy :
- Mù dẫn mù, cả hai đều lăn tòm xuống hố.
Cùng với những ý tưởng trên, gã nhớ tới một bài giảng nhân ngày mở tay của một cha mới. Đại khái như thế này :
“Hãy cột một chiếc nút để xe kết hai đầu giây, đó là linh mục, bởi vì linh mục xe kết con người với Thiên Chúa. Hãy xây một cây cầu nối liền hai bờ bến xa cách, đó là linh mục bởi vì linh mục nối liền đất với trời. Nói cách khác, linh mục là trung gian giữa nhân loại và Đấng Tối Cao.
“Vì vậy, một bên linh mục phải nắm chặt lấy bàn tay Thiên Chúa, còn một bên linh mục phải nắm chặt lấy bàn tay con người, để rồi đặt bàn tay con người vào lòng bàn tay của Thiên Chúa, cho tình yêu được đâm bông kết trái và ơn tha thứ được trao ban. Chính cái thế tay trong tay này là điều chúng ta mong mỏi nơi các linh mục.
“Cái thế tay trong tay ấy đòi hỏi linh mục phải gắn bó với Thiên Chúa đã đành mà con phải gần gũi với con người. Nếu linh mục rời bỏ một trong hai bàn tay, không nắm chặt lấy bàn tay Thiên Chúa hay không nắm chặt lấy bàn tay con người, lúc bấy giờ linh mục sẽ không chu toàn chức vụ của mình.
“Phải gắn bó với Thiên Chúa, đó là bổn phận thứ nhất của linh mục. Thực vậy, nhiệm vụ của linh mục là không ngừng đem Chúa đến cho mọi người. Và muốn đem Chúa đến cho mọi người thì chính bản thân linh mục phải là người có Chúa trước đã. Có Chúa trong tâm hồn và có Chúa trong cuộc đời vì linh mục không thể cho người khác cái mình không có.
“Đức Kitô phải chiếm chỗ nhất trong trái tim linh mục, phải là thần tượng của linh mục, phải là điểm khởi đầu và kết thúc của cuộc đời linh mục, phải là trọng tâm cho mọi hoạt động của linh mục. Trái đất xoay quanh mặt trời thế nào thì cuộc đời của linh mục cũng phải xoay quanh Đức Kitô như vậy, để rồi linh mục có thể hãnh diện nói lên như thánh Phaolô : Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, mà là chính Đức Kitô sống trong tôi.
“Tiếp đến linh mục còn phải gần gũi với con người. Gần gũi với con người bằng cách chia sẻ những lo lắng, cảm thông những khó khăn và tận tình giúp đỡ những cần thiết, để rồi từ đó linh mục sẽ chỉ cho con người nhận ra bàn tay dịu hiền và trái tim nhân hậu của Thiên Chúa.
“Phải gắn bó với Thiên Chúa nhưng đồng thời cũng phải gắn bó với con người. Phải nắm chặt lấy bàn tay Thiên Chúa cũng như phải nắm chặt lấy bàn tay con người để tạo cho được cái thế yêu thương tay trong tay.
“Tội lớn nhất của linh mục không phải là đã trót sa ngã, đã trót vấp phạn, bởi vì Thiên Chúa không chọn các thiên thần, nhưng đã chọn những con người tầm thường và yếu đuối làm linh mục của Ngài. Tội lớn nhất của linh mục, đó là đã rời bỏ một trong hai bàn tay ấy. Hoặc là đã quay lưng chống lại Thiên Chúa, hoặc là đã thờ ơ lạnh nhạt với anh em đồng loại. Lúc bấy giờ, linh mục chỉ còn là một nhịp cầu đã gẫy, một nút giây đã đứt hay một người lính đã đào ngũ. Trong chiến tranh, mục tiêu kẻ thù thường nhắm tới trước hết để triệt hạ, để phá hủy, chính là những cây cầu…”
Từ đó, gã không ngạc nhiên khi thấy người ta cố ý bôi nhọ và bêu rếu các linh mục, bởi vì đó là mưu thâm chước độc của …”địch”.
Tuy nhiên, không phải chỉ phe địch mới bôi nhọ và bêu rếu các linh mục, nhiều khi chính con cái trong nhà cũng đã bạo phổi và mạnh miệng chỉ trích các linh mục một cách đầy ác ý. Họ luôn hỏi rằng :
- Linh mục đã làm gì cho tôi ?
Nhưng lại chẳng bao giờ dám nhìn thẳng vào lương tâm để kiểm điểm xem :
- Tôi đã làm gì cho linh mục.
Hễ thấy linh mục có chút gì sai lỗi thì lập tức liền xì xầm bàn tán, rồi mím môi mím lợi thổi phồng bong bóng. Họ đâu có ngờ rằng rất nhiều khi chính giáo dân đã làm hư linh mục.
Sau đây gã chỉ xin trình bày hai trường hợp, hai thái cực nho nhỏ, trong đó giáo dân đã xô linh mục vào chân tường, đã đẩy linh mục tới chỗ bất ổn hay đã làm hư linh mục.
