Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Nắng mùa đông Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi lại mùa Xuân là sự lặp đi lặp lại của bốn mùa của tạo hóa. Nhưng từng giờ, từng ngày, từng mùa trong cuộc đời của con người lại do chính mỗi người quyết định.
Một bộ phim hay là người làm phim chủ ý chừa khoảng trống cho những người thưởng thức đồng sáng tác, đồng cộng hưởng với tác giả để nâng sự cảm thụ tác phẩm lên một tầm cao hơn.

Vì vậy, sẽ không lấy gì làm ngạc nhiên khi bộ phim: “Xuân, Hạ, Thu, Đông… Rồi lại Xuân” lại có sự cảm nhận rất khác nhau từ nhiều phía.
Mùa xuân: đường thẳng tắp của điện tâm đồ Image
Xuân...



Màn ảnh hiện dần lên mặt nước trong veo, rồi thể hiện trọn vẹn cảnh một cái hồ, cái hồ có mặt nước phẳng lặng, không dậy sóng. Chính giữa cái hồ có một cái am thờ Phật, từ cái am ấy tỏa lên một làn sương khói cho người ta nhận biết có sự sống ở đây.

Trong cái am có hai con người: một trung niên, một cậu bé; một vị sư ánh mắt còn hốt hoảng, một chú tiểu hồn nhiên phạm giới sát sinh. Và… một con gà. Tiếc thay con gà đó là một con gà trống! Nếu chung quanh bờ hồ không có cây cỏ xanh tươi, hoa lá bỡn cợt khi được làn gió xuân mơn man, ve vuốt thì với những khuôn hình như trên, người xem không thể cảm nhận được mùa xuân.

Một cái hồ mạch nước không thông thương. Một cái am trơ trọi không hàng xóm. Hai con người phái nam và một con gà trống. Sự trầm mặc của cảnh, vật và người nó thẳng tắp như đường biểu diễn của điện tâm đồ.

Theo quy luật sinh tồn: con gà trống không thể sống lâu, vị sư tất yếu phải viên tịch, chú tiểu rồi sẽ già và cũng viên tịch theo, cái am không còn ai hương khói, còn chăng là cái hồ vì đó là vật do trời đất tạo nên. Mùa xuân ấy sao mà ngắn ngủi vì không có dấu hiệu của mùa hạ tiếp theo...

Dù từng khuôn hình rất được chăm chút đẹp như bức tranh tĩnh vật, trong đó hương khói là một sự lay động duy nhất nhưng chính sự lay động đó lại gợi cho người xem một cảm giác mong manh, dễ vỡ.
Mùa hạ: khúc khuỷu, gập ghềnh thể hiện sự sống Image
Hạ...
Mặt nước đã được nhuộm vàng bởi nắng. Cũng mặt nước phẳng lặng ấy nhưng nắng đã làm cho nước trong hồ lung linh, lay động. Cây cỏ, hoa lá quanh bờ hồ xanh mướt, hừng hực, bức bối. Cái am, hai con người và con gà trống dưới ánh nắng mùa hạ cũng lấp lánh theo làm người xem như nghe được tiếng khúc khích cười.

Vị sư trung niên ở mùa xuân khi bước qua mùa hạ đã luống tuổi, ánh mắt của ông vời vợi phản ánh cái tâm đã lắng. Chú tiểu qua mùa hạ đã là một thanh niên, sức sống toát ra từ thân, háo hức toát ra từ mắt. Đúng lúc này, cô gái đến. Cô khuấy động sự tĩnh lặng của vạn vật. Cô làm cho cuộc sống của hai con người và con gà nơi đây khúc khuỷu, gập ghềnh. Bởi đi theo cô là tiếng cười, tiếng khóc, tình yêu và lòng thù hận.

Mùa hạ của tạo hóa tỏa ánh nắng từ trên xuống bao trùm cảnh vật. Mùa hạ của con người lại đi qua một cái cửa ở ven hồ. Cái cửa không có khóa, nó cứ bật qua bật lại khi có người đi qua. Cái cửa được dựng lên chơ vơ giữa núi rừng. Cái cửa không có vách vì thế cứ thông thống, lồng lộng, phóng khoáng.

Từ cánh cửa không vách, cô gái bước qua đem đến tai ương. Cũng từ cánh cửa này chàng sư trẻ ôm con gà trống trốn theo cô lòng trĩu đầy hệ lụy. Phải chăng cánh cửa không vách ấy là cánh cửa lòng, nó đóng kín hay mở toang là do chính từng người quyết định. Và, hạnh phúc hay bất hạnh cũng từ cánh cửa này mà đến, mà đi.
Mùa thu: Tâm hồn lắng đọng lại vương sầu Image

Thu...


Mặt nước đằm thắm trong nắng thu. Mùa hạ chói chang không còn nữa. Chung quanh hồ lá hoa, cảnh vật đỏ ối, chín đẫm một màu. Mùa thu là một mùa đẹp nhất trong bốn mùa của tạo hóa, không rực rỡ như mùa xuân, chói chang như mùa hạ, lạnh lẽo như mùa đông. Con gà trống và vị sư trẻ đã ra đi, trên mặt hồ chỉ còn lại cái am, vị sư già và một con vật mới, con mèo; có lẽ cũng lại là con mèo đực!

Ánh mắt của vị sư già giờ đây đã bất muội, thế nhưng, người xem lại thấy hình như nó hoe đỏ và ngân ngấn nước vào mỗi buổi chiều tà. Chắc là ánh mắt đó đỏ vì nắng thu phản chiếu, chứ lẽ nào một tâm hồn đã lắng đọng lại vương sầu?

Cuộc đời trong con người ta cũng có mùa thu. Lúc này, tâm hồn đã lắng đọng. Đủ chín chắn để ngoái lại phía sau và thừa từng trãi để nhìn về phía trước. Vị sư già bình thản nhìn chàng trai quay trở lại sau khi phạm tội giết cô gái - người mà chàng muốn chiếm hữu. Từ chàng trai, ông nhìn thấy quá khứ của mình; từ ông, ông nhìn thấy tương lai của chàng trai. Một dòng đời lẩn quẩn.

