Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Nói về cái “mác”
Tác giả: Việt Tâm
Xin nhanh nhẩu thưa với bà con cô bác gần xa rằng đừng vội hình dung cái “mác” tôi nói đây với cái vật giết người kè kè theo bên ông thần chết để đi chém phăng người có tội nơi thế gian.
Eo ôi, cứ nghĩ đến hình ảnh bộ xương trắng hếu trên nền đen là đã vội rúm người lại, huống chi còn phải nghe tiếng lục cục của những khớp xương khua mỗi khi “ngài” lê bước đi xử án thiên hạ thì khiếp biết chừng nào.
Lại cũng nhanh nhẩu xin chư hải nội quân tử đừng vội nghĩ cái “mác” tôi dùng đây là vật nhà nông thường sử dụng để làm cỏ vườn ruộng cũng tội cho tôi lắm. Phương chi, bóng dáng cái “mác” này gần đây đã bị lạm dụng tối đa làm ố danh chân chính của nó, vì ba cái đám du kích hay khủng bố ở rải rác khắp nơi, thay vì dùng “mác” để chặt beng đám cỏ dại lại cứ thích tìm xén ngọt cái chỗ đội nón của bàn dân thiên hạ mới sợ.
Còn nữa, nào tôi dám dại dột mà trêu vào cụ tổ của chủ nghĩa Cộng sản, lỡ cụ ấy trở về dương gian hoạnh tội xấc láo thì tôi biết lấy gì tự biện hộ cho đây. Hơn nữa cụ “Mác” cũng đã ngỏm củ tỏi từ đời nào rồi thì hãy xin để cụ yên với mồ êm mả đẹp cho rồi.
Chính danh cái “mác” của tôi đây là muốn bàn nhăng bàn cuội về cái nhãn, cái hiệu của người đời.
Giản dị là món hàng nào được làm ra đều bắt buộc đính kèm theo một tên hiệu riêng của nó. Bất kể tây, tàu, ta, mẽo, mễ..., dù hay dù dở, đều phải có một cái “mác” để tránh lẫn lộn tùng phèo ráo lên. Tỉ như anh chọn “con Cua”, chị chọn “con Cáy”, kêu hay chẳng kêu, cũng không ai tranh giành được.
Tay nào có sốt ruột thấy hàng họ người ta bán chạy rầm rầm, tiếc là mình chậm chân đụt tệ thì cũng chạy xấc bấc xang bang cái giấy phép ra một loại na ná, ăn thua là dùng cách nói láy, nói lóng chệch đi một chút cũng xong.
Có một dạo người ta kiện nhau vì một anh lấy hiệu dép là Bata trong khi chị kia chơi ngẳng lập lờ sửa trệu đi tí ti là Bala, đưa nhau ra ba toà ông lớn kiện nhau chí choé rồi cũng huề cả làng. Thầy cãi thao thao bất tuyệt biện hộ anh Bata thì vẫn cứ là Bata, ai giành giựt đâu mà kiện với tụng, còn tôi Bala hẳn hòi. Khách mua thích Bala thì lấy Bala, còn vẫn muốn Bata cứ chớp Bata có sao đâu.
Ở trong nước vật nhau chán, đến ngoài nước cũng nạnh nhau ra trò. Bông lơn nghe đâu cái anh Coca Cola có dạo kiện toé khói chị lăm le cạnh tranh bằng cái tên lửng lơ Cola Coca sao đó. Nhưng rồi êm êm nên chả ai hiểu ra sao cả.
Bởi chưng nếu hàng làm ra ế đui ế điếc thì chẳng nói làm gì, đằng này không dưng mình đang làm ăn một mình một chợ lại có tay ma mãnh rúc chui vào đòi chia xẻ nguồn thu thì bố ai chịu nổi. Thế nên mới có nhiều “mác” thế này thế nọ mà nảy sinh chuyện xập xí xập ngầu đánh tráo của ôi. Hàng nào cũng in nổi rõ ràng “mét in…” nước này, nước khác nhưng tìm hiểu ra chẳng ở đâu xa, cái “mét in…” nó lù lù ngay bên cạnh mình mới ức.
Người tiêu dùng lắm phen cười đau khóc hận vì bị xỏ mũi khơi khơi, cái sịp “mác in Chợ Lớn” mà nó rao oang oang là Nordstrom, Macy mới ức, rồi nó chém ngọt hơn lưỡi mác nhà nông. Người mua lầm đã tức, nhưng bọn tán tận lừa phỉnh người cả tin, chập chững học đòi thật mới đáng giận làm sao. Đồng hồ, xe, tủ lạnh, máy bơm độ đi độ lại, chắp nhặt tùm lum vẫn đổ vấy là do ông Thuỵ Sĩ, Nhật, Đại Hàn hay Kohler chế ra, xem quá ẹ.
Gần đây, trong nước lại còn trò trí trá mua hàng cũ tính giá mới, bắt tay bắt chân chia chác tài khoản nhà nước. Bị thộp đầu, ngây ngô giả ngờ nghệch em dại thơ ngây nên bị nó “giu ê pa pa” hoặc có bị tóm tận tay day tận mắt thì than em tin nó không ngờ nó qua mặt bán đứng em chứ nào em có xơ múi gì. Tội nghiệp.
Của đáng tội, tại có người cầu nên mới đẻ xoành xoạch những chỗ cung. Dăm anh vừa “phú quí xênh xang” nên học đòi làm trưởng giả mới bị bé cái lầm, ít ra một vài lần chưa sáng.
Hàng hoá là thứ sờ sờ ra đó mà còn mánh mung đổi “mác” thì nói chi những thứ vô dáng vô hình.
Chưa bao giờ cái “mác” nghe nổ lốp rốp như hiện tình. Cứ gì phải ở gần kho đạn mới nghe tiếng nổ. Mác chính khứa, mác cầu thủ, mác nghệ sĩ, mác nhà thơ, mác ái quốc, mác ái quần, mác đạo đức, mác đấu tranh, đi đâu cũng cụng đầu nhau nhăng nhít. Ông này khen trự kia là nhà tư tưởng có mác.
Kể cũng vui, dường như mỗi cá nhân hay nhóm nào cũng tự chọn để thể hiện mình cho thật nhuyễn. Cứ thấy lão nào mặt đăm đăm bí xị, nhìn đâu cũng ngao ngán diết da là y như rằng chính “mác” lão đang đòi Tổ quốc ăn năn loạn xị, kẻo sợ chậm thì Tổ quốc tiêu dên đi mất.
Chả hạn ra đường hễ thấy tay nào mũ đội ngược, tay khuỳnh khuỳnh, chân lắc lư con tàu đi là y như mười tay hết chín đúng anh gốc Xì khuỳnh khoàng chưa đi đã chực nhảy rốc, hay làng xàng múa bóng rổ. Còn bỗng lùng bùng cái xe mở nhạc toang toang thì chém chết cũng là anh, chị gốc “không ăn đậu không là Mễ”.
Lễ lạc nào mà bỗng dưng thấy cái đồng hồ tắc tịt rề rề là y như “mác” phe ta chính cống không sai. Làm lắm ngưới chân chất dành bụng chờ mong dự tiệc phải một bữa đói meo cho tởn.
Thiên hạ làng nhàng, vàng thau lẫn lộn nên sống khó làm sao. Bắt được ở đâu cái tuy dô yêu cầu mở rộng lòng từ bi bác ái, hấp tấp bước vô là dính ngay chấu của đám mang cái “mác” háo danh, thu mười chi một. Vậy mà người mình vẫn xuề xoà “ối mình ngay thật, ai lắt léo trời tru đất diệt” hết đi. Diệt đâu không thấy, cứ đến hẹn lại lên, thong dong ca bài “con cá sống vì nước” và hầu bao cứ rốc ra rủng rỉnh để vun quén cho những cái “mác” thùng rỗng kêu ì ọp bắt phiền.
Có dịp ghé về bên nhà mới thấy hết tiểu xảo của cái “mác” được khai thác triệt để. Lắm bà được khoác vào cái “mác” Việt Kiều đã thấy mình vênh vang hết cỡ. Tới đâu, bọn trẻ khen xuýt xoa là mở túi phóng sinh, chao ôi những tờ xanh thơm phức mùi nịnh nọt. Nghe có bà mở “Phăng” o anh kép hát mà tưởng mình nằm mơ giữa ban ngày.
Có “mác” Việt Kiều thì cũng có “mác” điếu đóm. Bảnh toẹ nhất phải kể đến ngài… cướp vợ đàn em và về bên nhà môi giới mở sân gôn 36 lỗ. Đến bây giờ mà vẫn còn có tay nịnh bợ thưa niên trưởng, với lại thưa chủ tịt, sao nghe rác cả tai. Đó cũng là tại vì cái “mác” tôi tớ hay lỡ chịu hàm ơn một thời nên bây giờ đành cúc cung cho trọn thầy, trọn tớ, chớ biết làm sao.
Thảo nào mà không ít tay chết đứng như trời trồng cũng vì cái “mác” hão huyền.
Việt Tâm
Tác giả: Việt Tâm
Xin nhanh nhẩu thưa với bà con cô bác gần xa rằng đừng vội hình dung cái “mác” tôi nói đây với cái vật giết người kè kè theo bên ông thần chết để đi chém phăng người có tội nơi thế gian.
Eo ôi, cứ nghĩ đến hình ảnh bộ xương trắng hếu trên nền đen là đã vội rúm người lại, huống chi còn phải nghe tiếng lục cục của những khớp xương khua mỗi khi “ngài” lê bước đi xử án thiên hạ thì khiếp biết chừng nào.
Lại cũng nhanh nhẩu xin chư hải nội quân tử đừng vội nghĩ cái “mác” tôi dùng đây là vật nhà nông thường sử dụng để làm cỏ vườn ruộng cũng tội cho tôi lắm. Phương chi, bóng dáng cái “mác” này gần đây đã bị lạm dụng tối đa làm ố danh chân chính của nó, vì ba cái đám du kích hay khủng bố ở rải rác khắp nơi, thay vì dùng “mác” để chặt beng đám cỏ dại lại cứ thích tìm xén ngọt cái chỗ đội nón của bàn dân thiên hạ mới sợ.
Còn nữa, nào tôi dám dại dột mà trêu vào cụ tổ của chủ nghĩa Cộng sản, lỡ cụ ấy trở về dương gian hoạnh tội xấc láo thì tôi biết lấy gì tự biện hộ cho đây. Hơn nữa cụ “Mác” cũng đã ngỏm củ tỏi từ đời nào rồi thì hãy xin để cụ yên với mồ êm mả đẹp cho rồi.
Chính danh cái “mác” của tôi đây là muốn bàn nhăng bàn cuội về cái nhãn, cái hiệu của người đời.
Giản dị là món hàng nào được làm ra đều bắt buộc đính kèm theo một tên hiệu riêng của nó. Bất kể tây, tàu, ta, mẽo, mễ..., dù hay dù dở, đều phải có một cái “mác” để tránh lẫn lộn tùng phèo ráo lên. Tỉ như anh chọn “con Cua”, chị chọn “con Cáy”, kêu hay chẳng kêu, cũng không ai tranh giành được.
Tay nào có sốt ruột thấy hàng họ người ta bán chạy rầm rầm, tiếc là mình chậm chân đụt tệ thì cũng chạy xấc bấc xang bang cái giấy phép ra một loại na ná, ăn thua là dùng cách nói láy, nói lóng chệch đi một chút cũng xong.
Có một dạo người ta kiện nhau vì một anh lấy hiệu dép là Bata trong khi chị kia chơi ngẳng lập lờ sửa trệu đi tí ti là Bala, đưa nhau ra ba toà ông lớn kiện nhau chí choé rồi cũng huề cả làng. Thầy cãi thao thao bất tuyệt biện hộ anh Bata thì vẫn cứ là Bata, ai giành giựt đâu mà kiện với tụng, còn tôi Bala hẳn hòi. Khách mua thích Bala thì lấy Bala, còn vẫn muốn Bata cứ chớp Bata có sao đâu.
Ở trong nước vật nhau chán, đến ngoài nước cũng nạnh nhau ra trò. Bông lơn nghe đâu cái anh Coca Cola có dạo kiện toé khói chị lăm le cạnh tranh bằng cái tên lửng lơ Cola Coca sao đó. Nhưng rồi êm êm nên chả ai hiểu ra sao cả.
Bởi chưng nếu hàng làm ra ế đui ế điếc thì chẳng nói làm gì, đằng này không dưng mình đang làm ăn một mình một chợ lại có tay ma mãnh rúc chui vào đòi chia xẻ nguồn thu thì bố ai chịu nổi. Thế nên mới có nhiều “mác” thế này thế nọ mà nảy sinh chuyện xập xí xập ngầu đánh tráo của ôi. Hàng nào cũng in nổi rõ ràng “mét in…” nước này, nước khác nhưng tìm hiểu ra chẳng ở đâu xa, cái “mét in…” nó lù lù ngay bên cạnh mình mới ức.
Người tiêu dùng lắm phen cười đau khóc hận vì bị xỏ mũi khơi khơi, cái sịp “mác in Chợ Lớn” mà nó rao oang oang là Nordstrom, Macy mới ức, rồi nó chém ngọt hơn lưỡi mác nhà nông. Người mua lầm đã tức, nhưng bọn tán tận lừa phỉnh người cả tin, chập chững học đòi thật mới đáng giận làm sao. Đồng hồ, xe, tủ lạnh, máy bơm độ đi độ lại, chắp nhặt tùm lum vẫn đổ vấy là do ông Thuỵ Sĩ, Nhật, Đại Hàn hay Kohler chế ra, xem quá ẹ.
