Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Trò Hề Vỡ Mặt;
Vụ Án Con Voi PMU 18 Biến Thành Con Chuột Nhắt


PHẠM TRẦN .
Hoa Thịnh Đốn.- “Thật đáng tiếc, trong khi Đảng, Chính phủ kêu gọi chống tham nhũng và đánh giá cao vai trò của báo chí trong công cuộc chống tham nhũng thì hai phóng viên "nhiệt huyết, có nghề" của hai tờ báo có uy tín đã bị bắt. Trước khi bị đưa đến nơi tạm giam, nhà báo Nguyễn Việt Chiến vẫn khẳng khái: "Tôi không có tội gì, tôi chỉ có tội duy nhất là tội tích cực chống tham nhũng. Tôi đã mời hai luật sư bảo vệ cho tôi, và tôi sẽ đấu tranh đến cùng để bảo vệ lẽ phải cho mình".

“Báo Thanh Niên hoàn toàn ủng hộ và sẽ đứng bên cạnh nhà báo Nguyễn Việt Chiến trong cuộc đấu tranh này. Chúng tôi tin tưởng bạn đọc sẽ tiếp tục đặt lòng tin vào Báo Thanh Niên và tất cả các nhà báo chân chính, đồng thời sẽ hợp tác chặt chẽ với cơ quan pháp luật làm sáng tỏ sự việc vì lợi ích của đất nước và dân tộc.”

Báo Thanh Niên, nơi Phóng viên Nguyễn Việt Chiến phục vụ đã viết như thế, sau khi Chiến và đồng nghiệp Nguyễn Văn Hải của báo TuổI Trẻ bị Công an bắt ngày 12-5 (08 ) về tội "lợi dụng chức vụ và quyền hạn trong khi thi hành công vụ".

Ban Biên tập báo Tuổi Trẻ cũng phát biểu :“Với báo Tuổi Trẻ, nhà báo Nguyễn Văn Hải là một con người có bản lĩnh, đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu. Việc nhà báo Nguyễn Văn Hải được tín nhiệm cử giữ chức Phó trưởng Văn phòng đại diện báo Tuổi Trẻ kiêm Bí thư Chi bộ Văn phòng đại diện báo Tuổi Trẻ tại Hà Nội đã phần nào nói lên điều đó.”

Theo báo Thanh Niên, “Ban Biên tập của Báo Tuổi Trẻ vẫn khẳng định anh Nguyễn Văn Hải là một cây bút trong sáng, đầy nhiệt huyết và dũng cảm trong cuộc chiến chống tham nhũng.”

Quyết định khởi tố bị can của Bộ Công an cho rằng hai nhà báo Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Việt Chiến đã đưa những thông tin sai sự thật về vụ án Bùi Quang Hưng và Bùi Tiến Dũng cùng đồng bọn phạm tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc; vụ án Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, Đưa nhận hối lộ, tham ô tài sản tại Ban Quản lý dự án 18 (PMU 18 ).

Nhà nước không cho dân biết giá trị bằng tiền của “quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, Đưa nhận hối lộ, tham ô tài sản tại Ban Quản lý dự án 18 (PMU 18).” Nhưng, theo các báo trong nước thì “ Cáo trạng của Viện KSND tối cao nêu rõ quá trình phạm tội của Bùi Tiến Dũng kéo dài từ khi lên giữ chức tổng giám đốc PMU18 (1998-2005). Trong thời gian này, bị can đã cho mượn và sử dụng sai mục đích bảy ôtô; sử dụng không đúng tiêu chuẩn, định mức hai ôtô. Theo kết luận giám định của Viện Khoa học hình sự (Bộ Công an), giá trị thiệt hại trong việc cho mượn và sử dụng chín ôtô này đã gây thiệt hại tổng số tiền trên 2,68 tỉ đồng.”

Cùng ngày bắt Chiến và Hải (12-5-08 ), Bộ Công an còn bắt giam Thượng tá Đinh Văn Huynh,nguyên trưởng phòng 9 của C14 (Ban điều tra tội phạm về trật tự xã hội của Bộ Công an) về tội “lợi dụng chức vụ và quyền hạn trong khi thi hành công vụ" khi điều tra vụ PMU 18.

Ngạc nhiên hơn, sau đó một ngày, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an khởi tố điều tra Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc, nguyên Cục trưởng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - C14, người từng chỉ huy điều tra vụ PMU 18. Ông Quắc cũng bị buộc tội “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.”

Các báo trong nước đưa tin: “Thiếu tướng Thanh Hoa, phát ngôn Bộ Công an cho rằng, cơ quan điều tra đã đủ căn cứ xác định việc đưa tin sai sự thật về vụ án là do một số cán bộ điều tra và phóng viên.”

Như vậy là những người một thời được đảng và nhà nước khuyến khích tích cực điều tra và giúp thông tin chống vụ tham nhũng, chạy tội lớn nhất Việt Nam, có lúc làm rung chuyển chế độ, không được tuyên dương mà bị tố ngược.

NGẠC NHIÊN CHƯA ĐỦ

Sự cố đảo ngược thế cờ làm “chóang váng mặt mày” nhiều người cũng bị báo Thanh Niên thắc mắc với Nhà nước : “Và hai năm sau khi những kẻ đánh bạc, tham nhũng bị khởi tố và đưa vào nhà giam, tháng 5.2008 hai phóng viên (thuộc hàng những nhà báo giỏi nhất trong làng phóng viên nội chính phía Bắc) đã bị bắt. Họ bị bắt với tội danh: Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.”

“Tổng số đã có hơn 1.000 bài báo viết về vụ PMU 18 đăng trên gần 100 tờ báo, trong đó có một số bài có thông tin không chính xác đăng trên khoảng hơn chục tờ báo, thậm chí có cả bài báo sai sự thật. Trong năm 2007 và đầu năm 2008, đã có hàng chục phóng viên bị gọi lên lấy lời khai tại cơ quan an ninh điều tra (trong đó có cả phóng viên trong ngành công an). Nhưng cuối cùng, cho đến nay chỉ có 2 phóng viên bị khởi tố, trớ trêu thay, đó lại là hai phóng viên của hai tờ báo luôn đi hàng đầu trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực - Báo Thanh Niên, Báo Tuổi Trẻ. Điều này có công bằng không? Có đúng đường lối, quan điểm và quyết tâm chống tham nhũng, chống tiêu cực của Đảng và Nhà nước không?”

Từ ngày Nguyễn Văn Linh, cựu Tổng Bí thư đảng khóa VI, thi hành chủ trương “Đổi mới” năm 1986 đến nay đã 22 năm mới có báo Thanh Niên, diễn đàn của Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam, can đảm chất vấn Nhà nước về hành động bắt giam 2 Nhà báo có công hàng đầu trong chiến dịch thông tin chống tham nhũng.

Cả hai báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ và hai Nhà báo của họ không có hành động đưa đến vi phạm Luật Báo chí khi hành nghề. Cả hai Báo đã cải chính khi nhận ra hay được cho biết bài viết hay tin đăng báo không đúng.

Hơn nữa, theo báo Thanh Niên, việc bắt giam và truy tố hai Nhà báo đã “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” không có cơ sở.

Báo này viết : “ Về mặt pháp lý: Người phạm tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, theo pháp luật, là người vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ quyền hạn làm trái công vụ, gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích của công dân.”

LẤY GÌ BUỘC TỘI ?

Như vậy, Nhà nước sẽ căn cứ vào đâu để buộc tội họ ?

Chẳng lẽ Nguyễn Việt Chiến đã bị bắt vì dám tiết lộ tin : "Bùi Tiến Dũng khai đưa tiền chạy án cho gần 40 nhân vật quan trọng" trên báo Thanh Niên ngày 16-4-2006?

Nhưng đám người này là ai trong đảng mà phải giữ kín ? Tướng Phạm Xuân Quắc, Trưởng ban chuyên án, Phó thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an là người chỉ huy điều tra vụ PMU 18 không nói đến con số 40 mà chỉ xác nhận Dũng khai đưa tiền chạy án cho “hàng chục đối tượng”.

Những nhân vật quan trọng, theo báo Thanh Niên gồm : “ Giám đốc các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp sân sau của PMU 18; công chức một số cơ quan quan trọng của nhà nước; một số cán bộ thuộc các cơ quan bảo vệ pháp luật điều tra vụ cá độ bóng đá và vụ PMU 18; cùng một số quan chức bộ, ngành liên quan.”

Đặc biệt, sau khi Báo Thanh Niên đính chính theo lời tướng Quắc một thời gian, thiếu tướng Phạm Quý Ngọ, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Thủ trưởng Cơ quan CSĐT đã trực tiếp thông tin cho PV Thanh Niên biết: "Trong vụ án này, có việc 40 cán bộ nhận tiền của Bùi Tiến Dũng, bị vô hiệu hóa, bị mua".

Kể từ tháng 4/2006, vụ PMU 18 sôi nổi hẳn lên sau bài báo của Nguyễn Việt Chiến. Các báo chạy đua cử phóng viên đi “moi” tin tố cáo tham nhũng, chạy tội của “băng đảng” Bùi Tiến Dũng khiến nhà nước nhức nhối.

Bất ngờ vụ án nóng lên khi thiếu tướng Phạm Xuân Quắc,Trưởng ban chuyên án vụ PMU 18, Phó thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an là người cung cấp thông tin cho báo chí bị Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng, ký lệnh cho về hưu tháng 12/2006, khi cuộc điều tra còn giở giang.

Tính thời sự sôi nổi đăng tin vụ PMU 18 trên các báo tự nhiên “xìu xuống”. Sau đó, theo báo Thanh Niên: “Từ nửa cuối năm 2007, có hàng loạt nhà báo đã bị gọi lên Cơ quan an ninh điều tra để hỏi về các căn cứ khi viết bài về vụ án PMU 18 (diễn ra từ năm 2006). Trong đó, hai người bị hỏi nhiều nhất là nhà báo Nguyễn Việt Chiến (Báo Thanh Niên), và nhà báo Nguyễn Văn Hải (Báo Tuổi Trẻ TP.HCM).”

Như vậy, có gì khuất tất trong vụ bắt giam hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Văn Hải và Thượng tá Đinh Văn Huynh ? Và Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc đã có lỗi gì trong khi thi hành công tác mà cũng bị khởi tố về tội “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” ?

Tính nghiệm trọng của vụ PMU 18 to như con Voi bỗng dưng biến thành con Chuột Nhắt sau “biến cố” bắt những người đáng lẽ phải được khen thưởng vì có công chống tham nhũng.

Sự cố này càng làm nổi lên tính cẩu thả, bất lực chống Tham nhũng và chà đạp lên luật pháp của đảng và nhà nước CSVN.

Cuộc phòng, chống Tham nhũng của đảng CSVN vì vậy đã biến thành trò hề vỡ mặt ngoạn mục.

Trong cuộc phỏng vấn của báo Nhân Dân ngày 27.3.2006, Phan Diễn, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương đảng khoá IX nhận xét: "Vụ việc tiêu cực ở PMU 18 là vụ án nghiêm trọng, đánh bạc, cá độ với số tiền rất lớn, cũng là vụ án tham nhũng, đưa hối lộ và nhận hối lộ. Những người tham gia đánh bạc, cá độ có nhiều tài sản được hình thành một cách bất hợp pháp, do bòn rút của Nhà nước. Một số cán bộ nhà nước có sai phạm trong vụ án này đã tiến hành hối lộ và nhận hối lộ. Qua điều tra cho thấy, một số vụ việc xảy ra trước đây đã bị cho qua, bị che lấp đi. Như vậy, vụ án này cũng cho thấy tình trạng tiêu cực trong công tác điều tra, kiểm tra, thanh tra của một số cơ quan. Qua vụ án này, chúng ta thấy được sự suy thoái rất nghiêm trọng về phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có một số người giữ cương vị cao. Đảng và Nhà nước ta kiên quyết làm rõ những sai phạm của các tổ chức, cá nhân bất kể người đó là ai, những ai cản trở việc xử lý những người vi phạm cũng sẽ bị xử lý thích đáng..."

Ba năm sau, lời nói “như đinh đóng cột” của người có nhiều quyền hành vào lúc ấy như Phan Diễn đã tan ra mấy khói. Chỉ tiếc rằng người được Diễn hết sức củng cố và xây dựng để nắm chức Tổng Bí Thư đảng là Nông Đức Mạnh cũng đã quên chống Tham nhũng và không còn dám nhớ đến lời Diễn nói để phòng thân. -/-

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Dân Việt Nam phải đòi lại ruộng đất
Ngô Nhân Dụng

Một độc giả từ trong nước email góp ý kiến với bài viết ngày hôm qua trong mục này, nhân trong đó nói về dự án sửa đổi Luật Ðất Ðai ở Việt Nam. Ông (hay bà) độc giả mắng rằng: “Các ông ở ngoài vớ vẩn, chả biết cóc gì cả. Các bác trong Ðảng sẽ đ... bao giờ sửa xong cái Luật Ðất Ðai đâu! Sửa để làm cái... gì chứ? Cứ để nó lung tung xèng như bây giờ thì các bác ấy có cơ hội tha hồ chấm mút, chia chác với nhau. Nếu làm ra luật lệ đàng hoàng thì đám dân đen nó cứ vin vào luật nó đòi hỏi, làm sao họ còn có cơ hội chia nhau cái ‘gia tài của Bác’ để lại, truyền đời cha, đời con đời cháu mà hưởng với nhau?”

Chúng tôi xin phép không đồng ý với vị độc giả trên, mặc dù biết rằng ông (hay bà) ở tại chỗ chắc hiểu biết nhiều hơn một người sống ở nước ngoài. Vì lẽ, cứ theo những điều được loan báo về các đề nghị sửa đổi Luật Ðất Ðai, thì dù luật có được sửa đổi, “các bác” trong Câu Lạc Bộ Ba Ðình vẫn toàn quyền quyết định. Họ vẫn có cơ hội tha hồ “chấm mút và chia chác” với nhau, như mối quan tâm của vị độc giả. Ðó mới là nỗi đau đớn cho dân tộc Việt Nam.

Như ngày hôm qua đã trình bày trong mục này, câu chuyện đất đai ở nước ta từ năm 1954 đến giờ nó là một vụ ăn cướp ruộng đất của toàn dân, gom vào trong tay một đảng. Chúng ta thường tố cáo những tội ác trong vụ cải cách ruộng đất theo kế hoạch bên Tàu đưa sang, được các cố vấn Trung Cộng chỉ đạo từng chi tiết. Những cuộc đấu tố, giết người, vân vân, mối hờn oan đến bây giờ vẫn còn ám ảnh nông thôn miền Bắc sông Bến Hải. Nhưng đó cũng chỉ là mặt nổi. Nền tảng bên dưới của những cuộc đấu tố đó là hành động tập trung tài nguyên ruộng đất cả nước vào trong tay các đảng viên cộng sản, từ cấp làng xã lên đến cấp cao nhất ở trung ương. Ðó là một khí cụ mà các ông Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, sau này sử dụng để kiểm soát bao tử của người dân, kiểm soát lòng trung thành của các đảng viên thuộc hạ. Cho một đảng viên quyền chia ruộng, chia đất, là vừa giúp hắn cơ hội kiếm tiền, lại vừa cho hắn nắm quyền sinh sát trên mọi người chung quanh. Những đảng viên đó sẽ phải một lòng trung thành với cấp trên, lãnh tụ bảo sao nghe vậy.

Ðến bây giờ, kinh tế đã thay đổi, nhiều người dân có thể xoay trở kiếm ăn “ngoài guồng máy”; nhưng đảng Cộng Sản vẫn không muốn bỏ nguyên tắc quyền kiểm soát đất đai vẫn nằm trong tay họ. Vì nguyên tắc đó vẫn là một khí cụ để bọn lãnh tụ bảo vệ lòng trung thành của các cán bộ, đảng viên cấp dưới. Hơn thế nữa, trong lúc nền kinh tế đang chuyển sang công nghiệp hóa, các lãnh tụ đảng còn bám lấy khí cụ đó để làm giầu. Vì quyền quyết định việc sử dụng đất đai, chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp, là một thứ máy in ra tiền. Các ông lớn không bao giờ bỏ cái quyền đó; ngược lại họ còn bảo vệ quyền hành của đám thuộc hạ, tay chân để nương tựa lẫn nhau nữa.

Theo những đề nghị của Bộ Trưởng Tài Nguyên và Môi Trường Phạm Khôi Nguyên thì điều 63 (a) của đạo Luật Ðất Ðai năm 2003 sẽ được sửa lại để cho các thành phố và những khu vực đã “quy hoạch phát triển đô thị” được quyền “phân lô bán nền.” Ðất phân lô bán nền ở đây là những diện tích đất đai, có thể là ruộng, rẫy, mà chính quyền địa phương “được phép thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở.” Quý vị thử tưởng tượng trong lúc dân số Việt Nam đang tăng, dự đoán đến năm 2030 sẽ lên tới 150 triệu, riêng cái quyền cho phép ai xây nhà ở đâu, phân lô nơi nào để bán cho người ta xây nhà, quyền đó đã là một mỏ vàng rồi! Ai nắm chìa khóa cái mỏ càng đó? Chính là các đảng viên cộng sản nắm chức nắm quyền ở các địa phương được “quy hoạch” để phát triển thành đô thị!

