Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Bs Nguyễn Thể Bình Trước Nhân Quyền Hạ Viện 14-5-2008

Như quý vị đã rõ, sau khi được gia nhập tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO) và trở thành hội viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ, Việt Nam đã không thực hiện lời hứa tôn trọng nhân quyền, và tiến tới một xã hội dân chủ và văn minh hơn. Thay vào đó, thế giới đã chứng kiến một số những vụ đàn áp thô bạo các nhà đối lập và các phong trào vận động dân chủ tại Việt Nam.
Thật bất hạnh khi chúng tôi phải tường trình trước quý vị hôm nay, vào đầu thế kỷ 21 rằng, Việt Nam vẫn còn bị cai trị bởi chế độ độc đảng, và không có phân quyền giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp. Vì Đảng Cộng Sản Việt Nam nắm trong tay quyền cai trị tuyệt đối nên không thể có cơ may cải tổ về các lãnh vực tư pháp, dân chủ, xã hội, hay bất cứ cách nào khác có thể bảo đảm cho người dân Việt Nam khỏi bị xâm phạm tới nhân quyền, và dân quyền.
Xin chia sẻ sau đây cùng quý vị những điều đáng quan tâm hơn cả về các vi phạm nhân quyền và thiếu dân chủ: Về tự do thông tin, phát biểu, và báo chí: Trước hết là Internet: Đảng Cộng Sản kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng internet bằng cách ngăn chặn hay lựa lọc hầu hết các mạng lưới chứa đựng nội dung nhạy cảm, hay những thông tin không có chiều hướng thuận lợi cho nhà cầm quyền. Thêm vào đó, những người dân muốn phát biểu ý kiến của mình trên internet qua các hình thức như thảo luận (chat rooms), nhật ký (blogs), hay điện thư (emails) đều bị phát hiện lý lịch và bị phiền hà.
Gần đây đã có những trường hợp người dân bị bắt giữ và cầm tù chỉ vì đã trình bầy quan điểm của mình trên internet. Đảng Cộng Sản buộc chủ nhân các quán cà phê internet phải hợp tác với chính quyền bằng cách lấy căn cước và địa chỉ điện thư, hay theo dõi những người xử dụng internet để báo cho chính quyền. Về phương diện thông tin: Hiện đang có tình trạng bất quân bình trầm trọng trong lãnh vực trao đổi thông tin giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Qua nhiều đường lối khác nhau, Đảng Cộng Sản VN có thể gửi các tài liệu như sách báo, DVD hay CD sang Hoa Kỳ, nhưng cấm tất cả những tài liệu tương tự nhập cảng từ Mỹ vào Việt Nam.
Đảng Cộng Sản vẫn cho phá chương trình Việt ngữ của Đài Á châu Tự do (RFA) tại Việt Nam. Về quyền phát biểu: Các nhà đối lập như Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, Giáo Sư Nguyễn Thanh Giang…, không được phép xuất bản hay lưu hành tác phẩm của mình. Họ không được sử dụng các phương tiện truyền tin thông thường, như telephone, fax, và internet. Về báo chí: Mặc đầu Đảng Cộng Sản nói rằng họ có khoảng 600 tờ báo, tạp chí hay ấn phẩm định kỳ, và rằng 75% dân chúng có thể nghe radio, và 50% có thể coi TV, nhưng không có báo chí hay truyền thông tư nhân tại Việt Nam, vì tất cả đều dưới quyền kiểm soát của Đảng Cộng Sản. Thí dụ mới nhất là vụ bắt giữ nhà báo Việt Chiến của tờ Thanh Niên, và nhà báo Trần Thanh Hải của tờ Tuổi Trẻ, vì đã viết những bài báo phanh phui vụ tham những lớn có tên là “PMU 18” tại Việt Nam.
Tất cả mọi ấm phẩm đều bị chính quyền kiểm duyệt. Về tự do tín ngưỡng Đảng Cộng Sản tiếp tục loại trừ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (lãnh đạo bởi các Hòa Thượng Thích Huyền Quang, và Thích Quảng Độ), Giáo hội Tin Lành miền Thượng, và các tôn giáo bản địa như Hòa Hảo, và Cao Đài. Đại lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc Vesak năm nay được tổ chức tại Việt Nam, từ 13 đến 17 tháng 5 tại Hà Nội, và tại 54 trong số 64 tỉnh tại Việt Nam. Nhưng đại lễ này được tổ chức bởi Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập bởi Đảng Cộng Sản, và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không được tham dự. Thêm vào đó, Đảng Cộng Sản còn tiếp tục can thiệp vào các hoạt động tôn giáo của Giáo Hội Công Giáo.

Về tự do lập hội và nghiệp đoàn độc lập Đảng Cộng Sản nghiêm ngặt phủ nhận tự do lập hội bằng cách ban hành các nghị định đặc biệt không cho phép hội họp quá năm người nếu không được phép của chính quyền. Tất cả mọi cuộc biểu tình chống chính quyền đều bị Đảng Cộng Sản coi là bất hợp pháp.
Hàng triệu công nhân Việt Nam không có một nghiệp đoàn độc lập để bảo vệ họ. Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam đã được thành lập và kiểm soát bởi Đảng Cộng Sản. Lãnh đạo tổ chức này bao giờ cũng là thành viên của một nhóm chính trị trực thuộc Đảng Cộng Sản, và do Bộ Chính Trị chỉ định. Về tự do chính trị: Đảng Cộng Sản tiếp tục duy trì điều 4 Hiến Pháp, bảo đảm quyền cai trị của Đảng trên toàn dân. Đảng Cộng Sản còn dùng các Nghị định hay Nghị quyết để kiểm soát người Việt trong nước và hải ngoại. Đảng Cộng Sản dùng hình luật với tội danh không rõ ràng và hình phạt nặng nề (như các điều 79 và 88 ) để xách nhiễu, bắt giữ, trừng phạt hay cầm tù các nhà đối lập. Vì không có phân quyền nên chế độ tư pháp đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của đảng Cộng Sản, và tòa án không vô tư, và thủ tục xét xử không phù hợp với thông lệ quốc tế. Đảng Cộng Sản tiếp tục gây phiền hà cho các cựu tù nhân chính trị, các nhà vận động nhân quyền và các lãnh tụ tôn giáo. Những người này liên tiếp sống dưới sự canh chừng của nhân viên công lực theo dõi hoặc bao vây quanh nơi cư trú. Họ bị cắt đường giây điện thoại, fax, và internet. Thư tín của họ bị coi lén. Họ bị coi như thường phạm và bị cô lập với dòng chính của xã hội. Các viên chức Việt Nam Cộng Hòa, và những người có liên hệ với chế độ cũ bị xử tệ bởi chính quyền. Dù cách đối xử kỳ thị này không còn rõ rệt trong những năm gần đây nhờ sự canh chừng và chỉ trích của quốc tế, nhưng sự tệ bạc này vẫn sâu rộng và ngấm ngầm. Ngay cả với người chết, như những nấm mồ của các tử sĩ tại nghĩa trang Biên Hòa đã bị xâm phạm bằng cách lấy đất và không cho người Việt hải ngoại được trùng tu những ngôi mộ trong tình trạng đổ nát.
Những đề nghị: Chúng tôi có một số đề nghị để phái đoàn Hoa Kỳ nêu ra với phía Việt Nam trong cuộc đối thoại thường niên Việt-Mỹ về nhân quyền vào ngày 29 tháng 5:
1- Phái đoàn Hoa Kỳ không nên bỏ lỡ cơ hội thông báo cho Đảng Cộng Sản Việt Nam biết là người dân cũng như chính quyền Hoa Kỳ hỗ trợ một xã hội Việt Nam cởi mở hơn về dân chủ (Theo Công Luật số 103-258 ban hành bởi Tổng thống Hoa Kỳ ngày 25 tháng 5, năm 1994)
2- Nhân dân và chính quyền Hoa Kỳ cũng khuyến khích Đảng Cộng Sản Việt Nam có một khuôn mẫu và thời biểu cho cuộc bầu cử tự do và công bằng dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc, để dân Việt Nam có thể tự chọn cho mình một thể chế chính quyền.
3- Phóng thích ngay các tù nhân chính trị và các nhà lãnh đạo tôn giáo bị cầm tù. Chúng ta không nên để cho Đảng Cộng Sản sử dụng tù chính trị để mặc cả với Hoa Kỳ. Hơn nữa, Đảng Cộng Sản không được xử tệ và cô lập cựu tù nhân chính trị, và phải phục hồi các quyền dân sự và chính trị cho họ.
4- Có hai quyền căn bản cực kỳ quan trọng và không thể thiếu cho công cuộc dân chủ hóa và phát triển Việt Nam, là: Tự do thông tin, và tự do phát biểu. Chúng tôi đề nghị Quốc Hội và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ phối hợp với nhau để điều chỉnh hiện trạng thiếu một đường lối thông tin hai chiều giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Phái bộ Hoa Kỳ nên nhấn mạnh rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam cần chấm dứt việc phá sóng chương trình Việt ngữ của đài Á châu tự do. Người dân Việt Nam phải được in và phát hành các tác phẩm của mình, cũng như được phát biểu những quan điểm có thể khác với quan điểm của Đảng Cộng Sản, miễn là bất bạo động. Đảng Cộng Sản phải chấm dứt việc ngăn chặn internet, cho phép mọi người dân Việt được tự do tiếp cận internet. 5- Cộng đồng người Mỹ gốc Việt sẵn sàng cộng tác với bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ theo đường lối xây dựng trên căn bản tương kính và năng tham khảo ý kiến.
Trong tương lai, chúng tôi hy vọng tích cực tham dự vào phái đoàn Hoa Kỳ về bất cứ cuộc thảo luận nào với nhà cầm quyền Việt Nam liên quan tới những vấn đề về nhân quyền và dân chủ. Chúng tôi tin rằng, với căn bản liên hệ quá khứ, chúng tôi có thể hữu ích bằng cách sử dụng những hiểu biết về văn hóa và những giá trị về phong tục, ngôn ngữ Việt Nam, và những kinh nghiệm tổng hợp của trên nửa thế kỷ đối phó với Đảng Cộng Sản Việt Nam.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

CS Hà Nội Phát Triển Kinh Tế Kiểu Này Đây

VI ANH .
Tin hãng thông tấn Pháp AFP, Mỹ AP, đài RFI Pháp, VOA và RFI Mỹ và hầu hết báo chí, phát thanh, phát hình tiếng Việt ở hải ngoại đều loan rộ lên: Một sòng bài lớn theo kiểu Las Vegas sẽ xây cất ở VN, giá 4 tỷ Đô la ở Bà Ria- Vũng Tàu. Chi tiết, sòng bài lớn nhứt ở VN này vào thời đại CS Hà nội, chiếm một khu đất 169 mẩu ở vùng Hồ Tràm tại tỉnh Bà rịa- Vũng Tàu, gồm một khu du lịch 5 sao, 2 khách sạn loại sang với 2300 phòng, một sòng bài và một sân golf. Lễ động thổ đã cử hành với sự hiện diện của Cựu Thủ Tướng Canada Jean Chretien vì chủ đầu tư là đại công ty cờ bạc siêu quốc gia ACDL có trụ sở chánh ở Toronto và Vancouver (Canada). Kế hoạch dự trù hoàn tất vào năm 2011. Đây là sòng bài thứ hai lớn hơn cái thứ nhứt đã mở cửa ở Hải Phòng, Miền Bắc VN.

Nhưng nhà cầm quyền CS Hà nội chỉ nói đó là khu du lịch. Và báo chí của Đảng Nhà Nước CS Hà nội cũng phải nói theo Dảng, không nói đó là sòng bạc, mà nói đó là khu du lịch Hồ Tràm. Dễ hiểu cái kiểu lập lờ đánh lận con đen của CS Hà nội. Một dự án 4 tỷ Đô, do một cựu thủ tướng Canada đến đặt viên đá đầu tiên, mà không viết để khoe cái gọi là " thành công vượt mức" của Đảng Nhà Nước trong cái gọi là " phát triễn kinh tế" thì dám bị kiễm điểm về quan điểm lập trưòng lắm. Nhưng kẹt một sợi tóc, luật lệ cũng của Đảng Nhà Nước trên nguyên tắc lại cấm người dân Việt cờ bạc, chỉ cho khách du lịch ngoại quốc chơi ở VN, thì báo chí viết phải "lách" vậy. Nếu viết đúng sự kiện và sự thật thì bị Đảng kỷ luật, bể nồi cơm, ai vô đây chịu cho vợ con.

Nhưng truyền thông quốc tế có tự do và trang nhà của đại tập đoàn ADC cần quảng cáo nói đó là sòng bài theo kiểu Las Vegas đầu tiên ở VN.

Chuyện ngắn xã hội chủ nghĩa này coi vậy, chớ không phải vậy, mà còn tệ hơn vậy nữa. Sòng bài theo kiểu Las Vegas này sẽ phá hoại môi sinh thiên nhiên và phương tiện sống của hàng ngàn ngưòi Việt nghèo trong vùng. Rừng ngăn chận bờ biển lở, làm đất bồi, rừng ngăn chận cát biển sa mạc hoá ruộng đồng bên trong bị xoá sổ trên bản đồ của tỉnh. Hàng ngàn gia đình VN có nhiều gia đình phải dời nhà ở, và nhiều gia đình mất nguồn sống nhờ rừng tràm, làm dầu, bắt cá tôm, củi đuốc.

Nhưng tai hại và tai họa trầm trọng và lưu niên đối với người Việt ở Miền Nam thi vô số kể. Đọc tin này người dân VN nhứt là phó thường dân Nam bộ bất giác nhớ lại những ngày nhiểu nhương Pháp thuộc sắp tàn, Tướng Cướp Bảy Viễn làm vua Saigon mở Đại Kim Chung Thế Giới ở Chợ Lớn. Đám Hoa Kiều Đại Kim Chung Thế Giới này còn " bung ra" đi các tỉnh lớn Miền Tây mở các sòng đề làm nhiều phó thương dân Nam bộ thua thất bất xang bang.

