Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »



Image

Em Bé Việt được Đức Giáo Hoàng hôn
trong Thánh Lễ Cuối Cùng của Đại Hội

21/07/2008

Đôi vợ chồng trẻ Tú và Bích Lý và bé Tumi từ Cabramatta đến tham dự thánh lễ ngày Chúa Nhật , ngày cuối cùng của Đại Hội,
khi Xe của Đức Giáo Hoàng đi ngang,bé Tumi được mẹ bế đưa lên cao để chào đón Đức Giáo Hoàng , như bao nhiêu người
hành hương khác đang làm khi đoàn xe Đức Giáo Hoàng tiến đến :
" Thình lình một ông an ninh đưa tay ẩm bé Tumi, tôi đã đưa bé lên thật cao, vì tôi hy vọng Đức Thánh Cha thấy cháu bé
và đưa tay ban phép lành cho bé" Bích ly nói .
" Tôi không nghĩ bé Tumi được đón nhận , lúc đầu tôi nghĩ nhân viên an ninh này sẽ bảo tôi lui lại phía sau vì tôi tiến lên quá xa!
nhưng ông ta nói, " không sao".
" Tôi để ông ta ẩm bé Tumi , và Đức Thánh Cha đã hôn bé. Tôi bật khóc - Giây phút đó tôi sẽ không bao giờ quên"
Image

Cháu Tumi được biết có liên hệ họ hàng với một vị thánh tử đạo Việt Nam trãi dài qua 6 đời hơn 150 năm.

Thánh Joseph Lưu , 64 tuổi chết trong tù tại Vĩnh Long Việt Nam ngày 2 tháng năm 1654 vì ông bị tra tấn mang
với thương tịch trầm trọng.
Trước đó một năm ông bị bắt, vì từ chối không chịu bỏ đạo Thiên Chúa ông đã bị hành hạ nhiều kiểu khác nhau
kể cả đóng đinh trên thập tự giá.
Đức Giáo Hoàng John Paul II đã phong thánh cho ông trong năm 1988.
Thánh Joseph Lưu là một trong 117 Thánh tử đạo của Việt Nam , tử tiết trong thời gian 1925 - 1886.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ,
Cờ Truyền Thống Của Dân Tộc Việt Nam


NGUYỄN CHÍNH KẾT .


Image
Người viết tham dự cuộc diễn hành văn hóa quốc tế tại New York ngày 21/7/2008.

Cờ vàng ba sọc đỏ không phải chỉ là cờ của nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa, mà đã có từ thời vua Thành Thái từ năm 1890 kéo dài 30 năm cho đến năm 1920 (1*). Đến thời Bảo Đại khi ông Trần Trọng Kim làm thủ tướng, cờ truyền thống nền vàng ba sọc đỏ đã được chính thức công nhận là quốc kỳ bằng sắc lệnh số 3 ngày 2/6/1948, do Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân ký với tư cách thủ tướng chánh phủ lâm thời Quốc Gia Việt Nam lúc ấy (2*).

Cờ Việt nền vàng bắt nguồn từ truyền thống dân tộc Việt có từ thời Hai Bà Trưng, được cải tiến nhiều lần qua thời gian và cuối cùng có hình dạng nền vàng ba sọc đỏ như hiện nay. Để biểu lộ lòng yêu dân tộc và trung thành với truyền thống dân tộc Việt thì cờ của dân tộc Việt Nam phải có nền vàng.

Như vậy, cờ vàng ba sọc đỏ – đã có từ 118 năm trước (tính đến năm nay, 2008) – không phải chỉ là cờ của một chế độ hay một thể chế chính trị nào, mà là quốc kỳ truyền thống của dân tộc Việt Nam. Khi Việt Nam bị chia đôi thành hai miền Nam Bắc, các Chính phủ Miền Nam dưới thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, do trung thành với truyền thống dân tộc, đã dùng lá cờ vàng của dân tộc làm quốc kỳ. Dưới ngọn cờ biểu tượng cho chính nghĩa Tự Do này, tập thể dân quân miền Nam Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu để tự vệ, chống lại cộng sản xâm lược từ miền Bắc vốn được Liên Sô và Trung Quốc đắc lực trợ giúp vũ khí và nhân sự.

Việt Sử là một lịch sử tranh đấu hào hùng, dai dẳng và kiên trì cho nền tự do, độc lập của toàn dân tộc khi bị giặc Hán cai trị hàng ngàn năm, bị giặc Tây đô hộ gần 100 năm, và hiện nay đang bị giặc nội xâm cộng sản toàn trị suốt mấy chục năm qua. Qua các cuộc tranh đấu cứu nước, cờ của dân tộc, dù thay đổi tùy thời đại, luôn luôn có nền màu vàng. Người Việt hải ngoại và các chiến sĩ tự do đang đấu tranh ở quốc nội coi Cờ Vàng là biểu tượng cho cuộc tranh đấu dành lại tự do, dân chủ và độc lập cho dân tộc Việt Nam. Vì thế, cờ vàng ba sọc đỏ minh nhiên là cờ chung của cả dân tộc Việt Nam và của những người Việt Nam đang theo đuổi lý tưởng tranh đấu cho tự do dân chủ.

Năm 1975, cộng sản miền Bắc đã cưỡng chiếm được Miền Nam bằng bạo lực tàn ác và những thủ đoạn chính trị gian xảo, nước Việt Nam được thống nhất dưới chế độ cộng sản độc tài hà khắc. Đảng cộng sản đã áp đặt người dân hai miền phải dùng lá cờ nền đỏ sao vàng. Nền đỏ là nền cờ của Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng như của Đảng Cộng Sản Quốc Tế (với hình búa liềm). Nó hoàn toàn không có tính dân tộc hay tình tự dân tộc. Người Việt gọi là "cờ máu" rất đúng vì cờ này được xây dựng trên máu xương của hàng triệu người dân vô tội đã chết cách hết sức oan uổng. Thật vậy, dưới lá cờ này, người dân Việt Nam đã phải hy sinh quá nhiều xương máu một cách thê thảm, phí phạm và vô ích. Những lá cờ nền đỏ của các nước cộng sản đều có nhiều nét tương tự nhau: cờ Liên Sô có một sao đỏ và hình búa liềm, cờ Trung Cộng có 1 sao lớn 4 sao nhỏ màu vàng. Lá cờ CSVN có một sao lớn màu vàng y hệt như lá cờ của tỉnh Phúc Châu Trung Quốc. Nó chỉ có thể là cờ riêng của một chế độ CSVN, một chế độ độc tài tàn ác, đàn áp bóc lột nhân dân, tước đoạt mọi quyền của con người, kể cả quyền tự do tôn giáo và quyền căn bản nhất là quyền tự vệ trước sự đàn áp bóc lột của chế độ. Đó quả là một chế độ hoàn toàn ngược lại với ý chí và quyền lợi của dân chúng. Vì thế, cờ đỏ sao vàng của CSVN hoàn toàn không phải là cờ của dân tộc, trái lại, nó là lá cờ thù nghịch với dân tộc Việt Nam, thù nghịch với các tôn giáo, các tín đồ tôn giáo.

Không sống nổi dưới chế độ phi nhân này, trên 3 triệu người Việt đã phải vượt biên vượt biển tìm tự do, mang theo lá cờ vàng ba sọc đỏ thân yêu bắt nguồn từ truyền thống dân tộc. Kể từ đó, lá cờ này đã trở thành biểu tượng của Tự Do cho toàn thể khối người Việt tự do trên khắp thế giới.

