Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image


Khi nào ta biết mình đã già

Nguyễn Hoàng Lan

Chúng ta ai cũng phải trải qua quá trình "sinh, lão, bệnh, tử". Nhưng câu hỏi đặt ra là: dấu hiệu của sự lão hóa đến với ta khi nào, biểu hiện ra sao, có thể làm chậm quá trình lão hóa được không? Đây vẫn là sự băn khoăn của nhiều người. Bài viết sau đây giúp giải đáp phần nào sự băn khoăn đó. Tập thể dục dưỡng sinh làm chậm sự lão hóa.

Cùng với năm tháng, cơ thể mỗi người lớn lên, trưởng thành rồi già nua. Đó là quy luật của tạo hóa. Nhưng khi phải đối mặt với những dấu hiệu của tuổi già thì chúng ta vẫn không khỏi bàng hoàng lo lắng và mong muốn có một phép màu nào đó giúp ta kéo dài tuổi xuân. Có lẽ tùy mỗi người mà dấu hiệu tuổi già đến sớm hay muộn, nhanh hay chậm khác nhau. Khi nào ta biết mình đã về già? Đó là khi xuất hiện một hay nhiều biểu hiện sau đây:

- Rụng tóc: Bình thường mỗi người có khoảng 100.000 sợi tóc và mỗi ngày có khoảng 100 sợi rụng đi. Như vậy rụng tóc là một hiện tượng sinh lý bình thường xảy ra với mọi người ngay từ lúc trẻ tuổi. Điểm khác biệt là ở người cao tuổi tóc rụng nhiều hơn do khi về già các tuyến nhờn kém hoạt động, tóc bị khô, giòn, dễ rụng. Nếu da đầu bị viêm, hay do ảnh hưởng của các loại thuốc chữa bệnh, hóa trị, xạ trị thì tóc rụng càng nhiều. Cùng với tóc, lông nách và lông mu cũng rụng khá nhiều. Ngược lại những phụ nữ dùng nội tiết tố nam để chữa bệnh thì lông, tóc lại mọc ra ở mặt và thân thể, nhưng khi ngưng thuốc thì lông tóc loại này cũng ngưng mọc.

- Bạc tóc: Tóc bạc hay tóc hoa râm là dấu hiệu khá sớm của tuổi về già. Thường tóc bạc bắt đầu từ hai bên thái dương rồi lan lên đỉnh đầu. Thời gian đầu, tóc bạc ít, trắng đen lẫn lộn dạng muối tiêu, dần dần tóc trắng nhiều hơn tóc đen, khi đó muối nhiều hơn tiêu. Tóc đen biến đổi thành tóc trắng là vì loại tế bào sinh hắc tố melanin giảm đi, tóc trở nên không có màu, bị bạc trắng. Vì sao loại tế bào này giảm đi khoa học chưa biết rõ và cũng chưa tìm ra cách ngăn chặn được sự giảm này. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy tóc bạc có tính chất di truyền. Giáo sư Kyonggeun Yoon và các cộng sự tại Đại học Y khoa Jefferson, Pennsylvania, đã thành công nhờ điều chỉnh gen di truyền mà chuyển đổi tóc từ trắng sang đen của chuột mắc bệnh bạch tạng. Các nghiên cứu khác thì cho rằng tóc bạc do: bị thiếu vitamin nhóm B, dinh dưỡng kém, do căng thẳng thần kinh, do buồn phiền trường diễn, do môi trường sống bị ô nhiễm hóa chất độc hại... Thống kê cho thấy: chỉ có khoảng 65% người cao tuổi bị bạc tóc, số còn lại 35% người cao tuổi thì tóc không bạc hay chỉ bạc khi tuổi cao; song lại có nhiều người mới 25-30 tuổi tóc đã bạc.

- Những thay đổi của da: Da có chức năng bảo vệ cơ thể chống vi khuẩn, cát bụi, điều nhiệt... Người cao tuổi da bị nhăn nheo, khô cằn, mềm xệ và xuất hiện các vết đồi mồi, tàn nhang... Ở người cao tuổi do lớp biểu bì bị thoái hóa nhiều hơn là tái tạo, làm cho biểu bì mỏng manh, suy giảm các tế bào màu, thay đổi chất elastin và collagen, tuyến mồ hôi và tuyến nhờn xơ teo hoạt động kém hẳn. Sự thay đổi dẫn đến hậu quả là :

+ Nhăn da: Do chất collagen giảm, chất elastin tăng, tính đàn hồi của da kém hẳn. Nếu kẹp lớp da giữa hai ngón tay rồi thả ra, ở người trẻ sau một hai giây da đã đàn hồi trở lại, nhưng ở người già thì phải mất vài chục giây da mới đàn hồi. Cấu tạo collagen.

+ Khô da: Do tuyến mồ hôi, tuyến nhờn teo, khô giảm hoạt động nên ở người cao tuổi, sự bài tiết mồ hôi giảm, làm cho da bị khô, ngứa, nhất là về mùa khô hanh.+ Giảm khả năng điều hòa thân nhiệt: Ở người cao tuổi, lớp mỡ dưới da mất đi nên khả năng giữ nhiệt cho cơ thể bị suy giảm. Do số lượng những mạch máu nhỏ dưới da của người cao tuổi ít hơn so với lúc trẻ, cho nên người cao tuổi chịu rét kém, dễ bị lạnh cóng. Cảm giác của da cũng giảm do thần kinh ngoài da kém nhạy cảm so với trước đây vì thế người cao tuổi dễ bị bỏng khi tiếp xúc gần với nước sôi hoặc với lửa.+ Vết thương lâu lành: Do số lượng mạch máu đến mặt da giảm sút, sự nuôi dưỡng da cũng kém so với trước đây nên các vết thương ngoài da ở người cao tuổi rất lâu lành. Thậm chí vết thương ở các vùng da bị tỳ đè như vùng bả vai, thắt lưng khi nằm ngửa có thể bị loét sâu rộng vì thiếu dinh dưỡng nên rất dễ nhiễm khuẩn và khó lành.

- Giảm chiều cao: Khi về già, chiều cao bị giảm đi trung bình khoảng 2cm ở đàn ông và 1,5cm ở đàn bà. Nguyên nhân chính gây giảm chiều cao là bệnh loãng xương (osteoporosis) ; là do lún xẹp đốt sống; do sự giảm lượng nước trong cơ thể, các bắp thịt yếu, trương lực cơ kém gây nên.

- Giảm trọng lượng: Nhiều nghiên cứu cho thấy trọng lượng cơ thể tăng lên ở tuổi trung niên rồi giảm dần khi cao tuổi. Về mặt tổ chức học, tế bào mỡ tăng lên thay thế vào chỗ những tế bào cơ bị xơ teo do người cao tuổi ít lao động và ít vận động. Lượng nước chiếm khoảng 55- 60% trọng lượng cơ thể khi trẻ và giảm xuống còn 46-51% khi cao tuổi do số lượng tế bào chứa nhiều nước mất hoặc teo đi.

- Những thay đổi khác: Ở xương đầu các khớp nối của xương dính liền lại, xương sọ dày lên; vòng ngực tăng lên, sống mũi và dái tai dài hơn trước; móng tay, móng chân mọc chậm, đổi màu và có những lằn gợn gồ ghề; nói chậm hơn; hay quên; nhăn trán, rạn chân chim ở đuôi mắt, mí mắt xệ, quầng mắt đen; cơ mặt teo, xương mặt nhô; vành tai to chảy xuống...

Chúng ta có thể làm chậm quá trình lão hóa bằng cách thực hiện: Ăn uống hợp lý, điều độ, đủ chất, tránh lạm dụng những chất có hại cho sức khỏe; có chế độ luyện tập đều đặn cho khí huyết lưu thông, gân cốt thư giãn; có tinh thần lạc quan, tâm hồn thanh thản......nhu trong Tu-Tuyet Chan-Tinh cua cac Thay Tu...khap noi tren the gioi.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

ĐỜN BÀ CON GÁI

Chuyện phiếm của Gã Siêu.


Lâu lắm rồi, gã được nghe một câu nói thuộc hạng danh ngôn, đại khái như thế này :

- Đờn bà con gái giống như con mèo, nếu con mèo ngoáy đuôi bên trái, thì chắc chắn nó sẽ nhảy sang bên phải.

Cũng trong chiều hướng ấy, gần đây ở Việt Nam giới choai rất khoái một bài hát mang tựa đề là ‘’đừng nghe những gì con gái nói’’.

Bài hát này được liệt vào ‘’tốp ten’’ nghĩa là mười bài hát được thiên hạ ưa chuộng nhất với những lời lẽ thật dí dỏm về dễ thương :

- Con gái nói có là không, con gái nói không là có.

Con gái nói một là hai, con gái nói hai là một.

Con gái nói ghét là thương, con gái nói thương là ghét.

Con gái nói giận là yêu, con gái nói yêu là giận.

Đừng nghe những gì con gái nói, đừng nghe những gì con gái nói.

Con gái nói không biết ghen là ghen như điên đấy nhé.

Con gái nói không biết yêu là yêu tới quên đường về.

Đừng nhge những gì con gái nói, đừng nghe những gì con gái nói.

Gã có một thằng bạn, thâm niên quân vụ về cái khoản đờn bà con gái. Sau nhiêu phen bị các nường đá lên đá xuống, nó đã tích lũy được một số vốn kinh nghiệm khá đồ sộ, đáng mặt sự phụ.

Ngày kia vị sư phụ nay đã truyền cho đệ tử bài học vỡ lòng về tâm lý con gái như sau :

- Con ơi, con nên nhớ rõ điều này : khi cô nường nói với con “ghét anh ghê…à”, nhất là lại kèm theo một cái liếc nhìn, nheo mắt có đuôi, thì con có thể yên chí nhớn mà hét toáng lên rằng : ôi sung sướng quá nhẽ vì đời toàn màu hồng. Bởi vì đó chính là lúc cô nường đã chịu đèn, yêu con khủng khiếp. Con hãy nhào vô liền tù tì để kiếm chút cháo, kẻo dịp may đã qua đi thì khó mà trở lại đó, ngốc ạ.

Đối với một tên đại ngố như gã, thì đờn bà con gái quả thực là một màu nhiệm, toàn những chuyện ngược đời và nghịch lý, nhiều kiểu rắc rối, đến quỉ thần cũng không lường nổi.

Đọc lại sách Sáng thế ký, gã nhận thấy thưở ban đầu, thượng đế lấy bùn đất nhào nặn mà làm thành Adong.

Sau khi ban cho Adong sinh khí bằng cách thổi hơi vào lỗ mũi, Ngài đã cho Adong sống trong vườn địa đàng. Với khu vườn kỳ diệu này, dù chim hót có véo von, cây cối có trổ bông khoe sắc, thì Adong vẫn chỉ cu ki một mình, lặng lẽ đến từng bước chân âm thầm.

Chính thượng đế cũng cám cảnh trước sự cô đơn đậm đặc ấy, Ngài thầm nghĩ :

- Người đờn ông ở một mình không tốt, Ta sẽ dựng nên cho nó một người nội trợ giống như nó.

Nói và làm. Thượng đế chờ cho tới lúc Adong ngủ say, bèn rút trộm một chiếc xương sườn của Adong mà dựng nên Evà, rồi dẫn Evà tới ra mắt Adong.

Thoạt nhìn thấy Evà, cặp mắt Adong long lên còng cọc và miệng ông sững sờ kêu to :

- Này đây xương tôi và thịt bởi thịt tôi.

Nếu lúc bấy giờ Adong biết dùng tiếng Việt Nam để diễn tả ý tưởng tuyệt vời này, thì hẳn ông chỉ cần rên lên hai tiếng ngắn gọn :

- Mình ơi!

Bởi vì chữ ‘’mình’’ vừa là thân xác, vừa là anh, vừa là em, vừa là chúng ta nữa. Ôi hai tiếng ‘’mình ơi’’ sao mà ngọt như đường cát, mát như đường phèn, thấm tới tận lục phủ ngũ tạng, làm chết lịm cả con tim. Ôi, mình ơi!

Thế nhưng, đời không như là mơ. Sau cái phút gặp em tinh tú quay cuồng, ‘’sau cái’’ thuở ban đầu lưu luyến ấy, sau cái cảm giác ngọt lịm của hai tiếng ‘’mình ơi’’ và bốn mắt liếc nhìn nhau, thì khởi sự cho những ngược đời và nghịch lý, những nhiều kê và rắc rối.

Evà không còn bằng lòng với thân phận của mẩu xương sường nữa, mà muốn nhảy phóc vào lồng ngực Adong, chiếm lãnh vị trí con tim, đòi Adong phải yêu thương và chiều chuộng. Rồi thừa thắng xông lên, tiến thẳng tới đầu và xơi ngay vai trò óc não, muốn chỉ huy cả Adong nữa.

Chính vì thế, dân Tây ban nha, một dân tộc rất mê đấu bò, cũng đã phải kêu lên :

- Đờn bà là tai họa khủng khiếp nhất trong tất cả những tai họa của loài người.

Tai họa đầu tiên đó là đờn bà đã cám dỗ đờn ông.

Thực vậy, nước làm hư rượu, xe bò làm hư đường lộ thế nào thì đờn bà cũng làm hư đờn ông như rứa.

Đúng thế, đờn bà vốn nổi tiếng về cái thói ăn vặt như tục ngữ đã diễn tả

- Đi chợ mất tám tiền quà,

Chồng thương chồng bảo về nhà đỡ cơm.

Cái thói ngốn hàng này đã thấm sâu vào máu huyết và trở thành nghề ruột của các nường. Thậm chí các em nữ sinh mắt nai ngơ ngác, thế mà trong chiếc cặp sách dễ thương cũng đã tích lũy bao nhiêu thứ lỉnh kỉnh có thể xơi được : nào ổi, nào cóc, nào xoài, nào tầm duộc, nào xí muội…

Chính vì thế, ngay từ lời dụ khị đầu tiên của con rắn, Eva đã nuốt phăng ngay trái cấm. Rồi sau đó, Eva đã năn nỉ ỉ ôi Adong :

- Thôi mờ, ăn đi mờ…

Với lời lẽ nhỏng nhẻo mầm duyên như thế, Adong làm sao có thể chối từ. Adong đưa mắt nhìn, nuốt nước bọt và xơi liền tù tì, ăn ngấu ăn nghiến, đến nỗi mắc nghẹn nơi cổ, làm thành một cục, còn tồn tại cho đến ngày hôm nay ở bất cứ anh chàng đờn ông con trai nào.

Ghiền ngẫm về sự việc này, ông thánh Âu cu tinh đã phát biểu một câu xanh dờn :

- Đờn bà chính là thủ phạm làm tăng thêm tội lỗi cho loài người.

Kinh nghiệm trên không ngừng lặp đi lặp lại trong dòng lịch sử. Vua Kiệt vì say mê nàng Muội Hỉ bỏ bê triều chính, ăn chơi trác táng, sau bị Thành thang cướp mất ngai vàng.

Vua Trụ vì nghe theo nàng Đắc Kỷ giết hại trung thần, lòng dân oán thán, cuối cùng sự nghiệp cũng bị tan tành theo mây khói.

Ngô phù Sai yêu quí nàng Tây Thi. Cô nàng bé bỏng này có chứng đau bụng. Mỗi lần đau bụng thì lại nhăn mặt. Và mỗi lần nhăn mặt thì lại đẹp quỉ khóc thần sầu, khiến cho Ngô Phù Sai cứ mê mẩn cả tâm thần.

