Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
CÁI LƯỠI
Chuyện phiếm của Gã Siêu. Ngày xưa có một ông vua nước Ai Cập gửi cho nhà hiền triến Bias một con vật vừa quí lại vừa hiếm để tế lễ các thần minh. Thế nhưng ông vua này muốn chơi khăm nhà hiền triến một vố, bèn phán :
- Sau khi cúng kiếng xong, ngươi phải trả lại cho ta cái gì vừa tốt nhất lại vừa xấu nhất nơi con vật quí hiếm ấy.
Nhà hiền triết cũng không phải là tay vừa, bèn xẻo ngay cái lưỡi mà trao cho ông vua.
Cử chỉ đó gián tiếp nói lên rằng :
- Cái lưỡi là phần tốt nhất nếu biết sử dụng, nhưng đồng thời cũng là phần xấu nhất nếu không biết sử dụng.
Đúng thế, cái lưỡi là một bộ phận quan trọng để phát ra tiếng nói. Hồi tôi còn bé, mẹ gã thường răn đe :
- Con mà chửi tục, thì cái lưỡi sẽ thụt vào trong cổ, để rồi từ rày mà đi cho đến lúc rình xinh thì sẽ chẳng còn nói năng được nữa !
Hay :
- Con mà chửi tục, ông ba bị nghe thấy, thì ông ấy sẽ cắt ngay cái lưỡi để xơi…tái.
Và như chúng ta đã thấy :
- Tiếng nói là một phương tiện hữu hiệu để chuyển đạt cho người khác biết những tư tưởng, những ý nghĩ, những ước muốn thầm kín ấp ủ tận đáy tâm can tỳ phế, nhờ đó bắc lấy một nhịp cầu cảm thông.
Chính vì thế, mấy ông triết gia đã phát biểu :
- Người là một con vật có ngôn ngữ, có tiếng nói. Sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng chân lý ấy ngàn đời vẫn không thây đổi.
Một kẻ câm ú a ú ớ, diễn tả bằng cử điệu thật là vất vả và người không quen cũng khó mà hiểu được những cử điệu ‘’búa xua’’ ấy.
Tuy nhiên, cái lưỡi cùng với lời nói lại là điều chúng ta thường hay vấp phạm hơn cả, bởi vì chúng ta có thể vấp phạm bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào và bất kỳ với ai.
Do đó Kinh thánh đã bảo :
- Số người chết vì cái lưỡi thì nhiều hơn số người ngã gục vì gươm giáo ngoài chiến trường.
Và tục ngữ dân Ăng lê cũng xác quyết :
- Không nọc nào độc cho bằng cái lưỡi.
Trước hết là trong lãnh vực gia đình.
Nhiều khi sóng gió nổi lên chỉ vì một lời nói nóng nảy và thiếu tế nhị.
Có một chị vợ cặm cụi nhổ cỏ ở thửa ruộng sau nhà. Theo sự phân công thì hôm đó anh chồng đóng vai tề gia nội trợ. Và thế là anh chồng bèn trổ mấy món ruột của mình để lấy điểm ‘’mí’’ bà xã.
Mồ hôi mồ kê chảy xuống ròng ròng. Khi đã nấu nướng xong, yên chí nhớn và hớn hở bắn một điếu thuốc lào, anh chồng mới sai đứa con nhỏ ra mời mẹ.
Đứa bé chạy tới và nói :
- Bu ơi bu, bố bảo về ăn cơm.
Chẳng nói chẳng rằng, chị vợ vẫn cứ lặng lẽ nhổ cỏ.
Đứa bé trở về, mặt xụ xuống như bánh bao chiều.
Một lúc sau, anh chồng lại sai đứa khác ra mời, nhưng chị vợ vẫn cứ nín thinh cặm cụi nhổ cỏ.
Đứa bé trở về, mặt xìu xìu như trái bóng xì hơi.
Dường như không chờ đợi được nữa, vả lại sợ thức ăn để lâu sẽ nguội và mất ngon, nên lát sau anh chồng liền sai đứa út ra mời, ông cười ruồi và thầm nghĩ trong bụng :
- Quá tam ba bận. Ba keo mèo phải mở mắt đứt đuôi con nòng nọc chứ còn gì.
Thế nhưng lần thì chị vợ lại tỏ ra tức tối. Chị ta đứng lên. Hai tay chống nạnh. Mắt long còng cọc như một tia chớp. Miệng hét toáng chẳng khác gì sư tử rống :
- Bố con mày có hốc thì cứ việc hốc đi.
Trước sự nổi tam bành của chị ta, đứa út run cầm cập, ba chân bốn cẳng vội chạy về méc bố.
Đến đây thì chuyện phải đến ắt sẽ đến. Sau khi nhổ hết đám cỏ bợ, chị vợ đủng đỉnh về nhà. Thế nhưng vừa mới tới sân thì hàng xóm đã phải nghe thấy những tiếng kêu la thất thanh :
- Ối giời ơi ! Ối đất ơi ! nó đánh tôi, nó giết tôi, làng nước ơi, cứu tôi với…
Rồi thì nồi niêu soong chảo, chổi cùn rế rách, mâm bàn chén đĩa cùng với những thứ cao lương mỹ vị thi nhau bay ra ngoài sân, bởi sức người chịu đựng có hạn. Và lúc này đến lượt anh chồng đang nổi máu yêng hùng, đùng đùng nổi trận lô đình như Trương Phi !
Giá như chị vợ biết nhún nhường và tế nhị một chút trong lời nói của mình thì đâu đến nỗi xảy ra sự việc đáng tiếc kể trên. Còn thân thể ‘’liễu yếu đào tơ’’ của chị ta đâu đến nỗi tím bầm và lãnh đủ những thứ cú thượng cẳng chân hạ cẳng tay của đức ông chồng, ‘’vai năm thước rộng, thân mười thước cao’’, như vóc dáng của anh chàng Từ Hải trong truyện Kiều !
Bởi đó, tục ngữ đã dậy :
- Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười tươi hỏi rằng anh giận gì.
- Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê.
Còn nếu ông cũng ghê bà cũng gớm, thì chắc chắn phải kết thúc bằng xô xát, bằng tan hoang và đổ vỡ.
- Bên thẳng thì bên phải chùng
Hai bên đều thẳng thì cùng đứt dây.
- Bên giận thì bên phải lùi
Hai bên cùng giận thì… dùi nó quăng.
Cho nên, muốn gia đình được êm ấm thì phải biết nhường nhịn và tha thứ :
- Một sự nhịn là chín sự lành.
Đồng thời phải biết phát ngôn cho êm dịu và tế nhị, bởi vì :
- Lời nói chẳng mất tiền mua
Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Tiếp đến là trong tương quan xã hội, trong mối liên hệ với người khác.
Hẳn rằng, đã có lần chúng ta bực bội tức tối trước những luồng dư luận xuyên tạc, trước những miệng lưỡi thâm độc và xảo trá của người đời. Bởi vì dư luận vẫn thường là luận dư, lời đôn thổi bao giờ cũng phóng đại tô màu, chẳng biết đâu mà lường :
- Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.
Hay như ca dao đã diễn tả :
- Ở sao cho vừa lòng người
Ở rộng người cười ở hẹp người chê
Cao chê ngỏng, thấp chê lùn
Béo chê béo trục béo tròn
Gầy chê xương sống, xương sườn hở ra.
Tuy nhiên, chúng ta không thể nào sống cu ky, đơn độc, lẻ loi như một hòn đảo giữa biển khơi hay như một pháp đài biệt lập. Trái lại, sống là sống là sống với người khác. Và trong cuộc sống chung này, chúng ta không thể tránh đi cho hết những va chạm, những bực bội, những buồn phiền.
Nếu biết dùng những lời nói ôn tồn, chúng ta sẽ hóa giải được những thù oán, triệu tiêu được những giận hờn, bởi vì mật ngọt chết ruồi. Người ta có thể giết được nhiều ruồi chỉ bằng một giọt mật, còn hơn là bằng cả một thùng dấm chua.
Một lời thiếu ý thức được sánh ví như một lon dầu đổ vào lửa, làm bừng lên sự tức giận, thiêu hủy hết tình ruột thịt cũng như nghĩa bà con lối xóm.
Một lời nói vu oan có thể làm người khác mất hết tiền bạc, mất hết danh dự, tiêu tan sự nghiệp để rồi thân bại danh liệt và đi vào thế giới lao tù.
Sau cùng là trên bình diện cá nhân.
Như chúng ta đã biết :
- Lòng đầy thì mới tràn ra ngoài.
Dựa vào lời nói, người khác có thể biết được phần nào tâm hồn chúng ta. Dựa vào lời nói, thiên hạ sẽ đánh giá con người và nhận rõ bộ mặt thực của chúng ta.
Nếu chúng ta nói những điều hữu lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là người tài giỏi và khôn ngoan. Nếu chúng ta nói những điều vô lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ ngu ngốc và dại khờ. Nếu chúng ta nói những điều xằng bậy, thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ tầm phào và láo khoét.
Được yêu mến và kính trọng hay bị khinh bỉ và ghét bỏ một phần lớn là do bởi cái lưỡi và lời nói của chúng ta.
Như thế, cái lưỡi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành uy tín và thế giá của mọi người, như một câu danh ngôn đã bảo :
- Lưỡi người khôn ngoan tạo nên danh dự, còn mồm kẻ ngu dại gây đổ vỡ tan hoang.
Bởi đó, phải biết đắn đo cân nhắc, để tránh đi những lời lộng ngôn xúc phạm đến Đấng Tối Cao, những lời chua cay độc địa nhằm hạ nhục uy tín người khác, cũng như những lời côc cằn tục tĩu làm hoen ố những tâm hồn đơn sơ trong trắng, đồng thời bôi nhọ chính bản thân mình, vì ngậm máu phun người dơ miệng mình.
Như thế, nếu không biết sử dụng cái lưỡi cho đúng đắn, thì lời nói sẽ là nguồn ngốc phát sinh rất nhiều giống tội thay vì là một phương tiện giúp chúng ta cảm thông và xích lại gần nhau.
Êsôpe là một tên lô lệ, nhưng lại được ông chủ tên là Santô rất yêu mến và kính trọng.
Ngày kia có khách đến chơi, ông chủ sai Êsôpe ra chợ mua thức ăn, nhưng không bảo là mua những thứ gì. Êsôpe bèn dinh về đủ các thứ lưỡi : lưỡi lợn, lưỡi bò và lưỡi ngựa… để nấu nướng.
Lạ miệng nên xơi ngon. Ông chủ và khách khứa đều hài lòng về tài bếp núc của Êsôpe. Rồi khen lấy khen để.
Lần sau cũng có khách, ông chủ lại sai Êsôpe đi chợ và cũng không dặn phải mua những gì, Êsôpe cũng lại dinh về toàn những lưỡi là lưỡi, chỉ khác ở cách chế biến và thêm bớt gia vị.
Thấy vậy, ông chủ rất đỗi ngạc nhiên, còn Êsôpe thì kính cẩn làm một màn lý luận, bàn về cái lưỡi như sau :
- Phàm ở trên đời này, mọi sự tốt hay xấu, lợi hay hại… tất tật đều do bởi việc sử dụng cái lưỡi một cách khôn khéo hay vụng về.
Chính nhờ vậy, mà Êsôpe được chủ yếu mến và sau này được giải thoát khỏi kiếp nô lệ lầm than.
Ý thức được tầm mức quan trọng của cái lưỡi là như vậy, chúng ta hãy lắp đặt một cái phanh vào miệng, để những lúc ngứa mồm, muốn phát ngôn bừa bãi, thì biết “sì tốp” lại đúng nơi và đúng lúc.
Viết tới đây, gã bèn nhớ tới lời khuyên của người xưa, đó là :
- Hãy ngoáy lưỡi bảy lần trước khi nói.
Chuyện phiếm của Gã Siêu. Ngày xưa có một ông vua nước Ai Cập gửi cho nhà hiền triến Bias một con vật vừa quí lại vừa hiếm để tế lễ các thần minh. Thế nhưng ông vua này muốn chơi khăm nhà hiền triến một vố, bèn phán :
- Sau khi cúng kiếng xong, ngươi phải trả lại cho ta cái gì vừa tốt nhất lại vừa xấu nhất nơi con vật quí hiếm ấy.
Nhà hiền triết cũng không phải là tay vừa, bèn xẻo ngay cái lưỡi mà trao cho ông vua.
Cử chỉ đó gián tiếp nói lên rằng :
- Cái lưỡi là phần tốt nhất nếu biết sử dụng, nhưng đồng thời cũng là phần xấu nhất nếu không biết sử dụng.
Đúng thế, cái lưỡi là một bộ phận quan trọng để phát ra tiếng nói. Hồi tôi còn bé, mẹ gã thường răn đe :
- Con mà chửi tục, thì cái lưỡi sẽ thụt vào trong cổ, để rồi từ rày mà đi cho đến lúc rình xinh thì sẽ chẳng còn nói năng được nữa !
Hay :
- Con mà chửi tục, ông ba bị nghe thấy, thì ông ấy sẽ cắt ngay cái lưỡi để xơi…tái.
Và như chúng ta đã thấy :
- Tiếng nói là một phương tiện hữu hiệu để chuyển đạt cho người khác biết những tư tưởng, những ý nghĩ, những ước muốn thầm kín ấp ủ tận đáy tâm can tỳ phế, nhờ đó bắc lấy một nhịp cầu cảm thông.
Chính vì thế, mấy ông triết gia đã phát biểu :
- Người là một con vật có ngôn ngữ, có tiếng nói. Sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng chân lý ấy ngàn đời vẫn không thây đổi.
Một kẻ câm ú a ú ớ, diễn tả bằng cử điệu thật là vất vả và người không quen cũng khó mà hiểu được những cử điệu ‘’búa xua’’ ấy.
Tuy nhiên, cái lưỡi cùng với lời nói lại là điều chúng ta thường hay vấp phạm hơn cả, bởi vì chúng ta có thể vấp phạm bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào và bất kỳ với ai.
Do đó Kinh thánh đã bảo :
- Số người chết vì cái lưỡi thì nhiều hơn số người ngã gục vì gươm giáo ngoài chiến trường.
Và tục ngữ dân Ăng lê cũng xác quyết :
- Không nọc nào độc cho bằng cái lưỡi.
Trước hết là trong lãnh vực gia đình.
Nhiều khi sóng gió nổi lên chỉ vì một lời nói nóng nảy và thiếu tế nhị.
Có một chị vợ cặm cụi nhổ cỏ ở thửa ruộng sau nhà. Theo sự phân công thì hôm đó anh chồng đóng vai tề gia nội trợ. Và thế là anh chồng bèn trổ mấy món ruột của mình để lấy điểm ‘’mí’’ bà xã.
Mồ hôi mồ kê chảy xuống ròng ròng. Khi đã nấu nướng xong, yên chí nhớn và hớn hở bắn một điếu thuốc lào, anh chồng mới sai đứa con nhỏ ra mời mẹ.
Đứa bé chạy tới và nói :
- Bu ơi bu, bố bảo về ăn cơm.
Chẳng nói chẳng rằng, chị vợ vẫn cứ lặng lẽ nhổ cỏ.
Đứa bé trở về, mặt xụ xuống như bánh bao chiều.
Một lúc sau, anh chồng lại sai đứa khác ra mời, nhưng chị vợ vẫn cứ nín thinh cặm cụi nhổ cỏ.
Đứa bé trở về, mặt xìu xìu như trái bóng xì hơi.
Dường như không chờ đợi được nữa, vả lại sợ thức ăn để lâu sẽ nguội và mất ngon, nên lát sau anh chồng liền sai đứa út ra mời, ông cười ruồi và thầm nghĩ trong bụng :
- Quá tam ba bận. Ba keo mèo phải mở mắt đứt đuôi con nòng nọc chứ còn gì.
Thế nhưng lần thì chị vợ lại tỏ ra tức tối. Chị ta đứng lên. Hai tay chống nạnh. Mắt long còng cọc như một tia chớp. Miệng hét toáng chẳng khác gì sư tử rống :
- Bố con mày có hốc thì cứ việc hốc đi.
Trước sự nổi tam bành của chị ta, đứa út run cầm cập, ba chân bốn cẳng vội chạy về méc bố.
Đến đây thì chuyện phải đến ắt sẽ đến. Sau khi nhổ hết đám cỏ bợ, chị vợ đủng đỉnh về nhà. Thế nhưng vừa mới tới sân thì hàng xóm đã phải nghe thấy những tiếng kêu la thất thanh :
- Ối giời ơi ! Ối đất ơi ! nó đánh tôi, nó giết tôi, làng nước ơi, cứu tôi với…
Rồi thì nồi niêu soong chảo, chổi cùn rế rách, mâm bàn chén đĩa cùng với những thứ cao lương mỹ vị thi nhau bay ra ngoài sân, bởi sức người chịu đựng có hạn. Và lúc này đến lượt anh chồng đang nổi máu yêng hùng, đùng đùng nổi trận lô đình như Trương Phi !
Giá như chị vợ biết nhún nhường và tế nhị một chút trong lời nói của mình thì đâu đến nỗi xảy ra sự việc đáng tiếc kể trên. Còn thân thể ‘’liễu yếu đào tơ’’ của chị ta đâu đến nỗi tím bầm và lãnh đủ những thứ cú thượng cẳng chân hạ cẳng tay của đức ông chồng, ‘’vai năm thước rộng, thân mười thước cao’’, như vóc dáng của anh chàng Từ Hải trong truyện Kiều !
Bởi đó, tục ngữ đã dậy :
- Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười tươi hỏi rằng anh giận gì.
- Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê.
Còn nếu ông cũng ghê bà cũng gớm, thì chắc chắn phải kết thúc bằng xô xát, bằng tan hoang và đổ vỡ.
- Bên thẳng thì bên phải chùng
Hai bên đều thẳng thì cùng đứt dây.
- Bên giận thì bên phải lùi
Hai bên cùng giận thì… dùi nó quăng.
Cho nên, muốn gia đình được êm ấm thì phải biết nhường nhịn và tha thứ :
- Một sự nhịn là chín sự lành.
Đồng thời phải biết phát ngôn cho êm dịu và tế nhị, bởi vì :
- Lời nói chẳng mất tiền mua
Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Tiếp đến là trong tương quan xã hội, trong mối liên hệ với người khác.
Hẳn rằng, đã có lần chúng ta bực bội tức tối trước những luồng dư luận xuyên tạc, trước những miệng lưỡi thâm độc và xảo trá của người đời. Bởi vì dư luận vẫn thường là luận dư, lời đôn thổi bao giờ cũng phóng đại tô màu, chẳng biết đâu mà lường :
- Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.
Hay như ca dao đã diễn tả :
- Ở sao cho vừa lòng người
Ở rộng người cười ở hẹp người chê
Cao chê ngỏng, thấp chê lùn
Béo chê béo trục béo tròn
Gầy chê xương sống, xương sườn hở ra.
Tuy nhiên, chúng ta không thể nào sống cu ky, đơn độc, lẻ loi như một hòn đảo giữa biển khơi hay như một pháp đài biệt lập. Trái lại, sống là sống là sống với người khác. Và trong cuộc sống chung này, chúng ta không thể tránh đi cho hết những va chạm, những bực bội, những buồn phiền.
Nếu biết dùng những lời nói ôn tồn, chúng ta sẽ hóa giải được những thù oán, triệu tiêu được những giận hờn, bởi vì mật ngọt chết ruồi. Người ta có thể giết được nhiều ruồi chỉ bằng một giọt mật, còn hơn là bằng cả một thùng dấm chua.
Một lời thiếu ý thức được sánh ví như một lon dầu đổ vào lửa, làm bừng lên sự tức giận, thiêu hủy hết tình ruột thịt cũng như nghĩa bà con lối xóm.
Một lời nói vu oan có thể làm người khác mất hết tiền bạc, mất hết danh dự, tiêu tan sự nghiệp để rồi thân bại danh liệt và đi vào thế giới lao tù.
Sau cùng là trên bình diện cá nhân.
Như chúng ta đã biết :
- Lòng đầy thì mới tràn ra ngoài.
Dựa vào lời nói, người khác có thể biết được phần nào tâm hồn chúng ta. Dựa vào lời nói, thiên hạ sẽ đánh giá con người và nhận rõ bộ mặt thực của chúng ta.
Nếu chúng ta nói những điều hữu lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là người tài giỏi và khôn ngoan. Nếu chúng ta nói những điều vô lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ ngu ngốc và dại khờ. Nếu chúng ta nói những điều xằng bậy, thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ tầm phào và láo khoét.
Được yêu mến và kính trọng hay bị khinh bỉ và ghét bỏ một phần lớn là do bởi cái lưỡi và lời nói của chúng ta.
Như thế, cái lưỡi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành uy tín và thế giá của mọi người, như một câu danh ngôn đã bảo :
- Lưỡi người khôn ngoan tạo nên danh dự, còn mồm kẻ ngu dại gây đổ vỡ tan hoang.
Bởi đó, phải biết đắn đo cân nhắc, để tránh đi những lời lộng ngôn xúc phạm đến Đấng Tối Cao, những lời chua cay độc địa nhằm hạ nhục uy tín người khác, cũng như những lời côc cằn tục tĩu làm hoen ố những tâm hồn đơn sơ trong trắng, đồng thời bôi nhọ chính bản thân mình, vì ngậm máu phun người dơ miệng mình.
Như thế, nếu không biết sử dụng cái lưỡi cho đúng đắn, thì lời nói sẽ là nguồn ngốc phát sinh rất nhiều giống tội thay vì là một phương tiện giúp chúng ta cảm thông và xích lại gần nhau.
Êsôpe là một tên lô lệ, nhưng lại được ông chủ tên là Santô rất yêu mến và kính trọng.
Ngày kia có khách đến chơi, ông chủ sai Êsôpe ra chợ mua thức ăn, nhưng không bảo là mua những thứ gì. Êsôpe bèn dinh về đủ các thứ lưỡi : lưỡi lợn, lưỡi bò và lưỡi ngựa… để nấu nướng.
Lạ miệng nên xơi ngon. Ông chủ và khách khứa đều hài lòng về tài bếp núc của Êsôpe. Rồi khen lấy khen để.
Lần sau cũng có khách, ông chủ lại sai Êsôpe đi chợ và cũng không dặn phải mua những gì, Êsôpe cũng lại dinh về toàn những lưỡi là lưỡi, chỉ khác ở cách chế biến và thêm bớt gia vị.
Thấy vậy, ông chủ rất đỗi ngạc nhiên, còn Êsôpe thì kính cẩn làm một màn lý luận, bàn về cái lưỡi như sau :
- Phàm ở trên đời này, mọi sự tốt hay xấu, lợi hay hại… tất tật đều do bởi việc sử dụng cái lưỡi một cách khôn khéo hay vụng về.
Chính nhờ vậy, mà Êsôpe được chủ yếu mến và sau này được giải thoát khỏi kiếp nô lệ lầm than.
Ý thức được tầm mức quan trọng của cái lưỡi là như vậy, chúng ta hãy lắp đặt một cái phanh vào miệng, để những lúc ngứa mồm, muốn phát ngôn bừa bãi, thì biết “sì tốp” lại đúng nơi và đúng lúc.
Viết tới đây, gã bèn nhớ tới lời khuyên của người xưa, đó là :
- Hãy ngoáy lưỡi bảy lần trước khi nói.
Câu chuyện sống kỳ lạ nhất trong thảm họa động đất Trung Quốc
Chú lợn Zhu Jianqiang đã mất 2/3 trọng lượng cơ thể khi được giải cứu.
(Dân trí) - Những điều kỳ diệu vẫn đang diễn ra tại Tứ Xuyên mặc dù trận động đất kinh hoàng đã xảy ra cách đây hơn 1 tháng. Bằng chứng là, một con lợn đã may mắn sống sót sau 36 ngày bị chôn vùi dưới đống đổ nát nhờ chỉ nhai than và uống nước mưa!
Câu chuyện về sức sống kỳ diệu của con lợn nói trên được tờ Chongqing Evening Post của Trùng Khánh đưa tin và được thông tấn xã Trung Quốc đăng tải lại.