Đọc tin này, người dân Việt ở Cali đã quá biết cờ bạc không bao giờ ăn. Các sòng bài cho xe đưa rước, cho một số tiền trước dằn túi, cho ăn trưa, mà không người nào đi một thời gian mà còn đủ tiền già để trả tiền nhà theo kiểu housing rất rẻ. Không công ty cờ bạc nào bỏ bạc tỷ ra để chịu lổ. Luật pháp Mỹ hết sức bảo vệ quyền lợi của người dân nên chỉ cho các công ty cờ bạc mở trong vùng tự trị của người Da Đỏ. Công ty cờ bạc thấy cộng đồng VN ở Orange County lớn muốn mở sòng bài ở Garden Grove, chánh quyền dân cử thành phố này bác bỏ một cái rụp.

Còn ở VN, trên nguyên tắc luật pháp, cờ bạc là điều nhà nước cấm, nhưng cho du khách ngoại quốc chơi. Hải Phòng đã mở sòng bạc lớn, và sắp tới đây là mở ở Vũng Tàu. Luật pháp ở VN nặng hình thức, danh nghĩa hơn thực hành, thực chất. Nên giấy phép xây cất nhà nước nói đó là khu du lịch. Các phương tiện truyền thông của Đảng Nhà Nước cũng gọi đó là khu du lịch, nghỉ dưỡng và tổ chức hội nghị. Nhưng thực tế, làm sao cấm cản người dân vào. Bảo vệ của công ty sỡ hữu sòng bạc đâu có dại gì cấm dân. Từ việc du lịch, dưỡng lão, hội nghị, người Việt vào đây, bước qua việc cờ bạc trong khu này chỉ cách có một chút ham vui, thử thời vận là thành con bạc. Cán bộ đảng viên đến đây hưởng thụ, hưu dưỡng, hội nghị, họ là người đưng trên luật pháp, lắm tiền nhiều quyền ai mà dám cản khi đi vào sóng bạc này. Những người tự coi " định cao trí tuệ" này có thua bài một trăm ngàn hay một triệu Đô la để "mua vui cũng được một vài trống canh" cũng chẳng sao vì họ giàu nứt đố đổ vách. Nhưng tội cho người dân Việt có dịp may, lâu lâu trong đời di du lịch vào đây, hay những ngưói có máu mê cở bạc ( máu ấy mạnh lắm trong người Việt) giả dạng du khách vào đây, thỏa mãn cái thói thích thử thời vận để " đổi đời", thích phiêu lưu một chuyến để thà huy hoàng trong giây lác còn hơn nghèo mạt suốt năm canh, thì vô cùng tai hại cho phó thưòng dân VN, nhứt là ở Miền Nam rất thích nhậu và đánh bài.

Đóng cửa một nhà tù, lập thêm một trường học là một chánh quyền tốt. Tăng gia kinh tế để thăng tiến cần lao đồng tiến xã hội là phát triễn kinh tế. Sản xuất kinh doanh để tạo nhiều sản phẩm và dịch vu cho người dân có việc làm, có hàng hóa, tiện nghi để hưởng là lo cho dân, cho nước. Chớ mở sòng bài để thu thuế cho nhà nước giàu, ngân sách mạnh, nhà nước giàu, đảng cầm quyến thêm phương tiện, mà ngưòi dân bi trị thua sặc máu, nghèo rớt mồng tơi là chánh quyền hại dân, hại nước. Đó là chưa nói trái luân thường đạo lý vì từ cô chí kim, ở bên Tàu cũng như bên Tây đều tin "cơ bạc là bác thằng bần", "khôn nghề cớ bạc là khôn dại".

Nhưng CS Hà nội là một chế độ vì Đảng, do Đảng, của Đảng, nên chỉ biết phục vụ Đảng và Nhà Nước của Đảng thôi. Mà Đảng và Nhà Nước CS Hà nội không ai khác hơn là những tư bản đỏ ở thành thị, cường hào ác bá đỏ ở nông thôn, và bọn " ăn theo" cùng cấu kết với tài phiệt ngoại bang bóc lột sức người của dân tốc Việt, sức của của quốc gia VN. Bọn quan lại và bọn ăn theo là bọn theo đóm ăn tàn trong thời kỳ CS Hà nội gọi là đổi mới kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Họ đã làm xã hội VN phân hoá cùng cực, dân VN khó khổ vô chừng. Mô tả hoàn cảnh ấy, Hoà Thượng Tăng Thống Phật Giáo VN trong Thông Điệp Phật Đản Phật Lịch 2552, có cái nhìn thực tế, sâu sắc và dám nói nhứt " Nhìn lại khối người 85 triệu mà chư Tôn đức Tăng Ni đang hoằng pháp lợi sinh, thì thấy kinh tế Việt Nam có chiều phát triễn. Nhưng chênh lệch giàu nghèo ngày càng đào sâu thăm thẳm. Không chênh lệch giữa quốc dân, mà chênh lệch giữa giới quan lại và quần chúng, gây ra cảnh 'nước giàu mà dân nghèo mâu thuẫn với các khẩu hiệu Nhà nước đề cao."

Dự án sòng bạc theo kiểu Las Vegas, CS Hà nội đã cấp giấy phép, đang thực hiện là một trong những hành động làm cho xã hội VN tha hoá, nghèo khổ, thê thảm hơn.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Thủ Tướng Nguyễn Tán Dóc... tán dóc về Phong Thuỷ...
Tác giả: Nguyễn Phương Anh.


"Tựa vào dãy núi Ba Vì và hướng ra dòng sông Hồng, Hà Nội sẽ luôn giữ được thế rồng cuộn hổ ngồi tiện hướng nhìn sông dựa núi; tiếp nối được giá trị khoa học và nghệ thuật trong lịch sử hình thành và phát triển đô thị Việt Nam là luôn gắn với môi trường sống của con người với môi trường cảnh quan thiên nhiên", Thủ tướng nói. http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2008/05/3BA02CB8/


Từ xưa đến nay, trên nghị trường nước ta chưa thấy một thủ tướng nào lại đi vin phong thuỷ như là "giá trị khoa học và nghệ thuật" vào việc xử lý các công việc hệ trọng của đất nước, mà câu nói trên lại được ông thủ tướng phát ngôn ra giữa Quốc hội và gần đủ 600 tờ báo đảng đăng lại mới càng thêm phần nguy hiểm.

Các báo chí chính thống thường liệt những dạng câu nói, bài viết liên quan đến phong thuỷ vào mục giải trí, chuyện phiếm...nhưng không hiểu sao lần này ông thủ tướng lại nói chắc như đinh đóng cột vậy. Mặt khác thế "nhìn sông, dựa núi" thường chỉ là nơi dùng để táng mồ mả cha ông cho con cháu sau này phát đạt chứ không dùng cho người sống, còn để đô thị phát triển thì phải "tiền Giang, hậu Lộ" tức là trước mặt là sông, sau là đường để buôn bán, giao thương, vận chuyển, tưới tiêu nông nghiệp...cho hợp lý nhất.

Có vẻ các cụ tướng lĩnh trong câu lạc bộ Thăng Long bàn tán về cái tên gọi là thủ tướng "Nguyễn Tán Dóc" cũng không phải là không có lý.

Thực ra, để hiểu rõ cái thế Rồng cuộn, Hổ ngồi của Hà nội thì qủa là quá dễ, vì từ trước đến nay Hà nội là nơi Long (Núi) chầu, Sông tụ chứ chẳng có cuộn hay ngồi gì hết. Hay nói cách khác, Rồng mà không bay là Rồng hỏng, Hổ mà không đi săn là Hổ giấy. Hà nội là Thăng Long , là Rồng bay, nay ngồi cuộn lại thì thật là hết thuốc chữa.

Từ xa xưa, Thành Hà nội luôn được canh gác rất cẩn mật, được các thần, thánh trông coi mà đặc biệt là các đền Voi Phục (thờ Linh Lang), đền Kim Liên (thờ Cao Sơn ), đền Bạch Mã (thờ Long Đỗ - được Vua Lý Thái Tổ phong làm Thăng Long thành Hoàng đại vương) và đền Quán Thánh (thờ Huyền Thiên Trấn Vũ).

Một bài học qua thời Hùng Vương mà người đời nay luôn ghi nhớ, đó là triều đại Hồng Bàng chỉ có Mười tám đời Hùng Vương. Nơi Đền Hùng có đủ 99 con Voi chầu (1 con quay ngược bị chặt đầu) là nơi đắc địa, vậy mà đời thứ 18 lại tham, muốn thêm 3 ngọn núi nữa chăng?.

Đến đời thứ 18 Vua Hùng cũng thấy khí không còn vượng nữa nên muốn duy trì thêm thời gian trị vì, và điều tốt nhất là chọn lựa một nơi để mà dựa vào (hay tựa vào), lúc đó chỉ còn cách tìm người tài ra giúp và thần Tản Viên (Ba Vì- Sơn Tinh) là lựa chọn số một và qua một cuộc thi kén rể, Vua Hùng 18 đã có người con rể vừa ý mình, nhưng không biết ngài lựa thế nào mà lại làm cho người khác giận thêm, mỗi năm gây nên thảm cảnh cho dân lành, nên ước mong dân yên bình để có đời thứ 19 đã không thực hiện được, đấy cũng chính là một bước đi sai lầm làm chấm dứt triều đại Hồng Bàng. Lòng dân không yên, thiên tai liên miên, lại thêm phần đói khổ nên Thục Phán (An Dương Vương) nổi lên, đánh từ Đông Bắc sang và lập nước Văn Lang thay thế cho Hồng Bàng.

Triều đại cộng sản ngày nay có phải cũng đang lâm nguy và cũng muốn được muôn năm nên đi theo vết xe đổ là dựa vào Ba Vì cho an toàn ?. Xét qua đời sống xã hội ta cũng thấy : giá cả tăng cao làm cho đa phần dân bị nghèo đi và khó sống, lạm phát cao làm cho xã hội đình đốn, các thị trường chứng khoán đổ vỡ, bất động sản tan hoang, tài chính ngân hàng bí thở...càng làm cho người dân không thể an cư, lạc nghiệp được. Người dân có thể đang nghèo mà dịch chuyển lên giàu một tý thì họ chịu được, chứ đang bình thường mà đời sống đi xuống theo kiểu rơi tự do, lạm phát đến tháng 6 đã 25% , nhập siêu 25 tỷ đô la, giá các loại hàng hoá tăng đồng loạt lên gấp 2,3 lần, phúc lợi xã hội càng ngày càng bị tước đoạt bằng "xã hội hoá"...thì rõ ràng họ không thể chấp nhận được, làm cho lòng dân họ không yên, họ sẽ đòi hỏi một triều đại mới tiến bộ hơn để thay thế cái đã thối nát, tham nhũng, phi khoa học, ngược chiều lịch sử. Họ cần một triều đại với quyền lực đích thực thuộc về họ - triều đại Dân Chủ!.

Mở rộng Hà nội hết cả Hà tây , mà theo ông Tán Dóc thì phải tựa vào dãy núi Ba Vì- nơi cao nhất, do vậy việc chọn Sơn Tinh làm thành hoàng Hà nội là chắc chắn, nếu không tự tiện áp đặt được thì theo kiểu bầu bán như hiện nay chắc chắn Sơn Tinh cũng trúng. Vì ngoài ông ra còn 4 vị trấn thành Hà nội cũ là Cao Sơn - là em họ của ông, quân lính của ông lúc trước , Linh Lang là một hoàng tử của Vua Lý Thái Tông làm sao dám trái lời hai anh em họ nhà ông - những người khai quốc công thần từ thời Quốc tổ Lạc Long Quân-Âu Cơ và thời Hùng Vương.

Vậy là Thánh Tản đã có 2 phiếu, ông Long Đỗ nếu có Huyền Thiên Trấn Vũ giúp thì có đấu cũng không lật lại được, mà xem về hoàn cảnh bây giờ người ta phù thịnh chứ ai phù suy nên ông Huyền Thiên ấy ngả hẳn sang phe Hà Tây thì thấy rõ - trước ông giúp Hùng Vương ,sau lại giúp An Dương Vương nên nay có cơ hội chiêu hồi sao lại nỡ bỏ cho được?. Với lại khi đi bỏ phiếu vì lòng tự trọng chả lẽ ông Long Đỗ lại bỏ phiếu cho mình ?. Ông Long Đỗ mất chức Thành Hoàng Hà nội 100% rồi, mà chức này ông có từ gần 1000 năm, nay thiếu mấy trăm ngày cho tròn mà lại bị phế thì không ức sao được! Ông chắc cũng khó mà yên tâm cho được, bên ngoài bằng mặt, bên trong không bằng lòng, Thần Thuỷ Tinh thì đã từ lâu ghét Sơn Tinh đến độ năm nào cũng dàn trận thử sức nhau, phen này chắc hẳn sẽ làm đôi câu đối, ít quà mà gặp gỡ ông chăng , nhỡ đâu ông kết hợp với Thuỷ Tinh thì có vấn đề lớn, Hà Thành phen này đường sá thành sông cho cá lội tung tăng là hết sẩy!. Nhân việc này cũng ảnh hưởng đến các chức quan hiện tại, quan Hà tây sẽ làm trưởng đa số trong Hà nội mở rộng chứ không phải lép vế như vừa qua báo đài làm rùm beng lên, điển hình là ông Thiếu Tướng Giám Đốc công an Hà tây đã nhanh chân lên làm 1 cục trưởng thuộc Bộ công an nên đến 1/8 thì ông vẫn còn hơn chức cái ông giám đốc công an Hà nội mới lúc đó.

Dân xứ Đoài cứ an tâm kê cao gối mà ngủ, không chừng "Vua" lại xuất thân từ quê mình đó. Mở rộng Hà nội đến như vậy sẽ phát sinh nhiều hậu quả : về đất đai - tranh giành dự án, về việc phát sinh hàng vài chục phó thủ trưởng trong các đơn vị- đấu đá nhau trong nội bộ, về an ninh quốc phòng - phải lập nhiều trạm rađa, tên lửa, binh lính...để bảo vệ đối tượng đặc biệt là Thủ đô đã rộng gấp 3,6 lần, nên tốn kém kinh phí đáng nhẽ dùng cho dân sinh, kinh tế.

