Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Phải thoát vòng luẩn quẩn

Ngô Nhân Dụng

Trong khi các ông bà ủy viên Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam họp với nhau ở Hà Nội để nghe ông Nông Ðức Mạnh đọc diễn văn, thì cùng ngày 9 Tháng Bảy vừa rồi, tòa án “nhân dân” thị xã Gia Nghĩa đã xử phạt hai người dân, là ông Trần Quốc (60 tuổi, ở Phường Nghĩa Thành) và ông Lương Văn Quý (44 tuổi, phường Nghĩa Tân), hai bản án 9 tháng và 15 tháng tù treo!

Những lương dân này đã phạm tội gì mà phải ra tòa của “nhân dân?” Theo tin Thông Tấn Xã Việt Nam thì cái tội của họ là... làm thơ trào phúng! Theo bản cáo trạng của phía công tố, tên gọi mới là Viện Kiểm Sát Nhân Dân (các nhà trào phúng trong nước gọi tắt là Viện Sát Dân), thì hai thi sĩ này đã “làm thơ vè” phê bình “xúc phạm danh dự” một số cán bộ lãnh đạo Ðảng và nhà nước tỉnh và thị xã! Tất cả những Tú Xương, Học Lạc, Ba Giai của dân ta từ nay phải đề cao cảnh giác!

Trong truyền thống văn chương truyền khẩu của dân tộc Việt Nam, những nhà thơ trào phúng là những tiếng nói phản ảnh tâm tư của người dân thấp cổ bé miệng. Người dân bị cường hào ác bá bắt nạt, không kêu cứu vào đâu được, thì làm thơ chế riễu cho hả giận. Tú Xương, Học Lạc, Ba Giai thường thay lời người dân mà viết nên vần. Nhưng những bài thơ trào phúng cũng là dấu tích lịch sử nêu tên tuổi và hành vi gian ác của bọn tham quan ô lại, có giá trị trừng phạt bằng dư luận; cho nên có thể tạo áp lực cho chúng bớt gian tham. Ngay cả những tay tham nhũng cũng sợ tiếng “ngàn năm bia miệng.” Cắt đứt mạch văn chương truyền khẩu đó cũng là cắt lưỡi, bịt miệng dư luận.

Hai ông Trần Quốc và Lương Văn Quý là những nạn nhân của chế độ quan lại cộng sản. Vẫn theo tin của thông tấn xã nhà nước thì hai người đã “bức xúc” vì chính quyền thị xã đã thu hồi đất của họ để cho các cơ quan nhà nước dùng, cho nên máu thi sĩ của họ mới nổi dậy! Chính sách thu đất của dân về tay nhà nước đã tạo ra bao nhiêu oan khuất trên đất nước chúng ta. Sau thời Pháp thuộc, chưa bao giờ ở nước ta lại có một phong trào “dân oan khiếu kiện” lớn như trong thời đại Ðỗ Mười, Lê Ðức Anh, Nông Ðức Mạnh này. Hai công dân Trần Quốc và Lương Văn Quý là những người đầu tiên phản kháng bằng thơ và bị đưa ra tòa! Ðồng bào nào ở Gia Nghĩa còn giữ được những bài thơ đó, xin phổ biến trên internet để những ai trong nghề làm thơ trào phúng biết viết như thế nào là có tội, ngõ hầu chúng ta tránh không viết nữa!

“Xúc phạm lãnh đạo” là một cái tội khá mơ hồ. Ai mở miệng nói những lời bất bình với chế độ cũng có thể bị gán tội này. Nhưng có thể gửi lời chúc mừng hai thi sĩ Trần Quốc và Lương Văn Quý, được tai qua nạn khỏi. Bởi vì nếu Viện Sát Dân mà nặng tay, họ có thể truy quý ông là “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân” thì khó chữa! Các nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải có thể sẽ bị kết tội đó, chắc họ chỉ mong được gán tội danh “xúc phạm các nhà lãnh đạo” như Ðào Ðình Bình, Nguyễn Việt Tiến, Bùi Tiến Dũng thôi, cho nó nhẹ tội!

Nếu quý vị độc giả sống ở Mỹ, quý vị có thể yên tâm. Ở xứ này “lãnh đạo” không quý hiếm như ở Việt Nam. Nếu ai muốn làm thơ chế nhạo ông Tổng Thống George W. Bush hay ông Thống Ðốc Arnold Schwarzenegger xin cứ tự nhiên. Chưa thấy một ông nào đưa các thi sĩ ra tòa về tội “xúc phạm lãnh đạo” cả. Tháng trước tôi đến thăm một người bạn ở Mỹ, một người thường ủng hộ đảng Cộng Hòa và đã hai lần bỏ phiếu bầu ông Bush. Trên bàn ở phòng khách tôi thấy một cuốn sách chế nhạo ông tổng thống đương nhiệm. Mỗi trang có một cái hình ông Bush với một câu ông đã nói, và người làm sách cố ý chọn những câu ông nói sai, nói nhầm, hoặc nói ngớ ngẩn vì dùng chữ không đúng chỗ. Người bạn thú nhận là đứa con anh đã mua tặng bố cuốn sách đó.

Làm tổng thống một nước tự do dân chủ dễ bị xúc phạm hơn làm chủ tịch xã ở một nước độc tài cộng sản. Vì ở một nước dân chủ người lãnh đạo rất khó kiện dân ra tòa; luật lệ ở Mỹ không bênh vực những “nhân vật của công chúng” khi họ bị người dân nói xấu. Dân chúng, nhất là báo chí, được tự do phê phán những nhân vật nổi danh, “trước khi” tìm chứng cớ để minh xác. Tại sao vậy? Vì người dân cần được nghe những thông tin nóng hổi, họ có quyền biết tin càng sớm càng tốt. Do đó, các ông tổng thống, dân biểu, thị trưởng, cho tới các tài tử, danh ca, lực sĩ, vân vân, phải chịu hy sinh.

Làm chính trị ở một nước tự do dân chủ là chịu thiệt thòi như vậy. Dân tha hồ phê phán lãnh đạo, nhưng lãnh đạo mà nói lỡ lời có ý chê dân thì coi chừng! Ông Tổng Thống George W. Bush mới bị nạn chỉ vì lỡ lời. Tháng trước ông sang Ðức, được bà Thủ Tướng Angela Merkel mời ăn. Ðúng mùa măng tây (asparagus) mới, bên Ðức họ gọi là “Spargelzeit,” ông tổng thống Mỹ được nếm món măng tây. Ăn xong, ông xuýt xoa nói với nhà báo rằng Spargel ở Ðức ngon tuyệt trần! Có thế thôi. Nhưng ông Bush đã làm các nhà nông trồng măng tây ở Mỹ nổi giận! Nghị Sĩ Patty Murray (Dân Chủ) và Dân Biểu Doc Hasting (Cộng Hòa), cả hai đại diện tiểu bang Washington trồng nhiều măng, đã phản kháng bằng cách gởi 5 ký măng tây đến Tòa Bạch Ốc yêu cầu ông tổng thống nếm thử. Ông Bush đã được bà Laura cho nếm, sau đó ông đã gửi thư cảm ơn hai đại biểu quốc hội, với lời khen, “măng tây Mỹ thuộc loại ngon nhất thế giới!”.

Gia đình Tổng Thống Bush hay gặp nạn vì món rau. Năm 1990, thân phụ ông, Tổng Thống George H.W. Bush đã thành thật thú nhận rằng ông không thích ăn rau “broccoli.” Ông lại phát biểu ngay giữa một cuộc họp báo, “Từ bé tôi đã không thích broccoli rồi mà cứ bị má tôi bắt ăn. Bây giờ tôi là tổng thống Hiệp Chúng Quốc Mỹ Châu, và tôi sẽ không ăn broccoli nữa!” Ngay sau đó, các nhà trồng broccoli ở California đã phản đối bằng cách chở 5 tấn broccoli đến đổ ra trước Tòa Bạch Ốc. Nói là “đổ ra” cho to chuyện, sự thật là sau đó họ đem vào biếu ông tổng thống 5 hộp rau và số còn lại đem tặng các cơ quan từ thiện nấu cơm cho dân nghèo ở thủ đô Washington.

Những vị tổng thống ở một nước dân chủ bị dân “mắng chửi” là chuyện thường. Nhưng chính vì thế mà khi trở về đời sống thường dân, họ được mọi người thương. Ở các nước độc tài thì người dân sợ “lãnh đạo” như sợ cọp. Nhưng khi các lãnh tụ chết rồi, họ chỉ sợ có người đến xúc phạm mồ mả; cứ phải lo cho lính gác đêm ngày!

Một nhà tỉ phú gốc Phi châu, ông Mo Ibrahim, nhận xét về giới lãnh đạo ở các nước thuộc lục địa đen này: “Các nhà lãnh tụ Phi châu nghĩ tới lúc về hưu như thấy cái bờ vực thẳm! Rớt công đó là lâm vào cảnh nghèo khó hoặc sẽ bị trả thù.” Ông Mo Ibrahim đã lập ra một hội tư tên là Ibrahim Foundation, và đặt một giải thưởng “Lãnh đạo Phi châu Thành công” cho các nhà cầm quyền được chấm là đã giúp dân, giúp nước và tôn trọng dân chủ tự do. Giải này, trị giá một triệu đô la Mỹ, là một cách giúp các nhà lãnh đạo liêm khiết và có khả năng có thể “về hưu” an toàn dù không tham nhũng.

Quỹ Ibrahim chấm điểm các vị tổng thống hoặc thủ tướng Phi Châu trong suốt ba năm, theo các tiêu chuẩn tập hợp thành một “chỉ số cai trị tốt.” Chỉ số này thẩm lượng các nhà chính trị thuộc 48 quốc gia trong lục địa, phần phía dưới sa mạc Sahara. Ðại khái, các tiêu chuẩn nhằm đo lường về chính quyền tôn trọng pháp luật, bài trừ tham nhũng, tôn trọng nhân quyền, khuyến khích dân tham gia vào việc nước, phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh cho dân. Sau cuộc thẩm lượng từ 2005 đến 2007, Quỹ Ibrahim đã tặng giải thưởng đầu tiên cho Tổng Thống Joaquin Chissano, xứ Mozambique. Ông Chissano đã hướng dẫn nước ông thoát khỏi cảnh nội chiến sau khi từ bỏ chế độ cộng sản, đã đưa dân ông đến cảnh thịnh vượng trong một thập niên, rồi sau đó đã rời khỏi chính quyền. Ông Ibrahim nói, “Tôi thật là khâm phục khi muốn tìm ông ta để báo tin muốn trao giải cho ông, mà không tìm thấy. Sau mới biết bữa đó là sinh nhật ông Chissano mà ông ta thì đang đi “vào rừng” ở vùng giữa biên giới các nước Uganda, Sudan,” với mục đích hòa giải chính phủ Uganda và một nhóm phản kháng chính phủ này.

Ông Mo Ibrahim sinh năm 1946 ở Sudan, lớn lên được bố mẹ cho sang ở Ai Cập, học đại học bên Anh nhờ học bổng. Sau khi ra trường, ông làm trong ngành viễn thông ở Anh. Năm 1998 ông mở một công ty viễn thông để phổ biến điện thoại di động trong các nước Phi Châu. Năm đó cả lục địa này chỉ có 2 triệu điện thoại di động. Ðến năm 2005 đã có hơn 100 triệu, đó cũng là năm ông Ibrahim bán công ty của ông lấy 3.4 tỉ đô la Mỹ.

Ðiều ông Ibrahim nhận xét về các lãnh tụ Phi châu cũng đúng với những lãnh tụ các nước độc tài khác, đặc biệt là ở các nước cộng sản. Khi một chế độ chỉ cai trị bằng công an, cảnh sát, thì họ bị dân ghét. Cứ đụng nói chê lãnh tụ một câu là bị kết tội xúc phạm lãnh đạo, ai mà thương được? Vì bị dân ghét, cho nên chính các lãnh tụ cũng sợ dân. Khi phần lớn nền kinh tế nằm trong tay nhà nước thì khi các công chức đến các nhà chính trị bị buộc rời khỏi nhà nước là tay trắng, không còn gì nữa. Vì thế mà họ phải tham nhũng nhiều hơn, để lo cho tương lai mình và con cháu mình. Họ càng tham nhũng càng phải độc tài hơn, để bảo vệ quyền tham nhũng! Thế là dân lại thù ghét, oán hận hơn!

Như ý kiến của ông Ibrahim, muốn thoát khỏi vòng luẩn quẩn đó thì phải thiết lập các định chế dân chủ và kinh tế thị trường thật sự. Khi kinh tế phát triển, ông Ibrahim nói, những nhà chính trị về hưu vẫn có thể làm cho các xí nghiệp kinh doanh. Ở những nước như Mỹ, các nhà kinh doanh vào chính trường là hy sinh lợi tức, từ hàng trăm triệu công cỡ trăm ngàn đô la một năm. Nhưng muốn tiến đến tình trạng đó, phải có dân chủ tự do. Còn kéo dài chế độ độc tài là cứ chui mãi trong cái vòng luẩn quẩn. Nước ta cần nhiều nhà thơ trào phúng như các ông Trần Quốc và Lương Văn Quý. Phải tập cho người dân cảm thấy tự do, an toàn khi phê phán các quan chức, từ tổng bí thư đảng trở xuống. Nếu cứ bắt người dân phải sợ hãi, thì gây nên cảnh dân sợ quan, quan cũng sợ dân, cái vòng luẩn quẩn không bao giờ thoát ra được!

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Hòa hợp - Hòa giải
Tác giả: Anh và Em.


Đối thoại giữa hai nhân vật: Anh và Em.
Anh: Này chú, đã mấy mươi năm rồi, thù hận mãi thế. Anh em ta bắt tay hòa giải, hòa hợp đi thôi.

Em: "Hòa giải hòa hợp"?

Anh: Ấy chú. Anh đã gác bỏ sang một bên những hiềm khích để anh em ta cùng ngồi lại với nhau xây dựng ngôi nhà chung của anh em mình. Thế, không hòa giải để hòa hợp thì là cái đếch gì? Chú cố chấp bỏ mẹ.

Em: Thế, anh đã gác bỏ những hiềm khích thế nào?

Anh: Ấy. Chú không thấy hay vờ không thấy đấy? Thì anh đã mở cửa cho chú về nhà, anh đã có những chính sách ưu đãi chú hẳn hòi. Chú thử so ngày trước và ngày nay thì thấy. Anh mở rộng cửa đón chú rồi mà.

Em: Nhưng... ngày trước anh cướp nhà của tôi và biến nó thành nhà của anh.

Anh: Ấy. Anh đâu còn làm thế nữa.

Em: Nhưng... anh vẫn ở trong ngôi nhà của tôi mà anh đã cướp lấy.

Anh: Thì thế anh mới bảo là chúng ta cần hòa giải, hòa hợp chứ lị?

Em: Nhưng... anh vẫn nghiễm nhiên trở thành chủ của căn nhà của tôi.

Anh: Thì thế... chúng ta phải hòa giải.

Em: Thế nào là hòa giải, hòa hợp? Hòa giải có nghĩa là chúng ta xung đột với nhau. Tôi cướp cái này của anh, anh thuổng cái kia của tôi. Giờ đây, để "hòa giải", anh trao lại cho tôi cái của tôi và tôi trao lại cho anh cái của anh. Thực tế anh lấy hết, đuổi tôi ra khỏi nhà; tôi là nạn nhân, còn anh là kẻ gây ra thảm nạn, vị thế khác nhau như thế thì làm sao hòa giải?