Câu nói của vị sư già như tiếng thở dài: “Tai ương xãy ra khi ta bắt đầu ham muốn chiếm hữu, bởi, cái ta muốn người khác cũng muốn”. Tiếc thay, cuộc sống quá tách biệt đã dồn nén khiến chàng sư trẻ dễ yếu lòng. Chàng vội vàng ham cái chưa xứng đáng cho nên phải gánh chịu tai ương nặng nề ngay từ lần muốn đầu tiên trong đời.

Chàng trai phải ra đi để trả giá cho tội lỗi của mình. Vị sư già và con mèo viên tịch trong cô quạnh.
Mùa đông: Ước gì có nắng mùa đông Image
Đông...


Mặt nước khô cứng, cô đặc, cả mặt hồ như một tảng đá lớn sần sùi, lạnh lẽo. Ven bờ hồ không còn hoa cỏ, còn chăng là những cành cây trụi lá, trơ thân. Cảnh vật trắng xóa một màu như không có sự sống. Cái am tỉnh lặng, quạnh quẽ hơn bao giờ hết. Người đàn ông mãn hạn tù quay trở lại chốn xưa, chàng bắt đầu cuộc sống mới hay lặp lại cuộc sống cũ?

Vào mùa đông nước trong hồ đóng thành băng và người ta có thể đi trên đó. Có một người phụ nữ trẻ khăn che kín mặt, tay bế con thơ bước qua cánh cửa không vách rồi đi trên mặt hồ để tìm đến cái am.

Trong đêm đông giá lạnh, cái am như một lò sưởi ấm áp ấp ủ ba con người: một đàn ông trung niên ánh mắt còn hốt hoảng, một phụ nữ trẻ mà nếu không che mặt chắc chắn đôi mắt đã đẫm đầy lệ và một bé trai bé bỏng, mong manh. Đã có lúc người đàn ông dậy lòng thương cảm định đưa tay tháo khăn che mặt, ve vuốt khuôn mặt của người phụ nữ, nhưng… rồi lại thôi.

Sáng sớm hôm sau, người phụ nữ trẻ cùng đường đành bỏ lại con thơ trốn đi và đã chết trên mặt hồ bởi cái hố mà người đàn ông đào để lấy nước. Đứa bé thức dậy không thấy mẹ hoảng hốt bò đi tìm cũng suýt rơi xuống hố chết theo. May mà người đàn ông kịp phát hiện.

Giá mà, người đàn ông đừng dừng tay, tiếp tục dịu dàng tháo khăn che mặt, khẽ khàng ôm người phụ nữ cùng đường ấy vào lòng rồi đùm bọc cả hai mẹ con thì có thể sẽ chấm dứt được dòng đời lẩn quẩn. Và biết đâu, hạnh phúc sẽ đến với ba con người ấy như nắng về giữa mùa đông.
… Rồi lại xuân: Biết xuân là xuân! Image
Xuân, Hạ, Thu, Đông... rồi lại Xuân


Mặt nước hồ lại trong xanh, phẳng lặng. Hoa cỏ quanh bờ hồ vẫn mơn mởn xanh tươi. Cái am lại có hương khói tỏa lên. Trong cái am ấy có hai con người: một vị sư trung niên ánh mắt còn hốt hoảng và một chú tiểu hồn nhiên phạm giới sát sinh… Cớ gì những con người ấy phải tu trong một không gian cô tịch, trong một cái am trơ trọi giữa hồ, quá cách ly với thế giới bên ngoài; phải chăng là một sự tránh né? Mùa xuân của tạo hóa lại trở về nhưng cuộc đời của hai con người nơi đây giống như một mùa đông kéo dài, một dòng đời lẩn quẩn không có lối ra.

Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi lại mùa Xuân là sự lặp đi lặp lại của bốn mùa của tạo hóa. Nhưng từng giờ, từng ngày, từng mùa trong cuộc đời của con người lại do chính mỗi người quyết định. Nếu mùa xuân mà cuộc sống thẳng tắp như điện tâm đồ thì tại sao những người đàn ông (trong phim) không chọn mùa hạ khúc khuỷu hoặc mùa thu nồng ấm? Và, nếu hạnh phúc chưa mỉm cười với họ trong ba mùa: xuân, hạ, thu, thì người xem thầm mong mùa đông của cuộc đời họ sẽ ngập tràn ánh nắng.

Bởi lẽ, những người đàn ông (trong phim) đi tu không phải vì ngộ triết lý nhà Phật mà tìm đến cửa chùa vì hoàn cảnh đẩy đưa!

TẠ THỊ NGỌC THẢO

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Lễ khai mạc WYD 2008 tại Barangaroo:
Cờ Vàng được chính thức trong đoàn rước quốc kỳ các quốc gia...

Tác giả: VietCatholic Network

Buổi chiều Thứ Ba ngày 15/7/2008, từng đoàn các bạn trẻ thuộc mọi ngôn ngữ, mọi Quốc gia, đều đổ dồn về Barangaroo để tham dự Thánh Lễ Khai Mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 23 năm 2008 tại Sydney. Các ngả đường Sydney đều đông đúc các bạn trẻ như một ngày hội lớn...Các ga xe lửa, trạm xe bus, tràn ngập các bạn trẻ...Rừng cờ muôn sắc của khoảng trên 170 quốc gia tham dự...Các bạn trẻ Việt Nam hân hoan và tung tăng với những lá cờ vàng ba sọc đỏ trên khắp các nẻo đường Sydney.
Image
Các phóng viên Vietcatholic tới địa điểm Barangaroo để ghi lại những hình ảnh và tường trình đến quý độc giả...Khi chúng tôi tới nơi, các bạn trẻ đã tràn ngập các lối vào...Chúng tôi phải xếp hàng rất dài để vào địa điểm hành lễ Thánh Lễ Khai Mạc Đại Hội. Khoảng 4.15pm, Đoàn Cờ đại diện của các quốc gia tham dự...Chúng tôi rưng rưng giọt lệ cảm động và sung sướng khi nghe tin Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ được chính thức trong đoàn rước các quốc kỳ của Đại Diện các quốc gia tham dự...Càng sung sướng hơn khi thấy anh Đường Phước Lộc, trưởng ban tổ chức WYD4VN, Cô bạn trẻ Trần Thị Thuỳ Linh, với lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, đại diện cho Giới Trẻ Việt Nam trên lễ đài...Nhìn về phía dưới bạn trẻ các nước tham dự, phóng viên chúng tôi nhìn thấy giữa các mầu cờ của các quốc gia, Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tung bay khắp nơi...

