Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Mạn Đàm, Trò Chuyện

Mạn đàm, thảo luận là cơ hội ngồi lại với nhau để chia sẻ tâm tư hiểu biết hoặc phân tích bằng lý lẽ làm sáng tỏ một vấn đề.

Có mấy điều nên theo, vài điều nên tránh để cuộc trao đổi được hào hứng, thân tình:

1-Chẳng nên độc chiếm diễn đàn

Các cụ ta thường nói rằng:

“Rượu nhạt uống lắm cũng say
Người khôn, nói lắm dẫu hay cũng nhàm”.

Thực vậy, dù có là nhà hùng biện, nói hay nói hấp dẫn với nhiều chuyện để kể, nhưng một mình phát ngôn từ đầu tới cuối thì e cũng “mục hạ vô nhân”.

Vả lại, người khác chắc cũng có những điều muốn kể, vì mỗi người có bổn phận đóng góp phần mình. Đâu có ai muốn bị cho là chỉ “ngậm hột thị”, thụ động, im lặng ngồi nghe.

Ví dù như mình có là chủ nhà trong cuộc nói lại càng nói vừa đủ đưa đà gợi ý cho cuộc trao đổi, để nhiều người góp ý, hơn là “đường ta, ta cứ đi”, thao thao bất tuyệt.

2-Tập trung vào nội dung câu chuyện

Khi trà dư tửu hậu thì tiện đâu nói đó. Nhưng không phải vì vậy mà cà kê dê ngỗng, lang bang chuyện này chòng chéo chuyện kia.

Đề tài phải hữu ích cho mọi người chứ không nên dài dòng văn tự chuyện mình thấy hứng thú.

Cũng nên lưu ý rằng, chuyện chỉ hấp dẫn khi được trình bầy lần đầu. Chứ cùng một nội dung, nhắc đi nhắc lại thì liệu có nhạt như nước ốc ao bèo, “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” hay không.

3-Chẳng nên nói chuyện cá nhân

“Đèn nhà ai nấy sáng” là câu nhắc nhở của cổ nhân.

Mỗi gia đình có mỗi hoàn cảnh. Dù có giận vợ ghét chồng, buồn chuyện con cái đến mấy, cũng chẳng nên “vạch áo cho người xem lưng”, với chuyên riêng tư của mình.

Và cũng chẳng nên mang chuyện “đồn đại” về người khác ra mà “gossip”, làm quà cho buổi gặp gỡ.

Thiếu gì chuyện để nói để bàn. Chuyện thời tiết nắng mưa, chuyện trên trời dưới đất biết bao nhiêu vấn đề liên quan tới đời sống cộng đồng, thế giới mà không ai nắm hết. Cho nên, ai cũng chờ đợi được kế, được nghe để rộng tầm kiến thức.

4-Đừng phủ nhận, quyết đoán

“Trăm người mười ý”.

Và thường thường khi phát biểu thì đa số cũng chủ quan, cho là lời vàng ngọc/phát ngôn của mình chính xác, đáng nói, đáng nghe. Cũng tốt đi, nếu ý kiến đó được nhiều người tán thưởng.

Nhưng chẳng nên “thẳng thừng” phản bác ý kiến người khác là sai, phải thế này thế kia mới đúng. Một phát ngôn như vậy chẳng khác chi “kê tủ đứng” vào miệng nhau, khiến cho cuộc trao đổi đột nhiên căng thẳng, ngưng lại.

Cuộc nói vui hơn khi nhiều trao đổi nhẹ nhàng với rất ít sắc cạnh. Như Socrate đề nghị là thay vì “Tôi nghĩ” thì hãy “Quý vị, anh chị nghĩ sao?”

5-Đừng ngang xương ngắt lời

Lâu lâu đưa ra lời tán thưởng ngắn gọn có lẽ hợp lý hơn là khi người ta đang hào hứng mà mình “thọc gậy bánh xe” với ý kiến của mình.

Hoặc cũng có người không kiên nhẫn đợi người khác kết thúc. Họ đột nhiên xen vào, đưa ra vài nhận xét.

Đây là điều cần tránh vì sẽ làm người khác cụt hứng, bực mình và cũng chứng tỏ mình là người hơi nghèo “văn hóa”, phá đám, làm cuộc nói trật đường rầy, trì trệ.

6-Đừng đột nhiên đổi đề tài

Mọi người đang say mê đưa ra những nhận xét, bình phẩm về thời trang, sắc đẹp mà đột nhiên có người chuyển sang vấn đề kinh tế, tài chánh thì liệu có bị cho là lạc đề không nhỉ? Chẳng khác chi dòng nước đang êm đềm chẩy mà ai đó thò tay khuấy động…

7-Đừng nặng lời chỉ trích

Cổ nhân thường nhắc nhở rằng:

“Lời nói chẳng mất tiền mua
Liệu lời ăn nói cho vừa lòng nhau”

Vui gì đâu những lời châm chọc không cần thiết, những nhận xét có tính cách ác ý, những nhạo báng, coi thường.

Nếu không nói được lời vừa lòng nhau thì thà im lặng mỉm cười còn đẹp hơn.

“Vừa lòng nhau” là vừa lòng người khác mà ta cũng được bình an, không bị oán giận.

8-Nói rõ ràng, chậm rãi

Kinh nghiệm cho hay những lời nói rõ ràng, chậm rãi được nhiều người tán thưởng, theo dõi hơn là lanh chanh, líu lưỡi. Người nghe sẽ dễ dàng thu nhập, “tiêu hóa” những hiểu biết mới.

Trong khi nói cũng nên dừng lại năm ba giây, theo dõi nét mặt người nghe, dò xét phản ứng thuận nghịch để tiện bề du di nội dung câu chuyện cho thích hợp.

Lâu lâu lại chêm vào một vài lời hài hước để không khí thêm vui nhộn là điều cũng nên làm.

9-Thích thú, theo dõi câu chuyện

Theo dõi câu chuyện không phải chỉ với tai nghe mà còn mắt nhìn, dáng điệu cơ thể.

Kinh nghiệm cho hay, khi người đang nói mà người nghe lơ đãng, vẩn vơ nhìn trời, nhấp nhổm trên ghế, tay gõ mặt bàn thì hoặc là đề tài lãng xẹt, hoặc người nghe có hẹn, đang kiếm cơ hội rút lui.

Chẳng nên như vậy. Vừa không lịch thiệp vừa làm người nói buồn lòng, mặc cảm “chắc là mình nói vô duyên, chẳng ai muốn nghe”.

Nếu thầy cần ra đi, cứ lặng lẽ đứng lên, rời bước, để người nghe, người nói tiếp tục.

Cũng chẳng nên nhỏ to riêng với người kế bên, vừa quấy rầy họ, vừa chia trí người khác.

Và:

-Trong trò chuyện, nên dành một thời gian lớn để nghe người khác nói, trừ khi họ muốn mình nói nhiều hơn. Lợi điểm của nghe nhiều là làm vui lòng người nói mà lại dấu được điểm yếu của mình đồng thời thu lượm thêm hiểu biết.

-“Biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe” là chiến thuật tốt nên áp dụng khi không hiểu rõ đề tài, chứ chẳng nên mạo hiểm “mao tôn cương”.

-Chẳng nên cao giọng khuyên răn, thuyết giảng, trừ khi được yêu cầu. Lời khuyên nên được đưa ra như một gợi ý chứ không có tính cách “dạy đời”, áp đặt.

Coi vậy mà nói với nhau cũng là cả một nghệ thuật.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức
Texas-Hoa Kỳ

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


THỦ TƯỚNG CSVN NGUYỄN TẤN DŨNG VÀ HOUSTON

Bài Ls. Hoàng Duy Hùng - Ảnh của Trương Sĩ Lương
Image Tháng 3/2008, trên trang nhà điện tử của Bộ Quốc Phòng Trung Quốc cho biết trong Chiến Tranh Việt Trung Lần II vào năm 1984, trong một đêm, Trung Quốc giết sạch 3700 quân của Cộng Sản Việt Nam ở núi Lão Qua. Lão Qua nằm trong lãnh thổ Việt Nam và Trung Quốc chiếm đóng núi này cho tới ngày hôm nay. Cộng Sản Việt Nam không dám lượm xác các đồng đội nên Trung Quốc đã cho hóa chất thiêu đốt tất cả các quân nhân tử thương này. Bên phía Việt Nam thinh lặng hoàn toàn trước tin động trời đó.

Tổng Bí Thư CSVN Nông Đức Mạnh lập tức đi Bắc Kinh. Sau chuyến viếng thăm Bắc Kinh trở về, Nông Đức Mạnh phục hoạt chức vụ cho một lô nhân sự cấp tướng trong quân đội và công an mà Nguyễn Tấn Dũng đã cách chức trước đây. Sự kiện đáng lưu ý nhất đó là Nông Đức Mạnh hỗ trợ cho Thứ Trưởng Giao Thông Vận Tải Nguyễn Việt Tiến quật ngược lại vụ án PMU18. Nguyễn Việt Tiến được miễn tố, được phục hồi đảng tịch, được ngồi lại chức vụ cũ. Sau đó, Nguyễn Việt Tiến truy tố 2 nhà báo Nguyễn Văn Hải (33 tuổi) làm cho báo Tuổi Trẻ và Nguyễn Việt Chiến (56 tuổi) làm cho báo Thanh Niên bị bắt và bị truy tố về tội lạm dụng chức năng loan tin thất thiệt về vụ PMU18. Ngay cả thiếu tướng công an Phạm văn Quắc phe của Nguyễn Tấn Dũng cũng bị kỷ luật vì lý do đã điều tra vụ PMU18.
Image Hai phe trong ĐCSVN đang đấu đá nhau kịch liệt thì thế giới lâm vào cơn khủng hoảng nhiên liệu và lương thực. Đồng tiền Dollar của Mỹ bị sút giá trầm trọng nên cả thế giới lâm vào tình trạng lạm phát. Đồng tiền Việt Nam dựa trên đồng Dollar của Mỹ nên lạm phát tăng vọt một cách chóng mặt đến độ cựu Giám Đốc Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ lên tiếng cảnh báo Việt Nam có thể rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế như các quốc gia Đông Nam Á đã bị vào năm 1998. Phe của Nông Đức Mạnh đổ lỗi cho sự suy thoái kinh tế là do phe miền nam của Nguyễn Tấn Dũng quá yếu kém không biết điều hành công việc cách hữu hiệu.

Đứng trước bối cảnh này, đầu tháng 4/2008, phe Nguyễn Tấn Dũng tung tin Nguyễn Tấn Dũng được Tổng Thống George W. Bush mời sang viếng thăm Hoa Kỳ. Họ còn tung tin Nguyễn Tấn Dũng sẽ vững mạnh thay thế Nông Đức Mạnh làm Tổng Bí Thư trong nay mai chớ không phải đợi tới Đại Hội XI vào năm 2012. Ngày 24/4/2008, trong bài nói chuyện với các doanh gia do Greater Partnership of Houston tổ chức, Đại Sứ CSVN Lê Công Phụng cho biết ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ đến Houston vào cuối tháng 6 năm 2008. Dư luận cho rằng nhân cơ hội này ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ chủ tọa buổi lễ khánh thành Tòa Tổng Lãnh Sự ở thành phố đông dân Việt đứng hàng thứ hai ở hải ngoại sau Nam California.
Image Nhận được tin tức này, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston & Phụ Cận lập tức triệu tập một phiên họp khoáng đại để bầu chọn một ủy ban để đối phó với việc này. Đại Hội Khoáng Đại đã biểu quyết thành lập Ủy Ban Phối Hợp Hành Động Chống Cộng Sản do Đông Y Sĩ Đào Văn Thảo làm điều hợp viên.

Ngày 6/6/2008, Cộng Đồng đã tiếp xúc với Hội Đồng Thành Phố Houston và thành phố hứa sẽ không tiếp xúc Nguyễn Tấn Dũng cũng như sẽ thành lập Ủy Ban Hỗn Hợp với Cộng Đồng để ngăn chận việc thành lập Tòa Tổng Lãnh Sự CSVN vì sự hiện diện của Tòa Tổng Lãnh Sự sẽ gây náo loạn và nhiều cuộc biểu tình làm cho thành phố phải tốn kém nhiều tài chánh. Phiên họp này được phối hợp bởi bà cựu chủ tịch Kim Nguyễn và bà Helen Chang, Đổng Lý Văn Phòng Thành Phố.
Image Ngày 10/6/2008, qua sự phối hợp của Hội Văn Hóa Khoa Học, Đại Sứ Michael Michalak đã tiếp xúc Cộng Đồng, và trong cuộc tiếp xúc này, ông cho biết Hà Nội sẽ thiết lập Tòa Tổng Lãnh Sự tại Houston. Cộng Đồng trình bày quan điểm của mình đó là bao lâu không có Dân Chủ và Tổng Tuyển Cử tự do thì bất cứ một viên chức nào của Hà Nội đến Houston nói riêng và hải ngoại nói chung đều sẽ phải đối phó với những cuộc biểu tình rầm rộ phản đối. Cộng Đồng cho biết sẵn sàng có một buổi đối luận công khai với sự tham gia của các cơ quan truyền thông báo chí và với sự điều hợp của chính phủ Hoa Kỳ để tìm ra một giải pháp tốt đẹp nhất cho Việt Nam. Đại Sứ Michael Michalak cho biết điều đó khó có thể thực hiện vì Cộng Sản Việt Nam không chấp nhận điều này. Cộng Đồng trình bày lại rõ ràng những người Việt hải ngoại chống Cộng không phải vì ám ảnh quá khứ hay hận thù mà là do lòng yêu nước muốn cho quê hương của mình lành mạnh cả xác và hồn, đó là phát triển kinh tế song hành với phát triển các giá trị tinh thần gồm có dân chủ và tự do.

Ngày 11/6/2008, ông Võ Văn Kiệt, cựu Thủ Tướng CSVN, người đã từng đỡ đầu cho Phan Văn Khải và Nguyễn Tấn Dũng, qua đời ở Singapore. Cái chết của ông có nhiều mờ ám. Nhiều người tin rằng ông đã bị phe thân Trung Cộng của Đỗ Mười – Nông Đức Mạnh sát hại bằng hình thức đâm vào bụng hay bị đầu độc. Ông Kiệt qua đời 24 tiếng mà không một tờ báo điện tử nào ở Việt Nam loan tin. Trong thời gian này, có nguồn tin được tung ra cho biết có thể Nguyễn Tấn Dũng phải hủy bỏ chuyến công du Hoa Kỳ vì e ngại có những biến chuyển hoặc đảo chánh khi ông ở nước ngoài. Sau khi đã dàn xếp xong ở trong hậu trường, CSVN mới long trọng làm lễ quốc táng cho Võ Văn Kiệt và các báo điện tử của Việt Nam công bố tổng quát chuyến công du Hoa Kỳ của ông Nguyễn Tấn Dũng từ ngày 24 – 26/6/2008.

Trước khi đi sâu vào nguyên do và hệ quả chuyến công du của Nguyễn Tấn Dũng, chúng ta nên biêt sơ qua về tiểu sử của ông.
Image Image I. Tiểu Sử Nguyễn Tấn Dũng?

Nguyễn Tấn Dũng sinh ngày 17/11/1949 tại Cà Mau. Năm 2005, một bài báo do ông Hoàng Dũng, cựu cán bộ Văn Phòng Trung Ương, tung ra một tài liệu cho biết Nguyễn Tấn Dũng là con rơi của cố Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh, em cùng cha khác mẹ của Nguyễn Chí Vịnh, một nhân vật gây nhiều sóng gió trong Tổng Cục 2. Hoàng Dũng tường trình lại những lời kể của cố Tổng Bí Thư CSVN Nguyễn Văn Linh như một nhân chứng sống hùng hồn để tăng sự khả tín cho bài viết của mình. Theo lời kể của Nguyễn Văn Linh, năm 1948-1959, Nguyễn Chí Thanh làm bí thư Liên Khu Uỷ Khu IV, và trong thời gian này, ông đã quan hệ với một nữ cán bộ ở đây và sinh ra Nguyễn Tấn Dũng. Hoàng Dũng còn cho biết Nguyễn Tấn Dũng còn có một người em ruột tên là Nguyễn Tiến Thắng, tự là Tư Thắng, ngoại hình rất giống Nguyễn Tấn Dũng.

Ngay từ lúc niên thiếu, năm 1961, Nguyễn Tấn Dũng tham gia Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, trở thành một trong những du kích trẻ tuổi nhất. Nhiệm vụ của Dũng là giao liên. Năm 1967, Nguyễn Tấn Dũng chính thức tham gia Đảng Cộng Sản. Trong thời gian này, ông theo học Đại Học Hòa Hảo. Sau năm 1975, ông làm trưởng phòng công an của tỉnh Minh Hải. Nhờ có công triệt hạ cao trào đấu tranh của anh hùng Trần Văn Bá từ Pháp về, ông được thăng chức vùn vụt. Thời gian này, người ta gọi ông là “Dũng Xà Mâu.”

Ngày 27/6/2006, ông thay thế ông Phan Văn Khải ở cương vị Thủ Tướng. Ông là một trong những vị thủ tướng trẻ tuổi nhất của thế giới.

II. Mục Đích Của Chuyến Công Du

Nguyễn Tấn Dũng công du Hoa Kỳ có những mục tiêu như sau:
1. Nhờ Hoa Kỳ cân bằng lực lượng của phe Thân Trung Cộng mà giáo sư Stephen Young gọi là Đảng Hán Ngụy. Tháng 12 năm 2007, Trung Cộng tuyên bố thiết lập Huyện Tam Sa trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa làm cho Hoa Kỳ không yên tâm ở Biển Đông. Đặc biệt, tháng 2/2008, Trung Cộng tuyên bố đã chiếm lấy núi Lão Qua vào năm 1984 cho thấy dã tâm của Trung Quốc là từng bước một gậm nhấm lãnh thổ Việt Nam để kiểm soát Đông Nam Á Thái Bình Dương. Chính vì lý do này nên trong buổi tiếp xúc vào ngày 24/6/2008 tại Tòa Bạch Ốc, Tổng Thống George W. Bush đã không nặng lời về đề tài nhân quyền với ông Nguyễn Tấn Dũng như đã từng làm với Nguyễn Minh Triết vào năm 2007. Đối lại, Tổng Thống Bush nhấn mạnh ủng hộ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam như một lời nhắn gởi phe Hán Ngụy và Bắc Kinh rằng Hoa Kỳ không dễ dàng gì để cho Bắc Kinh múa máy quay cuồng một mình ở Đông Nam Á Thái Bình Dương đâu.