Thời ông Nguyễn Minh Triết làm chủ tỉnh Bình Dương, đã xẩy ra vụ đem đất vườn cao su tặng cho các cán bộ, quan chức chung quanh ông. Các quan chỉ cần nhận mảnh giấy trao quyền sử dụng đất, chẳng ai cần đặt chân tới chỗ đất mình được tặng nữa. Sau đó nhà nước lại lập ra dự án biến khu đất đó thành khu công nghiệp, bèn mua lại những miếng đất đã cấp pháp. Các vị chủ nhân bèn trả lại đất, thâu tiền bỏ túi, vẫn chẳng ai cần nhìn xem miếng đất mình làm chủ nó hình thù thế nào. Chỉ mấy quyết định trên giấy tờ đó đủ biến bao nhiêu quan chức thành tỉ phú rồi. Bây giờ lại nổ lên những vụ chiếm đất ở Thủ Thiêm, vùng ngoại ô ven biên Sài Gòn, tất cả đều là những kế hoạch đất đẻ ra vàng. Mà cái đũa thần làm được phép lạ đó chính là cái quyền quyết định sử dụng đất nằm trong tay đảng Cộng Sản.

Lại đến kế hoạch mở rộng thành phố Hà Nội mà ông Nguyễn Tấn Dũng mới ban ra, trong nước nhiều người đã chỉ trích là làm bừa, làm mà không tham khảo ai, không nghiên cứu đâu hết, nhưng cứ gọi là kế hoạch. Người dân Hà Nội biết rằng một số ông lớn và họ hàng, phe đảng đã mua đất sẵn ở những vùng sắp được “đô thị hóa” trong kế hoạch mở rộng Hà Nội này rồi. Chỉ cần một chữ ký của ông Nguyễn Tấn Dũng là đất lại biến thành vàng rồi!

Trong tinh thần biến đất thành vàng này, dự án sử đổi Luật Ðất Ðai cho phép các lãnh tụ cấp tỉnh, cấp thành phố được quyết định nơi nào được “phân lô bán nền” để làm nhà ở hoặc nhà cho thuê. Ðó là các quan ở trung ương đem chia quyền biến đất thành vàng cho các thuộc hạ. Khi nắm được quyền đó trong tay, tất cả các thuộc hạ sẽ tận tụy trung thành với Ðảng! Ðó là chất keo sơn đoàn kết các cán bộ, đảng viên đang nắm quyền. Tất nhiên, có những đảng viên “ở ngoài luồng” không được ăn miếng nào nhưng chẳng ai dám nói một tiếng!

Không phải chỉ có các cán bộ đảng viên nắm guồng máy từ trung ương xuống địa phương được quyền chia ăn. Ðảng Cộng Sản cũng không quên chia phần cho quân đội và công an. Quân đội và công an đều có quyền sử dụng đất công trao cho họ quản lý, “để bảo vệ an ninh.” Cấp chỉ huy tha hồ đem đất đai trong phạm vị quyền hạn của mình mà cho thuê, ký hợp đồng vài chục năm để kiếm lời. Họ sẽ nói tiền lời nộp vào công quỹ, nhưng chắc chắn sẽ qua tay chấm mút của các ngài.

Ðất đai nằm toàn quyền trong tay một đảng, không người dân nào được quyền làm chủ, sẽ ngăn cản việc phát triển kinh tế bền vững và lâu dài. Ðó là cái giá mà cả dân tộc Việt Nam phải trả để cho đảng Cộng Sản nắm trọn quyền sử dụng đất đai.

Nhiều người Việt ở ngoài về nước đầu tư đã nếm mùi cay đắng vì luật lệ đất đai nằm hoàn toàn trong tay đảng Cộng Sản. Một nhà đầu tư được thuê hay trao quyền sử dụng đất trong một thời gian, trong mười năm, hai mươi năm, không biết chắc bao giờ họ sẽ đòi lại. Muốn họ đòi lại thì họ có đủ thứ lý do, chẳng ai cãi được bao giờ. Cho nên tốt nhất là nhà đầu tư chỉ làm những dự án có thể thu hồi vốn thật nhanh, “pay back period” thế giới vòng vài ba năm là đủ, sau đó là kiếm lời. Sau khi kiếm lời tạm đủ rồi, có thể sẽ bán lại cho người khác thuộc loại “điếc không sợ sấm!” Chỉ riêng việc sang tên quyền sử dụng đất đai từ một người sang người khác là các quan chức nắm quyền trên đất đai lại có dịp ăn hối lộ thêm lần nữa. Người kế nghiệp cũng chỉ làm sao kiếm đủ vốn lời trong vòng mấy năm rồi bỏ chạy. Cứ như thế, không biết bao giờ mới có những kế hoạch làm ăn lâu dài! Họa chăng là các nhà tư bản ngoại quốc. Vì là người ngoại quốc, họ được sứ quán của họ bảo vệ, không lo bị cướp giật! Còn người Việt Nam thì như cá nằm trên thớt, họ đành để số phận cho Ðảng quyết định, không có ai bảo vệ họ hết!

Những câu chuyện trên cho thấy đến lúc người dân Việt Nam phải đòi lấy quyền làm chủ ruộng đất. Không thể để cho một nhóm người nắm toàn quyền trên ruộng đất. Ðây không phải chỉ là quyền lợi của các cá nhân những người đang sử dụng ruộng đất, mà là quyền lợi chung của cả dân tộc, của các thế hệ con cháu sau này. Vì khi mọi người được làm chủ mảnh đất mình đang cầy cấy hay đang làm nhà ở thì những miếng đất đó không những được dùng mà còn được biến thành vốn để đầu tư nữa. Trong cuốn The Mystery of Capital (Niềm Bí Mật của Nguồn Vốn), nhà kinh tế Hernando de Soto đã nêu lên vấn đề thiếu quyền sở hữu minh bạch trên nhà đất ở các nước đang mở mang. Hàng triệu ngôi nhà ở các thành phố không có giấy tờ để người cư ngụ trong đó trở thành chủ nhân hợp pháp. Nếu được làm chủ hợp pháp, hàng triệu gia đình có thể dùng nhà, đất của mình làm vật “thế chấp” mà đi vay tiền, đầu tư. Lúc nào cũng có sẵn những ngân hàng quốc tế có tiền cho vay, nếu họ biết có tài sản làm thế chấp và nếu quyền sở hữu được luật pháp bảo đảm. Có thể huy động hàng tỷ đô la tiền vốn ở mỗi nước chậm tiến, khi người dân được làm chủ chính thức mảnh đất mình cư ngụ. Nhiều chính phủ trên thế giới đã tiếp nhận bài học của De Soto, lập chương trình hợp pháp hóa quyền sở hữu đất đai của hàng triệu người dân nước họ.

Ruộng và đất không phải chỉ là nơi cầy cấy và nơi cư ngụ. Ðó là một nguồn vốn để phát triển kinh tế. Cho nên người Việt Nam phải đòi đảng Cộng Sản trả lại quyền sở hữu đất đai cho dân. Phải sửa đổi bản hiến pháp để không cho đảng Cộng Sản toàn quyền nắm trong tay ruộng đất cả nước từ hơn nửa thế kỷ nay, biến họ thành chủ nhân ông tuyệt đối trên dân tộc Việt Nam!

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Tư tưởng chính trị Việt Nam
Tác giả: Gs. Trần Ngọc Ninh


“… nước là dân và toàn dân phải như dây quấn thì mới tạo được hoà bình ở trời Nam: làm lịch sử là kiến tạo hoà bình vĩnh cửu, chứ không phải là gieo rắc thù hận và những mầm mống của đấu tranh không cùng …”

Kể từ khi lập quốc cho đến ngày nay có một dòng lịch sử Việt Nam trong đó đã cấu thành nên một quốc dân Việt Nam hiển nhiên rằng phải có một tư tưởng Việt Nam.

Tư tưởng Việt Nam là cái động lực lớn để giữ nước và yên dân. Tư tưởng Việt Nam là cái sức mạnh chính yếu đã tạo ra sự đặc thù của con người và văn minh Việt Nam trên trái đất của loài người. Tư tưởng Việt Nam là tư tưởng lãnh đạo lịch sử Việt Nam. Những ngọn sóng của lịch sử thế giới nhiều khi đã tràn ngập cả cõi sống Việt Nam.

Tư tưởng Việt Nam đã có những thời bị dìm xuống tận đáy sâu thẳm của những vực không bờ tưởng rằng vĩnh cửu không còn một cái bóng, một tiếng vang, trong trí nhớ của người ta. Nói đến tư tưởng Việt Nam trong những thời quốc vận suy mạt này, những người tự thổi lên là kẻ sĩ hay trí thức chỉ biết nhìn nhau ngơ ngác, tưởng là nói chuyện quỷ thần. Có hay là không có ? Hình bóng ra sao ? Ðạo Nho chăng ? Hay là Ðạo Lão ? Ðạo Phật ? Ðạo Chúa ? Tư tưởng của Lư Thoa à ? Chủ nghĩa của Các Mác chăng? Thưa là hoạt kê và cũng thực là bi đát. Y như đứa trẻ mồ côi bị loài sói nuôi thì gọi sói là mẹ và coi sự đấu tranh sinh tồn của loài sói là lẽ sống của chính mình. Sự mất bản thể và tha hoá có thể kéo dài cả thế kỷ, cả mười thế kỷ tối tăm.

Nhưng rồi tư tưởng Việt Nam lại nổi lên, với những nguồn sinh lực mới, giàu hơn, mạnh hơn, đẹp hơn, thực hơn, và trăm phần tươi sáng hơn. Nó châm lên những bó đuốc mới để phá tan đêm tối mà đón ánh mặt trời buổi ban mai. Nó khơi lại trong mỗi trái tim cái tàn lửa cũ cho bùng lên thành cục than hồng của lòng yêu nước vạn năng. Nó làm cho giang sơn đất nước rực lên một mầu vinh quang và sình bùn cũng chứa đựng những hứa hẹn không cùng.

Nhưng các đế quốc lớn trong thiên hạ vẫn không ngớt thèm muốn cái nơi góc bể chân trời mà tiền nhân chúng ta đã biến thành gấm vóc thi ca và gọi bằng cái tên yêu dấu là nước ta, quê ta. Dầu là từ Bắc phương gần, Bắc phương xa, - nơi lòng người giá lạnh như băng tuyết nghìn thu, hay từ phương tây bên bờ của đại dương mà mặt trời lặn xuống, kẻ xâm lăng, với sự phản bội của những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Ðồng Khánh, Hồ Chí Minh, sợ cái tư tưởng quật cường bất khuất của người Việt Nam yêu nước, đã bao lần đốt lửa để nấu chảy trống đồng, thiêu hủy sách vở và đem xe, tàu đến để chở cái rừng tư tưởng Việt Nam về nơi chính quốc mà chôn trong những phòng cấm của những tàng kinh các quốc gia của họ. Nhưng cái hoá thân có hình hài sắc tướng với những chữ nghĩa trên trang giấy có thể bị đốt, bị khoá, mà pháp thân của tư tưởng Việt Nam, không sống gửi vào vật chất, vẫn tự tại và tự tồn, để chờ ngày quật khởi.

Trên khắp nước Việt Nam, không có một tấc đất nào không có máu thịt của ta trong những kiếp trước. Không có một lá cây ngọn cỏ nào mà mỗi tế bào không có một phần của ta ngày xưa. Tất cả cái phong cảnh của đồng ruộng núi sông trong nước là do khối óc và bàn tay của tiền nhân xây đắp. Ðó là cái vùng trời và những con đường của văn hoá dân tộc. Và mỗi cái thoáng nghĩ trong đầu óc của một người hiện ra trong một lời nói, một nụ cười hay một cái nhúc nhích của một sợi cơ trong một bàn tay, hoặc phải nén xuống trong cõi lòng không đáy của những ngàn năm đàn áp, cũng chứa đựng tất cả cái tư tưởng Việt Nam.

Vào đầu thế kỷ thứ 17 ở bên trời Âu, có nhà đại khoa học, đại văn hào là Blaise Pascal đã để lại cho hậu thế những mảnh vụn của một cuốn sách mà người ta chắp nhặt lại, đặt cho một cái đầu đề là Tư Tưởng (Pensées). Ðại để đi ngược lại với người đời thường nghĩ rằng hiểu nhau rồi mới yêu nhau được, Pascal nói rằng có yêu Chúa thì mới hiểu được Chúa, và không ngần ngại đi đến cuộc đánh cá lớn nhất trong lịch sử triết học Tây phương, là cứ đi lễ đi rồi mới có thể mong được ban ân. Hành tiên, trí hậu.

Tư tưởng Việt Nam cũng như Chúa của Pascal. Có đó, mà không có đó. Có đó cho người đã yêu, đã thấy. Khi ấy thì có khắp mọi nơi, từ cái cực vi đến cái cực đại, từ trong một mô đất bên bờ ruộng đến những con sông dài chở củi, lúa và tình người ; từ tiếng sáo diều trên cánh đồng quê đến những lời hát vô tận của gái trai trong cuộc sống văn hiến, từ một hột cơm, một cọng rau đến sự nghiệp bất diệt của một Nguyễn Trãi. Nhưng rõ ràng hiển nhiên là thế, mà vẫn không có với những kẻ lạc loài.

Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không
Ngay cả trong những sách vở còn lọt qua mạng lưới của đế quốc và chó săn cũng còn để lại chút ít di tích của tư tưởng đích thực Việt Nam. Cho những ai biết đọc, cho những ai đọc với tình người Việt Nam, với tình nước Việt Nam. Trong thực tế thì cũng chẳng còn bao nhiêu. Một vài mảnh giấy đã nhám lửa, vùi trong những đống tro tàn của những hoả đài văn hoá. Nhưng quý làm sao ! Đẹp làm sao ! Và thâm trầm biết là chừng nào qua những huy hoàng và đắng cay của lịch sử !

Tư tưởng chính trị nằm ở trong tư tưởng là cái ánh của tư tưởng để soi đường cho chính trị, là cái kim chỉ nam để cứu nước, giữ nước và yên dân. Tất nhiên rằng đế quốc và phản quốc ở bất cứ thời nào, cũng phải truy lùng và tiêu hủy tư tưởng chính trị của người dân yêu nước, trước tất cả những gì khác, hữu hình hay vô hình. Binh Thư Yếu Lược của Trần Hưng Ðạo đã tuyệt diệt, nhưng An Nam Chí Lược của Trần Ích Tắc vẫn còn cho tới ngày nay, là vì thế.

Trong tâm khảm của chúng ta, không một người nào không tôn thờ cuốn sách mà không một ai được trông thấy, cuốn Binh Thư đã đuổi giặc Nguyên ra ngoài bờ cõi. Và tuy cũng còn có những sử gia vì sự bắt buộc của nghề nghiệp phải đọc cuốn sử vong bản về đất An Nam, nhưng cũng không có một ai không khinh bỉ và thương hại cái văn tài trác tuyệt đã lầm đường mà thành nô dịch cho đế quốc.

Tư tưởng chính trị bị đốt, bị chôn nhưng vẫn sống trong lòng người dân, ở đó nó âm ỉ cháy mãi, nuôi dưỡng bởi cỏ hoa của đất nước, để vạn kiếp bí truyền cho con cháu đời sau. Và khi nào cần thiết thì Binh Thư lại xuất hiện, Binh Thư không sách, Binh Thư không chữ, vì đó mới là Binh Thư thực của tư tưởng Việt Nam: Binh Thư Yếu Lược là thời trời, là lợi đất, là hoà người Việt Nam. Binh Thư sách đã bị ngọn lửa hung tàn của nhà Minh đốt cháy, nhưng cuốn sách ấy còn dùng làm gì sau khi nó đã vẻ vang chiến thắng quân Nguyên ? Còn lại là cái tin tưởng và cái tinh thần mà Lê Lợi và Nguyễn Trãi cùng với toàn dân đã thừa hưởng của Binh Thư, với những chiến lược mới phải được sáng tạo ra để đánh đuổi một kẻ thù mới, và lập nên nền đại định Bình Ngô.

Thế nhưng có còn một chút di tích gì của tư tưởng chính trị Việt Nam trong kinh sách không ?