Image Đúng 4.30 chiều, Thánh Lễ khai mạc Đại Hội Giới Trẻ năm 2008 bắt đầu với đoàn Thánh Giá nến cao, tiếp đến, quý Giám Mục trang nghiêm, và sau cùng là Đức Hồng Y George Pell, Tổng Giám Mục Giáo Phận Sydney chủ tế. Phía bên trái lễ đài, khoảng gần 200 Giám Mục đồng tế, trong đó có 4 Vị Giám Mục Việt Nam. Phía sau Bàn Thờ, Ca Đoàn Tổng Hợp với giàn orchestra vĩ đại phụng vụ Thánh Ca cho Thánh Lễ.
Image Đức HY George Pell đã chào mừng các bạn trẻ bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau như: Anh Ngữ, Pháp Ngữ, Ý Ngữ, Tây Ban Nha...Ngài đã nói đến sự lạc quan về tương lai...Trước Thánh Lễ, sau mục diễn hành cờ của các nuớc tham dự, đoàn nghi lễ chào đón cổ truyền của người thổ dân Úc Châu chào đón Đại Hội Giới Trẻ và các khách hành hương. Thủ Tướng Úc Đại Lợi, Kevin Rudd chia sẻ với các bạn trẻ, ông diễn tả những khách hành hương như là “ánh sáng của thế giới trong thời đại tăm tối.” Thánh Giá Giới Trẻ và Icon Đại Hội Giới Trẻ được đặt trên Lễ Đài...
Image Sau Thánh Lễ, Đức Hồng Y Rylco, Chủ Tịch Uỷ Ban Giáo Hoàng về Giáo Dân đã chào mừng các bạn trẻ hành hương trong Đại Hội.

Thánh Lễ Khai Mạc Đại Hội kết thúc, rất nhiều các bạn trẻ ở lại tham dự đêm hoà nhạc chào đón rất tuyệt vời do nhiều nghệ sĩ nổi tiếng và các hoạt cảnh về văn hoá của các dân tộc.

Chúng tôi vộ vã tiến về đoàn nghi lễ phụng vụ, Linh Mục Văn Chi đã phỏng vấn Đức Hồng Y George Pell. Ngài đã chào đón các bạn trẻ Việt Nam từ muôn phương về hội ngộ.

Phóng viên Vietcatholic sẽ tường trình chi tiết hơn trong những ngày còn lại.

Chúng ta tạ ơn Chúa đã làm những việc phi thường trong ngày khai mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới năm 2008 tại Sydney, khi tất cả các tiểu bang khác mưa tầm tã, nhưng Sydney bừng lên nắng ấm giữa mùa đông. Tạ Ơn Chúa đã làm những việc kỳ diệu...

Hẹn gặp quý vị trong bài tường thuật ngày mai.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image


ĐỌC "GIỌT NẮNG XIÊN" CỦA LÊ ANH DŨNG VÀ DIỆP THẾ MỸ

Chu Tất Tiến
Một chiều chủ nhật tháng Bẩy trong thánh đường thành phố Garden Grove. Vị linh mục mở đầu bài giảng bằng tiểu sử nhà thơ Phùng Quán. Sau khi đã nói về cuộc đời nhà thơ, vị linh mục đã đọc nguyên bài thơ "Lời mẹ dặn" của thi sĩ Phùng Quán và trang trọng ngâm ngợi những câu thơ mà ông cho rằng "quá đẹp":

Yêu ai cứ bảo là yêu,
Ghét ai cứ bảo là ghét,
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi, ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá.

Cũng với tư tưởng những lời thơ "quá đẹp" đó, vị linh mục đã sang sảng ca ngợi tư tưởng của Phùng Quán, sau ba mươi năm bị chà đạp, mất hết nhân tính con người, ông đã tâm sự đôi khi thấy vô cùng tuyệt vọng, "tôi phải vịn câu thơ mà đứng dậy."

"Vịn câu thơ mà đứng dậy", vâng, cũng như Phùng Quán, có những người phải vịn vào văn chương mà đứng dậy. Như Lê Anh Dũng và hiền thê Diệp Thế Mỹ, đồng tác giả của "Giọt Nắng Xiên", hai tâm hồn đã có nhiều lúc phải "vịn" vào tâm hồn văn chương của mình mà đứng dậy. Lê Anh Dũng, một cựu chiến sĩ, một tù cải tạo, đã vịn vào danh dự của một quân nhân, vào những kỷ niệm thời đi lính, vào thuở mà tình yêu chân thành của anh gửi gấm cho người tình cũng mộc mạc như anh, để đứng dậy, mặc dù anh bị chế độ độc tài, dã man đầy đọa anh qua suốt bao nhiêu năm tháng tù ngục. Anh đã đứng dậy, như khi anh tập đạp chiếc xe xích lô lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng, ngã dúi dụi bên lề đường, với những bao đồ nặng chĩu, đầu váng, mắt hoa, tay chân đẫm máu (Con dốc cầu Nhị Thiên Đường, trang 79). Anh đã đứng vững như đã từng đứng hiên ngang bao lần, khi anh còn tham dự những cuộc hành quân ở cao nguyên, Đức Cơ, Pleiku, biên giới Miên Việt (trang 9). Rồi trong trại tù khổ sai "Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa", đói, khát, lạnh, rét, cực, cô đơn...