Gần đây, trong nước lại còn trò trí trá mua hàng cũ tính giá mới, bắt tay bắt chân chia chác tài khoản nhà nước. Bị thộp đầu, ngây ngô giả ngờ nghệch em dại thơ ngây nên bị nó “giu ê pa pa” hoặc có bị tóm tận tay day tận mắt thì than em tin nó không ngờ nó qua mặt bán đứng em chứ nào em có xơ múi gì. Tội nghiệp.
Của đáng tội, tại có người cầu nên mới đẻ xoành xoạch những chỗ cung. Dăm anh vừa “phú quí xênh xang” nên học đòi làm trưởng giả mới bị bé cái lầm, ít ra một vài lần chưa sáng.
Hàng hoá là thứ sờ sờ ra đó mà còn mánh mung đổi “mác” thì nói chi những thứ vô dáng vô hình.
Chưa bao giờ cái “mác” nghe nổ lốp rốp như hiện tình. Cứ gì phải ở gần kho đạn mới nghe tiếng nổ. Mác chính khứa, mác cầu thủ, mác nghệ sĩ, mác nhà thơ, mác ái quốc, mác ái quần, mác đạo đức, mác đấu tranh, đi đâu cũng cụng đầu nhau nhăng nhít. Ông này khen trự kia là nhà tư tưởng có mác.
Kể cũng vui, dường như mỗi cá nhân hay nhóm nào cũng tự chọn để thể hiện mình cho thật nhuyễn. Cứ thấy lão nào mặt đăm đăm bí xị, nhìn đâu cũng ngao ngán diết da là y như rằng chính “mác” lão đang đòi Tổ quốc ăn năn loạn xị, kẻo sợ chậm thì Tổ quốc tiêu dên đi mất.
Chả hạn ra đường hễ thấy tay nào mũ đội ngược, tay khuỳnh khuỳnh, chân lắc lư con tàu đi là y như mười tay hết chín đúng anh gốc Xì khuỳnh khoàng chưa đi đã chực nhảy rốc, hay làng xàng múa bóng rổ. Còn bỗng lùng bùng cái xe mở nhạc toang toang thì chém chết cũng là anh, chị gốc “không ăn đậu không là Mễ”.
Lễ lạc nào mà bỗng dưng thấy cái đồng hồ tắc tịt rề rề là y như “mác” phe ta chính cống không sai. Làm lắm ngưới chân chất dành bụng chờ mong dự tiệc phải một bữa đói meo cho tởn.
Thiên hạ làng nhàng, vàng thau lẫn lộn nên sống khó làm sao. Bắt được ở đâu cái tuy dô yêu cầu mở rộng lòng từ bi bác ái, hấp tấp bước vô là dính ngay chấu của đám mang cái “mác” háo danh, thu mười chi một. Vậy mà người mình vẫn xuề xoà “ối mình ngay thật, ai lắt léo trời tru đất diệt” hết đi. Diệt đâu không thấy, cứ đến hẹn lại lên, thong dong ca bài “con cá sống vì nước” và hầu bao cứ rốc ra rủng rỉnh để vun quén cho những cái “mác” thùng rỗng kêu ì ọp bắt phiền.
Có dịp ghé về bên nhà mới thấy hết tiểu xảo của cái “mác” được khai thác triệt để. Lắm bà được khoác vào cái “mác” Việt Kiều đã thấy mình vênh vang hết cỡ. Tới đâu, bọn trẻ khen xuýt xoa là mở túi phóng sinh, chao ôi những tờ xanh thơm phức mùi nịnh nọt. Nghe có bà mở “Phăng” o anh kép hát mà tưởng mình nằm mơ giữa ban ngày.
Có “mác” Việt Kiều thì cũng có “mác” điếu đóm. Bảnh toẹ nhất phải kể đến ngài… cướp vợ đàn em và về bên nhà môi giới mở sân gôn 36 lỗ. Đến bây giờ mà vẫn còn có tay nịnh bợ thưa niên trưởng, với lại thưa chủ tịt, sao nghe rác cả tai. Đó cũng là tại vì cái “mác” tôi tớ hay lỡ chịu hàm ơn một thời nên bây giờ đành cúc cung cho trọn thầy, trọn tớ, chớ biết làm sao.
Thảo nào mà không ít tay chết đứng như trời trồng cũng vì cái “mác” hão huyền.
Việt Tâm

Hai người Việt Nam tuyệt vời
Tôi vô vàn hãnh diện, vô vàn vinh dự được giới thiệu với độc giả hai người Việt Nam tuyệt vời: ông Nguyễn Văn Thanh, Chủ Tịch Hội Đồng Tư Vấn & Giám Sát về Ngày Giới Trẻ (World Youth Day -- WYD) và luật sư Võ Trí Dũng chủ tịch ban chấp hành Cộng Ðồng Người Việt Tự Do Úc Châu và bang NEW SOUTH WALES. Hai vị này đã giúp tôi không còn lo lắng gì nữa về những mưu đồ của Việt Cộng lợi dụng ngày WYD 2008 để phá hoại tinh thần thượng tôn dân chủ,
yêu chuộng và tận tình chiến đấu cho tự do và nhân quyền, của khối 3 triệu người Việt hải ngoại.
Tôi đọc lá thư của luật sư Dũng mời đồng bào hải ngoại đi tham dự mà thấy thèm có mặt trong "đoạn đường chiến binh" dài 4 cây số ông mô tả. Ông Dũng viết, "Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu/NSW trân trọng kính mời quý vị lãnh đạo tinh thần, quý vị đại diện các Hội đoàn, Đoàn thể, quý vị đại diện các cơ quan truyền thông và quý đồng hương tham dự cuộc diễn hành đi bộ từ Belmore Park (đối diện ga Central) đến Randwick Race Course vào đúng 7giờ sáng Chúa Nhật 20 tháng 7 năm 2008.
"Mục đích của cuộc diễn hành là để tôn vinh lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng cho các giá trị nhân bản, tự do và dân chủ của người Việt Nam và là biểu tượng tinh thần duy nhất của Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu và trên toàn thế giới, nhân dịp mọi người chào mừng và truyền thông quốc tế chú ý tới Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2008 tại Sydney."
Ông chu đáo căn dặn những người Việt Nam đến từ các quốc gia khác trên thế giới, không rành đường xá Sydney, "Xin quý đồng hương đi xe lửa hoặc các phương tiện công cộng đến ga Central, vì trong 2 ngày cuối tuần 19 và 20 tháng 7 tất cả các xe tư nhân không được vào trung tâm thành phố.
"Sáng Chúa Nhật 20 tháng 7 sẽ có hàng trăm ngàn người đi xe lửa về ga Central. Với số lượng người đông như vậy, sẽ có những chuyến xe phải ngừng tại ga Redfern và phải đi bộ về ga Central. Sẽ có người hướng dẫn quý đồng hương đi về ga Central, tập trung tại Belmore Park để cùng đi chung với nhau.
"Xin có mặt tại Belmore Park đúng 7giờ sáng Chúa Nhật. Chúng ta sẽ cùng với đoàn người hành hương đi bộ từ Belmore Park về Randwick Race Course tham dự Thánh Lễ Bế Mạc Đại Hội vào đúng 9 giờ sáng. Đoạn đường này dài 4km, sẽ đi mất khoảng 2 tiếng đồng hồ vì số người đi rất đông, cả trăm ngàn người. Nếu đi trễ, cuộc diễn hành của chúng ta sẽ không còn ý nghĩa nữa.
"Xin qúy vị chuẩn bị giày đi bộ, nước uống, nón và nhớ mang theo CỜ VÀNG.
"Vì danh dự của người Việt Nam, và trong tinh thần tôn vinh lá cờ Vàng, CĐNVTDUC/NSW kêu gọi tất cả quý đồng hương đi diễn hành trong tinh thần vui tươi, ôn hòa và tôn trọng pháp luật."
Ði diễn hành đông đảo, mỗi người một lá cờ biểu tượng cho tự do, bất khuất, và mọi người giữ tinh thần vui tươi, ôn hòa và tôn trọng pháp luật! Tôi không hình dung được một thiếu sót nào để nhắc nhở luật sư Dũng, vì ông đã đi vào những chi tiết tỉ mỉ và vô cùng cần thiết như "giầy đi bộ, nước uống, nón", và mai phục hướng dẫn viên tại ga Redfern để chỉ đường đi bộ cho đồng hương khắp thế giới về Sydney vinh danh cờ vàng.
Người thứ nhì làm tôi vinh dự là ông Nguyễn văn Thanh; ông cũng cho tôi vững tin về tinh thần yêu nước, yêu tự do, dân chủ của cộng đồng Người Việt Úc Châu. Trong cuộc phỏng vấn với cơ quan truyền thông Việt Luận, trả lời câu hỏi về lá thư ngỏ của Ðức Hồng Y Phạm Minh Mẫn, ông Thanh nói, "Là một người tỵ nạn cộng sản và cũng là một người Công Giáo tôi rất buồn về nhận định trên của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn. Mặc dù rất kính trọng chức vị của Đức Hồng Y, nhưng tôi hoàn toàn không đồng ý và rất thất vọng về nhận định trên của ngài. Lá cờ là một biểu tượng thiêng liêng của một dân tộc. Lá cờ vàng ba sọc đỏ biểu tượng cho các giá trị nhân bản, tự do và dân chủ của người Việt Nam. Hàng triệu người đã hy sinh mạng sống dưới lá cờ đó. Nhất định lá cờ vàng không thể làm tắc nghẽn sự hiệp thông của các bạn trẻ Việt Nam đến từ khắp năm châu như nhận định của Đức Hồng Y. Khi đưa ra nhận định này, theo tôi, ý của Đức Hồng Y là không muốn thấy lá cờ vàng hiện diện trong Đại Hội Giới Trẻ. Nhưng ngài không thể dùng những lời lẽ như trong lá thư để nói về lá cờ vàng, là biểu tượng tinh thần của hơn 3 triệu người Việt hải ngoại. Tôi cũng không hiểu tại sao Đức Hồng Y lại có nhận định như vậy, nhưng tôi tin một điều là không ai ngăn cản được chân lý và sự thật. Sự thật đó là lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ của tự do, là biểu tượng của người Việt yêu tự do trên khắp thế giới và lá cờ vàng sẽ tung bay trên bầu trời tự do Úc Châu."
Việt Luận hỏi ông Thanh về những biện pháp đề phòng một sự va chạm có thể xẩy ra vì khác biệt quan điểm chính trị giữa hai nhóm người Việt --một từ trong nước ra, và một đến từ các quốc gia tự do trên thế giới-- và được ông Thanh trả lời, "Theo tôi nghĩ sẽ không có va chạm giữa hai nhóm người Việt khác quan điểm chính trị. Đại đa số những người đến đây đều mang một tâm tình là tham dự Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới và có cơ hội gặp gỡ các bạn trẻ khác đến từ khắp nơi. Đại đa số những người này là những người yêu chuộng tự do, công bình, bác ái; cả những người đến từ Việt Nam. Tôi tin rằng đại đa số họ là những người yêu tự do, không ưa Cộng Sản, nhưng vì hoàn cảnh bắt buộc phải sống dưới chế độ Cộng Sản mà thôi. Vì vậy sẽ không có sự va chạm chính kiến vì họ cũng như chúng ta thôi. Tuy nhiên chúng ta vẫn phải đề phòng những kẻ phá hoại và tôi tin rằng ban tổ chức CĐCG Sydney đã chuẩn bị cho những trường hợp bất trắc".
Tuyệt vời và vô cùng chu đáo; gần 80, nhưng tôi vẫn thèm thức dạy từ 4 giờ sáng ngày Chủ Nhật 20 tháng Bẩy để lái xe lăn đi suốt 4 cây số với vài ngàn người trẻ Việt Nam từ Belmore Park về Randwick Race Course tham dự Thánh Lễ Bế Mạc Đại Hội vào đúng 9 giờ sáng. Tôi thèm chứng kiến cảnh tình thương đồng bào quốc nội và tình yêu nước của giới trẻ hải ngoại biến Úc Châu thành pháo đài mà trái bộc phá "NQ 36" không đánh phủng được.
Không đủ điều kiện "xuống đường cầu nguyện" tôi xin cầu nguyện tại gia, và xin ông Thanh, ông Dũng và những người đang giữ tuyến đầu Úc Châu nhận lời tri ân của tôi.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Phạm Tín An Ninh: Văn Chương Tử Tế
Giao Chỉ Trong đời sống của chúng ta, tìm được văn chương tử tế có lẽ cũng khá vất vả. Nếu không đánh phá, tấn công, đấu tranh mãnh liệt thì cũng nói nặng nói nhẹ, tiếng bấc tiếng chì. Và lịch sự lắm thì cũng ca cẩm phàn nàn. Đôi khi tác giả viết văn chỉ tử tế với mình còn xem ra thiên hạ chẳng có ai tử tế.