Trường hợp thứ nhất đó là thái độ quá trọng kính đến độ khúm núm, coi linh mục như là một người thông biết mọi sự và chẳng hề sai lỗi bao giờ. Mới ngày nào bè bạn còn “mày tao chi tớ” mí nhau, nhưng một khi đã thụ phong linh mục, từ hòn đất được cất nên ông bụt, thì lập tức được gọi là cha, là cụ, là cố…khiến cho thiên hạ, kể cả những người thân yêu nhất, cũng phải “kính nhi viễn chi”.
Trọng kính linh mục là điều rất tốt, nhưng quá trọng kính đến độ khúm núm thì lại là điều nguy hiểm vì nó dễ làm cho linh mục quên đi mình xuất thân từ một cục đất, mình chỉ là một dụng cụ tầm thường trong bàn tay Thiên Chúa, đồng thời luôn mang ảo tưởng mình là một ông bụt, mình là cái rốn của vũ trụ, rồi từ đó trở thành quan liêu, độc tài, độc đoán và…mất dạy.
Đọc tới đây, hẳn có người sẽ nghĩ rằng :
- Tên này thật lếu láo, dám cả gan bạo phổi nói mấy cố mất dạy, thì đúng là hết thuốc chữa.
Bởi đó, gã xin lớn tiếng thanh minh thanh nga rằng :
- Mất dạy ở đây không có nghĩa là vô phép, hỗn hào… mà đơn giản chỉ là không còn được dạy bảo nữa mà thôi.
Nếu hiểu như thế, cộng thêm với một chút suy nghĩ, chúng ta sẽ nhận ra phần nào sự thật. Đây cũng là lời khuyên của một bà cố nói với người con của mình vừa mới đỗ cụ :
- Con ơi, kể từ ngày hôm nay, nếu con không ý tứ, thì con sẽ trở nên một người mất dạy, bởi vì với chức linh mục, con sẽ không còn được ai dạy bảo nữa.
Đúng thế, xuất phát từ quan niệm cho rằng linh mục là người thông suốt mọi sự, nên trong bối cảnh của xã hội Việt Nam, linh mục thường phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau. Từ một người rao giảng lời Chúa và cử hành các Bí tích cho đến một người đứng ra hòa giải các vụ tranh chấp và kiện tụng, làm cố vấn cho các đôi hôn nhân và các gia đình, làm kỹ sư kiêm đốc công cho các dự án xây dựng, làm quân sư quạt mo hướng dẫn bà con về cung cách làm ăn…Ấy là chưa nói tới những linh mục còn phải lãnh nhận cả những chức vụ phần đời, như thành viên của tổ chức này, phần tử của tổ chức nọ, đứng đầu hợp tác xã hay làm chủ máy cày, máy xay…
Với những công việc vừa đa dạng, vừa bận rộn như thế, linh mục rất dễ sao lãng việc sống gắn bó với Chúa qua những tâm tình cầu nguyện. Từ việc sao lãng ấy, linh mục không còn nhận ra sự soi dẫn và chỉ bảo của Chúa nữa, để rồi trở nên mất dạy dưới cái nhìn xót xa của Chúa.
Tiếp đến, do những thành công gặt hái được và nhất là do những trọng kính thái quá người ta dành cho mình, linh mục cứ ngỡ rằng mình là một bậc thày lỗi lạc, trổi vượt lên trên mọi người, ý kiến của mình phải luôn luôn đúng…nên dễ dàng gạt phăng xi lô những ý kiến đóng góp, những đề nghị xây dựng khi những ý kiến đóng góp và những đề nghị xây dựng ấy khác với đường lối chủ trương của mình.
Từ đó, như đã trình bày, linh mục dễ rơi vào tình trạng độc tài và độc đoán, không còn biết lắng nghe và đón nhận. Như vậy, phải chăng linh mục cũng đã làm cho mình dần dần trở nên mất dạy ?
Ấy là chưa nói đến những trường hợp vì đa đoan công việc, linh mục sao lãng chuyện tìm hiểu và trau dồi thêm kiến thức đạo đức, khoa học, xã hội…qua sách vở, báo chí và những phương tiện truyền thông khác, để rồi trình độ mỗi ngày một xuống cấp và không sớm thì muộn cũng sẽ bị “tụt hậu”.
Trong ngôn ngữ thường ngày, người giáo dân được gọi là con chiên. Quan niệm này xuất phát từ Kinh thánh. Chiên ngoan thì phải biết lắng nghe và vâng phục chủ chăn. Điều đó rất đúng, nhưng phải làm thế nào để xóa bỏ tính thụ động của nó, bởi vì người giáo dân hôm nay tương đối đã trưởng thành, nên cần phải biết chia sẻ trách nhiệm và góp phần xây dựng tích cực của mình vào cộng đoàn dân Chúa.
Trường hợp thứ hai là thái độ vô ơn, nghiêm khắc và thiếu cảm thông của giáo dân đôi khi đã làm cho linh mục buồn đau đến…rơi cả nước mắt.