Một ngàn năm trước đây, vào khoảng thập niên từ 980 đến 990, không phải 70 năm của sự thành lập Liên Xô, không phải 200 năm của sự ban hành hiến pháp Hoa Kỳ, cũng không phải thiếu đầy 200 năm kỷ niệm cuộc cách mệnh Pháp, một ngàn năm trước đây, trong nền độc lập mới còn chập chững của nước Ðại Việt ta, vua Lê Ðại Hành (ở ngôi từ 980 đến 1005) đã hỏi pháp sư Ðỗ Pháp Thuận (mất năm 991) về vận nước. Sư Pháp Thuận nói kệ để trả lời vua; kệ rằng:

Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh
Dịch là:

Vận nước như dây quấn
Trời Nam thấy Thái Bình
Vô vi ngự cung điện
Muôn xứ dứt chiến chinh
Ðây là sách lược chính trị để mở nước, sau mười thế kỷ Bắc thuộc. Triều đại nhà Ngô, mặc dầu đã chiến thắng quân Nam Chiếu một cách lẫy lừng trên sông Bạch Ðằng, nhưng còn lung lay và chưa có chính sự. Loạn mười hai sứ quân được dẹp bởi Ðinh Bộ Lĩnh, người anh hùng thôn dã, nhưng nhà Ðinh còn phải nấu vạc dầu và nuôi cọp dữ để giữ vững ngôi vua mà vẫn còn bị tiêu diệt bởi mũi dao của kẻ thích khách. Lê Ðại Hành lên ngôi trong sự đàm tiếu của bọn anh em tay chân của Ðinh Bộ Lĩnh, phương Bắc thì nhà Tống đem quân xuống để mưu đồ tái chiếm vùng đất thuộc cũ, miền Nam thì Chiêm Ba bắt sứ và khinh khi nền độc lập còn thơ ấu của nước Việt Nam. Dầu đã là Thập Ðạo Tướng Quân Lê Hoàn, vua Lê Ðại Hành cũng không khỏi có những bối rối lo âu. Sự mầu nhiệm kỳ diệu là vua Lê Ðại Hành, một quân nhân vừa ra khỏi đêm tối của thời trung cổ bán khai, đã quay sang một nhà sư học sĩ để hỏi việc nước. Và chúng ta được thấy sự khai sinh của tư tưởng chính trị Việt Nam trong văn chương chữ nghĩa.


Quốc tộ như đằng lạc…


Quốc tộ như đằng lạc, vận nước như dây quấn.

Những dây mây trong rừng, dây sắn dưới ruộng, quấn quít chằng chịt vào nhau như dây đan, như dệt, dựa vào nhau mà đứng vững trong gió bão, như trường thành. Ðó là cái hình ảnh của xã hội. Các nghề nghiệp lồng vào nhau, các giai tầng tựa vào nhau. Sự liên đới và đại đoàn kết của toàn dân là nền tảng của sự vững bền của vận nước. Người dân Việt Nam hiểu rõ điều ấy từ ngàn xưa. Tục ngữ ca dao nối tiếp vào bốn câu kệ của Thiền Sư Pháp Thuận mà giải thích thêm. `Vì cây dây quấn`, người ta nói. Những sợi mây xoắn vào nhau, móc vào nhau, khoác chặt lấy nhau là vì sự sống còn và vững mạnh của cả cây mây. Cũng như toàn thể dân trong nước, sát cánh nhau trong sự đấu tranh chung, là để giữ nước và xây dựng nước. Vì nước, tất cả các dây người cũng quấn; tay khoác tay, sự hợp quần phải chặt chẽ, trận tuyến phải dầy đặc. Cây là gốc của dây. Nếu người lãnh đạo hiểu được rằng `vận nước như dây quấn` thì người dân sẽ đáp ứng lại rằng toàn dân đã sẵn sàng, không trừ một giới nào. Dân là đằng lạc, quốc tộ là do dân.

Trong cái đằng lạc ấy, không phải là sự hỗn độn, không có sự tranh chấp. Dây già, dây non, dây cao, dây thấp, thậm chí đến cả dây chết, dây sống cũng vẫn ôm nhau, quyện nhau, không rời, không nhả, chia sẻ với nhau những nỗi khó khăn khổ cực của đời sống giữa rừng già. Thế nhưng `rút dây động rừng `chỉ cần cho kẻ lạ thấy được một cái đầu mối nào đó để rút ra một sợi mây thì cả rừng mây sẽ bị động và dầu là một cơ cấu thiên niên vạn đại cũng có thể sụp đổ. Ðến thế kỷ thứ hai mươi này, người ta sẽ gọi đó là `cách mệnh`. Cách mệnh là rút ra một sợi dây của đằng lạc và gieo cái ý thức rằng sợi dây cao đè sợi dây thấp, sợi dây già buộc sợi dây non, và phải rút đi một sợi dây thì thiên hạ mới thái bình. Ðó không phải là tư tưởng chính trị Việt Nam. Ðó là tư tưởng loạn nước loạn dân. Nhóm lên ngọn lửa đấu tranh giai cấp là chính thức hoá nội loạn. Ðó là một tư tưởng ngoại xâm.

Tư tưởng lập quốc của Việt Nam nói ra rất rõ:

Vận nước như dây quấn
Trời Nam thấy thái bình
Hiểu rõ rằng nước là dân và toàn dân phải như dây quấn thì mới tạo được hoà bình ở trời Nam: làm lịch sử là kiến tạo hoà bình vĩnh cửu, chứ không phải là gieo rắc thù hận và những mầm mống của đấu tranh không cùng.

Vô vi cư điện các. `Không làm` trong chốn quyền quý. Ðây là lời dạy vua quan trong sự cai trị. Vô vi là không làm. Không phải sự vô vi của Lão Tử, cưỡi con lừa già ra khỏi cổng thành để làm một Thái Thượng Lão Quân, ngồi nấu thuốc trường sinh bất lão. Mà là sự vô vi của Ðạo Phật. Sư Pháp Thuận là người Thiền Môn, không là một đạo sĩ. Trong Ðạo Phật, vô vi là sự không làm những cái không phải là Bát Chánh Ðạo, quan trọng hơn hết thẩy là sự không làm hại, ahimsa, mà sau này Mahatma Gandhi coi là sự dũng cảm tối hậu và phương châm chính trị tối cao. Trong Ðời, vô vi là không can thiệp, không bắt ép, không bó buộc, không phá rối truyền thống, pháp luật, và tín ngưỡng mà nhân dân đã thuận theo trong tự do, và cuối cùng, không mượn những cớ giả dối để đem quân đi chiếm đóng một nước khác. Ðó là những lời dạy của chính Phật Như Lai, về dân nước Vajji. Vô vi là cái cực đối lập với chuyên chế. Chính trị vô vi tôn trọng dân quyền và nhân quyền. Chính trị vô vi có một điều kiện căn bản: nhân dân phải như dây quấn. Khi tất cả mọi giới đã ràng buộc lấy nhau trong cái thế liên kết, liên đới, liên thuộc, thì hoà bình trong xã hội tự nhiên được thực hiện, mọi sự cưỡng bách từ trên xuống trở thành vô nghĩa. Một xã hội yên vui không cần phải có một Ðảng lãnh đạo và cũng chẳng phải mướn một nhà nước quản lý. Những cái đó là những phát minh thời đại của những đỉnh cao trí tuệ, nhìn vào một cái sơ đồ của xã hội Âu Tây bệnh hoạn. rồi cho rằng lịch sử của loài người chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp, và mọi xã hội đều được cấu tạo với hai lớp người, kẻ bóc lột và người bị bóc lột. Hãy so sánh cái xã hội thô sơ ấy với tư tưởng Việt Nam ở cuối thế kỷ thứ mười, trong câu kệ của Thiền Sư Pháp Thuận : Vận nước như dây quấn : cơ cấu xã hội phức tạp là thế, chặt chẽ là thế, nhưng vẫn có tự do vì một dây mây cá nhân vẫn có thể trồi từ lớp này lên lớp khác mà không cần phải có một kế hoạch nào của nhà nước chỉ huy cả.

Bởi vậy cho nên không những có được hoà bình xã hội mà có được cả hoà bình trong loài người.

Xứ xứ tức đao binh
(Mọi nước dứt chiến chinh)
Một bài kệ nhỏ, vỏn vẹn chỉ có bốn câu, đã gói ghém, với những hình ảnh tuyệt đẹp, từ cung điện đến đời sống dân gian, từ vận nước đến cái thế lớn trong thiên hạ, và từ đầu đến cuối thoát ra một hương sắc Thiền nhẹ nhàng thanh nhã, luyện cái thiên nhiên vào cái trừu tượng rồi chuyển cái trừu tượng vào cái thực tế, và đồng thời, đem cái tư tưởng chính trị Việt Nam diễn ra, sáng như trăng rằm, trong như ngọc bích, thực là kỳ tuyệt. Mở sử ra đọc lại, thấy những lời của Trần Hưng Ðạo dặn dò vua trước khi chết, cũng là cái tinh thần ấy, nhưng chân phương là chừng nào, khẩn thiết là chùng nào ; thực là lời của vị võ thần giữ nước, nhìn thấy một chiến lược toàn diện và hiểu rằng nồng cốt của nước là dân. Xem đến Bình Ngô Ðại Cáo của Lê Lợi - Nguyễn Trãi: vẫn là cái tư tưởng chính trị căn bản xưa, nhưng phát triển ra lâm ly dũng mãnh, lúc như gió rít trong ngàn cây, lúc như sóng thần từ lưng trời đổ xuống, từ đầu đến cuối chỉ vì nước vì dân, coi dân là nước và nước là dân, rồi cuối cùng cũng chứng tỏ sự vô vi trong uy vũ để mua lấy một nền hoà bình vinh quang vĩnh cửu. Tư tưởng chính trị Việt Nam có một truyền thống, cho đến lúc ấy chưa bao giờ bị thực sự gián đoạn. Nhưng vài trăm năm sau đó thì rừng mây bắt đầu bị xẻ ra. Rồi vài chục năm gần đây, người trong nước đã khởi sự rút mây. Tư tưởng chính trị Việt Nam bị ô nhiễm đến độ rằng những bậc thức giả trong nước cũng không nhìn thấy nữa.

Nay là lúc chúng ta phải gạn đục khơi trong lại. Dòng tư tưởng của Việt Nam ở ngưỡng cửa của thế kỷ thứ hai mươi mốt tất nhiên không thể vẫn là bốn câu thơ của sư Pháp Thuận. Lịch sử Việt Nam cũng không dừng lại ở thời Lê Ðại Hành. Qua mỗi lần chuyển mình của lịch sử, tư-tưởng Việt Nam đã thay đổi và còn phải luôn luôn thay đổi. Nhưng chúng ta quyết không để cho một bọn ngụy trí thức, trong sự ngu tối và cuồng-loạn vọng-ngoại, xoá bỏ đi bốn ngàn năm lịch sử tư tưởng của Việt Nam để thay thế bằng cái quái thai đầu Ðức mình Nga gọi là chủ nghĩa Mác Xít Lê Nin Nít.

Gs. Trần Ngọc Ninh

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Memorial Day: Tưởng Nhớ Những Chiến Sĩ Đã Hy Sinh…

TUYẾT MAI .

Ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong (Memorial Day) nguyên thủy là ngày 30 Tháng 5, được công nhận từ năm 1911. Đây là ngày lễ quốc gia, trước đây được biết đến là “Decoration Day” để tưởng nhớ những chiến sĩ thuộc “Union” đã hy sinh trong cuộc nội chiến (American Civil war). Nhưng sau Thế Chiến thứ nhất thì ý nghĩa ngày lễ này được nới rộng, tưởng niệm những chiến sĩ hy sinh trong bất cứ cuộc chiến tranh nào hay trong lúc phục vụ trong quân đội. Sau đó, đến năm 1971 ngày lễ này được dời lại ngày Thứ Hai cuối cùng của Tháng Năm để có một lễ ba ngày cuối tuần (long week- end). Sự dời đổi ngày này đã làm mất đi phần nào ý nghĩa cao đẹp của ngày lễ.

Để cử hành ngày lễ này, một vài thành phố tổ chức diễn hành rình rang, vui chơi với các đoàn diễn hành hướng đạo sinh, xe, hoa, ban nhạc của các trung học hay nhà thờ. Với thời tiết ấm áp, bắt đầu mùa Hè, phần đông dân chúng coi Memorial Day là dịp cuối tuần có ba ngày nghĩ liên tục, rất tiện cho những chuyến du lịch, đi chơi xa, họp mặt gia đình, bè bạn, picnic…hay tìm kiếm hàng bán “sale” trên các báo.

Ở Hoa Thịnh Đốn, trong ngày Chiến sĩ Trận Vong , Tổng Thống Hoa Kỳ trang trọng đặt vòng hoa tưởng niệm lên Đài Tử Sĩ ở Arlington National Cemetery và đọc diễn văn ca ngợi sự hy sinh cao quý của những chiến sĩ đã quên mình, hy sinh để bảo vệ sự tự do, bình yên cho đất nước Hoa Kỳ. Bên cạnh việc đặt vòng hoa ở đài tử sĩ còn có hằng trăm xe mô tô từ các tiểu bang về, biểu diển ồn ào trên các đường phố ở HTĐ. Ngoài ra cũng có hằng ngàn người đến viếng thăm Đài tưởng niệm World War II và Vietnam Veterans Memorial, được khánh thành năm 1982, nằm trong khu du lịch chính ở HTĐ. Đây là nơi tưởng niệm những chiến sĩ trong Quân Lực HK đã hy sinh hay đã mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam.

Memorial Wall do Maya Lin vẽ kiểu, gồm có hai bức tường đá hoa cương màu đen mua từ Ấn Độ, mỗi bức tường có bề dài 246 ft 9 inches nối kết nhau theo hình chữ V với góc độ 125.12. Đường nối kết hai bức tường, chỗ cao nhất là 10ft.1. Chỗ thấp nhất của bức tường là 8 inches. Trên đó có khắc 58,171 tên những chiến sĩ HK đã hy sinh trong cuộc chiến ở VN.

Hằng năm có hằng triệu người đến viếng thăm Viêtnam Veterans Memorial . Trước hai bức tường có lối đi, dưới chân hai bức tường luôn có những kỷ vật do người thân để lại như huy chương, giày, nón, thư, …du khách thích dùng bút chì và giấy trắng, đồ tên người thân của mình được khắc trên tường, để kỷ niệm. Đây là đài kỷ niệm đã gợi cho người viếng thăm nhiều xúc cảm nhất so với những đài tưởng niệm khác. Trong khu vực tưởng niệm này còn có tượng ba chiến sĩ và một đài tưởng niệm những phụ nữ trong Quân Lực HK phục vụ ở VN, phần nhiều là y tá.

Hiện nay chưa có đài tưởng niệm những chiến sĩ HK đã hy sinh ở chiến trường Iraq và A Phú Hãn. Trong Ngày Chiến sĩ Trận Vong này chúng ta cũng nên dành một phút để tưởng nhớ những chiến sĩ HK đã can đãm , đã đáp lời sông núi, tình nguyện gia nhập ngũ, ra đi và đã hy sinh mạng sống của họ cho sự tự do và an bình của đồng bào ở hậu phương (HK), trong đó có người Việt Nam chúng ta.

Theo tài liệu thì từ năm 2003 đến nay, Tháng Năm 2008 đã có 4,058 chiến sĩ đã hy sinh và 29,395 người đã bị thương ở Iraq. Trong Nghĩa Trang Quốc Gia ở Arlington, VA có hằng loạt thánh giá dựng bên những mộ mới, dưới chân thánh giá, người thân thường để lại nhiều kỷ vật như hình ảnh thân yêu của người ra đi với gia đình, con cái, mẹ cha, anh em… Nhìn những hình ảnh này không ai mà không bùi ngùi, rơi lệ xót thương cho những anh hùng cao cả, vị quốc vong thân. Thật là đau lòng khi thấy có quá nhiều chiến sĩ đã hy sinh khi tuổi đời còn quá trẻ, đôi mươi.

Trong số 4,058 chiến sĩ HK hy sinh ở Iraq có hơn bảy chiến sĩ gốc Việt là :

- Hạ sĩ TQLC Victor R. Lữ, 22 tuổi ở Los Angeles, Cali. Phục vụ ở 1st Marine Division thuộc căn cứ Pendleton, Cali. Tử trận ngày 3 tháng 11, 2004 tỉnh Al Anbor, Iraq.

- Chuyên viên Quốc Bình Trần, 26 tuổi Army National Guard, San Berdinato, Cali. Tử trận ngày 7 Tháng 11, 2004, bị trúng bom IED khi quân xa đang di chuyển đến Baghdad.

- TQLC Lê Ngọc Bình, 20 tuổi ở Alexandria, VA . Anh đã anh dũng bắn chận một chiếc xe chở bom tiến vào căn cứ ở Anbar, Iraq. Tử trận ngày 23 Tháng 12, 2004.

- Alan Dinh Lam, 19 tuổi, ở Snow Camp, NC. Thuộc Lữ Đoàn TQLC 2nd, Camp Lejeune, NC. Tử trận ngày 22 Tháng 4, 2003 tại Kut, Iraq.

- Tung Nguyễn, 38 tuổi, Trung sĩ nhất, thuộc U.S. Special Force, Sư Đoàn Nhảy Dù 102. Tử trận ngày 21/11, 2006.

- Hạ sĩ Jeffrey Lam , 22 tuổi ở Queen NY, thuộc TQLC trừ bị ở Brooklyn, NY. Tử trận ngày 8/11, 2004 tại tỉnh Anbar, Iraq.

- Hạ sĩ Andrew S. Dăng, 20 tuổi ở Foster City, Tiểu Đoàn Công Binh thuộc Lực Lượng Tác Chiến số 1, Camp Pendleton, Cali. Tử Trận ngày 22 Tháng 3, 2004 Ramadi, Iraq.

…

Trong lúc chúng ta được bình yên, êm ấm dưới mái gia đình thì có biết bao nhiêu chiến sĩ đang chịu đựng gian khổ, ngày đêm giáp mặt với tử thần, từ sự sống bước qua cõi chết chỉ trong gang tấc, trong phút giây. Họ là những anh hùng, sẳn sàng hy sinh mạng sống của mình cho sự tự do, bình yên của đồng bào ở hậu phương.