Con lợn, nặng 149kg vào thời điểm xảy ra động đất hôm 12/5, đã sụt mất 2/3 trọng lượng khi nó được phát hiện tại thành phố Bành Châu của tỉnh Tứ Xuyên hồi tuần trước, khiến mọi người hầu như không nhận ra. Một nhân chứng nói: “Khi được cứu sống, nó chẳng giống một con lợn tí nào. Nó gầy như một con dê!”.
Con lợn 1 năm tuổi đã sống sót nhờ nước mưa và một bao than. Than không chứa chất dinh dưỡng nhưng cũng không gây độc hại và đã giúp con lợn... ấm bụng. Bao than được trữ trên tầng trên của chuồng lợn khi chiếc chuồng bị sập trong động đất.
Một người quản lý tại bảo tàng Jianchuan đã mua con lợn với giá 430 USD, kèm theo lời hứa chăm sóc nó cẩn thận cho đến khi chết tự nhiên như một “biểu tượng sống của thảm họa động đất”. Con vật sau đó đã được đặt tên “Zhu Jianqiang” có nghĩa là “Lợn khỏe” và có biệt danh: lợn 36 ngày.
Hồi tháng 6 năm ngoái, Zhu Jianqiang chỉ nặng 18kg khi chủ nhân cũ, cặp vợ chồng Wan Xinming và Liu Dahui mua từ một phiên chợ. Đến tháng 4 năm nay, nó đã tăng lên 136kg.
Trận động đất hôm 12/5 đã phá hủy chuồng của nó. Ông Wan muốn đưa con lợn ra khỏi đống đổ nát ngay hôm sau nhưng ông được yêu cầu phải đi sơ tán tới nơi an toàn ngay lập tức.
Sự sống sót của Zhu Jianqiang ban đầu đã khiến nhiều người hoài nghi. “Thật không thể tin được là con lợn vẫn sống sau 36 ngày. Bất kể là con lợn đó béo hay gầy, nó cũng không thể sống quá 5 ngày nếu không có thức ăn và nước”, một người nói.
Nhưng lý do khiến con lợn sống sót qua thời gian dài như vậy là bởi nó đã bị cô lập trong một không gian nhỏ xíu, hạn chế sự đi lại của nó, vì thế mà nhu cầu năng lượng cũng giảm bớt. Mưa lớn sau trận động đất là một nhân tố khác quyết định sự tồn tại của Zhu Jianqiang.
Ngoài ra, thân hình quá béo của Zhu Jianqiang đã giúp dự trữ năng lượng mà nó cần trong lúc gặp khó khăn. “Con lợn đã làm một điều kỳ diệu trong thảm họa. Ý chí mạnh mẽ của nó đã giúp nó sống sót”.
Ông Wan Xingming vẫn tin rằng con lợn của mình đã chết. Nhưng khi ông được tin quân đội sẽ tới đã thu dọn đống đổ nát quanh ngôi nhà ông vào ngày 17/6, ông đã quay trở lại và cảnh báo họ rằng con lợn chết có thể gây bệnh truyền nhiễm.
Đó cũng là thời điểm con lợn gầy dơ xương được giải cứu ra khỏi đống đổ nát.
Trận động đất kinh hoàng hôm 12/5 tại tỉnh Tứ Xuyên đã khiến gần 80.000 chết hoặc mất tích. Đây là thảm họa động đất tồi tệ nhất tại Trung Quốc trong hơn 3 thập kỷ qua.
Lưu Ly
Theo Xinhua
Chú lợn Zhu Jianqiang đã mất 2/3 trọng lượng cơ thể khi được giải cứu.
(Dân trí) - Những điều kỳ diệu vẫn đang diễn ra tại Tứ Xuyên mặc dù trận động đất kinh hoàng đã xảy ra cách đây hơn 1 tháng. Bằng chứng là, một con lợn đã may mắn sống sót sau 36 ngày bị chôn vùi dưới đống đổ nát nhờ chỉ nhai than và uống nước mưa!
Câu chuyện về sức sống kỳ diệu của con lợn nói trên được tờ Chongqing Evening Post của Trùng Khánh đưa tin và được thông tấn xã Trung Quốc đăng tải lại.

