Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Con Cào Cào Cô Đơn
CHU TẤT TIẾN
Buổi sáng thứ Bẩy, ra vườn hít thở chút không khí ban mai, thuởng thức một khoảng thời gian êm ả, không tiếng xe, không khói bụi, và nhìn ngắm khu vườn yên tĩnh còn ngái ngủ. Nhiều cánh lá còn xếp, nhiều cánh hoa còn rung dưới giọt sương đêm, cỏ dưới chân còn ướt. Người và cảnh cùng trong trạng thái buông mềm. Tay chân, cành lá chưa vươn hết sức, vẫn chờ mặt trời lên để hoạt động trong một ngày thật đẹp. Bất chợt, đang lặng ngắm những cánh mong manh của một đóa quỳnh vàng, một chú cào cào xanh từ trong bụi nhẩy ra, mở to cặp mắt tròn như hòn bi nhỏ xíu, nhìn con người đứng trước mặt một cách ngờ vực.

Chiếc đầu nhọn hoắt nghiêng qua nghiêng lại như đánh giá đối phương, còn hai chân có những chiếc răng sắc như dao, nhúc nhích như sẵn sàng đập xuống cỏ, lấy đà rồi bay vù đi vào một chỗ nào khuất khúc. Hai cặp cánh xanh ép bên sườn nhưng cũng như đôi chân, chỉ một chớp mắt là giang rộng ra, vút lên, mất hút!

Ơi! Đã bao nhiêu năm rồi, chưa được nhìn thấy một chú cào cào xanh! Có lẽ từ khi qua đất nước người, có lẽ lâu lắm rồi thì phải... Những chú cào cào xanh, biểu tượng cho một thời thơ ấu quê nhà, thời chạy theo những cánh chuồn lơ lửng; chuồn ngô với đôi mắt thật to và hàm răng thật sắc, đủ làm cho đứa bé lì lợm phải hét lên; chuồn lửa với thân dài đỏ rực; chuồn bà già, chuồn chuồn kim xanh biếc. Nhưng giữa những cánh chuồn, cánh bướm, thì chú cào cào xanh oai hùng nhất, đáng mơ nhất của tuổi thơ, vì chú bay rất khỏe, nếu buộc chỉ vào chân, để chú bay vòng trong nhà, thì thật ác liệt. Tiếng đập cánh của chú "vù vù" nghe như tiếng còi chiến thắng, vì không có thằng nào trong xóm có con cào cào khổng lồ như thế. Tiếng đập cánh của chú cũng gợi lên sự bình an của một thời mà con người yêu thương nhau. Hàng xóm gọi nhau í ới. Bạn bè quấn quít lại qua. Ít thù hận, nhiều thương yêu. Gặp nhau, tay bắt mặt mừng, nói chuyện đâu đâu. Thằng Lượm, con Mót, ông thầy Tầu "ai lồng hồ, dàng dụn, bạc dụn báng hông...", anh bán kẹo kéo "má ơi, con muốn lấy chồng; lấy anh kẹo kéo, vừa bồng, vừa nhai".. Không có những trận chiến giữa hàng xóm với nhau, nếu có, chẳng qua như một sự xô đũa, xô bát, ồn ào chút xíu rồi lại thôi, đâu vào đấy. Những cãi cọ, cũng sẽ là chiếc đập cánh của con cào cào, ào một cái rồi lại trở về bình yên như lũy tre làng.

Nhưng, bây giờ, ở xứ người, sao lâu lắm không được nhìn thấy cào cào, sao lâu lắm không thấy tình hàng xóm.. Còn cộng đồng thì sao? Chỉ khi nào thấy có sự xuất hiện của Cộng Sản, có những khiêu khích đến từ Hà Nội, "thủ đô của phẫm giá con người", hay "cái nôi của văn minh nhân loại" như lời quảng cáo ì xèo cho một nơi chốn mà nhân phẩm của phụ nữ nghèo bị chà đạp thê thảm, lúc ấy, mới thấy sự đoàn kết, vai kề vai, tay nắm tay, cùng hô lên chung một tiếng "Tự Do cho Việt Nam". Ngoài ra, sau khi hình bóng Cộng Sản qua rồi, thì cũng như con cào cào xanh kia, ít thấy xuất hiện tình đồng hương, đồng chủng. Chỉ thấy người mình đánh người mình, người Sàigon chụp mũ, tấn công người Biên Hòa, người lính áo xanh tấn công người lính áo sọc. Đâu đâu cũng thấy nón cối bay tung. Kèm theo nón cối là những văn chương bình dân "mất gà, mất vịt". Những danh từ, tĩnh từ, trạng từ vốn được xử dụng thường xuyên nơi chợ "búa", nay được đem ra phân phối trên các tờ lá cải, trong hệ thống truyền thanh, và đặc biệt là trong hệ thống thư điện tử miễn phí. Người ta muốn cho nhau thân tàn, ma dại, chết dở sống dở..

Sau khi bỏ quê hương để sống ở xứ lạ, người mình hình như không mang theo hương vị của lúa, ngô, khoai, sắn; không giữ được hình ảnh của nhũng cánh chuồn, cánh bướm; không nhớ đến những chú cào cào xanh; không còn thích nghe những câu ca dao "hỡi anh đi đường cái quan, dừng chân đứng lại em than đôi lời", hay "Nhà Bè nước chẩy chia hai, ai dìa Gia Định, Đồng Nai thì dìa"… Câu thơ "gió đưa cành trúc la đà, tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương" không còn vẳng trong không gian nữa. Có lẽ vì không còn cảnh "học trò xứ Quảng ra thi, thấy cô gái Huệ, chân đi không rời"... Hay có lẽ vì không còn những níu kéo "người ơi, người ở, đừng về", nên người ở Cali cứ lẳng lặng bỏ qua Texas, người ở miền Bắc Seattle thiên di về xứ nóng Arizona, mà chẳng mang theo kỷ niệm gì..

Đất nước người, dù sang, dù đẹp, dù cũng có đồng quê, nhưng không gọi được tiếng võng đưa kẽo kẹt ban trưa, tiếng mẹ ru con ời ợi. Cho nên, không ai thương ai. Nhìn chung quanh, cứ thấy đầy dẫy kẻ thù. Khuôn mặt nào cũng là Cộng Sản. Kể cả các nhà văn, nhà thơ đã từng chiến đấu gần hết một đời, còn vài năm nữa là lẳng lặng ra đi, mà vẫn bị tiếng không lành. Dĩ nhiên cũng có một vài khuôn mặt hiếm hoi từng là chiến sĩ, lúc đi xuống gần chân đồi, mới đổi giọng tay sai. Họ là những kẻ bất cố liêm sỉ, tham tiền, mê sắc, mà bán cả thân phận, "mua danh ba vạn, bán danh ba đồng"; những kẻ đó, không đuợc ví với con cào cào anh dũng, bay "vù vù" kia, mà chỉ xứng đáng làm thân cuốn chiếu. Gặp ai đụng tới, thì co giúm lại, mặc cho trẻ dùng que, vất qua vất lại, cũng không được ngang tàng như giun, có quẫy có đạp.

Vì thế, nhìn con cào cào cô đơn kia, đứng hiên ngang, ngẩng cổ nhìn con người to hơn ngàn lần mà không tỏ ra chút nào sợ hãi, con người có chút nào kính trọng. Người xưa đã từng nói "Ngược đời, châu chấu đá xe, tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng". Con cào cào xanh kia, với đôi mắt long lanh, với cái đầu liếc qua liếc lại, mi là biểu tượng của cô đơn, nhưng cũng là hình bóng của quê hương yêu dấu. Sao mi không kéo bầy, kéo lũ về đây, để cho chúng ta thương yêu nhau hơn, bớt tiếng bấc tiếng chì, bớt gây gây gổ gổ, và triệt tiêu đi những hình ảnh không đẹp của đồng hương đánh đồng hương, người Việt Bẩy Lăm chống người Việt Chín Mươi, cựu chiến sĩ tấn công cựu quân nhân... Buồn quá, cào cào ơi!

Con cào cào cô đơn, hình như hiểu tiếng người, lúc lắc đầu thêm vài lần, dáng điệu như suy nghĩ mông lung, rồi chợt đập cánh bay "vù"...


CHU TẤT TIẾN

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Đức Tăng Thống Huyền Quang

Image


bản tin của Phòng thông tin Phật giáo GHVNTN ở Paris đã cho biết Đức Tăng thống Huyền Quang sau thời gian điều trị ở bệnh viện Quy nhơn đã trở về Tu viện Nguyên Thiều để Tĩnh Dưỡng và Nghe Kinh .

Hình trên Hoà Thượng Quảng Độ Viện trưởng Viện Hoá Đạo và các Thượng Toạ trong Viện Hoá Đạo đón Đức Tăng thống

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Đức Tăng Thống Huyền Quang đã Viên Tịch.

Nam mô tiếp dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

Theo bản tin của Phòng tin Phật giáo tại Paris cho biết Đức Đệ Tứ Tăng Thống Hoà Thượng thượng Huyền hạ Quang lãnh đạo Giáo Hội Phật giáo Việt nam Thống Nhất đã Viên tịch vào lúc 13 giờ 15 phút tại Tu viên Nguyên Thiều tỉnh Bình Đình VN. Thế thọ 89 tuổi .

Lễ nhập quan sẽ được hành trong ngày hôm nay 6 tháng 7 năm 2008. Và lễ An táng sẽ cử hành vào ngày thứ Sáu 11 tháng 7 năm 2008 Ngay tại Tu viện Nguyên Thiều.

Nhân dịp đau buồn. Xin kính cẩn Cúi Đầu Đảnh lễ Cầu Nguyện Giác Linh cố Hòa thượng Huyền Quang sớm về Cõi Tịnh Độ.



Image

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image


THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 5.7.2008
Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang đã viên tịch
tại Tu viện Nguyên Thiều lúc 13 giờ chiều ngày 5 tháng 7 năm 2008


Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế kính xin khấp báo đến chư Tôn đức Tăng, Ni, dồng bào Phật tử và đồng bào các giới Cáo Bạch sau đây của Hội đồng Lưỡng Viện (Viện Tăng thống và Viện Hoá Đạo) Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất :

CÁO BẠCH

Hội đồng Lưỡng viện Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất,
Môn đồ pháp quyến cùng Tăng chúng Tu viện Nguyên Thiều, tỉnh Bình Định
ĐAU BUỒN KHẨN BÁO:
Chư tôn giáo phẩm Hội đồng Viện Tăng thống
Ban chỉ đạo Viện hóa đạo GHPGVNTN
Văn Phòng II Viện Hoá Đạo GHPGVNTN Hải ngoại tại Hoa Kỳ và các Châu lục
Chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni
Cùng toàn thể Phật tử các giới trong và ngoài nước

Đức Đại lão Hòa thượng HUYỀN hạ QUANG, đệ tứ Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất(GHPGVNTN); Viện chủ Tu viện Nguyên Thiều tỉnh Bình Định. Sau một thời gian lâm bệnh, mặc dầu đã được các y, bác sĩ, Hội đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN, Môn đồ pháp quyến tận tình chăm sóc, chữa trị nhưng vì tuổi cao, sức yếu, Đức Tăng thống đã xả báo thân lúc 13 giờ 00 ngày 05 tháng 07 năm 2008 , tức mùng 03 tháng 06 năm Mậu Tý, trụ thế 89 năm, pháp lạp 69.

Lễ nhập Kim quan lúc 08 giờ 00, ngày 06-07-2008 (mùng 04 tháng 06 năm Mậu Tý) tại Tu viện Nguyên Thiều, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Lễ cung nghinh Kim quan nhập Bảo Tháp lúc 07 giờ 00 ngày 11- 07- 2008 (mùng 09 tháng 06 năm Mậu Tý) trong khuôn viên Tu viện Nguyên Thiều.

Thay mặt Hội đồng Lưỡng Viện cùng Môn đồ pháp quyến, chúng tôi trân trọng cáo bạch đến chư tôn giáo phẩm, chư Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni, toàn thể Phật tử các giới trong và ngoài nước được biết và nguyện cầu giác linh Đức đệ tứ Tăng Thống CAO ĐĂNG PHẬT QUỐC.