Tương truyền rằng :

Ngô Phù Sai đã ra lệnh ai làm cho Tây Thi cười thì sẽ được trọng thưởng. Nghe theo lời hiến kế của bọn quân sư quạt mo, ông đã cho xé hết lụa trong kho vì nghĩ rằng khi nghe tiếng lụa xé, nàng xẽ cười mím chi, thế nhưng nét mặt Tây Thi vẫn buồn rười rượi.

Sau cùng ông cho đốt lửa trên Cô Tô đài để khẩn báo cho các chư hầu biết kinh thành đang nguy khốn, nên phải vội đem quân về tiếp cứu.

Nhưng khi về đến nơi thì mới chưng hủng, chẳng thấy địch đâu cả, mà chỉ thấy Ngô Phù Sai đang cũng cụng li mí Tây Thi.

Trước thái độ chưng hủng ấy, Tây Thi đã phát cười như nắc nẻ. Nhưng rồi khi địch quân vây hãm thực sự, dù lửa báo động đã nổi lên, thì cũng chẳng ma nào đến tiếp cứu, khiến Ngô Phù Sai phải thua chạy.

Từ những bằng chứng cụ thể ấy thiên hạ đã kết luận :

- Vua nghe vợ mất nước.

Một chính tri gia mà lem nhem, gây nên sì căng đen với đờn bà con gái, thì chỉ có nước thân bại danh liệt mà chớ.

Bình thường chúng ta thường gọi đờn ông là phái mạnh đờn bà là phái yếu. Thế nhưng nếu đem ra cân do, đong đếm, chưa chắc đờn ông đã ăn được đờn bà và phái nam chưa chắc đã xơi tái được phái nữ.

Thực vậy, đờn ông phải thức trắng một vài đêm, thì tứ chi liền bải hoải, ngồi đâu ngáp đấy. Trong khi đó, làm sao có thể kể hết những giấc ngủ đứt đoạn và những đêm thức trắng của các bà mẹ để chăm sóc cho đứa con của mình.

Xét về góc cạnh bền bỉ, dẻo dai để chịu đựng, thì đờn bà hơn hẳn đờn ông. Vì thế, đờn bà con gái thường sống thọ hơn đờn ông con trai. Nói cách khác, các ông thường ngỏm sớm hơn các bà. Sự kiện này để lại một hậu quả trầm trọng, đó là số đờn bà góa chồng đông hơn số đờn ông góa vợ bội phần.

Chẳng biết có ai đã lưu tâm tìm cách giải quyết vấn đề xã hội này chưa ?

Bình thường đờn bà con gái vốn dịu hiền và tế nhị, thế nhưng hãy đợi đấy. Nói vậy mà hỏng phải vậy đâu. Con mèo tuy hiền thật, nhưng khi cần nó chỉ cào cho một phát, là đã toạc da và vãi máu, vì móng của nó rất nhọn và răng của nó rất sắc.

Đờn bà con gái một khi đã nổi máu tam bành, thì hiền cũng hóa dữ. Gã đã từng chứng kiến những cô em bé bỏng tựa nai vàng ngơ ngác, dịu hiền như… ni cô, hỏng dám như ma xơ đâu, thế mà khi cơn giận bừng bừng bốc lên, tẩu hỏa nhập ma, cũng lồng lộn như bò điên nước Ăng lê, cũng xỉa xói như con choi choi, cũng chửi rủa có bài có bổn như mấy cô đào cải lương ca sáu câu vọng cổ có mùi.

Gã xin đưa ra một vài nạn nhân của quí bà chằng lửa.

Trước hết là Socrate. Ông là một triết gia nổi tiếng của Hy Lạp, một bậc thầy trong thiên hạ, nhưng oái oăm thay, ông lại là nạn nhân của một bà vợ. Bà khinh bỉ ông là thứ trói gà không chặt. Ngày kia, ông định ra phố, thì liền bị bà tặng cho một chậu nước dơ vào mình sau cơn giận lôi đình.

Thế nhưng, ông vẫn bình tĩnh nói :

- Có sấm có sét, ắt trời phải đổ mưa.

Ngán ngẩm trước mụ vợ đanh đá, ông đã phát biểu một cách chua chát :

- Trời đất sinh ra biết bao thú dữ, những đờn bà mới thật là con thú dữ đáng sợ nhất.

Đó là chuyện bên tây, còn chuyện bên đông thì kể lại :

Thi hào Tô đông Pha có một người bạn tên là Trần quí Thường. Quí Thường có người vợ hay ghen tức và hung dữ. Mỗi lần Tô đông Pha đến chơi, thì đều được nghe những tiếng chửi bới la hét ầm ĩ.

Thấy vậy, họ Tô bèn làm thơ chế diễu như sau:

- Hốt văn Hà đông sư tử rống

Trụ trượng lạc thủ tâm mang mang.

Có nghĩa là :

- Bỗng nghe sư tử Hà đông rống

Tay run gậy rớt lòng kinh hãi.

Từ đó, bốn chữ “sư tử Hà đông” thường được dùng để chỉ người vợ có tính tình hung dữ. Tuy nhiên, Hà đông ở đây là Hà đông bên Tàu, chứ không phải là Hà đông bên Ta. Vì thế quí bà quí cô gốc Hà đông, đừng vội lòng động lòng lo mà sinh ra buồn bã.

Bình thường thì tề gia nội trợ và giáo dục con cái vốn là lãnh vực riêng của đờn bà con gái. Vì thế, thiên hạ thường phong cho quí bà quí cô làm ‘’nội tướng’’.

Và nhiều khi uy quyền của vị ‘’nội tướng’’ thật là ghê gớm, khiến cho mấy ông chồng thuộc nòi râu quặp phải nín khe :

- Làm trai rửa bát quét nhà,

Vợ gọi thì dạ, bẩm bà… em đây.

Gã đã thấy có những ông giám đốc hay những viên chức cấp nhớn, đến công sở thì hét ra lửa, nhưng khi về nhà, thì lại miềm nhũn như con chi chi, phục vụ và vâng lời bà xã hết mình.

Vì thế tục ngữ đã bảo :

- Lệnh ông không bằng cồng bà.

Lợi dụng điểm yếu này, dân bắt mánh áp phe thường đi của hậu, nghĩa là đút lót, lấy lòng quan bà trước, rồi mới nhờ quan bà ton hót, tấu với quan ông, thì việc khó đến đâu cũng xong cả.

Được đằng chân lân đằng đầu. Từ vai trò người nội trợ, làm bạn đường cùng đi, đờn bà con gái xông tới, nắm quyền chỉ huy. Lúc bấy giờ quả thực là nguy to như một cơn ác mộng, vì họ cai trị theo tình cảm và lệnh truyền đổi thay như chong chóng.

Thực vậy, trên đời không có gì hay thay đổi cho bằng thời tiết và đờn bà con gái.

Có lẽ do sự nể nang và nhượng bộ của Adong thuở ban đầu, mà nhân loại đã trải qua một thời gian sống dưới chế độ mẫu hệ, trong đó người mẹ nắm giữ vai trò điều khiển gia đình và xã hội.

Thật là tội nghiệp cho thân phận đờn ông con trai lúc bấy giờ :

- Ba đồng một chục đờn ông,

Ta bỏ vào lồng, ta xách đi chơi.

Ngày nay với phong trào giải phóng đờn bà, nam nữ bình quyền, quí bà quí cô đang hăng hái xông xáo tiến ra ngoài xã hội, chiếm giữ những lãnh vực mà từ xưa cho đến rày, vốn là của phe đờn ông con trai. Và họ đã gặt hái được những thành công rực rỡ.

Có những bà những cô đã làm tới thủ tướng và bộ trưởng, giám đốc và chuyên viên. Cung cách điều khiển của họ cũng cứng không kém gì phe đờn ông con trai, chẳng hạn như bà đầm già Teacher, thủ tướng nước Ăng lê, vốn được mệnh danh là bàn tay sắt bọc nhung.

Đờn bà con gái chiếm được uy quyền không phải chỉ bởi tài năng, mà còn bởi nhiều thứ vũ khí khác nữa, chẳng hạn như sắc đẹp, như nước mắt, như nụ cười…

Vì thế người Đức đã nói :

- Chỉ một sợi tóc của người đờn bà cũng giật mạnh hơn cả giây chuông.

Còn dân Nhật thì bảo :

- Chỉ với một sợi tóc, người đờn bà có thế trói được cả… voi.

Chuyện đời còn bất công hơn nữa. Người đờn ông chắt chiu học hành mới ẵm được cái bằng bác sĩ, đấu tranh vào tủ ra khám bao nhiêu năm mới leo lên được cái ghế bộ trưởng.

Trong khi đó người đờn bà chỉ cần gật đầu hay ừ một phát, bằng lòng lấy anh ta, thì liền khều được cả con người lẫn chức vị của anh ta, nghiễm nhhiên trở hành bà bác sĩ, bà bộ trưởng, mà chẳng cần tốn một giọt mà hôi. Đờn bà là một phản ứng cộng, một chiếc tàu há mồm, khả dĩ vơ vét về cho mình đủ mọi thứ.

Xem ra gã khen thì ít mà chê thì thật nhiều, chỉ biết kê tủ đứng, kể tội đờn bà con gái. Cứ điệu này, lỡ thò mặt ra đường, ắt sẽ bị quí bà quí cô cho ăn trứng thối mất thôi.

Cho đến bây giờ, đờn bà con gái vẫn là một màu nhiệm, một vấn đề lớn. Để diễn tả về sự ngược đời và nghịch lý của đờn bà con gái, hình như một ông nhà văn Ấn độ đã bảo:

- Khi tạo dựng đờn bà con gái, Thượng đế đã trộn lẫn những vật thể đối kháng vào với nhau. Chẳng hạn Ngài lấy một chút gió mát mùa thu với một chút nắng chói chang mùa hạ, một chút ngọt của mật ong với một chút đắng của bồ hòn, một chút cay của ớt với một chút chua của chanh, một chút hiền hòa của chim bồ câu và một chút hung dữ của sư tử, một chút khôn ngoan của con rắn và một chút ngốc nghếch của con bò… Tất cả được Ngài hòa lẫn với nhau và tạo nên người đờn bà đầu tiên.

Cách đây không lâu, gã lượm được một bài thơ nói về người vợ, đại khái như thế này :

-Vợ là tình cảm sâu xa,

Vợ là gió mát, vợ là bão dông.

Vợ như một đóa hoa hồng,

Vợ là sự tử Hà đông kinh người.

Vợ là êm ái tuyệt vời,

Vợ là bão táp rụng rời chân tay.

Vợ là một chất men say

Vợ là cái đắng cái cay trong lòng.

Có người nhờ vợ nên ông,

Có người vì vợ mất không cơ đồ.

Và tác giả kết luận :

-Tốt số lấy được vợ hiền,

Vô duyên vớ phải bà khùng bà điên.

Đờn bà con gái mãi mãi ngược đời như thế đó, nhưng thử hỏi :

- Nếu không có họ thì đời còn gì là đời nữa…

Phải, nếu không có họ, thì lũ đờn ông con trai lại lầm lũi cu ki một mình, như những ‘’con sâu làm tổ, trong trái vả cô đơn”. Cho nên, đờn ông Pháp, vốn dư chất ‘’ga lăng’’ trong máu, đã phát biểu :

- Nhà không có đờn bà như xác không hồn, như đờn không giây.

Chả hiểu quí bà quí cô đã bằng lòng và sẵng sàng ban cho gã một nụ cười… ruồi chưa đấy ?

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Đọc Tạp Ghi Huy Phương

Việt Hải
Huy Phương là nhà văn có nét đặc thù qua những bài tạp ghi, tức viết đủ đề tài thời sự có, lịch sử có, chuyện hiện tại, hay chuyện cỗ xưa.Tôi làm quen với bút pháp của anh trên trang web Saigongate và nhiều báo chí tại quận Cam. Tôi đọc bài do nhà văn Đỗ Văn Phúc viết về Huy Phương như sau:

Huy Phuơng là một bút hiệu rất quen thuộc. Ông tên thật là Lê Nghiêm Kính, nhà giáo động viên vào khoá 16 Thủ Đức. Từng là Biên tập viên báo chí và đài phát thanh Quân đội, Tổng thư ký toà soạn Nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hoà và tạp chí Tiền Phong, Trưởng phòng Tâm Lý Chiến và Chính Huấn tại TTHL Quang Trung. Sau 1975, bị 7 năm tù cải tạo; hiện định cư tại Orange County, California. Ông cộng tác với nhiều báo, tạp chí ở hải ngoại. Ông viết thường xuyên phần Tạp Ghi cho nhật báo Người Việt tại California. Sách đã xuất bản: Mắt Đêm Dài (thơ), Mây Trắng Đồn Xa (truyện ngắn), Nước Mỹ Lạnh Lùng (tạp ghi), Đi Lấy Chồng Xa (tạp ghi).”

Đoạn văn trên cho thấy tiểu sử của Huy Phương về phạm vi chữ nghĩa mà anh đã đeo đuổi trong bao năm qua, nay vẫn còn trung thành với nghiệp văn mà anh say mê. Trước mặt tôi đây là tác phẩm rất mới của anh, cuốn “Đi Lấy Chồng Xa”, một sách gồm 58 tạp ghi. Sách do Nam Việt xuất bản, dầy gần 300 trang, in rất trang nhã, giá bán $15.

Buổi Mai Hôm Ấy:

Ngày xưa tôi thích bài văn của Thanh Tịnh, khi ông kể tôi nghe về buổi mai hôm ấy: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng. Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.”

Trang 22 tác giả Huy Phương nhắc lại bài viết nhiều xao xuyến với buổi đi học đầu tiên, từ bất cứ trường mẫu giáo nào hay trường tiểu học nào, con người vẫn có những cái cảm nhận chung là mới lạ mà chúng ta chưa quen, còn ngỡ ngàng, để rồi cái ngỡ ngàng thơ ngây ấy quen theo làn gió hay áng mây xao xuyến quyện lấy cả một cõi lòng bâng khuâng. Nếu ở Việt Nam mình có Thanh Tịnh thì bên chân trời Âu có “Ngày Khai Trường” trong tập sách “Tâm Hồn Cao Thượng” của nhà giáo Hà Mai Anh dịch từ nhà văn gốc Ý Edmondo de Amicis, mà những người cao niên ngày nay vẫn còn nhớ: “Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng hè đã thoáng qua như giấc mộng. Sáng nay mẹ tôi đưa tôi vào trường Ba-Lệ-Tư để ghi tên lên lớp Ba.”, rồi có nhà văn Pháp Jacques Anatole Thibault, hay Anatole France, nói về mùa tựu trường: “Je vais vous dire, ce que me rappellent tous les ans...”để chúng ta không quên, bên trời tây, cậu bé học trò, vai mang cặp sách, tung tăng chân bước của sự hồn nhiên đi qua khu vườn Luxembourg khi những ngọn lá vàng rơi trên vai những pho tượng trắng. Hay mùa thu cắp sách đến trường của thi sĩ Hoa Kỳ Fannie Montgomery trong bài “In Autumn” như sau:

“They're coming down in showers,
The leaves all gold and red;
They're covering the little flowers,
And tucking them in bed.
They've spread a fairy carpet
All up and down the street;
And when we skip along to school,
They rustle 'neath our feet.”

mà tôi tạm phỏng dịch bài “Thu Về” như sau:

“Thu về lá rụng ngoài kia,
Lá rơi hoen úa chia lìa vàng phai,
Thu về hoa sót có hay,
Lá thu ngập xác đường dài ta đi,
Hồn thu trải thảm ly kỳ,
Ngược xuôi đường có thu đi bao lần,
Ta đi xao xuyến bước chân,
Tiếng thu xào xạc đôi chân đến trường.