Con lợn, nặng 149kg vào thời điểm xảy ra động đất hôm 12/5, đã sụt mất 2/3 trọng lượng khi nó được phát hiện tại thành phố Bành Châu của tỉnh Tứ Xuyên hồi tuần trước, khiến mọi người hầu như không nhận ra. Một nhân chứng nói: “Khi được cứu sống, nó chẳng giống một con lợn tí nào. Nó gầy như một con dê!”.
Con lợn 1 năm tuổi đã sống sót nhờ nước mưa và một bao than. Than không chứa chất dinh dưỡng nhưng cũng không gây độc hại và đã giúp con lợn... ấm bụng. Bao than được trữ trên tầng trên của chuồng lợn khi chiếc chuồng bị sập trong động đất.
Một người quản lý tại bảo tàng Jianchuan đã mua con lợn với giá 430 USD, kèm theo lời hứa chăm sóc nó cẩn thận cho đến khi chết tự nhiên như một “biểu tượng sống của thảm họa động đất”. Con vật sau đó đã được đặt tên “Zhu Jianqiang” có nghĩa là “Lợn khỏe” và có biệt danh: lợn 36 ngày.
Hồi tháng 6 năm ngoái, Zhu Jianqiang chỉ nặng 18kg khi chủ nhân cũ, cặp vợ chồng Wan Xinming và Liu Dahui mua từ một phiên chợ. Đến tháng 4 năm nay, nó đã tăng lên 136kg.
Trận động đất hôm 12/5 đã phá hủy chuồng của nó. Ông Wan muốn đưa con lợn ra khỏi đống đổ nát ngay hôm sau nhưng ông được yêu cầu phải đi sơ tán tới nơi an toàn ngay lập tức.
Sự sống sót của Zhu Jianqiang ban đầu đã khiến nhiều người hoài nghi. “Thật không thể tin được là con lợn vẫn sống sau 36 ngày. Bất kể là con lợn đó béo hay gầy, nó cũng không thể sống quá 5 ngày nếu không có thức ăn và nước”, một người nói.
Nhưng lý do khiến con lợn sống sót qua thời gian dài như vậy là bởi nó đã bị cô lập trong một không gian nhỏ xíu, hạn chế sự đi lại của nó, vì thế mà nhu cầu năng lượng cũng giảm bớt. Mưa lớn sau trận động đất là một nhân tố khác quyết định sự tồn tại của Zhu Jianqiang.
Ngoài ra, thân hình quá béo của Zhu Jianqiang đã giúp dự trữ năng lượng mà nó cần trong lúc gặp khó khăn. “Con lợn đã làm một điều kỳ diệu trong thảm họa. Ý chí mạnh mẽ của nó đã giúp nó sống sót”.
Ông Wan Xingming vẫn tin rằng con lợn của mình đã chết. Nhưng khi ông được tin quân đội sẽ tới đã thu dọn đống đổ nát quanh ngôi nhà ông vào ngày 17/6, ông đã quay trở lại và cảnh báo họ rằng con lợn chết có thể gây bệnh truyền nhiễm.
Đó cũng là thời điểm con lợn gầy dơ xương được giải cứu ra khỏi đống đổ nát.
Trận động đất kinh hoàng hôm 12/5 tại tỉnh Tứ Xuyên đã khiến gần 80.000 chết hoặc mất tích. Đây là thảm họa động đất tồi tệ nhất tại Trung Quốc trong hơn 3 thập kỷ qua.
Lưu Ly
Theo Xinhua
Cho vợ đi nâng ngực nhân sinh nhật

Lisa Donley trước khi phẫu thuật thẩm mỹ. Ảnh: The Sun. Nhân sinh nhật lần thứ 31 của vợ, một người đàn ông Anh đã tặng cho mẹ của hai con anh món quà bất ngờ. Đó là một cuộc phẫu thuật thẩm mỹ.
Lisa Donley từng là một vũ công có thân hình gợi cảm nhưng sau khi sinh hai con cô không thể tiếp tục duy trì vóc dáng ngày nào.
Người mẹ đến từ thành phố Wisbech (phía đông nước Anh) bắt đầu cảm thấy tự ti và mặc cảm về bản thân. Cô thậm chí tìm cách lẩn tránh chồng vì cho rằng cô quá xấu xí, mặc cho Andy đã hết lời khen ngợi cô.
"Tôi không nghĩ là cô ấy cần phải đi thẩm mỹ vì với tôi Lisa luôn rất tuyệt vời", Andy chia sẻ và nói thêm anh mong vợ lại tự tin như ngày nào nên muốn dành cho cô điều bất ngờ.
Anh chồng 44 tuổi bí mật đặt cho vợ một cuộc phẫu thuật thẩm mỹ để nâng ngực và hút mỡ thừa vào đúng sinh nhật cô. Andy thậm chí còn nhờ các y tá trong bệnh viện giúp anh trang trí giường bệnh của vợ bằng bóng bay và chuyển cho cô bánh sinh nhật sau khi cuộc phẫu thuật thành công.

Lisa Donley trong bệnh viện sau cuộc phẫu thuật. Ảnh: The Sun. Lisa cho biết có thể người khác sẽ cảm thấy giận khi chồng đề nghị đi thẩm mỹ nhưng cô thì hết sức hạnh phúc với món quà trị giá 8.000 USD này. "Các bạn của tôi rất ghen tỵ với tôi và ước gì chồng của họ sẽ làm điều gì đó tương tự như Andy đã làm", Lisa nói.
Ngọc Quỳnh (theo The Sun)

Lisa Donley trước khi phẫu thuật thẩm mỹ. Ảnh: The Sun. Nhân sinh nhật lần thứ 31 của vợ, một người đàn ông Anh đã tặng cho mẹ của hai con anh món quà bất ngờ. Đó là một cuộc phẫu thuật thẩm mỹ.
Lisa Donley từng là một vũ công có thân hình gợi cảm nhưng sau khi sinh hai con cô không thể tiếp tục duy trì vóc dáng ngày nào.
Người mẹ đến từ thành phố Wisbech (phía đông nước Anh) bắt đầu cảm thấy tự ti và mặc cảm về bản thân. Cô thậm chí tìm cách lẩn tránh chồng vì cho rằng cô quá xấu xí, mặc cho Andy đã hết lời khen ngợi cô.
"Tôi không nghĩ là cô ấy cần phải đi thẩm mỹ vì với tôi Lisa luôn rất tuyệt vời", Andy chia sẻ và nói thêm anh mong vợ lại tự tin như ngày nào nên muốn dành cho cô điều bất ngờ.
Anh chồng 44 tuổi bí mật đặt cho vợ một cuộc phẫu thuật thẩm mỹ để nâng ngực và hút mỡ thừa vào đúng sinh nhật cô. Andy thậm chí còn nhờ các y tá trong bệnh viện giúp anh trang trí giường bệnh của vợ bằng bóng bay và chuyển cho cô bánh sinh nhật sau khi cuộc phẫu thuật thành công.

Lisa Donley trong bệnh viện sau cuộc phẫu thuật. Ảnh: The Sun. Lisa cho biết có thể người khác sẽ cảm thấy giận khi chồng đề nghị đi thẩm mỹ nhưng cô thì hết sức hạnh phúc với món quà trị giá 8.000 USD này. "Các bạn của tôi rất ghen tỵ với tôi và ước gì chồng của họ sẽ làm điều gì đó tương tự như Andy đã làm", Lisa nói.
Ngọc Quỳnh (theo The Sun)
Bánh mì Sài Gòn
Sài Gòn có nhiều món ăn rất riêng, khởi thuỷ là món “nhập cư” được Sài Gòn hoá. Chúng không chỉ Sài Gòn ở khẩu vị, ở cách chế biến mà ở cả cách ăn, cách kinh doanh… Bánh mì là một trong số đó.
Tiệm bánh mì Hoà Mã năm 1960[/align]
Ổ bánh mì thịt kiểu Sài Gòn đã có mặt khắp nơi trong nước. Nó còn theo chân người Việt để bén rễ ở nhiều quốc gia khác.
Cửa hiệu đầu tiên
Gần ngã tư Cao Thắng – Nguyễn Đình Chiểu có một tiệm bán bánh mì nhỏ với bảng hiệu cũ kỹ, phai màu theo năm tháng. Bánh mì Hoà Mã đã tồn tại 50 năm kể từ ngày thành lập. Nhiều người khẳng định chủ nhân ở đây là người đầu tiên bán những ổ bánh mì thịt kiểu Sài Gòn.
Bà Nguyễn Thị Dậu, chủ nhân của hiệu bánh mì Như Lan hiện nay, cho biết ngày xưa bà rất mê bánh mì Hoà Mã. Lúc nhỏ, bà Dậu thường đến mua bánh mì ở đây và ước ao ngày nào đó mình cũng có một cửa hàng bán bánh mì như ý thích.
Sài Gòn từ trước năm 1958 đã có những cửa hiệu bán bánh của người Pháp. Họ bán bánh ngọt, bánh mì theo gu Pháp để phục vụ chủ yếu dân Tây. Bánh mì Tây là loại đặc ruột, tuỳ hình dáng mà được gọi tên (bánh mì gối là do tròn lớn như cái gối...). Và thịt nguội được bán riêng theo nhu cầu của người mua.
Năm 1954, vợ chồng ông Lê Minh Ngọc và bà Nguyễn Thị Tịnh di cư vào Nam. Trước đó, bà Tịnh đã làm cho hãng thịt nguội chuyên cung cấp sản phẩm cho các nhà hàng Pháp ở Hà Nội. Khi vào Sài Gòn, hai ông bà đã có sẵn ý tưởng mở cửa hàng bán bánh mì, thịt nguội để cung cấp cho người Việt trong khu vực. Thế là ra đời, năm 1958, cửa hàng bánh mì thịt nguội mang tên Hoà Mã (tên một làng ở ngoại ô Hà Nội) tại số 511 Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu, Q.3). Sau đó hai năm, tiệm dời về số 53 Cao Thắng cho đến nay.
Ban đầu, tiệm cũng bán bánh mì riêng, thịt nguội riêng, ăn tại chỗ hoặc mang về. Nhưng người mua thường là công chức, thợ thuyền, sinh viên, học sinh không có nhiều thời gian vào buổi sáng để nhẩn nha ngồi ăn ở tiệm. Thế là Hoà Mã làm ổ bánh mì vừa đủ cho suất ăn sáng dài hơn gang tay, nhét thịt, chả lụa, pa-tê vào giữa để người mua tiện mang theo vào nơi làm việc, lớp học.
Lúc đó, tiệm Hoà Mã gọi một ổ bánh mì thịt của mình là cát-cút, có lẽ dùng theo từ Pháp casse-croûte, tức bữa ăn lót dạ, bữa ăn qua loa (thật ra, tên gọi đúng của bánh mì kẹp thịt là sandwich). Giá bán một ổ là 3 – 5 đồng, ổ lớn có bơ tươi thì 7 – 10 đồng.
Ngày xưa, các vị công chức ở vùng Bàn Cờ, cư xá Đô Thành rất thích ăn bánh mì Hoà Mã. Bà Tịnh vốn xuất thân làm thịt nguội cho hãng Tây nên vẫn giữ gu Pháp cho bánh mì Hoà Mã suốt 50 năm. Không ít người ở nước ngoài về thăm quê hương thường ghé lại Hoà Mã để thưởng thức hương vị bánh mì thịt không thể nào quên.
Hương vị bánh mì Sài Gòn

Bà NguyễnThị Tịnh, chủ nhân bánh mì Hoà Mã
Bánh mì thịt kiểu Sài Gòn bắt đầu định được dáng vẻ, hương vị riêng của mình. Vì ổ bánh mì vừa đủ cho một khẩu phần ăn nên không cần lớn lắm, nhưng vỏ bánh phải giòn, ruột bánh đặc vừa phải để bột không quến khi nhai làm mất ngon.
Người miền Nam thường thích cái gì cũng có tí rau. Vì vậy ổ bánh mì được cho thêm vài lát dưa leo, củ cải trắng, cà rốt cắt sợi ngâm chua, thêm vài cọng hành, ngò để có hương thơm, vài khoanh ớt cay vừa ăn vừa hít hà mới khoái.
Ăn ổ bánh mì thịt có đủ mùi thơm giòn của vỏ bánh, vị ngọt của bột mì, béo của bơ, hương vị thịt, chả, pa-tê như một bản phối tròn trịa sắc màu nhưng không hề ngán bởi có rau dưa tươi mát. Và điều quan trọng của ổ bánh mì thịt Sài Gòn là ngon, rẻ, tiện lợi cho tất cả mọi tầng lớp.
Một thời gian sau, nhiều hiệu bánh mì thịt bắt đầu xuất hiện ở thành phố. Bánh mì không dừng lại ở món điểm tâm nữa, nó được dùng cả ở bữa trưa, chiều, tối.
Quang Tâm
Sài Gòn có nhiều món ăn rất riêng, khởi thuỷ là món “nhập cư” được Sài Gòn hoá. Chúng không chỉ Sài Gòn ở khẩu vị, ở cách chế biến mà ở cả cách ăn, cách kinh doanh… Bánh mì là một trong số đó.

Tiệm bánh mì Hoà Mã năm 1960[/align]
Ổ bánh mì thịt kiểu Sài Gòn đã có mặt khắp nơi trong nước. Nó còn theo chân người Việt để bén rễ ở nhiều quốc gia khác.
Cửa hiệu đầu tiên
Gần ngã tư Cao Thắng – Nguyễn Đình Chiểu có một tiệm bán bánh mì nhỏ với bảng hiệu cũ kỹ, phai màu theo năm tháng. Bánh mì Hoà Mã đã tồn tại 50 năm kể từ ngày thành lập. Nhiều người khẳng định chủ nhân ở đây là người đầu tiên bán những ổ bánh mì thịt kiểu Sài Gòn.
Bà Nguyễn Thị Dậu, chủ nhân của hiệu bánh mì Như Lan hiện nay, cho biết ngày xưa bà rất mê bánh mì Hoà Mã. Lúc nhỏ, bà Dậu thường đến mua bánh mì ở đây và ước ao ngày nào đó mình cũng có một cửa hàng bán bánh mì như ý thích.
Sài Gòn từ trước năm 1958 đã có những cửa hiệu bán bánh của người Pháp. Họ bán bánh ngọt, bánh mì theo gu Pháp để phục vụ chủ yếu dân Tây. Bánh mì Tây là loại đặc ruột, tuỳ hình dáng mà được gọi tên (bánh mì gối là do tròn lớn như cái gối...). Và thịt nguội được bán riêng theo nhu cầu của người mua.
Năm 1954, vợ chồng ông Lê Minh Ngọc và bà Nguyễn Thị Tịnh di cư vào Nam. Trước đó, bà Tịnh đã làm cho hãng thịt nguội chuyên cung cấp sản phẩm cho các nhà hàng Pháp ở Hà Nội. Khi vào Sài Gòn, hai ông bà đã có sẵn ý tưởng mở cửa hàng bán bánh mì, thịt nguội để cung cấp cho người Việt trong khu vực. Thế là ra đời, năm 1958, cửa hàng bánh mì thịt nguội mang tên Hoà Mã (tên một làng ở ngoại ô Hà Nội) tại số 511 Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu, Q.3). Sau đó hai năm, tiệm dời về số 53 Cao Thắng cho đến nay.
Ban đầu, tiệm cũng bán bánh mì riêng, thịt nguội riêng, ăn tại chỗ hoặc mang về. Nhưng người mua thường là công chức, thợ thuyền, sinh viên, học sinh không có nhiều thời gian vào buổi sáng để nhẩn nha ngồi ăn ở tiệm. Thế là Hoà Mã làm ổ bánh mì vừa đủ cho suất ăn sáng dài hơn gang tay, nhét thịt, chả lụa, pa-tê vào giữa để người mua tiện mang theo vào nơi làm việc, lớp học.
Lúc đó, tiệm Hoà Mã gọi một ổ bánh mì thịt của mình là cát-cút, có lẽ dùng theo từ Pháp casse-croûte, tức bữa ăn lót dạ, bữa ăn qua loa (thật ra, tên gọi đúng của bánh mì kẹp thịt là sandwich). Giá bán một ổ là 3 – 5 đồng, ổ lớn có bơ tươi thì 7 – 10 đồng.
Ngày xưa, các vị công chức ở vùng Bàn Cờ, cư xá Đô Thành rất thích ăn bánh mì Hoà Mã. Bà Tịnh vốn xuất thân làm thịt nguội cho hãng Tây nên vẫn giữ gu Pháp cho bánh mì Hoà Mã suốt 50 năm. Không ít người ở nước ngoài về thăm quê hương thường ghé lại Hoà Mã để thưởng thức hương vị bánh mì thịt không thể nào quên.
Hương vị bánh mì Sài Gòn