Tu viện Nguyên Thiều, ngày 5.7.2008
TM Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN
và Môn Đồ Pháp Quyến
Viện Trưởng Viện Hóa Đạo
GHPGVNTN
Sa môn Thích Quảng Độ
Sau đây Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin cung cấp bản tiểu sử rút ngắn và sơ bộ của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang. Trong buổi Lễ Thọ tang do Văn phòng II Viện Hoá Đạo và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ tổ chức trong vài ngày tới đây, chúng tôi sẽ cung cấp Tập Kỷ Yếu về Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, qua đó bản tiểu sử đầy đủ cùng những văn kiện chính yếu mà Đức Tăng thống đã viết ra trong thời gian 33 năm của cuộc vận động dân tộc đòi phục hồi Quyền sinh hoạt pháp lý của GHPGVNTN, và dân chủ, nhân quyền cho quê hương, kèm theo « Bản Tự thuật » do chính Ngài viết ra và gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để phổ biến.
TIỂU SỬ ĐỨC ĐỆ TỨ TĂNG THỐNG THÍCH HUYỀN QUANG

Thân thế
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, Đệ tứ Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, thế danh Lê Đình Nhàn, sinh ngày 8 tháng 8 Canh Thân, tức 19 tháng 9 năm 1920, tại làng Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, con thứ tư của cụ Lê Vỵ và bà Ngô Thị Tư cùng ở làng Háo Đức.
Thời niên thiếu
Năm 1925-1932 : Ngài học chữ Nho tại nhà.
Năm 1932-1935 : Ngài thụ giáo với Hòa thượng Vĩnh Khánh, được ban pháp danh Như An, pháp tự Giải Hòa. Thọ sa-di giới năm 1935, thủ khoa trong tập chúng.
Năm 1935-1937 : Hòa thượng Vĩnh Khánh viên tịch (30.9.1935), Ngài đầu giáo Hòa thượng Bích Liên và được phú pháp hiệu Huyền Quang, pháp danh Ngọc Tân, pháp tự Tịnh Bạch.
Do tư chất đặc biệt xuất chúng, mà Ngài được đặc cách miễn tuổi để thọ Tam đàn Cụ túc và Bồ tát giới vào năm 17 tuổi (1937) tại giới đàn chùa Hưng Khánh, thuộc quận Tuy Phước, tỉnh Bình Định, do Hòa thượng Chí Bảo làm Đàn đầu. Kỳ sát hạch này Ngài đậu thủ khoa.
Năm 1938 đến 1945, Sau khi học xong ở Phật học đường Lưỡng Xuyên, tỉnh Trà Vinh, Ngài ra đất Thần kinh Huế tòng học tại Phật học đường Báo Quốc cùng với các Pháp hữu Thiện Hoa, Thiện Hòa, Thiện Siêu, Trí Quang, Thiện Minh, v.v...
Công nghiệp Hoằng hóa lợi sanh
Tháng 8 năm 1945, Ngài tham gia kháng chiến chống Pháp giành độc lập dân tộc ở Liên khu 5, giữ chức vụ Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Phật giáo Cứu quốc Liên khu 5. Do Ngài tổ chức cơ sở Phật giáo quy mô nên bị chính quyền cách mạng lâm thời nghi kỵ và theo dõi.
Đầu năm 1951, Ủy ban Kháng chiến liên khu 5 tuyên bố : “Sinh hoạt Phật giáo phải theo mô thức Hội đoàn”. Ngài lên tiếng phản đối : “Phật giáo chúng tôi là một tôn giáo quy tụ đủ mọi thành phần trí thức, nông dân, nam, phụ, lão, ấu, không thể xem như hội đoàn. Vì phê phán như vậy, ngài bị bắt, bị an trí ở Phù Mỹ, rồi Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, tổng cộng 4 năm trời ! Một tháng trước ngày đình chiến theo Hiệp định Genève (20.7.1954) Ngài được trả tự do.
Năm 1955 đến 1957, Ngài làm Giám đốc Phật Học Đường Trung phần ở chùa Hải Đức, Nhatrang.
Năm 1958 Ngài khai sáng Tu viện Nguyên Thiều, thành lập Phật học viện Nguyên Thiều do Ngài làm Giám viện cho đến ngày nay.
Năm 1958 đến 1962, Ngài giữ chức Phó Hội Trưởng Hội Phật Học Trung Phần kiêm Hội trưởng Hội Phật giáo Thừa thiên - Huế, văn phòng đặt tại chùa Từ Đàm. Sau đó Ngài làm Hội Trưởng Hội Phật Giáo Bình Định.
Năm 1963 Ngài tham gia cuộc vận động giải trừ Pháp nạn và yêu sách xóa bỏ Dụ số 10 dưới thời Pháp thuộc liệt Phật giáo vào quy chế Hiệp hội. Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo ra đời lãnh đạo cuộc đấu tranh. Uỷ ban do Hòa Thượng Thích Tâm Châu làm Chủ tịch, cố Hòa Thượng Thích Thiện Minh làm Phó chủ tịch, Ngài làm Tổng thư ký kiêm Trưởng khối Soạn thảo tài liệu đấu tranh và Phổ biến ra toàn quốc.
Vào nửa đêm 20.8.1963, Chính quyền Ngô Đình Diệm tung "Kế hoạch Nước lũ" bố ráp Tăng, Ni trên toàn quốc, tập trung đặc biệt vào hai thành phố Saigon và Huế, Ngài bị bắt cùng với hàng nghìn Tăng Ni. Sau chính biến 1.11.1963, Ngài mới được trả tự do.
Cuộc đấu tranh hoàn tất, Đại hội Phật giáo toàn quốc tổ chức tại Saigon từ 31.12.63 đến 4.1.64, và do Dụ số 10 đã hủy bỏ, nên danh xưng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được ra đời, kế tục công cuộc truyền thừa Chánh pháp của "Giáo hội Dân lập" từ xưa và "Tổng hội Phật giáo Việt Nam" trước đây. Ngài được cung thỉnh vào chức vụ Tổng thư ký Viện Hóa Đạo kiêm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Cư sĩ.
Năm 1964, Ngài đi Thái Lan tiếp xúc và liên lạc các chùa Việt ở thủ đô Bangkok đồng thời hành hương các thánh tích, thắng cảnh Phật giáo Thái.
Năm 1970, Ngài đại diện Viện Hóa Đạo tham dự Đại Hội Các Tôn Giáo Thế Giới vì Hòa bình lần thứ nhất tại Nhật Bản. Đại hội này do các tôn giáo lớn như Công giáo, Tin Lành, Do Thái giáo, v.v... chủ trì.
Năm 1971, Ngài đi hành hương Ấn Độ, chiêm bái các Phật tích.
Năm 1972, Ngài sang Genève tham dự Đại Hội Hội Đồng Tôn Giáo Thế Giới ở Thụy Sỹ. Hội Đồng này do Tin Lành giáo Thế giới chủ trì. Đại Hội bàn việc hòa bình cho Việt Nam và cứu trợ nạn nhân chiến tranh.
Năm 1974, Ngài cùng Cố Hòa thượng Thích Thiện Minh sang thủ đô Bruxelles ở Bỉ dự lần thứ 2 Đại hội các Tôn giáo Thế giới vì Hòa Bình do các tôn giáo lớn như Công giáo, Tin Lành, Do Thái giáo, v.v... chủ trì.
Ngày 27.12.1974, Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất kỳ 6 tổ chức tại Saigon cung thỉnh Ngài vào chức vụ Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo.
Sau năm 1975, do chính sách Cộng sản đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, chiếm dụng tất cả các cơ sở của Giáo hội, từ chùa viện cho đến các cơ sở giáo dục văn hóa và xã hội từ thiện, khiến 12 Tăng Ni tự thiêu tập thể để phản đối vào ngày 2.11.1975 tại Thiền viện Dược sư, ấp Tân Long, xã Tân Bình, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ. Ngài cử Hòa thượng Thích Quảng Độ, Tổng thư ký Viện Hóa Đạo, dẫn đầu một phái đoàn về Cần Thơ lập hồ sơ. Nhưng toàn bộ hồ sơ gồm các chứng liệu, băng từ ghi 7 lời thỉnh nguyện của Đại đức Thích Huệ Hiền trước khi tự thiêu, hình chụp và phim quay tại hiện trường đều bị công an tịch thu.
Ngày 3.3.1977, nhà nước tiến thêm một bước chiếm dụng Cô Nhi viện Quách Thị Trang ở Saigon, Ngài và Hòa thượng Thích Quảng Độ cùng chư tôn đức Tăng, Ni, Phật tử phát động cao trào đòi hỏi Nhà nước cộng sản hoàn trả tài sản của Giáo hội. Cuộc đấu tranh gay go và bị Nhà cầm quyền thẳng tay đàn áp.
Ngày 6.4.1977, Ngài bị bắt và bị biệt giam tại Nhà giam số 4 Phan Đăng Lưu, Quận Bình Thạnh ở Sàigòn cùng với cố Hòa thượng Thích Thiện Minh, Hòa thượng Thích Quảng Độ, v.v... Do áp lực quốc tế và sự phản đối của đồng bào Phật tử trong và ngoài nước, nên sau 18 tháng tù giam, ngày 10.12.1978 Nhà cầm quyền cộng sản đưa ngài ra Tòa án Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử, kêu án 2 năm tù treo và quản chế tại chỗ.
Năm 1978, hai Giải Nobel Hòa bình người Ái Nhĩ Lan là bà Mairead Corrigan và bà Betty Williams viết thư cho Uỷ ban Nobel Hoà bình đề nghị Ngài và Hòa thượng Thích Quảng Độ làm ứng viên Giải Nobel Hòa bình.
Do phản đối Đảng và Nhà nước thiết lập vào cuối năm 1981 một Giáo hội Phật giáo làm công cụ chính trị phục vụ Đảng và chia rẽ nền Phật giáo dân tộc, nên Ngài cùng Hòa thượng Thích Quảng Độ bị bắt ngày 25.2.1982 và bị trục xuất khỏi thành phố Saigon, đưa Ngài ra quản chế tại chùa Hội Phước, tỉnh Quảng Ngãi. Tại Quảng Ngãi, Ngài nhận lệnh Công an : cấm hành nghề Tôn Giáo, cấm phiên dịch và các nghề nghiệp khác. Tại đây Ngài bị nhà đương quyền quyền đối xử tồi tệ.
Kể từ năm 1990, các Nhóm Ân xá Quốc tế thuộc 5 quốc gia Vương quốc Bỉ, Canada, Pháp, Áo, Hoà Lan và Hoa Kỳ ghi danh Ngài như Người tù vì lương thức để bêng vực bằng cách gửi liên tục hàng chục nghìn bức thư cho nhà cầm quyền Hà Nội để đòi hỏi trả tự do cho Ngài.
Năm 1992, Cố Đại Lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Đệ Tam Tăng Thống Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, đau nặng, sắp ra đi về cõi Phật, nên để lại Di chúc cung thỉnh Ngài vào chức vụ Xử lý Hội đồng Lưỡng viện kiêm Quyền Viện trưởng Viện Hóa Đạo, để hướng dẫn việc đòi hỏi phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và tìm thuận duyên tổ chức Đại hội Giáo hội kỳ VIII.
Ngày 21 tháng 3 Nhâm thân, tức 23.4.1992, Đức Đệ Tam Tăng thống Thích Đôn Hậu viên tịch tại chùa Linh Mụ. Ngài xin ra Huế dự đám tang, nhưng chính quyền Quảng Ngãi không cho đi. Ngài tuyên bố : “Nếu chính quyền Quảng Ngãi ngăn cấm tôi ra Huế dự tang lễ, tôi sẽ tuyệt thực vô thời hạn, và sẵn sàng cúng dường thân này lên Chư Phật và tạ lỗi với Cố Đại Lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, bởi vì tôi đã không làm tròn nhiệm vụ mà Hòa Thượng giao phó”. Sau hai ngày tuyệt thực, chính quyền đành phải để cho Ngài ra Huế.
Hòa thượng Thích Nhật Liên, Trưởng tử của Môn đồ hiếu quyến Đức Đệ Tam Tăng thống, trao lại cho Ngài ấn tín Giáo hội và Di chúc của Cố Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu. Ngài dâng lời Tác bạch trước kim quan Đức Đệ Tam Tăng thống với lời hứa linh thiêng : "Dầu sẽ có muôn ngàn khó khăn, ngài không bao giờ chồn bước, quyết vận động đòi hỏi Nhà cầm quyền Cộng sản phải để cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý như trước năm 1975".
Ngày 25.6.1992, Ngài viết Yêu sách 9 điểm, dài 9 trang, gửi 6 cơ quan lãnh đạo Nhà nước nói lên thảm trạng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị kỳ thị và đàn áp trong suốt 18 năm ròng rã, tố giác việc tù đày, khủng bố hàng giáo phẩm như Cố Hòa thượng Thích Thiện Minh, Hòa thượng Thích Quảng Độ, v.v... , tố giác Đảng và Nhà nước dựng lên Giáo hội Phật giáo Việt Nam làm công cụ chính trị cho Đảng với manh tâm chia rẽ khối Phật giáo dân tộc và tiêu diệt Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Yêu sách 9 điểm mở đầu cuộc vận động Giải trừ Pháp nạn.
Ngày 15.11.1992, Ngài viết "Đơn bổ túc Đơn đề ngày 25.6.1002 trình bày các việc liên hệ Mặt trận Tổ quốc". Văn kiện này gửi Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc và đồng kính gửi Tổng bí thư Đảng, Chủ tịch Nước, Thủ tướng và Viện trưởng Tối cao Pháp viện. Ngài nhắc đến các lần ngài bị bắt và bị tố khổ từ những năm 50 tại Liên khu 5 cho đến ngày hôm nay.
Ngày 17.8.1992, từ Hà Nội, Ông Phan Văn Tánh, Trưởng ban Dân vận Trung ương gửi cho các Ban Dân vận, các Tỉnh ủy và Thành ủy một tài liệu "Mật" mang số 125/TUDV "về việc Huyền Quang và số phần tử hoạt động chống đối", nhằm chỉ thị cho Giáo hội Phật giáo Nhà nước tố cáo Ngài, và chỉ thị cho công an địa phương, đặc biệt ở Quảng Ngãi, theo dõi quan hệ trong và ngoài nước của Ngài, kiểm soát và "đấu tranh mạnh mẽ hơn" đối với Ngài.
Ngày 18.8.1992, một tài liệu "Tuyệt mật" mang số 106/PA 15-16 của Bộ Nội vụ đưa ra 5 biện pháp đấu tranh chống Phật giáo : "1. Phân hóa cao hàng ngũ giáo sĩ ; 2. tranh thủ số có xu hướng tiến bộ, lôi kéo số lưng chừng, răn đe những đối tượng có biểu hiện tiêu cực ; 3. đối với số cực đoan chống đối phải cắt đứt chân tay, lấy giáo luật, pháp luật đấu tranh, không cho chúng co cụm chống phá ta ; và 4. thúc đẩy phong trào cách mạng trong vùng giáo, củng cố được nòng cốt, cốt cán của ta đặc biệt trong Tăng tín đồ Phật giáo (mà sau này họ gọi là đặc tình, tình báo làm công tác đặc biệt)". Trọng tâm tài liệu nhắm vào Ngài.
Ngày 4.8.1993, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nêu ra 6 điều kết tội Ngài, đồng thời cấm Ngài không được sử dụng chức vụ Quyền Viện trưởng Viện Hóa Đạo, không được sử dụng chùa Hội Phước làm trụ sở Văn phòng Lưu vong Viện Hóa Đạo, và bắt phải giao nộp khuôn dấu Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
Ngày 20.11.1993, Ngài viết "Tuyên cáo Giải trừ Quốc nạn và Pháp nạn", với nhận thức quốc nạn chưa giải trừ thì pháp nạn không thể giải quyết. Ngài đưa ra 12 điểm phê phán khách quan về sự bế tắc của tình hình Việt Nam do Nhà nước cộng sản gây ra. Rồi Ngài đề xuất 9 biện pháp trị liệu, kêu gọi Đảng và Nhà nước "Sám hối với người chết trong tinh thần hứa lo cho người sống được sống người", "bỏ điều 4 trên Hiến pháp" và tổ chức "bầu lại Quốc hội với sự tự do tham gia ứng cử của toàn dân không phân biệt chính kiến, đảng phái, tôn giáo dưới sự giám sát của LHQ".
19.10.1998 Giáo sư Abdelfatah Amor, Báo cáo viên LHQ đặc nhiệm tự do tôn giáo trên thế giới đến Việt Nam điều tra tình hình đàn áp tôn giáo đã yêu cầu gặp Ngài tại Quảng Ngãi nhưng nhà cầm quyền Hà Nội không cho phép.
Ngày 10.5.1998, bốn Giải Nobel Hòa bình gồm có Đức Dalai Lama (Tây Tạng), Bà Mairead Maguire (Ái Nhĩ Lan), Nhà Bác học Francois Jacob (Pháp) và Luật sư José Ramos-Horta (Đông Timor) thành lập "Ủy ban các Nhà lãnh giải Nobel Vận động trả tự do cho Nhị vị Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ", và viết thư chung vào đúng ngày Phật đản 2542, 10.5.1998, gửi Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Chủ tịch Nước Trần Đức Lương và Thủ tướng Phan Văn Khải yêu sách trả tự do cho hai Ngài và hàng giáo phẩm Phật giáo.
Ngày 12.12.1999, ông David Young, Tham tán Chính trị tại Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội vào Quảng Ngãi vấn an Ngài. Đây là người Tây phương đầu tiên được viếng thăm Ngài và hỏi han tình hình Phật giáo sau 17 năm Ngài bị cấm cố, mở đầu cho những tiếp xúc khác với Tây phương sau này.
Ngày 21.4.2000, Ngài viết bức thư dài gửi Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Thủ tướng Phan Văn Khải và Chủ tịch Quốc hội Nông Dức Mạnh, đề nghị Đảng và Nhà nước lấy ngày 30 tháng Tư làm "Ngày Sám hối và Chúc sinh toàn quốc". Sám hối trước sự chết chóc qua các chiến cuộc của hàng triệu Bộ đội miền Bắc và Binh sĩ miền Nam, hàng trăm nghìn nạn nhân chết trong cuộc Cải cách Ruộng đất, Tổng tiến công Tết Mậu Thân tại Huế, và các cuộc hành quyết trong các Trại Cải tạo sau năm 1975. Sám hối với người chết và Chúc sinh người sống, trong nghĩa Linh quyền cho người chết và Nhân quyền cho người sống. Ngài đòi hỏi phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, trả tự do cho tất cả tù nhân vì lương thức, và bải bỏ Nghị định quản chế hành chính 31/CP.
Tháng 4 năm 2001 do Tổ Hành động chống bắt bớ trái phép của LHQ (UN Working Group on Arbitrary Detention) phúc trình, Uỷ hội Nhân quyền LHQ tuyên bố Quan điểm số tham chiếu 4/2001 công nhận Ngài và Hoà thượng Thích Quang Độ là hai tù nhân tôn giáo bị bắt bớ trái phép. Do nhà cầm quyền Hà Nội hồi âm thư LHQ nói hai ngài vẫn được tự do trái với sự thực, nên vài năm sau, ngày 25.5.2005 Uỷ hội Nhân quyền LHQ lại một lần nữa xác nhận Ngài và Hoà thượng Thích Quang Độ là hai tù nhân tôn giáo bị bắt bớ trái phép (Quan điểm số tham chiếu 18/2005).
Ngày 11.2.2003, Ủy viên Đối ngoại của Hội đồng Châu Âu, ông Chis Patten tuyên bố : “Hội đồng Châu Âu và các Quốc gia thành viên kêu gọi Nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho nhị vị Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ, yêu cầu Hà Nội để cho các nhà ngoại giao thuộc phái đoàn Liên hiệp Châu Âu tại Việt Nam đến thăm viếng hai Hòa thượng lãnh đạo Phật giáo.
Tháng 3 năm 2003, Ngài bị khối u gần mắt có nguy cơ ung thư, bệnh viện Quảng Ngãi không đủ phương tiện giải phẫu, Ngài muốn vào Saigon chữa trị. Nhưng bệnh viện Quy Nhơn và cơ quan công quyền tự ý tổ chức cho Ngài ra Hà Nội. Thời gian điều trị ở bệnh viện K ở đường Quán Sứ, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, các viên chức cao cấp Tòa Đại sứ Hoa Kỳ và Liên hiệp Châu Âu đến vấn an Ngài bên giường bệnh.
Ngày 17.3.2003, 31 vị Dân biểu Quốc hội Châu Âu viết thư cho Nhà cầm quyền Hà Nội yêu cầu để cho họ đến Việt Nam thăm bệnh Ngài và viếng thăm Hòa thượng Thích Quảng Độ. Đầu tháng tư, 37 Dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ cũng viết thư yêu sách Hà Nội trả tự do cho Ngài và Hòa thượng Thích Quảng Độ.
Trước mối quan tâm tha thiết của công luận quốc tế, chiều ngày 2.4.2003, Thủ tướng Phan Văn Khải tiếp Ngài tại Văn phòng Chính phủ. Trong câu chuyện, Ngài hỏi Thủ tướng lý do Đảng và Nhà nước ngăn cấm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất hoạt động ? Lý do bắt bớ Ngài từ dưới thời Việt Minh ở Liên khu 5 ? Lý do bắt giam Hòa thượng Thích Quảng Độ cùng nhiều vị tôn túc Tăng Ni và Phật tử ? Rồi Ngài yêu cầu Thủ tướng giải quyết việc phục hồi quyền sinh hoạt cho Giáo hội bị ngăn cấm gần ba mươi năm qua. Thủ tướng Phan Văn Khải không trả lời dứt khoát, đổ lỗi cho cán bộ thừa hành cấp dưới và tuyên bố : "Chúng tôi cũng biết có sai lầm, xin Hòa thượng từ bi hoan hỷ".
Sáng ngày 7.4.2003, Ngài đáp chuyến xe lửa Hà Nội - Saigon xuôi Nam. Đến ga Huế vào lúc 10 giờ 13 phút. Dù Ngài không thông báo trước, nhưng vừa bước xuống tàu Ngài đã thấy 2000 Tôn đức Tăng Ni, Phật tử Huế cung nghênh tiếp đón giữa rừng người áo vàng, áo tràng lam, hàng trăm bó hoa khoe sắc vẫy cao, chen cùng cờ Phật giáo năm màu phấp phới. Ngày hôm sau, Ngài đến đảnh lễ trước tháp Đức Cố Đệ Tam Tăng thống Thích Đôn Hậu, trước tháp Cố Hòa thượng Thích Thiện Minh, và thăm các Tổ đình ở đất Thần kinh, ân cần nhắn nhủ chư Tăng Huế trên bước đường tu và hành đạo.