Này, các em thấy rằng cái xao xuyến của Huy Phương như Thanh Tịnh, như Edmondo de Amicis, như Anatole France, hay như Fannie Montgomery của cái kỷ niệm về buổi đi học mới vào mùa thu đáng yêu trong cuộc đời. Tác giả Huy Phương được mẹ may áo mới của buổi sáng mai hôm ấy, của cậu học trò nhà quê nghèo vào thời non trẻ mặc áo bỏ ra ngoài quần đùi, chân đất, đến trường với một ngòi bút “lá tre” và cái bình “godet” (bình mực) mang lủng lẳng trên tay. Đặc biệt những cuốn tập là những tờ giấy người ta đã viết một mặt, cha ông gập đôi lại, cho phần chưa viết chữ ra ngoài để chép bài vở. Mỗi buổi đi học về là mực tím vây bẩn tèm lem đầu tay.

Hạnh phúc thay là những ngày ngồi trên ghế nhà trường. Khi ông phải bỏ học để ra đời sớm, ông vẫn thường nằm mơ thấy mình về ngồi trong lớp học ấy, với bạn bè và thầy giáo của những ngày tháng cũ. Đó là tuổi học trò, tuổi hoa niên, tuổi thanh xuân, tuổi thần tiên, tuổi kẹp tóc, tuổi ô mai... thứ tuổi quí giá nhất của một đời người, mà ngày nay như giòng sông cũ đã trôi đi biền biệt.

Đoạn kết Huy Phương trong ý nghĩ riêng rất nhân bản khi mùa thu lại về nhiều trẻ em Việt Nam thuộc gia đình nghèo túng phải bỏ học, hay những em tại tại trường tiểu học Beslan xứ Nga khi quân du kích Chechnya cướp đi “buổi sáng mai hôm ấy”. Tại Hoa Kỳ thì thiên tai Katrina đành đoạn cướp đi niềm vui của ngày tựu trường của bao nhiêu trẻ thơ mất cha, mất mẹ, nhà cửa tiêu tan.

Con “Neo”:

Trên trang 62 Huy Phương viết bài “Con Neo”, chữ “neo” ở đây được viết theo phiên âm Việt ngữ của chữ “nail” trong Anh ngữ. Khỏi phải dông dài ai tại xứ Mỹ này cũng hiểu là nghề “neo” là gì rồi. Vì tại Nam Cali nếu vào cây xăng ta thấy nhiều người Ấn, thì ngành giặt ủi (laundry) không người Tàu thì cũng Đại Hàn, nghề bán donut được rất nhiều anh em Kampuchia khéo tay ngự trị, ngành y tá hầu hết đều do người Phi...

Riêng nghề “neo” do đồng hương Việt Nam ta đã mát tay đóng đô tại nhiều khu phố thị tứ. Nếu bạn đi ngang một cửa tiệm móng tay có vẽ bàn tay phụ nữ thon thả cộng thêm nhánh hoa hồng tình tứ nhất, trước lối ra vào có bàn thờ ông Thổ thần hay Thần tài phù ếm phong thủy, tôi quả quyết đó là 90% là của đồng bào ta.

Huy Phương nêu lên cái hữu lý của ngành neo. Những gia đình ODP hay HO sang sau chịu hoàn cảnh muộn màng nên lấy “neo” làm bùa hộ mạng cho cuộc đời. Vâng, gần như vậy của ý tưởng của lực lượng ngành neo, rất nhiều người sang sau gia nhập vào đạo quân neo. Tôi nhớ câu chuyện neo bắt đầu với một vị cựu sĩ quan trong quân lực VNCH, ông đi tiên phong khai phá ngành neo từ thuở giữa thập niên 70 khi đồng bào ta đã sang đô hộ xứ sở này. Ông khéo tay ông thành công, ông mở tiệm neo, bạo hơn ông đi thi vào ban giảng huấn và sau này mở trường dạy neo đầu tiên mở ra kỷ nguyên neo là ngành thành công cho bao người Việt Nam, neo mang lại ấm no cho nhiều gia đình tại Hoa Kỳ và Việt Nam.

Trong 3 tỷ đô la mà hàng năm đồng hương gửi về bên nhà thì sư đoàn neo đóng góp trợ giúp thân nhân có lẽ không ít. Tôi nghe chuyện những ông bà chủ nhà sang Mỹ 75 đi làm sở Mỹ bị sa thải, những cô làm công, những nàng “lọ lem” của thuở xa xưa trước 75 nhờ thời cuộc đưa đẩy vào kỹ nghệ neo trở nên những nàng tiên giàu có xoay sang cưu mang chủ cũ. Những gương neo thành công nuôi cha mẹ già tại Việt Nam, thỉnh thoảng tôi nghe vị mục sư giàu lòng từ tâm đọc on air danh sách mạnh thường quân như “tiệm neo XYZ cho một giếng nước” hay “cơ sở neo KLM tặng 2 xe lắc tay”. Đấy, đấy, neo bảnh thế đấy! Chưa hết từ Cali qua Texas, từ Virgina về Georgia các báo hay đài radio phổ biến danh sách mạnh thường quân quyên góp cho nạn nhân Tsunamis hay Katrina tên tuổi sư đoàn neo lại kéo dài tiếp sức. Thế thì tại sao trang 63 cho biết có nguồn tin phủ nhận giá trị nghề neo và chê bai là nghề hèn kém, thay vì hãy tỏ lòng biết ơn đi chứ! Ngày 75 cha mẹ dạy con cái bằng lời chót lưỡi đầu môi: “Con nhé, mai kia con cố gắng làm bác sĩ hay kỹ sư cho ba mẹ mừng”. Nếu có diễm phúc như vậy cũng tốt thôi. Nhưng tại vùng tôi ở nhiều anh kỹ sư bị chủ vỗ vai cho về hưu, chàng buồn tình đổi bằng kỹ sư thành chứng chỉ neo, hihi... lợi tức thoải mái hơn xưa. Tôi có cô cháu đị học full time, làm neo part time sau này tốt nghiệp về tài chánh, rồi học lên MBA, bây giờ cô làm giám đốc hành chánh một chi nhánh ngân hàng, cô vẫn trân quý ngành neo và giúp bạn bè khi hùn hạp các cơ sở neo lớn. Tôi rất đồng ý với Huy Phương trong ý nghĩ là chỉ có người hèn, mà không có nghề hèn.

Về Hưu Làm Gì?:

Cuối trang 49 Huy Phương đặt ra câu hỏi:

“Ông Thọ sống lâu là cái lộc Trời cho, nhưng sống lâu ra lão làng, lão làng ăn trên ngồi trốc, đánh chén ở chiếu trên giữa đình làng, lấy cái râu cái tóc ra mà hoạnh họe với đời, đè áp bọn trẻ, đừng cho chúng ngóc đầu lên, chẳng giúp được gì cho ai, thì cuộc sống cũng không khác mấy cái bình vôi ở gốc cây đa như nhà văn Phan Khôi đã ví von.

- Về hưu để làm gì? Có khi nào quí vị đặt câu hỏi ấy ra với chính mình hay để có người hỏi mình như thế? Và câu trả lời sẽ là như thế nào, phải chăng còn tùy quan niệm sống của mỗi người?”

Như thế thì ví dụ bạn là ông Thọ, bạn ngồi hàng ghế lộ thiên trước tiền đình cái shopping “xịn” nhất của phố Bolsa là Khu Phước Lộc Thọ, bạn thấy gì có thể có thấp thoáng vài cụ cao niên tiên sinh râu tóc bạc phơ đang chiếu tướng bàn bạc những chiến pháp của Khổng Minh hay Tôn Tử hay phía bên trái chỗ bạn ngồi là hai ông bà bô lão ngồi nhâm nhi ly cà phê mang hương vị phố xá đường Tự Do của Sài Gòn ngày xưa hay một ly cà phê boba của khu phố Đài Bắc, ông bà cụ cho biết đã nghỉ hưu từ San Jose đáp chuyến xe đò Hoàng về thăm quê hương Sài Gòn nhỏ khi lòng lưu luyến với Sài Gòn lớn quá xa xôi trong tầm tay với. Đây là hai hình thức nghỉ hưu trả lời nhà văn Huy Phương.

Thưa anh Huy Phương, tôi có người bạn Mỹ, tên Bob Miller, anh là kỹ sư cao cấp thâm niên trong hãng sau cả chục năm làm việc, anh mang ước mộng quá đẹp anh hứa với vợ Maggie là khi về hưu anh sẽ cùng chị ngao du sơn thủy, đi đó đây, nào là Tahita, Bahamas, Jamaica, Barbados, Belize, Bermuda, Bonaire, British Virgin Islands, Cayman Islands, Paris, Vienna, Roma,... Ngày anh 65 tuổi tòan thể department đãi tiệc chia vui cho anh ta linh đình, rồi anh về hưu nghỉ hãng làm. Hai ngày trước khi Bob và Maggie đáp chuyến bay sang vùng Caribbean Islands để nghỉ một tháng trên 4 hòn đảo thơ mộng mà anh chị mơ ước, chúng tôi ngỡ ngàng khi được điện thoại của Maggie khóc sục sùi cho biết Bob đã qua đời vì chứng nhồi máu cơ tim (heart attack). Tôi chợt nhớ câu ca bài hát bất hủ của nhạc sĩ Lam Phương: “Anh ơi nếu mộng không thành thì sao?”. Thật tội nghiệp cho bạn tôi. Trường hợp hai tôi sắp kể ra đây về anh bạn người Việt gốc Hoa tên Phong, rời Việt Nam sang học bên Hong Kong năm 1959, sau đó anh sang Luân Đôn du học bậc kỹ sư, rồi cưới vợ người Canada gốc Hoa anh di cư sang Vancouver, anh học lấy bằng tiến sĩ điện tử, anh chị Phong hùn hạp làm ăn với tư bản Đài Loan bành trướng cơ sở làm chip bán dẫn (semiconductor chips) tại Đài Loan, Đại Hàn, Trung Quốc, Mỹ và Canada. Lần cuối tôi gặp anh tại San Franciscco, anh cho biết quyết định nghỉ hưu năm 67 tuổi và bán hết cổ phần công ty để trở lại thành phố Vancouver nơi có ngôi mộ của chị Lilian, tức Lan vợ anh đã qua đời vì chứng ung thư. Bao năm hai vợ chồng sống bên nhau quá bận rộn không có dịp sinh con, chị đi làm nuôi anh đi học, chị giúp anh phát triển làm ăn, ngày nay anh nói ngồi trên nhung lụa nhưng như lạc hướng đi, anh chuyển tuổi về hưu sang giúp đỡ các cơ quan từ thiện.

Thưa anh Huy Phương đây là một cách có người chẳng may bị lạc hướng hay chuyển hướng khi về già. Và bây giờ chuyện cuối cùng gần gũi với anh em mình. Về hưu làm gì? Về hưu ... giữ cháu, và viết văn, in sách.

Bạn tôi, nhà văn Tạ Xuân Thạc và vợ anh, chị Lê Kim Anh sau hơn 25 đi cày bừa tại xứ Mỹ, anh chị về nghỉ hưu và các con anh chị cho job mới “baby sitter”, anh chị vui vẻ nhận lãnh thiên chức ông bà nội cũng như ông bà ngoại. Tôi sang Houston ở nhà anh chị, bé Emily bắt ông nội làm ngựa cho cháu vui thú “mary-go-round”. Chị thì nấu nướng lo buổi ăn cho con cháu, thời gian còn lại anh chị vui thú viết văn. Có hôm tôi theo anh Thạc ra ngoài phố Bel-Aire, Emily mè nheo chạy theo đòi đi chung, tôi cho rằng anh có hạnh phúc, vì tuổi về hưu của tôi chẳng có điều đó khi mà hai chú con tôi còn quá bé để biết yêu. Thôi thì chúc vui anh chị Thạc và anh chị Huy Phương có diễm phúc này trước tôi.

Về hưu làm gì? Bạn tôi bác sĩ Nguyễn Ý Đức tại Dallas vẽ cho cuộc sống xế chiều của anh bằng sự hữu ích san sẻ kiến thức y khoa, anh viết bài đăng báo, rồi in sách y khoa dinh dưỡng hướng dẫn bà con phòng ngừa bệnh tật. Tôi nghĩ anh có cái ý hướng của tuổi hưu trí đáng quý lắm.

Tóm lại, các anh chị này chọn con đường gần gũi với chữ nghĩa. Nói lên điều này tôi nghĩ có rất nhiều anh chị em đồng ý với trò chơi chữ nghĩa này.

Đi Lấy Chồng Xa:

Sách Huy Phương đã chọn tên bài viết này làm tựa chính. Trang 13 nhập đề bằng câu ca dao:

“Lấy chi trả thảo cho cha,
Đền ơn cho mẹ, con ra lấy chồng”

Huy Phương bàn về duyên phận người con gái Việt Nam sống với phong hóa của dân tộc, lấy chồng thì phải theo chồng. Cô gái Việi chỉ xin mẹ cha đừng gã cô đi xa, câu văn ghi nhận:

“Không ai muốn gã con đi lấy chồng xa, không phải vì còn nhờ cậy lúc tuổi già “gả con thì gả chồng gần, có bát canh cần nó cũng mang cho”, mà chính vì mối tình cảm quyến luyến giữa mẹ con, gia đình:

“Mẹ ơi đừng gả con xa,
Một mai cha yếu mẹ già ai trông?”

Huy Phương đưa vấn đề thời sự của quê hương Việt Nam hiện nay khi mà nhà cầm quyền bôi tro trét trấu lên danh dự và nhân phẩm của phụ nữ Việt Nam. Người CSVN có thể bỏ hàng cả triệu mỹ kim để giở trò xiếc “Duyên Dáng Việt Nam” tại hải ngoại, trong khi đó người dân quê tại quê nhà sống cùng cực, sống bần hàn, họ đành phải đem bán những khúc ruột của mình. Tại Đài Loan hay Đại Hàn, người thanh niên xứ người háo hức khi bỏ ra $2,000 mua sự trinh trắng của người con gái Việt Nam, xong rồi các cô sẽ phải ở đợ mãn kiếp, bản quảng cáo còn nham nhở rêu rao nếu không vừa ý sẽ được đổi hàng mới. Tại Cao Miên tình trạng tệ hại hơn khi bạn bỏ ra $100 xung quanh bạn là những thiếu nhi, những đứa bé Việt Nam không hơn 8 tuổi sẵn sàng cho bạn dày vò thân xác. Bọn cò mòi, bọn con buôn, ma cô tú bà không thể lộng hành nếu không có sự đồng lõa, toa rập của nhà cầm quyền CSVN trong sự nhục nhã này của dân tộc. Đó là điều rõ ràng như ban ngày. Chưa có một thể chế nào cai trị nước Việt Nam mà nhân phẩm phụ nữ Việt Nam bị nhục mạ đến độ không thể tin nổi ở thế kỷ 21 này.

Tiếng kêu của chim Đa Đa trong bài viết của Huy Phương cho tôi nghe đau đớn như xé nát con tim:

“Chim đa đa, đậu ở cành đa
Chồng gần không lấy, lại lấy chồng xa
Nhỡ sau cha yếu, mẹ già
Chén cơm, đôi đũa, bộ kỷ trà ai dâng ?”

Trên đây là bốn bài viết tiêu biểu cho sách của Huy Phương, tôi đề nghị những ai thích văn chương Việt Nam hãy tìm đọc. Bạn đọc sẽ thấy những nét hóm hỉnh, dí dỏm trong bút pháp của Huy Phương, anh dùng văn phong nhẹ nhàng, vừa phải khi ta thán một vấn dề hay buông bút cười ý nhị cuộc đời của sự trớ trêu, không vừa ý.