Hà nội chỉ nằm trong vòng núi chầu, sông tụ như cũ là đủ, vời ông Sơn Tinh về làm điểm tựa để làm gì cơ chứ, nhưng mà thôi : Nước có vận nước, Vua có vận vua ...Cả vũ trụ còn luân hồi, nói chi việc đã rồi. Những dấu hiệu về thay đổi triều đại còn rất nhiều : lúc này trộm cướp liên miên - các thành phố đã phải lập trở lại đội săn bắt cướp, việc "Cua đổi càng, Vàng mọc nổi"- cua thì từ đầu 2008 đã đổi càng hàng loạt từ phải sang trái, vàng thì nổi hết đến mức dát cả lên thức ăn rồi, nên nước đổi "vua" là điều phải đến. Các việc khác như động rừng - thú dữ Hổ, Gấu, Voi tràn về tận phố xá, động đất xảy ra nhiều và liên tục từ vài năm trở lại đây, khí hậu bất bình thường, dịch rầy vàng, bọ đen, ruồi, lợn sinh voi ...cũng là những hiện tượng mà từ xưa đến nay đúc kết trong dân gian như báo trước việc thay đổi một triều đại trong thời gian rất ngắn.

Nói cho cùng, có ai trên đất nước Việt nam này lại không yêu thích sự tiến bộ, yêu thích sự tự do, yêu thích sự giàu mạnh ?. Và có ai còn yêu thương được với chủ nghĩa cộng sản quái ác, tội ác (nghị quyết 1481) với trăm điều tệ hại như độc tài, không cho báo chí tự do, chống tham nhũng giả vờ, nhân quyền bị xâm hại, đất đai tổ tiên bị mất mát vào tay ngoại bang, dân chủ thì chỉ là bánh vẽ, hiến pháp, luật pháp thì bị ngồi xổm lên trên.... Nhưng sự chuyển đổi triều đại này có suôn sẻ hay tàn nhẫn?. Chẳng lẽ nhà thơ Trần Mạnh Hảo lại nói đúng trong cuộc chiến chống giặc nội xâm này : " Tổ Quốc ơi, yêu Người phải lấy máu mà yêu !".

Hà nội, 3/6/2008.

Nguyễn Phương Anh.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Mối đe dọa quân sự từ Trung Quốc
04/06/2008


Hôm thứ Sáu tuần qua, Hội nghị thượng đỉnh An Ninh Châu Á đã diễn ra tại Singapore, quy tụ các bộ trưởng quốc phòng và chuyên gia từ 27 nước vùng Á châu Thái Bình Dương.
Trong hội nghị này, nhiều vấn đề được đem ra thảo luận mà theo các quan sát viên cho rằng mục tiêu chính yếu vẫn là Trung Quốc vì nước này đã có những động thái gây lo ngại cho các nước trong khu vực như tăng ngân sách quốc phòng và ngân sách này không không minh bạch
như các nước phương Tây.
Giáo sư Carl Thayer, cố vấn quốc phòng cho chính phủ Úc. RFA file photo. Cảng tàu ngầm tại miền nam đảo Hải Nam cũng là vấn đề khiến các nước quan tâm. Để tìm hiểu thêm chi tiết, Mặc Lâm phỏng vấn Giáo sư Carl Thayer, cố vấn quốc phòng cho chính phủ Úc.
Gia tăng sức mạnh quân sự
Mặc Lâm: Thưa rất cám ơn Giáo sư đã dành thời gian rất bận rộn của ông cho cuộc phỏng vấn của ban Việt ngữ đài RFA ngày hôm nay. Thưa Giáo sư trong hội nghị Thượng Đỉnh về An Ninh Á Châu vừa qua thì phía Nhật Bản có đưa ra đề nghị yêu cầu Trung Quốc phải minh bạch ngân sách quốc phòng của họ. Theo giáo sư thì đây có phải là chỉ dấu lo ngại hay chỉ là một yêu cầu thông thường như mọi năm thưa ông?
GS Carl Thayer: Hàng năm theo thông lệ thì Ngũ Giác Đài đều phải báo cáo một bản lượng giá về ngân sách quốc phòng mà Trung Quốc sử dụng cho quốc hội Mỹ biết. Và thật tế cho thấy hầu như Trung Quốc tăng ngân sách quốc phòng của họ lên mỗi năm trong nhiều thập niên qua.
Ngoài mặt thì họ không bao giờ xác nhận con số thật sự nên phương Tây và Nhật tin rằng con số chính xác bị giấu đi luôn luôn lớn gấp đôi con số được Trung Quốc báo cáo công khai. Điều này gây quan ngại cho Nhật Bản thì cũng hợp lý.
Mặc Lâm: Nếu so sánh ngân sách quốc phòng của Trung Quốc và của Nga thì nước nào trội hơn và nếu so với Nhật và Úc thì thế nào, thưa ông?
GS Carl Thayer: Những chi tiêu quốc phòng trong nhiều năm qua của Trung Quốc có thể so sánh ngang hàng với Nga nhưng đối với các nước trong khu vực thì con số này lớn hơn gấp nhiều chục lần. Trung Quốc sản xuất một số lượng lớn phi đạn tầm xa có thể mang đầu đạn hạt nhân.
Một số phi đạn này đang nhắm về Đài Loan và vì vậy làm tăng lên rất nhiều lo ngại cho các nước trong khu vực, đặc biệt là Nhật. Và rồi mới đây nhất là một lực lượng hạm đội hùng hậu được Trung Quốc chú ý để lên kế hoạch xây dựng đã gây quan ngại cho Mỹ cũng như các nước trong khu vực.
Phản ứng của Hoa Kỳ?
Mặc Lâm: Là người giữ chức cố vấn quốc phòng cho Úc, Giáo sư có nhận định gì về sự tăng cường sức mạnh quân sự của Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay có ảnh hưởng thế nào đối với Australia?
GS Carl Thayer: Là một đồng minh lớn và lâu đời với Hoa Kỳ, Úc có vị trí quân sự đặc biệt trong khu vực và là đối trọng với Trung Quốc trên thế chiến lược. Úc đang có những mua bán thuận tiện với Trung Quốc trên lãnh vực dầu hỏa và năng lượng vì vậy nước này không mong thấy những đối đầu quân sự giữa Washington và Bắc Kinh, vì nếu việc này xảy ra thì muốn hay không Úc cũng buộc phải đứng về phe đồng minh của mình và lúc ấy thì sự thể sẽ rất xấu.
Tuy nhiên vì những liên quan mật thiết mà tôi vừa nói, Úc không muốn thấy Trung Quốc tăng cường khả năng quân sự của họ, đặc biệt là trên những vũ khí hiện đại. Sự lo ngại của Úc chắc chắn là tâm trạng chung của nhiều nước.
Mặc Lâm: Bộ trưởng quốc phòng Mỹ là ông Robert Gate tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ không bao giờ bỏ rơi các nước trong vùng châu Á, ý ông ám chỉ sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Giáo sư có nghĩ rằng đây là một lời hứa có tính ngoại giao hay là một thông điệp chính thức gửi đến Bắc Kinh?
GS Carl Thayer: Hiến pháp Hoa Kỳ đã có đạo luật cung cấp phương tiện và khí tài cho Đài Loan để hòn đảo này có thể tự bảo vệ lấy mình cũng như sẵn sàng tiếp sức với nước này khi có một nước khác dùng sức mạnh quân sự để tấn công hay đe dọa.
Mới đây một bức ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc đã âm thầm xây dựng một hải cảng quân sự có thể chứa hàng chục tàu ngầm hạt nhân đã làm Hoa Kỳ lo ngại.
Việc này cộng với kế hoạch xây dựng một lực lượng hải quân hùng hậu với hạm đội tương đương với các hạm đội của Mỹ một lần nữa xác định quyết tâm của Trung Quốc muốn đất nước của họ trở thành cường quốc quân sự, và do đó lời tuyên bố của bộ trưởng Gate cũng là quan điểm chính thức của chính phủ Hoa Kỳ.
Mặc Lâm: Xin cám ơn giáo sư.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/ ... 54023.html

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Chống Cộng: Đề Tài Chánh Của Bầu Cử

VI ANH .
Nói gì thì nói, nét chánh của cuộc bầu cử ở Little Saigon là đề tài chống Cộng. Không phải ứng cử viên, mà chính cử tri biến thành vấn đề then chốt.
Một, về không gian. Cuộc bầu cứ ở Quận Cam, quan trọng nhứt là bầu Giám sát viên, một cơ quan quản trị một ngân sách gần 10 tỷ Đô la, chi phối hầu hết sinh hoạt của người dân trong Quận Hạt. Quân Cam là đia hạt tọa lạc Little Saigon. Nhiều người Việt hải ngoại gọi là thủ đô tinh thần của người Việt tỵ nạn CS. Nơi đây thưòng xuất phát nhiều chiến thuật, chiến lược đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, có một cộng đồng người Việt lớn nhứt ở Mỹ, lớn nhứt ở hải ngoại, chỉ sau công đồng quốc gia ở trong nước Việt. Đơn vị bầu cử số 1 trùng lắp gần trọn lãnh thổ Little Saigon, các cơ quan đầu não của đoàn thể chánh trị, văn hoá, xã hội, truyền thông đa số qui tụ trong vùng này. Không một ứng cử viên gốc Mỹ, Mễ hay Đại Hàn nào ra - mặc thị nhường cho người Mỹ gốc Việt vì biết ra khó mà thắng với tinh thần, kỷ luật, tỷ lệ bầu cử cao của người Mỹ gốc Việt qua nhiều cuộc bầu cử, nhứt là kỷ bầu cử giám sát viên vửa rổì. Nên chỉ có ba ứng cứ viên gốc Việt ra tranh cử mà thôi

Hai, về thời gian. Ưng cử viên và cử tri không quên căn cước tỵ nạn CS của mình và của cộng đồng mình. Người Mỹ gốc Việt vẫn còn giữ căn tính và cắn cước tỵ nạn CS dù đã rời khỏi chế độ độc tài CS, được sống tại một quốc gia tư do, dân chủ Mỹ suốt 33 năm, có gia đình đã có thế hệ thứ ba hậu duệ. Tinh thần chống Cộng vẩn còn rất mạnh. Điều này phản ảnh rõ rệt trong cuộc tranh cử sôi nổi và gây cấn vào chức vụ giám sát viên, đơn vị 1 của Quận Cam, nơi toạ lạc Little Saigon. Việc chống Cộng tuy không một ứng cử viên nào chánh thức và minh thị đưa vào chương trình tranh cử, nhưng thực tiễn sinh động của cuộc sống đã biến thành đề tài tranh cử trung tâm, đề tài chánh của ứng cử viên trong vậ5n động và của cử tri khi chọn lựa.

Ba, đề tài chống Cộng là đề tài của cộng đồng (viết không hoa, danh từ chung có nghĩa tập thể người Mỹ gốc Việt). Đề tài chống Cộng hầu như là thực tế đã cho thấy, không phải ứng cử viên khởi động vì như đã thấy đâu có ứng cử viên nào chánh thức đưa vào chương trình tranh cử đâu. Mà chính là cộng đồng gồm cơ quan đoàn thể, thân hào nhân sĩ và đồng hương -- là những cử tri gốc và cử tri ngọn -- đã đặt thành vấn đề. Các ứng cử viên muốn hay không muốn phải đối diện. Ứng cử viên phải tốn tiền bạc công sức để vận động, phản bác bằng mọi hình thức. Tù tiếp xúc giải bày, cổ võ, quảng cáo vận động, phản bác, bài viết tấn công, làm sáng tỏ vấn đề , hình ảnh chứng minh trên phương tiện thông tin đại chúng và trong truyền đơn gởi đến cử tri tại nhà. Các tổ chức thân hữu của các ứng cứ viên cũng tiếp tay một cách tích cực. Tự nhiên có lẽ tích cực nhứt là cá nhân tình nguyện công khai hay ngầm ngầm chống và binh úng cử viên quyết liệt. Nhưng tất cả đều tự chế, không có gì đáng tiếc xảy ra, nhờ luật pháp Mỹ rất nghiêm minh, phát biểu thì hoàn toàn tự do, xâm phạm thân thể là trái luật.

Ba, sẽ thiếu nếu không nói truyền thông đại chúng bằng tiếng Việt. Dòng chánh hay trong luồng phần đông ở vào thế kẹt, ba ứng cử viên đều -- nếu không thân quen thì cũng quen biết -- khó binh ai bỏ ai, có nhiều việc ứng cử viên đụng chạm nhau, truyền thông dòng chánh tránh né, không đề cập, rồi bị đòi hỏi, thưa kiện lôi thôi, mất lòng "vô ích". Nhưng trước áp lực của quần chúng độc giả, cũng cố gắng đi tin, chỉ trước sau một thời gian mà thôi. Nhưng mà dù có thiên vị, có quyền ăn, quyền gói ý kiến người khác trên phương tiện truyền thông của mình, thì cũng không làm được. Nhưng bên cạnh truyền thông dòng chính còn có dòng phụ, ngoài luồng. Những chương trình phát thanh đêm, có chương trình sau giờ cao điểm, có cả chương trình sau 12 giờ khuya, vẫn có khán thính giả nhưng chi phí các cá nhân và đoàn thể có lòng có thể đảm đương được. Ngay các ứng cử viên cỡ lớn của Mỹ Hillary, Obama, McCain còn cũng phải "nể". Những talk shows này, phát thanh dòng phụ cũng quan trọng lắm vì nước Mỹ gần như không có ngủ, xe trên đường lúc nào cũng chạý, cơ xưởng sàn xuất nhiều ca, cái ra dô là người bạn đường, ngươi bạn qua đem hủ hỉ.

Và phải cám ơn nhờ khoa học kỹ thuật tin học đã giải thoát con người, khán thính giả qua con đường Internet, nhứt là ở Mỹ hầu như nhà nào cũng có Internet. Các báo điện tử, trang mạng, nhật ký trên mạng, youtube, paltalk loan truyền tin và hình như ánh sáng. Báo chí, truyền thanh, truyền hình dòng chánh không loan tãi, thì dòng phụ loan tải. Báo chí dòng chánh phải cạnh tranh để sau cùng rồi thích hay không thích, muốn hay không muốn cũng phải loan tãi nếu không thì "thua".