Ngày 9.4.2003, Ban Giám đốc Quỹ Cứu Người Lâm Nạn (People in Need) tại thủ đô Praha, Tiệp, do cựu Tổng thống Vaclav Havel chủ trì, quyết định trao Giải Nhân quyền cho Ngài, Hòa thượng Thích Quảng Độ để biểu tỏ lòng kính trọng và sự hậu thuẫn hai Nhà đối kháng cho Dân chủ tại Việt Nam đang kiên trì bằng con đường bất bạo động Phật giáo nhằm chuyển hóa dân chủ trên đất nước họ. Giải này mang tên "Người cho Người" (Homo Homini), phát hằng năm cho những nhà đấu tranh nổi danh cho nhân quyền và dân chủ trong thế giới.
Ngày 1.5.2003, Ngài vào Saigon, dự tính về chùa riêng ở Saigon, nhưng Nhà cầm quyền chỉ định Ngài phải về tá túc chùa Ấn Quang và ra lệnh cho Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thành phố đón tiếp Ngài. Không ai loan báo trước, nhưng trên một nghìn chư Tăng Ni, Phật tử đã tự động đến chùa Ấn Quang gặp ngài.
Trong thời gian ở Saigon, ba lần (ngày 3, ngày 9 và 12.5.2003), Ngài đến Thanh Minh Thiền viện vấn an Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, đang bị nhà cầm quyền cách ly không cho tiếp xúc với bất cứ ai. Hai Ngài xa cách nhau bao nhiêu năm ròng vì án lệnh quản chế và tù đày, nay mới được trực tiếp bàn thảo việc chấn chỉnh nội bộ Giáo hội sau thời gian dài bị tê liệt vì ngoại chướng.
Ngày 9.5.2003, vào lúc 16 giờ, Bà Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Saigon, Emi Lynn Yamauchi, đến vấn an Ngài. Cùng đi có ông Marc Forino, Cố vấn Chính trị, và bà Laura H. Kirkpatrick, Cố vấn Kinh tế.
Thành hội Phật giáo Nhà nước long trọng mời Ngài ở lại Saigon tham dự lễ Phật Đản, nhưng Ngài từ khước và trở về Tu Viện Nguyên Thiều vào ngày 14.5.2003, cưu mang những dự án mới chấn chỉnh giáo hội.
Ngày 18.9.2003, Hòa thượng Thích Quảng Độ ra Tu Viện Nguyên Thiều thăm Ngài và ở lại 3 tuần lễ. Thời gian này nhiều phái đoàn chư Tăng các tỉnh miền Trung và miền Nam nghe tin cũng tấp nập về Bình Định vấn an, thỉnh ý cho việc phục hưng Giáo hội. Nhân đó hai Ngài họp bàn việc bổ sung nhân sự vào Hội Đồng Lưỡng Viện trong Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng như tại các cơ sở địa phương.
Ngày 1.10.2003, Ngài và Hòa thượng Thích Quảng Độ tổ chức Đại hội Bất thường tại Tu viện Nguyên Thiều. Lần đầu tiên có sự tham dự đông đảo của 60 chư Tăng đại diện các tỉnh về dự. Đại hội Bất thường thành công viên mãn với sự thỉnh cử 41 Hòa thượng, Thượng tọa vào hai Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo. Mấy lời ứng khẩu của Ngài trong lễ bế mạc Đại hội gây hưng phấn cho tất cả các đại biểu :
"Bao năm khó khăn quý vị biết rồi. Khó khăn từ cán bộ cao cấp cho đến cán bộ cơ sở. Nhưng mà thời gian đã gỡ rối các sự khó khăn đó cho chúng ta trong thời gian qua. Và trong tương lai, nếu còn gì khó khăn nữa, dù chúng ta không chờ cái đó, nhưng mà nếu cái đó không may xảy đến, thì chúng ta phải dạn dĩ chịu đựỉng và tiếp tục chịu đựng, để chúng ta có mặt với Giáo hội.
"Chúng ta làm thế nào cho đạo Phật phát triển hơn nữa, đạo Phật phát triển hơn nữa không giành quyền lợi của ai, không chiếm địa vị của ai, mà chỉ đem đạo Phật - đạo Từ Bi Hỷ Xả - giải thoát đau khổ cho chúng sinh nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng.
"Mong rằng tất cả những khó khăn trong tương lai, sẽ còn có ít nhiều chứ không phải không có, nhưng chuyện đó đối với chúng ta, chúng ta đã dày dạn lắm rồi. Không có gì phải ngại, không có gì phải bỏ cuộc. Mong rằng Đại hội đem lại cho quý vị một Niềm Tin mới sau mấy mươi năm không hoạt động và đầy gian lao, đầy tù tội cùng khắp trên đất nước.
"Thưa quý vị, chúng ta là những người có thể nói rằng, chúng ta có thể bỏ danh, bỏ lợi, bỏ quyền, bỏ thế, thì chúng ta cũng chẳng ngại gì những khó khăn trong tương lai, nếu có. Trông mong quý vị nhất tâm và tích cực hơn nữa để giữ Giáo hội có mặt với dân tộc".
Ngài ban Giáo chỉ cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Hải ngoại tại Hoa Kỳ - Văn phòng II Viện Hóa Đạo và Giáo hội tại các Châu tổ chức Đại hội để nối tiếp khai triển và kết thúc các công tác đề ra tại Tiền đại hội bất thường tổ chức trong nước ở Tu viện Nguyên Thiều, tỉnh Bình Định hôm 1.10.2003.
Công việc đang tiến hành tốt đẹp, thì Hòa thượng Thích Quảng Độ bị công an làm khó dễ buộc phải rời Tu viện Nguyên Thiều về lại Sàigòn. Hòa thượng đành ra về ngày 8.10.2003, Ngài cùng đi với Hòa thượng Quảng Độ và chư Tăng giáo phẩm.
Ngày 9.10.2003, xe chạy đến Lương Sơn cách thành phố Nhatrang 40 cây số, thì công an chận bắt tất cả mười vị và hai Phật Tử. Sáu công an và đại diện Mặt trận thay phiên nhau hỏi cung và khám xét thân thể Ngài một cách bất lịch sự trong vòng 8 tiếng đồng hồ, cho đến lúc Ngài đuối sức, khàn cả tiếng, họ mới cho lệnh dẫn độ Ngài về lại Tu viện Nguyên Thiều vào lúc 23 giờ 30 khuya.
Ngày 21.10.2003, Giám đốc Công an Bình Định đến yêu cầu Ngài từ nhiệm mọi chức vụ trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, chấm dứt liên lạc với Hòa thượng Thích Quảng Độ, thì Nhà nước sẽ mời Ngài ra thăm Hà Nội trở lại để bàn tính việc hợp tác với Giáo hội Phật giáo Việt Nam và sẽ trao cho Ngài những chức vụ cao cấp. Ngài khước từ.
Trong khi ấy, rộng khắp từ trong nước ra đến hải ngoại và quốc tế, một phong trào phản đối nổi lên, đồng loạt tổ chức tuyệt thực phản kháng trước các tòa Đại sứ, Lãnh sự quán của Cộng sản Việt Nam liên tục trong nhiều tuần lễ với khầu hiệu : "Đừng sợ nữa, hãy dõng mãnh và Vô úy đưa con thuyền Giáo hội lướt qua phong ba bão táp !".
Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam và Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế kết hợp với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ – Văn phòng II Viện Hóa Đạo mở cuộc vận động khẩn cấp và sâu rộng tại Quốc hội Hoa Kỳ và Quốc hội châu Âu đưa tới thành quả là ngày 19.11.2003 Hạ viện Hoa Kỳ thông qua với đa số áp đảo "Quyết nghị 427" tán thán sự kiên cường của hàng giáo phẩm lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, một Giáo hội dân lập và có truyền thống 2000 năm lịch sử, và yêu sách Nhà cầm quyền Hà Nội trả tự do cho Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, Hòa thượng Thích Quảng Độ và chư tôn giáo phẩm trong Hội động Lưỡng viện cũng như phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. 24 giờ đồng hồ sau, ngày 20.11.2003, Quốc hội Âu châu thông qua Quyết nghị tương tự với đa số tuyệt đối.
Ngày 28.4.2004, vào lúc 10 giờ 50 sáng, ông Raymond Burghart, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam cùng phu nhân đến Tu viện Nguyên Thiều ở Bình Định vấn an Ngài và hàn huyên thân mật trên một tiếng đồng hồ. Ngài nhân danh Giáo hội ngỏ lời cám ơn ông Đại sứ, Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Hoa Kỳ đã lưu tâm đến vấn đề tôn giáo tại Việt Nam, đặc biệt đã không ngừng lên tiếng bênh vực mỗi khi Ngài và Hòa thượng Thích Quảng Độ lâm nạn.
Ngày 15.9.2004 Ngoại trưởng Hoa Kỳ Colin L. Powell công bố đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia đàn áp tôn giáo trong thế giới "đặc biệt cần quan tâm", vì Việt Nam "dùng các biện pháp độc tài toàn trị hay độc đoán để kiểm soát những hoạt động tín ngưỡng và nghi thức tôn giáo". Các nước bị liệt kê vào danh sách đen sẽ bị Hoa Kỳ áp dụng các biện pháp chế tài trên lĩnh vực kinh tế và tài chánh, nếu không chịu thay đổi chính sách đàn áp tôn giáo.
Ngày 18.11.2004, Ngài bị xuất huyết dạ dày nặng nên phải vào Bệnh viện Đa khoa ở Quy Nhơn cấp cứu. Các chùa viện trong và ngoài nước đồng loạt làm lễ cầu an cho Ngài. Cảm động nhất là ở hải ngoại nhiều Phật tử đã mua chim, cá phóng sinh để cầu nguyện cho Ngài sớm bình phục.
Ngày 21.11.2004, Tân Đại sứ Hoa Kỳ, ông Michael W. Marine cùng với phu nhân từ Hà Nội vào bệnh viện Đa khoa ở Quy Nhơn thăm bệnh Ngài. Cùng ngày này, tại Saigon, Phái đoàn Bộ Ngoại giao Hoa kỳ đến vấn an Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tại Thanh Minh Thiền viện trong vòng hai tiếng đồng hồ.
Ngày 22.11.2004, Hòa thượng Thích Quảng Độ cùng với phái đoàn Hội đồng Lưỡng viện lên đường đi Bình Định thăm Ngài trong cơn thập tử nhất sinh. Nhưng công an đã chận xe tại Trảng Bom, cách Saigon 50 cây số, giữa rừng cao su vắng vẻ, áp tải phái đoàn về lại Saigon.
Ngày 31.11.2004, Ngài xuất viện về tịnh dưỡng tại Tu viện Nguyên Thiều, sức khỏe còn rất yếu nhưng đã thoát khỏi cơn hiểm nghèo.
Ngày 21.2.2005, Ngài viết Thư Ngỏ gửi đến các ông : Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư Đảng, Trần Đức Lương, Chủ tịch Nước, Phan Văn Khải, Thủ tướng, và Nguyễn Văn An, Chủ tịch Quốc hội. Qua Thư Ngỏ, Đức Tăng thống ngạc nhiên nhận định một điều mâu thuẫn đang xẩy ra khi thấy Nhà nước tiếp tục đàn áp GHPGVNTN, nhưng lại đón tiếp phái đoàn Sư Ông Nhất Hạnh về Việt Nam . Cuối thư Ngài yêu cầu “Đảng và Nhà nước minh bạch hóa trường hợp quản chế tôi và Hòa thượng Thích Quảng Độ bằng khẩu lệnh kể từ vụ bắt bớ tùy tiện chúng tôi ngày 9.10.2003 tại Lương Sơn”.
Ngày 20.3.2005, Ngài trực tiếp gọi điện thoại cho Ban Trị sự Giáo hội Nhà nước tỉnh Bình Định thông báo rằng Ngài không tiếp Sư Ông Nhất Hạnh và phái đoàn Tăng thân Làng Mai theo lời yêu cầu của Sư Ông ngỏ ý muốn đến Tu viện Nguyên Thiều ở Bình Định đảnh lễ Ngài.
Ngày 8.8.2005 nghe tin quân khủng bố đánh bom tại thủ đô Luân Đôn gây chết chóc thảm khốc cho nhân dân Anh, Ngài viết thư chia sẻ gửi Nữ hoàng Elisabeth Đệ nhị. Sang ngày 15.8, Nữ hoàng đã gửi thư cảm tạ Ngài.
Ngày 18.8.2005, Công an và Ban tôn giáo chính phủ đến Tu viện Nguyền Thiều “làm việc” với Ngài, cấm không cho Ngài tiếp các phái đoàn, đặc biệt không được tiếp ngài Quảng Độ. Ngài viết bức thư gửi Hoà thượng Viện trưởng Viện Hoá Đạo căn dặn việc Phật sự : “Hòa Thượng hãy tùy hoàn cảnh, điều kiện, mà thêm bớt, thay đổi, bổ sung, củng cố lại các thành viên trong Hội đồng Lưỡng viện sao cho phù hợp với tôn chỉ để bảo toàn Giáo hội là được, chứ hoàn cảnh bây giờ và nhiều năm sau này nữa cũng chưa tổ chức Đại hội được đâu. Có lẽ hết đời mình cũng chưa Đại hội được đâu. “Nhưng chúng ta đừng lo. Chánh quyền nào cũng nói muôn năm nhưng có chánh quyền nào muôn năm đâu ? Còn Phật giáo đâu có nói muôn năm nhưng Phật giáo đã mấy ngàn năm rồi”.
Ngày 1.12.2005, Quốc hội Châu Âu ra Quyết nghị yêu cầu Việt Nam “chấm dứt mọi hình thức đàn áp các thành viên thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và chính thức công nhận quyền hiện hữu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất(…) đặc biệt là trả tự do cho nhị vị Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ, hai Hòa thượng đã được LHQ xác nhận là nạn nhân bị giam cầm trái phép”.
Ngày 21.9.2006, ông Nguyễn Khánh Toàn, Thứ trưởng Bộ Công an từ Hà Nội vào thăm Ngài. Ông ngỏ lời khuyên Ngài “nay tuổi đã già nên tịnh dưỡng, không nên nhọc công lo việc Giáo hội, để cho giới trẻ cáng đáng”. Ông Thứ trưởng Công an cũng khuyên “nếu ông Quảng Độ có ra thăm cũng không nên bàn chuyện Giáo hội”. Ngài liền đáp : "Chí nguyện suốt đời tôi là phục vụ dân tộc, phục vụ đạo pháp, phục vụ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cho đến hơi thở cuối cùng. Không ai có thể ngăn cấm tôi và Hòa thượng Thích Quảng Độ bàn bạc chuyện Phật sự của Giáo hội".
Ngày 22.9.2006, Đức Tăng Thống lâm bệnh, chóng mặt và khó thở. Đến ngày 25.9 thì tình hình khẩn cấp nên chư Tăng ở Tu viện Nguyên Thiều đưa ngài vào bệnh viện Đa khoa Quy Nhơn lúc 16 giờ. Bác sĩ cho biết ngài bị suy tim và viêm phổi. Ban chỉ đạo Viện Hóa Đạo đã cấp tốc triệu tập buổi họp khẩn lấy quyết định thỉnh Đức Tăng thống vào Saigon chữa trị. Ngày 29.9.2006 Ngài vào đến bệnh viện Chợ Rẫy ở Chợ Lớn. Ở hải ngoại, hàng trăm chùa viện tổ chức lễ Cầu an cho Đức Tăng thống sớm bình phục.
Ngày 1.10.2006, Hòa thượng Thích Quảng Độ cùng chư Tăng giáo phẩm trên 20 vị và đông đảo Phật tử đã đến bệnh viện Chợ Rẫy ruớc Ngài về điều trị ở bệnh viện Pháp Việt, tọa lạc tại số 6 đường Nguyễn Lương Bằng, Phường Tân Phú, thành phố Saigon.
Ngày 16.10.2006, sau khi khám tổng quát, các bác sĩ ở bệnh viện Pháp Việt đồng ý để Đức Tăng thống xuất viện về tịnh dưỡng tại Chùa Giác Hoa ở Quận Bình Thạnh, Saigon. Một thời gian sau Ngài trở về Tu viện Nguyên Thiểu, tỉnh Bình Định, chờ ngày 30.12.2006 trở lại Saigon tái khám. Nhưng ngày 2.1.2007 Công an tỉnh Bình Định không cho Ngài đi.
Ngày 5.5.2007, Báo An Ninh Thế giới của Bộ Công an số 651, cho đăng ở trang nhất bài "Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng thăm Hòa thượng Thích Huyền Quang: Một cuộc gặp gỡ thân tình và cởi mở" nhân ngày kỷ niệm 30.4.2007. Bài này nhắm mạ lị Cư sĩ Võ Văn Ái và Hoà thượng Thích Quảng Độ “hoạt động chống phá chính quyền, làm giả di chúc và soạn thảo Thông điệp Phật Đản Phật lịch 2551, với nội dung sai sự thật, kích động chống chính quyền". Nhưng qua điện đàm, Ngài cho Đạo hữu Võ Văn Ái, Giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế biết rằng : “Thầy có tiếp họ chừng nửa giờ. Xã giao qua về, không có việc gì khác. Họ có tuyên bố Thầy muốn đi đâu cũng được không ai ngăn cấm. Trước đây, hai lần họ mời Thầy ra làm Trú trì chùa Sóc Sơn (ở miền Bắc). Nhưng Thầy không đi. Ra ngồi đó để ở tù như hồi ở Nghĩa Hành trước đây hay sao ?! Thầy không đi. Các điều in trên báo là họ đặt bày để phá mình. Ngoài đó đừng có tin. Anh Ái dặn quý Thầy và Phật tử đừng có tin".
Ngày 29.8.2007, Thiếu tướng Trần Tư, Cục trưởng Cục A41 (tức Cục An ninh xã hội theo dõi và kiểm soát các tổ chức tôn giáo) từ Hà Nội vào Bình Định gặp Ngài tại Tu viện Nguyên Thiều để nói lên ba việc : thứ nhất, phản đối việc ủy lạo và cứu trợ Dân oan khiếu kiện hôm 17.7 của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ; thứ hai, cấm Đức Tăng thống không được tổ chức Đại hội Phật giáo tại Tu viện Nguyên Thiều; và thứ ba, ngỏ lời mời Đức Tăng thống ra Hà Nội thăm viếng, nhân dịp gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và tham dự Đại lễ Phật Đản 2008 tại Hà Nội. Ngài từ khước không ra Hà Nội.
Ngày 8.9.2007, để đối phó với tình hình nhà cầm quyền Cộng sản đàn áp, bức bách, và vu cáo trắng trợn GHPGVNTN; mặt khác, "một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại tiếp tay gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đướng hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế", Ngài ban hành Giáo chỉ mang số 9 như biện pháptự vệ và kiện toàn tổ chức Giáo hội trong và ngoài nước.
Ngày 4.2.2008, Đài Á Châu Tự do phát thanh Lời Chúc Tết của Ngài đến Cộng đồng Người Việt hải ngoại nói chung và Cộng đồng Phật giáo hải ngoại nói riêng. Đặc biệt, Ngài gửi lời khen ngợi chư Tôn đức Tăng, Ni, Phật tử hải ngoại “đã tận tình hoằng dương chánh pháp nơi các xứ sở xa xôi, đồng thời vẫn nhất tâm hậu thuẫn Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại quê nhà. Đặc biệt chư liệt vị đã chí thành khâm tuân và thi hành Giáo chỉ số 9 do tôi ban hành và các Thông tư, Thông bạch của Viện Hóa Đạo nhằm chấn chỉnh và phát huy Giáo hội trước tình thế mới, cũng như làm rạng danh hai nghìn năm Phật giáo Việt Nam, chư liệt vị Tổ sư, các Thánh tử đạo và những người đã hy sinh để bảo vệ dân tộc, bảo vệ lãnh thổ và bảo vệ chánh pháp”.
Lời Ngài nói đánh bạt mọi xuyên tạc, vu khống của một số Tăng sĩ và Cư sĩ ở hải ngoại tung tin thất thiệt rằng “Giáo chỉ số 9 là giáo chỉ giả không do Ngài ban hành”.
Ngày 18.5.2008, nhân dịp Đại lễ Phật Đản, Cộng đồng Người Việt Quốc gia tại thành phố Houston và vùng phụ cận, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, tổ chức Lễ Vinh danh Đức Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ. Tại cuộc lễ, một trong những lời phát biểu đầy ý nghĩa là lời tôn vinh của ông Al Green, Dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ. Ông nói rằng :
“Những người thiện tâm quanh thế giới đều buồn thương ngày Mục sư Martin Luther King bị bắt giam vào nhà ngục Birmingham. Những người thiện tâm quanh thế giới đều buồn thương ngày Nelson Mandela bị bắt giam nửa thế kỷ trước đây. Việc cấm cố Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ hôm nay cũng gây buồn thương cho những người thiện tâm quanh thế giới.
“Bởi vì Mục sư Martin Luther King nhắc nhở chúng ta rằng, bất công ở bất cứ đâu đều đe doạ công lý cho khắp mọi nơi. Bất công đối với Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ hôm nay là mối đe doạ ngay cho đất nước Hoa Kỳ này.
« Chúng ta phải thấy rõ một điều, hễ nhắc tới nhân loại là chỉ còn một chủng tộc - chủng tộc của loài người. Nên chúng ta phải cùng nhau hành động để gìn giữ nhân loại cùng chung nòi giống ấy.
“Hoa Kỳ của chúng ta trong thế đại siêu cường của thế giới, phải khẳng định vấn nạn lớn của nhân sinh. Vấn nạn này không đòi hỏi chúng ta làm “sen đầm” quốc tế , mà là đem lại hoà bình cho thế giới. Đây là lý do vì sao Ngày lễ Phật Đản trở nên vô cùng quan trọng, vì đại lễ này nhắc chúng ta đặt trọng tâm vào sự sống của tha nhân, đem lại hạnh phúc và an lạc cho tha nhân, giúp đỡ tha nhân có cuộc sống yên hàn trên trái đất.
“Cử hành Đại lễ Phật Đản hôm nay, phải là mục tiêu để cho mọi người biến mỗi ngày trong đời sống thành một Ngày Phật Đản, ngày mà chúng ta mang lại an lạc và và hoà điệu cho tha nhân, là điều nhân loại cần được hưởng trong một thế giới cộng sinh.
“Tôi vô cùng hân hạnh được hiện diện hôm nay, trong cương vị Dân biểu Liên bang đơn vị 9 Texas, đồng thời đại diện cho Quốc Hội Hoa Kỳ, trân trọng trao bằng tưởng lệ vinh danh Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ ».