Để kết thúc chuyện đọc sách Huy Phương tôi đan cử nhận xét của nhà văn Đỗ Văn Phúc tại Austin, Texas đã cho y kiến như sau:

“Xếp trang sách chót của tập tạp ghi Đi Lấy Chồng Xa, lòng tôi pha trộn những cảm giác bâng khuâng, xúc cảm và thầm cảm ơn nhà văn Huy Phương đã nói lên giùm rất nhiều điều mà tôi vẫn ấm ức muốn viết ra nhưng không có khả năng làm sống động trên các trang giấy. Trong những điều mỉa mai, bỡn cợt có một giọt nước mắt xót xa, cay đắng. Ít nhất, mỗi người trong chúng ta có thể thấy một phần đời và suy nghĩ của mình qua các trang sách.”

Tôi đồng ý với nhà văn Austin và xin mời bạn hãy đọc đi nhé.

Việt Hải Los Angeles

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Tên Em Trong Trái Tim Anh

Bố mẹ tôi yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên. Bố mẹ không chỉ hài lòng về nhau mà còn chấp nhận cả những nhược điểm của nhau nữa. Đến giờ, sau hơn 50 năm, họ vẫn yêu nhau và ai cũng nhìn thấy sự nồng nàn ấy.

Bố tôi là người sống thực tế, thích trêu chọc người khác hơn là típ người lãng mạn nhưng sau khi gặp mẹ, ông trở thành một người khác hẳn.

Ông vẫn kể cho chúng tôi nghe lần đầu ông gặp mẹ. Đó là một ngày sau chiến tranh thế giới thứ 2, khi ông vừa trở về từ Nhật Bản. Ông đã lái chiếc xe (mượn của ông anh trai) đi theo mẹ khắp thành phố, cho đến khi mẹ vào một cửa hàng đồ nội thất. Bố đỗ xe ngay ở ngoài và chạy vào theo.

Mẹ tôi - lúc đó 26 tuổi - hỏi người bán hàng rằng hai chiếc giường đơn mà mẹ thấy ở đây tuần trước đâu rồi. Bố tôi, từ phía sau lưng mẹ, bước ngay ra nắm lấy tay mẹ và nói to:

- Em, sao em bướng thế? Chúng ta làm sao ngủ trên hai chiếc giường đơn được?

Mẹ tôi choáng váng đến đỏ cả mặt, còn bố vẫn thản nhiên như không.

Ba tháng sau, bố và mẹ làm đám cưới. Họ đã ngủ trên một chiếc giường đơn cho đến khi họ đủ tiền mua một chiếc giường đôi mà hai người cùng thích.

Hơn 50 năm sau, họ vẫn ngủ trên chiếc giường đó.

Ở tuổi 78, bố tôi phải trải qua một ca phẫu thuật tim. Mẹ dành hết thời gian để vào viện chăm bố, mong ông tỉnh dậy. Và điều đầu tiên bố nói với mẹ tôi khi tỉnh lại là điều lãng mạn nhất mà tôi từng nghe thấy:

- Maude, Em có biết các bác sĩ thấy gì khi mổ tim cho anh không? Họ thấy tên em trong trái tim anh.

Minh Nguyệt (dịch từ Internet)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

RỐI BỜI CHỮ NGHĨA
HUY PHƯƠNG

Tặng anh Cvanto.
Tuần trước tôi vừa “nhập viện”. Nói cho cam, chẳng phải tôi xin vào Viện Mồ Côi làm gì vì đã quá già, cũng không phải vào Viện Hán Học xin thầy mấy chữ thánh hiền, vào Viện Thẩm Mỹ để sửa sang lại dung nhan, cũng chẳng phải vào viện Nghiên Cứu Mác- Lê Nin của ông Hoàng Minh Chính để làm quái gì, vậy mà bạn bè, bà con cứ nói một hai là tôi “nhập viện”. Đơn giản là tôi mới vào nhà thương, hay nói chữ nghĩa là tôi vào nằm bệnh viện, cái gì mà cứ nằng nặc một hai gán ép cho tôi là “nhập viện”, cho danh chính ngôn thuận, nếu gọi nhà thương là viện thì bệnh nhân nằm nhà thương gọi luôn là “viện sĩ” cho được việc. Cũng như trước đây mấy chục năm, bọn Cộng Sản cứ một hai đòi “cải tạo” chúng tôi và đặt cho chúng tôi một danh từ khá kêu là “cải tạo viên”.

Từ trước năm 1975, chúng ta chữ nghĩa có lẽ còn ít ỏi, lại không thích dùng quá nhiều chữ Tàu, nên những chữ chúng ta dùng rất đơn giản, thế mà ngày nay.... Ngày nay, ngay cả những bạn ngày xưa dạy học cùng trường, sau này trong những cuốn đặc san của các cựu học sinh, cũng uốn viết, uốn lưỡi để nói rằng :“... năm 1972, tôi “nhận công tác giảng dạy” tại trường X.” nghe tức anh ách cả bụng. Đi dạy học thì cứ nói là đi dạy học, cần gì phải gọi là nhận công tác giảng dạy.

Ở hải ngoại nhiều bậc thức giả đã lên tiếng về cái điều gọi là loạn chữ nghĩa, mà cách dùng chứng tỏ CSBV lệ thuộc vào văn hóa Tàu Cộng một cách quái đản, khiến người ngoài nước không hiểu nổi khi đọc chữ nghĩa của người trong nước. Những chữ có “mùi Tàu” quen dùng và đã ảnh hưởng không ít đến truyền thông và người Việt ở hải ngoại vẫn thường nhan nhản thấy và nghe hằng trăm, nghìn chữ nghĩa nghe rổn rảng như những miếng sắt va chạm nhau của anh mù đấm bóp của những ngày tháng Saigon năm xưa, như những chữ “chất lượng”, “liên hệ”, “đăng ký”, “xuất khẩu”, “tranh thủ”, “khẩn trương”, “nhất trí, “hồ hởi-phấn khởi”, “bức xúc”, “nghiêm túc”, “quân hàm”, “sự cố”, “tham quan”, “chuyển ngữ”, “quá độ”, “cực kỳ”...“Thể tạng” con người thì trong nước dùng là “cơ địa”, nghe qua bạn có hiểu nổi không? “Triều cường” là gì? “Vĩ mô” là gì ? Nào là “chùm”, nào là “luồng! Phải chăng phải tra cứu loại “tự điển Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” mới hiểu nổi. Các bạn nghĩ thế nào với những danh từ kỹ thuật số (digital), máy quét (scanner), phần mềm (software)...

Trong địa hạt giao thông, vận tải không biết sao những người chuyên về các vấn đề này lại là những người thích dùng chữ mới, nghe rất kêu, cứng ngắc như “bê tông cốt sắt” nhưng rất vô nghĩa và xốp ruột như loại “bê tông cốt tre”, sản phẩm nổi tiếng của XHCN. Bạn nghĩ thế nào với những “cụm từ” (lại nói theo kiểu mới) như “kéo giảm tai nạn”,“ùn tắc giao thông”, “phân luồng xe chạy”, “bố trí lệch ca”để nói về giao thông, vận tải.

-“Trong quá trình bê tông quá độ bị lún, sự cố bất ngờ các khuyết tật nên các đơn vị dược giao nhiệm vụ quản trắc phải báo cáo diễn biến đột xuất của hầm chui, và tôi đề nghị nâng tĩnh không của cầu lên từ 3m lên 3.5m.” (nói về cầu Văn Thánh)

- “Chốt lại vấn đề kích cầu sản xuất, tiếp theo mạch phân công nhiệm vụ phải tùy vào sự giải trình cũng như thái độ cầu thị của Bộ Trưởng”.

-“Phạm trù quản lý đô thị hiện nay có rất nhiều bất cập, mảng đô thị của chúng ta nói rất mờ nhạt.”

-“Phạm trù chuyên chở đại chúng chưa được phủ kín đến vùng dân cư đông đúc mà còn tồn tại nhiều lỗ hổng.” (phát biểu của Bộ Trưởng Giao Thông)

-“PMU 18 là sai phạm nghiêm trọng, bộc lộ yếu kém ở cấp vĩ mô, xin ông cho phóng viên nắm bắt giải trình cụ thể.” (câu hỏi của phóng viên nhà báo).

- “Vốn kiên cố hóa trường học giải ngân quá chậm.” (Ông Bộ Trưởng Giáo Dục nói về ngân sách giáo dục).

Những chữ nghĩa loại này nhan nhản trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình trong nước (Việt Nam Cộng Sản). Chưa gặp được ông Thủ Tướng để phỏng vấn vì ông quá bận, thì ký giả báo đảng viết rằng:“Thủ Tướng có nhiều cuộc họp bất thường, chưa tìm được thời gian thích hợp để phỏng vấn, nên đành tranh thủ những khe hẹp trong lịch trình đông đặc của Thủ tướng để xen vào.”Không biết đối với một vị nữ thủ tướng thì nhà báo có dùng nguyên văn như vậy không? Nói chúng đây là những danh từ rất lạ mà nhà báo trong nước hay các viên chức viết, báo cáo diễn văn, không viết nổi một câu văn bình thường dễ nghe, mà vì mặc cảm đã cố tạo ra những danh từ rất kêu, nhưng xem chừng vô nghĩa và rất dung tục. Hồi chúng ta còn ngồi ở ghế nhà trường mà viết những loại chữ nghĩa như thế trong bài luận văn thì chắc chắn bị thầy, cô “sổ toẹt”.

Trong ngôn ngữ, có một số tiếng do nhân gian dùng lâu thành quen, nên cũng có một số không đúng với nguyên nghiã của nó, tuy nhiên xã hội chủ nghĩa hiện nay đang có khuynh hướng cố tạo ra những danh từ kêu to, lạ lùng và không kém kỳ quái và thô lậu. Vì sao phải dùng “tình trạng của tôi rất căng, nếu nói ra không biết cô có nắm bắt được không?”hay “tranh thủ những khe hẹp trong chương trình dày đặc...của Thủ Tướng!”

Nhà văn Đặng Trần Huân lúc sinh thời đã có viết một bài báo nhan đề là “Nghĩ thương cho chữ nghĩa” cũng trong tấm lòng xót xa của những người trí thức nghĩ về tình trạng bất hạnh của ngôn ngữ đang bị biến dạng, dày vò một cách thô bạo trong bàn tay của những kẻ thiếu văn hóa.

Ba mươi ba năm nay, do tình thế của đất nước, ba triệu người Việt phải sống cuộc đời tỵ nạn ngoài quê hương của mình, sự khác biệt trong và ngoài nước càng ngày càng thấy rõ, từ văn hóa, phong tục, cho đến ngôn ngữ, khiến chúng ta không chỉ cảm thấy xa cách về địa lý mà còn ngay khi ở ngay trên quê hương, vẫn cảm thấy mình lạc lõng, xa lạ. Chúng ta có thể nhìn cách lối diễn tả, cử chỉ, ngôn từ, để biết người ấy ở đâu, chịu chi phối bởi thứ văn hóa nào.

Chỉ mong sao hải ngoại đừng “bê” nguyên con một bản tin của Hà Nội với những chữ nghĩa rối bời để ném vào mặt độc giả, hay viết lách , ăn nói bằng những loại chữ nghĩa mới mẻ, nghe rổn rảng nhưng thực sự kệch cỡm, vô nghĩa.

Nói xa nói gần, để kết thúc sự rối rắm này, tôi cũng xin loan báo với bạn bè, là tôi vừa “xuất viện”, vì ở đầu bài tôi bị “nhập viện”, may mắn không phải nhập nhà vĩnh biệt hay lò thiêu, thì đến lúc được “xuất viện”. Đây chắc chắn không phải ám chỉ tôi vừa tốt nghiệp Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, hay tốt nghiệp Viện Mác–Lê mà đơn giản là tôi vừa ra khỏi nhà thương. Vậy mà đi đâu bạn bè cũng chúc mừng tôi vừa “xuất viện”. Trong muôn nghìn thứ “viện” trên đời này sao chữ nghĩa Cộng Sản cứ bắt “viện” phải là cái “nhà thương”, mà chúng ta lại phải cứ dùng một cách lười biếng vô ý thức, cóp nhặt mà không hề suy nghĩ. Không lẽ bây giờ lại phải thua thêm một keo vì những thứ văn hóa, chữ nghĩa như thế sao?

Huy Phương

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


“Cà phê bệt” và văn minh đô thị


Cà phê bệt” là phong cách uống cà phê độc đáo của giới trẻ. Kiểu uống cà phê này thể hiện tính trẻ trung, giản dị và phóng khoáng của đông đảo bộ phận thanh niên. Bạn trẻ Sài thành yêu “cà phê bệt” cũng như thanh niên Hà thành say sưa với mốt kem đứng, phở đứng. Họ chấp nhận sự bất tiện về chỗ ngồi để có được cái thoải mái, thú vị trong thưởng thức cà phê mà những quán cà phê sang trọng không có được.
Giới trẻ uống cà phê
Mỗi sáng, nhâm nhi ly cà phê cóc 5.000 đồng, lót tấm giấy báo thoải mái ngồi xem tin tức, hít thở không khí tương đối trong lành giữa công viên thoáng đãng ở cái thành phố nhiều bụi bặm này và cùng tán gẫu với bạn bè là niềm hứng khởi tuyệt vời để bắt đầu một ngày mới của nhiều bạn trẻ.


Một số người đã qua thời sinh viên hiện đang làm những công việc có thu nhập kha khá muốn tìm lại cảm giác thời sinh viên đã tìm đến với “cà phê bệt”, bởi theo họ, chính những góc phố này góp phần nuôi dưỡng tâm hồn giới trẻ và luôn nhắc để họ nhớ về một thời gian nan đã qua, trước những hối hả của cuộc sống vật chất đang cố kéo họ đi.

Đừng nghĩ “bệt” thu hút giới trẻ chỉ vì giá rẻ, nếu quan sát sẽ thấy những gương mặt quen thuộc đam mê “bệt” đa số là nam thanh nữ tú cả, vô số những đôi kiếng cận sáng láng, laptop hiện đại, xe tay ga, dế xịn… Họ tán gẫu, họp mặt, hẹn hò, bàn bạc công việc làm ăn, bình luận tình hình… Quan sát, lắng nghe và hòa mình vào không khí “cà phê bệt” sẽ giúp ta khám phá phần nào đời sống tâm tư, suy nghĩ của một bộ phận thanh niên thành phố hiện nay.

Mỗi ngày có khoảng 100 bạn trẻ đến uống cà phê tại khu vực công viên 30-4, kéo dài từ khoảng 6 giờ 30 đến 18 giờ, chủ yếu là sinh viên, nhân viên văn phòng khu vực Q1, Q3 và có cả một số nhà báo trẻ. Buổi sáng dòng người đông đúc chầm chậm lưu thông trên các trục đường Lê Duẩn, Phạm Ngọc Thạch, Nam Kỳ Khởi Nghĩa…, nhìn vào khuôn viên cây cối xanh ngắt, mát mẻ, các bạn trẻ người thì chăm chú bên trang báo hay chiếc máy tính, có bạn tư lự bên ly cà phê đen trông hơi… cụ non, có nhóm bạn cười sảng khoái, vô tư bên những người bạn… ai nhìn vào đều công nhận đó là nét lạ của giới trẻ thành phố, mà chỉ có ở TPHCM này mới có mà thôi.

