Bình Luận Thời Sự
Hoàng Sa, Trường Sa Và
Tham Vọng Quân Sự Của Trung Quốc
Trần Thị Hồng Sương Thông tin dưới đây trên báo The Australian Úc, xác định chiến lược, bộc lộ tham vọng biển Đông của Trung Quốc và lý do bùng phát mâu thuẫn với Việt Nam về Trường sa và Hoàng sa nhiều năm nay..
Có nhiều biểu hiện cho thấy đây chính là lý do Đài Loan, Philippine đều muốn thị sát Trường Sa để ước tính một khả năng và hải trình tấn công phòng thủ đối với Trung Quốc rõ hơn là vì tham vọng lãnh thổ, dầu hỏa.
Hoan nghênh Đài Loan và Philippine đã hủy bỏ các chuyến đi vì cần phải tôn trọng chủ quyền VN. Nếu cần phải xin thuê mướn làm căn cứ, hay liên minh chia xẻ thông tin quân sự chiến lược với VN.
Nếu nay VN đóng góp vào hoà bình thế giới bằng nhận định rõ ràng độc lập về con đường đối ngoại, thì cán cân lực lượng biển Đông với nguy cơ bị TQ làm mất ổn định sẽ được hạn chế.
Năm 1945 ông Nguyễn Tất Thành không làm được việc chọn lựa phe đồng minh tốt là Mỹ. Do cá nhân thấp kém không được Mỹ chiếu cố dù có viết bảy lá thư cầu thân, và làm cả việc giải thể đảng CS, cũng không là người có đủ uy tín để được chọn lựa. Khi biết nước Mỹ tốt, nhưng mà vì do tham vọng cá nhân ngã theo Mao, lợi dụng lòng yêu nước của dân tộc, khiến VN có 30 năm khói lửa và 3,8 triệu người chết, mất đất, mất biển... Thử hỏi lịch sử có thể nào dành cho con người này danh phận nào ngoài tội tham vọng phản dân hại nước. VN hôm nay phải làm được việc chọn lựa đúng.
TQ luôn cao ngạo, luôn dùng biện pháp "côn đồ" cướp đảo, bắn giết ngư dân nên VN, có thể dứt khoát chọn lựa là thứ lân bang không thân thiện, đối thủ trong công bằng nếu muốn có hoà bình.
Dân chúng và Việt kiều đóng góp tiền thuê Interpool quốc tế truy tìm kẻ bắn giết ngư dân mà TQ luôn chối dài. Hình ảnh trên vệ tinh không phải không có. Sau đó đưa ra toá án quốc tế, chứ sao mà đảng và chánh quyền CS im ỉm cam phận thấp hèn hoài, và còn hùa theo TQ nói qua loa với dân VN?! VN có quyền đàm phán cho Đài Loan, Philippine thuê các đảo làm căn cứ và làm người điều hành căn cứ gìn giữ hoà bình quốc tế Nato ở Cam Ranh.
VN có vịnh Cam Ranh từng là căn cứ Hải Quân an toàn, có tầm ảnh hưởng quốc tế. Nếu Việt Nam được quốc tế giúp sở hữu các phương tiện bảo vệ, đủ thực lực kiểm soát vùng biển hữu hiệu, đòi lại Hoàng Sa Trường Sa, và phối hợp quốc tế giữ gìn hoà bình toàn vẹn lãnh thổ, là con đường đưa VN đến uy tín quốc tế trong một thế giới hoà bình và tiến bộ.
Về đối nội phải mau chóng xoá bỏ đặc quyền cho người cơ hội, phe nhóm tham nhũng hưởng lợi, gây thành gió nổi sóng ngầm không ủng hộ CSVN. Thiết lập cơ chế dân chủ để mục đích chọn ra được người tốt, người giỏi đảm đương việc nước.
Nhật cũng từng đi sai đường trước CSVN, và chỉ khi nhận ra điều cao cả hơn trong tinh thần nhân loại thì mới có được sự an lành tiến bộ.
* Tài liệu tham khảo: (Thông tin trên báo The Australian Úc)
Không ảnh căn cứ tàu ngầm hạt nhân dưới lòng đất của Trung Quốc
(Satellite images reveal China’s underground nuclear submarine base)
Rowan Callick, China correspondent April 24, 2008
Chuyên gia tình báo quân sự thuộc nhóm Jane’s Information Group nói, Trung Quốc đang xây dựng một căn cứ lớn dưới lòng đất cho tàu ngầm hạt nhân tại vùng bán nhiệt đới của Trung Quốc là đảo Hải Nam.
Nhóm Jane’s nói năm năm trước (2003) đã có thông tin đầu tiên từ bộ phận phòng ngự Châu Á về việc xây dựng căn cứ này, nhưng bây giờ có thể xác định qua không ảnh vệ tinh mới có độ phân giải cao.
Hải quân Trung Quốc nhanh chóng gia tăng lực lượng. Có 57 tàu ngầm trong đó có 5 tàu ngầm trang bị vũ khí hạt nhân, đa số tàu ngầm mang hoả tiển chống tàu thủy Yingi-8 có thể phóng hỏa tiễn khi vẫn đang lặn dưới mặt nước
Điều này cho thấy một khả năng mới khi, 18 tháng trước, một tàu ngầm dài 75 mét tên Song S20, đóng tại hãng đóng tàu thủy Wuhan trang bị khác thường bằng động cơ diesel không gây tiếng động của Đức, bất ngờ nổi lên giữa một điểm tập kết quân sự chiến đấu Mỹ.
Tàu ngầm xuất hiện trong vòng 8Km từ tàu sân bay Kitty Hawk tại vùng biển quốc tế không xa Okinawa là đảo phía Nam của Nhật.
Căn cứ Yulin mới này nằm gần Tam Á Sanya, một trung tâm nghĩ mát đang phát triển nhanh của Nam Hải Nam. Sanya là nơi Thủ tướng Kevin Rudd và chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào gặp nhau 12 ngày trước.( 12.4.2008)
Đảo nhỏ bằng một nửa là Tasmania là điểm du lịch nổi tiếng và trái cây nhiệt đới và từng là nơi tổ chức thi Hoa Hậu thế giới.
Căn cứ cách bờ biển Việt Nam chừng 200 Km. Jane’s nói tầm cỡ của căn cứ cho thấy có khả năng trở thành một căn cứ trọng điểm cho chuyên chở hàng không và tàu biển trọng tải lớn cũng như tàu ngầm.
Loại hoả tiễn cho tàu ngầm là 094 thuộc thế hệ hai đã được chở đến đây tháng 12.2007.
Jane nói căn cứ như vậy có ý nghiã "cho việc Trung Quôc kiểm soát vùng biển Trung Quốc phía Nam và ý đồ chiến lược của Bắc Kinh về việc kiểm soát chặt chẽ vùng eo biển trên mặt và ngầm của vùng biển này."
Điển hình là việc Trung Quốc đòi không được đưa ra giải thích nào cho công chúng về sự sự phát triển (quân sự ) này, trong tranh luận nóng giữa Trung Quốc với Việt Nam về chủ quyền đảo Trường Sa Hoàng Sa - được cho rằng có nhiều dầu - cũng như có các chuyến hải hành dày đặc đến từ Châu Âu, Bắc Á, Đào Loan cách 900 Km đông bắc Hải Nam.
Và Jane’s nói thêm rằng:"Sự tăng cường sự độc lập cung ứng trong việc nhập khẩu dầu và khoáng chất của Trung Quốc đã đóng góp công sức vào mối quan đặc biệt về việc bảo vệ đường ra vào mang tính quan trọng sinh tử của các vùng biển nhất là phía Nam "
Ban An ninh quốc gia Đài Loan vừa mới báo cáo rằng số hoả tiễn chống Đài Loan do Trung Quốc triển khái đã tăng đến con số 1.400 đầu năm nay 2008, thêm chừng 190 hoả tiễn từ tàu thủy nổi.
Ban An Ninh nói Hải quân Trung Quốc, với trên 1,000 hoả tiễn và 250.000 quân đã đạt sức mạnh cần thiết để phong toả Đài Loan.
Đài Loan chi 12,3 tỷ cho 8 tàu ngầm chiến đấu có động cơ diesel, sẽ mua của Mỹ, dù kết cấu tiên tiến nhất có thể phải cần đến 18 tháng mới hoàn thành. Quyết định này dự kiến được đưa ra ngay sau ngày 20 tháng năm, lễ nhậm chức của Tổng thống Đài Loan mới là Ma Ying-jeou.
Đài Loan hiện có hai tàu ngầm xuất xứ Hà Lan Hai-lung (Sea Dragon= Rồng biển) và hai tàu ngầm thế hệ thế chiến thứ hai chỉ dùng để huấn luyện.
Một báo cáo được trình lên ban nghiên cứu thương viện Mỹ trong tháng này từ cơ quan Đặc vụ An ninh Châu Á, chuyên gia Shirley Kan nói:
"Quân đội Nhân dân Giải phóng đã tiếp tục xây dựng lực lượng nhằm bao vây Đài Loan làm nổi lên vấn đề rằng có thể nào cán cân lực lượng đã thay đổi nghiêng về có lợi cho Trung Quốc "
Nếu đảng Kuomintang của ông Ma thương lượng rút các hoả tiễn nhắm vào Đài Loan thì, theo báo cáo, Đài Loan sở hữu "quân sự và chương trình hoả tiễn có đủ khả năng như một yếu tố đáp ứng yêu sách của Trung Quốc."
Trần Thị Hồng Sương
Tham Vọng Quân Sự Của Trung Quốc
Trần Thị Hồng Sương Thông tin dưới đây trên báo The Australian Úc, xác định chiến lược, bộc lộ tham vọng biển Đông của Trung Quốc và lý do bùng phát mâu thuẫn với Việt Nam về Trường sa và Hoàng sa nhiều năm nay..
Có nhiều biểu hiện cho thấy đây chính là lý do Đài Loan, Philippine đều muốn thị sát Trường Sa để ước tính một khả năng và hải trình tấn công phòng thủ đối với Trung Quốc rõ hơn là vì tham vọng lãnh thổ, dầu hỏa.
Hoan nghênh Đài Loan và Philippine đã hủy bỏ các chuyến đi vì cần phải tôn trọng chủ quyền VN. Nếu cần phải xin thuê mướn làm căn cứ, hay liên minh chia xẻ thông tin quân sự chiến lược với VN.
Nếu nay VN đóng góp vào hoà bình thế giới bằng nhận định rõ ràng độc lập về con đường đối ngoại, thì cán cân lực lượng biển Đông với nguy cơ bị TQ làm mất ổn định sẽ được hạn chế.
Năm 1945 ông Nguyễn Tất Thành không làm được việc chọn lựa phe đồng minh tốt là Mỹ. Do cá nhân thấp kém không được Mỹ chiếu cố dù có viết bảy lá thư cầu thân, và làm cả việc giải thể đảng CS, cũng không là người có đủ uy tín để được chọn lựa. Khi biết nước Mỹ tốt, nhưng mà vì do tham vọng cá nhân ngã theo Mao, lợi dụng lòng yêu nước của dân tộc, khiến VN có 30 năm khói lửa và 3,8 triệu người chết, mất đất, mất biển... Thử hỏi lịch sử có thể nào dành cho con người này danh phận nào ngoài tội tham vọng phản dân hại nước. VN hôm nay phải làm được việc chọn lựa đúng.
TQ luôn cao ngạo, luôn dùng biện pháp "côn đồ" cướp đảo, bắn giết ngư dân nên VN, có thể dứt khoát chọn lựa là thứ lân bang không thân thiện, đối thủ trong công bằng nếu muốn có hoà bình.
Dân chúng và Việt kiều đóng góp tiền thuê Interpool quốc tế truy tìm kẻ bắn giết ngư dân mà TQ luôn chối dài. Hình ảnh trên vệ tinh không phải không có. Sau đó đưa ra toá án quốc tế, chứ sao mà đảng và chánh quyền CS im ỉm cam phận thấp hèn hoài, và còn hùa theo TQ nói qua loa với dân VN?! VN có quyền đàm phán cho Đài Loan, Philippine thuê các đảo làm căn cứ và làm người điều hành căn cứ gìn giữ hoà bình quốc tế Nato ở Cam Ranh.
VN có vịnh Cam Ranh từng là căn cứ Hải Quân an toàn, có tầm ảnh hưởng quốc tế. Nếu Việt Nam được quốc tế giúp sở hữu các phương tiện bảo vệ, đủ thực lực kiểm soát vùng biển hữu hiệu, đòi lại Hoàng Sa Trường Sa, và phối hợp quốc tế giữ gìn hoà bình toàn vẹn lãnh thổ, là con đường đưa VN đến uy tín quốc tế trong một thế giới hoà bình và tiến bộ.
Về đối nội phải mau chóng xoá bỏ đặc quyền cho người cơ hội, phe nhóm tham nhũng hưởng lợi, gây thành gió nổi sóng ngầm không ủng hộ CSVN. Thiết lập cơ chế dân chủ để mục đích chọn ra được người tốt, người giỏi đảm đương việc nước.
Nhật cũng từng đi sai đường trước CSVN, và chỉ khi nhận ra điều cao cả hơn trong tinh thần nhân loại thì mới có được sự an lành tiến bộ.
* Tài liệu tham khảo: (Thông tin trên báo The Australian Úc)
Không ảnh căn cứ tàu ngầm hạt nhân dưới lòng đất của Trung Quốc
(Satellite images reveal China’s underground nuclear submarine base)
Rowan Callick, China correspondent April 24, 2008
Chuyên gia tình báo quân sự thuộc nhóm Jane’s Information Group nói, Trung Quốc đang xây dựng một căn cứ lớn dưới lòng đất cho tàu ngầm hạt nhân tại vùng bán nhiệt đới của Trung Quốc là đảo Hải Nam.
Nhóm Jane’s nói năm năm trước (2003) đã có thông tin đầu tiên từ bộ phận phòng ngự Châu Á về việc xây dựng căn cứ này, nhưng bây giờ có thể xác định qua không ảnh vệ tinh mới có độ phân giải cao.
Hải quân Trung Quốc nhanh chóng gia tăng lực lượng. Có 57 tàu ngầm trong đó có 5 tàu ngầm trang bị vũ khí hạt nhân, đa số tàu ngầm mang hoả tiển chống tàu thủy Yingi-8 có thể phóng hỏa tiễn khi vẫn đang lặn dưới mặt nước
Điều này cho thấy một khả năng mới khi, 18 tháng trước, một tàu ngầm dài 75 mét tên Song S20, đóng tại hãng đóng tàu thủy Wuhan trang bị khác thường bằng động cơ diesel không gây tiếng động của Đức, bất ngờ nổi lên giữa một điểm tập kết quân sự chiến đấu Mỹ.
Tàu ngầm xuất hiện trong vòng 8Km từ tàu sân bay Kitty Hawk tại vùng biển quốc tế không xa Okinawa là đảo phía Nam của Nhật.
Căn cứ Yulin mới này nằm gần Tam Á Sanya, một trung tâm nghĩ mát đang phát triển nhanh của Nam Hải Nam. Sanya là nơi Thủ tướng Kevin Rudd và chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào gặp nhau 12 ngày trước.( 12.4.2008)
Đảo nhỏ bằng một nửa là Tasmania là điểm du lịch nổi tiếng và trái cây nhiệt đới và từng là nơi tổ chức thi Hoa Hậu thế giới.
Căn cứ cách bờ biển Việt Nam chừng 200 Km. Jane’s nói tầm cỡ của căn cứ cho thấy có khả năng trở thành một căn cứ trọng điểm cho chuyên chở hàng không và tàu biển trọng tải lớn cũng như tàu ngầm.
Loại hoả tiễn cho tàu ngầm là 094 thuộc thế hệ hai đã được chở đến đây tháng 12.2007.
Jane nói căn cứ như vậy có ý nghiã "cho việc Trung Quôc kiểm soát vùng biển Trung Quốc phía Nam và ý đồ chiến lược của Bắc Kinh về việc kiểm soát chặt chẽ vùng eo biển trên mặt và ngầm của vùng biển này."
Điển hình là việc Trung Quốc đòi không được đưa ra giải thích nào cho công chúng về sự sự phát triển (quân sự ) này, trong tranh luận nóng giữa Trung Quốc với Việt Nam về chủ quyền đảo Trường Sa Hoàng Sa - được cho rằng có nhiều dầu - cũng như có các chuyến hải hành dày đặc đến từ Châu Âu, Bắc Á, Đào Loan cách 900 Km đông bắc Hải Nam.
Và Jane’s nói thêm rằng:"Sự tăng cường sự độc lập cung ứng trong việc nhập khẩu dầu và khoáng chất của Trung Quốc đã đóng góp công sức vào mối quan đặc biệt về việc bảo vệ đường ra vào mang tính quan trọng sinh tử của các vùng biển nhất là phía Nam "
Ban An ninh quốc gia Đài Loan vừa mới báo cáo rằng số hoả tiễn chống Đài Loan do Trung Quốc triển khái đã tăng đến con số 1.400 đầu năm nay 2008, thêm chừng 190 hoả tiễn từ tàu thủy nổi.
Ban An Ninh nói Hải quân Trung Quốc, với trên 1,000 hoả tiễn và 250.000 quân đã đạt sức mạnh cần thiết để phong toả Đài Loan.
Đài Loan chi 12,3 tỷ cho 8 tàu ngầm chiến đấu có động cơ diesel, sẽ mua của Mỹ, dù kết cấu tiên tiến nhất có thể phải cần đến 18 tháng mới hoàn thành. Quyết định này dự kiến được đưa ra ngay sau ngày 20 tháng năm, lễ nhậm chức của Tổng thống Đài Loan mới là Ma Ying-jeou.
Đài Loan hiện có hai tàu ngầm xuất xứ Hà Lan Hai-lung (Sea Dragon= Rồng biển) và hai tàu ngầm thế hệ thế chiến thứ hai chỉ dùng để huấn luyện.
Một báo cáo được trình lên ban nghiên cứu thương viện Mỹ trong tháng này từ cơ quan Đặc vụ An ninh Châu Á, chuyên gia Shirley Kan nói:
"Quân đội Nhân dân Giải phóng đã tiếp tục xây dựng lực lượng nhằm bao vây Đài Loan làm nổi lên vấn đề rằng có thể nào cán cân lực lượng đã thay đổi nghiêng về có lợi cho Trung Quốc "
Nếu đảng Kuomintang của ông Ma thương lượng rút các hoả tiễn nhắm vào Đài Loan thì, theo báo cáo, Đài Loan sở hữu "quân sự và chương trình hoả tiễn có đủ khả năng như một yếu tố đáp ứng yêu sách của Trung Quốc."
Trần Thị Hồng Sương
Bản tố cáo của một cựu nhà giáo
Tác giả: Dương Thị Xuân
Kính gửi :
- Các cơ quan theo dõi vào bảo vệ Nhân quyền trong nước và nước ngoài
- Các cơ quan thông tấn báo chí trong và ngoài nước
- Đồng bào trong và ngoài nước cùng dư luận Quốc tế
Tôi tên là Dương Thị Xuân, sinh năm 1958, năm nay 50 tuổi, hộ khẩu đăng ký thường trú tại số nhà 69 phố Hàng Gai - quận Hoàn Kiếm – Hà Nội, hiện đang tạm trú tại phường Ngọc Hà – quận Ba Đình – Hà Nội.
Năm 1981, tôi là giáo viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II, sau năm 1993 do sức khoẻ kém, con bé và cũng do cảnh cha mẹ ruột tôi già yếu bị đẩy ra vỉa hè, nhà của cha mẹ tôi bị toà án của nhà nước cộng sản Việt Nam cướp mất, tôi buộc nghỉ dạy học về chế độ mất sức 176.
Cha mẹ tôi bị nhà nước của đảng cộng sản cướp nhà bằng những văn bản, hành động của những kẻ "ăn cháo đá bát", của những kẻ giữ tới chức Phó chánh án Toà án Tối cao – Chánh toà dân sự - Dương Thị Thanh Mai – nhưng trình độ pháp lý i tờ và sẵn sàng giẫm đạp lên cả chính luật pháp nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Cha tôi là ông Dương Đức Thân (đã mất), trước đây vào năm 1953 Cha tôi mua phần cửa hàng ở số 69 phố hàng Gai – Hà Nội làm cơ sở cho Tổ điệp báo phản gián YS/65 của Sở công an Hà Nội thời kỳ thực dân Pháp tạm chiếm. Tới năm 1989, ông Vũ Dương Loan (người đến mua đấu giá nốt phần nhà trong nhà 69 hàng Gai năm 1957 tại toà án Hà Nội) đưa đơn kiện đòi phần nhà tôi với lý do mua hết nhà 69 Hàng Gai và cho cha mẹ tôi thuê – thuê hợp đồng miệng với nhau.
Thực tế, cha tôi đến mua một phần nhà trước ông Loan và hồ sơ nhà của ông Loan và bản thân ông Loan khai thì ông Loan đã thừa nhận chỉ có một phần nhà và bản án số 215/phúc thẩm dân sự của Toà án Hà Nội ngày 01-11-1991 cũng khẳng định : " Toà án đã đo nhà ngày 24-10-1991 tổng diện tích sử dụng toàn bộ nhà 69 hàng Gai gồm cả 2 tầng là 206 m2 . Từ những số liệu Toà án đã thu thập thì thấy diện tích của ông Loan và vợ đúng như Sở nhà đất Hà Nội xác nhận ngày 04-12-1989, ông Loan và vợ có 134,6 m2 diện tích sử dụng nhà ở 69 hàng Gai" (trang 11 án đã trích trên)
Sự việc tưởng như đơn giản ông Loan mua đến đâu hưởng tới đó, năm 1957, ông Loan mua đấu giá phần nhà này tại Toà án Hà Nội mà năm đó Toà cũng trả lời cha tôi là ông Loan mua phần nhà tại 69 hàng Gai không có liên quan gì đến phần nhà cha tôi ở trước. Nay năm 1991, Toà án Hà Nội cũng khẳng định ông Loan chỉ là chủ sở hữu có 130 m2/ trên tổng số 206 m2 . Vậy không hiểu lý gì mà Toà án nhà nước Cộng sản TP - Hà Nội năm 1991 vẫn ra bản án sai để cướp nhà của chúng tôi hơn mà 30 năm sau gia đình tôi đã sinh sống mấy đời ở đó.
Nhà ở của cả gia đình bị cướp, đẩy cha mẹ tôi ra đường tay trắng từ chỗ gia đình tôi mang tiền của, hy sinh tính mạng để nuôi giấu cơ sở của công an Hà Nội hoạt động từ những ngày đầu "cuộc cách mạng giải phóng dân tộc" những năm 1950 bằng những văn bản phi lý của chính toà án chế độ XHCN VN. Nhưng chúng tôi lúc đó vẫn một lòng tin vào công lý của nhà nước cộng sản Việt Nam vì nghĩ rằng : "Đường lối của Đảng cộng sản và nhà nước sáng suốt chỉ có một số người làm sai trái mà thôi ". Cha tôi dạy chúng tôi : CT Hồ Chí Minh nói ai cũng có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, ai cũng được học hành... Thế nhưng đến hôm ngày bị cướp mất nhà, thì ông phải than : "Ông Hồ nói vậy, chứ đâu biết cuộc đời xoay như thế này biết tin vào đâu nữa đây...".