Ngày 27.5.2008 vì bị yếu tim, dịch trong phổi nên Ngài phải vào bệnh viện Đa khoa Quy Nhơn. Tuần lễ đầu có chiều khả quan. Nhưng sau một thời gian y sĩ phát hiện thêm bệnh gan, thận yếu, và bị suy dinh dưỡng nên phải chuyển Ngài vào phòng cấp cứu nhiều tuần lễ. Sau một tháng hơn nằm viện, bệnh tình Ngài không mấy thuyên giảm, nên Ngài tỏ ý muốn về Tu viện Nguyên Thiều cho được thanh tịnh và nghe công phu sớm chiều. Đây cũng là ước nguyện của hàng giáo phẩm Hội đồng Lưỡng Viện và Môn đồ pháp quyến.
Về đến Tu Viện Nguyên Thiều lúc 15 giờ 30 chiều 4.7.2008 và được chư Tôn đức trong Hội Đồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất do Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ và Hoà thượng Thích Thiện Hạnh dẫn đầu rước Đức Tăng Thống vào phương trượng.
Tám giờ sáng ngày 5.7.2008 Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN cùng chư Tăng tại Tu viện Nguyên Thiều Khai kinh Cầu An cho Ngài. Đến 13 giờ chiều cùng ngày Ngài xả báo thân, an thần thị tịch nơi phương trượng của Ngài tại Tu viện Nguyên Thiều do Ngài sáng lập 50 năm trước. Ngài trụ thế 89 năm, pháp lạp 69.