Văn chương của Phạm Tín An Ninh không đi vào những con đường gai góc đó. Chuyện của ông toàn là chuyện tử tế và may mắn. Thậm chí khi đi cải tạo thì gặp cả quản giáo cũng tử tế. Tác giả kể chuyện đi lính, hành quân, trận mạc dù ác liệt đến đâu cũng dữ dội vừa phải. Từ quê hương miền duyên hải ông An Ninh lấy vợ Ninh Hòa, mối tình rất êm đẹp ôn hòa, không trắc trở, không ngang trái. Cuộc đời cứ phẳng lặng như bãi cát trắng miền Thùy Dương. Chinh chiến, tù đày, vượt biên, tàu cứu, định cư cho đến lúc về già tất cả cuộc đời dàn trãi trên nhiều bài tạp bút với bao nhiêu tao ngộ tình cờ. Tất cả đều toát ra văn phong của một ngòi bút tử tế và hết sức lạc quan. Thậm chí cho đến những chuyện tang tóc chung sự, những cái chết cũng chung hậu ngọt ngào. Chuyện của ông là chuyện đời thường nhưng sao tràn ngập những tình cờ hạnh ngộ. Nhiều đến nỗi dù có thật hay tưởng như thật mà độc giả cũng vẫn có thể đặt dấu hỏi. Trên đời này quả thật có nhiều sự ngẫu nhiên huyền diệu như thế chăng.
Với lối văn kể chuyện, có đầu có đuôi, bình dị và lôi cuốn, phần lớn tác giả đã thuyết phục được độc giả đây là câu chuyện thật mắt thấy tai nghe đấy nhé.
Dù có một số độc giả khó tính vẫn thắc mắc nhưng có thể sẽ suy nghĩ khác, 90% là sự thật, còn lại 10% tác giả đóng vai thượng đế sắp xếp cho câu chuyện trở thành Đêm Màu Hồng. Khi câu chuyện sự thật đã xảy ra đẹp đẽ, ta có thể để nguyên văn. Nhưng nếu đoạn kết không được toàn bích, là tác giả, ta có toàn quyền sửa lại một chút. Chàng gặp lại nàng, ở hiền gặp lành, hiểu lầm giải tỏa và ngay cả người ra đi cũng yên giấc nghìn thu hay ngậm cười nơi chín suối. Vì vậy mới gọi là văn chương tử tế. Cuộc đời vốn đã lắm nỗi đau thương, hành hạ nhau làm gì bằng những thứ văn chương độc ác.
Khoảng 5 năm về trước, những truyện ngắn của tác giả Phạm Tín An Ninh từ Na Uy lần lượt phóng lên thế giới ảo và mau chóng được các độc giả chuyển đến cho nhau với lời giới thiệu rất nồng hậu. Xem ra ai cũng cảm thấy đây là câu chuyện của chính mình hay là chuyện của người hàng xóm. Gần gũi thân cận nhưng không kém phần nhiêu khê rắc rối. Có những chuyện tình éo le, như thoại kịch Kim Cương trên sân khấu Sài Gòn thủa trước. Có những chuyện như tâm sự của người chiến binh, người tù cải tạo và thuyền nhân lênh đênh trên bể khổ. Và cũng có nhiều chuyện tình rất đôn hậu. Truyện kể như thật mà cũng có truyện như giấc mơ. Thế giới ảo đã đón chào Phạm Tín An Ninh rất nhiệt tình. Đồng thời cũng có phần cảm thông với tác giả đang cô đơn ở xứ Na Uy trên miền Bắc Âu lạnh lẽo.
Thật ra, cuộc đời tác giả cũng không thực sự cô đơn. Sau bao nhiêu gian truân của kiếp người, tác giả tên họ thật là Phạm Tín An Ninh của xứ Vạn Giả, Nha Trang bây giờ đang có cuộc sống rất ổn định, ấm cúng và an toàn. Lập nghiệp cùng vợ con tại Na Uy, nhưng con cái lại định cư tại Cali và Pháp quốc. Mùa lạnh ông bà qua Cali tìm nắng ấm. Khi tối trời thì đến thăm Kinh Thành Ánh Sáng ở Paris.
Vì viết văn tử tế nên ông là người tử tế, đi đến đâu cũng có bạn bè, nào là bạn học suốt dọc miền duyên hải quân khu II, bạn lính trên cao nguyên, bạn tù ở miền Bắc và bạn vượt biên ở bốn phương trời. Bây giờ trong số các nhà văn viết muộn mà nổi tiếng sớm ta có Phạm Tín An Ninh. Nếu không tính đến cuốn sách chúng tôi giới thiệu vừa mới in xong tại San Jose thì ông lại là một nhà văn chưa có tác phẩm. Có phải không? Vì vậy tác giả thật sự có vẻ ngại ngùng khi được gọi là nhà văn.
Bây giờ lại được gọi là Người Viết Văn Tử Tế thì e rằng ông Phạm Tín An Ninh hết sức quản ngại. Vì vậy nên chúng tôi không đi xa vào tác phẩm. Xin để quí vị độc giả tự khám phá xem “Văn Chương Tử Tế” như thế nào? Dù sao, chắc chắn với tác phẩm đầu tay như thế này, tác giả sẽ là người may mắn. Đi đến đâu cũng sẽ gặp toàn bạn bè và độc giả tử tế.
Tác giả và độc giả chúng ta ai cũng đã trải qua thời kỳ học trò, rồi khoác áo chiến binh, tù đày, thuyền nhân, tị nạn và lưu vong. Tử tế được với nhau được lúc nào hay lúc đó. Sau cùng rồi ai cũng “Ở cuối hai con đường”. Đó là tên của tác phẩm, do tác giả tự xuất bản và in tại San Jose.
(GC-SJ)
Giao Chỉ Trong đời sống của chúng ta, tìm được văn chương tử tế có lẽ cũng khá vất vả. Nếu không đánh phá, tấn công, đấu tranh mãnh liệt thì cũng nói nặng nói nhẹ, tiếng bấc tiếng chì. Và lịch sự lắm thì cũng ca cẩm phàn nàn. Đôi khi tác giả viết văn chỉ tử tế với mình còn xem ra thiên hạ chẳng có ai tử tế.
Văn chương của Phạm Tín An Ninh không đi vào những con đường gai góc đó. Chuyện của ông toàn là chuyện tử tế và may mắn. Thậm chí khi đi cải tạo thì gặp cả quản giáo cũng tử tế. Tác giả kể chuyện đi lính, hành quân, trận mạc dù ác liệt đến đâu cũng dữ dội vừa phải. Từ quê hương miền duyên hải ông An Ninh lấy vợ Ninh Hòa, mối tình rất êm đẹp ôn hòa, không trắc trở, không ngang trái. Cuộc đời cứ phẳng lặng như bãi cát trắng miền Thùy Dương. Chinh chiến, tù đày, vượt biên, tàu cứu, định cư cho đến lúc về già tất cả cuộc đời dàn trãi trên nhiều bài tạp bút với bao nhiêu tao ngộ tình cờ. Tất cả đều toát ra văn phong của một ngòi bút tử tế và hết sức lạc quan. Thậm chí cho đến những chuyện tang tóc chung sự, những cái chết cũng chung hậu ngọt ngào. Chuyện của ông là chuyện đời thường nhưng sao tràn ngập những tình cờ hạnh ngộ. Nhiều đến nỗi dù có thật hay tưởng như thật mà độc giả cũng vẫn có thể đặt dấu hỏi. Trên đời này quả thật có nhiều sự ngẫu nhiên huyền diệu như thế chăng.
Với lối văn kể chuyện, có đầu có đuôi, bình dị và lôi cuốn, phần lớn tác giả đã thuyết phục được độc giả đây là câu chuyện thật mắt thấy tai nghe đấy nhé.
Dù có một số độc giả khó tính vẫn thắc mắc nhưng có thể sẽ suy nghĩ khác, 90% là sự thật, còn lại 10% tác giả đóng vai thượng đế sắp xếp cho câu chuyện trở thành Đêm Màu Hồng. Khi câu chuyện sự thật đã xảy ra đẹp đẽ, ta có thể để nguyên văn. Nhưng nếu đoạn kết không được toàn bích, là tác giả, ta có toàn quyền sửa lại một chút. Chàng gặp lại nàng, ở hiền gặp lành, hiểu lầm giải tỏa và ngay cả người ra đi cũng yên giấc nghìn thu hay ngậm cười nơi chín suối. Vì vậy mới gọi là văn chương tử tế. Cuộc đời vốn đã lắm nỗi đau thương, hành hạ nhau làm gì bằng những thứ văn chương độc ác.
Khoảng 5 năm về trước, những truyện ngắn của tác giả Phạm Tín An Ninh từ Na Uy lần lượt phóng lên thế giới ảo và mau chóng được các độc giả chuyển đến cho nhau với lời giới thiệu rất nồng hậu. Xem ra ai cũng cảm thấy đây là câu chuyện của chính mình hay là chuyện của người hàng xóm. Gần gũi thân cận nhưng không kém phần nhiêu khê rắc rối. Có những chuyện tình éo le, như thoại kịch Kim Cương trên sân khấu Sài Gòn thủa trước. Có những chuyện như tâm sự của người chiến binh, người tù cải tạo và thuyền nhân lênh đênh trên bể khổ. Và cũng có nhiều chuyện tình rất đôn hậu. Truyện kể như thật mà cũng có truyện như giấc mơ. Thế giới ảo đã đón chào Phạm Tín An Ninh rất nhiệt tình. Đồng thời cũng có phần cảm thông với tác giả đang cô đơn ở xứ Na Uy trên miền Bắc Âu lạnh lẽo.
Thật ra, cuộc đời tác giả cũng không thực sự cô đơn. Sau bao nhiêu gian truân của kiếp người, tác giả tên họ thật là Phạm Tín An Ninh của xứ Vạn Giả, Nha Trang bây giờ đang có cuộc sống rất ổn định, ấm cúng và an toàn. Lập nghiệp cùng vợ con tại Na Uy, nhưng con cái lại định cư tại Cali và Pháp quốc. Mùa lạnh ông bà qua Cali tìm nắng ấm. Khi tối trời thì đến thăm Kinh Thành Ánh Sáng ở Paris.
Vì viết văn tử tế nên ông là người tử tế, đi đến đâu cũng có bạn bè, nào là bạn học suốt dọc miền duyên hải quân khu II, bạn lính trên cao nguyên, bạn tù ở miền Bắc và bạn vượt biên ở bốn phương trời. Bây giờ trong số các nhà văn viết muộn mà nổi tiếng sớm ta có Phạm Tín An Ninh. Nếu không tính đến cuốn sách chúng tôi giới thiệu vừa mới in xong tại San Jose thì ông lại là một nhà văn chưa có tác phẩm. Có phải không? Vì vậy tác giả thật sự có vẻ ngại ngùng khi được gọi là nhà văn.
Bây giờ lại được gọi là Người Viết Văn Tử Tế thì e rằng ông Phạm Tín An Ninh hết sức quản ngại. Vì vậy nên chúng tôi không đi xa vào tác phẩm. Xin để quí vị độc giả tự khám phá xem “Văn Chương Tử Tế” như thế nào? Dù sao, chắc chắn với tác phẩm đầu tay như thế này, tác giả sẽ là người may mắn. Đi đến đâu cũng sẽ gặp toàn bạn bè và độc giả tử tế.
Tác giả và độc giả chúng ta ai cũng đã trải qua thời kỳ học trò, rồi khoác áo chiến binh, tù đày, thuyền nhân, tị nạn và lưu vong. Tử tế được với nhau được lúc nào hay lúc đó. Sau cùng rồi ai cũng “Ở cuối hai con đường”. Đó là tên của tác phẩm, do tác giả tự xuất bản và in tại San Jose.
(GC-SJ)

Kiếm Sống Bằng... Rượu! "Người ta uống rượu vui với bạn bè, còn em buộc phải uống rượu để kiếm sống" - Châu, nữ nhân viên đứng quầy bar M. với đôi mắt ngầu đỏ và hơi thở ngập mùi rượu - ghé tai nói với tôi về nghề của mình như thế.
Các quán bar, sàn nhảy tại Sài Gòn, ngoài những sàn nhảy lớn như Volcano, Gossip, Corner... với đội ngũ phục vụ đa phần là nam giới, thì ở các quán bar nhỏ khác như Thông Xanh, Phương Đông, Miss Digan, Sky, Metalic, Paradise... nhân viên phục vụ chiếm phần lớn là nữ. Nhiệm vụ của họ ngoài việc rót rượu bia mời khách, cái chính là biết câu khách, giữ khách cho quán với mức lương từ 800.000- 1,2 triệu đồng/tháng.
Trong khi đó, định mức mỗi tháng họ phải kiếm về cho quán tính bằng số lượng rượu bán được, như mỗi nhân viên ở Thông Xanh phải bán 5 chai Hennessy (không tính các loại bia rượu khác), ở Miss Digan 8 chai Remy, hoặc tính ra giá trị bằng tiền là 8 triệu ở Metalic... Nếu kiếm đủ chỉ tiêu sẽ được thưởng, bằng không sẽ bị phạt. Để tránh bị phạt, các nữ phục vụ phải kiếm đủ chỉ tiêu bằng mọi giá.
Ép bất khả từ
Mỗi quán bar, thường do một hãng rượu bao sân, ở Thông Xanh thì Hennessy, Metalic thì Johnny Waker, Miss Digan thì Remy, Phương Đông cũng Hennessy... Nhân viên chia bàn ra để phục vụ khách, gặp khách vào sớm, sau khi đã mời khách uống đúng loại rượu mà chỉ tiêu bắt buộc phải bán đủ hàng tháng, nhóm phục vụ hết em này đến em khác kéo vào, cụng ly, làm quen, khen anh này có bộ râu đẹp, anh nọ cái miệng có duyên... rồi xin số điện thoại. Và xin uống rượu cùng với khách. Tất nhiên, đâu ai nỡ lòng nào từ chối, và những loại rượu càng mắc tiền, thuộc hệ VSOP hay XO lại pha với Coke thì các em xử lý càng lẹ bởi dễ uống.