Bốn, nhờ áp lực của quần chúng và sự cạnh tranh giữa truyền thông trong và ngoài luồng, mà không có thế lực chánh trị nào có thể không chế được công luận, không thể nào triệt tiếng nói đối lập được dù có bao nhiêu tiền, bao nhiêu người móc nối. Nhờ thế những bí mật đi đêm đi hôm dù ứng cử viên giấu đút thế mấy, các bí mật của ứng cử viên cũng bị phanh phui, phơi bày. Mà bí mật léng phéng với CS hay thân Công là dị ứng nhứt. Cũng như chuyện kỳ thị màu da của người Mỹ. Chuyện Mục sư Wright đỡ đầu tâm linh cho Obama hơn 20 năm trước, làm phép hôn phối cho vợ chồng TNS Obama cũng bị phanh phui để đánh giá xem ứng cử viên da đen Obama có bị ảnh hưởng kỳ thị chủng tộc hay không.

Thà đừng làm chánh trị, đã chấp nhân làm chánh trị nhứt là chánh trị bầu cử, tham chánh. thì công luận được quyền đặt kính chiếu yêu trên thân thế sự nghiệp chẳng những trong hiện tai mà cả quá khứ nữa, của chánh trị gia mà ứng cử viên là một chánh trị gia tiêu biểu. Khó có thể viện dẫn quyền riêng tư, chuyện xảy trong qua khứ để biện minh. Cử tri gốc Việt rất giản dị khi chọn lựa, khoan dung với ứng cử viên nhưng rất chặt chẽ, cứng rắn với chánh nghĩa. Cử tri gốc Việt muốn người đại diện mình phải gương mẫu nhứt là về chánh nghĩa. Một bài học đáng để đời cho người làm chánh trị là đừng có léng phéng với những người hay những việc mà quần chúng kiêng kỵ. Thí dụ đối với người Mỹ gốc Việt với căn tính và căn cước tỵ nạn CS, không chấp nhân những người đi đêm, đi hôm vơi CS, dù đi đã lâu rồi, cũng dể bị dị ứng lắm.

Năm và sau cùng thông thường việc chống binh ứng cử viên vì tinh cảm hay phe nhóm sẽ lắng đọng dần sau ngày bầu cử. Nhưng vấn đề lập trường và chánh nghĩa là vấn đề chiến lược, nó thẩm thấu lâu đời trong cộng đồng tỵ nạn CS, do đó ít khi ngưng sau ngày bầu cử. Còn quá sớm và cũng không nên tiên đoán ai sẽ đắc cử giám sát viên trong ngày bầu cử là ngày viết bài này. Nhưng có thể thấy nếu kết quả vòng 1 cuộc bầu cử giám sát viên, không ai đạt túc số trên 50%, cuộc tranh cử giữa hai người nhiều phiếu nhứt sẽ tiếp tục, đề tài chống Cộng ắt cũng còn sôi đọng - mạnh hơn nữa không chừng. Đây là một thuận lợi cho tinh thần chống Cộng. Nó sẽ ngăn chận và đề phòng những hành động thân công vô tình hay cố ý của những ai tổ chức hay cá nhân, muốn sống cùng, sống với, sống nhờ cộng đồng tỵ nạn CS. Nhứt là ứng cử viên đặc biệt sống nhờ lá phiếu của đồng bào tỵ nạn CS.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Báo Trong Nước: Trí Thức Là Ai ?


Trí thức là người có tri thức và biết suy nghĩ khác biệt và độc lập, và là người chỉ truy cầu một mục đích: chân lý. Từ vị thế này, trí thức mới có thể tác động và ảnh hưởng đến sự phát triển và tồn vong của xã hội và quốc gia.
Bàn chuyện trí thức, “trước khi ngồi vào bàn hãy thống nhất khái niệm”, tôi xin nêu lên một số quan niệm và cách hiểu về “trí thức” ở nước ngoài. Chữ “Intelligentsia” mà ta dịch là “trí thức” gốc từ Nga. Cách đây gần hai chục năm trên một tờ tạp chí Liên Xô

có một cuộc thảo luận bàn tròn về “Trí thức xưa và nay”. Tham gia thảo luận là các nhà đông phương học Liên Xô hồi đó. Tôi xin trích dịch một số ý kiến nêu ra đây tham khảoi. V. I. Maksimenko quan niệm trí thức: “Đó là một kiểu ý thức và đó cũng là một môi trường văn hóa xã hội, nhờ đó ý thức này được sinh ra, được duy trì, được phổ biến và được truyền lại cho thế hệ khác hay dân tộc khác. Có thể có những quá trình xã hội - lịch sử mà trong lòng chúng trí thức không những thể hiện mình ra, mà về nhiều mặt còn có khả năng quy định chiều hướng đời sống của dân tộc. […]. Trí thức bao giờ cũng có tính “quốc tế” và tính “thế giới”, nhưng không phải do sự đoạn tuyệt mang tính chất hư vô chủ nghĩa với các mối quan hệ nền tảng của mình, mà do các khát vọng của nó mang tính toàn nhân loại và do nó không chấp nhận vai trò làm nhà tư tưởng cho những quyền lợi phe nhóm, hạn hẹp. Vì thế nó không thể tạo thành “giai cấp” cũng như không thể lập thành “đảng phái”: mọi mưu toan trên con đường này đều sẽ biến thành sự tự bứt mình khỏi cuộc sống hiện thực làm khô cứng giới trí thức”. Theo ông, tất cả mọi tấn kịch của trí thức đều xa gần liên quan đến một mâu thuẫn nảy sinh tự chính bản chất của trí thức: định hướng tự trị về tư tưởng - cuộc sống - hoạt động và nhu cầu biến sự tự trị đó thành cái được xã hội thừa nhận, điều này thể hiện rõ nhất trong quan hệ với “quyền lực” và “Nhân dân”. Nói chính xác hơn: “Ở đâu các quan hệ này không được ý thức, chúng ta có thể tha hồ tìm thấy các cấu trúc trí tuệ phát triển cao, nhưng không tìm được trí thức. Trong quan hệ với quyền lực, trí thức có thể đứng ở vị trí hợp tác hay đối lập, đối thoại hay bác bỏ hoàn toàn, nhưng có một điều nó không thể làm: trùng khớp với quyền lực và biến thành một trong những hiện thân của nó mà vẫn giữ được mình là trí thức”. G. S. Pomerants cho rằng “trước thời Phục Hưng của châu Âu… không có các nhà trí thức theo nghĩa chặt chẽ của từ này. Chỉ có các tiền trí thức. Họ xuất hiện cùng với triết học”. Ông theo quan niệm của M. Buber là “có hai kiểu người mang văn hóa trí thức thay nhau bước ra tiền đài lịch sử. Kiểu “ổn thỏa” thể hiện trong mình văn hóa như là hệ thống chức năng chuẩn mực; kiểu “đặt vấn đề”, ngược lại, - đó là người mang sự khủng hoảng văn hóa, sự tả tơi, đổ nát, và sự thay thế các hình thức của nó. Nhà tư tưởng kiểu ổn thỏa, ngay dù có nghiên cứu triết học đi nữa, cũng biến nó thành một khoa học hệ thống chuyên ngành (Aristotel, Hégel). Nhà tư tưởng kiểu đặt vấn đề, giống như Hamlet, tìm cách khôi phục cái thế giới bị “lung lay”, “trật khớp” (Pascal, Kierkegaard). Sự khác biệt giữa các thời đại chỉ là ở mức độ ảnh hưởng của kiểu này hay kiểu kia mà thôi”.

Trí thức là người có tri thức và biết suy nghĩ khác biệt và độc lập, và là người chỉ truy cầu một mục đích: chân lý. Từ vị thế này, trí thức mới có thể tác động và ảnh hưởng đến sự phát triển và tồn vong của xã hội và quốc gia.

Điều thú vị là có sự phân biệt giữa “intelligent” và “intellectual”. Rất khó dịch hai từ này, gọi là “thông thái” và “trí thức” có được chăng? Tôi cứ để ngỏ cách dịch nghĩa, nhưng theo tôi, đây có lẽ là chỉ hai dạng trí thức khác nhau (hay hai dạng khác nhau nối tiếp nhau của trí thức) thuộc hai kiểu văn hóa khác nhau, có thể là dạng Đông và dạng Tây. E. A. Torchinov đặt câu hỏi: “Có phải intelligentsia hiện diện như là dấu hiệu quan trọng của một nền văn hóa này hay khác, hay tầng lớp này xuất hiện ở một giai đoạn lịch sử nhất định nào đó, rồi sau biến mất (được thay bằng, chẳng hạn, các chuyên gia hay các “intellectual”)? Có phải intelligent là người quá độ từ người học giả trung đại sang người intellectual thời mới ở châu Âu?” Ông cho câu trả lời sẽ là khẳng định nếu như không có thực tế Trung Quốc với tầng lớp nhà nho ở đây. Theo ông từ nho gần với quan niệm về “intelligent” của Nga hơn với quan niệm về “intellectual” của phương Tây. Và mặc dù nhà nho chưa phải là trí thức theo đúng nghĩa của từ này, nhưng đó là nền tảng cho trí thức có thể xuất hiện khi có điều kiện thích hợp. A. I. Kobzev cho chữ nho là bao gồm cả “intelligent” và “intellectual”. Ông dẫn ý kiến của nhà Trung Quốc học nổi tiếng người Anh J. Needam cho rằng quan niệm” công danh rộng mở cho người tài” mà nhiều người gắn với cuộc Đại Cách Mạng Pháp, thật ra lại không phải xuất từ Pháp hay châu Âu nói chung, mà là từ Trung Quốc. Thế kỷ XX các dân tộc châu Âu lấy thi cử để tuyển viên chức, ấy là đã có ý dựa theo kinh nghiệm của Trung Quốc. A. I. Kobzev cho rằng “intelligentsia” theo nghĩa chuẩn mực và rộng nhất là tầng lớp người lao động trí óc. Nhưng định nghĩa đó quá rộng, cần thu hẹp lại bằng cách chỉ ra: một, cấp độ học vấn; hai, kiểu lao động trí óc (sáng tạo, tự do, phi tôn giáo); ba, các quan niệm và phương châm tư tưởng hệ quan trọng nhất (niềm tin vào sứ mệnh riêng của mình, sự hướng theo những tư tưởng tiến bộ, thái độ phê phán đối với truyền thống, sự đối lập với quyền lực, lòng yêu dân); bốn, sự tự nhận diện của intelligentsia với tư cách tự nó.

Trong cuốn sách Người mất hướng (L’homme dépaysé), Tzvetan Todorov, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng gốc Bungary sống tại Pháp, đã đưa ra nhiều suy nghĩ về trí thức, nhất là người trí thức “dépaysé”. Trong một đề mục “Chính trị của trí thức”, ông tán thành sự xác định của Montaigne phân biệt ba vị thế đối với chân lý và các giá trị tinh thần: “vị thế của người hư vô chủ nghĩa (như cách chúng ta nói hiện nay), những người từ chối tìm kiếm chúng; vị thế của người giáo điều, những người đã tìm thấy chúng; và vị thế của người nghiên cứu không mệt mỏi, những người tiếp tục tìm kiếm ngay cả nếu như họ biết rằng sự tìm kiếm không đi đến đâu cả. Ranh giới giữa loại người sau và người hư vô chủ nghĩa mà hiện nay đặc biệt nhiều là rất lớn, bởi nó được xác định bằng các mục đích cuối cùng. Ranh giới giữa họ và người giáo điều mỏng manh hơn, bởi đây chủ yếu liên quan đến các phương tiện để đạt mục đích: người giáo điều có được giá trị nhờ vào truyền thống (mang tính tôn giáo hay không) hoặc nhờ vào sự đốn ngộ thoáng qua (từ lời lẽ của vị thủ lĩnh có phép mầu nhiệm hay từ sáng tạo của nghệ sĩ thiên tài), còn người tìm kiếm chân lý và các giá trị tinh thần có được chúng thông qua sự nhận thức Vũ Trụ và thông qua sự đối thoại giữa mọi người. Trí thức kiểu thứ ba, không giáo điều không hư vô, làm việc cả với chân lý, cả với các giá trị tinh thần, điều đó do chính thiên chức của nó gây nên; hơn thế ở cả hai mặt nó đều đạt được sự hài hòa, bởi nó không tin vào những chân lý có sẵn, không tin vào các giá trị chỉ dựa trên hành động đức tin. Kiểu trí thức như thế, ngược lại với hai kiểu kia, không phải là lỗi thời”ii.

Edgar Morin, nhà khoa học xã hội Pháp, cho thuật ngữ “trí thức” gồm có ba điều: 1) Chỉ người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, tinh thần; 2) Các hoạt động đó có tác động đến đời sống chính trị và xã hội của xã hội quanh họ; và 3) Loại người này có ý thức tuân theo các nguyên lý phổ quát thích hợp. Điểm thứ ba trong định nghĩa “trí thức” của Edgar Morin nghĩa là thế nào? Đó có nghĩa là trí thức phải có được tính bất đồng sáng tạo và tinh thần phê phán, phải duy trì được “độ căng” giữa lý tưởng và thực tế. “Bản chất tuyệt đối của các lý tưởng của trí thức ngăn họ có những thỏa hiệp nửa vời, “nửa sự thật”, mà các nhà chính khách thấy khó tránh khỏi”iii.
Những cách hiểu và định nghĩa về trí thức nêu trên có thể cho thấy một quan niệm thống nhất: trí thức là người có tri thức và biết suy nghĩ khác biệt và độc lập, và là người chỉ truy cầu một mục đích: chân lý. Từ vị thế này, trí thức mới có thể tác động và ảnh hưởng đến sự phát triển và tồn vong của xã hội và quốc gia.