Tôi lúc đó phải nghỉ dạy học, ở nhà mang đơn, theo hầu kiện và nghĩ mình sẽ tìm được Thần Công lý cho gia đình mình. Tôi đến Thư viện Quốc gia trên phố Tràng Thi HN đọc một sô tài liệu, báo chí của thời gian năm 1957-1958 có những bài của cố luật sư Đỗ Xuân Sảng đại ý nói rằng : Các luật gia kháng chiến nói xây dựng một chế độ mới đánh đổ phong kiến, đế quốc, vậy xã hội mới mà cách mạng sẽ xây trên nền móng nào, khi luật mới không kế thừa luật cũ và ngay như cả luật dân chủ tư sản cũng là sản phẩm của trí tuệ loài người mà không tiếp thu và phát huy là sao ? Gia đình tôi có trao đổi và nói nếu thế thì mình đang bị luật nào chi phối : luật của chế độ xã hội chủ nghĩa là luật gì ? Gia đình mình mua nhà theo kiểu luật cũ nay bị nhà nước xã hội chủ nghĩa cướp. Vậy luật xã chủ nghĩa là luật để tạo điều kiện cho kẻ gian làm náo loạn xã hội cướp của giữa ban ngày ngang nhiên dưới sự bảo trợ, bảo kê của các ông bà cán bộ toà án nhân danh nhà nước của chế độ XHCN của dân chăng ?
Cũng năm 1990, trước khi bị cưỡng chế mất nhà chúng tôi có mang đơn đến số 1 Mai Xuân Thưởng – Hà Nội là trụ sở tiếp công dân của Trung ương đảng, quốc hội, văn phòng chính phủ và thanh tra chính phủ. Tại trụ sở chúng tôi gặp và đưa đơn ông Hoàng Tuấn cố Vụ trưởng Vụ dân nguyện của quốc hội. Nghe chúng tôi trình bày nỗi oan mất nhà của cha mẹ tôi, ông Hoàng Tuấn cám cảnh cho chúng tôi và cũng thấu hiểu luật pháp xã hội chủ nghĩa bất lực, ông bảo chúng tôi : " Về đốt nhà...". Nghe ông nói vậy, chúng tôi càng thấy chán ghét cho cái luật pháp không bảo vệ người dân vậy mà lúc nào cũng nói " nhà nước ta là vì dân, của dân, do dân " là sao, là sao ???. Chúng tôi hỏi lý do tại sao phải đốt nhà, ông giải thích : " Luật dân sự ở mình (nước Việt Nam) nó loằng ngoằng, chờ được vạ thì má sưng, nếu đốt nhà thì án từ dân sự chuyển sang án hình sự, lúc đó toà án nó sẽ xử nhanh, mới mong đòi được nhà...
Tôi còn được ông Nguyễn Chí Tạo cố chuyên viên, cán bộ tiếp dân của trụ sở này, khi tôi đang đứng gõ cửa chờ vào nộp đơn thì thấy có tiếng nói : "Hỏi gì Chí Phèo...". Tôi đang thắc mắc, thì ông Tạo cười nhỏ nói ở đây chỉ có Chí Phèo thôi (Chí Phèo là một nhân vật văn học do nhà văn Nam Cao sáng tạo là một kẻ chuyên rạch mặt ăn vạ tống tiền say sưa vì rượu suốt ngày đêm ) có nghĩa là người dân cũng không trông mong được cái trụ sở tiếp dân của trung ương ĐCS và nhà nước VN XHCN này đâu. Tôi lắc đầu ngao ngán và cũng kể lại cho ông Chí Tạo nghe câu chuyện : mấy hôm trước tôi mang đơn và hồ sơ đến cổng nhà ông Đỗ Mười, lúc đó ông giữ ghế chủ tịch hội đồng bộ trưởng biệt thự của ông ở số 11 phố Phạm Đình Hồ, ông Đỗ Mười nghe tôi trình bày cầm bộ hồ sơ quẳng ngay xuống sàn xe hơi riêng sang trọng của ông. Đến nước này thì gia đình tôi chẳng hòng chờ Thần Công lý ở nhà nước cộng sản Việt Nam, cái nhà nước mà cha mẹ, ông bà cô bác chú dì tôi đã hy sinh tính mạng, tiền của, xương máu, mồ hôi nước mắt để xây dựng lên nó nữa. Bởi vì việc oan trái của gia đình tôi đã được mang đến tận tay ông đương kim thủ tướng chính phủ CSVN ngày ấy, mà sau nay ông còn leo lên chức cao chót vót : Tổng bí thư ĐCSVN, vậy mà còn bị như vậy thì còn trông mong gì, hy vọng gì ở nền pháp lý XHCN của chế độ mà ông ta là đại diện tối cao nữa !
Cho nên suốt thời gian gần 20 năm qua, gia đình tôi liên tục gửi đơn đến tất cả các cơ quan pháp luật cũng như các vị lãnh đạo cao cấp của cộng sản Việt Nam hòng mong tìm được "Thần linh Công lý" để đòi được phần nhà của gia đình mình chẳng thấy kết quả. Càng đi kêu kiện ở Việt Nam tôi chỉ thấy con đường kiện càng dài mờ mịt, luật pháp Việt Nam càng ngoắt nghéo, người dân thấp cổ bé họng càng thấy tuyệt vọng, không chỉ người nhà tôi mà rất đông những người bị xô đẩy vào hoàn cảnh mất nhà, mất đất như chúng tôi thấy ngã lòng trước rừng luật pháp. Có nhiều người dân ở tỉnh xa đội đơn kiện về Hà Nội họ đi ăn xin, nhặt rác, nằm đất trước cửa hè nhà toalet công cộng kêu kiện hàng chục năm trời mà cũng chưa thấy ai được giải quyết. Trong khi đó thì đội ngũ dân oan khiếu kiện ngày càng đông, có ngày có mấy trăm người cùng lên như những người dân tỉnh Tây Ninh, Bắc Ninh, Hà Tây, Thái Bình, Tiền Giang... Có người dân họ thất vọng, không tìm thấy công bằng xã hội ở đâu giữa thủ đô ngàn năm văn hiến này họ đã lấy thân mình làm ngọn đuốc sống cháy rừng rực cao tới tầng gác của trụ sở Mai Xuân Thưởng như chị Nguyễn Trung Thu tỉnh Lâm Đồng đã tự thiêu năm 2004 vừa qua.
Cố chánh án toà án tối cao Trịnh Hồng Dương còn than giữa quốc hội của nhà nước cộng sản VN rằng : Án dân sự muốn xử kiểu gì thì xử.
Còn cựu chánh án tối cao Nguyễn Văn Hiện giữa quốc hội trả lời : Thẩm phán trình độ yếu kém và phải vơ vét...
Thẩm phán vơ vét, xét xử án bỏ túi, luật pháp, hiến pháp bị ngay cán bộ nhân danh nhà nước trà đạp, người dân Việt Nam trong nước còn biết trông vào luật nào dưới sự cai trị của một đảng cộng sản chuyên chính, toàn trị. Nhưng những ai dám dũng cảm đứng lên đấu tranh chống sự độc tài quyền lực của đảng cộng sản Việt Nam này, thì sẽ bị bàn tay sắt của công an cộng sản đàn áp, bóp nghẹt dân chủ, tự do đến tàn khốc.
Và nhà nước cộng sản Việt Nam sẵn sàng bỏ tù những nhà dân chủ dám tố cáo tội vi hiến, tội vi phạm nhân quyền, trà đạp công lý... của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam. Gia đình tôi bị cướp mất nhà chúng tôi vẫn nghĩ còn tin được vào nhà nước cộng sản Việt Nam để đòi nhà, nhưng khi nhà báo Nguyễn Khắc Toàn là anh con bác ruột tôi bị cộng sản bắt tù thì tôi mới thấy rõ thân phận của người dân chúng tôi làm gì có nhân quyền, làm gì có quyền công dân như được thừa nhận trong bản hiến pháp của nhà nước CH XHCN VN.
Người dân chúng tôi làm gì có quyền bầu cử để chọn ra những đại biểu đại diện cho quyền lợi của mình, làm gì có quyền được ứng cử vào quốc hội để tự bảo vệ quyền lợi cho mình và người dân bị đàn áp giống mình, làm gì có quyền tự do thông tin, làm gì được ra báo tự do để làm nơi mình được nói lên ý nguyện của mình...
Nhân quyền của người dân Việt Nam không có, nên nhà báo Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Vũ Bình...chỉ có đưa thông tin ra lên mạng và các đài báo ở hải ngoại để giúp những người dân oan các tỉnh và tất cả nhân dân Việt Nam để kêu nhờ dư luận bà con Việt Nam ở hải ngoại lên tiếng hỗ trợ mà còn bị vu cho tội làm tình báo gián điệp, nên việc đi tìm công bằng xã hội của người dân trong nước còn tối tăm mù mịt lắm. Thật đúng như một cán bộ cấp trung của đảng cộng sản VN bảo chúng tôi : Toà đã cao mà còn tối (toà án tối cao), còn bà con dân oan Mai Xuân Thưởng thì nói với nhau : " Toà án tối cao của CSVN tức là nó càng cao càng tối " .
Thế thì làm sao bà con dân oan tìm được ánh sáng công lý trên đất nước này khi vẫn còn duy nhất ĐCSVN ngự trị đè nén cả đất nước. Rõ ràng là chừng nào còn ĐCSVN độc tài toàn trị ở VN thì chừng ấy dứt khoát không thể có nhân quyền, dân chủ, tự do và không thể có công lý hay công bằng xã hội được !!!
Gia đình tôi ở ngay giữa thủ đô Hà Nội đi khiếu kiện 20 năm nay đã nhờ rất nhiều người quen để mong được cán bộ nhà nước xem xét đơn hồ sơ theo đúng luật pháp mà chỉ toàn gặp được các quan có chức quyền nói ngang ngược bất chất luật lệ. Bà con nông dân các tỉnh xa bị quan lại địa phương đàn áp lên thủ đô đội đơn kêu oan thì phải đi bao nhiêu năm. Giữa tháng 5-2008, có 9 người dân các tỉnh phía Nam sau bao nhiêu năm kêu kiện ở Hà Nội kể chuyện mới được gặp ông Nguyễn Minh Triết chủ tịch nước CSVN và gửi ông lá đơn.
Ông Triết nhận đơn của họ và nói sẽ chuyển đến cơ quan giải quyết. Đến như ông Triết mà người dân họ nằm sương gối đất hàng năm trời chỉ cách nhà lầu của ông mấy trăm mét, hàng ngày họ đứng đầu phố đón xe ông đi làm giương biểu ngữ để ông thấu nỗi oan khổ của họ vậy mà ông cũng chỉ nhận đơn để chuyển, chuyển đi nơi khác. Cảnh khổ đày đoạ người dân vì mất quyền con người này còn kéo đến bao giờ khi chính ông chủ tịch nước của chế độ CS và XHCN VN không đứng ra nhận trách nhiệm trước đồng bào.
Nhân quyền cho người dân Việt Nam đó là khát vọng của chúng tôi, chỉ khi nào người dân trong nước thực sự có Nhân quyền, Dân chủ thì lúc đó mới không có cảnh hàng đoàn người đói rách tiều tuỵ, khổ sở từ các tỉnh thành từ Nam ra Bắc, từ biển cả, đồng bằng tới núi cao khắp mọi miền cả nước phải tha phương ra "thủ đô ngàn năm văn hiến" đội đơn tìm Thần Công Lý. Lúc đó cán bộ nhà nước mới thực sự là công bộc của dân, còn hiện nay có ông quan còn bảo dân : " Ta thách các người có giỏi đi mà kêu kiện, kiện ai rồi lại quay về đây thôi, ta là đảng, đảng là ta thì kiện sao mà được ??? ".
Một đảng Cộng sản Việt Nam nắm độc quyền cai trị, nắm quyền sinh sát của cả dân tộc mấy chục triệu đồng bào mình thì người dân làm chi có Nhân quyền, làm chi có quyền Công dân đầy đủ, toàn diện theo đúng Hiến pháp và pháp luật của chính ĐCSVN viết ra ? Theo tôi nghĩ chỉ có Dân chủ hoá đất nước thì nhân dân Việt Nam mới có những quyền Con người và các quyền Công dân chân chính mà thôi.
Thần linh công lý chỉ xuất hiện mang công bằng xã hội đến với mọi người dân cũng như mang cho gia đình tôi hạnh phúc đòi được nhà ở khi người dân có các quyền Con người thực sự trên đất nước Việt Nam. Chỉ khi ấy Nhân Quyền mới được tôn trọng, mới được thực thi theo đúng luật pháp và hiến pháp của nước Việt Nam Mới có thật sự Tự do, Dân chủ và Nhân quyền thực sự và cũng theo đúng các giá trị của Tuyên ngôn nhân quyền Quốc tế mà các nước ký trong đó có nước ta cam kết thực hiện để nhân dân Việt Nam ta được hưởng.
Dương Thị Xuân-
Tác giả: Dương Thị Xuân
Kính gửi :
- Các cơ quan theo dõi vào bảo vệ Nhân quyền trong nước và nước ngoài
- Các cơ quan thông tấn báo chí trong và ngoài nước
- Đồng bào trong và ngoài nước cùng dư luận Quốc tế
Tôi tên là Dương Thị Xuân, sinh năm 1958, năm nay 50 tuổi, hộ khẩu đăng ký thường trú tại số nhà 69 phố Hàng Gai - quận Hoàn Kiếm – Hà Nội, hiện đang tạm trú tại phường Ngọc Hà – quận Ba Đình – Hà Nội.
Năm 1981, tôi là giáo viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II, sau năm 1993 do sức khoẻ kém, con bé và cũng do cảnh cha mẹ ruột tôi già yếu bị đẩy ra vỉa hè, nhà của cha mẹ tôi bị toà án của nhà nước cộng sản Việt Nam cướp mất, tôi buộc nghỉ dạy học về chế độ mất sức 176.
Cha mẹ tôi bị nhà nước của đảng cộng sản cướp nhà bằng những văn bản, hành động của những kẻ "ăn cháo đá bát", của những kẻ giữ tới chức Phó chánh án Toà án Tối cao – Chánh toà dân sự - Dương Thị Thanh Mai – nhưng trình độ pháp lý i tờ và sẵn sàng giẫm đạp lên cả chính luật pháp nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Cha tôi là ông Dương Đức Thân (đã mất), trước đây vào năm 1953 Cha tôi mua phần cửa hàng ở số 69 phố hàng Gai – Hà Nội làm cơ sở cho Tổ điệp báo phản gián YS/65 của Sở công an Hà Nội thời kỳ thực dân Pháp tạm chiếm. Tới năm 1989, ông Vũ Dương Loan (người đến mua đấu giá nốt phần nhà trong nhà 69 hàng Gai năm 1957 tại toà án Hà Nội) đưa đơn kiện đòi phần nhà tôi với lý do mua hết nhà 69 Hàng Gai và cho cha mẹ tôi thuê – thuê hợp đồng miệng với nhau.
Thực tế, cha tôi đến mua một phần nhà trước ông Loan và hồ sơ nhà của ông Loan và bản thân ông Loan khai thì ông Loan đã thừa nhận chỉ có một phần nhà và bản án số 215/phúc thẩm dân sự của Toà án Hà Nội ngày 01-11-1991 cũng khẳng định : " Toà án đã đo nhà ngày 24-10-1991 tổng diện tích sử dụng toàn bộ nhà 69 hàng Gai gồm cả 2 tầng là 206 m2 . Từ những số liệu Toà án đã thu thập thì thấy diện tích của ông Loan và vợ đúng như Sở nhà đất Hà Nội xác nhận ngày 04-12-1989, ông Loan và vợ có 134,6 m2 diện tích sử dụng nhà ở 69 hàng Gai" (trang 11 án đã trích trên)
Sự việc tưởng như đơn giản ông Loan mua đến đâu hưởng tới đó, năm 1957, ông Loan mua đấu giá phần nhà này tại Toà án Hà Nội mà năm đó Toà cũng trả lời cha tôi là ông Loan mua phần nhà tại 69 hàng Gai không có liên quan gì đến phần nhà cha tôi ở trước. Nay năm 1991, Toà án Hà Nội cũng khẳng định ông Loan chỉ là chủ sở hữu có 130 m2/ trên tổng số 206 m2 . Vậy không hiểu lý gì mà Toà án nhà nước Cộng sản TP - Hà Nội năm 1991 vẫn ra bản án sai để cướp nhà của chúng tôi hơn mà 30 năm sau gia đình tôi đã sinh sống mấy đời ở đó.
Nhà ở của cả gia đình bị cướp, đẩy cha mẹ tôi ra đường tay trắng từ chỗ gia đình tôi mang tiền của, hy sinh tính mạng để nuôi giấu cơ sở của công an Hà Nội hoạt động từ những ngày đầu "cuộc cách mạng giải phóng dân tộc" những năm 1950 bằng những văn bản phi lý của chính toà án chế độ XHCN VN. Nhưng chúng tôi lúc đó vẫn một lòng tin vào công lý của nhà nước cộng sản Việt Nam vì nghĩ rằng : "Đường lối của Đảng cộng sản và nhà nước sáng suốt chỉ có một số người làm sai trái mà thôi ". Cha tôi dạy chúng tôi : CT Hồ Chí Minh nói ai cũng có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, ai cũng được học hành... Thế nhưng đến hôm ngày bị cướp mất nhà, thì ông phải than : "Ông Hồ nói vậy, chứ đâu biết cuộc đời xoay như thế này biết tin vào đâu nữa đây...".
Tôi lúc đó phải nghỉ dạy học, ở nhà mang đơn, theo hầu kiện và nghĩ mình sẽ tìm được Thần Công lý cho gia đình mình. Tôi đến Thư viện Quốc gia trên phố Tràng Thi HN đọc một sô tài liệu, báo chí của thời gian năm 1957-1958 có những bài của cố luật sư Đỗ Xuân Sảng đại ý nói rằng : Các luật gia kháng chiến nói xây dựng một chế độ mới đánh đổ phong kiến, đế quốc, vậy xã hội mới mà cách mạng sẽ xây trên nền móng nào, khi luật mới không kế thừa luật cũ và ngay như cả luật dân chủ tư sản cũng là sản phẩm của trí tuệ loài người mà không tiếp thu và phát huy là sao ? Gia đình tôi có trao đổi và nói nếu thế thì mình đang bị luật nào chi phối : luật của chế độ xã hội chủ nghĩa là luật gì ? Gia đình mình mua nhà theo kiểu luật cũ nay bị nhà nước xã hội chủ nghĩa cướp. Vậy luật xã chủ nghĩa là luật để tạo điều kiện cho kẻ gian làm náo loạn xã hội cướp của giữa ban ngày ngang nhiên dưới sự bảo trợ, bảo kê của các ông bà cán bộ toà án nhân danh nhà nước của chế độ XHCN của dân chăng ?
Cũng năm 1990, trước khi bị cưỡng chế mất nhà chúng tôi có mang đơn đến số 1 Mai Xuân Thưởng – Hà Nội là trụ sở tiếp công dân của Trung ương đảng, quốc hội, văn phòng chính phủ và thanh tra chính phủ. Tại trụ sở chúng tôi gặp và đưa đơn ông Hoàng Tuấn cố Vụ trưởng Vụ dân nguyện của quốc hội. Nghe chúng tôi trình bày nỗi oan mất nhà của cha mẹ tôi, ông Hoàng Tuấn cám cảnh cho chúng tôi và cũng thấu hiểu luật pháp xã hội chủ nghĩa bất lực, ông bảo chúng tôi : " Về đốt nhà...". Nghe ông nói vậy, chúng tôi càng thấy chán ghét cho cái luật pháp không bảo vệ người dân vậy mà lúc nào cũng nói " nhà nước ta là vì dân, của dân, do dân " là sao, là sao ???. Chúng tôi hỏi lý do tại sao phải đốt nhà, ông giải thích : " Luật dân sự ở mình (nước Việt Nam) nó loằng ngoằng, chờ được vạ thì má sưng, nếu đốt nhà thì án từ dân sự chuyển sang án hình sự, lúc đó toà án nó sẽ xử nhanh, mới mong đòi được nhà...
Tôi còn được ông Nguyễn Chí Tạo cố chuyên viên, cán bộ tiếp dân của trụ sở này, khi tôi đang đứng gõ cửa chờ vào nộp đơn thì thấy có tiếng nói : "Hỏi gì Chí Phèo...". Tôi đang thắc mắc, thì ông Tạo cười nhỏ nói ở đây chỉ có Chí Phèo thôi (Chí Phèo là một nhân vật văn học do nhà văn Nam Cao sáng tạo là một kẻ chuyên rạch mặt ăn vạ tống tiền say sưa vì rượu suốt ngày đêm ) có nghĩa là người dân cũng không trông mong được cái trụ sở tiếp dân của trung ương ĐCS và nhà nước VN XHCN này đâu. Tôi lắc đầu ngao ngán và cũng kể lại cho ông Chí Tạo nghe câu chuyện : mấy hôm trước tôi mang đơn và hồ sơ đến cổng nhà ông Đỗ Mười, lúc đó ông giữ ghế chủ tịch hội đồng bộ trưởng biệt thự của ông ở số 11 phố Phạm Đình Hồ, ông Đỗ Mười nghe tôi trình bày cầm bộ hồ sơ quẳng ngay xuống sàn xe hơi riêng sang trọng của ông. Đến nước này thì gia đình tôi chẳng hòng chờ Thần Công lý ở nhà nước cộng sản Việt Nam, cái nhà nước mà cha mẹ, ông bà cô bác chú dì tôi đã hy sinh tính mạng, tiền của, xương máu, mồ hôi nước mắt để xây dựng lên nó nữa. Bởi vì việc oan trái của gia đình tôi đã được mang đến tận tay ông đương kim thủ tướng chính phủ CSVN ngày ấy, mà sau nay ông còn leo lên chức cao chót vót : Tổng bí thư ĐCSVN, vậy mà còn bị như vậy thì còn trông mong gì, hy vọng gì ở nền pháp lý XHCN của chế độ mà ông ta là đại diện tối cao nữa !
Cho nên suốt thời gian gần 20 năm qua, gia đình tôi liên tục gửi đơn đến tất cả các cơ quan pháp luật cũng như các vị lãnh đạo cao cấp của cộng sản Việt Nam hòng mong tìm được "Thần linh Công lý" để đòi được phần nhà của gia đình mình chẳng thấy kết quả. Càng đi kêu kiện ở Việt Nam tôi chỉ thấy con đường kiện càng dài mờ mịt, luật pháp Việt Nam càng ngoắt nghéo, người dân thấp cổ bé họng càng thấy tuyệt vọng, không chỉ người nhà tôi mà rất đông những người bị xô đẩy vào hoàn cảnh mất nhà, mất đất như chúng tôi thấy ngã lòng trước rừng luật pháp. Có nhiều người dân ở tỉnh xa đội đơn kiện về Hà Nội họ đi ăn xin, nhặt rác, nằm đất trước cửa hè nhà toalet công cộng kêu kiện hàng chục năm trời mà cũng chưa thấy ai được giải quyết. Trong khi đó thì đội ngũ dân oan khiếu kiện ngày càng đông, có ngày có mấy trăm người cùng lên như những người dân tỉnh Tây Ninh, Bắc Ninh, Hà Tây, Thái Bình, Tiền Giang... Có người dân họ thất vọng, không tìm thấy công bằng xã hội ở đâu giữa thủ đô ngàn năm văn hiến này họ đã lấy thân mình làm ngọn đuốc sống cháy rừng rực cao tới tầng gác của trụ sở Mai Xuân Thưởng như chị Nguyễn Trung Thu tỉnh Lâm Đồng đã tự thiêu năm 2004 vừa qua.