Lê Anh Dũng đã kể lại cuộc đời mình qua những đoạn văn ngắn đầy hình ảnh, tuy không rầm rộ, máu lửa, nhưng rất chân thật. Tuy không sống gần gụi, nhưng tác giả đã thể hiện được những giấc mơ của thi sĩ Phùng Quán: "Tôi muốn làm nhà văn chân thật, chân thật trọn đời." Tác phẩm của Lê Anh Dũng hiền hòa, đơn giản, nhưng lại phác họa rõ nét chân dung của những con người chân thật. Những câu văn không- một - chút- làm - dáng của Lê Anh Dũng lại làm cho người đọc tự nhiên muốn trở về bơi lội trong những dòng sông quê hương, muốn hòa tan trong kỷ niệm của tuổi thơ, dù mỗi người có một "dòng sông định mệnh" khác nhau. Lê Anh Dũng, tuy kể về mình, nhưng đồng thời cũng kể thay cho biết bao người, những mẩu chuyện đắng cay, tủi nhục khi ở trong tù, và lúc mừng mừng tủi tửi khi xum họp. "Ba con đó, hôn ba đi!" (trang 180). Chỉ có bấy nhiêu tiếng, mà người đọc đã có thể tưởng tượng ra được hàng trăm, ngàn mảnh đời như thế, hoàn cảnh cay đắng như thế, sau bao năm xa cách, gặp lại vợ con, cha với con không thể nhận ra nhau được. Lê Anh Dũng, người viết văn chân thật, đã để lại trong lòng độc giả những câu chuyện đơn giản nhưng tình người lại rất mênh mang.

Còn những câu chuyện của Diệp Thế Mỹ, nguời vợ tù cải tạo, lại có rất nhiều đáng nói. Chị đại diện cho cả một thế hệ thiếu nữ từ chỗ tung tăng, hoa gấm, (Tuổi Măng Non, trang 20), trở thành vợ chiến sĩ, không đòi hỏi quà cáp cao sang, chỉ cần một chữ Yêu đơn giản, bình dị. Ngay cả sau hôn lễ, "lấy chồng đời chiến binh", người thiếu nữ chấp nhận tất cả thiếu thốn, mà vẫn vui, vì có lẽ, theo chị, người chiến binh thời đại là những anh hùng, cho nên cần chi bề ngoài, cần chi điệu bộ rườm rà! Rồi, từ đó, theo chiến cuộc, theo chồng, chị đã một ngày biến thành một con người làm được những việc mà trí tưởng tượng thiếu nữ không thể nào hình dung được. Chiến tranh ư? Tuy không phải là chiến sĩ, chị cũng chứng kiến không biết bao nhiêu bom đạn đổ trên quê hương, bao nhiêu kinh hoàng, chết chóc; tuy chị không là quân nhân, nhưng nếu không có những con người dũng cảm như chị, chắc những người chiến sĩ kia, còn phải chịu bao gánh nặng khó kham. Và, không biết từ khi nào, có lẽ bắt đầu giai đoạn tù ngục của anh, chị đã âm thầm, lặng lẽ tiếp sức anh chiến đấu trên phương diện khác, phương diện của một người vợ một kẻ đã bị chế độ loại ra ngoài sinh hoạt xã hội.

Những người vợ cải tạo như chị, đã quần quật như nô lệ, trong một đất nước mà người bóc lột người. Điều kinh ngạc ở đây là tất cả mọi tiếng kêu phẫn nộ, chị đã cho trôi ngược vào lòng, chịu đựng chúng, chỉ với một ý định duy nhất: được gặp lại người yêu khỏe mạnh, oai hùng. Đã biết bao lần, như chồng, chị muốn gục ngã, vì cuộc đời đối xử với lớp người như chị quá tệ, nhưng chị đã "vịn văn chương mà đứng dậy." Chị đã vươn lên, như hoa sen trong bùn. Bây giờ, chị đã sống hiền hòa trong dòng văn hóa Việt Nam, dù lời văn của chị nhẹ nhàng, đơn giản, không hào nhoáng kiêu kỳ, nhưng chứa đựng biết bao ý từ nồng hậu.

Đọc "Giọt Nắng Xiên" của Lê Anh Dũng và Diệp Thế Mỹ, mới thấy trong cuộc đời Việt Nam sau 75, còn quá nhiều tâm hồn cao đẹp để ngưỡng mộ.

Chu Tất Tiến

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Tổ Chức Hội Thảo “Bài Toán Trung Quốc Đối Với Việt Nam”,
"Ông Hòa Hợp Hòa Giải" Nguyễn Gia Kiểng
Gây Sóng Gió tại vùng Hoa Thịnh Đốn


Chính Tâm
Ngày Thứ Bảy 12.7.2008 vừa qua, Nhóm “Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên” (tên mới của Thông Luận) đã tổ chức một cuộc hội thảo tại Virginia với chủ đề “ Bài toán Trung Quốc đối với Việt Nam”.
Image
Ông Nguyễn Gia Kiểng.
Cuộc hội thảo đã diễn ra tại một phòng sinh hoạt của Mason District Governmental Center ở Annandale từ 3 giờ tới hơn 6 giờ chiều mà diễn giả chính là Kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng, thủ lãnh của “Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên” (THDCĐN) từ Pháp sang. Hai người khác là Ông Nguyễn Văn Hiệp, Chủ tịch Phân bộ Bắc Mỹ THDCĐN và Ông Nguyễn Thanh Lương, Chủ tịch Phân bộ Đức THDCĐN. Người điều hợp chương trình là Ông Nguyễn Gia Dương, thành viên ban lãnh đạo THDCĐN, cũng từ Pháp sang.

Số người tới tham dự khoảng 50, trong đó có những khuôn mặt quen thuộc trong giới chính trị và văn hóa Vùng Hoa Thịnh Đốn, như Cụ Phan Vỹ, Ông Đoàn Hữu Định, Ông Nguyễn Cao Quyền, Ông Nguyễn Văn Tần, Ông Đại Dương, Ông Nguyễn Ngọc Bích, Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Bà Jackie Bông, Bà Ngô Thị Hiền, Bác sĩ Lê Văn Trực, Ông Lê Doãn Kim, Ông Sơn Tùng, Ông Nguyễn Tấn Phước, Ông Đào Hiếu Thảo, Ông Nguyễn Quốc Khải, Ông Đoàn Viết Hoạt vv. Ngoài ra, còn có vài người từ xa tới như Kỹ sư Hoàng Cơ Định, Ông Nguyễn Chính Kết...

Cuộc hội thảo đã nổi sóng ngay từ phút đầu khi Ông Đoàn Hữu Định, nhân danh Cộng Đồng và Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Vùng Hoa Thịnh Đốn, đứng lên hỏi ban tổ chức tại sao không có quốc kỳ VNCH và không làm lễ chào cờ, và ông cho biết sẽ ra khỏi phòng họp, không tham dự. Cùng ra khỏi phòng hội thảo để phản đối còn có Ông Nguyễn Văn Tần, Cộng Đồng VN Hoa Kỳ, Ông Đào Hiếu Thảo, Ông Nguyễn Gia Hân, Bà Thu Ân, Bà Lê Văn Trực...