Theo tôi, hiện nay ở Việt Nam có những trí thức có nhân cách kẻ sĩ, nhưng rất ít người có tư cách trí thức.
Cố giáo sư Trần Đình Hượu (1925 – 1995), một nhà nghiên cứu tư tưởng và văn hóa nổi tiếng cho rằng, theo hành trình của nhà nho trong lịch sử, thì từ cuối thế kỷ XVIII đến nay, chúng ta có các loại hình: nhà nho - Tài tử, nhà nho - Cần vương, nhà nho - Duy tân, nhà nho - Tây học, nhà nho - Cách mạng. Nho ở đây chỉ một tính chất, một loại hình, bất luận hoàn cảnh xuất thân và học vấn, và có thể nói nó là xuyên/liên thời đại nữa. Chất kẻ sĩ là sự khảng khái và bất chấp, bộc lộ rõ và có tác động mạnh về mặt đạo đức. Tư cách trí thức thì khác, đó là sự suy nghĩ độc lập và dám đi đến cùng trong sự suy nghĩ của mình trên cơ sở học vấn tri thức và khả năng tư duy khoa học, không chịu hệ lụy và ràng buộc nào từ ngoại cảnh dù nhân danh gì.

Để trí thức Việt Nam có thể lớn mạnh thành một tầng lớp đúng nghĩa và có vai trò tích cực đối với xã hội thì chúng ta phải vận hành một thứ văn hóa chính trị tham dự. Văn hóa chính trị (political culture) là một quan niệm chỉ sự hành xử của người dân đối với chính quyền, hay chính trị nói chung. Đó là “Sự định hướng của các công dân của một quốc gia đối với đời sống chính trị, sự nhận thức của họ về tính hợp thức chính trị và các truyền thống của thực tế chính trị” (“The orientation of the citizens of a nation toward politics, and their perceptions of political legitimacy and the traditions of political practice”
www.photius.com/countries/brazil/glossary/). Có nhiều thứ văn hóa chính trị khác nhau tùy theo cấp độ và kiểu loại tham dự chính trị cũng như tùy theo thái độ của người dân đối với đời sống chính trị. Almond và Verba, hai tác giả công trình nghiên cứu nổi tiếng về chính trị học “Văn hóa dân sự” (The Civic Culture, 1963) đã nêu lên ba kiểu văn hóa chính trị tinh (pure type) như sau: - Kiểu giáo dân (Parochial): Nơi các công dân chỉ mơ hồ biết là có chính quyền trung ương tồn tại và họ sống gần như không quan tâm gì đến các quyết định của Nhà nước - Kiểu thần dân (Subject): Nơi các công dân biết có chính quyền trung ương tồn tại và họ phụ thuộc nhiều vào các quyết định của nó với rất ít sự bất đồng, phản đối. - Kiểu tham dự (Participant): Nơi các công dân có khả năng tác động đến chính quyền bằng nhiều cách khác nhau và họ bị ảnh hưởng bởi việc đó. Ba kiểu tinh này của văn hóa chính trị có thể kết hợp với nhau, phối hợp những yếu tố đắc dụng của mỗi cái, tạo thành văn hóa dân sự.

i Tạp chí “Các dân tộc Á Phi” (Narody Azii i Afriki), số 2/1990, tr. 39-56.
ii Tzvetan Todorov. L'homme dépaysé. 242 p., Seuil, Paris. 1996.
iii Dẫn theo Yue Daiyun. Comparative Literature and China, Peking University Press, 2004, tr. 211.




Phạm Xuân Nguyên

http://www.tiasang.com.vn/news?id=2730

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Iran cáo buộc Hoa Kỳ tội muốn “nô lệ hóa” người Iraq
Tác giả: Tin AP, Khúc Hạ lược dịch



Riyadh: Một trong những chính khách–tu sĩ có thế lực nhất của Iran tuyên bố hôm qua, thứ Tư, rằng Hoa Kỳ có manh tâm “nô lệ hóa” người Iraq qua những đàm phán cho một thỏa hiệp an ninh dài hạn giữa Hoa Thịnh Đốn và Baghdad; và thề rằng thế giới Hồi giáo sẽ chấm dứt sự việc này.

Trong một cuộc họp mặt giữa những tín đồ Hồi giáo tại thánh địa Mecca, Akbar Hashemi Rafsanjani tuyên bố “Việc Hoa Kỳ chiếm đóng Iraq là một mối đe dọa lớn cho tất cả các quốc gia trong vùng” và khuyến cáo mọi người rằng thỏa hiệp an ninh (giữa Hoa Kỳ và Iraq) sẽ tạo ra một cuộc “chiếm đóng” trường kỳ.

Ông ta bổ túc, “Bản chất của thỏa hiệp này, nếu được kết thúc, sẽ biến người Iraq trở thành nô lệ cho Hoa Kỳ. Chuyện này không thể xẩy ra được! Dân tộc Irăc, chính phủ Irăc, và các quốc gia Hồi giáo sẽ không cho phép!”

Rafsanjani phát biểu những lời này ở một cuộc hội nghị do Saudi bảo trợ, nhằm mục đích liên kết tiếng nói của những tín đồ Hồi giáo trước khi vua Saudi Abullah tổ chức một cuộc hội thoại liên tôn với những nhà lãnh đạo của Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo.

Iran đã nặng nề phê phán thỏa hiệp an ninh mà Hoa Kỳ và Iraq hy vọng sẽ kết thúc vào giữa mùa hè năm nay. Thỏa ước này sẽ thiết lập một mối quan hệ an ninh lâu dài giữa Irăc và Nước Mỹ, cùng lúc đó, sẽ có một thỏa thuận song song để tạo cơ sở hợp pháp cho quân đội Mỹ được tiếp tục đóng ở Irăc, sau khi hiệp định của Liên Hiệp Quốc về việc này hết hạn vào cuối năm nay./.



Tin liên quan

http://trangdenonline.com/ArticleDetail ... em_id=1355&


Top Iranian cleric accuses US of 'enslaving' Iraqis
AP
Published: June 04, 2008, 16:29



Riyadh: One of Iran's most powerful cleric-politicians said on Wednesday that the United States is trying to "enslave" Iraqis through a long-term security agreement being negotiated between Washington and Baghdad, and he vowed the Islamic world would stop the deal.

Akbar Hashemi Rafsanjani told a gathering of Muslim figures in the holy city of Mecca that the US "occupation of represents a danger to all nations of the region" and warned that the security deal would create a "permanent occupation."

He added, "The essence of this agreement is to turn the Iraqis into slaves before the Americans, if it is sealed. This will not happen. The Iraqi people, the Iraqi government and the Islamic nation will not allow it."

Rafsanjani was speaking at a Saudi-sponsored conference aimed at unifying Muslim voices before an interfaith dialogue that Saudi King Abdullah wants to launch with Christian and Jewish religious figures.

Iran has sharply criticised the security agreement, which the Iraqis and Americans hope to finish in mid-summer. The deal would establish a long-term security relationship between Iraq and the United States, and a parallel agreement would provide a legal basis to keep US troops in Iraq after the UN mandate expires at the end of the year

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Tai ương “của trời và người” trên chốn thiên đàng
Tác giả: Hoàng Ngọc Nguyên

Trong vòng chưa đến ba tuần vào tháng Tư và tháng Năm, hai vụ thiên tai đã cướp đi cả 80,000 sinh mạng ở Myanmar và hơn 60,000 tại Trung Quốc, cùng với hàng triệu người bị thương, mất tích hay tiêu tan nhà cửa. Đây là một nỗi đau còn thấm lâu dài trong lòng người ở hai nước này, và là sự trở lại một nỗi lo thiên thu của loài người trong thời đại ngày nay. Chúng ta chưa thể nào quên được mới năm nào, sóng thần tsunami ở vùng Nam Á đã ra tay sát hại ít nhất 239,000 người tại Indonesia, Ấn Độ, Sri Lanka, Bangladesh, Thái Lan… Chưa đến một năm sau, vào tháng 8 năm 2005, cơn bão Katrina đã tước quyền sống của gần 2,000 người và làm hàng trăm ngàn phải di tản khỏi tiểu bang Louisiana. Những thiên tai, trước đây vẫn được xem là những biến cố bất thường, đang xảy ra ngày càng thường xuyên hơn. Nhưng con người mong manh, nhỏ bé, bất lực, phù du… không chỉ vì ông trời. Trong cuộc sống của con người chúng ta bất dịnh, đầy lo toan, và lắm khi tuyệt vọng… cũng có trời mà cũng có ta. Nếu không phải do chính ta thì cũng do người khác, do xã hội chung quanh, do đời sống chính trị, kinh tế bao phủ, chụp lên đời sống của mỗi một người. Chính những con người đã làm ma quỷ khiến cho địa ngục có khi là có thật trên thế gian này.
Image
Động đất tại Beichuan, Trung Quốc.China photos/Getty Images
Tai họa của trời

Nước Mỹ vẫn được xem là vùng đất đầy hứa hẹn, chốn cơ hội, là thiên đàng có thật từ mấy chục năm qua. Cho nên nó không hỗ danh là “đất nước của những người di dân”. Nhưng thời đại đã đổi thay, và ngay cả thiên đàng yên ổn trong trí tưởng tượng của thời xa xưa nay cũng có phần nào ảm đạm, đứng ngồi không yên vì những mối lo thiên tai. Hóa ra trời đánh không tránh thiên đàng.

Thực ra, không phải chúng ta không biết, nhưng bình thường con người biết mà không lo. Người ta cứ nói lo gì mà lo, lo bò trắng răng. Ở vùng biển người ta thực ra cũng sợ bão tố, sóng thần. Ở vùng đồng bằng nhiều sông ngòi thì sợ đê vỡ, lụt lội. Ở vùng núi, sợ địa chấn, động đất… Nhưng người ta cứ nghĩ rằng có thể tin được dự báo và có thể tin ở khả năng hành động cấp thời của chính phủ. Mặc dù Louisiana là một tiểu bang của nước Mỹ và Katrina xảy ra ở Louisiana, nhưng vẫn còn nhiếu người chưa nắm hết cách chính quyền của ông Bush “ra tay” trong vụ này. Cựu bí thư báo chí của Tổng thống Bush, Scott McClellan, phát ngôn nhân của Nhà Trắng từ 2003 đến 2006, kể trong cuốn sách mới ra tuần này “What Happened: Inside the Bush White House and Washington’s Culture of Deception” (Đã xảy ra chuyện gì: bên trong Nhà Trắng của Bush và Văn hóa Ngụy tín của Washington) rằng đến một tuần sau tổng thống mới nghe lời xúi dại của Cố vấn số 1 bay máy bay cho an toàn, vòng vòng trên bầu trời nhìn xuống cảnh tan hoang dưới đất qua cửa sổ máy bay rồi thở dài. Bao nhiêu tai tiếng đã nổ ra từ cách phản ứng của chính quyền trước thiên tai đổ xuống cho hàng triệu người dân ở một nơi người da đen chiếm đa số.

Trung tướng hồi hưu Russel L. Honoré, vốn là tư lệnh Đệ nhất Quân đoàn và cầm đầu Lực lượng Đặc nhiệm Hỗn hợp trong vụ cơn bão Katrina, tuần này đã viết trên CNN rằng nước Mỹ cần phát triển một “văn hóa sẵn sàng trước thiên tai” (a culture of preparedness for disasters). Ông cho rằng “sự liên thuộc quốc tế và truyền thông hữu hiệu (trong thời đại ngày nay) kết hợp lại đã thường xuyên nhắc nhở chúng ta về (hai tai ương) thiên tai và nạn khủng bố”. Ông nhấn mạnh chúng ta rõ ràng đang sống trong một tình trạng bình thường mới: nguy cơ thiên tai thường trực nơi này hay nơi khác buộc hàng trăm ngàn hay hàng triệu người bỗng chốc phải hối hả bồng bế di tản đến nơi khác. Ông nhận xét rằng trong tình hình mới như thế mà chúng ta dường như vẫn vô tâm, chẵng có những chuẩn bị cần thiết để khi cấp thời có thể hành động kịp thời “trước những tai nạn từ ông trời hay từ con người”. Ông cảnh cáo “Đã đến lúc nước Mỹ phải thức tỉnh trước thực tế này.” Những biến cố xảy ra sau vụ khủng bố của al-Qaeda ngày 11-9-2001 như bão Katrina, cháy rừng ở California và Florida, nhiếu cơn lốc và cuồng phong, rồi địa chấn, động đất lẽ ra phải buộc người ta nghĩ lại và thay đổi lối nghĩ, lối sống của mình. Chúng ta đang đứng trước một loạt những nguy cơ: động đất, bão tố, dịch bệnh cho đến những tai nạn công nghiệp, mất điện, khủng bố và những hiệu quả của những cuộc tấn công có thể có bằng vũ khí giết người hàng loạt. Những gì chúng ta vẫn tưởng chỉ có trong phim ảnh dã tưởng trong thực tế lại vuợt quá sự tưởng tượng của phim ảnh.

Trách nhiệm chuẩn bị và xây dựng nền “văn hóa dự phòng” là của chính phủ, và bắt đầu phải bằng xây dựng ý thức nơi toàn dân để cho có thể có sự chuẩn bị hành động cấp thời ở nơi làm việc và ở gia đình. Trong những đề nghị mà ông nêu lên trong bài báo là đến ngày của cha hay ngày của mẹ hay ngày của ông bà, hãy cho các vị một cái radio thông báo thời tiết ngày đêm thay vì tặng khung hình, cà vạt… Và mỗi gia đình bao giờ cũng cần sẵn sàng chuẩn bị hành trang lên đường: thức ăn, áo quần và thuốc men cấp cứu…

Và của người

Để đề phòng thiên tai phải làm như thế, nhưng làm thế nào để đề phòng những tai ương đến từ chính con người? Những tai ương như chiến tranh Iraq chẳng hạn. Hay bất cứ cuộc chiến tranh nào được phát động với mục đích không rõ ràng và hy sinh xương máu con người một cách vô tâm.

Cuốn hồi ký của Scott McClellan đang gây sóng gió là vì một người của Tổng thống đương nhiệm kết luận rằng cuộc chiến Iraq là sai lầm, thất bại, tai họa, và những lý do được nêu ra để tiến hành chiến tranh có tính tùy tiện, ngụy tạo và lừa dối người dân. Theo McClellan, Tổng thống Bush đã phát động một cuộc vận động dư luận quần chúng có tính cách tuyên truyển và nhồi sọ dựa trên những niềm tin độc đoán thay vì dựa trên sự thật. Ông muốn đánh Iraq cho bằng được cho nên ông chế ra cho bằng được đủ mọi lý do, từ vũ khí giết người hàng loạt của Hussein đến xây dựng dân chủ, tự do ở Iraq… Trong khi ông Bush vẫn chưa trả lời được những cáo giác của McClellan, Thủ tướng Úc Kevin Rudd cũng lên tiếng tố cáo cựu Thủ tướng John Howard dối gạt dân Úc, ngụy tạo tin tức tình báo để biện minh chuyện Úc gởi quân đến Iraq theo yêu cầu của Mỹ và Anh. Bắt đầu từ ngày Chủ nhật 1-6, Úc rút 2,000 quân khỏi Iraq và thủ tướng Úc nói rằng Úc phải rút kinh nghiệm để tránh sai phạm lạm dụng tin tức tình báo trong tương lai.

