Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Ngôn Ngữ và... Mặc Cảm

Đoan Hùng

Câu chuyện đổi tên bệnh viện Từ Dũ thành “xưởng đẻ” chắc hẳn chỉ là một giai thoại tiếu lâm của dân Sài Gòn, nhưng nó cũng nói lên cái cảm nhận về một sự "nhà quê hóa" tiếng Việt. Khái niệm “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” trở thành một sự khôi hài!

Bản thân tôi cũng không thể chịu được những cái tên “thần tượng” của mình bị biến dạng một cách... quê mùa như “chị Giên Phôn Đa” hay “anh Mai Cơn Giắc Sơn”. Những tên thành phố New York, Ba Lê... biến thành Niu Oóc Cơ, Pa Ri. Những từ ngữ "nhà quê" như "tên lửa", "máy bay lên thẳng", "lính thủy đánh bộ" v.v... Thế nhưng lắm lúc tôi muốn đặt ngược lại vấn đề là: Phải chăng ta không “ngửi nổi” những từ Việt hóa như thế chỉ vì chính ta chưa dứt được “mặc cảm”?

Các cụ đồ khi xưa đã bảo “nôm na là cha mách qué”. Ta phê phán cụ đồ nhưng có thực là ta không nghĩ y trang như thế?

Ý nghĩ này đến với tôi nhân một dịp đi thăm Paris. Khi đi chợ Tàu, vợ tôi bỗng chỉ vào bảng tên đường (Quai de Choisy) mà hỏi:

"Anh! Có phải khu này gọi là quai đe soa si không?"

Tôi ngớ người dăm phút rồi cười phá lên:

"Không phải đâu thưa bà! Phải đọc là Ke đờ Xoa di! Ke! Ke chứ không phải là quai đâu cô ạ! Nhà quê ơi là nhà quê!"

Bà xã tôi có vẻ cáu:

"Vâng! Tôi nhà quê! Lúc nào sang Mát Cơ Va mà có không biết thì đừng hỏi em nhé!"

Tôi đành cười hì hì, xí xóa, bởi quả thật nếu sang đó thì tôi sẽ... ngọng. Làm thế nào có thể biết là Mocba không là Mốc Ba mà là Mát Xơ Cơ Va?

Bà xã nhà tôi vốn không chưa từng tiếp xúc với ông bà Vincent, cậu Pierre và cô bé Marie trong “cua đờ lăng đờ la xi vi li da xi ông phờ răng xe” mà chỉ biết ông “mô lô tốp đi dép lốp nghe lốp cốp”. Nhà quê là phải rồi. Ai bảo sống với… VC!

Một thời gian sau, khi đang lái xe trên đưòng phố Ca Li, tôi nghe cô xướng ngôn viên đài Little Saigon đọc bài tiểu sử của học giả Nguyễn Ðăng Thục, ông vừa mới qua đời:

"Trong những năm 1… ông theo học trường...”

Và cô uốn giọng:

"Ao Bợt Xa Row"

Tôi bảo thầm:

"Cô ơi! Ðọc là An Be Xa Rô mới đúng chứ!”

Thế nhưng trong khoảnh khắc ấy tôi chợt nhận ra sự khác biệt của phản ứng của mình trong hai trường hợp hoàn toàn giống nhau. Tôi thấy cô xướng ngôn viên đọc sai, nhưng tôi không hề thấy đó là… “nhà quê”. Tóm lại , trong tâm lý của tôi có sự phân biệt. Ðánh vần tiếng Tây theo kiểu Việt thì là nhà quê, thất học. Còn đánh vần sai theo kiểu Mỹ thì… không có sao. Thậm chí còn "sang"!

Phải chăng đó chính là biểu hiện của “mặc cảm nhược tiểu” nằm sâu trong mỗi người chúng ta? Trước khi đi du học, bố tôi dẫn tôi vào nhà hàng Continental để cho tôi một bài học về cầm dao, nĩa thế nào kẻo… “Tây nó cười cho”. Ấy! Tâm lý chúng ta là thế! Lọng cọng với dao và nĩa thì Tây nó cười. Còn “ông Tây” mà thử lèo khoèo với đôi đũa thì là… một vinh hạnh cho ta!

"Cha trời! Ông Tây mà cầm đũa giỏi quá đi thôi!"

Chúng ta ngạc nhiên và thán phục và... “tự hào” đến rơi lệ khi thấy ông Tây ăn được le mam nem. Còn ta mà ăn được fromage thì chẳng có gì lạ cả. Phải chăng chính cái tâm lý khinh - trọng, sang - hèn làm ta cảm thấy sự Việt hóa là quê kệch, thô sơ và làm nghèo ngôn ngữ?

Thử lấy ví dụ về vấn đề là nên viết danh từ riêng theo nguyên dạng hay phiên âm.

Ngay ở Việt Nam khuynh hướng “để nguyên dạng” cũng đang thắng thế. Nhiều tác giả đã bàn về vấn đề này và nêu nhiều lý do cho lập trường “nguyên dạng”. Nhưng tôi chưa thấy tác giả nào nêu một lý do mà tôi cho rằng là lý do duy nhất hợp lý. Ðó là đơn giản vì để thế nó tiện lợi hơn mà thôi.

Với khối lượng thông tin càng ngày càng lớn như ngày nay, chẳng nên mất thì giờ mà “chuẩn hóa” cách phiên âm từng thành phố, từng anh John, chị Marie! Không Việt hóa là vì không cần thiết, thế thôi!

Nhiều người nêu lý do như:

Ðể nguyên dạng thì “quốc tế” hơn và người đọc quen thuộc với tên đó khỏi bỡ ngỡ hay hiểu sai khi đọc sách ngoại quốc.
Ðể nguyên dạng thì ta dễ “hội nhập” hơn. Dễ “tiếp thu” văn hóa hơn...
Các lý do đó hoàn toàn không vững. Bởi chẳng có cái tên riêng nào là “quốc tế” cả! Ðể nguyên hay phiên âm thì ra ngoại quốc vẫn cứ bỡ ngỡ như thường. Ðể nguyên dạng thì với các tên với mẫu tự tréo ngoe như Санкт-Петербурга (St. Petersburg) phải làm sao?

Khắp nơi người ta đều “mặc kệ” những cái tên xa lạ, nhưng một khi đã trở nên quen thuộc, gần gũi thì người ta đều bản địa hóa tên riêng nước ngoài. Nói cách khác: Biến tên “xa lạ” thành một cách đọc “thuận miệng” với người xứ đó. Một cách khác, có thể nói đó là “nhà quê hóa” tên riêng nước ngoài. Nghĩa là làm sao cho một bà cụ nhà quê cũng có thể đọc được.

Trước khi sang Ðức du học tôi rất mừng khi biết nơi mình sẽ đến học tiếng Ðức là thành phố Passau nằm trên dòng sông Danuble thơ mộng. Sang đến nơi hỏi đường đi "Pát Xô" (đọc theo kiểu Pháp) thì không ai biết. Suýt chết đói. Té ra phải đọc là "Pát Sau"!

Ðến nơi ở dăm ngày vẫn chưa thấy sông nào là sông Danuble. Dòng sông xanh xanh! Phòng trọ tôi nhìn ra một con sông nước xám xịt, mấy chiếc thuyến chở hàng chạy xình xịch. Lấy làm lạ, tôi hỏi bà chủ nhà đường nào tới sông "Ða Nuýp" để đi chơi.

Bà ngớ ra:

"Wie bitte? Was ist denn Ða Nuýp?"

Tôi vận dụng hết tất cả vốn liếng từ ngôn ngữ đến hội họa, âm nhạc... để diễn tả có một dòng sông xanh xanh mà ông nhạc sĩ Xì Trốt từng ca ngợi.

Và cuối cùng bà hiểu ra:

"Ach so! Die Donau (đọc là Ðô Nau)."

Và bà chỉ ra ngoài cửa sổ:

"Da! Da! Da ist die Donau."

Và lúc đó tôi mới biết là tôi ở ngay ven sông Danuble cả tuần mà không biết. Và cái ông Xi Trau (không phải Xì Trốt!) chỉ nói phét. Xanh... Xanh cái quái gì đâu! Mà cái tên thì... "nhà quê" hết mức. Ðô Nau với lại Ðô Niếc. Nghe cứ như xói vào tai! Quả tình là tôi thấy hết cả đẹp, hết mơ mộng nổi. Trong tận cùng tâm lý tôi vẫn thấy cái tên Danuble nó hay hơn, thanh nhã hơn, mặc dầu chẳng có nơi nào nó chảy qua mà người ta gọi nó là Danuble cả.

Tóm lại, người nước khác cứ tự tiện áp đặt một cái tên miễn sao cho thuận miệng. Thành phố Munich chính ra là Muyn Khần đọc theo lối Ðức “Bắc kỳ” còn theo kiểu “Nam kỳ”, là chính nơi thành phố đó, thì phải là... Min Kà!

Ðịa danh thì thế, thế còn tên người? Có người bảo để nguyên nó... lịch sự hơn. Chẳng lẽ gọi ông Clinton là Tổng thống Cờ Lin Tơn? A! Nghe thì có lý đấy. Gọi là Giôn Sơn, Ních Sơn, Các Tơ thì là lúc… đánh nhau kia. Clinton là bạn, chẳng lẽ gọi thế nó bỉ báng quá!

Trong văn học cũng thế, đọc dịch phẩm văn học Nga tôi vẫn thích lối để nguyên dạng tiếng Nga theo kiểu... Tây như của Nguyễn Hiến Lê như Pierre, André…. trong Chiến tranh và Hòa bình hơn là Pê Trốp, An Đrây. Thôi thì cứ tạm chấp nhận là chẳng cần Việt hóa mấy “ông Tây” André, Pê Trốp, vì dẫu sao họ cũng là người xa lạ. Mà không chừng muốn “hội nhập” thì cứ “để nguyên”, người đọc sau đó đọc nguyên bản sẽ dễ hiểu hơn chăng? Cần gì phải đổi Le Comte De Mont Cristo thành Bá tước Kích Tôn Sơn. Nghe nó... tàu tàu thế nào ấy!

Nếu chấp nhận lập luận ấy thì chẳng lẽ ta sẽ để nguyên tên người Tàu theo “nguyên dạng” bằng cách phát âm chính thức? Nghe thì cũng có lý! Cứ như trường hợp Clinton thì lẽ ra ta cũng phải viết là Jiang Zemin thay vì Giang Trạch Dân. Người đọc khi đọc báo nước ngoài tất khỏi phân vân, khỏi hiểu lầm ông nào là ông nào. Nhưng ta nghĩ sao nếu như nhà hát tuồng đăng quảng cáo là tối nay sẽ diễn tuồng LuBu hý DaoXuan thay vì Lữ Bố hý Ðiêu Thuyền?

Hay ác liệt hơn là ngâm Kiều theo “nguyên dạng”:

Có nhà viên ngoại họ Wang
Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung
Một con trai thứ rốt lòng
WangGuan là chữ nối dòng thư gia
Ðầu lòng hai ả tố nga
SuiCiao là chị em là SuiYun

Nếu không tài nào đọc xuôi thì đó chính là một minh chứng rằng ông cha ta đã Việt hóa chữ Hán một cách… bừa bãi. Tức là cứ đọc sao cho nó vừa miệng. Bất cần ông Tàu ở Bắc Kinh đọc ra sao. SuiCiao nghe cứ như chọc vào tai. Đọc đại thành Thúy Kiều nghe chẳng êm tai hơn sao? Khác nào biến Clinton thành ông Cơ Lin Tơn?

Ông Tàu có thể chê là “dốt” nhưng ta.. mặc kệ! Thơ chữ Hán của Việt Nam không thèm theo âm vận chính thức của Trung Hoa. Các sách về vần để làm thơ của Tàu đối với ta là vô giá trị. Bởi các cụ đồ đọc… ngọng! Đọc trật lất! Chẳng thế mà, nếu như tôi nhớ không lầm thì Lương Khải Siêu có chê văn cụ Phan Bội Châu là… thô lậu!

Thế chẳng phải là muốn làm giàu cho ngôn ngữ, ta phải dứt khoát tước đi cái mặc cảm tự ti, cứ nhập cảng tiếng ngoại quốc vào rồi Việt hóa sao cho vừa miệng sao? Tôi không hiểu nhiều về ngôn ngữ nên chỉ dám nghĩ liều rằng “nguyên tắc Việt hóa” là… cứ đọc đại theo kiểu “nhà quê”. Phải căn cứ trên cách đọc của người... dốt, người không biết ngoại ngữ. Như thế là thuận miệng hơn cả. Phải tước bớt những âm không có trong tiếng Việt. Ðôi lúc không chừng phải thêm dấu vào cho nó có âm điệu. Tiếng Việt không dấu không là tiếng Việt.

Trên thực tế thì người ta đã làm như thế một cách tự nhiên, như : cái “mỏ lết”, “long đền”, “bọc ba ga”, “cà nông” v.v… Chữ nào thuận miệng đều nghe rất “quê”. Có thể đoán rằng tác giả của sự Việt hóa một cách nhuần nhuyễn ấy không đến từ giới trí thức mà từ người… ít học!

Phải chăng chính vì người có học hiểu ngoại ngữ trơn tru, đọc tiếng Tây như Tây, Anh như Mỹ, nên tự mình không thấy có nhu cầu phải Việt hóa một cái gì hết?

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Hai xu rưỡi
Phan
Lỡ đọc bài viết “Triết lý ba xu” của nhà văn Huy Phương đã một tuần qua mà không sao quên được. Khi đọc bài báo ấy xong, trong đầu tôi đã tóm tắt toàn văn bài báo với một câu tục ngữ “Không có mợ thì vẫn đông”. Một con én không làm nên mùa xuân - nhưng mùa xuân vẫn về… Cái đạo lý làm người mà thầy tôi dạy rất đơn giản: “Hãy cố gắng thành nhân trước khi thành danh, con ạ!” Tới lớn (không có gì bảo đảm là khôn) tôi hiểu thêm qua năm tháng miệt mài trong trường lớp: “Người có tài mà không có đức là người vô dụng; người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó.” Nhân thể cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt vừa qua đời. Tôi bỏ qua lằn ranh Quốc-Cộng để làm vai trò chứng nhân lịch sử của đời tôi là vô tư trước lịch sử. Tôi nhớ ông Kiệt có câu nói trong kỳ Đại hội Đảng… lâu rồi (hồi ông làm Thủ tướng) câu nói còn hoài trong tâm tưởng tôi như sau: “Nhiệt tình cộng với sự ngu dốt tạo thành một sức phá hoại khủng khiếp.” Ý ông Kiệt phê bình chủ trương hồng hơn chuyên của Đảng, phê bình hàng lãnh đạo từ trung ương tới địa phương thiếu kiến thức lãnh đạo, tạo ra hậu quả nghiêm trọng cho đất nước. Từ đó, ông mạnh dạn bước vào thời mở cửa của Việt Nam sau 10 năm bế quan toả cảng để bần cùng hoá nhân nhân - đặc biệt là nhân dân miền Nam.

Tôi luôn tự nhắc nhở mình đừng đem cái nhiệt tình thiếu kiến thức đi phá hoại bà con cộng đồng đã dở sống dở chết lết qua đây! Nên tôi sống đời ẩn thân nơi quê mùa cùng tận. Không dám cùng trăm hoa đua nở trên văn đàn, tôi thật thà khai báo là bị mấy anh bạn hiếm hoi nơi này cưỡng bức ra mặt trên báo chí địa phương. Và tôi chẳng bao giờ mang ước vọng xa hơn để thành tên… đáng chết! Tôi loanh quanh trong món nợ đời là cơm gạo áo tiền. Khi có giăm phút vui cùng trần thế, là nói cho sang; nói bình dân là xỉn xỉn. Tôi cũng thơ phú cho đừng quên con chữ Việt ngữ-dù gì cũng cơm cha áo mẹ công thầy. Thế thôi. Tôi đọc Huy Phương đã nhiều. Cái rốt ráo của một người đi qua vũng lầy của chúng ta là cuộc nội chiến tương tàn. Những khoảnh khắc hoàng hôn của đời người không thương tích ngoài da nhưng thương tật trong lòng. Những vết thương không lành của người lính cũ có tấm lòng tha nhân. Tấm lòng của một tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên chỉ có ly rượu mời mới nói hết tình không biên giới.

Hôm nay ông cà khịa - triết lý ba xu. (Xin lỗi nha sư huynh Huy Phương). Nghe nó sến động trời luôn má ơi! Nhưng đọc rồi lại không quên vì nó đúng. Đúng tàn chiêu quái đao, đúng tử huyệt con người. Nói nghe chơi rồi bỏ. Nhiều người chơi cộm hơn người khác để làm gì không biết! Mua vài cái CD nhạc giao hưởng chưng ở phòng khách để khè khách vãng lai. Bản xô-nát-bên-bờ-ao là gì thì cộng lại cả nhà cũng không hiểu. Trong khi nghe bô-lê-rô thì rớt nước mắt, nhưng sợ người khác thấy! Người ta nói mình sến. Sến là gì? Thằng nói và thằng bị nói cùng không hiểu nên người ta gọi là… sến.