2. Vận động đầu tư của các công ty Hoa Kỳ ngõ hầu cứu nguy nền kinh tế có thể gặp phải khủng hoảng trong những ngày tháng tới. Năm 2008, 214 đại công ty của Hoa Kỳ đã đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốn lên tới nhiều tỷ Mỹ Kim. Năm 2007, giao thương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ lên tới 12.5 tỷ Mỹ Kim. Để giúp cho Việt Nam tăng triển thăng bằng với ảnh hưởng Trung Quốc, Hoa Kỳ sẵn sàng đón nhận nhiều nhân công Việt Nam biết tiếng Anh và thông thạo tay nghề vào nước Mỹ trong những ngày tháng tới.

3. Vuốt ve và chiêu dụ người Việt hải ngoại vì đây là bầu sữa lớn của chế độ. Năm 2008, Việt kiều gởi về nước khoảng 10 tỷ Mỹ Kim. Tại Houston, Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố “Việt kiều là một bộ phận không thể tách rời được của dân tộc.”

Vận động xin viện trợ nhân đạo và giáo dục. Để được viện trợ nhân đạo, Nguyễn Tấn Dũng nhắc lại vụ án da cam để đánh động lòng xót thương của dân bản xứ. Công ty Fullbright, một công ty lớn của Hoa Kỳ, đồng ý chi ra một tài khoản lớn để bảo trợ giáo dục cho Việt Nam. Xin nhắc lại, trong buổi gặp gỡ Cộng Đồng Houston, Đại Sứ Michael Michalak tuyên bố năm nay ông đã cấp ra 90 ngàn visa du học cho Việt Nam, và có thể sẽ tăng thêm gấp đôi trong năm tới. Đại Sứ Michael Michalak cho biết hãy để cho sinh viên Việt Nam sang Hoa Kỳ, họ học và sống nếp sống dân chủ, họ sẽ đem mô hình của Hoa Kỳ về dần dà áp dụng trên quê hương Việt Nam. Đây là ánh nhìn rất lạc quan của một viên chức Hoa Kỳ nhưng nói lên cả một chính sách của quốc gia này trên tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

III. Mặt Trái và Mặt Phải Của Chuyến Công Du

A. Mặt Phải: Chuyến công du của Nguyễn Tấn Dũng mang lại nhiều lợi nhuận cho CSVN, tạo uy tín cho CSVN và cá nhân Nguyễn Tấn Dũng trên chính trường, giúp họ xiết chặt lại ghế cai trị của chúng. Đây là cơ hội để cho CSVN rêu rao trên các phương tiện truyền thông trong nước là họ có chính nghĩa nên mới được kẻ cựu thù Hoa Kỳ đón tiếp long trọng.

B. Mặt Trái. Trước đây CSVN lếu láo tuyên bố Việt Nam Cộng Hòa chạy theo ăn bơ sữa của Mỹ và Tây Phương, bây giờ, chuyến công du này của Nguyễn Tấn Dũng là một hình thức nhổ ra liếm lại của CSVN. Hiện nay, CSVN chia làm hai phe rõ rệt, phe thân Hoa Kỳ và phe thân Trung Cộng. Sau chuyến công du Hoa Kỳ, Nguyễn Tấn Dũng sẽ được thế mạnh hơn để trả đũa phe Hán Ngụy, từ đó, hố sâu phân hóa của ĐCSVN ngày càng một sâu đậm hơn.

Thêm vào đó, CSVN bị ê mặt trước sự biểu tình rầm rộ của người Việt tỵ nạn cộng sản lên án bộ mặt phi nhân của chúng và chúng không thể nào đại diện cho dân tộc Việt Nam. Nguyễn Tấn Dũng đã bị đả đảo dữ dội tại ngay Tòa Bạch Ốc và ở Houston, đã không dám hiên ngang đi giống như các phái đoàn ngoại giao khác là những chứng tích hùng hồn CSVN không có chính nghĩa, Cộng Sản Việt Nam bị chính dân tộc Việt Nam phỉ nhổ.

IV. Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản Phải Làm Gì?

Trong xã hội dân chủ, vũ khí sắc bén để nói lên tiếng nói của mình là biểu tình, biểu tình ôn hòa, tránh những chuyện bạo động. Biểu tình là một hình thức đi bỏ phiếu, và bỏ phiếu có sức mạnh như thế nào thì biểu tình cũng có sức mạnh như vậy. Những cuộc biểu tình này đã làm cho quốc tế có lý do làm áp lực lên trên CSVN muốn được hỗ trợ thì phải tôn trọng nhân quyền, phải trả tự do các tù nhân lương tâm, các tù nhân chính trị, các nhà lãnh đạo tinh thần, v.v. Trong chuyến công du kỳ này, CSVN hứa thả một khuôn mặt tù nhân chính trị nối tiếng Ls. Lê Thị Công Nhân với điều kiện Ls. Lê Thị Công Nhân phải đi Hoa Kỳ tỵ nạn. Ls. Công Nhân từ chối điều kiện này và nhất quyết ở lại Việt Nam tranh đấu dầu có phải ngồi tù dài dài.

Ngoài việc tổ chức và tham gia cuộc biểu tình, người Việt tỵ nạn cộng sản nên thành lập một phái đoàn vào ngay trong Quốc Hội, trao các tài liệu cho các dân biểu, thượng nghị sĩ và nội các của Tổng Thống Bush, vạch trần cho Quốc Hội và Tổng Thống Bush thấy vì quyền lợi của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ không nên “đầu tư” 100% vào CSVN vì CSVN nổi tiếng là lật lọng. Thay vì yểm trợ cho CSVN hàng tỷ Mỹ Kim, Hoa Kỳ nên dành lại ít nhất là 10 triệu Mỹ Kim để yểm trợ cho các lực lượng Quốc Gia, các lực lượng cộng sản phản kháng, các lực lượng đấu tranh dân chủ, ngõ hầu tạo một thế cân bằng trong chính trị (political equilibrium). Đó là sự “đầu tư” khôn ngoan và lợi ích nhất cho Hoa Kỳ, và dầu người Việt Quốc Gia chưa có “lãnh đạo” hay chưa có quy về một mối, không sao, cứ yểm trợ cho nhiều nhóm, nhiều nhóm đấu tranh cản bước không cho CSVN múa gậy vườn hoang muốn làm gì thì làm, vạch trần cho quốc dân đồng bào biết tội lỗi bán đất dâng biển cho Trung Cộng thì CSVN phải e ngại và phải ngã về phía Hoa Kỳ. Trình bày với ông tư bản là phải trình bày cho họ thấy quyền lợi hơn là “nhân quyền” thì chắc chắn với sự trình bày này, Quốc Hội Hoa Kỳ và Nội Các của Tổng Thống Bush sẽ yểm trợ chúng ta nhiều hơn.

Phái đoàn cũng nên đề nghị với Nội Các của Tổng Thống Bush tổ chức một buổi diễn đàn công luận giữa người Việt tỵ nạn cộng sản và phái đoàn của CSVN về đề tài đất nước cũng như làm thế nào xây dựng đất nước trong bối cảnh Trật Tự Thế Giới Mới. Ánh sáng không sợ tối tăm, cây ngay không sợ chết đứng thì chắc chắn trong diễn đàn này người Việt Quốc Gia sẽ làm rạng tỏ chính nghĩa của mình, và cộng sản, vì là ác quỷ Dracula, chắc chắn sẽ bị ánh sáng chính nghĩa đó thiêu rụi. Phái đoàn người Việt Quốc Gia đề nghị với Nội Các của Tổng Thống Bush, nhưng chắc chắn phái đoàn của CSVN sẽ từ chối.

Sau cùng, các cơ quan truyền thông và các lực lượng đấu tranh phổ biến về nước tin tức các cuộc biểu tình chống Nguyễn Tấn Dũng, phân tách nội tình phân hóa của CSVN ngõ hầu dân chúng phấn chấn lên trong cuộc đấu tranh này. Đặc biệt, các lực lượng đấu tranh có những “đường giây” trong nước khai thác triệt để sự phân hóa của hai phe thân Trung Cộng và thân Hoa Kỳ, đẩy sự phân hóa này thêm trầm trọng hơn, và nhờ đó, biết đâu được cơ may đến cho dân tộc Việt Nam giống y như chuyện sụp đổ của Cộng Sản tại Liên Xô năm 1990.

V. Chi Tiết Chuyến Công Du

Vì e ngại những cuộc biểu tình rầm rộ của người Việt hải ngoại, CSVN tung hỏa mù lộ trình chuyến đi của mình để cho người Việt không kịp huy động nhân sự. Chương trình chuyến đi của Nguyễn Tấn Dũng thay đổi liên tục.

Chiều ngày 23/6/2008, Nguyễn Tấn Dũng bay đến Washington D.C. Ông gặp cựu Giám Đốc Ngân Hàng Alan Greenspan để nhờ cố vấn ngăn chận lạm phát tại Việt Nam. Ngày hôm sau, phái đoàn CSVN đến Bộ Thương Mại, ông đã bị đoàn biểu tình phản đối dữ dội và vội vã đi vào tòa nhà với nỗi cay đắng tột cùng. Lúc 12 giờ trưa, ông đến Tòa Bạch Ốc, phái đoàn đã bị đoàn biểu tình khoảng 600 người giương cao cờ Vàng làm họ phải lủi thủi đi vào trông rất thảm thương. Năm nay, Tổng Thống Bush không nhắc nhở đề tài dân chủ và nhân quyền như năm ngoái Tổng Thống Bush đã nhắc nhở ông Nguyễn Minh Triết. Tổng Thống Bush nói nhiều đến sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của Việt Nam như một lời nhắn gởi với Bắc Kinh chớ quá vọng động. Nguyễn Tấn Dũng ký một bản giác thư với Tổng Thống Bush nói lên quan điểm và lập trường của hai quốc gia trong vấn đề chính trị, ngoại giao, giáo dục, và kinh tế.

Trong khi đó, một phái đoàn khác của CSVN (không có Nguyễn Tấn Dũng trong chuyến này), vào trưa 24/6, đã đáp xuống phi trường Dallas – Forth Worth chuẩn bị về Houston đã bị đồng hương nơi này phát giác và khoảng 200 người đã cầm cờ Vàng biểu tình phản đối ngay tại phi trường cho thấy nơi nào Cộng Sản tới thì nơi đó có phản đối dầu rằng được thông tin rất ngắn ngủi.

Sáng ngày 25/6, Nguyễn Tấn Dũng gặp gỡ Bộ Giáo Dục của Hoa Kỳ. Qua buổi gặp gỡ này, Hoa Kỳ hứa giúp xây dựng những đại học tại Việt Nam theo kiểu mẫu Hoa Kỳ. Đại Công ty Fullbright bảo trợ các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh cho các đại học Việt Nam.

Chiều 25/6, phái đoàn của ông Nguyễn Tấn Dũng bay về Houston ngụ tại khách sạn Hilton trên đường Post Oak và West Loop. Đúng giờ phút đó, hơn 1000 người đã tụ tập tại Hong Kong City Mall với rừng cờ Vàng biểu dương lực lượng. Các cơ quan truyền thông lớn tại địa phương như tờ Houston Chronicle, Đài 11, Đài 13, v.v. đều có tường trình về sự biểu dương lực lượng này và trình bày nguyện vọng của Cộng Đồng là bao lâu Việt Nam không có tổng tuyển cử và hệ thống dân chủ thì bấy lâu sẽ có phản đối khi một viên chức CSVN đến thành phố này. Cộng Đồng cũng đã đưa ra một tín hiệu rất rõ ràng đó là không chấp nhận một tòa tổng lãnh sự tại nơi này.

Sáng ngày 26/6, ông Nguyễn Tấn Dũng và phái đoàn hơn 100 người tới khu Galeria để gặp gỡ các thương gia Hoa Kỳ. Tháp tùng phái đoàn này có cựu Thủ Tướng VNCH Nguyễn Cao Kỳ. Nhiều người lấy làm xấu hổ trước thái độ của ông Nguyễn Cao Kỳ rất khúm núm trước Nguyễn Tấn Dũng. Hàng năm, Việt Nam mua khoảng 5 triệu Mỹ Kim bông vải sợi tại Texas nên kỳ này rất nhiều nhà trồng bông vải sợi của Hoa Kỳ đến gặp Nguyễn Tấn Dũng. Ông Dũng cũng ký một văn bản đặt mua 10 chiếu máy bay Boeing 737.

Vấn đề thương mại với Houston, năm 2007, nguyên liệu bông vải đã chuyển đi từ cảng Houston về Việt Nam là 1.9 triệu Mỹ Kim và Việt Nam đã chuyển đến cảng này các mặt hàng càfé, trà, bún, nước mắm, gạo, v.v. lên tới 86.7 triệu Mỹ Kim.

Trong khi phái đoàn CSVN gặp gỡ các doanh gia, khoảng 3000 người Việt với rừng cờ Vàng biểu tình ở ngoài hô to các khẩu hiệu đòi hỏi tự do và dân chủ cho Việt Nam. Cộng Đồng nói vọng trên loa bằng tiếng Anh cho người Mỹ biết Việt Nam chưa có dân chủ, và ở trong chế độ luật rừng của Việt Nam thì đầu tư rất là bấp bênh. Tinh thần tranh đấu của đoàn biểu tình rất cao, thành phố phải huy động rất nhiều cảnh sát để bảo vệ an ninh và để phòng hờ lỡ có những bạo động xảy ra.



Khoảng 1 giờ trưa phái đoàn Cộng Sản Việt Nam rời khỏi khu vực Galeria. Lúc đó trời bắt đầu đổ mưa nặng hộ, đoàn biểu tình cũng chấm dứt.

VI. Hệ Quả Của Chuyến Công Du

Sau chuyến công du này của Nguyễn Tấn Dũng, để được những ưu đãi về kinh tế, CSVN phải mở rộng hơn về sinh hoạt nhân quyền và chính trị, trả tự do cho một số nhà bất đồng chính kiến. Có người dự trù nội các của Tổng Thống Bush yêu cầu ĐCSVN xóa bỏ điều 4 cái gọi là Hiến Pháp Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, chấp nhận có tự do tín ngưỡng và báo chí trong nước để chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử dưới sự giám sát của quốc tế. Đây là ảo vọng vì chắc chắn cộng sản không dám cho có tự do báo chí trong nước. Phe thân Hoa Kỳ muốn được Hoa Kỳ ưu đãi thì phải theo những điều kiện trên, phe thân Trung Quốc sẽ chống đối. Dầu có chống đối bao nhiêu đi nữa, dân chủ là khuynh hướng của toàn cầu nên dân chủ cũng sẽ đến với Việt Nam. Hệ quả này đương nhiên không phải một sớm một chiều, nó sẽ tiệm tiến, chậm mà chắc, và nếu cơ trời cho phép có những biến ứng, nó có thể diễn ra trong một tương lai gần.

Lời Kết:

Người Ý có câu châm ngôn: “Không vinh quang nào mà không qua chặng đường đau khổ và khó khăn.” Cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ của dân tộc ta cũng vậy, chắc chắn sẽ có nhiều gian truân và thử thách, chúng ta phải kiên trì, không thể nào ù lì ngồi chờ sung rụng, phải làm hết mình vì không ai thương dân tộc chúng ta bằng chúng ta.

Có người nêu lên ý kiến tại sao biểu tình chống Nguyễn Tấn Dũng khi Hoa Kỳ muốn dùng phe CSVN để ngăn chận ảnh hưởng phe Hán Nguỵ? Xin thưa, Cộng Sản nào cũng là Cộng Sản, biểu tình chống đối là phản đối cơ chế độc đảng. Nếu Nguyễn Tấn Dũng và phe miền Nam có can đảm tuyên bố xóa bỏ điều 4 hiến pháp chấp nhận tổng tuyển cử tự do thì chắc chắn họ không bị biểu tình phản đối mà có lẽ ngược lại họ được sự hoan nghênh của toàn dân.

Houston Texas ngày 27/6/2008

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

CÓ CÒN HƠN KHÔNG!

Huy Phương
Một bà mẹ thường than phiền nhiều lần về việc đau nhức cánh tay với đứa con trai. Một hôm người con trai này bảo với mẹ: “Mẹ hạnh phúc còn có cánh tay để mà đau, có người muốn đau mà không có cánh tay đó mẹ ạ!” Câu nói này thật ra có vẻ bất nhẫn làm phật lòng người mẹ, nhưng ngẫm ra nó chí lý biết chừng nào.

Tôi có một người bạn, anh thường than phiền vì cả hai đứa con gái của anh đều kết hôn với người ngoại quốc, một lấy chồng Mỹ và một lấy chồng Iran. Anh cho đó là điều bất hạnh cay đắng nhất của đời mình, mặc dầu gia đình anh có cơ hội rời đất nước từ tháng 4 năm 1975 và hai đứa con gái của anh đều đỗ đạt có bằng cấp. Một hôm, trong một buổi tiệc cưới con của một người bạn chung, anh và tôi ngồi chung bàn, thấy hai gia đình thông gia Việt Nam vui vẻ trên sân khấu, anh lại chạnh lòng nói đến chuyện con gái anh. Nhân dịp này, tôi nói với anh: “Anh có con sang Mỹ sớm, học hành đến nơi đến chốn, có chồng con vui vẻ hạnh phúc, mà anh còn than phiền, khổ não. Tôi cũng có con gái như anh, nhưng không được may mắn di tản sớm như anh, sau này vượt biển rồi mất tích, như vậy anh có phải là người bất hạnh không? Anh có còn con gái để mà nhìn thấy nó, khuya sớm gặp gỡ, để thương yêu chúng nó. Anh còn than phiền nỗi gì? Anh có muốn đổi lấy hoàn cảnh của tôi không?” Hôm ấy, người bạn tôi yên lặng không nói gì để tranh cãi với tôi, nhưng từ đấy hình như tôi thấy anh không còn bất mãn, than trách về những điều mà anh không còn như ý nữa.

Một người bạn khác của tôi, lúc về già trở thành khó tính, bất mãn với cuộc đời. Mấy năm gần đây vợ chồng anh ít nói chuyện với nhau, tuy vẫn ở chung nhà, ăn cơm chung bàn, ngủ chung giường, nhưng mỗi người như sống trong một thế giới riêng. Gần đây, khi người vợ qua đời, con cái ở xa, người bạn tôi bỗng thấy hụt hẫng với cuộc sống cô đơn, trống vắng trong một ngôi nhà hiu quạnh. Bạn có cảm tưởng như thế nào, sau khi một người bạn ở xa của chúng ta vừa ghé nhà ở lại vài hôm, mới ra đi hôm nay, căn nhà hẳn thấy trống vắng hơn những ngày thường trước kia. Bây giờ với một người vợ đã sống gần hết cuộc đời với anh không còn nữa. Vào lúc này với tuổi già, từ sáng thức giấc đến chiều, cho tới tối lên giường một mình, anh mới thấy tất cả sự mỏi mệt của một kiếp người lẻ loi. Không chịu nỗi sự cô đơn dằn vặt trong một nước Mỹ khá lạnh lùng, đôi khi anh có ý định muốn trở về Việt Nam để sống nốt cuộc đời tàn. Những gì mà trước kia anh thấy dư thừa, không vừa ý giờ đây có muốn tìm lại cũng không bao giờ có.