Tóm lại, qua những trình bày trên, ta thấy cờ vàng là cờ truyền thống của dân tộc Việt Nam, vì dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa đã chọn màu cờ vàng là cờ của quốc gia dân tộc. Trung thành với truyền thống đó, cờ vàng ba sọc đỏ chính là cờ truyền thống của dân tộc Việt Nam, chứ không phải của riêng một thể chế nào.

Tôi rất lấy làm lạ khi thấy nhiều người từ trong nước ra hải ngoại – kể cả những tu sĩ, những chức sắc cao cấp nhất, trí thức nhất trong các tôn giáo – lại tỏ thái độ tránh né lá cờ Tự Do, lá cờ truyền thống của dân tộc đã tồn tại từ 118 năm nay. Tại sao? Tại sao khi đến với đồng bào hải ngoại thân thương ruột thịt, họ lại tỏ ra e ngại, tránh né, thậm chí xúc phạm đến biểu tượng mà người Việt hải ngoại hết sức trân quý, yêu thương, cũng là biểu tượng cho Tự Do Dân Chủ, một nhu cầu tối yếu mà chính người trong nước đang khao khát nhưng chưa có? Phải chăng họ e sợ khi trở về nước sẽ bị công an trong nước bắt bẻ, hành tội một cách phi lý? Là người trí thức, có khả năng ăn nói mạnh mẽ và lý luận cao hơn người thường, lẽ nào họ lại không biết cách giải thích phân minh cho công an, cán bộ cộng sản hiểu rằng: lá cờ vàng ba sọc đỏ không chỉ là cờ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà còn là cờ truyền thống của dân tộc, của lý tưởng tự do dân chủ của người Việt? Nếu CSVN đã công nhận người Việt hải ngoại là "khúc ruột ngàn dặm" của họ thì mặc nhiên họ đã công nhận biểu tượng hay lá cờ của "khúc ruột ngàn dặm" ấy rồi!

Các tu sĩ tôn giáo chắc chắn phải biết lá cờ nào là thù nghịch với tôn giáo, với niềm tin tôn giáo của họ. Họ phải biết lá cờ nào đã từng chủ trương tiêu diệt họ, hạn chế tự do tôn giáo của họ, và cờ nào là cờ đang tranh đấu cho chính họ để họ được tự do hành đạo chứ! Chẳng lẽ họ không phân biệt được cờ nào là bạn, cờ nào là thù?

Biết bao thường dân nhỏ bé, thậm chí là "liễu yếu đào tơ", tiếng nói ít sức mạnh và ít ảnh hưởng hơn họ rất nhiều, thế mà vẫn dám đứng thẳng lưng trước bạo quyền… Gương của những Lê thị Công Nhân, Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Tiến Nam… là những người mới chỉ khoảng 30 tuổi đầu, đã dám đối đáp với bạo quyền với tất cả khí phách của mình, gương đó đang sờ sờ trước mắt họ! Lẽ nào đường đường là những "đấng", những "ngài", những "bậc" với tiếng nói "có gang có thép" – lại chấp nhận khom lưng, run sợ bạo quyền tới mức độ không dám hành xử theo lẽ phải, theo lương tâm mình? Lẽ nào lại sẵn sàng làm những điều trái với lương tâm, trái với chủ trương của đạo giáo mình, trái với những lời thề nguyền của mình trước những đấng thiêng liêng (3*) …?

Tôi xin chấm dứt bài này bằng nhận định xác đáng của Gs Nguyễn Ngọc Huy:

"Hiện nay, quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ không còn được chánh thức dùng bên trong nước Việt Nam, nhưng mọi người Việt Nam ở quốc nội đều biết rằng nó là lá cờ tượng trưng cho nền độc lập và tự do của Tổ Quốc, chống lại chế độ cộng sản tàn ác, phi nhân và nô lệ ngoại bang. Bên ngoài Việt Nam, nó cũng được người ngoại quốc xem là biểu tượng của phía người Việt Nam chống lại chế độ cộng sản. Không biểu tượng nào khác có thể thay thế cờ vàng ba sọc đỏ về các mặt này. Vậy, việc tỏ lòng tôn trọng Quốc Kỳ nền vàng ba sọc đỏ và dùng nó một cách rộng rãi ở nơi nào có người quốc gia Việt Nam là một công cuộc đóng góp lớn vào việc giải phóng đất nước khỏi ách độc tài Cộng Sản" (4*).
Washington DC, ngày 21/7/2008.

Nguyễn Chính Kết

Chú Thích:

(1*) Tài liệu "Quốc Kỳ Việt Nam: Nguồn Gốc và Lẽ Chính Thống" của KS Nguyễn Đình Sài (http://lichsuviet.cjb.net/view_article.asp?id=301&cat=3) viết: "Năm 1890, nhà vua [=Thành Thái] xuống chiếu thay đổi quốc kỳ chữ Hán [của thời Đồng Khánh] bằng quốc kỳ mới. Lá cờ nền Vàng Ba Sọc Đỏ lần đầu tiên được cấu tạo và được dùng làm quốc kỳ". (Note: những chữ trong ngặc móc […] là giải thích của người viết).

(2*) Cũng theo tài liệu trên.

(3*) Trong số những kinh do các vị chức sắc Công giáo đặt ra, kinh "Suy tôn Nữ vương Gia đình" thường được giáo dân đọc trước 1975 có một lời thề nguyền: "Gia đình con xin nguyền không theo thuyết Cộng Sản vô thần! " Lẽ nào những người soạn ra, những người từng khuyến khích mọi người đọc kinh này lại chóng quên đến thế lời thề nguyền ấy?

(4*) Xem bài "Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy", phần D (http://www.danviet.net/biensoan/print.asp?Article_ID=6), số 3 §2.

NGUYỄN CHÍNH KẾT

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Thông Điệp Cờ Vàng
Tác giả: Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất


Đại Hội Giới Trẻ Công Giáo Thế Giới WYD2008 đã bế mạc. Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đã trở về Roma. Các giám mục, linh mục đã rời về nhiệm sở. Các bạn trẻ và những người tham dự cũng đã giã biệt bạn bè để về với gia đình. Thành phố cảng Sydney của nước Úc với 2 công trình nổi bật là cây cầu Harbor và hí viện Opera House bắt đầu lại cuộc sống bình thường của nó. Mọi người từ phương xa tới đã rời Sydney với một dấu ấn khó quên về ngày Giới Trẻ WYD2008.

Riêng người Việt Nam , bất kể từ trong nước ra hay từ thập phương tới, có thể nói tất cả khi trở về đều mang theo hình ảnh lá Cờ Vàng 3 sọc đỏ thân thương. Không biết ở đâu mà nhiều cờ đến thế. Cả một rừng cờ, toàn cờ là cờ. Không chỗ nào không có bóng dáng lá Cờ Vàng 3 sọc đỏ. Sự thể trái hẳn với những kỳ Đại Hội WYD trước, cũng có các bạn trẻ VN tham dự, nhưng chỉ với một vài lá cờ tương đối nhỏ tượng trưng. Hiển nhiên là nếu không có lá thư khiêu khích của HY Phạm Minh Mẫn thì đã không có hiện tưọng “rừng cờ” tại WYD Sydney.