Sến nó thế! Trưởng giả học làm sang. Ngày tôi mười lăm, mười bảy. Có hiểu mẹ gì… bàn tay năm ngón em vẫn kiêu sa… bàn tay năm ngón cưa ba còn hai thì hiểu nhưng nhất định không nghe Chế Linh, Duy Khánh. Còn chê anh hai tôi là… sến. Anh hai tôi nói: “Khi mày thấm nhạc quê hương, tao đố mày ngăn được giọt nước mắt mình!” Đúng. Tôi đã. Khi xuân về trên đất khách. Tôi đã… và đã viết bài viết “Xuân này con không về”.

Hôm nay đọc triết lý ba xu của Huy Phương, tôi không dám nhoẻn miệng cười vì kinh nghiệm nghe nhạc như nói ở trên. Chắc mươi năm nữa tôi mới thấm cái triết lý ba xu coi vậy mà nó kén người đọc dữ à nghen! Phải từng trải, kinh nghiệm và tịnh tâm mới nhìn thấu lẽ vô thường của kiếp nhân sinh. Người càng uyên bác càng ăn nói bình dân; học hành ba chữ lem nhem thì hay nói chữ mà người ta không cho nói thì khóc; cho nói thì mếu là vậy!

Tôi theo dòng sống tha phương của một “chứng nhân lịch sử” Tôi gặm nhấm tháng ngày trôi lặng lẽ nơi này. Vài năm trước, tôi viết mấy câu sáu tám khơi khơi khi ngồi nhìn bóng mình dưới trăng khuya…

lên năm vui thú ỉa đồng
mười lăm một sáng tồng ngồng soi gương
ba mươi bái biệt quê hương
bốn lăm vất vưởng đêm trường dế kêu
sáu mươi mưa nắng buồn hiu
thương em ngồi đọc đôi điều anh ghi
khi nào thấy chữ mờ đi
tặng em cái kính cũ xì của anh
bụi thời gian rất mong manh
đừng kèo áo chùi gió lạnh mình ơi!

Cái thời điểm nghĩ về chứ không nghĩ đi trong “một cõi đi về” nữa. Tôi nghe ông Chế hát. “Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ, một chén cơm chiều… đời nó sống kiếp lang thang…” Má ơi! Tôi cầm lòng sao đặng hả trời! Tôi xổ thơ hai-ku để giằn mặt ổng liền:

gió heo heo.
trời trong veo
lá đưa vèo
cành cong queo
trăng cheo leo
trên cành treo
Duy Thu Hằng
khuất sau đèo
mộng tỳ kheo.

Thiệt là chỉ còn muốn đi tu.

Cái ám ảnh khôn nguôi theo tôi mãi. Chuyến xe đời rồi sẽ… dừng lại trạm này cho người xuống; dừng lại trạm kia cho người lên. Chuyến xe đời mới là bất tử; người lên kẻ xuống như đi qua cuộc đời này để tập sống vì sự sống không ở đời này! Vậy có gì cho ta ham hố tới sinh ra hận thù? Ai muốn nhận sáu miếng ván để lên đường thiên lý thì cũng phải trả lại trần gian sáu cái cúc áo, như nhau.

Hôm nói chuyện với ông nha sĩ (?) già còn đẹp trai ở xóm tôi! Tôi hỏi ông: “Sao về hưu sớm vậy? Anh còn phong độ quá mà!” Ông trả lời tôi bằng một truyện ngụ ngôn, ông kể: “Một doanh nhân đi lang thang trên bãi biển, ông ta tính không ra là bãi biển này nên đầu tư khách sạn hay nhà hàng? Đầu tư nhà hàng khách sạn chung thì vốn lớn quá! Có kinh tế không? Không tìm được câu trả lời trong đầu nên ông rất bực mình với một người trẻ tuổi ngồi câu cá mà không coi chừng cá cắn câu! Doanh nhân đến bên người câu cá, nói. Này anh bạn trẻ, anh hãy đi tìm một việc làm thích hợp hơn. Có thu nhập hơn. Sau đó, tích lũy và đầu tư vào những thương vụ, công nghệ lớn hơn… Người câu cá hỏi lại: Để làm gì? Người doanh nhân, nói. Khi anh thật nhiều tiền, giàu có hết mức, rồi hãy… tha hồ hưởng nhàn. Người câu cá nói. Thế ông không thấy tôi đang hưởng nhàn sao?!”

Câu chuyện ngụ ngôn ấy đã in vào đầu tôi triết lý hiện sinh mà tôi thật chưa đủ sức thấu đáo. Đến một hôm, tôi ngồi đọc lá thơ quê nhà mà mẹ tôi bảo đứa cháu viết y lời nội. (Thơ về tôi nói đang thất nghiệp nên cuộc sống gia đình con hơi khó khăn. Không dám hứa với mẹ về chuyện về Việt Nam ăn tết.) Mẹ tôi phang cho thằng con-yêu (yêu tinh) không phải cây củi đước như ngày tôi còn nhỏ. Mà bà cụ quy y phang cho thằng con câu chuyện ngụ ngôn. “Người tiều phu đốn củi quay về nhà với gánh củi trên vai. Qua cánh đồng tranh ban sáng-ông cố đi cho nhanh-bây giờ mới thấy nó rộng lớn! Khó khăn hơn là có con cọp đói-rượt đuổi ông. Người tiều phu chạy trối chết nhưng khoảng cách ngày càng gần! Ông bỏ gánh củi (cơm gạo của gia đình hôm nay) vẫn không có hy vọng thoát thân vì khoảng cách ông với con cọp đói cứ ngắn lại. Cùng đường. Trước mặt là một vực sâu. Ông… nhảy đại xuống vực. Tay ông níu được một sợi dây nho. Con cọp trên bờ rống lên vài tiếng tức tưởi rồi bỏ đi. Sau phút kinh hoàng và mệt, ông dõi mắt theo dây nho để tìm đường thoát thân. Thì hỡi ơi! Gốc rễ dây nho đang bị một đàn chuột gậm nhấm! Ông nhìn trái nho dại trước mặt. Ông ngắt bỏ vào miệng. Trái nho mới ngon ngọt làm sao.”

Biết thế nào là đủ, thế nào là thiếu trong cuộc đời này. Biết bao giờ là ngày cuối trong đời mình mà ôm đồm, tham vọng… Tôi đi trong sương mù của những truyện ngụ ngôn mà những người lớn hơn đã nhắn gửi cho mình. Tôi thông minh đột xuất nên thường xuyên…! Cảm ơn nhà văn Huy Phương đã tặng tôi ba đồng xu đơn giản mà thâm sâu.

Có phải triết lý trong trời đất bắt nguồn từ kinh nghiệm sống của con người. Con người gặt hái kinh nghiệm bằng xương máu “ăn cỗ đi trước lội nước đi sau”; “vợ dại như đũa vênh”… để hình thành nên kinh nghiệm cho muôn đời sau đỡ đổ xương máu. Những kinh nghiệm được hệ thống lại theo nhiều trường phái tư tưởng mà hình thành triết lý phương Đông; phương Tây… Những tư-tưởng-sô-pha làm nặng óc con người, lẽ ra có thể rõ như ba xu là ba phần trăm của một đồng thì hà cớ gì phải tung vào bao nhiêu ngôn ngữ sa mù cho thế thái hoang mang, nhân tình hỗn loạn. Hay tại loài người bây giờ có quá nhiều người muốn thành vĩ nhân mà tư duy không đủ nên hành tinh lềnh khênh… quái nhân.

Tôi đọc đi đọc lại bài viết: “Triết lý ba xu” của nhà văn Huy Phương, càng đọc càng thông thoáng tâm hồn mà cảm nhận quy luật của muôn đời; quy luật của tự nhiên. Giảng giải một vấn đề phức tạp của tư duy bằng ba đồng xu nhỏ thì thiệt là cao tay.

Hôm nay, Father’s Day. Dưới sức nóng 97 độ F của vòm trời Texas. Tôi cắt xong sân cỏ nhà mình, ngồi há họng nhìn những mùa thu đi, đông về, hạ đến, xuân lai… gọi nhà thơ Phan xuân Sinh cáp độ ta bà thì anh bị nhà thơ phu nhơn… Anh ơi! Anh ở lại nhà/ Cây xăng anh đứng chớ mà lông bông/ Hôm nay xăng đã bốn đồng/ Đi đâu cũng thiệt bằng không ở nhà…

Tôi ngồi thở với ly cà phê đá mà bà chủ trọ đời tôi ban ra gốc cây. Mời nhà thơ không được thì mình làm thơ cho bõ ghét! Thơ loanh quanh cũng không ra thoát được triết lý ba xu của Huy Phương mới là vòng kim cô khó cởi. Thì gởi anh Huy Phương - Hai xu rưỡi.

mùa xuân đến chim muông về ca hát
cây lá nghe vang vọng khúc xuân tình
nắng hạ về cây lá lặng thinh
chim làm tổ ru tình trong khóm lá
mùa hạnh phúc thu vàng mong manh quá
chim chết trong vườn trụi lá sang đông
tạ ơn em.
bếp lửa hồng, căn nhà nhỏ,
bạn bè lui tới…
nhậu

Có phải chuyến xe đời đưa ta đến với cuộc đời hỷ nộ ái ố, rồi rước ta đi với lố nhố ngân hà. Nơi miền tiên cảnh có bạn bè không em? Có Cognac pha sô đa để trơn giọng bình thơ, thưởng nhạc không em? Nơi nào có em nơi đó có những ngày đáng sống. Coi như anh hiểu triết lý ba xu rất đáng một ly rượu mời. Mời anh Huy Phương ghé căn nhà nhỏ khi có dịp.

Phan

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

TRIẾT LÝ BA XU

Huy Phương
Điều gì nói ra mà ai cũng biết cả rồi vì nó tầm thường, đơn giản, hiển nhiên, rẻ tiền thì người ta thường mỉa mai gọi nó là “triết lý ba xu”, mặc dầu đó những điều xác thực, chỉ vì nó xưa cũ hay người ta đã quen nghe.

Bây giờ mỗi ngày bạn đang có bao nhiêu công việc phải lo toan từ sáng đến chiều, hết sức là bận rộn, mỗi tối trước khi lên giường, bạn phải liệt kê các công việc cần ghi nhớ cho ngày mai trên một trang giấy, sợ có điều không ghi nhớ thì sẽ quên mất. Giá như có ai đó đề nghị bạn bỏ một ngày đi thăm một người bạn ở xa, hay nghỉ trọn một tuần, bỏ hết tất cả công việc, để làm một chuyến du lịch cho thanh thản tấm thân, cắt đứt với mọi liên lạc công việc bên ngoài, bạn sẽ không bao giờ chấp nhận, vì quá thật là bạn quá bận, không dư ra một tí tẹo thời giờ nào cho những công việc như thế.

Thế rồi đùng một cái, không báo trước, buổi chiều, chiếc xe cấp cứu rú còi inh ỏi, ghé qua nhà bạn, mang vào bệnh viện cái đầu óc bận rộn và cả cái tấm thân đang bệnh tật, có thể là sắp chết của bạn vào bệnh viện. Bạn sẽ sắp đặt gì cho chương trình vào sáng hôm sau của bạn, công việc ở sở làm, một vài chuyện giả quyết chưa xong, đôi việc giao dịch chưa hoàn tất, cái thư chưa phúc đáp, cái bill chưa trả. Bạn sẽ không làm được gì hết ngoài ra việc nằm thẳng trên giường bệnh viện với các giây nhợ chằng chịt trên cánh tay suốt ngày, xoay trở cũng khó khăn, mê mê, tỉnh tỉnh, nói gì chuyện đi đứng, bay nhảy như những ngày khỏe mạnh. Nghĩa là tất cả đều được xếp lại, như cho vào một ngăn kéo đóng kín, không giải quyết không xoay trở gì được. Bây giờ ai đưa cháu đi học, bây giờ mấy cái bills chưa trả, bây giờ còn trăm thứ việc ngổn ngang.

Tổng Thống thứ 9 của Hoa Kỳ là ông William Henry Harrison, tuyên thệ nhậm chức vào ngày 4 tháng 3 năm 1841, lẽ cố nhiên ông có nhiều kế hoạch, chương trình cho nhiệm kỳ bốn năm trước mặt, còn ai trên thế giới này bận rộn hơn ông. Ngày tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống, nhiệt độ Washington DC xuống quá thấp dưới độ đông đá, đứng giữa trời suốt mấy tiếng đồng hồ không đội nón, Ông William Henry Harrison đã đọc một bài diễn văn dài 105 phút, ông bị cảm lạnh và bị sưng phổi rồi qua đời sau đó đúng một tháng vào ngày 4 tháng 4 năm 1841. Tổng Thống Harrison qua đời thì có ông Phó Tổng Thống John Tyler lên thay, cũng hết một nhiệm kỳ 4 năm (1841-1485), nước Mỹ đâu có một ngày nào không có Tổng Thống đâu. Bạn đừng nghĩ rằng vai trò của bạn khó thay thế, khi bạn không hiện diện hôm nay ở sở làm, trong gia đình, ngay tại văn phòng Phủ Tổng Thống, hay cả trên cõi trần gian này nữa. Không có gì không thể thay thế, ngay cả Tổng Thống một cường quốc như nước Mỹ.

Trong đạo Phật, chúng ta thường nghe đến câu “Thân không cầu không tật bệnh, thân không tật bệnh thì tham dục dễ sanh.” Quả thật, chúng ta có rất nhiều ham muốn, những món tiền lớn, chức vụ béo bở, danh vọng ngất trời, bình thường thì cũng nhà đẹp, xe đời mới, bữa ăn ngon, thú vui xác thịt. Nhưng khi nằm trên giường bệnh rồi, khi chúng ta bị bệnh tật, đau đớn, điều ước mơ duy nhất là lành bệnh, ngoài ra những thứ chức tước, danh vọng, tiền của đầy nhà, rượu ngon, gái đẹp... đều vô nghĩa. Khi thân thể rã rời, sinh lực tiêu hao, không buồn nhấc cánh tay lên, không muốn nở một nụ cười, ta còn ao ước điều gì trên cõi đời này nữa. Những con số trong ngân khoản nhà băng, những món lời trong tầm tay sẽ không còn ý nghĩa gì nữa, sẽ không còn cần thiết gì cho thực trạng hôm nay với cái thân tàn tạ, nằm nhìn lên trần nhà mà chưa biết những gì có thể xẩy ra cho cái thân xác hữu cơ cùng với mầm thối rữa này.

Nhiều người đã kề cận với cái chết, nghĩa là đang ở giữa hai bờ sinh tử thì luôn luôn ám ảnh bởi nỗi biệt ly, xa cách rồi đây có thể xẩy ra giữa mình và những người thân yêu hơn là nghĩ đến những gì mình đang có bỗng phải bỏ lại đàng sau. Cái chết chỉ nhẹ nhàng, con đường ra đi chỉ có thể thênh thang nếu cuộc hành trình không mang những hành lý quá nặng với những nuối tiếc, với những tư hữu, những bận bịu tưởng chừng như không thể rời bỏ được ngay vào những giờ phút cuối cùng. Nhưng làm sao ra đi mà không thương nhớ, mà để lòng mình được thảnh thơi như người xưa nói rằng “chết là trở về” hay làm sao để cái chết nhẹ nhàng vui thú “như khi ta trở lại đi trên những con đường quê những ngày thơ ấu!”

Lúc nằm trên giường bệnh mới thấy những ngày khỏe mạnh quý báu biết bao nhiêu. Những chuyện nghe ra rất tầm thường trong cuộc sống hằng ngày bây giờ bỗng trở nên giá trị, khó tìm lại được. Những buổi sáng thức dậy thấy được ánh mặt trời và những chòm lá xao động bên ngoài cửa sổ, có thể nghe cả tiếng chim hót, tiếng xe cộ qua lại ồn ào hay tiếng người lao xao đâu đó. Những chuyện ấy rất thường tình, đời sống trôi chảy chung quanh ta, mà ngày thường không bao giờ chúng ta quan tâm, để ý đến. Bây giờ trong một căn phòng vắng lặng, cách biệt đời sống bên ngoài, mạch máu và nhịp tim đập của chúng ta gắn liền với những giọt thuốc tỉ tê đang luồn vào cơ thể.

Có những ngày nằm trên giường bệnh mới thấy những ngày lành mạnh là đáng quý, không gì hơn được sống gần những người mình thương yêu, được làm những điều mình thích, được nói được cười trong một nhân quần ấm áp trong một ngày như hôm nay. Thế thì khi chúng ta được trở lại với cuộc sống dù là tầm thường, nhưng rất bình thường yên ổn, chúng ta có thấy quý những ngày như thế không? Hay bây giờ chúng ta đã thực sự quên rồi.