Chúng ta đang sống trong một cộng đồng người Việt, nơi cách xa nơi chôn nhau cắt rốn của chúng ta nửa vòng trái đất. Ở đây cũng là quê nhà, có người cả năm có khi chẳng hề nói đến một câu nói tiếng bản xứ, mà vẫn sinh hoạt bình thường, làm việc, đi lại. Có những lúc bạn bực mình vì ba cái chuyện “chướng tai gai mắt”, có khi nó là chốn “gió tanh mưa máu”, nhưng thử tưởng tượng một buổi sáng thức dậy, thấy mình đang sống trên đất nước Phi Châu, không một bóng dáng người Việt, không nghe một tiếng nói quê hương, thì nỗi cô đơn, buồn thảm lớn biết bao nhiêu. Bây giờ mỗi buổi sáng, bạn còn nghe được một giọng nữ xướng ngôn viên quen thuộc qua đài phát thanh, kiếm được tờ báo tiếng Việt, còn ghé quán ăn được tô phở nóng... thì hạnh phúc ấy có phải trả giá bằng ba cái chuyện bực mình “đời thường” thì cũng không có gì là đắt. Mà những chuyện bực mình ấy, bạn có quyền không xen vào, có quyền lơ đi, có quyền không “lý” tới thì có sao đâu.

Triết lý bi quan thường nói “hữu thân hữu khổ”, có cái gì khổ cái đó. Có thân khổ theo thân bệnh tật, có vợ khổ theo vợ dại, có con khổ theo con hư, có nhà khổ theo nhà dột (hay tiền trả nhà băng hằng tháng), có xe khổ theo xe hư nằm đường, có việc làm khổ theo việc làm mình căng thẳng... Ôi cuộc đời đáng chán làm sao với ba cái sự khổ ấy, nhưng thật lòng bạn có muốn không có cái gì cả để trở thành một người homeless không. Mà làm kẻ không nhà vẫn còn những cái khổ khác, lần này không khổ vì ba cái “có”, mà khổ nhiều với cái “không”. Khổ vì không có mái che, chăn ấm vì trời lạnh, khổ vì không có cái bỏ vào miệng chiều nay khiến cái bụng quặn thắt, khổ vì không có một cốc bia cho quên đời cô độc.

Chúng ta có thể không vừa ý với những gì chúng ta có trong tay hôm nay, mà số phận đã đưa đẩy tới, một căn nhà chật hẹp, một người vợ khó tính, những đứa con hư hỏng, cả với một chiếc xe hơi cọc cạch mà chúng ta đã mua lầm. Với những người không có một mái ấm gia đình, một chút tài sản ít ỏi trong tay, họ ước ao có những gì mà chúng ta đang sở hữu với sự bất như ý, phiền muộn trong lòng. Đa số con người thường không bằng lòng với những cái có sẵn của mình, nên hay than phiền, bất mãn, mơ ước đến điều này điều nọ. Trong chuyện ngụ ngôn của La Fontaine, có chuyện kể người tiều phu già “than rằng: sung sướng nỗi gì, khắp trong thế giới ai thì khổ hơn”? Sau một ngày vất vả, dừng chân bên vệ đường với bó củi nặng, nghĩ đến tấm thân đau ốm, bữa đói bữa no, vợ con vất vả, nợ nần quanh năm mà than Trời trách Đất, kêu gọi Tử Thần mang lưỡi hái đến đem mình đi cho rồi. Nhưng khi Thần Chết đột ngột hiện ra hỏi lý do gọi tên mình, thì người tiều phu quá sợ hãi bèn nói khác đi, chỉ xin nhờ Thần Chết đỡ hộ bó củi lên vai. Cho nên dù có một cuộc sống khổ sở, nhọc nhằn cũng còn hơn là chối bỏ cuộc sống. Và dù than trách cuộc đời bất như ý, cũng không ai muốn xa lánh cuộc trần tục này.

“Mẹ còn hạnh phúc có một cánh tay mà đau...”, tôi nghĩ câu nói thẳng thắn này có thể không làm phật lòng người mẹ cũng như rất nhiều người thường than phiền về những cái mình có. Quả thật nhiều người tàn tật, không có tay, không có cả chân mà cũng không có cả đôi mắt nữa, họ có muốn nhìn thấy cuộc đời xấu xa, ô trọc này, dù chỉ trong giây lát thôi, cũng không bao giờ thực hiện được.


Huy Phương

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image


Phỏng Vấn Nhà Văn Võ Phiến
Nghệ Thuật Tính Trong Thơ Văn Gọi Là Văn Chương Tính


Lê Quỳnh Mai
Võ Phiến: Sinh năm 1925 tại Bình Định.
Tên thật: Đoàn Thế Cẩn. Sau 1934 đổi thành Đoàn Thế Nhơn.
Công chức, viết văn, viết báo (tại Việt Nam và hải ngoại).
Định cư tại Hoa Kỳ năm 1975.
Tiếp tục làm công chức ở Los Angeles cho đến lúc về hưu vào tháng Bảy năm 1994.
Chủ trương Nhà Xuất Bản Thời Mới. Cộng tác với các báo Bách Khoa, Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn Học, Văn, Khởi Hành v.v..
Trên 40 tác phẩm đã xuất bản từ Chữ Tình (1956) đến Văn Học Miền Nam (1999).


1.
Cả một đời thiết tha với văn chương, ông có nghĩ như William Faulkner(1), rằng "Nghệ sĩ là người bị ma quỷ xúi giục"? (2)

William Faulkner là một tài năng lỗi lạc, đã đạt thành công lớn lao. Ông có cá tính mạnh mẽ, có quan niệm nghệ thuật độc đáo, và không ngại lời lẽ cực đoan. Còn mình - tôi nghĩ - mình chỉ là kẻ tầm thường, chẳng qua thấy người ta viết nên truyện hay thơ hay, thì mình đọc, rồi ham, rồi bị lôi cuốn mà liều lĩnh viết theo. Vớ vẩn vậy thôi. Thường tình thôi. Nếu có sự "xúi giục", thì chính những cái hay cái đẹp của thiên hạ xúi mình, không có ma quỷ nào.

2.
Herman Melville (3) phải đợi gần nửa thế kỷ sau khi mất mới nổi tiếng qua tác phẩm Moby Dick. Stendhal (4) chỉ bán được ba cuốn Le Rouge et Le Noir khi mới xuất bản. Còn ông từ thập niên 50 đến nay đã được độc giả ái mộ và giới phê bình đánh giá cao. Ông thấy mình có may mắn hay không?

Nói tới sự may mắn, chắc chị còn nhớ tới Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng. Nếu tôi có được một số độc giả chú ý, chẳng qua cũng như anh chàng Xuân Tóc Đỏ trong truyện ấy thôi.

3.
Trước 1975 nhà phê bình Đặng Tiến viết: "Võ Phiến là một nhân chứng thời đại, muốn chế riễu cả thời đại lẫn vai trò nhân chứng của mình, chế riễu bằng một nụ cười lặng lẽ. Và bên kia nụ cười, cuộc đời không còn gì nữa cả." Lời phê bình đó từ sau 1975 đến nay có còn đúng không?

Ông Đặng Tiến hiểu biết rộng, nhận định sâu sắc; nếu có dịp chúng ta nên đặt câu hỏi vừa rồi với ông Đặng Tiến để ông giải đáp thì thích hợp nhất. Mình mà tự tiện suy nghĩ về mình thường khi sai lầm: thiên hạ người ta cười cho.

4.
Trong bài phê bình về Nguyễn Mộng Giác (5), ông thú nhận "không tránh khỏi cám dỗ là luôn nhắc về quê hương Bình Định". Thưa ông nguyên nhân chính có phải là nỗi sợ hãi cô đơn như ông viết hay không "con người rất sợ cái lạ. Không gì kinh hãi bằng bị nhích ra khỏi chỗ quen thuộc. Tư bề đều dưng" (6).

Chị nói đúng: cô đơn đáng sợ hãi lắm. Nhưng dù sợ cô đơn hay không sợ, người địa phương nào vẫn thích nói về địa phương nấy. Người Huế nhớ Huế, người Hà Nội nhớ Hà Nội, người Quảng nhớ Quảng, người Vĩnh Long Cần Thơ nhớ Vĩnh Long Cần Thơ.. . Ai nấy nhớ và nói mê tơi về quê mình. Người Bình Định cũng vậy đó. Hàng năm cứ đến ngày họp hội ái hữu đồng hương thì dù ở xa xôi cũng kéo về họp, nghe giọng nói quen ăn món ăn quen là sung sướng rồi.

Nguyễn Mộng Giác với tôi là người cùng tỉnh. Bài phê bình chị vừa nhắc đến, nguyên là bài tựa viết cho cuốn truyện ngắn của Nguyễn Mộng Giác, cuốn Ngựa Nản Chân Bon. Gặp một tác giả đồng tỉnh là một niềm vui mừng, lại phát giác ra ở tâm hồn tác giả nọ một số đặc điểm địa phương đã làm nên cái đẹp của tác phẩm thì lý thú biết bao! Làm sao cầm lòng được? Phải nói về Bình Định chứ chị!

5.
Tại sao Tùy Bút (7) của ông lại chọn đúng tên một tác phẩm của John Steinbeck(8 ): Của Chuột và Người?

Tác phẩm của John Steinbeck mà chị vừa nói, nhan đề của nó lấy từ mấy chữ trong một câu thơ của Robert Burns, một thi sĩ Tô Cách Lan (Scotland) hồi hậu bán thế kỷ thứ XVIII. Bài "To a mouse" của ông là một bài thơ danh tiếng viết dưới dạng lời nói với con chuột mà một đường cày vừa làm bật vỡ cái hang. Bài thơ có câu đại khái đề cập tới sự tan vỡ niềm ước mơ đẹp đẽ nhất của chuột và người. Đó cũng là điều đã xảy đến trong cuốn truyện của Steinbeck. Hai người bạn nghèo cặp kè đi làm công, một kẻ mơ ước dành dụm đủ tiền để sống thảnh thơi và nuôi một con thú nhỏ làm bạn, ngày ngày ve vuốt bộ lông mượt mà của nó. Kẻ ngây ngô chỉ mơ được chừng ấy hạnh phúc. Nhưng một hôm anh chàng khờ khạo mà quá vạm vỡ này lỡ tay gây nên cái chết của một cô gái. Giấc mộng tan tành. Steinbeck mượn mấy chữ trong câu thơ của Burns để nhắc đến sự trùng hợp nọ: trùng hợp ở cảnh vỡ mộng tức tưởi.

Bài tùy bút của tôi viết nhân một chuyến đi Gia Nghĩa. Lúc bấy giờ là đầu thập kỷ 70. Một số bạn sống tại địa phương đã kể cho tôi nghe đôi điều buồn bã. Kể rằng Gia Nghĩa hồi đệ nhất cộng hòa đã được dự tính xây dựng thành một trung tâm du lịch thứ nhì ở Cao nguyên. Đà Lạt là nhất, là trung tâm dành cho giới du lịch ngoại quốc, tư bản, giàu sang; Gia Nghĩa sẽ là trung tâm hợp với khả năng tài chánh của du khách trung lưu như công tư chức chẳng hạn. Bấy giờ số người kéo đến sinh sống tại Gia Nghĩa có đến 52 nghìn. Sau biến cố chính trị cuối năm 1963 tình hình an ninh suy đồi dần. Hai năm sau, dân số Gia Nghĩa chỉ còn 28 nghìn người. Giấc mộng trung tâm du lịch Gia Nghĩa thành mây khói! Như vậy, ở Gia Nghĩa bấy giờ tôi lại gặp một trường hợp tan vỡ giấc mơ nữa. Nhân sự gặp nhau ở ý nghĩa vỡ mộng trong bài viết của mình và tác phẩm của J. Steinbeck, tôi noi theo Steinbeck: là khi đặt nhan đề tôi mượn bốn chữ nọ để nhắc lại ý thơ ngộ nghĩnh của Burns. Là dùng chút điển tích cho vui thôi.

6.
Nguyễn Hưng Quốc thấy ông chịu ảnh hưởng của Đào Duy Anh, André Maurois(9) . Bùi Vĩnh Phúc so sánh ông với Lâm Ngữ Đường(10). Nhiều ảnh hưởng đã tạo nên văn phong độc đáo của ông. Nhưng nhà văn Võ Phiến đã dí dỏm nói rằng "Nghề văn do trời cấp lai-xăng. Số mệnh cả!"(11) Ông có thấy trời bất công khi cấp cho mỗi người một số mệnh hay không?

Nếu câu nói của chị có thể hiểu rằng những ai không được Trời cấp lai-xăng hành nghề văn chương sẽ trách móc ông Trời, thì oan cho Trời lắm. Ở nước ta, xưa nay trong giới văn thơ mà có được sự nghiệp lẫy lừng nhất chắc phải kể tên Nguyễn Du. Vậy mà Nguyễn Du chỉ mong sao sau khi mình chết, trong thiên hạ có được một kẻ khóc mình. Như vậy rõ ràng hành nghề văn thơ có sung sướng gì đâu? Viết lách khi sống đã gian nan đáng thương, khi chết lại đáng khóc. Thế thì khỏi được cái số mệnh văn chương là nhất không nên oán Trời trách Đất.

Và khi không thoát khỏi, khi đã trót vương vào nghiệp viết lách thì mong sao viết đừng dở quá. Đã trót viết lách thì bớt dở chừng nào tốt chừng nấy. Do đó đối với bất cứ các vị nào đã có công dạy bảo mình, ảnh hưởng đến mình, để mình tránh bớt cái xấu cái dở, tôi đều biết ơn sâu xa.

7.
"Trong vòng 20 năm, người độc giả miền Nam lặng lẽ chuyển hóa từ nam ra nữ và họ còn bị trụt tuổi nữa"(12) . Ông có thể nói thêm về phái tính và tuổi tác của độc giả hiện nay?

Chị vừa nêu ra một vấn đề thú vị. Nhưng vì tôi không có dịp tìm hiểu kỹ về nền văn học đương đại hoặc trong nước hoặc ngoài nước, cho nên không có những hiểu biết rõ ràng để trình bày. Căn cứ trên đôi điều nghe thấy trong giới hoạt động về sách báo hải ngoại, chỉ xin gợi ra vài suy đoán:

Một số tiệm sách cho biết rằng bán chạy nhất hồi gần đây là các loại tác phẩm về chính trị và về tôn giáo. Thiết tưởng hai món ấy dù không phải thuộc độc quyền của đàn ông thì cũng không phải món sở trường của nữ giới.

Lại nghe một số trong các vị trong giới xuất bản phàn nàn rằng in sách mỗi ngày mỗi đắt, mà độc giả bây giờ đòi cỡ chữ trang sách phải lớn thêm. Thiết tưởng mắt thích cỡ chữ lớn mới đọc nổi không phải là đặc trưng của tuổi trẻ.

Vậy chuyển hóa tính phái và trụt thấp tuổi tác e không phải là chuyện xảy ra trong lúc này.

8.
Ông viết trong Tạp Bút(13): "Tiểu thuyết Tàu, Pháp, Nga, Mỹ, Nhật đều có bản sắc riêng. Một bản sắc riêng biệt như thế, thế hệ tiểu thuyết gia ngày nay còn đang sáng tạo cho Việt Nam.." Sau 26 năm ông thấy tiểu thuyết Việt Nam đã có bản sắc riêng hay chưa?

Đến nay, tiểu thuyết Việt Nam đã có ngót trăm năm lịch sử, hoặc đậm hoặc nhạt chắc hẳn đã có bản sắc riêng. Bản sắc như thế nào, điều ấy không đơn giản, không tiện nói qua loa trong đôi câu. Nhưng hiển nhiên là người viết tiểu thuyết Việt Nam ngày nay không bắt đầu như cụ Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bá Học. Thậm chí cũng không bước những bước đầu tiên như Nhất Linh khi viết Hồng Nương hay Người Quay Tơ. Trong kho tàng tiểu thuyết Việt ngữ đã khá đồ sộ, người tiểu thuyết gia trẻ tuổi của chúng ta bây giờ ngoài việc có thể rút được những kinh nghiệm bổ ích, có lẽ lại còn có thể tìm thấy một bầu không khí thích hợp quen thuộc giúp mình tự phát huy bản sắc dễ dàng và mạnh dạn hơn các lớp tiền bối.

9.
Cũng trong Tạp Bút(14) ông nhận xét "Một số sự việc xảy ra cho thấy như thể là ngoài các người văn nghệ ra không còn mấy ai đọc tác phẩm văn nghệ nữa, và ngoài các người văn nghệ ra cũng không mấy ai buồn chú ý đến văn nghệ nữa." Lời nhận xét của ông có đúng cho tình trạng hiện nay tại hải ngoại hay không?

Như chị đã nhận thấy, là bài tạp bút vừa nêu ra được viết vào tháng Mười Một năm 1974: Chỉ còn năm tháng nữa thì miền Nam Việt Nam sụp đổ. Trong hoàn cảnh ấy sự sống còn của bản thân, sự tồn tại của chế độ, cái tự do của mọi người đang bị đe dọa trầm trọng. Thái độ của người trong nước bấy giờ đối với tác phẩm văn nghệ có mất hẳn quan tâm cũng dễ hiểu thôi.

Ở hải ngoại hiện nay, chúng ta gặp một hoàn cảnh khác. Quần chúng văn nghệ cũng không mấy đông đảo, nhưng lý do không phải là vì tình hình khẩn trương nữa, mà có thể chỉ vì lớp người ra đi từ những thập niên 70 - 80 thì tuổi đã cao, có kẻ quá cao, hay đã qua đời; còn lớp trẻ lớn lên ở ngoài nước thì vốn hiểu biết Việt ngữ chưa đủ để tham dự vào sinh hoạt văn nghệ.

Cũng có thể có những yếu tố khác nữa ảnh hưởng đến văn học hải ngoại mà tôi chưa có dịp suy nghĩ kỹ càng, không tiện phát biểu phiêu lưu.

10.
"Truyền thông và thương mãi tung rộng tác phẩm văn nghệ ra quần chúng bằng một cái đà rất mạnh mẽ nhưng đồng thời cũng hạ thấp nó xuống, tạo ra một thứ văn chương không phải là văn chương. Lấy gì làm dấu hiệu nhận ra cái văn chương tính của một công trình xây dựng bằng ngôn ngữ?" Xin ông cho biết dấu hiệu nào giúp ta nhận ra văn chương tính của một công trình xây dựng baằng ngôn ngữ.