Bà NguyễnThị Tịnh, chủ nhân bánh mì Hoà Mã
Bánh mì thịt kiểu Sài Gòn bắt đầu định được dáng vẻ, hương vị riêng của mình. Vì ổ bánh mì vừa đủ cho một khẩu phần ăn nên không cần lớn lắm, nhưng vỏ bánh phải giòn, ruột bánh đặc vừa phải để bột không quến khi nhai làm mất ngon.
Người miền Nam thường thích cái gì cũng có tí rau. Vì vậy ổ bánh mì được cho thêm vài lát dưa leo, củ cải trắng, cà rốt cắt sợi ngâm chua, thêm vài cọng hành, ngò để có hương thơm, vài khoanh ớt cay vừa ăn vừa hít hà mới khoái.
Ăn ổ bánh mì thịt có đủ mùi thơm giòn của vỏ bánh, vị ngọt của bột mì, béo của bơ, hương vị thịt, chả, pa-tê như một bản phối tròn trịa sắc màu nhưng không hề ngán bởi có rau dưa tươi mát. Và điều quan trọng của ổ bánh mì thịt Sài Gòn là ngon, rẻ, tiện lợi cho tất cả mọi tầng lớp.
Một thời gian sau, nhiều hiệu bánh mì thịt bắt đầu xuất hiện ở thành phố. Bánh mì không dừng lại ở món điểm tâm nữa, nó được dùng cả ở bữa trưa, chiều, tối.
Quang Tâm

Hậu Chí Phèo Tập 1
Sau khi đánh chết Bá Kiến trong một cuộc ẩu đả tưng bừng trước nhà Chị Dậu, Chí Phèo nghiễm nhiên trở thành chủ nhân ông của làng Vũ Đại, được đông đảo dân chúng ủng hộ hết mình. Kết thúc trận kịch chiến ấy, Phèo từ một tay bợm nhậu bỗng chốc biến thành người hùng. Trong mắt dân chúng, kể cả một số kẻ thù xưa của Phèo, hắn là một trang hảo hán, là người soi đường chỉ lối.
Trên cương vị mới, Phèo bắt đầu tận hưởng hương vị chiến thắng và thi hành chính sách chăn dân do người anh lớn cai quản làng bên là Lão Hạc tư vấn. Đối với đám bạn nhậu đầu trộm đuôi cướp thuở xưa, ai biết điều thì Phèo cất nhắc lên các vị trí như phụ trách phòng sưu thuế, chỉ huy đội trị an hoặc ít ra cũng cầm loa, gõ mõ. Ai bướng thì Phèo cho vào hợp tác xã, suốt ngày bán mông cho trời, bán mặt cho đất. Đám dân chúng ủng hộ Phèo cũng không khá hơn. Tất cả đều bị lùa vào hợp tác xã. Họ làm lụng quần quật suốt ngày, không còn thời gian để suy nghĩ, thành ra não bộ và lá gan họ teo tóp đến thảm hại.
Đối với tàn quân của Bá Kiến thì khỏi phải nói, Phèo triệt tận gốc. Sợ quá, lũ này di tản sang các làng lân cận. Kẻ không chạy được thì đành ở lại làng Vũ Đại, ngậm đắng nuốt cay như chú hổ bị gã thợ săn Thế Lữ nhốt trong cũi sắt chờ ngày lên bếp lò để hóa thân thành cao hổ cốt.
Chính sách của Phèo thế mà hay. Dân làng Vũ Đại nghe răm rắp. Vì sợ. Khi không đám cận thần của Phèo chỉ đánh rắm một phát cũng có khối người nôn mật xanh mật vàng, chết không kịp ngáp. Làng Vũ Đại tuyệt đối an bình là vì thế.
Nhưng cùng với thời gian, Phèo đối mặt với nhiều mối lo mới. Nhờ tiếp xúc với các làng xã văn minh hơn, đám dân đen Vũ Đại ngày càng khôn ra. Một bộ phận trong số họ vẫn tin Phèo vô điều kiện như con cái tin cha mẹ, nhưng không ít người bắt đầu nghi ngờ Phèo, họ mày mò tìm hiểu bản chất lưu manh trong con người hắn ta. Đám cháu chắt Bá Kiến trong và ngoài làng cũng dần dà tìm cách ngóc đầu dậy. Thậm chí đôi lúc chúng đi lại nghênh ngang, đánh rắm một cách công khai mà chẳng hề nể sợ ai hết. Phèo tức lắm, hắn tìm đủ mọi cách để lập lại trật tự. Hắn vận dụng mọi ngón nghề của một bợm nhậu: đập bàn, dằn ly, xô ghế, thậm chí thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Phèo còn vận thêm mấy chiêu mà người anh lớn là Lão Hạc tư vấn như siết cổ, bịt mồm, bóp mũi. Nhưng chẳng ăn thua.
Giữa lúc tình hình làng Vũ Đại đang nước sôi lửa bỏng, Phèo đang nghiến răng trợn mắt thì Lão Hạc lại xuất hiện cùng mấy con Vàng của lão. Lâu nay, cứ mỗi lúc Phèo gặp khó khăn là Hạc ta lại dẫn chó tới để tư vấn cho Phèo cách giải quyết, tất nhiên là có lệ phí hẳn hoi. Lúc thì lão mượn vài cô gái đẹp về đấm lưng, lúc khác lại xin dăm cặp gà tơ về nhắm rượu. Nhưng lần này khác, Hạc ta sấn tới và chẳng nói chẳng rằng lùa nguyên cả bầy trâu của làng Vũ Đại về. Phèo ức, nhưng nhìn lũ vàng nhe nanh trợn mắt của Lão Hạc, hắn ta hồn vía lên mây.
Phèo sợ, nhưng đám dân đen thì không. Họ kéo nhau ra cổng làng Vũ Đại, bắc loa mồm chửi Lão Hạc om sòm. Cả đám con cháu Bá Kiến trong và ngoài làng cũng nổi máu địa phương, đồng tâm hợp lực chửi rủa, rên xiết. Dàn đồng ca Vũ Đại càng hát càng khí thế. Phen này Lão Hạc già nua kia chỉ có đường thủng màng nhĩ mà thôi. Muốn yên thì hãy trả trâu.
Quả thực chưa bao giờ làng Vũ Đại chứng kiến một sự đoàn kết keo sơn đến thế. Khi máu địa phương, lòng tự tôn làng xã nổi dậy, lũ dân đen thật thà, đám bợm nhậu bị thất sủng, một vài kẻ có lương tâm trong số cận thần của Phèo cùng tàn quân Bá Kiến đã dẹp bỏ bất đồng để hướng mũi tấn công về kẻ thù chung có tên là Lão Hạc. Đây cũng là cơ hội vàng cho Phèo ta chấn hưng dân khí, củng cố sức mạnh địa phương, xây dựng tinh thần đoàn kết để đưa làng Vũ Đại tiến lên một tầm cao mới.
Thế nhưng, một mặt do quá khiếp nhược, sợ đám dân đen làm mếch lòng anh Hạc thì nguy to, mặt khác do sợ các thế lực Bá Kiến thuở xưa trỗi dậy và lo rằng dân chúng học được cách đứng lên tranh đấu thì sẽ gây nhiều nguy cơ cho chế độ cai trị gia trưởng của mình, nên Phèo ta quyết dẹp trò chửi rủa. Một mặt hắn bảo với dân làng: "Các con hãy về đi, chuyện anh Hạc đã có cha Chí đây lo. Các con cứ ăn no ngủ kỹ. Mai mốt trâu sẽ tự động về nhà. Đừng tụ tập chửi bới kẻo bị đám con cháu Bá Kiến lợi dụng, làm mất hòa khí giữa Vũ Đại ta và anh Hạc. Thằng Kiến thì các con biết rồi đấy. Nó ác, dâm, đểu. Nó là thằng khốn nạn. Các con phải nhớ điều ấy".
Cùng với lời khuyên giải như cha răn con, Phèo còn cho tay chân ra cổng làng giải tán dân chúng. Sau đó đi điểm mặt các nhân vật chủ chốt để tẩm quất. Hắn còn ra lệnh cho đám lâu la làm nghề đánh kẻng, gõ mõ, vác loa không được chửi Lão Hạc, không hùa theo dân đen, không cho bọn tàn quân Bá Kiến cơ hội lợi dụng, hãy ca ngợi tình đoàn kết giữa Chí Phèo và Lão Hạc.
Biện pháp của Phèo lần này cũng phát huy tác dụng. Vào những ngày tiếp sau đó, chẳng còn mống dân đen nào tụ tập trước cổng làng. Trò chửi bới Lão Hạc tuyệt nhiên không. Một vài kẻ dám ho khan, đánh rắm thì bị tay chân của Phèo đánh đập tơi tả.
Nhưng có một điều Phèo không nhận ra. Đó là giờ đây đã có thêm nhiều người ghét hắn. Đám cháu chắt Bá Kiến đã đành, đám bợm nhậu bị thất sủng chẳng nói làm chi. Ngay trong số dân đen từng tin Phèo vô điều kiện giờ cũng có thêm nhiều người nghi ngờ hắn, thậm chí oán hắn.
Phèo đã bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng để tập hợp dân chúng xây dựng làng Vũ Đại giàu mạnh khiến Lão Hạc không còn dám làm càn.
Giờ đây Phèo đang rất cô độc. Hắn không còn tâm trí nghĩ đến chuyện đòi lại đàn trâu nữa.
Tập 2
Sau khi dẹp được đám dân làng chửi rủa Lão Hạc, Phèo ta rất khoái chí. Chưa bao giờ hắn thấy rõ được uy quyền của mình như thế này. Giữa lúc hắn đang giương giương tự đắc thì ái thiếp Thị Nở tâu lên:
"Bẩm quan lớn, quan lớn biết tại sao đám dân đen có thể làm loạn không?"
"Ơ, con này hỏi kỳ... Thế tại sao nào?"
"Bẩm, tại chúng biết nói."
"Ơ, người thì phải biết nói chứ."
"Dạ bẩm, tại chúng biết nói nên chúng mới liên hệ với nhau được. Tại chúng biết nói nên chúng mới chửi anh Hạc được. Tại..."
"Thôi...", Phèo đập bàn quát lớn. Đây chính là điều Phèo hiểu rõ nhất. Ngày xưa nếu bị câm thì hắn đã không thể tru tréo trước cổng nhà Bá Kiến mỗi ngày được rồi. Phèo hiểu rõ rằng chính trò chửi bới liên hồi đó đã khiến lão Kiến hết chịu nổi mới dẫn đến trận thư hùng trước nhà Chị Dậu năm nào. Kết cục là Chí Phèo đả bại Bá Kiến để điều hành làng Vũ Đại. Nếu Phèo không biết nói, không thể chửi rủa thì hắn đã không có ngày hôm nay. Quả thực tiếng nói là một thứ vũ khí nguy hiểm.
"Hay!", Phèo thét lên khiến Thị Nở giật nảy mình. "Giỏi, ngươi đúng là ái thiếp của ta. Ngươi đúng là con đàn bà tóc dài mà đầu cũng dài hiếm hoi trên thế gian này. Ngươi chẳng những biết nấu cháo hành mà còn biết trò chơi quyền lực".
Thị Nở bẽn lẽn: "Hổng dám đâu." Đoạn ả nói tiếp: "Thế quan lớn sẽ làm gì nào?"
"Ngươi không phải dạy khôn ta. Ta tự có cách."
Ngay ngày hôm sau, Chí Phèo ra bố cáo bắt dân làng Vũ Đại không được nói, phải câm hoàn toàn. Ai vi phạm sẽ bị cắt lưỡi. Chỉ có Phèo và đám cận thần mới có đặc quyền nói.
Kể từ giờ phút đó làng Vũ Đại im ắng như bãi tha ma. Từ đầu đến cuối làng, người ta gặp nhau chỉ gật gật vài cái coi như "chào xã giao". Lũ trẻ con có lỡ khóc ré lên thì bố mẹ chúng vội vàng dùng tay bịt miệng, lấy giẻ nhét vào hoặc, áp dụng công nghệ hóa màu, dùng băng keo dán miệng. Cũng có vài trường hợp bức bối quá chịu không nổi, ho khan vài tiếng, thế là bị đám thuộc hạ của Phèo cắt lưỡi ngay lập tức.
Tình hình trên kéo dài được một thời gian thì cậu Nam Cao ở cuối làng nghĩ ra một chiêu mới để lách luật: đánh rắm. Số là Chí Phèo chỉ ra lệnh cấm nói chuyện nên việc đánh rắm không bị coi là phạm pháp. Thế là dân Vũ Đại chuyển qua đánh rắm thay cho nói. Người ta quy ước đánh một phát có nghĩa là "hello", đánh hai phát là "good bye", ba phát là than vãn, bốn phát là chửi thề. Vân vân và vân vân.
Phong trào đánh rắm phát triển đến mức nhiều người luyện được các chiêu thức thượng thừa. Người ta chẳng những có thể đánh các câu đơn giản như "chào bác", "chào cô" mà còn có thể đánh "tôi ghét lão Phèo", "lão Phèo thật độc ác". Có người đánh một lúc được vài trăm phát là chuyện thường, y như bắn súng liên thanh vậy. Lũ trẻ con mới mở mắt cũng học đánh rắm. Tình hình đánh rắm tại làng Vũ Đại phải nói là "trăm hoa đua nở", đủ thứ âm thanh, mùi vị, thậm chí màu sắc nữa.
Chuyện này làm cho Phèo và đám thuộc hạ đau đầu nhức óc. Cấm đánh rắm chăng? Phèo phân vân không biết xử trí thế nào. Giữa lúc đó Thị Nở xuất hiện. Thị Nở lâu nay luôn hiện ra đúng lúc và mang theo nhiều phương án cứu rỗi đời Phèo, thuở cơ hàn thì bát cháo hành hoặc cái bánh bèo nhão nhoẹt của thị, còn lúc Phèo có quyền lực thì Nở tư vấn các giải pháp quản lý xã hội vĩ mô.
"Phải cấm dân làng đánh rắm thôi", Phèo phán.
"Ấy chết, cấm nói thì được, cấm đánh rắm thì không. Không nói người ta vẫn có thể sống, còn không đánh rắm thì chỉ có nước vỡ bụng mà chết", Nở phân tích. Thị còn nói với Phèo rằng nếu cấm dân đánh rắm thì làng Vũ Đại sẽ bị các làng bên, trừ làng Lão Hạc, phê phán là gia trưởng, độc tài. Lỡ có ai đó vỡ bụng chết vì ứ hơi thì Phèo sẽ bị phê phán là vi phạm nhân quyền. Thế nên tuyệt đối không được cấm đánh rắm.
"Thế phải làm thế nào?", Phèo hỏi.
"Phải siết chặt quản lý hoạt động đánh rắm", Nở thì thào vào tai Phèo. Sau đó Nở còn nói nhiều thứ nữa, nhưng chỉ cho một mình Phèo nghe thôi.
Ngay ngày hôm sau, Phèo ra bố cáo cho toàn dân làng Vũ Đại: Phàm là người thì ai cũng phải đánh rắm. Đó là quyền lợi thiêng liêng nhất. Làng không cấm. Nhưng do có nhiều kẻ lợi dụng việc đánh rắm để phá hoại trị an nên từ nay làng sẽ siết chặt quản lý hoạt động đánh rắm. Tất cả mọi người chỉ được đánh rắm ở mức độ vừa phải và rắm phải thơm. Ai đánh rắm to, thối sẽ bị phạt nặng. Ai vi phạm nhiều lần sẽ bị trát lỗ đít, khỏi đánh rắm luôn.
Để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp, Phèo thành lập một nhóm đặc nhiệm với thành viên là các bợm nhậu biết điều từng vào sinh ra tử với hắn ở tất cả quán xá trong làng. Ngày ngày đám này đi khắp làng dỏng tai lên nghe xem có ai đánh rắm lớn, lâu lâu lại khịt khịt mũi xem kẻ nào đánh rắm thối để đem ra trừng trị.
Kể từ đó hoạt động đánh rắm ở làng Vũ Đại đi vào khuôn phép thấy rõ. Các cao thủ đánh rắm trong làng không còn đất dụng võ. Bí quyết đánh rắm từng chuỗi dài như bắn súng máy ngày càng mai một, đi dần đến chỗ thất truyền.
Tập 3
Cai quản cái làng Vũ Đại xem ra không đơn giản tí nào. Ngồi trên chiếc ghế quyền lực được một thời gian, Chí Phèo nghiệm ra điều đó. Nhất là thi thoảng các làn sóng chống Phèo lại nổi lên, lúc thì ở đầu làng, lúc khác ở cuối làng. Chiếc ghế của Phèo lung lay thấy rõ. Để bảo vệ quyền lợi, Phèo ta liền tăng cường bộ máy quản lý. Phàm là anh em họ hàng nhà Phèo, phàm là bạn bè thân hữu của Phèo đều có một chân trong đó. Sức mạnh của Phèo vì thế được củng cố bội phần.
Ấy thế nhưng cái đám mà Phèo cất nhắc lên đều là một lũ dốt đặc. Mà ông trời oái ăm, phàm kẻ nào dốt thì kẻ đó tham thậm. Thế là chẳng bao lâu, trong bộ máy lãnh đạo của Phèo, cảnh ăn chia, đục khoét, nhũng nhiễu, tranh giành diễn ra ngày càng mãnh liệt. Tình hình trên kéo dài được một thời gian thì đám dân đen chịu hết nổi, bèn hùa nhau chửi bới om sòm. Giữa lúc tình hình quá sức cấp bách, Phèo ta triệu ái thiếp Thị Nở vào.
"Thưa, quan lớn cho gọi thiếp ạ!"
"Hừm, mấy hôm nay long thể ta bất an."
"Ai mà dám quấy rối quan lớn thế? Thưa, có phải do cái đám dân đen làm loạn không ạ?"
"Không sai. Ta đang tính đến chuyện bắt nhốt hết đám dân ba trợn ở cái làng Vũ Đại này lại", Phèo nghiến răng.
"Ấy chết, ai lại làm thế. Thời buổi văn minh này mà làm thế thì thiên hạ chửi cho. Ngay cả Lão Hạc cũng chưa dám mạnh tay thế, huống hồ...", Nở hấp tấp can ngăn.
"Thế phải làm sao? Ta mệt mỏi với cái trò chơi quyền lực này quá rồi. Làm thằng lưu manh suốt ngày rượu thịt chó và chửi rủa chắc khỏe hơn", Phèo cằn nhằn.
"Ấy, quan lớn chớ vội nản. Làm thằng lưu manh thì đâu có cung tần mĩ nữ, đâu có sơn hào hải vị, đâu có tiền hô hậu ủng như thế này được chứ. Vẫn còn cách dẹp lũ dân đen mà..."
"Cách gì? Nói nghe coi".
"Phải bắt vài đứa ạ?"
"Bắt? Chẳng phải ngươi nói là đừng có bắt người sao!"
"Bắt ở đây là bắt người nhà mình ấy. Phải thí vài con chốt thì đám dân đen mới hết nổi loạn. Sau một thời gian tình hình êm thấm rồi thì thả ra", Nở thủ thỉ.
"Hay!", Phèo đứng dậy, đập bàn quát lớn. "Ta đúng là không nhìn lầm ngươi. Từ thuở còn nằm ở cái lò gạch và ăn cháo hành cầm hơi, ta đã thấy được ngươi có tài thao lược. Hừm, nhưng bắt ai bây giờ?"
"Dạ, cứ bắt một vài đứa thân cận với quan lớn. Như vậy bọn dân đen nó sẽ dễ tin rằng quan lớn công minh.".
Ngày hôm sau, Phèo thực thi ngay kế sách của Nở. Hắn cho đám lính lệ gông cổ hai tên tay chân là Lý Toét và Xã Xệ nhốt vào đại lao. Sự chống đối trong dân chúng theo đó vơi bớt đôi phần. Uy tín của Phèo ngay lập tức trỗi dậy như củ cà rốt trong quần hắn khi thấy Thị Nở tắm dưới sông bên cái lò gạch cũ thuở nào. Một số tay làm nghề đánh trống gõ mõ vốn gần đây nảy sinh tâm lý chán ghét trò nhũng nhiễu trong bộ máy chính quyền cũng nhân dịp này đua nhau vạch mặt Lý Toét và Xã Xệ. Nào là chuyện tiệc tùng gái gú; nào là chuyện nhà lầu xe hơi; nào là chuyện cờ gian bạc lận; nào là chuyện lừa dưới dối trên của Lý Toét, Xã Xệ đều được công bố cho toàn dân làng Vũ Đại biết. Phen này hai gã Toét Xệ chắc chết đến nơi, chả còn đường nào sống được.
Bẵng đi một thời gian, khi dân làng hầu như đã quên mất chuyện cũ, đùng một cái Phèo cho tay chân dán bố cáo khắp làng. Bố cáo ghi rằng sự thật là Lý Toét chẳng phạm tội gì. Việc bắt giữ trước kia là nhầm lẫn, cũng một phần do chính quyền bị sức ép của dư luận. Xã Xệ thì cũng có một vài tội trạng nhưng không đáng kể, tạm thời ở lại trong tù.
Vào một ngày đầu hạ, khi gã mặt trời hiếu chiến vừa hắt ánh nắng chói chang xuống làng Vũ Đại, người ta thấy Lý Toét bước ra từ khám lớn. Miệng hắn cười tươi như hoa vẫy chào đám dân chúng đang há hốc mồm đứng nhìn, nhưng ẩn sâu trong mắt hắn là một tia hằn học. Vừa bước ra khỏi cánh cổng sắt, hắn đe: "Mọi ân oán phải được thanh toán sòng phẳng".
Khi Lý Toét vừa được trả tự do, người ta thấy một loạt tay làm nghề đánh trống gõ mõ trước kia từng chửi bới cặp bài trùng Toét - Xệ mặt xanh như đít nhái. Dân làng Vũ Đại vốn rất lanh trí, biết ngay chuyện gì sẽ xảy ra. Ngay ngày hôm sau, Phèo cho lính lệ đi bắt đám đánh trống gõ mõ này nhốt vào đại lao. Tội của họ được viết rõ trên tờ bố cáo rằng: vu khống Lý Toét nhằm phá hoại uy tín của lãnh đạo làng Vũ Đại.
Một đêm trăng thanh gió mát, trong hậu cung ở đình làng vốn được xây trên nền lò gạch cũ năm xưa, Nở áp má lên đùi Phèo thủ thỉ: "Trò chơi quyền lực tuy nhọc trí nhưng quan lớn đừng nản. Thuở cơ hàn, quan lớn sắp chết đói mới có được bát cháo hành cầm hơi. Giờ quan lớn dù phải lao tâm khổ tứ nhưng rượu thịt đầy nhà, muốn ái ân với thiếp cũng không cần phải thậm thụt nơi bụi chuối bờ ao nữa."
Trong khi cơn say tình ái còn ngây ngất, Phèo rì rầm: "Ta vẫn không hiểu sao ngươi lại cho bắt đám đánh trống gõ mõ kia. Làm thế chẳng phải là đánh động dư luận thêm sao?"
"Phải bắt chứ quan lớn. Phải răn đe để mấy cái mầm nổi loạn không còn dám ngóc đầu dậy. Vả lại cho thằng Toét ra thì phải có mấy thằng chịu tội thay nó chứ. Thằng Toét mà vô tội thì những thằng tố cáo nó phải có tội. Tính nghiêm minh của pháp luật là ở chỗ đó", Nở cười rúc rích, đoạn cắn nhè nhẹ vào bắp đùi Phèo.
Phèo hét lên, tiếng hét man dại đẫm mùi hoan lạc. Đã từ lâu sống trong nhung lụa nhưng Phèo và Nở vẫn giữ kiểu ái ân cắn xé cấu véo như loài thú. Trò ái ân hoang dã này vốn đã theo họ từ thuở cơ hàn nơi lò gạch cũ.
Copy từ blog Mr. Do