Nguyên Thái Võ Văn Ái chấp bút
Paris, 4.7.2008

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

HIỆN TƯỢNG HỒNG Y PHẠM MINH MẪN

Có lẽ chưa bao giờ tên tuổi của Hồng Y Phạm Minh Mẫn được nhiều người Việt Nam ở khắp nơi đề cập tới bằng nhiều cung điệu khác nhau như trong một tháng qua, kể từ ngày Hồng Y Phạm Minh Mẫn công bố một lá thư gởi cho 3 vị Giám mục Việt Nam đi tham dự Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới (ĐHGTTG) tổ chức tại Sydney từ ngày 15 đến 20 tháng 7 năm 2008 sắp tới. Càng gần tới ngày khai mạc ĐHGTTG thì "hiện tượng Hồng Y Phạm Minh Mẫn" càng trở nên nóng bỏng hơn

Có người đã dùng ngôn từ không ra gì với lời lẽ nặng nề để phản đối Hồng Y Phạm Minh Mẫn. Là một linh mục Việt Nam, tôi rất đau buồn và cảm thấy nhục nhã khi phải đọc những lời lẽ nặng nề mà một số người đã dùng với một chức sắc cao cấp của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam như thế.

Vậy Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã viết những gì trong lá thư nói trên để rồi sóng gió và giông bão nổi lên như thế?

Trọng tâm của lá thư gồm 6 đoạn và dài hơn một trang giấy, Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã công khai bày tỏ thái độ chống báng lá cờ vàng ba sọc đỏ, không muốn hình ảnh lá cờ vàng hiện diện trong ĐHGTTG tại Sydney và gọi đó là "sự cố làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ VN" (đoạn 2). Trong đoạn 3, Hồng Y Phạm Minh Mẫn giải thích khá dài dòng về ý nghĩa lá cờ và nhắc lại bài học quí giá mà ngài đã học được từ một vị giám mục quá cố về "Người mẹ VN lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ)..." Lá thư đó, đã được nhiều cơ quan ngôn luận và các diễn đàn điện tử cho in lại cùng với những lời bình luận chung quanh ý nghĩa và giá trị tinh thần của lá cờ vàng ba sọc đỏ trong tâm trí của đồng bào tị nạn Cộng sản ở Hải Ngoại và để phản đối quan điểm của Hồng Y Phạm Minh Mẫn trong nhận định về lá cờ này.

Lá thư đó đã gây ra nhiều sự chống đối mạnh mẽ từ nhiều phía, từ những người Công giáo và các tín hữu thuộc các tôn giáo bạn, đáng kể nhất là Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu đã lên tiếng quan ngại về nội dung lá thư một cách chính thức. Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu còn ra một Tuyên Bố Chung kêu gọi đồng hương bày tỏ lập trường quyết tâm bảo vệ lá cờ vàng ba sọc đỏ trong dịp ĐHGTTG tại Sydney. Khi tôi đang viết những dòng này cũng nhận được một bản Tuyên Cáo của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tiểu bang Washington phản đối lời tuyên bố của Hồng Y Phạm Minh Mẫn và kêu gọi đồng hương mang cờ vàng ba sọc đỏ "dàn chào" Hồng Y Phạm Minh Mẫn trong thánh lễ dự trù được diễn ra vào chiều ngày 9 tháng 7 tại nhà thờ Thánh Tử Đạo Việt Nam ở Seatle.

Đứng trước làn sóng chống đối càng lúc càng dâng cao, đặc biệt là thái độ phản kháng một cách quyết liệt tại những nơi mà trong chương trình Hồng Y Phạm Minh Mẫn sẽ tới với danh nghĩa làm công tác Mục Vụ, tôi nghĩ là Hồng Y Phạm Minh Mẫn nên xem xét lại việc xuất hiện trong ĐHGTTG ở Sydney. Trong quá khứ đồng bào Việt Nam tị nạn Cộng sản tại Úc Châu đã nhiều lần chứng tỏ sự đoàn kết quyết tâm bảo vệ lá cờ vàng ba sọc đỏ và không bao giờ khoan nhượng trong việc thẳng tay tẩy trừ những kẻ nào có manh tâm muốn gieo rắc ảnh hưởng của chế độ Cộng sản Việt Nam tại đất nước này.