Bầu không khí trong phòng trở nên căng thẳng khi có thêm người chất vấn và đả kích ông Nguyễn Gia Kiểng. Ông Nguyễn Gia Kiểng lên bục diễn giả giải thích lý do không có cờ vàng ba sọc đỏ và không chào cờ vì đây là một cuộc hội thảo, không phải là một buổi lễ. Lý do thứ hai là vì chủ trương của nhóm THDCĐN là hòa hợp hòa giải dân tộc, trong tổ chức của ông có những người xuất thân từ các quá khứ chính trị khác nhau, nên nếu tôn vinh lá cờ vàng ba sọc đỏ sợ sẽ gây khó xử cho những người khác, như Ông Nguyễn Thanh Lương, một người gốc miền Bắc trước đây sang Đông Đức du học.

Tuy nhiên, lời giải thích của Ông Nguyễn Gia Kiểng (NGK) không được nhiều người chấp nhận và vẫn lên tiếng chất vấn. Có người đã đem theo cuốn “Tổ Quốc Ăn Năn” mà tác giả là NGK để đả kích ông ta. Ông Kiểng nói rằng việc ấy không nằm trong chủ đề của cuộc hội thảo và yêu cầu ai có ý kiến gì xin để tới phần thảo luận.

Nhưng ông Kiểng đã lại bị đả kích ngay khi vừa mở đầu bài thuyết trình bằng cách nói về vài đoàn viên của THDCĐN ở VN đã bị công an và “bọn đầu gấu” tấn công, đánh đập công khai, và ông ta báo động chế độ hiện nay đã biến thành một chế độ côn đồ, tàn bạo. Bác sĩ Lê Văn Trực đã đứng lên ngắt lời diễn giả, lớn tiếng nói rằng ông Kiểng quá “chậm” vì bây giờ ông mới biết và “báo động” về sự côn đồ và tàn bạo của cộng sản trong khi mọi người Việt Nam đã biết từ lâu chúng là một bọn sát nhân, đã giết hàng triệu người vô tội.

Ông Kiểng lại xin để tới phần thảo luận và tiếp tục bài thuyết trình về việc các vùng biên giới phía bắc và hai đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam bị Trung quốc lấn chiếm trong một sách lược nham hiểm và lâu dài mà vì “chúng ta” quá yếu và khờ khạo nên không giữ được sự vẹn toàn lãnh thổ. Vấn đề bây giờ là phải làm sao để đừng để mất thêm đất và lấy lại các phần đất đã bị mất.

Sau ông Kiểng, Ông Nguyễn Thanh Lương thuyết trình về sự phát triển nhanh chóng và chính sách bành trướng của Trung Quốc.

Tới phần thảo luận và đặt câu hỏi, BS Trực đã lớn tiếng đả kích chủ trương hòa hợp hòa giải của Nhóm “Thông luận” mà ông nói rằng trước kia thì nịnh Việt cộng, bây giờ lại nói chống cộng sau khi Liên Sô và Khối cộng sản Đông Âu sụp đổ. Ông Trực nói rằng trong một cuộc hội thảo vào đầu thập niên 90 tại Vùng Hoa Thịnh Đốn, ông Kiểng đã nói Việt Cộng có chính nghĩa. Ông Kiểng chối, trả lời rằng ông ta không có nói như vậy, có lẽ ông Trực nghe lầm. Nhưng BS. Trực khẳng định ông không nghe lầm, trái lại, ông đã có mặt trong cuộc hội thảo ấy và đã hỏi ông Kiểng vì sao VC có chính nghĩa thì ông Kiểng trả lời “vì có nhiều người chết cho họ”.

Cuộc thảo luận và đặt câu hỏi biến thành cuộc tranh luận gay gắt, và ông Kiểng có vẻ đuối lý. BS Trực nói rằng chủ đề của cuộc hội thảo nhằm vào “bài toán Trung quốc” là vô ích vì từ mấy ngàn năm nay, Trung Hoa vẫn chủ trương bành trướng xuống phía Nam, đánh chiếm Việt Nam nhiều lần vì nước ta có những hạng người phản quốc, làm tay sai cho Tàu như Trần Ích Tắc, Trần Di Ái, Lương Nhữ Hốt, Trần Phương, Lê Chiêu Thống..., bây giờ tới Hồ Chí Minh tôn thờ cộng sản và Mao Trạch Đông, dâng đất dâng biển cho quan thầy Trung Cộng để được nắm quyền. Đó là tội lỗi của Hồ Chí Minh và bọn Việt Cộng, và đó mới chính là đề tài cần phải thảo luận. Ông Trực đã gọi Hồ Chí Minh là “thằng”, điều hợp viên yêu cầu ông Trực không nên gọi HCM là thằng vì nên tôn trọng nhân phẩm người khác, nhưng ông Trực càng lớn tiếng hơn và khẳng định ông vẫn gọi HCM là thằng vì những tội ác mà hắn đã gây ra cho dân tộc VN.

Tiếp lời BS Trực, Nhà văn Sơn Tùng nói rằng Nhóm THDCĐN từ xa tới đây mở cuộc hội thảo nên lắng nghe quan điểm của người khác và ông đã nhấn mạnh tới mấy điểm chính, như chủ trương “hòa hợp hòa giải dân tộc” của Thông Luận trước kia và THDCĐN hiện nay và trách nhiệm của nhà cầm quyền CSVN trong việc bảo vệ lãnh thổ. Ông nói rằng kêu gọi hòa hợp hòa giải dân tộc là không hợp lý và không thực tế trong khi cộng sản, nguồn gốc của hận thù và chia rẽ, vẫn còn nắm quyền. Đánh đổ chế độ cộng sản thì tự nhiên chia rẽ và hận thù sẽ tan biến, không cần kêu gọi hòa giải hòa hợp. Nhiều người vỗ tay tán đồng. Ông Sơn Tùng cũng nói rằng nhà cầm quyền CSVN có trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ, chống lại xâm lăng, nhưng đã chứng tỏ bất lực và sợ hãi đàn anh Trung Cộng. Ông đồng ý với BS Lê Văn Trực rằng đó mới chính là đề tài cần phải thảo luận.