Một trong những nguyên tắc cư xử thông thường, đó là hãy nghiêm khắc với bản thân mà khoan dung với người khác. Thế nhưng, thiên hạ lại hành động ngược với nguyên tắc thông thường ấy, bằng cách tỏ ra nghiêm khắc với người khác mà khoan dung với chính bản thân mình. Quan điểm này cũng được giáo dân áp dụng vào mối liên hệ với linh mục.
Thiên hạ thường nói : nhân vô thập toàn, đã là người thì ai cũng có những sai lỗi của mình, kể cả linh mục vì linh mục cũng mang thân phận mỏng dòn. Rồi bá nhân bá tánh, năm người mười ý, bàn tay còn có ngón dài ngón ngắn. Hay như tục ngữ cũng đã bảo :
- Ở sao cho vừa lòng người.
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê.
Cao chê ngỏng, thấp chê lùn.
Béo chê béo trục béo tròn.
Gầy chê xương sống, xương sườn phơi ra.
Linh mục được sánh ví như người làm dâu trăm họ, nên khó có thể làm vừa lòng mọi người và nếu cố gắng làm vừa lòng mọi người thì rốt cuộc sẽ chẳng làm vừa lòng một ai.
Giáo dân hay quên mất những công ơn linh mục đã làm, mà chỉ nhìn thấy những khuyết điểm của linh mục để lên tiếng phê bình chỉ trích một cách gắt gao, rồi dắt díu nhau lên Tòa giám mục, nộp đơn cho Đức cha hay cho nhà nước mà kiện tụng linh tinh.
Thưở ban đầu, vùng Cái sắn chỉ là một cánh đồng hoang với cỏ dại mọc um tùm. Một cha sở dẫn đoàn chiên của mình tới cắn dùi. Cha sở ấy bỏ công sức, tiền bạc ra xây dựng, từ nhà thờ, nhà xứ đến trường học…
Cùng với thời gian, cha sở mỗi ngày một già. Và đã già thì cũng hay có những sự lẩm cẩm. Trước những sự lẩm cẩm ấy, người ta đã xì xào bàn tán, viết thư nặc danh ném vào phòng, hay tố cáo chỗ này chỗ nọ, chỉ vì cha sở đã già.
Tòa giám mục hay biết liền đổi cha sở đi một nơi khác. Nhận được tin ấy, người ta mừng rỡ ra mặt, nhưng vẫn cử đại diện lên gặp Đức giám mục để xin cho cha sở được ở lại với dáng bộ rất thiểu não. Thế nhưng, khi được hỏi :
- Bộ các ông đã chẳng muốn cho cha đi hay sao ?
Một trong những vị đại diện đã trả lời :
- Cha đi mà mình chẳng níu kéo thì coi sao được. Ôi dào, đời mà.
Nghe câu trả lời này, đến như gã chỉ là một kẻ hậu sinh mà cũng còn cảm thấy tê tái cõi lòng, đúng như người xưa đã bảo :
- Bạc như dân, bất nhân như lính.
Bao lâu linh mục còn khỏe mạnh để phục vụ giáo xứ, thì vẫn là một người cha đáng mến đáng trọng, nhưng một khi đã đau yếu, đã già nua và đã là một gánh nặng, thì liền trở nên một cái gai cần phải nhổ đi. Nói vậy xem ra khí quá, nhưng trong thực tế, có những sự việc xảy ra khiến cho gã phải suy nghĩ.
Một cha sở trẻ chẳng may bị ung thư và qua đời. Việc chạy chữa và mai táng tốn kém khá nhiều. Tốn kém ấy được chi trả bằng tiền riêng của cha sở. Vì không đủ nên còn tồn đọng lại một món nợ. Sau khi cha sở được “mồ yên mả dài”, người ta đã cãi nhau chí chóe về món nợ này. Giáo xứ cũng như dòng họ không ai muốn trả cả. Cuối cùng thì Tòa giám mục đành phải ép lòng ép xác mà nhận vậy…
Một cha sở trẻ khác vừa mới khánh thành ngôi nhà thờ cho giáo xứ thì lâm bệnh nặng. Bệnh nặng chữa không khỏi mà tiền bạc thì lại hao tốn. Cha sở trẻ nằm dưỡng bệnh ở nhà xứ, rồi cứ vài tuần phải đi tái khám và mua thuốc uống tận Saigon. Cứ thế, cứ thế. Lúc đầu chưa có chuyện gì, nhưng sau một thời gian, những tiếng eo xèo bắt đầu nảy sinh, mỗi ngày một lớn cộng thêm với chuyện này chuyện nọ, rồi cuối cùng cha sở trẻ đã phải khóc mà xin đi hưu…non, như “con chim ẩn mình chờ chết”.
Có lẽ thấm thía nhất là nỗi cô đơn của linh mục. Gã nhớ không rõ một tác giả nào đó đã diễn tả :
- Chiều Chúa nhật, mọi người ra về, cửa nhà thờ khóa lại. Một mình tôi đơn độc trong khu nhà xứ rộng mênh mông. Thưa chuyện với Chúa, thì hình như Chúa cũng xa vời. Cuối cùng thì cũng chỉ vò võ một mình, tôi nhìn tôi trên vách.