Một công trình xây dựng bằng ngôn ngữ, thế nào là có văn chương tính, thế nào là không? Đẹp đến mức nào thì gọi là có nghệ thuật, dưới mức nào thì chưa? Có lẽ chúng ta không nên lạc vào những lý luận dông dài xa xôi. Nên nói chuyện với nhau về những điều cụ thể gần gũi. Những người tù ở các trại lao công cưỡng bách phải làm việc nặng nề và ăn uống thiếu thốn, nên khao khát chất ngọt, đối với họ một tán đường đen là quý báu; tán đường quý lắm, nhưng nói về tính "nghệ thuật" thì nó không bằng chiếc bánh trung thu trong dịp thưởng trăng. Cũng như ở gáo nước lạnh trong buổi trưa hè, tính nghệ thuật thấp hơn ở chén trà Long Tĩnh mỗi sớm tinh sương. Cũng như ở cà phê bít tất trong ly nhựa, tính nghệ thuật thấp hơn ở các loại cà phê gourmet, Starbucks, Pasqua...

Cái nghệ thuật tính trong thơ văn gọi là văn chương tính. Đại khái thì ở những bài vè lưu hành rộng rãi đó đây không có văn chương cao bằng ở Truyện Kiều xứ ta hay truyện Thủy Hử bên Tàu chẳng hạn.

Vừa rồi có nói tới mấy chữ "lưu hành rộng rãi" nhiều bài vè được lưu hành rộng rãi trong dân gian; và Kiều cũng là một tác phẩm lưu hành rộng rãi khắp dân gian. Vậy thì tầm phổ cập không làm suy giảm tính văn chương. Không cần phải lo rằng viết mà không được quần chúng yêu thích là viết không cao tài không lớn.

Mặt khác, sự trau chuốt, cầu kỳ quá đáng, mài dũa thận trọng quá đáng cũng không làm tăng tính nghệ thuật. Trở lại trường hợp nhà văn từng bị "ma quỷ" giục giã: William Faulkner ngã một chiếc xe cút kít xuống làm bàn viết, gần một cái máy phát điện kêu ình ịch liên lỉ, mỗi tối ông viết từ nửa đêm đến bốn giờ sáng, viết xong cả cuốn Trong Khi Tôi Hấp Hối (As I lay dying) một mạch sáu tuần lễ không sửa chữa gì. Cuốn truyện viết phăng phăng ào ào như thế thành một tuyệt phẩm; ở Mỹ sách đã được hoan nghênh, bản dịch ra Pháp ngữ lại được các tác giả lừng danh lỗi lạc tán thưởng nhiệt liệt. Bài thơ miệt mài trong bao nhiêu năm của thi sĩ Giả Đảo không hẵn được đánh giá cao hơn. Vậy viết kỹ hay viết "dối" cũng không hẳn đã có ảnh hưởng quyết định đến văn chương tính.

Một tác phẩm là nghệ thuật hay phi nghệ thuật, tính cách của nó có ngay từ khi được quan niệm, chứ không phải trong thể thức thực hiện. Nếu ta quan niệm một tác phẩm nghệ thuật và thực hiện thành công thì tác phẩm có văn chương tính; mặt khác nếu sách được quan niệm trong đầu với chủ tâm thương mãi, nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí, nhu cầu tò mò táy máy, hay bất cứ thứ nhu cầu nhảm nhí nào khác của độc giả thì nó rất hiếm tính văn chương.

Tác phẩm nghệ thuật, trong quan niệm đã không nhằm mục đích thương mãi, cho nên khi ra đời có thể nó được đón tiếp rộng rãi, mà cũng có thể bị quần chúng bỏ rơi. Nhưng dù bán mạnh hay bán yếu, sách hay vẫn là sách hay, vẫn là một thành công. Cuốn Trong Khi Tôi Hấp Hối của William Faulkner bản Pháp văn bán mười năm không tới tám nghìn bản, bán ba mươi năm chưa tới mười hai nghìn bản. Mặc kệ, danh tiếng của nó cứ vang lừng.

11.
"Sự mất mát trong văn học lớn lao đến nỗi một nữ sĩ nổi tiếng như Hồ Xuân Hương mà chỉ không đầy hai thế kỷ sau đã mất gần hết dấu vết..."(15). Nhưng gần đây, Hoàng Xuân Hãn và Phạm Trọng Chánh(16) đã phát hiện những điều lý thú và mới nhất về Hồ Xuân Hương. Ông có ý kiến gì?

Đặt ra câu hỏi "Hồ Xuân Hương nàng là ai?" tức là đã xác nhận tính cách mơ hồ của tung tích Hồ Xuân Hương. Trong vòng đôi ba chục năm gần đây đã có những tìm tòi tích cực, có kết quả tốt. Cụ Hoàng Xuân Hãn phát giác được nhiều điều quan trọng về Hồ Xuân Hương. Ở Mỹ, ông Nguyễn Ngọc Bích mới đây có bộ sách hai cuốn rất công phu. Chúng ta hi vọng người nữ sĩ tài hoa độc đáo này sẽ dần dần hiện ra rõ nét thêm.

12.
Phần lớn tác phẩm của ông đều viết rằng con người thật nhỏ bé xoàng xỉnh thảm hại và bơ vơ. Như thế thì cuộc sống có ý nghĩa gì không hay "không chừng là cái chơi thôi"(17)

Hết thiên niên kỷ này đến thiên niên kỷ khác, bao nhiêu bậc cao minh của nhân loại đã suy ngẫm về ý nghĩa của cuộc sống và chưa tìm được câu giải đáp. Hình như chưa có ai nẩy ra cái ý trao cho chúng ta trách nhiệm giải đáp thắc mắc lớn lao ấy. Nói rằng đời sống là cái chơi của ông Trời, đó chẳng qua cũng là một cách nói chơi thôi.

Gần đây triết gia Jean Francois Revel và người con tu sĩ của ông đã thảo luận với nhau đến nơi đến chốn về vấn đề này. Đức Đạt Lai Lạt Ma theo dõi và phát biểu: "Điều thực sự quan trọng không phải là đời sống có ý nghĩa hay không, mà là chúng ta có tạo được ý nghĩa cho đời sống của mình hay không."

Vậy đời sống có hay không có ý nghĩa, mặc nó. Ta nói chơi thôi, rồi cũng nên bỏ qua. Hãy để thì giờ ra sức tạo một ý nghĩa, cho đời sống nó... mừng!

13.
Nhà văn Võ Phiến đã kể lại rất cảm động buổi gặp gỡ cuối cùng giữa ông và học giả Nguyễn Hiến Lê: "Khuôn mặt đẫm lệ của ông hôm ấy in sâu trong trí tôi như hình ảnh bi thương của giới cầm bút miền Nam lúc bấy giơ.?#34;(18 ) Đó là kỷ niệm buồn. Còn kỷ niệm nào vui nhất trong đời viết văn của ông?

Kỷ niệm vui nhất trong đời văn của tôi xảy ra ngót đã sáu mươi năm. Đó là dịp lần đầu tiên tôi thấy bài mình viết được đăng lên báo.

Mở bài báo ra, trông thấy trước mắt bài viết của mình xuất hiện dưới dạng chữ in, thật là bỡ ngỡ, lạ lùng, ngạc nhiên. Chuyện không tưởng tượng nỗi. Mình cảm thấy tự dưng biến thành một kẻ khác. Không đến nỗi như con các hóa long, nhưng có thể như là một con cá bỗng hóa ra con nhái. Tức là một sinh vật sống dưới nước đột biến thành một sinh vật thuộc loài lưỡng thê, nhảy lên đất.

Sau biến cố động trời ấy, mình viết mãi viết mãi vẫn không biến hóa thêm thành một loài gì khác. Nhái bén vẫn cứ nguyên là nhái bén. Không có gì vui thêm.

14.
Ông đã viết câu kết rằng "Lần trước, Vũ Anh Khanh (bài thơ Tha La Xóm Đạo) mang giấc mơ ra Bắc, mở mắt tỉnh giấc hối hận quay về, chết trên dòng sông Bến Hải. Lần này không còn đâu là đất trở về nữa, dù chỉ về để chết"(19). Sau hơn một phần tư thế kỷ trên đất khách nhà văn Võ Phiến có còn mong trở về nữa hay không?

Chuyện về nước, tôi không mong mỏi nữa.

Về nước vào lúc này để cam chịu khuất phục dưới chế độ độc tài, không vui gì. Để góp tay cải thiện hoàn cảnh, tôi không nghĩ mình có đủ khả năng, còn đủ sức lực góp tay hữu ích. Còn như về để chết, thì... tưởng không cần thiết. Ở đâu, chết cũng "tiện" cả !

(1) William Faulkner Nobel 1949.
(2) Tiểu Luận của Võ Phiến, tr 122
(3) Herman Melville (1819-1891)
(4) Stendhal (1783-1842)
(5) Văn Học Miền Nam, tr. 1077
(6) Cảm Nhận, tr. 184
(7) Tùy Bút, tr 289
(8 ) Giải Nobel 1962
(9) Nguyễn Hưng Quốc - Võ Phiến, tr 19, 43
(10) Bùi Vĩnh Phúc, Lý Luận và Phê Bình, tr 134
(11) Cảm Nhận, tr 27
(12) Văn Học Miền Nam - Tổng Quan, tr 84, 85
(13) Tháng 3/74, tr 244
(14) Tháng 11/74, tr 169
(15) Văn Học Miền Nam - Tổng Quan, tr 21
(16) Hồ Xuân Hương - Nàng là ai?
(17) Thế kỷ 21, số 75, tr 57
(18 ) Trả lời phỏng vấn của Đào Huy Đán tháng 3/88
(19) Văn Học Miền Nam - Tổng Quan, tr 322

Lê Quỳnh Mai

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Nhớ về Nhất Linh

Nguyễn Hữu Phiếm
Người ta đã viết và nói nhiều về Nhất Linh trong khi anh còn sinh thời cũng như sau khi anh mất.

Viết hoặc tổ chức những buổi nói chuyện để đề cao một chiến sĩ cách mạng quốc gia đã noi gương Thượng toạ Thích Quảng Đức, tự huỷ mình để chống lại một chế độ bạo tàn, để "cảnh tình những con người ác, làm đèn soi sáng nẻo vô minh", hoặc để đề cao một văn hào lỗi lạc, "một ngôi sao Bắc đẩu trong nền văn hoá Việt Nam", suốt đời chỉ biết phụng sự văn hoá, vì theo Nhất Linh, chỉ có văn mới làm cho đời người đẹp hơn và đáng sống mà thôi.

Cũng có khi viết hay nói về Nhất Linh cốt để tự đề cao mình lên, và theo tôi, cái đó cũng không lấy gì làm lạ, vì như văn hào Duhamel đã viết: "Khi một người có danh tiếng nằm xuống thì có biết bao nhiêu người tự nhận là bạn thân của người đó xuất hiện".

Nói cho đúng ra, Nhất Linh có rất nhiều bạn – ngoài một số đông độc giả mến tài anh qua những tác phẩm của anh – vì ai đã gặp anh không thể không quý anh được. Nhưng trong mấy năm gần đây, nhất là từ sau ngày đảo chính hụt 1-11-1960, anh bị chính quyền Ngô Đình Diệm lùng bắt, nhiều người xa lánh anh, cũng như anh, không muốn cho ai vì mình mà phải liên luỵ, cũng chỉ lui tới nhà một thiểu số bạn, rất thân của anh, trong đó có kẻ viết bài này.

Có người cho rằng, dù cho có giao du với Nhất Linh thì đã sao, nhất là trong trường hợp tôi, vốn quen biết anh từ lâu, lại là thầy thuốc của gia đình anh nữa; nhưng theo tôi, phải sống dưới chế độ độc tài, như chế độ họ Ngô, mới thấy rằng người dân không có quyền gì hết đã đành, lại không có cả cái quyền chơi với bạn nữa, nhất là khi người bạn đó lại đứng về phe đối lập như Nhất Linh. Nếu không tất sẽ bị khủng bố, và nếu là một công chức, sẽ bị sa thải, "nồi cơm sẽ bị bể" như ta nói. Điều bi đát này, chính tôi đã được tai nghe một cựu công chức cao cấp của Ngô triều thuật lại.

Ở đây, tôi chỉ ghi những gì tôi biết về Nhất Linh trong những giờ phút cuối cùng của anh. Trước hết, tôi dám quả quyết là Nhất Linh đã sắp đặt, ít nhất là một tuần lễ trước, cái chết của mình. Bằng cớ là ngày 30-6-1963, anh tới dự buổi họp của Trung tâm Văn Bút mà trước đó anh là chủ tịch, không phải vì văn hoá, mà chỉ cốt để gặp mặt một lần chót các văn hữu của anh trước khi bước sang bên kia thế giới.

Riêng một cử chỉ, "mối tình chân thành" đó cũng đủ cho chúng ta quý mến Nhất Linh rồi.

Ở Trung tâm Văn bút ra, Nhất Linh có ghé lại thăm tôi, nhưng tiếc rằng hôm ấy tôi đi vắng.

Chủ nhật sau, nhằm ngày 7-7-1963, Nhất Linh lại tới vào buổi sáng hồi 10 giờ. Tôi đang ngồi trong phòng ăn bỗng anh lặng lẽ đi vào. Vẫn con người dong dỏng cao ấy, vẫn vầng trán rộng và thông minh ấy, với đôi mắt tuy tinh anh, sáng quắc nhưng đượm một vẻ buồn khó tả. Phải chăng, tôi nghĩ bụng, anh buồn vì ngày mai anh sẽ phải ra toà để toà xử về vụ đảo chính ngày 11-11-1960?

Anh mặc rất đơn giản, không khác gì mọi bận anh lại thăm tôi: sơ-mi trắng dài tay, hở cổ, quần tây màu xanh thẳm, và chân đi giày – vẫn đôi giày duy nhất ấy – cũ kỹ đến nỗi không nhận được ra màu gì nữa. Nhất Linh lười mặc lẫn lười ăn, lười uống… thuốc; trái lại, anh rất chăm làm việc, nhất là chăm đọc, chăm viết. Chả thế mà chỉ trong có ba tháng trời, trong khi anh lẩn trốn, mà anh còn viết, viết một mạch xong ba cuốn Dòng sông Thanh Thuỷ, rồi lại vẽ, lại sửa bản thảo trước khi đưa in…

Cho hay, khi đời sống nội tâm của con người ta dồi dào, phong phú thì tất cả những gì thuộc về ngoại vật, đều không đáng kể. Đó là trường hợp của Nhất Linh.

Như trên vừa nói, Nhất Linh lại thăm tôi vào buổi sáng hôm 7-7-1963. Anh giơ tay bắt tôi. Chúng tôi im lặng nhìn nhau. Tôi đợi anh ngồi xuống ghế mới cất tiếng hỏi thăm về sức khoẻ của anh. Anh khẽ gật đầu, và hai mắt chớp chớp như mọi bận.

Tôi ngập ngừng đề cập tới việc hôm sau anh ra toà thì anh lạnh lùng nói:
"Ông Diệm đã bảo xếp việc này đi rồi không hiểu tại sao lại còn moi ra."

Tôi nói để cho anh yên lòng:
"Chắc chỉ để khủng bố tinh thần các anh mà thôi."

Rồi tôi nói một câu tiếng Pháp: "Leurs jours sont comptés" (Ngày tàn của chúng cũng đến nơi rồi).

Vợ tôi đứng gần đấy hỏi anh:
"Mai ra toà anh sẽ khai ra sao?"
"Chị cứ yên trí, anh đáp, tôi sẽ không nói gì hết, y như ông giáo sư ở trong phim Jugement à Nuremberg khi ra toà ấy."
"Không sao đâu, chiều mai chúng tôi sẽ xuống thăm anh."
"Anh chị lại không gặp tôi đâu."

Thú thật, khi nghe Nhất Linh nói câu đó, với một giọng bình thản vô cùng, tôi chỉ có thể đoán được rằng, có lẽ hơn ai hết, anh biết rõ tội trạng (!) của anh, yên trí sau phiên toà anh sẽ bị kết án, chứ tôi không ngờ rằng anh nói với ẩn ý là anh sẽ quyên sinh, không chịu để cho toà xử.

Đang lúc tôi còn phân vân không biết nói gì với anh thì vợ tôi nói:
"Dẫu có thế nào thì chúng tôi vẫn luôn nhớ tới anh, vẫn coi anh như người anh cả."

Câu chuyện giữa anh và vợ chồng tôi, đáng lẽ còn kéo dài, nhưng thấy tôi có khách, anh vội đứng lên và nói rất nhỏ nhẻ:
"Tôi đến để từ biệt anh chị."

Khi ấy vào khoảng 11 giờ. Chúng tôi tiễn anh ra cửa, và hai chúng tôi còn đứng trên vỉa hè để đợi tắc-xi trên 10 phút, lặng lẽ cầm tay nhau, không ai nói với ai một câu, mỗi người có một ý nghĩ riêng, mỗi người có một mối buồn cành cánh bên lòng. Nhưng thú thật là khi ấy, tuyệt nhiên trên nét mặt của Nhất Linh, tôi không hề nhận thấy một dấu hiệu nhỏ nào cho biết chỉ trong vài tiếng đồng hồ nữa, anh sẽ xa lánh cõi trần, xa tất cả mọi người thân yêu của anh để đi vào lịch sử.

Tôi có thể nói tôi là người bạn cuối cùng mà anh đã hạ cố lại thăm trước khi mất.

Ngay buổi chiều hôm ấy – vào khoảng 5 giờ – chúng tôi, có lẽ do linh tính thì phải, dang bàn nhau xuống An Đông thăm anh, bỗng có anh bạn của Nhất Linh và của tôi, anh K. xồng xộc chạy vào, với nét mặt hớt hải. Tôi đoán là có việc chẳng lành đã xảy ra cho anh Tam. Quả nhiên, anh bạn đó tới để báo tin anh Nhất Linh đã quyên sinh và hiện đang mê man, anh yêu cầu tôi xuống gấp.

Mười phút sau thì chúng tôi tới An Đông. Gặp chị Nhất Linh ở dưới nhà, tôi không kịp chào hỏi, cứ cắm đầu chạy thẳng lên thang.

Thoáng nhìn nét mặt và nghe hơi thở của anh, rồi bắt mạch, tôi biết ngay là anh đã quyên sinh với thuốc ngủ, mặc dầu lục lọi chung quanh chỗ anh nằm không tìm thấy một viên hay một ống thuốc nào. Khi người ta đã cố tình tự vẫn thì không khi nào để lại một vết tích gì và không chết bằng cách này thì cũng chết bằng cách khác, đó là cảm nghĩ của tôi khi đứng trước Nhất Linh.

Tuy nhiên tôi vẫn phải làm phận sự của người thầy thuốc, vẫn phải chích cho anh một mũi thuốc hồi sinh, rồi cấp giấy giới thiệu với Bệnh viện Grall để anh được vào nằm điều trị.

15 phút sau tôi cũng tới bệnh viện, vừa lúc bác sĩ thường trực đến. Chúng tôi thảo luận với nhau một hồi về bệnh tình, có vẻ trầm trọng của bạn tôi.