Anh:A: Chú cứ thế mãi. Chú thù hận dai dẳng quá. Ai bảo chú không có gì nào? Chú có kiến thức, tiền của, còn anh thì có cái nhà. Chú về sống với anh, mang tiền của và kiến thức của chú về để chúng ta cùng xây lại ngôi nhà chung.

Em: Nghe thì tốt nhưng thật sự anh vẫn tự cho mình là "gia trưởng". Tôi về nhà anh, tôi vẫn phải tuân theo luật lệ, quy định của anh. Có cái gì bảo đảm rằng anh sẽ không cướp hết tiền của của tôi, tẩn cho tôi một trận và đuổi tôi ra khỏi nhà một lần nữa?

Anh: Chú mày nói thế không sợ anh phiền sao? Anh đã bảo chú là anh thật sự muốn hòa giải cơ mà.

Em: Thì anh bảo thế nhưng cho đến nay tôi vẫn chưa thấy anh chứng tỏ một điều gì về thiện ý của anh cả. Ngay cả một lời xin lỗi của anh cũng chẳng có thì làm sao hòa giải?

Anh: Ơ hay. Anh mà mở mồm xin lỗi chú thì thiên hạ có mà đại loạn. Thế thì không ổn đâu. Chú cứ nghĩ rằng anh đã ngầm xin lỗi chú đi. Anh không thể chính thức xin lỗi chú được vì làm thế hóa ra anh sai sao? Anh không thể sai được.

Em: Nếu anh không thể sai được thì hòa giải ở đâu?

Anh: Chú mày nỏ mồm thật đấy. Nhưng anh có sai bao giờ mà đòi hỏi anh xin lỗi? Chú mà toa rập với kẻ cướp, anh đánh cho chú và kẻ cướp chạy bay, chạy biến là việc đúng sao đòi hỏi anh xin lỗi?

Em
: Anh đúng. Anh đã đánh đuổi đám kẻ cướp và tôi chạy biến nhưng con cái của tôi có tội tình gì mà anh đày ải chúng khiến cho cho bao nhiêu năm trời chúng sống không được mà chết cũng không xong. Chúng phải rủ nhau trốn chạy khỏi sự hà khắc của anh. Điều ấy đúng hay sai?

Anh: Chú rõ tởm. Đánh bọn phản động thì phải đánh tận gốc không thì làm sao giữ yên được nhà cửa?

Em: Ôi thế có nghĩa là lúc này tôi và lũ con tôi đã không còn là phản động?

Anh: Chú mày và lũ con của chú mày vẫn phản động tợn ấy chứ lị nhưng anh đây khoan hồng và rộng lượng nên mới kêu gọi hòa giải, hòa hợp. Chú mày không biết ơn còn vặn vẹo anh.

Em: Tôi không vặn vẹo anh. Tôi chỉ cần xác định vị trí của tôi. Liệu ý kiến của tôi được anh tôn trọng hay không?

Anh: Chú mày đòi hỏi quá thể đấy. Chú mày có ý kiến, ý ruồi gì cũng được tất nhưng anh vẫn phải là gia chủ, rõ chửa? Anh phải nắm vận mệnh của ngôi nhà này không thì chú mày đuổi anh ra đường làm ăn mày thì hỏng bét.

Em: Hòa giải? Hòa hợp?

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã
Tác giả: Hoàng Ngọc Nguyên


Những tưởng Rhodesia đã được độc lập từ năm 1980, nay được thế giới biết dưới tên Zimbabwe, sẽ không còn mấy cơ hội thu hút sự chú ý của dư luận thế giới. Nhưng từ một chế độ thực dân thuộc địa, đất nước này đã chuyển qua một nền độc tài còn hà khắc hơn thời Ian Smith còn làm toàn quyền, và vững chắc còn hơn chế độ độc tài quân phiệt ở Myanmar. Sự tàn sát đảng phái đối lập và khai thác người dân ở Zimbabwe đã khiến cho Hội đồng Bảo An (HĐBA) của Liên Hiệp Quốc tuần qua phải bỏ phiếu để thông qua một kế hoạch trừng phạt chế độ ở Harare. Với tính cách là nước chủ tịch luân phiên của HĐBA, lần đầu tiên Việt Nam có vinh dự không những có mặt trong những lá phiếu quan trọng đó, mà cũng là lần đầu tiên Việt Nam có cơ hội chứng tỏ sự phát triển và trưởng thành chính trị, sự cam kết với những giá trị dân chủ, tự do của mình. Trong 15 phiếu đươc ghi nhận vào hôm thứ Sáu, 11-7, Việt Nam đứng chung nhóm với Nam Phi, Lybia, Trung Quốc, và Liên bang Nga.

Image
Hình trái, Tổng Thống Zimbabwe Robert Mugabe. Hình phải, những người dân bị đàn áp trước tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Harare, Zimbabwe.AFP/Getty Images

Vụ án Zimbabwe Tổng thống Robert Mugabe, năm nay 84 tuổi, đã là thủ tướng, rồi tổng thống Zimbabwe, kể từ khi kết thúc cuộc chiến tranh trong bụi (the bush war) chống nhà cầm quyền thực dân ở Salisbury. Hai mươi tám năm là thời gian khá dài cho một người “may mắn” được làm lãnh tụ trọn đời như ông ta làm nên sự nghiệp lớn cho dân giàu nước mạnh. Nhưng ở ông, người ta chỉ nhớ đến ba chuyện. Thứ nhất, nhất quyết làm tổng thống trọn đời, cho dù đối lập có chống đối như thế nào; thứ nhì, ông tiêu diệt đối lập thẳng tay, mà người đầu tiên nạn nhân của ông chính là người đồng chí trung kiên trong cuộc chiến tranh giải phóng: lãnh tụ N’komo, và; thứ ba, ông duy trì quyền lực bằng một chính sách khủng bố tàn bạo đối với người dân – nghĩa là không chỉ đối với các chính khách “tham vọng”. Với người đối lập, ông bắt cóc, ám sát, bỏ tù, tra tấn, thủ tiêu… Với quần chúng đối lập, ông thẳng tay tiêu diệt cả gia đình. Với những bộ lạc không cùng chủng tộc, sắc dân với ông, ông cũng áp dụng trở lại cuộc chiến tranh trong bụi với họ: đốt nhà, hãm hiếp, phá hoại mùa màng, bố ráp… Kinh tế lạc hậu, nghèo đói, bệnh tật, người dân phải tìm cách trốn qua nước Nam Phi láng giếng.


Vừa qua, Zimbabwe lại tổ chức bầu cử tổng thống. Một cuộc bầu cử cả thế giới quan tâm. Liên Hiệp Quốc gởi quan sát viên quốc tế đến. Báo chí trên thế giới cũng đổ về. Mặc dù bầu cử trong áp bức, gian lận, nhưng người dân vẫn tìm cách nói lên sự kinh tởm của họ đối với độc tài, toàn trị. Cho nên đảng đối lập đã giành được số phiếu cao nhất, dù chưa đủ túc số một nửa để chiến thắng trong cuộc bầu cử ngày 29-3. Ai cũng biết vì gian lận mà họ không thắng ngay được trong keo đầu. Trong hai tháng vận động cho vòng nhì giữa hai người nhiều phiếu nhất, Mugabe thẳng tay khủng bố phía đối lập. Người ta nói có đến hơn 200,000 người phải bỏ chạy. Có đến 5,000 người bị mất tích. Bị giết có đến 113 người. Cho nên ứng cử viên tổng thống Morgan Tsvangirai của Phong trào Chuyển biến Dân chủ (Movement for Democratic Change) quyết định không chơi nữa. Và Mugabe độc diễn trong vòng nhì ngày 29-6.


Hội đồng Bảo An vì thế quyết ra tay trừng phạt. Những nước ủng hộ việc trừng phạt là Bỉ, Burkina Faso, Costa Rica, Croatia, Pháp, Anh, Ý, Panama và Mỹ. Mỹ, Anh, Pháp là ba nước hội viên thường trực. Hai nước hội viên thường trực khác là Nga và Trung Quốc lại bỏ phiếu chống. Do đó, nghị quyết này không thông qua được vì không đạt được nguyên tắc nhất trí. Cách bỏ phiếu cũng giống như thời Chiến tranh lạnh. Một bên là các nước phương tây đồng minh. Bên kia là khối các nước Cộng Sản cũ.

Cơ hội ngoạn mục


Nam Phi chấm dứt chế độ kỳ thị chủng tộc apartheid năm 1994 một cách hòa bình, thông qua một cuộc bầu cử dân chủ đưa Nelson Mandela, người tù lâu năm của nước Anh, lên làm tổng thống đầu tiên. Nay Zimbabwe là một nước dân chủ, đang tìm cách hạn chế quyền lực kinh tế của người da trắng và thúc đẩy người da đen đi lên. Người Hoa ở Nam Phi nay cũng được xem là người da đen để được nâng đỡ! Quan hệ giữa Nam Phi với Zimbabwe là quan hệ tế nhị, không chỉ là láng giềng, mà chính phủ Johannesburg còn phải giải quyết vấn đề dân tỵ nạn của Zimbabwe lên đến hàng triệu người. Lá phiếu của họ chống việc trừng phạt Zimbabwe là lá phiếu hiểu được. Họ không muốn mất lòng những người ở Harare làm cho việc giải quyết những vấn đề “đôi bên cùng quan tâm” bị bế tắc. Lybia cũng bỏ phiếu chống lại việc trừng phạt. Đây cũng là điều dễ hiểu. Đại tá Kadaffi, người cầm quyền ở Tripoli từ năm 1969, đến nay đã ngót 40 năm, cũng rửa mãi mà không sạch những vết máu bám đậm trong các móng tay, còn thì giờ đâu mà xía vào chuyện người khác.


Chỉ còn trường hợp của ba nước còn lại trong danh sách năm nước bỏ phiếu chống trừng phạt. Việt Nam, Trung quốc, và Nga. Cuộc bỏ phiếu nay là một cơ hội ngoạn mục cho Hà Nội. Trong khi các nhà lãnh đạo Việt Nam đi Tây, đi Tàu nói đủ chuyện quảng cáo cho chế độ chính trị dân chủ kiểu mới của mình, có sức thuyết phục mạnh nhất vẫn là sự thể hiện bằng hành động. Tuy Việt Nam đã đổi mới kinh tế từ năm 1986, người ta không tìm ra được một mốc đổi mới chính trị – vì cái mốc đó chưa có. Giả thử như hôm thứ Sáu vừa qua, Việt Nam với tính cách chủ tịch của HĐBA bỏ phiếu lên án Zimbabwe, lá phiếu đó sẽ trở thành lịch sử trên nhiều mặt. Nó chính là cái mốc đổi mới chính trị. Báo chí quốc tế hẳn phải chạy những tít lớn “tám cột”. Thế giới nay phải nhìn Việt Nam với một cặp mắt ngưỡng mộ. Người ta phải nói “Việt Nam nay đã khác xưa”, như một ông ngớ ngẩn nào đó viết gần đây.

Nhưng điều ngoạn mục đó đã không xảy ra, mặc dù cơ hội để làm điều ngoạn mục không có bao nhiêu. Những người lãnh đạo ở Hà Nội chống sự trừng phạt tuy vẫn tiếp tục nói rằng công cuộc đổi mới của họ là toàn diện trên cả hai mặt chính trị và kinh tế, và tự do và dân chủ là những giá trị “mà Việt Nam đã đổ máu tranh đấu trong suốt quá trình cách mạng để giành lấy chúng”. Thời xưa người ta vẫn nói “ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”, và Việt Nam sẵn sàng ủng hộ cuộc cách mạng đấu tranh của các dân tộc bị áp bức trên thế giới – dù là chỉ trên lời nói hô hào. Ngày nay thì người ta nói “đó là chuyện nội bộ của các nước”, Viêt Nam không can thiệp vào. Cho dù chỉ là một biểu lộ quan tâm.

Lá phiếu của Việt Nam cho thấy một điều bên trong và một điều bên ngoài. Hai điều này tổng hợp lại là sự xác định con đường đi của Việt Nam. Điều bên trong, Việt Nam sẽ không dám để có một cơ hội tạo sự hiểu lầm nào trong dân chúng về sự quyết tâm trong vấn đề duy trì sự lãnh đạo độc tôn của Đảng Cộng Sản Việt Nam và về sự “vững mạnh” của chế độ trong việc theo đuổi chủ trương đó. Họ không làm bất cứ điều gì có tính cách nguy hiểm, phiêu lưu. Sự cảnh cáo đó không chỉ nhằm vào dân chúng, báo chí, tôn giáo… mà còn có một phần nhằm vào ngay cả những người trong đảng muốn có “Mùa Xuân Saigon” như Mùa Xuân Prague cách đây đúng 40 năm.

Trục tư bản toàn trị

Tổng thống George Bush, và chẳng riêng gì ông mà còn nhiều người Mỹ, vẫn ngây thơ tin rằng Mỹ có khả năng dùng củ cà rốt để kéo Việt Nam vào quỹ đạo của mình, thoát khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc, và trở thành đồng minh của Mỹ trong chiến lược của Hoa Kỳ về vùng châu Á và Thái Bình Dương. Nhiều người tin rằng viên trợ, hợp tác về giáo dục, y tế, kinh tế… sẽ đủ sức làm một “diễn biến hòa bình” – khi người miền nam sẽ đủ sức ép Hà Nội chấp nhận thay đổi. Nhớ lại thời Minh Trị Thiên Hoàng, chỉ vài chiếc tàu chiến của Đô đốc Robert Perry cập bến Yokohama vào năm 1853 mà thay đổi được cả nước Nhật, cho nên Mỹ cũng cho tàu chiến vào Đà Nẵng cho người ta nhìn. Người Mỹ không hiểu thay đổi bây giờ khó hơn thời trước khi người ta còn bảo thủ. Vì ngày nay người ta thực dụng hơn. Thế giới toàn cầu hóa, Trung Quốc nay đã nắm được Đài Loan bằng cách mở cửa cho Đài Loan xâm nhập kinh tế, có những xu hướng làm sao Mỹ hiểu được – chưa nói đến kiểm soát được.

Trong thời chiến tranh lạnh, Liên Xô, Trung quốc và Viêt Nam có những gắn bó “đồng chí”. Nay thì người ta chuyển qua mô hình “tư bản toàn trị” (totalitairn capitalism), những trường hợp “thành công” này lại gắn bó với nhau “trong những mối quan hệ truyền thống hữu cơ có tính cách lịch sử” là chuyện đương nhiên. Để xây dựng một “ý thức hệ” mới, người ta cần vai sánh vai. Để có được những dẫn chứng thích hợp, người ta phải dựa lưng nhau. Để chống lại sức ép của những nước phương tây, người ta cần liên kết với nhau.

Những nhà lý thuyết tư bản toàn trị cho rằng đó là mô hình thỏa mãn khát vọng đổi đời của người dân hàng thập niên bị dìm sâu dưới vực thẳm nghèo đói lạc hậu của thời cộng sản mà vẫn giữ được sự ổn định chính trị. Sự ổn định này chính là sự duy trì cái “thượng tầng kiến trúc”, cái thiểu số đặc quyền đặc lợi của “chế độ cũ” gồm những giới tướng tá, công an… là công cụ ghê gớm nhất của chuyên chính vô sản cũ để cho họ hợp tác và không đe dọa những đổi mới.