Có thêm vài người đặt câu hỏi và phát biểu ý kiến trước khi cuộc hội thảo chấm dứt như một thất bại hoàn toàn cho Nhóm THDCĐN và cá nhân Ông Nguyên Gia Kiểng. Chủ trương và đường lối chính trị của Ông Kiểng không được nhiều người chia sẻ, và mỗi khi xuất hiện ở đâu thì chỉ tạo thêm chia rẽ, hiềm khích, thay vì “hòa hợp hòa giải” như chiêu bài được đưa ra.

Chính Tâm

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Hình ảnh ngày khai mạc Ðại hội Giới trẻ Công giáo Thế giới Sydney

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Ðại nhạc hội của lòng tri ân

Bài và hình: Vũ Ðình Trọng/Người Việt
Hải ngoại không quên tình chiến sĩ,
Ðồng hương nhớ mãi nghĩa thương binh
Có một blogger viết như thế này về người thương binh Việt Nam Cộng Hòa:

“Trong mắt tôi, anh mãi mãi là anh hùng dù tên tuổi không được khắc trên bia đá.

Trong mắt tôi, một phần thân thể mà anh đã bỏ lại chiến trường năm xưa không mất đi. Chúng đã chuyển hóa thành niềm tự hào của tất cả chúng ta.

Tôi mang ơn những giọt máu đã đổ xuống cho quê hương.

Tôi nợ anh phần thân thể đã mất.

Trong mắt tôi, anh mãi là người anh hùng bởi không có gì cao quý hơn khi anh hy sinh cuộc đời mình để tôi được sống.”

Ngày trở về sau chiến tranh của người thương binh VNCH không đẹp như những ca từ trong bài “Ngày Trở Về” của Phạm Duy. Ðơn vị tan nát, chiến hữu người hy sinh, người vào tù, người vượt biên... người còn lại thì gặp nhau ngơ ngác. Cái xã hội được xây dựng bằng lòng hận thù đã đẩy các anh từ bệnh viện với vết thương chưa lành ra lề đường, xua đuổi gia đình các anh từ thành phố về vùng “kinh tế mới”. Chẳng ai giúp được ai khi tất cả cùng khốn khổ.

Ba mươi ba năm trôi qua, số lượng người thương binh VNCH năm xưa chắc cũng giảm nhiều, bởi họ đã chết trong đau khổ, tuyệt vọng và cả uất hận. Nhưng có lẽ, những người ra đi như thế cuối cùng cũng tìm được bình yên nơi cõi vĩnh hằng. Chỉ thương người ở lại.

Khó có thể hình dung được làm sao các anh còn sống sót đến ngày hôm nay khi ngay cả người lành lặn cũng phải bương chải cật lực để kiếm sống. Ðể hình dung người thương binh VNCH sống như thế nào cũng dễ dàng, chúng ta chỉ cần đọc một số thư cảm ơn của các anh gởi cho Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH sau khi nhận được tiền cứu trợ từ hội:

“Tôi nhận được tiền của quý vị ân nhân gởi về giúp trong lúc gia đình tôi đang gặp khó khăn. Ðã mấy chục năm qua, mỗi ngày từ 6 giờ sáng cho tới 5 giờ chiều, tôi khập khễnh đi khắp nơi để bán vé số, mỗi ngày kiếm được 20,000 đồng Việt Nam (hơn $1), mua được vài lít gạo. Tôi đã 64 tuổi, cụt một chân, đi đứng rất khó khăn. Nay được $50, tôi vui mừng không kể xiết. Từ nay tôi đã sắm một cái bàn, cái ghế kiếm một chỗ ngồi cố định, khỏi phải lang thang, vất vả tấm thân.” TPB Trần Văn Hậu, Tiền Giang.

“Biết nói làm sao cho quý hội hiểu sự vui mừng của tôi. Ðối với người ta thì cũng bình thường, riêng tôi, từ mấy chục năm nay không hề cầm trên tay một số tiền lớn như vậy ($100).” TPB Nguyễn Lọt, Ðồng Nai.
Trăn trở cùng đồng đội Nếu hiểu được những nỗi đau khổ, mất mát mà người thương binh VNCH phải chịu đựng sau năm 1975 thì chúng ta sẽ dễ dàng hiểu tại sao Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP VNCH ra đời. Mười sáu năm qua, hội đã chuyển gần một triệu đô la về giúp anh em thương binh. Có người mỗi tháng gởi về hội $20 trong suốt mười mấy năm nay; có người trước khi mất, trăn trối gởi hết tiền phúng điếu cho hội; có hội đoàn tổ chức lượm lon, trồng rau xanh kiếm tiền gởi về; có người vừa nhận được thiệp mời dự Ðại Nhạc Hội “Cảm Ơn Anh Người Thương Binh VNCH” đã vội ký tấm check vài ngàn đô la gởi tặng...

Cái trăn trở của những người điều hành hội trở thành nỗi suy tư chung của tất cả.

Căn nhà nhỏ tại thành phố Garden Grove, nơi bà Hội Trưởng Nguyễn Thị Hạnh Nhơn sống cùng con cái, đã trở thành trụ sở Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP VNCH từ lúc nào. Một chiếc bàn nhỏ cạnh những tủ hồ sơ chật cứng, nơi bà miệt mài làm việc từ 7 giờ sáng đến 12 giờ khuya suốt bao năm nay cũng chỉ vì đồng đội. Tuổi ngày càng cao, sức ngày càng yếu, con cái khuyên bà nghỉ ngơi và bà cũng cảm thấy mệt mỏi.

Thế nhưng bà lại nói: “Mệt quá rồi nhưng thấy anh em thương binh tội quá, bỏ không đành. Mình phải làm lẹ để gởi tiền về giúp, nhất là những anh em đang bệnh nặng. Phải gởi về ngay thôi, trước khi họ qua đời!”

Bà Nguyễn Thanh Thủy, cựu thiếu tá Cảnh Sát Ðặc Biệt, trưởng đoàn Thiên Nga, một trong những thiện nguyện viên nhiệt tình của hội cũng cùng suy nghĩ.