Theo chân một tay chơi bar thâm niên vào Miss Digan, tay này tiết lộ bí quyết đi chơi: "Vào bar, ông đừng ham uống Remy hay Hennessy, loại VSOP cũng hết 1,1 triệu đồng, còn XO phải là 2,2 triệu đồng/chai. Kêu mấy loại đó ra, địch nó bu vào chưa đầy 15 phút là đứt một chai, đang hứng chí, lại có em kế bên nó rề rà thế nào cũng chơi chai nữa, có mà chết tiền, chưa say đã cháy túi. Muốn ngồi bar được lâu, mà ít tốn, chắc ăn cứ chơi hàng khó nuốt như Absolute, hay Jeam Beam, Tequila, hay Peper Lopez giá vừa phải, chỉ khoảng 600.000-800.000đ/chai, uống séc, không pha, các em nó mới ngán". Thế nhưng khi 2 thằng tôi kêu ra một chai Absolute, đồng hồ chỉ 21h, chai rượu vừa khui, liền sau đó có đến 6 em xinh tươi đứng quanh, thêm lên bàn 6 ly, cứ mỗi em giới thiệu tên và nâng ly chúc mừng. Hết một vòng, qua được 6 em thì chai rượu chỉ còn chưa đầy phân nửa. Nhấp nháy vừa tròn 20 phút, chai Absolute 1 lít đã bay sạch. Một em phục vụ ghé tai bỏ nhỏ giọng ngọt như mía lùi: "Anh đẹp trai ơi, hết rồi nè, đang chơi vui, mình kêu chai nữa anh nha!".
Ỏn ẻn mời khách từ xa
Để kéo khách vào bar, chiều đến, các nhân viên sẽ thay nhau gọi điện cho các khách đã xin số điện thoại. Với những câu lả lơi kiểu như: Anh ơi, em nhớ anh "wá" à, lâu rồi sao không vô em chơi, tối nay vô chơi với em đi... Nếu khách đồng ý, một bàn sẽ được đặt tính vào tên của người phục vụ vừa gọi, nếu doanh thu của bàn khách đặt đó đạt trên 500.000 đồng, nhân viên được thưởng 50.000 đồng, hoặc số tiền sẽ được cộng dồn để cuối tháng kết sổ, nếu đủ chỉ tiêu đề ra sẽ được thưởng cũng ở mức 50.0000 đồng. Bằng không sẽ bị phạt số tiền tương đương.
Bên bar Sky ở Nguyễn Thị Minh Khai, các khách đến còn được mấy em phục vụ lưu tên và số điện thoại vào sổ, mỗi lần vào nhân viên sẽ nhớ tên, đánh dấu ngày vào, mục đích để xem chu kỳ và thói quen đi bar của khách.
Khách đã vào bar, các nhân viên bằng mọi cách, mọi trò phải làm cho khách càng say bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Khách không muốn uống cũng khó lòng cưỡng lại được. Dân phục vụ hay dùng chiêu "xa luân chiến" làm thịt chai rượu, hết người này đến nói chuyện vài câu với khách, cụng ly uống cạn một hơi rồi biến, lát sau lại người khác nhảy vào, cứ thế, khách uống một thì phục vụ uống đến mười. Khách vào uống bia, dân phục vụ lại chơi chiêu khác, vì bia chai ai nấy uống, nên các em hay bày trò lắc xí ngầu hoặc oẳn tù tì, ai thua người đó uống. Khách uống bia hay rượu mà ngồi một mình, tự nhiên có em đến nói chuyện, bày trò vui thế, hiếm ai từ chối, hơn nữa đây là một kiểu "sành điệu" của dân đi bar, vào chỗ nào có em út túa ra bao vây, anh anh em em ngọt xớt, chứng tỏ ta đây đi chơi nhiều, quen biết nhiều, ra vẻ tự hào lắm lắm. Đó cũng là một kiểu thể hiện của dân đi bar. Và thế là, anh uống anh cũng chết, mà em uống anh cũng chết, cái "biu" (bill) vẫn là anh phải trả. Anh thì say, còn em được lợi bởi đã bán đạt chỉ tiêu.

HẠNH PHÚC
Sơn Nghị
Ở cõi đời này có 3 bí nhiệm (mysteries). Đó là Tình Yêu, Đau Khổ, và Sự Chết. Sở dĩ gọi là bí nhiệm vì đây là những vấn đề gay cấn nhất trong cuộc sống. Biết bao nhiêu chữ nghĩa được viết ra nhằm giải thích chúng nhưng vẫn hoài công. Con người đã bỏ công tìm tòi nhưng chỉ hiểu được một phần nào ý nghĩa đích thực của chúng. Chưa một ai dám tự hào đã hiểu trọn vẹn hết những góc cạnh sâu thẳm nhất của những bí nhiệm này.
Tình Yêu hiện diện trên cõi đời này ngay từ thuở hồng hoang. Cho dù Agape (Tình Yêu Dâng Hiến) hoặc Eros (Tình Yêu Nhục Dục), Tình Yêu muôn thuở vẫn là một bí ẩn. Xuân Diệu nói, “Có ai cắt nghĩa được tình yêu?...” Bi quan hơn lại cho rằng, “Tình Yêu đứng xa trông như hạt kim cương nhưng đến gần chỉ là giọt nước mắt.” Có người thở dài bảo, “Con người không có Tình Yêu như trái đất không có mặt trời.” Mỗi người tùy theo quan niệm và kinh nghiệm sống của riêng mình định nghĩa Tình Yêu mỗi cách khác nhau. Không một ai đúng hoàn toàn và cũng chẳng một ai sai.
Sự Chết cũng thế. Con người sinh ra để rồi già đi, vướng bệnh và chết. Chết là từ giã cõi đời này. Có người cho rằng chết là hết nhưng lại có người lại tin rằng chết là bước sang một thế giới khác. Vì muốn chống lại sự chết nên đã có người cố công tìm cho được thuốc trường sanh bất tử. Họ thèm sống. Nhưng không một ai cãi lại được định luật của Tạo hóa. Đúng theo tam đoạn luận của Socrate; phàm là con người đều phải chết, tôi là con người, vậy tôi cũng phải chết. Sự chết đã bám dai dẳng trong suy tư của con người. Một đời người vỏn vẹn chỉ được trăm năm và rồi biến mất hẳn khỏi trần gian này. Thật vô lý nhưng đó là một thực tại không thể chối cãi được.
Nhưng Đau Khổ là vấn đề nhức nhối nhất theo thiển ý của người viết. Có người dùng đau khổ để thăng hoa, để cứu chuộc như Đức Giêsu. Nhưng nó nhức nhối vì đau khổ luôn hiện diện trong đời sống của con người. Nhân loại vẫn không thể hiểu được tại sao một người sinh vào cõi đời này để rồi chuốc lấy đau khổ. Có lẽ vì thế mà con người là động vật duy nhất sinh vào cõi đời này bắt đầu bằng tiếng khóc chăng? Chẳng một ai muốn sống đau khổ cả. Họ muốn sống sung sướng. Sống sung sướng nghĩa là sống thụ hưởng hạnh phúc, ngược lại với sống chịu đựng đau khổ.
Vậy làm thế nào để cuộc sống có hạnh phúc? Đã có nhiều sách vở bàn luận về hạnh phúc. Cũng có nhiều diễn giả nói về vấn đề khúc mắc này. Tôn giáo là một giải pháp giúp con người có bình an trong tâm hồn; để từ đó dẫn đến hạnh phúc trong cuộc sống. Nhưng thử bàn luận vấn đề nan giải này trên kinh nghiệm, qua những con số thống kê thực tế trong xã hội. Mới đây, tờ Readers Digest số tháng 5, Arthur Brooks đã tóm tắt cuốn “Gross National Happiness” (chính ông là tác giả) và đưa ra kết quả dựa trên khoa học và kinh nghiệm làm thế nào để đạt được hạnh phúc. Mời quý độc giả theo dõi cuộc khảo sát giá trị của Arthur Brook sau đây.
Quý vị muốn sống hạnh phúc ư? Tôi tạm cho là quý vị cũng có một ước muốn như tôi. Socrate đã có lần nói với các học trò, “không phải ai ai cũng muốn hạnh phúc sao?” Nếu suy nghĩ của Socrate đúng thì một câu hỏi hợp lý đặt ra là xã hội mà chúng ta đang sống cũng phải tạo ra những điều kiện để người dân có thể mưu cầu hạnh phúc chứ? Trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập, những vị Khai Quốc không bao giờ xem hạnh phúc là một khái niệm mơ hồ; nhưng họ tin tưởng rằng con người luôn muốn hạnh phúc và có quyền mưu cầu nó. Theo sát đời sống và tự do, hạnh phúc là nhịp cầu nối liền giữa Thượng đế với vận mạng của quốc gia, và chính khả năng của người dân mưu cầu hạnh phúc là thước đo sức mạnh và nền luân lý của xã hội.
Nhưng ngày nay, những vị lãnh đạo hầu như quên mất điều này. Cứ nghe những nhà chính khách hoặc các chính trị gia nói về tổng sản lượng quốc gia, cuộc cách mạng y tế và tiền già, người ta nghĩ rằng những vị Khai Quốc nếu còn sống sẽ cảm nhận rõ ràng là con người được sinh ra để cố mua sắm những món hàng có phẩm chất cao, hoặc thỏa mãn về một nền kinh tế tăng trưởng vững vàng với mức lạm phát thấp và lực lượng lao động dồi dào. Những vị Khai Quốc không hề nói đến những vấn đề này, không phải là tại vì chúng không quan trọng, nhưng bởi vì Họ tin tưởng rằng đạt được hạnh phúc không chỉ đơn thuần như thế, mà hạnh phúc mang một chiều kích sâu xa hơn.
Là một giáo sư ngành kinh doanh và chính sách quốc gia, đã từ lâu tôi xem mưu cầu hạnh phúc là một khái niệm quốc gia. Theo những cuộc khảo sát tin cậy liên quan đến hàng nghìn người dân ở quốc gia này thì nếu người dân càng sống hạnh phúc, thịnh vượng quốc gia cũng tăng theo, và làm vững mạnh đời sống cộng đồng. Hạnh phúc làm con người tốt hơn, và chính những công dân tốt sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy xã hội tiến triển lành mạnh. Hạnh phúc, nói một cách khác, rất quan trọng trong đời sống của xã hội Hoa kỳ.
Sau đây là 5 nhân tố ảnh hưởng đến hạnh phúc. Chúng không những liên quan mật thiết với nhau mà còn hổ trợ nhau, bổ túc cho nhau trong việc mưu cầu hạnh phúc.
1. Niềm Tin
Khoảng 85% người dân nhìn nhận có theo một tôn giáo nào đó, và khoảng 1/3 tham dự một nghi thức tôn giáo hàng tuần. Con số này thay đổi một ít trong vài thập niên trở lại. So với các nước khác thì con số dân Mỹ theo đạo và giữ đạo khá cao so với các nước tân tiến khác trên thế giới. Chẳng hạn như chỉ có 9% dân Hòa lan tham dự thánh lễ hàng tuần; còn ở Pháp con số lại thấp hơn, 7% và ở Latvia chỉ có 3%.
Nhìn chung, những người Mỹ có niềm tin (đi dự lễ hàng tuần hoặc nhiều hơn) có hạnh phúc hơn những người tuy có đạo nhưng chẳng bao giờ đến nơi thờ phượng. Năm 2004, cuộc Khảo Sát Xã hội Tổng Quát (General Social Survey) cho thấy 43% những người dân từng tham dự nghi thức thờ phượng nhìn nhận họ sống hạnh phúc, so sánh với 23% những người chẳng hề bao giờ tham dự. Con số những người hữu thần nhìn về tương lai cảm thấy lạc quan so với những người vô thần có lạc quan cách biệt 33%. Còn con số những người vô thần cảm thấy thất bại trong cuộc sống gấp đôi con số những người hữu thần có cùng một cảm nghĩ.
Tôn giáo và hạnh phúc gắn chặt với nhau như tương quan nhân quả. Niềm tin vào bất cứ tôn giáo nào đều đưa đến một hạnh phúc gần giống nhau. Những cuộc khảo sát khác cũng cho thấy những người Thiên Chúa giáo (Tin lành, Công giáo, Mormon, và các giáo phái khác) và Do thái giáo nhận thấy họ sống hạnh phúc hơn, rất xa con số của những kẻ vô thần. Năm 2004, 36% những người cầu nguyện hằng ngày cảm thấy hạnh phúc, so với 21% những người chẳng hề bao giờ cầu nguyện.
Dĩ nhiên, không phải tất cả những người hữu thần đều hạnh phúc, hoặc tất cả những người vô thần đều không thấy hạnh phúc. Nhưng một điều không thể phủ nhận là niềm tin tôn giáo chính là một nhân tố quan trọng dẫn đến hạnh phúc.
2. Công Việc
Nếu trúng số độc đắc, quý vị có nghỉ việc không? Nếu quý vị là người Mỹ thì có thể điều đó không xảy ra, nghĩa là trúng số rồi nghỉ việc. Năm 2002, khoảng 1000 người được hỏi rằng, “Nếu có đủ tiền bảo đảm một cuộc sống thoải mái cho đến lúc chết, liệu quý vị có nghỉ việc không?” thì chỉ có khoảng 1/3 số người trả lời sẽ nghỉ việc.
Trái ngược với rất nhiều người lầm nghĩ, hầu như tất cả những người Mỹ yêu thích công việc làm của họ. Năm 2002, con số đó lên đến 89%. Con số phần trăm này lại không áp dụng vào trường hợp những người có mức lương bổng cao, hoặc những người với việc làm đòi hỏi nhiều kỹ năng nhưng lại đúng với số nhân công với lợi tức trung bình. Con số phần trăm này cũng gần đúng với những người có hoặc không có bằng đại học làm trong các công ty tư nhân, trong các hội từ thiện, hoặc trong các công sở của chính quyền.