Cho nên không có gì lạ trong việc bất chấp sự theo dõi hiếu kỳ của nhũng người quan sát quốc tế, Nga, Tàu và Việt lại có dịp đứng chung trên một chiến tuyến. Việt Nam đã cho thấy Trung Quốc có thể bỏ Việt Nam, nhưng Viêt Nam bao giờ cũng theo hoặc Bắc Kinh hoặc Moscow.

Những nhà nghiên cứu chính sách đối ngoại của Mỹ một khi Bush ra đi cần ghi nhận sự kiện này để thấy rõ hai điều: thứ nhất, như Tổng thống Mevedev do Putin – cử (the Putin-designated President Mevedev) của Nga nói: Mỹ không có quyền gì đưa ra bài học nào cho thế giới hay muốn dẫn dắt thế giới khi chính bản thân Mỹ đang rối rắm gỡ không ra; thứ hai, như nhà bình luận Roger Cohen của International Tribune viết, Nga ngày nay cũng kinh khủng không kém Liên Xô thời trước. Vì Nga ngày nay còn có một phần dân chúng ủng hộ. Do đó, Mỹ phải hiểu cái trục tư bản toàn trị Moscow-Pekin-Hà Nội này có thể còn nguy hiểm hơn trục tội ác “Bắc hàn-Iran-Iraq” của ông Bush “thời xưa”. (HNN)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Việt Nam: Đảng Mê Ngủ, Nhà Nước Mê Chơi :
Dân Chưa Tìm Ra Gạo, Hơi Đâu Nghe Chuyện Trên Trời?

Tác giả: Phạm Trần

Hoa Thịnh Đốn.- Đảng Cộng sản Việt Nam có thói quen bỏ chuyện lớn, làm to chuyện nhỏ để mê ngủ nhân dân quên đi những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày.


Việc này đã được Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư đảng chứng minh thêm lần nữa khi khai mạc Hội nghị Trung ương đảng kỳ 7, từ 9 đến 17-7 (2008) để thảo luận và thông qua các đề án về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”; “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế”; “Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn”.


Theo lời Mạnh, “Cũng tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương sẽ nghe báo cáo, thảo luận và cho ý kiến về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2008 và một số vấn đề khác.”
Đáng lẽ ra “tình hình kinh tế - xã hội” phải được ưu tiên thảo luận mới đúng với hòan cảnh hiện nay của Việt Nam, vì đại đa số 87 triệu dân đang lâm vào cảnh chưa ăn bữa sáng đã lo đi tìm bữa tối để đối phó với tình trạng lạm phát lên cao gần 30 phần trăm, và nạn vật gía leo thang vô tội vạ đang vét sạch túi đồng lương chưa tiêu đã cạn.


Nhưng đảng của Hồ Chí Minh đã vô cảm trước hòan cảnh nghiệt ngã của người dân để ưu tiên thảo luận trong kỳ 7 việc tìm cách "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên" để "Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau."

Mạnh nói : " Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên lúc này chẳng những là trách nhiệm và tình cảm của Đảng, của thế hệ đi trước đối với thanh niên, mà còn nhằm bồi dưỡng thế hệ chủ nhân của hiện tại và tương lai đất nước, lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa."

Rõ ràng là Mạnh đã chỉ biết đặt quyền lợi của thiều số trên 3 triệu đảng viên trên quyền lợi bức thiết của 84 triệu dân còn lại.

Vấn đề vô bổ thứ hai là việc "Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế."

Tại sao cho đến bây giờ, sau hơn 20 năm Đổi mới, đảng CSVN mới biết mở mắt nhận ra vào trò quan trọng của đội ngũ trí thức trong việc xây dựng đất nước ? Nhưng ai cũng biết đảng này chỉ trông vào Trí thức khi họ có nhu cầu để tồn tại như đã chứng minh trong thời kỳ tiền và hậu "Cách mạng Tháng Tám" 1945.
Khi đã nắm được chính quyền, củng cố được vị trí chính trị và quân sự thì Trí thức lần lượt bị loạI ra rìa, và các Đảng phái Cách mạng không là đồng minh với Hồ Chí Minh cũng lần lượt bị triệt hạ như lịch sử đã làm chứng.

Nạn nhân sau cùng trong chuỗi dài lịch sử "vắt chanh bỏ vỏ" của đảng CSVN là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CMLTCHMNVN) của tổ chức này đã bị "loại khỏi chính trường không kèn không trống năm 1976", chỉ sau một năm quân Cộng sản miền Bắc, được Nga – Tầu yểm trợ, chiếm và thống trị miền Nam.

Hai nhân chứng Trương Như Tảng, Bộ trưởng Tư Pháp và Bà Bác sỹ Dương Quỳnh Hoa, Thứ trưởng Bộ Y tế của Chính phủ CMLTCHMNVN đã quay lưng chửi lại đảng CSVN như thế nào, sau 1975, vẫn còn rành rành ra đấy.

Vậy mọi người có thể đọc được gì trong "tư tưởng của đảng" khi Nông Đức Mạnh tuyên bố trước Hội nghị 7 : "Trước sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình quốc tế và trong nước, trí thức ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước và đang đứng trước những đòi hỏi cao và yêu cầu mới, cả thời cơ lớn và những thách thức gay gắt. Đảng cần tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo đối với trí thức. Chúng ta phấn đấu để đến năm 2020, xây dựng được đội ngũ trí thức có chất lượng cao, số lượng đông đảo và cơ cấu hợp lý, từng bước tiến lên ngang tầm với trình độ của trí thức trong khu vực và thế giới. Gắn bó vững chắc giữa Đảng với trí thức, giữa trí thức với Đảng, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công - nông – trí."

Thì ra, chỉ khi đối mặt với nhu cầu của hội nhập với Thế giới văn minh và đứng trước sự thay đổi qúa mau của khoa học và kỹ thuật lãnh đạo đảng CSVN mới nhận thấy họ cần phải có sự tiếp tay của đội ngũ Trí thức, những người có học, biết suy nghĩ phóng khóang và nhìn xa hơn lớp cán bộ, đảng viên bảo thủ.
Nhưng đảng vẫn còn coi thường, hạ thấp để "cai trị" trí thức nên Mạnh đã đặt Trí thức đứng sau cùng, dưới cả Công nhân và Nông dân (Công-Nông-Trí) .

Thuở xưa, Cha Ông ta không bao giờ dám đặt hàng Sỹ đứng sau lưng các thành phần khác trong xã hội nên mới sắp theo thứ tự Sỹ-Nông-Công-Thương để tỏ lòng ngưỡng mộ và tôn trọng nhân tài.

Vì thái độ coi Trí thức không bằng đảng viên nên dù nhiều nơi đã trải thảm đỏ để mời sinh viên giỏi ra trường về làm việc vẫn rất ít người hưởng ứng.

Ngay cả công chức-chuyên viên đang làm việc cho Nhà nước cũng phải bỏ việc chạy qua các công ty tư nhân hay nước ngoài, hoặc tự làm để có đồng lương khá hơn số lương chết đói của nhà nước và thái độ coi thường trí thức của các Thủ trưởng, Giám đốc ít học của đảng.

Một bài báo trong nước ngày 17/06/2008 viết : "Chỉ trong một thời gian ngắn, các quận huyện, sở ngành trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh phải đối mặt với sự ra đi của nhiều cán bộ công chức (CBCC) thạo việc. Trong một báo cáo gửi Bộ Nội vụ mới đây, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Nguyễn Thành Tài thống kê: từ tháng 7-2003 đến tháng 12-2007, TPHCM có 6.422 CBCC, viên chức thôi việc. Trong đó khối quản lý nhà nước (kể cả CBCC xã-phường): 698 người; khối sự nghiệp Giáo dục: 3.034 người; khối sự nghiệp Y tế: 849 người và sự nghiệp khác là 1.841 người. Đây là con số thống kê chưa đầy đủ."

Nhiều Trí thức trong nước đã công khai than phiền họ không được giao công việc với sở trường chuyên môn của họ, hoặc được giao thì lại không đủ phương tiện làm việc. Ngoài ra, thủ tục làm việc qua hệ thống quan liêu, bè phái và thủ tục hành chính rườm rà của đảng và nhà nước còn là một gánh nặng khác đối với đội ngũ trí thức nên mức đóng góp rất kém so với nhu cầu.

Tình trạng này cũng được Mạnh nhìn nhận trong diễn văn khai mạc kỳ họp 7: "Tuy nhiên, số lượng, chất lượng và cơ cấu của đội ngũ trí thức chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển. Số chuyên gia đầu ngành còn thiếu, đội ngũ kế cận hẫng hụt. Trong nước chưa có nhiều tập thể khoa học mạnh. Hoạt động nghiên cứu khoa học còn nhiều mặt thiếu gắn bó mật thiết với thực tiễn. Các thành tựu nghiên cứu và ứng dụng đạt được rất đáng trân trọng, song so với tầm thế giới và khu vực còn khoảng cách khá xa. Công tác xây dựng đội ngũ trí thức có nhiều kết quả, nhưng cũng còn không ít hạn chế, khuyết điểm."

NGƯỜI CẦY MẤT RUỘNG

Vấn đề thứ ba được thảo luận tại Hội nghị 7 là vấn đề "nông nghiệp, nông dân, nông thôn", nhưng tại sao phải đợi đến khi nông dân mất ruộng cầy cho các khu công nghiệp mở mang bừa bãi, cho các sân Golf kiếm tiền khách nước ngoài và Tư bản đỏ; sau nhiều cuộc khiếu kiện chiếm đất, oan sai dai dẳng và sau khi nông dân buộc phải bỏ nghề nông đi làm nghề khác thì đảng mới thấy nguy cơ có ngày nông dân nổi loạn ?

Hãy nghe Bà Phạm Thị Chi Lan, nguyên Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nói với Báo Đại Đòan Kết ngày 14-7-2008 : " Bây giờ, nếu đem so thu nhập của người nông dân với các ngành nghề khác rõ ràng có một khoảng cách khá xa. Như ở Thái Bình, hơn 40% nông dân bỏ ruộng để đi làm việc khác. Thu nhập một hộ một năm khoảng 15 đến 20 triệu trong khi đi làm ngoài nhiều khi thu nhập có thể cao gấp vài ba lần. Tôi thấy bây giờ, ở các vùng nông thôn, lực lượng lao động trẻ bỏ làng đi nhiều quá. Ở quê chỉ còn lại người già, phụ nữ và trẻ em. Họ không thể đủ sức làm tăng năng suất, do vậy sản lượng lại càng thấp. Mà sản lượng thấp thì phải nhập. Đó chính là cái vòng luẩn quẩn."

Vì vậy, cuộc thảo luận tại Hội nghị 7 của đảng CSVN về "nông nghiệp, nông dân, nông thôn" chẳng qua cũng chỉ nhằm xoa dịu những bất mãn đã tràn đầy ly của nông dân.

Mạnh nhìn nhận những khuyết điểm đó khi nói : "Tuy nhiên, thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển, vẫn tồn tại nhiều khó khăn, yếu kém, khuyết điểm. Nông nghiệp phát triển kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt các nguồn lực; chuyển dịch cơ cấu và đổi mới cách thức sản xuất còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán. Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, thiếu quy hoạch, quy mô nhỏ, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu giải phóng nguồn lực, thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá ở nông thôn. Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tề - xã hội còn yếu, môi trường ngày càng ô nhiễm, khả năng thích ứng, đối phó với thiên tai còn hạn chế. Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn còn thấp, chênh lệch giàu nghèo đang có xu hướng doãng ra; số hộ nghèo còn lớn; phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc."

Như vậy đảng của Mạnh đã biết nông dân và nhân dân lao động đang phải bươn chải để sống còn như thế nào trong hòan cảnh của nền kinh tế đang bị đe dọa tụt hậu. Nhưng nếu chỉ nói cho mát lòng dân để hy vọng dân sẽ quên khi đói thì dù có xây dựng được mấy thế hệ Thanh niên nối nghiệp, hay có đào tạo được thêm mấy trăm ngàn Trí thức sẵn sàng làm tay sai cho đảng thì nông dân vẫn còn xa với ruộng, công nhân vẫn chưa thoát khỏi kiếp lao động làm tôi cho nước ngoài.

Đã đến lúc đảng thức dậy chưa hay còn mê ngủ để cho Nhà nước rong chơi lãng phí với đồng tiến đóng thuế của dân ? -/-

Phạm Trần

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Tiếng thở dài của người dân Việt Nam
Tác giả: Trần Khải Thanh Thuỷ


Em có nghe tiếng sấm
Báo một cơn mưa rào
Em có nhìn trời thẳm
Cháy bùng những vì sao

Em có nghe thời cuộc
Run trong từng cọng rau
Đói nghèo và dung tục
Nhận chìm bao thanh cao

Đã trở thành giả dối
Những câu thơ ngọt ngào
Đã trở thành tội lỗi
Nếu chỉ ngồi khen nhau

Hoa nở chẳng vì đâu
Khi vàng con mắt đói
Bởi xóm làng thương nhau
Bếp mỗi chiều vẫn khói

Sống mới khó làm sao
Nữa là còn tranh đấu
Nữa là còn sáng tạo
Nữa là còn yêu nhau

Khuất Quang Thuỵ
Bài thơ làm từ giữa thập kỷ 80, khi nhà cầm quyền vì dốt nát, tham tàn, cố tình dồn con dân vào ngõ chết:

"Gạo 13 ký, suốt tháng cháo thừa cơm thiếu , quanh năm no cậy nước
Vải vừa bốn ngàn phân, quanh năm quần thiếu, khố thừa, suốt đời ấm nhờ da"

Cũng chính vì ấm nhờ da, no cậy nước, cháo thừa cơm thiếu, quần thiếu, khố thừa mà tác giả - một nạn nhân của thời cuộc và chế độ cộng sản phi nhân- dù là một nhà thơ, nhà báo quân đội, có nhiệm vụ dùng ngòi bút để ca ngợi chế độ, bảo toàn thành tựu, thành tích vĩ đại, quang vinh của đảng cộng sản cũng phải đau đớn thốt lên: Sống mới khó làm sao.

Khổ đầu tác giả viết về một hiện tượng thiên nhiên cũng là những điều vĩ mô trong cuộc sống:

Em có nghe tiếng sấm
Báo một cơn mưa rào
Em có nhìn trời thẳm
Cháy bùng những vì sao


Từ đó đưa ra một cái nhìn biện chứng, một quy luật tất yếu khách quan mang đầy triết lý nhân sinh.

Nước mắt Việt Nam (Nguồn: thewe.cc)

Tiếng sấm ì ầm khi vọng vang thống thiết, khi rền rĩ than van, chính là tiếng kêu rên của dân chúng đói nghèo trong cuộc sống vô cùng ngột ngạt, tù túng. Ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, bao nhiêu giá trị làm người bị tước đoạt, đồng thời còn là điềm báo trước của một sự đổi thay sấm rung chớp giật. Một cơn mưa số phận sẽ đến với số kiếp của 70 triệu con người nghèo nàn bất hạnh (thời điểm 1985)

Giữa bầu trời thăm thẳm, đầy mông lung, lạnh lẽo, tưởng chừng vô vọng, không sinh khí đã là những vì sao bùng chiếu, cháy sáng lên niềm hy vọng khôn nguôi của con người.