Nỗi cô đơn sẽ đậm đặc hơn khi linh mục đau yếu. Một cha phó đã bật mí cho gã biết như sau :

- Ngày nọ mình bị đau nhờ chú nhỏ giúp lễ đi tìm người cạo gió. Nhờ bà này hay cô kia thì không ổn, bởi vì thiên hạ sẽ bảo rằng đó là chước mốc ma quỉ. Các bà các cô, hiền thì có hiền, nhưng đôi khi cũng dữ như sư tử Hà đông. Khi đoàn “nữ binh mùa thu” này mà đã loan tin bằng chiến thuật rỉ tai thì còn nhanh hơn cả những máy móc điện tử hiện đại nhất. Được dặn dò kỹ càng, chú nhỏ giúp lễ kêu về một ông hàng xóm đang trong tình trạng say không ra say, xỉn không ra xỉn, mới xơi đâu được ba xị rượu đế. Mà như dân ghiền thường bảo : một xị thì mở mang trí hóa, hai xị thì giải bớt cơn sầu, ba xị thì mũi chảy đầy râu, bốn xị thì ngồi đâu khóc đó…Vì được thoa dầu, nên khi cạo gió thân thể mình đang nóng bừng bừng, thì bỗng dưng cảm thấy lạnh toát ở xương sống, hóa ra nước mũi của ông hàng xóm cứ vô tư rơi thánh thót trên tấm lưng của mình. Lần khác khi giác, ông ấy đã đổ ụp cả một ống dầu hôi lên người…Nhiều khi đau ốm, đành âm thầm nằm ngó lên trần mà xem những con thằn lằn đuổi nhau.