Bên cạnh những người đã vĩnh viễn ra đi, còn có biết bao nhiêu chiến sĩ bị tàn phế. Có vào thăm thương binh trong một quân y viện, được nhìn tận mắt cảnh một thuơng phế binh ở tuổi đôi mươi, bị cưa mất hai chân, hay cụt hai tay, hay mù mắt bên cạnh người yêu hay người vợ trẻ với con thơ, lúc đó chúng ta mới hình dung được sự đớn đau của thể xác cũng như khổ đau tinh thần của thương phế binh.

Nhiều người đã tàn phế 100%, wheelchair hay giường bệnh là nơi vô cùng cô độc cho quảng đời còn lại của họ. Vết thương trên thân thể đã kéo theo những đổ vỡ đau thương trong đời sống tinh thần, gia đình. Những thương phế binh này đã hy sinh tất cả để gìn giữ sự tự do và bình an và nhờ đó mà chúng ta có được những ngày bình yên hôm nay . Xin đồng hương dành cho một ngày trong năm, ngày hôm nay, ngày “Chiến sĩ Trận Vong” để tưởng nhớ đến những chiến sĩ đã hy sinh …và làm một điều gì thực tế để tỏ lòng tri ân đối với những người đã hy sinh quá nhiều cho chúng ta.

Xin đồng hương gởi quà đến cơ quan từ thiện giúp những người cựu chiến binh tàn phế HK. Sự giúp đỡ của quý vị sẽ đem lại hy vọng và làm thay đổi đời sống của những thương phế binh.

Disabled American Veterans
P.O. Box 14301
Cincinnati, OH 45250-0301.

www.dav.org

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »


Image

Từ tham nhũng kinh tế đã trở thành mafia quyền lực !

Tác giả: Dân Báo / Võ Thị Hảo

Than ôi ! Nội xâm !

Còn ai có thể làm gì nữa không để chống nạn nội xâm tham nhũng và lạm dụng quyền lực từ bên trong đất nước ?!
Ta có thể chống ngoại xâm. Nhưng ai chống lại chính mình !

Khốn thay, nạn nội xâm này - tham nhũng, tiêu cực và lạm dụng quyền lực lại vô hình trung được nuôi dưỡng và bảo vệ bởi một số luật lệ, mà các công dân, một số nhà báo cũng như những nhân viên điều tra của ngành công an dẫu tự nguyện vì quyền lợi của đất nứơc mà “xả thân”, muốn đưa các vụ việc tham nhũng tiêu cực ra ánh sáng, sẽ lập tức bị “phản pháo”, thậm chí bị vào vòng lao lý…

Khi kẻ mạnh có thể lợi dụng những quy định còn đầy sơ hở trong những điều luật về tội “cố ý làm lộ bí mật Nhà nước và lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm đến lợi ích Nhà nước; quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” và tội "lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, cùng nhiều sơ hở khác của hệ thống luật pháp, của những loại “án bỏ túi” (như một số đại biểu QH đã từng nói) thì việc chống tiêu cực và tham nhũng rất nhiều khi chỉ là một trò đùa. Mà người đùa là kẻ tham nhũng và lạm dụng quyền lực. Kết thúc trò đùa, sân khấu để lại nước mắt, máu và xác chết của người lương thịên và kẻ yếu.

Than ôi ! Lâu nay, phát động phong trào “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Rất sâu rộng. Rất tốn kém. Học rồi mà làm như vậy sao ?

Trong số những nhân vật tham nhũng kếch xù- những kẻ làm nghèo đất nứơc- những giặc nội xâm, có quá nhiều người nói leo lẻo và tỏ ra rất xúc động về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh! Và họ còn rao giảng đạo đức hay lắm đấy !

Về tình trạng tiêu cực và tham nhũng phát triển tới mức này, bản thân tôi, và các bạn cũng vậy thôi, đã biết chắc chắn đó là con đường đi tất yếu của những quyền lực không có phản biện.

Trong đó, công quỹ là một “con bò béo bị xẻo thịt” từ bên trong. Và vì thế, kết cục là nó nhẹ tới mức chỉ còn là một bộ da và bay lơ lửng trong không khí …

Tôi đã viết về nạn tham nhũng và lạm dụng quyền lực trong nhiều bài báo của tôi trước đây.
Và đã viết về nó trong truyện ngắn “Người chăn bò thần thánh”. Truyện này đã đăng ở Việt Nam và dịch, in ở Nhật bản
Truyện ngắn này tôi viết đã cách đây cả chục năm. Gần đây nhất, nó được in trong “ Võ Thị Hảo- Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm”.
Tôi gửi lên đây. Vì nó, buốn thay, vẫn mang tính thời sự !
Tôi gửi bạn. Cũng như là tiếng kêu của con chim đỗ quyên về vận nước.

Nhà văn Võ Thị Hảo

Người chăn bò thần thánh
Truyện ngắn của Võ Thị Hảo

Dân vùng ấy chẳng mấy khi biết đến miếng thịt. Nhất là thịt bò thì càng hiếm hoi. Hồi ức sang trọng của một vài kẻ sành điệu, là những lúc kẻ ấy lim dim nhớ lại những bữa cỗ có bát rượu nhấm thả cửa với thịt bò chết. Mùa rét, mùa trâu bò bị cước chân, ngã nước, ấy mới chính là mùa tràn trề hy vọng của dân nhậu trong vùng.

Thịt bò chết mà còn hiếm hoi đến thế, thì còn nói chi đến sữa ! Phần lớn trẻ con trong vùng không phát âm được từ “sữa”, mà đều nói thành ”sứa”. Nghe quê đành đạch !

“Man rợ quá ! Thảm thương ! Rùng rợn quá !”.

Một nhân viên đầy râu của Tổ chức Nhân đạo quốc tế đã lắc đầu lia lịa, xua tay quầy quậy, mà cảm thán như vậy, khi trên đường đi khảo sát thực địa để quyết định xem sẽ viện trợ kinh tế cho nơi nào, ông ta lại chứng kiến cảnh một con trâu bên đường lăn ra chết, và một đám người lập tức vác dao xông ra, xẻo thịt con vật trong nháy mắt. Có người đốt lửa nướng ăn nhắm rượu tại chỗ.

“Tôi mạn phép đề nghị ngài không nên có thái độ xa lạ như vậy. Nếu tôi không nhầm, tổ tiên của ngài cũng từng có cách hưởng lạc ấy !…- Anh phiên dịch đỏ mặt tía tai nói lạc cả giọng.

“Ô ồ, xin lỗi. Cảm ơn ngài đã nhắc tôi nhớ về tổ tiên mình. Và tôi xin tỏ lòng kính trọng ngài !”.

Nhà nghiên cứu xã hội học đi cùng đoàn kiếm cớ tụt lại sau và lặng lẽ khóc trong mục kỉnh.

“Dân vùng này sẽ có thịt –thịt của những con bò sống hẳn hoi, lại còn có sữa nữa !”. Vị đại diện nói. Và giữ lời, vừa về đến nơi, ông “phôn” ngay mọt cú về trụ sở của tổ chức mình.

Ba tháng sau, một đàn béo mượt, gồm vừa bò thịt vừa bò sữa, mang một cái tên rất khó đọc: “Đàn bò giống Chi- chút- cha- chi- chu- xi- li- om” được gửi đến. Trên mông con nào cũng được đóng một cái dấu kiểm dịch to tướng. Và bên Tây họ khôn thật ! Họ gửi đích danh cho vùng ấy, chứ không gửi chung chung. “Chúng tôi dã có những kinh nghiệm cay đắng về vấn đề này !”.

Hôm tiếp nhận bò, rầm rộ lắm. Cấp trên trực tiếp về chỉ đạo lễ đón nhận. Phải làm sao cho long trọng. Bò tập thể chứ chả chơi. Người ta chuẩn bị làm lễ ”khánh thành bò”. Nghĩa là chú bò mượt nhất được dắt ra giữa sân vận đông, buộc vào cọc dán giấy xanh đỏ. Sừng bò được bọc giấy thiếc lấp lánh. Hàng vú bò được cài nơ. Hình như có sáu chiếc nơ tất cả.

Pháo nổ đùng đùng. Bò nổi điên lên, giật dây lồng cồng cộc trên sân bãi khiến cho dân chúng sợ xanh mắt mèo. Mười ông trung niên liều chết xông ra bắt. Còn đám thanh niên thì cười khoái chí, chùn nhụt lại: “Bò nông trường'' mà. Mãi mới tóm được chú bò mẫu, trao thừng vào tay cấp trên.

Cấp trên mắt bỗng lúng liếng, không phải vì đa tình, mà cốt để canh chừng, dự báo trước tai nạn bò lồng lên lần nữa. Sau một hồi trấn tĩnh, ông cất giọng nghe sang sảng:

- Hôm nay, chúng tôi tin tưởng các đồng chí, kỳ vọng các đồng chí, vân vân các đồng chí, mà giao xuống cho tập thể các đồng chí vinh dự được chăn dắt đàn bò này. Nên nhớ, đây là tài sản tập thể. Vì vậy, cấm không được xâm phạm, được làm gầy yếu hư hao tài sản tập thể. Kẻ nào - mắt ông lóe sáng như ngàn ánh chớp - kẻ nào xâm phạm tài sản tập thể, kẻ đó sẽ bị trừng trị thật nghiêm khắc - ông định nói “xử lý nội bộ” theo thói quen, nhưng may kìm được.

Đám đông im phăng phắc, chú mục vào những bầu sữa tết nơ của con bò, nuốt nước bọt phập phồng vừa mừng vừa lo.

- Tập thể, nhưng phải có chủ, nếu không sẽ là vô chính phủ – cấp trên tiếp lời - Phải cử người xứng đáng nhất trong chúng ta để chăn bò… - ông ngừng vài phút để quan sát.

Bỗng một cánh tay từ dưới giơ vọt lên. Một người, có lẽ là nông nổi và bạo dạn nhất trong số đông ở dưới, đứng ngổng lên cướp lời:

- Tôi có ý kiến:đề nghị bỏ phiếu kín. Xin cho ứng cử ! – Phản đối ! Tôi đề nghị cấp trên sáng suốt, cứ bổ nhiệm – Cán bộ phụ trách nông trường, người bà con bên ngoại với cấp trên, từ một góc của hàng ghế đầu thẽ thọt lên.

- Tốt nhất giết thịt quách, chia cho mỗi nhà vài lạng làm bữa chén – một cậu trai quần thụng, ria mép đen ngổ ngáo bàn ngang. Hắn ta liền bị nuốt chửng trong làn sóng những cái lườm nguýt…

Bàn đi tính lại như chợ vỡ.

Cuối cùng, người chăn bò – người được giao trọng trách đầy vinh quang ấy, cũng được xác định. Còn ai xứng đáng hơn giám đốc nông trường. “Hẳn rằng ông ấy xứng đáng hơn tất cả chúng ta, vì nếu không, ông ấy đã không là giám đốc”.

Buổi lễ giải tán. Về nhà người ta thôi mơ đến những miếng thịt bò chết. Và bố mẹ của lũ trẻ con trong vùng chỉ còn mỗi việc là chuyên chú dạy con sao cho chúng phát âm từ ‘sữa” cho đúng. Đám nông trường viên tràn trề hy vọng. Người ngoài nông trường trông thấy cũng nức lòng. Đàn bò béo mỡ ra thế kia, nhân giống chẳng mấy mà vàng đồi. Có mà thịt sữa ăn chả hết.

Có một xí nghiệp chuyên sản xuất sắt thép lâu nay làm ăn thua lỗ sắp giải thể, ông giám đốc đã làm luận chứng kinh tế xin vay vài tỉ đồng để xây dựng Côtithibohô-xukha. (mở ngoặc: “Công ty thịt bò hộp xuất khẩu”). Để đón sự phát triển rầm rộ của đàn bò trong nay mai. Giám đốc ngân hàng- anh họ của ông ta, đã kí duyệt cho vay hai phần ba vốn. Thế là giám đốc một công ty chúa chổm lại lập tức trở thành một giám đốc năng động.

Còn người chăn bò của nông trường – niềm hy vọng của tất cả vùng, thì lo ngay ngáy được khoảng ba tuần. Tất nhiên, là giám đốc ông chăn bò về phần hồn, còn thì phần xác bò đã có người lo: kẻ cắt cỏ, kẻ đi chăn… Sau đó, vì bận họp hành, thù tạc, ông dần dần quên đi không khí trang trọng và cảm động của buổi lễ “khánh thành bò” đã diễn ra cách đây không lâu.

Và giám đốc nông trường, cũng trần tục như chúng ta thôi, cũng thường có một thằng con lêu lổng trong những đứa con. Phải, ông đang có một đứa như vậy. Nó vô công rồi nghề mà lại thông minh đáo để. Một hôm, ông đi họp vắng, mà nó và lũ bạn nó đang thèm rượu, thèm thịt. Nhưng giống bò ngoại này thì sống dai, chẳng con nào chịu chết cho. Thằng con chép miệng vài cái, bỗng nghĩ ra một kế:

- Chúng bay đâu ? Nổi lửa lên ! Tao đã có cách.

Nói rồi, nó phăm phăm vác dao ra, chọn con bò béo nhất, xẻo một miếng vai khá to, bê vào. Lũ bạn sợ xanh mắt. Nó khoác tay:
- Không sao. Cứ nhậu đi. Tao bảo đã có cách mà lỵ !

Con bò tập thể vẫn rống lên thảm thiết trong chuồng. Máu từ vai bò nhỏ xuống, ướt cả lớp rơm lót. Trong nhà, bọn chúng đã ngấm hơi men, đang cười nói say sưa.

Tối, ông bố đi họp về, la lối ầm ĩ: “Đồ con bất hiếu ! Mày giết bố mày rồi ! Làm sao bây giờ ? Giời ơi là giời !”. Thằng con trai ôn hòa đưa đũa cho bố: “Thì bố cứ xơi đi đã. Bố đã được nếm thịt bò ngoại bao giờ đâu. Con bò mất vai con đã có cách !”. Nói rồi, hắn ghé tai bố, thì thầm. Mặt ông bố dần tươi lên: “Được, được đấy ! Diệu kế !”. Con cười khì khì: “Con kinh nghiệm lắm bố ạ. Chả là quan sát bố lâu ngày con biết !”.

Sáng hôm sau, trước khi giao bò cho người lùa ra bãi chăn, con trai ông chủ tịch nông trưòng vào chuồng, vỗ vỗ vào hõm vai đã bị xẻo đi của con bò, lớn tiếng đọc mấy câu:

“Hỡi bò ! Hỡi bò ! Hãy lập tức liền vai lại, vì rằng mi là bò tập thể. Phàm đã là của tập thể thì mi phải có phép thần thông vơi đấy rồi đầy đấy. Ta ra lệnh cho cái vai của mi: Khắc đầy ! Khắc đầy !”.

Con bò ứa nước mắt đau đớn. Và lạ thay, câu nói của con trai ông chủ tịch lại chính là câu thần chú. Từ nơi hõm vai của con bò, một đám thịt và da, và gân, từ từ dâng lên, lấp đầy như cũ. Chỉ có điều là đám da thịt ấy trong suốt, từ ngoài trông vào nhẹ bỗng như quả bóng bay.

Con bò được lùa ra bãi chăn. Người thả bò nhìn thấy đám thịt kì lạ nơi vai bò thì thất kinh thét lên. Nhưng con trai ông chủ tịch đã lườm, nói giọng chắc nịch:

- Bò này là bò ngoại. Đã là bò ngoại thì chuyện gì mà chẳng có thể xảy ra. Tôi hỏi: chẳng lẽ anh chưa thấy giống bò ngoại bao giờ sao ? Rõ quỷnh ! Cả đời chưa ra khỏi lũy tre làng có khác !

Người thả bò im thin thít: ông ta đã ra đến nước ngoài bao giờ đâu mà biết bò ngoại có tất thảy bao nhiêu giống ! Mà đã vậy thì làm sao có thể cãi được rằng vai bò là vai bò chứ không phải là một chỗ rộm lên như đám bong bóng trong suốt kia.

Thế là mọi việc cứ tuần tự nhi tiến. Hôm nay vai bò đốm, ngày mai vai bò vàng, ngày kia vai bò lang… Thịt bò ăn không hết, còn đem bán, đem biếu cấp trên, cho đến khi cả đàn bò đều được tưới tắm chu đáo bởi câu thần chú của con trai ông giám đốc, và đều được đổi vai. Các nông trường viên không dám bảo rằng đó không phải là vai bò, vì sợ bị đuổi khỏi nông trường. Các đoàn kiểm tra rốt cuộc đều chứng nhận rằng đó đích thực là vai bò, bởi vì họ đều hoặc tự nguyện hoặc bất đắc dĩ đã nếm thịt bò ngoại của nông trường.

Cả đám bọ chét, ve, mòng, rận, dĩn… cũng được thỏa mãn. Cuộc đời giờ đây đối với chúng là một ngày hội không có giờ kết thúc: trước đây khi bò còn nguyên lành, chúng còn phải e dè. Nhưng bây giờ, vai bò lở lói, máu bò cứ thế tràn vào miệng chúng, thậm chí chẳng cần dùng đến vòi nữa.

Người ta nói rằng, “lộc bất hưởng tận”. Ông giám đốc nghĩ như vậy, và kiếm cách giao lại đàn bò cùng chức tước cho người khác, rồi được cất nhắc sang làm giám đốc một nông trường to hơn. Đại khái, đấy có thể là nông trường chăn voi ngoại.