Đồng nghiệp của tôi lắc đầu thất vọng, và nói: "C'est foutu!".

Ông ta toan cho đưa anh xuống "Nhà xác", nhưng thấy tôi khẩn khoản quá ông đành ưng thuận cho lên nằm trên phòng bệnh để "còn nước còn tát".

Mặc dầu có bao sự tận tâm săn sóc, Nhất Linh cũng trút hơi thở cuối cùng trong đêm hôm đó. Anh đã được toại nguyện, đã được chết ngày 7-7-1963 là ngày "song thất" của kẻ đã phản dân hại nước.

Trong suốt thời gian nằm trong bệnh viện, anh vẫn mê man không lúc nào tỉnh cả.

Tâm trạng của tôi, vừa là bạn, vừa là thầy thuốc của anh, tối hôm đó, thật rối bời bời, và vô cùng phức tạp. Một mặt, tôi cầu chúc cho anh được tai qua nạn khỏi, mặt khác, lại lo ngại, lo ngại lỡ ra anh sống, biết đâu mình chả đắc tội với anh vì đã làm trái với chí nguyện của anh chỉ mong được chết để chống lại những kẻ "chà đạp lên mọi thứ tự do".

Nào chỉ có những ý nghĩ vẩn vơ ấy mà thôi! Trong khi anh mê man, nằm thoi thóp trên giường bệnh, chúng tôi – mấy con anh Nhất Linh và một anh bạn – bàn tính với nhau để giấu tờ di chúc chính trị do chính tay Nhất Linh viết làm hai bản, rồi trao cho phóng viên của hai tờ tuần báo Time và Newsweek, theo lời trối trăng của anh.

Tôi còn nhớ mãi cuộc thảo luận tối hôm đó ở ngoài hành lang bệnh viện, đối diện với gian buồng bệnh của anh, chung quanh bản di chúc quan trọng đó. Chúng tôi nhất định không để lọt mảnh giấy học trò kia vào tay nhà chức trách. Tôi căn dặn mọi người là nếu họ có hỏi tra thì chỉ đưa ra hai tờ di chúc: một gửi cho bạn bè thân thuộc, và một gửi cho chị Nhất Linh.

Trong tờ di chúc thứ nhất vẻn vẹn có mỗi một dòng:
Vĩnh biệt tất cả mọi người thân yêu.

Tờ di chúc thứ hai, gửi cho chị Nhất Linh, cũng chỉ vắn tắt hai dòng:
Mình,
Mối tình của đôi ta đẹp đẽ lắm rồi. Mình không còn mong muốn gì hơn nữa.

Ở đây tôi thấy cần ghi là chính bà Nhất Linh cũng không rõ nội dung của tờ di chúc chồng gửi cho mình, vì sau khi được tin Nhất Linh từ trần, nhà chức trách đã tịch thâu hết các giấy tờ – trừ bản di chúc chính trị nói trên – và không chịu trả cho thân nhân anh. Cho đến mãi hai tháng sau ngày đảo chính 1-11-1963 mới đòi lại được.

Cũng trong cái đêm lịch sử ấy, chúng tôi bàn nhau để loan tin Nhất Linh tự vẫn cho các bạn đồng chí của anh, hôm sau phải ra toà, ngõ hầu gây một xúc động lớn tại toà án.

Quả nhiên sáng hôm sau 8-7-1963, tin Nhất Linh tự huỷ mình để chống lại chính quyền lan đi rất mau khác nào một vệt thuốc súng, khiến cho dư luận các giới, nhất là giới trí thức, sinh viên, xôn xao, bàn tán, và ngay cả chính quyền cũng phải sửng sốt hoang mang.

Bản án của Nhất Linh đương nhiên bị huỷ bỏ, còn đối với các chính trị phạm sắp bị xử, toà có một thái độ bất ngờ. Đáng khen, theo lời tường thuật của một ông bạn tôi cũng bị đưa ra xử hôm đó, là cử chỉ can đảm của ông Phan Khắc Sửu, đã đứng ra xin toà cho một phút để mặc niệm Nhất Linh. Dĩ nhiên là toà không cho phép, nhưng không vì thế mà không có phút mặc niệm kia.

Chả bù cho thái độ trái ngược hẳn của một chính khách, thường được nhiều người coi như một nhà cách mạng, khi nghe thấy một số đông phạm nhân đề nghị đeo băng đen để tang Nhất Linh, bèn từ chối đây đẩy và thốt lên câu nói bất hữu này:
"Thôi mà, bày vẽ để tang làm gì họ lại phết thêm cho vài năm tù nữa chả bõ."

Nghĩ mà buồn và thương hại thay cho những hạng người thường vỗ ngực là đồng chí của Nhất Linh.

Cái chết của Nhất Linh đã gây nhiều bối rối cho chính quyền Ngô Đình Diệm, nhất là cho vợ chồng Ngô Đình Nhu, lồng lộn lên như con thú dữ. Chúng sợ người sống đã đành, chúng sợ và thù ghét cả người chết nữa, những người chết cồng kềnh (les morts encombrants) như chúng tôi nói.

Trước kia chúng sợ cái chết của Thượng toạ Thích Quảng Đức, ngày nay chúng sợ cái chết của Nhất Linh, không những vì Nhất Linh là một chiến sĩ cách mạng quốc gia có rất nhiều uy tín ở trong nước cũng như ở ngoại quốc, mà lại còn là một văn hào có tên tuổi, được giới thanh niên, trí thức mến chuộng.

Tôi dám nói, không sợ nói ngoa, là từ lúc Nhất Linh nằm xuống cho tới khi đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng ở Nghĩa trang Gò Vấp, chính quyền Ngô Đình Diệm đã mất ăn mất ngủ, và tìm mọi cách để phá.

Bằng cớ là ngay sau khi anh mất, họ ra lệnh làm một cuộc phẫu nghiệm tử thi (autopsie), mặc dầu không có sự ưng thuận của gia đình.

Tất cả là 12 người có mặt trong buổi phẫu nghiệm ngay hôm 9-7-1963, tại nhà xác của Bệnh viện Grall: 7 bác sĩ, trong đó có một bác sĩ giải phẫu ngoại kiều của Grall, hai nhân viên Sở Giảo nghiệm, một viên phó cảnh sát, hai biện lý và phó biện lý của Toà án Sài Gòn.

Dưới đây là kết luận của bản phúc trình pháp y về cuộc phẫu nghiệm đó:

"Với những phương pháp khám nghiệm thông thường tại chỗ, không thấy thi hài có triệu chứng nào có thể giải thích cái chết mau chóng của Nguyễn Tường Tam, cần chờ xem kết quả việc tìm kiếm do các phòng và viện giảo nghiệm".

Nào chỉ có phẫu nghiệm tử thi mà thôi! Theo lời của một người trong gia đình anh, có lần chúng toan cướp cả xác của anh, định đem ra khỏi Grall, nhưng ban giám đốc bệnh viện không chịu.

Riêng về phần tôi, cũng vào buổi sáng hôm thứ ba 9-7-1963, chính quyền cử một nhân viên công lực tới nhà để hỏi tôi những chi tiết về cái chết của Nguyễn Tường Tam, trong trường hợp nào tôi quen anh v.v…

Sau đó ít lâu, lại một nhân viên khác của Sở Giảo nghiệm tới tìm tôi ở Viện Pasteur để hỏi xem có biết ông Nguyễn Tường Tam đã dùng thuốc gì để quyên sinh không.

Tôi không trả lời thẳng câu hỏi của người ấy mà chỉ cho biết là ông Tam, hồi trẻ, đậu cử nhân khoa học, và như vậy, ông thông thạo hơn ai hết về các chất hoá học. Huống hồ, ông lại còn là một nhà văn, và từng đọc rất nhiều truyện trinh thám (mỗi lần Nhất Linh đi qua đại lộ Lê Lợi là anh khuân hàng chục cuốn sách trinh thám, và anh đọc ngấu nghiến trong một đêm là hết), nhất là đã từng viết trong tác phẩm cuối cùng là Dòng sông Thanh Thuỷ, cả một chương về một vụ đầu độc. Như thế thì tôi, mặc dù là thầy thuốc, làm sao mà biết được ông đã dùng thuốc gì để quyên sinh?

Sự thật là như thế!

Sau này, theo bản phúc trình của một phòng thí nghiệm công gửi cho Toà án Sài Gòn, tôi mới rõ là người ta đã tìm thấy ở trong máu, trong bao tử, và trong nước tiểu rất nhiều chất thuốc ngủ, loại véronal.

Nhất Linh đã mua và tích trữ thuốc này từ bao giờ, ngay đến những người thân thích của anh cũng không hay biết. Nhưng gay go nhất là việc định ngày để cất đám Nhất Linh.

Gia đình anh xin phép đưa vào buổi sáng chủ nhật, nhưng chính quyền một mực từ chối, cái đó dễ hiểu, vì họ sợ đưa đám ngày nghỉ, thiên hạ sẽ đi dự rất đông.

Xin phép đưa chiều thứ bảy, họ cũng từ chối nốt, vì chiều thứ bảy, cũng là ngày nghỉ của các công sở. Họ chỉ ưng thuận, hoặc sáng thứ bảy, đúng 8 giờ rưỡi, hoặc sáng thứ hai. Đành phải bằng lòng sáng thứ bảy vậy.

Lại còn một điều này nữa khiến cho chị Nhất Linh băn khoăn rất nhiều là việc làm lễ cầu siêu cho anh ở chùa Xá Lợi.

Kẻ bàn ra người tán vào, phần đông không muốn làm lễ ở Xá Lợi, vì dạo ấy như mọi người đều rõ, chùa Xá Lợi dưới con mắt của chính quyền Ngô Đình Diệm, khác nào một cái gai trước mắt họ, là nơi công khai chống lại họ thì làm lễ tại đó, tức là khiêu khích họ.

Tôi còn nhớ mãi nét mặt rầu rầu của chị Nhất Linh buổi trưa hôm thứ tư 10-7-1963 đó, và vì thấy chị buồn thảm quá nên tôi đã không ngần ngại đứng về phe chị để yêu cầu cho bằng được nhà chức trách cho phép làm lễ cầu siêu ở chùa Xá Lợi. Tôi bảo với chị:

"Nếu họ từ chối thì chị cứ viện lý do tôn giáo ra họ phải chịu. Quả nhiên Bộ Nội vụ và Toà Đô sảnh Sài Gòn – sau khi xin chỉ thị của phủ Tổng thống – bằng lòng cho làm lễ cầu siêu tại chùa Xá Lợi."

Nhưng chúng ta còn lạ gì chính quyền Ngô Đình Diệm, luôn luôn có thái độ ngoan cố, tuy rằng cho phép đấy nhưng cho phép miễn cưỡng, cho phép để che mắt thế gian, để tỏ ra mình dân chủ, tôn trọng tự do tín ngưỡng, nhưng kỳ thực vẫn tìm đủ mọi cách để ngăn cản.

Tôi tuy là người ngoại cuộc, nhưng trong việc này tôi đã có đủ bằng chứng về những cuộc vận động hoặc áp lực của chính quyền để cho buổi lễ cầu siêu kia không thể thực hiện theo yêu mến của gia đình Nhất Linh được.

Tôi còn nhớ buổi chiều hôm thứ sáu 12-7-1963, hai vợ chồng tôi sắp sửa vào Grall để dự lễ khâm liệm cho anh bỗng có ba nhân viên công lực quận Ba, nhân danh ông Đô trưởng và ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ đến tìm tôi để yêu cầu tôi can thiệp với bà Nhất Linh đừng làm lễ cầu siêu ở chùa Xá Lợi.

Tôi trả lời họ rằng tôi không có tư cách gì cả để can thiệp, vì đối với gia đình ông Nhất Linh, tôi chỉ là bạn mà thôi. Nhưng mấy người đó cho biết là bà Nhất Linh "chỉ nghe lời bác sĩ, và bác sĩ chỉ nói cho một tiếng là được".

Tôi đánh trống lảng và lại còn nửa đùa nửa thật bảo họ:
"Thì các ông cứ việc ra lệnh cấm cho rồi hà tất phải cho phép."
"Chính phủ đâu có cấm tự do tín ngưỡng."

Những điều dự đoán của tôi thật quả không sai.

"Tôi không hiểu tại sao các ông lại không muốn cho tang quyến làm lễ cầu siêu ở chùa Xá Lợi? Gia đình ông Tam, theo chỗ tôi biết, vốn theo đạo Phật từ lâu, bà cụ thân sinh ông ta, xưa kia vẫn là một vị tu hành, và sau khi mất đi vẫn để thờ tại đấy thì nay đến lượt ông Tam, làm lễ cầu siêu ở Xá Lợi tôi nghĩ đó là một việc rất thường vậy."

"Chúng tôi được tin mật cho biết Việt cộng định khủng bố, nên có bổn phận phải giữ gìn an ninh trật tự."

Họ đã viện ra lý do đó thì còn biết nói năng gì nữa? Để chấm dứt tôi hứa sẽ can thiệp với bà Nhất Linh, nhưng được hay không, tôi không dám chắc. Khi vợ chồng tôi tới Grall thì lễ nhập quan đã cử hành xong rồi, chúng tôi rất tiếc và ân hận vô cùng. Tại Grall, tôi lại được chứng kiến một vụ can thiệp nữa không ngoài mục đích trên.

Trong hai vị sứ giả của Bộ Nội vụ và Toà Đô sảnh Sài Gòn cử đi để điều đình, có một bạn đồng nghiệp của tôi. Có lẽ vì là chỗ bạn đồng nghiệp mà mặc dầu chưa được quen biết nên tôi mới hỏi ông ta bằng một câu tiếng Pháp:

"Pourquoi vous faites ce métier?" (Tại sao ông đi làm cái nghề này?)

Bạn đồng nghiệp của tôi hơi bẽn lẽn đáp:
"Thiên lôi chỉ đâu đánh đấy, biết sao?"

Nghĩ tới những con người trí thức mà phải vì cơm áo sống dưới chế độ của nhà Ngô cũng thương hại thật.

Tôi cho ông ta hay chị Nhất Linh bởi quá thương chồng, nên đã mấy phen ngất xỉu, và nếu ông cứ trở lại vấn đề đó nữa, bà ta có mệnh hệ nào thì ông sẽ phải chịu trách nhiệm.

Chị Nhất Linh nghe nói thế càng được thể khóc to hơn, và ông bác sĩ nọ – nói cho đúng ra cũng là người biết điều, và nhất là có nhiều cảm tình đối với Nhất Linh – đành phải rút lui, sau khi đã ngỏ lời xin lỗi tang quyến.

Ở Grall về – vào khoảng 10 giờ khuya – tôi đã thấy 2 nhân viên khác của Toà Đô sảnh và quận Nhất, trong đó có một bạn đồng nghiệp (lại một bạn đồng nghiệp), đang đợi tôi ở trước cửa nhà. Họ tìm tôi cũng không ngoài mục đích nhờ tôi can thiệp bà Nhất Linh về buổi lễ cầu siêu, "muốn làm ở đâu cũng được, miễn đừng làm ở chùa Xá Lợi", nghe vẫn với một luận điệu như trên tôi trả lời tôi không có thẩm quyền để định đoạt. Cùng lắm là tôi sẽ yêu cầu với tang gia rút ngắn thời gian hành lễ ở chùa Xá Lợi mà thôi.

Hồi 11 giờ đêm tôi trở lại Grall thì gặp một tốp khác. Và lần này thì họ doạ nạt chứ không van lơn nữa.

"Chúng tôi vừa được tin Việt cộng sẽ khủng bố đám tang Nhất Linh, vậy tốt hơn hết là thay đổi lộ trình."

Rồi như để phân trần với mọi người, họ nói:
"Chúng tôi xin nói là Việt cộng định khủng bố chứ không phải là chính quyền đâu."

Có người trong tang quyến cất tiếng hỏi:
"Nếu là Việt cộng thì ở đâu mà chúng không khủng bố được, hà tất cứ phải ở chùa Xá Lợi?"

Cuộc vận động của mấy tai sai Nhu – Diệm, mặc dầu kéo dài gần tới ba giờ sáng, đã hoàn toàn thất bại.

Ở đây tôi cũng cần nói là trong suốt thời gian linh cữu của anh Nhất Linh quàn tại nhà xác, có ít ra hàng chục công an, mật vụ ngày đêm túc trực để theo dõi từng người tới viếng. Có khi họ còn hỏi thẻ kiểm tra, tra khảo lý lịch, đe doạ dẫn vào bót nữa, nhất là đối với các thanh niên, học sinh, sinh viên. Giới này được chính quyền để ý nhiều hơn hết hôm thứ bảy 13-7-1963, ngày đưa đám Nhất Linh.

Trên các ngả đường đưa tới bệnh viện Grall đều có rất nhiều cảnh binh, công an canh gác, chặn đường không cho vào bệnh viện, hoặc xua đuổi những ai lảng vảng gần đây.

Đã đến lúc chính quyền Ngô Đình Diệm bỏ rơi mặt nạ! Nhưng mặc dầu có rất nhiều công an, mật vụ ở chung quanh đám táng, chúng cũng không cấm nổi tang quyến treo ngay trên tường của căn nhà xác, và sau này đặt trên nóc xe tang, bức trướng thật to, viết chữ trắng trên nền đen, do các đồng chí của Nhất Linh kính điếu.

Nguyên văn bức trướng đó như sau:

Kính điếu lãnh tụ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam
Thương thay đối lập quốc gia
Mất cả tự do trong mấy lúc
Đối với thiêu thân Quảng Đức
Noi gương cảnh cáo giữa nghìn thu.

Các anh em đồng chí
7-7-1963

Thật chẳng khác nào một rồi vụt vào mặt chính quyền vậy.

Công an và mật vụ của Nhu – Diệm nhiều thật đấy, nhưng chúng đâu có ngăn nổi các anh em sinh viên khiêng linh cữu Nhất Linh, từ nhà xác ra tận xe tang. Mấy bạn đó vừa khiêng vừa sụt sùi khóc, khiến mọi người đứng gần đấy cũng mủi lòng rơi lệ theo. Có người khóc Nhất Linh để thương tiếc một chiến sĩ quốc gia chống cộng, suốt đời tranh đấu cho tự do, dân chủ thế mà lại bị những kẻ đội lốt quốc gia bức tử. Hoặc khóc một văn hào đã có công lớn trong nền văn học nước nhà mà đến khi nằm xuống không được chính quyền ngỏ một lời phân ưu. Hoặc khóc một con người tài hoa, mặc dầu sống trong thử thách mà vẫn giữ một tâm hồn nghệ sĩ, và còn giữ cho đến khi nhắm mắt.