Chúng Tôi Lại Đi Biểu Tình Chống Cộng Sản
Trịnh Du Đã là dân Việt tỵ nạn cộng sản thì ai cũng hận thù chế độ độc tài cai trị dân lành bên quê nhà. Mỗi khi chúng tôi có chút ít thời gian để được nhớ về quê mẹ là mỗi lần nước mắt cứ trào dâng khi biết rằng hàng triệu triệu đồng bào vô tội đang sống trong cơn khủng hoảng tinh thần trầm trọng bên cạnh một đàn dã thú ghê tợn với những chiếc răng nanh sẵn sàng cắn đứt da thịt bất cứ lúc nào.
Trong thời gian gần đây đã có nhiều con cháu của đàn dã thú đó sống rải rác trong các xóm làng và thành phố hải ngoại, tuy bọn chúng không dám tỏ thái độ hung hăng như cha ông của chúng bên quê nhà nhưng bọn chúng âm thầm làm xáo trộn sinh hoạt cộng động của chúng ta bằng những công việc nhẹ nhàng nhưng đầy hiểm độc, một trong những công việc làm cho chúng ta nhức đầu nhiều nhất là dụ dỗ và mua chuộc các nhà thương mại, các nhà thương mại này vì đồng tiền mà đánh mất lương tâm tối thiểu của một con người tỵ nạn.
Không biết họ có khi nào nhớ lại những cảnh đau thương gian khổ và tủi nhục khi xưa bỏ nước ra đi hay không?
Chuyện làm giàu với chế độ cộng sản lại trở về với cộng đồng Houston sau một thời gian khá dài. Chúng tôi còn nhớ cách nay trên 10 năm tại đây đã có những luật sư, bác sĩ, chuyên gia kinh tế, chuyên viên kỹ thuật...đã sớm quên tội ác của Việt cộng nên đã về quê mẹ mượn ý xây dựng non sông nhưng thật sự họ chỉ muốn kiếm lợi cho bản thân mà thôi.
Sau chục năm âm thầm trong tro bụi thì bất thình lình bọn Việt cộng xuất hiện ở Houston với hàng trăm thương gia tỵ nạn ào ào đón chào chứng ở những nơi sang trọng nhất ở phố Hoa Tiên này. Ngày hôm nay bọn chúng đón chào một con dã thú đầu đàn từ quê nhà qua với hàng chục dã thú khác cùng nhiều thương gia thuộc chế độ cộng sản bên ấy. Trước sự nguy hiểm như thế nên cộng đồng của thành phố Hoa Tiên liền đứng ra kêu gọi bà con đồng hương thành lập một ủy ban chống cộng đặc biệt và ủy ban đó đã thành hình.
Chúng tôi vì bận rộn cho công cuộc cứu trợ các trẻ em mồ côi khuyết tật của Hội Bác Aí Phanxico vừa qua nên lúc đầu không có thời gian đi hộp cùng ủy ban, có vài lần được anh ĐQV nói cho biết sơ sơ công cuộc đấu tranh chống đàn dã thú và tập đoàn thương mãi này nên chúng tôi đã đồng ý cùng góp một bàn tay nhỏ bé với ủy ban bằng cách lo liệu tài chánh để mướn xe bus, hoặc tệ lắm cũng có chút ít tiền mướn xe van 16 chổ ngồi cho đồng hương ở xa trong ngày biểu tình.
Ngày qua ngày nghe thấy ủy ban rầm rộ hô hào và kêu gọi tinh thần chống cộng càng mạnh nhưng, nhưng tài chánh vẫn còn thiếu vì bất cứ một tổ chức nào cũng cần tiền để chi phí cho mọi việc, nào là cờ (cả ngàn mỹ kim), nào là ẩm thực cho đồng hương trong ngày biểu tình (cả vài ngàn mỹ kim), nào là âm thanh ánh sáng cho đêm biểu dương lực lượng trước ngày biểu tình (2 ngàn mỹ kim), nào là đăng báo chính giới địa phương (Houston Chronicle, trên 15 ngàn mỹ kim), nào là mướn 3 chiếc máy bay ‘bu-ranh” oanh tạc trên bầu trời của buổi biểu tình với 3 lá cờ lớn cùng với 3 tấm biểu ngữ to lớn với những hàng chữ kêu gọi tự do dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam ( 6 ngàn mỹ kim), nào là in 1000 áo thun (khoảng 3 ngàn mỹ kim)...đó là chưa kể những việc tuy linh tinh nhưng không thể thiếu vì những chuyện linh tinh đó cũng tốn trên vài ngàn mỹ kim!...
Thế là anh chị TMT-TKV của tuần san Đẹp gọi chúng tôi đi họp sơ kết hôm Chúa Nhật vừa qua, chị TKV là trưởng ban tài chánh kiêm trưởng ban gây quỹ kỳ này của ủy ban. Sỡ dĩ anh chị ấy nhớ đến thằng em này là vì chúng tôi đã từng gây quỹ nhiều lần cho các công tác chống cộng, việc làm gần nhất là chúng tôi vừa hoàn tất công cuộc xây dựng 4 tấm billboard bên các xa lộ chính trong thành phố (trên 30 ngàn mỹ kim), những tấm billboard đó rất lớn có hình linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng mà ai ai cũng biết, và gởi 18 ngàn mỹ kim về hoàn lại cho Hòa Thượng TQĐ đã cứu dân oan mùa đông năm ngoái.
Trong buổi họp hôm Chúa Nhật đó có rất nhiều khuôn mặt quen thuộc mà hầu như những khuôn mặt ấy chẳng ưa thích gì nhau trong thời gian gần đây (do vấn đề chụp nón cối vô trí thức và vô lương tri) nhưng kỳ này tất cả đều tạm bỏ qua chuyện cá nhân mà cùng nhau góp công bỏ sức để hòng mong đạt được kết quả tốt đẹp. Sau buổi hộp sơ khởi hôm ấy đã hình thành được một ban tổ chức với đầy đủ các tiểu ban, dù đó là những tiểu ban nho nhỏ như an ninh trật tự, di chuyển đồng hương, thức ăn nước uống đều có người đứng ra lãnh trách nhiệm.
Có lẻ vì lòng hận thù Việt cộng quá cao nên ai ai cũng hăng say trong công việc. Chị KN suốt mấy ngày liên tiếp liên lạc với chính giới và các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ nên đã có nhiều đài truyền hình và nhiều nhà báo cũng như dân chúng của Hoa Kỳ đến hai buổi tổ chức của ủy ban. Các cơ quan đó liên tục phỏng vấn và viết bài 2 ngày liền.
Đêm biểu dương tinh thần chống cộng tại khung viên Hồng Kông City Mall hôm qua đã đêm lại thành công cho buổi biểu tình ngày hôm nay tại khu phố thương mại Galleria, cả hai rừng cờ vàng phủ kín hai góc trời viễn xứ mà từ trước cho đến giờ chưa có một buổi biểu tình nào có tầm vóc lớn như vậy.
Đêm biểu dương lực lượng với nhiều đồng hương quây quần bên nhau dưới cơn nắng chiều nóng bức khi buổi lể chuẩn bị bắt đầu, lá cờ vàng to lớn (đại kỳ) được 16 đồng hương rước từ cuối sân lên trong tiếng ca hào hùng của ban nhạc do anh VĐ phụ trách, phải công nhận dàn âm thanh của anh Q. quá mạnh càng làm cho buổi biểu dương càng thêm hào hứng, sau đó anh LQT điều khiển chào cờ rất trang trọng với những câu hô vang dội làm cho ai ai cũng im lặng chú ý đến sân khấu, có đứa bé đang làm nũng với bà mẹ trẻ mà cũng im thim thiếp sau khi nghe anh hô: “Quốc Ca......bắt đầu!”. Tiếp theo là những lời phát biểu của những quan khách, có những quan khách từ xa kéo đến cùng biểu dương tinh thần chống cộng, có ông “???” từ Cali qua chuyển mấy tấm bằng khen của dân biểu nào bên đó cho vài cá nhân trong ban tổ chức nhưng có một bàn khen viết tên anh ĐQV mà lại ghi rằng anh ĐQV là chủ Tuần San ĐẸP, có lẻ ông dân biểu này chẳng biết anh ĐQV là ai và chủ Tuần San Đẹp là ai!
Man oh man, khen thiên hạ mà chẳng biết thiên hạ là ai thì chết tôi rồi bác ơi! Rồi cũng một ông bên Cali qua phát biểu ý kiến, trong đó có câu ông ta đại ý nói rằng: “...ngày mai biểu tình trên 20 ngàn người tham dự...” trong khi đó trước mắt ông chỉ có khoảng một ngàn đồng hương thì làm sao ngày mai là ngày mà hầu hết bà con đồng hương phải đi làm thì làm sao có được 20 ngàn người đến khu phố Galleria khi mà chổ đậu xe là mối quan tâm lớn của mọi người! Man oh man, thời gian gần đây dân tỵ nạn tại Houston chưa khi nào có được trên vài vài ngàn người biểu tình chống cộng sản, chỉ có những lần tổ chức đêm quốc hận 30 tháng 4 thì có khi cũng 5, 7 ngàn người tham dự. Dù sao đi nữa bản thân chúng tôi học hỏi rất nhiều qua đêm ấy, cứ hô hào rồi bà con sẽ tới, nhờ vậy mà hôm nay có trên 2 ngàn đồng hương tụ tập trước khách sạn Westin Oaks trên đường Westhiemer đã đảo bọn Việt cộng và quân gian thương vì đồng tiền và danh vọng mà quên đi hận thù.
Sáng hôm nay bầu trời Houston vui rất lạ làm cho tâm hồn chúng tôi càng lên cao hơn mọi ngày. Cũng như những lần trước, chúng tôi chạy ra hãng cho mướn xe để lấy một chiếc xe van lớn chạy bon bon trên xa lộ 45, chúng tôi chưa tới làng Thái Xuân mà đã nhận nhiều cú phone của bà con hỏi đường đi từ khắp nơi trong thành phố, sau 15 phút thì làng Thái Xuân đã hiện ra trước mắt chúng tôi, khung cảnh thân thuộc của những năm chúng tôi sống trong làng càng làm cho chúng tôi thương dân làng hơn, các cụ già đã chờ chúng tôi từ 7 giờ sáng. Tất cả 16 người cùng hướng về phía Galleria Mall, chúng tôi làm bác tài nên không dám chạy nhanh chạy ẩu như thường ngày bởi vì sau lưng các cụ là đám con cháu đã là ông bà bác sĩ , kỹ sư, triệu phú...nếu có chuyện gì xảy ra với các cụ là toi mạng với họ.
Khoảng 9 giờ sáng là chúng tôi đến nơi, từ xa xa đã thấy nhiều cờ vàng bay phất phới với hàng trăm đồng hương đã có mặt, các cụ bước xuống xe liền nhập vào đám đông, tay cầm cờ và biểu nhữ do ban tổ chức phát, mặt cụ nào cũng hớn hở như được con cháu về nhà thăm vào mỗi cuối tuần, nhìn các cụ làm chúng tôi nhớ đến cha già đã lặng lẻ ra đi và mẹ già vẫn trông chờ chúng tôi về... Bổng nhiên một anh của Paltalk gì đó đưa tôi trở lại hiện tại vì anh ta xin được phỏng vấn chúng tôi trực tiếp tại chổ, thế là nổi nhớ nhà dồn hết vào những lời căm phẩn mà chúng tôi la hét ào ào trong tiếng nói với anh điều khiển chương trình, trước mắt chúng tôi là một em bé 2 tháng đang bú sữa mẹ bên lề đường (bà mẹ trẻ mắc cở khi tình cờ con mắt dâm đảng của chúng tôi nhìn vào miệng của bé), bên phía phải của chúng tôi là anh thanh niên bị què hai chân vẫn cố gắng chống gậy đứng thẳng mặc cho bãi cỏ không thăng bằng cho lắm, bên trái chúng tôi là một đội quân cảnh sát Houston đang ép bà con ta vào lề đường, có lẻ họ ngại bị xe đụng (sau đó họ phải mang hàng rào nhôm ra cản đồng bào chúng ta), xa xa một tí là đội cảnh sát cỡi ngựa đang ở cổng chính, xe cảnh sát luôn chạy lòng vòng chung quanh khách sạn, chưa có khi nào mà sở cảnh sát tốn công và hao sức như kỳ này. Xong cuộc phỏng vấn của Paltalk thì tôi làm bổn phận của người giữ an ninh cho cuộc biểu tình cùng với các anh em trong công ty Howard Security.
Chúng tôi đã thấy Hòa Thượng THV và vài vị tu sĩ phật giáo đã có mặt tự hồi nào.
Khoảng 10 giờ thì có phái đoàn thương mại của bọn chúng đến khách sạn Westin Oaks, chúng không dám vào cổng chính mặc dù đàn ngựa của cảnh sát sẵng sàng đá dập mặt những ai nhào ra chận đầu xe, nay chúng tôi mới thấy lợi hại của đội cảnh sát cỡi ngựa. Khi bà con ta thấy chúng vào cổng sau thì tất cả liền la lên những câu đã đảo rầm trời, cờ đã bay trên tay lại càng bay phất phới hơn, ban nhạc bắt đầu ca hát hùng hồn hơn, loa phát thanh lại ồn hơn trước, các anh chị thay phiên la hét, đã đảo suốt hai tiếng đồng hồ.
Chị HV của đài Á Châu Tự Do bị bọn chúng đuổi ra, không cho người đẹp Á Châu Tự Do ở trong đó tự do làm công việc truyền thông nên chị phải ra ngòai và nói với chúng tôi rằng bọn chúng sẽ họp ở lầu 2. Lúc nầy đài VAB Houston và Dallas cần truyền thanh tại chổ nên chúng tôi đã phỏng vấn hầu hết các nhân vật có tên tuổi trong cộng đồng, đây cũng là lúc con dã thú đầu đàn được nhiều xe cảnh sát họ tống vào cổng chính trước mặt Hòa Thượng THV và nhiều người, có lẻ bà con ta sợ mấy con ngựa nên chẳng có ai dám nhào ra cản đầu xe của bọn dã thú. Trong thời gian chúng tôi phỏng vấn các vị có tên tuổi nói trên thì đám dã thú do con dã thú đầu đàn rời khách sạn trong vội vả, không biết ngày xưa con dã thú đó có vội vả khi bắt anh hùng TVB như vậy hay không?
Khi con dã thú đầu đàn cùng đàn dã thú rời khách sạn thì bà con ta dồn về phía sau vì chúng không ra cổng chính, đàn ngựa cảnh sát cũng chạy ào ào ra cổng sau cố ngăn cản đồng bào, tới giờ phút này chúng tôi mới biết là đàn ngựa có bổn phận bảo vệ đàn dã thú! Man oh man, có ngày đàn dã thú sẽ ăn thịt đàn ngựa cho mà xem!
Sau khi đó trời liền đổ cơn mưa, mưa Houston làm khổ nhiều người lắm quí vị à, chúng tôi ước hết, các cụ già run run đi dưới mưa mà mặt vẫn tươi rói như được con cháu về làng Thái Xuân thăm...
Chúng tôi nhìn đồng hồ dưới lớp nước mưa xuyên qua đôi kính cận... 1:45PM...
Chúng tôi khóc rất nhiều trên đường về làng Thái Xuân, nước mắt hòa với nươc mưa còn ẩn trong khóe mắt khi chúng tôi về nhà thay đồ để còn đi làm kiếm tiền nuôi bầy con thơ, không biết sau nầy chúng tôi có được giây phút vui tươi đi biểu tình chống cộng sản như các cụ ngày hôm nay không...
Xin cho quê hương hai chữ bình an
Mong cho quân cộng một sớm điêu tàn
Để cho tôi được về thăm viếng mẹ
Và nắng vàng luôn tỏa lúc hè sang.