Cậu con trai ông cũng di chuyển theo bố. Nhưng câu thần chú của hắn thì được lưu truyền trong dân gian và treo lơ lửng trên đầu đàn bò.

Treo lơ lửng trên đầu đàn bò và câu thần chú phát huy tác dụng ghê gớm. Đến mức mà đàn bò luôn được giã biệt và làm quen với chủ mới, và lần lần, thân thể con được những hợp chất có màu trong veo choán gần hết. Những con bò trông ngày càng giống những quả bóng khổng lồ, và, a lê hấp, là đàn bò trong veo ấy có thể ngao du trên trời được.

Nhưng tin tức về sự thịnh đạt của nông trường bò kiểu mẫu vẫn cứ lan xa, lan xa. Những chủ bò nhanh chóng nắm được câu thần chú, cũng nhanh chóng hiểu ra rằng, nếu biết điều hòa một cách khôn khéo lợi ích giữa Dưới và Trên và Xung quanh, thì hôm nay, họ được làm chủ bò và xẻo được lườn bò, nhưng nay mai, có thể còn được chuyển sang làm chủ voi và xẻo được lườn voi. Chỉ ít, cũng được chuyển đi làm chủ một đàn bò khác hay ở lại vị trí cũ mà không hề hấn.

Các nông trường vẫn nuốt nước bọt ừng ực, đến nỗi khô cả cổ. Bây giờ thì họ hiểu ra rằng những con bò kia chẳng phải để cho họ. Bắt đầu phàn nàn, nhưng kêu ca mãi cũng chẳng được tích sự gì, họ trở về trạng thái lờ đờ ngủ gật. Đầu tiên, họ còn có cảm giác đau xót khi nghe tiếng giống thảm thiết của con bò sống bị xẻo thịt, và thấy choáng khi màu đỏ bầm của máu bò rải ướt đám rơm lót chuồng. Nhưng điều gì cứ lặp đi lặp lại mãi cũng thành nhàm. Họ cho đó là nghiễm nhiên, không thế mới là lạ. Họ nghĩ thực ra, những con bò ấy chẳng liên quan gì đến họ.

Thật khó mà tin được rằng, những kẻ lên tiếng khiếu nại về tình trạng ấy một cách kiên quyết nhất chính lại là đám ve mòng rận dĩn. Lá đơn khiếu nại của những công dân này có đoạn viết:

“Đau xót vì tình trạng thịt rơi máu chảy của đàn bò, của tài sản tập thể bị xâm phạm một cách nghiêm trọng, chúng tôi, các công dân Ngọc Ve, Ngọc Mòng, Ngọc Dận, Ngọc Dĩn viết đơn này khiếu nại cấp trên về xem xét. Đàn bò hiện nay, con nào cũng chỉ sót lại một mẩu thịt ở mông, còn tất cả da thịt và gân của chúng đều bị các chủ bò lần lượt xẻo đi và thay thế bằng những quả bóng trong suốt. Xin cấp trên trừng trị để làm gương…’’.

Có người đọc lá đơn trên, cảm động mà hu hu khóc, than rằng, “Trời hỡi trời ! Những kẻ hèn mọn mà có lòng nghĩ dến tài sản chung. Vậy như chúng ta đây, những đại công dân, há chẳng có một chút cử chỉ nghĩa hiệp nào, thật chẳng đáng thẹn với trời xanh lắm ru ?’’. Và người đó suýt quyên sinh vì xấu hổ. Người đó có biét đâu rằng, đám Ve, Mòng, Rận, Dĩn ấy sở dĩ bỗng dưng mầ lo lắng như thế, chẳng qua là thấy nguy cơ trước mắt, một chút máu thịt duy nhất còn sót lại trên mông bò, người ta cũng xẻo nốt, thì hỏi họ hàng nhà kí sinh nay về đâu?

Nhưng kết quả hoàn toàn ngược lại. Người ta liền lập phiên òa xét xử các tội phạm Ve, Mòng, Rận, Dĩn, bởi tiền sử chúng đen tối, hiện tại chúng mờ ám, và tương lai của chúng là không cải tạo được. Nghe đâu, khi xướng tội danh, có những câu đại loại như:

“Bị cáo Ngọc Rận, dù người nhỏ nhưng lòng tham vô đáy. Mỗi miếng y ăn hết một phần ba cái vai bò. Mỗi lần y hút cạn một lít máu bò, cho nên, đàn bò hiện nay mới ra nông nỗi này !”.

Và tòa tuyên phạt: Tử hình tất cả bọn chúng. Điều đó đem lại chút ít hả hê. Coi như đã triệt được nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Dân chúng trong vùng cũng như nông trường viên bây giờ thấy rất hay, bởi loại bò trong veo này không cần ăn cỏ nên không phải đi cắt, không bài tiết nên chẳng phải dọn chuồng, sung sướng nhất là người lùa bò đi chăn. Nếu như hồi mới nhận bò, anh ta phải cầm cây gậy to, chạy tới chạy lui đánh vật với những con bò lực lưỡng thì nay anh ta chỉ việc đứng ở cửa hậu chuồng bò, chúm môi phồng má khẽ thỏi ”phù” một cái. Thế là cả đàn bò cứ ngoan ngoãn lừ lừ ra như một đàn bóng bay khổng lồ.

Nhưng bỗng một hôm, chuông điện thoại cứ reng réo khắp lượt. Các phòng ban nhớn nhác, hớt hải cứ như cháy đồi vậy. Mặt mày ai nấy xanh lét. Vang vang tiếng quát tháo:

- Ngu lắm ! Tôi tin cậy các anh, giao tài sản tập thể cho các anh trông coi mà để dến nông nỗi này à ? Uống nước phải biết chừa cặn, ăn vụng phải chùi mép cho tôi nhờ với chứ !

- Dạ thưa anh, thì chúng em vẫn chừa lại cặp sừng, với bốn cái chân, với còn nguyên cái đuôi của con bò lại đấy chứ ạ. Mà lâu nay các đoàn kiểm tra từ trên về, vẫn trót lọt, có ai bảo rằng đó không phải là bò đâu ạ?

- Ngu lắm ! Lọt được mắt các đoàn kiểm tra ấy bởi vì họ há miệng mắc quai… Còn người quốc tế ấy, họ khôn lắm. Không bịt mắt được họ đâu. Họ đã” phôn” về, đích thân đến kiểm tra đàn bò vào tuần sau đấy. Đấy ! Các người chịu trách nhiệm về vụ này. Các người muốn làm sao thì làm.

Các phòng ban các chủ bò xôn xao, bàn bạc quy trách nhiệm, chửi nhau như ong vỡ tổ. Sau ba ngày, một thông cáo được ban bố, được nhắc di nhắc lại đến chín lần tận tai các công dân nông trường:

- Bởi vì các nông trường viên đã vô trách nhiệm, kém cỏi về trình độ khoa học kỹ thuật, nên đã để cho đàn bò mất hết thịt. Ai gieo nguyên nhân thì người đó phải gặt hậu quả, đã làm sai thì phải sửa sai. Bởi vậy, ngày mai, mỗi nông trường viên phải tự đưa một miếng thịt của mình ra đắp vào dàn bò, trả lại cho đàn bò hình dáng ngày xưa. Ai không tuân thủ sẽ bị trừng phạt.

Phần vì sợ hãi, phần để giữ thể diện quốc gia, các nông trường viên vừa tự đắp thịt mình vào đàn bò vừa khóc. Máu họ nhỏ ròng ròng trên đất và đỏ hơn máu bò.

Bỗng có tiéng rít ghê rợn trên không trung. Đó là tiếng réo của câu thần chú. Khi đàn bò chỉ còn là những quả bóng bay, câu thần chú đã bỏ đi. Nhưng khi đàn bò đã có da có thịt trở lại, câu thần chú bỗng từ đâu lại lượn về.

Tiếng rít của nó báo hiệu điều gở.
Đó là, một thế hệ người chăn bò thần thánh lại sắp xuất hiện.

Vì ra đời dưới tiéng rít của câu thần chú, nên đông gấp đôi thế hệ trước. Và cứ để ý mà xem, bàn tay trái của họ đều nắm chặt. Khi họ vô tình mở ra, sẽ thấy giữa lòng bàn tay có một giọt máu. Không rõ đó là máu người hay máu bò.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Nguyễn Minh Triết:
‘Cùng Nhau Xây Dựng Một Cõi Niết Bàn Trong Thế Giới Hiện Thực’
Hay Đang Biến Việt Nam Hiện Thực Thành Địa Ngục Trần Gian!


Âu Dương Thệ
Dortmund, Đức Quốc
Ngày 14.5 tờ điện tử Chính phủ đưa hàng tít lớn về lễ khai mạc Vesak 2008 ở Hà nội: „Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc 2008: Cùng nhau xây dựng một cõi Niết bàn trong thế giới hiện thực.“ Ai đã nói câu này? Chính là Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Bộ chính trị (BCT) và Chủ tịch nước Cộng hòa XNCN Việt Nam, đồng thời là Trưởng ban trung ương cải tạo pháp luật. Trong tiểu sử của Ủy viên BCT này ghi rõ lí lịch là „tôn giáo: không“. Trong số 14 Ủy viên BCT Khóa 10 hiện nay thì có 13 người đều ghi là không có tôn giáo. Còn một người thì không ghi gì cả. Nguyễn Minh Triết và những người này đều tôn thờ chủ nghĩa Marx-Lenin, họ sùng tín nó còn hơn tín đồ các tôn giáo. Marx đã từng kết án các tôn giáo, coi nó như thuốc phiện. Còn Lenin, đệ tử của Marx, khi nắm quyền thì ra tay khủng bố và tiêu diệt tôn giáo.

Hồ Chí Minh sáng lập chế độ, sùng bái Marx-Lenin coi như mặt trời, là đũa thần và bửu bối, cũng đã thi hành các chỉ thị của Đệ tam Quốc tế CS đối với các tôn giáo ở VN. Khi chưa nắm được chính quyền thì tuyên bố đấu tranh cho tự do tín ngưỡng. Nhưng từ khi cướp được chính quyền thì bắt các tôn giáo phải nhập vào Mặt trận Tổ quốc (MTTQ), một cánh tay dài của ĐCS trong việc kìm kẹp nhân dân; giáo phái nào hay tu sĩ nào không theo thì bị buộc tội là „chống cách mạng“ và bị theo dõi, đàn áp, thậm chí cả thủ tiêu.

Năm nay chế độ toàn trị của ĐCS muốn rửa bộ mặt với thế giới nên đã để cho Giáo hội Phật giáo VN (GHPGVN), một thành viên tín cẩn của MTTQ, mượn danh nghĩa Liên hiệp quốc (LHQ) đứng ra tổ chức lễ Vesak LHQ trong dịp Phật đản 2008.* Vì thế cho nên không lạ khi các người đứng đầu của giáo hội quốc doanh vẫn theo châm ngôn „trung thành với XHCN“ đã rất hân hạnh được Nguyễn Minh Triết tới dự và đọc diễn văn khai mạc! Ông Triết không tới chỉ nói vài lời khai mạc, nhưng ông lại lên giọng của một nhà tôn giáo thuyết giảng đạo đức cho thiên hạ! Một người không tôn giáo, chống tôn giáo, khinh miệt và đàn áp tôn giáo lại rất đường hoàng trịnh trọng thuyết giảng về tôn giáo, dạy dỗ các tín đồ tôn giáo! Trước hàng ngàn tu sĩ, tín đồ và quan khách, Nguyễn Minh Triết đã lên tiếng khuyên mọi người: „Cùng nhau xây dựng một cõi Niết bàn trong thế giới hiện thực.“

Theo triết lí Phật giáo thì cõi Niết bàn là một thế giới cực lạc, con người không còn bị hành hạ và đày đọa như ở dưới địa ngục, không còn cảnh người giết người, không còn tệ trạng cá lớn nuốt cá bé, kẻ có quyền tiền lại dùng quyền để tham nhũng làm giầu bất chính và dùng tiền để mở rộng quyền lực bất chính! Ở cõi Niết bàn cũng không có đất cho những kẻ vọng ngôn, nói một đằng làm một nẻo; nói dân chủ nhưng lại thủ tiêu và đàn áp những người có chính kiến khác; nói chống tham nhũng nhưng lại bao che cho bọn quan tham; nói bảo vệ những ai tố cáo tham nhũng, nhưng lại bắt nhốt những ai dám tố tham quan!

Nhưng ý nghĩa trong câu „Cùng nhau xây dựng một cõi Niết bàn trong thế giới hiện thực“ trong diễn văn khai mạc đại lễ Vesak Nguyễn Minh Triết muốn nói tới Niết bàn Phật giáo hay „Niết bàn XHCN hiện thực“?

Cái đặc biệt nhất của những lãnh tụ CS VN từ trước tới nay là nói vậy nhưng không phải là vậy; nói rất ngọt, xoa rất tài, làm như những người tử tế và đạo đức. Nhưng họ luôn luôn theo đuổi những chủ trương ngược lại, nuôi các ý đồ đen tối và để thực hiện các mục tiêu của mình họ sẵn sàng thi hành những tội ác tày trời, nhưng vẫn mở miệng nói là „đạo đức cách mạng“, dân chủ tự do, thậm chí còn cho đó là văn minh!

Niết bàn mà Nguyễn Minh Triết nói ở đây không phải là Niết bàn của Phật giáo hay Thiên đàng của Thiên chúa giáo, nhưng là Niết bàn XHCN và Thiên đàng XHCN! Ai cũng nhớ tuyên bố nẩy nửa nhưng rất bi quan của người đứng đầu Nhà nước Nguyễn Minh Triết ngày 27.8.07 tại Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân:
„Dù ai nói ngả nói nghiêng, dù ai có muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp gì đó thì không có chuyện đó. Bỏ cái đó đồng nghĩa với chúng ta tuyên bố chúng ta tự sát, cho nên phải củng cố công tác chính trị tư tưởng, củng cố vai trò của đảng…” **

Điều 4 Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa XHCN VN xác nhận và ghi rõ, ĐCSVN „là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.“ Nghĩa là, đảng này đã tước các quyền căn bản của nhân dân và tự cho mình độc quyền trong mọi sinh hoạt từ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục tới xã hội và tôn giáo. Như vậy ông Triết và nhóm cầm đầu CSVN hiện nay – những người tự nhận vô tôn giáo- chủ trương phải bằng mọi giá duy trì sự độc quyền của ĐCSVN. Có nghĩa là mục tiêu trước sau của họ vẫn là thực hiện XHCN. Vì thế Niết bàn mà ông Triết nói trong diễn văn khai mạc tại đại lễ Vesak chính là Niết bàn XHCN hiện thực!

Niết bàn XHCN lí tưởng thì chưa ai biết mặt mũi, hình dung như thế nào (vì các lãnh tụ anh minh của đảng vẫn cho rằng họ còn đang trong thời kì quá độ, mặc dù chế độ này đã có mặt trên 60 năm ở VN), nhưng Niết bàn XHCN hiện thực ỏ VN thì ai cũng biết rất rõ ràng, vì chính đang là nạn nhân!

Các lãnh tụ CSVN vẫn mở miệng tự nhận là người đại diện chân chính quyền lợi của người lao động và thực hiện một xã hội công bằng. Nhưng hiện nay hầu hết các ủy viên BCT, Ủy viên Trung ương đảng, các Bộ trưởng, Bí thư tỉnh ủy, thành ủy, các Giám đốc các tập đoàn kinh tế và tổng công ti nhà nước đều trở thành triệu phú (Dollar) và sống trong các biệt thự công không phải trả đồng xu nào; con cái của họ sẵn sàng bỏ cả triệu đồng để tiêu sài trong một buổi. Giữa khi ấy thì hàng triệu nhân dân lao động tại Sài gòn, Hà nội và các trung tâm chế suất công nghiệp đang phải sống trong các túp lều, các phòng trọ chật hẹp và bẩn thỉu như các „chuồng gà“, nhưng vẫn phải trả tiền thuê cắt cổ, lương tháng chỉ vài trăm ngàn phải vật lộn chi tiêu cho cả gia đình trước nạn lạm phát phi mã! Hàng triệu nông dân trong các vùng sâu, vùng xa đang phải chịu cảnh đói khổ, hàng trăm ngàn con cái họ phải bỏ học vì cha mẹ không thể trả học phí quá cao. Mới vài ngày trước Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố không được tăng giá các hàng hóa thiết yếu của nhân dân, nhưng nay lại đồng ý để sách giáo khoa tăng giá bán 10%, giữa lúc nạn lạm phát chóng mặt làm các giới nghèo khó đang khốn đốn. Bức tranh đen trắng của Niết bàn XHCN hiện thực này ở VN đã được chính các báo của chế độ mô tả rất rõ!

Trong khi hàng triệu công nhân VN đang bị các tay tài phiệt ngoại quốc, đặc biệt Đại Hàn và Đài loan, đàn áp và bóc lột sức lao động với đồng lương đói rách thì người đứng đầu chính phủ Nguyễn Tấn Dũng lại ban hành Nghị định số 11 và 12 ngày 30.1.08 cấm đình công „bất hợp pháp!“ Và bắt các công nhân phải „bồi thường thiệt hại“ cho chủ nhân.*** Trong khi đó Nguyễn Minh Triết, đứng đầu Ban cải cách luật pháp, thì lại im thin thít! Thế là thế nào?