Cố chánh án toà án tối cao Trịnh Hồng Dương còn than giữa quốc hội của nhà nước cộng sản VN rằng : Án dân sự muốn xử kiểu gì thì xử.
Còn cựu chánh án tối cao Nguyễn Văn Hiện giữa quốc hội trả lời : Thẩm phán trình độ yếu kém và phải vơ vét...
Thẩm phán vơ vét, xét xử án bỏ túi, luật pháp, hiến pháp bị ngay cán bộ nhân danh nhà nước trà đạp, người dân Việt Nam trong nước còn biết trông vào luật nào dưới sự cai trị của một đảng cộng sản chuyên chính, toàn trị. Nhưng những ai dám dũng cảm đứng lên đấu tranh chống sự độc tài quyền lực của đảng cộng sản Việt Nam này, thì sẽ bị bàn tay sắt của công an cộng sản đàn áp, bóp nghẹt dân chủ, tự do đến tàn khốc.
Và nhà nước cộng sản Việt Nam sẵn sàng bỏ tù những nhà dân chủ dám tố cáo tội vi hiến, tội vi phạm nhân quyền, trà đạp công lý... của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam. Gia đình tôi bị cướp mất nhà chúng tôi vẫn nghĩ còn tin được vào nhà nước cộng sản Việt Nam để đòi nhà, nhưng khi nhà báo Nguyễn Khắc Toàn là anh con bác ruột tôi bị cộng sản bắt tù thì tôi mới thấy rõ thân phận của người dân chúng tôi làm gì có nhân quyền, làm gì có quyền công dân như được thừa nhận trong bản hiến pháp của nhà nước CH XHCN VN.
Người dân chúng tôi làm gì có quyền bầu cử để chọn ra những đại biểu đại diện cho quyền lợi của mình, làm gì có quyền được ứng cử vào quốc hội để tự bảo vệ quyền lợi cho mình và người dân bị đàn áp giống mình, làm gì có quyền tự do thông tin, làm gì được ra báo tự do để làm nơi mình được nói lên ý nguyện của mình...
Nhân quyền của người dân Việt Nam không có, nên nhà báo Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Vũ Bình...chỉ có đưa thông tin ra lên mạng và các đài báo ở hải ngoại để giúp những người dân oan các tỉnh và tất cả nhân dân Việt Nam để kêu nhờ dư luận bà con Việt Nam ở hải ngoại lên tiếng hỗ trợ mà còn bị vu cho tội làm tình báo gián điệp, nên việc đi tìm công bằng xã hội của người dân trong nước còn tối tăm mù mịt lắm. Thật đúng như một cán bộ cấp trung của đảng cộng sản VN bảo chúng tôi : Toà đã cao mà còn tối (toà án tối cao), còn bà con dân oan Mai Xuân Thưởng thì nói với nhau : " Toà án tối cao của CSVN tức là nó càng cao càng tối " .
Thế thì làm sao bà con dân oan tìm được ánh sáng công lý trên đất nước này khi vẫn còn duy nhất ĐCSVN ngự trị đè nén cả đất nước. Rõ ràng là chừng nào còn ĐCSVN độc tài toàn trị ở VN thì chừng ấy dứt khoát không thể có nhân quyền, dân chủ, tự do và không thể có công lý hay công bằng xã hội được !!!
Gia đình tôi ở ngay giữa thủ đô Hà Nội đi khiếu kiện 20 năm nay đã nhờ rất nhiều người quen để mong được cán bộ nhà nước xem xét đơn hồ sơ theo đúng luật pháp mà chỉ toàn gặp được các quan có chức quyền nói ngang ngược bất chất luật lệ. Bà con nông dân các tỉnh xa bị quan lại địa phương đàn áp lên thủ đô đội đơn kêu oan thì phải đi bao nhiêu năm. Giữa tháng 5-2008, có 9 người dân các tỉnh phía Nam sau bao nhiêu năm kêu kiện ở Hà Nội kể chuyện mới được gặp ông Nguyễn Minh Triết chủ tịch nước CSVN và gửi ông lá đơn.
Ông Triết nhận đơn của họ và nói sẽ chuyển đến cơ quan giải quyết. Đến như ông Triết mà người dân họ nằm sương gối đất hàng năm trời chỉ cách nhà lầu của ông mấy trăm mét, hàng ngày họ đứng đầu phố đón xe ông đi làm giương biểu ngữ để ông thấu nỗi oan khổ của họ vậy mà ông cũng chỉ nhận đơn để chuyển, chuyển đi nơi khác. Cảnh khổ đày đoạ người dân vì mất quyền con người này còn kéo đến bao giờ khi chính ông chủ tịch nước của chế độ CS và XHCN VN không đứng ra nhận trách nhiệm trước đồng bào.
Nhân quyền cho người dân Việt Nam đó là khát vọng của chúng tôi, chỉ khi nào người dân trong nước thực sự có Nhân quyền, Dân chủ thì lúc đó mới không có cảnh hàng đoàn người đói rách tiều tuỵ, khổ sở từ các tỉnh thành từ Nam ra Bắc, từ biển cả, đồng bằng tới núi cao khắp mọi miền cả nước phải tha phương ra "thủ đô ngàn năm văn hiến" đội đơn tìm Thần Công Lý. Lúc đó cán bộ nhà nước mới thực sự là công bộc của dân, còn hiện nay có ông quan còn bảo dân : " Ta thách các người có giỏi đi mà kêu kiện, kiện ai rồi lại quay về đây thôi, ta là đảng, đảng là ta thì kiện sao mà được ??? ".
Một đảng Cộng sản Việt Nam nắm độc quyền cai trị, nắm quyền sinh sát của cả dân tộc mấy chục triệu đồng bào mình thì người dân làm chi có Nhân quyền, làm chi có quyền Công dân đầy đủ, toàn diện theo đúng Hiến pháp và pháp luật của chính ĐCSVN viết ra ? Theo tôi nghĩ chỉ có Dân chủ hoá đất nước thì nhân dân Việt Nam mới có những quyền Con người và các quyền Công dân chân chính mà thôi.
Thần linh công lý chỉ xuất hiện mang công bằng xã hội đến với mọi người dân cũng như mang cho gia đình tôi hạnh phúc đòi được nhà ở khi người dân có các quyền Con người thực sự trên đất nước Việt Nam. Chỉ khi ấy Nhân Quyền mới được tôn trọng, mới được thực thi theo đúng luật pháp và hiến pháp của nước Việt Nam Mới có thật sự Tự do, Dân chủ và Nhân quyền thực sự và cũng theo đúng các giá trị của Tuyên ngôn nhân quyền Quốc tế mà các nước ký trong đó có nước ta cam kết thực hiện để nhân dân Việt Nam ta được hưởng.
Dương Thị Xuân-

Tự do báo chí
Tác giả: Nguyễn Ðạt Thịnh
Tự do báo chí là yếu tố không thể thiếu trong bất cứ thể chế dân chủ nào; điều tất nhiên này xẩy ra hàng ngày tại Hoa Kỳ. Thử hình dung ký giả Tim Russert của NBC News bị cảnh sát bắt khi anh tiết lộ bà Valerie Plame là điệp viên của CIA, và thử hình dung phản ứng của người Mỹ, của truyền thông Mỹ đối với hành động bắt bớ đó,là đủ thấy quyền thông tin của truyền thông Mỹ luôn luôn được bảo vệ.
Luật pháp cấm đoán việc tiết lộ lý lịch nhân viên CIA, vì mất lốt ngụy trang, người điệp viên có thể mất mạng --bị quốc gia đối phương giết hại-- hoặc nhẹ lắm cũng không còn hoạt động được nữa.
Nhưng luật pháp lại không cấm đoán truyền thông làm công việc tiết lộ này; biện lý Patrick Fitzgerald phải điều tra, tìm xa hơn anh ký giả Russert để thấy người tiết lộ cho anh biết lý lịch bà Plame là tham mưu trưởng của phó tổng thống Dick Cheney, ông Lewis "Scooter" Libby. Bản án bỏ tù Libby thêm một lần nữa khẳng định quyền thông tin trung thực của truyền thông.
Ngoài vụ Libby còn hàng trăm vụ khác chứng minh việc người Mỹ tôn trọng tự do truyền thông; vụ mà chúng ta biết rõ hơn cả là chính phủ Hoa Kỳ phải đưa tờ Washington Post ra tòa để xin tòa tuyên án bắt tờ báo ngừng không đăng "hồ sơ mật Ngũ Giác Ðài" (Pentagone papers), nhưng tòa lại khước từm và tờ báo có quyền tiếp tục đăng, vì loan tin trung thực là bổn phận của báo chí.
Nhưng chế độ "dân chủ xã hội chủ nghiã" của Việt Cộng lại không chấp nhận quyền thông tin của báo chí Việt Nam: không những bắt nhốt hai nhà báo Nguyễn Văn Hải (Tuổi Trẻ) và Nguyễn Việt Chiến (Thanh Niên) vì "tội" loan tin tham nhũng, mà chúng còn bác đơn xin tại ngoại của họ, và tiếp tục mời một loạt các nhà báo khác lên đồn công an thẩm vấn về cách viết tin vụ PMU 18.
Chủ nhiệm hai tờ Thanh Niên và Tuổi Trẻ cũng "được" mời ra Hà Nội họp với bọn quan chức phụ trách lãnh đạo báo chí và tư tưởng.
BBC cho biết báo chí Việt Nam "đang rất sợ hãi" trước những gì sắp xảy ra.
Một yếu tố quan trọng trong diễn biến này là cuộc đối thoại vừa xẩy ra giữa trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ David Kramer với viên chức Việt Cộng.
Qua lời ông Kramer, Hoa Kỳ muốn Việt Nam thả hai nhà báo vừa bị bắt. Yêu cầu này đặt nhà chức trách trước một vấn đề khó khăn, nhất là trong bối cảnh Nguyễn Tấn Dũng chuẩn bị thăm Mỹ.
Dư luận báo chí Mỹ coi việc bắt bớ ký giả là chỉ dấu tranh chấp quyền lực trong nội bộ Việt Cộng; tờ The Wall Street Journal nêu nghi vấn là phe bảo thủ trong đảng tỏ ra "nóng ruột" về xu hướng mở cửa của Nguyễn Tấn Dũng.
"… một số đồng chí của ông Dũng có đầu óc bảo thủ hơn ông, vài người trong họ đứng về cùng phe với Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh, đã vận dụng quyền lực của mình hồi tháng trước để công an bắt giữ hai phóng viên." Tờ Wall Street Journal viết; họ nói hai nhà báo chỉ là hai trong số nhiều người đã vạch trần một trong những vụ tham nhũng nổi tiếng nhất Việt Nam vào năm 2005.
Bài báo hôm mùng 3 tháng Sáu của James Hookway nói vì lạm phát gia tăng và làn sóng đình công đang tràn lan đến mức không ngăn cản nổi, "các nhân vật bảo thủ trong Bộ chính trị muốn chứng tỏ quyền lực của họ."
Lèo lái dư luận bằng công an và tù ngục chưa đủ, Việt Cộng còn dùng đến phân người để đàn áp mọi tư tưởng chống đối. Chúng sử dụng loại "vũ khí khủng bố" này với giáo sư Nguyễn Thượng Long, người từng lên tiếng về những bê bối trong thi cử ở Hà Tây.
Ðài RFA cho biết vào đêm ngày 31/5 một số kẻ "lạ mặt" đã ném không ít "bom bẩn" và truyền đơn vào nhà ông Long tại tỉnh Hà Tây chỉ vì ông đã có những bài viết cổ súy cho phong trào đấu tranh tự do dân chủ tại Việt Nam.
Nhà giáo Nguyễn Thượng Long
Ông Long nói, "Vừa rồi tôi có viết một loạt bài phê phán chế độ, trong đêm 31-05, rạng sáng mùng 1-06 họ đã tấn công "khủng bố" tôi bằng những thứ dơ bẩn ném vào nhà cùng những tờ truyền đơn."
Ðộc quyền ra báo, độc quyền trả lương ký giả để tha hồ vo tròn, bóp méo dư luận, mà Việt Cộng vẫn còn phải sử dụng đến công an, lao tù, và cả phân người nữa để đàn áp tự do tư tưởng, tự do báo chí, thì quả là mức độ phẫn uất của người trong nước đã lên đến cao độ.
Cùng tắc biến, biến động đang xẩy ra qua ngõ đình công, biểu tình, và tự do tư tưởng, tự do báo chí; nhưng bao giờ giai đoạn "biến tắc thông" mới xẩy ra.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Kinh Tế Việt Nam Hết Cứu
Tác giả: Lý Đại Nguyên
Trước khi Việtcộng chính thức công bố mức lạm phát lên tới mức 25%, thì các số liệu còn cho thấy, mức thâm hụt mậu dịch chỉ trong đầu tháng 05/08 đã lên tới 11 tỷ 100 triệu USD, gần bằng con số 12 tỷ 400 triệu của cả năm 2007. Sự kiện này khiến Việtnam sẽ không còn ngoại tệ dự trữ để bảo đảm giá trị đồng bạc VN. Theo tiến sĩ Chua Hak Bin, chiến lược gia của Ngân Hàng Deutsche thì: “Đồng bạc VN có thể mất giá từ 20 đến 30% trong những tháng tới”. Theo tiến sĩ Nguyễn Quang A, thuộc Viện Nghiên Cứu Phát Triển - độc lập với đảng và nhà nước Việtcộng - tại Hànội thì: “Nguyên nhân chính khiến kinh tế tuột dốc là do chính sách kinh tế yếu kém và thiến phối hợp của chính phủ”. Theo ông Benedict Bingham, đại diện thường trú cao cấp của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế - IMF- thì: “Chỉ số kinh tế Việtnam xấu đi và bắt đầu ảnh hưởng tâm lý đến các nhà đầu tư, vì vậy việc cung cấp số liệu và các biến cố kinh tế kịp thời là nguyên nhân quan trọng nhằm ổn định tâm lý của họ”.
Trả lời đài Á Châu Tự Do, ông Ayumi Konishi. Giám đốc Ngân Hàng Phát Triển Á Châu –ADB- tại Viẹtnam cho rằng: “Điều quan trọng nhất mà tôi nhận thấy trong tình trạng lạm phát hiện nay, chính phủ Việtnam cần phải chú tâm đến người lao động và nông dân nghèo… hai thành phần này đang gặp khó khăn vì giá cả tiêu dùng vượt quá mức chịu đựng của họ. Không những thế, giai cấp này còn bị đe dọa bởi bệnh tật và giáo dục, vốn là những yếu tố thường song hành với nghèo khó”. Đối với các nhà Tài Trợ Quốc Tế, họ luôn luôn e ngại tiền viện trợ bị rơi vào túi Tham Nhũng, nên họ khuyến cáo Việtnam phải nâng cao vai trò báo giới trong thông tin chống tham nhũng.
Nhưng, như đã biết, Việtcộng là một nhà nước độc tài toàn trị, khi bắt buộc phải chấp nhận sinh hoạt theo Kinh Tế Thị Trường thì họ liền gắn vào đó cái đuôi quái đản là “Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa do Công Ty Quốc Doanh chủ đạo”. Có nghĩa là các Công Ty Quốc Doanh do Đảng Quản, Nhà Nước do Đảng Trị, cả các cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, Báo Giới do Đảng Nắm để gành Độc Quyền Tham Nhũng. Chính vì vậy, trong các dịp đấu đá nội bộ, vấn đề “Chống Tham Nhũng” lại được viện cầu tới, nhằm loại bỏ phe cánh của nhau. Vì tham nhũng vốn là “Tội Tổ Tông” của tất cả các tên Việtcộng, từ thượng tầng tới cơ sở. Tham nhũng không chỉ trong giới cầm quyển, mà béo bở nhất ở giới quốc doanh trong thời mở cửa. Mà cả hai giới đó luôn luôn tương tác với nhau, rút kiệt tài sản Quốc Dân và ngân sách Quốc Gia để làm giầu cho các lãnh tụ đảng. Chính vì vậy, mà dù có đấu đá giành ghế trong các kỳ Đại Hội Đảng, thì việc Đánh Tham Nhũng cũng chỉ được đánh từ Thứ Trưởng trở xuống, về phía Đảng không được đụng tới Trung Ương, việc đó thuộc nội bộ đảng xử lý. Chống tham nhũng chỉ có nghĩa là chặt vây chặt cánh của các lãnh tụ phe phái. Một khi phe bị đánh, phục hổi nổi thế lực trong đảng, thì đàn em của họ lập tức trở thành vô tội, mà những người chống tham nhũng trước kia biến thành tội nhân.
Sau hiện tượng Nguyễn Việt Tiến trong vụ tham nhũng PMU 18, được thoát tội, phục hồi đảng tịch. Hai ký giả Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Việt Chiến chống tham nhũng trong vụ PMU 18 bị vào tù, đã cho thấy phe tham nhũng do tổng bí thư Nông Đức Mạnh cầm đầu đang thắng thế trong đảng. Đẩy phe gọi là “Chống Tham Nhũng” do Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng cầm đầu vào thế phải chịu trách nhiệm về cuộc khủng hoảng kinh tế đang trên đà tuộc dốc. Nguyên nhân chính của sự tuộc dốc, theo TS Nguyễn Quang A là do chính sách kinh tế yếu kém và thiếu phối hợp của chính phủ. Điều đó đúng, nếu đây là một chính phủ Dân Chủ Thực Sự, còn ở Việtnam thì chính phủ chỉ là công cụ cai trị của đảng, chính sách kinh tế do đảng quyết định, các bộ trong chính phủ đều do những ủy viên Bộ Chính Trị và ủy viên Trung Ương đảm nhận, ngay đến các công ty Quốc Doanh cũng do Đảng Quản, tất cả nhân sự cao cấp của Chính Quyến lẫn Quốc Doanh đều do Ban Tổ Chức Đảng thuộc Bộ Chính Trị bổ nhiệm, như vậy liệu Nguyễn Tấn Dũng với vai trò Thủ Tướng làm sao có thể tự đề ra chính sách kinh tế và phối hợp hoạt động nổi. Nhất là phe Quốc Doanh, dựa vào luật pháp bất minh, tùy tiện thao túng thị trường, rồi bám vào Nông Đức Mạnh, kẻ được ủy nhiệm của 2 tên MA đầu, theo chỉ thị của Trungcộng, quyết dìm Việtnam trong vòng lạc hậu về chính trị, tụt hậu về kinh tế để Trungcộng dễ bề thực hiện kế hoạch “ trường kỳ tàm thực” Việtnam.
Nhưng theo thuyết Trạng Quỳnh của Việtnam xưa thì “Trạng chết Trẫm cũng băng hà” “Dưa gang đỏ đít thì cà đỏ trôn”. Nghĩa là nền kinh tế Việtnam sụp đổ thì không chỉ chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, mà cả hệ thống tham nhũng Nông Đức Mạnh cũng tiêu luôn. Vì khi toàn dân bị đẩy vào cảnh trắng tay, sau một thời có của ăn, của để, nhất là những quân nhân, công chức tin vào hệ thống quốc doanh, bòn nhặt được đồng nào cũng bỏ vào Ngân Hàng Quốc Doanh để kiếm lời, nay bị lạm phát phi mã, đồng tiền mất giá, vật giá leo thang, họ đổ xô đi rút tiền, mà ngân hàng không đủ tiền chi trả lại, thì lúc đó Quân, Cán cùng đứng về phía Dân để đòi quyền lợi hợp pháp, hợp lý, thì đảng và chính quyền Việtcộng hẳn nhiên bị trả giá thật nặng. Phải chăng đây là màn chót của “diễn biến hòa bình” mà giới cầm đầu Việtcộng hằng lo sợ. Xem ra mãnh lực của đồng tiền có sức công phá, không gì có thể chống đỡ nổi. Liệu quan thầy Trungcộng có cứu được đàn em Việtcộng không đây? Vể mặt tài chánh thì Trungcộng tự cứu mình chưa xong, làm sao có thể cứu nổi đàn em. Mà lại không thể lớn tiếng nguyền rủa những kẻ gây ra cảnh “chết đuối trên cạn” này được, thế mới độc!
Thế lực cứu được Kinh Tế Việt Nam trong hoàn cảnh hiện nay, chỉ có Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, như họ đã từng cứu nền Kinh Tế Thái Lan năm 1997. Tuy Thái Lan thời đó, chưa thực sự là một chế độ Dân Chủ hoàn chỉnh, nhưng vẫn là một Xã Hội Tự Do với nền Kinh Tế Tư Doanh, tối thiểu cũng có các Tòa Án Độc Lập và một nền Báo Chí Tư Nhân Tự Do, khiến cho tiền của IMF đổ vào Thái Lan, ít bị rơi và túi bọn Tham Nhũng. Còn Việtnam hiện nay thì tham nhũng đầy đặc, Quốc Hội bù nhìn, luật pháp bất minh, tòa án lệ thuộc, báo chí đảng nô, thì cho dù IMF có muốn cứu cũng không cứu nổi. Việtnam muốn được cứu thì việc cần làm là Quốc Hội, Chính Phủ, Tòa Án phải thoát khỏi sự khống chế của Cộng Đảng. Báo Chí phải Tự Do và Tư Nhân làm chủ. Các tập thể Xã Hội Dân Sự phải được công khai sinh hoạt ngoài chiếc cũi Mặt Trận Tổ Quốc, và phải nghiêm chỉnh thực hiện cuộc giải tư các công ty Quốc Doanh đúng với đòi hỏi của WTO, có như vậy mới ổn định được tâm lý của giới đầu tư quốc tế, các nước cấp viện và các tổ chức tài chánh thế giới, để họ đổ tiền vảo vực dậy nền Kinh Tế Việt Nam. Chờ xem chuyến Mỹ du của Nguyễn Tấn Dũng có làm nên cơm cháo gì không đây?
Tác giả: Lý Đại Nguyên
Trước khi Việtcộng chính thức công bố mức lạm phát lên tới mức 25%, thì các số liệu còn cho thấy, mức thâm hụt mậu dịch chỉ trong đầu tháng 05/08 đã lên tới 11 tỷ 100 triệu USD, gần bằng con số 12 tỷ 400 triệu của cả năm 2007. Sự kiện này khiến Việtnam sẽ không còn ngoại tệ dự trữ để bảo đảm giá trị đồng bạc VN. Theo tiến sĩ Chua Hak Bin, chiến lược gia của Ngân Hàng Deutsche thì: “Đồng bạc VN có thể mất giá từ 20 đến 30% trong những tháng tới”. Theo tiến sĩ Nguyễn Quang A, thuộc Viện Nghiên Cứu Phát Triển - độc lập với đảng và nhà nước Việtcộng - tại Hànội thì: “Nguyên nhân chính khiến kinh tế tuột dốc là do chính sách kinh tế yếu kém và thiến phối hợp của chính phủ”. Theo ông Benedict Bingham, đại diện thường trú cao cấp của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế - IMF- thì: “Chỉ số kinh tế Việtnam xấu đi và bắt đầu ảnh hưởng tâm lý đến các nhà đầu tư, vì vậy việc cung cấp số liệu và các biến cố kinh tế kịp thời là nguyên nhân quan trọng nhằm ổn định tâm lý của họ”.
Trả lời đài Á Châu Tự Do, ông Ayumi Konishi. Giám đốc Ngân Hàng Phát Triển Á Châu –ADB- tại Viẹtnam cho rằng: “Điều quan trọng nhất mà tôi nhận thấy trong tình trạng lạm phát hiện nay, chính phủ Việtnam cần phải chú tâm đến người lao động và nông dân nghèo… hai thành phần này đang gặp khó khăn vì giá cả tiêu dùng vượt quá mức chịu đựng của họ. Không những thế, giai cấp này còn bị đe dọa bởi bệnh tật và giáo dục, vốn là những yếu tố thường song hành với nghèo khó”. Đối với các nhà Tài Trợ Quốc Tế, họ luôn luôn e ngại tiền viện trợ bị rơi vào túi Tham Nhũng, nên họ khuyến cáo Việtnam phải nâng cao vai trò báo giới trong thông tin chống tham nhũng.