Khổ 2: Từ bầu trời xa xôi, diêụ vợi, tác giả đột ngột kéo ta xuống mặt đất, nơi diễn ra những điều vi mô, nơi con người quằn quại kéo lê một kiếp sống điêu linh khốn khó.

Em có nghe thời cuộc
Run trong từng cọng rau
Đói nghèo và dung tục
Nhận chìm bao thanh cao


Đồng lương đi làm cho nhà nước, không đủ để rau cháo qua ngày, cha nhìn con, vợ nhìn chồng, thương cảm ngao ngán rồi nhường con, nhường cháu theo kiểu: Con ăn ngon mẹ, vợ nhịn, no chồng...

Một thời cuộc khốn nạn do đảng cộng sản tạo lập trên cơ sở đói, rách, dốt...Chính vì thế mà bao nhiêu thanh cao, phẩm giá bị cuộc đời dung tục nhấn chìm. Thầy phải đạp xích lô, cô bưng bê rửa bát cho quán phở, nhà hàng, mẹ già bị đẩy ra đường ...Trước cửa chùa chiền, bao nhiêu bàn tay lật ngửa, những câu nói tang thương nghe xót lòng, tê tái:

- Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại! Hãy thương xót cho tấm thân già cả, bất hạnh này.

Và những câu trả lời nghìn lần chua xót hơn:

- Lấy đâu ra cụ ơi, toàn những người sống bằng đồng lương nhà nước cả, ăn còn chẳng đủ...

Bức tranh xã hội xám nghoét một màu ảm đạm. Chiều chiều gái bán hoa nhan nhản tụ tập dưới chân cầu, tượng bác, ven đường, kiếm sống bằng sự suy đồi đạo đức của lũ khách ăn sương, của cánh đàn ông trung niên, choai choai, háu gái, như câu thơ nổi tiếng của thời đại cộng sản:

Chiều chiều bên bến Ninh kiều
Dưới chân tượng bác, đĩ nhiều hơn dân


Sự thanh cao bị nhận chìm, cuộc sống chỉ còn lại sự đói nghèo, dung tục trên mảnh đất mang tên cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Khổ 3:Tác giả hướng ngòi bút của mình vào thể chế dối lừa trơ tráo. Thơ không được quyền sống cho mình mà chỉ sống cho nhiệm vụ ngợi ca, tuyên truyền, sáo rỗng.

Đã trở thành giả dối
Những câu thơ ngọt ngào
Đã trở thành tội lỗi
Nếu chỉ ngồi khen nhau

Nhà văn Khuất Quang Thụy

Nguồn: vtc.vn
Trong lúc thời cuộc đang run trong từng cọng rau, từng muỗng cháo, từng hạt mắm, hạt muối, cũng như trong từng manh quần, tấm áo...Thầy lên lớp với mảnh vá nơi đầu gối, cán bộ công nhân viên đi làm phải tích kê mông, hoặc áo vá vai, cổ lộn trái, lưng, gấu sờn bạt mép...nhưng tư tưởng, đầu óc, trí não vẫn phải hướng về đảng, đồng nhất mình với đảng cộng sản vô song, coi đảng như một đấng cứu thế, một niềm tin thiêng liêng vĩnh hằng...Nếu không sẽ bị tập thể, cán bộ tổ chức, lãnh đạo kết tội: Chính trị non yếu, lập trường tư tưởng không rõ ràng , nhân sinh quan có vấn đề v.v

Chỉ bằng 4 câu thơ giản dị , đầy sức nặng của suy tư, sức nén của ngôn từ, tác giả đã vạch trần bản chất thối nát, dối lừa, của chế độ cộng sản.

Khổ 4:

Hoa nở chẳng vì đâu
Khi vàng con mắt đói
Bởi xóm làng thương nhau
Bếp mỗi chiều vẫn khói


Không có bánh mì, thì hoa hồng cũng chẳng giúp ích gì trong cuộc sống... đã đói vàng mắt ra rồi, thì làm sao còn tâm trí để thưởng thức cái đẹp, điều thiêng liêng cao cả, thậm chí như một sự đối nghịch, trơ trẽn.

Ngọn khói lam mỗi chiều bốc lên trong mỗi mái nhà chỉ là tượng trưng, theo thói quen, để tự an ủi mình và an ủi xóm làng xung quanh, còn trong thực tiễn , ngay cả việc thoả mãn bần cố nông theo kiểu cha truyền, con nối: Cơm ba bát, áo ba manh, thuốc ba thăng (3 lần sắc) xem ra vẫn là điều khó, dù hàng nghìn năm trôi qua rồi song nỗi đói nghèo của triều đại phong kiến, đế quốc mục ruỗng thối nát vẫn hiện diện trong mỗi mái nhà, qua bao nhiêu số phận của người dân trong thời đại cộng sản , vừa "nhân đạo gấp triệu lần tư bản", vừa "cho dân" và "vì dân"


Khổ kết: Tác giả buông ra những lời nhận định, cũng là một định đề bất di bất dịch, như một chân lý sống trong thiên đường mù của chủ nghĩa xã hội.

Sống mới khó làm sao
Nữa là còn tranh đấu
Nữa là còn sáng tạo
Nữa là còn yêu nhau


Khi dạ dày thõng thành hình dấu hỏi, ngày đêm co thắt trong đầu, cuộc sống còn chật vật vì miếng cơm, manh áo, thời cuộc run trong từng cọng rau, từng mạch gân, thớ thịt, sợi tóc, tế bào , thì tìm đâu ra sự sáng tạo, tranh đấu? Con người chỉ còn là một sự vạ vật, sinh tồn, lê lết kiếp sống vô nghĩa khổ đau trên mảnh đất đói nghèo, dung tục đến hết đời. Tình yêu dù có muốn hoá thân vào các động tác tính dục nghìn đời, cũng bị dạ dày chi phối. Không cơm no, chẳng ấm cật, chỉ no cậy nước, ấm nhờ da, nên muốn dậm dật mọi đường, muốn thể hiện tình yêu với vợ hoặc chồng theo đúng những điều cha ông đúc kết: "đạo vợ chồng là trao xương, gửi thịt", cũng đành... chịu thua, chỉ câu nói muôn thưở thốt lên đầy bất lực: Sống mới khó làm sao!

Sau 22 năm thực hiện công cuộc đổi mới, bài toán kinh tế đã có lúc vượt lên như những ngọn sóng trồi lên trên mặt nước tù đọng , nay lại quay về vạch xuất phát ban đầu bởi lạm phát, suy thoái, giá chạy, lương nằm, kinh tế mang nghiệm âm, và câu thơ của thuở nghèo nàn, chết chóc, trước ngày đổi mới lại trỗi dạy trong lòng mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp dân nghèo thành thị và nông dân Việt Nam theo đúng quan điểm cai trị của đảng cộng sản "vĩ đại, quang vinh" :"Bần cùng hoá nông thôn, đô thành nông thôn hoá"

Bài thơ chính là nỗi lòng của tác giả, nói thay cho tiếng thở dài của gần 80 triệu người dân Việt Nam hiện tại giữa lòng đảng trị, công an hành, tham nhũng điều khiển, mọi gía trị làm người trong xã hội đều bị đảo lộn, tước đoạt, nhận chìm, không lối thoát.

Hà Nội 19-7-2008
Trần Khải Thanh Thuỷ giới thiệu và bình

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Nhiều Giải Pháp Hay, Nếu Biết Lắng Nghe

Bùi Tín
Paris 22-07-2008

Image
Hình (KQN Images/Vietnam Review): Nhà Báo Bùi Tín.


Ban lãnh đạo cộng sản này ''to gan lớn mật '' thật. Không biết bao nhiêu vấn đề lớn nhỏ, phức tạp, lưu cữu đối với 3 lĩnh vực chiến lược Trí thức, Thanh niên, Nông thôn, cộng với nền kinh tế tài chính trong cơn lạm phát - khủng hoảng, thế mà giải quyết vèo trong có một tuần lễ, tại Hội nghị TƯ 7.

Tìm hiểu kỹ tận gốc, các vị ở Văn phòng trung ương cho biết đây là theo lề lối làm việc ''hiện đại, chính quy ''(!). Đã 4 khóa nay, Trung ương chỉ họp xuân thu nhị kỳ thôi, mỗi năm vào tháng 2 và tháng 7. Nên nhiều vấn đề dồn vào một cuộc họp. Mời bạn chịu khó đọc 3 đoạn chính của 3 nghị quyết dưới đây:

...'' Phải đặt thanh niên ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo giáo dục bồi dưỡng thanh niên là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của đảng, phát huy vai trò quan trọng của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, gia đình, nhà trường và xã hội. Nhà nước quản lý thanh niên và công tác thanh niên, tạo điều kiện cho thanh niên phát triển và cống hiến, đồng thời khuyến khích, vận động thanh niên nỗ lực rèn luyện, tự thân phấn đấu theo tấm gương của Bác Hồ, coi đó là yếu tố quan trọng để xây dựng thế hệ thanh niên thời kỳ mới ''. Toàn là khẩu hiệu ! Cho 5 năm trước hay 5 năm sau đều được. Xin cố nghe tiếp:

...'' Từ nay đến năm 2020, chúng ta phải phấn đấu theo mục tiêu xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, đạt chất lượng cao, số lượng đông và cơ cấu hợp lý, từng bước tiến lên ngang tầm với trình độ trí thức của các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới; xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ, sức mạnh của đất nước, của đảng và của cả hệ thống chính trị ''. Về trí thức đấy. Mục tiêu ghê gớm. Nhưng vẫn toàn là khẩu hiệu. Kêu chan chát, nhưng suông ! Xin tiếp:

...'' Xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xây dựng nông thôn ổn định, giàu bản sắc dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ, nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo cuủ đảng, xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông trí, tạo nền tảng kinh tế xã hội và chính trị vững chắc, bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo đinh hướng xã hội chủ nghĩa''. Vẫn là công thức, là khẩu hiệu, là lưỡi gỗ đáng sợ đến phát khiếp.

Cho nên giải pháp đầu tiên cần kíp là: từ bỏ kiểu ra nghị quyết hình thức theo công thức và khẩu hiệu, rất chung chung, không có biện pháp cụ thể, đọc rất kêu nhưng trống rỗng. Những ''giải pháp'' chủ quan kiểu hô khẩu hiệu đang bị thực tế phủ định. Nghị quyết 7 nói về chống làm pháp, giữ giá... chưa kịp khô mực thì sáng nay giá xăng nhảy chồm lên 19 ngàn đồng/lít (tăng 1 phát 30%), chứng khoán gượng dậy 1 tuần lễ hy vọng vượt 500 điểm sáng nay lại chúi xuống 470 điểm, bài học sốt dẻo cho ai khai sinh ra Nghị quyết 7 sặc mùi ảo.

Sao không tổng hợp để báo cáo ra cuộc họp vô vàn góp ý, kiến nghị, gợi ý, chất vấn mang tinh thần xây dựng của trí thức, nhà khoa học, nhà báo, thanh niên ... Biết bao giải pháp hay ở trong đó. Ngay ở trong nước, trên các báo và mạng Đại đoàn kết, Thanh niên, Tuổi trẻ, Vietnam Net, Tiền Phong, Tia Sáng, Pháp luật, Lao động, Viện nghiên cứu phát triển DSI...cũng như trên báo bị cấm mà không cấm được như Tự do Ngôn luận, Tổ Quốc, Nhà báo tư do, Phía trước ... có biết bao ý kiến hay, có tinh thần xây dựng.

Có bạn đọc gửi email riêng cho tôi nhận xét bài báo tôi viết ngày 7-7-2008 về hội nghị 7 là xác đáng, nhưng sao không đưa ra giải pháp? Xin trả lời là có giải pháp chứ. Nhiều giải pháp hữu hiệu cao nữa. Có giải pháp trong tầm với của đáng CS, có giải pháp đòi đảng CS phải tự lột xác, điều này có phần khó, phải chịu hy sinh cho dân cho nước, khi mỗi vị trung ương đều đã giàu sụ hết cả rồi, có thể cho đời con, đời cháu, thế mà họ vẫn còn ham, còn tham...

Giải pháp mạnh, như đã nói có tác dụng ngay là sòng phẳng hoàn trả nông dân cá thể quyền sở hữu ruộng đất, sở hữu rừng (ở miền núi) vốn có từ ngàn xưa, còn tồn tại dưới thời phong kiến và thực dân Pháp, cùng với cả Tự điền (ruộng dành cho cúng lễ của các dòng họ) cũng như Học điền (để khuyến khích học sinh giỏi). Nông dân làm chủ hoàn toàn ruộng đất sẽ chăm sóc từng thửa ruộng như chăm bẵm cho con đẻ ruột thịt của mình, không còn là ruộng của ai khác được giao, được mượn để lúc nào cũng có thể bị đòi lại, thu hồi! Lúc ấy ruộng đất có chủ, thuận mua vừa bán, không còn hà hiếp, mua rẻ như bèo để các quan CS bán lại đắt hơn vàng. Phải có quyết tâm cao, đúng, có lợi cho dân cho nước là làm; sẽ chấm dứt cảnh ly nông, ly hương, hết chuyện thu hồi, đền bù, sổ xanh, sổ hồng, sổ đỏ ...Việc hình thành trang trại nông nghiệp từ nhỏ đến lớn sẽ thuận theo quy luật của thị trường, nhanh, vững, trong ứng dụng kỹ thuật mới lợi nhuận cao. Nông thôn sẽ vươn dậy.

Một giải pháp mạnh, có hiệu quả cực lớn là chống tham nhũng thật lòng. Ít ra cũng như Trung quốc: hàng loạt ủy viên trung ương bị truy tố, hàng chục ngàn cán bộ cao cấp ra tòa, ủy viên bộ chính trị cũng có thể bị tử hình, ủy viên bộ chính trị hàng thứ tư, kiêm bí thư thành phố cực lớn là Thượng Hải đầy thế lực cũng bị truy tố và tù mọt xương. Ở Việt nam, vụ bí thư tỉnh ủy Cà mau bị '' cảnh cáo '' vừa rồi chỉ là chuyện đùa cợt trước công luận. Vụ lật án, rồi bắt giam các nhà báo dám tố cáo quan tham, bịt chặt mồm báo chí là biểu hiện rõ của thái độ đánh trống bỏ dùi trơ trẽn của người lãnh đạo.