Trên 60 năm thực hiện XHCN và trên 20 năm „đổi mới“, nhưng lợi tức đầu người mỗi ngày ở VN mới trên 2 Mĩ kim là một trong những nước nghèo trên thế giới, thấp hơn cả mấy chục lần nhiều nước trong khu vực như Nhật, Đài loan, Nam Hàn, Singapor. Các nước này không theo thiên đường XHCN! Chính sách „đổi mới“ ra đời không phải là sáng kiến và cũng không phải do ý muốn của nhóm lãnh đạo độc tài bảo thủ, mà chính là sự xé rào của nhiều thành phần nhân dân và sức ép của tình hình thế giới sau khi Liên xô rơi vào khủng hoảng và tự tan rã! Chính sự xé rào của nhân dân, nay đất nước mới có da có thịt một phần, còn nếu cứ giữ mô hình XHCN xơ cứng như trước thì VN cũng vẫn giống như Bắc Hàn bây giờ mà thôi!

Niết bàn XHCN hiện thực ở VN là tệ trạng tham nhũng đã được ngay những người cầm đầu chế độ coi là quốc nạn. Cựu TBT Lê Khả Phiêu đã nói toạc ra là, quyền-tiền đang quyện chặt vào nhau trong những người có quyền lực. Những kẻ có quyền ở trung ương và các địa phương đang lợi dụng quyền lực để tham nhũng tiền bạc, đất đai, biệt thự, biến „đất công, nhà công thành đất ông, nhà ông“. Khi nhận chức TBT vào năm 2001 chính Nông Đức Mạnh đã tuyên bố là sẽ thẳng tay trừng trị tham nhũng và quyết bảo vệ những người có can đảm tố cáo tham nhũng. Trước đây gần hai năm khi nắm chức Thủ tướng kiêm Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương phòng chống tham nhũng Nguyễn Tấn Dũng hùng hổ tuyên bố nghiêm khắc trừng trị tham quan, bất kể người đó giữ chức vụ gì và còn ra lệnh cho bộ Công an và Viện kiểm sát sớm đưa vụ PMU 18 ra xét xử nghiêm khắc, mà đại công thần của chế độ là tướng Võ Nguyên Giáp đã nói là „vụ tham những động trời“. Nhưng kết quả thực tế thì hoàn toàn khác với những lời tuyên bố và hứa hẹn của Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng. Cựu Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến, người giữ chức vụ cao nhất bị bắt trong vụ PMU 18, vừa được tha và ngày 7.5 lại còn được phục hồi đảng tịch. Trong dịp này Nguyễn Tấn Dũng đã đồng ý với quyết định của Viện kiểm sát trong viêc thả Nguyễn Việt Tiến! Trong khi đó hai nhà báo của tờ Tuổi trẻ và Thanh niên, từng dấn thân viết các bài tố cáo các quan lớn ăn tiền để chạy án vụ PMU 18, thì vừa bị bộ Công an ra lệnh bắt giam.

Không chỉ các nhà báo có tâm huyết bất bình, mà cả nhiều chuyên viên, nhân sĩ, những thanh niên và nhiều đảng viên còn nhân cách đều thốt lên là, không thể tưởng tượng được là lãnh đạo đã trắng trợn đến như thế! Cương quyết chống tham nhũng là như thế sao? Bảo vệ người tố tham nhũng là như vậy sao?

Các nhà báo chống tham nhũng hay tố cáo sự nhu nhược của nhóm cầm đầu chế độ toàn trị trước các chính sách xâm lấn của bá quyền Bắc kinh thì bị bắt giam hoặc mất chức, trong khi ấy Nguyễn Tấn Dũng lại tuyên bố trước BBC vào đầu tháng 3 là:“Luật báo chí của VN là luật báo chí rất cởi mở. Nhiều nhà lãnh đạo của các nước gặp tôi cũng đều nói với tôi là VN có luật báo chí rất thông thoáng mà ngay nước họ cũng không có!”

Nhưng mới đây tổ chức Freedom House, một tổ chức quốc tế có uy tín chuyên khảo sát về tình hình báo chí trên thế giới, đã xếp chế độ XHCN của VN vào thứ 178/195 các quốc gia được khảo sát về mức độ tự do báo chí. VN bị xếp vào các nước „không có tự do báo chí“. Những nước đứng gần „Niết bàn XHCN hiện thực“ ở Việt Nam là Sudan, Lào, Trung Quốc, Somali, Iran, Cuba và Bắc Hàn! Cho tới nay vẫn không thấy Nguyễn Tấn Dũng cải chính!

* * *

Đại lễ Vesak đúng ra là dịp để nhớ ơn và học tập đạo đức, từ bi của Phật Thích Ca. Nhưng Nguyễn Minh Triết, đại diện trung thành của nhóm lãnh đạo độc tài bảo thủ hiện nay, đã mượn đại lễ Vesak LHQ, mượn cửa Phật để lên giọng đạo đức, mượn ngôn ngữ Niết bàn của Phật giáo để ru ngủ, đánh lừa thiên hạ!

Nhưng Niết bàn mà người vô tôn giáo Nguyễn Minh Triết nói trong đại lễ Vesak không phải là Niết bàn Phật giáo, mà chính là Niết bàn XHCN hiện thực đang diễn ra ở VN dưới sự độc quyền của chế độ toàn trị mà những người cầm đầu đều là người vô tôn giáo và chỉ muốn các tôn giáo và các tu sĩ ngoan ngoãn tôn thờ XHCN!

Những người mà sự liêm sỉ và lòng thành thực ở mức tối thiểu cũng không còn, nay mượn cửa Phật để rao giảng đạo đức. Trong khi ấy XHCN hiện thực mà họ đang xây dựng chỉ dựa trên đàn áp, bóc lột, bất công và tham nhũng, đang biến VN thành một địa ngục trần gian. Những phần tử như vậy chính là những kẻ „nam mô một bồ dao găm!“

Ghi chú:

Xem các bài của cùng tác giả trong www.dcpt.org, phần thời sự:
* Nhóm cầm đầu chế độ toàn trị đang âm mưu biến đại lễ Vesak LHQ thành „một APEC„ thứ 2 !
** Nguyễn Minh Triết: „Bỏ Điều 4 Hiến pháp…là tự sát“!
*** Nghị định cấm đình công: món quà Tết của Nguyễn Tấn Dũng tặng giai cấp công nhân!

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Những quả bóng bay trên bầu trời Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Xuân Nghĩa
1.

Bầu trời Hà Nội sáng nay thật đẹp

Nó đẹp vì những dải mây mỏng phớn phớt xám từ sáng sớm đã bay lên thật cao, nhường cho một không gian thoáng đãng và trong trẻo phía dưới, nối dài đến sát mặt đất, nơi có một vùng cây xanh ngắt trải rộng bao phủ khắp thành phố Hà Nội.
Dưới những tán cây tạo nên màu xanh, để Hà Nội được gọi là thành phố của bình yên kia, người dân nghèo Hà Nội tiếp tục chịu đựng lạm phát như chịu đựng bàn tay của một tên kẻ cắp vô hình hàng ngày móc mất từ túi những đồng tiền ít ỏi.
Dưới màu xanh tưởng như bình yên kia, lớp lớp dân oan từ đủ các tình thành trong Nam ngoài Bắc đang ăn chực nằm chờ hàng ngày để khiếu kiện những bất công tràn ngập trong xã hội, do những quan tham các cấp từ đảng cơ sở đến đảng Trung ương gieo rắc.

Dưới cái màu xanh tưởng như bình yên kia có những nhà báo, văn nghệ sỹ cặm cụi trên trang viết dù đã cam chịu uốn éo đi theo lề đường bên phải, vẫn lo sợ mở Bộ luật hình sự, nhìn vào điều 281 mà chính quyền mang ra áp dụng với hai đồng nghiệp có nhiều bài viết, đưa ra nhiều thông tin “nhạy cảm” trong vụ tham nhũng ở PMU 18; và biết không còn cách nào khác là tiếp tục để đảng bịt miệng.

Dưới những tán cây xanh kia, lì lợm một thể chế độc tài đảng trị đã mafia hóa. Từ đó lan ra không gian những tin điện mang những bản án bất công áp đặt phi lý lên những nhân vật đối kháng ôn hòa, lên những nhà hoạt động tôn giáo, sẵn sàng khủng bố công dân đòi tự do, công bằng xã hội, đòi được bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo quốc gia; và tàn nhẫn tước đoạt của mọi thành viên cộng đồng những tiêu chuẩn tối thiểu để được nhìn nhận như một con người.



2.

Dưới tán những cây xanh Hà Nội…




Nhưng ở đâu đó, dưới những tán cây xanh kia cũng đang có các nhân vật hoạt động đối kháng bất bạo động, một lớp sinh viên và công dân ưu tú của đất nước đang đứng lên đòi tự do, dân chủ, nhân quyền cho quê hương, mặc dù bị đàn áp khốc liệt. Tiếng gọi chính nghĩa của họ vang động ra cộng đồng nhân loại văn minh và thức tỉnh lương tâm của toàn nhân loại tiến bộ.

Vì thế đã có những kháng thư, những cuộc gặp gỡ dưới nhiều hình thức và những sức ép yêu cầu chính quyền độc tài Việt Nam thực thi những cam kết về nhân quyền, dân chủ mà ban lãnh đạo đảng CSVN đã ký kết với thế giới.

Một trong những sức ép đó là cuộc đối thoại Nhân quyền Việt-Mỹ sẽ khai mạc vào ngày mai (29-5)

Dưới tán những cây xanh Hà Nội, các thành viên của tổ chức 8406, đại diện cho tiếng nói chính nghĩa của nhân dân Việt Nam đang tìm một hình thức nào đó để gửi tới cuộc đối thoại nhân quyền Việt - Mỹ yêu sách tự do, nhân quyền cho nhân dân Việt Nam, khi hình thức là những cuộc biểu tình bị chế độ công an trị thẳng tay đàn áp và ngăn chặn từ trong trứng nước.

Dưới những tán cây xanh Hà Nội…

Đúng 10 h, những chùm bóng bay, đủ các màu xanh, đỏ, tím vàng đã bay lên cao trên bầu trời thủ đô từ Hồ Gươm. Dưới mỗi chùm bóng là những băng rôn kích thước rộng dài 1 m và hơn 1 m, mang các biểu ngữ: “ TỰ DO, NHÂN QUYỀN CHO VIỆT NAM” và bằng cả Anh ngữ “ HUMAN RIGHTS FOR VIETNAM; DEMOCRACY FOR VIETNAM”, trong con mắt kinh ngạc, cảm phục và phấn chấn của người Hà Nội, trong ống kinh và cây bút của các hãng truyền thông quốc tế.


Một lần nữa và bằng một hình thức mới, tiếng kêu gọi khẩn thiết của nhân dân Việt Nam đã được chuyển tải ra thế giới văn minh

Ngày mai cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ khai mạc

Hải Phòng, chiều ngày 28-5-2008
Nhà văn: Nguyễn Xuân Nghĩa

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image


SỨC MẠNH DO THÁI SAU 2018 NĂM DỰNG LẠI NƯỚC
BÀI HỌC DO THÁI Dân tộc VN có nhiều đặc tính ưu việt giống như dân tộc Do Thái: tính dân tộc, tự hào dân tộc, huyền thoại về dân tộc (Rồng - Tiên, một bọc mẹ Âu Cơ), tính xóm làng (thành văn hóa xóm làng), tình họ hàng. Nhờ vậy qua 1050 dưới ách đô hộ Bắc phương, dân tộc VN vẫn không bị Hán hóa, vẫn đứng lên giành được độc lập. Do Thái mất nước từ năm 70 trước công nguyên, đế quốc La Mã xóa gọn quốc gia Israel của quốc tổ David, một Hùng Vương của Do Thái trong huyền thoại và Thánh kinh.

Mất nước ròng rã 2018 năm, ngày 14-5-1948 dân Do Thái đã lập lại quốc gia của vua David, tuyên cáo độc lập vào lúc 0 giờ ngày 14-5 tại Tel Aviv. Tuần này cộng đồng Do Thái trên khắp thế giới tổ chức ăn mừng 60 năm dựng lại nước ở giữa biển lửa thù nghịch. Khi tuyên cáo Israel ra đời, dân số Do Thái năm 1948 mới chỉ có 600,000 dân trong khi khối Ả Rập vây quanh với dân số 120 triệu dân. Vừa tuyên cáo độc lập, các nước Ai Cập, Liban (Lebanon), Jordan, Iraq, Syria đồng bộ tấn công Do Thái, quyết tiêu diệt, xóa gọn trên bản đồ Palestine. Lê dương Jordan chiếm cổ thành (Old City), thành thiêng trên đất thiêng Jerusalem - đất thiêng của Do Thái, Palestine, Ả Rập, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo. Quân Do Thái phải lui vào thành mới. Nam nữ trên 18 tuổi ở tuyến đầu chiến đấu. Do Thái đã giữ được Tel Aviv và các cộng đồng “Ki bút”. Nước Do Thái đứng vững và tồn tại. Thù hận ngút ngàn vẫn còn. Nhiều nước Ả Rập và Hồi giáo như Iran, Syria, Saudi Aribia vẫn tiếp tục xóa nước Do Thái trên bản đồ mà chỉ có nước Palestine.

Trước năm 1945, khối Ả Rập và Hồi giáo không thù Mỹ, trái lại coi Mỹ là đồng minh rất thân thiết, nhất là Syria, Iraq, Iran, Saudi Aribia. Sau thế chiến thứ I, Hoa Kỳ được khối Ả Rập coi là siêu cường thần tượng. Thủ đô Cairo, Ai Cập và thủ đô Tehran Ba Tư (Iran) đã đi vào lịch sử thế giới: năm 1944-45 là nơi Tứ cường họp thượng đỉnh gồm Tổng thống Roosevelt (Mỹ, Churchill (Anh), Staline và Tưởng Giới Thạch. Từ Thổ Nhĩ Kỳ đến tận Marốc qua Pakistan, các nước Hồi giáo đều coi Hoa Kỳ là bạn lớn. Một nhà ngoại giao Mỹ năm 1947 ở Bá Ða Iraq tự lái xe đưa vợ con qua thủ đô Tehran, Ba Tư, mà không cần mang theo súng hay cận vệ. Nhưng sau ngày 17-5, Hoa Kỳ ra tuyên bố công nhận quốc gia Do Thái thì ngọn lửa ngút ngàn của dân Ả Rập - Hồi giáo thổi táp vào người Mỹ. Từ dạo đó, Do Thái và Mỹ là một, một kẻ thù bất cộng đáy thiên của dân Ả Rập - Hồi giáo dù rằng chính phủ nước họ vẫn là đồng minh của Mỹ như Jordan, Ai Cập, Marốc, Tunisie, Saudi Aribia, Pakistan ...

Al Qaeda và bin Laden là hậu qủa của hận thù Mỹ và Do Thái. Hậu quả kinh hoàng là thảm nạn 911 ở New York và Ngũ giác đài năm 2001. Người Do Thái ở New York đã biết trước bạn khủng bố Al Qaeda sẽ tấn công 2 tòa cao ốc Trung tâm thương mại ở New York nên sáng ngày 11-9, người Do Thái ở nhà, không đến làm việc ở trung tâm này. Thậm chí một công ty an ninh tư do người Do Thái Mỹ làm chủ được coi an ninh cho 2 tòa cao ốc chót vót, ông ta cho các nhân viên an ninh của công ty nghỉ việc, ở nhà. Nhờ vậy, dân Do Thái không một ai chết hay bị thương. Dân Do Thái Mỹ vô can! Cuộc chiến Iraq hiện nay, Do Thái cũng vô can nhưng nhiệt tình ủng hộ HP Bush. Nhiều chính khách và nhà báo Mỹ ai oán trách móc rằng Hoa Kỳ “đánh thuê” cho Do Thái, làm lính tiền đồn bảo vệ Do Thái. Liên tục 60 năm qua, Hoa Kỳ quân kinh viện cho Do Thái ở mức cao nhất, kể cả trong cuộc chiến VN, Do Thái vẫn dẫn đầu về quân - kinh viện. Cố nữ Thủ tướng Do Thái Golda Meir nói ngược lại: chính Do Thái đã làm tiền đồn bảo vệ quyền lợi Mỹ ở Trung Ðông. Bà thủ tướng gốc Do Thái Mỹ nói cũng có phần đúng. Do Thái là nước có vũ khí nguyên tử với một quân đội tinh nhuệ và tối tân nhất ở Trung Ðông.