Thật thế! Không có một tâm hồn nghệ sĩ như Nhất Linh mà trước khi từ giã cõi đời, đôi mắt mỗi lúc một mờ dần, còn nói được một câu: "Bầu trời hôm nay đẹp quá nhỉ!" thì thiết tưởng, trong thiên hạ ít có người nghệ sĩ như anh.

....................................

Đoàn xe tang đi qua các đường Mạc Đĩnh Chi, Phan Đình Phùng, Bà Huyện Thanh Quan, để rồi ghé lại chùa Xá Lợi vào hồi 10 giờ 45.

Đám tang thật là đơn giản, nhưng vô cùng ảm đạm, trang nghiêm. Khi khởi hành từ bệnh viện Grall, số người tham dự còn thưa thớt, nhưng dần dần mỗi lúc một đông. Phần nhiều là thanh niên, học sinh, sinh viên, giới trí thức. Có rất đông phóng viên, ký giả ngoại quốc, nam có, nữ có, có mặt trong đám táng để chụp ảnh hoặc để quay phim. Họ chịu khó biên chép tất cả những câu viết trên các đối trướng rồi nhờ người dịch sang tiếng Anh. Họ lại còn ghi âm tất cả những lời khóc than kể lể của chị Nhất Linh.

Như vậy đủ rõ cái chết của văn hào Nhất Linh đã gây một tiếng vang lớn, không riêng gì ở Việt Nam mà ở cả trên thế giới nữa.

Tại chùa Xá Lợi, ngoài một số đông đồng bào đã túc trực từ sáng sớm – trong đó dĩ nhiên có cả công an, mật vụ của Nhu – Diệm – còn có khoảng 200 tăng ni có mặt để cầu siêu cho Nhất Linh.

Giữa cảnh khói hương nghi ngút, chùa Xá Lợi cất lên ba hồi chuông trống, rồi thì những tiếng tụng niệm vang lên. Trong khi ấy, ở trước cửa chùa có nhiều thanh niên, sinh viên phát băng tang cho mọi người, kể cả người của chính quyền Ngô Đình Diệm.

Lễ cầu siêu cử hành không đầy 15 phút như đã ấn định từ trước, rồi đoàn xe tang từ từ chuyển bánh, theo sau có 3 chiếc xe đò lớn chở những người đi tiễn đưa.

Đoàn xe tiến về đường Phan Thanh Giản, rẽ sang đường Hai Bà Trưng rồi chạy về Gò Vấp. Có hàng trăm chiếc xe, xe đạp lẫn xe gắn máy, trên mỗi xe có hai người, phần đông là thanh niên, học sinh, sinh viên, có cả ký giả ngoại quốc nữa, băng băng đi theo sau, hoặc đi trước, hoặc ở hai bên xe tang. Ngay cả trên nóc xe hơi cũng có người nữa. Hàng phố, từ đường Hai Bà Trưng trở đi, đổ xô ra xem. Một điều đáng ghi nhận là từ chùa Xá Lợi trở đi, không có một ngã tư nào là không có nhân viên công lực đứng, không phải để giữ an ninh trật tự, mà trái lại, để cố tình cắt quãng đoàn xe tang, làm sao cho số người tham dự đừng đông đảo.

Và khi tới nghĩa trang Gò Vấp, liếc nhìn chung quanh, ai nấy đều có một cảm giác nặng nề, ghê rợn, dường như bao phủ bởi một bầu sát khí đằng đằng: chỗ này một tốp người vận quân phục, chỗ kia một tốp, với súng trường, súng lục, tiểu liên, lựu đạn… Tôi tự hỏi, chẳng hay họ chuẩn bị như vậy để bảo vệ ai, hoặc để giết ai ở một nơi hoang vu, tĩnh mịch và tôn nghiêm này?

Họ đề phòng Việt cộng khủng bố chắc? Phải ngây thơ lắm mới tin được, mặc dầu trong khi hạ huyệt người ta đã phao tin bắt được quả tang một gã – phu xe xích lô – trong người dắt một trái lựu đạn.

Còn một điểm này nữa thiết tưởng cũng cần ghi lại, là trên con đường về, trời nắng chang chang và xa tắp có một số người đi đưa đám – trong đó có kẻ viết bài này và một ông bạn già, ký giả Nguyễn Đắc Lộc – được một phen cuốc bộ, vì gặp chiếc xe nào, tắc-xi hay xe gắn máy, tài xế cũng lắc đầu lia lịa, rôi mắt trước mắt sau, như muốn bảo cho mọi người hiểu: đã có lệnh trên, cấm chở những ai đi dự đám táng của Nguyễn Tường Tam.

Người ta bảo Nhất Linh đã chết. Riêng tôi, đứng trước cái chết cao cả của anh, chết để cảnh cáo những người "chà đạp lên mọi thứ tự do", chết để chống lại bạo quyền, chết với niềm hy vọng sự hy sinh của mình sẽ đem lại tự do cho người khác, như vậy là anh đã biết chết, đã chết thật đúng lúc, mặc dầu anh không biết sống, nghĩa là theo tôi, sống như thiên hạ, một cách tầm thường, hoặc sống cũng như chết, rồi khi đứng trước cái chết thì sợ sệt, hoặc chết nhưng chết một cách nhục nhã thảm thương.

Ở trên tôi vừa nói đời sống nội tâm, đời sống tinh thần của Nhất Linh rất phong phú.

Nhất Linh thường tâm sự với tôi: Ở đời anh ghét nhất là sự giả dối, lừa lọc, xảo trá và phản bội. Và suốt đời anh không có một chiếc xe hơi.

Nhất Linh trong sạch. Điều đó ai cũng trông thấy rõ. Ở thời buổi này, muốn xét người nào trong sạch, yêu nước thương nòi hoặc quốc gia hay không, phải chờ cho người ấy vào trong chính quyền đã, rồi nhìn nếp sống của họ sau khi rũ áo ra về. Hoặc chờ cho người đó nằm xuống, hình hài thể xác trở về nơi cát bụi hãy hay.

Nhất Linh đã tham chính và Nhất Linh nay đã ra người thiên cổ. Bởi vậy tôi có thể nói một cách chắc chắn rằng anh là một người thiết tha yêu nước, đang đứng ngang hàng với những anh hùng dân tộc của chúng ta, như Trần Bình Trọng, Hoàng Diệu, Nguyễn Thái Học v.v…. Anh cũng là một người trong sạch hiếm có. Anh không có xe hơi, nhà lầu, nhưng nói cho đúng ra, anh có một căn nhà gỗ thô sơ – có lẽ bây giờ đã hoang phế – do chính tay anh cất lấy, ở bên bờ suối Đa-mê, cách Đà Lạt 30 cây số, trong một khu rừng hẻo lánh, có nhiều cây cỏ, nhất là nhiều lan để anh ngắm và tìm cảm hứng để viết văn. Phí tổn để xây cất căn nhà đó cả thảy là 20 đồng bạc, tiền mua danh.

Tôi vừa nói ở trên là Nhất Linh sống rất giản dị, từ cái ăn đến cái mặc. Tôi còn nhớ trong những năm 60-61, sau ngày đảo chính hụt và oanh tạc Dinh Độc Lập, tôi lại thăm anh vào bữa ăn, tôi thấy anh chỉ ăn có lưng chén cơm với hai miếng đậu kho, có lần một đĩa nouille, anh và trong ba phút là xong, rồi anh lên giường ngủ.

Trái lại, mỗi khi được tin có một biến chuyển nào đó, có thể làm thay đổi cục diện, chấm dứt chế độ bạo tàn thì đôi mắt anh sáng quắc lên, bao nhiêu bệnh não của anh – mà chúng tôi thường bảo là bệnh giá-cách – đều tiêu tan hết, và khi ấy anh cười nói rất vui, ăn uống ngon lành lắm.

Nhất Linh không những là một chiến sĩ quốc gia, anh còn là một văn hào lỗi lạc nữa. Về điểm này, các văn hữu của anh có nhiều thẩm quyền hơn tôi đã phán xét. Riêng về phần tôi ở đây chỉ muốn ôn lại một vài kỷ niệm nhỏ giữa Nhất Linh và tôi trên lĩnh vực văn hoá.

Trước hết tôi cần nói là không có một lĩnh vực nào mà anh không thành công, và thành công rực rỡ nếu như anh muốn, dù là làm chính trị, hay viết văn, hay vẽ, hay chơi âm nhạc, hay chơi lan, hay làm báo… Anh chuyên về thứ nào thì anh say mê thứ đó, đến quên ăn quên ngủ.

Không những chỉ say mê mà thôi, anh dốc hết cả tâm trí vào việc anh làm, và anh làm rất chu đáo. Khi anh viết được một trang nào hay, hoặc tìm ra được một chữ nào, và chỉ có chữ ấy là đúng thôi, anh thích thú vô cùng, anh sung sướng hơn bắt được một báu vật. Có lần anh bảo tôi: "Khi tôi dịch cuốn Les Hauts de Hurle Vent, tôi tìm mãi mấy ngày mấy đêm mới ra câu: Đỉnh gió hú".

Tôi còn nhớ bận tôi dịch một truyện trinh thám của Conan Doyle, nhan đề: La bande mouchetée (tức con rắn), tôi tìm mãi không biết dịch là gì. Anh nghĩ một lúc rồi bảo: Chiếc giải đốm hoa. Tôi cho câu dịch đó thật tài tình.

Khi anh viết cuốn Dòng sông Thanh Thuỷ (hồi đó anh lẩn trốn ở đường Trần Hưng Đạo) anh biên giấy nhờ một anh bạn của chúng tôi chuyển lại cho tôi để hỏi có mỗi một câu về một danh từ y học, đủ rõ anh thận trọng như thế nào trước khi hạ bút.

Đáng phục nhất là trong suốt thời gian anh bị chính quyền Ngô Đình Diệm lùng bắt, anh phải lẩn trốn hết nơi này đến nơi khác, lấy ngày làm đêm, đêm làm ngày mà anh vẫn còn có can đảm để viết văn, để phác hoạ ra cả một chương trình: xuất bản sách để các bạn trẻ đọc, để giáo dục quần chúng, để phổ biến tất cả những gì cao đẹp của loài người, của vũ trụ. Bởi theo anh, "đã đến lúc loài người phải giở sổ soát lại vốn tư tưởng quá khứ để định hướng đi tương lai, tìm chân lý là kim chỉ nam cho người đời giữa biển sóng gió".

Hiện giờ, khi viết mấy dòng này, trước mặt tôi còn có một xấp thư – những mảnh giấy học trò – của Nhất Linh gởi cho tôi hồi anh đang bị chính quyền lùng bắt, chữ viết nhỏ li ti, yêu cầu tôi cho anh những tài liệu cần thiết về: danh nhân thế giới, tình sử đông tây, kỳ quan vũ trụ, giáo dục phổ thông, chính trị, khoa học v.v…

Những loại sách bỏ túi – 27 loại cả thảy – đó, anh định bán với một giá rất rẻ, và in đẹp, nhằm mục đích nâng cao đời sống tinh thần của mọi tầng lớp người trong xã hội, vì anh cho rằng "văn làm cho đời người đẹp hơn và đáng sống".

Thật là cả một chương trình vĩ đại, đáng khen mặc dầu chưa thực hiện được, chứng tỏ sự nhiệt tâm của Nhất Linh trước tiền đồ của dân tộc, trước trạng huống phức tạp và đảo lộn của xã hội ngày nay.

*

Trên đây là một vài nét về nếp sống cùng những hoạt động của Nhất Linh trên địa hạt chính trị xã hội văn hoá, đủ khiến cho ai nấy phải ngậm ngùi trước sự hy sinh cao cả của anh.

Nhưng điều khiến cho một số bạn thân của Nhất Linh tiếc thương anh hơn cả là tính tình hồn hậu và thuỷ chung của anh đối với bạn, nhất là trong những lúc khó khăn, hoạn nạn.

Tôi còn nhớ Tết năm Tân Sửu, vào sáng hôm mồng hai, và trong khi anh lẩn trốn, xa gia đình thân yêu, mà anh còn ngồi vẽ một bức tranh – bó hoa oeilet – để tặng tôi, với hai câu thơ, câu đầu là:

"Tặng ai mười đoá hoa xuân"

khiến tôi cảm động vô cùng.

Tôi dám chắc, đối với một số đông bạn thân của anh, anh cũng có những cử chỉ tế nhị và đẹp như thế.

Lại còn một điểm nữa khiến cho tôi quý Nhất Linh, là cách cư xử của anh đối với mẹ già và gia đình nhỏ của anh.

Tôi còn nhớ hồi sinh thời của bà cụ thân sinh ra anh, thường gọi là "Cụ Cẩm Giàng", mỗi lần tôi lại thăm bệnh cho cụ, cụ móc túi ra cho tôi xem một mẩu giấy nhỏ – nhỏ vừa bằng lòng bàn tay – trên có ghi mấy dòng chữ Nhất Linh gửi cho mẹ, báo tin cho cụ biết cuốn tiểu thuyết này hay tiểu thuyết nọ đã xuất bản rồi, để cho cụ mừng.

Cảm động nhất là hôm cụ đưa cho tôi xem cuốn Dòng sông Thanh Thuỷ khi vừa mới in xong anh gửi tặng cụ, cụ mệt không đọc được, nhưng lúc nào cụ cũng khư khư ôm trong lòng, không muốn rời ra.

Nhất Linh thường nói với tôi:

"Gia đình tôi đông anh em, nhưng mẹ tôi chỉ thương và nể có tôi thôi. Tôi bảo gì mẹ tôi cũng nghe, nhưng… trăm tội ở đâu cũng đều đổ cả lên đầu tôi, chỉ có tôi là bị rầy la nhiều nhất."

Hôm cụ mất anh bị mệt và… cũng đang bị chính quyền để ý nên không đưa cụ tới nơi an nghỉ cuối cùng được, anh rất đỗi khổ tâm.

Nhất Linh có một đời sống đẹp như vậy, thế mà sau khi anh mất đi có kẻ dám công khai bôi nhọ anh, nào bảo anh "hút thuốc phiện, nghiện rượu, không có chút công lao gì đối với nền văn học Việt Nam", nào "phản đảng, phản dân tộc, phản cả gia đình nữa"… [1] thì đủ rõ giữa Nhất Linh và đối lập đương nắm chính quyền của anh, ai là quân tử, ai là tiểu nhân?

Thật thế! Nhất Linh, ngay cả đối với kẻ thù, lúc nào cũng đàng hoàng, quân tử. Mỗi khi nói tới Hồ Chí Minh hay Ngô Đình Diệm, hay vợ chồng Ngô Đình Nhu, tôi chưa từng nghe thấy anh có một lời nói nặng, một câu nào bất lịch sự cả.

Cái chết của Nhất Linh không những là một thiệt thòi rất lớn cho quốc gia, nhất là trong giai đoạn này, đã mất một chiến sĩ vừa có tài lại có đức, vừa là một cái tang chung cho nền văn học nước nhà, lại còn gieo vào trong lòng của các bạn hữu cũng như gia đình đầm ấm của anh, biết bao niềm thương xót khôn nguôi với thời gian được.

Riêng về phần tôi, mỗi bận nhớ tới anh rồi nhìn chung quanh mình chỉ thấy toàn những kẻ tranh giành nhau trên con đường danh lợi, những kẻ lừa thầy phản bạn, tôi cảm thấy có một khoảng trống mông mênh, kinh khủng. Và tôi chợt nhớ câu thơ bất hủ của thi hào Lamartine, tôi xin mượn câu thơ đó để nói lên nỗi lòng của tôi đối với Nhất Linh:

"Thiếu mỗi một người và tất cả đều là hoang vắng".
(Un seul être vous manque et tout est dépeuplé).

Chú thích

[1]Lời tuyên bố của Ngô Đình Nhu trong buổi họp Tổng đoàn Thanh niên Cộng hoà ngày 18-7-1963

Nguồn: Chân dung Nhất Linh. Tập hồi ký của Bùi Khánh Đản, Nguyễn Hữu Phiếm, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Tường Thiết, Thế Uyên, Tường Hùng và Tuyết Hương. Mẫu bìa của Văn Thanh. Do tập san Văn xuất bản lần thứ nhất. In xong tại nhà in riêng của nhà xuất bản ngày 25-6-1966. Bản điện tử do talawas thực hiện.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Nữ đại tướng đầu tiên của Mỹ



Đầu tuần này (23.6) Tổng thống Mỹ George Bush đã ký quyết định thăng cấp đại tướng cho nữ trung tướng Ann E. Dunwoody, đồng thời bổ nhiệm bà là chỉ huy trưởng Cục quân nhu (Army Material Command). Vấn đề chỉ còn là thủ tục, chỉ chờ Thượng Viện thông qua là bà Dunwoody trở thành nữ đại tướng đầu tiên của nước Mỹ.

Bà Dunwoody nhập ngũ từ năm 1975, ngay sau khi tốt nghiệp cử nhân ngành sư phạm thể dục (Physical Education) tại Đại học tiểu bang New York ở Cortland. Được gắn lon thiếu úy ngay khi nhập ngũ, năm sau bà tốt nghiệp khóa thụ huấn căn bản tại trường nhảy dù và tiếp liệu của lục quân Mỹ.

Sau đó bà lần lượt được thụ huấn các khóa tu nghiệp cao hơn trong ngành tiếp liệu và cả trường Chỉ huy và tham mưu (Command and General Staff College). Ngoài ra bà có hai bằng cao học về môn quản trị và tài nguyên nên thăng tiến rất nhanh trong quân đội Mỹ. Từ năm 1990 đến 1991 bà phục vụ tại Saudi Arabia trong Sư đoàn Dù 82. Năm 2005 bà được gắn lon trung tướng và là một trong năm nữ trung tướng hiện dịch của quân đội Mỹ. Với cấp bậc này bà được bổ nhiệm làm Tham mưu phó cục tiếp liệu.

Công bố quyết định phong cấp đại tướng cho nữ trung tướng Dunwoody vào hôm thứ Ba, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Rober Gates cho hay: “Đây là một vận hội mang tính lịch sử của Bộ Quốc phòng và tôi lấy làm hân hạnh khi đề cử việc gắn ngôi sao thứ tư cho Trung tướng Ann Dunwoody”. Ông Gates giải thích thêm: “Với 33 năm phục vụ trong quân ngũ, bà đã nổi bật lên với sự tận tụy trong nhiệm sở và khả năng lãnh đạo, do đó bà hoàn toàn bà xứng đáng lãnh nhận vai trò quan trọng này”.

Trước quyết định này, bà Dunwoody phát biểu: “Tôi rất lấy làm vinh dự với sự đề cử này. Tôi xuất thân từ một gia đình không có truyền thống kỳ thị nam nữ. Sự đề cử này lại càng khẳng định sự tin tưởng của tôi về quân đội trong quá trình sự nghiệp của tôi, rằng cánh cửa vẫn mở rộng cho nam giới cũng như nữ giới trong quân đội”.