Vui buồn cùng “cà phê bệt”

Mỗi người một cách, đang “chìm đắm” trong không gian “cà phê bệt”, bỗng nghe tiếng hét to: “Trật tự đô thị đến”, tiếp theo đó là cảnh tượng nháo nhào. Những chiếc xe máy nối đuôi nhau từ công viên ầm ầm phóng ra làm náo loạn khu phố, nhiều khách nước ngoài trông vào ngơ ngác, chẳng hiểu vì sao thanh niên VN sợ “police” đến thế. Các cô dâu đang làm dáng ở nhà thờ bị tiếng động cơ của những chiếc xe máy phóng nhanh sau lưng giật mình đánh rơi cả hoa. Lúp xúp chạy vào sát tường nhà thờ Đức Bà. Laptop không kịp “shutdown”, túi xách, báo chí, bao thuốc, hộp quẹt…, những ly cà phê vừa mới bưng ra chưa kịp uống rơi lả tả ở sân công viên.

Đó là những “cư dân bệt” lâu đời, còn nhiều cô cậu mới gia nhập “làng bệt” rất dễ bị phạt do xe đậu sai nơi quy định. Khi được hỏi tại sao không gởi xe để yên tâm, thoải mái thưởng thức cà phê thì nhiều người đưa ra lý do rất giống nhau - Trước hết là nơi giữ xe gần công viên không có (gần nhất là Nhà Văn hóa Thanh niên) chính vì thế nên lười và “thôi thì người đâu của đó cho tiện, ngồi khoảng tiếng đồng hồ mà gởi xe thì phiền quá?!”.

Một số bạn lại cho rằng thêm một chút phiêu lưu trong khi nhâm nhi cà phê rất thú vị! Chính suy nghĩ vô tư, vô tâm của một bộ phận thế hệ trẻ đã và đang gây ra những rắc rối không đáng có cho nếp sống đô thị vốn đã tồn tại quá nhiều bất cập, vướng mắc từng ngày.

Và nơi đến của các “cư dân bệt” không may, chính là chi nhánh kho bạc trên đường Trần Hưng Đạo nộp phạt, rồi phải đến Công an phường Bến Nghé trên đường Hồ Tùng Mậu nhận giấy tờ bị giam giữ hoặc nhận xe về.

Đôi điều muốn nói

Người bán “cà phê bệt” tâm sự, họ rất muốn xin giấy phép kinh doanh để yên tâm buôn bán theo đúng luật, nhưng nhiều lần xin giấy phép, chính quyền yêu cầu phải có cơ quan chủ quản đứng ra bảo lãnh thì mới được cấp. “Cà phê bệt” là loại hình bán “hàng rong cao cấp”, mỗi chủ xe là một chủ doanh nghiệp lưu động, đã có gánh hàng rong nào có giấy phép kinh doanh đâu!


Qua tìm hiểu, chúng tôi biết được phí đậu xe một lượt là 5.000 đồng, không kể đậu trong thời gian bao lâu. Phí đậu xe này do nhân viên thu phí Đội quản lý đô thị Công an phường Bến Nghé trực tiếp thu.

Chủ “cửa hàng cà phê” cho xe đậu bên hông công viên để phục vụ từ 6 giờ đến khoảng 18 giờ. Kết thúc một ngày buôn bán, họ bán được gần 200 ly nước uống, giá bình quân 6.000 đồng/ly, tổng thu khoảng 1 triệu/ngày. Phí thuê mặt bằng như vậy quả là quá rẻ.

Một chiếc xe 15 chỗ cũ kỹ, ngoài “nhiệm vụ” chuyên chở thùng sau xe cải tạo thành “khu chế biến”, khu chứa nguyên vật liệu… Trong không gian pha chế chật hẹp, trà đá được chứa trong những bình nước suối lớn, cà phê pha sẵn từ nhà đựng trong những chai nhựa và khi có khách gọi, chủ quán chỉ đổ cà phê ra ly và bốc nắm đá vô chiếc cốc nhựa là có ngay ly cà phê, trao nước cho khách là lấy tiền ngay, phòng khi công an tới còn chạy. Khi tôi tỏ ý thắc mắc về vệ sinh thức uống thì các “tín đồ bệt” cười khà bảo, họ thích đến đây vì họ cảm thấy vui và thoải mái. Còn chất lượng cà phê ư? Họ bảo uống “cà phê bệt” thấy vị... cũng đậm đà như uống trong quán sang trọng và uống trà đá “tàu nhanh” kia chưa bao giờ bị đau bụng!

Chức năng của công viên là địa điểm vui chơi, giải trí, thể dục thể thao lành mạnh. Công viên 30-4 với cảnh quan đẹp, hệ thống cây xanh và vệ sinh tốt là môi trường lý tưởng, đáp ứng tương đối hiệu quả cho các hoạt động trên. Đó là “công viên sống”, hữu ích, là lá phổi xanh mang lại bầu khí quyển trong lành cho thành phố và là niềm yêu thích của giới trẻ.

Buổi sáng tinh mơ, giữa một không gian ồn ào xe cộ ngược xuôi, một bộ phận thanh niên im lặng ngồi nhâm nhi cà phê trên quán cóc ở lề đường bên những trang báo là một nét sinh hoạt đặc trưng của Sài Gòn bao đời và “cà phê bệt” cũng là một nét lạ và đáng yêu trong sinh hoạt của giới trẻ thành phố. Tuy nhiên vẫn còn nhiều điều cần bàn. Đó là việc một nhóm thanh niên dễ gây náo loạn khi có trật tự đô thị đến, đó là xe cộ dựng ngổn ngang trên tuyến đi bộ của công viên và những vệt nước đọng trên một đoạn công viên, sau khi “quán cà phê lưu động” dọn đi. Đó là chưa kể đến việc kinh doanh trốn thuế của các xe bán cà phê lưu động tại công viên.

Cũng là hình thức kinh doanh như các quán cà phê khác, nhưng các “chủ quán” chỉ bỏ tiền thuê mặt bằng đậu xe vài ngàn đồng mỗi ngày, ngoài ra không nộp khoản thuế kinh doanh nào khác, có nghĩa là ngân sách nhà nước mất đi một khoản thu chính đáng.

Chúng ta đang chung sức vì một thành phố trong sạch, văn minh. “Cà phê bệt” có thể là nét văn hóa lạ (nhưng chưa đẹp) của bộ phận thanh niên ở một thành phố trẻ. Nếu có thể, nên có khu dành riêng cho “cà phê bệt” để nét sinh hoạt rất trẻ này tồn tại nhưng không đối lập với tính thẩm mỹ chung của văn minh đô thị thành phố.

Sao Ly

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Cái học ngày nay
Tác giả: Nguyễn Minh Vương


Sinh viên ngày nay thường tự an ủi mình sau mỗi lần bị “trượt vỏ chuối”: Sự học ngày nay đã hỏng rồi, mười người đi học bảy người chơi, hai người quay cóp, một người trốn, tội gì làm khổ cả thân tôi… Hay kẻ xấu còn nói rằng: Học hành thi cử làm chi. Tú Xương còn rớt huống chi là mình…

Có thể nói rằng, nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu nghiêm túc của cái học ngày nay chính là việc quá coi trọng kiến thức, đến nỗi người ta đánh giá năng lực của các cô cậu sinh viên dựa trên điểm số, bằng cấp. Cho nên, sinh viên bằng mọi cách, nhồi nhét càng nhiều kiến thức của người khác càng tốt, chỉ có như thế mới mong đáp ứng được những kỳ kiểm tra của bà cô ông thầy, hay của cả một nền giáo dục mà hình thức thì đả phá Nho học cổ hủ, nhưng cốt lõi cũng chỉ là cái học từ chương nhàm chán.

Đạo sư Osho đã cho thấy cái nguy hiểm vô cùng của những kẻ nhá chữ nhai văn. Cái học bằng cách nhồi nhét kiến thức của người khác không chỉ làm thui chột khả năng sáng tạo của mình mà còn gây chia rẽ, bè phái, thánh chiến đối với người khác. Ông nói: trong cuộc sống có một số chân lý mà chỉ có thể tự mình nhận biết được, ta không thể nào có thể biết được chúng nhờ vào sách vở, thầy dạy hay thánh kinh. Thật vậy, việc tích lũy những sự kiện và ý kiến của người khác không phải là dấu chỉ của kiến thức, nó chỉ là dấu chỉ của sự vô minh. Nó chỉ là rác rưởi, gạch đá mà ta tưởng chúng là vàng bạc. Chỉ có kiến thức xuất phát, khai mở, trào dâng lên từ bên trong bạn mới chính là vàng ròng, mới chính là suối nguồn vô tận dẫn ta đi vào vũ trụ mênh mông mà không phải dựa dẫm, lo sợ.

Một nền giáo dục chỉ chăm chăm chú chú vào việc thi cử, trả bài bằng cách nhồi sọ bằng kiến thức của người khác là một nền giáo dục bất nhân. Một ông thầy chỉ biết bắt học trò thuộc lý tưởng của người này, quán triệt chủ nghĩa của người kia, thì chỉ là một ông thầy mất dạy không hơn không kém. Do đó, vấn đề không chỉ do người học không tự ý thức mình là trung tâm trong việc đào tạo, mà còn tùy thuộc phần lớn vào phương pháp đào tạo trong hệ thống giáo dục đó. Khổng Tử được người đời tôn làm “vạn thế sư biểu” bởi ông là người giáo dục cho học trò của mình lấy kiến thức từ trong lòng ra, chứ không phải là nhồi nhét vào đầu học trò của mình một mớ kiến thức mà ông tâm đắc. Để dạy cho học trò biết về hình chữ nhật, Đức Khổng chỉ cho biết một góc thôi, còn ba góc kia, tự bản thân người học phải tìm ra. Có như thế kiến thức mới không bị quên lãng và người thầy cũng không ảo tưởng mình người cứu nhân độ thế. Người thầy chân chính là người biết phủ nhận mình ra hư không. Đức Phật cũng thế, ngài nói rằng ngài chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng, thấy mặt trăng rồi, cần phải quên ngay ngón tay chỉ mặt trăng đi, hoặc qua sông phải bỏ lại thuyền, nếu không thì môn sinh không thể chứng được Đạo.

Nếu đọc Anh hùng xạ điêu của Kim Dung, chúng ta sẽ thấy rằng, việc học võ của Quách Tỉnh cũng không đi ra ngoài đường lối đó. Quách Tỉnh là một anh chàng nhà quê chân chất, hiền lành, mạnh mẽ, không thể một lúc học được những món võ công đòi hỏi sự tinh tế của nhóm Giang Nam Thất quái, nên cho dù mấy ông thầy đó có cố nhồi nhét, Quách Tỉnh không làm sao tiếp thu được. Nhưng khi gặp Hồng Thất Công, Quách Tỉnh được ông già ăn mày truyền cho “Giáng long thập bát chưởng”, bởi môn võ công này uy lực, mạnh mẽ tựa bao đào sóng biển, rất phù hợp với bản chất cương trực, thuần phát, dũng mãnh của học trò. Cho nên, Quách Tỉnh lãnh hội rất mau và nhờ môn võ công đó, chàng trở thành anh hùng của giới võ lâm. Thế mới thấy vai trò của người thầy quan trọng như thế nào trong việc tìm ra cái nào là sở trường, cái nào là sở đoản của môn sinh để chỉ đường vẽ lối. Và một khi đã đạt được điều đó rồi thì ông thầy hết trách nhiệm của mình. Có công đấy nhưng mà cũng giống như là không công vậy, dạy dỗ học trò đấy, nhưng mà cũng như là không dạy vậy. Thành công hay không, người môn sinh phải tự quyết định lấy đời mình.

Nhìn vào hệ thống giáo dục, ta có thể chia làm hai hạng thầy dạy. Hạng minh sư và hạng tục sư. Hạng minh sư vì người mà dạy cách trở thành người. Hạng tục sư vì tiền mà dạy học trò cách kiếm tiền. Hạng minh sư kéo, vén mở, khơi nguồn kiến thức vốn tiềm ẩn trong lòng môn sinh. Hạng tục sư nhồi nhét kiến thức lấy từ ngoài vào. Đi theo minh sư thì con người là tiểu vũ trụ, là thần linh. Đi theo tục sư thì con người là con mọt sách, là vô tri. Hạng minh sư chỉ cho môn sinh thấy mình thiếu cái gì, phải tìm nó ở đâu. Hạng tục sư chỉ cho học trò thấy cái thông minh xuất chúng của mình. Thấy thiếu thì lo lắng tài bồi, chăm sóc làm sao cho đủ và vì thế ngày càng phát minh được nhiều cái mới cái hay. Thấy mình giỏi, mình thông minh thì hung hăng hống hách, muốn được thi thố, phô trương, vì thế kiến thức thui chột. Hạng minh sư tùy theo hoàn cảnh và năng lực của môn sinh mà hành đạo. Hạng tục sư nương theo chính trị, chủ nghĩa, tôn giáo mà hành nghề. Nước có đạo lý thì minh sư nhiều hơn tục sư. Nước vô đạo lý thì tục sư nhan nhản, có khi bói không ra một mống minh sư nào. Một nền giáo dục thực chất cốt là làm sao cho con người thay đổi được cái bên trong, vì chỉ có cái bên trong mới giúp ta tìm ra được chân lý. Còn tất cả các biện pháp, khuôn mẫu, gương sáng, giáo điều, lý thuyết ở bên ngoài đều trở nên vô nghĩa nếu tự thâm tâm con người không thức tỉnh.

Người đi học cũng giống như ngọn lửa, khi ngọn lửa le lói bằng con đom đóm thì vùng tối bao quanh rất nhỏ; khi ngọn lửa bằng ngọn đèn con thì bóng tối bao quanh lớn hơn bằng căn phòng; khi ngọn lửa sáng lên bằng đống lửa thì vùng tối bao quanh bằng khoảng sân chơi; và cứ như thế, ngọn lửa càng cao, càng sáng bao nhiêu thì vùng tối bao quanh nó càng mênh mông bấy nhiêu. Cho nên, Khổng Tử mới dạy rằng, biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, ấy mới là kẻ biết. Nếu không nền giáo dục đó chỉ là những kẻ mị dân, bán nước, giết cả một thế hệ. Kẻ có học mà cứ mong làm thầy thiên hạ thì càng u mê tăm tối. Suốt cuộc đời mài đũng quần trên ghế nhà trường, chỉ cần học được ý nghĩa của điểm zêrô cho chính bàn tay mình làm ra là ta có thể tốt nghiệp. Trái lại, lắm kẻ làm thầy sẽ sinh ra nhiều kẻ làm ma. Câu nói đơn giản ấy phải chăng đã chứa đựng cả cái lẽ huyền vi nhân thế.