THẾ LỰC DO THÁI MỸ
Từ một hoàn cảnh bị kỳ thị ở Mỹ, công dân hạng hai, sau thế chiến thứ 2, Do Thái Mỹ nghiễm nhiên trở thành một thế lực bao trùm chính trường và thị trường tài chính Mỹ. Phong trào vận động thành lập quốc gia Do Thái cùng với chủ đạo Do Thái Zionims phát động rất mạnh ở Mỹ và Canada dù Do Thái CND còn yếu. Hai đại nhật báo Mỹ, tờ NY Times và Washington Post do Do Thái làm chủ lại chống lại Zionism. Một số chính khách lớn của Mỹ, nhất là đảng Cộng Hòa đều chống lại sự thành lập nước Do Thái. Bộ ngoại giao và cả bộ quốc phòng Mỹ cũng chống lại. Các ông tướng Ngũ giác đài lo ngại về một Thánh chiến sẽ bùng nổ ở Trung Ðông mà Ngũ giác đài không muốn quân lực Mỹ can thiệp. Bộ trưởng QP Forrestal rất tiêu cực cho rằng ủng hộ một nước Do Thái là không thực tế. Cộng đồng Do Thái Mỹ cũng chia trí nhưng cuối cùng chủ đạo Zionism vẫn thắng thế.

Sau thế chiến thứ nhất, Do Thái bắt đầu trỗi dậy ở Âu châu, được chính phủ Anh - Pháp ngầm hỗ trợ do họ đã hết lòng ủng hộ Ðồng minh chống lại Ðức và đế quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ). Anh quốc được LHQ giao cho quyền giám hộ Palestine. Toàn quyền Anh ở Palestine cho thành lập Cục Do Thái (Jewish Agency) trao cho Ben-Gourion làm giám đốc. Dân Do Thái ở Âu châu và một số nước Nam Âu và trung Ðông Âu âm thầm về đất tổ sinh sống. Họ được cộng đồng Do Thái ở Âu - Mỹ tài trợ. Về tay không ư? Ðược nhiệt liệt hoan nghênh, đã có cộng đồng lo cho từ A đến Z. Cộng đồng hải ngoại bí mật gửi ngoại tệ về để mua đất, từ mẫu này qua mẫu khác của người Ả Rập hay người Palestine. Họ tập trung ở thành phố cảng Tel Aviv rồi tỏa ra lập các địa điểm định cư theo kiểu mẫu “Ki bút” dinh điền chiến lược, tự võ trang để tự vệ. Số “Ki bút” tăng lên hàng tuần, thu hút di dân Do Thái ở khắp nơi về nước, nhất là sau năm 1945, dân Do Thái ở Trung và Ðông Âu thoát họa Ðức quốc xã đổ về đất tổ. Nhà cầm quyền Anh biết nhưng lờ đi còn dân Ả Rập và Palestine lại không biết cái mầm quốc gia Do Thái đã thành hình và đang lớn mạnh. Do vậy họ ham tiền cứ hoan hỷ bán đất cho Do Thái.

Do đề nghị của Hoa Kỳ và Nga, LHQ ra nghị quyết đặt Palestine dưới quyền giám hộ của LHQ. Như vậy là không cho phép thành lập nước Do Thái. Cộng đồng Do Thái Âu - Mỹ dốc toàn lực vận động chia đôi Palestine, một dành cho Do Thái, một cho Palestine - Ả Rập. Lãnh tụ Do Thái Weizmann (sau này làm tổng thống đầu tiên của Do Thái) qua Mỹ vận động, ông và CÐ Do Thái Mỹ đã rất thành công, được Tổng thống Truman tiếp ở phòng Bầu dục tòa Bạch Ốc. Truman hứa sẽ ủng hộ giải pháp chia đôi Palestine nhưng không hứa về một nước tân Do Thái ra đời. Do Bộ Ngoại giao Mỹ chưa được báo tin nên ủng hộ Anh về giải pháp LHQ giám hộ Palestine. Tổng thống thì hứa ủng hộ chia đôi Palestine, Ðại sứ Mỹ ở LHQ lại bỏ phiếu theo đề nghị của Anh. Truman nổi giận nói: “Thế này là bộ ngoại giao đã rút thảm dưới chân tôi hôm nay rồi. Tôi chỉ biết tin này khi đọc báo. Giờ thì tôi ở cái thế của kẻ nói dối, chơi trò lật mặt. Trong khi tôi, chưa bao giờ tôi cảm thấy xuống quá thấp thế này”. Truman khiển trách Dean Rusk (sau này làm ngoại trưởng), giám đốc vụ LHQ. HP Truman chia rẽ nặng về “vấn đề quốc gia Do Thái”. CÐ Do Thái Mỹ vận động rất mạnh, lôi kéo được Clifford, mới ngoài 30 tuổi làm cố vấn các vấn đề quốc nội cho Truman, một người tin cẩn của Truman (ví như Carl Rove của TT Bush trẻ trước năm 2006). CÐ Do Thái Mỹ đã gõ trúng cửa và đánh trúng “Tim đen” của Truman vào năm bầu cử tổng thống Mỹ, cần phải được báo chí - truyền thông và CÐ Do Thái Mỹ ủng hộ trong đó người trẻ Clifford đóng một vai trò quan trọng vận động khối cử tri và tư bản Do Thái Mỹ.

Trong phiên họp HÐ Nội các thu hẹp ngày 12-5-1948 để quyết định về “vấn đề quốc gia Do Thái”, sau Truman là ngoại trưởng Marshall nhưng lại có cả Clifford tham dự. Marshall rất tức bực vì theo nguyên tắc Clifford không được phép có mặt trong phiên họp về ngoại vụ. Thế mà, TT Truman lại cho Clifford mở lời đầu tiên trình bày về quyết định cần công nhận quốc gia Do Thái ra đời. Marshall rất kinh ngạc, ông Thống tướng 5 sao này được cả nước Mỹ kính trọng, một anh hùng thế chiến thứ hai, trong khi ảnh hưởng của Truman đang xuống dốc, dưới 30 điểm thăm dò. Truman tránh đụng độ trực tiếp với Marshall và các ông tướng Ngũ giác đài trong đó có Thống tướng Eisenhower 5 sao và Bộ trưởng Forrestal đều không đồng ý một nước Do Thái ra đời. Clifford nói vừa dứt lời, Marshall nổi dóa ngay trước mặt tổng thống, không nể nang, nói thẳng: “Tôi chẳng hiểu sao Clifford lại ở đây. Anh ấy là cố vấn quốc nội còn đây là vấn đề chính sách ngoại giao. Chỉ có mỗi một lý do Clifford ở đây là anh ấy ép phải cân nhắc chính trị”.

Marshall viết vào hồ sơ lịch sử sau phiên họp “tréo cẳng ngỗng” này: “Tôi nói huỵch toẹt ra rằng nếu Tổng thống theo lời cố vấn của Clifford và nếu trong cuộc bầu cử mà tôi bỏ phiếu, tôi bỏ phiếu chống lại tổng thống”. Marshall thất bại, đành lặng lẽ. Clifford vượt quyền ngoại trưởng, vài giờ sau trực tiếp báo tin cho Cục Do Thái ở Tel Aviv do Ben-Gourion làm giám đốc hãy yêu cầu Hoa Kỳ công nhận. Lúc đầu Cục Do Thái gọi là “nước tân Do Thái” (Jewish State). Văn bản phúc trình lên Truman ngay sau đó, Clifford cầm bút xóa bỏ hai chữ này, sửa lại bản đánh máy với chữ viết tay của Clifford: “the new state of Israel”. Truman ký tên và phê vào văn bản lịch sử này: “approved - May 14, 1949”. Tên nước Do Thái lại chính thức ra đời ở tòa Bạch Ốc trên bàn viết của Tổng thống Mỹ ở phòng Bầu dục (viết theo Richard Holbrooke - cựu đại sứ, Clifford’s Counsel to the President: A Memoir).

Người ta hy vọng rằng cuối năm 2008 này, trước khi rời Bạch Ốc, vào lúc uy tín xuống thấp như Truman (28% tháng 4-2008), ông Bush sẽ ký tuyên cáo công nhận “The new state of Palestine” ra đời.

Nước Do Thái ngày nay là một Do Thái ngay trên nước Mỹ. Họ đại thắng các nước Ả Rập 3 cuộc chiến lớn: 1948, 1967 “cuộc chiến 6 ngày” và cuộc chiến 1973 là do chính sự can trường vô biên của dân tộc Do Thái với 5000 năm văn hiến và đạo Do Thái với niềm tự hào con cháu vua David, biểu hiện ngôi sao 6 cánh trên quốc kỳ Do Thái với huyền thoại Moses. Chính huyền thoại Moses là hồn Do Thái, sức sống mãnh liệt của dân tộc Do Thái. Nước Do Thái cũng phân hóa lắm, đấu đá nhau kịch liệt với 22 đảng chính trị nhưng chỉ có một Do Thái trong hồn nước David và huyền thoại Moses. Hơn lúc nào hết VN cần học thật kỹ bài học Do Thái.

HÀ NHÂN VĂN

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Báo Chí Nhà Nước Đang Thử Thách Chế Độ

Nam Nguyên

Chỉ đạo báo chí
ngừng phản đối
từ ngày 15-5


Đoạn kết bất ngờ của vụ án PMU18, Sự phản ứng mãnh liệt của Thanh Niên và Tuổi trẻ là hai tờ báo có phóng viên bị bắt và khởi tố, cùng sự kiện công luận ủng hộ nhà báo, được mô tả là câu chuyện công cụ thông tin của Nhà nước đang thử thách chế độ. Có thể giải thích về điều này như thế nào. Ông Nguyễn Quốc Thái cựu tổng thư ký báo Doanh Nghiệp hiện là chủ biên của tạp chí Thế Giới Ẩm Thực phát hành ở Sài Gòn nhận định:

"Tất cả báo chí ở VN đều thuộc một cơ quan đòan thể nào đó của Nhà nước, chứ không có báo chí tư nhân. Vì thế tất cả báo chí đều có sự chỉ đạo từ trên xuống dưới chứ không thể nào như báo chí của tư nhân ở nước ngoài mà ông thường tiếp xúc".

Nếu đọc tờ Thanh Niên báo in ngày 13/5, thì tít lớn mầu đen với khổ chữ lớn chóan gần hết trang báo đập ngay vào mắt mọi người 'Phải Trả Tự Do Cho Các Nhà Báo Chân Chính'. Bản điện tử cùng nội dung nhưng không thể hiện được điều này. Tờ Thanh Niên đã trích dẫn ý kiến của nhiều giới mà tất cả đều từ bất bình tới phẫn nộ đối với sự việc.

Báo Tuổi Trẻ cũng phản ứng không kém với tựa bài "Bảo Vệ Những Nhà Báo Chân Chính và Công Lý!" Tựa bài được đặt dấu chấm than. Cả hai tờ Thanh Niên và Tuổi Trẻ cho biết họ tiếp nhận cơn lũ thư, điện thoại, tin nhắn. Điều mà tòa sọan báo Tuổi Trẻ mô tả là các phản ứng từ băn khoăn, hoang mang, đến bức xúc và chia sẻ và nhất là những lời động viên. Hai tờ báo đưa ra lời cảm ơn bạn đọc đã đứng bên cạnh nhà báo trong lúc khó khăn này. Cả hai tờ báo được sự ủng hộ tinh thần của giới luật gia, nhiều luật sự tình nguyện cãi miễn phí cho nhà báo.

Tuy nhiên phản ứng dữ dội chưa từng có của hai tờ báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ cũng chỉ hiện diện trong ba ngày sau vụ bắt giữ. Kể từ ngày 15/5 các thông tin liên quan không còn thấy xuất hiện trên các báo. Nhà báo Nguyễn Quốc Thái nhận định sự kiện ngừng thông tin này theo nhãn quan của ông:

"Hiện nay sau những bài báo trên Thanh Niên và Tuổi Trẻ thì kể từ ngày hôm qua (15/5) không báo nào nhắc đến chuyện này nữa. Tôi nghĩ là có một yêu cầu từ trên xuống, để cho cơ quan điều tra làm việc một cách thỏai mái không chịu áp lực. Nhưng tôi nghĩ là báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên họ biết bảo vệ phóng viên và biên tập viên của mình".

Vụ bắt giữ và khởi tố bị can nhà báo Nguyễn Việt Chiến báo Thanh niên và nhà báo Nguyễn Văn Hải báo Tuổi Trẻ, làm nhiều người nhớ lại câu chuyện cách đây khoảng một chục năm, vào thời kỳ VN chưa hội nhập như mức độ hiện nay. Thời gian đó xảy ra sự kiện ông Nguyễn Hòang Linh, tổng biên tập báo Doanh Nghiệp tòa sọan ở Sài Gòn bị bắt giam, tờ báo đã có bài phanh phui một vụ tham nhũng, đây cũng là một oan án đối với nhà báo . Ông Nguyễn Quốc Thái, khi đó là tổng thư ký báo Doanh Nghiệp kể lại:

"Lúc đó anh Nguyễn Hòang Linh là Tổng biên tập của chúng tôi có đăng một lọat bài về mấy cái tầu cao tốc. Anh ấy đã bị bắt giữ trong một năm, sau đó ra tòa và được tha bổng với án đúng đến ngày ra tòa. Trong thời gian đó tôi gởi một lá thư cho ông chánh án trong đó tôi xin chia sẻ trách nhiệm với ông Tổng biên tập của tôi, vì lúc đó tôi là Tổng thư ký báo Doanh Nghiệp, nhưng mà không được trả lời. Vụ anh Hòang Linh thì chắc các ông theo dõi báo chí VN thì báo Thanh Niên có nhắc lại lời ông Hữu Thọ lúc đó là một quan chức (trưởng ban tư tưởng văn hoá trung ương) đã không được tham khảo ý kiến về việc này đến khi thả Hòang Linh thì lại hỏi ý kiến ông Hữu Thọ, ông ấy nói lúc bắt không hỏi ý kiến lúc tha lại hỏi thì làm sao trả lời được."

Bây giờ thì các nhà báo được mô tả là chân chính dũng cảm đang nằm trong trại giam. Nhưng họ là ai đã làm gì để ra nông nỗi. Đó là nhà báo Nguyễn Văn Hải, 33 tuổi vào Đảng từ năm 21 tuổi, bí thư chi bộ đồng thời là phó trưởng văn phòng đại diện Báo Tuổi Trẻ tại Hà Nội. Báo Tuổi trẻ mô tả nhà báo Nguyễn Văn Hải là một người có bản lĩnh, đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu. Tên tuổi Nguyễn Văn Hải trên báo Tuổi Trẻ gắn liền với hàng lọat vụ án lớn như vụ Thủy Cung Thăng Long, Vụ tham nhũng ở dự án Mường Tè, vụ Lã Thị Kim Oanh, vụ tiêu cực dầu khí, vụ tiêu cực ở thanh tra chính phủ, vụ tiêu cực ở ngành hàng không vụ tham nhũng đất đai Đồ Sơn, vụ án ở PMU 18. Năm 2003 Nguyễn Văn Hải cùng đồng nghiệp được trao giải A giải báo chí tòan quốc với lọat bài chống nạn cơm tù , xe cướp trên QL 1A. Ban biên tập và đồng nghiệp Tuổi Trẻ luôn đánh giá cao năng lực, đặc biệt là đạo đức và lối sống của Nguyễn Văn Hải, cả với tư cách một nhà báo lẫn tư cách một công dân.

Tờ Thanh Niên mô tả chân dung ngừơi phóng viên bị bắt giữ cũng bằng sự đề cao đặc biệt. Theo đó, nhà báo Nguyễn Việt Chiến 56 tuổi từng phục vụ trong quân đội. Ông tốt nghiệp ngành địa chất từng công tác tại báo Văn Nghệ trước khi về làm phóng viên báo Thanh Niên từ năm 1993 ở văn phòng Hà Nội, chuyên theo dõi mảng nội chính. Ban biên tập báo Thanh Niên đánh giá Nguyễn Việt Chiến là nhà báo nhiệt huyết, chín chắn và có nhiều bài viết dũng cảm đấu tranh chống tiêu cực, đặc biệt là lọat điều tra vụ án Năm Cam.

Hai nhà báo Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Việt Chiến bị bắt tạm giam và truy tố về tội lợi dụng chức vụ và quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo điều 281 bộ luật hình sự trong việc đưa tin bài về vụ tham nhũng tại ban quản lý các dự án 18 quen gọi là PMU 18. nói vắn tắt là đưa tin sai, và nguồn cung cấp thông tin gọi là sai chính là giới chức cao cấp ngành công an. Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc 62 tuổi cũng bị khởi tố cùng vụ cùng một tội danh , nhưng ông được tại ngoại, vào thời điểm vụ án PMU 18 , thiếu tướng Quắc là Cục trưởng C14 tức cục cảnh sát điều tra về trật tự xã hội. Tướng Quắc về hưu từ đầu năm 2007. Một cấp dưới của tướng Quắc là thượng tá Đinh Văn Huynh, 50 tuổi trưởng phòng 9 C14, người tham gia vụ án PMU 18 từ khởi đầu, cũng bị bắt tạm giam cùng thời điểm với hai nhà báo.

Trả lời báo Tiền Phong, ông Nguyễn Công Khế, tổng biên tập Báo Thanh Niên khẳng định rằng, phóng viên của báo ông không bao giờ bịa đặt, làm báo cũng không cho phép bịa đặt. Báo Thanh niên chống tham nhũng hay chống tiêu cực phải dựa trên cơ sở của sự thật và được cơ quan chức năng chính thức cung cấp. Theo lời ông Nguyễn Công Khế, trong bài ' Bùi Tiến Dũng đã khai đưa tiền chạy án cho gần 40 nhân vật quan trọng đăng trên Thanh Niên có đến hai vị tướng xác nhận, và báo Thanh Niên có băng ghi âm. Ngoài ra Báo Thanh niên còn có băng ghi âm lời một điều tra viên khác nói với phóng viên của mình. Ông Nguyễn Công Khế khẳng định Báo Thanh Niên thông tin dựa theo nguồn tin cung cấp và có chứng cớ.