Trước đây bà Anna Mae Hays là nữ tướng đầu tiên của Mỹ được gắn lon chuẩn tướng vào năm 1970. Lúc đó bà Hays là Cục trưởng quân y và được gắn lon tướng năm 1970, đến năm 1971 bà nghỉ hưu.

Đến năm 1973 bà Jeanne M. Holm trở thành thiếu tướng đầu tiên, thuộc binh chủng không quân. Tuy nhiên đến năm 1975 thì bà về hưu.

Nữ trung tướng đầu tiên là bà Carol A. Mutter, được gắn 3 sao vào năm 1996 và ba năm sau bà về hưu.

Bây giờ thì đến lượt bà Dunwoody phá kỷ lục khi được đề bạt là nữ đại tướng đầu tiên, là cấp bậc cao nhất trong quân đội Mỹ.

Theo Bộ Quốc phòng Mỹ, hiện có 57 nữ tướng lĩnh hiện dịch đang phục vụ trong quân đội Mỹ trong đó có 5 vị nữ trung tướng hay nữ phó đô đốc (vice admiral), tức tướng 3 sao trong Hải quân.

Luật Mỹ cấm không cho nữ quân nhân được tham gia công tác chiến đấu. Vì không chiến đấu nên ít có cơ hội lập công,và chính điều này ngăn cản nữ giới leo lên cấp cao nhất. Điều này cho thấy nỗ lực phi thường của ba Dunwoody, người từng tòng sự trong các sư đoàn Dù 82 trong cuộc chiến vùng vịnh 1991, từng phục vụ trong Sư đoàn Sơn cước thứ 10.

Bà Dunwoody đã nhận được nhiều huy chương sáng giá của quân đội Mỹ như: Distinguished Service Medal, Defense Superior Service Medal, the Legion of Merit, the Meritorious Service Medal, Army Commendation Medal, Army Achievement Medal, Master Parachutist Badge và Army Staff Identification Badge.

Báo chí Mỹ đề cập nhiều đến tin bà Dunwoody được phong tướng, tuy nhiên không nguồn tin nào đề cập đến tình trạng hôn nhân và đặc biệt là tuổi tác của bà. Điều này cho thấy người Mỹ vẫn còn lịch sự và tế nhị với một phụ nữ, dù người đã đã sắp làm đại tướng. Tuy nhiên việc bà tốt nghiệp đại học năm 1975 cho thấy năm nay bà đã ngoại ngũ tuần, ở lứa tuổi từ 53 đến 54.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Người đồng tính diễn hành mừng được kết hôn
tại San Francisco qua qua ống kính của nhiếp ảnh gia Tôn Thất Hải

Jul 01, 2008
http://www.convitcon.com/theGphoto/Even ... _PRIDE.htm

Bấm vào đây để xem phóng sự hình: Người đồng tính diễn hành mừng được kết hôn tại San Francisco

Xin lưu ý: Có một vài hình ảnh khá nhạy cảm trong cuộc diễn hành nói trên tại San Francisco vào chủ nhật qua. Độc giả cẩn trọng trước khi cho phép các em tuổi vị thành niên xem.

Photo courtesy: AP

Những người đồng tính đã tổ chức các lễ hội và các cuộc diễn hành khắp nơi trên toàn nước Mỹ để đánh dấu mùa hè, cũng như để vận động cho quyền lợi của họ.

Tại cuộc diễn hành hàng năm tại thành phố San Francisco, người ta chú ý đến việc những người này đã sửa soạn cho các lễ cưới giữa hai người cùng phái, sau khi tiểu bang này chính thức cho phép những người đồng tính được cử hành lễ hôn phối. Nhiều người tham dự cuộc diễn hành đã mặc đồ cưới trong lúc đi bộ hoặc đi trên những chiếc xe hoa trong cuộc diễn hành hàng năm lần thứ 38, tại thành phố được mệnh danh là thủ đô của giới đồng tính tại Hoa Kỳ.

Chủ đề của cuộc diễn hành năm nay là đoàn kết trong sự hãnh diện, kết hợp trong sự bình đẳng, và những người tham dự đã tỏ vẻ vui mừng khi họ được quyền tự do kết hôn, sau khi Tối cao Pháp viện của tiểu bang này đã lật ngược lại một đạo luật cấm hôn nhân đồng tính vào tháng trước.

Như muốn chứng tỏ sự vui mừng trước quyền được tự do kết hôn của họ, những phụ nữ đồng tính lái xe motor đã mặc áo cưới trong lúc diễn hành bằng xe qua trung tâm thành phố. Ngoài ra cũng có những nhóm đồng tính nam không mặc gì cả mà chỉ che thân thể của họ bằng những trái bong bóng, trong khi những chiếc xe hoa chở theo những người ca hát và nhảy múa bên cạnh những biểu ngữ đòi quyền bình đẳng, trong không khí tưng bừng của một ngày lễ hội được tổ chức ở nhiều nơi vào cuối tuần vừa qua.

Mời qúy độc gỉa xem những bức ảnh của cuộc diễn hành nói trên qua ống kính của nhiếp ảnh gia Tôn Thất Hải dưới đây

http://www.convitcon.com/theGphoto/Even ... _PRIDE.htm

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Mua Nón ở Chợ Đêm Gò Găng, Bình Định

Sơn Trà
Chợ họp ngay ngã ba, ven đường quốc lộ, đâu chừng mười mấy gian hàng. Không ồn ào quá mức, chỉ đủ gây xôn xao một góc nhỏ miền quê đêm tĩnh mịch. Chợ họp từ khoảng tầm 3 - 4h, và tan khi trời hưng hửng sáng. Nên chợ nón Gò Găng còn được gọi là chợ gà gáy.

Chợ nhỏ, nhưng khi ngắm cái quang cảnh sinh hoạt nửa đêm về sáng ấy, chuyện lớn hay nhỏ của chợ không phải là điều đáng bận tâm. Nếu đến sớm, thoạt đầu chỉ thấy vài ngọn đèn dầu leo lét, rồi mỗi lúc lại thêm một ngọn, đâu chừng có khoảng hơn chục ngọn đèn thì chợ bắt đầu. Ánh sáng đèn dầu đủ để người mua kẻ bán xem chất lượng các loại nón và nhìn thấy đồng tiền đưa qua thối lại.

Chợ có ít xe máy, lâu lại thấy mấy chiếc xe đạp trờ tới từ màn đêm, người lái cầm chồng nón - có khi chỉ là chục cái, có khi tới năm bảy chục - để giao cho người bán. Nếu không được giá thì lại quày quả mang qua hàng khác. Bán xong mấy chồng nón, người bán lại trở thành kẻ mua khi vào sâu trong con hẻm, có một khu chuyên bán các vật dụng dùng để làm nón. Khu này cũng họp và tan theo chợ nón. Cái nghĩa “ồn như chợ” ở đây xem ra không đúng, bởi tiếng người mua kẻ bán chỉ nghe lào xào trong gió. Mà cái cách ngã giá nghe dễ thương lắm. Giọng người dân quê khi buôn bán nghe chân chất lạ, cũng ngã giá, chào mời nhưng không khách sáo màu mè hay đanh đá chua ngoa như thường gặp ở nhiều chợ khác.

Ngày nào cũng vậy, khi đêm mưa cũng như lúc trời quang mây tạnh, chợ cứ đều đặn họp. Một bà lão mua nón ở đây cho hay tuổi chợ cũng tròm trèm trên dưới 50 năm. Bà cười móm mém: “Tui buôn bán ở đây mấy chục năm rồi. Lúc rảnh rỗi giữa mấy mùa lúa thì đi chằm nón làm mà bán, kiếm thêm tiền chợ chứ đây không phải là nghề chính”. Cắc cớ hỏi thử bây giờ người ta đội nón bảo hiểm, chắc chợ ế hơn trước, bà lại cười hồn hậu: “Nào giờ thì vẫn bán buôn như mọi khi, người ta vẫn đội hoài đó thôi”. Mà đúng thật, ở phố thị thì không biết thế nào, nhưng với người dân quê, quanh năm ra ruộng, đi trên đường làng chủ yếu bằng đôi chân của mình thì chiếc nón lá đội đầu vẫn là một sự gắn bó thân thuộc.


Nón bán ở đây là nón thô, người ta chằm xong là đem bán. Người mua đem về, quét dầu, gắn các loại quai nón hay những phụ liệu linh tinh khác rồi bỏ lại cho bạn hàng từ các tỉnh, đem đi Buôn Ma Thuột, Dăk Lăk, hay ra Tuy Hoà, Quy Nhơn…

Là nón thô nhưng cũng có khá nhiều loại, không hiểu làm thế nào mà người mua phân định rất nhanh giá trị từng loại nón chỉ sau một cái lần tay vào vành nón, với một chút sáng của ngọn đèn dầu được kéo gần hơn để săm soi sơ qua chồng nón vài giây. Tiểu thương ở đây cười: “Kinh nghiệm mà, quen mắt, nhìn hàng là biết ngay thôi”.

Những chiếc nón ở đây chỉ có giá từ 4.000 - 5.000 đồng đến trên dưới 10.000 đồng. Rất nhiều người ra chợ có khi chỉ với một chục nón. Vậy mà phải mất cả tuần mới làm được. Ngỡ ngàng khi quy chiếu với giá trị đồng tiền. Chợt giật mình, thấy chuyến đi du lịch không chỉ đơn thuần là những khám phá thú vị… Có khi học, rút ra được nhiều điều hay ho nho nhỏ từ những chuyện rất tình cờ...

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Tuổi Trẻ Việt Nam Phải Làm Gì Cho Đất Nước Hôm Nay?

Hương Trà
Sinh viên năm thứ 2 Khoa Luật
(Email: huongtra13@gmail.com)

Image
Hình: Thanh niên sinh viên Việt-Nam biểu tình tại Hà Nội chống Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa và Trường Sa.
Người Việt Nam chúng ta vẫn luôn tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc mình. Lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước với những chiến công oanh liệt của cha ông ta đã để lại cho chúng ta một đất nước vẹn toàn như ngày hôm nay. Suốt 1000 năm nô lệ giặc Tàu phương Bắc và 100 năm đô hộ giặc Tây, xương máu của tiền nhân đã đổ ra để dành độc lập cho tổ quốc, không phải để cho chúng ta ngày hôm nay lại dững dưng, vô cảm trước bọn bá quyền Trung Cộng thời đại xâm lấn đất nước ta một lần nữa.

Vào thời điểm năm 1945, sau khi Nhật đầu hàng, các đảng phái chính trị khác nhau đã lập thành được một chính phủ đa đảng đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, dù là chỉ một thời gian ngắn ngủi. Ông Hồ Chí Minh và các đồ đệ của mình chỉ vì tham vọng chính trị và mộng bành trướng chủ nghĩa cộng sản trên toàn cõi Đông Dương nên đã tìm cách tiêu diệt các đảng phái và những thành phần ái quốc phi-cộng sãn đã từng cùng ông chống ngoại xâm như: nhà ái quốc họ Phan, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đức Giáo chủ Hoà Hảo Huỳnh Phú Sổ,… và hàng vạn chí sĩ khác.

Lịch sử còn rành rành đó, thế nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đang cố ra sức vùi dập, chối bỏ sự thật này. Để làm được việc này, ĐCSVN cần đến sự hỗ trợ đắc lực, thậm chí mù quáng của các đảng viên, cán bộ trong guồng máy chính quyền, quân đội, công an, những người trí thức,... Trong thế kỷ 21 này, ĐCSVN lại tiếp tục công việc này bằng cách tận dụng các phương tiện truyền thông, thông tin đại chúng thông qua hệ thống internet. Một điển hình cho công cụ đắc lực này là hệ thống công an mạng với những tên tuổi được biết đến như Nguyễn Tử Quảng.

Cũng với hệ thống internet, toàn thế giới đã nhận ra và hiểu rõ bộ mặt thật của CNCS (một chủ nghĩa đã bị khai tử ở Liên Xô và Đông Âu nơi thành trì của nó), cũng như nhận thức rõ được lý tưởng ảo huyền bởi sự tuyên truyền và chỉ đạo của các thành phần bảo thủ lãnh đạo đảng cộng sản. Việc nhận ra sự thật này chỉ là vấn đề thời gian, và những kẻ đang cung cúc mù quáng tận tụy với chế độ cộng sản nên suy nghĩ thật kỹ càng để chắc rằng sự phục vụ nhiệt tình của mình phải là cho đất nước nhân dân, chứ không phải cho một đảng cầm quyền thối nát, kẻo không thì muôn đời sẽ mang tội với Tổ quốc và nhân dân.

Tuổi trẻ tuy bồng bột nhưng với trí tuệ và lòng nhiệt huyết lại là rường cột của nước nhà. Để có được sự nhận xét khách quan trung thực, chúng ta nên ôn lại những dữ kiện đã qua, để từ đó có được cái nhìn đúng đắn về tương lai. Cần phải hiểu rằng trong một đất nước, quân đội và công an là lực lượng bảo vệ đất nước và nhân dân chứ không phải là công cụ bảo vệ chế độ, chính phủ của bất cứ đảng phái nào.

Nhìn vào thực trạng lịch sử VN, trong quá khứ với chế độ phong kiến cai trị đất nước theo hệ thống cha truyền con nối, luật pháp trị dân theo sự chỉ đạo của vua và chỉ có vua là trên hết, vua phán thì bắt buộc thần dân phải nghe theo vì vua như là "thiên tử", dân không có quyền chọn lựa người đại diện hợp pháp cho mình. Vì vậy cho nên, nếu một triều đình mà trong đó vua quan có tài đức biết thương dân, biết lo cho dân thì dân có phúc, ngược lại cũng có không ít những vì vua cùng quan lại tham ô chỉ biết có quyền lợi cá nhân thì đó là cái đại hoạ mà nhân dân phải gánh chịu. Vậy hãy nhìn lại suốt chiều dài hơn 60 năm cai trị tuyệt đối của ĐCSVN, có khác gì chế độ phong kiến ngày xưa không?

Những người trong guồng máy chính quyền hiện nay chỉ tuyệt đối trung thành với đường lối của đảng, trong khi đảng chỉ quy tụ một thiểu số thành phần trong xã hội mà thôi. Như vậy, trung thành với đảng, với chính quyền không phải là trung thành với tổ quốc với nhân dân được.

Theo sự tiến bộ của loài người thì không có cái gì mà tồn tại vĩnh viễn mãi được, trái lại bắt buộc phải đổi thay theo đà tiến bộ của nhân loại. Do đó nền phong kiến lỗi thời cũng phải cáo chung theo định luật bất di bất dịch này. Ngày nay, với chế độ tự do dân chủ đa nguyên mà đại đa số các nước trên thế giới đang theo đã chứng minh rằng: quyền dân chủ nhân quyền của người dân được tôn trọng và bảo đảm bằng giấy trắng mực đen, bằng quyền hạn tự do chọn lựa người đại diện cho mình để phục vụ đất nước. Những ai không tôn trọng ý kiến của nhân dân, độc tài cai trị thì dĩ nhiên theo thời gian sẽ bị nhân dân đào thải.

Nếu ĐCSVN thực tâm yêu nước, thực tâm muốn tiến bộ cùng dân tộc như đảng đã từng tuyên bố thì bắt buộc phải chấp nhận chế độ đa nguyên có cạnh tranh để cùng nhau tiến bộ và thực tâm tôn trọng những gì đã hứa. Chính bản thân ông Hồ Chí Minh cũng đã từng nói “một đảng mà giấu diếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng, một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó từ đâu mà có khuyết điểm, xét hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó rồi tìm mọi cách để sửa chữa. Như thế là đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn và chân chính” (trích nguồn tapchicongsan.org.vn/deta…ews_ID=8651104).

Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc (LHQ) cùng các công ước quốc tế mà chính ĐCSVN đã tình nguyện ký kết tham gia đều thể hiện đầy đủ các quyền lợi của người dân VN. Tuy luật pháp của mỗi quốc gia có khác nhau, nhưng đều phải phù hợp với bảng tuyên ngôn nhân quyền của LHQ và các công ước quốc tế mà mình đã cam kết. Theo đó người dân đều có toàn quyền tự do về ngôn luận, thông tin, báo chí, tín ngưỡng, cư trú, lập hội, tham gia các đảng phái và bất đồng chính kiến với chính quyền…v.v…. Điều 69 Hiến Pháp Việt Nam (HPVN) hiện hành cũng ghi rõ các quyền lợi đó, nhưng tiếc thay Bộ Luật Hình Sự (BLHS) là luật dưới Hiến Pháp lại có những điều khoản hoàn toàn đi ngược lại điều 69 HPVN như điều 88 (tuyên truyền chống nhà nước….), điều 258 (lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước….) để rồi công an và toà án xem 2 điều khoản vi hiến này như là kim chỉ nam để tự do trù dập, bắt bớ và bỏ tù những ai dám can đảm đấu tranh cho dân chủ nhân quyền một cách ôn hoà bất bạo động. Hành động này đã được thể hiện rõ nét qua những phiên toà trá hình để xử những những nhân vật bất đồng chính kiến, những người dám đứng lên chống bất công tham nhũng, thối nát của chế độ.

Sau khi ĐCSVN cai trị ở miền Bắc thì đã có hơn 2 triệu người trốn vào miền Nam sau ngày ký hiệp định Geneve chia đôi đất nước vào tháng 7/1954, đặc biệt sau khi Hoa kỳ thực sự phản bội và bỏ rơi chính phủ VNCH, tạo thuận tiện cho CSVN cưỡng bức miền Nam bằng vũ lực vào tháng 4/1975, không qua bầu cử tự do như Hiệp định Paris đã quy định. Suốt những năm sau đó, CSVN lại tiếp tục gây ra nhiều thảm cảnh bằng lối cai trị tàn bạo và những chính sách quái gở mà đã khiến hơn 3 triệu người phải bỏ nước ra đi, với số người thiệt mạng trên biển cả, trên đường đi lên đến hàng hàng trăm ngàn người.

Những người tỵ nạn này mà đa số là "thuyền nhân", sau khi đến được bến bờ tự do đã làm lại cuộc đời, bản thân và con cái đều thành đạt, và hàng năm gởi về thăm nuôi thân nhân hàng tỷ đô la. Đó cũng là lý do khiến nhà nước CSVN xoay 180 độ không còn gọi đám tỵ nạn là "phản động", mà thay bằng các mỹ từ "Việt kiều yêu nước" hoặc là "khúc ruột ngàn dặm".

Sự sụp đổ hoàn toàn hệ thống cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu đã buộc các nhà lãnh đạo ĐCSVN phải chấp nhận nền kinh tế thị trường của tư bản qua cái gọi là "đổi mới". Nền kinh tế VN bắt đầu được hồi sinh sau giấc ngủ dài, mặc dù sự hồi sinh này đang bấp bênh và giả tạo vì nền kinh tế lệ thuộc hoàn toàn vào sự đầu tư của nước ngoài. Tuy tham gia vào các định chế kinh tế, các tổ chức thế giới, nhưng ĐCSVN chỉ chấp nhận tự do cạnh tranh về kinh tế chớ không bao giờ dám chấp nhận tự do cạnh tranh chính trị.