Vấn đề không phải chỉ có hơn 4,000 lính Mỹ đã bị hy sinh và hàng chục ngàn bị thương. Vấn đề là hàng trăm ngàn người Iraq đã chết, lính và dân thường, và hàng triệu trở thành người tỵ nạn. Không lẽ sinh mạng, sự an toàn và hạnh phúc người dân Iraq không đáng kể trong bảng liệt kê hậu quả của cuộc chiến khi tính đến chính nghĩa của cuộc tấn công chiếm đóng Iraq sao. Vấn đề là trong lịch sử vào thời này hay thời khác nơi này hay nơi khác có những người lãnh đạo, tuy thời quân chủ đã trở thành xa xưa lac hậu, nhưng vẫn nghĩ mình có quyến thế thiên hành đạo, cho nên bắt người dân chết là phải chết cho những cuộc chiến tranh vô ích, vô nghĩa. Như trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Miền Bắc có thể có đến 3 triệu người chết – lính và dân thường. Không lẽ mạng sống của người Việt quá nhẹ quá rẻ so với mạng sống của lính Mỹ cho nên những người ở Hà Nội trong thời chiến thì không chút đắn đo, dè dặt sau chiến tranh thì không mấy thương tiếc, dằn vặt?

Điều bất hạnh triền miên cho loài người chính là ở chỗ cho dù loài người có đạt được những tiến bộ gì đi nữa, sự “lạm dụng” con người của thiên tai và của chính con người dường như có ít thay đổi về mặt bản chất từ thời Tần Thủy Hoàng cho đến nay.


Cuộc sống quanh ta

Hạnh phúc thay cho những người sống vô tâm, không lo nghĩ, không bận tâm về những vấn đề đáng bận tâm đích thực. Còn bao nhiêu người như thế vẫn nhởn nhơ – ngay trong số người Việt chúng ta? Người Mỹ đang trở lại thời “Người giàu cũng khóc”. Không có ai không bị “bệnh” ghiền dầu, xe cộ trên nước Mỹ vốn chạy như mắc cửi. Nhưng trong vòng năm tháng qua, dầu thô đã mấp mé 132 đô-la một thùng, xăng đã lên hơn 4.5 đồng một gallon – tăng đến 50% không phải chơi. Khủng hoảng lương thực và thực phẩm đang lan tràn khắp thế giới như một dịch họa. Đó là mối lo khác trong đời sống hàng ngày. Thị trường nhà cửa đình đốn, tín dụng mua nhà thì đang làm cho cả hệ thống ngân hàng khủng hoảng, không ít người lỡ mua nhà và người muốn bán nhà đang như ngồi trên lửa.

Với số đông người Mỹ, có lẽ thách đố suy thoái và lạm phát hiện nay có tính cách “đầu đời”. Suy thoái có nghĩa là đe dọa thất nghiệp và thu nhập teo lại. Lạm phát là giá cả cứ tăng mãi cho nên người ta phải bắt đầu cắt giảm ngân sách gia đình. Đáng thương nhất là những người già, lớn tuổi nhưng rõ rệt không dám về hưu, bệnh tật lũ lượt đến mà không dám đi bác sĩ hoặc vì không có bảo hiểm hay “thiếu” bảo hiểm, hoặc vì giá thầy giá thuốc lên cao quá…

Trong lâu nay, giải pháp người ta quen nhất của chính phủ là cắt giảm lãi suất và cắt giảm thuế để kích thích kinh tế. Sư tổ của giải pháp này là ông Alan Greenspan, chủ tịch Quỹ Dự trự Liên bang từ thời ông Bush cha qua đến ông Bush con. Nhưng xem chừng giải pháp này hết hiệu nghiệm và người mới, ông Ben Bernanke, có lẽ phải thấy chống lạm phát là quan trọng hơn nếu không ngăn chận được suy thoái. Lãi suất có thể lại từ từ lên để khuyến khích người ta bớt tiêu dùng và tiết kiệm. Bớt tiêu dùng thì người ta đã bớt từ vài tháng nay. Tiết kiệm thì có lẽ người ta không còn khả năng. Như thế suy thoái còn tiếp tục, nạn thất nghiệp sẽ được giải quyết thế nào và ảnh hưởng thế nào đối với đời sống người dân? Câu hỏi đó người ta quay nhìn Tổng thống Bush để mong chờ sự trả lời. Nhưng tổng thống Bush vẫn được tiếng là người “lặn kỹ”, “offstage”, trước những vấn đề kinh tế.

Người dân đã có đủ kinh nghiệm để hiểu sự giới hạn trong khả năng xây dựng của người lãnh đạo và sự vô tận trong khả năng đe dọa an lạc xã hội của những người ở trên cao. Nhưng theo thói quen, họ vẫn tuyệt vọng nhìn người lãnh đạo khi hữu sự. Vào tối thứ Ba, 3-6, họ đã có được một vài ý niệm về tương lai. Ai là lãnh đạo thay ông Bush người ta phải đợi đến tháng 11 mới chắc chắn, nhưng có điều chắc người ấy không phải là bà Thượng nghị sĩ tiểu bang New York và là cựu Đệ nhất Phu nhân Hillary Clinton. Đó là một điều đại phước cho nước Mỹ. Cuộc vận động ròng rã chín tháng qua của bà, dù rằng cho đến tháng Ba người ta đã khuyên bà nên rút lui đi để “bảo toàn lực lượng” của đảng Dân Chủ, tránh “hao tổn sinh linh”, tiền bạc, của cải của những nhà đầu tư chính trị và thời giờ của bá tánh, bà vẫn nhất định không là không. Cuộc vận động của bà đã xác nhận những gì người ta nghĩ, những gì người ta sợ, người ta không ưa về bà. Có cái gì đó không thật, quá quắt, ngang ngược, không đẹp ở một người tuy già nhưng vẫn còn đẹp. Những cái gì đó chỉ có một phần từ bà. Một phần quan trọng là từ Bill Clinton. Người ta đã kể nhiều trường hợp trong cuộc vận động cho bà vợ, ông Clinton đã làm hại bà như thế nào bằng cách ăn nói kiêu ngạo, trên đầu người ta, gài đối thủ vào những tội không có như khai thác chủng tộc, kỳ thị giới tính, khinh thị giới lao động… Tờ Vanity Fair còn nói rằng ông không tập trung đầy đủ vào việc đi vận động cho bà. Trong số ra đầu tháng Sáu, một bỉnh bút của tờ này, Todd Purdum, chính là chồng của Dee Dee Myers, phát ngôn viên của Nhà Trắng thời Bill Clinton, đã viết rằng ông Clinton vẫn thế, trên đường “lưu diễn” của ông vận động cho bà, ông đã kiếm thời giờ ghé thăm một số nhân vật “celebrities”, như nữ diễn viên Gina Gershon chẳng hạn. Ông Clinton mắng lại: “Đồ rác rưởi” – nhưng không đính chính.

Người ta đã mong chờ bà trong cuộc vận động sẽ xuất hiện như một sự lựa chọn mới của nước Mỹ: một người lãnh đạo phái nữ có những nữ tính dịu dàng, điềm tĩnh, thận trọng, sáng suốt, cân nhắc, có đức tính hy sinh và tầm nhìn hướng nội nhằm vào những chuyện người dân quan tâm. Dĩ nhiên phải có đến một nửa cử tri là phái nữ. Thế mà họ không ủng hộ bà tuyệt đối vì có người họ không thấy ở bà là một nguời đàn bà.

Nước Mỹ vẫn tỏ ra có khả năng kỳ diệu khi sắp xếp cho một người da màu lên làm tổng thống vào thời điểm tế nhị này. Đáng tiếc là điều người ta mong chờ tối thứ Ba đã không xảy ra. Bà Clinton đã bỏ lỡ cơ hội để chứng tỏ thực ra bà là phụ nữ – và bà khả ái. Bà không gọi điện thoại chúc mừng Barack Obama. Bà dường như đang làm cao, giữ khoảng cách. Nhưng bà bắn tiếng và vận động để cho Obama chấp nhận bà làm ứng cử viên phó tổng thống cho ông. Với lý do có một liên danh đen trắng đề huề. Người ta không chắc Barack Obama sẽ làm được gì khi là tổng thống nước Mỹ. Nhưng người ta chắc rằng ông sẽ chẳng làm được gì khi người phó là Hillary Clinton có Bill Clinton sau lưng. Cả Thượng viện Mỹ và Ủy ban Toàn quốc đảng Dân Chủ ai cũng sợ bà làm chủ tịch phe đa số Dân Chủ ở Thượng Viện hay chủ tịch đảng Dân chủ. Cho nên họ đá bà qua cho Obama. Chắc chắn Obama cũng đủ khôn ngoan để biết chuyện đó.

Cuối cùng thì người ta chợt nhớ đến lời than ngậm ngùi của lão trượng Lee Iacocca, nhà lãnh đạo “thần thoại” của kỹ nghệ xe hơi của Mỹ trong những năm 60-70: Tất cả những người lãnh đạo nước Mỹ đi đâu hết rồi? (Where have all the leaders gone?). Một đất nước không thể có một ngày không vua. Nhưng có lãnh đạo nhiều khi là tai ương gấp mấy lần là không có, như thời Quo Vadis chẳng hạn! [HNN]

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tại sao Obama thắng Clinton?
Friday, June 06, 2008
Ngô Nhân Dụng

Cả thế giới thích thú theo dõi cuộc tranh cử tổng thống Mỹ năm nay. Một màn mới kết thúc, nhiều người thắc mắc tại sao Nghị Sĩ Barack Obama qua mặt Nghị Sĩ Hillary Clinton trong cuộc tuyển chọn nội bộ của đảng Dân Chủ, mặc dù sáu tháng trước đây bà Clinton được coi như nắm chắc phần thắng. Tìm hiểu sự kiện đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn chế độ dân chủ ở nước này trong thực tế vận hành phức tạp như thế nào.

Trước hết, thông điệp chính mà hai ứng cử viên đảng Dân Chủ đã chọn khác nhau từ đầu. Từ đầu năm 2007, bà Hillary Clinton đã nhấn mạnh vào kinh nghiệm chính trị của bà, sau 8 năm làm vợ một ông tổng thống khi kinh tế nước Mỹ phát triển tốt đẹp, và 8 năm làm một nghị sĩ ôn hòa. Ông Barack Obama ngược lại, làm nghị sĩ liên bang mới được 2 năm, tự giới thiệu mình như là biểu tượng của hy vọng thay đổi. Ðó là những lựa chọn có tính cách chiến lược, giúp ông Obama thắng thế.

Hoàn cảnh nước Mỹ trong hai năm qua khiến đa số mọi người muốn thay đổi. Sau 7 năm ông Bush cầm quyền, đa số dân Mỹ thực sự muốn thay đổi. Cuộc chiến Iraq kéo dài chưa thấy kết quả, kinh tế đang bước vào chu kỳ trì trệ, dân chúng chán cả hai ngành Hành pháp và Lập pháp; Tổng Thống Bush chưa được tới một phần ba dân chúng tín nhiệm. Khung cảnh đó giúp thông điệp của Obama được đa số cử tri trong đảng Dân Chủ chấp nhận. Họ muốn có một vị tổng thống Dân Chủ đã đành, nhưng họ cũng muốn vị tổng thống mới đó “mới thật.” Từ thời Tổng Thống Reagan, qua thời ông Bush, hai ứng cử viên tổng thống đã tìm cách chứng tỏ họ “ở ngoài vòng” và không bị dính liền với giới chính trị thủ đô Washington, và họ đã đắc cử. Năm nay cả hai ông Obama và McCain hiện đều dùng hình ảnh đó.

Nhưng sự thất bại của bà Clinton còn nằm trong những sai lầm chiến thuật, ngay từ cách điều hành nội bộ ban vận động của bà. Cả hai ông bà tin tưởng ở một số người bạn trung thành của họ từ khi ông Clinton tranh cử tổng thống năm 1992. Trong ban vận động có nhiều ý kiến khác biệt, nhưng hai ông bà thường ngả theo ý kiến của ông Mark Penn, với nhiệm vụ chiến lược gia và người lo nghiên cứu, thăm dò dư luận. Ban vận động của ông Obama dùng 3 hay 4 người lo việc nghiên cứu dư luận, chứ không phải chỉ có một người. Khi có cố vấn khuyên bà Clinton nên nhấn mạnh đến khía cạnh “phụ nữ” của bà ngay từ đầu, ông Penn dựa trên những cuộc nghiên cứu dư luận của ông đã bác bỏ, cho là không ích lợi gì cả. Ngược lại, ông cho là chính vì bà là phụ nữ nên bà phải chứng tỏ mình là một người cứng rắn, đầy kinh nghiệm, có thể đảm nhiệm vai trò tổng tư lệnh toàn thể quân đội. Thay vì chọn để cho người ta yêu, ban vận động của bà Clinton muốn chọn hình ảnh một người được kính nể. Một biến cố bất ngờ cho họ, là buổi tối trước ngày dân New Hampshire bỏ phiếu sơ bộ, mùng 8 Tháng Giêng, có lúc bà Clinton tỏ ra mềm yếu, biểu lộ xúc động thật của mình về vụ mới bị thua ở Iowa, ngày hôm sau bà đã thắng. Khi đó, bộ máy tranh cử của bà Clinton thay đổi chiến lược về hình ảnh ứng cử viên, nhưng đã trễ vì ông Obama đã có đà vượt lên, sau khi thắng ở Iowa, nơi diễn ra cuộc “họp bàn” (caucus) đầu tiên, ngày 3 Tháng Giêng.