Suy cùng, thế gian này có tan thành mây khói, vũ trụ có nhảy vào hư vô, kẻ học sĩ vẫn tìm tòi, trau dồi cái cái học của mình, làm cho kiến thức từ trong lòng mình phát tiết anh hoa, mở phơi chân lý, thì lúc đó cái học mới thực sự có giá trị. Trái lại, học để thành danh, học để kiếm tiền, học để làm thầy dạy, và tệ hơn nữa học để thi, học lấy lòng chính phủ, học để giúp đời, học để cho cái đầu nó to… đều là cái học rởm đời, dối trá. Nhân danh bất cứ cái gì, cho dầu là lý tưởng tốt đẹp cứu nhân độ thế, để tom góp, thâu thập cho chính mình, đều là không chính danh, đều trái với lẽ đạo… Hơn nữa, một nền giáo dục chỉ tập trung vào bộ óc thì chỉ làm cho con người hư hỏng và điên khùng, bởi bộ óc không phải là trung tâm con người, bộ óc sẽ không có nếu không được cuống rốn nối với lòng mẹ cung cấp năng lượng. Cho nên, một nền giáo dục đúng nghĩa là một nền giáo dục tập trung vào việc phát triển trung tâm năng lượng của đời sống con người, tức là cái rốn, bởi từ chỗ này, con người mới phát tiết mở phơi hoa trái của đời sống từ suối nguồn vô tận mà không bao giờ cạn. /

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

CHỬI

Chuyện phiếm của Gã Siêu
Cách đây không lâu, một anh bạn từ bên Mỹ, chẳng biết sưu tầm được ở đâu, đã gửi cho gã một mẩu chuyện, đọc xong gã chẳng biết nên cười hay nên khóc. Mẩu chuyện ấy như thế này :

Lần đầu tiên mới tới Hà Nội, tôi không khỏi bỡ ngỡ khi tìm nhà của một người bạn, hiện làm trưởng một khu phố văn hóa.

Thấy có mấy đứa trẻ đang nô đùa ngoài đầu ngõ, tôi hỏi :

- Này các cháu, các cháu có biết nhà ông trưởng khu phố văn hóa này ở đâu hay không ?

Một đứa bé trai, khoảng trên dưới mười tuổi, ngước nhìn tôi bằng ánh mắt xấc láo và ranh mãnh, rồi đáp gọn lỏn :

- Biết nhưng…đéo chỉ.

Tôi lắc đầu, tiếp tục đi sâu vào con hẻm văn hóa. Gặp một thanh niên, tôi liền hỏi:

- Anh ơi, anh có biết nhà ông trưởng khu phố văn hóa này ở chỗ nào hay không?

Gã trẻ tuổi chẳng thèm nhòm ngó gì đến tôi và trả lời cộc lốc :

- Đéo biết.

Miết rồi cũng tìm thấy nhà ông trưởng khu phố văn hóa. Khi gặp ông, tôi kể lại chuyện này cho ông ta nghe với lời than thở :

- Anh ạ, các bậc cha mẹ ở đây không dạy dỗ con em hay sao mà để chúng nó ăn nói với những người khách lạ một cách thô bỉ và tục tĩu đến thế hả anh ?

Chẳng cần suy nghĩ, ông trưởng khu phố văn hóa đã thuận miệng trả lời tôi ngay:

- Có dạy đấy chứ, nhưng chúng nó…đéo nghe.

Lúc ấy người con gái của ông bạn tôi, hiện là một cô giáo dạy môn văn, vừa từ nhà trường trở về và tôi liền đem câu chuyện ấy ra mà kể.

Thay vì trả lời trực tiếp cho tôi, cô giáo xin phép thuật lại một sự việc như sau :

Hôm ấy, cháu giảng bài văn, có đoạn trình bày thành tích anh hùng và dũng cảm của nhân dân ta đã đánh gục giặc Tây, đã đánh nhào giặc Mỹ…Cuối cùng, cháu kêu một em trai lớn nhất lớp và bảo :

- Em hãy định nghĩa xem hai chữ “dũng cảm là gì ?”

Nó đứng lên, suy nghĩ một lúc rồi đáp gọn lỏn :

- Thưa cô, nghĩa là…đéo sợ ạ.

Sau đó, trong cuộc tiếp xúc với ông bộ trưởng giáo dục và đào tạo, cháu liền đem câu chuyện thằng bé học trò đã cắt nghĩa hai chữ “dũng cảm” là…”đéo sợ” cho ông ta nghe.

Nghe xong, ông bộ trưởng tỏ vẻ đăm chiêu, ra điều suy nghĩ lung lắm. Cuối cùng, ông nghiêm nghị nhìn tôi, rồi gật gù như một triết gia uyên bác vừa mới khám phá ra một chân lý cao siêu, ông ta chậm rãi đáp :

- Ừ, nó cắt nghĩa như thế thì cũng…đéo sai.

Nghe vậy, tôi chua chát nghĩ thầm trong bụng rằng :

- Giáo dục và đào tạo theo kiểu này thì đất nước mình…đéo khá lên được.

Gã nghĩ rằng mẩu chuyện trên đây chỉ là một giai thoại được “phệu ra” với một chủ đích…châm chích chọc nào đó mà thôi. Nhưng câu chuyện dưới đây lại là một câu chuyện có thật một chăm phần chăm, do một cha già khả kính đã kể cho gã nghe.

Vào buổi sáng ngày lễ Giáng sinh, cha già đạp xe từ nhà thờ xứ tới nhà thờ họ lẻ để ban lễ vào lúc tám giờ. Cũng trong khoảng thời gian ấy, có hai vợ chồng nhà kia chẳng hiểu lục đục với nhau vì lý do gì, đã chửi bới nhau một cách thậm tệ.

Thế nhưng, đang lúc hăng say dọn cho nhau xơi những thứ cao lương mỹ vị, chị vợ nhác thấy bóng cha già sắp đi qua bèn đề nghị…đình chiến. Chị nói :

- Thôi, không cãi nhau nữa, cha đấy.

Anh chồng còn đang hậm hực và tức tối, từ trong nhà chõ mõm ra ngoài ngõ và quát lớn:

- Cha thì ông cũng…đéo sợ.

Ngay lúc đó, vị cha già khả kính của gã đạp xe ngang qua và đã nghe thấy “nguyên văn” câu nói ấy.

Như vậy, chẳng phải chỉ có người Hà Nội mới chửi, mà người Saigon cũng chửi. Chẳng phải chỉ có người miền Bắc mới chửi, mà người miền Nam cũng chửi. Chẳng phải chỉ có đờn ông mới chửi, mà đờn bà cũng chửi. Ngôn ngữ chửi là ngôn ngữ chung của mọi người, ở mọi nơi và trong mọi lúc, từ đông sang tây cũng như từ cổ chí kim.

Và gần đây, gã thấy hiện tượng này xem ra đã bùng nổ mãnh liệt và liên tục phát triển nơi giới…nữ sinh. Cứ nhìn những cặp môi ngây thơ và xinh đẹp ấy phát ngôn một cách bừa bãi, tuôn ra rông rổng những lời chửi bới cộc cằn. Chẳng khác gì các bà hàng cá, hàng tôm, hàng thịt… Dường như đối với các em mới nhớn này phải biết chửi mới là dân chơi thứ thiệc, chính hiệu con nai vàng ngơ ngác.

Tình cờ đi qua một đám nữ sinh đang chu mỏ lại bình loạn về lão nọ, lão kia. Nhưng những lão ấy là ai thế ? Gã xin thưa những lão ấy có khi là cha mẹ của họ, có khi là thầy dạy của họ và cũng có khi là…bồ bịch của họ nữa.

Nghe được những lời bình loạn này, hẳn nhiều người sẽ phải sởn gai ốc, nổi da gà và phát sốt phát rét lên ấy chứ. Nếu có sống lại, Đức Khổng Tử cũng phải thở dài thườn thượt, rồi sau đó lăn đùng ra mà chết, miệng vẫn còn nói những lời sau cùng như muốn cảnh báo :

- Hỉ ôi! Hỉ ôi! Hậu sinh khả…ố. Tứ đức công dung ngôn hạnh của ta biến sạch đằng nào cả rồi ?

Như trên gã đã xác quyết bằng cả hai tay lẫn hai chân rằng :

- Ngôn ngữ chửi là ngôn ngữ chung của mọi người ở mọi nơi và trong mọi lúc.

Thực vậy, đã là người thì ai cũng có tình cảm. Và theo sự phân tích của người xưa, thì có bảy thứ tình cảm chi phối toàn bộ đời sống con người và được gọi là thất tình.

Vì vậy, gã xin cả tiếng lại dài hơi thanh minh thanh nga rằng : thất tình ở đây chẳng phải là mất đi tình yêu để rồi phát buồn phát sầu mà đi lang thang như người cõi trên. Trái lại, thất tình là bảy thứ tình cảm chất chứa trong lòng con người, đại khái như sau :

Thứ nhất hỉ là mừng.

Thứ hai nộ là giận.

Thứ ba ai là buồn.

Thứ tư cụ là sợ.

Thứ năm ái là yêu.

Thứ sáu ố là ghét.

Thứ bảy dục là muốn.

Kinh nghiệm cho thấy khi cái sự “nộ” tức là cái sự giận nổi lên đùng đùng, nó sẽ ám vào lục phủ ngũ tạng khiến cho đương sự như bị tẩu hỏa nhập ma, mặt đỏ tía tai và thế nào miệng cũng phát ra những lời chửi bới độc địa.

Vậy thế nào là chửi ?

Theo gã nghĩ chửi là biểu lộ sự nóng giận của mình bằng những lời lẽ thô lỗ, xúc phạm tới ông bà cha mẹ người ta, gán cho người ta những tên xấu xa của súc vật, hay cho người ta ăn những của lạ…Như vậy, sự chửi bới thường đi đôi với những lời nói tục tĩu.

Gã không phải là một nhà ngôn ngữ học, nhưng xem ra cách chửi của dân An-nam-ta vừa trầm lại vừa bổng, vừa đậm đà lại vừa ý vị, ăn đứt những dân tộc khác trên trái đất này.

Nếu coi việc chửi bới là như một chứng bệnh, thì gã có thể phân chia thành hai loại.

Loại thứ nhất là chửi mãn tính.

Chửi mãn tính là thứ chửi thường xuyên. Người mắc phải chứng bệnh này, hễ mở mồm ra là phải chửi. Họ chửi một cách tự nhiên. Họ chửi một cách vô tư, không tội vạ chi sốt. Nếu không chửi thì xem ra họ sẽ bị nhạt miệng hay bị ngứa ngáy khó chịu.

Bất cứ câu nói nào của họ cũng phải được đệm theo một thứ tiếng lạ, như tiếng Đức hoặc tiếng Congo... Tất cả tạo thành một thứ hợp âm cho ngôn từ của họ được tròn trịa, được hài hòa và cân đối.

Hồi còn bé sống trong nội trú, tên nào chửi tục mà bị thầy giám thị vớ được, sẽ bị trừ điểm kỷ luật và chiều thứ năm, thay vì được đi “bát phố”, thì sẽ phải ở nhà để làm công tác. Vì thế, những tên “ghiền” chửi tục, đã bịa ra những từ nhẹ nhàng và thanh tao hơn để mà chửi, cho dù bản chất vẫn là thô tục.

Chẳng hạn như từ “điếu” :

- Ông điếu sợ…

Chẳng hạn như từ “bè mẹ” :

- Bè mẹ nó chứ, ông đánh cho vỡ mỏ ra bây giờ.

Thanh thử, đám trẻ cứ thoải mái qua mặt thầy giám thị cái vù, mà chẳng hề hấn chi.

Gã có một anh bạn mắc phải chứng bệnh này một cách “thâm niên quân vụ”. Là miền người Bắc, nhưng vì sống lâu năm với đám học trò nhỏ người miền Nam, nên tiếng đệm của anh ta cũng bị pha trộn.

Hầu như lúc nào trên môi miệng anh ta cũng vang lên điệp khúc “đủ mẻ”. Vì thế, gã đã phong cho anh ta cái hỗn danh là “ông thầy Đủ Mẻ”.

Ngày kia, anh ta đang lái xe phom phom đi trên đường phố, nhưng có lẽ vì lơ đãng hay sao ấy, anh ta đã va quẹt vào chiếc xe của một cô gái. Thế là nhanh như chớp, anh ta xuống xe, khoa chân múa tay mà chửi :

- Đủ mẻ, lái thế mà coi được à. Bộ đui bộ mù hay sao ?

Tội nghiệp cho cô gái, hai mắt rưng rưng như muốn khóc, lên tiếng năn nỉ ỉ ôi với anh ta:

- Thôi mà chú. Tội nghiệp cháu. Chú đừng chửi nữa. Cháu sợ lắm. Hết bao nhiêu cháu xin đền ạ.

Về tới nhà, gã bèn hỏi anh ta :

- Sao lúc đó ông hung hăng con bọ xít đến thế ?

Anh ta điềm nhiên trả lời :

- Đủ mẻ nó chứ, hễ đụng xe là phải chửi liền tù tì. Bắn chậm thì chết thế nào, thì chửi chậm cũng chết như vậy. Đó là quy luật của muôn đời, mày phải nhớ cho kỹ, rồi đem ra mà áp dụng mỗi khi…hữu sự nghe con.

Đặc biệt nhất là khi tâm hồn anh ta sảng khoái và ngồi vào bàn nhậu. Anh ta đã từng phát biểu thật hách xì xằng :

- Đã không “dzô”thì thôi, “dzô” thì là một chăm phầm chăm. Đủ mẻ thế mới đã!

Thậm chí anh ta còn cao hứng nghêu ngao hát :

- Đâu có tình yêu thương, ở đó uống rượu thật nhiều.

Đâu có tình bác ái, ở đó uống rượu không say.

Đâu ý hiệp tâm đầu, ở đó uống chăm phần chăm.

Còn rất nhiều những sự việc hay ho hấp dẫn về “ông thầy Đủ Mẻ” này, nhưng gã xin khép lại ở đây để tiếp tục bàn về chứng bệnh chửi.

Loại thứ hai là chửi cấp tính.

Chửi cấp tính là thứ chửi đột xuất, khi tự ái bị chạm mạch và sự nóng giận bốc lên đầu, khiến người ta chửi thành từng câu hay thành từng bài với ý đồ thâm hiểm nhằm hạ nhục đối phương, làm cho đối phương phải te tua nát nước.

Tùy theo tính tình của từng người mà cơn bệnh cấp tính này mang những âm độ khác nhau.

Trước hết, đối với với những kẻ nhát gan, không đủ can đảm biểu lộ sự bực tức ra bên ngoài, bèn nuốt giận mà chửi lén hay chửi thầm.

Chửi lén là chửi sau lưng, là chửi lúc người ta vắng mặt. Họ giống như hội đồng nhà chuột. Căm thù trước sự dã man của mấy lão mèo, dòng họ nhà chuột đã họp hội đồng và trong cuộc đại hội này, từ tên chuột cống đến tên chuột nhắt, tất cả đều to mồm chửi bới mấy lão mèo. Thế nhưng khi mấy lão mèo xuất hiện, thì họ hàng nhà chuột đều mạnh ai nấy trốn, bỏ của chạy lấy người. Giá như có một tí trí khôn để suy nghĩ, thì không thiếu những tên chuột khom lưng quì gối mà nịnh bợ mấy lão mèo.

Còn chửi thầm là chửi âm ỉ trong cõi lòng của mình mà không phát thành tiếng thành lời, bản lãnh lắm thì cũng chỉ lẩm bẩm nơi cửa miệng mà thôi. Nhiều khi cơn giận làm cho thâm gan tím ruột, mà bản mặt thì vẫn cứ phải tươi cười, cho dù cái cười có quay quắt và héo hắt.

Tiếp đến, đối với những kẻ bạo phổi thì sự bực tức được phát tiết ra bên ngoài, nhất là nơi miệng lưỡi bằng những lời lẽ cộc cằn và thô lỗ. Đồng thời, tùy theo đối tượng được nhắm tới, gã có thể chia loại chửi này thành hai kiểu.

Kiểu thứ nhất là chửi trực diện, hay nói theo ngôn ngữ tin học, thì đó là chửi trực tuyến, nghĩa là chửi thẳng vào mặt đối phương, chẳng cần phải nể nang, chẳng cần phải rào trước đón sau. Những “lời hay và ý đẹp” cũng như những món “cao lương mỹ vị” cứ tuôn ra ào ào, khiến cho đối phương bị tối tăm mặt mũi chẳng biết đâu mà đỡ. Nếu không có nội lực thâm sâu, thì chắc chắn sẽ bị…sụm bà chè mất thôi. Kiểu chửi này được bàn dân thiên hạ gọi chửi tưới hột sen, chửi như tát nước.