Biện pháp kinh tế mạnh, cần thiết, cấp bách, có kết quả ngay tức khắc nếu thật có ý muốn là chấn chỉnh gấp, quản lý chặt lại các tập đoàn kinh tế quốc doanh, vốn xưa nay được nuông chiều, ưu đãi quá đáng, hư hỏng tận gốc, kế toán lem nhem, giữ chặt độc quyền, bung ra buôn tiền, kinh doanh bất động sản, đầu cơ chứng khoán, du lịch, khách sạn. Các chuyên gia quốc tế cho rằng chỉ cần chấn chỉnh thật sự 7 tập đoàn kinh tế và 86 Tổng công ty quốc doanh trong số 1.720 doanh nghiệp nhà nước hiện còn lại là có thể đỡ tổn thất ít nhất hơn 12.000 tỷ đồng (bằng hơn nửa tỷ US$) trong năm 2008. Đã thành nổi tiếng về bê bối là các Tập đoàn Đóng tàu thủy, Than-khoáng sản, Hàng không, Điện lực, Dầu khí, Viễn thông, Xây dựng (miền Trung ), Chè, Cao su, nợ lớn, lỗ nặng, phung phí vô kể tài nguyên quốc gia, được ngay các nhà kinh tế lão luyện trong nước gọi là bọn '' phá gia chi tử '', lẽ ra phải là đàn bò sữa nuôi sống cả nước. Bộ chính trị có dám mở một phiên họp riêng sắn tay chấn chỉnh, mổ sẻ cái ung bướu chết người này không ? Chậm một ngày là tai hại thêm một ngày đấy. Một bản báo cáo xoa dịu không che dấu nổi khối ung bướu đã di căn cực kỳ khó chữa này.

Biện pháp mạnh rất hiệu quả để tiết kiệm ngay hàng vài tỷ đôla là giản đơn hóa bộ máy cực kỳ cồng kềnh nặng nề của đảng cộng sản. Vẫn còn bày ra quá nhiều ban bệ, vụ, viện, phòng, ban ở mọi cấp, hiệu xuất thì ít, dẫm đạp lên bộ máy chính quyền thì nhiều. Chính ban tổ chức trung ương đảng kêu trời rằng bộ máy viên chức của đảng và chính quyền ở tỉnh Thanh hóa hiện có đã gần bằng số viên chức thuộc phủ toàn quyền Đông dương năm 1940. Ở trung ương, một ví dụ rất nhỏ: riêng Học viện chính trị Quốc gia mang tên Hồ chí Minh được một số trí thức đánh giá là đông đảo nhất, nhiều thạc sỹ, tiến sỹ (giấy không ít) nhất, lương cao nhất, chiếm nhiều nhà sang nhất, nhiều bổng lộc, đi nước ngoài nhiều nhất, đi lại bằng xe cộ sang nhất, nhưng hiệu quả cho nhân dân thì vô cùng ít ỏi, lại có khi tai hại nhất vì bảo thủ và giáo điều nhất.

Một biện pháp đơn giản có hiệu quả ngay là 14 vị bộ chính trị nêu gương về tiết kiệm, như không dùng xe ôtô loại quá sang (de luxe), chỉ dùng xe đủ tốt đi trong thành phố, nêu gương cho các ủy viên trung ương, các bộ trưởng... thì đã dôi ra khối của cho xã hội. Không có ai cười được mình, uy tín quốc gia không bị giảm, mà còn được thế giới ca tụng và nhân dân khen ngợi. Xin cứ làm thử mà xem. Chớ có như ông chủ tịch thủ đô Hànội đi xe ngoại hạng Lexus giá trị bằng 4 ngàn con trâu mộng, thành bia miệng để đời. Xin nhớ gương của Liên bang Đức tiệc quốc gia chỉ có 3 món cùng với bia, không rượu, so với Đại yến trong Đại lễ đường Bắc kinh 14 món đủ loài cá, lợn, bò, dê, sơn hào hải vị, với rượu mạnh Mao đài tửu tu thả cửa, có ai ca ngợi đâu !

Xin nhắc lại lời khuyên của ông Lý Quang Diệu là tập trung sức cho giải pháp gốc: không ai dám tham nhũng (vì sợ, bị trị rất nặng), không ai có thể tham nhũng (vì luật và lệ nghiêm, kiểm tra chặt), không ai cần tham nhũng vì lương đủ sống) và tuyên truyền lối sống thanh bạch trong sáng, không đua đòi hưởng thụ, nhất là thanh niên. Ở ta thì ai cũng tham nhũng được, hầu như thả lỏng, đua đòi nhau đút lót, nền ''văn hóa của ăn vụng và chùi mép''.

Xin tìm cho ra một gương sáng như Tưởng Kinh Quốc ở Đài Loan. Một tấm gương thanh bạch, trong sáng; lên làm tổng thống năm 1978, ông liền quyết định ngay lối sống làm gương của chính phủ, tự mình ở nhà hẹp, đi xe ôtô bình thường, giảm chi phí yến tiệc, cấm ngặt tệ quà cáp, không cho con nuôi, em, cháu mình vào làm cán bộ viên chức bộ máy nhà nước theo kiểu ''một người làm quan cả họ được nhờ'', còn tự nguyện góp 3 phần tư lương tổng thống cho quỹ xã hội và từ thiện, cả gia đình sống thật giản dị, vui lòng trong nếp sống thanh bạch cao quý. Tự ông đôn đốc chống và trị tham nhũng, kiểm soát gắt gao chi phí ngân sách quốc gia. Đời sống toàn dân cải thiện rõ từng năm. Xin nhớ cha ông là Tưởng Giới Thạch không hề cử ông lên thay mình; cha ông mất năm 1975, sang năm 1978 Tưởng Kinh Quốc mới được bầu. Ông mất năm 1988, để lại một mô hình phát triển nhanh, bền vững, có nét văn hóa cũ-mới hài hòa kiểu Đông Bắc Á, thành nếp đến nay.

Còn nhiều biện pháp nữa. Chỉ cần có ý muốn phục vụ người dân. Sao không giao cho Hội Phụ nữ đảm nhận bẳng được việc chấm dứt tận gốc nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em và người lao động đang lan rộng sang Cambốt, Thái lan, Mã lai, Nam hàn, Trung đông, để dạy nghề cho chị em và người lao động ?

Còn hơn là mở chiến dịch học tập gương Bác Hồ một cách hình thức nhạt nhẽo vô bổ. Sao không giao hẳn cho Đoàn thanh niên nhiệm vụ vận động ráo riết và thiết thực thanh niên nước ta đang nghiện hút thuốc lá nặng (ở hàng đầu châu Á), nghiện xì ke, ma túy và cai nghiện, giảm bớt bia, rượu, cờ bạc, cá cược đủ loại... Sao không giao cho đội ngũ báo chí sứ mạng tố cáo tham nhũng và lãng phí, không có khu cấm, vùng cấm, cấp bậc cấm, theo chức năng là quyền lực thứ tư đại diện cho công luận, phối hợp chặt với quyền lực của tư pháp và giới luật sư. Sao không giáo dục và vận động Thiếu nhi Việt nam ''không nói tục, không nói dối, không nói ngọng (s lẫn với x, tr với ch, để có đại biểu quốc hội, có giáo sư, tiến sỹ nói trên đài cũng ngọng một cách vô tư), không làm ô nhiễm môi trường'', tôn trọng của công, yêu thiên nhiên...

Xin mỗi công dân Việt nam nghĩ đến cuộc sống của dân mình, của nước mình, mà phát biểu ý kiến ngay thật, công khai, yêu cầu đảng cộng sản vẫn cứ ôm khư khư độc quyền lãnh đạo một cách phi lý thì phải làm những điều ích nước lợi dân. Nước Việt ta không phải là của riêng ai.
Có một biện pháp cơ bản nữa đã chín quá rồi là đảng cộng sản phải chịu chơi theo luật pháp dân chủ, chịu để công dân lập hội, lập đảng rồi ganh đua ngay thật với các đảng ấy, lấy nhân dân và lá phiếu làm trọng tài. Tài giỏi thì ở lại. Hèn kém thì để cho người tài giỏi đức độ hơn thay thế.

Lúc ấy nước ta, dân ta mới có thể đổi đời.

Thời bao cấp, mua gạo chỉ có một cửa hàng mậu dịch, chỉ có một thứ gạo mốc, gạo ẩm, bắt dân phải mua, nay đã có hàng trăm hàng gạo, hàng chục lọai gạo đủ lọai để chọn.. Đó gọi là đa nguyên kinh tế. Sao về ''chính trị '' lại cứ bắt dân ''mua'' và '' ăn '' mãi chỉ một thứ gạo mang nhãn hiệu đảng cộng sản đã mốc thành meo đến hơn nửa thế kỷ rồi.

Cái biện pháp cơ bản chính trị dân chủ đa nguyên nhiệm mầu này, hơn 2/3 nước trên thế giới đã được hưởng, đều qua đấu tranh mà có. Không có một nước nào còn độc quyền chính trị mà dân có giàu sang và hạnh phúc cả.

Dân ta về chính trị đang phải nhá ''gạo mốc độc quyền của mậu dịch'', khi từ láng giềng bay sang mùi gạo tám thơm nức mũi của dân chủ đa nguyên.

Ai mà chịu thấu, phải không bạn.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

‘Irak 5 Năm Sau Chiến Tranh Chống Khủng Bố’ -
Tương Lai Chính Sách Hoa Kỳ Tại Trung Đông

Tác giả: Đinh Xuân Quân



Năm 2008 trở thành một năm then chốt vì cuộc bầu cử Tổng thống (TT) tại Hoa kỳ. Ứng cử viên Dân chủ có hy vọng ra tranh cử TT ông Obama đòi rút quân khỏi Irak trong khi ửng cử viên Cộng hòa McCain đòi tiếp tục, không thể bỏ người Irak. Ngoài vấn đề kinh tế trì trệ, giá dầu lên cao, sự hiện diện quân đội Mỹ tại Irak và các chi tiêu quốc phòng ảnh hưởng nặng nề đến cuộc bầu cử TT vào tháng 11 này.

TT Bush mặc dù đã gặt hái một số thành công tại Irak với việc tạm ổn định an ninh qua chính sách “tăng quân” của tướng Petraeus, đang gặp một tỷ lệ bất tín nhiệm của dân chúng khá cao. Sau 5 năm tại Irak, Hoa kỳ có dịp rút ra khỏi Irak hay không?

Về Irak TT Bush đã công nhận đã có nhiều lầm lỗi vì dựa trên tình báo không chính xác. Ông gián tiếp chấp nhận việc xâm chiếm Irak dựa trên những lý do “không chính đáng” và không được sự đồng tình của nhiều cử tri nhưng ông nhận trách nhiệm và hậu quả của việc xâm chiếm Irak. Ông cũng nhận là việc xây dựng Hiến Pháp (HP), bầu cử QH tại Irak sẽ không làm giảm bạo động và sau 5 năm trên 4,100 lính Mỹ đã tử vong và 20,000 bị thương thì tình hình không mấy lạc quan.

Trước khi đánh Irak, tác giả bài này trên tờ Thế kỷ 21 đã cho là, Mỹ đã dùng “lý của kẻ mạnh” chứ không có căn bản pháp luật để can thiệp vào nội bộ Irak (Tác giả sợ Trung quốc cũng dùng những “lý do của kẻ mạnh” để đánh VN như Đặng Tiểu Bình đã làm trước đây vào năm 1979). Sau 5 năm Mỹ đang gặp nhiều sự chống đối tại Mỹ vì các lý do đánh Irak là “vu vơ” và Mỹ có thể “xa lầy” tại Irak.

Bài này sẽ đánh giá kết quả của các mục tiêu TT Bush đưa ra tại Irak và nhìn về tương lai cho Irak và vùng Trung Đông.

Đánh giá chính sách Bush

Thuyết Bush có thể tóm qua 2 ý chính: 1. Mỹ quyết chống khủng bố trên toàn cầu và sẽ tay trước - “tiên hạ thủ”- không cần sự đồng tình của các nước cũng như LHQ; 2. Mỹ sẽ gây dựng dân chủ tại Trung đông. Trên thực tế, TT Bush đã và đang gặp nhiều trở ngại và thất bại nhiều hơn thành công và mục tiêu gây dựng dân chủ tại Trung đông còn phải xét lại. Trên thực tế chính sách của TT Bush ra sao?

Mục tiêu 1: Chống khủng bố

TT Bush chiếm Irak ngay sau khi đánh Afghanistan nhưng tình hình và thực tế Irak khác hẳn các dự tính. Thực tế cho thấy là Irak không có vũ khí hủy diệt hàng loạt, không có vũ khí hóa học và Saddam Hussein cũng không có liên hệ với Al Qaeda. Việc này làm dư luận Mỹ và thế giới không tin tưởng vào những lời tuyên bố của Mỹ và không ủng hộ cuộc chiến Irak dựa trên các lý do “giả tạo.”

Mỹ mất tín nhiệm, điều mà Mỹ sẽ phải mất nhiều năm mới lấy lại niềm tin của thế giới. Tại Afghanistan đã có nhiều tiến bộ nhất định trong việc xây dựng hạ tầng cơ sở, trong việc tổ chức công quyền và tái lập an ninh trật tự. Taliban còn có thể phá phách nho nhỏ qua các cuộc tự sát. Mặc dù như vậy sẽ cần từ 10-15 năm thì Afghanistan mới có khả năng tự túc về mặt tài chính, thuế vụ, xây dựng công quyền, tái xây dựng quân đội và cảnh sát hầu có cơ hội phát triển và xây dựng dân chủ.

Ngược lại, chiến tranh Irak gây nhiều tai tiếng cho Mỹ trong vấn đề chống khủng bố. Các vụ đanh bom tự sát, các vụ bắt cóc con tin và chặt đầu này gia tăng tại Irak, tại Arập Saudi, tại Jordan và tại nhiều nước khác, vì Mỹ đánh Irak cho nên Al Qeada có cớ tuyển mộ thêm người. Chiếm Irak cũng không mang thêm an ninh cho thế giới và vùng Trung đông mà ngược lại. Việc này cho thấy Mỹ có thể gây an ninh nhưng cũng có thể “xa lầy” vì chính phủ Irak TT. Maliki không thể có nhất trí và chưa triệt được các dân quân thuộc các phe phái, nhất là các phe phái thân Iran.

Việc Mỹ giải tán quân đội và cảnh sát Irak khi mới thắng Saddam là lỗi lầm khó chấp nhận. Mỹ đã mất nguồn tình báo và gây nhiều bất mãn và phải “Irak hóa quân đội và cảnh sát” – việc này sẽ mất nhiều năm mới mang an ninh lại cho Irak.

Thuyết Bush tự cho quyền ra tay đơn phương khi có nguy cơ bị đe dọa không được chấp nhận trên quốc tế. TT Bush đã nói là ông sẽ làm việc với Hội đồng Bảo an LHQ nhưng Mỹ đã không được Hội đồng Bảo an tán thành, trái ngược với vụ Afghanistan trong đó trên 39 nước đã tham gia một cách tích cực dưới ngọn cờ LHQ. Khi thăm Hoa kỳ vào tháng qua, chính Giáo Hoàng Benedicto đã trách Mỹ việc này.

Tại Afghanistan, Mỹ được LHQ tán thành và có “danh chính ngôn thuận.” LHQ đã giúp xây dựng Hiến pháp, tổ chức bầu cử Tổng thống và Quốc hội theo đúng quy trình Bonn. Mỹ đã được nhiều nước hỗ trợ không những về quân sự và xây dựng, tái thiết và phát triển tại Afghanistan. Tại đây có 26 thành viên NATO và 10 thành viên không NATO có quân tại Afghanistan (Thụy điển, Mông cổ, Bulgaria, Romania, Phần lan, Úc, Tân Tây lan, vv). Nay quân đồng minh ISAF và quân NATO đang tăng cường sự hiện diện và quân đội Afghanistan cũng được xây dựng từ 18 tiểu đòan nay lên 40 TĐ.