ÁO QUAN
cũng tặng bạn Điếu Cầy
nằm tù đọc cho vui
Mẹ tôi 60 năm khiếu kiện giải rút chẳng còn, được mỗi thắng lợi: phát huy quyền loã lồ. Mẹ chẳng còn gì ngoài bộ da Người. Các đại quan hoa mắt cứ gán Mẹ tôi áo đỏ. Xin các anh!
Nhập từ Phúc Kiến 1930, áo đỏ là ÁO QUAN gồm các đại quan và bầy tôi: đại gia, đại biểu, đại tướng, đại xì thẩu, đại tư tếu, đại bợ … nô bộc đại hán. Mẹ tôi? không dám đâu!
Áo Đỏ Hán gọi Hồng Y
Mẹ tôi cứng cổ trần xì VÀNG DA
Áo Đỏ là áo Đại Gia
Mẹ tôi cổ cứng VÀNG DAtrần xì
Bọn Hán, di từ phương Tây tới Bắc Dương Tử là gốc du mục giống Trắng thích mỡ, hảo ĐỎ, bình thiên hạ. Bách Việt ta, gốc Nam Dương Tử ưa rau, chuộng màu vàng lúa chín, an cư lạc nghiệp, chính hiệu… GIỐNG DA VÀNG NÀY LÀ VUA ĐẤU TRANH!
Gần đây có người BỎ ÁO QUAN. Bút Trẻ chân thành cầu nguyện hương hồn Cụ Phan Văn Hòa, Vũng Liêm sớm siêu thoát.
Những tâm tình sau dành cho cựu Thủ Tướng CS mới ra đi:
Anh đi giữa đám ĐƯỜI ƯƠI
thình lình anh chuyển sang… NGƯỜI Bên Kia
Anh đi chúng ĐỎ ÁO QUAN
những người tâm huyết HÓA VÀNG
Anh đi chỉ mấy thước vuông
mang làm sao hết ruộng vườn cơ ngơi
Anh đi ĐIỀU BỐN xin anh
mang sang Bên Ấy để dành kiếm thêm
Anh đi cột đèn tiếc thương
một đường dây điện mà VƯƠNGmấy đời
Anh đi rơi lại cái CÒNG
ngàn sau nghe kể vẫn còn thất kinh
Anh đi ối anh Sáu Dân
thương anh thương một, thương dân triệu lần
Anh đi dây chão hạ mồ
sợi dây cao thế quấn vô chỗ nào
Anh đi đừng ngại chỗ nằm
ấy nó từa tựa như GIAM TẠI NHÀ
Anh đi tiền trạm báo về
MƯỜI HOẠN, MỘT NHÃN cứ đề huề sang
Anh đi một phát rất nhanh
BỐN TRIỆU KHÚC RUỘT chờ anh lâu rồi
Anh đi công tội cũng thôi
cái họa HÁN NGỤY nó giòi trong xương
Anh đi nhắn lại quần thần
cứu nước phải để NHÂN DÂN XUỐNG ĐƯỜNG
Bút Trẻ
20.06.08