Kinh nghiệm cho thấy tinh thần chống cộng của cộng đồng tỵ nạn VN trên toàn thế giới rất cao và rất kiên cường. Cái cộng đồng này mỗi khi bị chọc tức thì nó phản ứng rất mãnh liệt không ai cản nổi. Đặc biệt lần này sự phản ứng bùng lên từ giới trẻ là những ngưòi có thể nói đa số không có kinh nghiệm bản thân về CS. “Biến cố Cờ Vàng” tại Đại Hội Giới Trẻ CG tại Sydney như vậy rõ ràng là một Thông Điệp trả lời cho HY Phạm Minh Mẫn, đặc biệt là trên hai điểm qui kết tàn nhẫn và ác độc nhất trong lá thư của ông: Cờ Vàng là một thói đời mang tính đối kháng và nó là nguyên nhân làm tắc nghẽn sự hiệp thông của tuổi trẻ VN trên thế giới.

Sự thật tại Sydney đã trả lời như thế nào?

Thứ nhất, lá Cờ Vàng không phải là một thói đời mang tính đối kháng.


1/ Lá Cờ Vàng 3 sọc đỏ tại WYD2008 chắc chắn đã bị ban tổ chức (BTC) đại hội cấm không cho xuất hiện và nó đã bị cả nửa triệu tham dự viên tẩy chay nếu nó là biểu tượng của một lối sống, hoặc một thói đời mang nặng thù hận và đối kháng như HY Phạm Minh Mẫn tố cáo. Suốt thời gian đại hội, người ta không hề thấy BTC hoặc bất cứ ai lên tiếng phê bình hoặc dị nghi về tính chất của lá Cờ Vàng. Do đó lời tố cáo của HY Mẫn là sai sự thực và có ác ý. Mục đích và đặc tính của đại hội là thương yêu chứ không phải thù hận, là hiệp thông chứ không phải đối kháng. Lá Cờ Vàng đã đáp ứng những yêu cầu cho mục đích của đại hội nên nó đã hiên ngang và được tự do xuất hiện trong suốt thời gian đại hội không bị ai cấm cản. Giả sử một thí dụ phản chứng như sau: có một đoàn thanh thiếu niên người Đức thuộc thành phần thanh niên đầu trọc (skinhead) mang lá cờ chữ Vạn của Đức Quốc Xã tói Sydney tham dự Đại Hội WYD thì chuyện gì sẽ xẩy ra? Tôi tin chắc nửa triệu tham dự viên của đại hội sẽ nhất định có phản ứng. Họ dứt khoát sẽ không đứng chung với lá cờ của Hitler đã một thời thực sự mang tính đối kháng với mọi dân tộc trên thế giới. Và tôi cũng dám khẳng định BTC Đại Hội và ngay cả Đức Giáo Hoàng cũng không không chấp nhận sự hiện diện của lá cờ này vì nó đã gây chết chóc cho hàng triệu sinh linh, làm điêu đứng hầu như cả thế giới, mặc dù lá cờ này đã có một giai đoạn là lá cờ tổ quốc của nước Đức của Ngài. Đấy mới là lá cờ mang tính đối kháng thực sự.


2/ Việc Đức Thánh Cha ưu ái làm phép lá Cờ Vàng và tự tay choàng nó lên cổ Ngài rõ ràng là một sự phủ định lời tố cáo của HY Phạm Minh Mẫn: lá Cờ Vàng là một thói đời mang tính đối kháng. Nếu lá Cờ Vàng biểu tượng cho một cái gì đó xấu xa mang tính phá hoại như HY Mẫn tố cáo thì chắc chắn Đức Thánh Cha đã không bầy tỏ cảm tình ưu ái đó đối với nó. HY Mẫn hay có ai đó nghĩ rằng Giáo Hoàng không biết? Xin thưa, Đức Thánh Cha là một bậc trí thức uyên thâm, hơn nữa Ngài là con dân của nước Đức, một đất nước cũng bị chia cắt vì CS như VN. Ngài không thể không biết, trái lại Ngài biết rõ hơn ai hết ý nghĩa mà lá Cờ Vàng biểu tượng. Có ai đó cứ thử đem lá cờ của chế độ CS Đông Đức cũ cho Giáo Hoàng xem Ngài có ưu ái nó như lá Cờ Vàng không? Tôi tin là không bao giờ.


Thứ hai, lá Cờ Vàng không hề làm tắc nghẽn sự hiệp thông của tuổi trẻ VN.


1/ Vì có lá thư của HY Phạm Minh Mẫn nên việc báo chí theo dõi các biến cố liên quan đến lá Cờ Vàng, đặc biệt là báo chí tiếng Việt, trở thành điểm nóng của Đại Hội WYD2008. Tuyệt nhiên không có một lá cờ máu nào xuất hiện trong đại hội, mặc dầu người ta thấy bọn CSVN đã có những nỗ lực đáng kể để trương lá cờ đỏ của chúng lên trong đại hội. Trái lại tại khắp nơi trong suốt đại hội, người ta chỉ thấy lá Cờ Vàng. Thế nhưng tuyệt nhiên đã không có xẩy ra sự phân cách nào giữa các bạn trẻ trong nước và ngoài nước. Tất cả các em gặp nhau như anh chị em một nhà, rất thân tình và rất hòa ái. Tất cả các bạn trẻ trong nước tham dự đại hội đều được đồng hương tỵ nạn đón tiếp tận tình và chu đáo. Tại đại hội này như thế và tại các đại hội trước cũng như thế cả. Hoàn toàn không có chuyện gọi là tắc nghẽn hiệp thông vì lá Cờ Vàng như HY Mẫn cáo buộc. Nếu có chuyện gì xẩy ra làm tắc nghẽn sự hiệp thông giữa trong nước và hải ngoại, việc đó chắc chắn không qua mắt nổi giới báo chí, nhất là báo không phải là tiếng Việt. Như thế lời cáo buộc của HY Mẫn rõ ràng là một lời gian dối. Một người quyền cao chức trong và có uy tín như HY Mẫn không thể ăn nói hàm hồ, hẳn là phải có mưu đồ gì?


2/ Hơn thế nữa có mấy vị linh mục từ trong nước ra còn choàng lá Cờ Vàng trên mình để chụp hình. Các vị này tỏ vẻ hân hoan và vui sướng nhìn thấy lá Cờ Vàng như gặp lại người thân. Các vị không sợ bị làm khó dễ khi trở về như một vài người lên tiếng lo ngại. Điều đó một mặt chứng tỏ tính “chính danh và chính thống” của lá Cờ Vàng đối với mọi người có tên là Việt Nam, ở trong nước cũng như ở ngoài nước, một mặt cho thấy người dân trong nước đã vượt qua được sự sợ hãi đối với chế độ CS tàn bạo.


Ở đây tưởng cũng nên khen bọn VGCS một phát. Nói vậy xin đừng có ai vội đội nón cối cho tôi kẻo tội lắm. Tin tức cho biết có tới khoảng 60 tên công an tôn giáo trà trộn trong đoàn người trong nước sang Úc tham dự Đại Hội WYD. Bọn này phối hợp với tòa lãnh sự CS cố gắng để trương cho được ít nữa vài lá cờ máu trong đại hội nhưng đã thất bại. Chúng thất bái không phải vì chúng không làm nổi, mà vì chúng biết dừng lại ở chỗ cần phải dừng. Khen là khen ở chỗ đó. Nếu chúng giương lá cờ máu lên thì cứ cầm chắc rằng sẽ có chuyện gì xẩy ra. Chuyện xẩy ra sẽ bị cảnh sát Úc can thiệp và báo chí sẽ làm rùm beng lên. Người giương lá cờ máu nếu là một em trong đoàn thanh thiếu niên CG hẳn em sẽ khai ra do kẻ nào xúi bẩy. Còn nếu người giương cờ máu là một tên công an chính hiệu con nai vàng ngơ ngác thì liệu hắn có giám chối “lậy ông con KHÔNG ở bụi này” không. Cuối cùng thì đàng nào cái đuôi kẻ phá thối cũng sẽ phải lòi ra. Bọn VGCS biết dừng tay là đúng. Chịu thua thiệt một chút còn hơn là bị mang tiếng xấu phá hoại.