Tại Irak vấn đề khác hẳn. Sau khi chiếm Mỹ đã không giải quyết được vấn đề bình định, tái lập an ninh trật tự và xây dựng cho nên chính phủ Bush đã phải cầu cứu LHQ giúp giải quyết vấn đề lập chính phủ Irak, việc xây dựng Hiện pháp (HP) và tổ chức bầu cử QH. Theo Ted Galen Carpenter của viện Cato, việc thay đổi các chính quyền bằng vũ lực (nhất là khi dựa trên những lý do “giả tạo”) đã làm tiêu tan thuyết Bush. Theo ông Carpenter thì thuyết “tiên hạ thủ” đã bị sụp đổ hòan toàn vì chính phủ Bush đang phải cố gắng thuyết phục các đồng minh là Mỹ sẽ dùng ngoại giao để giải quyết các tranh chấp về khí giới hạt nhân với Iran và Bắc Hàn và gần đây ngoại trưởng Rice đã phải cố gắng thuyết phục. Theo nhóm International Crisis Group, thì hành động đơn phương của Mỹ không mấy thành công trong thế giới ngày nay vì mọi nước cần đồng minh và chính sách Mỹ vào cuối nhiệm kỳ có thay đổi nhiều. Như vậy việc chống khủng bố tại Irak không mấy thành công.

Mục tiêu 2: Gây dựng dân chủ ho Trung đông

Thuyết Bush muốn mang dân chủ cho Trung đông, vì theo ông “Dân chủ là làn sóng tương lai cho mọi nước.” Theo các chuyên gia thì việc xây dựng dân chủ tại Trung đông sẽ chậm chạp và không thể cải cách một chế độ qua sức “ép” từ phía bên ngòai. Vụ Irak cho thấy là chính sách của TT Bush tại Trung đông bị mất tín nhiệm, vì Mỹ thiên không có chính sách nhìn xa, vì quá thiên Israel. Tại Irak nay có chính phủ liên hiệp do Thủ tướng Malaki người gốc Shiite cầm đầu. Theo lịch sử thì hai phe Shitte và Sunni đánh nhau trên 700 năm và nay phe Shiite có dịp cầm quyền thì khó mà họ chấp nhận phe Sunni. Nhân sự phe Shiite xa chính quyền quá lâu dưới thời Saddam cho nên không có kinh nghiệm quản lý guồng máy nhà nước. Ví dụ 1: trong văn phòng TT có rất nhiều GS đại học nhưng họ không có kinh nghiệm điều hành cho nên guồng máy chính phủ không chạy, bị tê liệt. Ví dụ 2: Ngân sách của Irak năm 2008 là US$ 43 tỷ nhưng không thể nào xài số tiền này được ngoài việc trả lương công chức (3 triệu trên một dân số là 25 triệu người – một tỷ lệ quá cao) nhưng chính phủ không thể đầu tư vào các công sở hay hạ tầng như điện hay nước và do đó dân không mấy hài lòng. Trước đây dưới thời Saddam, không có dân chủ nhưng có trật tự, có điện có nước, có an ninh và công chức không do “quota theo Shiite hay Sunni” và do đó guồng máy nhà nước tương đối chạy. Ví dụ 3: Chính phủ gồm phủ Tổng thống gồm 1 TT và 2 phó TT một Shiite và 1 Sunni. Chỉ khi nào 3 người này “nhất trí” thì mấy đạo luật do QH phê chuẩn mới được thông qua. Thủ Tướng Malaki có 2 phó Thủ tướng một gốc Kurdistan và một gốc Sunny. Phủ Thủ tướng không mấy ưa Phó Thủ tướng gốc Sunny và vì vậy chính trong chính phủ có nhiều lủng củng. Như vậy mặc dù có chính phủ liên hiệp được dân bầu, khó có thể có “nhất trí” tại Irak.

Ngoài ra tại Irak còn nhiều dân quân của các phe phái nhất là dân quân của phe Mockta Al Sadr, chống lại chính phủ trung ương. Khi nào chính phủ trung ương không triệt được các dân quân thì khó có luật pháp. Nay có “dân chủ” nhưng không có điện, không có an ninh, không phát triển được cho nên “tâm tình” dân không chấp nhận và coi là thua thời Saddam.

Hơn nữa tại Trung đông, cùng lúc với 60 năm xây dựng Israel, các nước Trung đông cho đây là một tai họa vì nhiều triệu dân Palestine bị đẩy ra khỏi Israel và còn nằm trong nhiều trại tỵ nạn rải rác trên nhiều nước và dải Gaza. Việc Hoa kỳ và các chính trị gia Mỹ ủng hộ Israel một cách triệt để cho thấy là Mỹ thiên vị. Muốn rút ra khỏi vũng lầy Trung đông, khi Arap Saoudi ủng hộ phe Sunni trong khi Iran ủng hộ phe Shiite, TT Bush đứng trước tình trạng khó xử - phải giải quyết vấn đề Israel và xây dựng một quốc gia độc lập cho người Palestine. TT Bush chỉ còn vài tháng là hết nhiệm kỳ và thực tế cho thấy dân Mỹ sẽ không đồng tình xây dựng dân chủ tại đây nếu phải đỗ máu - phải thiệt hại nhân mạng - nếu nước Mỹ không bị đe dọa trực tiếp.

Nói tóm, khi thử lửa TT Bush đã phải thay đổi chính sách ngọai giao, ve vãn NATO, làm hòa với các nước Âu châu kể cả soa dịu với Iran và cố xây dựng một nước Palestine độc lập. Theo các chuyên gia thì "chính phủ TT Bush tưởng là họ có mọi câu trả lời nhưng thực tế cho thấy là TT Bush không có câu trả lời” (và sức mạnh của Hoa kỳ có giới hạn).

Hậu quả tai hại tại quốc nội và quốc ngọai

Hậu quả tai hại đầu tiên là TT Bush đã không thể kéo NATO vào Irak chính vì chính sách đơn phưong của Mỹ. TT Bush đã phải xét lại chính sách ngọai giao và bà NT Rice đã phải công du Âu châu nhiều lần để hòa dịu và thúc đẩy hòa bình giữa Israel và Palestine. Các nước nghi ngờ thái độ của Mỹ và chính phủ Bush đã phải “hạ giọng” và hình ảnh Mỹ trên thế giới là TT Bush là người gây chiến.

Chính phủ Bush nay có phần thực tế hơn khi đụng chạm với thực tế. Tại quốc nội Tối cao Pháp viện đã từ chối ủng hộ chủ trương về việc “bắt giữ và giam cầm bất cứ kẻ tình nghi.” Dư luận Mỹ và thế giới chỉ trích chính phủ Bush về việc đối sử với tù nhân tại nhà tù Abu Ghraib, tại Guantanamo Bay (tác giải đã có viết một bài về vụ này) và các nhà tù CIA tại hải ngoại. Thượng nghị sĩ John McCain, một cựu tù nhân cộng sản VN người từng bị CSVN tra tấn đã cho tu chính án về việc “chính sách Mỹ cấm tra tấn”. TT Bush miễn cưỡng phải chấp nhận. Chính phủ và bộ tư pháp phải tuân theo phán quyết của Tối cao Pháp viện (TCPV) về hàng trăm tù nhân bị giam giữ trên 2 năm ở Guantanamo. Tại quốc nội QH thông qua đạo luật về “cấm tra tấn” cho thấy là nước Mỹ là nước thật sự pháp trị. Tại Trung đông, mặc dù Mỹ đã trả lại chủ quyền cho Irak nhưng bị tổn thất tiếng tăm nặng nề.

Nói tóm tại quốc ngoại cũng như tại quốc nội, thanh danh của chính phủ Bush bị tổn thất nặng nề.

Làm sao ra khỏi vũng lầy tại Irak?

Tại quốc nội, TT Bush hai năm trước có thể nói là “lạm phát thấp, businét tốt và thu nhập cá nhân tăng.” Nay tình hình ngược lại. Ông Chủ tịch Ngân hàng Trung ương Bernanke phải lo giải quyết vấn đề vay “nhà cửa” và hệ thống ngân hàng vì những vụ quá đáng của ngành địa ốc cho vay quá chớn - đầu cơ là giá nhà có thể tiếp tục tăng mãi mãi và “bong bóng” địa ốc đã xì cho nên kinh tế Mỹ phải đương đầu với các vụ “làm ăn quá trớn” gây kinh tế trì trệ.
Trong việc chống khủng bố Mỹ đã phần nào thành công nửa chừng tại Afghanistan. Tại đây, mặc dù được sự trợ giúp của tòan thế giới, Mỹ sẽ cần nhiều năm và tiền bạc mới xây dựng được dân chủ tại một nước mà năm nay là năm 1384 (theo lịch Hồi giáo). Mỹ sẽ phải can trì nhiều năm mới giải quyết được Afghanistan.

Tại Irak Mỹ đang phải giải quyết vấn nội chiến - du kích tại đây. Gở tháo Irak là cả một vấn đề nhức đầu vì TT Bush và công sự viên của ông đã mắc tội TNS J. William Fulbright trước đây gọi là "the arrogance of power," kiêu căng quyền lực.
Lối thóat của TT Bush là “IRAK HÓA” nhưng Mỹ cũng cần sự đồng tình của nhiều nước láng giềng, của các tổ chức như LHQ lẫn cả chính phủ Irak mới được bầu. Dân Kurd ở phía Bắc và dân Shiite ở phía Nam muốn độc lập. Irak có nhiều triển vọng trở thành 3 nước mà không có triển vọng hòa bình vì dầu lửa nằm ở phía Bắc trong vùng Kurd và ở phía Nam trong vùng Shiite. Ở phía giữa thì dân Sunni không có dầu. Mỹ có thể mong là quân đội Irak sẽ dần dần kiểm sóat an ninh nội bộ nhưng cần thời gian. Theo TT Bush thì cần 5 yếu tố trong việc rút ra khỏi Irak: 1. Đào tạo và Irak hóa quân đội; 2. kéo dân gốc Sunni và quy trình chính trị - dân chủ hóa; 3. thay đổi HP nếu cần; 4. kéo quốc tế vào Irak nhất là việc xây dựng – phát triển; 5. gây dựng việc làm – phát triển.

Nhưng việc đầu tiên là phải bình định mới có phát triển. Tiến bộ quân sự phải đi song song với phát triển cơ cấu hành chính, kinh tế và luật lệ (việc mà Mỹ bỏ bê trong nhiều năm qua vì tình hình an ninh không cho phép, vì vậy Mỹ đã lấy những tài khỏan này bù vào ngân sách quốc phòng). Việc thứ 2 là kéo dân Sunni vào quy trình chính trị, làm cho họ không thấy bị bỏ rơi. Trong việc này Mỹ khá thành công vì tại các tỉnh do người Sunni nay có an ninh trật tự. Hoa kỳ đang cố lập trật tự bằng cách giúp quân Irak triệt các dân quân nhưng thực tế cho thấy quân đội Irak chưa đủ sức. Tại đây còn cần nhiều thời gian để phe Shiite chán ghét dân quân (hay lũ cướp có tổ chức như quân Bình Xuyên trước đây tại VN). Việc này có thể thành công nhưng cần thời gian. Việc kéo quốc tế vào giúp Irak là vấn đề khó vì nhiều nước Ả rập không đồng tình cũng như trước đây TT Bush đã làm nhiều nước kể cả các đồng minh thân cận nhất bất bình.

Kết luận tạm thời

Bài học Afghanistan cho thấy có tiến bộ nhưng cần đồng minh và có chính sách mềm dẻo mới có thể kéo đồng minh vào gíup trong trong công cuộc tái thiết đòi hỏi thời gian, tài chính và kiên nhẫn. Vậy làm sao thành công tại Irak? Tái thiết trật tự đòi hỏi thời gian và kiên trì để có thể ổn định chính trị để chính phủ liên hiệp 3 phe Sunni, Shiite và Kurd có phần hòa hợp.

Hiện nay tân chính phủ Irak là một chính phủ hòa hợp do ông Malaki (Shiite) làm Thủ tướng và với nhiều nhân vật Kurd (Kinh tế, ngoại giao), Sunni (xã hội, vv) và Ông Talabani (Tổng thống gốc Kurd). Làm sao chính phủ Malaki có thể ổn định tình hình chính trị - an ninh mà không triệt các dân quân? Quân khủng bố sẽ thắng nếu Mỹ mất kiên nhẫn, chùn chân vì gặp quá nhiều trở ngại để giải quyết các vấn đề nội bộ Irak – khi các phe chính trị lợi dụng tôn giáo làm chính trị?

Chính sách chống khủng bố của TT Bush thành công nửa vời. Căn bản giải quyết các khó khăn tại Trung đông là vấn đề Israel và Palestine. Việc xây dựng dân chủ tại Trung đông còn rất xa vời vì các chính quyền tại Trung đông nếu thả thì sẽ loạn và mặc dù họ thiên Mỹ cũng không đồng tình. Mỹ chỉ có thể mong quân đội Irak trưởng thành mau chóng và nhiều nước khác tiếp tay trong vấn đề gỡ Irak nếu có hòa bình giũa Israel và Palestine.

Chính sách chống khủng bố của TT Bush có phần thành công tại Mỹ vì đã không xẩy ra vụ khủng bố nào. Chính sách quá khích một chiều của TT Bush đã làm cho ông ta trở thành gần như “Lame duck – vịt què,” vì khó lấy quyết định tại QH và nay gây khó khăn cho các người thế vị vì không ai giám đứng ra ủng hộ một chính sách làm quá nhiều lỗi lầm.

Tại Irak, Hoa kỳ có thể “kiểm soát” phần nào an ninh qua sự vững mạnh của chính phủ trung ương Irak, nhưng sẽ cần sự hiện diện của quân đội HK trong nhiều năm thì các phe phái mới chịu ngồi thương thuyết với nhau mà không dùng AK hay B40.

Tương lại của chính sách Trung đông của Hoa kỳ sẽ phải đi tới việc giải quyết vấn đề Israel và Palestine thì mới có dịp kéo sự đồng tình của nhiều nước Trung đông thân Mỹ vào việc giúp giải quyết Irak và gây lại thăng bằng cho vùng này. Tác giả bài này tin là khi nào Hoa kỳ còn thiên vị, chưa chịu giải quyết hòa bình Israel-Palestine thì chính sách HK tại Trung đông khó thành công.

Các ứng cử viên TT của cả hai phe đã hứa bảo vệ Israel cho nên tìm một giải pháp cho vấn đề này còn khó và nếu không co giải pháp thì khó khăn còn kéo dài dài vì các phe như Hexebollah tại Lebanon, tại Gaza, vv cũng chỉ là những tổ chức đứng lên chống lại Israel. Sau 60 năm vẫn chưa giai quyết được vấn đề Trung đông.