Ngưu ẩm, Độc ẩm Và Thi ẩm, Kiểu Uống Nào Phù Hợp Với Rượu Cognac?
Hồng Quang LGT: Tối chủ nhật rồi, chúng tôi được mời đi San Francisco uống rượu Courvoisier và trong cảm giác tuyệt vời của đêm đó, chúng tôi xin chia xẻ vài cảm nhận về rượu Courvoisier…
- Thế giới đàn ông có một yếu tố không thể bỏ qua là rượu. Ngày xưa có một thi nhân VN đã viết rất hay là ‘Đất say đất cũng lăn quay, Trời say Trời cũng đỏ gay ai cười?”
Nhậu như thế gọi nôm na là “nhận tràn cung mây, xả láng sáng về sớm, quắc cần câu, tới luôn bác tài”… và dĩ nhiên khi đã “thấy sơ sơ có 2 ông trời” thì ly rượu tới tay mình là mình ngữa cổ nốc ừng ực, chuyện gì cũng tính sau!
Nhưng có một loại rượu không thể và không bao giờ nên uống kiểu ‘anh hùng Lương Sơn bạc’, vì như thế là làm nhục tới… quốc thể của những kẻ đã sáng lập ra nó, đó là rượu Cognac.
Cognac là tên một vùng ở trung bộ nước Pháp. tại đây có 6 khu vực sản xuất các loại nho “độc nhất vô nhị” trên thế giới (gọi là grand crus).
Bài này nói riêng về loại cognac rất được người Việt sành sỏi là Courvoisier (với cái logo ông “na bồ lê ông” thò tay gãi bụng) và 4 khu vực trồng nho nổi tiếng đã được Courvoisier xử dụng là Grande Champagne, Petite Champagne, Borderies và Fins Bois.
Cognac sỡ dĩ mang luôn cái tên này cho một giòng rượu vua là vì khác với rượu nho thông thường, người ta dùng eaux-de-vie (Nước Sinh Tồn) có độ cồn cao trộn với nước nho ủ trong các thùng rượu gổ sồi qua những công thức bí truyền. Kết quả là một loại rượu “thơm cực kỳ, ngon kỳ cực và đặc biệt cả hai” chỉ được dùng trong những dịp cực kỳ đặc biệt. Hoàn toàn không có chuyện ngưu ẩm ở đây.
Có 6 điểm cần lưu ý để uống rượu Cognac:
1/ The Perfect Glass: Rót Cognac vô… ly đá nhận tương đương với cho trâu uống nước bùn bằng đĩa pha lê. Cái ly cognac là duy nhất vì nó phải được chế tạo để người uống còn say với màu hổ phách đạc biệt và với hương thơm không lẫn vào đâu của nó
2/The Perfect Pour: Đừng tưởng rót cognac là dễ. Bạn phải nghiêng cổ chai và nghiêng cái ly một chút, sau đó mới dựng đúng cál ly lên. Rót đầy là hỏng, chỉ khoảng 1/5 dung tích ly thôi là đủ.
3/The Perfect Color: Ủ trong thùng rượu lâu năm, màu của Cognac chính là màu của loại gỗ chứa nó. Rượu càng được ủ lâu nó càng có một màu rất đậm và độc đáo. Muốn biết nên soi ly rượu qua ánh đèn màu vàng, xoay tròn cái lý và quan sát những ‘cái chân’ (legs) hay ‘giọt lệ’(tears) khi rượu chảy trở xuống.
4/The Perfect Temperature: Uống Courvoisier Cognac là uống trong nhiệt độ bình thường. Cái hương của nó sẽ bị nhiệt độ quá lạnh hay quá nóng phá hỏng. Rót ra đừng… ực ngay, xoay ly rượu, ngắêm và âu yến bằng mắt trước khi uống!
5/ The Perfect Aroma: Tuyêt đối phải đưa ly rượu lên mũi ngửi để thưởng thức hương thơm trước khi uống. Mỗi loại Cognac có mùi riêng, nhung tựu trung Cognac nào cũng làm dậy lên hương của trái nho, một chút mùi gỗ và vanilla. Tất cả tạo thành một hương thơm tuyệt vời và riêng biệt.
6/ The Perfect Taste: Nốc ừng ực là phạm thượng. Phải uống từ tốn (tiếng anh là sip). Dùng lưỡi đưa hớp cognac ngao du khắp vòm họng chân răng, trải dàì trên lưỡi, giống như… nụ hôn khắp cơ thể người yêu có thân hình quá đẹp… Để hưởng cái tràn đầy và hài hòa của hương vị cognac. Một cốc rượu cognac không nên uống quá nhanh hay quá chậm, tất cả tùy thuộc cái ‘cảm quan’ uống rượu của người dùng.
Courvoisier là loại cognac lừng lẫy và duy nhất đoạt được phần thưởng cao qúy nhất là “Prestige de la France”, vốn là phần thưởng mà bất cứ nhà sản xuất rượu nho nào của Pháp đều mong mỏi có.
Courvoisier Cognac hiện nay có nhiều loại nổi tiếng như VS Cognac (Giải Thưởng Gold Medal 2007), VSOP Cognac (Silver Medal 2007), Exclusif Cognac (GoldMedal 2007), Fine Champagne Cognac ( Double Gold Medal 2007), XO Imperial Cognac (Double Gold Medal 2008) Initial Extra Cognac (Gold Medal 2008) và L’Esprit De Courvoisier Cognac (Double Gold MeDal 2005).
Uống rượu Cognac nên uống một mình hay với đám bạn nhậu lâu la hải tặc? Tốt nhất là với một hai người bạn thân và nghe họ nói về truyền thống rượu tây.
Nguyên tắc của “bữa nhậu Cognac”: không ăn nhiều, không uống nhiều và không nóí nhiều. Cognac rất kén người uống, rượu Vua thì người Bình Dân phảỉ có chút tư cách Vua mới uống cho đúng tần số!
Sống trong sợ hãi
Cái tên “Làng ung thư” giờ không ai còn lạ lẫm. Tuy nhiên không phải làng ung thư nào cũng giống nhau. Ở Hà Tĩnh có một làng ung thư đang ám ảnh nhiều người dân sống trên khu vực này, đó là thôn Long Thành (Đức An- Đức Thọ).
Chúng tôi đến thăm gia đình chị Đinh Thị Hạnh khi cơn mưa vừa đi qua, gia đình chị cũng đang u ám như chính bầu trời lúc cơn giông đến. Chồng chị Hạnh vừa ra đi để lại cho chị một mình với 3 đứa con còn nhỏ, trước đó mẹ chồng chị cũng vừa mất. Cả hai người đều chết vì bệnh ung thư.
Ở thôn Long Thành, xã Đức An - Đức Thọ - Hà Tĩnh, có rất nhiều gia đình cũng đã mất đi người thân vì căn bệnh quái ác này. Tâm sự với chúng tôi, chị Hạnh nói: “Điều làm tôi lo không chỉ là miếng cơm manh áo của mẹ con tôi mà còn là căn bệnh quái ác kia đang rình rập”. Người đàn bà làm sao có thể giám chắc căn bệnh ung thư không xảy ra với mình và 3 đứa con khi mà bà nội và bố của ba đứa trẻ đã ra đi vì căn bệnh này.
Không chỉ có gia đình chị Hạnh lo lắng mà tâm trạng này đang phổ biến ở người dân thôn Long Thành. Toàn thôn Long Thành chỉ có 140 hộ dân, với hơn 600 nhân khẩu nhưng trong mấy năm trở lại đây trong thôn đã có hơn 30 người chết vì bệnh ung thư. Chỉ riêng 5 tháng, từ tháng 11/2007 – tháng 3/2008 đã có 6 người chết. Đây là những người được xác định chính xác là do ung thư, còn có nhiều người chết không rõ nguyên nhân, một phần là gia đình khó khăn không được đưa đến bệnh viện chữa trị, dùng thuốc lung tung, chết không rõ ràng. Số khác chết bệnh nhưng tuổi cũng đã cao người ta không để ý.

Giếng nước của nhiều hộ dân ở thôn Long Thành (Đức An, Đức Thọ, Hà Tĩnh) Điều đáng nói là sự việc này đã được phản ánh rất nhiều nhưng đến nay vẫn chưa có một động thái nào của các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương. Ai có thể chắc rằng danh sách người trong thôn chết vì ung thư sẽ không chất cao ngút. Ngoài con số những người đã chết, trong thôn hiện có nhiều người đang bệnh nặng, đã xác định có 5 người là đang mang trong mình căn bệnh ung thư. Hiện nay, trên địa bàn thôn những người đàn ông ở tuổi 30 – 40 bỏ lại vợ con ra đi vì căn bệnh ung thư là chuyện “bình thường”.
Long Thành là thôn có số dân ít nhất xã nhưng lại có số người chết vì ung thư nhiều hơn cả 10 thôn khác của xã cộng lại. Nói như vậy để biết rằng có những nguyên nhân gây ra căn bệnh không chữa được này tại thôn Long Thành.
Tìm hiểu về nguyên nhân của căn bệnh ung thư xảy ra nhiều trên địa bàn thôn và đang có chiều hướng gia tăng; theo nhiều người dân cho biết, ở trung tâm thôn Long Thành (nơi mà hầu hết gia đình nào cũng đã có người bị bệnh hoặc đã chết vì ung thư) trước đây có đặt một kho thuốc trừ sâu, sau này kho thuốc không còn nữa nhưng do đóng lâu dài ở đây nên thuốc đã ngấm vào đất, vào nước. Đây cũng chỉ là phỏng đoán của một số người. Một nguyên nhân khác rõ ràng, ai cũng có thể nhận thấy, nó cũng bắt nguồn từ thuốc trừ sâu và đặc thù địa hình của thôn.
Thôn Long Thành nằm ngoài cùng của xã Đức An, có địa hình thấp nhất. Hàng năm có hàng trăm lít thuốc trừ sâu, trừ cỏ được phun xuống đồng, phần lớn chúng theo dòng nước chảy về vùng trũng – thôn Long Thành. Thôn Long Thành trở thành “cái chảo” hứng nước độc.
Trong khi đó người dân ở đây đa phần đời sống còn thấp, nước dùng hàng ngày chủ yếu là nước giếng khơi. Ở vùng này người ta chỉ cần đào 0,5 m khỏi mặt đất là nước tha hồ dùng, chỉ có điều nước trong giếng cũng chẳng có khác gì so với nước ruộng. Nước trong giếng là nước ruộng ngấm vào, vì ruộng và giếng vốn chỉ cách nhau có cái bờ chưa quá 0,4m. Chưa kể chỉ cần một trận mưa nhỏ sẽ không nhận ra đâu cái giếng nước ăn vì nước đã băng cả giếng lẫn ruộng.
Đến lúc này không chỉ có những người dân thường lo lắng vì tương lai của họ mà ngay cả những cán bộ thôn cũng bắt đầu hoang mang. Mặc dù cán bộ của thôn đã có ý kiến với chính quyền xã (Đức An) và huyện Đức Thọ, nhưng mọi việc vẫn như không có một vấn đề gì, thậm chí cả xã cũng chưa vào cuộc.
Anh Nguyễn Ngọc Mỹ, thôn trưởng thôn Long Thành bày tỏ sự lo lắng với chúng tôi: “Chú coi chứ không biết tiếp theo đến lượt ai đây, chúng tôi có đề nghị với xã nhưng chưa được quan tâm. Chúng tôi lo lắm, dù có bể chứa nước sạch để ăn, nhưng còn tắm, rửa nữa chứ, mà có phải nói làm bể là làm được đâu. Mình thì đành rồi nhưng còn con em mình nữa, sau này chưa biết thế nào”.
Chính vì lo cho tương lai của mình, cho con cái, nhiều gia đình đang tìm cách “tháo chạy” khỏi làng. Thực tế, tâm lí này đang phổ biến ở những thanh niên khi có ý định lập gia đình, họ sẵn sàng “chịu thiệt” để có thể thoát được cái “ao nước độc” này.
Chúng tôi đến thăm gia đình chị Đinh Thị Hạnh khi cơn mưa vừa đi qua, gia đình chị cũng đang u ám như chính bầu trời lúc cơn giông đến. Chồng chị Hạnh vừa ra đi để lại cho chị một mình với 3 đứa con còn nhỏ, trước đó mẹ chồng chị cũng vừa mất. Cả hai người đều chết vì bệnh ung thư.
Ở thôn Long Thành, xã Đức An - Đức Thọ - Hà Tĩnh, có rất nhiều gia đình cũng đã mất đi người thân vì căn bệnh quái ác này. Tâm sự với chúng tôi, chị Hạnh nói: “Điều làm tôi lo không chỉ là miếng cơm manh áo của mẹ con tôi mà còn là căn bệnh quái ác kia đang rình rập”. Người đàn bà làm sao có thể giám chắc căn bệnh ung thư không xảy ra với mình và 3 đứa con khi mà bà nội và bố của ba đứa trẻ đã ra đi vì căn bệnh này.
Không chỉ có gia đình chị Hạnh lo lắng mà tâm trạng này đang phổ biến ở người dân thôn Long Thành. Toàn thôn Long Thành chỉ có 140 hộ dân, với hơn 600 nhân khẩu nhưng trong mấy năm trở lại đây trong thôn đã có hơn 30 người chết vì bệnh ung thư. Chỉ riêng 5 tháng, từ tháng 11/2007 – tháng 3/2008 đã có 6 người chết. Đây là những người được xác định chính xác là do ung thư, còn có nhiều người chết không rõ nguyên nhân, một phần là gia đình khó khăn không được đưa đến bệnh viện chữa trị, dùng thuốc lung tung, chết không rõ ràng. Số khác chết bệnh nhưng tuổi cũng đã cao người ta không để ý.