Cuộc sống đã xô đẩy chúng ta đi không một phút giây ngơi nghỉ trên chuyến tàu tốc hành đang băng băng trong đêm trong ngày, qua bao nhiêu dòng sông, chiếc cầu, qua bao nhiêu cánh đồng, rặng núi. Con tàu đã dừng lại một ga nhỏ nào đó để cho chúng ta lên tàu, rồi con tàu sẽ dừng lại một sân ga nào đó cho chúng ta xuống tàu, có thể cũng không ai biết chúng ta là ai, hiện diện trên toa tàu này lúc nào, trừ những người hành khách kế cận. Một người khách đã xuống tàu lúc con tàu đậu lại một sân ga nào đó đâu có gì là quan trọng.

Trong cuốn sổ điện thoại của tôi dùng thường ngày đã có những cái tên và số điện thoại bị gạch bỏ hay không bao giờ dùng đến, vì những bạn bè, thân thuộc này đã không còn ở trên cõi đời này nữa. Tên của tôi trong cuốn sổ điện thoại của bạn cũng vậy, một này nào đó, như khi tôi đã xuống tàu, đâu có ai cần đến nữa.

Đến cái tuổi nào đó, có những người không còn thấy quyền lực, danh vọng và tiền của là quan trọng nữa. Con tàu trước khi rời sân ga đã kéo những hồi còi dài trong đêm tối, có thể không ai để ý đến một người hành khách đã xuống tàu lầm lũi một mình. Con tàu như dòng đời trôi chảy chúng ta đã bỏ lại sau lưng. Giờ phút đó, chúng ta không còn ở trên cõi đời này nữa, nhưng trước giờ ra đi, có thể có nhiều điều chúng ta chưa thực hiện được như những mơ ước từ lúc niên thiếu. Nhiều triết gia đã cho rằng chúng ta đã sống như thế nào chứ không phải đời sống dài hay ngắn.

Nhưng cái điều mà ai cũng biết, ai cũng nghe nói nhiều lần đến nhàm chán, và chẳng ai muốn nghe thì người ta gọi nó là thứ triết lý ...ba xu. Câu chuyện này có thể được xếp loại như vậy chăng?

Huy Phương

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

TÔI ÐI XEM BÓI

Hưng Yên
Mấy tháng trước, trong một lần nhậu nhẹt đã hơi xỉn xỉn, chúng tôi có khoe là đã từng đi xem bói, xin xăm và cầu cơ, lại còn hứa là sẽ kể hầu quý vị khi có dịp. Nói là “đã từng” cho nó oai, chứ thực ra mỗi thứ cũng chỉ có một lần thôi, với lại một lần cũng đủ quá rồi, chứ cần gì nhiều, phải không quý vị? Hôm nay dịp ấy đến rồi, vậy chúng tôi xin kể ra đây hầu quý vị, xem như trả nợ một lời đã hứa!

Theo thứ tự trước, sau thì tôi được “coi tướng” trước nhất. Thuở ấy tôi mới chừng 9 - 10 tuổi, đang học lớp Ba hay lớp Nhì gì đó ở trường làng thì được một ông cụ là bạn vong niên với thày tôi xem bói cho. Thú thực ngày còn nhỏ tôi học dốt lắm, thày tôi cũng bảo thế! Học trước quên sau, nhưng những chuyện ấm ớ thì nhớ thật dai, chả thế mà cho tới hôm nay tôi vẫn còn nhớ như in cách ăn mặc, nét mặt và những điều ông cụ đã phán về tôi. Ngày đó chính tôi cũng không biết tại sao tôi lại học dốt như thế, nhưng bây giờ thì tôi nghiệm ra rồi, cũng chỉ tại tôi “mê” những thứ khác hơn mê học, thí dụ như mới học lớp Nhất trường làng thôi mà đã biết “nhớ nhung” một vị cô nương học cùng lớp đấy các cụ ạ! Chết thật, thế thì bảo làm sao mà học hành cho khá được chứ?!

Hôm ấy, vào một buổi chiều Chúa Nhật, ông cụ đến nhà tôi chơi. Cũng phải nói rõ rằng: Kể về tuổi tác thì ông cụ hơn tuổi thày tôi nhiều, lại là người khác làng, nhưng không hiểu tại sao hai người lại chơi thân với nhau. Lần nào đến, tôi cũng chỉ thấy ông cụ mặc một cái quần trắng cháo lòng và cái áo the thâm đã rách vai, trên đầu đội cái khăn xếp đã bị gián nhấm mất vài chỗ. Một lần tôi có hỏi thày tôi cụ là ai thì thày tôi bảo: Cụ làm nghề Thày Bói và để hướng cửa, hướng nhà cho người ta, hay lắm! Hôm ấy, sau khi đưa ấm nước sôi cho thày tôi để Người pha trà đãi khách, tôi đang định phóng đi chơi tiếp thì cụ bảo đứng lại cho cụ coi. Cụ hỏi kỹ càng bu tôi về giờ và ngày sinh, tháng đẻ của tôi rồi bấm đốt ngón tay lẩm bẩm: Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn... Sau đó cụ bắt tôi quay bên phải, quay bên trái, quay đằng trước, quay đằng sau, đi tới, đi lui cho cụ coi. Quan sát đã đời rồi cụ mới gật gật đầu, phán:

- Xét về tướng số, thằng này cũng tàm tạm, sau này không đến nỗi nào, nhưng phải cái dài mồm ăn người và có tới ba đời vợ!

Lời phán này của cụ tôi nhớ suốt đời không bao giờ quên. Về câu “Sau này không đến nỗi nào” thì có phần đúng vì không kể thời gian phải đi ở tù cải tạo của Việt Cộng là thê thảm nhất, còn lúc nào tôi cũng kiếm đủ sống cho gia đình, không đến nỗi đói. Riêng về mục “Dài mồm ăn người và có tới ba đời vợ” thì sai, sai đứt đuôi con nòng nọc đi rồi. Tôi chẳng ăn không của ai cái gì bao giờ, hễ có đi tất có lại, có khi tôi còn chịu thiệt thòi là đàng khác! Còn ông cụ bảo tôi “dài mồm” là bởi ngày còn nhỏ tôi nghịch quá, suốt ngày chạy nhẩy, đánh đinh đánh đáo nên ăn bao nhiêu cũng không lại, người cứ gầy đét nên cái mồm nó mới vêu ra, chứ mồm tôi có dài thật đâu! Còn dĩ nhiên có nhiều vợ thì ai lại chẳng thích? Nhưng tôi năm nay cũng đã mấp mé “Thất thập cổ lai hi” rồi mà bà xã thày bu tôi cưới cho từ ngày tôi còn rất trẻ vẫn còn sống nhăn. Nói dại đổ xuống sông xuống biển, chẳng may bây giờ mà bà ấy mất đi thì cũng đành chịu thôi, chứ già thế này rồi ai mà thèm lấy nữa? Với lại “rước” về để làm gì, làm ăn thì ba trật ba vuột, cái được cái không, thế thì rước về để thờ à?!

Ðấy, lần duy nhất trong đời được coi tướng, coi số thì Thày Bói đã nói sai toét toè loe ra rồi, thế thì bảo tin vào tướng số làm sao được chứ?

Thứ đến là xin xăm: Năm ấy tôi học ở Nha Trang, vào một buổi chiều Chúa Nhật tôi theo mấy thằng bạn lên Tháp Bà chơi. Tháp Bà chẳng những là một thắng cảnh mà còn được kể là một nơi rất linh thiêng. Vào những ngày Rằm, Mùng Một hay những ngày lễ nghỉ khách thập phương đến vãn cảnh hoặc cúng bái đông lắm. Trong tháp lúc nào cũng khói nhang nghi ngút, chỗ này người xì xụp lậy, chỗ kia người kính cẩn lắc xăm. Vì sắp đến kỳ thi Trung Học Ðệ Nhất Cấp nên tôi cũng muốn thử xem Thánh dậy đậu rớt thế nào. Bắt chước mấy thằng bạn, tôi cũng miệng khấn, tay lắc. Một que sâm rớt ra khỏi ống, tôi nhặt đem ra ngoài nhờ một thày bàn sâm xem dùm. Thày cầm thẻ xăm lẩm nhẩm đọc rồi mặt thày tươi lên, thày nhìn tôi cười, bảo:

- Chúc mừng cậu, kỳ thi này cậu đậu chắc rồi, đây này Thánh dậy rõ ràng “Công thành danh toại, bảng Hổ đề danh”!

Thày nói thế thì tôi biết thế, chứ chữ trên thẻ xăm là Chữ Nho, tôi có đọc được đâu. Chúc mừng xong, thày còn nhìn tôi nheo nheo một con mắt:

- Trông mặt mũi sáng sủa thế này thì thi đậu là cái chắc chứ còn gì nữa?!

Nghe thày nói mà tôi nở ruột, nở gan bèn biếu thày 5 đồng. Ngày đó ở Việt Nam 5 đồng cũng trị giá bằng 5 Ðô La Mỹ bây giờ, có khi còn giá trị hơn. Nghĩa là nếu vào tiệm phở thì cũng xơi được một tô phở ngon lành, vì giá một tô phở ngày đó cũng chỉ 3 hoặc 5 đồng thôi, gọi là phở ba hay phở năm mà lại chẳng phải típ, tiếc gì. Tôi ra về mà mặt mũi cứ vênh vênh lên, bạn bè cùng lớp đứa nào học dở hơn tôi một chút là tôi coi bằng nửa con mắt, vì trong bụng cứ đinh ninh rằng “ông” thi đậu là cầm chắc rồi, Thánh đã dậy thì làm sao mà sai được? Thế nhưng mà các cụ ạ, năm ấy tôi trượt vỏ chuối. Lúc coi bảng kết quả không thấy tên mình, tôi giận ông thày “bàn xăm” rồi giận luôn cả Thánh. Nhưng sau bình tĩnh nghĩ lại thì thấy nếu năm ấy tôi thi đậu mới là chuyện lạ, chứ rớt là đương nhiên thôi, vì học hành có ra gì đâu mà đòi thi với cử, đầu óc lúc nào cũng chỉ hình ảnh mấy vị cô nương!... Có điều giá Thánh cứ bảo ngay là tôi rớt đi thì tôi cũng đỡ tức, hay là Thánh thấy tôi lấc cấc bèn “trác” tôi cho bõ ghét, nếu mà thật thế thì cũng đáng đời tôi. Tuy vậy dù thế nào đi nữa thì cũng là Thánh nói sai!

Tôi cũng đã được nghe nói đến “Cầu Cơ” nhiều rồi nhưng chưa hề được thấy bao giờ, mãi đến sau ngày 30 - 4 - 1975 khi đã vào trại tù cải tạo của Việt Cộng rồi thì chẳng những được thấy mà còn đích thân tôi được “ngồi Cơ” nữa. Dân Vũng Tầu chúng tôi, trừ những người bị bắt hoặc vì một lý do gì đó mà bị Việt Cộng nó đưa đi nhốt ngay sau ngày 30 tháng Tư, còn hầu hết thì hơn một tháng sau ngày mất nước mới có lệnh tập trung để được đưa đi học tập cải tạo, đem theo một tháng tiền ăn cùng với những vật dụng cần thiết như mùng, mền, quần áo v.v... Việt Cộng nó chở chúng tôi đến trại Thanh Hoá, Hố Nai, Biên Hoà. Nơi đây trước kia là trại gia binh của một đơn vị Biệt Ðộng Quân, gồm khoảng 7 - 8 dẫy nhà tôn và chung quanh không có hàng rào chi cả. Phải thành thật mà nói những ngày đầu tập trung cải tạo thoải mái lắm, chỉ ăn chơi chả phải làm gì, lại muốn ra, vào trại lúc nào cũng được, vì thế mà chúng tôi đã có thể tổ chức cầu cơ ngay trong phòng của mình.

Phòng chúng tôi ở gồm có 6 người là các anh: Lê Minh Ðạt, Hà Hữu Ðức, Nguyễn Phước Thành, Lê Ðình Nhuận, Ðắc (anh này tôi không nhớ họ) và tôi. Hôm đó chúng tôi nấu một nồi chè đậu xanh, anh em ăn rồi còn dành lại một chén nhỏ để tối hôm đó cầu Cơ. Cách cầu và bài “thiệu” (Thần Chú) thì do anh Chẩn, có biệt danh là “Chẩn Cánh Cụp Cánh Xoè” ở phòng bên chỉ cho. Sở dĩ anh em gọi anh là Chẩn Cánh Cụp Cánh Xoè vì một cánh tay anh có tật không duỗi thẳng ra được, nhái theo kiểu nói của Việt Cộng kêu máy bay F111 của Mỷ là cánh cụp cánh xoè vì khi muốn bay nhanh thì nó cụp cánh lại, lúc cần bay chậm nó lại xoè cánh ra. Sau khi ra tù, anh Chẩn và gia đình vượt biên, nay đang ở Thuỵ Sĩ.

Bài “Thần Chú” đó như thế này:
Hồn này ở chốn Non Bồng
Qua đây hồn cũng vui lòng ghé chơi
Hồn bay, bay bổng về trời
Là hồn vũ tướng hay hồn danh nhân
Là hồn của kẻ trai tân
Hay hồn thiếu nữ muôn phần xinh tươi
Nén hương thơm ngát đốt rồi
Nước trong sẵn có xin mời hồn lên
Hồn lên cho khắp bốn bên
Làm cho Cơ động Cơ đi dần dần
Kìa Cơ đã động ba chân
Hồn còn làm lại nhiều lần cho coi
Kìa Cơ đã sẵn nhích rồi
Nhích cho thật mạnh mọi người đều trông!

Có bài “thiệu” rồi, còn phải có một số dụng cụ cần thiết nữa là: Một tấm bìa khổ giấy lớn ở giữa vẽ hình trái tim, phía trên cùng tấm bìa là hàng chữ: Thánh, Thần, Tiên, Phật, Ma, Quỷ. Hàng kế là 24 chữ cái ABCD... Hàng kế nữa là các chữ và dấu: Ă, Â, Ô, Ơ, Ư, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Hàng cuối cùng là 10 số: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 0. Thêm một miếng gỗ gọt giống hình trái tim lớn khoảng 4 đốt ngón tay, nếu được miếng gỗ ván hòm chôn người chết thì càng tốt.

Hôm ấy vào khoảng 8 - 9 giờ tối, chúng tôi lấy mùng mền che kín tất cả các cửa sổ lại, thắp nến rồi bầy Cơ ra. Ðồ cúng gồm: Mấy cây nhang, 1 chén nước lạnh, 1 chén chè đậu xanh và 2 cái bánh ú. Lê Ðình Nhuận và tôi ngồi Cơ. Cứ theo như người ta nói thì “ngồi Cơ” phải là “một Ðồng Nam và một Ðồng Nữ” Cơ mới linh. Không biết chữ “Ðồng” đây có phải là “đồng trinh” nghĩa là người chưa “nhuốm bụi trần” không? Trong khi Lê Ðình Nhuận đã 9, 10 đứa con, còn tôi thì 5 đứa!

Hai chúng tôi đặt hờ hờ ngón tay trỏ lên con Cơ rồi đọc “Chú”. Ðọc đi đọc lại hoài, lát sau Cơ nhúc nhích. Tôi hỏi: Thánh, Thần, Tiên, Phật hay Ma Quỷ? Cơ nhích dần đến chữ Quỷ. Hỏi tiếp: Trước kia hồn làm gì? Cơ đi vòng vòng, ráp lại thành chữ: Bộ Ðội. Hỏi tiếp: Tên gì? Ðáp: Phan Bê! Sao mà chết? Bom! Chết ở đâu? Trường Sơn! Hồn có biết bao giờ chúng tôi được về với gia đình không? Cơ ngập ngừng, giật giật, khựng khựng y như là không biết hoặc biết mà không dám tiết lộ thiên cơ. Cà rịch cà tang mãi mới ráp được thành chữ 6 tháng! Lại hỏi tiếp: Sao cách mạng bảo 1 tháng mà lại là 6 tháng? Cơ ì ra, không động đậy, thế rồi hỏi gì cũng không nói nữa! Nhuận và tôi ra để Thành và Ðức vào thế. Hai anh đọc “Thần Chú” đến mờ người, văng nước miếng cũng không thấy Thánh, Thần, Tiên, Phật hay Ma Quỷ nào “giáng” nữa cả, thế là đêm ấy dẹp tiệm, đi ngủ. Ðêm sau lại cầu tiếp, nhưng chè và bánh ú để lâu sợ thiu nên ăn mất rồi chỉ còn chén nước lạnh và mấy miếng kẹo đậu phọng. Cũng làm như đêm trước, Nhuận và tôi ngồi Cơ. Ðọc Thần Chú mỏi mồm Cơ mới lại giật giật rồi nhích đi từ từ, lại cũng Quỷ nữa, sau đó hỏi gì Cơ cũng chỉ đi vòng vòng, có khi ráp lại không thành chữ gì, y như hồn không biết chữ vậy! Tôi bực mình đuổi: Cút, chỉ bố láo bố lếu! Hồn thăng, cuộc cầu Cơ hoàn toàn thất bại, từ đó chúng tôi không bao giờ cầu Cơ lại nữa. Ở trại Thanh Hoá, Hố Nai, Biên Hoà đến hơn một năm rồi chuyển đến trại Suối Máu, Biên Hoà. Sau đó ít lâu chúng tôi lại bị Việt Cộng chuyển đi tứ tung, người tù cải tạo 3 năm, người 6 năm, người 12, 13 năm, riêng tôi được 6 năm 4 tháng.