Liệu Mỹ, nhất là người kế vị TT Bush, có khéo léo giải quyết các vấn đề quốc nội để lấy lại sức mạnh kinh tế để dân đỡ than phiền về lợi tức và giá cả, liệu Mỹ đủ ngọai giao và khéo léo tại quốc ngọai để nhiều nước chịu giúp và liệu tân TT Hoa kỳ có đủ kiên trì tại Irak, quyết tâm với Israel để giải quyết vũng lầy Irak là câu hỏi chính.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Chấm dứt trò gian dối

Ngô Nhân Dụng

Trong bài phát biểu nói trên đài ti vi ở Hà Nội ông Nguyễn Phú Trọng đã báo tin rằng chỉ trong ba năm nữa thôi “Hội Ðồng Lý Luận Trung Ương” của Ðảng ông sẽ hoàn tất việc nghiên cứu để tìm ra một “Học thuyết xây dựng chiến lược Việt Nam trong thế kỷ 21.” Ông Trọng cũng nhắc nhở đảng Cộng Sản vẫn theo chủ nghĩa Mác Lênin như thường lệ. Dân Hà Nội có ngạn ngữ “Giàu như Phú, lú như Trọng...” chính là ông Trọng này. Cho nên chúng ta không biết cái “học thuyết” mà ông sẽ đưa trình làng vào năm 2011 nó sẽ ra sao.

Trong khi đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn loay hoay xây dựng một học thuyết Nông Ðức Mạnh hay là một chủ nghĩa Nguyễn Tấn Dũng như vậy, thì thế giới bên ngoài người ta cứ thế tiến tới, không chờ đợi một chủ thuyết nào chỉ đường dẫn lối cả. Bởi vì trước hết loài người phải sống đã, chứ không ai chờ có một chủ thuyết nào rồi mới bắt đầu sống!

Cái bệnh đi tìm chủ thuyết phát sinh ở nước ta là do ảnh hưởng Phương Tây. Các ông Tây duy lý từ mấy trăm năm trước đã xây dựng những chủ thuyết để dẫn dắt người khác theo mình, nó thành một thứ bệnh truyền nhiễm trong giới trí thức. Bệnh nặng nhất là ông Karl Marx, truyền xuống ông Lenin, lây dần dần sang nhiều người khác. Chỉ vì chủ nghĩa đó là thế giới chia đôi, hai khối tư bản và cộng sản đánh nhau, mà người Trung Hoa, người Hàn Quốc, người Congo, người Việt Nam chết nhiều nhất. Từ giữa thế kỷ 20 loài người bắt đầu trị bệnh chủ nghĩa, và đến mười năm sau cùng của thế kỷ thì hầu như mọi người đã trừ được loài vi khuẩn đó. Ngoại trừ ở những nước vẫn bế quan tỏa cảng, ngăn cấm thông tin, không cho dân được mở cái đầu ra, cho nên trong giới trí thức vẫn còn nhiều người mơ màng về một chủ thuyết nào đó. Khi thấy chế độ cộng sản ở Nga và Âu châu sụp đổ, có những người ở Việt Nam lo lắng một cách thành thật rằng sau khi lý thuyết Mác Lê bị dẹp bỏ thì không biết mình sẽ nương tựa vào một ý thức hệ nào để mà sống!

Nhưng con người sinh ra để sống chứ không phải để chuẩn bị sống, như một nhân vật của Boris Pasternak đã phân trần. Hay nói như Trang Tử, vì có người đi mà có đường đi (Ðạo hành chi nhi thành), chứ không phải vì có con đường rồi nên mới sinh ra con người để bước đi trên đó coi con đường có đẹp hay không! Biết vậy, nhưng vẫn phải chờ tới khi chế độ cộng sản hoàn toàn thất bại ở Nga, thất bại hiển nhiên trên mặt kinh tế, thì người ta mới vỡ lẽ ra là tất cả câu chuyện chủ nghĩa là những chuyện tầm phào! Như vậy thì trong kinh tế học người ta không cần chủ nghĩa nào hay sao? Ðúng như vậy. Mọi môn khoa học đều không cần và không nên có chủ nghĩa. Vì các kiến thức khoa học đều là những giả thuyết, người ta tạm dùng cho đến khi nào bị đánh đổ vì có chứng cớ trái ngược. Trong thiên văn bây giờ mọi người tin ở thuyết Big Bang nhưng không ai tôn thờ nó như một chủ nghĩa. Trái lại, ai tìm ra được một kẽ hở nào trong lý thuyết đó sẽ được cả làng thưởng công to! Trong kinh tế học cũng vậy, không có các lý thuyết vĩ đại với tham vọng giải quyết mọi vấn đề nhân sinh, mà chỉ có những tìm kiếm và khám phá cụ thể.

Tuần trước, Giáo Sư Leonid Hurwicz, một nhà kinh tế lỗi lạc mới qua đời, thiếu hai tháng nữa thì ông đầy 91 tuổi. Ông sinh ở Matx Cơ Va trước Cách Mạng Tháng Mười, khi cha mẹ ông chạy từ Ba Lan sang Nga để tị nạn quân Ðức chiếm đóng. Sau đó họ lại đem con chạy trở về Ba Lan năm 1919 để tránh chế độ cộng sản. Tốt nghiệp luật khoa ở Ðại Học Varzawa, ông sang Anh học về kinh tế, rồi năm 1940 sang Mỹ làm nghề dạy học cho đến khi chết.

Ðối với những người đã sống trong các xã hội cộng sản và tư bản, một đóng góp đáng nhớ của Hurwicz là ông đã thoát khỏi cái “Giấc Mơ Chủ Nghĩa,” nói riêng là Chủ Nghĩa Xã Hội. Không phải vì ông đã công kích chủ nghĩa này, mà vì ông không phí thời giờ khai triển cũng như chống đối nó. Ông chỉ đặt ra những vấn đề thực tế để giải quyết từng chuyện một. Nhưng cách đặt vấn đề của ông khiến mọi người thấy chúng ta không thể cứ nghĩ việc giải quyết các vấn đề lớn của xã hội nếu không chú ý đến động cơ kinh tế của mỗi cá nhân trong từng lãnh vực nhỏ một.

Hurwicz chịu ảnh hưởng của những giáo sư kinh tế nổi danh ở London khi ông theo học ở đó, như Friedrich Hayek, Nicholas Kaldor, và Ludwig von Mises. Vào những thập niên 1930, 40, có những nhà kinh tế cổ động cho việc cải thiện hệ thống xã hội chủ nghĩa, như Oskar Lange. Tuy không đồng ý với lý thuyết kinh tế của Karl Marx và cũng không thích chế độ độc tài kiểu Stalin, Lange đã nảy ra ý tưởng kết hợp kinh tế thị trường với Chủ Nghĩa Xã Hội. Bây giờ vẫn còn nhiều người thích một thứ lý thuyết “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa,” ý kiến đó là do Lange khai phá.

Trong khi đó, Hayek và von Mises nhìn thấy nhược điểm cơ bản của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa, là vấn đề thông tin. Sống trong thời đại tin học chúng ta hiểu vấn đề này nhanh, nhưng vào thập niên 1940 thì đây là một khám phá. Ðời sống kinh tế dựa trên tin tức, các quyết định kinh tế dựa trên thông tin. Trước khi trao đổi sức lao động, hàng hóa, tiền bạc, người ta thế nào cũng trao đổi tin tức. Không một ủy ban kế hoạch nhà nước nào có thể thu lượm đầy đủ thông tin về nhu cầu cũng như khả năng của mọi người trong xã hội. Ngược lại, trong một hệ thống thị trường thì mọi người tự động tiết lộ những thông tin về nhu cầu và khả năng cung ứng của họ, qua giá cả khi họ mua bán, trao đổi với nhau. Hơn thế nữa, như Friedrich Hayek biện luận trong hàng chục năm, khi kinh tế được tập trung chỉ huy thì cuối cùng sẽ thất bại; rồi vì thất bại cho nên phải cưỡng chế, dẫn đến cảnh nô lệ hóa mọi con người. Một chế độ kinh tế tập trung chỉ huy cuối cùng sẽ làm mọi người mất hết tự do. Từ đó, đến nhân phẩm cũng mất.

Ở nước ta, từ thời chủ nghĩa Mác du nhập, đã có nhiều người sáng suốt nhận thấy việc thực hành chủ nghĩa đó sẽ dẫn tới cảnh nô lệ hóa và mất phẩm cách con người. Nhưng, vì ảnh hưởng của tinh thần duy lý Tây Phương, nhiều người vẫn bỏ công xây dựng những chủ thuyết khác, để đối đầu với Mác xít, hoặc vượt lên trên chủ nghĩa Mác. Ðến khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ khắp thế giới, khuynh hướng đi tìm chủ nghĩa thay thế vẫn còn. Chúng ta có thể hiểu, vì nhiều người lớn lên trong chế độ suốt ngày đêm chỉ nghe truyền giảng chủ nghĩa Mác, giống như một tôn giáo, họ đã quen sống như vậy. Buông chủ nghĩa ra, người ta cảm thấy bơ vơ. Cho nên cứ tưởng rằng phải tìm ngay một chỗ tựa khác mới sống được. Ðó là một ảo tưởng, cũng là một căn bệnh.

Leonid Hurwicz thoát khỏi giấc mơ Chủ Nghĩa Xã Hội là nhờ những chịu ảnh hưởng những nghiên cứu của Hayek về vai trò thông tin trong đời sống kinh tế. Ông không đi tìm xây dựng một chủ thuyết nào cả. Ông chỉ nêu ra những vấn đề cụ thể. Một trong các đề tài ông theo đuổi là làm cách nào khiến mọi người tham dự một cuộc chơi kinh tế chịu tiết lộ tin tức của mình, chứ không giữ kín để hưởng lợi. Hay là làm thế nào để những người làm việc cố gắng hết lòng cho công việc chứ không làm lấy lệ. Trong tất cả các vụ đó, phải vẽ ra cách thưởng phạt để người ta có động cơ nói thật, có động cơ làm hết lòng. Nhưng chính khi đi tìm những động cơ thích hợp để giúp một cơ chế kinh tế nào đó đạt kết quả, Hurwicz đã giúp chúng ta hiểu tại sao chế độ cộng sản thất bại.

Một thí dụ về phương pháp tạo động cơ thích hợp là câu chuyện chia đôi cái bánh. Bà mẹ có thể cắt cái bánh thật công bằng, chia cho hai con. Có thể trao nhiệm vụ cắt bánh cho anh, khuyên nhủ anh phải chia đều với em. Nhưng thế nào mỗi đứa con cũng thấy phần của mình nhỏ hơn, có thể sinh ra ganh tị trong lòng. Bây giờ có thể bầy ra một “cơ chế” như vầy: Một đứa con sẽ cắt bánh làm hai phần, nhưng đứa kia sẽ được chọn phần bánh trước. Với “cơ chế” như vậy, đứa trẻ có nhiệm vụ cắt bánh sẽ cố cắt hết sức công bằng, không cần phải nghe lời Ðức Khổng Tử dạy hay là bị quản giáo nhồi sọ về chủ nghĩa xã hội.

Với những phương pháp thiết lập “động cơ thích hợp chúng ta có thể cho kinh tế hoạt động tự do mà vẫn theo đuổi những mục tiêu ngoài kinh tế, như tôn trọng công bằng xã hội, trọng người già hoặc giúp trẻ em, vân vân, mà không cần cưỡng bức hay “giáo dục” người tham dự. Ðiều quan trọng là không cần một thứ chủ nghĩa nào để biến thành một tôn giáo bắt mọi người đi theo.

Chỉ cần một xã hội được sống trong dân chủ tự do và tôn trọng luật pháp, loài người có thể tìm cách giải quyết những vấn đề của cuộc sống bằng từng biện pháp nhỏ cho từng vấn đề nhỏ. Ðời sống tự do dân chủ không phải là một chủ nghĩa. Dân chủ chỉ là một luật chơi, giống như luật đá banh vậy. Khi có tự do, người ta được chọn, khi cần phải cùng nhau chọn, đặt ra những quy tắc chọn lựa chung, thí dụ như bỏ phiếu. Cứ như vậy, loài người sẽ sống hạnh phúc hơn mà không cần tôn thờ một chủ nghĩa như lối người cộng sản trong thế kỷ trước.

Như bây giờ nhiều người cộng sản ở Việt Nam vẫn còn muốn tôn thờ những chủ nghĩa và tư tưởng của tổ tiên họ, đó là một ảo tưởng! Phải giải trừ căn bệnh đó. Nhưng đa số những người cộng sản bây giờ, nhất là những người đang có quyền và có tiền, thì họ không tin vào chủ nghĩa nào nữa, chỉ tin ở thế lực kim tiền! Những công việc của “Hội Ðồng Lý Luận Trung Ương” chỉ là cách đánh lừa các người nhẹ dạ mà thôi. Phải chấm dứt trò gian dối đó.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Báo Trung Quốc: " Chọc giận Trung Quốc Việt Nam đã chuẩn bị lĩnh đòn "
Tác giả: Blog Hứa Trường Toản



Dịch nguyên văn:

Trong lịch sử của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa , chỉ có hai lần tiến hành hải chiến đều là đánh nhau với VN, một lần hải chiến ở Hoàng Sa năm 1974, tuy là đánh quân Nam VN, nhưng Bắc Việt chắc cũng cảm thấy đau, nhưng nỗi đau này chỉ có thể dấu trong tim. Năm 1988 lại xảy ra cuộc hải chiến lần thứ hai với quy mô nhỏ.


Phân tích kỹ hai cuộc hải chiến sẽ phát hiện ra một điều lý thú, đó là từ cuộc hải chiến lần thứ nhất dùng lựu đạn đánh chìm tàu chiến đối phương, đến cuộc hải chiến lần thứ hai trực tiếp dùng pháo hạng nặng bắn chìm tàu chiến của Việt Nam, điều này đã chứng minh hải quân Trung Quốc đã có sự biến đổi về chất. Do vậy nếu như giữa TQ và VN nổ ra cuộc hải chiến lần thứ ba, thì TQ sẽ dùng phương pháp gì? Việc dùng công nghệ tin học để tiến công có thể trở thành sự tượng trưng thực sự cho sức mạnh của hải quân TQ.


Sau cuộc hải chiến lần thứ hai năm 1988, VN đã thay đổi thái độ cứng rắn trước đây, một mặt khôi phục quan hệ với TQ, nhưng mặt khác lại ngấm ngầm chiếm lĩnh một cách phi pháp các đảo ở Nam Hải, lôi kéo các Công ty có thực lực của phương Tây, dính líu vào tranh chấp Trung-Việt ở Nam Hải. VN nhiều lần tuyên bố có chủ quyền đối với Nam Hải của Trung Quốc, không chỉ coi thường thiện chí của TQ muốn hoà bình giải quyết vấn đề Nam Hải, mà còn tìm cách dựa vào sự ủng hộ của các thế lực bên ngoài, nhân lúc TQ còn phải bận dộn đối phó với vấn đề Đài Loan, tranh thủ tranh giành lợi ích.


Sự phản đối của VN đối với chính sách “Nam tiến” của TQ là một vấn đề quan trọng. Những ý đồ của Việt Nam đối với Nam Hải cũng chính là một khâu quan trọng đe dọa đến an ninh của tuyến đường vận chuyển dầu mỏ trên biển của TQ. Gần đây VN lại mấy lần khuyến khích dân chúng biểu tình phản đối TQ, kháng nghị việc quản lý hành chính của TQ đối với khu vực Trường Sa. Điều đáng chú ý là khi người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương cảnh cáo VN “không nên làm những việc tổn hại đến lợi ích hai nước”, thì phía Mỹ lại nói rằng một khi Việt Nam xảy ra xung đột với Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa, phía Mỹ sẽ “hỗ trợ Viêt Nam ", việc hỗ trợ như thế nào, phía Mỹ không nói cụ thể. Nhưng chúng ta có thể thấy, ngoài thế lực quân Mỹ ra, Ấn Độ cũng là đối tượng mà VN lôi kéo, cộng thêm không quân VN được trang bị máy bay chiến đấu SU-30, VN tự tin có thể đánh cho TQ một đòn chí mạng, mà về mặt lý lại được bạn bè quốc tế ủng hộ.