Bà nói: “Mỗi lần giúp hội phân loại thư từ, nhìn những tấm hình anh em thương binh mà đau lòng lắm. Họ đã chịu đựng suốt bao nhiêu năm nay không được giúp đỡ, chúng ta giúp họ cũng chẳng đủ vào đâu.”

Gần một triệu đô la thu được chia cho hơn 11,500 lượt người (mỗi người nhận từ 2 đến 5 lần) thì người nhận ít nhất chưa được $200, người bệnh nặng nhận nhiều nhất chưa được $500 trong vòng... 16 năm!

Ðau lòng lắm chứ!

Ðại Nhạc Hội “Cảm Ơn Anh Người Thương Binh VNCH - Kỳ II” “Năm nay, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Nam California thấy thư anh em thương binh gởi cho chúng tôi nhiều quá nên đề nghị tổ chức đại nhạc hội,” bà Hạnh Nhơn cho biết thêm.

“Hiện bây giờ đã là khoảng 13,000 hồ sơ, chắc sau đại nhạc hội sẽ nhiều hơn nữa. Chúng tôi không đủ khả năng tổ chức đại nhạc hội nếu không có sự yểm trợ của Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Nam California, Trung Tâm ASIA, đài SBTN cùng các hội đoàn khác.”

Một đại nhạc hội thể hiện sự đoàn kết, gắn bó của người dân hải ngoại. Công việc chuẩn bị hiện đang được gấp rút tiến hành, từ việc thuê mướn sân khấu, thuê sân vận động, tiếp tân, trật tự đến việc đưa đón đồng hương từ Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt-Mỹ đến nơi tổ chức, các ca sĩ không cần mời cũng ghi tên tham gia như một vinh dự được đóng góp tài năng vào công việc chung... Guồng máy đang vận hành với một tốc độ cao nhất cho ngày tri ân.

Bà Hạnh Nhơn vui mừng cho biết “lúc mới có thông báo thôi, hội đã nhận được hơn $10,000 từ các nhà hảo tâm.” Ðó là niềm khích lệ lớn lao cho ban tổ chức.

Hôm nay, Thứ Bảy 19 Tháng Bảy, khoảng 11 giờ trưa, ông Lê Quí, hội phó Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP VNCH, cùng một số thiện nguyện viên sẽ bán vé tại khu chợ ABC.

Theo chương trình, tuần sau sinh viên và nghệ sĩ sẽ xuống đường mời đồng hương mua vé.

Chỉ còn hai tuần nữa là đến ngày đại nhạc hội, số vé bán ra và số tiền ủng hộ nhiều hay ít là trách nhiệm không chỉ riêng của ban tổ chức, nghệ sĩ hay sinh viên. Trách nhiệm thuộc về tất cả chúng ta.

Nhạc sĩ Nam Lộc, một người trong ban tổ chức, nói với nhật báo Người Việt: “Ðây là công việc chung. Nếu chúng ta không làm thì không ai làm. Kỳ trước, mục tiêu của đại nhạc hội là $300,000 nhưng cuối cùng được hơn số tiền này. Mục tiêu năm nay của chúng tôi là $500,000 và hy vọng chúng ta sẽ vượt qua con số này.”

“Và để vượt qua con số này, chúng tôi kêu gọi các cá nhân, hội đoàn và doanh nghiệp ủng hộ. Tất cả các đóng góp đều được miễn trừ thuế. Nếu ai đặt mua từ 100 vé trở lên, mỗi vé chỉ $10, đích thân tôi hoặc một ca sĩ nào đó sẽ đem đến giao tận tay. Ngay sau khi phát động, ông bà chủ hai nhà hàng Quán Hỷ và Quán Hợp đã lấy ngay 100 vé,” nhạc sĩ này cho biết tiếp.

Ðược biết, đại nhạc hội năm nay có sự tham gia của hơn 100 ca nhạc sĩ, nghệ sĩ và MC hải ngoại với sự hiện diện đặc biệt của khoa học gia Dương Nguyệt Ánh.

Ðại nhạc hội sẽ được đài truyền hình SBTN trực tiếp truyền hình khắp Hoa Kỳ và Canada qua hệ thống sattelite và cable và khán thính giả có thể theo dõi chương trình và ủng hộ hiện kim qua các số điện thoại miễn phí hiện trên màn hình.

Ban tổ chức sẽ có dù bạt cho khán giả tránh nắng.
Con số của lòng tri ân Nhìn bảng tổng kết số tiền Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP VNCH đã nhận được và số lượt TPB&QP VNCH đã được giúp đỡ, không ai không cảm thấy ấm lòng, bởi con số mỗi năm cứ tăng đều.

Từ 1993 đến 2002 (10 năm) hội nhận được $126,331 (trung bình mỗi năm khoảng $12,600).

Năm 2003: $21,367

Năm 2004: $41,636

Năm 2005: $81,263

Năm 2006: $160,173

Ðại Nhạc Hội năm 2006: $409,195 (đã trừ chi phí)

Năm 2007: $122,275

Sáu tháng đầu năm 2008: $108,000


Tổng số tiền thu được từ năm 1993 đến 30 Tháng Sáu, 2008 là hơn $973,000. Nhờ thế số lượt người thương binh và quả phụ VNCH được giúp đỡ cũng tăng theo từng năm. Tổng cộng hội đã gởi về giúp 11,597 lượt người, chưa kể 4,761 lượt người mà các ân nhân nhận hồ sơ từ hội để tự gởi.

Ðó là những con số của niềm vui, của niềm hãnh diện. Con số của lòng tri ân.

Nhưng con số của lòng tri ân thì không bao giờ đủ vì “trong mắt tôi, anh mãi là người anh hùng bởi không có gì cao quý hơn khi anh hy sinh cuộc đời mình để tôi được sống.”
Ðại Nhạc Hội “Cảm Ơn Anh Người Thương Binh VNCH - Kỳ II” Giá vé $10/người và hiện được bán tại Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP VNCH (714-539-3545); Trung Tâm Ca Nhạc Asia (714-775-8264); các nhà sách Tú Quỳnh (714-531-4284); Tự Lực (714-531-5290); Văn Khoa (714-892-0801); Văn Bút (714-895-7080); Trung Tâm Pháp Quang (714-891-1485); ABC Copy (714-596-5536, Trung Tâm Bích Thu Vân (714-897-4519); Newland Pharmacy (714-892-5372); Pacific Pharmacy (714-839-1197).