“Biến cố Cờ Vàng” còn mang ý là một thông điệp gởi cho Hội Đồng Giám Mục VN (HĐGMVN) và luôn cả bọn đầu lãnh Hànội nữa.


* Với HĐGMVN, qua đường lối xưa nay của HĐGM và nhất là qua hành động của HY Phạm Minh Mẫn lần này, GHVN chứng tỏ đang đứng về phe kẻ thù của của Dân Tộc và của chính mình. GH đang đứng bên lề dòng sinh mệnh của Dân Tộc chứ không phải đồng hành cùng Dân Tộc như chủ trương mà HĐGM vẫn rêu rao. GH đã trở thành một thứ “chó câm” trước các bất công xã hội và sự vô luân của cường quyền. Đường lối đối thoại với CS của HĐGM đã tỏ ra phá sản. GH dựa vào cường quyền chỉ có thể mở mang đôi chút về cơ sở vật chất, hưởng một chút tự do hơn trước trong một số mặt sinh hoạt, nhưng đã phải hy sinh mục tiêu tối hậu của Phúc Âm là rao giảng công bình xã hội và đem thương yêu đích thực đến cho người cùng khổ. Đối thoại nói trắng ra là một thương lượng đổi chác quyền lợi. GH hy sinh những quyền lợi tinh thần là rao giảng Phúc Âm để đổi lấy một vài nhượng bộ của con cái Satan, về căn bản là một thiệt thòi trông thấy. Những quyền lợi đó không thể đem ra mà đổi chác được. Rõ ràng đường lối đã sai từ căn bản. Cuối cùng cái mà đường lối đối thoại mang lại là GH bị mất tin tưởng và còn bị khinh khi.


* Với bọn đầu lãnh Hànội, “biến cố Cờ Vàng” tại Sydney có tác dụng đập tan luận điệu xuyên tạc của VGCS và bọn tay sai của chúng về ý chí chống cộng của người dân VN trong cũng như ngoài nước. VGCS và bọn đầy tớ, điển hình nhất là tên Nguyễn Cao Kỳ, vẫn thường huyênh hoang rằng thành phần chống đối CS chỉ là thiểu số ồn ào và là lớp người già hoài niệm dĩ vãng xa xưa. Bọn đầu lãnh Hànội có giỏi cứ thử ra ngoài này tụ tập được lấy dăm chục tên tay sai phất cở đỏ ủng hộ chúng xem có nổi không? Đa số thầm lặng không có nghĩa là họ ủng hộ CS. Hàng triệu người về VN không có nghĩa là họ theo CS. Bọn đầu lãnh Hànội nên hiểu rõ điều đó. Không phải chỉ có những người già mới nằm ôm dĩ vãng mà chống cộng. Tuổi trẻ VN có mặt tại Sydney đã đập nát tan tành luận điệu bịp bợm này của VGCS.


Đến đây coi như có thể tạm kết thúc bài viết này được rồi. Tôi không tự đưa ra phần kết cho bài viết của tôi mà xin mượn tâm tình của một em từ VN tên Mai Ly đã tham dự Đại Hội WYD để làm kết luận. Những tâm tình này thật đơn sơ và chân thành hy vọng sẽ củng cố và là bảo chứng cho những điều tôi đã trình bầy trên. Tôi xin được em Mai Ly thuận cho. Tôi xin phép em trước và đường đột như thế này vì không biết địa chỉ của em mà xin phép. Thành thật cám ơn em.


(Phần mượn làm kết luân)


Thành phần được CSVN “gài” vào Đại Hội Thanh Niên Thế Giới Sydney, từ 15 đến 20/7/2008, họ là những ai?



Thành phần được CSVN “gài” vào Đại Hội Thanh Niên Thế Giới Sydney, từ 15 đến 20/7/2008, họ là những ai, họ được chỉ thị phải làm gì và họ đã làm gì trong suốt tuần Đại Hội này, ít ai được rõ.

Lý do là vì họ không ra mặt, và dường như họ... chẳng làm gì hết.

Nói cách khác, chắc họ thấy rõ không nên ra tay làm gì cả vì nó sẽ... lố bịch lắm, nó sẽ... phơi bày cái ác giữa bầu không khí nhân ái, thánh thiện của suốt tuần lễ Đại Hội.

Theo tuần tự thời gian, một số bạn trẻ từ trong nước đã tâm tình như sau:

Ngày 13/7, Chủ Nhật, ngày đầu tiên chúng em đặt chân đến Sydney, chúng em được sắp xếp ở chung với các nhóm trẻ Việt Nam từ các nơi đến. Chúng em hỏi các bạn: À, bạn này từ Mỹ thì mang cờ Mỹ, nhóm kia ở Canada đến thì cầm cờ Canada, còn tụi em từ Việt Nam thì cầm cờ Việt Nam chứ ạ? Bọn em có mang theo cờ trong cặp này.

Các bạn nhìn chúng em rồi bảo: Bạn ra hỏi Ban Tổ Chức đi nhé. Ban Tổ Chức thì bảo chúng em: Các em cứ cất trong cặp đi, đừng mang ra, ở hải ngoại không dùng cờ này đâu, vài ngày nữa rồi tính.

Thế là chúng em cất trong cặp.

Ngày thứ hai, ngày thứ ba, và các ngày kế tiếp, chúng em sinh hoạt chung với nhau trong hội trường Whitlam Centre, tất cả các bạn đến từ mọi nơi, có khi chung cả khối 3 ngàn người Việt Nam, có khi chia ra từng nhóm nhỏ. Rất vui, rất cởi mở. Các bạn ở Úc đón tiếp chúng em rất niềm nở, hỏi han đủ chuyện. Từ chuyện học hành đến chuyện việc làm và sinh hoạt trong gia đình, trong các giáo xứ chúng em ở Hà Nội, Bùi Chu, Hà Tĩnh, Huế, Đà Lạt, Kontum, Cần Thơ, Vĩnh Long, Cà Mau, Sàigòn, v.v... và cả những sinh hoạ t ngo ài xã hội. Lạ quá, các bạn hải ngoại đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác qua những câu chuyện chúng em kể. Các bạn ấy không biết (và không chấp nhận) rằng ở Việt Nam , làm gì cũng phải hối lộ. Ở Úc, hối lộ là mất việc làm! Đối với bọn em, ở trong nước quen rồi, không hối lộ làm sao mà sống? Này nhé, bằng cấp đại học hay tiến sĩ hay tốt nghiệp phổ thông, cứ chi tiền ra là có ngay. Chạy xe ngoài đường, có lỡ phạm luật thì cứ nhét tiền cho công an là xong, chứ mà để họ ghi phạt thì rắc rối to! Ở Úc thì đừng hòng hối lộ người ghi phạt, đã bị phạt nặng hơn, còn bị trừ điểm! À hay quá, ở cái xứ có luật lệ thích nhỉ!