Hầu hết những người Mỹ cho rằng sự yêu thích việc làm (job satisfaction) quan trọng ngang ngửa với sự yêu thích cuộc sống (life satisfation). Trong số những người cảm thấy yêu thích cuộc sống thì 95% cũng cảm thấy yêu thích việc làm. Kết quả những cuộc khảo sát còn cho thấy, yêu thích việc làm dường như dẫn đến hạnh phúc trong cuộc sống nhưng lại không đúng trong trường hợp ngược lại.
Vấn đề lõi cốt là nếu muốn hạnh phúc, quý vị cần phải làm việc. Việc gì cũng được nhưng cần phải làm; có thể là tình nguyện làm một công việc từ thiện nào đó ở các hội thiện nguyện, hoặc giúp nhà thờ, chùa chiền…v..v. Biết bao nhiêu công việc ở những cơ quan công cọng như nhà thương, thư viện, trường đại học đang cần nhiều người tình nguyện. Quan niệm này cũng cần nên chia sẻ với con cháu của quý vị.
3. Hôn Nhân & Gia Đình
Có những quan niệm sai lạc về hôn nhân kể từ thập niên 60. Những lời đồn đãi này làm nhụt chí, trong đó phải kể đến giới phụ nữ, nhiều người không dám nghĩ đến việc lập gia đình. Đừng tin vào những lời đồn đãi như thế.
Năm 2004, khoảng 42% những người lập gia đình nói họ tìm thấy hạnh phúc. Trong khi đó, chỉ có 23% những người độc thân cảm thấy họ có hạnh phúc. Con số phần trăm này càng ít đi đối với những nhóm khác: 20% những người góa vợ hoặc chồng, 17% những người ly dị, 11% những người sống ly thân chờ ly dị. Nhìn tổng quát, số người lập gia đình cảm thấy hạnh phúc cao gấp 6 lần số người tuy lập gia đình nhưng lại không cảm thấy hạnh phúc. Nói chung, phụ nữ lập gia đình cảm thấy hạnh phúc nhiều hơn đàn ông lập gia đình.
Hôn nhân không những tương quan đến hạnh phúc mà chính nó mang đến hạnh phúc, ít nhất là cho hầu hết mọi người. Một trong những thống kê hoàn tất năm 2003 sau hơn một thập niên khảo sát 24.000 người đưa đến một nhận xét rằng mức độ hạnh phúc đã gia tăng đáng kể sau khi lập gia đình. Chỉ một số nhỏ trong nhóm 24.000 người này cảm thấy mức độ hạnh phúc giảm dần sau vài năm lập gia đình, trở lại mức độ trước khi chung sống nhưng hầu hết đều cảm thấy hạnh phúc tiếp tục tăng trưởng theo thời gian chung sống.
Còn con cái thì thế nào? Nếu chỉ nói đến sinh con đẻ cái thôi thì hình như mức độ hạnh phúc có phần thuyên giảm nhưng những cuộc khảo sát đều thấy một điểm tương đồng rằng con cái hầu hết là một nhân tố gắn liền với hạnh phúc trường cửu, trong đó bao gồm cả niềm tin và hôn nhân. Hãy cân nhắc điều này: trong khi 50% những người lập gia đình có con cái và đặt niềm tin vào tôn giáo cảm thấy hạnh phúc thì chỉ có 17% những người vô tôn giáo, không lập gia đình, không con cái cảm thấy có hạnh phúc trong cuộc sống.
4. Từ Thiện
Ai cũng biết rằng tiền của không dẫn đến hạnh phúc và cho đến tận bây giờ điều này vẫn là một chân lý. Nhưng nếu cho bớt tiền tài của cải thì lại dẫn đến hạnh phúc. Hai điều này vẫn là chân lý tuyệt vời nhất.
Bằng chứng thật rõ ràng là biếu tặng cho các hội từ thiện mang đến một niềm vui đáng kể cho những người rộng lượng. Nếu quý vị muốn một hạnh phúc đáng giá $50 thì nên dâng cúng cùng một số tiền cho một hội từ thiện mà quý vị ưa thích.
Những người dâng cúng tiền của cảm thấy rất hạnh phúc 43% nhiều hơn những người không bao giờ dâng tặng. Những người tình nguyện (làm việc không lương) cảm thấy rất hạnh phúc 42% nhiều hơn những người không bao giờ dấn thân trong các công tác tình nguyện. Cho đi mới quan trọng, cho ai đôi khi lại không quan trọng lắm; nghĩa là quý vị dâng tặng của cải cho nhà thờ, chùa chiền, hội từ thiện, hoặc bất cứ cơ quan thiện nguyện nào đều mang đến một niềm hạnh phúc như nhau và cảm nhận hạnh phúc hơn hẳn những người không bao giờ dâng tặng. Ngay cả đến việc hiến máu, và đặc biệt tặng những di sản cá nhân, luôn dẫn đến một đời sống lạc quan hơn.
Thực tế thật rõ ràng, càng cho đi càng hạnh phúc.
5. Tự Do
Những vị Khai Quốc đã khẳng định quyền tự do với quyền theo đuổi và mưu cầu hạnh phúc cho chính mỗi công dân. Đây là những quyền căn bản của con người trong một quốc gia độc lập. Nói cho cùng, tự do và hạnh phúc tương quan mật thiết với nhau: những người cảm thấy có tự do trong cuộc sống luôn thấy hạnh phúc hơn những người không có tự do. Năm 2000, cuộc Khảo Sát Xã Hội Tổng Quát cho thấy số người có “hoàn toàn tự do” hoặc “rất tự do” cảm thấy đời sống hạnh phúc có tỉ lệ gấp đôi số người không có tự do cảm nhận được hạnh phúc.
Tuy vậy, không phải tất cả các loại tự do đều mang đến hạnh phúc. Tự do về kinh tế quả mang đến hạnh phúc, kể cả tự do về chính trị và tôn giáo. Nhưng tự do về luân lý, một loại tự do phóng khoáng thiếu tự chế, thì hoàn toàn không mang lại hạnh phúc. Những người cảm thấy họ có rất nhiều sự chọn lựa (quá tự do) về luân lý trước những vấn đề, chẳng hạn như, tình dục và ma túy thường không cảm thấy hạnh phúc hơn những người cảm thấy họ không có quá nhiều sự chọn lựa trước cùng một vấn đề.
Cử tri Mỹ hiểu điều này rất rõ ràng. Những người đi bầu cử chọn Tổng thống năm 2004 khi được hỏi xã hội đang đối diện với vấn đề nào nghiêm trọng nhất thì hầu hết mọi người đều cho là vấn đề luân lý. Vấn đề này vượt hẳn lên trên những vấn đề khác như kinh tế, khủng bố, chiến tranh Iraq, y tế là những khúc mắc làm họ nhức đầu từ bấy lâu nay. Những nhà chính trị lại mong dân Mỹ gạt bỏ vấn đề luân lý sang một bên và nghĩ đến vấn đề khác để họ dễ kiếm phiếu. Những nhà phê bình cho đó là một bằng chứng hiển nhiên rằng không dễ gì nắm được cử tri Mỹ. Thật thế, những giá trị luân lý đang dằn vặt tâm trí những người dân. Điều này nói lên rằng: là một người dân trong xã hội này, chúng ta làm tất cả những gì có thể làm để gìn giữ một nền tự do kinh tế và chính trị đồng thời đề phòng những loại “văn hóa” cổ võ một nếp sống phóng túng và thác loạn.
BÀI HỌC CHO DÂN MỸ CHÚNG TA
Những số liệu này cho thấy hạnh phúc không phải ở chỗ sở hữu thật nhiều cho mình nhưng chính là bảo toàn những giá trị lành mạnh. Không có những giá trị căn bản này, việc làm và nền kinh tế của chúng ta chỉ mang lại một sự vô cảm và sự giàu có vô nghĩa. Sẽ chẳng có lý do nào để chúng ta chiến đấu bảo vệ cuộc sống này cả. Hệ thống y tế tân tiến ở đất nước này sẽ giúp chúng ta sống thọ hơn nhưng sống lâu làm gì khi cuộc sống không tìm thấy hạnh phúc.
Kết quả của công trình khảo sát này cũng giúp chúng ta tìm thấy chìa khóa hạnh phúc ở đời này. Đó là những giá trị căn bản giúp con người đạt được hạnh phúc. Nên nhắc lại những giá trị này một lần nữa mà không cảm thấy thừa; đó là niềm tin, việc làm, gia đình, từ thiện, và tự do. Những giá trị mà chúng ta nên gìn giữ và bảo vệ để bảo toàn hạnh phúc. Kết quả của công trình khảo sát đồng thời gửi đi một thông điệp đến những nhà lập pháp, những nhà lãnh đạo tinh thần cũng như xã hội về tầm mức quan trọng của sự mưu cầu hạnh phúc cho quần chúng. Chúng ta phải tỉnh thức để lên tiếng khuyến cáo họ về sự thật của niềm hạnh phúc trong tâm hồn của từng người cũng như trong mỗi gia đình chúng ta. Mỗi khi họ ra những đạo luật làm giảm thiểu giá trị của niềm tin, việc làm, gia đình, từ thiện, và tự do thì chúng ta phải vô hiệu hóa những đạo luật đó bằng những quyền công dân mà hiến pháp Hoa-kỳ cho phép. Ứng cử viên trong bất cứ mọi địa hạt hoặc lãnh vực nào đều phải trả lời cho chúng ta rõ quan niệm của họ về hạnh phúc như thế nào, và làm thế nào để mưu cầu hạnh phúc cho người dân. Câu trả lời của họ chắc chắn phải liên quan đến 5 nhân tố quan trọng trên. Câu trả lời này đồng thời sẽ quyết định lá phiếu của chúng ta.
Hạnh phúc rất quan trọng trong đời sống của mỗi chúng ta. Và không một ai có quyền xem nhẹ những nhân tố tinh thần dẫn đến niềm hạnh phúc mà Thượng đế đã ban tặng cho nhân loại.
Sơn Nghị

Hai viên gạch xấu xí
Đến miền đất mới, các vị sư phải tự xây dựng mọi thứ. Họ mua đất, gạch, mua dụng cụ và bắt tay vào việc. Một chú tiểu được giao xây một bức tường gạch.
Chú rất tập trung vào công việc, luôn kiểm tra xem viên gạch đã thẳng thớm chưa, hàng gạch có ngay ngắn không. Công việc tiến triển khá chậm vì chú làm rất kỹ lưỡng. Tuy nhiên, chú không lấy đó làm phiền lòng bởi vì chú biết mình sắp sửa xây một bức tường tuyệt đẹp đầu tiên trong đời. Cuối cùng, chú cũng hoàn thành công việc vào lúc hoàng hôn buông xuống.
Khi đứng lui ra xa để ngắm nhìn công trình lao động của mình, chú bỗng cảm thấy có gì đó đập vào mắt: mặc dù chú đã rất cẩn thận khi xây bức tường song vẫn có hai viên gạch bị đặt nghiêng. Và điều tồi tệ nhất là hai viên gạch đó nằm ngay chính giữa bức tường. Chúng như đôi mắt đang trừng trừng nhìn chú. Kể từ đó, mỗi khi du khách đến thăm ngôi đền, chú tiểu đều dẫn họ đi khắp nơi, trừ đến chỗ bức tường mà chú xây dựng.
Một hôm, có hai nhà sư già đến tham quan ngôi đền. Chú tiểu đã cố lái họ sang hướng khác nhưng hai người vẫn nằng nặc đòi đến khu vực có bức tường mà chú xây dựng. Một trong hai vị sư khi đứng trước công trình ấy đã thốt lên: "Ôi, bức tường gạch mới đẹp làm sao!".
"Hai vị nói thật chứ? Hai vị không thấy hai viên gạch xấu xí ngay giữa bức tường kia ư?" - chú tiểu kêu lên trong ngạc nhiên.
"Có chứ, nhưng tôi cũng thấy 998 viên gạch còn lại đã ghép thành một bức tường tuyệt vời ra sao" - vị sư già từ tốn.
Đôi khi chúng ta quá nghiêm khắc với bản thân mình khi cứ luôn nghiền ngẫm nhưng lỗi lầm mà ta đã mắc phải, cho rằng cả thế giới đều nhớ đến nó và quy trách nhiệm cho ta. Chúng ta đã hoàn toàn quên rằng đó chỉ là hai viên gạch xấu xí giữa 998 viên gạch hoàn hảo.
Và đôi khi chúng ta lại quá nhạy cảm với lỗi lầm của người khác. Khi bắt gặp ai mắc lỗi, ta nhớ kỹ từng chi tiết. Và hễ có ai nhắc đến tên người đó, ta lại liên hệ ngay đến lỗi lầm của họ.
Sưu Tầm
Tuyết Mai
Nguyễn Ðạt Thịnh Tôi gọi Tuyết Mai là 'Tuyết Mai', vì tôi nghĩ Tuyết Mai thích người ta gọi mình như vậy.
Không ai gọi Minh Hiếu là bà Minh Hiếu, hay bà Vĩnh Lộc, mặc dù Minh Hiếu đang chung sống với Trung Tướng Vĩnh Lộc, con cái chung của hai người đã thành danh.
Gọi nghệ sĩ bằng tên đã trở thành một lối xưng hô được chấp nhận. Tuyết Mai chưa thành danh, chưa sống bằng cachet sân khấu, nhưng cô thích cuộc sống nghệ thuật.