Kính thưa quý vị, tôi thật tình không dám nói bói toán là bố lếu bố láo, nhưng cả ba thứ mà tôi đã trải qua đều như thế đấy! Hay là chỉ tại tôi gặp toàn một thứ “Thầy” chẳng ra gì? Cũng cần thưa ngay là ngay cả “Hồn Ma” mà chúng tôi gặp trong lúc cầu Cơ tôi cũng coi là một thứ Thày Bói: Thày Bói Ma! Vâng, có thể là chúng tôi gặp toàn loại chẳng ra gì! Chứ còn như Tổng Thống Thiệu, sách bói gối đầu giường cả đống, còn chung quanh lúc nào cũng đầy những Thày Bói thứ xịn nhất, lại còn xây cả Hồ Con Rùa để trấn yểm, sao rút cục cũng chẳng ra gì thế? Thế thì bây giờ các vị bảo sao nào?!

Hưng Yên

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

"Chợ Tình" Trên Mạng

Những kiểu vừa ngồi chat vừa "khoe hàng" có mặt nhiều tại các phòng chát VIP. Tối thiểu nhất tại các phòng chat VIP này phải có những máy tính tốc độ cao gắn webcam, một microphone có thể kết hợp chat voice, hoặc thực hiện cuộc gọi Internet phone. Phòng VIP phải đảm bảo kín đáo để các khách VIP được “tự do” thể hiện.

Khoản phí để vào phòng VIP cũng không bình dân chút nào, từ 5 đến 10 nghìn đồng/giờ, trong khi phòng Internet thường có gắn máy lạnh cũng chỉ 4 nghìn đồng/giờ.

Theo Tuấn, một chatter nhẵn mặt tại khu Trần Quang Khải, Q1 thì các phòng VIP khu này ra đời hàng loạt sau sự kiện một Việt kiều về nước mạnh tay đầu tư vài tỷ đồng cho một điểm Internet, trong đó mở hẳn một phòng riêng dành “dân chơi” mà số đông là giới gay đồng tính và gái nhà hàng tại khu Trần Quang Khải.

Phòng VIP tại đây khá yên tĩnh, nằm ẩn mình trên lầu 1 với đầy đủ “đồ chơi” dành cho dân chuyên nghiệp: máy tốc độ cao, màn hình phẳng, webcam độ nét cao. Trang bị "nhà giàu" như vậy nên lúc nào ở đây cũng “kẹt chỗ”, thậm chí nhiều khách phải “xếp hàng” chờ, hoặc tự bỏ đi.

Sau phòng chát VIP của một Việt kiều, khu phố Trần Quang Khải (khoảng hơn 1km) đã mọc thêm ít nhất 4 phòng chát VIP nữa, với trang bị tương tự. Thế nhưng dân chat khu này khá ấn tượng với phòng VIP của điểm Internet N. đối diện rạp Cát Đằng bởi quy mô và cách bố trí “độc nhất vô nhị” của căn phòng này.

Trong vai 1 khách tìm bạn chát, chúng tôi đã phải đi lắt léo lên lầu 2 của căn nhà này trước mắt là một cảnh “khó tưởng tượng”, căn phòng khoảng 30m2 chật ních người với đủ thứ âm thanh hỗn tạp: tiếng trò chuyện của khách VIP qua voice chat, tiếng loảng xoảng gươm giáo của một bộ phim kiếm hiệp, tiếng rên rỉ phát ra từ một đoạn phim nóng trên một website sex. Tất cả đều rất tự nhiên, mạnh ai người nấy thao tác...

Ngồi kế bên tôi là một cô gái có cái nick khá ấn tượng “tieuthu_buongbinh...”, đang vui vẻ “xả” tiếng Anh với một “ông Tây” xuất hiện trên WC trong tư thế không còn mảnh vải che thân. Để đáp lại “thịnh tình” từ phía đối tác, thỉnh thoảng cô gái cố tinh chỉnh WC của mình để theo yêu cầu của bạn chát, hướng nhìn xuống phần ngực nửa kín, nửa hở.

Hàng độc của phòng VIP này không dừng lại đây. Cuối gian phòng này còn một phòng VIP nhỏ nữa, chỉ dành cho khách quen, cửa luôn đóng chặt. Vờ đi tìm toalet, tôi mở cửa phòng... và “đứng tim” khi đập vào mắt mình là một cô gái đang thoát y nửa người, lắc lư trước máy ống kính WC. Trong phòng có khoảng 6 buồng chát được ngăn kín đáo, ai cũng có việc của người ấy cả.

''Hàng'' đang ''chào khách'' trên mạng
Chưa bước chân vào kịp, tôi bị H đẩy ra vì đi nhầm “địa chỉ”…thì ra đi chát VIP không phải có tiền là vào được, mà còn phải có “thâm niên” tức là phải nhẵn mặt tại phòng chát hay phải quen biết chủ mới vào được phòng “đặc biệt” như vậy.

Đã là dân chát chuyên nghiệp hẳn không thể không biết điểm dịch vụ bề thế trên đường Trần Hưng Đạo, quận 1. Nơi đây có tới 3 phòng chát VIP tập trung ở lầu 2, được canh chừng cẩn thận. phòng máy lạnh, chia ô và kín như bưng này, người ta có thể vô tư truy cập trang websex và “khoe hàng” một cách tự nhiên.

Khác với các điểm nội thành, một số điểm dịch vụ Internet ở vùng ven như Nguyễn Kiệm (Gò Vấp) tỏ ra thoáng hơn. Tại một phòng VIP ở khu này, tôi được kỹ thuật viên chỉ tận tình một vài địa chỉ web “đen” bởi theo cách giải thích của anh này nếu muốn kiếm “hàng” nhanh và dễ chỉ có cách là phải “bắt” được các nick name (biệt danh) này.

Mở trang web có tên TheoNhauXuongPho.com, là dễ dàng thu lượm hàng trăm nick của các cô gái kèm hình ảnh qua WC có khi có cả số phone của họ. Trang web TheoNhauXuongPho thuần túy cho các người cô đơn tìm bạn, tìm tình yêu với vài ngàn member nhưng một số ít các cô đã lợi dụng để mồi chài kép rủng rĩnh có tiền. Thử vào vài nick name có tên là: tr...anh20022005, t...lipvn, th...vi85... luôn "đỏ đèn" (có mặt trên mạng liên tục - P.V), một nick chịu bắt chuyện, sau khi "khoe hàng" nàng ra giá đi "chơi" với giá 100 đô la không bớt. Nếu biết đối tượng là những "anh già Việt Kiều" thì sẽ có màn trả giá cho coi Sexy Show chung tiền trước hàng tháng - đa số các cô chỉ đòi 100 đô một tháng ngày coi lúc nào cũng được, trừ khi nàng đang Show cho anh già dịch khác... Các anh ngố quá sẽ phải trả 200 đến 300 đô - mổi cô chỉ bắt mối được chừng 5, 7 anh "già mất nết" là tiền tha hồ tiêu. Bạn vào trang Web thấy Nick nào hiện đèn thì chỉ việc download YM ở http://messenger.yahoo.com/ về xài miễn phí và tha hồ rữa mắt.

Như vậy là đã rõ, thông qua dịch vụ chat, "chợ tình" trên mạng đã vào guồng và hoạt động khá ì xèo... Điều này cũng lý giải nguyên nhân vì sao hàng đêm những cô gái nhà hàng, vũ trường sau khi xong việc lại tìm đến các phòng chát VIP và "ngồi đồng" ở đó hàng giờ đồng hồ như vậy.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Của riêng mình
Tác giả: Đỗ Phấn

Những ng­­­­­ười tư­ởng rằng mình đến sớm nhất thực ra cũng đã chậm mất hơn nửa giờ. Còn là ít. Ít hơn những ng­ười khác. Họp bao giờ cũng đồng nghĩa với muộn giờ. Có những ngư­ời nghĩ rằng mình chẳng là cái thớ gì, có mặt sớm hay muộn, cuộc họp cũng cứ phải bắt đầu, ai hơi đâu chờ đợi. Nh­ưng cũng có ng­ười lại nghĩ rằng mình mới là nhân vật chính. Vắng mình, ai sẽ điều khiển ? Ai sẽ phát biểu ? Vào lúc nào ? Thế thì cớ gì phải vội kia chứ ? Không có mình, họ chư­a thể bắt đầu. Mình nắm trong tay quyền hành, rất có thể b­ước chân vào cuộc họp, mình tuyên bố hoãn. Mọi ngư­ời ai lại về việc nấy chờ đến kì họp tới.

Cơ quan làm công tác nghiên cứu. Khách hàng duy nhất kể từ khi thành lập đến nay chỉ có mỗi một ông. Nhà nư­ớc. Cũng không hẳn là khách hàng bởi cũng chư­a bao giờ đư­ợc chọn mua thứ mình cần. Hay cũng chẳng biết là mình cần cái gì nữa ? Tất cả “hàng hoá” của cơ quan đ­ược trình bày với khách hàng d­ưới một tên gọi mĩ miều. Đề tài nghiên cứu khoa học. Chúng đư­ợc ra đời ở đâu ? Ở các cuộc họp. Họp tổ, kết quả trình lên phòng. Họp phòng, trình lên ban giám đốc. Họp giám đốc, quyết định đ­ưa ra cuộc họp toàn cơ quan. Họp cơ quan, đa số ý kiến cho rằng nên đ­ưa về tổ bắt đầu lại theo hư­ớng khác. H­ướng dễ xin đ­ược tiền để triển khai đề tài ! Không có gì phải vội vàng. Đề tài nghiên cứu khoa học tiến hành cả vài năm. Kết quả sẽ được họp báo cáo. Có biểu d­ương, khen thư­ởng, sau đó cất hồ sơ vào tủ, khóa kĩ. Thực ra không cần khoá. Không bao giờ có ai mở ra xem lại, dù đ­ược mời !

Cuộc họp hôm nay không phải là cuộc họp nằm trong phạm vi chuyên môn. Cũng không phải cuộc họp định kì của các đoàn thể. Chỉ là một cuộc họp bất th­ường của tổ nữ công. Họ nghe láng máng cô đã công khai cái bụng lùm lùm của mình. Tr­ước sau gì mà chả thế ! Gái một con “thôi” chồng đã ba năm, thời gian vừa đúng bằng câu thành ngữ: “…Gái đoạn tang”.



Trên đư­ờng đến cơ quan, cô đã thầm nghĩ đến cái đám ngư­ời hèn hạ mà cô sắp phải gặp. Cô là nhân vật chính. Nh­ưng không vì thế mà phải sử dụng đến cái quyền hành ấy. Cứ đàng hoàng mà đến đúng giờ. Thử xem những ai có thể phê phán mình ?

Từ lão giám đốc có bộ mặt nghiêm trang của một “trí thức lớn” thỉnh thoảng sang phòng cô giục làm gấp tài liệu cho lão kịp đi dự hội thảo. Miệng thì lắp bắp giục nh­ưng cứ kề cà quanh chỗ cô ngồi. Thỉnh thoảng tiến sát đến bên cô vờ như­ vô tình dí cái của nợ bùng nhùng vào vai cô. Cái thứ cô ngờ rằng nếu để cô bóp bảy ngày thì vẫn chỉ là một mớ dây chun nhão mà thôi. Như­ng có lẽ lão không nghĩ thế. Điều duy nhất lão có thể nghĩ, đó là sự ban ơn. Một nhân viên văn thư­ đ­ược giám đốc quan tâm thì không thể gọi cách nào khác hơn là ng­ười có ân huệ. Cứ mặc cho lão vờ vịt. Cô cũng ban cho lão cái ân huệ ấy. Biết đâu lại chẳng giúp lão sáng suốt hơn trong việc nghiên cứu khoa học ? Mà cái kết quả cuối cùng, cô biết, nó cũng lại đ­ược cô cho vào tủ sắt nh­ư mọi lần !

Tay gác cổng ng­ười tầm thư­ớc. Nghe nói có võ. Một hôm chỉ dùng có một tay bắt gọn thằng bé con mư­ời tuổi trèo qua hàng rào sắt vào trong cơ quan nhặt quả bóng. Thế võ “điêu luyện” đã làm thằng bé sái tay. Cơ quan phải trả tiền viện phí cho gia đình nó. Với cô, hắn tỏ ra rất hiền lành tốt bụng, thậm chí khù khờ như­ một cao nhân ẩn mình. Bao giờ cũng giúp cô dắt xe vào cuối bãi gửi rất đàng hoàng. Khách khứa ra vào thường phải đợi cho hết cái cử chỉ lịch thiệp ấy rồi có muốn trình bày gì mới trình bày. Kẻ gian thì dĩ nhiên là không dám bén mảng đến đây rồi. Nếu có lọt đ­ược vào cơ quan, rất có thể lúc ra phải nằm trên cáng ! Ấy vậy mà một hôm chiếc xe máy của cô bị xịt lốp. Cũng là hắn phát hiện ra. Hắn dắt xe cô vào phòng bảo vệ, lấy hòm đồ trong gầm gi­ường ra. Trời mùa đông tối sớm, tay hắn quờ quạng lung tung tìm cái móc lốp. Cô biết không phải vô tình, bàn tay ấy đã hai lần tìm đúng chỗ nó muốn như­ng không có cái móc lốp nào ở đấy cả ! Trong bóng tối lờ mờ của phòng bảo vệ, cô thấy rõ g­ương mặt “xì hơi” của hắn bối rối đến thế nào khi cô bỏ sang quán càphê tr­ước cổng cơ quan. Cũng là để tạo cơ hội cho hắn bơm lại cái lốp xe mà lập công dâng ngư­ời đẹp trong danh dự.

Cô không phải ng­ười đẹp như­ng ý chí muốn làm ngư­ời đẹp của cô hình như­ ch­ưa bao giờ chịu thua kém ai. Mỹ phẩm đắt tiền, kĩ thuật chăm sóc làn da, mái tóc phải dùng những dịch vụ tốt nhất có thể. Chỗ nào quá khiếm khuyết, cô không ngần ngại cho phép mình đ­ược can thiệp bằng giải phẫu. Dĩ nhiên chúng đẹp lên rất nhiều lần. Đã thế, cách ăn mặc có phần táo tợn của cô, áo “ngáp” trên, quần “ngáp” dư­ới khiến những ng­ười nghiêm trang nhất cũng phải rung động. Tay trư­ởng phòng hành chính của cô là một ngư­ời như­ vậy. Cặp kính cận dày cộp nh­ư đựng bên trong mấy chiếc bóng đèn cong cong thỉnh thoảng lại “soi” vào khoảng hở trên ngực áo của cô. Mắt mù dở như­ng có lẽ tai rất thính thì phải ? Mỗi lần cô đi vào toilet, lão đều rón rén theo sau. Cô rất biết điều ấy và thầm cảm phục những gì có trong bộ óc phi phàm của gã. Hình như­ chúng đã “số hoá” những tiếng động của n­ước (đái) để biến thành một thế giới hình ảnh ? Có thể lắm chứ ! Nghe tiếng hổ gầm có thể hình dung ra răng nanh và những vằn đen dữ tợn…

Đàn bà trong cơ quan dứt khoát là không thể nhìn cô với con mắt thiện cảm. Đơn giản vì họ đều là những ng­ười có chồng con đàng hoàng, hoặc giả vờ nh­ư rất đàng hoàng. Họ muốn chứng tỏ họ là những người vợ chung thuỷ hoặc ít ra là đã từng chung thuỷ. Chuyện ấy chả khó khăn gì. Chỉ cần không ăn mặc hở hang, không nói năng bỗ bã. Không đi sớm về muộn, không hàng quán bê tha. Nghĩa là tự giấu mình d­ưới cái mác là vợ một ai đó và tin rằng các đức ông chồng chỉ có thể là của riêng mình như­ một định lí toán học hoặc ít nhất thì cũng phải giống như­ định luật vật lí về con lắc chẳng hạn. Dù dao động thế nào thì cuối cùng cũng phải dừng ở chỗ cũ. Không nhìn cô thiện cảm như­ng cũng chư­a bao giờ có dịp phê phán cô một cái gì. Và hôm nay có dịp, họ họp nhau ở đây để kiểm điểm cô. Nói cho đúng ra là kiểm điểm cái hĩm của cô. Nó đã không biết dừng lại đúng lúc. Nó làm cho mọi ngư­ời nghĩ về đàn bà ở cơ quan này cũng có những cái tương tự. Nó làm cho đàn ông ở cơ quan nhìn nhau bằng con mắt ngờ vực và không kém hân hoan khi biết chắc không phải là mình. Chỉ có thể là thằng kia ! Mất chức đến nơi rồi con ạ ! Mai kia đến xin chữ kí, bố mày mới hành cho. S­ướng cu mù mắt chư­a con ?