Kiểu thứ hai là chửi gián tiếp. Ta cứ gào to giữa làng và giữa xóm, giữa đường và giữa phố, để cho ai có tật thì phải giật mình. Ta cứ rút dây cho rừng phải động. Ta cứ nổ sấm bên đông cho động tới bên tây. Ta cứ nói đấy để cho đây phải chạnh lòng. Vì thế, kiểu chửi này được bàn dân thiên hạ gọi là chửi đổng, chửi khống, chửi lông bông, chửi xiên chửi xéo…

Một đứa bé học trò nghịch ngợm trong lớp, bị ông thầy đánh cho ba roi. Trong khi ông thầy quất cái roi xuống, đứa bé theo phản xạ tự nhiên bèn đưa tay ra đỡ. Chẳng may cái roi dụng phải cái móng tay đứa bé và làm cho nó chảy máu.

Đứa bé nước mắt lưng tròng chạy về nhà kể lể và tả oán với bố nó. Ông bố cáu tiết bèn làm một màn chửi đổng. Ông ta vừa chạy dọc theo con đường duy nhất trong làng, vừa quát tháo ầm ĩ :

- Tiên sư bố nó. Nó không đẻ, nó không đau, nó dám đánh con người ta như thế kia à. Tiên sư bố nó…Tiên sư bố nó…

Gã có thể quả quyết được rằng việc chửi đổng hay chửi xiên chửi xéo nơi một số quí bà quí cô đã đạt tới trình độ nghệ thuật với chất lượng cao, nếu không muốn nói là tuyệt vời và trên cả tuyệt vời nữa.

Họ chửi có cung có điệu và có trầm có bổng. Họ chửi thành câu thành cú và thành bài thành bổn. Lời họ chửi chẳng khác chi một bài thơ, có bằng có trắc và có vần có vế. Tiếng họ chửi khi thì dồn dập như thác lũ, khi thì nỉ non ai oán như tiếng người vợ nức nở tiễn đưa người chồng vào nơi chín suối.

Trời bắt đầu nhá nhem. Bà hàng xóm ném một nắm thóc xuống khoảng sân đất và lên tiếng gọi :

- Chắt, chắt, chắt…

Bầy gà lục tục kéo nhau về, mổ những hạt thóc cuối cùng trong ngày trước khi lên chuồng.

Bà hàng xóm đếm đi đếm lại mà sao vẫn thiếu một anh gà trống choai. Rồi bà đếm lại đếm đi mà sao vẫn cứ thiếu. Và thế là bà ra đứng trước ngõ, mắt long lên còng cọc, cất cao giọng the thé mà chửi một bài cả thể.

Nhân vật được bà ưu ái nhắm tới thuộc vào hàng vô ngã, “impersonnel”, nên lời chửi của bà cũng vu vơ và bâng quơ. Tuy vu vơ và bâng quơ, nhưng lại nhằm trực tiếp tới một thằng cha nào đó đã cả gan dám ăn cắp gà của bà.

Tiếng chửi của bà nhờ gió chuyển tới các gia đình trong khu xóm :

- Cha tiên sư ông cụ,

ông kỵ bảy đời nhà nó.

Nó chẳng bỏ công nuôi,

mà lại muốn ăn không của bà.

Thì đây bà cho nó ăn….

Tới chỗ này thì xin cho gã tự đục bỏ và cắt xén, không dám viết thêm nữa vì sợ sẽ làm cho kẻ thanh sạch mất lòng khiết tịnh. Chỉ biết rằng anh gà trống choai của bà hàng xóm sáng hôm sau đã xuất hiện thật sớm trên khoảng sân đất. Anh ta vỗ cánh đùm đụp, rồi cất giọng ồ ề mà gáy. Có lẽ đêm hôm qua anh ta đã đi tán tỉnh, hay đi mừng sinh nhật của một chị gà mái tơ nào đó chăng ?

Về việc chửi bới cũng như về nhiều việc khác nữa, đôi khi đã xảy ra một nghịch lý đáng buồn trong phạm vi gia đình.

Thực vậy, cha mẹ nào cũng muốn dạy bảo con cái mình phải nghiêm túc trong lời nói, tránh đi những lời nói nóng nảy, cộc cằn và tục tĩu. Thế nhưng, chính những bậc làm cha làm mẹ ấy lại luôn có những lời nói nóng nảy, cộc cằn và tục tĩu ấy trên môi trên miệng của mình.

Một ông bố đã căn dặn con mình như sau :

- Mày nhớ nhé, không được nói tục nghe con. Mày mà nói tục, ông cha sở nghe thấy, thì ông ấy sẽ xẻo lưỡi mày đấy. Đủ mẻ mày đã nghe rõ chưa ?

Cũng thế, một bà mẹ luôn nhắc nhở đứa con gái cưng của mình phải thành thật. Thế nhưng, khi có người đến đòi nợ, bà đã trốn kỹ dưới bếp và sai đứa con gái ra nói người khách bất đắc dĩ ấy rằng bà đi vắng.

Đứa con gái mở cổng và rất ngây thơ nói với người khách :

- Thưa bác, má cháu bảo cháu ra nói với bác rằng má cháu không có nhà.

Cũng thế, buổi sáng nghe chuông nhà thờ vang lên, ông bố cuộn mình trong chăn, vội lên tiếng giục giã con cái :

- Nào, thức dậy, đi đái, lấy nước, súc miệng, đánh răng, rửa mặt, đi lễ.

Trong khi con cái uể oải thực thi những mệnh lệnh kể trên, thì ông bố vẫn cứ nằm ngủ nướng…nướng đến độ cháy khê cháy khét.

Thảo nào, khi người ta hỏi một cậu bé rằng :

- Em muốn gì ?

Cậu bé không ngần ngại trả lời :

- Em muốn làm người lớn.

Người ta hỏi tiếp :

- Tại sao lại thế ?

Cậu bé nhoẻn một nụ cười đầy bí mật và nói :

- Để được chửi tục, nói dối và nằm ngủ nướng mà không bị la mắng!

Cha mẹ nói một đàng nhưng lại làm quàng một nẻo, thành thử trống đánh xuôi kèn thổi ngược, những lời dạy bảo của họ không đủ sức thuyết phục con cái.

Phương thế giáo dục đạt hậu quả cao nhất, đó chính là gương sáng của cha mẹ, bởi vì chỉ gương sáng của cha mẹ mới là một bài giảng hùng hồn hấp dẫn được con cái mà thôi, chả thế mà người xưa đã bảo :

- Lời nói như gió lung lay,

Việc làm như tay lôi kéo.

Để kết luận, gã nhớ lại lời người xưa đã khuyên :

- Hãy ngoáy lưỡi bảy lần trước khi nói.

Có nghĩa là phải thận trọng đắn đo trước khi nói, để tránh đi những lời chửi bới và tục tĩu, trái lại hãy có những lời ôn tồn và thành thực để tạo được một bàu khí hòa thuận cũng như bắc được một nhịp cầu cảm thông, vì :

- Lời nói chẳng mất tiền mua,

Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau.

Hơn thế nữa, kinh nghiệm cũng cho thấy :

- Ngậm máu phun người, trước dơ miệng mình.

Hay như người Pháp cũng đã bảo :

- Khi chửi bới thì chính chúng ta lại là người đầu tiên phải nghe những lời tục tĩu ấy.

Hơn thế nữa, lòng đầy thì mới tràn ra ngoài. Căn cứ vào lời nói mà thiên hạ có thể đánh giá được con người chúng ta. Nếu lời nói của chúng ta cộc cằn và thô lỗ, thì con người chúng ta cũng cộc cằn và thô lỗ như vậy. Trái lại :

- Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,

Người khôn tiếng nói dịu dàng dễ nghe.

Gã Siêu

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Lý luận kiểu Gà Què
Tác giả: Gà Què


Cách đây hơn sáu chục năm về trước, sau một trận đại chiến thì ra đời tổ chức Liên Hiệp Quốc,gồm nhiều quốc gia cùng ngồi lại với nhau trong một tổ chức, nhằm mục đích điều phối hòa bình, khắc phục kinh tế, giải quyết hậu quả chiến tranh. Hội viên của LHQ là những quốc gia “yêu chuộng hòa bình”. Đồng thời, chấp nhận “ bổn phận”trong hiến chương LHQ.Qua hiến chương nầy LHQ bắt buộc các quốc gia thành viên phải khuyến khích sự tôn trọng toàn diện, tuân thủ về nhân quyền. Năm 1948 đã có một tuyên bố chung về Nhân quyền, nhằm để các nước thành viên phải tuân thủ cái quyền con người nầy, không phân biệt lãnh thổ,màu da,giới tính, thành phần xã hội, cả về chuyện trình độ học hành.Tuyên ngôn nhân quyền gồm có 30 điều, qui định những giá trị phổ quát về quyền con người cho tất cả ai “ diễm phúc hay bất hạnh “ sinh ra làm con người trên cõi đời nầy.Và, điều 30 đã ghi cụ thể như sau:

Không một điều nào trong Bản Tuyên Ngôn này cho phép một nước, một nhóm hay một cá nhân nào được quyền viện dẫn bất cứ lý do gì để có những việc làm hay hành động nhằm hủy diệt nhân quyền và tự do được thừa nhận trong bản Tuyên Ngôn này.

Người viết phải dài dòng văn tự tới như vậy để nhắc lại những gì mà nhiều người biết và có hẳn sự giám sát của LHQ về Quyền con người thông qua một cơ quan trực thuộc, có tên tiếng Anh là United Nations Human Rights Council .Diễn Nôm là Hội đồng Nhân quyền LHQ.

Có lẽ, những người soạn thảo ra Tuyên ngôn nầy rất uyên bác nên 60 năm sau, xã hội loài người tiến tới tốc độ phi mã. Vậy mà khi đọc lên vẫn không hề có thể sửa chữa nó. Nhưng rất tiếc, sự uyên bác ấy lại” bị” sửa chữa lệch lạc bằng những “ thông minh”phiến diện nhằm che đậy hành vi chống lại nó. Một giá trị phổ quát của cả loài người.

Không ít những quốc gia tìm cách tạo ra một xã hội mỗi ngày một tiềm cận với giá trị nầy. Trái lại có cũng nhiều nước khác , vì mục đích ích kỷ của một nhóm, một thể chế chính trị, đã đi ngược lại mục tiêu trên, dù họ luôn vỗ ngực rằng mình” tôn trọng” theo nhiều lý do viện dẫn nghe không suông sẽ lắm. Chính họ, nhà cầm quyền đã tốn cơm chầu chực xin vào LHQ,ký cam kết tôn trọng tuyên ngôn Nhân quyền.

Thật đáng tiếc, những quốc gia đang sống trong môi trường” phong kiến” là những nước còn theo thể chế Quân chủ như Vương quốc Anh, Vương quốc Thái lan, Nhật bản, lại là nước tiến bộ về sự tôn trọng quyền con người.Trong khi đó, những phần lãnh thổ thuộc cái chủ nghĩa gọi là “ Chủ nghĩa xã hội” thì đi ngược với giá trị phổ quát. Thì ra, ngôn ngữ mỹ miều không phải là thực tế đẹp đẽ, đôi khi sự mỹ miều ấy che đậy cho sự xấu xa không dám bóc trần.Việt nam là một quốc gia như vậy.

Tình hình vi phạm các quyền tự do tuy có chút đỉnh cải thiện so với những năm trước đây, khi chưa mở cửa. Nhưng so với những nước đáng lẽ thua kém Việt nam nhiều mặt như Campuchia( cũng là một vương quốc) thì lĩnh vực nầy xem chừng VN còn xa xôi lắm mới bắt nhịp xứ Chùa Tháp.Chỉ đơn cử chuyện đi bầu chọn người làm việc cho dân, cho nước thôi, thì nước ta vẫn còn kém lắm.Chuyện bầu bán chỉ còn là “bán” chứ chẳng thấy “bầu”.

Nói chuyện Nhân quyền ở Việt nam, thì cả thế giới nầy chẳng còn ai lạ gì. Chỉ lạ chăng là ngôn từ các chức sắc, cả nguyên thủ quốc gia của Việt nam nói ra nghe mới lạ. những câu nói đại loại như Việt nam có nhân quyền theo kiểu riêng phù hợp với phong tục tập quán của mỗi nước.Thì ra là vậy. Dân Việt nam có những tập quán riêng không giống, không phải của con người, nên bản tuyên ngôn ấy không thể sử dụng với người Việt nam. Phải chăng cả dân tộc Việt là một bầy cừu? Theo cách nói của các vị chức sắc mỗi khi ra nước ngoài hay tiếp xúc với giới ngoại giao có đề cập tới Nhân quyền.

Trước hết, đứng về phía lòng tự hào dân tộc, thì những chức sắc ấy xúc phạm nghiêm trọng tới những người đã truyền tử lưu tôn lãnh thổ nầy,đã đóng thuế trả lương cho họ, cung cấp cho họ mọi thứ hơn hẳn người thường cả về vật chất lẫn địa vị xã hội. Để rồi được họ nói cho nghe rằng mình không tương xứng thụ hưởng những giá trị mà những kẻ đi bằng hai chân ở một xứ sở khác được hưởng. Cách nói ấy chẳng khác nào hình thể địa lý,văn hóa xã hội , phong tục tập quán chưa cho phép người Việt làm con người.Xét cho cùng thì chức sắc nào cũng là cùng da vàng mũi tẹt, sự phân công xã hội, dù là cưỡng đoạt tiếm quyền để ăn trên ngồi trốc thì cũng lãnh đạo một cộng đồng dân cư. Nếu không công nhận họ là con người thì kẻ ấy cũng không phải con người nốt. Thật xót xa thay tiền nhân tốn xương máu bao đời chỉ để tôn vinh dòng giống Lạc Hồng, thì nay chính con cháu thụ hửơng không làm rạng rỡ hơn lên, lại cho thấp xuống dưới cái kiếp người. Nên coi được sinh ra đời là một diễm phúc hay bất hạnh?

Xét về phương diện quan hệ xã hội, đồng thời cũng là lòng tự trọng cá nhân của những vị ấy, thì có nên hãnh diện rằng mình là nguyên thủ quốc gia, dẫn dắt một dân tộc có 4000 năm văn hiến, đã triền miên chinh chiến chỉ với một mục đích là đôc lập dân tộc?Để đươc đứng dậy làm người thực sự, thoát ách nô lệ, bị trị bỡi thực dân xâm lược?Chẳng lẽ bao nhiêu xương máu thành sông, thành núi giữ lại cái rừng rú hôm nay để các vị trở thành con “ dê đực” trong bầy dê khi các vị không chấp nhận dân tộc nầy có quyền hưởng giá trị phổ quát của con người?Nói toạc ra như vậy để thấy rằng không cho cộng đồng là con người thì kẻ đúng đầu chỉ là con mạnh trong bầy đàn không hơn không kém.

Thôi thì chuyện ấy xem như chuyện “ con dại cái mang”.