Chính Tuyết Mai than thở về cái danh xưng mà chắc 'nàng' phải thấy là bất ổn, 'ngày xưa người ta gọi tôi là bà Nguyễn Cao Kỳ, bây giờ người ta lại gọi tôi là mẹ của Nguyễn Cao Kỳ Duyên.'
Tuyết Mai nói như vậy tại phòng trà Văn Nghệ, số 14 đường Lam Sơn, Phú Nhuận. Tác giả bài tường thuật viết tại Sài Gòn gọi Tuyết Mai bằng chị.
'… tôi đã lắng nghe chị Đặng Tuyết Mai kể một chút về mình như là lời bộc bạch tâm tình của một người xa quê hương chứ không phải là cuộc phỏng vấn một nhân vật đã một thời tài sắc của sân khấu chính trị Sài Gòn,' tác giả viết.
Bài tường thuật online có đăng hai tấm hình của Tuyết Mai nhưng hình không đưọc rõ, và cũng không được đẹp đúng như ý tôi, một chú lính ngày xưa cũng trồng một gốc si cổ thụ trước cửa nhà nàng, nên tôi vào Google image tìm hình Tuyết Mai trong chữ Nguyễn Cao Kỳ; tôi không tìm được tấm hình nàng mặc đồ bay, trông giáng người cao ráo, rất đẹp ngày nàng còn trẻ hơn Kỳ Duyên bây giờ.
Nhưng tôi cũng tìm được một người na ná giống nàng, ít phấn sáp hơn, trẻ hơn tấm hình nàng lên sân khấu Phú Nhuận.
Trong lúc chàng theo đóm điếu các quan Việt Cộng, nàng về Sài Gòn đi hát cũng là một sáng kiến có tác dụng bẹo nhau.
Nàng kể chuyện sân khấu hải ngoại, 'Ở Mỹ, có lần thấy tôi ngần ngại khi phải đứng hát trên sân khấu, một người bạn bảo với tôi rằng : Bồ đừng có ngại, lúc bồ đứng trên sân khấu người ta chỉ nhìn bồ mà không ai nghe bồ đâu ! Vâng có lẽ là như thế. Khi hát, tôi cứ hát khơi khơi, như một ca sĩ phòng … tắm '.
'Hát khơi khơi như một ca sĩ phòng tắm' thì đúng là ngôn từ 'nói văng mạng' của chàng rồi. Nhưng nàng vẫn ý thức được là mình còn 'giơn' lắm, khi nhắc lại câu nịnh đầm của anh đàn ông khéo tán '… bồ đứng trên sân khấu người ta chỉ nhìn bồ.'
'Bồ' có ý định trở lại với chàng để chàng vẽ chân mày như chàng từng hứa văng mạng không? Nàng trả lời, '… nếu như mình muốn về thì cũng còn tuỳ thuộc người kia có muốn quay về hay không.'
Ðào Tuyết Mai đã ngỏ ý trước rồi, kép Cao Kỳ tính mần răng đây. Bà đệ tam của ông đệ nhị nước VNCH ngày xưa cũng không phải tay vừa. Bà đã từng đọc cho khách nghe một bài thơ bát cú, cả tám câu đều có chữ L.
Tuyết Mai chỉ là bà đệ nhị của ông đệ nhị, bà đệ nhất là một bà đầm chàng cưới từ bên Tây ngày còn là một sinh viên sĩ quan du học Pháp.
Tuyết Mai cũng học trường đầm, trường Yersin, Ðà Lạt; nàng tâm sự 'Tôi nói 'Je t'aime' dễ hơn là nói 'em yêu anh'.'
Mon Dieu! Bên 8 lạng, bên nửa cân, chỉ không biết bên nào là mạt cưa, bên nào là mướp đắng. Cao Kỳ đã về nước để có cơm thừa canh cặn của Việt Cộng, Tuyết Mai đang than, 'Tôi về nước để thấy mình có một quê hương'.
Thành tích 'nói văng mạng' của Tuyết Mai có thể được đánh dấu bằng câu nàng nói trên sân khấu với khách mộ điệu đến ngắm nàng hơn là nghe nàng hát. Xin trích nguyên văn câu tuyên bố bất hủ, 'Người ta nói mấy ông Việt Kiều về nước mà mang vợ theo về là 'chở củi về rừng'. Phải không quý vị? Tôi cũng vậy, tôi không chở củi về rừng. Hiện thời tôi đang độc thân tại chỗ.'
Mại vô! Câu rao hàng không thể rõ rệt hơn được nữa.
Tôi nghe hùi hụi tiếc công ngày xưa công cốc làm 8 bài thơ con cóc tặng nàng, ngày nàng còn là một nữ sinh trường đầm chưa biết chia véc bờ 'dơ tem'.
Tôi biết Tuyết Mai yêu sân khấu, thích hát, nhưng xin can cô đừng cầm micro, đừng bước vào vùng ánh sáng mê hoặc đó nữa; cô đang làm bẩn sân khấu, làm xấu những nữ nghệ sĩ dù lãng mạn, nhưng chỉ yêu, chứ không là củi trong rừng, không là nữ ca sĩ phòng tắm.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Nguyễn Ðạt Thịnh Tôi gọi Tuyết Mai là 'Tuyết Mai', vì tôi nghĩ Tuyết Mai thích người ta gọi mình như vậy.
Không ai gọi Minh Hiếu là bà Minh Hiếu, hay bà Vĩnh Lộc, mặc dù Minh Hiếu đang chung sống với Trung Tướng Vĩnh Lộc, con cái chung của hai người đã thành danh.
Gọi nghệ sĩ bằng tên đã trở thành một lối xưng hô được chấp nhận. Tuyết Mai chưa thành danh, chưa sống bằng cachet sân khấu, nhưng cô thích cuộc sống nghệ thuật.
Chính Tuyết Mai than thở về cái danh xưng mà chắc 'nàng' phải thấy là bất ổn, 'ngày xưa người ta gọi tôi là bà Nguyễn Cao Kỳ, bây giờ người ta lại gọi tôi là mẹ của Nguyễn Cao Kỳ Duyên.'
Tuyết Mai nói như vậy tại phòng trà Văn Nghệ, số 14 đường Lam Sơn, Phú Nhuận. Tác giả bài tường thuật viết tại Sài Gòn gọi Tuyết Mai bằng chị.
'… tôi đã lắng nghe chị Đặng Tuyết Mai kể một chút về mình như là lời bộc bạch tâm tình của một người xa quê hương chứ không phải là cuộc phỏng vấn một nhân vật đã một thời tài sắc của sân khấu chính trị Sài Gòn,' tác giả viết.
Bài tường thuật online có đăng hai tấm hình của Tuyết Mai nhưng hình không đưọc rõ, và cũng không được đẹp đúng như ý tôi, một chú lính ngày xưa cũng trồng một gốc si cổ thụ trước cửa nhà nàng, nên tôi vào Google image tìm hình Tuyết Mai trong chữ Nguyễn Cao Kỳ; tôi không tìm được tấm hình nàng mặc đồ bay, trông giáng người cao ráo, rất đẹp ngày nàng còn trẻ hơn Kỳ Duyên bây giờ.
Nhưng tôi cũng tìm được một người na ná giống nàng, ít phấn sáp hơn, trẻ hơn tấm hình nàng lên sân khấu Phú Nhuận.
Trong lúc chàng theo đóm điếu các quan Việt Cộng, nàng về Sài Gòn đi hát cũng là một sáng kiến có tác dụng bẹo nhau.Nàng kể chuyện sân khấu hải ngoại, 'Ở Mỹ, có lần thấy tôi ngần ngại khi phải đứng hát trên sân khấu, một người bạn bảo với tôi rằng : Bồ đừng có ngại, lúc bồ đứng trên sân khấu người ta chỉ nhìn bồ mà không ai nghe bồ đâu ! Vâng có lẽ là như thế. Khi hát, tôi cứ hát khơi khơi, như một ca sĩ phòng … tắm '.
'Hát khơi khơi như một ca sĩ phòng tắm' thì đúng là ngôn từ 'nói văng mạng' của chàng rồi. Nhưng nàng vẫn ý thức được là mình còn 'giơn' lắm, khi nhắc lại câu nịnh đầm của anh đàn ông khéo tán '… bồ đứng trên sân khấu người ta chỉ nhìn bồ.'
'Bồ' có ý định trở lại với chàng để chàng vẽ chân mày như chàng từng hứa văng mạng không? Nàng trả lời, '… nếu như mình muốn về thì cũng còn tuỳ thuộc người kia có muốn quay về hay không.'
Ðào Tuyết Mai đã ngỏ ý trước rồi, kép Cao Kỳ tính mần răng đây. Bà đệ tam của ông đệ nhị nước VNCH ngày xưa cũng không phải tay vừa. Bà đã từng đọc cho khách nghe một bài thơ bát cú, cả tám câu đều có chữ L.
Tuyết Mai chỉ là bà đệ nhị của ông đệ nhị, bà đệ nhất là một bà đầm chàng cưới từ bên Tây ngày còn là một sinh viên sĩ quan du học Pháp.
Tuyết Mai cũng học trường đầm, trường Yersin, Ðà Lạt; nàng tâm sự 'Tôi nói 'Je t'aime' dễ hơn là nói 'em yêu anh'.'
Mon Dieu! Bên 8 lạng, bên nửa cân, chỉ không biết bên nào là mạt cưa, bên nào là mướp đắng. Cao Kỳ đã về nước để có cơm thừa canh cặn của Việt Cộng, Tuyết Mai đang than, 'Tôi về nước để thấy mình có một quê hương'.
Thành tích 'nói văng mạng' của Tuyết Mai có thể được đánh dấu bằng câu nàng nói trên sân khấu với khách mộ điệu đến ngắm nàng hơn là nghe nàng hát. Xin trích nguyên văn câu tuyên bố bất hủ, 'Người ta nói mấy ông Việt Kiều về nước mà mang vợ theo về là 'chở củi về rừng'. Phải không quý vị? Tôi cũng vậy, tôi không chở củi về rừng. Hiện thời tôi đang độc thân tại chỗ.'
Mại vô! Câu rao hàng không thể rõ rệt hơn được nữa.
Tôi nghe hùi hụi tiếc công ngày xưa công cốc làm 8 bài thơ con cóc tặng nàng, ngày nàng còn là một nữ sinh trường đầm chưa biết chia véc bờ 'dơ tem'.
Tôi biết Tuyết Mai yêu sân khấu, thích hát, nhưng xin can cô đừng cầm micro, đừng bước vào vùng ánh sáng mê hoặc đó nữa; cô đang làm bẩn sân khấu, làm xấu những nữ nghệ sĩ dù lãng mạn, nhưng chỉ yêu, chứ không là củi trong rừng, không là nữ ca sĩ phòng tắm.
Nguyễn Ðạt Thịnh

TÔI YÊU PHỤ NỮ VN
Những người phụ nữ Việt trong huyền thoại như Mẹ Âu cơ, hay trong lịch sử như Bà Trưng, Bà Triệu, Huyền Trân công chúa, Bùi thị Xuân…hoặc trong thi văn như Thúy Kiều, Nguyệt Nga… đều làm tôi say mê, dù tôi chỉ gặp gỡ những phụ nữ ấy trong tưởng tượng. Nhưng hai người đàn bà trong cuộc đời, gây cho tôi niềm cảm xúc và tình thương mến vô biên, chính là Mẹ và vợ tôi. Hai lần những giọt nước mắi tôi quyện thành giòng. Một lần, khi tôi nhìn hình ảnh héo mòn của vợ tôi, vai gồng gánh, tay dắt đứa con thơ, lặn lội thăm nuôi chồng nơi Trại Tù cải tạo xa xôi hẻo lánh. Một lần, để trốn họa cộng sản, tôi đành gạt lệ bỏ mẹ già ở lại quê hương, đi về một phương trời xa lạ.
Khi tôi ổn định được cuộc sống tạm dung nơi đất khách quê người thì mẹ tôi đã vĩnh viễn ra đi, không kịp nhìn mặt đứa con trai lần cuối. Cuộc sống miệt mài hối hả nơi đây, chỉ cho phép tôi gặp mẹ mỗi năm một lần vào dịp lễ Vu Lan, với hoa hồng trắng cài trên ngực áo. Với vợ tôi, hai chúng tôi quanh năm suốt tháng chơi trò chơi cút bắt. Khi tôi ngủ, nàng đi làm về và khi tôi dậy đi làm, nàng còn ngủ. Tình yêu, tình thương của tôi đối với hai người phụ nữ trong đời biến thành những ý niệm. Những ý niệm đó bàng bạc, hoà lẩn vào máu luân lưu âm thầm, hoà điệu với tiếng đập con tim, nhịp đều trong cơ thể. Hai chữ “tận tụy” của Mẹ tôi đi vào từng tế bào và hai chữ “thủy chung” của vợ tôi đã ngấm vào từng sớ thịt trong tôi. Và trên tất cả, họ có chung một sự “hy sinh”, quên đời mình cho con, cho chồng.
Và cứ thế dòng đời trôi trôi mãi, nước mắt cạn dần theo năm tháng, khô dần theo tuổi đời. Những tưởng là tôi sẽ không bao giờ còn có thể khóc được nữa. Nào ngờ, cho đến một ngày, lời nói đùa của một người bạn sau khi về Việt Nam, đã gây lại cho tôi một cảm xúc mạnh về phụ nữ. Tôi lại khóc, nhưng không khóc bằng mắt, mà khóc trong tim. “Cười là tiếng khóc khô không lệ” lời thơ của một thi sĩ đã nói lên tâm trạng của tôi trong lúc nầy. Tôi cười ngoài mặt với lời nói đùa của thằng bạn, nhưng nổi xót xa lại trào dâng trong lòng.