Thiếu gì phư­ơng tiện và cũng thiếu gì cách để bắt “nó” phải dừng lại đúng lúc. Từ cô lao công già đã tắt kinh cho đến con bé tập sự hợp đồng ở cơ quan đều đã đ­ược tổ nữ công phổ biến các biện pháp tránh thai. Tiêu chuẩn bao cao su hỗ trợ sinh đẻ có kế hoạch hàng tháng cô vẫn nh­ường cho cô bé ấy. Mỗi ng­ười thực hiện một cách và kết quả x­ưa nay chư­a có chuyện gì không như­ ý muốn. Không thể nói cái lỗi này là do nhận thức kém cỏi. Chỉ có thể gọi là cố tình. Cố tình làm cho cơ quan mất điểm thi đua. Tất cả các cơ quan đều thi đua sinh ra nhiều nơi không có đối thủ. Nhiều khi không biết mình đang phải thi đua với ai và ở đâu ? Chủ yếu là thi đua với mình. Mình tự kém mình đi một chút để thấy rằng tháng sau mình sẽ v­ươn lên ? Riêng cô biết rõ mình đang muốn gì ? Không ai hỏi nên cũng chẳng nói ra mà thôi !

Cuộc họp không thành. May mà nó không thành. Cô không phải và cũng không đ­ược nói lên ý kiến của mình. Tr­ưởng phòng hành chính đã kịp thời ngăn nó lại. Các chị sai rồi ! Cô ấy là công chức, có quyền làm những gì mà luật pháp không cấm ! Mình cô vỗ tay. Cảm ơn các anh các chị ! Đây có lẽ là cuộc họp duy nhất ở cơ quan không vỗ tay tập thể. Cô có lẽ cũng là ng­ười duy nhất ở cơ quan biết rõ mình vừa hoan hô cái gì. Mọi khi chỉ vỗ tay khi ng­ười bên cạnh mình vỗ ! Đi làm nhà n­ước mà đư­ợc vỗ tay một mình không phải là chuyện dễ.

Đàn bà sẵn sàng nhận những thiệt thòi về mình như­ng phải rời xa đứa con do chính mình sinh hạ lại không dễ.

Đứa con gái lớn của cô sau một hồi giằng co, nó quyết định về ở với bố. Anh chồng cũ ngọt nhạt, em không đủ điều kiện kinh tế cũng nh­ư hiểu biết trong việc nuôi dạy con cái bằng anh, vả lại, em vẫn có nhiều cơ hội làm mẹ, còn anh…! Cô thấy thư­ơng. Thế là toà phán quyết. Tiến sĩ chuyên ngành giáo dục chả lẽ không biết dạy con ? Như­ng cô vẫn nghi ngờ. Liệu con bé có trở thành dụng cụ thí nghiệm của bố nó như­ bao đứa trẻ khác ? Giáo dục đang trong cơn lốc thí điểm, học thí điểm, thi thí điểm, bằng cấp cũng sinh ra vô số loại thí điểm. Chỉ có việc muốn nâng cao kiến thức phổ thông của trẻ con là không thể thí điểm đ­ược. […] Khó có đứa trẻ nào nằm ngoài cái vòng xoáy kinh hoàng của những ch­ương trình học khổng lồ rối rắm ấy.

Anh chồng cũ mải mê với cải cách giáo dục chắc gì đã nhớ đến con mình. Nh­ưng như­ thế có khi lại là may mắn. Không như­ việc anh mải mê đến quên cả vợ. Chuyện chăn gối đã dừng lại từ hai năm tr­ước ngày chia tay. Anh là một trong số rất ít những ông chồng chung thuỷ không phải vì công việc đòi hỏi sự mực thước. Chẳng qua chỉ là vì yếu sinh lý. Nhiều đêm cô đã thao thức một mình bên cạnh một thân hình thẳng đuỗn, lép kẹp không thuốc nào chữa đ­ược. Mà anh hình như­ cũng không muốn chữa trư­ớc khi chữa khỏi căn bệnh học thêm của nền giáo dục ! Họ quyết định chia tay nhẹ nhàng. Cô về sống ở căn hộ tầng ba bấy lâu nay vẫn cho đám học sinh tỉnh bạn lên trọ học. Anh ta sống cùng con gái trong căn nhà mới xây bên ngoài thành phố.

Mấy năm không ở căn hộ tập thể, hàng xóm đã hoá ra toàn những ng­ười lạ hoắc. Khu tập thể là lí tư­ởng với những ai vừa chân ­ướt chân ráo nhập cư­ vào cái thành phố khổng lồ mà đến chính mình cũng không biết thực sự mình rộng đến đâu. Cứ theo những quy định về địa giới hành chính thì thành phố bao giờ cũng có một diện tích không đổi. Sự thực thì niềm khát khao là dân thành phố của cư­ dân ven nội còn lớn hơn thế nhiều. Thành phố sẽ có diện tích bằng cái diện tích quy định trong văn bản cộng với niềm khát khao ấy. Có ai tính đ­ược diện tích của niềm khát khao chư­a nhỉ ? Ch­ưa tính đư­ợc thì thành phố cũng cứ tự nguyện nở ra nhiều cây số ven những trục đ­ường giao thông lớn, nhiều khi đã nối liền hai thành phố lại làm một.

Cô gặp anh ở một cuộc hội thảo khoa học do cơ quan cô tổ chức. Làm thư­ kí, cô ghi chép tỉ mỉ toàn bộ những phát biểu của mọi ng­ười tham gia hội thảo. Những ý kiến của anh về chuyên môn đ­ược mọi người rất quan tâm. Như­ng là để phản bác. Họ cho rằng nó không xứng tầm với một nghiên cứu cấp nhà nư­ớc. Có chăng sáng kiến của anh chỉ có thể áp dụng ở cấp huyện mà thôi. Anh c­ười bẽn lẽn phô hàm răng trắng bóng. Cô không mấy hiểu về những lập luận huyền bí của các nhà khoa học. Cứ cắm cúi ghi chép cho đủ. Cuối giờ, anh đến bên cô. Xem em ghi chép đ­ược những gì nào ? Anh nói nhanh quá, ghi không kịp hết ý ! Về nhà, anh bổ sung thêm cho ! Về nhà ? Không nhận ra hàng xóm tầng ba ­?

Không phải không nhận ra mà đúng là cô chư­a trông thấy anh lần nào kể từ hôm dọn về đây ở. Sáng, cô ra khỏi nhà từ lúc cả khu tập thể còn yên ắng. Chiều về đóng chặt cửa, nấu ăn, tắm giặt, xem tivi, toàn những việc không cần bư­ớc chân ra đến hành lang. Tác phong ở tập thể lại trỗi dậy nh­ư x­ưa. Tốt nhất không có liên hệ gì với hàng xóm. Không biết họ là ai và cũng không để ai biết mình. Nhòm ngó, xúc xiểm, mất tự do. Anh cũng vắng nhà luôn bởi những chuyến công tác về nông thôn. Vợ con ở quê, với anh, thành phố chỉ là nơi tá túc tạm thời cho công việc. Nh­ưng anh biết cô mới dọn về đây ở. Ông lão trông xe d­ưới tầng một đã nói cho anh và tất cả mọi ng­ười. Một việc ít nhiều làm cô khó chịu. Chẳng phải giấu giếm gì ai như­ng cô ghét những cặp mắt tò mò non già đoán định…

Không ngờ anh chàng làm khoa học trông chất phác thật thà lại có lối nói chuyện rất hấp dẫn. Hay tại bởi cuộc sống nghèo nàn bó hẹp trong cái viện nghiên cứu trời ơi kia đã khiến cô hết sức ngỡ ngàng với những gì anh nói. Những vùng đất anh qua, những công việc anh làm với bà con nông dân, những bức ảnh chụp thành quả lao động của họ và nhất là những nụ c­ười. Đã bao lâu rồi, cô không đư­ợc trông thấy những nụ c­ười như­ vậy ? Dường như­ ở cơ quan nghiên cứu ngư­ời ta không cho phép cả những nụ cư­ời lọt vào. Nụ c­ười duy nhất xuất hiện ở đây vào cuối năm ngoái, ngư­ời ta đã phải đ­ưa cái anh chàng tiến sĩ làm nên nụ cười ấy sang Trâu Quỳ. Trâu Quỳ là “châu lục” thứ sáu dành cho những phát minh khó bề kiểm soát của dân thành phố. Ở ngoài cơ quan có thể tha hồ c­ười, như­ng theo thói quen, cô cũng không c­ười. Anh thì ha hả, cái cơ quan em là một chuyện tiếu lâm cả về con ngư­ời lẫn những gì mà nó nghiên cứu ! Có chuyện gì đáng cư­ời đâu ? Buồn cười nhất là họ quan trọng hoá cả những việc cỏn con để đến nỗi không thể c­ười đ­ược nữa ! Cô bật c­ười, hình như­ anh đúng !

Một cô gái “thôi” chồng sống ngay sát vách một anh chàng độc thân, mối quan hệ đơn thuần là hàng xóm cũng chẳng giữ đ­ược lâu. Hay cũng không ai muốn giữ ? Niềm khát khao có một đứa con cho riêng mình đã khiến cô bỏ ngoài tai tất cả những tị hiềm. Nó sẽ chỉ là của mình. Không ai có thể xen vào đòi chia chác ! Cô hình dung ra tờ giấy khai sinh của nó sẽ bỏ trống phần khai về ngư­ời cha. Cái phần đã làm cô khốn khổ khi phải xa đứa con gái đầu lòng. Đã nhiều đêm cô ngủ lại phòng anh, nghẹt thở trong vòng tay rắn rỏi và thân hình tràn đầy sinh lực của anh. Mong đợi. Và cái điều mà cô thầm mong đợi thì nó đây ! Ban đầu chỉ là những rung động dịu dàng, bây giờ đã có thể nhận thấy những mấp máy ran lên ở phần bụng dư­ới…

Anh bàn với cô, em có muốn anh li dị cô vợ ở quê, đem một thằng con lên đây sống với chúng mình ? Để ít lâu nữa anh lại bàn với một cô gái khác nội dung t­ương tự nh­ư bây giờ­, không bao giờ, em nói thật nhé, em cần một đứa con của riêng mình. Anh sẽ không đ­ược phép có mặt trong cuộc đời của nó !


Nhà hộ sinh chật kín. Ng­ười ta xếp các sản phụ hai ng­ười một giư­ờng trở đầu đuôi nh­ư xếp bí ở những cửa hàng rau quả. Những g­ương mặt nhăn nhó, những đôi mắt thẫn thờ, những b­ước chân rầm rập ngoài hành lang. Tiếng la hét cãi cọ tranh giành nhau ở cái nơi “sáng tạo ra loài ngư­ời” này làm cô phì cư­ời. Ai cũng cho rằng vợ con mình quan trọng hơn “quả bí” bên cạnh. Cô nhận ra anh chồng cũ lấp ló bên ngoài ô cửa kính. Thật lạ ! Anh đến đây làm gì ? Lại còn mỉm c­ười với cô nữa chứ ! Nhẹ nhàng bư­ớc ra hành lang. Cô hỏi. Anh… Cô ấy có lẽ sinh cùng với em ! Anh chỉ tay về phía cô gái trẻ đang nằm thiếp đi trong đám “bí”. Cô thoáng ngạc nhiên. Bọn anh làm thụ tinh nhân tạo ! Ra thế ! Cô chợt nghĩ, mình thật may mắn. Nếu còn sống với anh hẳn là giờ này cô cũng có thể phải nằm đây. Như­ một cái máy đẻ cho một gia đình khát nguời nối dõi. Dù có hoàn thành nhiệm vụ hay không cũng sẽ chẳng ai để ý. Ngư­ời ta có thể mua “máy” mới cho dù biết chắc lỗi ở tại ng­ười sử dụng nó. Và khoa học lại can thiệp. Lần này thì có khách hàng và những yêu cầu hẳn hoi…

Nh­ưng sự thực thì cô cũng đang nằm đây, tràn trề hạnh phúc. Niềm hạnh phúc do chính mình tìm ra, chăm sóc và nuôi dưỡng. Có một chút th­ương hại. Một chút thôi cho những ng­ười đàn bà nằm như­ xếp bí ở xung quanh. Không biết cô có đủ dũng khí để v­ượt qua những gì sắp tới…

Đỗ Phấn

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

KHÔNG THẮNG KHÔNG BẠI

Trần Ngân Tiêu
Hồi mới qua đây, quả thật tôi có biết trời trăng gì nên mướn nhà ở đâu rẻ thì chốp chứ không nghĩ tới việc kén chọn xóm nào tốt xóm nào xấu như bây giờ. Sau khi muớn rồi tôi mới biết chung cư tôi ngụ đều là giới bình dân, lao động thợ thuyền, và ngoại quốc. Giá tuy rẻ nhưng hỗn tạp có đủ hạng người, trẻ có, già có, có trắng, có đen và có cả Sì nữa. Cái tầng trên căn chung cư của tôi có gia đình anh “nhọ nồi” lúc nhúc vài tay chưa qúa tuổi vị thành niên nên rất nghịch ngợm.

Có hai thanh niên Mỹ đen luôn mặc áo da màu đen ngụ tại tầng dưới đất, họ gọi là “basement”, tất cả cửa sổ đều có song sắt và lối vào cũng trang bị cửa song sắt có khóa. Hằng đêm tiếng nhạc rậm rựt tại tầng dưới này từ mười giờ đêm đến ba giờ khuya, khi thì “rock” khi thì “Disco” cứ loạn cả lên vì thời gian đó tuy “Disco” đã cuối mùa nhưng loại nhạc như “Saturday Night Fever” vẫn được chiếu cố tận tình.

Sau năm bữa nửa tháng thì tôi nhận thấy rằng ở tầng dưới có rất nhiều bạn bè cũng mặc áo da màu đen ra vào tụ tập hằng đêm để cùng thưởng thức nhạc với nhau. Dù cố nhịn nhục nhưng đêm nào cũng bập bùng rậm rật đến ba giờ sáng thì còn ngủ nghê mẹ gì được nên sáng dậy đi “lao động” người cứ bã ra. Một khuya tôi đánh bạo xuống tính rung cửa bảo họ vui lòng vặn nhạc nhỏ lại để cho bà con dễ dỗ giấc ngủ nhưng cái cửa sắt bên ngoài đã khóa nên tôi không làm thế nào vào trong được.

Tôi là cựu lính, dù đã thất thế nhưng cái tánh tự ái nóng nẩy vẫn còn sót lại nên tôi không chịu thua mà muốn biến vụ nhạc khuya thành một cuộc “chiến” cần có thắng bại. Tôi hỏi thăm bạn cùng sở, họ chỉ cho rằng đừng gây gổ, cứ gọi cảnh sát đến để họ giúp cho. Tối đó tôi gọi, cảnh sát có đến và bảo hai anh chàng thuộc băng áo da đen phải vặn nhỏ nhạc lại và hai thằng “nhọ” đã tỏ ra rất lễ độ xin lỗi rồi hứa từ nay họ sẽ lưu ý chuyện đó. Cảnh sát lên xe ra về, tôi thở ra nhẹ nhõm và mừng thầm cho sự việc được giải quyết hòa nhã.
Thế nhưng khi xe cảnh sát vừa đi khỏi thì tiếng nhạc “disco” tầng dưới lại bập bùng trở lại và còn lớn hơn trước nữa. Tôi hiểu ngay đây là trò của mấy anh tuy là con cháu ông “nhọ nồi” nhưng lại muốn tỏ ra cái điều ta là dân “Mỹ” nên khinh thường dân sắc tộc khác đây. Tôi thầm nhủ: Mẹ tiên sư chúng bay, ông đã từng đấu trí với VC, chẳng lẽ không đấu được với chúng bay hay sao. Lúc đó tôi đang làm tại sở cắt cỏ, tỉa kiểng và cắt cành cây v.v. nên họ thường có mấy cái gậy sào để khều cành cây đã cũ vứt trong xó đó, tôi liền xin một cái.

Có cây gậy rồi, mỗi đêm khi tiếng nhạc tầng dưới bập bùng tôi liền vác gậy đi xuống chỗ cửa song sắt, hết chọc lại đập rầm rầm vào cửa sắt. Mấy thằng của băng áo nỉ đen cũng thật lì lợm, không đứa nào ló mặt ra cửa nhưng tôi kiên nhẫn đứng đập hằng giờ thi với tiếng nhạc. Mẹ! Tiếng cửa song sắt nó mà rung lên thì nghe cũng đã lỗ nhĩ lắm.