Thế nhưng, đã nói ra đây thì nói cho rốt ráo, chuyện trong nhà đóng của bảo nhau, cha mẹ có nói oan, quan có nói hiếp cũng là cung cách Việt từ thời vua chúa còn lại.Đành rằng, đại bộ phận người Việt nam, sống trong một môi trường bị che đậy thông tin,sự hiểu biết ngoài thế giới bao la ấy nó lạ lẫm như cá nhân Gà Què tôi cả đời ăn quẩn cối xay. Thế còn những kẻ khác luôn tự hào cho những đột phá nhân loại? Phải kể người đương nhiệm Tổng thư ký LHQ là ông Ban Ki Moon, rồi nguyên thủ của một “ siêu cường “ là Hoa kỳ như ông Bush? Các vị đang nghĩ gì khi cùng ngồi, tiếp xúc và trò chuyện với những kẻ mà “ phong tục tập quán” không cho làm người ấy? Chỉ có con chó mới nghe được tiếng sủa của chủng loài như nó, con dế mới hiểu được tiếng gáy của anh em nó. Các vị còn chấp nhận sự hiện hữu, chuyện trò với những kẻ sổ toẹt cái giá trị mà quí vị dày công thực hiện, cả tốn công, tốn lời, tốn của rồi cũng hạ mình xuống dưới hạng con người thì kể cũng là phi lý thật.

Nói tới đây, có lẽ nên dừng, để cho rộng đường dư luận. Để cho những kẻ tự hào mình là người đứng đầu của một tổ chức coi sóc toàn cầu,những nguyên thủ “ bút sa gà chết”nhìn lại mình đang tự hào vì cái gì? Khi chính các vị không làm tròn bổn phận của mình, là trên hành tinh nầy, sáu chục năm về trước từng có một bản văn uyên bác , bản Tuyên ngôn Nhân quyền. Để rồi sáu chục năm sau, bao nhiêu nước chảy qua cầu, các vị còn ngồi cãi chày cãi cối rằng tôi, rằng anh, rằng nó có phải là con người hay chăng?Có áp dụng cho tôi, cho anh, cho nó được hay chăng?Suy cho cùng, làm thân con Gà Què, ăn quẩn cối xay, thui thúc trong chuồng xem ra còn hãnh diện chán. Vì đời một con gà dẫu có què cũng cung cấp cho nhân quần xã hội cân thịt.

Gà Què

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Qua Mỹ Không Dễ Lượm Tiền

Tác giả: Trần Đông Thành
Lúc còn ở quê nhà tôi nghèo không có bút mực nào viết ra để lột xác được cái nghèo cùng cực. Hay là nói nghèo rớt mồng tơi, nghèo không có quần xà lỏn bận, nghèo không có cháo mà ăn. Gần đúng như thế. Nghèo còn mắc nợ tứ giăng. Nay ở quận này, mai về ngoại, mốt về nội trú ẩn để tránh chủ đòi nợ. Hai chữ giải phóng nhắc tới là tội lạnh từ đầu xuống chân, quỵ hết đốt xương sống. Cái gọi là giải phóng lám cho ba tôi điên, má tôi nằm giường bệnh chết khô vì thiếu thuốc uống, xuyên tâm liên đúng là thứ thuốc "giải phóng" đưa mẹ tôi về với ông bà tổ tiên ở tuyền đài. Thằng em tôi tên Năm Tròn vừa đúng 18 tuổi, quân Cách mạng mượn nó qua Campuchia giúp nước láng giềng đánh Pon Pot. Cuối cùng họ trả về một cái xác không hồn của Năm Tròn với cái hòm gỗ đi kèm. Còn tôi, sống cuộc đời "Bụi" với "Bờ", hàng ngày lội dưới các gầm cầu, mặc quần áo bằng sìn non dơ bẩn và đen thui, lội ven sông Sài gòn-Chợ lớn lượm ve chai, lon nhôm hay bịt nylon do Mỹ về nước để lại cho tôi kiếm sống.

Như vậy cho tới khi tôi đi "hôi" theo xuồng lớn 53 người qua Mỹ. Cuộc đời trải qua nhiều hành trình truân chuyên sau đây.

Còn ở quê nhà nghe người ta đồn xứ Mỹ thần tiên lắm. Không làm cũng có ăn. Tiền rơi rớt ngoài đường không ai lượm. Tôi ao ước qua Mỹ sống. Qua Mỹ rồi mới thấy điên đầu bông-so của tôi là một gia đình người Mỹ.

Nhờ đó tôi biết chữ Mỹ đầu tiên A-mê-ri-keng. Sướng chưa?

Chưa đâu, còn sướng nhiều nữa!.

Ba ngày sau ở nhà ông bà bông-so, ông già Mỹ giao cho tôi một đàn bò 100 con, sáng ngày lùa nó ra cánh đồng ăn cỏ. Có như vậy tôi học được danh từ thứ hai "Cow boy", coi bò ở một bãi cỏ mênh mông như sa mạc. Oai chưa?

Trước 75 tôi có xem phim cow boy miền Tây, Marlon Brando mang súng sệ sệ, đội mũ lệch, choàng khăn cổ cỡi ngựa phi đường xa gió bay phất phới trông mà thèm. Tôi cũng là cao bồi nhưng bi giờ mời hiểu nghĩa "Thằng nhỏ chăn bò". Khám phá mỉa mai này cho tôi nhớ chuyện Bạch Mã Ôn, chú khỉ Tôn Hành Giả chăn ngựa, sau này biết được nghề thấp kém, hạ tiện đó mới xung thiên đại náo thiên cung!

Ở nhà này, cất trong một khu hoang vắng nằm dưới chân núi, tối ngày không thấy người qua lại, tôi chán nản tìm cách bỏ trốn. Lên Virginia năn nỉ một ông chủ người đồng hương cho làm công bưng chén bát đi rửa. Nghề dễ lắm?

Không tới trường mà tôi cũng biết thêm một từ ngữ tiếng Anh "waiter". Đó là bồi nhà hàng. Việc làm không dụng sức lao động nhiều. Dễ. Chỉ rửa chén dĩa thôi. Vừa rửa xong chồng chén dĩa này thì bồi đẩy một xe đầy vung chén dĩa dơ khác đến.

-Nè, product của anh đây!

Tôi cười giọng giữ niềm tin:

-Dạ! Tôi trong tình trạng ứng chiến đây.

Hắn bỏ tôi đi ra đàng trước lấy ó-đơ (Order). Còn một mình tôi đóng tuồng một mình với chồng chén dĩa dơ cao như núi. Trời ơi! Công việc rửa chén tuy nhẹ nhưng bắt tôi phải đứng ở chậu rửa chén suốt ngày. Nước văng tung tóe, ướt sũng cả áo quần. Mặt mày lem luốc như lọ nồi vì chưa quen nghề rửa chén nên cặn bã đồ ăn búng lên cùng mặt. Đêm đêm về nhà mình mẩy ướt như chuột lột. Phần thì mùa đông lạnh lẽo hai hàm răng cắn chặt, đánh nhau lập cập như ăn hột dưa.

Làm ở đó một tuần tôi bị nhiễm lạnh ho sù sụ. Tôi phải nghỉ tìm một việc khác.

Theo một người bạn về California, xin hái ớt. Trước khi nhập việc, bạn dặn:

-Mua cái nón vải rộng vành để đội che nắng như nón bành của Mễ vậy.

Tôi hơi ngại ngùng tỏ bày cùng bạn:

-Anh... anh cho tôi mượn 3$ mua cái nón mai một đi làm tôi sẽ trả lại.

-Trong mình anh không có tới 5$?

-Dạ, không.

Thật tình tôi không có một đồng ăn cơm nói chi tới lấy tiền mua nón. Ở Virginia se phòng hết 50$, ăn uống xe cộ tròm trèm 150$. Lãnh tháng lương 400$, dành tiền đi xe bus Con Chó tới Ca-Li thì ráo hoảnh vét không còn một xu. Bây giờ se (Share) phòng làm tới tháng chờ lãnh lương trả.

Ông Mỹ nông trại bảo chúng tôi sắp hàng đôi tiến tới trước từng cập một. Gần 500 mạng. Mỗi thợ như tôi được phát cho một cái thùng carton cứng. Hái ớt đầy thùng đem lại giao cho mê-na-giơ (Manager) cấp cho một thẻ bài để chiều tính tiền. Một rừng cây ớt có chừng ngàn mẫu. Đứng ở đầu này nhìn ra xa, thật xa, cũng không ra khỏi khu vườn trồng ớt. Cây ớt tốt xanh um cao tới nửa đầu gối và trồng lớp lang thành nhiều dãy. Giữa là đường đi, người thợ hái ớt phải lết từ bụi này đến bụi ớt nọ. Hai tay "Bóc" Bỏ", "Bóc" Bỏ" liền tù tì, lết tới như bò hỏa lực. Bóc lia lịa như cánh quạt máy quay hết số. Làm việc không nghỉ, có khi còn quên ăn cơm trưa. Có như thế mà tới chiều chỉ được 40 đến 50 thùng tối đa.. Mỗi thùng 50 cent. Vị chi kiếm được từ 2 đến 3$. Ê chề quá!

Tối về nhà sụm cả chân, đi nghiêng ngả như người chếnh choáng say rượu. Hai tay rã rời, giơ lên không nỗi. Nhiều khi đành phải bỏ cữ ăn chiều ngủ thiếp và ngày mai đi xe nhờ phải thức sớm 5 giờ sáng.

Làm ở nông trường 5 tháng kiếm được chút ít tiền thì xin nghỉ Nhìn vào kiếng thấy mình ốm như con ma nhà họ hứa. Trái cổ lòi ra nhọn liễu. Mắt thụt vô như bóng ma quái tả trong chuyện Liêu trai chí dị. Hai tay dài thượt, ốm nhom ốm nhách như hai cành cây khô róc lá. Tóc dài rũ rượi và quăn quiu, vàng hai bên mé vì cháy nắng, tôi trông tôi, tôi còn thấy hãi hùng thay huống chi bạn bè nhìn tôi.

Nghỉ hái ớt theo nghề may kỹ nghệ.

Nghỉ việc rồi tôi mới coi lại cái quần jean, để lại cho tôi một kỷ niệm nhớ đời là hai bên đít bị mòn và rách sước, đã trổ màu trắng bệch vì hàng ngày lết với bò ở nông trường.

Hồi trước thời trai trẻ chỉ biết cầm súng chớ đâu có bao giờ lên bàn may. Theo chủ đi Los Angeless lãnh quần áo lố, họ cắt rồi mình chỉ việc theo đường mà may cho dính lại, khâu lại. Khỏe lắm! May kỹ nghệ mà!

Máy may kỹ nghệ vừa may vừa cắt tự động. Đi đường may không khéo, tôi đạp cục sắt electric chạy nhanh quá, nó chạy một đường quanh co xéo xẹo, làm cho cái quần may sẵn không còn hình dáng cái quần nữa mà là cái túi đựng mùa Ho-li-van! (Holloween)

Ông chủ la tôi quái quái như hồi trước Tiểu đoàn trưởng ồ ạt:

-Ông,..anh.. mày, mày may cái gì lạ vậy, phá phách thì có. Để bố làm ăn! Đừng vào đây phá phách con ơi!

-Dạ, tôi lỡ chân..

-Lỡ.. thì bỏ mẹ! Nồi cơm vợ con tôi ông đổ đi rồi! Mai cho mày nghỉ!

Tôi khúm núm van cầu:

-Ông chủ cho tôi đền phần hư đó chớ ông chủ đừng cho tôi nghỉ tội nghiệp. Tôi cần việc làm..

Nhà thầu quần áo may đứng chống nạnh sừng sộ:

-Cần, cần cái nỗi gì. Nghỉ!.

-Xin ông chủ thương tôi

Ông chủ nắm bàn tay thật chặt, bậm môi nhai răng trẹo trạo:

_ Tôi không phải Bồ Tát. Thương mày ai thương tao, hử?!

Về nằm nhà 3 tháng xin việc ở đâu cũng bị từ chối. Bồi bàn. Giao hàng furniture. Làm công lái xe lunch. Bán xăng. Dọn dẹp đồ phế thải. Đưa con nít đi học. Đánh máy ăn công.

Chắc phải có một nghề tương đối cần chuyên nghiệp, tôi ghi tên học nghề nail.

Thày Mỹ dạy nói tiếng Mỹ tôi nghe điếc tai. Trong lớp học 14 học viên duy có tôi là đàn ông. Vào trường khoác blouse như bác sĩ ngoài đời không bằng. Bác sĩ "neo" (Nail). Hách chưa? Có khách làm chân bê-đi-kia thì các bạn gái để cho tôi ưu tiên hành nghề. Làm thì làm thực tập mà. Tới màn mát-xa-rờ tụi Mỹ cái rên rỉ đê mê ngất ngưởng, các học viên gái cười làm tôi mắc cỡ không biết chun đường nào. Cái gì tới thì tới. Tôi phải mướn xe chở đi thi tới 4 lần mới đậu!

Đổ bằng manicure và pedicure. Hãnh diện chưa? Bằng gì cũng là bằng miễn là bằng cấp ở Mỹ là được rồi, hách lắm rồi! Các học viên gái tặng tôi có bằng làm "Nail" kiểu Holloween! Thây kệ!

Xin làm một tiệm nail có cả làm tóc. Trời ơi! Chúa ơi! Các bác sĩ nail tệ bạc thì thôi! Họ bắt khách loại walking in dành làm hết không chia tôi một móng. Cũng là "Bác sĩ" nail mà tôi thì ngáp lia lịa. Một hôm, một manicurist nhường tôi một bà già "Gở móng cũ đấp móng mới". Không quen làm, tôi hí hoáy cạy lấy móng trật vuột gần tiếng đồng hồ cũng chưa xong. Bà già Mỹ bực mình:

-You know how to take it off?

Không nghe được tiếng Mỹ tôi lắc đầu. Bà Mỹ mở mắt tròn xoe:

-Really you don't know?

Tôi cũng lắc đầu. Cô bạn cùng nghề phản đối:

-Phải nói biết nghề chứ! Anh nói vậy ai mà đến tiệm này làm nữa? Đói cả lũ bây giờ.

Tôi mắc cỡ vì dốt. Cắm cúi làm tiếp. Bỗng nhiên bà Mỹ đứng phắt dậy vung tay máu chảy ròng ròng.

Tôi điếng hồn nói đại tiếng Việt nam:

-Bà lại đây, lại đây tôi làm cho.

Bà Mỹ ngoải tay máu chày từng giọt có lẽ bà ta bị cắt móng tay phạm chảy máu nên nhảy sải như ngựa nhảy rào. Bà chủ hoảng kinh:

-Sorry! Sorry!

Mỹ già chửi thề:

-God damn!

Tôi nhìn theo bà chạy lại bàn xí xô xí xào "Police! Police! Bleeding!

Về vụ này tôi bị ra tòa và nghe lệnh phạt 80,000 đô trong khi trong túi tôi còn vỏn vẹn 6 đồng dollar.

Nay tôi thật sự chua chát cách kiếm tiền ở Mỹ. Khổ cực tôi làm đuợc, nhục nhã tôi chịu được, nhưng nghèo; xe không có, không tiền; không biết ai mượn đỡ, không đô (dollar); làm sao mướn nhà? Tất cả những câu hỏi đó dù lo sợ cũng không tránh khỏi, chỉ một câu trả lời là biết tếng Anh, yếu tố giải quyết được tất cả. Nhưng thử hỏi, muốn biết tiếng Anh thì đầu tư học vấn, còn tôi 50 tuổi rồi học trước quên sau thì làm sao học cho vô? Hơn nữa muốn học thì phải có tiền mua sách vở, mua credit; không tiền như tôi thì làm sao học hành? Một nước văn minh như nước Mỹ, thứ gì cũng cao sang tiên tiến nhưng chụp lấy nó thì thật khó vô cùng.

Không dễ lượm được tiền ở Mỹ.

Trần Đông Thành

Post Reply