Thằng bạn đùa rằng: “Về Việt Nam tao thấy tao trẻ lại, còn ở đây tao có cảm tưởng mình già quá! Ở đây, cô bé nào cũng gọi tao là bác là chú, chỉ có ở VN, tao mới được gọi là anh”. Trên một khía cạnh nào đó, bạn tôi không sai. Nhưng nếu nhìn sự kiện với tầm nhìn rộng lớn và đứng về phía đối tượng, mới thấy được sự tàn nhẩn của vấn đề. Giai cấp thống trị trên đất nước tôi cũng có cách nhìn như thế đó. Họ nhìn người phụ nữ Việt Nam qua lăng kính hưởng thụ của giai cấp, nên không thấy sự đau khổ của người phụ nữ phục vụ xác thịt cho họ, qua mọi hình thức “ôm”. Từ bia ôm, đến cà phê ôm, tắm ôm, mát xa ôm…cái gì ôm được là ôm! Họ chẳng chút động lòng trước thảm cảnh người phụ nữ phơi bày thân thể để được lấy chồng Đài, chồng Hàn…Họ cũng chẳng chút “bứt xúc” trước các nữ công nhân lao động nước ngoài bị bốc lột và hành hạ…Nhan nhản qua báo, qua đài, qua mạng, tôi đã nghe, đã đọc và đã nhìn được thảm trạng của người phụ nữ Việt dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.
Qua các trung tâm băng nhạc, người ta bày bán đủ loại phim sex Việt quay từ trong nước tuồn ra hải ngoại. Chưa bao giờ tôi thấy nhân phẩm của người phụ nữ Việt bị xúc phạm và bị chà đạp như hiện nay. Nếu cái chế độ CS nầy tạo điều kiện sống cho đại bộ phận nhân dân, trong đó có phụ nữ thì làm gì những chuyện như thế ấy, trở thành chuyện thường ngày xảy ra trong nước. 5 điều Ông Hồ dạy cho thiếu nhi, không có điều nào dành cho cha mẹ, cho luân lý, cho lễ giáo, cho truyền thống Việt. Những phụ nữ điển hình của chế độ như Mạc thị Bưởi, Võ thị Sáu, Lê thị Riêng...chỉ phục vụ Đảng CS. Thậm chí nhân vật Út Tịch, trong một tác phẩm, sẵn sàng hy sinh chồng, đi ngủ với đồn trưởng để hoàn thành nhiệm vụ Trên giao…Sau khi chiếm được miền Nam, Việt Cộng thành công một bước, trong việc nông thôn hoá thành thị. Đồng bào cả nước bị cột chân vào hộ khẩu, được sống bằng tem phiếu và xếp hàng đi theo “bảng chỉ đường của đảng”. Đảng tự cho mình có công với đất nước, xứng đáng lảnh đạo đất nước và nhất là có quyền hưởng thụ, bù vào những năm tháng gian khổ.
Con đường phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa mở ra, hợp thức hoá cho đảng thừa hưởng những gì họ cướp được, hình thành giai cấp Tư bản đỏ. Xã hội bị phân hoá thành hai giai cấp: thống trị và bị trị. Đời sống của giai cấp ngoài đảng đã khốn khổ, càng ngày càng khốn khó hơn. Trong bối cảnh đó, một số người phụ nữ của giai cấp bị thống trị, muốn tồn tại, không còn cách sống nào khác, ngoại trừ sống bằng vào “vốn tự có” của mình. Ngoại trừ, những tai tiếng không tốt về người phụ nữ trong nước, tôi chưa hề nghe thấy một người phụ nữ nào làm vẻ vang dân Việt, mặc dầu số lượng phụ nữ trong nước rất đông, so với ngoài hải ngoại. Đó là chứng cớ hùng hồn về sự khác biệt giữa đất nước độc tài và xứ sở tự do. Đất nào cây trái ấy! Trong khi phụ nữ Việt ở các quốc gia tự do dân chủ, có trình độ trí thức, đếm không xuể và vang danh khắp năm châu bốn biển về đủ mọi phương diện, thì ở Việt Nam, người phụ nữ không có cơ hội và điều kiện phát triển về mọi mặt. Đã vậy, còn bị tảng đá “hồng hơn chuyên” của Đảng đè nặng, cho nên, con đường duy nhất để người phụ nữ Việt vẻ vang, không ngoài con đường đấu tranh chống áp bức bất công, đòi nhân quyền, tự do dân chủ.
Người phụ nữ Việt ở xứ Việt mang tên Lê Thị Công Nhân được nhiều người, nhiều quốc gia trên hành tinh nầy biết đến như thế đó. Hành trang kiến thức bằng học vị luật sư, trong một quốc gia mà tư pháp, cũng như lập pháp và hành pháp đều nằm trong tay Đảng. Người phụ nữ nầy sớm nhận thức được cương vị của một luật sư là đứng vào phía lẻ phải, là đứng về phía đại bộ phận đồng bào cùng khổ. Tôi nhìn hình ảnh của Công Nhân qua video clip, trong ngày ra Toà với bộ quần áo tù. Khuôn mặt dịu hiền, thái độ ung dung, lời nói nhỏ nhẹ gói ghém nội dung không khuất phục và không khoan nhượng với cường quyền. Tôi mừng phát khóc, khi phát hiện sự “duyên dáng Việt Nam”, mang vầng hào quang “bất khuất” của một anh thư, một gái nước Việt! Đây là một trong những duyên dáng mà CS không mong đợi, nhưng khắp thế giới đều cảm nhận. Trong khi, Việt Cộng bỏ ra hàng triệu đô la dát lên những khuôn mặt đầy son phấn, trải lên những bước chân tạo dáng, đầu tư vào những trang phục sặc sỡ, rót vào những lời ca tiếng nhạc. Để rồi cái gọi là “duyên dáng Việt Cộng” ấy, khi xuất cảng ra nước ngoài, chỉ nhận được “”bằng… chê” “dơ dáy Việt Nam!”.
Thời gian sau nầy, các Trung tâm băng nhạc hải ngoại bớt đi những nội dung hoài niệm dĩ vảng hoặc đơn thuần giải trí. Mỗi trung tâm tìm tòi và phát triển cho mình một hướng đi riêng. Gần gũi với tâm tình người hải ngoại hơn, thực tế với cuộc sống hơn và nhất là có thái độ chính trị tương đối rõ nét hơn. Một trong những hướng đi đó, tôi yêu thích nhất phần vinh danh những người Việt thành công ở hải ngoại. Cũng nhờ đó mà lòng tôi có dịp rộn lên niềm xúc động và hãnh diện khi được nghe giới thiệu về một người phụ nữ Việt tên Dương Nguyệt Ánh. Tài năng của khoa học gia nầy không ai không biết. Nó vượt ra khỏi ranh giới của hai tiếng Việt Nam. Tôi không đề cập đến cái tài, vì có nhắc cũng bằng thừa! Tôi cũng không nói đến nét đẹp của khuôn mặt, của sắc vóc, vì có nói cũng bằng thừa! Tôi nhìn cái “đẹp” của người phụ nữ nầy bằng tâm hồn tôi.
Nội cái tên Dương Nguyệt Ánh, không kèm một tên nước ngoài nào, cũng đủ làm tôi xúc động. Chẳng những nói lên được niềm tự hào dân tộc, mà còn nâng tầm Việt Nam ngang hàng quốc tế. Tôi không thích những tên ngoại kèm theo tên Việt. Tôi ao ước người ngoại quốc phải phát âm được tiếng nước tôi, như họ phát âm tiếng Nhật, tiếng Đại Hàn…qua các sản phẩm như Sony, Toyota, Honda, Huyndai, Samsung…mà không cần phải Big Sony hay Little Samsung…Dương Nguyệt Ánh thật tuyệt vời khi dung hợp được hai nền văn hoá Đông Tây. Tiếng Mỹ lưu loát, tiếng Việt lưu loát. Thành công trên xứ người, trả nợ cho người, sánh vai cùng người mà không bị ngưòi đồng hoá. Nàng vẫn giữ hồn Việt, tiếng Việt, vẫn tiếp bước cha ông, vẫn canh cánh trong lòng món nợ với non sông . Chợt nhớ đến câu nói của Nguyễn Văn Vĩnh: “Tiếng Việt còn, nước ta còn”. Qua những phụ nữ như nàng, tôi thấy được viễn ảnh một nước Việt huy hoàng, khi không còn bóng dáng của loài quỷ đỏ.
Sự bùng nổ của tin học đã xoá nhoà biên giới thông tin của các quốc gia. Nhờ đó, toàn thế giới có thể biết về hiện tượng của hai thiếu nữ Việt. Tại quê nhà, Cộng Sản nhào nặn ra một nhân vật Vàng Anh, trong bộ phim truyền hình nhiều tập, nhằm hư cấu một nếp sống trẻ “đạo đức cách mạng” trong xã hội chủ nghĩa. Diển viên vào vai Vàng Anh là Hoàng Thùy Linh. thực sự gây ấn tượng mạnh, khi tự quay phim làm tình của mình và bị phát tán trên mạng. Thùy Linh của Cộng Sản nổi (tai) tiếng khắp hoàn cầu.
Một thiếu nữ Việt khác đang tạm dung tại một nước tự do, nổi tiếng khi cô chưa cần nổi tiếng. Bài hát “Bonjour Việt Nam” chưa xuất hiện hoàn chỉnh, nhưng qua sự chuyên chở của người hát, bài hát đã khiến người người đua nhau lên mạng truy cập cho bằng được để thuởng thức và để chạnh lòng với tâm trạng "nhớ nước đau lòng con quốc quốc – thương nhà mõi miệng cái gia gia" của Bà Huyện Thanh Quan. Con tim tôi có dịp dấy lên niềm rung động, khi tôi nhìn một thiếu nữ đơn giản cũng mang tên Việt hoàn toàn, ra mắt công chúng trong chương trình văn nghệ của một trung tâm ca nhạc hải ngoại: Phạm Quỳnh Anh! Niềm rung cảm trong tôi không đến bằng lời ca tiếng nhạc, mà đến qua phần trả lời phỏng vấn. Phát âm tiếng Việt còn cứng và chưa trơn tru, nhưng cô đã cố gắng vận dụng tiếng Việt, nhất định không chen một từ ngoại quốc nào, dù cô thông thạo ba thứ tiếng Pháp, Anh và Hoà Lan. Sự kiện tuy nhỏ, nhưng với tôi rất lớn lao. Vì với tôi, nó ẩn chứa niềm tự hào dân tộc trong tim người con gái mới lớn, mà nguồn gốc của mình chắc chắn chỉ được biết qua lời nói hay chữ viết. Vì với tôi, nó tiềm tàng sự tiếp thu nền giáo dục gia đình, theo đúng văn hoá và truyền thống Việt.
Trong mắt tôi, trong tim tôi, Quỳnh Anh tuyệt đẹp, đẹp hơn cả những hoa hậu hoàn vũ, hoa hậu áo dài ở hải ngoại, mà có người đội vương miện, vô cùng đau khổ khi phải nói trước công chúng một câu bằng tiếng Việt.
Nhưng làm cho tôi vừa cảm động, vừa ngạc nhiên. Phải nói đến người phụ nữ tên Nguyễn Hồng Nhung. Cô là một ca sĩ được đào tạo từ mái trường xã hội chủ nghĩa. Thế nhưng, khi cô cất lên tiếng hát: “Hỡi người chiến sĩ, đã để lại cái nón sắt…”. Tôi cảm giác như có một cái gì đó làm nghèn nghẹn con tim. Qua màn nước mắt, tôi nhìn bóng dáng Hồng Nhung mờ mờ ảo ảo hoà trộn vào lời ca tiếng nhạc, du hồn tôi về một thuở xa xăm, một thời nón sắt . Hồng Nhung thật đẹp! Đẹp hơn cả những ca nhạc sĩ hải ngoại “bất tri vong quốc hận” cam tâm bỏ rơi chính nghĩa quốc gia, tìm về với kẻ thù dân tộc. Cái đẹp vượt trội của người phụ nữ nầy là làm dậy lên ánh quang của hai chữ “Chính Nghĩa”, mà ngay cả một số người tỵ nạn Cộng Sản đôi khi đã bỏ quên. Mờ mờ ảo ảo trên sân khấu, nhưng không mờ mờ ảo ảo chút nào trong việc phân định sự khác biệt giữa chiếc nón sắt và cái nón cối.
Còn và còn rất nhiều những người phụ nữ Việt Nam với những đức tính cao quý, như những chiến sĩ vô danh âm thầm góp phần làm nên sự tồn tại bốn ngàn năm của dân tộc Việt. Tôi chỉ vẽ được hình ảnh vài phụ nữ mà tôi biết được và đã gây cho tôi ấn tượng sâu xa trong lòng. Cũng như, hình ảnh của mẹ tôi, của vợ tôi, đối với người khác có thể không là gì, nhưng đối với tôi đó là những hình ảnh tuyệt vời, một trời yêu thương. Có bài ca “Tôi yêu tiếng nước tôi”, sao không thể không có câu: “Tôi yêu phụ nữ tôi” .