Cùng trả lời báo Tiền Phong, ông Lê Hòang tổng biên tập báo Tuổi Trẻ nói rằng ông thấy bất ngờ và lo ngại trước sự việc xảy ra. Báo Tuổi Trẻ không đồng tình khi cơ quan chức năng khởi tố bị can và bắt giam phóng viên như vậy. Theo ông Lê Hòang, khi vụ PMU 18 xảy ra nhiều tờ báo đều vào cuộc. Trong dòng chảy thông tin ào ạt đó, có nhiều thông tin chính xác nhưng cũng có thông tin chưa chính xác. Báo Tuổi Trẻ đã kịp thời đính chính những thông tin này.

Về luận cứ pháp lý, chúng tôi trích lời LS Cù Huy Hà Vũ ở Hà Nội trả lời PV Mặc Lâm đài Á Châu Tự Do: "Tội danh lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ là thuộc các tội về tham nhũng trong qui định mục A bộ luật hình sự, cho nên để buộc tội hai nhà báo này thì cơ quan điều tra phải chứng minh được hai người trên lợi dụng chức vụ quyền hạn trục lợi hay nói mạnh hơn là để tham nhũng và nếu không chứng minh được như vậy thì cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan an ninh điều tra hoặc viện kiểm sát tối cao phải ra quyết định đình chỉ điều tra đình chỉ vụ án ngay lập tức. "

Còn LS Bùi Quang Nghiêm, phó chủ nhiệm đoàn luật sư Sài Gòn thì lại bày tỏ một nỗi lo sợ đối với vụ việc, khi ông trả lời phóng viên Trường Văn: "Mấy trăm tờ báo đều đăng cả riêng gì báo Tuổi Trẻ với báo Thanh Niên đâu, đâu chỉ hai phóng viên này viết đâu. Cho nên khởi tố hai nhà báo này với tội danh là lợi dụng chức vụ trong khi thừa hành công vụ là chuyện không bình thường và tôi thực sự lo sợ. Lo sợ vì bản thân các nhà báo thuộc các báo có uy tín, họ cũng rất có uy tín trong tòa báo, trong lòng bạn đọc. Người ta lại đi vào lãnh vực rất khó rất nguy hiểm là chống tham nhũng, hơn nữa người đăng cái tin mà tin ấy từ cơ quan điều tra mà ra, cho nên người ta bị bắt bị khởi tố vì cái tin ấy thì tôi nghĩ là không đúng".

Trong số các phản ứng từ được báo Tuổi Trẻ trích đăng, nhà báo Bùi Thanh nhận định rằng: "Ai ở hậu trường của vụ án này mới hiểu hết sự kỳ lạ và phức tạp của nó. Ai đó đã đúng khi nói rằng công lý dường như bị nhạo báng qua vụ án này và nhà báo đã trở thành nạn nhân".
*
Khi nói là báo chí công cụ thông tin tuyên truyền của Nhà nước đang thử thách chế độ, nhiều luồng ý kiến chúng tôi ghi nhận được tỏ ra hài lòng về chuyện hai tờ Thanh Niên và Tuổi Trẻ đã triệt để bảo vệ các nhà báo của mình. Dù rằng những quan điểm mạnh mẽ của họ và độc giả, đã bị dừng lại sau 3 ngày phủ kín các trang báo. Những ý kiến khác cho rằng, sự hội nhập sâu của VN với thế giới, đã có ích lợi nhất định về quan niệm nghề nghiệp của các nhà báo, dù rằng họ là báo chí Nhà nước./.

Nam Nguyên

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Sau Khi Nguyễn Tấn Dũng Đổ

Tác giả: Ngô Nhân Dụng


Lạm phát ở Việt Nam đã lên tới trên 25%, tức là giá sinh hoạt tăng một phần tư trong vòng 12 tháng. Giá gạo còn lên mạnh hơn nữa, tăng 68% một năm. Ðối với dân nghèo, những gia đình phải dùng hơn nửa tiền thu nhập để đong gạo, thì họ đang chịu cảnh giá sinh hoạt tăng gấp rưỡi hoặc cao hơn. Ở những quốc gia bình thường, trước thảm cảnh kinh tế đó chính phủ sẽ phải từ chức hoặc bị lật đổ.


Nước Việt Nam không được sống bình thường, vì đảng Cộng Sản đã chiếm độc quyền cai trị hơn nửa thế kỷ qua nay vẫn còn bám lấy không chịu nhả ra. Trước nỗi hờn oán của nhân dân, chính các lãnh tụ cộng sản sẽ phải quyết định chấm dứt số phận của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng thay thế cá nhân Nguyễn Tấn Dũng thì cũng không thay đổi được lề lối quản lý nền kinh tế, vì vẫn guồng máy độc tài đảng trị nắm mọi quyền hành như cũ. Phải thay đổi hẳn chế độ độc quyền kinh tế và độc quyền chính trị của đảng Cộng Sản thì tương lai nước ta mới hy vọng khá hơn.

Kinh tế Việt Nam bi đát nhất Ðông Nam Á, ai cũng biết lý do chỉ vì cơ cấu kinh tế lạc hậu và chính sách của nhà nước cộng sản sai lầm. Cuối năm 2007, khi lạm phát lên tới 12%, ông Nguyễn Tấn Dũng đã long trọng tuyên bố coi việc chống lạm phát là ưu tiên số một. Sau năm tháng với các chính sách vá víu và bất nhất, lúc thu tiền vào, lúc nhả tiền ra, bây giờ tỷ lệ lạm phát đã tăng gấp đôi. Guồng máy ngân hàng nửa dơi nửa chuột không chạy theo quy luật thị trường. Người lao động không thể sống nổi với đồng lương cố định khi vật giá tăng nhanh. Tại Hải Phòng 7.000 công nhân đình công, ở Bắc Giang 3.000 người, và ở khu công nghiệp chung quanh Sài Gòn mỗi tuần đều có đình công.


Khi kinh tế sa sút đến thế, ở một quốc gia bình thường thì báo chí và quốc hội đã kêu ầm lên và một người thủ tướng có tư cách thường tự ý từ chức. Nhưng chế độ cộng sản không thể sản xuất được những người lãnh tụ biết nêu gương liêm sỉ như vậy. Lý do không phải vì cá nhân những người này xấu hơn người Thái Lan hay người Nhật Bản, Ðại Hàn. Ông bà, cha mẹ họ là người Việt Nam, cũng đều dạy con cháu những lễ nghĩa, liêm, sỉ như ở các nước khác. Họ có thể lớn lên như những thanh niên có tư cách, biết liêm sỉ. Nhưng vì cơ cấu, lề lối làm việc của đảng Cộng Sản tạo ra một cảnh kỳ lạ; là, cuối cùng, không ai cảm thấy phải chịu trách nhiệm về một chính sách hay quyết định sai lầm nào cả. Người đứng đầu mỗi định chế hay cơ quan nhà nước, những người có quyền sinh sát trên 80 triệu dân, đều được Ðảng "tổ chức" đưa vào địa vị đó, như ông Phan Văn Khải đã thổ lộ khi rời khỏi chức thủ tướng.

Ở những nước tự do dân chủ thì khác, những người bước vào trường chính trị đều phải tranh giành nhau lá phiếu của cử tri để được bầu vào những địa vị nắm quyền. Cứ theo dõi cuộc tranh cử ở Mỹ năm nay thì thấy nó gay go một cách rõ ràng, công khai như thế nào. Các nhà chính trị dân chủ tranh đua trước mặt nhân dân, để xin dân giao quyền bính cho họ. Khi đắc cử, họ chịu trách nhiệm về việc sử dụng quyền hành. Và người dân được quyền bãi miễn họ khi thấy sai lầm. Năm nay các ứng cử viên đảng Cộng Hòa ở Mỹ đang chịu gánh nặng vì chia sẻ trách nhiệm về những chính sách của chính phủ George W. Bush mà dân Mỹ đang chán.

Chế độ tự do dân chủ không bảo đảm lúc nào cũng bầu được những chính quyền giỏi và tốt. Nhưng nó bảo đảm nếu chính quyền sai lầm thì dân sẽ thay thế được chứ không phải ăn đời ở kiếp với họ. Giống như quyền của người tiêu thụ mua hàng về rồi không vừa ý vẫn mang đi đổi được! Mà cái quyền "trả hàng lại không mua" tại các nước dân chủ khiến cho các người làm chính trị cảm thấy họ có trách nhiệm, họ phải chịu trách nhiệm đối với dân. Chắc chắn họ sẽ phải thận trọng hơn trước mỗi quyết định kinh tế, tài chánh.


Còn trong chế độ cộng sản thì khác. Trước kia, các ông trùm trong Ðảng nắm hết quyền, không chịu trách nhiệm với ai hết. Ngày nay chỉ còn ở Cuba và Bắc Hàn vẫn giữ lề lối đó. Ở Trung Quốc và Việt Nam đã thay đổi, nhưng người làm thủ tướng cũng chỉ chịu trách nhiệm đối với một nhóm ủy viên trong Bộ Chính Trị hay Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng. Khi họ làm sai, họ có thể vẫn giữ quyền hành nếu phe phái họ mạnh hơn các đối thủ. Không ai chịu trách nhiệm về những chính sách sai lầm, cùng lắm như Hồ Chí Minh cũng chỉ cách chức một ủy viên Bộ Chính Trị để trốn cái tội tập thể giết người trong cải cách ruộng đất. Một thủ tướng bị phế thải thì vẫn được phe phái bảo vệ, được "tổ chức" vào việc khác. Nguyễn Tấn Dũng có về vườn thì lại có dịp lâu lâu lên tiếng bày tỏ ý kiến như những "quốc lão" Ðỗ Mười, Lê Ðức Anh, Võ Văn Kiệt vẫn làm. Rồi người thay thế ông ta sẽ làm gì?

Không phải riêng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng bất lực, đảng Cộng Sản tạo ra một guồng máy bất lực từ khi cho kinh tế chuyển sang thị trường theo lối nửa dơi nửa chuột. Cho kinh tế thay đổi nhưng vẫn muốn bảo vệ cơ chế chính trị độc quyền để các đảng viên hưởng lợi tốt đa. Vì muốn "đi một chân" như vậy, cho nên chính họ tạo ra những chướng ngại khiến cơ cấu thị trường không thể hoạt động được.

Cho tới nay, tuy các đảng viên Cộng Sản đang được tư bản hóa nhưng cương lĩnh của họ vẫn cực kỳ bảo thủ. Ngày 28 tháng 5, 2008 Ban Tuyên Giáo Trung Ương đã tổ chức hội nghị nghiên cứu tập trung vào ba lĩnh vực. Thứ nhất, "Xây dựng giai cấp công nhân!" Không biết họ trả lời ra sao với các công nhân đang đình công và bị công an góp sức với cán bộ công đoàn đánh đập. Thứ nhì, "Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa!" Trong khi đó thì lạm phát đang tăng lên 25% chỉ vì cái đuôi "xã hội chủ nghĩa" này! Thứ ba, "Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Ðảng và chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên." Năng lực lãnh đạo của các đảng viên đã lên đến tột đỉnh thời ông Lê Duẩn rồi, vì lúc đó lãnh đạo chỉ có nghĩa là sai bảo, ai không nghe thì bỏ tù. Ngày nay, dân đã khôn ra và không sợ nữa! Còn "sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên" thì vẫn còn đủ mạnh để bảo vệ tài sản và quyền lợi của riêng họ. Ðây chính là điểm tựa sau cùng của đảng Cộng Sản. Khi nào các đảng viên đang hưởng lợi vẫn thấy phải bảo vệ quyền hành của Ðảng, nếu không mình sẽ mất tài sản và quyền lợi, khi đó chế độ toàn trị của Ðảng vẫn còn vững.

Như vậy thì đảng Cộng Sản sẽ chọn hướng đi nào sau những thất bại của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng? Họ sẽ phải chọn, một trong hai đường chứ không thể giậm chân tại chỗ mà đổi mới theo lối nửa nạc nửa mỡ như trong 20 năm qua. Nhiều người trong nước đang yêu cầu tiếp tục cải tổ mạnh hơn để giải quyết lâu dài không cho cơn khủng hoảng hiện nay tái diễn. Muốn gỡ rối cho nền kinh tế đang sa lầy thì bước sắp tới phải là cải tổ chính trị. Ngược lại, con đường thứ hai là phe bảo thủ chọn, họ có thể nhân cơ hội này kêu gọi trở về các đường lối cứng rắn để giúp các đảng viên bảo vệ tài sản và quyền hành của họ. Như vậy thì sẽ bước giật lùi; ngưng thi hành các chính sách tháo gỡ nền kinh tế quốc doanh và mở cửa ra với thế giới. Họ có thể nói lý do thất bại kinh tế hiện nay không phải vì cơ cấu chính trị lỗi thời gây trở ngại; mà sẽ trút mọi lỗi lầm trên phe theo chủ trương thay đổi và hội nhập.

Liệu đảng Cộng Sản đem Nguyễn Tấn Dũng cất đi rồi thì sẽ chọn đường nào? Chúng ta biết ngay cả các đảng viên cộng sản đang thấy cần tự bảo vệ tài sản và quyền lợi của mình, họ cũng khó lòng nghĩ đến chuyện đưa Việt Nam quay trở lại một cuộc sống như ở Bắc Hàn. Vì họ hiểu rằng trong một chế độ cực quyền toàn trị, tài sản và quyền lợi của họ không bao giờ được bảo đảm như trong một chế độ có luật pháp rõ ràng và có những định chế bảo vệ luật pháp hữu hiệu, như trong một chế độ dân chủ tự do. Nhìn vào các nước cộng sản ở Ðông Âu cũ người ta đã học được điều đó. Khi một nước bắt đầu thiết lập các định chế dân chủ, điều đầu tiên người dân được hưởng là được luật pháp bảo vệ; không lo bất cứ ông lớn nào cũng cướp của hay bắt bớ mình được. Ngay các cựu đảng viên cộng sản cũng được bảo vệ như mọi người.


Nhiều đảng viên cộng sản Việt Nam hiện nay đã trở thành trung lưu, họ sẽ thấy phải có luật pháp bảo vệ các tài sản đã của họ. Và như vậy thì khó lòng đảng Cộng Sản Việt Nam quay trở lại thời Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười. Cho nên nhiều đảng viên cộng sản đã đạt được địa vị trung lưu có thể sẽ đứng về phía đòi cải tổ mạnh hơn. Dù không lật đổ chế độ, họ cũng sẽ không muốn chính trị can thiệp vào kinh tế, bước đầu tiên là phải tách Ðảng ra ngoài, không cho can thiệp vào việc quản lý kinh tế. Khi giới lãnh đạo Ðảng không còn chi phối mọi quyết định về kinh tế, tài chính; khi các chức vụ quản lý kinh tế được trao cho những người có khả năng chứ không phải cho phe cánh, bè phái; khi tư nhân được kinh doanh tự do; khi các ngân hàng tuân theo kỷ luật thị trường thay vì nghe lệnh các vị bí thư; nghĩa là khi áp dụng thị trường đích thực chứ không có cái đuôi "định hướng" nào hết, thì lúc đó guồng máy kinh tế mới được "hợp lý hóa" để trở thành có hiệu quả hơn. Mà điều này nằm trong quyền lợi không phải chỉ của nhân dân Việt Nam mà thôi, chính các đảng viên cộng sản cũng sẽ được lợi.

Cho nên có thể tin rằng cuộc khủng hoảng trong guồng máy kinh tế ở nước ta hiện nay là một cơ hội để thúc đẩy chủ trương cải tổ tiến nhanh, tiến rộng hơn. Những người tranh đấu cho tự do dân chủ ở nước ta đã thấy cơ hội đó. Cho nên trong thời gian gần đây các hoạt động đấu tranh tự do dân chủ đã lên mạnh hơn. Nhiều nhà tranh đấu có sáng kiến tung các khẩu hiệu đòi tự do lên trời bằng bong bóng bay, ngay giữa Hà Nội. Công nhân các nơi đình công một cách có tổ chức hơn. Các blog ở Hà Nội và Sài Gòn, Ðà Lạt đang hoạt động mạnh hơn. Người dân bình thường ở Hà Nội thì "bỏ phiếu" bằng cách đi xếp hàng đổi tiền lấy đô la Mỹ! Khi người dân tỏ ý bất tín nhiệm đồng tiền của một chế độ, thì cũng giống như những con chuột bỏ chạy khỏi chiếc tàu đang lo bị đắm. Ðồng tiền Việt Nam còn tiếp tục mất giá khi các biện pháp trợ cấp xăng dầu và lúa gạo bị cắt bớt, mối lo hiện nay là người dân sẽ không muốn để tiền nằm không trong các ngân hàng nữa. Khi mọi người kéo tới rút tiền ra khỏi các ngân hàng để mua bất cứ cái gì mua được, thì hy vọng ông Nguyễn Tấn Dũng không nỡ lòng sai công an bắn người ta! (Người Việt:Thursday, May 29, 2008)

Ngô Nhân Dụng

Post Reply