Từ những tin tức gần đây, có thể thấy rõ hai điểm: Thứ nhất, Mỹ hy vọng xảy ra xung đột Trung-Việt trên biển, qua đó quân Mỹ có thể thăm dò được thực lực của hải quân TQ; Thứ hai, xung đột lợi ích giữa TQ và Mỹ tại Nam Hải sẽ tăng lên, Mỹ hy vọng xung đột Trung-Việt sẽ tạo nên một tấm gương cho các nước ASEAN khác - TQ là mối đe dọa đối với các nước ASEAN. Ý đồ của Mỹ thực ra rất là thâm độc. Mỹ liệu có thể cung cấp sự “hỗ trợ” gì cho VN, dự tính ngoài tin tức tình báo chiến trường, vật tư hậu cần chiến lược và trang bị vũ khí ra, ít có khả năng quân Mỹ nhảy vào.


Nhưng một khi xung đột Trung-Việt nổ ra, sẽ ảnh hưởng đến chiến lược “Nam tiến” của TQ. Trên mức độ nhất định sẽ để lại ấn tượng về một Trung Quốc bá quyền đối với các nước ASEAN, sẽ khiến gần 20 năm cố gắng của TQ trở nên uổng công vô ích. Phân tích sâu một chút có thể thấy xung đột Trung-Việt nổ ra ở Nam Hải sẽ làm TQ bị phân tán lực lượng đối phó với thế lực gây chia cắt đất nước ở Đài Loan, làm rối loạn bố cục chiến lược của TQ. Hiển nhiên, TQ cũng xem xét đến điều này. Tiến xuống phía Nam sẽ mở thông tuyến đường vận chuyển trên biển của TQ. TQ có thể cắm chốt ở phía Tây từ Pakistan, ở phía Đông từ Malaysia và ở khu vực giữa là Mianma, lấy điểm phá diện, phân hoá phạm vi thế lực của Mỹ và phá vỡ ý đồ chiến lược của các nước nhỏ trong khu vực. Trong các nước ASEAN, Thái Lan, Singapore, Philippine là “hàng rào thép” của Mỹ; VN, Lào, Indonesia luôn hoài nghi TQ. Cho nên chiến lược “ Nam tiến” của TQ không thuận lợi chút nào. Trong số những nước này Việt Nam, Singapore và Indonesia là hận Trung Quốc nhất. Nhìn từ khả năng chiến lược của TQ cho thấy đánh Việt Nam có thể là sự lựa chọn tốt nhất.


Trong tình hình nếu VN cứ làm theo ý mình thì khả năng nổ ra xung đột Trung-Việt ở Nam Hải là khó tránh khỏi. Liên tưởng đến việc các tàu chiến tàng hình mới của TQ tiến hành tập trận ở khu vực Nam Hải, thì việc Trung Quốc dạy cho VN một bài học ở “mức độ nhất định” cũng là chuyện bình thường. “Mức độ nhất định” này phải đảm bảo được 3 yếu tố “nhanh, chuẩn xác và mạnh”. Với bài học này Việt Nam đau cũng không dám nói ra, không kịp có thời gian phản ứng, cũng để Mỹ không có cơ hội tìm hiểu được sức mạnh của hải quân TQ. Đánh nhanh đánh tốt một trận ở Nam Hải không chỉ có tác dụng răn đe những hoang tưởng của các nước xung quanh đối với quần đảo Trường Sa của Trung Quốc, mà trên mức độ nhất định cũng răn đe quyết tâm của Mỹ-Nhật dính líu vào xung đột ở eo biển Đài Loan. Cho nên đánh trận này phải đánh thật hay, phải thể hiện đặc điểm của chiến tranh kỹ thuật cao và những tinh tuý về mặt chiến thuật của quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


Vì sao Trung Quốc làm người ta sợ hãi?
Tác giả: Ursula Gauthier



Napoléon đã thốt lên: "Khi Trung Quốc bừng tỉnh, trái đất sẽ rung chuyển". Kể từ đó, Đế chế Trung Hoa, các quan lại bí hiểm và dân tộc đông đảo của họ nuôi dưỡng những ảo ảnh. Và thế là những phản kháng ngoan cố ở Tây Tạng và một ngọn lửa Olympic chập chờn đang làm thức tỉnh những nỗi lo sợ tồi tệ nhất.


Liệu chúng có xảy ra không? Tạp chí Le Nouvel Observateur điểm qua sự cất cánh mới của Trung Quốc và mở cuộc tranh luận với hai nhà Trung Quốc học lỗi lạc để không nhầm lẫn giữa những tác hại của một chế độ chuyên quyền với số phận của một tầng lớp dân chúng bị lên án một cách bất công. [1]



Cho tới cách đây vài tuần, theo người châu Âu, nước đe dọa sự ổn định trên thế giới nhiều nhất là Mỹ. Kể từ các cuộc nổi dậy ở Lhasa và những thăng trầm của ngọn lửa Olympic, nhận thức đã thay đổi. Theo một cuộc thăm dò dư luận Harris được thực hiện trong thời gian từ 28/3 tới 8/4, mối nguy hiểm chung số 1 là Trung Quốc. Trung Quốc đang chiếm Tây Tạng, bóc lột hàng triệu người lao động không có quyền, bỏ tù những người bào chữa kém nhất, bán ra các sản phẩm độc hại hoặc không hợp pháp, và là đất nước mà gần tới Thế vận hội Olympic, có tham vọng rước ngọn lửa Olympic trong tiếng vỗ tay tán thưởng của toàn thế giới. Cứ như là không có việc gì xảy ra vậy.


Đối với người Pháp tôn thờ việc ghét Mỹ, rước hụt bó đuốc trên đường phố Paris đã đánh dấu một bước ngoặt. Mới hôm qua, Trung Quốc đã xuất hiện như một câu chuyện thành công tuyệt vời, một chiếc đầu máy xe lửa Trời cho đối với sự tăng trưởng trên thế giới, một mô hình cực kỳ hiện đại táo bạo. Sững sờ vì sự đột biến của con thằn lằn cộng sản thành siêu cường của thế kỷ 21, người ta đánh cuộc về những quân chủ bài của họ mà không hoàn toàn quên những khuyết tật của họ. Không cuồng tín Trung Quốc, người ta đã bị quyến rũ bởi cảnh tượng phi thường về sự cải biến của họ…

Chỉ cần một ngày đường là sự thần diệu lập tức biến mất. Một tốp người ăn mặc kiểu trang phục khoác ngoài xanh da trời của vận động viên với cặp kính đen trên những khuôn mặt không cởi mở: chính hình ảnh lạnh lùng này hiện ra khi người ta nói đến Đế chế Đỏ. Và chính David Douillet [2] là người biểu lộ rõ nhất tình cảm chung: "Nếu họ cư xử như vậy ở Paris thì người ta tự hỏi liệu ở nước họ, họ sẽ cư xử như thế nào?".

Phía Trung Quốc, với một sự chênh lệch do cứng rắn trong việc kiểm soát thông tin gây ra, sự thất vọng cũng thật tàn nhẫn. Dư luận Trung Quốc đã bàng hoàng phát hiện ra, sự thù địch không che đậy của một dân tộc - người Pháp - tuy với dân tộc này, họ tự cảm thấy có nhiều điểm gần gũi nhất. Từ "gáo nước lạnh" này sẽ xuất hiện nữ anh hùng đầu tiên của Thế vận hội 2008. Những bức ảnh của vận động viên chạy tiếp sức Jin Jing [金晶/Kim Tinh], một nữ vận động viên điền kinh tàn tật đương đầu với những người biểu tình thân Tây Tạng, những người thử cướp bó đuốc của cô mà không có kết quả, làm cho các đám đông người Trung Quốc rơi lệ. "Thiên thần trên chiếc xe lăn" đã trở thành biểu tượng của một dân tộc dũng cảm và bị xúc phạm, bị tất cả mọi người ruồng bỏ, bị những kẻ thù nhẫn tâm tấn công một cách tàn ác.

Ngày nay, sự giận dữ và oán hận tràn ngập các diễn đàn, nhất là các diễn đàn về trẻ em được nuông chiều của sự màu nhiệm Trung Quốc, những "ông vua con" tin rằng tất cả đều phải vì chúng. Một tư tưởng dân tộc chủ nghĩa hoang tưởng, điên rồ, khiến người ta ngơ ngác, toát lên, không cần giữ gìn. Nhất định phải bắt những người Paris bẩn thỉu này trả giá về "tội khi quân" của họ. Sự trùng phạt kiểu dân gian từ đó tập trung vào 122 siêu thị Carrefour ở Trung Quốc, với lý do là một trong những cổ đông của tập đoàn này đã "đưa quá nhiều tiền cho bè lũ Dalai Lama"… Bernard Arnault [3] đã phủ nhận điều này nhưng những cuộc biểu tình vẫn tiếp tục. Nhà viết tiểu thuyết vĩ đại Yu Hua [余華/Dư Hoa] [4] giải thích: "Những người của dân tộc này nhận thấy ở Thế vận hội một cơ hội đặc biệt để chơi bời phóng túng sau 30 năm lao động liên tục. Không ai hiểu tại sao thế giới lại muốn chúng tôi hủy hoại thú vui của mình."

Còn về phần các quan lại của Bắc Kinh, mọi điều đều khiến cho người ta nghĩ rằng họ đang thao túng một nỗi thất vọng tập thể sâu xa, đồng thời tìm cách kiểm soát nó nhằm tránh quá khích. Năm 2005, một phong trào chống Nhật đã nhanh chóng quay trở lại chống chính phủ. Nhưng những dịp để nhận được sự tán đồng chung là quá hiếm hoi, đáng để khích động ngấm ngầm sự tức giận chính đáng của dân tộc này. Chỉ cần nhắc lại quá khứ mới đây, khi Trung Quốc làm mồi cho những khao khát của tất cả các nước đế quốc, từ việc ám chỉ "chiến tranh nha phiến". Các cuộc chiến bất công này diễn ra giữa thế kỷ 19, do nước Anh, muốn mở cửa việc buôn bán nha phiến cho Trung Quốc. Kết quả là: toàn dân bị nghiện một cách cố ý, đất nước thì bị các cường quốc đang chia nhau thuộc địa bắt phải đóng góp tốn kém, sự bùng nổ của thống nhất quốc gia vì lợi ích của các lãnh chúa chiến tranh… Rồi cuộc xâm lược của Nhật Bản năm 1931 và những bạo tàn đi theo nó.

Những sự tàn phá này đã được dạy cho trẻ em, được các phương tiện thông tin đại chúng nhắc đi nhắc lại, được ca tụng trong các chuỗi phim truyền hình. Chúng giải thích tính nhạy cảm hời hợt và những cơn dân tộc chủ nghĩa đột ngột. Nhưng rất ít người Trung Quốc hiểu rằng câu chuyện trong những cuốn sách giáo khoa và những cuộc tọa đàm đã bị cắt xén bớt. Chẳng hạn, họ không biết rằng các phong trào do Mao phát động sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập đã khiến nhiều người ở đất nước họ thiệt mạng hơn là 15 năm chiếm đóng quân sự của Nhật Bản. Họ lờ mờ biết rằng lịch sử của họ là "kẻ ngốn mạng sống", họ không biết những thói quen xấu của các nhà lãnh đạo của họ đã góp bao nhiêu vào điều đó.

Tất cả những người đã thử sửa chữa điều đó đã phải trả giá đắt. Vị tổng biên tập nổi tiếng Li Datong [李大同/Lí Đại Đồng] đã bị cách chức năm 2005 vì đã cho xuất bản những bài báo tranh cãi về lịch sử chính thức. Và ở Tây Tạng, giáo sư lịch sử Dolma Kyab [卓史确, bút danh Lobsang Kelsang Gyatso] đã bị kết án 10 năm tù. Tội của ông là dám viết lịch sử của Tây Tạng không phù hợp với sự thật của Nhà nước (ở đây nói về một bản thảo chép tay chưa bao giờ được công bố).

Khi sự tranh cãi lan tới các đám đông ở Paris hay London, các nhà lãnh đạo Bắc Kinh trả lời bằng những giọng chuyên quyền như nhau, bằng những diễn văn đầy tuyên truyền lừa dối và coi thường sự thật như nhau. Francesco Sisci, phóng viên của tờ La Stampa tại Bắc Kinh và là nhà phân tích tinh tế về các bí quyết của Bắc Kinh giải thích: "Sự thật là các nhà lãnh đạo Trung Quốc không biết cư xử thế nào trước những phần tử không phải là người Hán (dân tộc chiếm đa số ở Trung Quốc), dù họ là người Tây Tạng hay châu Âu. Họ không hiểu tại sao bị người ta phỉ nhổ ở Lhasa mặc dù họ đã đầu tư hàng tỷ, cũng không hiểu tại sao thế giới lại công khai chế giễu khi họ đã làm tất cả để hòa nhập vào sự hiệp đồng của các dân tộc". Có phải họ không có ý thức lo lắng bởi tính cố chấp, tự kỷ và giáo điều của họ? "Không hoàn toàn như vậy. Ngược lại họ tự cảm thấy bị tấn công và oan uổng." Làm thế nào để giải thích sự không thích đáng của nhận thức này? Đối với Sisci, những người có thẩm quyền quyết định của Trung Quốc thiếu hiểu biết tối thiểu về thế giới và ngược lại. "Thực ra, mặc dù có hàng đám chuyên gia được đào tạo ở những trường đại học nước ngoài tốt nhất nhưng họ luôn không hiểu sự vận hành của thế giới. Họ chưa chín muồi về mặt tâm lý và văn hóa để đảm đương qui chế cường quốc hàng đầu mà họ nghĩ là xứng đáng."

Là một quốc gia thực dân cũ, chúng ta không thích sự đô hộ của Mỹ, tất nhiên chúng ta sẽ khó mà tán thành sự ra đời của một người khổng lồ mới.



--------------------------------------------------------------------------------
[1]Đây là Lời toà soạn của tạp chí Le Nouvel Observateur. Bản dịch đăng trên Thông tấn xã Việt Nam chỉ gồm bài của Ursula Gauthier. Phần phát biểu của Doan Bui không có trong bản dịch. Bản dịch không đề tên dịch giả. (talawas)
[2]Võ sĩ Judo Pháp
[3]Tỷ phú Pháp, Chairman của Moët Hennessy Louis Vuitton và Christian Dior SA
[4]Tác giả của Huynh đệ - tiểu thuyết của Dư Hoa, NXB Quân đội nhân dân và Phải sống (được Trương Nghệ Mưu dựng phim và giành giải tại Cannes 1994).
Nguồn: Nguyên bản tiếng Pháp đăng trên Le Nouvel Observateur n° 2268, du 24 au 30 avril, 2008. Bản tiếng Việt của Thông tấn xã Việt Nam, Tài liệu tham khảo chủ nhật số: 26-TTX, ngày 29/6/08, tr. 13-15.
http://www.talawas.de/

Post Reply