Nếu kiếp luân hồi là có thật. Một mai chết đi, đưọc đầu thai làm người. Tôi xin được tiếp tục làm người Việt Nam để hãnh diện về một dân tộc sản sinh ra thật nhiều những phụ nữ giàu đức tính. Bây giờ tôi mới thắm thía câu nói của Ông bà xưa : “Cái nết đánh chết cái đẹp”, “đẹp người, đẹp nết”. Phải rồi! Cái đẹp của người phụ nữ Việt không toát ra ngoài thân xác, mà lại tiềm ẩn trong tâm hồn, trong tinh thần và trong trái tim. Có lẻ vì vậy mà “tôi yêu phụ nữ tôi” nhiều thật nhiều !
Nguyễn Sang
Đàn ông là “giống” tham lam!
Họ thích đàn bà phải vừa đoan trang vừa sexy, vừa giỏi giang chứng khoán bất động sản lại vừa biết mát xa gội đầu thành thục…
Đàn ông là “giống” tham lam, đòi hỏi đủ thứ trái ngược ở đàn bà. Khi một người không đáp ứng nổi các đòi hỏi đó, họ quyết tâm đi tìm ở nhiều người khác nhau.
Họ muốn một người đàn bà có gương mặt trinh trắng ngoan hiền, thân hình lại bốc lửa chân dài ngực nở như vũ nữ múa cột, nhưng chỉ hào phóng ái tình với mình họ còn tất cả các đàn ông khác phải coi là zero, như một nữ tu ngoan đạo. Tuy nhiên họ lại cho phép mình “ăn cơm rồi lại ăn quà”, nếu được thì ủng hộ ngay chế độ đa thê và coi các ông hoàng Ả Rập làm niềm khao khát!
Trong nhà, nàng phải đảm đang nấu ăn ngon từ món Á đến món Âu, ra ngoài thiên hạ nàng phải đảm đang sắc sảo kiếm tiền như rác. Thế mà, khi chồng chê người yêu bỏ thì trước hết vẫn là lỗi của nàng nhé. Giỏi giang ư? Ai bảo kiếm tiền giỏi hơn chồng rồi lên mặt, đụng đến tự ái đàn ông, nó chán là phải! Nàng ngoan hiền ư, thời buổi này mà còn ngờ nghệch thế à, chồng nó cũng chán cho là phải!
Họ muốn đàn bà sẵn sàng “tình cho không biếu không”, không toan tính nhưng mấy ngày sau gặp lại phải lờ lớ lơ không hề quen biết cho họ nhẹ nợ. Họ muốn người tình phải phục tùng nhưng lại không muốn họ quẩn quanh hỏi thăm gọi điện, sợ mất “thể diện đàn ông”. Họ muốn nàng thông kim bác cổ, gặp bạn chàng phải biết bàn chuyện bầu cử tổng thống Mỹ, gặp mẹ chàng phải thuộc Nhị Độ Mai, lên giường với chàng phải nằm lòng Kamasutra. Trong khi chàng chỉ biết có bóng đá và game.
Lấy nhau rồi ư? Không đi làm, ở nhà chăm con lo việc nhà nặng nhọc, trăm thứ không tên thì bị cho là ăn bám. Đi làm vất vả, đến tối về nhà, vợ nấu cơm, tắm giặt cho con, cho con ăn (oshin chỉ dám cho dọn dẹp và rửa bát), chồng thì chơi game và xem TV chờ cơm, rồi lại TV và game tiêu cơm! “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” tưởng là một huân chương lung linh, nhưng thực ra là một cái ách nặng nề tròng vào cổ những người đàn bà phải cố rướn lên, nhân danh tình yêu và nghĩa vụ cao cả. Đồ rằng, người sáng tác câu khẩu hiệu đó là đàn ông!
Trong tất cả các tạp chí sách báo, người phụ nữ được căn dặn trăm lần như một là mặc dù về nhà lăn ngay vào bếp, nấu cho chồng xong lại đút cho con thì cũng không bao giờ được đầu bù tóc rối. Phải luôn luôn thơm tho, sạch sẽ, mặc những đồ bộ thơm tho lãng mạn, nụ cười luôn phải như hoa nở trên môi.
Trong khi, anh chồng thì bụng bia chảy sệ, mặc quần tà lỏn nhăn nheo, ngồi ngáp vặt trên salon, xỉa răng tanh tách, ợ hơi rổn rảng. Người vợ cắm mặt xuống bồn rửa bát nhớ về anh chàng mặc áo Lacoste bó bắp tay nổi múi luôn kéo ghế cho nàng ngồi năm xưa nay còn đâu? Lòng tự AQ với lòng, thôi chàng còn chịu khó ăn cơm ở nhà với vợ là tốt hơn khối chồng khác rồi…
Hạnh Chi

Con gà trống ưa gáy vang
Tác giả: Nguyễn Hữu Liêm
San Jose, California: Sau vườn nhà, chúng tôi có nuôi một bầy gà. Một con gà trống và năm con gà mái. Từ đầu canh Năm(ba giờ sáng) là con gà trống, tên Bô Bồ, gáy từng cơn. Đến cuối canh Năm nó lại gáy lần nữa. Đến sáu giờ sáng thì nó gáy đợt cuối cùng và bước ra khỏi chuồng đi tìm ăn. Những đêm nào tôi ngủ không được, nghe tiếng gà gáy cũng vui vui. Tôi cũng thấy là lạ, tò mò tìm hiểu cái chức năng thiên nhiên của tiếng gà gáy vọng lên từng đợt trong đêm trường. Hàng xóm chịu đựng - hay thưởng thức? Mấy con gà mái nằm bên cạnh tiếng gáy từng cơn cũng phải chịu đựng - hay thưởng thức? Tại sao gà trống "thích" gáy?
Tôi chưa được đọc một lý thuyết nào giải thích tiếng gà gáy trong cơ trời chung của loài động vật. Theo quy luật tồn tại trong thiên nhiên thì tiếng gáy chỉ báo động cho các con thú khác tìm mồi đến bên mình, chỉ cho muôn loài biết nghe là mình đang làm gì, ở đâu. Tiếng gáy cũng làm cho chính nó mất sức trong giấc ngủ đêm dài. Đó là chưa kể rằng nếu chủ nhà nuôi gà trong chu vi thành phố, chỉ cần một ông hàng xóm khó tính than phiền lên chính quyền thị xã, thì chú gà trống sẽ bị nguy to. Trên bình diện khách quan, tiếng gáy chỉ cho con gà con đường đến tử huyệt.
Nhưng đời sống, nhất là ở cõi loài thú vật, thì chức năng của tiếng gáy của con gà trống nằm ở một nơi khác. Con gà trống sống và gáy theo bản năng. Nhưng tại sao có một bản năng đầy nguy hại cho chính nó? Theo truyền thuyết thì cõi súc sanh, cái bản ngã (ego) của con vật nó nằm bên ngoài chúng. Mỗi con thú không có bản ngã cá nhân (individual ego) mà chỉ có bản ngã của loài giống (ego of the species). Vì thế, con gà, từ mỗi cá nhân, không có cá nhân tính - và do đó, nó không có khả năng tự do. Cuộc đời của thú vật chỉ có hai việc: duy trì chính mình bằng thức ăn và gieo giống cho thế hệ khác. Trong tiếng gáy con gà trống là tiếng gọi của giống loài từ chức năng truyền giống của nòi gà. Mỗi tiếng gáy là sự minh xác rằng cõi gà vẫn còn. Tiếng gáy càng to, thì giống nòi gà càng thể hiện. Một trong những lý do cho gà trống gáy là sự trống vắng âm thanh khi không gian im lặng - trong đêm tối hay là giữa trưa vắng lặng. Những lúc thanh tĩnh là lúc tiếng gáy càng vang xa, mời gọi các con gà trống khác, nghe tiếng gáy, cùng hòa theo, ganh đua một cách vô thức để cạnh tranh cho các lỗ tai của các nàng gà mái, chắc là cũng đang lắng tai nghe coi thử tiếng chàng gà nào sung sức hơn.
Nếu ai ở thôn quê mới biết rằng gà gáy từng cơn, từng chập như là một bản đồng ca thiên nhiên. Qua năm căn đêm, gà đồng nhau gáy cùng thời điểm, xong rồi im lặng, xong rồi lại hòa nhau gáy. Người nghe tiếng gà gáy quen rồi không bị đánh thức bởi âm thanh này. Càng nghe gà gáy, nhiều lúc tôi càng ngủ ngon và đậm hơn. Tiếng gáy của gà là âm thanh hòa bình, là tiếng nhịp của đêm, là nốt nhạc của trời đất, là tiếng ru của loài muông thú. Gà như cùng chia nhịp xoay của vũ trụ và trái đất để thể hiện chính mình ra bên ngoài. Nhiều lúc giữa trưa đứng nhìn con gà trống Bô Bồ, với bộ lông hoa hoè sặc sỡ, với tiếng gáy oai hùng, nó vươn vai, ngễnh cổ, giang hai cánh lên để cố sức tạo âm thanh sâu đậm, tôi thấy cái gì trong thiên nhiên cũng như là con gà trống này. Phát tiết tinh hoa và bản chất của mình ra với thiên hạ, với thiên nhiên, với thời gian chính là niềm hạnh phúc hiện sinh. Ôi thiên hạ ơi, ta đang có mặt đây nè!
Mỗi lần tôi đi đến gần bầy gà mái là con gà trống Bô Bồ xông đến, vươn vai, giang cánh nhào đến để tấn công tôi. Nó ghen ấy mà! Trong khi đó nó không bao giờ tấn công bà xã tôi và mấy đứa con gái. Mỗi buổi sáng ra vườn nhặt trứng thì vui lắm. Con gà trống Bô Bồ chạy theo bảo vệ trứng. Mỗi ngày bầy gà mái đẻ cho năm quả trứng tươi, lòng đỏ và vỏ chắc chắn, hương vị rất ngon. Thỉnh thoảnh chúng tôi phải biếu trứng đến bạn bè vì ăn không hết kịp. Ai cũng công nhận là trứng gà nuôi thiên nhiên ăn ngon hơn trứng mua ở siêu thị nhiều. Có lúc bạn bè từ xa đến chơi, tôi muốn làm thịt một con gà đãi bạn, nhưng mấy đứa con không cho. Tôi nhớ những lần về Việt Nam, thăm bạn ở đồng quê, thường được bạn mỗ gà cho ăn, thịt ngon vô cùng. Chắc quý vị cũng có lần nghe rằng có bà vợ phải giết con gà mái duy nhất đang ấp ổ trứng để đãi bạn của chống vì trong nhà không có gì để ăn cả. Tôi thấy tội nghiệp con gà, tội nghiệp các bà - và cái thói bất chấp, cái tật thiếu thông cảm của các ông, chỉ biết ăn nhậu mà quên đi những giọt nước mắt tiếc thương con gà của các bà vợ miền quê.
Năm kia, có con gà mái, tên là Taro, đến tuổi già và chết. Đứa con gái út của tôi, Jennifer, 9 tuổi, khóc suốt cả ngày. Nó làm một cái mộ nhỏ, chôn con gà xuống, với một tấm bia bằng Anh ngữ, đề tên con gà, và vài giòng điếu văn. Sau đó, nó viết một tấm bảng đề lên chuồng gà, bày tỏ lòng thương tiếc vô cùng khi gà chết. Nó viết,
"Dear Taro. I am so sorry that you went away to a different world. I hope you will have good foods, good friends there. I became a vegetarian because of you. I love you. Please rest in peace. Jennifer"
(Gà Taro thương mến. Tao rất đau buồn vì mày đã đi về một thế giới khác. Hy vọng rằng ở đó, mầy sẽ có thức ăn ngon và nhiều bạn tốt. Tao trở thành người ăn chay trường cũng vì mày. Tao yêu mày. Hãy an nghĩ ngàn thu. J.).
Tôi đọc xong bài điếu văn của con bé mà thấy vừa thương nó, vừa mắc cười. Đúng là con nít. Con gà chết chứ phải cha mẹ chết đâu! Nhưng trong tâm hồn ngây thơ, hồn nhiên của các em là tình yêu thú vật - mà người lớn chúng ta đã mất rất nhiều. Rất đông người Tây phương bây giờ, nhất là thế hệ trẻ, ăn chay trường, không vì lý do tôn giáo -vốn bắt buộc - mà vì tình yêu thú vật và ý thức tự do của các em khi chọn lựa cách sống cho bản thân. Từ ngày ấy, Jennifer và chị nó, Lan, phát nguyện ăn chay trường - và liên tục kêu gọi tôi và cả nhà hãy theo chúng để tránh không ăn thịt thú vật nữa.
***
Trong đời sống con người, giới đàn ông viết báo như chúng tôi có ít nhiều cái máu rất giống các con gà trống, như con Bô Bồ, ở sau vườn nhà tôi. Con gà nó ghét nhau vì tiếng gáy. Và chúng tôi rất muốn gáy. Gáy càng to càng thích. Và càng có nhiều con gà trống khác cạnh tranh thì chúng tôi lại càng thích thú và hứng khởi để to họng hơn nữa. Từ đó là ngữ nghiệp. Nhưng trong cái ồn ào, vang vọng của ngôn ngữ như tiếng gà trống vào buổi sáng, người viết văn, làm báo có ảo tưởng như mình đang đánh thức mặt trời để đem ánh sáng cho thế gian.
Có một đêm khuya trằn trọc không chợp mắt, tôi nghe tiếng con Bô Bồ gáy vang vườn, tôi mới vỡ ra một điều nho nhỏ. Tiếng gà gáy không phải là để cạnh tranh, hay kêu mặt trời mọc - mà là tiếng hát thiên nhiên đánh thức tình yêu của con người cho thú vật.
Hèn chi mà tiếng gáy con gà trống nghe inh ỏi như rứa nhưng lại mang một âm hưởng rất chan hòa an lạc và hồn nhiên.