Còn nữa, ở Úc, chuyện COCC (xê ô xê xê/con ông cháu cha) là không có đâu. Bạn này học giỏi, bạn kia khôn lanh, được chọn trong những kỳ tuyển chọn nhân viên là sẽ được việc. Không phải như ở Việt Nam , con cán bộ là có việc ngon, còn bọn em thì mãi-mãi chỉ có những việc làm... đói meo. Con bạn học cùng với em, bố nó là cán bộ “khung” nghĩa là cán bộ “gộc”, thành ra nó là “dân nhà nòi” rồi. Hiện nó đang du học ở Mỹ, khi về nó sẽ đương nhiên là trưởng phòng, rồi từ-từ, mai kia mốt nọ, nó sẽ làm đến... Thứ Trưởng như bố nó đấy! Bọn em chẳng tin là con cháu cán bộ du học về rồi sẽ thay đổi Việt-Nam tốt hơn đâu.

Ngược lại, một bạn trẻ sanh ra ở Úc kể cho chúng em rằng gia-đình bạn toàn là đàn ông, chỉ có một “đứa” con gái, đó là... mẹ của bạn. Ối giời ơi! bạn phải nói là “nhà bạn chỉ có một người đàn bà, đó là mẹ bạn, tiếng Việt mình phong phú lắm!”.

Chúng em được học hỏi giáo lý rất nhiều về Đức Chúa Thánh-Thần, vì chủ đề của Đại hội là: “Hãy lãnh nhận Sức Mạnh từ Chúa Thánh-Thần, và hãy trở nên nhân chứng của Ngài.”

Vâng, chúng em tin rằng trong mấy ngày này, Đức Chúa Thánh-Thần đang thổi hơi, đang ban sức mạnh và soi-sáng chúng em qua những trao đổi với các bạn trẻ, với các cô các chú ở Úc và từ các nơi. Chúng em nhận ra được đâu là gian tà, đâu là chân-lý. Sự ác cạnh sự lành, những dối trá cạnh những hành xử đầy nhân bản, yêu thương. Các bài hướng dẫn đến từ các Đức Giám-Mục, các linh-mục và cả từ các bạn trẻ lên chia sẻ kinh nghiệm thực tế đã đánh động chúng em. Rồi đến các buổi văn nghệ. Chúng em hòa đồng và hiệp thông trong yêu thương. Chúng em cùng hòa vang trong các bài hát chung, nhất là bài của linh-mục Chu-Văn-Chi tại Sydney: “Gần nhau trao cho nhau yêu thương tình loài người, gần nhau trao cho nhau tin yêu đừng gian dối, gần nhau trao cho nhau ánh mắt nhân loại này, tình thương trao cho nhau xây đắp trong tình người. Cho dù rừng thay lá xanh đi, cho dù biển cạn nước bao la, ta vẫn yêu thương nhau mãi-mãi!”

Rồi đến ngày đón Đức Giáo Hoàng, Thứ Năm 17/7. Trước khi tất cả được xe bus chở đến Barangaroo Park trên City, thì một anh trong Ban Tổ Chức hỏi thăm bọn em thấy thế nào trong mấy ngày qua, còn định mang cờ đỏ đi không. Câu trả lời là : “Anh ơi, chúng em không đưa cờ đỏ ra đâu, vì nó sẽ kỳ lắm, nó sẽ lạc lõng trong cái không khí vui tươi, hiệp thông và thánh thiện này. Nhưng mà anh ơi, bọn em tâm sự với anh thật lòng thế này, bọn em mong anh hiểu cho, anh đừng chụp hình bọn em mà có “dính” cờ vàng nhé, vì bọn em được chọn qua đây rồi thì về cũng phải báo cáo cho tập thể chứ đâu phải không, nên anh hiểu cho bọn em nhé.”

Trong thâm tâm chúng em đã hiểu rằng, cờ vàng là cờ của Việt-Nam, đã được dùng từ lâu lắm, trước khi bọn em ra đời, và cả trước khi ba má bọn em ra đời nữa. Còn cờ đỏ là cờ của một đảng phái đem ra làm cờ cho cả nước. Ở Úc này, cờ đảng phái không bao giờ được áp đặt cho cả dân tộc Úc. Nếu xẩy ra đìều này thì ngay cái đảng phái đó bị tẩy chay ngay, nhất là khi đảng phái đó làm cho dân nghèo hơn, đói hơn, bị đối xử bất công hơn và còn để cho mất đất mất biển nữa. Nhưng mà ở Việt-Nam, quyền hành ở trong tay “người ta” thì bọn em làm gì được? Thôi thì cứ phải thủ cho an toàn.

Ra đến City, trong ngày Khai Mạc Đại Hội, chúng em chứng kiến đoàn rước cờ các nước. Đẹp quá! Một bạn trẻ Việt-Nam trong Đại Hội đã cầm lá cờ vàng đại diện cho Việt-Nam. Tất cả mọi người Việt-Nam tham dự đều hoan-hô, vỗ tay la hét ầm-ĩ. Hễ đứng cạnh một người Việt-Nam là thấy reo hò như muốn bể lồng ngực. Chúng em cũng chia sẻ niềm vui này. Trong thâm tâm, chúng em, là những người đang sống cảnh bất công, kềm kẹp tại Việt-Nam, tiếng gào thét trong lòng chúng em cho một Việt-Nam công bằng, nhân ái còn phải lớn hơn các bạn ở Úc.

Trước khi qua Úc, chúng em lo lắm, cứ nghĩ là người Việt ở Úc và các nước... dữ-dằn lắm! Vì sẽ xem chúng em như là.... Việt cộng con!! Nhưng mà, sau mấy ngày gần gũi, chúng em thấy rõ lòng nhân ái của các bạn và của các cô các chú chăm sóc cho chúng em. Chúng em đâu có bà con họ hàng gì với các cô các chú trong các giáo xứ tại Úc mà được các cô các chú cho ăn, ngủ, còn đưa đi đón về suốt cả tuần, còn nấu phở, bún riêu cho chúng em. Trong chỗ Đại Hội, hôm nào mà Ban Tổ Chức Úc lo phần ẩm thực, thì chúng em khổ tâm lắm vì không nuốt được thịt trừu, nó hôi quá!! Đi bộ hằng 5-7 cây số, mệt nhừ tử. Về đến phái đoàn Việt-Nam chúng em được ăn cháo gà. Có bữa đứa nào về trễ quá thì chỉ còn mì gói, nhưng sao nó ngon lạ lùng trong cái không khí lạnh căm của mùa đông Sydney .

Rồi đến sáng ngày Chủ Nhật 20/7, lễ Bế Mạc Đại Hội. Trước đó, chúng em nhận được lệnh của trong nước là phải giương 400 lá cờ đỏ, để át cờ vàng đã xuất hiện quá nhiều trong ngày Khai Mạc Đại Hội. Tuy nhiên, chúng em đã bảo nhau không thực hiện lệnh này. Và quyết định liều lĩnh này của chúng em đã tỏ ra sáng suốt, bởi vì, chao ôi, nhìn đâu cũng thấy cờ vàng, nhất là khi phái đoàn người Việt, có đến 5,000 người tiến vào trong khu chính thức cử hành lễ tại Randwick Race Course. Rợp trời, một màu vàng chói chang, lộng lẫy giữa những lá cờ muôn sắc của các nước khác! Đẹp quá, và ý nghĩa quá! Lúc đó, có chụp hình góc cạnh nào cũng “dính” cờ vàng, nhưng chúng em không sợ nữa. Tới đâu hay đó, khi về chúng em có bị làm khó dễ thì chúng em sẽ trả lời là: Không có cách nào chụp hình mà không có cờ vàng, vì ở đâu cũng có, chụp từ trái, từ phải, từ đằng trước, đằng sau, chụp gần sân khấu cử hành lễ hay chụp xa sân khấu cũng có cờ vàng, không tránh được.