Chi phiếu bảo trợ xin đề: “Ðại Nhạc Hội Cảm Ơn Anh-Kỳ II” và gởi về đài truyền hình SBTN, P.O. Box 127 Garden Grove, CA 92842 hoặc Hội H.O. Cứu Trợ TPB$QP VNCH, P.O. Box 25554 Santa Ana, CA 92799.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Cộng Đồng Người Việt Tự Do Sydney Biểu Dương Cờ Vàng
20-07-2007

Nhân ngày Tuổi Trẻ Thế Giới 2008 tổ chức tại Sydney, Cộng Đồng Người Việt Tự Do Sydney tổ chức một Buổi Diễn Hành Biểu Dương Cờ Vàng. Khoảng 5000 người tập trung tại Công Viên Belmore Park trung tâm thành phố Sydney lúc 7 giờ sáng. Cờ Vàng diễn hành trên đoạn đường dài 4 cây số từ Công Viên Belmore đến Trường Đua Randwick nơi tổ chức lễ bế mạc của Đại Hội kéo dài 6 ngày tại Sydney, với sự tham dự của nửa triệu các bạn trẻ từ khắp nơi trên thế giới và đặc biệt có sự hiện của Đức Giáo Hoàng Benedict XVI. Đại Hội Tuổi Trẻ Thế Giới đã thu hút hàng triệu người ở khắp nơi qua các đài truyền hình, truyền thông và báo chí. Một rừng Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đến Trường Đua lúc 9:00 sáng vừa lúc buổi lễ bắt đầu.

[/align]
Last edited by khieulong on Thu Jul 24, 2008 2:23 am, edited 1 time in total.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

CÁM ƠN NHỮNG NGƯỜI TUỔI TRẺ HÔM NAY


Sung sướng quá Ta quỳ đây khóc ngất
Giữa khung trời vàng rực bóng cờ bay
Khiến hồn hoang như sống lại những ngày
Cùng đồng đội trên bốn vùng chiến thuật


Cám ơn đời những tấm lòng yêu nước
Cám ơn trời, ơn Thiên Chúa Ngôi Cao
Ðã ban cho Việt Nam niềm tự hào
Khi đứng dưới bóng Cờ Vàng Sọc Ðỏ


Ba mươi ba năm rồi quên hay nhớ ?
Những tháng ngày tang tóc ngập quê hương
Huế Mậu Thân xác lính trãi phố phường
Ðể treo được Lá Cớ Vàng yêu quý



An Lộc, Kon Tum, Cổ Thành Quảng Trị
Ðồn lũy xưa đâu cũng rực bóng cờ
Hồn tử sĩ còn đó giữa trăng mơ
Cuời ngạo nghể trước giặc thù phương Bắc



Trang Sử Việt giờ ghi thêm sự thật
Qua cõi lòng người tị nạn ly hương
Xé cờ máu bớt tanh tửi phố phường
Dựng cờ Vàng để đời thêm xanh lá



Bởi vì đó là niềm tin cao cả
Của Mê Linh vằng vặc bước Hai Bà
Bạch Ðằng Giang vang dậy tiếng quân ca
Chí Lăng ải đầu Liểu Thanh rơi rụng



Hai mươi năm bóng cờ vàng sừng sững
Theo đoàn quân tận góc bể chân trời
Nay nước mất nhưng cờ vẫn sóng đôi
Cùng người Việt tha phương đời dâu biển



Giờ là lúc sơn hà đang nguy biến
Bởi giặc Hồ đem bán hết non sông
Từ biên giới đến hải đảo biển đông
Cho Tàu đỏ, làm toàn dân uất nghẹn



Chống Việt gian, nên dù không ai hẹn
Tuổi trẻ Việt Nam khắp bốn phương trời
Ðem cờ vàng về đất Úc xa xôi
Làm sống lại Việt Nam xưa ngạo nghể



Xin cám ơn những tấm lòng trời bể
ám ơn những người tuổi trẻ hôm nay
Cám ơn người lính trận chết từng ngày
Ðể gìn giữ ‘ Lá Cờ Vàng ‘ Nước Việt



Cám ơn Những Anh Hùng đã tuẩn tiết
Ðể muôn đời sống mãi với sử xanh
Lá Cờ Vàng mai sẽ cắm trên thành
Và vằng vặc trong trái tim Dân Tộc



Mường Giang

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Lá cờ cho tự do
Báo Sydney Morning Herald 21/7/08

Image Cuộc chiến có lẽ đã qua rồi nhưng không hẳn thế đối với nhiều cá nhân trong cộng đồng người Việt ở Sydney. Lá cờ của Miền Nam Việt Nam ngày xưa là lá cờ quốc gia được nhìn thấy rõ ràng nhất trong hằng hà sa số các lá cờ quốc gia khác cùng với các băng vải trang trí lễ nghi tôn giáo trong Thánh Lễ do Ðức Giáo Hoàng chủ tế, mặc dù đó là một lá cờ không phải đại diện chính thức cho một quốc gia và bị cấm đoán tại một đất nước đã từng là quê hương nguyên thuỷ của nó.

“Ðây là lá quốc kỳ của Việt Nam tự do”, nương tựa dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, một người hành hương trong phái đoàn của người Việt Nam cho biết, “Chúng tôi mang lá cờ này ngày hôm nay để nhắc nhở mọi người rằng vẫn có những chính quyền hiện đang đàn áp quyền được tự do tín ngưỡng”

Nhắc nhở ... "lá cờ quốc gia của Việt Nam tự do"

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image
(Sưu tầm)
Image

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Cám ơn Tiểu Vũ Vi rinh về một bài phóng sự hay quá.

Cũng lượm từ net bài thơ cũ:

Tạ Ơn!

Hôm nay lên trên "nét"
Thấy ảnh lá cờ bay
Cờ Vàng - 3 Sọc Đỏ
Sao mắt mình cay-cay
Cờ bay cao lồng-lộng
Như ẩn hồn anh-linh
Đời tha hương khốn khổ
Tạ ơn người hy-sinh


Nguyenthitehat

Post Reply