Nhưng, như đã biết, Việtcộng là một nhà nước độc tài toàn trị, khi bắt buộc phải chấp nhận sinh hoạt theo Kinh Tế Thị Trường thì họ liền gắn vào đó cái đuôi quái đản là “Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa do Công Ty Quốc Doanh chủ đạo”. Có nghĩa là các Công Ty Quốc Doanh do Đảng Quản, Nhà Nước do Đảng Trị, cả các cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, Báo Giới do Đảng Nắm để gành Độc Quyền Tham Nhũng. Chính vì vậy, trong các dịp đấu đá nội bộ, vấn đề “Chống Tham Nhũng” lại được viện cầu tới, nhằm loại bỏ phe cánh của nhau. Vì tham nhũng vốn là “Tội Tổ Tông” của tất cả các tên Việtcộng, từ thượng tầng tới cơ sở. Tham nhũng không chỉ trong giới cầm quyển, mà béo bở nhất ở giới quốc doanh trong thời mở cửa. Mà cả hai giới đó luôn luôn tương tác với nhau, rút kiệt tài sản Quốc Dân và ngân sách Quốc Gia để làm giầu cho các lãnh tụ đảng. Chính vì vậy, mà dù có đấu đá giành ghế trong các kỳ Đại Hội Đảng, thì việc Đánh Tham Nhũng cũng chỉ được đánh từ Thứ Trưởng trở xuống, về phía Đảng không được đụng tới Trung Ương, việc đó thuộc nội bộ đảng xử lý. Chống tham nhũng chỉ có nghĩa là chặt vây chặt cánh của các lãnh tụ phe phái. Một khi phe bị đánh, phục hổi nổi thế lực trong đảng, thì đàn em của họ lập tức trở thành vô tội, mà những người chống tham nhũng trước kia biến thành tội nhân.
Sau hiện tượng Nguyễn Việt Tiến trong vụ tham nhũng PMU 18, được thoát tội, phục hồi đảng tịch. Hai ký giả Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Việt Chiến chống tham nhũng trong vụ PMU 18 bị vào tù, đã cho thấy phe tham nhũng do tổng bí thư Nông Đức Mạnh cầm đầu đang thắng thế trong đảng. Đẩy phe gọi là “Chống Tham Nhũng” do Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng cầm đầu vào thế phải chịu trách nhiệm về cuộc khủng hoảng kinh tế đang trên đà tuộc dốc. Nguyên nhân chính của sự tuộc dốc, theo TS Nguyễn Quang A là do chính sách kinh tế yếu kém và thiếu phối hợp của chính phủ. Điều đó đúng, nếu đây là một chính phủ Dân Chủ Thực Sự, còn ở Việtnam thì chính phủ chỉ là công cụ cai trị của đảng, chính sách kinh tế do đảng quyết định, các bộ trong chính phủ đều do những ủy viên Bộ Chính Trị và ủy viên Trung Ương đảm nhận, ngay đến các công ty Quốc Doanh cũng do Đảng Quản, tất cả nhân sự cao cấp của Chính Quyến lẫn Quốc Doanh đều do Ban Tổ Chức Đảng thuộc Bộ Chính Trị bổ nhiệm, như vậy liệu Nguyễn Tấn Dũng với vai trò Thủ Tướng làm sao có thể tự đề ra chính sách kinh tế và phối hợp hoạt động nổi. Nhất là phe Quốc Doanh, dựa vào luật pháp bất minh, tùy tiện thao túng thị trường, rồi bám vào Nông Đức Mạnh, kẻ được ủy nhiệm của 2 tên MA đầu, theo chỉ thị của Trungcộng, quyết dìm Việtnam trong vòng lạc hậu về chính trị, tụt hậu về kinh tế để Trungcộng dễ bề thực hiện kế hoạch “ trường kỳ tàm thực” Việtnam.
Nhưng theo thuyết Trạng Quỳnh của Việtnam xưa thì “Trạng chết Trẫm cũng băng hà” “Dưa gang đỏ đít thì cà đỏ trôn”. Nghĩa là nền kinh tế Việtnam sụp đổ thì không chỉ chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, mà cả hệ thống tham nhũng Nông Đức Mạnh cũng tiêu luôn. Vì khi toàn dân bị đẩy vào cảnh trắng tay, sau một thời có của ăn, của để, nhất là những quân nhân, công chức tin vào hệ thống quốc doanh, bòn nhặt được đồng nào cũng bỏ vào Ngân Hàng Quốc Doanh để kiếm lời, nay bị lạm phát phi mã, đồng tiền mất giá, vật giá leo thang, họ đổ xô đi rút tiền, mà ngân hàng không đủ tiền chi trả lại, thì lúc đó Quân, Cán cùng đứng về phía Dân để đòi quyền lợi hợp pháp, hợp lý, thì đảng và chính quyền Việtcộng hẳn nhiên bị trả giá thật nặng. Phải chăng đây là màn chót của “diễn biến hòa bình” mà giới cầm đầu Việtcộng hằng lo sợ. Xem ra mãnh lực của đồng tiền có sức công phá, không gì có thể chống đỡ nổi. Liệu quan thầy Trungcộng có cứu được đàn em Việtcộng không đây? Vể mặt tài chánh thì Trungcộng tự cứu mình chưa xong, làm sao có thể cứu nổi đàn em. Mà lại không thể lớn tiếng nguyền rủa những kẻ gây ra cảnh “chết đuối trên cạn” này được, thế mới độc!
Thế lực cứu được Kinh Tế Việt Nam trong hoàn cảnh hiện nay, chỉ có Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, như họ đã từng cứu nền Kinh Tế Thái Lan năm 1997. Tuy Thái Lan thời đó, chưa thực sự là một chế độ Dân Chủ hoàn chỉnh, nhưng vẫn là một Xã Hội Tự Do với nền Kinh Tế Tư Doanh, tối thiểu cũng có các Tòa Án Độc Lập và một nền Báo Chí Tư Nhân Tự Do, khiến cho tiền của IMF đổ vào Thái Lan, ít bị rơi và túi bọn Tham Nhũng. Còn Việtnam hiện nay thì tham nhũng đầy đặc, Quốc Hội bù nhìn, luật pháp bất minh, tòa án lệ thuộc, báo chí đảng nô, thì cho dù IMF có muốn cứu cũng không cứu nổi. Việtnam muốn được cứu thì việc cần làm là Quốc Hội, Chính Phủ, Tòa Án phải thoát khỏi sự khống chế của Cộng Đảng. Báo Chí phải Tự Do và Tư Nhân làm chủ. Các tập thể Xã Hội Dân Sự phải được công khai sinh hoạt ngoài chiếc cũi Mặt Trận Tổ Quốc, và phải nghiêm chỉnh thực hiện cuộc giải tư các công ty Quốc Doanh đúng với đòi hỏi của WTO, có như vậy mới ổn định được tâm lý của giới đầu tư quốc tế, các nước cấp viện và các tổ chức tài chánh thế giới, để họ đổ tiền vảo vực dậy nền Kinh Tế Việt Nam. Chờ xem chuyến Mỹ du của Nguyễn Tấn Dũng có làm nên cơm cháo gì không đây?

Ngày Của Mẹ, Của Cha
VI ANH Lịch sử chỉ đánh giá đúng anh hùng khi không còn nữa. Ngày của Mẹ, của Cha năm thứ 33 này, những người cha, người mẹ đầu tiên đưa gia đình tỵ nạn CS ở hải ngoại chắc cũng không còn nhiều lắm. Đây là cơ hội tốt để thấy công ơn trời biển của những người cha, người mẹ đã hy sinh đưa con cái đến bến bờ tự do, quên mình lo cho gia đình con cái - là lớp trẻ Việt hải ngoại -- được như ngày hôm nay.
33 năm là thời gian gần nửa đời người. Thế hệ thứ nhứt đại đa số là những quân dân cán chánh VN Cộng Hoà dẫn gia đình con cái đi tỵ nạn CS ở hải ngoại, trẻ nhứt cũng 30, bây giờ đã hơn sáu bó trở lên. Những người cha, người mẹ đó thường là những người đã có những vai trò trong chế độ VNCH, nên thường là người có tuổi, trẻ cũng phải khoảng 40. Dù nhờ y tế tân tiến, đời sống hải ngoại đầy đủ làm tuổi thọ gia tăng, những người cha người mẹ thuộc thế hệ thứ nhứt của cuộc di tản vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Việt đó, nay tuổi hạc cũng đã quá thất thập cổ lai hi rồi. Không ít người đã ra đi; số còn lại cũng mấp mé bờ sanh tử theo luật vô thường của Tạo Hoá.
Tre tàn măng mọc là qui luật sinh tồn. Con hơn cha nhà có phước, sau hơn trước đất nước có phần là đà tiến hoá của một dân tộc. Hậu duệ của những người cha người mẹ đến bến bờ tự do, đứa con sanh sớm nhứt tại nước hải ngoại bây giờ cũng trên 33 tuổi. Có người gọi là thế hệ thứ hai bây giờ cũng đã tứ thập nhi bất hoặc (từ 40 tuổi, không ngờ vực nữa) hay thế hệ một rưỡi ngũ thập tri thiên mạng (từ 50 tuổi, biết mệnh trời rồi) rồi. Còn thế hệ thứ ba thì nhiều lắm đang đại học hay ngoài đời, hoà nhập sâu sát vào xã hội Mỹ. Dù có bi quan và khiêm tốn sắc tộc thế mấy đi nữa cũng thấy lớp người hậu duệ của những bậc cha mẹ thuộc thế hệ thứ nhứt của những người Việt tỵ nạn CS, không thua sút bất cứ sắc tộc nào đã nhập cừ các siêu cưòng Tây Phương hàng thế kỷ trước. Đặc biệt ở Mỹ là hiệp chủng quốc, nơi người Việt định cư đông nhứt trên thế giới, những cố gắng vưon lên, thăng tiến cần lao đồng tiến xã hộicủa người gốc Việt thấy rõ nhứt. Bác sĩ, luật sư, kỷ sư, chuyên viên gốc Việt đã bảo hòa so với tỷ lệ dân số gốc Việt.. Ngành nào lớp trẻ VN cũng có mặt, chen vai sát cánh với những sắc tộc khác .
Sự thành công này của thệ hệ hậu duệ theo phân tích và nhận định của những nhà xã hội học là do yếu tố gia đình VN. Nói đến gia đình VN là nói đến cha mẹ. Gia đình tự nó là một nhóm xã hội (social group). Bất cứ nhóm xã hội nào cũng có sự lãnh đạo mới mưu cầu hạnh phúc và thăng tiến được. Nhóm xã hội gia đình VN, người cha thường đóng vai trò lãnh đạo thực hiện (instrumental leadership), nặng về lý trí, thực tiễn, đòi hỏi con cái phải thực hiện hoàn thành nhiệm vụ của gia đình. Do đó người cha tỏ ra cứng rắng với con cái và ít được con cái thân tình như đối với mẹ. Còn người mẹ đóng vai trò lãnh đạo hoà họp, tạo sự thông cảm chung, hạnh phúc, êm ấm chung cho gia đình nên được lòng con cái hơn người cha. Hai thể thức lãnh đạo này không xung khắc nhau mà bỗ túc cho nhau, làm gia đình VN phát triển tốt trong xã hội Tây Phương và làm cho lý do lớp trẻ VN thăng tiến nhanh trong xã hội các quốc gia định cư cách nước nhà có nơi nửa vòng Trái Đất.
Trên đường điịnh cư cũng như trên bất cứ đường đời nào mới, vạn sự khởi đầu nan. Cha mẹ lấy thân phận lót đường cho con cái để lớp trẻ có ngày nay. Hầu hết thế hệ thứ nhứt quên mình, để dĩ vãng qua một bên, hướng về tương lai phía trước, lo cho gia đình thăng tiến. Tướng lãnh Quân Lực VNCH không ngần ngại đi làm ngưòi lau cửa sổ cho các building, người quản lý nhà hàng. Nghị sĩ, dân biểu VNCH đi bán xăng, bán tiệm rượu, làm thợ nhà in, thợ lắp ráp điện tử. Công chức cao cấp đi cắt chỉ, ủi đồ, cắt cỏ, làm móng tay, làm mặt trong thời kỳ chân ướt chân ráo. Làm với tất cả lòng tận tụy, với sự hiểu biết và tin tưởng nơi lớp trẻ tiến lên, tiến thân.
Con cái ra sức cùng nhau xây đấp đại gia đình. Một chiếc xe đôi ba anh chị em chia giờ nhau đi và đưa rước nhau. Anh học ra trường tiếp cha mẹ đóng tiền trường cho em đi đại học cao hơn. Cả nhà chung đậu tiền cho người anh mua căn nhà đầu tiên và anh tiếp tay em mua căn nhà hay sang căn tiệm mới. Việc vầng công đó thực hiện được nhờ sự lãnh đạo thực hiện và hoà họp của cha mẹ Sư kết họp này có và làm được là do tình thương gia đình, và chữ tín nghĩa này có và mạnh hơn mọi credit mà ngân hàng nào có thể so sánh được. Bất thành văn tự nhưng long trọng và chắc chắn như nền tảng gia đình VN.
Do vậy Ngày Của Mẹ, Của Cha thứ 33 của người Việt hải ngoại này là ngày tưởng nhớ tới những người cha người mẹ đã qua đời đã dẩn dắt con ra khỏi chế độ CS, đến miền Đất Hứa. Ngày tưởng nhớ những hy sinh của những người cha người mẹ lót đường cho cho cái tiến thân. Ngày ngưỡng mộ lòng dũng cảm của những người cha người mẹ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, một ngày 24 giờ, một tuần bảy ngày để con cháu được như ngày nay; lòng dũng cảm của những người mẹ ngưòi cha đó can đảm hon người chiến sĩ can trường xung phong ngoài mặt trận vì giờ phút can đảm xung phong ngăn hơn, ít khi xảy hơn ra so với lòng dũng cảm gần như suốt đời của cha mẹ.
Chẳng những thế nhiều cha mẹ gốc Việt còn muốn hy sinh cho con khi không còn ở cõi trần này nữa. Nhiều người cha ngưởi mẹ đặn dò hay di chúc cho con cái, sau khi theo ông theo ba, thì con cái đem hoả thiêu, lấy tro đem rải ngoài biển hay gởi trong chùa. Vì không muốn đem tro xương của mình trở lại nước nhà còn nằm trong tay CS. Vì biết con cháu ở xứ văn minh kỹ nghệ, quá bận bịu này phải chạy theo việc làm, thường khi phải ở xa, ngày giỗ tết, thanh minh mà vì công việc làm ăn không về viếng mộ được, thì bùi ngùi, tủi buồn tội nghiệp. Trong những lý do vệ sinh, giản dị, niềm tin tôn giáo, nhiều gia đình VN bớt theo phong tục Việt sống cái nhà chết cái mồ, mà chấp nhận nhận hoả táng thân nhân, lấy tro rải biển hay gởi ở chùa, có lý do gia đình ấy.
Ai thương tiếc ông Võ Văn Kiệt?
Ngô Nhân Dụng Thương cho ông Võ Văn Kiệt. Lúc còn sống ông từng lên tiếng ủng hộ việc cởi trói thêm cho báo chí, muốn cho các nhà báo được dễ thở hơn một chút; nhiều nhà báo biết ơn coi ông như một “ô dù” bảo vệ họ mỗi khi lỡ nói “những sự thật không được phép nói.” Nhưng khi ông qua đời, hai ngày sau báo chí ở Sài Gòn mới được phép loan tin! Có báo lỡ đưa lên mạng rồi cũng được lệnh phải cắt bỏ. Và họ đành răm rắp vâng lệnh các ông chủ! Tự do báo chí, như có lần ông Võ Văn Kiệt đã đòi phải mở rộng hơn, bây giờ vẫn như thế đó!
Tại sao người ta sợ một bản tin đơn giản giống như bài “cáo phó” vậy? Chắc Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản ở Hà Nội đã mất hai ngày bàn cãi vì họ khó “nhất trí” với nhau. Họ chưa biết nên cho ông Kiệt được hưởng nghi lễ cấp bậc nào; cũng không biết nên tổ chức đám tang ở Sài Gòn, Vĩnh Long, hay Hà Nội! Tình trạng chậm trễ này cho thấy giới lãnh đạo đảng sợ. Họ sợ cả thi hài một người chết! Chắc họ còn nhớ vụ sinh viên và công nhân Bắc Kinh làm lễ tưởng niệm Hồ Diệu Bang, một tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc đã mất chức. Lễ tưởng niệm đó, vào Tháng Tư năm 1989, lớn lên dần dần, biến thành một cuộc biểu dương lực lượng đòi tự do, sau cùng dẫn tới vụ tàn sát ở Thiên An Môn vào đầu Tháng Sáu năm đó.
Có lẽ ban lãnh đạo đảng Cộng Sản không lo đám tang Võ Văn Kiệt sẽ trở thành một ngòi nổ như lễ tưởng niệm Hồ Diệu Bang 19 năm trước đây, vì Sài Gòn không phải là Bắc Kinh. Mấy tháng trước đây, guồng máy công an Cộng Sản đã đè bẹp những cuộc biểu tình chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa. Trước ngày rước Ðuốc Thế Vận 2008 qua Sài Gòn, công an đã triệt hạ tất cả những nhóm muốn biểu tình chống đối. Ngược lại, đội ngũ công an Việt Cộng đã thành công mỹ mãn trong việc bảo vệ các đồng nghiệp công an Trung Cộng (đóng vai lực sĩ) tổ chức tuần hành phất cờ ngũ tinh diễu võ dương oai ngay trên đường phố Sài Gòn, trước những con mắt ngơ ngác của người dân Việt.
Và như vậy, đảng Cộng Sản sẽ tổ chức một “quốc táng có kiểm soát chặt chẽ” cho ông Võ Văn Kiệt. Không những họ sẽ kiểm soát từng người đi dự lễ, từng vòng hoa, từng lời phúng điếu, mà sẽ còn kiểm soát đến từng chữ viết, từng bức hình chụp khi loan tin về đám tang đó!
Trong tình cảnh như vậy thì linh hồn ông Võ Văn Kiệt cũng phải đau lòng! Vì nếu được chọn, chắc ông sẽ muốn người ta nhớ đến ông như một người tiêu biểu cho các đảng viên muốn thay đổi nhanh chóng, chứ không phải của một tổ chức khép kín gồm các lãnh tụ đảng đang lo chia phần sôi thịt! Mấy năm sau cùng khi còn tại thế, ông Võ Văn Kiệt tự biến mình thành điểm hội tụ của những đảng viên và người ngoài muốn thay đổi mạnh bạo hơn. Có lúc ông nói và viết như một người đối lập. Trước đại hội mười của đảng Cộng Sản, những người muốn thay đổi nhanh chóng hơn đã quy tụ quanh ông. Trong năm 2005 ông Kiệt đã đi khắp các tỉnh ở miền Nam vĩ tuyến 17, mỗi tỉnh đến thăm nhiều lần, để cổ động khuynh hướng thay đổi mạnh hơn.
Ðặc biệt, trong đám những người ở quanh ông Kiệt có những nhà báo trẻ, những người dám ngỏ ý đòi thêm quyền tự do ngôn luận. Khi có những mạng lưới loan tin đồng bào biểu tình phản đối bị chiếm ruộng đất, hoặc loan tin những hành động của thanh niên, sinh viên, văn nghệ sĩ chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, nhiều người dám làm những việc đó vì họ tin đã được ông Võ Văn Kiệt ngấm ngầm hỗ trợ. Ông Kiệt trở thành một thứ “ô dù” của những đảng viên Cộng Sản có tư tưởng tiến bộ ở miền Nam. Nếu được chọn, chắc ông Kiệt muốn được người ta nhớ đến như một “đầu tầu” của phe tiến bộ trong đảng, của những người sẽ thay đổi đảng; chắc ông không muốn được lãnh huy chương, được phong làm “anh hùng” của một đảng Cộng Sản đang thối nát đến tận xương tủy. Võ Văn Kiệt đã tìm cách thay đổi cái đảng thối nát đó, một đảng mà ông đã theo trong gần 70 năm; nhưng sau cùng ông vẫn không thành công. Ngay cái chết của ông cũng sẽ được đám lãnh tụ tham ô sử dụng để củng cố quyền hành và bảo vệ những lợi lộc của họ!
Một đảng viên Cộng Sản lâu năm như ông Võ Văn Kiệt phải nhuần nhiễn “kỹ thuật tồn tại” khi sống trong lòng chế độ, cho nên chúng ta không hy vọng khi còn sống ông Võ Văn Kiệt dám nói thẳng đến những sai lầm căn bản của Chủ Nghĩa Cộng Sản cũng như của chế độ toàn trị bất lực và thối nát của họ. Nhưng trong khuôn khổ hạn chế đó, ông đã dám nói lên rất nhiều điều để người đọc có thể suy ra ý kiến sâu kín của ông. Năm 1995, lá thư ông Võ Văn Kiệt gửi cho Bộ Chính Trị trong khi ông đang đóng vai thủ tướng đã được tiết lộ, cho thấy ông muốn dùng dư luận bên ngoài để tạo sức ép lên đám lãnh tụ thủ cựu chung quanh. Trong thư đó, ông Kiệt đã phản đối chủ trương dùng kinh tế quốc doanh làm chủ đạo, ông còn gợi ý không được để cho cơ chế đảng lấn áp guồng máy nhà nước. Ông viết thẳng sự thật là các đảng viên và các tổ chức cơ sở đảng “chỉ hoạt động hình thức, hoặc tê liệt, thoái hóa.”
Nhưng phải đợi 10 năm sau, ông Kiệt mới dám nói thẳng hơn khi góp ý kiến công khai trước đại hội X. Ông dám viết một sự thật mà đảng Cộng Sản vẫn che lấp, là họ không còn dính gì đến giai cấp công nhân lao động nữa: “Chúng ta thường nói như một công thức rằng đảng Cộng Sản là đội tiền phong của giai cấp công nhân... Thực tế là trong một thời gian khá dài, đảng dường như không phải là của giai cấp công nhân... Giai cấp công nhân trong thực tế không biết và không có quyền được biết đội tiên phong của mình đang làm gì.” Cả nước biết và muốn nói như vậy mà phải lặng câm, những lời nói của ông Kiệt tạo cơ hội cho nhiều người dám nói mạnh dạn hơn.
Ông Võ Văn Kiệt có dám đòi tự do dân chủ thật sự cho người Việt Nam hay không? Ông đã phê phán đảng Cộng Sản vì trong lòng đã nhìn thấy chế độ độc tài là một tai họa của dân tộc; hay là ông chỉ theo thời mà nói lên những điều cả nước Việt Nam ai cũng thấy? Chúng ta biết là trong guồng máy độc quyền của đảng Cộng Sản mà ông đã sống, một người như ông chỉ dám hô lên những khẩu hiệu chung chung, không dám nói những điều cụ thể. Trước đại hội X, ông viết, “Phải rèn tập cho xã hội Việt Nam một thói quen của đời sống dân chủ. Trong đó quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do nghiên cứu... cần được mở rộng hơn nữa.” Khi một lãnh tụ cấp cao như ông đã viết như vậy, các đảng viên tiến bộ thấy như đã được “bật đèn xanh” để mạnh dạn biến các khẩu hiệu đó thành hành động. Họ dám viết báo chống tham nhũng, dám làm những mạng lưới đòi tự do, dám chống Trung Quốc xâm lăng. Nhưng tiếc rằng họ chưa bao giờ đạt được kết quả nào cụ thể. Tức là chính ông Võ Văn Kiệt, cho đến trước lúc ông qua đời, cũng vẫn thất bại - nếu ông thực tâm muốn thay đổi!