Ấy thế mà bọn chúng em cũng có vài đứa bị một phóng viên Báo Thanh Niên kéo ra một chỗ, trong góc kẹt, để giăng vài lá cờ đỏ và chụp hình lén lút để phóng viên này “tường trình” về Đại Hội. Bọn em chẳng lạ gì cái kiểu tường trình dối trá này.

Nhưng bọn em sẽ là nhân chứng của sự thật!

Đi một đàng học một sàng khôn. Qua Đại Hội Thanh Niên Sydney 2008, chúng em học được không biết bao nhiêu là sàng khôn! Rất nhiều điều chúng em đã hiểu ra. Cho đến lúc bước lên máy bay về Việt-Nam, chúng em vẫn còn như đang sống trong mơ. Thực tế ra sao khi chúng em trở lại cuộc sống bình thường? Sẽ bị hạch hỏi? Sẽ phải làm báo cáo? Sẽ phải tường trình theo chỉ thị? Và còn gì nữa? Sẽ bị theo dõi trong sinh hoạt hằng ngày và trên các trao đổi vi tính với các bạn trẻ mà bọn em vừa được sống chung những ngày vui tươi, thân ái và đầy ý nghĩa?

Chúng em tin tưởng là Đức Chúa Thánh-Thần đang sống trong chúng em, đang ban sức mạnh cho chúng em, sẽ giúp chúng em làm chứng nhân.

Chúa Thánh-Thần sẽ tác động cho người trẻ Việt-Nam trong cũng như ngoài nước tiếp tục hiệp thông để cùng xây dựng một Việt-Nam nhân ái, công bằng, dân-chủ, tự-do.

Sau Thánh lễ Bế Mạc, Đức Giáo Hoàng tuyên bố chính thức: “Chúng ta sẽ gặp lại nhau tại Đại Hội Thanh Niên Thế Giới lần tới tại Madrid vào năm 2011”. Các bạn trẻ Tây-Ban-Nha nhẩy cỡn, vỗ tay, reo hò bằng tiếng Tây Ban Nha, la hét theo nhịp điệu: “Viva/Papa”, “Benedicto/we can’t live without you” “ Madrid , Espagnola!”. Họ quàng vai nhau kết thành một chuỗi dài vừa đi vừa tung-tăng nhẩy nhót. Họ giương cao ngọn cờ Tây Ban Nha để được các phóng viên chụp hình, nét mặt rạng-rỡ tin yêu. Họ làm rầm trời rầm đất như thể cả cái sân với 500,000 người này chỉ có mình họ hiện diện.

Chúng em nhìn họ mà thèm. Họ ngây thơ sung-sướng quá! Chúng em mơ ngày Đại Hội Thanh Niên sẽ được tổ chức tại Việt-Nam. Nhưng Việt-Nam thế nào? Dứt khoát phải là một Việt-Nam công-bằng, nhân ái, nơi đó dân chủ tự do triển nở, để các bạn trẻ Việt-Nam năm châu cùng nắm tay nhau xây dựng đất nước phú cường và hiệp thông với nhau, như lần này, để cùng tổ chức Đại Hội. Và ngọn cờ được phất cao, dứt khoát không phải là ngọn cờ của bạo lực, dối trá, gian tà như hiện nay.

Mai Ly
Sydney 21/7/2008”

(hết phần mượn để kết luận và chấm dứt)

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Những bài thơ cuối cùng của Nguyên Sa

Tuy Hòa
Nhà thơ Nguyên Sa đã yên nghỉ mười năm ở California. Mọi vui buồn và được mất cũng đã lắng dịu đi, đủ để những người bây giờ bình tâm phác thảo một chân dung thơ Nguyên Sa. Ông đã đến với chúng ta, đã sống với chúng ta, đã rời xa chúng ta, và đã gửi lại những câu thơ dâng hiến cả cuộc đời.

Thi sĩ Nguyên Sa (tên thật Trần Bích Lan) sinh ngày 1/3/1932 tại Hà Nội, mất ngày 18/4/1998 tại Mỹ. Trong cuốn hồi ký của mình, ông viết: "Tôi thích được giới thiệu bằng cách đọc lên một bài thơ Nguyên Sa. Đó là cách giới thiệu được cả Nguyên Sa ý thức và vô thức, cho thấy bản ngã của người làm thơ tương đối đầy đủ nhất, cả bản ngã đã có, bản ngã đang có, và bản ngã muốn có. Những bài thơ khác biệt mang lại bản ngã khác biệt…". Vì vậy, để hiểu Nguyên Sa không có phương pháp nào đáng tin cậy bằng sự nghiêm túc đọc lại thơ Nguyên Sa.

Xuất thân từ một gia đình không liên quan gì đến văn chương nghệ thuật. Năm 17 tuổi, Nguyên Sa sang Pháp du học. Sau khi tốt nghiệp Tú tài, ông ghi danh vào khoa Triết, ĐH Sorbonne. Và cuộc hạnh ngộ với bà Trịnh Thị Nga đã biến ông thành thi sĩ. Bài thơ nổi tiếng đầu tiên của Nguyên Sa cũng là bài thơ đính hôn. Bài thơ có tên Nga được in vào thiệp cưới của họ năm 1955: "Em đừng buồn như những chiếc lá tre khô. Em đừng buồn như những nóc nhà thờ không có tuổi". Năm 1956, ông bà đưa nhau về Sài Gòn sống bằng nghề dạy học. Không chỉ giảng dạy môn Triết cho các trường trung học, họ còn mở ra hai trường tư thục Văn Học và Văn Khôi. Với quan niệm bản thân "vốn dĩ chỉ là hạt cát", Trần Bích Lan lấy bút danh Nguyên Sa và ngay lập tức lừng lẫy trên thi đàn.
Phác họa về nhà thơ Nguyên Sa.


Có thể do sự tình cờ hữu duyên, những bài thơ phổ nhạc của Nguyên Sa lan tỏa rất nhanh vào đời sống, và cho đến tận hôm nay, nhắc Nguyên Sa là người ta nghe vang lên trên môi Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn. Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh (Áo lụa Hà Đông), hoặc Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc. Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường (Tuổi mười ba); hoặc Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm. Chả biết tay ai làm lá sen (Paris có gì lạ không em) và Hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn. Nếu em sợ thời gian dài vô tận (Tháng sáu trời mưa).

Những bài thơ được phổ nhạc ấy cứ bồng bềnh từ thế hệ này sang thế hệ kia, khiến nhiều bài thơ khác của Nguyên Sa ít nhiều bị che khuất, kể cả những câu thơ độc đáo miêu tả chiếc áo dài dân tộc Có phải em mang trên áo bay. Hai phần gió thổi, một phần mây. Hay là em gói mây trong áo. Rồi thở cho làn áo trắng bay. Tuy nhiên, nếu đọc thơ Nguyên Sa viết sau năm 1975 ở hải ngoại, vẫn nhận ra nét hào hoa riêng biệt. Trong tập Hoa sen và hoa đào được sáng tác khoảng thời gian 1982-1988, có những câu thơ mang đậm phong cách Nguyên Sa như Anh nhớ em ngồi áo trắng thon. Ngàn năm còn mãi lúc gần quen. Em gầy như liễu trong thơ cổ. Anh bỏ trường thi lúc Thịnh Đường hay Phương Đông vào chỗ hồng lên má. Chiều xuống lưng chừng mái tóc thưa.