Yến, vợ tôi, thì “già dái non hột”, cứ sợ run lên, can: “Thôi anh ơi, mình là dân cư mới đến đây, gây với họ làm gì, nhỡ chúng dở khùng ra mình biết kêu cứu ai đây?”, nhưng tôi lại thích cái trò này để xem dân của cái xứ “tự do” này có tôn trọng luật pháp hay không. Chẳng lẽ tôi chỉ cần một giấc ngủ bình yên cũng không được thì gọi là “Mỹ” thế đếch nào được.

Tôi ngủ dù trời nóng hay lạnh gì cũng được, lính mà, nhưng vợ con tôi thì chịu lạnh không quen nên rất khó chịu vô cùng, giờ lại thêm nhạc bập bùng thì bố ai mà chịu cho thấu. Vì tiếng nhạc rậm rật nổi lên hằng đêm trong suốt mấy tiếng nên sau đó dù có nhạc hay không, đêm, hay ngày, ngủ hay không ngủ nó vẫn bập bùng trong đầu mình không tẩy xóa được.

Vì cái lò sưởi, thuộc loại cổ điển, đốt bằng dầu nên hơi ấm cũng chỉ khá hơn ngoài trời một chút thôi. Có khi tôi nhát không dám đốt khi đi ngủ, chỉ sợ nó bùng lên một phát thì... thật là uổng công chạy trốn VC. Một tối kia trời lạnh quá, tôi nẩy ra ý định vào bồn tắm vặn nước nóng ngâm cho ấm người trước khi đi ngủ có lẽ dễ chịu hơn. Dù ở đây cả mấy tháng rồi nhưng lần đầu tiên tôi dùng bồn tắm để ngâm người. Tôi bắt chước những cảnh trong xi-nê bằng cách cầm một cuốn sách nằm đọc cho nhàn nhã “sang cả” tới khi nước nguội thì thôi. Có điều lạ là tới khi nước nguội thì bồn nước cũng thấy cạn nên tôi dùng ngón chân cái ngoắc cái cần bật lên bật xuống cho thêm nước nóng đến khi ngập bàn chân mới thôi. Có khi tôi làm vậy đến vài ba lần vì đang mê đọc cho hết cuốn sách. Một tối kia trong khi đang nằm ngâm nước nóng trong bồn thì tiếng nhạc bập bùng chợt im lặng và ít phút sau có tiếng đập cửa thình thình. Yến và mấy đứa con sợ hãi gõ cửa phòng tắm “khẩn trương”:

- Anh ở trong đó lâu thế!

- Có chuyện gì mà nhộn lên như vậy?

- Có cái thằng áo đen ở tầng dưới đến tìm... ông kìa.

Tôi vội khoác áo choàng ra mở cửa. Chưa kịp hỏi gì thì anh chàng áo da đen tầng dưới cho tôi biết là phòng tắm của họ bị ngập đầy nước. Thấy tôi mặc áo choàng, mặt còn lấm tấm nước, anh ta hỏi có phải tôi đang tắm không, khi tôi nói phải thì anh ta hỏi tôi tắm như thế nào. Tôi hơi ngạc nhiên và khó chịu nhưng cũng thành thật nói rằng tôi nằm ngâm trong bồn. Anh ta cho biết rằng hình như mỗi lần tôi tắm như vậy thì phòng họ bên dưới bị ngập nước. Anh ta năn nỉ tôi đừng vặn nước vào bồn nữa, để ngày mai họ kêu “chủ” chung cư cho thợ coi ống nước đã.

Sau này tôi mới biết là khi họ sửa chữa tu bổ phòng tôi để cho thuê thì anh thợ đã quên không nối ống thoát nước ở đáy bồn tắm với ống nước chẩy ra đường nước phế thải nên mỗi khi tôi vặn nước vào bồn thì nước từ từ rỉ xuống phòng dưới.

Mặc dù không phải lỗi tại tôi nhưng tôi cũng làm ra vẻ thành khẩn xin lỗi và nói với mấy chàng trong băng áo da đen rằng: Con cái tôi rất kỵ tiếng ồn quá lớn khiến nó mất ngủ nên vàng võ, xin các anh coi lại chuyện đó giùm. Từ đó gia đình tôi không còn bị phiền nhiễu bởi tiếng nhạc ồn ào nữa và năm ba bữa sau con gái tôi nói: “Nó không còn trong đầu con nữa”.
Bên cạnh chung cư tôi có gia đình anh chàng tên là Ahmad; tôi chỉ biết vậy vì nghe vợ con họ cứ réo Ahmad chứ không biết anh ta thuộc dân giống gì, Sì hay Nam Mỹ, nhưng chắc đã trưởng thành ở xứ này lâu rồi nên nói tiếng Mỹ trơn tru như người bản xứ. Từ khi dọn đến đây tôi và anh ta nếu có chạm mặt thì chỉ nhìn nhau chứ chưa chào hỏi hay trao đổi chuyện trò.

Sau khi cái nạn nhạc “Disco” hằng đêm chấm dứt tự nhiên anh ta chạy đến niềm nở bắt tay tôi rồi cứ nức nở khen: “You do good! You do good! Thank you.” Tôi chả hiểu ý anh ta muốn nói gì nên chỉ ớ mặt nhìn rồi toét miệng cười. Sau phút niềm nở đó anh nhỏ giọng: “You know, We don’t want to touch the gang. They are trouble, you know. But you...”. Tôi chợt hiểu và tự nhiên mặt tôi “cẩng” lên, giơ ngón tay cái chỉ vào mặt tôi cố rặn tiếng Mỹ:

- “You know, câu này ăn cắp lại của nó, I... military man... “.

Cha Ahmad này trợn mắt ngó tôi: “Oh!..”.

Từ đó Ahmad trở thành bạn lối xóm của tôi và hắn hay mời tôi qua nhà hắn uống bia để tôi có dịp múa tay múa chân trau dồi tiếng Anh với hắn. Lâu lâu Yến có làm chả giò lại cho gia đình hắn mấy cái nên vợ con hắn cũng rất thân thiện.

Một bữa tôi qua chơi uống bia với Ahmad, hắn giở cái trò cũ là nhâm nhi đậu phọng rang bằng cách tung hột đậu phọng lên cao rồi ngửa cổ há họng ra cho hạt đậu phọng rơi gần tới mồm rồi táp lấy nhai đến rốp một phát. Hắn làm rất thiện nghệ và lần này khi vừa tung hạt đậu phọng lên thì vợ hắn trong bếp réo: “Ahmad!” Anh ta đang ngửa cổ há họng ra nhưng khi nghe vợ gọi hắn lại nghiêng mặt quay vào bếp trả lời: “W.. h.. a.. t?” thì lúc đó hạt đậu phọng rơi xuống trúng lỗ tai anh ta.

Ahmad vội vàng thò ngón tay vào lỗ tai tính móc hạt đậu phọng ra nhưng ngón tay dùi đục chấm nước mắm đó không những không moi ra được mà còn đẩy hạt đậu vào sâu hơn nữa. Anh ta cuống lên càng moi thì tình trạng càng nguy hiểm, Ahmad hốt hoảng kêu vợ kêu con ơi ới nhưng mọi người cứ rối lên chứ không biết làm sao. Tôi vạch ra coi thử, bảo anh ta đừng thọc ngón tay vào nữa, tôi cố giải thích nhưng không được, và có được thì ở đây làm sao kiếm được cái cây lấy ráy tai như ở Việt Nam mình vẫn dùng.

Ðang lúc bấn loạn như vậy thì con gái lớn của hắn và thằng bồ đi chơi về tới. Thằng này chào tôi tự giới thiệu tên là Joe. Sau khi nghe rõ tự sự, Joe mỉm cười bảo mọi người đừng “worry”, anh ta sẽ “take care of it”. Tôi học được câu tiếng Anh mới “take care of it” với cái nghĩa mà tôi cảm nhận được nhưng, lúc đó, muốn dịch ra tiếng Việt thì tôi không biết dịch như thế nào cho sát nghĩa và gọn y như vậy.

Joe bảo Ahmad ngồi yên rồi nó để một bàn tay lên đỉnh đầu của Ahmad, còn ngón trỏ và ngón cái của tay kia thì bịt chặt hai lỗ mũi của Ahmad lại rồi bảo anh ta xì mũi thật mạnh. Ahmad xì cái thứ nhất chưa có gì xẩy ra, Ahmad lấy hết sức xì thật mạnh cái thứ hai thì hạt đậu phọng trong lỗ tai phọt ra ngoài. Ahmad thở ra thoải mái còn vợ con thì reo vang rồi khen Joe rối rít. Riêng đứa con gái lớn thì mắt sáng lên đứng nhìn cha mẹ tỏ ra hãnh diện về thằng bồ của mình lắm.

Con gái lớn của Ahmad lấy nước rồi dắt thằng bồ ra hiên sau, có lẽ để được tự do tình tự thêm; tôi và hắn lại tiếp tục uống bia nhâm nhi đậu phọng trong khi vợ hắn hớn hở nói với chồng:

- Ahmad, tôi không ngờ thằng Joe lại thông minh như vậy. Nó là người thành công trên đường đời. Không biết con gái mình có ý định chọn nó làm chồng sau này không? Và anh nghĩ thế nào?

Admad táp một hạt đậu phọng nhai đến rốp một phát rồi nói:

- Bà Ðừng có lo. Tôi ngửi cái “mùi ở ngón tay” thằng Joe, tôi biết dù mình chịu hay không nó cũng sẽ là rể nhà mình.

Vợ Ahmad “sì” một tiếng rồi đi nhanh vào bếp, còn tôi khi nghe hắn nói vậy tôi nheo mắt nhìn hắn sắp tỏ vẻ khó hiểu thì tôi chợt... hiểu vì tôi vừa nghĩ tới ngày xưa khi dẫn Yến đi chơi ở vườn Tao Ðàn hay đâu đó tôi vẫn thường... rồi về nhà tôi không rửa tay mà giữ nguyên vậy vắt tay lên mặt nằm ngủ để thưởng thức hương thơm còn lại... Tôi bật cười lăn lộn muốn ộc hết bia ra khỏi bao tử trong khi Ahmad nhìn tôi cười vang với ánh mắt rất xỏ lá như có ý nói: “You did that too? ha!ha! .. ha!”.

Với cuộc sống tuy nghèo mà bình yên như vậy thì cũng là thoải mái rồi, nhưng cuộc sống này thường có những trở ngại thử thách bất ngờ ngoài ý muốn.

Chẳng hiểu sao, mấy thằng nhóc ở lầu trên cùng một vài thiếu niên chúng rủ từ đâu đó, mỗi chiều đi học về thường hay rong chơi ở khúc đường trước chung cư. Nếu chỉ có vậy thì có gì đáng nói, đằng này chúng lại giở chứng dùng gậy đập hai thùng đựng rác của tôi để ở lề đường chờ xe rác lấy. Chúng cứ vừa đập vừa la lối rồi cười một cách khoái trá khiến Yến và lũ con tôi lại một phen lo ngại hồi hộp.

Tôi ra gặp chúng bảo đừng làm vậy sẽ hư thùng rác và tôi sẽ không có tiền mua thùng rác mới v.v. Ðã chẳng thông cảm thì thôi chúng lại cười hô hố rồi nhái tiếng “chinh choong, choong chinh...” loạn cả lên. Có lẽ đám nhóc này tưởng tôi là người Tàu nên có thằng quắp môi dưới vào, vén môi trên lên, nhe hàm răng trên đưa ra trước như mái hiên rồi nghiêng mặt nhìn tôi. Mấy thằng còn lại cười hô hố khiếạn tôi sôi gan muốn quại cho chúng vài phát.
Khi ngồi với Ahmad, tôi có ý muốn hỏi hắn xem hắn sẽ đối xử với tụi nhóc ra sao và vì sao tụi nó chỉ chọc gia đình tôi mà thôi. Ahmad nhìn tôi trầm ngâm rồi nói:

- “You, military man, you can take care of it”.

Tôi chửi thầm: “Tếch cái mả cha anh ấy chứ tếch... Ðéo me, ở Việt Nam thì ông đã cho chúng ăn giầy “bốt đờ sô” rồi chứ chả tếch với tiếc gì”. Một phút sau Ahmad trầm giọng: “Bad kids. We don’t touch them too. Trouble”. Hắn nhỏ giọng cho biết còn một cách nữa là lâu lâu cho tụi nó vài đồng bạc bảo tụi nó ra tiệm chơi “game” thì chúng sẽ quên chuyện này đi. Tôi ngẫm nghĩ: “Có lẽ cũng là một ý kiến hay”.

Sau vài đêm suy nghĩ, khi lũ nhóc đến sách nhiễu thùng rác như thường lệ tôi ra gặp chúng tươi cười bảo:

- Coi bộ mấy em kiếm được một trò chơi rất thú vị, “a lot of fun”. Gia đình tôi cũng thích được nhìn mấy em chơi trò chơi này. Ðây tôi thưởng các em hai đồng, mỗi ngày đến đây “bang” thùng rác, hát” chinh choong” để mọi người cùng “enjoy” rồi mai tôi lại thưởng nữa.

Ngày hôm sau bọn nhóc lại đến chơi trò lộn ruột đó và tôi ra gặp nhưng kỳ này tôi cho chúng có bốn đồng “quarter” tức một “đô” thôi. Tôi tiếc lắm vì hồi đó đi cắt cỏ được có hai đồng hai mươi năm xu một giờ, nhưng tôi cố nhẫn nhục để đổi lấy sự hòa bình. Tôi làm bộ mặt hơi buồn nói:

- Này mấy em. Tuần này trời mưa, tôi bị bớt giờ làm nên chỉ cho mấy em được có bây nhiêu thôi.

Lũ nhóc coi bộ không hồ hởi như mọi khi nhưng có còn hơn không nên chúng cũng vẫn vui vẻ nhận. Bữa sau nữa tôi chỉ cho có hai đồng “quarter” với lý do là trời mưa nhiều, tôi chỉ đi cắt cỏ có hai ngày nên không có nhiều. Chúng thất vọng nhưng cũng miễn cưỡng nhận. Bữa sau đó tôi nại lý do là tuần này nghỉ hết tuần không đi làm và tôi đưa một đồng 25 xu cho thằng nhóc đầu đàn.

Mặt của thằng nhóc “lãnh tụ” của nhóm quấy nhiễu này đỏ lên, nó trợn mắt dí đồng 25 xu vào tay tôi nói:

- Hai mươi lăm xu tử tiệt này mà ông bảo tôi “bang” thùng rác, hát nhái “chai-ni” cho ông coi hả? Tụi tôi đâu phí thời giờ để lấy 25 xu rẻ mạt này. Chẳng thà đi ra phố chơi. Ông đúng là thằng điên chứ tụi tôi không điên. Ðừng hòng. Từ nay chúng tôi không thèm làm nữa.

La rồi chúng bỏ đi và từ đó chúng không đến quấy nhiễu nữa. Thằng Ahmad hỏi tôi: “How you do that?”

Tôi mỉm cười, được thể nói phét: “You known, I was a military man.”

TRẦN NGÂN TIÊU

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Hợp đồng bán… con
Để có 50 triệu đồng, bà mẹ mang đứa con gái chưa tròn 15 tuổi đi bán, lập hợp đồng và ký cam kết hẳn hoi. Chuyện chỉ vỡ lở khi bà mẹ đâm đơn tố cáo “bên mua”, vì vi phạm hợp đồng, đưa thiếu… 20 triệu đồng.

Vào một ngày đầu tháng 7/2007, ông lão tuổi đã vào hàng “thất thập cổ lai hi”, từng là giảng viên tiếng Anh cho vài trường đại học tại TP.HCM, bỗng dưng “cao hứng” muốn tìm một cô gái trẻ, đẹp để làm người giúp việc, hoặc làm vợ.

Ông lão nhờ người chị dâu tìm hộ, mong sớm có người trò chuyện, chăm sóc khi tuổi đã về chiều. Người chị dâu của ông lão tên Hiệp có quen một người tên Hà, ở Kiên Giang. Qua câu chuyện, về người em chồng, tuổi đã về chiều, cần có người vợ trẻ để tâm sự, bà Hà liền chộp lấy cơ hội và giới thiệu đứa cháu gái của mình đang ở An Giang.


Nhiều cô gái đang trở thành nạn nhân của những "hợp đồng hôn nhân" do chính cha mẹ mình sắp đặt. Ảnh minh hoạ từ internet.
Rồi câu chuyện mai mối đến tai bà Lệ, mẹ của Hân. Đang lúc túng quẫn, bà liền đồng ý và đưa Hân lên thành phố. Trước mặt một ông lão đáng tuổi ông mình, cô bé một mực không chịu. Nhưng người mẹ đã ngọt ngào, thuyết phục đứa con bằng những thứ vật chất mà “lão chồng tương lai” có thể lo được cho cả gia đình.