Bây giờ ông Kiệt qua đời, những đảng viên tin theo ông và từng lên tiếng đòi quyền sống cho nông dân, chống cường hào ác bá sẽ bơ vơ. Những người đó, phần lớn đều trẻ tuổi, mới lâm vào cảnh “mồ côi.” Họ là những người sẽ thương tiếc ông nhất. Không những thương tiếc một con người mà thương cho những cơ hội đã mất không bao giờ tạo được nữa! Họ sẽ phải đi tìm “chỗ dựa” nếu muốn tiếp tục vận động đảng Cộng Sản bỏ chế độ độc tài và phục hồi danh dự đất nước. Hiện nay không thấy một ai đủ sức làm ô dù cho họ cả! Trong đám tang ông Võ Văn Kiệt, đó là những người sẽ khóc ông thành thật nhất. Chính khi còn sống ông Võ Văn Kiệt chưa bao giờ tổ chức được những người đang theo mình, chuẩn bị cho có người làm đầu tầu thay thế mình. Có lẽ vì lòng ông vẫn “tận trung” với đảng Cộng Sản; mà cũng có thể vì ông bất lực trước guồng máy kiểm soát chặt chẽ của đảng, họ không bao giờ để cho một ý đồ như vậy có thể thực hiện.
Bây giờ ông chết rồi, đảng Cộng Sản sẽ chiếm cái thi hài của ông. Ðám tang sẽ được tổ chức “đúng đường lối!” Từ nay ông sẽ thuộc về họ, họ bảo đảm guồng máy thông tin làm cho cả nước hiểu như vậy. Ðám lãnh tụ đảng sẽ đọc điếu văn, sẽ ban thêm huy chương cho ông, sẽ khen ngợi những thành tích phục vụ đảng của ông mà không bao giờ nhắc đến những ý kiến “chệch hướng.” Họ sẽ không dại dột lăng mạ ông như đã làm trong đám tang Tướng Trần Ðộ. Nhưng họ sẽ khuyên các đảng viên khác chỉ theo tấm gương tận tụy phục vụ đảng của ông, khi nào chết sẽ được phát thưởng huân chương y như vậy!
Trong bộ ba Mười, Anh, Kiệt mười năm trước, Ðỗ Mười và Lê Ðức Anh vẫn còn sống và vẫn kiểm soát giềng mối bộ máy đảng, quân đội và công an. Tay chân của hai ông này vẫn nắm quyền, tha hồ chia chác nhau các thứ lợi lộc. Ông Võ Văn Kiệt đã thua vì chết sớm hơn. Ông ra đi, không còn bảo vệ được những người tiến bộ đã theo ông nữa. Trong vòng hai tháng nữa trung ương đảng Cộng Sản sẽ họp để sắp xếp lại, và khẳng định “Võ Văn Kiệt đã chết thật!” Khuynh hướng thủ cựu sẽ thống ngự trong hai ba năm sắp tới, trong đảng cũng như ngoài xã hội. Chỉ trong vòng một năm tới, những người đàn em trẻ tuổi của ông Kiệt sẽ bị phân tán, nhiều người sẽ bị bắt, nếu mạng lưới của họ không bị tiêu diệt thì cũng bị làm cho tê liệt!
Cho nên đám tang ông Võ Văn Kiệt là cơ hội sau cùng để những người đã theo ông hành động. Không biết họ sẽ làm gì để chứng tỏ những ý kiến có khuynh hướng tiến bộ mà ông Kiệt đã nói trước đây là có thật, xuất phát từ tim óc, chứ không phải chỉ là những lời a dua giả dối, hô khẩu hiệu theo thời thế đổi thay. Họ sẽ phải đối đầu với lực lượng công an, mật vụ của chế độ, không biết họ có đủ sức và đủ dũng cảm để làm được gì hay không.
Ngô Nhân Dụng Thương cho ông Võ Văn Kiệt. Lúc còn sống ông từng lên tiếng ủng hộ việc cởi trói thêm cho báo chí, muốn cho các nhà báo được dễ thở hơn một chút; nhiều nhà báo biết ơn coi ông như một “ô dù” bảo vệ họ mỗi khi lỡ nói “những sự thật không được phép nói.” Nhưng khi ông qua đời, hai ngày sau báo chí ở Sài Gòn mới được phép loan tin! Có báo lỡ đưa lên mạng rồi cũng được lệnh phải cắt bỏ. Và họ đành răm rắp vâng lệnh các ông chủ! Tự do báo chí, như có lần ông Võ Văn Kiệt đã đòi phải mở rộng hơn, bây giờ vẫn như thế đó!
Tại sao người ta sợ một bản tin đơn giản giống như bài “cáo phó” vậy? Chắc Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản ở Hà Nội đã mất hai ngày bàn cãi vì họ khó “nhất trí” với nhau. Họ chưa biết nên cho ông Kiệt được hưởng nghi lễ cấp bậc nào; cũng không biết nên tổ chức đám tang ở Sài Gòn, Vĩnh Long, hay Hà Nội! Tình trạng chậm trễ này cho thấy giới lãnh đạo đảng sợ. Họ sợ cả thi hài một người chết! Chắc họ còn nhớ vụ sinh viên và công nhân Bắc Kinh làm lễ tưởng niệm Hồ Diệu Bang, một tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc đã mất chức. Lễ tưởng niệm đó, vào Tháng Tư năm 1989, lớn lên dần dần, biến thành một cuộc biểu dương lực lượng đòi tự do, sau cùng dẫn tới vụ tàn sát ở Thiên An Môn vào đầu Tháng Sáu năm đó.
Có lẽ ban lãnh đạo đảng Cộng Sản không lo đám tang Võ Văn Kiệt sẽ trở thành một ngòi nổ như lễ tưởng niệm Hồ Diệu Bang 19 năm trước đây, vì Sài Gòn không phải là Bắc Kinh. Mấy tháng trước đây, guồng máy công an Cộng Sản đã đè bẹp những cuộc biểu tình chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa. Trước ngày rước Ðuốc Thế Vận 2008 qua Sài Gòn, công an đã triệt hạ tất cả những nhóm muốn biểu tình chống đối. Ngược lại, đội ngũ công an Việt Cộng đã thành công mỹ mãn trong việc bảo vệ các đồng nghiệp công an Trung Cộng (đóng vai lực sĩ) tổ chức tuần hành phất cờ ngũ tinh diễu võ dương oai ngay trên đường phố Sài Gòn, trước những con mắt ngơ ngác của người dân Việt.
Và như vậy, đảng Cộng Sản sẽ tổ chức một “quốc táng có kiểm soát chặt chẽ” cho ông Võ Văn Kiệt. Không những họ sẽ kiểm soát từng người đi dự lễ, từng vòng hoa, từng lời phúng điếu, mà sẽ còn kiểm soát đến từng chữ viết, từng bức hình chụp khi loan tin về đám tang đó!
Trong tình cảnh như vậy thì linh hồn ông Võ Văn Kiệt cũng phải đau lòng! Vì nếu được chọn, chắc ông sẽ muốn người ta nhớ đến ông như một người tiêu biểu cho các đảng viên muốn thay đổi nhanh chóng, chứ không phải của một tổ chức khép kín gồm các lãnh tụ đảng đang lo chia phần sôi thịt! Mấy năm sau cùng khi còn tại thế, ông Võ Văn Kiệt tự biến mình thành điểm hội tụ của những đảng viên và người ngoài muốn thay đổi mạnh bạo hơn. Có lúc ông nói và viết như một người đối lập. Trước đại hội mười của đảng Cộng Sản, những người muốn thay đổi nhanh chóng hơn đã quy tụ quanh ông. Trong năm 2005 ông Kiệt đã đi khắp các tỉnh ở miền Nam vĩ tuyến 17, mỗi tỉnh đến thăm nhiều lần, để cổ động khuynh hướng thay đổi mạnh hơn.
Ðặc biệt, trong đám những người ở quanh ông Kiệt có những nhà báo trẻ, những người dám ngỏ ý đòi thêm quyền tự do ngôn luận. Khi có những mạng lưới loan tin đồng bào biểu tình phản đối bị chiếm ruộng đất, hoặc loan tin những hành động của thanh niên, sinh viên, văn nghệ sĩ chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, nhiều người dám làm những việc đó vì họ tin đã được ông Võ Văn Kiệt ngấm ngầm hỗ trợ. Ông Kiệt trở thành một thứ “ô dù” của những đảng viên Cộng Sản có tư tưởng tiến bộ ở miền Nam. Nếu được chọn, chắc ông Kiệt muốn được người ta nhớ đến như một “đầu tầu” của phe tiến bộ trong đảng, của những người sẽ thay đổi đảng; chắc ông không muốn được lãnh huy chương, được phong làm “anh hùng” của một đảng Cộng Sản đang thối nát đến tận xương tủy. Võ Văn Kiệt đã tìm cách thay đổi cái đảng thối nát đó, một đảng mà ông đã theo trong gần 70 năm; nhưng sau cùng ông vẫn không thành công. Ngay cái chết của ông cũng sẽ được đám lãnh tụ tham ô sử dụng để củng cố quyền hành và bảo vệ những lợi lộc của họ!
Một đảng viên Cộng Sản lâu năm như ông Võ Văn Kiệt phải nhuần nhiễn “kỹ thuật tồn tại” khi sống trong lòng chế độ, cho nên chúng ta không hy vọng khi còn sống ông Võ Văn Kiệt dám nói thẳng đến những sai lầm căn bản của Chủ Nghĩa Cộng Sản cũng như của chế độ toàn trị bất lực và thối nát của họ. Nhưng trong khuôn khổ hạn chế đó, ông đã dám nói lên rất nhiều điều để người đọc có thể suy ra ý kiến sâu kín của ông. Năm 1995, lá thư ông Võ Văn Kiệt gửi cho Bộ Chính Trị trong khi ông đang đóng vai thủ tướng đã được tiết lộ, cho thấy ông muốn dùng dư luận bên ngoài để tạo sức ép lên đám lãnh tụ thủ cựu chung quanh. Trong thư đó, ông Kiệt đã phản đối chủ trương dùng kinh tế quốc doanh làm chủ đạo, ông còn gợi ý không được để cho cơ chế đảng lấn áp guồng máy nhà nước. Ông viết thẳng sự thật là các đảng viên và các tổ chức cơ sở đảng “chỉ hoạt động hình thức, hoặc tê liệt, thoái hóa.”
Nhưng phải đợi 10 năm sau, ông Kiệt mới dám nói thẳng hơn khi góp ý kiến công khai trước đại hội X. Ông dám viết một sự thật mà đảng Cộng Sản vẫn che lấp, là họ không còn dính gì đến giai cấp công nhân lao động nữa: “Chúng ta thường nói như một công thức rằng đảng Cộng Sản là đội tiền phong của giai cấp công nhân... Thực tế là trong một thời gian khá dài, đảng dường như không phải là của giai cấp công nhân... Giai cấp công nhân trong thực tế không biết và không có quyền được biết đội tiên phong của mình đang làm gì.” Cả nước biết và muốn nói như vậy mà phải lặng câm, những lời nói của ông Kiệt tạo cơ hội cho nhiều người dám nói mạnh dạn hơn.
Ông Võ Văn Kiệt có dám đòi tự do dân chủ thật sự cho người Việt Nam hay không? Ông đã phê phán đảng Cộng Sản vì trong lòng đã nhìn thấy chế độ độc tài là một tai họa của dân tộc; hay là ông chỉ theo thời mà nói lên những điều cả nước Việt Nam ai cũng thấy? Chúng ta biết là trong guồng máy độc quyền của đảng Cộng Sản mà ông đã sống, một người như ông chỉ dám hô lên những khẩu hiệu chung chung, không dám nói những điều cụ thể. Trước đại hội X, ông viết, “Phải rèn tập cho xã hội Việt Nam một thói quen của đời sống dân chủ. Trong đó quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do nghiên cứu... cần được mở rộng hơn nữa.” Khi một lãnh tụ cấp cao như ông đã viết như vậy, các đảng viên tiến bộ thấy như đã được “bật đèn xanh” để mạnh dạn biến các khẩu hiệu đó thành hành động. Họ dám viết báo chống tham nhũng, dám làm những mạng lưới đòi tự do, dám chống Trung Quốc xâm lăng. Nhưng tiếc rằng họ chưa bao giờ đạt được kết quả nào cụ thể. Tức là chính ông Võ Văn Kiệt, cho đến trước lúc ông qua đời, cũng vẫn thất bại - nếu ông thực tâm muốn thay đổi!
Bây giờ ông Kiệt qua đời, những đảng viên tin theo ông và từng lên tiếng đòi quyền sống cho nông dân, chống cường hào ác bá sẽ bơ vơ. Những người đó, phần lớn đều trẻ tuổi, mới lâm vào cảnh “mồ côi.” Họ là những người sẽ thương tiếc ông nhất. Không những thương tiếc một con người mà thương cho những cơ hội đã mất không bao giờ tạo được nữa! Họ sẽ phải đi tìm “chỗ dựa” nếu muốn tiếp tục vận động đảng Cộng Sản bỏ chế độ độc tài và phục hồi danh dự đất nước. Hiện nay không thấy một ai đủ sức làm ô dù cho họ cả! Trong đám tang ông Võ Văn Kiệt, đó là những người sẽ khóc ông thành thật nhất. Chính khi còn sống ông Võ Văn Kiệt chưa bao giờ tổ chức được những người đang theo mình, chuẩn bị cho có người làm đầu tầu thay thế mình. Có lẽ vì lòng ông vẫn “tận trung” với đảng Cộng Sản; mà cũng có thể vì ông bất lực trước guồng máy kiểm soát chặt chẽ của đảng, họ không bao giờ để cho một ý đồ như vậy có thể thực hiện.
Bây giờ ông chết rồi, đảng Cộng Sản sẽ chiếm cái thi hài của ông. Ðám tang sẽ được tổ chức “đúng đường lối!” Từ nay ông sẽ thuộc về họ, họ bảo đảm guồng máy thông tin làm cho cả nước hiểu như vậy. Ðám lãnh tụ đảng sẽ đọc điếu văn, sẽ ban thêm huy chương cho ông, sẽ khen ngợi những thành tích phục vụ đảng của ông mà không bao giờ nhắc đến những ý kiến “chệch hướng.” Họ sẽ không dại dột lăng mạ ông như đã làm trong đám tang Tướng Trần Ðộ. Nhưng họ sẽ khuyên các đảng viên khác chỉ theo tấm gương tận tụy phục vụ đảng của ông, khi nào chết sẽ được phát thưởng huân chương y như vậy!
Trong bộ ba Mười, Anh, Kiệt mười năm trước, Ðỗ Mười và Lê Ðức Anh vẫn còn sống và vẫn kiểm soát giềng mối bộ máy đảng, quân đội và công an. Tay chân của hai ông này vẫn nắm quyền, tha hồ chia chác nhau các thứ lợi lộc. Ông Võ Văn Kiệt đã thua vì chết sớm hơn. Ông ra đi, không còn bảo vệ được những người tiến bộ đã theo ông nữa. Trong vòng hai tháng nữa trung ương đảng Cộng Sản sẽ họp để sắp xếp lại, và khẳng định “Võ Văn Kiệt đã chết thật!” Khuynh hướng thủ cựu sẽ thống ngự trong hai ba năm sắp tới, trong đảng cũng như ngoài xã hội. Chỉ trong vòng một năm tới, những người đàn em trẻ tuổi của ông Kiệt sẽ bị phân tán, nhiều người sẽ bị bắt, nếu mạng lưới của họ không bị tiêu diệt thì cũng bị làm cho tê liệt!
Cho nên đám tang ông Võ Văn Kiệt là cơ hội sau cùng để những người đã theo ông hành động. Không biết họ sẽ làm gì để chứng tỏ những ý kiến có khuynh hướng tiến bộ mà ông Kiệt đã nói trước đây là có thật, xuất phát từ tim óc, chứ không phải chỉ là những lời a dua giả dối, hô khẩu hiệu theo thời thế đổi thay. Họ sẽ phải đối đầu với lực lượng công an, mật vụ của chế độ, không biết họ có đủ sức và đủ dũng cảm để làm được gì hay không.
Việt Nam: Thi Đua Yêu Nước và Nghịch Cảnh Võ Văn Kiệt
Phạm Trần
Hoa Thịnh Đốn Chưa thấy nơi nào trên thế giới lại bầy ra cái trò “thi đua là yêu nước và yêu nước thì phải thi đua” như ở Việt Nam dưới thời Cộng sản. Trò chơi này lâu lâu diễn ra một lần, nhưng lần nào dân cũng phải “ăn cơm nhà vác ngà voi” để “làm ngày không đủ” thì phải “tranh thủ làm đêm” phục vụ đảng.
Mỗi lần thi đua như thế thì người dân được gì ? Giỏi thì đoạt cờ đảng, được trao danh hiệu “đơn vị xuất sắc”, “cá nhân tiên tiến”, công lao điểm cao thì được gắn cho ngôi Sao vàng ! Nhưng mỗi khi có phong trào thi đua là y như đảng có âm mưu giấu đi những khuyết điểm để dân quên đi những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày.
Năm nay, khi đảng và nhà nước CSVN ồn áo, rình rang kỷ niệm 60 năm ngày Hồ Chí Minh đưa ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc ( 11/6/1948-11/6/2008) thì người dân phải vật lộn với nạn vật gía lên cao, thiếu việc làm, lạm phát tăng cấp gần 30 phần trăm; nông dân mất dần ruộng cầy cho các công trình mở mang, công nghiệp hóa vô tổ chức và thiếu nghiên cứu; công nhân đình công, mất việc; học sinh con nhà nghèo phải bỏ học; môi sinh, sức khỏe dân nghèo không được bảo vệ; đô thị ngột ngạt, chen chúc, thiếu nhà ở, mất vệ sinh; tình trạng giầu – nghèo cách biệt trong xã hội cứ dãn ra và sâu thẳm mãi. Bất công xã hội chồng chất, kẻ ăn không hết, người lần không ra, tình trạng vô số người dân chưa đủ ăn bữa sáng đã lo tìm gạo bữa chiều không còn là chuyện bất thường ở Việt Nam.
Và con số “không nhỏ” cán bộ, đảng viên quan liêu, tham nhũng, suy đồi đạo đức, mất phẩm chất lan tràn từ thượng tầng lãnh đạo xuống tận làng, thôn không còn thu hẹp ở một đơn vị, một cơ quan mà chỗ nào cũng có, không ngăn chặn nổi.
CHA ĐẺ ĐỔI MỚI CŨNG THAN TRỜI
Nghịch cảnh này đã được Võ Văn Kiệt, cựu Thủ tướng ( 1991-1997) vừa qua đời tại Tân Gia Ba (Singapore) ngày 11-06 (2008), phản ảnh trong Bài viết cuối đờI "Không để người nghèo chịu thiệt thòi mãi."
Võ Văn Kiệt, 85 tuổi, là người đã cùng với Tổng Bí thư đảng Nguyễn Văn Linh cổ võ “Đổi mới”, mở cửa hội nhập với thế giới từ năm 1986, gửi bài viết cho một số báo trong nước, nhưng tờ Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Trung ương đảng không đăng.
Bài của Kiệt, đăng trên Báo Điện tử ViệtNamNet ngày 12/04 (2008) , viết rằng :
“ Kinh tế mấy năm qua vẫn tăng trưởng khá, nhưng, sau những bão, lụt- thiên tai, cuộc sống của người dân lại đang phải trải qua những đợt giá cả thiết yếu bất ổn liên tục. Người nghèo - những hộ thu nhập thấp, những người phải chạy ăn từng bữa, trên thực tế, chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng; trong khi, chính họ phải gần như lãnh trọn những hậu quả do lạm phát đang diễn ra. Muốn cho đất nước có được sự phát triển bền vững, tôi cho rằng, chúng ta không thể thiếu những chính sách cốt lõi để giải quyết căn cơ vấn đề dân nghèo….”
“Chăm lo cho người nghèo hiện nay, không đơn giản chỉ là thực hiện một cam kết có tính lịch sử, mà còn là bảo vệ tôn chỉ mục đích của một Đảng cách mạng luôn nhận mình đứng về phía nhân dân. Thực hiện cam kết đó, không chỉ căn cứ vào những chính sách trực tiếp, mà trước khi ban hành những chính sách lớn, cần phải phân tích, đánh giá sâu sắc những tác động của chúng lên các tầng lớp dân nghèo...”
“Chúng ta chưa có những đánh giá đầy đủ về tiến trình công nghiệp hóa xảy ra ở các vùng nông thôn và đặc biệt là nông thôn miền núi. Tiến trình này đúng là đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế, đưa được một số nông dân vào lao động trong các công xưởng sử dụng lao động đơn giản. Nhưng, mức tiền công quá thấp mà những nông dân này được trả không đủ tạo lập vị trí kinh tế cho họ, nói chi đến địa vị chính trị vinh dự mà chúng ta thường đề cập của “giai cấp công nhân”.
Người nông dân còn chịu thiệt một cách trực tiếp trong quá trình “công nghiệp hóa”. Mỗi khi có những nhà máy, những khu công nghiệp, đô thị mọc lên, những phúc lợi xã hội mà sự phát triển mang lại cho nông dân chỉ chiếm một giá trị rất nhỏ so với lợi nhuận mà đất đai của nông dân đem lại cho những tầng lớp khác.
“Công nghiệp hóa” theo kiểu tiếp nhận những đầu tư, chủ yếu khai thác lao động giá rẻ, tuy có giải quyết được công ăn việc làm có tính nhất thời cho một số lao động thiếu việc làm, về lâu dài, không thể nào thay đổi địa vị nghèo khó của nông dân…”
Kiệt viết tiếp : “Trong khi đó, sự trả giá về mặt tinh thần là rất lớn vì đa số những nông dân này đang phải “ly hương, ly gia” để có việc làm. Công nghiệp hóa, đô thị hóa của chế độ ta mà không nhất quán quan điểm, không xuất phát từ người nghèo (số đông người nghèo) thì chúng ta không tránh khỏi càng làm sâu sắc thêm khoảng cách giữa hai tầng lớp giàu, nghèo. Công nghiệp hóa, đô thị hóa là một hướng đi cần thiết nhưng phải cân nhắc lợi ích lâu dài…”
“Chúng ta nghiên cứu và giảng dạy khá đầy đủ về sự dã man của tư bản trong giai đoạn “tích lũy tư bản hoang dã”. Nhưng chúng ta đã chưa cập nhật để thấy khả năng tự điều chỉnh ở các quốc gia này. Phúc lợi cho người lao động, người nghèo ở nhiều nước tư bản hiện cao đến mức mà tôi nghĩ là các nhà lý luận rất cần tham khảo.
Kinh nghiệm sau hơn hai thập kỷ đổi mới cho thấy, không thể có “công bằng” đúng nghĩa trong một xã hội mà tất cả đều nghèo (như chúng ta thời bao cấp). Cũng không thể “cào bằng” bằng cách “điều tiết” hết lợi ích của người giàu để chia cho người nghèo….”