Nguyên Sa từng xuất bản cuốn sách biên khảo triết học Descartes nhìn từ phương Đông, nhưng trả lời phỏng vấn của nhà văn Vũ Bằng vào năm 1972, thì ông vẫn khẳng định: "Nói triết lý sa sả, e rằng sẽ là người tự kiêu. Nhất là trong thơ, càng nhiều triết lý càng mất tính cách của thơ. Theo tôi, thực chất của thơ là cái linh hồn, là sự sống của những chữ ta dùng".

Suy nghiệm đó được Nguyên Sa thể hiện rất rõ trong những bài lục bát. Thơ Việt Nam đã từng tự hào về lục bát Nguyễn Du, lục bát Nguyễn Bính, lục bát Huy Cận thì có lẽ những ai yêu thể thơ truyền thống cũng cần lưu ý lục bát Nguyên Sa. Sáu chữ và tám chữ được Nguyên Sa vận hành khá tự nhiên và nhịp nhàng đến mức phẩm chất thi ca tuôn chảy vào lòng độc giả một cách bất ngờ. Khi gặp Mây hồng bâng khuâng Những chiều sương kín đầu non. Hỏi nhau nhè nhẹ sao buồn chi em, khi muốn Tháo gỡ giăng mắc ngậm ngùi Ta nằm tháo gỡ cơn mưa. Cầu vồng tràn núi cũng vừa bắc ngang. Trong thơ ta gọi là nàng. Nói năng lẫm liệt, tình càng thâm sâu. Trời cao có núi bắc cầu. Trong ta vực thẳm cúi đầu nghe mưa, hoặc khi đăm đắm Hiu quạnh thân phận Bỏ tay vào túi buổi chiều. Lấy ra hiu quạnh với nhiều bản thân. Còn hiu quạnh chỗ mộ phần. Tấm bia màu trắng mấy lần quạnh hiu, và khi hân hoan Ngày khỏi bệnh nhận ra: Thương ghê màu áo hoa cà. Mộng mơ bật sáng trên da thịt người.

Những câu thơ mềm mại, linh hoạt và ấm áp theo suốt cả cuộc đời Nguyên Sa, và lúc đến chặng đường hoàng hôn số kiếp thi sĩ thì ông chợt ngộ Hiện tượng toàn diện để thả hồn tràn theo nghĩ suy không kịp kết nối vần điệu: Lau khô một bông hoa không phải chỉ là động tác của tay. Công việc đòi hỏi sự chú ý của thị giác, sự nhịp nhàng của hô hấp và cả sự di chuyển trong một không gian. Đối mặt với căn bệnh ung thư dạ dày hành hạ từng ngày, Nguyên Sa vẫn không rời bỏ thơ. Bài thơ Hóa học trị liệu có thể xem như một cột mốc để đánh dấu những sáng tác tạ từ nhân gian của ông.

"Tôi biết cây phong đứng ở trước cửa bệnh viện nghĩ gì
Khi những chiếc lá phong buông tay ra
Làm thành những vòng tròn nhỏ
Những chiếc lá phong màu rượu chát rơi xuống một vị trí tên là mặt đất
Gió đưa những chiếc lá phong sang một vị trí khác cũng tên là mặt đất
Như thể vật nào cuối cùng cũng chỉ có cùng một tên"

Không thể nói khác hơn rằng, 22 bài thơ viết từ đầu năm 1998 đến lúc chia tay vĩnh viễn với Nàng thơ, đã cho hậu thế thấy được một dòng chảy khác của thơ Nguyên Sa. Những câu thơ ngổn ngang và giàu chất trí tuệ, không phải đến thình lình, mà có mạch nguồn trong thao thức Nguyên Sa. Trên giường bệnh, có lẽ hơn một lần ông ưu tư về những bài thơ mình viết đã được phổ nhạc truyền tụng khắp nơi: "Tôi đã làm xong bài thơ để phổ nhạc. Nhưng bài nhạc chưa tới. Đến khi nó tới. Bài thơ nhất định bỏ đi". Thật vậy, những bài thơ sau chót của Nguyên Sa hầu như không dành cho âm nhạc, chỉ dành cho những chột dạ.

Nguyên Sa chột dạ về Mật khẩu đời mình:

"Mỗi lần Thượng đế mở toang lồng ngực và bước vào
Tôi sợ đến nín thở
Tôi sợ ông gọi cửa không được
Tôi sợ ông quên mật khẩu
Tôi sợ ông quay ra hỏi
Tôi sẽ không biết trả lời sao
Vì tôi cũng không nhớ"

Image
Nhà thơ Nguyên Sa và vợ. Ảnh tư liệu.

Nguyên Sa chột dạ về Ký ức người vợ sắt son đi cùng ông suốt hành trình long đong duyên nợ:

"Em làm cho tà áo lượn bay màu trắng ở quê hương xưa
trở thành màu hồng
Em làm thắp lên ngọn bạch lạp vào buổi sáng
ở trong lớp học
trong những giờ khắc yêu đương"

Nguyên Sa chột dạ về những Mặt nạ chập chờn lẩn khuất

"Chiếc mặt nạ ngay sát lần da mặt, gắn vào hay tháo gỡ
đều đòi hỏi nhiều thời gian
Làn da mặt dính vào thịt xương gắn vào hay tháo gỡ càng lâu hơn
Không thể đo được thời gian tìm kiếm những chiếc mặt nạ
Ở dưới làn da mặt dính vào thịt xương"

Nguyên Sa chột dạ về Con sông ngược xuôi bất tận miền khát vọng

"Suối cạn là nghĩa trang biết thở dài của dòng sông
Sa mạc là nghĩa trang khác, nghĩa trang biết khóc của dòng sông
Vật nào cũng có hai nghĩa trang
Một vật bao giờ cũng có hai tên
Tên nó và tên ước mơ của nó
Nghĩa trang của nó và nghĩa trang của ước mơ
Có lúc tôi thích được gọi bằng tên tôi
Có lúc tôi thích được gọi bằng tên ước mơ của tôi
Đó là lý do tôi ký tên em khi làm thơ"

Thế nhưng, niềm riêng day dứt nhất, đau đáu nhất của Nguyên sa trong những bài thơ cuối cùng là nỗi mong ngóng thăm thẳm cố hương. Như "bài thơ" Nguyên Sa đón Tết ở Wichita Falls giữa cơ hồ run rủi: Nửa khuya nàng đánh thức tôi dậy, nói dậy đi, dậy đi, giao thừa rồi. Tôi ngồi dậy. Chúng tôi mặc quần áo mới. Chúng tôi thắp nhang. Chúng tôi ngồi uống trà với nhau, ngồi tựa lưng vào nhau, hát cho nhau nghe bằng ánh sáng của những ngày mới gặp nhau. Khi nàng quay đầu lại, tôi thấy mắt nàng đỏ hoe. Mắt nàng ngơ ngác giống như mắt con vành khuyên một mình, để định hướng, bay theo những màu vàng của một rừng mai. Dường như, Nguyên Sa không còn muốn ngắt dòng hay ngắt câu, ông cứ để cảm xúc lênh loang cho kịp nhịp điệu hối hả từ trái tim mình. Và ông nghĩ về một sự Thủy chung giản dị khi hóa thân vào tro bụi: anh chỉ xin em ném dùm anh xuống những mảnh đất đầu đời, chỗ bãi phù sa anh tắm mỗi chiều, con lộ mỗi ngày chúng mình cùng nhau đi học. Riêng với quê nhà thơ ấu, Nguyên Sa tỉ mỉ viết sáu câu chia biệt:

"Ngọn đèn chiếu xuống bức tranh
Cầm lên Hà Nội thấy đình miếu xưa
Tiễn nhau nhớ Tháng Giêng, mưa
Sông Hồng nước động bóng chưa nhập hình
Tiễn anh linh hiển u linh
Cấu vào da thịt thấy mình bỏ đi"

Vậy là Nguyên Sa đã yên nghỉ mười năm ở California. Mọi vui buồn và được mất cũng đã lắng dịu đi, đủ để những người bây giờ bình tâm phác thảo một chân dung thơ Nguyên Sa. Ông đã đến với chúng ta, đã sống với chúng ta, đã rời xa chúng ta, và đã gửi lại những câu thơ dâng hiến cả cuộc đời. Gần nửa thế kỷ miệt mài với thơ, Nguyên Sa canh cánh "luôn luôn làm sao để không giống mình, để trở thành một người khác mình, thì đó chính là cách thức, cách thế để trở thành chính mình".