Vai trò Mục Vụ của Hồng Y Phạm Minh Mẫn trong những chuyến thăm viếng theo đúng nghĩa là đem an bình và hợp nhất đến cho đàn chiên. Nhưng trong lần tham dự ĐHGTTG sắp tới tại Sydney, đã có nhiều dấu hiệu cho thấy Hồng Y Phạm Minh Mẫn chẳng những không mang lại được cho đàn chiên Công Giáo tại Úc Châu sự hợp nhất và bình an, mà còn có thể gây ra sự phẫn nộ, chia rẽ và rối loạn trong Cộng đồng người Việt tị nạn tại quốc gia này. Như vậy, Hồng Y Phạm Minh Mẫn đến Sydney trong dịp đó để làm gì? Nếu vì một lý do nào khác mà Hồng Y Phạm Minh Mẫn vẫn phải xuất hiện tại ĐHGTTG ở Sydney thì chắc chắn ngài sẽ thất vọng vì "sự cố" mà ngài đã viết trong thơ là "làm tắc nghẽn sự hiệp thông của các bạn trẻ VN" ở ba lần ĐHGTTG trước tại Pháp, Đức và Canada, lần này chắc chắn sẽ được đồng bào tị nạn ở Úc Châu bày tỏ cách dữ dội hơn. Không lẽ khi thấy cờ vàng ba sọc đỏ xuất hiện trong ĐHGTTG, lúc đó Hồng Y Phạm Minh Mẫn sẽ rời ghế đứng dậy ra về?

Tôn vinh lá cờ vàng ba sọc đỏ cho dù bị Hồng Y Phạm Minh Mẫn cho là:"Có lúc chỉ biểu trưng một thói đời mang tính đối kháng", điều này cũng không có gì khó hiểu. Là một linh mục Việt Nam tị nạn Cộng sản, tôi xin nói rằng đồng bào tị nạn Cộng sản ở Hải Ngoại và ngay cả đại đa số những đồng bào đang phải sống ở trong nước vì hiểm họa Cộng Sản sau biến cố đau thương 30/4/1975, trong tâm tư mỗi người luôn ấp ủ hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ. Đó là linh hồn của Dân Tộc Việt.

Lá cờ vàng ba sọc đỏ là hình ảnh mạnh mẽ nhất mà những đồng bào tị nạn đã may mắn trốn chạy thoát khỏi chế độ độc tài Cộng sản dùng để bày tỏ sự đối kháng chế độ phản dân hại nước và những kẻ làm tay sai cho chúng.

Image

Linh mục NGUYỄN HỮU LỄ

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Vinh Danh 60 Năm Cờ Vàng tại Paris

Bích Xuân


Sau Nam Cali (Mỹ) 21-6 và Liège (Bỉ) 27-6, chiều chủ nhật, lúc 16 giờ ngày 6 Juillet 2008 tại Paris là ngày vinh danh 60 năm Cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hoà ( lá cờ trước năm 1975). Người Việt tự do và những đồng hương đến từ các nước như : Đức, Bỉ, Hoà Lan… Mọi người tập trung tại nơi sinh hoạt chính của người Á châu ở khu 13 Paris để chuẩn bị diễn hành. Địa điểm để bắt đầu tại số 44 Avenue D’Ivry, lúc 16giờ 30, đồng hương vừa đi vừa hô to khẫu hiệu theo chị Dung Nghi một khuôn mặt tranh đấu quen thuộc của cộng đồng người Việt tự do ở Pháp. Đoàn người đến ngã tư Tolbiac, thì được sự hướng dẫn của cảnh sát đi rẽ sang một con đường lớn khác là Avenue D’Italie để tụ hôp trước tòa thị sảnh của quận 13.

Hôm qua, trời mưa to, gió lớn Ban tổ chức rất lo ngại, nhưng không ngờ hôm nay, trời bỗng có nắng, nhìn trên nét mặt ai cũng vui tươi, nhưng trời lại có gió. Cờ tung bay rực vàng theo gió đầy trên con đường huyết mạch của ngưới Á châu. Ban tổ chức cho biết 450 lá cờ đã hết sạch.

Trong đoàn người tham dự diễn hành, già có nhiều mà người trẻ cũng phải là không ít, trong đó người ta nhận thấy có những người ngoại quốc tay cầm cờ đi theo đoàn người từ lúc khởi hành cho đến tụ ở điểm cuối. Hai bên đường khách ngoại quốc đứng xem chật cả lối đi.

Cờ vàng được đưa đến trước cửa thị sảnh đúng 18 giờ, trên cao, lá cờ của Pháp đang tung bay trước cửa thị sảnh của Paris 13. Đồng hương trang trọng cùng nhau hát bài quốc ca Việt Nam Cộng Hoà. Giây phút mặc niệm để tưởng nhớ những anh hùng vì nước đã bỏ mình, và những nạn nhân mất ngoài biển khi đi tìm tự do. Chương trình diễn hành từ 16 giờ đến 18 giờ 30 thì chấm dứt. Mọi người ra về với niềm vui trong một chiều có nắng đẹp có nhiều ý nghĩa.

Bích Xuân
Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Sau Những Giọt Lệ

Nguyễn Khắc Anh Tâm

Thạch khả phá nan địch kỳ kiên
Chu khả miên nan địck kỳ xích

Đá có thể bị nghiền nát nhưng khó mà mất đi tính chất kiên trì của đá; son có thể bị mài tan nhưng khó mà mất đi màu đỏ của son..

Ngài Huyền Quang không những là bậc cao tăng của Phật giáo, Ngài còn là bậc anh hùng, dám trực diện và đối kháng với cả một khối công an của bạo quyền vốn dã man từ bản chất, ròng rã hơn 33 năm qua hòng giải trừ pháp nạn và quốc nạn. Công cuộc đấu tranh ôn hoà nhưng quyết liệt của Ngài, song song với tinh thần bất khuất của Ngài, đã đánh thức được lương tâm của toàn thể Phật tử, nói riêng, và của toàn thể dân tộc nói chung.

Ở cuộc diện khác, khi nhân loại đang đắm chìm trong vị kỷ và hưởng thụ, thì hành động của Ngài, tiếng nói của Ngài, trong chốn lao tù, quản thúc, nhằm để tranh đấu vì tự do, vì dân chủ cho cả 85 triệu người khác hơn là cho chính bản thân của Ngài, cũng đã đánh thức được lương tâm của toàn thể thế giới.

Ngày 4 tháng 4 năm 1968, khi Martin Luther King bị giết hại trên con đường đấu tranh đòi nhân quyền cho người Mỹ da đen, không chỉ người Mỹ da đen bị mất mát vị anh hùng của riêng họ, mà toàn thể nước Mỹ, toàn thể nhân loại đã mất mát một vị anh hùng can đảm cất tiếng nói của lương thức giữa một rừng người vô lương thức.

Bởi vậy, sự mất mát của Ngài Huyền Quang, do đó, không chỉ là sự mất mát to lớn cho tất cả Phật tử Việt Nam, cho dân tộc Việt Nam, mà còn là sự mất mát cho nhân loại, sự mất mát của một tiếng nói dõng mạnh, kiên cường, đấu tranh cho cả khối người hoàn toàn bị bịt miệng, không được nói, và lắm khi, không có quyền để sống.

Đau buồn và vô cùng thương tiếc vì sự mất mát này, do đó, là chuyện dĩ nhiên. Nói ra đã là thừa thải.

Nhưng chúng ta - tất cả con dân Việt Nam - phải làm tốt hơn là chỉ than khóc. Than khóc có mấy thì những giọt lệ này có lúc rồi cũng... khô cạn. Nếu thật sự đau buồn và thương tiếc Ngài, như chúng ta dễ dàng đau buồn và vô cùng thương tiếc bất cứ vị anh hùng dân tộc nào đã hy sinh, chúng ta phải làm hơn là chỉ dành cho Ngài những giọt lệ mang đầy cảm tính. Nếu chúng ta chỉ có ngần ấy những giọt lệ mang đầy cảm tính và đoản kỳ đó, chúng ta sẽ thiếu hẵn sự cương quyết để noi gương Ngài, nối gót Ngài, trên con đường đấu tranh cho quê hương xứ sở.

Noi gương Ngài, nối gót Ngài không có nghĩa chúng ta đều phải theo đạo Phật như Ngài, hay xuất gia như Ngài. Noi gương Ngài, nối gót Ngài là phải đấu tranh như Ngài đã đấu tranh dù chúng ta đang theo Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Hoà Hảo, hay Cao Đài.

Giáo dân của mọi tôn giáo đều có thể đấu tranh, phải đấu tranh, không thể để cho tôn giáo khác đấu tranh cho luôn tôn giáo mình.

Tôn giáo nào không cảm nhận nổi cái đau khổ của 85 triệu người dân Việt Nam, tôn giáo đó chưa đủ đạo hạnh để có thể gieo rắc yêu thương trên toàn đất nước Việt Nam, nói chi đến cả thế giới.

Trong nỗi đau thương của đất nước, đã 33 năm, chúng ta nếu còn đứng riêng rẽ, còn tị hiềm vì lằn ranh của tôn giáo, chúng ta sẽ là những tội đồ của dân tộc.

Trong nỗi đoạ đầy của dân tộc, đã 33 năm, chúng ta nếu cứ mãi bận bịu , mãi quên bổn phận và trách nhiệm, mãi vô tình không thấy rằng chúng ta cần phải đấu tranh đến 33 năm, chúng ta sẽ là những tội đồ của quê cha đất tổ.

Trong sự thống khổ của kiếp lưu đày, nếu còn công kích vì ganh ghét cá nhân, chụp mũ, dưới bất cứ hình thức nào và nhân danh bất cứ ai, nhất là cứ miệt mài công kích, chụp mũ suốt 33 năm, đến độ không bị chụp mũ không phải là người Việt, chúng ta sẽ vô tình đóng góp cho dầy hơn những cặn bả khó tẩy xạch trên từng bờ đê, luống mạ trên quê hương ta.

Chúng ta hãy noi gương Ngài, nối gót Ngài bằng cách:

(1) Ý thức được trách nhiệm đấu tranh là trách nhiệm của mỗi chúng ta.

Tôi không đấu tranh cho anh, cho chị, cho em. Tôi đấu tranh cho riêng tôi. Quê hương này cũng là của tôi, dân tộc này vốn là dân tộc của tôi. Danh dự này là của chính tôi.

Chúng ta hãy chấm dứt ngay tệ nạn khoán trắng công việc đấu tranh cho những người khác, và chúng ta đành đoạn đứng bên lề suốt 33 năm nay để .. ngó.

Chỉ có những dân tộc của các nước muôn đời là nhược tiểu, gánh hoài trên vai tinh thần nô lệ mới khoán trắng công việc đấu tranh của họ cho ngoại bang, hay cho người đồng hương không may đứng ... bên cạnh;

(2) Nhập cuộc, và chấp nhận chung vai sớt gánh, cùng nhau mà đấu tranh cho quê hương, cho dân tộc.

Không ai làm quan, không ai làm lính. Đã là con dân Việt Nam thì ai cũng được gọi bằng “thằng”. Chúng ta đều mang nỗi nhục mất nước mà còn khoe khoang, tự cao tự đại thì quả là vô liêm sĩ cở nhất nhì thế giới.

Dân Ba Lan không có tướng, không có tiến sĩ; họ chỉ có những anh thợ điện như anh Lech Walesa, và không chừng họ chỉ có những anh thợ điện như vậy mà họ làm nên lịch sử trong những thập niên 80s. Chúng ta suốt 33 năm bận bịu so tài coi ai bị làm thằng, ai được làm ông, cho nên chúng ta cứ phải dật dờ trên xứ lạ, ca bài hoài quốc muôn năm.

(3) Nhìn nhận mặt trận tôn giáo là mặt trận chính mà bạo quyền đang dùng để đối đầu với tất cả người Việt tại hải ngoại, và cũng qua mặt trận này, chúng đã, đang, và sẽ nhuộm đỏ hải ngoại.

Báo chí, sách vở, ai cũng bàn luận về NQ-36. Con số 36 này thậm chí được nhắc, nhớ nhiều hơn là con số tuổi của chính chúng ta. Vậy mà chúng ta cứ tưởng NQ-36 chỉ có ở mặt văn hoá, hoàn toàn quên tuốt NQ-36 bao gồm luôn cả mặt trận tôn giáo. Thậm chí có nhiều đảng phái, đoàn thể chống Cộng mãnh liệt đã thề nhất định không đụng tới tôn giáo, dù tôn giáo đó đang bị CS lũng đoạn, giật giây, điều khiển suốt từ những thập niên 1980 tới nay.