“Có lẽ, chưa có một quốc gia nào bày tỏ sự quan tâm đến người nghèo một cách thường xuyên như ta. Thậm chí, với nhiều người, nó đã dần trở thành một thứ khẩu hiệu. Sự quan tâm đến người nghèo bằng các phương tiện truyền thông, qua các bài phát biểu, cuộc nói chuyện hay bài viết, tôi nghĩ, là đã quá đủ.
Nhưng, chúng ta hãy nhìn vào các số liệu điều tra sau đây của UNDP ( United Nations Development Program, Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc) để thấy, chúng ta đã thực sự làm được những gì: Nhóm 20% những người giàu nhất ở Việt Nam hiện đang hưởng tới 40% lợi ích từ các chính sách an sinh xã hội của nhà nước; Trong khi, nhóm 20% những người nghèo nhất chỉ nhận được 7% lợi ích từ nguồn này….”
“Tạo điều kiện cho người có năng lực, có khát vọng có thể làm giàu tối đa nhưng cũng không bỏ mặc những người không có khả năng tự bươn chải. Chấp nhận một khoảng cách không thể tránh khỏi giữa tầng lớp những người giàu và nghèo. Nhưng, phải nâng được mặt bằng mức sống của người nghèo lên, để họ có thể tiếp cận được những phúc lợi tối thiểu về nhà ở, về y tế, giáo dục; để không có người dân nào không được chữa bệnh, không được đi học chỉ bởi họ nghèo.”
Như vậy, cuộc Thi đua yêu nước của đảng CSVN năm 2008 có phản ảnh được những lo âu não nuột của Võ Văn Kiệt không, hay cứ tiếp tục hô cho to những khẩu hiệu rỗng tuếch tiếp tục “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” để quá độ lên Xã hội chủ nghĩa của nước Việt Nam tương lai có “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” ?
Nhưng đảng CSVN đã bắt dân “qúa độ” hơn 20 năm rồi mà chưa biết ‘mỏi gối chồn chân” hay sao mà phải tiếp tục đến bao giờ nữa mới thấy được Thiên đàng Xã hội chủ nghĩa ?
THI ĐUA ĂN GÌ ?
Trong thời kỳ chiến tranh, đảng Cộng sản Việt Nam vẽ ra các phong trào "Hũ gạo kháng chiến" , “ Người người thi đua, ngành ngành thi đua, ngày ngày thi đua! Ta nhất định thắng, địch nhất định thua” cho đến “Cờ ba nhất, Sóng Duyên Hải, Gió Đại Phong” , “Thanh niên Ba sẵn sàng”, “Phụ nữ Ba đảm đang” ,“Xe chưa qua, nhà không tiếc!”, “Nhằm thẳng quân thù mà bắn!”. Thậm chí có cả các phong trào “Tiếng hát át tiếng bom; Tất cả vì miền Nam ruột thịt!”,"Mỗi người làm việc bằng hai vì miền nam ruột thịt" , “Tất cả để chiến thắng! “ cốt để đánh lừa nhân dân miền Bắc trong cuộc xâm lăng miền Nam Việt Nam. Hàng trăm ngàn thanh niên-thiếu nữ tuấn tú của miền Bắc đã chết oan cho cuộc nội chiến 30 năm không cần thiết này !
Ngày nay, sau hơn 20 năm phải “Đổi mới” để sống theo Tư bản, được ngụy trang bằng lớp sơn hào nhoáng “theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa”, đảng lại tung ra các phong trào nghe nổ bom bóp như ngô rang : “Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi"; "Xây dựng nông thôn mới", "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo"; "Tuổi trẻ sáng tạo"; "Thanh niên lập nghiệp"; "Tuổi trẻ giữ nước"; "Mùa hè xanh", "Lao động giỏi, lao động sáng tạo"; "Liên kết phục vụ nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới" , “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” , “Ngày vì người nghèo” v.v…
Nhưng dân càng thi đua càng nghèo hơn. Nước vẫn đì đẹt trong danh sách 40 quốc gia nghèo nàn, chậm tiến, tụt hậu nhất thế giới. Bất công Xã hội chồng chất lên cao mỗi ngày. Và người dân, ông chủ của đất nước lại phải làm tôi cho Đảng là kẻ “đầy tớ “ của nhân dân !
Thế mà trong ngày phát động phong trào thi đua yêu nước, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội ngoại vi của đảng vẫn có thể huênh hoang hô hào thi đua để “Phát huy dân chủ, thực hiện quyền làm chủ, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh.”
Tại Hà Nội ngày 11/6, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng cũng cứ xúi dân : “Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng tâm, hiệp lực của toàn xã hội, người người thi đua, ngành ngành thi đua, phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2006-2010) theo Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Trước mắt tập trung thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2008, mà trọng tâm là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, tăng trưởng kinh tế bền vững. “
Dũng còn hứa chính phủ sẽ “Chăm lo cải thiện đời sống nhân dân, giúp đỡ thiết thực cho người nghèo, giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc của xã hội, như giảm tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai…”
Trước mặt Nông Đức Mạnh và các viên chức đảng dự lể kỷ niệm ngày Thi đua, Dũng còn kêu gọi cán bộ : “Không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, góp phần đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; thực hiện tốt Luật Phòng chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí.”
Rất tiếc là những gì Dũng nói vào dịp này cũng “xưa như trái đất” và đã từng bị cán bộ, đảng viên bỏ ngoài tai trong nhiều năm. Có khác chăng là chúng được nhắc lại vào dịp phát động phong trào Thi đua để đánh dấu một cuộc lùi lại vĩ đại khác của đảng CSVN.
Phạm Trần
Hoa Thịnh Đốn Chưa thấy nơi nào trên thế giới lại bầy ra cái trò “thi đua là yêu nước và yêu nước thì phải thi đua” như ở Việt Nam dưới thời Cộng sản. Trò chơi này lâu lâu diễn ra một lần, nhưng lần nào dân cũng phải “ăn cơm nhà vác ngà voi” để “làm ngày không đủ” thì phải “tranh thủ làm đêm” phục vụ đảng.
Mỗi lần thi đua như thế thì người dân được gì ? Giỏi thì đoạt cờ đảng, được trao danh hiệu “đơn vị xuất sắc”, “cá nhân tiên tiến”, công lao điểm cao thì được gắn cho ngôi Sao vàng ! Nhưng mỗi khi có phong trào thi đua là y như đảng có âm mưu giấu đi những khuyết điểm để dân quên đi những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày.
Năm nay, khi đảng và nhà nước CSVN ồn áo, rình rang kỷ niệm 60 năm ngày Hồ Chí Minh đưa ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc ( 11/6/1948-11/6/2008) thì người dân phải vật lộn với nạn vật gía lên cao, thiếu việc làm, lạm phát tăng cấp gần 30 phần trăm; nông dân mất dần ruộng cầy cho các công trình mở mang, công nghiệp hóa vô tổ chức và thiếu nghiên cứu; công nhân đình công, mất việc; học sinh con nhà nghèo phải bỏ học; môi sinh, sức khỏe dân nghèo không được bảo vệ; đô thị ngột ngạt, chen chúc, thiếu nhà ở, mất vệ sinh; tình trạng giầu – nghèo cách biệt trong xã hội cứ dãn ra và sâu thẳm mãi. Bất công xã hội chồng chất, kẻ ăn không hết, người lần không ra, tình trạng vô số người dân chưa đủ ăn bữa sáng đã lo tìm gạo bữa chiều không còn là chuyện bất thường ở Việt Nam.
Và con số “không nhỏ” cán bộ, đảng viên quan liêu, tham nhũng, suy đồi đạo đức, mất phẩm chất lan tràn từ thượng tầng lãnh đạo xuống tận làng, thôn không còn thu hẹp ở một đơn vị, một cơ quan mà chỗ nào cũng có, không ngăn chặn nổi.
CHA ĐẺ ĐỔI MỚI CŨNG THAN TRỜI
Nghịch cảnh này đã được Võ Văn Kiệt, cựu Thủ tướng ( 1991-1997) vừa qua đời tại Tân Gia Ba (Singapore) ngày 11-06 (2008), phản ảnh trong Bài viết cuối đờI "Không để người nghèo chịu thiệt thòi mãi."
Võ Văn Kiệt, 85 tuổi, là người đã cùng với Tổng Bí thư đảng Nguyễn Văn Linh cổ võ “Đổi mới”, mở cửa hội nhập với thế giới từ năm 1986, gửi bài viết cho một số báo trong nước, nhưng tờ Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Trung ương đảng không đăng.
Bài của Kiệt, đăng trên Báo Điện tử ViệtNamNet ngày 12/04 (2008) , viết rằng :
“ Kinh tế mấy năm qua vẫn tăng trưởng khá, nhưng, sau những bão, lụt- thiên tai, cuộc sống của người dân lại đang phải trải qua những đợt giá cả thiết yếu bất ổn liên tục. Người nghèo - những hộ thu nhập thấp, những người phải chạy ăn từng bữa, trên thực tế, chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng; trong khi, chính họ phải gần như lãnh trọn những hậu quả do lạm phát đang diễn ra. Muốn cho đất nước có được sự phát triển bền vững, tôi cho rằng, chúng ta không thể thiếu những chính sách cốt lõi để giải quyết căn cơ vấn đề dân nghèo….”
“Chăm lo cho người nghèo hiện nay, không đơn giản chỉ là thực hiện một cam kết có tính lịch sử, mà còn là bảo vệ tôn chỉ mục đích của một Đảng cách mạng luôn nhận mình đứng về phía nhân dân. Thực hiện cam kết đó, không chỉ căn cứ vào những chính sách trực tiếp, mà trước khi ban hành những chính sách lớn, cần phải phân tích, đánh giá sâu sắc những tác động của chúng lên các tầng lớp dân nghèo...”
“Chúng ta chưa có những đánh giá đầy đủ về tiến trình công nghiệp hóa xảy ra ở các vùng nông thôn và đặc biệt là nông thôn miền núi. Tiến trình này đúng là đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế, đưa được một số nông dân vào lao động trong các công xưởng sử dụng lao động đơn giản. Nhưng, mức tiền công quá thấp mà những nông dân này được trả không đủ tạo lập vị trí kinh tế cho họ, nói chi đến địa vị chính trị vinh dự mà chúng ta thường đề cập của “giai cấp công nhân”.
Người nông dân còn chịu thiệt một cách trực tiếp trong quá trình “công nghiệp hóa”. Mỗi khi có những nhà máy, những khu công nghiệp, đô thị mọc lên, những phúc lợi xã hội mà sự phát triển mang lại cho nông dân chỉ chiếm một giá trị rất nhỏ so với lợi nhuận mà đất đai của nông dân đem lại cho những tầng lớp khác.
“Công nghiệp hóa” theo kiểu tiếp nhận những đầu tư, chủ yếu khai thác lao động giá rẻ, tuy có giải quyết được công ăn việc làm có tính nhất thời cho một số lao động thiếu việc làm, về lâu dài, không thể nào thay đổi địa vị nghèo khó của nông dân…”
Kiệt viết tiếp : “Trong khi đó, sự trả giá về mặt tinh thần là rất lớn vì đa số những nông dân này đang phải “ly hương, ly gia” để có việc làm. Công nghiệp hóa, đô thị hóa của chế độ ta mà không nhất quán quan điểm, không xuất phát từ người nghèo (số đông người nghèo) thì chúng ta không tránh khỏi càng làm sâu sắc thêm khoảng cách giữa hai tầng lớp giàu, nghèo. Công nghiệp hóa, đô thị hóa là một hướng đi cần thiết nhưng phải cân nhắc lợi ích lâu dài…”
“Chúng ta nghiên cứu và giảng dạy khá đầy đủ về sự dã man của tư bản trong giai đoạn “tích lũy tư bản hoang dã”. Nhưng chúng ta đã chưa cập nhật để thấy khả năng tự điều chỉnh ở các quốc gia này. Phúc lợi cho người lao động, người nghèo ở nhiều nước tư bản hiện cao đến mức mà tôi nghĩ là các nhà lý luận rất cần tham khảo.
Kinh nghiệm sau hơn hai thập kỷ đổi mới cho thấy, không thể có “công bằng” đúng nghĩa trong một xã hội mà tất cả đều nghèo (như chúng ta thời bao cấp). Cũng không thể “cào bằng” bằng cách “điều tiết” hết lợi ích của người giàu để chia cho người nghèo….”
“Có lẽ, chưa có một quốc gia nào bày tỏ sự quan tâm đến người nghèo một cách thường xuyên như ta. Thậm chí, với nhiều người, nó đã dần trở thành một thứ khẩu hiệu. Sự quan tâm đến người nghèo bằng các phương tiện truyền thông, qua các bài phát biểu, cuộc nói chuyện hay bài viết, tôi nghĩ, là đã quá đủ.
Nhưng, chúng ta hãy nhìn vào các số liệu điều tra sau đây của UNDP ( United Nations Development Program, Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc) để thấy, chúng ta đã thực sự làm được những gì: Nhóm 20% những người giàu nhất ở Việt Nam hiện đang hưởng tới 40% lợi ích từ các chính sách an sinh xã hội của nhà nước; Trong khi, nhóm 20% những người nghèo nhất chỉ nhận được 7% lợi ích từ nguồn này….”
“Tạo điều kiện cho người có năng lực, có khát vọng có thể làm giàu tối đa nhưng cũng không bỏ mặc những người không có khả năng tự bươn chải. Chấp nhận một khoảng cách không thể tránh khỏi giữa tầng lớp những người giàu và nghèo. Nhưng, phải nâng được mặt bằng mức sống của người nghèo lên, để họ có thể tiếp cận được những phúc lợi tối thiểu về nhà ở, về y tế, giáo dục; để không có người dân nào không được chữa bệnh, không được đi học chỉ bởi họ nghèo.”
Như vậy, cuộc Thi đua yêu nước của đảng CSVN năm 2008 có phản ảnh được những lo âu não nuột của Võ Văn Kiệt không, hay cứ tiếp tục hô cho to những khẩu hiệu rỗng tuếch tiếp tục “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” để quá độ lên Xã hội chủ nghĩa của nước Việt Nam tương lai có “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” ?
Nhưng đảng CSVN đã bắt dân “qúa độ” hơn 20 năm rồi mà chưa biết ‘mỏi gối chồn chân” hay sao mà phải tiếp tục đến bao giờ nữa mới thấy được Thiên đàng Xã hội chủ nghĩa ?
THI ĐUA ĂN GÌ ?
Trong thời kỳ chiến tranh, đảng Cộng sản Việt Nam vẽ ra các phong trào "Hũ gạo kháng chiến" , “ Người người thi đua, ngành ngành thi đua, ngày ngày thi đua! Ta nhất định thắng, địch nhất định thua” cho đến “Cờ ba nhất, Sóng Duyên Hải, Gió Đại Phong” , “Thanh niên Ba sẵn sàng”, “Phụ nữ Ba đảm đang” ,“Xe chưa qua, nhà không tiếc!”, “Nhằm thẳng quân thù mà bắn!”. Thậm chí có cả các phong trào “Tiếng hát át tiếng bom; Tất cả vì miền Nam ruột thịt!”,"Mỗi người làm việc bằng hai vì miền nam ruột thịt" , “Tất cả để chiến thắng! “ cốt để đánh lừa nhân dân miền Bắc trong cuộc xâm lăng miền Nam Việt Nam. Hàng trăm ngàn thanh niên-thiếu nữ tuấn tú của miền Bắc đã chết oan cho cuộc nội chiến 30 năm không cần thiết này !
Ngày nay, sau hơn 20 năm phải “Đổi mới” để sống theo Tư bản, được ngụy trang bằng lớp sơn hào nhoáng “theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa”, đảng lại tung ra các phong trào nghe nổ bom bóp như ngô rang : “Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi"; "Xây dựng nông thôn mới", "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo"; "Tuổi trẻ sáng tạo"; "Thanh niên lập nghiệp"; "Tuổi trẻ giữ nước"; "Mùa hè xanh", "Lao động giỏi, lao động sáng tạo"; "Liên kết phục vụ nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới" , “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” , “Ngày vì người nghèo” v.v…
Nhưng dân càng thi đua càng nghèo hơn. Nước vẫn đì đẹt trong danh sách 40 quốc gia nghèo nàn, chậm tiến, tụt hậu nhất thế giới. Bất công Xã hội chồng chất lên cao mỗi ngày. Và người dân, ông chủ của đất nước lại phải làm tôi cho Đảng là kẻ “đầy tớ “ của nhân dân !
Thế mà trong ngày phát động phong trào thi đua yêu nước, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội ngoại vi của đảng vẫn có thể huênh hoang hô hào thi đua để “Phát huy dân chủ, thực hiện quyền làm chủ, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh.”
Tại Hà Nội ngày 11/6, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng cũng cứ xúi dân : “Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng tâm, hiệp lực của toàn xã hội, người người thi đua, ngành ngành thi đua, phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2006-2010) theo Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Trước mắt tập trung thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2008, mà trọng tâm là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, tăng trưởng kinh tế bền vững. “
Dũng còn hứa chính phủ sẽ “Chăm lo cải thiện đời sống nhân dân, giúp đỡ thiết thực cho người nghèo, giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc của xã hội, như giảm tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai…”
Trước mặt Nông Đức Mạnh và các viên chức đảng dự lể kỷ niệm ngày Thi đua, Dũng còn kêu gọi cán bộ : “Không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, góp phần đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; thực hiện tốt Luật Phòng chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí.”
Rất tiếc là những gì Dũng nói vào dịp này cũng “xưa như trái đất” và đã từng bị cán bộ, đảng viên bỏ ngoài tai trong nhiều năm. Có khác chăng là chúng được nhắc lại vào dịp phát động phong trào Thi đua để đánh dấu một cuộc lùi lại vĩ đại khác của đảng CSVN.
Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn –
Mẹ Việt Nam, Áo Vàng áo Đỏ!
Tác giả: Thụy Ái
Trong bức thư gởi cho ban tổ chức Ngày Giới Trẻ Thế Giới (World Youth Day 2008, viết tắt WYD) dự định tổ chức tại Sydney vào tháng 7-2008, [tin Việt Báo, ngày Thứ Bảy, 6/7/2008,] Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã tỏ ý lo ngại vấn đề cờ vàng sẽ làm “tắt nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ VN.” Ngài nhấn mạnh, các bạn trẻ VN là “con một Cha, là anh em một nhà...” và “người mẹ VN, lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc áo rách, vẫn là người mẹ đã dày công sinh thành dưỡng dục...” Để kết luận Đức Hồng Y Mẫn kêu gọi sự trở về với “Bản chất của Giáo Hội Công Giáo là hiệp thông với Chúa...”
Bản văn đề cập đến lá cờ vàng của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn nghe thoáng thì xuôi nhưng tuy nhiên khó thuyết phục người đọc có suy nghĩ.
Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã mâu thuẫn, qua ba đoạn chỉ cách nhau trên dưới 100 chữ! Đoạn trên ông viết “người mẹ VN, lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc áo rách, vẫn là người mẹ đã dày công sinh thành dưỡng dục...” Nhưng khi đề cập đến Ngày Giới Trẻ Thế Giới tổ chức tại Sydney là vùng trời tự do, là giang sơn của người Việt tự do hải ngoại, biết rằng mẹ Việt Nam của người Việt tự do sẽ mặc áo vàng (cờ vàng) thì Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn lại đưa ra sự e ngại, rằng vấn đề cờ vàng sẽ làm “tắt nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ VN,” để rồi đưa ra đề nghị kêu gọi sự trở về với “Bản chất của Giáo Hội Công Giáo là hiệp thông với Chúa...” (?!)
Mỗi dân tộc đều có biểu tượng tinh thần quốc gia riêng biệt. Biểu tượng tinh thần quốc gia của người Việt tự do hải ngoại là lá cờ vàng 3 sọc đỏ. Mục tiêu của tôn giáo là phục vụ xã hội, phục vụ dân tộc qua chức năng hướng dẫn tâm linh con người, hướng con người làm lành lánh dữ trên căn bản đạo lý dân tộc. Tôn giáo tại Việt Nam vì thế luôn luôn gắn bó với quyền lợi đất nước và đứng dưới quyền lợi dân tộc. Trong giòng lịch sử, tôn giáo Việt Nam luôn đóng vai trò hướng dẫn niềm tin cho con người, đưa con người đến đạo đức, và vì yêu thương dân tộc mà tranh đấu cho hạnh phúc giống nòi. Chính vì thế tôn giáo đã bị cộng sản Việt Nam theo chủ nghĩa quốc tế vô sản đại đồng xem là kẻ đại thù cần phải tiêu diệt. Trên căn bản này Cộng Sản Việt Nam đã ra tay sát hại, trấn áp các vị lãnh đạo tinh thần đức cao phẩm trọng, những vị mà cộng sản Việt Nam xem là nguy hiểm cho chủ trương toàn trị ngu dân của chúng. Trường hợp đức Huỳnh Phú Sổ của Phật Giáo Hòa Hảo, đức tổng giám mục Nguyễn Kim Điền trước đây, và đức Tăng thống Thích Huyền Quang, đại lão hoà thượng Thích Quảng Độ hiện nay, vân vân, là những thí dụ điển hình cho sự tàn bạo này của cộng sản Việt Nam.
Tóm gọn, nếu bản chất của tôn giáo là hướng thượng, đưa con người đến lẽ phải tránh xa sự trái, phục vụ cho lợi ích tinh thần cho xã hội, cho dân tộc, thì sự kêu gọi trở về với “Bản chất của Giáo Hội Công Giáo là hiệp thông với Chúa...” của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn trong cố gắng vận động loại bỏ lá cờ vàng, biểu trưng của người Việt tự do tại hải ngoại, trong Ngày Giới Trẻ Thế Giới của cộng đồng Việt Nam tại Sydney, rõ ràng đã không giải thích được, vì không có tính khách quan, mà ngược lại chỉ để phục vụ một thâm ý chính trị qua chiêu bài tôn giáo.
Thực thế, nếu Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn thật sự nghĩ rằng “người mẹ VN, lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc áo rách, vẫn là người mẹ đã dày công sinh thành dưỡng dục...” thì khi Ngài và các bạn trẻ Việt Nam trong nước đi sang Úc Châu tham dự ngày đại hội của giới trẻ công giáo, thì việc Mẹ Việt Nam của người Việt tự do, trên vùng đất tự do, Mẹ mặc áo vàng là đúng lý tình chứ cớ sao mà Ngài lại phải yêu cầu lấy đi biểu tượng của người Mẹ Việt Nam hải ngoại ? Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn có nghĩ rằng Ngài có thể nào đề nghị với Đức Hồng Y G. Pell, giáo dân Mỹ xin đừng treo cờ Mỹ trong lúc Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn và các bạn trẻ Việt Nam trong nước đến thăm nhà thờ Mỹ hay không?
Tóm lại người nước ngoài đến Việt Nam thì cần tôn trọng các luật lệ tập tục của Việt Nam. Khi đi ra hải ngoại người Việt trong nước cũng phải biết tôn trọng những biểu tượng và quan điểm chính trị xã hội của người Việt hải ngoại cũng như của người ngoại quốc nói chung. Vì thế dù tôn kính chức vụ hồng y đến mấy trong giáo quyền Vatican, người đọc lá thư của đức Hồng y Mẫn cũng không thể không có câu hỏi rằng có thực đây là quan điểm của một nhà lãnh đạo tôn giáo cấp cao hay chỉ là thông điệp chính trị khéo léo của một cán bộ tôn giáo vận vào hạng có bản lãnh?
Thụy Ái
Ngày 14 tháng 6 năm 2008
http://www.tamthucviet.com/articleview. ... c5%93G%1dZ
Mẹ Việt Nam, Áo Vàng áo Đỏ!