Sau cùng, nỗi cô đơn sẽ đặc quánh khi linh mục về già. Nhà hưu thì nơi có nơi không. Mà có thì cũng khá xập xệ. Còn về ở với gia đình, không phải là không bất tiện. Nếu mình có tí tiền còm giắt cạp quần, thì con cháu xem ra hăm hở nhiệt thành. Nhưng khi tiền đã hết, thì tình cũng chấp cánh bay cao và sự chăm sóc bèn trở thành một gánh nặng. Có khi chưa chết mà chúng đã vội chia chác, hay chôm chỉa được cái nào hay cái ấy.

Mặc dù còn dài, nhưng gã xin “xì tốp” nơi đây bằng vài mẩu chuyện nhim nhím.

Chuyện thứ nhất : Đức giáo hoàng Piô X, ngay sau khi vừa được tấn phong làm Giám mục Montova, đã về thăm gia đình và khoe với mẹ chiếc nhẫn giám mục của mình :
- Này bu, bu xem chiếc nhẫn Giám mục của con có đẹp hay không ?
Người mẹ bèn giơ ra chiếc nhẫn cưới đang đeo trên tay và bảo :
- Nếu không có cái này thì làm sao có cái kia.

Chuyệnthứ hai : Nghỉ hè, mấy thày rủ nhau đi Lái thiêu. Ban trưa ghé vào một gia đình mượn con dao để bổ trái cây. Chủ nhà là một sư huynh Lasan đã xuất và lập gia đình, bèn nói với các thày như sau :

- Hãy cố mà tu cho đắc đạo để làm vinh danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Còn không tu được thì cũng chẳng sao, về đây qua sẽ liệu cho. Bởi vì lũ con của qua toàn là…thị mẹt không à. Bậc sống nào cũng tốt. Tu là cõi phúc mà tình cũng là cõi phúc, miễn là mình đi đúng con đường của Chúa.

Từ khi đi chủng viện cho tới lúc ra làm cha, tỷ lệ 10%, nghĩa là cứ 10 kẻ vào tu thì chỉ có 1 người leo lên tới chức linh mục. Kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít. Còn bao nhiêu thì rơi rụng dọc đường. Điều đó chứng tỏ tu không phải là chuyện dễ và đời tu không phải là vắng bóng thập giá. Có ở trong chăm mới biết chăn có rận và đoạn trường ai có qua cầu mới hay.

Đã cố gắng mà chẳng được làm cha cố, thì làm ông cố cũng tốt thôi, vì không có ông cố, làm sao có cha cố.

Post Reply