Mỗi lần Nguyễn Minh Triết hay Nguyễn Tấn Dũng tới hải ngoại thì chúng ta hăng hái biểu tình, Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng về, chúng ta liền tan hàng … cố gắng. Ai nấy đều tưởng VC không có trước mặt nữa để mà chống.

Bởi vậy, những kẻ tu hành quốc doanh mà Đảng lượm lặt tại chợ búa, hay kết nạp từ cơ quan tình báo, công an, mang NQ-36 tới chùa chiền, nhà thờ, thánh thất, v.v… công khai dạy dỗ chúng ta. Trên nói, dưới chúng ta phủ phục quỳ lắng tai nghe. Nghe xong nếu còn giờ thì chạy ra coi Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng có còn không để biểu tình chống tiếp.

Còn bàn bạc và quan tâm đến NQ-36, chúng ta không được quên NQ-36 bao gồm luôn mặt trận tôn giáo, và trên thực tế thì tôn giáo nào ít nhiều gì cũng đã bị lũng đoạn bởi VC.

Phật giáo thì đã có rất nhiều “tung” tăng ở hải ngoại bị mua chuộc để trở thành ma tăng. Phật tử nhẹ dạ phủ phục dưới chân để chúng nhục mạ tổ sư của mình, ngay trong chánh điện, trước mặt mình. Vậy mà vô số Phật tử hoà theo để có phước báo trong khi ngang nhiên coi trọng ma tăng hơn Phật. Khôi hài đến độ đó là cùng.

Thiên Chúa giáo thì hết Lm, tới Giám Mục, v.v…qua xin tiền rồi sẵn dịp, nhục mạ lá cờ vàng. Có nhiều vị ngon cơm hơn, nhục mạ cờ vàng trước rồi xin tiền sau. Vậy mà vô số giáo dân cũng cho tiền như một hình thức hối lộ để được lên thiên đàng. Cho tiền xong rồi lật đật chạy ra ngoài chào cờ vì hôm đó có lễ thượng cờ. Khôi hài đến độ đó là tận.

Chúng ta phải mạnh dạn phân định đâu là "chánh", đâu là "tà" ngay cả trong hàng ngũ tu hành. Tu hành đúng, chúng ta sẵn sàng phủ phụ, tu hành sai, hay trá hình, để thực thi NQ-36 chúng ta sẵn sàng chống, và phải dứt khoát chống, nhu chúng ta đã dứt khoát chống Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng.

Chúng ta phải hiểu được rằng nhiều năm qua, chính chúng ta chứ không ai khác, không phải "bàn tay lông lá vô hình của ngoại bang" nào khác, không phải “bàn tay nhám xịt vô hình của bọn đặc tình” nào khác, chúng ta đã trực tiếp nuôi sống ma tăng để chúng đánh phá chánh tăng, tiêu diệt khí thế đấu tranh của những bậc cao tăng và anh hùng như Ngài Huyền Quang, Quảng Độ, như của TGM Nguyễn Kim Điền, như của Lm Nguyễn Văn Lý, như của Mục sư Nguyễn Hồng Quang.

(4) Hãy nghiêm chỉnh kính trọng lá cờ đầy chính nghĩa của chúng ta.

Năm nào chúng ta cũng có quá nhiều dịp để nêu cao ngọn cờ chính nghĩa của mình. Thấy ai đó giương cao ngọn cờ yêu quý này khó có ai trong chúng ta có thể cầm được những dòng nước mắt. Buồn thay, thấy riết rồi quen… Quen hình ảnh ngọn cờ yêu quý này đang tung bay trên vùng trời xứ lạ, không khéo muôn đời sẽ chỉ được tung bay trên vùng trời xứ lạ.

Chúng ta lưu vong, trên tinh thần của một dân tộc, chúng ta không ít thì nhiều cũng đã và đang bị khinh khi; lá cờ của chúng ta, do đó, chắc chắn, cũng đã ít nhiều mất đi sự kính nể. Giương cao ngọn cờ chính nghĩa là chuyện phải làm nhưng đừng quên, hành động giương cao đó chưa đủ rửa nhục cho lá cờ của chúng ta.

Chúng ta phải biết hẹn nhau như người Do Thái năm nào khi họ đã từng hẹn gặp lại nhau tại thành phố Jesuralem. Chúng ta phải biết hẹn gặp lại nhau tại Sài Gòn, và phải phất cao ngọn cờ chính nghĩa tại thủ đô tự do của chúng ta. Muốn rửa nhục, hay tỏ vẻ kính trọng lá cờ vàng yêu quý của chúng ta một cách nghiêm chỉnh, chúng ta phải đem lá cờ ấy về lại quê hương ta, cắm trên Sài Gòn thủ đô đã đành, chúng ta phải cắm luôn ở Hà Nội, đão Trường Sa, Hoàng Sa của chúng ta.

Tóm lại, gương sáng của Ngài – hay của bất cứ vị anh hùng nào khác của dân tộc - không nhằm để chúng ta khóc thương, dù đó, dĩ nhiên, là chuyện chẳng đặng đừng, mà là để chúng ta noi theo.

Dòng họ của giống Lạc Hồng, xưa kia thua, bỏ chạy, cởi con ngựa Lạc, theo dấu chim Hồng, về phương Nam, nhất định không chấp nhận ở lại, cầu cạnh để bị đồng hoá, không có gì để thẹn. Dòng họ của Quang Trung noi gương theo Quang Trung đứng lên đánh đuổi ngoại xâm không có gì để thẹn. Noi gương Ngài Huyền Quang, Ngài Quảng Độ, hay noi gương TGM Nguyễn Kim Điền, Lm Nguyễn Văn Lý, Mục sư Nguyễn Hồng Quang, đấu tranh cho tự do, cho dân chủ không có gì để thẹn.

Nguyễn Khắc Anh Tâm

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Chuyện trò cùng đồng đội:
Một niềm tin gởi người bạn thương phế binh ở quê nhà


Huy Phương
Ðại Nhạc Hội “Cám ơn Anh, Người Thương Binh VNCH, kỳ II” do Hội HO Cứu Trợ TPB-QP/ VNCH, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam Cali, Trung Tâm Asia và đài SBTN sẽ tổ chức tại sân vận động trường Bolsa Grand HS, thành phố Westminster, CA 92683 (vào lúc 12:30 ngày Chủ Nhật 3 Tháng Tám 2008).

Nhìn những bức ảnh thương binh VNCH ở quê nhà, chúng ta thấy lòng xót xa muôn vàn. Hầu hết thương binh lại sống trong cảnh mù lòa, què cụt, cuộc đời rách nát còn lại được giao phó cho gia đình vốn đã khó khăn, lại phải nuôi một người con, một người chồng, một người cha cho hết cuộc đời của họ.

Họ không còn đơn vị, không còn bạn đồng ngũ, không còn cấp chỉ huy, không còn chính phủ để lo cho đời sống của họ. Họ là những người hoàn toàn bị bỏ rơi giữ cuộc chiến dang dở. Những người còn có đủ tay chân sức khỏe, trong chế độ mới đầy thù hận chế độ cũ chưa nguôi, việc làm lại cuộc đời còn biết bao nhiêu khó khăn, huống gì những người mà ngày nay thân thể không lành lặn, khiếm thị hay đầu óc không còn được bình thường.

Có những thương phế binh hư tủy sống, đã nằm liệt trên giường từ ba mươi năm nay. Có những thương binh đi xe lăn, suốt ngày lang thang ngoài bến xe, trong những khu chợ với những xấp vé số để còn được ngày hai bữa cơm, có khi còn để nuôi con ăn học nên người. Có những thương binh cụt chân tay, thêm mù lòa đành phải sống qua ngày nhờ tấm lòng bố thí của người qua đường, xót xa trên dòng khai báo nghề nghiệp ghi hai chữ: “ăn mày, hành khất.”

Chúng ta hy vọng gì những “tướng công thành” để lại vạn cốt khô trong nghĩa trang quân đội ngày nay đã “mồ xiêu mả lạc” và cả hàng chục nghìn thương phế binh đang sống lất lây. Họ đã ra đi trọn vẹn, đầy đủ để lại những thuộc cấp, chiến hữu cho quân địch trả thù chết dần mòn trong trại “cải tạo” và những thương binh sống cuộc đời chết dở nơi quê nhà. Từ đó đến nay, chưa thấy ai có hằng tâm chia sớt một bữa cơm cho những thuộc cấp bất hạnh, chỉ thấy những lời nói khoa trương như sẽ về Việt Nam để nói chuyện với Cộng Sản hay với Bộ Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ để lo cho Thương Phế Binh VNCH, trong khi ba mươi năm nay, thương phế binh đã chết dần chết mòn vì đói khổ, bệnh tật trong phiền muộn, tuyệt vọng.

Chúng ta đã từng kề vai sát cánh với những anh em trước kia là chiến hữu, cùng binh chủng, cùng đơn vị, nhất là cùng một lý tưởng, ngày nay đã không được may mắn ra đi làm lại cuộc đời như chúng ta. Chúng ta, sẽ hơn ai hết hiểu rõ sự gian khổ và hy sinh của những anh em, nay được gọi là những thương phế binh đang sống cuộc đời bất hạnh ở quê nhà. Ðó là lý do một số chiến hữu sang đây, dù cuộc sống chưa lấy gì làm sung túc, vẫn có tấm lòng luôn luôn hướng về số bạn bè kém may mắn hơn mình.

Hiện nay trên khắp nước Mỹ và nhiều nơi trên thế giới đã có những nhóm người Việt chúng ta có lòng, góp công góp của, để giúp đỡ phần nào cho thương phế binh. Dù là không quy mô, việc làm còn đơn giản, ai cần thì giúp, căn cứ vào một số giấy tờ thời VNCH còn để lại, qua sự kiểm soát của các cựu quân nhân có kinh nghiệm, hiểu biết nhiều về các tổ chức, đơn vị trong quân đội trước đây.

Nhưng người có lòng hiện nay ở hải ngoại là một người mẹ lãnh tiền già, một cựu chiến binh VNCH trong xưởng thợ, shop may, con cái một gia đình tỵ nạn, chủ một tiệm ăn, một nhóm bạn bè hay những em bé đã nghe cha mẹ giải thích cho các em biết về những sự hy sinh của các thương binh ở quê nhà. Chúng ta ngạc nhiên và thán phục với $500 đóng góp của một vị cao niên mà lợi tức hằng tháng chỉ có $800 tiền già, với $200, có thể xem như tiền lời một ngày của một tiệm ăn nhỏ, $500 của một đôi vợ chồng mà người ta biết rằng họ không bao giờ dám tiêu pha, mua sắm cho bản thân họ.

Thân thể tàn tật, bữa đói bữa no, quần áo rách rưới, nhà cửa dột nát, xiêu vẹo... đó là những gì thuộc về những người đã hy sinh một phần thân thể cho tự do của miền Nam chúng ta. Nhưng ít ra Thương Phế Binh VNCH ở quê nhà cũng còn nghe rằng ở Mỹ, ở Pháp, ở Na Uy... nơi này, nơi nọ, có một địa chỉ mà họ có thể cầu cứu để có được một chiếc xe lăn, những bữa cơm no, lợp lại một mái nhà dột nát... và quí báu nhất là một niềm tin, một hy vọng dù nhỏ nhoi vừa lóe lên từ ba mươi năm xót xa, tăm tối và tuyệt vọng của một kiếp người.

Niềm tin đó là, anh em Thương Phế Binh VNCH, biết rằng bên kia những đại dương, những bạn đồng ngũ, đồng bào và cả những người Việt Nam mới lớn lên sau này, chưa hề biết họ là ai, trong một giây phút chạnh lòng nào đó, đã có nghĩ tới họ.

Ðại Nhạc Hội “Cám ơn Anh, Người Thương Binh VNCH, kỳ II” do Hội HO Cứu Trợ TPB-QP/ VNCH, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam Cali, Trung Tâm Asia và đài SBTN sẽ tổ chức tại sân vận động trường Bolsa Grand HS, thành phố Westminster (vào lúc 12:30 ngày Chủ Nhật 3 Tháng Tám 2008) là sự tập họp tấm lòng của những người hải ngoại còn nghĩ đến những anh em thương binh ở quê nhà.

Chúng tôi xin kêu gọi tất cả tấm lòng hải ngoại còn nghĩ đến những người đã hy sinh một phần thân thể cho sự an vui của chúng ta ngày trước. Tham dự buổi đại nhạc hội này với vé vào cửa $10.00, không tham dự được cũng xin mua giúp, hoặc ủng hộ số tiền gởi về:

Ðài SBTN & Trung Tâm Asia P.O. 127- Garden Grove, CA 92842, hay Hội HO Cứu Trợ TPB-QP/VNCH P.O. Box 25554 Santa Ana, CA 92799.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Hồng Y Mẫn "Né Tránh" Khắp Nơi
Cộng đồng người Việt T. B. WA phản đối hiệu quả:
Hồng Y Phạm Minh Mẫn vội rời Seattle đi Washington DC
SEATTLE (NVTB). - Buổi lễ kỷ niệm 50 năm chịu chức Linh Mục của TGM Brunett, từ một ngày trước đã gửi email đến báo chí sẽ không có người khách mời như dự liệu đó là: Hồng Y Phạm Mẫn.