Tác giả: Thụy Ái
Trong bức thư gởi cho ban tổ chức Ngày Giới Trẻ Thế Giới (World Youth Day 2008, viết tắt WYD) dự định tổ chức tại Sydney vào tháng 7-2008, [tin Việt Báo, ngày Thứ Bảy, 6/7/2008,] Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã tỏ ý lo ngại vấn đề cờ vàng sẽ làm “tắt nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ VN.” Ngài nhấn mạnh, các bạn trẻ VN là “con một Cha, là anh em một nhà...” và “người mẹ VN, lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc áo rách, vẫn là người mẹ đã dày công sinh thành dưỡng dục...” Để kết luận Đức Hồng Y Mẫn kêu gọi sự trở về với “Bản chất của Giáo Hội Công Giáo là hiệp thông với Chúa...”
Bản văn đề cập đến lá cờ vàng của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn nghe thoáng thì xuôi nhưng tuy nhiên khó thuyết phục người đọc có suy nghĩ.
Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã mâu thuẫn, qua ba đoạn chỉ cách nhau trên dưới 100 chữ! Đoạn trên ông viết “người mẹ VN, lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc áo rách, vẫn là người mẹ đã dày công sinh thành dưỡng dục...” Nhưng khi đề cập đến Ngày Giới Trẻ Thế Giới tổ chức tại Sydney là vùng trời tự do, là giang sơn của người Việt tự do hải ngoại, biết rằng mẹ Việt Nam của người Việt tự do sẽ mặc áo vàng (cờ vàng) thì Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn lại đưa ra sự e ngại, rằng vấn đề cờ vàng sẽ làm “tắt nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ VN,” để rồi đưa ra đề nghị kêu gọi sự trở về với “Bản chất của Giáo Hội Công Giáo là hiệp thông với Chúa...” (?!)
Mỗi dân tộc đều có biểu tượng tinh thần quốc gia riêng biệt. Biểu tượng tinh thần quốc gia của người Việt tự do hải ngoại là lá cờ vàng 3 sọc đỏ. Mục tiêu của tôn giáo là phục vụ xã hội, phục vụ dân tộc qua chức năng hướng dẫn tâm linh con người, hướng con người làm lành lánh dữ trên căn bản đạo lý dân tộc. Tôn giáo tại Việt Nam vì thế luôn luôn gắn bó với quyền lợi đất nước và đứng dưới quyền lợi dân tộc. Trong giòng lịch sử, tôn giáo Việt Nam luôn đóng vai trò hướng dẫn niềm tin cho con người, đưa con người đến đạo đức, và vì yêu thương dân tộc mà tranh đấu cho hạnh phúc giống nòi. Chính vì thế tôn giáo đã bị cộng sản Việt Nam theo chủ nghĩa quốc tế vô sản đại đồng xem là kẻ đại thù cần phải tiêu diệt. Trên căn bản này Cộng Sản Việt Nam đã ra tay sát hại, trấn áp các vị lãnh đạo tinh thần đức cao phẩm trọng, những vị mà cộng sản Việt Nam xem là nguy hiểm cho chủ trương toàn trị ngu dân của chúng. Trường hợp đức Huỳnh Phú Sổ của Phật Giáo Hòa Hảo, đức tổng giám mục Nguyễn Kim Điền trước đây, và đức Tăng thống Thích Huyền Quang, đại lão hoà thượng Thích Quảng Độ hiện nay, vân vân, là những thí dụ điển hình cho sự tàn bạo này của cộng sản Việt Nam.
Tóm gọn, nếu bản chất của tôn giáo là hướng thượng, đưa con người đến lẽ phải tránh xa sự trái, phục vụ cho lợi ích tinh thần cho xã hội, cho dân tộc, thì sự kêu gọi trở về với “Bản chất của Giáo Hội Công Giáo là hiệp thông với Chúa...” của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn trong cố gắng vận động loại bỏ lá cờ vàng, biểu trưng của người Việt tự do tại hải ngoại, trong Ngày Giới Trẻ Thế Giới của cộng đồng Việt Nam tại Sydney, rõ ràng đã không giải thích được, vì không có tính khách quan, mà ngược lại chỉ để phục vụ một thâm ý chính trị qua chiêu bài tôn giáo.
Thực thế, nếu Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn thật sự nghĩ rằng “người mẹ VN, lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc áo rách, vẫn là người mẹ đã dày công sinh thành dưỡng dục...” thì khi Ngài và các bạn trẻ Việt Nam trong nước đi sang Úc Châu tham dự ngày đại hội của giới trẻ công giáo, thì việc Mẹ Việt Nam của người Việt tự do, trên vùng đất tự do, Mẹ mặc áo vàng là đúng lý tình chứ cớ sao mà Ngài lại phải yêu cầu lấy đi biểu tượng của người Mẹ Việt Nam hải ngoại ? Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn có nghĩ rằng Ngài có thể nào đề nghị với Đức Hồng Y G. Pell, giáo dân Mỹ xin đừng treo cờ Mỹ trong lúc Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn và các bạn trẻ Việt Nam trong nước đến thăm nhà thờ Mỹ hay không?
Tóm lại người nước ngoài đến Việt Nam thì cần tôn trọng các luật lệ tập tục của Việt Nam. Khi đi ra hải ngoại người Việt trong nước cũng phải biết tôn trọng những biểu tượng và quan điểm chính trị xã hội của người Việt hải ngoại cũng như của người ngoại quốc nói chung. Vì thế dù tôn kính chức vụ hồng y đến mấy trong giáo quyền Vatican, người đọc lá thư của đức Hồng y Mẫn cũng không thể không có câu hỏi rằng có thực đây là quan điểm của một nhà lãnh đạo tôn giáo cấp cao hay chỉ là thông điệp chính trị khéo léo của một cán bộ tôn giáo vận vào hạng có bản lãnh?
Thụy Ái
Ngày 14 tháng 6 năm 2008
http://www.tamthucviet.com/articleview. ... c5%93G%1dZ
Little Saigon ở San Francisco .
T.L
Đến các ngã tư từ đường O'Farrell tới Eddy, du khách dễ dàng nhận ra với một loạt các bảng hiệu: "Welcome to Little Saigon - San Francisco - Sài Gòn Nhỏ" treo cao trên các cột đèn dọc theo đường Larkin. Đúng là "Sài Gòn nhỏ" nếu không nói là "quá nhỏ" vì chỉ chiếm có 3 khối phố trong khu Tenderloin nhưng đã được thành phố công nhận kể từ năm 2004 như là việc thừa nhận sự đóng góp của cộng đồng người gốc Việt vào nền kinh tế, văn hóa địa phương.
Trở lại lịch sử hình thành khu vực này. Sau trận động đất năm 1906 mà cả thành phố San Francisco gần như trở thành bình địa, dân chúng địa phương bắt tay vào việc tái xây dựng. Khu vực Tenderloin đã có một thời kỳ cực thịnh với những nhà hát và cửa hiệu quyến rũ. Cư dân quanh vùng Bay Area đổ xô đến đây vào chiều tối để xem ca nhạc, ăn tối và ngủ nghỉ tại các khách sạn dễ thương trong vùng. Thế nhưng, các đề án phát triển đô thị của những năm sau Thế chiến II đã biến Tenderloin thành hoang vắng khi các cơ sở kinh doanh lần lượt dọn đi. Mãi đến những năm đầu thập niên 1980, những người nhập cư gốc châu Á bắt đầu mon men tới đây lập nghiệp nhờ giá cả nhà đất cũng như thuê mướn cơ sở tương đối rẻ. Khu Tenderloin như được hồi sinh và chỉ trong vòng 3 thập niên, các khu phố với diện tích chỉ hơn 1,5 km2 mà đã có gần 30.000 người cư ngụ, bao gồm cư dân châu Á, người Trung Đông, người gốc Mỹ La-tinh, gốc châu Phi... Theo ước lượng khi Little Saigon được thành phố công nhận vào tháng 9.2004 thì có khoảng 3.000 cư dân gốc Việt sinh sống tại Tenderloin. Họ làm chủ 255 doanh nghiệp, phần lớn tập trung ở 3 khu phố trên đường Larkin, nơi được gọi là Little Saigon in San Francisco,
Tiệm bánh mì Lee's Sandwiches ở Little Saigon - Ảnh: T.L
nghĩa là Sài Gòn Nhỏ ở San Francisco.
Khi chúng tôi đến thăm Little Saigon một ngày cuối tháng 5.2008, miền bắc California đang chuyển qua mùa hè nhưng mấy hôm nay trời bỗng nhiên trở lạnh. Gió từ biển thổi vào khiến ai nấy đều nép sát vào vách tường trong khi chờ đợi để được sắp xếp chỗ ngồi trong một quán phở có tên Tháp Rùa, nơi một người bạn giới thiệu là ngon nhất . Anh Steven Nghia, chủ quán Tháp Rùa cho biết, tiệm của anh khai trương từ năm 1999 và bán toàn món Bắc, đặc biệt là phở, rất được dân địa phương ưa chuộng, không chỉ người gốc Việt, mà cả người Mỹ, người Mễ... Chỉ vào tất cả các bàn đều đang có khách ngồi ăn, anh nói: "Chị thấy đó, đông nhất là người Việt, nhưng thực khách thuộc các sắc dân khác cũng rất thích món phở". Phở ở đây không ăn kèm với rau, mà chỉ có hành trắng xắt lát mỏng, có lẽ để cho tiện phục vụ nhanh chóng. Quán đông vì khá nổi tiếng. Mọi người vừa ăn vừa hít hà. Biết chúng tôi là khách phương xa, anh David Phan, một người cư ngụ ở phía Bắc Golden Gate cho biết, anh thường đưa cả gia đình đến ăn phở ở quán Tháp Rùa vào dịp cuối tuần. Anh cũng nhắc đến những dịp lễ hội mà nhớ nhất là dịp đón Tết cách nay mấy năm với cả mấy chục ngàn đồng hương sống quanh vùng Bay Area tập trung về đây đón Xuân.
Tuy chỉ 3 khu phố nhưng Little Saigon có đủ các dịch vụ. Đây, tiệm Phở Tàu Bay quảng cáo phở chính gốc Sài Gòn, nào bò 7 món Pagolac, Hải Ký mì gia, Hoa Phát chuyển tiền, bánh mì Lee's Sandwiches, Hà Tiên Studio, Little Saigon Hair&Nails Salon, Quốc Long Jewelry, Jewelry Kim Cương, Hiệp Thành Food Market Corp., Mỹ Mỹ Gift Shop... "Phố nhỏ" chỉ mới nhộn nhịp, khởi sắc hẳn lên vài năm trở lại đây. Những e ngại trước đây về sự việc nhiều người gốc Việt chỉ xem "phố nhỏ" như là nơi sinh sống tạm bợ, sau khi ăn nên làm ra ở Little Saigon này thì lại có xu hướng mua nhà ở San Jose hay các vùng phụ cận cho con cái ăn học nay hầu như không còn nữa.
Người gốc Việt ở đây tự hào là mình đã tạo lập được "một thành phố trong một thành phố". Một Chinatown cơ ngơi hoành tráng nằm trong lòng San Francisco vì người gốc Hoa đã có lịch sử phát triển tại đây gần 200 năm. Người gốc Việt mới chỉ định cư khoảng thập niên nay mà đã hình thành được một Little Saigon như thế có thể xem là một nỗ lực đáng trân trọng. Tuy nhiên, như một số người Việt đến đây tham quan và có nhận xét, so với Little Saigon ở Westminster, miền nam California thì chỉ nên gọi nơi đây là một "Very" Little Saigon, tức "Sài Gòn rất nhỏ". Anh Steven Nghia bày tỏ mong muốn ngày càng có nhiều người Việt đến đây làm ăn sinh sống, ngày càng có nhiều cửa hiệu kinh doanh của người Việt mở cửa hoạt động tại đây để biến khu vực này thật sự là Little Saigon, cạnh tranh được với khu vực cùng tên ở miền nam California.
T.L
T.L
Đến các ngã tư từ đường O'Farrell tới Eddy, du khách dễ dàng nhận ra với một loạt các bảng hiệu: "Welcome to Little Saigon - San Francisco - Sài Gòn Nhỏ" treo cao trên các cột đèn dọc theo đường Larkin. Đúng là "Sài Gòn nhỏ" nếu không nói là "quá nhỏ" vì chỉ chiếm có 3 khối phố trong khu Tenderloin nhưng đã được thành phố công nhận kể từ năm 2004 như là việc thừa nhận sự đóng góp của cộng đồng người gốc Việt vào nền kinh tế, văn hóa địa phương.
Trở lại lịch sử hình thành khu vực này. Sau trận động đất năm 1906 mà cả thành phố San Francisco gần như trở thành bình địa, dân chúng địa phương bắt tay vào việc tái xây dựng. Khu vực Tenderloin đã có một thời kỳ cực thịnh với những nhà hát và cửa hiệu quyến rũ. Cư dân quanh vùng Bay Area đổ xô đến đây vào chiều tối để xem ca nhạc, ăn tối và ngủ nghỉ tại các khách sạn dễ thương trong vùng. Thế nhưng, các đề án phát triển đô thị của những năm sau Thế chiến II đã biến Tenderloin thành hoang vắng khi các cơ sở kinh doanh lần lượt dọn đi. Mãi đến những năm đầu thập niên 1980, những người nhập cư gốc châu Á bắt đầu mon men tới đây lập nghiệp nhờ giá cả nhà đất cũng như thuê mướn cơ sở tương đối rẻ. Khu Tenderloin như được hồi sinh và chỉ trong vòng 3 thập niên, các khu phố với diện tích chỉ hơn 1,5 km2 mà đã có gần 30.000 người cư ngụ, bao gồm cư dân châu Á, người Trung Đông, người gốc Mỹ La-tinh, gốc châu Phi... Theo ước lượng khi Little Saigon được thành phố công nhận vào tháng 9.2004 thì có khoảng 3.000 cư dân gốc Việt sinh sống tại Tenderloin. Họ làm chủ 255 doanh nghiệp, phần lớn tập trung ở 3 khu phố trên đường Larkin, nơi được gọi là Little Saigon in San Francisco,
Tiệm bánh mì Lee's Sandwiches ở Little Saigon - Ảnh: T.L
nghĩa là Sài Gòn Nhỏ ở San Francisco.
Khi chúng tôi đến thăm Little Saigon một ngày cuối tháng 5.2008, miền bắc California đang chuyển qua mùa hè nhưng mấy hôm nay trời bỗng nhiên trở lạnh. Gió từ biển thổi vào khiến ai nấy đều nép sát vào vách tường trong khi chờ đợi để được sắp xếp chỗ ngồi trong một quán phở có tên Tháp Rùa, nơi một người bạn giới thiệu là ngon nhất . Anh Steven Nghia, chủ quán Tháp Rùa cho biết, tiệm của anh khai trương từ năm 1999 và bán toàn món Bắc, đặc biệt là phở, rất được dân địa phương ưa chuộng, không chỉ người gốc Việt, mà cả người Mỹ, người Mễ... Chỉ vào tất cả các bàn đều đang có khách ngồi ăn, anh nói: "Chị thấy đó, đông nhất là người Việt, nhưng thực khách thuộc các sắc dân khác cũng rất thích món phở". Phở ở đây không ăn kèm với rau, mà chỉ có hành trắng xắt lát mỏng, có lẽ để cho tiện phục vụ nhanh chóng. Quán đông vì khá nổi tiếng. Mọi người vừa ăn vừa hít hà. Biết chúng tôi là khách phương xa, anh David Phan, một người cư ngụ ở phía Bắc Golden Gate cho biết, anh thường đưa cả gia đình đến ăn phở ở quán Tháp Rùa vào dịp cuối tuần. Anh cũng nhắc đến những dịp lễ hội mà nhớ nhất là dịp đón Tết cách nay mấy năm với cả mấy chục ngàn đồng hương sống quanh vùng Bay Area tập trung về đây đón Xuân.
Tuy chỉ 3 khu phố nhưng Little Saigon có đủ các dịch vụ. Đây, tiệm Phở Tàu Bay quảng cáo phở chính gốc Sài Gòn, nào bò 7 món Pagolac, Hải Ký mì gia, Hoa Phát chuyển tiền, bánh mì Lee's Sandwiches, Hà Tiên Studio, Little Saigon Hair&Nails Salon, Quốc Long Jewelry, Jewelry Kim Cương, Hiệp Thành Food Market Corp., Mỹ Mỹ Gift Shop... "Phố nhỏ" chỉ mới nhộn nhịp, khởi sắc hẳn lên vài năm trở lại đây. Những e ngại trước đây về sự việc nhiều người gốc Việt chỉ xem "phố nhỏ" như là nơi sinh sống tạm bợ, sau khi ăn nên làm ra ở Little Saigon này thì lại có xu hướng mua nhà ở San Jose hay các vùng phụ cận cho con cái ăn học nay hầu như không còn nữa.
Người gốc Việt ở đây tự hào là mình đã tạo lập được "một thành phố trong một thành phố". Một Chinatown cơ ngơi hoành tráng nằm trong lòng San Francisco vì người gốc Hoa đã có lịch sử phát triển tại đây gần 200 năm. Người gốc Việt mới chỉ định cư khoảng thập niên nay mà đã hình thành được một Little Saigon như thế có thể xem là một nỗ lực đáng trân trọng. Tuy nhiên, như một số người Việt đến đây tham quan và có nhận xét, so với Little Saigon ở Westminster, miền nam California thì chỉ nên gọi nơi đây là một "Very" Little Saigon, tức "Sài Gòn rất nhỏ". Anh Steven Nghia bày tỏ mong muốn ngày càng có nhiều người Việt đến đây làm ăn sinh sống, ngày càng có nhiều cửa hiệu kinh doanh của người Việt mở cửa hoạt động tại đây để biến khu vực này thật sự là Little Saigon, cạnh tranh được với khu vực cùng tên ở miền nam California.
T.L
Chống... Cộng "bát nháo"!
"Mày là thằng vô liêm sỉ..." "Chúng mày là đồ vô liêm sỉ..." Tôi và mấy người bạn vừa ra khỏi phòng hội báo Người-Việt sau trận bóng đá đầu ngày Thứ Hai, giữa hai đội Pháp và Romania vào lúc 10:45 sáng. Một nhóm 5, 6 người vừa đàn ông, đàn bà, phần lớn ở vào tuổi trên trung niên nhào ra giữa đường, tay xỉa xói vào mặt chúng tôi, cất những lời lỗ mãng thiếu văn hóa như trên.
Bản thân tôi cùng những người bị chửi ngay giữa ngoài đường phố sáng hôm nay đều là những cựu quân nhân quân lực VNCH đã có ít nhất trên 10 năm quân ngũ, và nhẹ nhất cũng trên 10 năm tù cải tạo lê lết, tả tơi suốt từ miền Nam ra tới miền Bắc... Khi tôi vừa ôn tồn tỏ tường với họ rằng: "Chúng tôi tới đây chỉ với mục đích giải trí trong tinh thần thể thao, chúng tôi đều là cựu quân nhân QLVNCH, và cũng đã phải trả cái món nợ tù nhiều năm khổ sai, đầy ải... Thù Cộng Sản không bao giờ cạn trong tim,óc chúng tôi.."., thì được họ chửi rằng:"Chúng mày tù nhiều năm cũng đều bị Cộng Sản hóa rồi".
Tôi thực sự ngỡ ngàng tới độ nóng mặt! Cái lối chụp mũ Cộng Sản lên đầu người ta một cách trâng tráo giống y như lũ Cộng Sản đỏ Hà-Nội đang chụp lên đầu những người đang ở trong nước đấu tranh đòi tự do, đòi công bằng, no ấm, gán cho họ là "bọn khủng bố".
Hai chữ tự do ở nước Mỹ này đã bị người ta lạm dụng. Hãy thận trọng! sử dụng vô ý thức sẽ tạo nên những hậu quả vô cùng bất lợi cho công cuộc đấu tranh chống Cộng ,có khi còn gây nên những phản tác dụng khó lường.
Trước 1975, khi quê hương ta đang trong lúc phải trải qua những giai đoạn xáo trộn chính trị gay go, những người Cộng-Sản ngụy hình sách động quần chúng xuống đường biểu tình rầm rộ như ông sư Thích Trí Quang, ni sư Huỳnh Liên, hoặc thân Cộng như Linh Mục Chân Tín, Linh Mục Phan Khắc Từ, các dân biểu như Lý Quí Chung, Ngô Công Ðức v.v... Khi đó chúng tôi đang ở trong ngành chiến tranh chính trị, một tổ chức của quân đội VNCH vừa đương đầu, vừa đánh phá những tên Cộng Sản nằm vùng sách động quần chúng chống lại ta, chúng tôi cũng không lỗ mãng gọi những nhân vật nêu trên là: "Thằng vô liêm sỉ..." Vậy thì những người đang đứng ở đầu đường kia, ngày hôm nay, dựa vào những thành tích gì của bản thân để mà biểu tình, chửi bới người khác với những lời lẽ thiếu văn hóa đó!!??
Lá cờ vàng ba sọc đỏ của miền Nam yêu thương của chúng ta, kỷ vật vô cùng quý giá cuối cùng còn lại trên đôi tay của cuộc đời những người Việt lưu vong này, chúng ta trân quý nó, chúng ta bảo trọng nó. Những kẻ nào đó, có ý đồ bất chính, sử dụng nó cho những thủ đoạn chính trị lưu manh của cá nhân hay đoàn thể đều phải bị lên án và loại trừ.
Biến cố xẩy ra trên tờ báo Xuân Người-Việt có lá cờ vàng ba sọc đỏ vẽ trên cái chậu rửa chân của người làm neo đã tạo nên những phẫn nộ chính đáng của chúng ta, của mọi người. Kẻ phá hoại tờ báo có thành tích chống Cộng trước sau như một này, đã bị loại trừ. "Ta không cố chấp người làm sai, ta chỉ chấp kẻ không chịu nhận mình sai". Không thấy mình sai thì không thể sửa sai. Tập đoàn báo Người-Việt đã nhận mình sai sót. Ðã công khai nhiều lần xin lỗi. Ðã can đảm thẳng thắn tạ tội với toàn thể những người Việt mất nước đang sống trong nỗi đau của mặc cảm lưu vong này. Cũng như với những người đã chết vì Cộng-Sản sát hại. Thái độ thẳng thắn, can đảm nhận lỗi như vậy chưa đủ sao?? Tư thù , hay nặng lòng cố chấp đây!?
Một con bé 32 tuổi đời, lớn lên từ miền Bắc, có cha là Cộng Sản chính hiệu, cho vẽ bức tranh đê hèn trên, chẳng lẽ lại có khả năng tạo nên như một hành động: "ném pháo vào chuồng ngựa, cho đám ngựa đá nhau loạn xạ hay sao!?" Rõ ràng là: "to đầu mà dại".
Ðã gần sáu tháng qua đi... Thời gian thật đáng quý. Làm sao người ta lại có thể phí phạm những ngày tháng ngắn ngủi còn lại của đời người đem mình ra ở những nơi đầu đường, xó chợ để mà chống đối, chửi bới, mạ lị lẫn nhau một cách tồi tệ, dai dẳng như vậy! Thật đáng trách.