Giếng nước của nhiều hộ dân ở thôn Long Thành (Đức An, Đức Thọ, Hà Tĩnh) Điều đáng nói là sự việc này đã được phản ánh rất nhiều nhưng đến nay vẫn chưa có một động thái nào của các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương. Ai có thể chắc rằng danh sách người trong thôn chết vì ung thư sẽ không chất cao ngút. Ngoài con số những người đã chết, trong thôn hiện có nhiều người đang bệnh nặng, đã xác định có 5 người là đang mang trong mình căn bệnh ung thư. Hiện nay, trên địa bàn thôn những người đàn ông ở tuổi 30 – 40 bỏ lại vợ con ra đi vì căn bệnh ung thư là chuyện “bình thường”.
Long Thành là thôn có số dân ít nhất xã nhưng lại có số người chết vì ung thư nhiều hơn cả 10 thôn khác của xã cộng lại. Nói như vậy để biết rằng có những nguyên nhân gây ra căn bệnh không chữa được này tại thôn Long Thành.
Tìm hiểu về nguyên nhân của căn bệnh ung thư xảy ra nhiều trên địa bàn thôn và đang có chiều hướng gia tăng; theo nhiều người dân cho biết, ở trung tâm thôn Long Thành (nơi mà hầu hết gia đình nào cũng đã có người bị bệnh hoặc đã chết vì ung thư) trước đây có đặt một kho thuốc trừ sâu, sau này kho thuốc không còn nữa nhưng do đóng lâu dài ở đây nên thuốc đã ngấm vào đất, vào nước. Đây cũng chỉ là phỏng đoán của một số người. Một nguyên nhân khác rõ ràng, ai cũng có thể nhận thấy, nó cũng bắt nguồn từ thuốc trừ sâu và đặc thù địa hình của thôn.
Thôn Long Thành nằm ngoài cùng của xã Đức An, có địa hình thấp nhất. Hàng năm có hàng trăm lít thuốc trừ sâu, trừ cỏ được phun xuống đồng, phần lớn chúng theo dòng nước chảy về vùng trũng – thôn Long Thành. Thôn Long Thành trở thành “cái chảo” hứng nước độc.
Trong khi đó người dân ở đây đa phần đời sống còn thấp, nước dùng hàng ngày chủ yếu là nước giếng khơi. Ở vùng này người ta chỉ cần đào 0,5 m khỏi mặt đất là nước tha hồ dùng, chỉ có điều nước trong giếng cũng chẳng có khác gì so với nước ruộng. Nước trong giếng là nước ruộng ngấm vào, vì ruộng và giếng vốn chỉ cách nhau có cái bờ chưa quá 0,4m. Chưa kể chỉ cần một trận mưa nhỏ sẽ không nhận ra đâu cái giếng nước ăn vì nước đã băng cả giếng lẫn ruộng.
Đến lúc này không chỉ có những người dân thường lo lắng vì tương lai của họ mà ngay cả những cán bộ thôn cũng bắt đầu hoang mang. Mặc dù cán bộ của thôn đã có ý kiến với chính quyền xã (Đức An) và huyện Đức Thọ, nhưng mọi việc vẫn như không có một vấn đề gì, thậm chí cả xã cũng chưa vào cuộc.
Anh Nguyễn Ngọc Mỹ, thôn trưởng thôn Long Thành bày tỏ sự lo lắng với chúng tôi: “Chú coi chứ không biết tiếp theo đến lượt ai đây, chúng tôi có đề nghị với xã nhưng chưa được quan tâm. Chúng tôi lo lắm, dù có bể chứa nước sạch để ăn, nhưng còn tắm, rửa nữa chứ, mà có phải nói làm bể là làm được đâu. Mình thì đành rồi nhưng còn con em mình nữa, sau này chưa biết thế nào”.
Chính vì lo cho tương lai của mình, cho con cái, nhiều gia đình đang tìm cách “tháo chạy” khỏi làng. Thực tế, tâm lí này đang phổ biến ở những thanh niên khi có ý định lập gia đình, họ sẵn sàng “chịu thiệt” để có thể thoát được cái “ao nước độc” này.

CON NGƯỜI: SINH VẬT CÔ ĐƠN NHẤT ĐỊA CẦU.
Chu Tất Tiến Một thế kỷ mới bắt đầu. Thế kỷ của siêu xa lộ thông tin, của Internet tràn ngập những dữ kiện từ thời thượng cổ cho đến tương lai cả trăm năm sau, từ cục đá khô trên Hỏa Tinh đến những vũ khí tối tân, hỏa tiễn,máy bay.. với đầy đủ chi tiết vận hành. Trang phục của con người trên Internet có thể rất cổ, kết bằng lá, hay rất hiện đại gồm toàn kim khí, hoặc chỉ là da người bóng lộn, khiêu gợi. Hình ảnh bất động hay chuyển động ba chiều như đời thường. Từ thế giới tin học này, nhận thức của con người thế kỷ 21 đã phát triển nhanh hơn vận tốc âm thanh. Nhất là khi ngồi trước máy truyền hình, theo dõi tin tức sinh hoạt trên thế giới và lắng nghe những cuộc hội thoại (talk show) hay những vụ kiện cáo của tòa dân sự, tòa ly dị, tòa đạo đức của người Mỹ, người ta mới thấy những hệ luận xã hội đang chuyển mình với tốc độ chóng mặt về hai cực dương và âm cách xa nhau hàng triệu năm ý thức.
Một phần hệ luận xã hội hướng về những ý niệm tuyệt đối của Quyền Con Người (Human Rights), của Tự Do, của Dân Chủ, của những hạnh phúc mà Con Người toàn quyền định đoạt, không một áp lực nào có thể cản trở, bưng bít được. Những hệ luận này đã được các xa lộ thông tin chuyên chở đi khắp nơi khiến chocác chế độ bạo tàn dần dần phải nhường chỗ cho Tự Do, Dân Chủ. Những con người bị áp bức bởi cổ hủ, mê tín, hay bởi quyền lực sắt máu được giải phóng.
Nhưng, ngược lại, cũng qua thời đại thông tin siêu xa lộ, mà xã hội trở lại thời đồ đá, thời con người chung đụng với nhau thuần vật chất, thuần quyền lợi cá nhân. Mắt trả mắt, răng trả răng, không còn ý nghĩa cao đẹp của loài người là tạo hạnh phúc cho người khác, không còn giá trị của sự hy sinh, không còn những “Tâm Hồn Cao Thượng” nữa. Hạnh phúc của con người sa đọa hiện nay không khác chi khoái lạc của con người thượng cổ, khi tiếng nói chưa diễn tả được ý nghỉ, khi sự cao đẹp của đời sống chỉ là nhặt được một củ khoai, là đâm được một con thú. Có người yêu, sau khi chia tay với bồ cũ, lại đòi người tình xưa trả 1,000 đồng về công làm tình trong một năm. Có đứa con thưa bố mẹ ra tòa vì vài trăm bạc hứa cho nhưng không thi hành. Bà mẹ dẫn con gái ra chốn công đường vì con đã lấy chiếc xe tàng của mẹ cho tình nhân. Nhiều cặp vợ chồng mới lấy nhau trên dưới 6 tháng đã kiện đòi ly dị vì “anh ấy chỉ muốn làm tình mà không làm việc”, hoặc vì “cô ấy đã ngủ với bạn chồng lúc dư âm tiệc cưới vẫn chưa tàn”.Một bà mẹ đầy nước mắt thưa ông bố muốn lộn xộn với con gái. Chồng đòi ly dị vợ vì vợ dám lấy cái máy hút bụi mang về nhà cho mẹ dùng. Đứa cháu nội kiện ông bà bởi ông bà áp chế quá, không cho chơi bời tự do.. Và hàng chục, hàng trăm vụ bố mẹ phải mang những đứa con còn chưa tới tuổi “teen” (nghĩa là còn dưới 13) ra trước hàng trăm ngàn cặp mắt để tố cáo con ăn cắp vặt, hút xì ke, đánh lại thân sinh, bỏ học, hay ngủ lang với bạn trai. Nhiều em gái, tưởng vẫn còn trong tuổi mộng mơ, đã nhơn nhơn lên đài khoe thành tích ngủ với hàng chục bạn trai khác trong trường hay trong cùng xóm.Và những chương trình hội thoại khác lại chuyên đưa những kẻ bụi đời, dâm đãng, đĩ điếm, ngoại tình, đồng tính luyến ái lên sân khấu để sỉ nhục nhau, đánh lộn, xé quần xé áo nhau cho khán giả cười chơi.. Chưa kể những kẻ điên rồ, kể cả trẻ vị thành niên, lấy súng ra bắn chết hàng loạt mà không còn biết xúc động trước máu của kẻ khác chẩy ra vì mình.
Người ta không còn biết đến Sự Tự Trọng, Sự Xấu Hổ nữa. Người ta không còn thương yêu nhau nữa. Thật ra, họ vẫn nói đến Yêu Thương thường nhật với những ngôn từ thật mãnh liệt, nhưng chẳng hiểu mình nói đến vấn đề gì. Xã hội Văn Minh, qua lăng kính khủng khiếp như thế, chỉ còn là một mớ những người rừng không nhân cách, chỉ là một sự chung đụng hỗn độn của những con người có đầy đủ tiện nghi, phương tiện khoa học sống như những cái máy biết đi, biết ăn uống, hưởng thụ, và tính toán để thu lợi cá nhân tối đa. Ngay cả một số người tị nạn cũng không còn là “người di tản buồn” nữa vì hôm nay làm đám cưới với ông này, mấy tháng sau kết hôn với ông khác. Năm sau lại chuyển địa chỉ tân hôn. Nhiều nhân vật nổi tiếng cũng thay đổi hôn thú với các bà như thay áo. Một thế hệ mới bắt đầu không còn ai có nghĩa vụ với ai, kể cả nhiệm vụ của Cha Mẹ với Con Cái. Sự đau đớn của những đứa con đang tuổi lớn khi biết cha mẹ chúng bỏ đi với người khác đã không còn giá trị trước cái hạnh phúc tràn trề của một người có vợ mới, chồng mới, xác thịt mới. Như vậy, chắc chắn, thếâ hệ kế tiếp gồm đa số những thanh thiếu niên bị bỏ rơi, không có Cha, Mẹsẽ còn ích kỷ, thủ thân, cá nhân chủ nghĩa hơn nhiều. Dần dần, tính ích kỷ sẽ tăng trưởng thành một đức tính mà một đứa trẻ mới lọt lòng mẹ cần được dậy bảo.
Hội nghị Thế Giới về Môi Sinh chấm dứt buồn bã với những khuyến cáo (không có sức mạnh) các chính phủ phải tìm biện pháp giảm bớt khí thải công nghiệp để cho khí hậu trái đất khỏi nóng thêm. Nếu nhiệt độ tăng thêm mười độ, một số băng hà sẽ tan rã, nước biển sẽ dâng cao, làm chìm ngập những quốc gia ven biển trong vòng trăm năm tới, nhưng đa số các chính phủ lờ đi, nhất là chính phủ Mỹ hiện tại không đưa ra lời hứa hẹn nào. Có lẽ vì khuynh hướng của chính phủ hiện nay, theo báo chí, vẫn thường không chú ý đến vấn đề môi trường mà chỉ lo bảo vệ lợi tức của các đại công ty. Mặc kệ cho đất nước nào chìm xuống biển, mặc hàng triệu người sẽ bỏ xác dưới đại dương, mặc một số nền văn minh nhân loại biến mất, kệ thế giới lúc đó nghèo thêm, khổ thêm, “đời cua, cua máy, đời cáy, cáy đào” các chính phủ tư bản vẫn thản nhiên trên nỗi khổ đau của nhân loại nghèo đói, khốn khổ. Như vậy, dưới bề mặt của một khu vực phồn thịnh kinh tế, xã hội không còn là một kết hợp của các ĐƠN VỊ GIA ĐÌNH, HỌ HÀNG, BẠN BÈ nữa mà là một tập hợp lỏng lẻo của những CÁ NHÂN luôn tìm cách xô đẩy những CÁ NHÂN khác ra xa để dành chỗ đứng cho CHÍNH MÌNH.Đến thời điểm màmỗi con người chỉ còn biết nghĩ đến mình thì lúc ấy, CON NGƯỜI SẼ LÀ NHỮNG SINH VẬT CÔ ĐƠN NHẤT TRÊN HÀNH TINH TRÁI ĐẤT. Những sinh vật khác, có thể sống riêng rẽ, nhưng không có tri thức để hiểu rằng chúng cô đơn, nhưng con người, lại dư tri thức để nhận biết nỗi đau của sự Cô Đơn. Còn trẻ, khỏe mạnh thì ăn ở một mình, lấy vợ lấy chồng chỉ là sự trao đổi tÌnh dục (sex) và tài sản. Do đó, vợ hay chồng, cha mẹ hay con cái, cũng phải tính toán chia riêng quyền lợi chomình. Bệnh hoạn thì tự chữa lấy, khó khăn phải tự giải quyết lấy, về già tự nuôi lấy để rồi vào nhà dưỡng lão để đợi chết một mình. Không có tình yêu, không còn nghĩa vụ, chẳng có ràng buộc. Ký hôn thú để chia thuế, nhưng mạnh ai người nấy tìm đối tượng “sex” cho mình. Con đẻ ra cho xã hội nuôi, hoặc nuôi đến 18 tuổi là lập tức mời ra đường. Xã hội toàn người lang thang, cô đơn, nghi kỵ, ích kỷ, khô khan. Văn chương, văn hóa hòa tan trong các khẩu hiệu “Yêu tạm”, “Đừng tìm kiếm nhau”, “Ta chỉ yêu nhau một tối”, “Yêu vội, sống cuồng”..
Thế Kỷ 21 mới mở đầu mà hình như đã báo hiệu chung cuộc. Nhân loại đang hoang mang trước viễn ảnh CÔ ĐƠN. Có lẽ chỉ còn những người có lòng tin vào Thượng Đế, vào CHÚA là còn chút hy vọng, lạc quan. Vì, theo Thánh Kinh, khisự xấu xa của nhân loại đã vượt qua sự giới hạn của lòng nhân từ của Thiên Chúa, khi sự cảnh báo của Thiên Chúa đã không còn ai nghe,thì Người phải ra tay tiêu diệt để dựng lại Trời Mới, Đất mới. Như Trận Đại Hồng Thủy thời ông Noe, như thành Sodom, như hàng trăm, ngàn thành phố cổ cùng với hàng trăm, ngàn nền văn minh xưa cũ mà cho tới giờ này, với tất cả phương tiện tối tân, hiện đại của computer vẫn chưa nghĩ ra phương pháp xây dựng tương đương. Nhưng, cùng với sự trừng phạt, tình yêu của Thiên Chúa lại bao la, vô tận. Những con người thật cô đơn trên mặt đất, không có người thân để chia sẻ,sẽ không còn cô đơn khi biết rằng Chúa lúc nào cũng bên cạnh mình, dù trong ngục tối, dù giữa sa mạc, dù nơi băng tuyết, dù câm, dù điếc, mù, què, bệnh tật, bất hạnh thế nào chăng nữa. Chúa vẫn ở với từng người, từng cá nhân, già trẻ lớn bé, nam hay nữ. Không chỉ với những người ngoan đạo, Chúa ở cả với những kẻ tội lỗi. Mỗi khi con người phạm tội mà biết chạy đến Chúa, Người chỉ nói nhẹ nhàng: “Con hãy về đi, và đừng phạm tội nữa!”
Trong Thế Kỷ với hiểm họa Cô Đơn này, chớ gì con người biết chuẩn bị cho mình một con đường dẫn tới Hạnh Phúc Aám Aùp bằng sự chia xẻ tình yêu cho nhau và nếu lỡ rơi vào tình trạng Cô Đơn, biết đi tìm Chúa, NGUỒN TÌNH YÊU CHÂN CHÍNH, TRƯỜNG CỬU, VĨ ĐẠI để thấy không bao giờ còn Cô Đơn nữa.
Chu Tất Tiến.