Tuy vậy sau những thư phản đối và tuyên cáo, một nhóm giáo dân và đồng hương đã có mặt trước Nhà Thờ Chính Tòa Tổng Giáo Phận Seattle số 710, đường số 9th Ave., lúc 2 giờ chiều thứ Ba 8-7-08 để phản đối, và chỉ nhằm thêm một lần giải thích với quý vị lãnh đạo Công Giáo: Họ bất bình với lời phát biểu của Hồng Y Phạm Minh Mẫn, và ước mong ông nhìn ra được chuyến công du này thất bại vì đâu?

Nhiều hàng giáo phẩm đã thăm hỏi đoàn biểu tình lịch sự, ôn hòa, và cho biết Hồng Y Phạm Minh Mẫn có âm thầm tới Seattle, và cũng lặng lẽ lên máy bay đi Washington DC trong ngày.

Trong hai ngày cuối tuần vừa qua, những bản văn, tuyên cáo của Cộng Đồng NVQG/WA và của Ủy Ban Vinh Danh Cờ Vàng VNCH Tiểu Bang WA cùng một số giáo dân, từ Ủy Ban Chống Cờ Việt Cộng và Giáo dân Seattle đã lên tiếng phản đối Hồng Y Phạm Minh Mẫn cũng như chuẩn bị một cuộc biểu tình ôn hòa để bày tỏ thái độ, tìm cách "mở rộng nhận thức" cho một nhà lãnh đạo tôn giáo vốn đã nhận định vừa lòng nhà cầm quyền hiện nay nhưng phật lòng đồng bào hải ngoại, như lời ông Tăng Phước Trọng CĐNgười Việt Quốc Gia Washington, BS Nguyễn Xuân Dũng, chủ tịch Ủy Ban Vinh Danh Cờ Vàng, ông Vũ Tuấn, Ủy Ban Chống Cờ Việt Cộng....

Chương trình của Hồng Y Phạm Minh Mẫn được thông báo hạn chế sẽ: thăm viếng cộng đồng Công Giáo Việt Nam dự trù qua một thánh lễ lúc 6 giờ chiều thứ Tư 9-7-2008, và một buổi "tiếp tân hạn chế" tiếp sau lễ cầu nguyện ở nhà thờ theo thư mời - nội bộ - của Ban Thường Vụ nhưng chương trình đến nay sẽ hủy bỏ vì chương trình đã hoàn toàn thay đổi, tiếp theo Úc, San José, Spokane WA... đều bãi bỏ
Image Được biết, cuối tuần qua, như chương trình dự định, Hồng Y Mẫn đến làm lễ tại nhà thờ Maria Goretti và St Patrick tại San José vào chiều thứ Bảy 5-7 vừa qua với sự tham dự của giáo dân Việt Nam tại đây, nhưng cuối cùng cả hai buổi lễ nói trên đã bị hủy bỏ vì Hồng Y Mẫn "cáo bệnh" không đến. Tuy đã được thông báo, giáo dân San Josécũng mang theo cờ Vàng đến dự lễ, sẵn sàng giương cao nếu có Hồng Y đến.

Ông Denny O'Leary từ tòa Tổng Giám Mục phổ biến tới báo chí chiều thou Hai 7 tháng 7 , 2008 cho biết: Tòa TGM Seattle xác nhận cho dù Hồng Y Phạm Minh Mẫn có mặt kín đáo tại Seattle nhưng bảo đảm sẽ không xuất hiện trước thánh lễ, và buổi tiếp tân chúc mừng Tổng Giám Mục Alexander Brunett 50 năm theo dự trù, tránh những rắc rối và sự phản đối từ cộng đồng, mà Tòa Tổng Giám Mục đã ghi nhận được liên tục qua điện thoại, điện thư...

Dù vậy một số người vẫn cho rằng các giới lãnh đạo tinh thần cũng cần lắng nghe và nhìn thấy "sự phản đối mạnh" hướng về Hồng Y Phạm Minh Mẫn, vì những lời phát biểu "thiếu thận trọng, minh mẫn".

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Động Đất Xảy Ra –
Hãy Bảo Vệ Nơi Ở Của Quý Vị Trước Khi Xảy Ra Cơn Đại Chấn Tiếp Theo


http://www.daretopr epare.org/vietnamese/ index.html

Image
Miền Nam California là khu vực động đất!

Năm 2007 là năm kỷ niệm 150 năm ngày xảy ra “Trận Động Đất Lớn” gần đây nhất tại miền Nam California – một trận động đất cường độ 7.9 đã gây nứt khu vực địa chấn San Andreas trong phạm vi hơn 220 dặm giữa miền Trung California và San Bernardino. Toàn bộ khu vực này đã rung chuyển mạnh tới ba phút!

Các trận động đất lớn trong khu vực địa chấn này xảy ra khoảng 150 năm một lần, vì vậy một trận động đất lớn khác có thể sắp xảy ra. Thậm chí, nhiều nhà khoa học còn lo ngại hơn về khả năng xảy ra một trận động đất lớn ở vùng cận nam khu vực San Andreas, nơi chưa từng xảy ra động đất kể từ năm 1680 đến nay.
Sự kiện động đất có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho các Quận San Bernardino, Riverside và Imperial. Độ rung mạnh sẽ có thể cảm nhận được và cũng có thể gây thiệt hại cho phần lớn khu vực miền Nam California, kể cả các khu vực đông dân của các Quận Los Angeles, Quận Cam, và San Diego.
Hàng trăm cơn địa chấn khác chạy qua dưới khu vực miền Nam California. Những cơn địa chấn này cũng có thể gây ra các trận động đất gây thiệt hại, ngay cả trước khi xảy ra trận động đất chính kế tiếp ở vùng San Andreas.


Chuẩn bị sẵn sàng ngay từ bây giờ để đối phó với “Cơn Đại Chấn”
Bất kỳ nơi nào tại miền Nam California đều có thể gặp các trận động đất mạnh, gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản cho nhà cửa và đồ đạc trong nhà. Thiệt hại này có thể gây thương tích nghiêm trọng hoặc thậm chí tử vong cho những người cư ngụ bên trong.
Hơn một nửa số trường hợp thương tích trong trận động đất Northridge năm 1994 là do đồ đạc hoặc đồ vật rơi xuống. Chỉ có một phần trăm thương tích là do tòa nhà hư hại. Các trường hợp thương tích khác là do mọi người té ngã hoặc có hành vi nguy hiểm.
Mặc dù không ai kiểm soát được mức độ rung chuyển khi có động đất, các cư dân miền Nam California có thể giảm nhẹ tác hại của động đất bằng cách hành động ngay từ bây giờ để gia cố nhà cửa, nơi làm việc và đồ đạc trước khi xảy ra trận động đất kế tiếp. Ngoài ra, hãy chuẩn bị sẵn một kế hoạch ứng phó thảm họa và đồ tiếp liệu, và biết những việc cần làm trong và sau khi xảy ra động đất. Tất cả biện pháp này đều được đề cập tới trong phần Bảy Bước Bảo Vệ An Toàn Khi Có Động Đất ở mặt sau.


Bảy Bước để Bảo Vệ An Toàn Khi Có Động Đất
Trích từ tài liệu Putting Down Roots in Earthquake Country, có sẵn trên trang mạng điện toán www.earthquakecount ry.info.

1. Nhận biết và khắc phục các mối nguy hiểm trong nhà –
Nên gia cố tất cả các đồ vật nặng tới mức có thể gây thương tích cho quý vị nếu rơi vào người, hoặc bất kỳ vật dụng gì sẽ bị hư hỏng nghiêm trọng nếu rơi vỡ. Hãy bắt đầu ngay từ bây giờ bằng cách chuyển các đồ vật nặng xuống giá đựng thấp hơn, buộc giữ bình đun nước nóng và các đồ nội thất nặng đặt trên cùng vào tường, và buộc đồ điện tử và các đồ vật có giá trị vào bàn. Quý vị có thể tìm hiểu cách làm tại trang mạng điện toán www.daretoprepare. org.

2. Lập kế hoạch ứng phó thảm họa –
Lập kế hoạch ngay từ bây giờ về những việc mà mỗi người trong gia đình quý vị sẽ làm trước, trong và sau khi xảy ra động đất. Dự định sẵn một nơi gặp và nơi liên lạc ở bên ngoài tiểu bang. Học các phương pháp sơ cứu căn bản. Lập kế hoạch ứng phó với rủi ro hỏa hoạn, nguy cơ có thể bị mất điện/nước và các dịch vụ thiết yếu, và các cơn dư chấn.

3. Chuẩn bị các bộ đồ tiếp liệu dùng trong trường hợp thảm họa –
Tất cả mọi người đều nên có sẵn bộ đồ tiếp liệu dùng trong trường hợp thảm họa cho cá nhân. Đây là bộ đồ rất hữu ích trong nhiều trường hợp khẩn cấp. Hãy giữ một bộ ở nhà, một bộ khác trong xe và một bộ thứ ba ở sở làm. Nên giữ một bộ đồ gia dụng lớn hơn ở nhà với các đồ tiếp liệu đủ dùng trong ít nhất ba ngày tới một tuần. Xin tới trang mạng điện toán www.earthquakecount ry.info để biết danh sách đầy đủ về các vật dụng nên đưa vào bộ đồ đó.

4. Nhận biết và khắc phục các điểm yếu của căn nhà –
Có nhiều vấn đề thường gặp có thể ảnh hưởng tới khả năng chịu được động đất của căn nhà, ví dụ như móng nhà không thích hợp, tường lửng không được chằng néo, các tầng đầu tiên không vững chắc và tường gạch không được gia cố. Hãy học cách nhận biết và khắc phục các vấn đề này trên trang mạng điện toán www.daretoprepare. org.

5. Trong khi xảy ra động đất: Nằm xuống, ẩn náu và giữ chắc –
Nằm xuống sàn, trú ẩn dưới một chiếc bàn vững chắc và giữ chắc lấy chiếc bàn. Nếu không có bàn ở gần, hãy nằm xuống sàn gần tường bên trong và dùng tay che đầu và cổ. Quay mặt khỏi hướng cửa sổ hoặc gương. Không tìm cách rời khỏi tòa nhà trong khi xảy ra động đất.

6. Sau khi xảy ra động đất: Kiểm tra tình trạng thương tích và thiệt hại –
Giữ bình tĩnh và chăm sóc bản thân trước. Nếu có thể được, hãy giúp những người khác và kiểm tra tình trạng thiệt hại. Tìm hiểu trước về những việc cần làm trong trường hợp rò rỉ khí đốt, các nguy hiểm về điện, và các trường hợp hóa chất đổ ra ngoài trên trang mạng điện toán tại www.earthquakecount ry.info. Các cơn dư chấn có thể gây thiệt hại thêm, vì vậy hãy chuẩn bị sẵn sàng để nằm xuống, trú ẩn và giữ chắc.

7. Tiếp tục áp dụng kế hoạch ứng phó thảm họa của quý vị nếu an toàn –
Khi có thể được, hãy mang theo bộ đồ tiếp liệu dùng trong trường hợp thảm họa và tới một địa điểm an toàn nếu quý vị không thể ở trong nhà. Nghe đài radio xách tay để biết tin tức, và gọi người liên lạc bên ngoài tiểu bang của quý vị. Bắt đầu khắc phục thảm họa bằng cách sắp xếp giấy tờ tài chánh của quý vị và ghi chép lại bất kỳ thiệt hại nào.


Về Chiến Dịch Dare to Prepare

Chiến Dịch Dare to Prepare giúp cộng đồng miền Nam California có cơ hội cùng “nói về các cơn địa chấn trong khu vực của chúng ta” để chuẩn bị sẵn sàng đối phó với các trận động đất trong tương lai. Xin tới trang mạng điện toán www.daretoprepare. org để tìm hiểu thêm. Chiến Dịch được tổ chức bởi Liên Minh Khu Vực Động Đất (Earthquake Country Alliance), một tổ chức hợp tác với các thành viên là các chuyên gia về động đất, các quản lý viên phụ trách hoạt động ứng phó trong trường hợp khẩn cấp, các viên chức dân cử, các nhà lãnh đạo trong giới kinh doanh và cộng đồng, và những người khác.
Image

Post Reply