Cám cảnh nghèo khó, lẫn cái ơn nghĩa sinh thành mà cô chưa biết khi nào đền đáp được, nên cô gái đành nhắm mắt gật đầu. Ông lão hứa hẹn cho tiền để bố mẹ Hân trả nợ, xây nhà và tổ chức một đám cưới linh đình cho cô gái.

Đến hẹn, ngày 21/7/2007, Hân cùng mẹ và cô chị dâu của ông lão lên thành phố để tổ chức đám cưới. Nhưng kế hoạch thay đổi, lễ cưới hoành tráng thay bằng một bữa cơm đạm bạc và bản hợp đồng “mua vợ” được soạn thảo kỹ lưỡng được đưa ra ngay tại bữa cơm.

Trên bản hợp đồng, trách nhiệm “bên bán” là phải để Hân sống với ông lão 76 tuổi như vợ chồng đến trọn đời; còn “bên mua”, có trách nhiệm “hỗ trợ” cho gia đình Hân 50 triệu đồng, nếu gia đình Hân vi phạm phải đền lại số tiền như đã thỏa thuận.

Kể từ ngày mẹ Hân và ông lão ký “hợp đồng”, Hân trở thành vợ của ông lão, mẹ Hân nhận trước 30 triệu, mua vài đồ nữ trang, quần áo rồi về quê. Chẳng bao lâu, không chịu được cảnh trái ngang, Hân đã bỏ “nhà chồng” về với mẹ.

Mẹ Hân đi tìm cô bằng được rồi đưa lại về cho nhà chồng. Nhưng đợi hoài, cũng chẳng thấy “chàng rể” trả nốt số tiền còn lại, như đã cam kết trong “hợp đồng bán con”, nên người mẹ đâm đơn kiện lên công an. Vụ việc từ đó mới vỡ lở.

Cô bé Hân chỉ là một trong rất nhiều bi kịch của những cô gái trẻ ở miền Tây. Những người mẹ cứ đổ vấy lên cái sự nghèo, và vin vào đó như một lý do chính đáng để bán con mình. Thậm chí, có người còn tự tay mình đẩy con vào “động quỷ”, biến giọt máu của mình trở thành món hàng bị từ tay gã đàn ông này đến gã đàn ông khác.

Trên hồ sơ vụ án, tấm hình chân dung cô gái 15 tuổi có gương mặt khả ái, lớn hơn tuổi thực có, khai chi tiết việc mình bị mẹ ruột bán ra sao, đã bị quan hệ với “lão chồng” 76 tuổi bao nhiêu lần, làm nhói lòng người đọc

Còn người mẹ, đổ vấy lên cho cái sự nghèo, nên đành phải bán… con, để có tiền… sắm đồ và trả nợ. Người ta nói, “hổ dữ không ăn thịt con”, ấy vậy mà, lòng người lại lành lùng hơn cả hổ dữ.

(Tên nạn nhân và các nhân vật liên quan đã được thay đổi)

Hoài Giang

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


Những Chuyện Nho Nhỏ

Tiểu Tử

Trong đời tôi, tôi đã nghe kể lại hay chính tôi đã mục kích rất nhiều chuyện nho nhỏ, những chuyện tầm thường không có gì “éo le gút mắt” hết, những chuyện mà tôi cho là có nghe qua hay thấy qua rồi bỏ cũng không sao. Vì vậy, tôi coi thường những chuyện nho nhỏ.

Gần đây, một chuyện nho nhỏ xảy đến cho tôi đã làm tôi suy nghĩ. Thì ra chuyện nho nhỏ có khi chứa đựng một bài học lớn mà con người không để ý, vì chỉ quen nhìn những chuyện lớn, những chuyện “đập vào mắt”, xưa nay… Rồi tôi tẳn mẳn ngồi nhớ lại từng chuyện nho nhỏ, để thấy mỗi chuyện là một nét chấm phá của cuộc đời, có chuyện còn mang vài ẩn dụ để con người suy gẫm. Vậy là tôi lần mò viết lại, không cần thứ tự lớp lang, không cần chọn lựa loại chuyện này hay loại chuyện nọ.

Mời các bạn cùng tôi đi lần vào những chuyện nho nhỏ này để cảm nhận thi vị của cuộc sống đang nằm đầy ở trong đó, và nó thật là gần gũi với mình như hơi thở như nhịp tim …
BÀ ĐẦM GIÀ VÀ ANH VIỆT NAM Chuyện xảy ra ở ngoại ô Paris (Pháp)

Hôm đó, trên đường về nhà, tôi gặp một người đàn ông Pháp cỡ bốn mươi tuổi ăn mặc đàng hoàng, kè theo hỏi:

- Xin lỗi ! Ông là người Tàu hay người Việt Nam ?

Tôi dừng lại, ngạc nhiên, trả lời:

- Tôi là người Việt Nam.

Ông ta mừng rỡ:

- Vậy, có phải trưa hôm qua, ông đã đỡ một bà cụ té ở chỗ này không?

Tôi càng ngạc nhiên thêm:

- Không! Tôi không có đỡ ai hết!


Tôi trả lời mà nghĩ đến mấy chuyện ra tay cứu người rồi mang vạ vào thân vì sau đó nạn nhân quay lại thưa người cứu mình đã lấy tiền lấy đồ.. v v …

Có lẽ đoán được ý nghĩ của tôi nên ông ta mỉm cười ôn tồn nói:

- Ông yên tâm! Không có chuyện gì rắc rối hết. Tôi chỉ muốn tìm người Việt Nam đã đỡ mẹ tôi thôi. Bà cụ đó là mẹ của tôi, thưa ông.

- Vậy à! Nhưng mà tôi nói thật: Hôm qua, vào giờ này tôi có đi qua đây, không thấy ai té hết. Mà… bà cụ có sao không ?

- Cám ơn ông, Mẹ tôi không có sao hết.

Rồi, không đợi tôi hỏi, ông kể lại những gì mà mẹ ông đã kể cho ông nghe… Hôm qua, bà cụ đi thăm một bà bạn. Bà đi qua lối này để về nhà. Đây là ngõ đi tắt duy nhứt dẫn qua khu nhà bà ở. Khi đến khoảng đất trống có bốn trụ đèn đường, bà trợt chân té. Lúc đó, cũng có mấy người hấp tấp qua lại, họ quay đầu nhìn nhưng rồi bỏ đi luôn. Một người đàn ông Á Đông, đã đi qua rồi, thấy vậy chạy trở lại đỡ bà đứng lên, lượm cái xắc da mang chéo vào người bà, ân cần hỏi bà có sao không ? Bà bước thử vài bước, nói không sao, rồi kể rằng già rồi, đi thì được, chỉ có ngồi xuống đứng lên mới là khó. Ông ta tỏ vẻ ái ngại, bước lại cập tay bà nói để dìu bà về. Hai người đi như vậy một lúc, bỗng bà hỏi ông người Tàu hả, ông trả lời rằng mình là người Việt Nam. Mắt bà sáng lên, bà nói bà có bà bạn năm nào cũng đi du lịch Việt Nam vào dịp đầu năm, bả nói xứ ông đẹp lắm rẻ lắm, dân chúng hiếu khách dễ thương …

Đến một đoạn đường ngắn, bà cụ bỏ tay ông Việt Nam, bước một mình vừa đi vừa nói tôi đi được ông khỏi lo, tôi ở đường Colette gần đây, còn ông, ông ở đâu? Ông đó nói tôi ở khu xa hơn, phía bên kia trường học, ngày nào cũng đi và về bằng ngã này. Bà cụ đi một đỗi nhìn lại thấy ông Việt Nam còn đứng nhìn theo coi bà cụ có thật sự đi một mình được không! Tối đó, bà kể chuyện cho người con nghe, rồi sực nhớ ra, bà nói: “Chúa ơi! Tao quên nói cám ơn ông ta!”. Vậy là bà cụ bắt người con hôm sau ra lối đi tắt chận hỏi từng người Á Đông để tìm ngưởi Việt Nam đã đỡ bà chỗ “khoảng trống có bốn trụ đèn”, tìm để chỉ nói lời cám ơn mà bà đã quên nói hôm qua!

Kể xong, ông nắm tay tôi siết nhẹ. Rồi ông nhìn tôi, mắt đầy thiện cảm, nói: “Cám ơn!”. Tôi bước đi, lòng lâng lâng hãnh diện, mặc dầu tôi biết rằng lời cám ơn đó không phải cho tôi mà là cho chung hai chữ “Việt Nam” …
CHUYỆN TRƯỚC CỔNG CHÙA BÀ

Năm 2006, vợ tôi về Việt Nam lo ma chay cho má tôi. Sau đó, bả được mấy đứa cháu chở đi Châu Đốc viếng Chùa Bà.

Cúng vái xong, ra đến cổng chùa thì có một đám bé gái độ mười hai mười ba tuổi bu lại chen lấn nhau xin tiền. Một đứa đứng gần vợ tôi, có vẻ lanh lợi nhứt, xè tay nói một hơi có ca có kệ: “Ngoại ơi ngoại! Ngoại cho con 5000 đồng, con cầu nguyện Bà cho con gái ngoại lấy được chồng Đài Loan! Ngoại ơi ngoại! Ngoại cho con 5000 đồng, con ... ”

Trên đường về, vợ tôi miên man suy nghĩ về mấy đứa nhỏ đó: Không có tiền để đi học, còn quá nhỏ để có một cái nghề, và chắc nhiều đứa - rất nhiều đứa - chỉ ước ao lấy được chồng Đài Loan khi mình lớn lên một chút! Rồi vợ tôi thở dài...

Nghe kể mà tôi thấy thương quê hương tôi vô cùng. Trước đây, dù có nghèo đi mấy cũng chưa bao giờ tệ đến như vậy! Viết lại chuyện này mà tôi nghe rát từ đáy lòng rát lên khóe mắt ...
ĐẠP XÍCH LÔ Trung đã cao lớn lại ham chơi thể thao và tập thể dục đều đặn nên anh ta rất “đô” con. Đi với tụi bạn đồng nghiệp người Pháp hay người da đen, Trung là người Việt Nam mà vóc dạc ngang ngửa với tụi nó. Có đứa nói giỡn: “Thằng này, nó ăn phở không mà nó lớn con như vậy. Nếu nó ăn bánh mì “xúc xích - phô mai” như mình chắc nó thành ông khổng lồ quá!”.

Cách đây hai năm, Trung về thăm Việt Nam. Đó là lần đầu tiên anh về. Tôi không có dịp gặp anh để hỏi thăm. Mãi đến gần đây tình cờ gặp nhau ở khu 13 Paris, anh mới kể cho tôi nghe chuyến về Việt Nam của anh lần đó. Tôi xin ghi lại chuyện nhỏ sau đây ...

... Con qua Pháp với ba mẹ hồi con mới năm tuổi, bây giờ về, thấy cái gì cũng lạ! Cho nên con dành mấy ngày đầu để đi vòng vòng cho biết Sài Gòn. Con nhờ anh tiếp viên của khách sạn kêu cho con một anh xích lô bao chạy một ngày. Vậy là sáng hôm sau, đúng theo lời con dặn, anh tiếp viên gọi con dậy bằng điện thoại cho hay xích lô đang đợi, đồng thời cho biết luôn số tiền thuê bao. Con đếm số tiền rồi để riêng vào một túi quần, con muốn tránh móc bóp đếm tiền trước mặt mọi người sợ bọn lưu manh nó giựt. Con xuống tới quầy thì anh tiếp viên vui vẻ chỉ ra phía trước. Con cám ơn rồi bước ra ngoài. Thấy con, ông xích lô đang ngồi chồm hổm trên vỉa hè vội vã đứng lên chấp tay chào. Tự nhiên, con khựng lại, mặc dù ông ta đang đón con bằng một nụ cười rạng rỡ. Bác biết không? Ổng già khú, ốm nhom, nhỏ xíu. Cái nón vải đen ổng đội, đã rách bươm. Còn bộ đồ trên người ổng, con không biết tả làm sao cho bác thấy. Nó là cái áo bà ba xanh dương vá chầm vá đụp và không còn hai ống tay! Còn cái quần ka-ki là loại quần dài đã bị xé mất hai khúc ống cỡ ngang đầu gối, một bên cao một bên thấp. Đó! Ông xích lô của con đó! Bác coi: Con như vầy thì nỡ lòng nào lên ngồi cho ông già ốm nhom đó đạp xe đưa con đi. Mà liệu ổng có đạp nổi một ngày cho con xem chỗ này chỗ nọ không? Con định hồi không đi nhưng nghĩ lại tội nghiệp ông già. Cái cười tươi rói của ổng cho thấy là ổng đang “trúng mối lớn”. Con bước lại bắt tay ổng, móc túi đưa tiền, nói: “Đây, tiền công của bác trọn ngày nay đây!”. Ổng mừng rỡ, móc trong lưng ra một túi vải miệng có dây rút, run run tay mở ra cho tiền vào. Con hỏi: “Bác không đếm sao?”. Ổng cười, nhìn con: “Khỏi! Hổng lẽ cậu như vầy mà đi ăn gian tui sao?”. Rồi ổng xăng xốm chạy lại kềm phía sau xe, mời: “Cậu lên ngồi, đi!”. Con lắc đầu: “Không! Bác lên ngồi đi, để tôi đạp!”. Nụ cười của ổng tắt mất: “Ủa! Gì kỳ vậy?”. Con giải thích: “Tôi như vầy mà để cho bác đạp, coi sao được!”. Ổng vỗ vỗ lên yên xe: “Tôi đạp được! Bảo đảm! Cậu đừng lo! Cậu lên ngồi đi!”. Con nghĩ chắc ổng sợ con chê ổng rồi không đi, lấy tiền lại, nên con ôn tồn nói: “Bác yên tâm. Bác cứ giữ số tiền tôi đưa, rồi lên xe ngồi. Tôi đạp từ từ”. Ổng bắt đầu nhìn con nửa ngạc nhiên nửa hốt hoảng. Để khỏi cù cưa, con bước lại đưa hai tay cặp eo ếch của ổng nhấc bổng lên đặt vào chỗ ngồi của khách. Ổng nhẹ đến nỗi cái xe không nhúc nhích! Rồi con trèo lên đạp đi. Ông già cứ nhìn ngược về phía sau, lo lắng: “Cậu liệu được không cậu?”. Con vui vẻ trả lời cho ông yên tâm: “Được mà... Dễ ợt hà!”. Con men theo lề đường đạp chầm chậm để tránh luồng xe chạy ồ ạt trên lòng đường. Thiên hạ nhìn con chở ông già, cười nói chỉ trỏ. Ông già ngồi không yên, lâu lâu ngoáy nhìn lại coi con ra sao! Có lẽ vững bụng nên không nghe ổng nói gì hết. Một lúc sau bỗng ổng la lớn: “Quẹo mặt! Quẹo mặt! Khúc này cấm xe xích lô!”. Từ đó, ổng chỉ cho con chạy: “Từ từ... Đằng trước có xe đậu. Khi nào kềm bằng chân không nổi thì kéo thắng ở dưới đít... .” Có lúc thấy con xiên xiên định quẹo vô một con đường nằm ngang, ổng la lên: “Đừng! Đừng! Đường cấm xe xích lô!”... Và như vậy, con đạp đi loanh quanh, nhìn ngang nhìn ngửa, yên chí có ông già coi chừng đường nhắc trước con phải làm gì... làm gì... Gần trưa, con tấp vô một quán phở, nói: “Mình vô ăn cái gì đi”. Ổng nói: “Cậu vô ăn đi, tôi không đói”. Con kéo tay ổng để cùng đi vào tiệm, ổng rị lại: “Thôi mà cậu! Tôi lạy cậu mà cậu! Cậu để tôi ngồi ngoài này giữ xe!”. Rồi ổng gỡ tay con ra, bước lại vệ đường ngồi chồm hổm bên cạnh xe xích lô, vấn thuốc hút. Trong quán, con nhìn ông già mờ trong khói thuốc sao bỗng nghe bất nhẫn vô cùng. Không còn lòng dạ đâu để ăn phở, con kêu tách cà phê uống đại rồi đi ra. Thấy con, ổng quăng điếu thuốc, đứng lên vẻ ngạc nhiên: “Ăn gì mau vậy cậu?”. Con nói trớ: “Thấy không ngon nên không ăn”. Rồi con nói tiếp: “Bây giờ, tôi trả xe lại cho bác đó! Bác cứ giữ nguyên số tiền tôi đưa hồi sáng, đừng thắc mắc. Tôi đi bộ chơi lanh quanh được rồi”. Nói xong con bước đi, lâu lâu ngừng coi cửa hàng này cửa hàng nọ. Thấy ông già cứ đạp xe rề rề đi theo, con bèn gọi một xe Honda ôm đang đợi khách ở ngã tư đường, trèo lên “ôm” đi thẳng!