Hình ảnh năm ông tướng bị người ta mang ra, dựng cái bàn thờ đơn sơ, tồi tệ ở đầu đường, xó chợ kia, dầm mưa, dãi nắng, đêm, ngày... trông thật là tội nghiệp, đau xót. Tôi là một quân nhân đã có những năm dài chiến đấu chống lại bọn Việt-Cộng ác ôn dưới quyền chỉ huy của những vị tướng kia, mỗi lần có dịp đi qua đó lại phải âm thầm, cúi đầu im lặng. Không dám có ý kiến. Mặt khác, theo thiển nghĩ của tôi, có lẽ thân nhân của những vị tướng đó, thấy người ta "mang" chồng, cha mình ra bêu ở đầu đường, xó chợ để lợi dụng như vậy, chắc cũng đau lòng lắm. Hãy trân trọng tôn kính những vị tướng ấy như mình đang tôn kính người quá cố trong gia đình của mình.
Những vị tướng kia, khi tuẫn tiết, đều đang ở trong phòng của tướng tư lệnh, có cờ súy, trang nghiêm, oai phong, dũng mãnh. Ngày hôm nay, ở trên nước Mỹ này, người ta đang lôi các ông ra ngoài đường bắt các ông hoan hô, đả đảo. Trông thê thảm quá. Hãy đưa các ông ra chỗ tượng đài chiến sĩ, hay trả các ông lại cho thân nhân của người ta.
Lá cờ, và bản thân tôi đã có những gắn bó trong suốt đoạn đường dài của cuộc đời lính... Tết Mậu Thân Mùa Hè đỏ lửa... Chính tay tôi đã phủ hàng ngàn lá cờ lên quan tài của các chiến hữu tôi tại nghĩa trang quân đội ở Biên-Hòa. Ðồng thời an ủi, ủy lạo thân nhân của các tử si đó... Rồi đại nạn 30 Tháng Tư 1975, vào tù... Năm đầu 1976, khi bị giam ở Long-Giao, ngày quân lực 19 Tháng Sáu, tôi đã nhặt được một chai bia quân tiếp vụ có lá cờ của ta, đem dấu trong bụi cỏ, sau đó, âm thầm cho các chiến hữu biết. Mọi người đã bảo nhau. Cả ngày hôm đó, ai nấy cũng đi qua, lén lút chào cái "chai" đó. Rồi ngày 29 Tháng Sáu 1976 trên bến Hạ-Lý (Hải-Phòng) miền Bắc, trước mặt chúng tôi, (những tù bại binh biệt xứ) một tên bộ đội, sau khi dựng chiếc vespa mầu xanh dương, vừa ăn cướp được từ miền Nam, chậm rãi, mở cốp xe, lấy ra một lá cờ vàng ba sọc đỏ, từ từ, hắn lau xe, hắn lau khắp "thân thể" cái xe... Cuối cùng khi tới cái yên xe, hắn quay mặt nhìn chúng tôi cười đểu. Hình ảnh, và hành động hèn hạ của tên bộ đội đó đã làm uất nghẹn cổ họng tôi, nhức nhối tim, óc tôi trong suốt những năm qua.
Tôi đã gắn bó với lá cờ này không phải chỉ trong thời gian ở quân ngũ. Tên quản giáo trại giam đã buộc tội tôi rằng: "Thời gian làm thầy giáo dạy học tôi cũng có tội với Cách-Mạng! Vì sao? Vì mỗi buổi sáng tôi cho học trò chào cờ, hành động đó, chính là tôi đã nhồi vào đầu óc ngây thơ của chúng trân trọng, tôn kính lá cờ "phản động," xây lòng yêu nước trong chúng, chống lại Cách- Mạng. À, thì ra vậy! Tôi hãnh diện làm nghề thầy giáo đó...
Bây giờ đây, tại trung tâm Thủ-Ðô của người Việt tỵ nạn này, mọi người đã và đang kiên cường đấu tranh cho lá cờ thiết tha, tình tự, thân thương đó được tung bay trên khắp hầu hết các tiểu bang của Hoa-Kỳ, đồng thời cũng phải đương đầu với bọn Việt-Cộng nằm vùng liên tục đánh phá... Thế nhưng những khó khăn trên, những trở ngại này không là gì đáng kể, cái đáng phải quan tâm, phải lo ngại là vì cái ta, cái chấp ngã quá lớn, hay vì những tư thù, hoặc danh lợi cá nhân mà: "Bôi mặt đấu đá lẫn nhau..." thì thật là vô cùng tai hại cho công cuộc chống Cộng gay go và trường kỳ của chúng ta. Lũ Việt-Cộng nằm vùng chỉ chầu chực có vậy.
Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu đã có câu nói để đời: "Ðừng nghe những gì CS nói, mà hãy xem những gì CS làm." Qua bức hình ông Ðỗ Ngọc Yến chụp chung với vài tên Việt-Cộng, theo thiển ý của tôi: "Ðừng tin tấm hình ông Yến đứng với Việt-Cộng, mà hãy tin những gì ông Yến chống Cộng trên báo Người-Việt của ông". Tôi thiển nghĩ ông Yến không cần phải trình báo với mọi người rằng: "Tôi đã đi gặp Việt-Cộng đây!!" Trong thời Ðệ Nhất Cộng-Hòa, Tổng Thống Diệm cũng đã có lần liên lạc với cáo Hồ về vấn đề thống nhất đất nước. Ngài đâu cần phải thông báo cho quốc dân!! Ở đây tôi không có ý so sánh ông Yến với Tổng Thống Diệm (xin đừng chụp mũ!) Hình ảnh không hẳn hoàn toàn là nội dung của một vấn đề. Tôi còn nhớ những ngày bị tên công an thành Hồ quản chế, ngoài mỗi đầu tháng phải trình diện hắn, thỉnh thoảng hắn tạt vào nhà tôi, vờ thăm hỏi, nhưng thực sự là để kiểm soát xem tôi có vắng nhà không, vậy nếu hắn chơi độc chụp chung với tôi vài tấm hình, sau đó thủ kỹ, chờ khi nào ở trên nước Mỹ này, nếu tôi ngo ngoe làm thủ lãnh một tổ chức đảng phái nào chống Cộng đòi tự do cho đất nước, chúng sẽ tung những tấm hình đó ra, chắc lúc đó tôi sẽ bị đám biểu tình kia phạng cho biêu đầu, sứt trán??
Trong công cuộc chống Cộng, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác. Thủ đoạn: "Trai, cò tranh nhau, ngư ông hưởng lợi" luôn là sách lược hàng đầu được bọn CS nằm vùng tận dụng. Tôi còn nhớ: Sau kinh nghiệm thảm bại Tết Mậu-Thân 1968. Trung tâm khai thác tài liệu hỗn hợp Việt, Mỹ đã bắt được một tập cương lĩnh chính trị của Việt-Cộng chỉ đạo cho cán binh của chúng như sau: "Mặc dầu lực lượng quân sự của chúng ta thừa sức đè bẹp đối phương, mặc dầu kinh tế của đối phương bị kiệt quệ, mặc dầu tình hình chính trị của đối phương có nhiều dối loạn; Chúng ta cũng chưa được phát động chiến dịch. Chỉ khi nào tự đối phương mâu thuẫn với nhau tới mức trầm trọng chính tự chúng không cho phép chúng tồn tại, lúc đó chúng ta mới tổng tấn công, tổng khởi nghĩa, cướp chính quyền." Thảm trạng trên chính đà xảy ra ở những ngày tháng cuối cùng của miền Nam Việt-Nam. Nào là Linh Mục Thanh với những cáo trạng số 1, số 2, v.v. Ni sư Huỳnh-Liên và đám thày chùa ra đường ăn vạ. Mặt khác, một số tướng lãnh thì ngờ vực, đấu đá lẫn nhau. Rõ ràng lúc đó, nội tình miền Nam chia rẽ tới mức độ trầm trọng, vô phương cứu chữa.
Kể từ ngày tên Trần-Trường điên khùng treo ảnh cáo Hồ và cờ máu ở giữa thủ đô tỵ nạn này, sức mạnh tập trung chống Cộng của chúng ta như vũ bão, tưởng như làm đổ được núi, lấp được sông, khiến lũ CS Hà-Nội thất hồn, bạt vía. Nhưng đến nay thì sao!? Than ôi! Năm bè, bảy phái, chống đối, mạ lị, chửi bới lẫn nhau loạn cào cào, tới độ chóng mặt, không còn biết đâu là thật, là giả!!
Thế nào là "biểu tình tự phát??" Một cụm từ nghe thật lạ tai... Lèo tèo vài ba người cũng rủ nhau ra đường, cờ quạt hô hoán, điên cuồng chửi bới loạn xạ. Thật xấu hổ với những người Mỹ, những chủ nhà ở đất nước này.
Hôm nay, ở cái tuổi "thất thập cổ lai hy" này, tóc đã bạc, răng đã long, da đã nhăn, má đã lõm... cùng bạn bè xưa, đến đây, cái hội trường của báo Người-Việt này, với ý có được một ít phút giải trí, thư giãn, thì tôi lại bị người ta xỉ vả thậm tệ. Thật sự, tận đáy lòng mình, có ý vừa là giải trí, vừa là tỏ thái độ thông cảm, tội nghiệp với một cơ quan ngôn luận có tinh thần trách nhiệm đáng quý.
Trên đường về nhà, tôi cố gắng đẩy ra khỏi đầu mình ý nghĩ về những người mạ lỵ tôi ngày hôm nay là đang phá hoại sự đoàn kết chống Cộng. Phần cá nhân tôi: "Lạy Chúa, xin hãy tha tội cho họ, vì họ đã không ý thức được việc họ đang làm".
Bùi-Trọng-Nghĩa
Bản thân tôi cùng những người bị chửi ngay giữa ngoài đường phố sáng hôm nay đều là những cựu quân nhân quân lực VNCH đã có ít nhất trên 10 năm quân ngũ, và nhẹ nhất cũng trên 10 năm tù cải tạo lê lết, tả tơi suốt từ miền Nam ra tới miền Bắc... Khi tôi vừa ôn tồn tỏ tường với họ rằng: "Chúng tôi tới đây chỉ với mục đích giải trí trong tinh thần thể thao, chúng tôi đều là cựu quân nhân QLVNCH, và cũng đã phải trả cái món nợ tù nhiều năm khổ sai, đầy ải... Thù Cộng Sản không bao giờ cạn trong tim,óc chúng tôi.."., thì được họ chửi rằng:"Chúng mày tù nhiều năm cũng đều bị Cộng Sản hóa rồi".
Tôi thực sự ngỡ ngàng tới độ nóng mặt! Cái lối chụp mũ Cộng Sản lên đầu người ta một cách trâng tráo giống y như lũ Cộng Sản đỏ Hà-Nội đang chụp lên đầu những người đang ở trong nước đấu tranh đòi tự do, đòi công bằng, no ấm, gán cho họ là "bọn khủng bố".
Hai chữ tự do ở nước Mỹ này đã bị người ta lạm dụng. Hãy thận trọng! sử dụng vô ý thức sẽ tạo nên những hậu quả vô cùng bất lợi cho công cuộc đấu tranh chống Cộng ,có khi còn gây nên những phản tác dụng khó lường.
Trước 1975, khi quê hương ta đang trong lúc phải trải qua những giai đoạn xáo trộn chính trị gay go, những người Cộng-Sản ngụy hình sách động quần chúng xuống đường biểu tình rầm rộ như ông sư Thích Trí Quang, ni sư Huỳnh Liên, hoặc thân Cộng như Linh Mục Chân Tín, Linh Mục Phan Khắc Từ, các dân biểu như Lý Quí Chung, Ngô Công Ðức v.v... Khi đó chúng tôi đang ở trong ngành chiến tranh chính trị, một tổ chức của quân đội VNCH vừa đương đầu, vừa đánh phá những tên Cộng Sản nằm vùng sách động quần chúng chống lại ta, chúng tôi cũng không lỗ mãng gọi những nhân vật nêu trên là: "Thằng vô liêm sỉ..." Vậy thì những người đang đứng ở đầu đường kia, ngày hôm nay, dựa vào những thành tích gì của bản thân để mà biểu tình, chửi bới người khác với những lời lẽ thiếu văn hóa đó!!??
Lá cờ vàng ba sọc đỏ của miền Nam yêu thương của chúng ta, kỷ vật vô cùng quý giá cuối cùng còn lại trên đôi tay của cuộc đời những người Việt lưu vong này, chúng ta trân quý nó, chúng ta bảo trọng nó. Những kẻ nào đó, có ý đồ bất chính, sử dụng nó cho những thủ đoạn chính trị lưu manh của cá nhân hay đoàn thể đều phải bị lên án và loại trừ.
Biến cố xẩy ra trên tờ báo Xuân Người-Việt có lá cờ vàng ba sọc đỏ vẽ trên cái chậu rửa chân của người làm neo đã tạo nên những phẫn nộ chính đáng của chúng ta, của mọi người. Kẻ phá hoại tờ báo có thành tích chống Cộng trước sau như một này, đã bị loại trừ. "Ta không cố chấp người làm sai, ta chỉ chấp kẻ không chịu nhận mình sai". Không thấy mình sai thì không thể sửa sai. Tập đoàn báo Người-Việt đã nhận mình sai sót. Ðã công khai nhiều lần xin lỗi. Ðã can đảm thẳng thắn tạ tội với toàn thể những người Việt mất nước đang sống trong nỗi đau của mặc cảm lưu vong này. Cũng như với những người đã chết vì Cộng-Sản sát hại. Thái độ thẳng thắn, can đảm nhận lỗi như vậy chưa đủ sao?? Tư thù , hay nặng lòng cố chấp đây!?
Một con bé 32 tuổi đời, lớn lên từ miền Bắc, có cha là Cộng Sản chính hiệu, cho vẽ bức tranh đê hèn trên, chẳng lẽ lại có khả năng tạo nên như một hành động: "ném pháo vào chuồng ngựa, cho đám ngựa đá nhau loạn xạ hay sao!?" Rõ ràng là: "to đầu mà dại".
Ðã gần sáu tháng qua đi... Thời gian thật đáng quý. Làm sao người ta lại có thể phí phạm những ngày tháng ngắn ngủi còn lại của đời người đem mình ra ở những nơi đầu đường, xó chợ để mà chống đối, chửi bới, mạ lị lẫn nhau một cách tồi tệ, dai dẳng như vậy! Thật đáng trách.
Hình ảnh năm ông tướng bị người ta mang ra, dựng cái bàn thờ đơn sơ, tồi tệ ở đầu đường, xó chợ kia, dầm mưa, dãi nắng, đêm, ngày... trông thật là tội nghiệp, đau xót. Tôi là một quân nhân đã có những năm dài chiến đấu chống lại bọn Việt-Cộng ác ôn dưới quyền chỉ huy của những vị tướng kia, mỗi lần có dịp đi qua đó lại phải âm thầm, cúi đầu im lặng. Không dám có ý kiến. Mặt khác, theo thiển nghĩ của tôi, có lẽ thân nhân của những vị tướng đó, thấy người ta "mang" chồng, cha mình ra bêu ở đầu đường, xó chợ để lợi dụng như vậy, chắc cũng đau lòng lắm. Hãy trân trọng tôn kính những vị tướng ấy như mình đang tôn kính người quá cố trong gia đình của mình.
Những vị tướng kia, khi tuẫn tiết, đều đang ở trong phòng của tướng tư lệnh, có cờ súy, trang nghiêm, oai phong, dũng mãnh. Ngày hôm nay, ở trên nước Mỹ này, người ta đang lôi các ông ra ngoài đường bắt các ông hoan hô, đả đảo. Trông thê thảm quá. Hãy đưa các ông ra chỗ tượng đài chiến sĩ, hay trả các ông lại cho thân nhân của người ta.
Lá cờ, và bản thân tôi đã có những gắn bó trong suốt đoạn đường dài của cuộc đời lính... Tết Mậu Thân Mùa Hè đỏ lửa... Chính tay tôi đã phủ hàng ngàn lá cờ lên quan tài của các chiến hữu tôi tại nghĩa trang quân đội ở Biên-Hòa. Ðồng thời an ủi, ủy lạo thân nhân của các tử si đó... Rồi đại nạn 30 Tháng Tư 1975, vào tù... Năm đầu 1976, khi bị giam ở Long-Giao, ngày quân lực 19 Tháng Sáu, tôi đã nhặt được một chai bia quân tiếp vụ có lá cờ của ta, đem dấu trong bụi cỏ, sau đó, âm thầm cho các chiến hữu biết. Mọi người đã bảo nhau. Cả ngày hôm đó, ai nấy cũng đi qua, lén lút chào cái "chai" đó. Rồi ngày 29 Tháng Sáu 1976 trên bến Hạ-Lý (Hải-Phòng) miền Bắc, trước mặt chúng tôi, (những tù bại binh biệt xứ) một tên bộ đội, sau khi dựng chiếc vespa mầu xanh dương, vừa ăn cướp được từ miền Nam, chậm rãi, mở cốp xe, lấy ra một lá cờ vàng ba sọc đỏ, từ từ, hắn lau xe, hắn lau khắp "thân thể" cái xe... Cuối cùng khi tới cái yên xe, hắn quay mặt nhìn chúng tôi cười đểu. Hình ảnh, và hành động hèn hạ của tên bộ đội đó đã làm uất nghẹn cổ họng tôi, nhức nhối tim, óc tôi trong suốt những năm qua.
Tôi đã gắn bó với lá cờ này không phải chỉ trong thời gian ở quân ngũ. Tên quản giáo trại giam đã buộc tội tôi rằng: "Thời gian làm thầy giáo dạy học tôi cũng có tội với Cách-Mạng! Vì sao? Vì mỗi buổi sáng tôi cho học trò chào cờ, hành động đó, chính là tôi đã nhồi vào đầu óc ngây thơ của chúng trân trọng, tôn kính lá cờ "phản động," xây lòng yêu nước trong chúng, chống lại Cách- Mạng. À, thì ra vậy! Tôi hãnh diện làm nghề thầy giáo đó...
Bây giờ đây, tại trung tâm Thủ-Ðô của người Việt tỵ nạn này, mọi người đã và đang kiên cường đấu tranh cho lá cờ thiết tha, tình tự, thân thương đó được tung bay trên khắp hầu hết các tiểu bang của Hoa-Kỳ, đồng thời cũng phải đương đầu với bọn Việt-Cộng nằm vùng liên tục đánh phá... Thế nhưng những khó khăn trên, những trở ngại này không là gì đáng kể, cái đáng phải quan tâm, phải lo ngại là vì cái ta, cái chấp ngã quá lớn, hay vì những tư thù, hoặc danh lợi cá nhân mà: "Bôi mặt đấu đá lẫn nhau..." thì thật là vô cùng tai hại cho công cuộc chống Cộng gay go và trường kỳ của chúng ta. Lũ Việt-Cộng nằm vùng chỉ chầu chực có vậy.
Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu đã có câu nói để đời: "Ðừng nghe những gì CS nói, mà hãy xem những gì CS làm." Qua bức hình ông Ðỗ Ngọc Yến chụp chung với vài tên Việt-Cộng, theo thiển ý của tôi: "Ðừng tin tấm hình ông Yến đứng với Việt-Cộng, mà hãy tin những gì ông Yến chống Cộng trên báo Người-Việt của ông". Tôi thiển nghĩ ông Yến không cần phải trình báo với mọi người rằng: "Tôi đã đi gặp Việt-Cộng đây!!" Trong thời Ðệ Nhất Cộng-Hòa, Tổng Thống Diệm cũng đã có lần liên lạc với cáo Hồ về vấn đề thống nhất đất nước. Ngài đâu cần phải thông báo cho quốc dân!! Ở đây tôi không có ý so sánh ông Yến với Tổng Thống Diệm (xin đừng chụp mũ!) Hình ảnh không hẳn hoàn toàn là nội dung của một vấn đề. Tôi còn nhớ những ngày bị tên công an thành Hồ quản chế, ngoài mỗi đầu tháng phải trình diện hắn, thỉnh thoảng hắn tạt vào nhà tôi, vờ thăm hỏi, nhưng thực sự là để kiểm soát xem tôi có vắng nhà không, vậy nếu hắn chơi độc chụp chung với tôi vài tấm hình, sau đó thủ kỹ, chờ khi nào ở trên nước Mỹ này, nếu tôi ngo ngoe làm thủ lãnh một tổ chức đảng phái nào chống Cộng đòi tự do cho đất nước, chúng sẽ tung những tấm hình đó ra, chắc lúc đó tôi sẽ bị đám biểu tình kia phạng cho biêu đầu, sứt trán??
Trong công cuộc chống Cộng, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác. Thủ đoạn: "Trai, cò tranh nhau, ngư ông hưởng lợi" luôn là sách lược hàng đầu được bọn CS nằm vùng tận dụng. Tôi còn nhớ: Sau kinh nghiệm thảm bại Tết Mậu-Thân 1968. Trung tâm khai thác tài liệu hỗn hợp Việt, Mỹ đã bắt được một tập cương lĩnh chính trị của Việt-Cộng chỉ đạo cho cán binh của chúng như sau: "Mặc dầu lực lượng quân sự của chúng ta thừa sức đè bẹp đối phương, mặc dầu kinh tế của đối phương bị kiệt quệ, mặc dầu tình hình chính trị của đối phương có nhiều dối loạn; Chúng ta cũng chưa được phát động chiến dịch. Chỉ khi nào tự đối phương mâu thuẫn với nhau tới mức trầm trọng chính tự chúng không cho phép chúng tồn tại, lúc đó chúng ta mới tổng tấn công, tổng khởi nghĩa, cướp chính quyền." Thảm trạng trên chính đà xảy ra ở những ngày tháng cuối cùng của miền Nam Việt-Nam. Nào là Linh Mục Thanh với những cáo trạng số 1, số 2, v.v. Ni sư Huỳnh-Liên và đám thày chùa ra đường ăn vạ. Mặt khác, một số tướng lãnh thì ngờ vực, đấu đá lẫn nhau. Rõ ràng lúc đó, nội tình miền Nam chia rẽ tới mức độ trầm trọng, vô phương cứu chữa.
Kể từ ngày tên Trần-Trường điên khùng treo ảnh cáo Hồ và cờ máu ở giữa thủ đô tỵ nạn này, sức mạnh tập trung chống Cộng của chúng ta như vũ bão, tưởng như làm đổ được núi, lấp được sông, khiến lũ CS Hà-Nội thất hồn, bạt vía. Nhưng đến nay thì sao!? Than ôi! Năm bè, bảy phái, chống đối, mạ lị, chửi bới lẫn nhau loạn cào cào, tới độ chóng mặt, không còn biết đâu là thật, là giả!!
Thế nào là "biểu tình tự phát??" Một cụm từ nghe thật lạ tai... Lèo tèo vài ba người cũng rủ nhau ra đường, cờ quạt hô hoán, điên cuồng chửi bới loạn xạ. Thật xấu hổ với những người Mỹ, những chủ nhà ở đất nước này.
Hôm nay, ở cái tuổi "thất thập cổ lai hy" này, tóc đã bạc, răng đã long, da đã nhăn, má đã lõm... cùng bạn bè xưa, đến đây, cái hội trường của báo Người-Việt này, với ý có được một ít phút giải trí, thư giãn, thì tôi lại bị người ta xỉ vả thậm tệ. Thật sự, tận đáy lòng mình, có ý vừa là giải trí, vừa là tỏ thái độ thông cảm, tội nghiệp với một cơ quan ngôn luận có tinh thần trách nhiệm đáng quý.
Trên đường về nhà, tôi cố gắng đẩy ra khỏi đầu mình ý nghĩ về những người mạ lỵ tôi ngày hôm nay là đang phá hoại sự đoàn kết chống Cộng. Phần cá nhân tôi: "Lạy Chúa, xin hãy tha tội cho họ, vì họ đã không ý thức được việc họ đang làm".
Bùi-Trọng-Nghĩa