Kết quả bất ngờ ở Iowa cho thấy một sai lầm chiến thuật khác mà ban vận động của bà Clinton đã phạm. Ngay từ năm 2007, guồng máy tranh cử của bà tự tin là thế nào bà cũng được đại diện đảng Dân Chủ, cho nên các chiến thuật của họ đều nhắm vào cuộc tổng tuyển cử sau cùng giữa hai đảng chứ không quan tâm nhiều đến vụ lựa chọn trong đảng Dân Chủ. Họ có một ngân sách khổng lồ vượt trên các ứng cử viên Dân Chủ khác, cho nên dùng để đưa ra những thông điệp về chính sách của bà, ngõ hầu đối chọi với chính sách của đảng Cộng Hòa sau này. Ðặc biệt, họ không dồn sức vào việc vận động ở những tiểu bang tuyển chọn sơ bộ theo lối “họp bàn,” tức là caucus, như ở Iowa. Tại những caucus này, cử tri được mời tới họp, thảo luận, tranh cãi, rồi công khai chọn mình ủng hộ ứng cử viên nào. Kết quả các phiên họp đó sẽ được tổng kết cho toàn thể tiểu bang. Cách đó khác với bầu cử sơ bộ thật sự, khi các cử tri đi bỏ phiếu kín. Khi tổ chức theo lối “họp bàn” thì các ứng cử viên phải dùng nhiều người vận động từng khu phố, vào tận nhà các cử tri. Còn ở nơi bỏ phiếu sơ bộ thì ứng cử viên chỉ cần cổ động chung cho tất cả mọi người nghe, rồi chờ kết quả bỏ phiếu.

Ông Obama đã chiếm lợi thế ở những tiểu bang bầu theo lối “Họp bàn,” caucus, vì ông có một đạo quân tình nguyện rất đông những người trẻ tuổi nghe theo tiếng gọi thay đổi của ông. Họ đã lạc quyên được rất nhiều những món tiền nhỏ dưới 200 đô la cho quỹ tranh cử Obama, họ dùng Internet huy động những người trẻ tuổi khác. Và đạo quân đó đã lôi cuốn các cử tri Dân Chủ ở Iowa. Năm 1992 Tổng Thống Bill Clinton đã thua ở Iowa, năm 1996 ông thắng vì không có ai là đối thủ. Cho nên ban vận động Clinton lơ là với mặt trận Iowa, để cho đạo quân của Barack Obama chiếm địa bàn ngay từ Mùa Hè năm 2007. Khi dư luận ở Iowa ngả sang hẳn ông Obama, chính ông Tom Vilsack, thống đốc tiểu bang này, một người ủng hộ bà Clitnon đã cảnh cáo rằng các cử tri ở Iowa biết bà là một người có khả năng làm tổng thống, nhưng họ không thích bà! Ngay sau đó, bà Clinton mới mời mẹ và cô con gái, cùng những người bạn thân thiết tới Iowa vận động, để trình bày một con người Hillary Clinton được yêu chứ không phải chỉ muốn cho người ta kính nể mà thôi. Khi đó thì đã trễ. Nhưng sau khi thua ở Iowa, bà Clinton vẫn không thích đi vận động ở những tiểu bang bầu theo lối caucus, như Idaho, Nebraska, để mặc cho ông Obama.

Một lý do khiến cho bà Clinton không thay đổi chiến lược và chiến thuật đúng lúc là vì hai vợ chồng tin tưởng vào những người thân tín lâu năm, ngả theo ý kiến của họ, trong lúc nhiều người trong ban vận động đã nêu lên những ý kiến ngược lại. Sang Tháng Hai, bà phải cho người quản trị chính nghỉ, và sau đó ông Mark Penn cũng phải rút lui. Công ty quảng cáo mà ông Penn là chủ tịch (CEO) đã vận động Quốc Hội Mỹ thông qua một dự luật tự do thương mại với nước Colombia, một dự luật mà chính bà Clinton chống vì sợ mất lòng giới công nhân và các nghiệp đoàn.

Trong những cuộc bỏ phiếu sau New Hampshire, ông Obama đã thắng liên tiếp, huy động được thêm giới trẻ ủng hộ, những món tiền ủng hộ nhỏ chẩy vào quỹ tranh cử, tạo được đà tiến tới mãi. Trước đó, nhiều người ủng hộ tiền vào quỹ của bà Clinton nhưng đa số là những món tiền lớn, tới mức tối đa 2,300 đô la. Số người ủng hộ ông Obama lên tới trên một triệu rưỡi, đa số góp cho quỹ tranh cử những món tiền nhỏ, chứng tỏ sức thu hút của nhà chính trị trẻ tuổi mang hai dòng máu này.

Nếu không có cuộc cách mạng tin học, với mạng lưới Internet, thì chắc không có “hiện tượng Obama.” Chính kỹ thuật truyền thông mới này huy động được những người tình nguyện và góp tiền. Thế hệ mới bước vào tuổi đi bầu ở Mỹ đã lớn lên trong một xã hội mà mầu da đen hay trắng không mang một hàm ý chính trị như thời cha, anh họ. Các ứng cử viên da đen ở Mỹ, trước đây 25 năm thường đóng vai “nạn nhân” và luôn nhắc đến di sản của chế độ nô lệ, khoe các thành tích tranh đấu đòi dân quyền. Ông Obama hoàn toàn thay đổi. Ông được giới trẻ hâm mộ, không phân biệt mầu da, mặc dù ông cũng thu hút đại đa số các cử tri da đen. Trong khi đó, cựu Tổng Thống Bill Clinton đã phạm một lỗi lầm chiến lược, khi nói bóng gió đến nạn kỳ thị mầu da. Ông Clinton đến tiểu bang South Carolina, nhắc đến sự thất bại của ứng cử viên tổng thống da đen Jesse Jackson, ám chỉ một người da đen cuối cùng khó đắc cử làm tổng thống Mỹ. Lời nói đó không những gây phẫn nộ trong giới người da đen mà còn khiến giới trẻ thấy ông bà Clinton vẫn dùng những chiêu bài của thế hệ trước, những vấn đề kỳ thị mà nước Mỹ đang muốn vượt qua. Bà Clinton thua ở South Carolina, thu được số phiếu bằng nửa ông Obama. Thắng thế ở đó đã đẩy cho ông Obama thêm đà tới nữa.

Có những chuyện tình cờ cũng ảnh hưởng đến kết cục cuộc chạy đua Clinton-Obama, không ai đoán trước được. Một chuyện là vụ tiết lộ những video về Mục Sư Wrights thuyết giảng những lời chống nước Mỹ và người Mỹ da trắng, mà ông Obama thân thiết với vị mục sư này suốt 20 năm qua. Nếu như những đoạn video đó được đưa ra ba bốn tháng trước đó, thì có thể đã ảnh hưởng đến những cuộc bỏ phiếu. Kết quả ngày “Thứ Ba Siêu” 25 Tháng Ba có khác nhiều hay không? Ông Oboma có thể bị “mất đà” cho bà Clinton lấy lại thế thượng phong hay không? Không ai biết được.

Cuối cùng, ông Obama tạo được một hình ảnh hấp dẫn đối với thế hệ các cử tri đảng Dân Chủ dưới 30 tuổi, vì con người ông và cách tranh cử của ông đều “không theo quy ước cũ”. Trong lúc đó bà Clinton vẫn mang hình ảnh của một chính trị gia thế hệ trước đây 20 năm. Giữa “kinh nghiệm” và “hy vọng thay đổi” các cử tri đảng Dân Chủ đã chọn hy vọng.

Nhưng hình ảnh trẻ trung của ông Barack Obama có đủ hấp dẫn toàn thể các cử tri nước Mỹ trong cuộc chạy đua sắp tới với ông John McCain hay không, chúng ta lại phải chờ coi “hồi sau phân giải.” Trong cuộc bỏ phiếu toàn quốc này, các “luật chơi” hoàn toàn khác với cuộc bầu cử sơ bộ, chắc chắn sẽ đòi hỏi những chiến lược và chiến thuật mới. Chỉ khi nào hai bên “ra đòn” chúng ta mới biết họ sẽ thi thố tài cao thấp ra sao.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Giữ Vững Lằn Ranh Quốc Cộng, Phân Biệt Rõ Bạn Thù
Tác giả: Nguyễn Quốc Đống



GIỮ VỮNG LẰN RANH QUỐC CỘNG, PHÂN BIỆT RÕ BẠN THÙ ĐỂ ĐẨY MẠNH CÔNG CUỘC TRANH ĐẤU CHO TỰ DO, DÂN CHỦ TẠI QUÊ NHÀ

Tranh đấu cho 1 nước Việt Nam tự do dân chủ hầu mang lại hạnh phúc cho người dân là niềm mơ ước của mọi người dân Viê.t. Khi tình nguyện vào trường Võ Bị đại đa số chúng ta cũng mang niềm mơ ước này và chọn binh nghiệp làm phương tiện để thực hiện hoài bão to lớn đó.

Trách nhiệm của người trai thời loạn cũng góp phần vào sự chọn lựa đầy ý nghĩa này của chúng ta. Chúng ta muốn trực diện cùng kẻ thù trên các trận địa, chặn đứng làn sóng tấn công của chúng trên chiến trường để bảo vệ nếp sống tự do và an bình cho người dân trên mảnh đất cuối cùng của chúng ta là miền Nam Việt Nam. Kẻ thù của chúng ta không phải là bọn ngoại xâm mà chính là những người cùng chung một huyết thống, cùng dòng giống Việt, cùng nói một ngôn ngữ, từng có chung 1 nền văn hóa.

Nhưng những người anh em này chọn lựa chủ nghĩa ngoại lai Mác- Lênin, mơ ước xây dựng 1 chế độ xã hội chủ nghĩa để tiến đến chế độ Cộng sản mà họ từng mơ ước. Lãnh tụ của những người Cộng sản này là Hồ Chí Minh, người đem học thuyết Mác- Lê áp đặt lên dân tộc Việt và kể từ đó đất nước ta chìm đắm trong chiến tranh và nhân dân phải chịu muôn ngàn thống khổ. Vì vậy tuy cùng là dân 1 nước nhưng người Việt đã chia thành 2 phe rõ rệt: 1 phe “Cộng sản” quyết thực hiện “3 dòng thác cách mạng” tại quê nhà bằng mọi giá: cách mạng giải phóng dân tộc (nói là để giành độc lập khỏi sự thống trị của ngoại bang), cách mạng dân chủ, nhân dân (giành lại quyền làm chủ về chính trị cho người dân) và cách mạng vô sản (tiêu diệt giai cấp tư sản bóc lột). Giấc mơ của người Cộng sản là 1 thế giới đại đồng với tất cả các quốc gia đều là anh em cùng tin tưởng ở chủ thuyết Mác- Lênin.

Ranh giới các quốc gia sẽ không còn, gia đình phải lùi bước trước xã hội và tôn giáo cũng sẽ không còn chỗ đứng vì đã có “ánh sáng Mác- Lê“thay thế. Ý thức được chủ thuyết ngoại lai này một khi được hình thành sẽ tiêu diệt toàn bộ nếp sống tự do, dân chủ của người dân và tiêu diệt toàn bộ nền văn hóa dân tộc đã hình thành trong nhiều ngàn năm qua, cả triệu dân miền Bắc đã di cư vào miền Nam và cùng nhân dân miền Nam góp công xây dựng 1 quốc gia không Cộng sản là Việt Nam Cộng Hòa.

Chế độ VNCH tuy chỉ đứng vững được 21 năm nhưng đã tỏ rõ là 1 chế độ nhân bản tôn trọng các quyền tự do căn bản của con người, đem lại cơm no, áo ấm cho người dân dù phải đương đầu với thù trong, giặc ngoài. Trong cuộc chiến chống Cộng sản miền Bắc xâm lược, 1 số chúng ta đã không giữ được lằn ranh Quốc- Cộng nên đã để cho kẻ thù xâm nhập được vào phòng tuyến của chúng ta, lung lạc ý chí chiến đấu của chúng ta và sau cùng lũng đoạn hàng ngũ của chúng ta.

Cùng với một số yếu tố bất lợi khác của hoàn cảnh lịch sử, chúng ta đã bị bắt buộc phải buông súng, chấm dứt cuộc chiến khi trách nhiệm chưa hoàn thành, ước mơ chưa thực hiê.n. Đó chính là nguyên nhân thúc đẩy người cựu SVSQVB tỵ nạn Cộng Sản hiện đang định cư ở các nước từ hơn 30 năm qua vẫn tiếp nối công cuộc chống Cộng còn dở dang.

Cuộc chiến Quốc- Cộng chỉ chấm dứt trên các trận địa nhưng hòa bình thực sự thì không có và sự hòa giải dân tộc chưa bao giờ xảy ra. Cộng Sản VN trong tư thế của kẻ thắng trận đã thi hành 1 chính sách trả thù vô cùng tàn độc đối với những người mà chúng rêu rao là “được giải phóng”.

Chúng ta là 1 trong các đối tượng chịu những đòn thù thâm độc nhất. Nhiều người trong chúng ta đã phải trải qua tuổi thanh xuân trong các trại lao cải ở khắp các vùng xa xôi từ Nam chí Bắc. Nhiều người bị thủ tiêu, tra tấn, đánh đập dã man hoặc chết vì đói rét, bệnh tật. Nhưng nhiều người trong chúng ta cũng còn may mắn trở về được từ những địa ngục trần gian này.

Nhờ bàn tay bao dung của thế giới tự do chúng ta tìm được 1 mái ấm gia đình mới cho bản thân và gia đình. Chúng ta được hít thở không khí tự do và được sống với phẩm giá của 1 con người. Những điều này vẫn chỉ là 1 ước mơ đối với đa số người dân Việt tại quê nhà hiện nay. Vậy chúng ta có thể nào tự bằng lòng với những gì mình đang được thụ huởng, cho rằng mình chiến đấu đã quá đủ và trả giá cũng đã quá đủ hay không?