Kể xong, Trung hỏi: “Nhà nước đang có lịnh cấm sử dụng xe xích lô xe ba gác, không biết bây giờ ông già đạp xích lô sẽ sống làm sao, hả bác?”. Tôi nói: “Ờ...”. Rồi nín luôn. Một cách trả lời để không trả lời!
NÓI: HẾT RỒI!
Một ông bạn ở Paris cho tôi uống một thứ trà Tàu đặc biệt ổng đem từ bên Mỹ về. Ổng cầm cái hộp vuông màu xanh ve chai đưa lên khoe: “Trà này bên nây chưa có. Nó tên là Trà Vương. Hộp 150 gr này tôi mua bên Mỹ giá là 15 đô đó!”.

Trà ngon thiệt! Vị ngọt phớt chớ không đắng hay chát như loại trà Tàu khác và nhứt là mùi thơm rất “vương giả” chớ không phải mùi lài hay sói hay sen như thường thấy. Uống cạn chén trà, hương trà còn đọng lại trong đáy chén phất lên mũi gợi thèm mùi vị đặc biệt này! Ông bạn tôi nói Trà Vương có nhiều số, nhưng số 103 là ngon nhứt!.

Tôi đã đi lùng sục ở Paris nhưng không thấy bán loại Trà Vương này. Một hôm, đi với vợ tôi ở khu 13 chợ Tàu, tôi chợt thấy một bà Á đông cầm một hộp vuông màu ve chai vừa quơ quơ ra dấu vừa nói chuyện với hai bà khác cùng ngồi trên băng gỗ vỉa hè. Tôi bước lại nhìn: Thì ra đúng là hộp Trà Vương! Mừng quá! Nghe mấy bà đó nói tiếng Việt Nam nên tôi hỏi ngay: “Phải Trà Vương không bà?”. Bả quay qua tôi, trả lời cụt ngủn: “Ờ! Mà hết rồi!”. Rồi quay về tiếp tục nói chuyện với hai bà kia. Tôi chen vào: “Xin lỗi! Bà mua ở đâu vậy?”. Lần này, không quay lại nhìn tôi nhưng bả vẫn trả lời: “Mà tôi nói hết rồi!”. Tôi không dám cười, sợ bả bị chạm tự ái. Tôi vẫn ôn tồn hỏi: “Dạ! Nhưng xin bà làm ơn cho tôi biết bà mua ở đâu vậy?”. Bả nhìn tôi, chắc coi tôi có... khùng không mà cứ lải nhải hỏi hoài. Rồi bả cầm cái hộp lia lia về hướng phía dưới con đường một chiều: “Dưới kia kìa”. Tiếp theo là bả gằn từng tiếng: “Tôi-nói-hết-rồi!”. Tôi cám ơn rồi kéo vợ tôi đi “mò” dài dài xuống “dưới kia kìa”, tiệm nào cũng vô kiếm Trà Vương! Khi đi gần ... rã chân thì vào một siêu thị lớn. Họ nói: “Có!. Nhưng mà hết rồi!”. Hỏi chừng nào có nữa, họ trả lời không biết! Thì ra bà già hồi nãy nói đúng. Bả đã tốt bụng “nói cho thằng chả biết là hết rồi để thằng chả khỏi phải lội xuống tuốt dưới kia xa thấy mồ chớ bộ”!

Các bạn có thấy chuyện nhỏ này dễ thương không? Bà già đó, cho dầu có lưu vong ở chân trời góc biển nào đi nữa, bà vẫn giữ nguyên phong cách Việt Nam. Trân quý lắm, các bạn à !
CHUYỆN Ở QUÊ TÔI Má tôi mất vào ngày đưa Ông Táo. Thằng con lớn của tôi đi với má nó về Việt Nam lo ma chay. Ông thầy làm đám (phái Cổ Sơn Môn thường gọi là thầy cúng) là ông thầy Non. Cái tên này do má tôi đặt ra để tránh gọi “Thầy Con” vì ổng là con ông thầy Cả, ông này là bà con kêu má tôi bằng cô và là bạn học của tôi từ thời tiểu học ở trong làng. Kể như vậy để thấy thầy Non đối với gia đình tôi không phải là ngưởi xa lạ.

Sau đám ma, thầy Non lấy Honda chở con tôi đi đầu trên xóm dưới thăm bà con và cũng để xem vùng quê ăn Tết. Đang chạy trên đường xóm Nhà Máy, thấy một ông lái mô tô đi cùng chiều chở phía sau một chậu mai. Thầy Non nói với con tôi: “Coi kìa! Cây Mai đẹp quá kìa!”. Rồi thầy chạy kè theo để con tôi thấy rõ hơn. Ông chở mai quay qua nhìn, con tôi nói lớn cho ổng nghe: “Cây Mai đẹp quá!”. Ông đó nói: “Ờ! Mà không có bán!”. Vì tiếng máy mô tô ồn quá nên con tôi phải nói lớn hơn cho ổng nghe: “Không! Tôi chỉ muốn nói là cây Mai của ông đẹp quá hà!”. Ổng có vẻ bực mình: “Ờ! Người ta nói không có bán là không có bán!”. Rồi ổng vọt ga chạy thẳng, làm thầy Non phải ngừng xe lại để cả hai cùng ôm bụng cười! Sau đó, lại tiếp tục đi. Một lúc, thấy một ông chạy Honda chở thằng nhỏ ngồi phía sau đâu lưng với ổng, ôm trong lòng một quày dừa tươi. Con tôi, nhớ lại vụ cây Mai, muốn phá chơi nên hỏi chọc: “Dừa có bán không vậy?”. Thằng nhỏ thúc cùi chỏ vào lưng người lái xe: “Ba! Ba! Thằng chả hỏi có bán dừa không kìa!”. Người đàn ông làm thinh nhưng có vẻ suy nghĩ. Bỗng, ông ta la lên “Ừa! Bán!” rồi tấp xe vào lề ngừng lại. Thầy Non nói: “Ở chùa thiếu gì dừa! Mua chi vậy?”. Hỏi chơi mà đâu có dè ổng bán nên con tôi đành mua một trái. Ông đó nói: “Dừa tôi mua cho vợ tôi kho thịt ăn Tết. Thấy cậu hỏi mua, tôi nhường một trái cho cậu uống chơi!”. Con tôi nói cám ơn mà không dám cười!...

Sau hơn ba mươi năm “đổi đời”, cái thật thà chân chất của quê tôi, may quá, vẫn còn nguyên như cũ !
BÁN VÉ SỐ Trên chiếc bắc Mỹ Thuận. Chiếc bắc chở đầy nhóc xe và người, ùng ục qua sông. Mấy người bán dạo rao hàng inh ỏi. Vợ chồng tôi đứng ở khoảng trống phía đầu chiếc bắc, nhìn sông nước minh mông với những về lục bình xanh biếc nhấp nhô trên sóng nước. Mùa này, lục bình bắt đầu nở bông nên thấy có màu tim tím e ấp lấp ló giữa những bựng lá to láng mướt. Đẹp quá! Sau hăm mấy năm xa xứ, bây giờ có dịp về thăm, chúng tôi thấy cái gì cũng đẹp! Nước sông đục ngầu phù sa... cũng đẹp! Chiếc ghe bầu phình bụng chở lúa khẳm lừ tưởng chừng như sắp chìm... cũng đẹp! Chiếc đò ngang hay đò dọc gì đó dài thòn có cái mui bằng phẳng thấp lè tè, hai bên hông trống trơn không có gì che chắn, lướt sóng chạy bắn nước như giành sông với những ghe thuyền khác... cũng đẹp!

Bỗng, một bé gái cỡ 10 tuổi đến gần vợ tôi, tay chìa một tấm vé số, năn nỉ bằng một giọng trong trẻo nhưng nói khá to để át tiếng những người bán dạo chung quanh: “Ngoại ơi ngoại! Con còn có một vé số này thôi, ngoại mua dùm con để con còn về phụ má con lo việc nhà”. Con bé mặt mũi sáng sủa dễ thương. Vợ tôi lấy tiền mua vé số rồi vuốt đầu nó, hỏi: “Nhà con ở đâu lận?”. Chắc bả thấy tội cho con nhỏ, mới có bây lớn tuổi đầu mà bán xong còn phải lội bộ về nhà giúp mẹ! Nó nhìn vợ tôi, mỉm cười rồi mới trả lời: “Dạ! Ở xóm rạch Ngo gần đây hà!”. Cái cười của nó có duyên vô cùng. Trước khi đi, nó còn biết nói: “Cám ơn nghe ngoại!”. Tôi nhìn theo mà thấy mến cái dáng nho nhỏ thon thon của nó trong bộ đồ bà ba vải trắng đã ngả màu bùn non lờn lợt ...

Một lúc sau, tôi nghe ở hành lang phía bên kia vang lên tiếng lảnh lót của con bé: “Ngoại ơi ngoại! Con còn có một vé số này thôi, ngoại mua dùm con để con còn về phụ má con lo việc nhà”. Tôi nhón gót nhìn sang: Đúng là nó! Vợ tôi hỏi: “Nó hả ?”. Tôi gật đầu mà không nén được tiếng thở dài ...

Tôi nhìn ra sông nước với vài chiếc ghe thuyền đi lại, nghĩ mà thương cho thân phận người dân bây giờ... Tôi buột miệng nói: “Bây giớ... sao thấy nhiều lục bình quá hổng biết ” ...

Chiếc bắc vẫn ùng ục nhả khói qua sông... ráng nhả khói mà qua sông...

TIỂU TỬ

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Hiện tượng

Nguyễn Đạt Thịnh
Linh mục Nguyễn Hữu Lễ dùng hai chữ “hiện tượng” trên tựa bài báo mới nhất của ông; cái tựa đó là “Hiện tượng Phạm Minh Mẫn”; từ điển Nguyễn Văn Khôn dịch hiện tượng là “phenomenon, người hay vật phi thường, hiếm có, dị thường, kỳ dị”.

Chữ “phê nô men” cũng được Việt hoá, và thường dùng trong ngôn từ phê b́nh mang ư chê bai.

Linh mục Lễ viết, “Càng gần tới ngày khai mạc đại hội Giới Trẻ Thế Giới th́ ‘hiện tượng Hồng Y Phạm Minh Mẫn’ càng trở nên nóng bỏng hơn. Có người đă dùng ngôn từ không ra ǵ với lời lẽ nặng nề để phản đối Hồng Y Phạm Minh Mẫn. Là một linh mục Việt Nam, tôi rất đau buồn và cảm thấy nhục nhă khi phải đọc những lời lẽ nặng nề mà một số người đă dùng với một chức sắc cao cấp của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam như thế.

“Vậy Hồng Y Phạm Minh Mẫn đă viết những ǵ trong lá thư để rồi sóng gió và giông băo nổi lên như thế?

“Trọng tâm của lá thư gồm 6 đoạn và dài hơn một trang giấy, Hồng Y Phạm Minh Mẫn đă công khai bày tỏ thái độ chống báng lá cờ vàng ba sọc đỏ, không muốn h́nh ảnh lá cờ vàng hiện diện trong ĐHGTTG tại Sydney và gọi đó là "sự cố làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ VN" (đoạn 2).

"Trong đoạn 3, Hồng Y Phạm Minh Mẫn giải thích khá dài ḍng về ư nghĩa lá cờ và nhắc lại bài học quí giá mà ngài đă học được từ một vị giám mục quá cố về "Người mẹ VN lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ)..." Lá thư đó, đă được nhiều cơ quan ngôn luận và các diễn đàn điện tử cho in lại cùng với những lời b́nh luận chung quanh ư nghĩa và giá trị tinh thần của lá cờ vàng ba sọc đỏ trong tâm trí của đồng bào tị nạn Cộng sản ở Hải Ngoại và để phản đối quan điểm của Hồng Y Phạm Minh Mẫn trong nhận định về lá cờ này.

“Lá thư đó đă gây ra nhiều sự chống đối mạnh mẽ từ nhiều phía, từ những người Công giáo và các tín hữu thuộc các tôn giáo bạn, đáng kể nhất là Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu đă lên tiếng quan ngại về nội dung lá thư một cách chính thức. Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu c̣n ra một Tuyên Bố Chung kêu gọi đồng hương bày tỏ lập trường quyết tâm bảo vệ lá cờ vàng ba sọc đỏ trong dịp ĐHGTTG tại Sydney. Khi tôi đang viết những ḍng này cũng nhận được một bản Tuyên Cáo của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tiểu bang Washington phản đối lời tuyên bố của Hồng Y Phạm Minh Mẫn và kêu gọi đồng hương mang cờ vàng ba sọc đỏ "dàn chào" Hồng Y Phạm Minh Mẫn trong thánh lễ dự trù được diễn ra vào chiều ngày 9 tháng 7 tại nhà thờ Thánh Tử Đạo Việt Nam ở Seatle.

“Đứng trước làn sóng chống đối càng lúc càng dâng cao, đặc biệt là thái độ phản kháng một cách quyết liệt tại những nơi mà trong chương tŕnh Hồng Y Phạm Minh Mẫn sẽ tới với danh nghĩa làm công tác Mục Vụ, tôi nghĩ là Hồng Y Phạm Minh Mẫn nên xem xét lại việc xuất hiện trong ĐHGTTG ở Sydney. Trong quá khứ đồng bào Việt Nam tị nạn Cộng sản tại Úc Châu đă nhiều lần chứng tỏ sự đoàn kết quyết tâm bảo vệ lá cờ vàng ba sọc đỏ và không bao giờ khoan nhượng trong việc thẳng tay tẩy trừ những kẻ nào có manh tâm muốn gieo rắc ảnh hưởng của chế độ Cộng sản Việt Nam tại đất nước này.

“Vai tṛ Mục Vụ của Hồng Y Phạm Minh Mẫn trong những chuyến thăm viếng theo đúng nghĩa là đem an b́nh và hợp nhất đến cho đàn chiên. Nhưng trong lần tham dự ĐHGTTG sắp tới tại Sydney, đă có nhiều dấu hiệu cho thấy Hồng Y Phạm Minh Mẫn chẳng những không mang lại được cho đàn chiên Công Giáo tại Úc Châu sự hợp nhất và b́nh an, mà c̣n có thể gây ra sự phẫn nộ, chia rẽ và rối loạn trong Cộng đồng người Việt tị nạn tại quốc gia này. Như vậy, Hồng Y Phạm Minh Mẫn đến Sydney trong dịp đó để làm ǵ? Nếu v́ một lư do nào khác mà Hồng Y Phạm Minh Mẫn vẫn phải xuất hiện tại ĐHGTTG ở Sydney th́ chắc chắn ngài sẽ thất vọng v́ "sự cố" mà ngài đă viết trong thơ là "làm tắc nghẽn sự hiệp thông của các bạn trẻ VN" ở ba lần ĐHGTTG trước tại Pháp, Đức và Canada, lần này chắc chắn sẽ được đồng bào tị nạn ở Úc Châu bày tỏ cách dữ dội hơn. Không lẽ khi thấy cờ vàng ba sọc đỏ xuất hiện trong ĐHGTTG, lúc đó Hồng Y Phạm Minh Mẫn sẽ rời ghế đứng dậy ra về?

“Tôn vinh lá cờ vàng ba sọc đỏ cho dù bị Hồng Y Phạm Minh Mẫn cho là:"Có lúc chỉ biểu trưng một thói đời mang tính đối kháng", điều này cũng không có ǵ khó hiểu. Là một linh mục Việt Nam tị nạn Cộng sản, tôi xin nói rằng đồng bào tị nạn Cộng sản ở Hải Ngoại và ngay cả đại đa số những đồng bào đang phải sống ở trong nước v́ hiểm họa Cộng Sản sau biến cố đau thương 30/4/1975, trong tâm tư mỗi người luôn ấp ủ h́nh ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ. Đó là linh hồn của Dân Tộc Việt.

“Lá cờ vàng ba sọc đỏ là h́nh ảnh mạnh mẽ nhất mà những đồng bào tị nạn đă may mắn trốn chạy thoát khỏi chế độ độc tài Cộng sản dùng để bày tỏ sự đối kháng chế độ phản dân hại nước và những kẻ làm tay sai cho chúng.”

Một ông bạn ở San Jose viết điện thư cho tôi nói, “hôm nay tôi mặc sơ mi vàng, thắt cà vạt vàng dắt bà vợ mặc áo dài mầu vàng đến nhà thờ với dụng tâm dàn chào bằng mầu sắc hồng y Phạm Minh Mẫn, nhưng hồng y không đến.

“Bà vợ tôi bảo ‘cảm ơn Hồng Y đă không truy lùng người Việt Nam đến tận chỗ họ tị nạn’; tôi, th́ tôi xin Hồng Y đừng đem chiến tranh quốc cộng vào giáo đường.”

Người viết bài này xin Hồng Y giúp người Việt hải ngoại quên đi lá thư Ngài viết; dù không đồng ư với Ngài về “bà mẹ mặc áo đỏ”, nhưng trong thâm tâm không bao giờ tôi muốn coi Ngài như một “phê nô men”.

Nguyễn Đạt Thịnh

Post Reply