CSVN thường tuyên bố đế quốc Mỹ là kẻ thù không đội trời chung. Nhưng hôm nay nhờ có đế quốc Mỹ mà Việt Nam mới được vào WTO, được ngồi vào ghế thành viên không thường trực của Đại hội đồng LHQ, được Mỹ và các nước dân chủ Tây phương giúp đỡ mới có được nền kinh tế như ngày hôm nay. Hàng năm Mỹ thường giúp VN cải thiện nền giáo dục, cứu trợ thiên tai và giúp các bệnh nhân nghèo AIDS cùng các chương trình xoá đói giảm nghèo, cũng như được Mỹ ưu ái bán cho vệ tinh VINASAT-1..v.v… CSVN thường nói là tư bản bóc lột công nhân, còn CNCS là chủ nghĩa công bằng do công nhân và nông dân lãnh đạo nhưng trên thực tế đồng lương và cuộc sống của công nhân và nông dân trong những nước tư bản dân chủ đa nguyên đã vượt xa gấp trăm lần công nhân và nông dân của các nước theo CNCS.

CSVN tuyên dương Trung Quốc là đất nước đàn anh, là người thầy vĩ đại, là ân nhân như môi với răng,... nhưng thử nghĩ lại xem Trung quốc đã giúp đỡ cho chúng ta được những gì ngoài việc chiếm đất đai lãnh thổ của ta, giết hại đồng bào và các ngư dân của ta, ngang nhiên phát động chiến tranh năm 1979 để lấn chiếm đất đai của ta khiến cho hàng chục ngàn chiến sĩ phải hy sinh, in tiền giả để phá nền kinh tế của ta, thực phẩm có chất độc cũng từ Trung Quốc mà ra,…

Một chuyện động trời mà nhân dân VN không thể nào ngờ tới, nhưng ngày nay nó đã được phơi bày ra ánh sáng là chính thủ tướng Phạm văn Đồng thừa lệnh chủ tịch Hồ Chí Minh ký công hàm ngày 14/9/1958 công nhận 2 quần đảo Hoàng sa và Trường sa là của Trung quốc. Bởi vậy cho nên khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa từ tay hải quân VNCH vào tháng 1/1974 thì ông GSTS Hoàng Tùng (trưởng ban Tư Tưởng - Văn Hóa TW) tuyên bố: "Trung quốc chỉ chiếm dùm ta sau này sẽ trả lại, tinh thần quốc tế vô sản mà!". Dĩ nhiên câu nói này nhằm để xoa dịu những người còn có chút lòng yêu nước trong đảng mà thôi. Khi Trung Quốc xây dựng phi trường quân sự ở Hoàng Sa thì cả Bộ Chính Trị CSVN đều im lặng và giấu kín không cho ai biết. Bộ Chính trị đảng cũng mập mờ và giấu kín chuyện Trung Quốc đánh chiếm gần hết các đảo ở Trường Sa vào năm 1988 khiến cho sự hy sinh của các chiến sĩ hải quân bị chìm vào quên lãng. Ngày 2/12/2007 vừa qua khi Trung quốc tuyên bố xác nhập Hoàng Sa và Trường Sa vào thành phố Tam Sa của chúng thì cả ban lãnh đạo ĐCSVN cho đến hôm nay không ai dám lên tiếng phản đối, chỉ cho phép phát ngôn viên ngoại giao Lê Dũng phản đối chiếu lệ trên tivi.

Sinh viên, học sinh cùng các thành phần yêu nước biểu tình chống bọn xâm lăng Trung Quốc thì công an lại thẳng tay đàn áp. Các chiến sĩ trong hàng ngũ quân đội, công an khi đàn áp những người biểu tình phản đối kẻ xâm lược đất nước mình có biết rằng mình đang nối giáo cho giặc không? Quý vị có biết rằng với sự nhiệt tình phục vụ để bảo vệ thành trì của ĐCSVN đã giúp cho những thành phần lãnh đạo bảo thủ của đảng ngày nay người nào cũng có tài sản kết sù trong nước, người nào cũng có tiền gởi ngân hàng ngoại quốc hàng trăm triệu hoặc tỷ đô la, người nào cũng có con đi du học ở các nước tư bản, xài tiền như nước lã. Trong khi đó quí vị là những người trực tiếp chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước tổ quốc và nhân dân thì quí vị có được những gì ngoài đồng lương chết đói và một vài bằng khen do cấp trên ban tặng.

Cụ Hoàng Minh Chính đã từng là trưởng ban nghiên cứu chủ nghĩa Marx-Lênin, có quyền cao chức vọng nhưng ông đã nhìn ra được chính nghĩa mà từ bỏ con đường XHCN, bất chấp mọi hiểm nguy để dấn thân tranh đấu cho Việt Nam có được con đường dân chủ đa nguyên. Ông đã được cả thế giới hoan nghênh và rất đông tướng, tá cùng những đảng viên ưu tú của đảng và mọi thành phần trí thức cùng nhân dân trong nước ủng hộ và đang tiếp nối con đường dang dở của ông, cho dù hiện nay thân xác ông đã hoà cùng sông núi.

Hiện tại chính quyền đang ra sức chặt đứt mọi công việc sinh sống của những người đấu tranh dân chủ, làm áp lực thân nhân gia đình vợ con của họ để cho họ không còn khả năng tranh đấu. Ông Trung tá Tùng (thuộc sở công an thành phố Sài Gòn) nói với anh Đỗ Nam Hải ngày 28/4/2008 rằng: "hiện nay tình báo TQ đã biết mặt anh, biết cả nhà anh nơi anh cư ngụ…vì thế, anh liệu chừng cho vấn đề an ninh của cá nhân anh….". Không biết những ai có tinh thần dân tộc sẽ nghĩ gì trước lời nói này của ông Trung tá công an Tùng?

Ngọn đuốc Olympic Bắc kinh đã kết thúc trong tủi nhục, trong sự chống đối lan tràn khắp nơi trên thế giới. Đúng ra nhà nước Việt Nam không cho ngọn đuốc vào Việt Nam để phản đối hành động xâm lăng của Trung Quốc như Đài Loan đã làm. Nhưng trái lại ngày 29/4/2008 vừa qua chính quyền đã tự hào rước ngọn đuốc thế vận hội ô nhục của bọn bá quyền xâm lược Bắc kinh vào thành phố Saigòn. Với một rừng công an và mật vụ của VN và TQ đã được dàn sẵn từ trước, với sự canh gác nghiêm nghặt và liên tục hạch sách trù dập các nhà đấu tranh dân chủ, hành hung và bắt trước những thành phần sinh viên cùng những người mà chính quyền cho là mầm móng lãnh đạo biểu tình chống Trung Quốc. Ngay chính vị lãnh đạo nhà nước là thủ tướng Nguyễn tấn Dũng cũng đã "quyết tâm" bảo vệ thành công ngọn đuốc. Nhờ vậy một rừng cờ TQ với sự bảo vệ của công an CSVN đã tự do tung bay trên nền trời Sàigòn chiều ngày 29/4/2008, trong khi lá cờ đỏ CSVN tự nhiên biến mất va bỗng chốc Sài Gòn đã trở thành ngày hội của đất nước Trung Quốc. Người TQ cầm cờ tự hào cao ngạo trước nỗi buồn của dân chúng Saigòn, trong khi trang web của hội Thanh Niên Lạc Việt một lần nữa đã bị đánh sập, toàn bộ kế hoạch cho cuộc biểu tình chống TQ đã được công an phá tan trước giờ khai mạc, sinh viên cùng các thành phần yêu nước và dân chúng bị rừng công an cô lập trên tất cả con đường mà ngọn đuốc đi qua.

Nhìn tình cảnh này mọi người chứng kiến đành phải rơi nước mắt cho cái nhục quốc thể của mình, nhưng biết phải làm sao trong giờ phút đó khi toàn bộ sức mạnh của bạo lực nghiêng hẳn về một chính quyền tự nhận là trí tuệ, sáng suốt lãnh đạo đất nước. Ngọn đuốc Olympic Bắc Kinh tạm thời đã thành công tại VN, xem như chính quyền CSVN đã làm tròn lời hứa đối với đàn anh Trung Quốc (kẻ xâm lăng đất nước mình). Tuy nhiên, khí thế đấu tranh vì chính nghĩa của toàn dân sẽ không bao giờ mất, vì lời di chúc của vị vua anh minh Trần Nhân Tôn "quyết không để mất một tấc đất của quê hương cho bọn bá quyền phương bắc" mãi mãi nằm sâu trong tận đáy lòng của mọi người VN yêu nước.

Các chiến sĩ quân đội, công an là lực lượng nồng cốt để bảo vệ quê hương rồi đây sẽ nhìn ra được sự thật quá đau lòng này. Chúng ta đã mất gần 50 năm mới biết được công hàm dâng Hoàng Sa và Trường Sa cho bọn bá quyền Trung Quốc của thủ tướng Phạm Văn Đồng. Bây giờ nếu quý vị còn quá trung thành với một thiểu số người bảo thủ lãnh đạo ĐCSVN mà ra tay đàn áp, bóp chết lòng yêu nước của nhân dân thì thử hỏi trong tương lai đất nước Việt Nam chúng ta sẽ ra sao, bọn bá quyền Trung quốc sẽ nghĩ sao về lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam?. Các nước trên thế giới tuy không bị Trung Quốc xâm lăng nhưng người dân ở các nước này đã vì nhân quyền và dân chủ mà mà lên tiếng, cho nên ngọn đuốc Olympic của Trung Quốc đi đến đâu cũng đều có biểu tình phản đối.

Anh Lê Minh Phiếu (nghiên cứu sinh, sinh viên trường ĐH Luật Montesquieu, Pháp) người được chọn cầm đuốc chạy trên đường phố Sài Gòn đã gởi thư cho ông Rogge chủ tịch Olympic Quốc Tế để phản đối việc Trung Quốc đã lợi dụng ngọn đuốc Olympic vào mục đích chính trị nhằm hợp thức hoá quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào lãnh thổ Trung Quốc. Tuy phản đối nhưng anh vẫn trở về Sài Gòn để cầm đuốc. Ngược lại chính quyền đã quá cẩn thận tuân theo mệnh lệnh của tổng bộ thiên triều Trung Quốc không cho anh Phiếu cầm ngọn đuốc (lệnh của tổng bộ là do chính tai anh Phiếu nghe được). Tuy nhiên, có sự linh thiêng diệu kỳ là mặc dù ngọn đuốc đã được bảo vệ thật kỹ càng nhưng vẫn bị tắt chỉ cách điểm xuất phát chưa đầy 200mét trên tay của bà Nguyễn Thị Thu Hà (Phó Chủ Tịch UBND thành phố). Điều đáng ghi nhớ nữa là ngọn đuốc đã bị tắt nhiều lần như thế trên suốt các con đường mà ngọn đuốc đi qua. Có lẽ hồn thiêng sông núi đã phù hộ nhân dân Việt Nam.

Xin nhắc nhở các chiến sĩ quân đội, công an rằng: đa số các thành phần trong phong trào tranh đấu cho nền dân chủ trong nước hôm nay đều là những đảng viên ưu tú của đảng, đã từng giữ những chức danh quan trọng trong đảng, đã từng là cấp chỉ huy trong quân đội và công an. Họ là những người đã biết rất rõ đường hướng của chủ nghĩa cộng sãn, đã nhận thức được là CNCS không còn phù hợp cho toàn dân nữa và họ đang thực hiện đúng theo lương tâm của họ, đúng theo sự tuyên truyền hàng ngày của đảng là xây dựng một XÃ HỘI CÔNG BẰNG DÂN CHỦ VĂN MINH.

Tại vì đảng độc tài lãnh đạo nên đã bịt kín mọi sự thật, cho nên đa số những người phục vụ cho đảng cùng đa số nhân dân không biết gì về chuyện Trung Quốc ngang nhiên chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của ta. Hiệp ước ranh giới tháng 12/1999 khiến đất nước mất Ải Nam Quan, hiệp ước lãnh hải tháng 12/2000 mất trên 10 ngàn km2 đường biển. Rồi nào là cơ chế độc đảng đã khiến cho tham nhũng công khai lộng hành từ trung ương xuống địa phương không sao cứu giãn nổi, quyền lực và bè phái đã dung túng cho những kẻ bất tài vô dụng ngồi vào các chức danh quan trọng trong chính quyền để thủ lợi cá nhân.

Lịch sử đã từng kết tội Lê Chiêu Thống và Trần Ích Tắc theo ngoại bang nhưng Lê Chiêu Thống và Trần Ích Tắc chưa hề ký hiệp ước hoặc công hàm dâng đất, dâng biển cho Tàu dù chỉ một tấc. Vậy thử hỏi có người nào lại cam tâm tôn vinh một đất nước đã xâm lăng đất nước mình? Hành động bóp chết quyền tự do của người dân được quy định ở điều 69HP hiện hành là phản lại tổ quốc và nguyện vọng của nhân dân. Theo đà tiến bộ của loài người thì chắc chắn trong tương lai không xa con đường dân chủ đa nguyên bắt buộc phải đến. Chính đại tá Chung (CA Hà nội) khi làm việc với nhà dân chủ Nguyễn Khắc Toàn cũng đã khẳng định là "đa đảng sẽ phải đến từ từ thôi".

Hiện nay cuộc sống của đại bộ phận đồng bào thân yêu đang trở nên khó khăn hơn vì cơn lạm phát phi mã, vì sự lạm quyền và tham nhũng tinh vi của các thành phần quyền lực trong đảng. Việc đảng tuyên bố Nguyễn Việt Tiến (thủ phạm chính tham nhũng trong vụ PMU18) là vô tội và đang phục hồi tất cả quyền lợi cho ông ta, đồng thời lại bắt giam 2 nhà báo của Tuổi Trẻ và Thanh Niên đã đăng bài vạch trần những âm mưu tham nhũng của Tiến, cũng như truy tố thiếu tướng Quắc (vì ông này đã cho tiến hành điều tra để vạch trần những sai trái của Nguyễn Việt Tiến khiến cho Tiến phải bị bắt giam 18 tháng), đã gây công phẩn cho làng báo Việt Nam dưới sự điều hành của đảng. Việc này cũng gây công phẫn trong dư luận trong nước và gây bất mãn quốc tế khiến cho ông trưởng đoàn ngoại giao về nhân quyền của Mỹ phải nêu ra trong ngày đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam và Mỹ tại Hà Nội vào ngày 30/5/2008 vừa qua.

Trước khi kết thúc xin được nhắc lại lời phát biểu muộn màng của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt: “….Có hàng trăm con đường yêu nước khác nhau. Tổ quốc VN không của riêng một đảng, một phe phái, một tôn giáo nào… Quốc hội có nhiều người tự ứng cử và được dân bầu lên một cách tự do sẽ tốt hơn Quốc hội bây giờ”. Vậy ngay từ bây giờ thế hệ chúng ta phải làm gì cho đất nước để khỏi hổ danh là con Hồng cháu Lạc?

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Những bãi tắm nude nổi tiếng nhất thế giới
Theo danh sách Top 10 bãi tắm nude đẹp và nổi tiếng nhất thế giới mới được công bố gần đây, không có bất kỳ bãi tắm nào ở châu Á lọt vào danh sách trên mặc dù có rất nhiều bãi biển đẹp và thu hút khách du lịch.

Điều này cũng không khó lý giải vì người châu Á thường rất e ngại khi nude trước thanh thiên bạch nhật. Đối với người dân châu Âu thì hoàn toàn khác, họ coi được nude trước trời đất là một cơ hội vàng để được thưởng thức cái nắng hiếm hoi sau những ngày mùa đông kéo dài.

Dưới đây là danh sách những bãi tắm nude đẹp nhất và nổi tiếng nhất được bầu chọn từ hơn 200 bãi biển trên toàn thế giới:


Image
1. Đứng đầu bảng là bãi tắm Leucate Plage của Pháp nằm trên bở biển Địa Trung Hải

Image
2. Bãi tắm Playa Es Pregons Gran trên đảo Balearic islands phía Nam Majorca.
Đây chính là một vịnh nhỏ nổi tiếng có hình trăng lưỡi liềm với những bãi cát vàng
rất được các du khách ưa thích tắm nude tìm đến.


Image
3. Bãi Haulover Beach của bang Florida giáp phía Bắc Miami - Mỹ gồm nhiều hòn đảo nhỏ.
Được mệnh danh là “ Món quà quý ” của “ bang mặt trời Florida ” vì ở đây thời tiết rất ấm áp gần như quanh năm


Image
4. Bãi biển Vera Playa của Tây Ban Nha.
Phần đông các du khách “nghiền” tắm nude từ các quốc gia trong khối EU đều rất hài lòng
khi được nằm dài dưới những bãi cát vàng chan hoà thứ ánh nắng hiếm hoi mà thiên nhiên
nơi đây đã ban tặng cho xứ sở của những chú bò tót sau cả một mùa đông dài tại châu Âu.

Image

5. Bãi biển Banana Beach nằm trên bờ biển phía Tây Nam của Hy Lạp.
Cái tên Banana có nghĩa là “quả chuối ” được các du khách đặt tên cho 3 vịnh cát nhỏ của bãi biển
vì những bãi biển này có màu vàng và hình cong như một quả chuối

Image
6. Bãi Valalta - Croatia. Là bãi “ tắm tiên ” đẹp nhất và nổi tiếng nhất
được chính người dân và du khách nước ngoài bầu từ danh sách những bãi tắm nude và không nude của Croatia.

Image
7. Bãi Playa de Maspalomas nằm trên quần đảo Canary thuộc lãnh thổ phía Tây Nam Gran Canaria.

Image
8. Bãi tắm Euronat. Là bãi tắm nuy nổi tiếng trải dài từ Biarritz tới Gironde
nằm trên bờ Đại Tây Dương thuộc khu vực Tây Bắc thành phố Bordeaux của Pháp .

Image
9. Plakias Beach nằm ở phía Tây Nam Hy Lạp.
Đây là nơi có rất nhiều vách đá hùng vỹ được hình thành từ hàng triệu năm về trước.
Bãi tắm dành riêng cho những “du khách tiên” nằm ở cuối bãi biển vì đây là nơi yên tĩnh và được nắng chiếu nhiều nhất.

Image
10. Vị trí cuối bảng thuộc về bãi tắm Les Grottes Plage cũng của Pháp.
Tuy không được nổi tiếng như những bãi tắm hạng trên nhưng đây là nơi đầu tiên
khởi phát phong trào tắm nude của những người châu Âu


Bình Nguyên (Theo Top Beach List)

Post Reply