Chúng ta có thể thờ ơ với những gì đang xảy ra cho đồng bào tại quê nhà và dửng dưng với những nỗ lực của đồng hương tỵ nạn Cộng Sản đang tranh đấu chống sự xâm nhập của Cộng Sản ngay tại mảnh đất trú thân cuối cùng của chúng ta và con cháu hay không? Đã hơn 30 năm sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay quân Cộng Sản miền Bắc xâm lược, lằn ranh Quốc-Cộng vẫn còn đậm nét trong lòng những người Việt quốc gia yêu nước, yêu tự do, dân chủ. Họ không thể nào chấp nhận hòa hợp, hòa giải với Cộng Sản vì những người này chưa bao giờ thực lòng chấp nhận những ai đi ngược lại đường lối, chính sách của họ. Có thể nói Quốc gia và Cộng Sản là 2 phe đối nghịch nhau như nước và lửa.

Một số người cho rằng Cộng Sản đã thay đổi rồi nên đâu cần phải chống chúng. Họ chỉ nhìn thấy sự thay đổi ở cái bề mặt hào nhoáng, các tụ điểm ăn chơi tấp nập, các khách sạn 5 sao sang trọng, các số tiền đầu tư to lớn được đổ vào thị trường kinh tế VN để rồi thấy phấn khởi cho tương lai của đất nước và dân tô.c. Họ không ý thức được rằng chỉ có 1 thiểu số cán bộ cầm quyền và bè lũ tay sai được hưởng phúc lợi của những món tiền đầu tư to lớn này, còn đại đa số dân thường vẫn sống trong lầm than, nghèo đói và đất nước đang dần dần mất đi sự độc lập và chủ quyền quốc gia vì CSVN lợi dụng vị thế độc tôn của mình để cắt đất, dâng biển cho đàn anh Trung Cô.ng.

Họ không thấy được đằng sau nếp sống xa hoa kia là cả 1 thế giới tối tăm vô vọng của những gia đình phải để con gái bán thân và để con trai bán sức lao động tại nước ngoài. Cộng Sản Việt Nam có thể thù chúng ta là những kẻ bỏ nước ra đi nhưng chúng cũng chẳng đem lại cuộc sống ấm no gì cho người dân trong nước, chẳng độc lập, không tự do và tất nhiên cũng không có hạnh phúc nữa. Cuộc chiến Quốc- Cộng giờ đây là cuộc chiến của những người yêu chuộng tự do, dân chủ và những tội đồ của dân tộc: những kẻ buôn dân, bán nước với lòng tham vô đáy: tham quyền, tham tiền, tham danh, tham lợi….

Chúng ta có đủ tư cách tham gia cuộc chiến Quốc-Cộng này hay không? Thứ nhất đây vẫn là trách nhiệm của chúng ta, những người trai tự nguyện đem tuổi trẻ và nhiệt huyết cống hiến cho đất nước và dân tộc, quyết tâm xây dựng 1 nước Việt Nam tự do, dân chủ, những lý tưởng cao cả của con người. Thứ hai, chúng ta được hoàn cảnh tạo cho mình những điều kiện thuận lợi để tôi luyện ý chí, rèn luyện kỹ năng. Thời gian quả đã khiến nhiều anh em trong chúng ta nhụt mất ý chí và mất định hướng tranh đấu nhưng số anh em chúng ta còn nuôi dưỡng được nhiệt huyết với quốc gia, dân tộc không phải là nhỏ.

Một số bạn tương đối còn trẻ còn có cơ hội trở lại trường học tiếp bậïc đại học và học lên đến cao học hay tiến sĩ. Đây là những thành phần chất xám rất đáng quý của chúng ta. Nếu chúng ta biết sử dụng những tri thức thu nhập được tại xứ sở tạm dung này vào công cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ tại quê nhà, cuộc tranh đấu này sẽ có 1 luồng gió mới và chắc chắn sẽ đạt được nhiều thành quả hơn trong tương lai. Điều quan trọng là tổ chức của chúng ta biết xây dựng cho tập thể chúng ta 1 ý thức trách nhiệm đúng đắn, 1 lý tưởng vững mạnh để chống lại sự tuyên truyền nguy hiểm của kẻ thù. Còn nếu chúng ta không còn trẻ nữa thì mình vẫn còn có thể đóng góp cho công cuộc tranh đấu chung bằng các kinh nghiệm quý giá của bản thân. Sự hướng dẫn đứng đắn của các bậc đàn anh luôn luôn là những bài học quý báu đem lại niềm tin cho thế hệ đàn em và cho các cháu Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu.

1 điều nữa chúng ta không thể quên được là dù chúng ta có dễ dãi với kẻ thù và muốn quên đi quá khứ để yên thân với hiện tại, chúng cũng không để chúng ta yên thân.

Chắc chúng ta chưa quên những lời nói miệt thị mà CSVN dành cho những người bỏ trốn khỏi chế độ của chúng. Chúng coi những người di tản khỏi đất nước khi miền Nam rơi vào tay CS tháng 4 năm 1975 hay những người vượt biên sau này là “thành phần cặn bã của xã hội, chạy theo đế quốc để hưởng bơ thừa, sữa cặn”. Ngày nay, chứng kiến sự thành công của họ tại hải ngoại, chúng lại muốn khống chế người Việt hải ngoại để họ đem tiền bạc về cho chúng hưởng lợi.

Cuộc tranh đấu của chúng ta bước sang 1 trang mới, với những khó khăn mới. Kẻ thù của chúng ta bây giờ dùng những thủ đoạn gian manh, tinh vi hơn để mong đánh lừa chúng ta 1 lần nữa. Chúng ta còn gặp nhiều khó khăn hơn xưa vì ngoài kẻ thù rõ mặt là bọn cán bộ CS, chúng ta còn phải đối phó với “nội thù”. Bọn này còn nguy hiểm và khó thắng hơn cả bọn cán bộ CS vì chúng nằm ngay trong hàng ngũ của chúng ta. Chúng biết ta mà có khi ta không biết được những âm mưu của chúng. Chúng phá ta mà đôi khi ta cứ tưởng chúng là bạn nên không đối phó được. Đến khi chuyện xảy ra và biết được kẻ thù là ai thì mọi chuyện đã quá trễ: tác hại đã xảy ra, lực lượng bị tiêu hao và sự đoàn kết đã mất đi nhiều.

Nhìn vào tình trạng của cộng đồng người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại hiện nay chúng ta phải công nhận 1 trong những nhược điểm của chúng ta là quá dễ dãi trong vấn đề phân biệt bạn-thù, không giữ vững lằn ranh Quốc- Cộng nên đã để mất định hướng, không tập họp đúng lực lượng và để kẻ thù len lỏi quá sâu vào hàng ngũ chống Cộng.

Trong nhiều năm chúng ta còn nuôi dưỡng cho kẻ thù của chúng ta lớn mạnh để sau này khi có điều kiện thuận lợi chúng không ngần ngại phá hoại hàng ngũ của chúng ta. Hãy nhìn vào các hiện tượng như tuần báo Việt Weekly công khai ca tụng CSVN, nhật báo Người Việt tại Nam California ca tụng lãnh tụ CS và nhục mạ quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ, ca sĩ hải ngoại tổ chức chương trình ca nhạc để tưởng niệm Trịnh Công Sơn, tên Cộng Sản nằm vùng nguy hiểm, kẻ đã dùng những dòng nhạc ủy mị, phản chiến để lung lạc ý chí tranh đấu chống Cộng của quân dân miền Nam, các tăng sĩ chủ trương cộng tác với bạo quyền để được an thân hành đạo, làm việc thiện, làm văn hóa và công khai chống lại các tăng sĩ chủ trương phải tranh đấu để có tự do tôn giáo đích thực.

Hãy nhìn vào các thương gia sống và làm giàu nhờ vào đồng hương tỵ nạn CS nay quay sang bắt tay với kẻ thù để thủ lợi nhiều hơn. Hãy nhìn quanh ta để thấy không thiếu gì những ca sĩ về nước ca hát đánh bóng cho bạo quyền CS và nói xấu đồng bào hải ngoại… Những kẻ đón gió, trở cờ loại này càng ngày càng nhiều.

Chúng ta có nên thất vọng và buông tay đầu hàng hay không khi hoàn cảnh cho thấy chúng ta gặp rất nhiều bất lợi trong 1 cuộc chiến không cân sức như hiện nay? Kẻ thù của chúng ta nắm trọn quyền hành trong 1 đất nước thống nhất nên tài nguyên, nhân lực đều quy về 1 mối. Kẻ thù của chúng ta lại gian ác và sẵn sàng thi hành mọi thủ đoạn hiểm độc để lũng đoạn hàng ngũ của chúng ta. Chúng dùng hết nghị quyết này đến nghị quyết khác để khống chế hơn 3 triệu người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại tuy chỉ là thiểu số so với hơn 80 triệu dân trong nước nhưng có 1 ý chí kiên cường và 1 tấm lòng tha thiết với tiền đồ của đất nước.

Thực tế cho chúng ta thấy dù phải đối phó với mọi âm mưu thâm độc của CS và tay sai (bọn Việt gian sẵn sàng thi hành kế sách của CS để phá hoại sự đoàn kết và làm tiêu hao lực lượng của chúng ta), chúng ta vẫn kiên quyết không lùi bước trước sự tấn công và phá hoại của chúng. Sự kiện Trần Trường năm 1999 tại Nam California là 1 tập họp ngoạn mục của những người dân không chấp nhận sự hiện diện của các biểu tượng CS tại thủ đô của người Việt tỵ nạn CS tại Hoa Kỳ.

Chiến dịch vinh danh cờ VNCH tại nhiều tiểu bang, các quận hạt và thành phố tại Hoa Kỳ cho thấy ý chí cương quyết bảo vệ căn cước tỵ nạn của chúng ta. Các công trình xây dựng các đài tưởng niệm chiến sĩ để nêu cao chính nghĩa quốc gia và vinh danh các anh hùng tử sĩ vị quốc vong thân tại các cộng đồng có đông dân Việt tỵ nạn CS chứng tỏ chúng ta không quên lịch sử tỵ nạn CS của cộng đồng người Việt. Và mới đây nhất cuộc tranh đấu trường kỳ của đồng hương San Jose để bảo vệ danh xưng Little Saigon cho 1 khu thương mại của người Việt, đồng thời cũng là để bảo vệ căn cước tỵ nạn chính trị chống lại sự lạm quyền của 1 số chức sắc dân cử có hành động phản dân chủ và có biểu hiện phục vụ cho những kẻ làm hại cho công cuộc chống Cộng của chúng ta. Đây là những thành quả đáng trân trọng trrong cuộc chiến Quốc –Cộng hiện nay.

Lý tưởng mà chúng ta chọn lựa là 1 lý tưởng đúng đắn. Tranh đấu cho Việt Nam có tự do, dân chủ thực sự là trách nhiệm của tất cả mọi công dân yêu nước. Muốn thế chúng ta phải có ý chí vững mạnh, có quyết tâm cao độ và phải chịu hy sinh. Không có thành quả nào có thể đạt được mà không tốn mồ hôi, nước mắt và có khi cả xương máu nữa. Nhưng có những sự hy sinh chúng ta không thể từ chối được nếu đó là giá phải trả cho một cuộc sống có phẩm giá, cho sự trường tồn của 1 nền văn hóa và sự sống còn của 1 dân tộc.

Trong cuộc tranh đấu trường kỳ Quốc- Cộng này, chúng ta cần khắc phục 1 nhược điểm lớn: đừng coi thường kẻ nội thù, phải biết nhận diện và cô lập bọn người này để thanh lọc hàng ngũ và giữ vững sự đoàn kết. Chúng ta hẳn còn nhớ chuyện An Dương Vương ngày xưa mất cả vươngï nghiệp không vì kẻ ngoại xâm mà chính vì kẻ nội thù. Chính con gái của nhà vua đã vô tình giúp kẻ thù làm sụp đổ cơ nghiệp của phụ vương khiến đất nước rơi vào sự thống trị của ngoại bang. Biết được kẻ nộâi thù là ai, nhà vua đã can đảm vung gươm giết ngay, dù đó là con gái của chính mình. Trong hàng ngũ các cựu SVSQ Võ Bị, chúng ta không thiếu các tấm gương sáng sẵn sàng hy sinh vì cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ tại quê nhà.

Nhưng nếu các hoạt động của các cá nhân hay các hội địa phương được nhân lên thành 1 phong trào và Tổng Hội mạnh dạn hỗ trợ cho các hoạt động đúng đắn phù hợp với tôn chỉ của TH thì kết quả đạt được sẽ nhiều hơn và có ý nghĩa hơn. Chúng ta cần đoàn kết các thành phần cùng chung ý chí nhưng cương quyết loại trừ các thành phần có tư tưởng yếm thế, chủ bại, có hành động gây hại cho công cuộc tranh đấu chống Cộng của chúng ta.

Nhìn vào thực trạng xã hội Việt Nam hiện nay sau hơn 30 năm Đảng Cộng Sản Việt Nam thống trị đất nước, tôi thiết nghĩ tập thể cựu SVSQVB cần tạo 1 sự đoàn kết lớn mạnh, thống nhất ý chí để cùng nhau hành động hữu hiệu trong cuộc chiến Quốc-Cộng đang tiếp diễn gay gắt hiện nay tại hải ngoa.i.

Ban Chấp Hành Tổng Hội cần sáng suốt và chủ động trong việc lãnh đạo các hội địa phương để các cựu SVSQVB được tập họp thành 1 khối vững chắc biết hành động đúng đắn để có thể đạt được những mục tiêu cao đẹp do Tổng Hội đề ra. Lịch sử đã chứng minh Hồ Chí Minh và tay sai của ông ta là các tội đồ của dân tộc, quá trình hoạt động của Đảng CSVN là 1 quá trình dối trá, lường gạt nên chúng ta không thể để bị chúng lừa thêm 1 lần nữa. Chúng ta dứt khoát không chấp nhận hòa hợp, hòa giải với Cộng Sản như bè lũ tay sai của CS đang nỗ lực tuyên truyền, vận động mà phải dứt khoát tư tưởng và kiên trì trong cuộc chiến Quốc-Cộng hiện nay. Góp 1 phần trong cuộc chiến này, chúng ta có thể hãnh diện mình đã tiếp tục sống theo lý tưởng của người cựu SVSQ/TVBQGVN.

Nguyễn Quốc Đống, K.13

Post Reply