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

MẦU CỜ SẮC ÁO

SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH .

Cuộc viếng thăm 9 ngày của Đức Giáo Hoàng Benedicto tại Úc kết thúc, Ngài đã trở về Roma đầu tuần này. Chuyến đi của Giáo Hoàng chủ yếu là chủ trì Đại hội Thanh niên Công giáo toàn cầu, một cuộc họp có tầm quan trọng lớn trên bình diện quốc tế. Tòa thánh Vatican nói có đến 350,000 giáo dân của khoảng 170 nước lớn nhỏ trên thế giới tham dự. Buổi Thánh lễ chót đã diễn ra ngày Chủ nhật 20-7 tại trường đua Randwick, Sydney - nhiều người đã đem theo đồ cắm trại để ngủ tại đây đêm thứ bẩy. Cha Lombardi, phát ngôn nhân Vatican nói Sydney đã chứng kiến một tập hợp đông đảo hiếm có kể từ ngày Thế vận hội 2000. Ngày 21-7 Giáo hoàng đã họp riêng với 4 người Công giáo Úc, thời còn trẻ họ đã từng bị lạm dụng tình dục tại nhà thờ. Ngài rất quan tâm và đau lòng về những tai biến này. Hôm thứ bẩy, Ngài đã chính thức ngỏ lời xin lỗi về các vụ lạm dụng như vậy. Ngoài ra trong cuộc viếng thăm Úc, Giáo Hoàng đã đề cập đến một số vấn đề có tầm quan trọng sống còn cho cả loài người, như nạn bạo động, sự phát triển có duy trì liên tục trong công lý và hòa bình.

Theo dõi tin tức trên TV và các mạng lưới (net) trong suốt tuần qua, những hình ảnh mầu sắc rực rỡ đã gây cho tôi một niềm cảm xúc vô biên. Đó là những hình cờ xí rợp trời của những người Công giáo các nước đã trương lên vào dịp này. Riêng tôi, và có lẽ rất nhiều người Việt ở trong nước cũng như ở ngoài nước, đã chăm chú theo dõi hai mầu vàng và đỏ. Đó là hai mầu có liên hệ đến dân tộc Việt Nam chúng ta. Từ nửa thế kỷ qua Việt Nam có hai lá cờ khác nhau, cùng chọn hai mầu vàng và đỏ. Đó là cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa và cờ đỏ sao vàng của Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Ý nghĩa của hai lá cờ này như thế nào?

Hãy nhìn đến thông lệ và nguyên tắc hình thành một lá cờ tiêu biểu cho một nước, một dân tộc trên trường quốc tế. Quan trọng nhất là nền cờ, nghĩa là mầu sắc chiếm trọn bề mặt lá cờ hình chữ nhật theo quy định về kích thước. Ngoài ra những hình ảnh hay dấu hiệu nhỏ trên cờ có mầu sắc khác cũng chỉ phụ thuộc. Chính vì thế cờ Việt Nam Cộng Hòa có nền vàng nên gọi là cờ vàng, còn cờ Việt Nam Xã hội chủ nghĩa gọi là cờ đỏ. Sắc vàng vốn dĩ tiêu biểu cho tinh thần quật cường của dân tộc Việt Nam đã có từ ngàn xưa, bắt đầu từ lá cờ vàng của Trưng Vương, cũng như chiến bào mầu vàng của Bà khi cưỡi voi ra trận chống lại quân nhà Hán bên Tầu đến xâm lược nước ta năm 42 đầu Công Nguyên. Rồi kế đến năm 246 bà Triệu Ẩu, kiện tướng "cuỡi cá kình trên biển Đông", một hình ảnh biểu tượng trong tâm người Việt để ghi nhớ công đức của Bà chỉ huy quân đội chống lại giặc Đông Ngô xâm phạm bờ cõi Việt Nam. Lịch sử ghi lại bà Triệu thường mặc áo ngắn mầu vàng cầm thương cưỡi ngựa ra trận.

Còn cờ đỏ là mầu của máu, mầu của cách mạng vô sản. Trước đó đã có những cuộc cách mạng ôn hòa của một số nước Âu châu khi người dân tìm cách thay đổi các chế độ vua chúa phong kiến vì nhu cầu tiến bộ và phát triển. Nhưng khi những người Cộng sản Nga làm cách mạng vô sản để nhuộm đỏ cả hoàn cầu vào đầu Thế kỷ 20, họ chọn nền cờ đỏ cũng đúng, vì đây là cuộc cách mạng đẫm máu trong suốt 100 năm, dài hơn cả hai cuộc thế chiến. Ngày nay những người Cộng sản Việt Nam tiếp tục dùng cờ máu, nhưng sự thật lá cờ máu đó nay chỉ còn đại diện cho chế độ cai trị của một nhóm người tàn dư một chủ nghĩa chính trị đã lỗi thời. Nó không thể nào tiêu biểu cho một dân tộc có lương tri và đức độ, có sức sống mãnh liệt từ bốn ngàn năm qua. Đại họa cho dân tộc Việt Nam là cờ đỏ đã làm biết bao máu đổ thịt rơi vì chiến tranh, ở bên này cũng như bên kia lằn mức.

Trước ngày Đại hội Thanh niên Công giáo ở Úc, nhiều người theo dõi thời cuộc đã dự liệu sẽ có một cuộc đấu gay go giữa cờ vàng và cờ đỏ, vì người ta cho rằng cả hai bên đối nghịch đều sẽ có dịp trương ra ngọn cờ tiêu biểu của họ. Thế nhưng kỳ lạ thay, sự va chạm đã không xẩy ra. Trước ngày Đại hội Thanh niên, một cuộc Diễn hành Quốc kỳ đã được tổ chức tại Barangaroo, Sydney hôm 15-7. Hình ảnh gửi qua các "net" đã cho thấy những lá cờ vàng sọc đỏ được tuổi trẻ gốc Việt trên thế giới đến dự Đại hội mang giơ lên cao, quy tụ thành một nhóm rất đông giữa rừng cờ các nước, nhưng không thấy bóng lá cờ đỏ sao vàng. Có lẽ Sứ quán của mấy anh Cộng sản đã bị bất ngờ. Nhưng đến cuộc Đại lễ ngày 20-7, người ta càng thấy lạ, vì trong rừng cờ đầy đủ mầu sắc vẫn không thấy bóng cờ đỏ sao vàng, mà chỉ thấy hàng ngàn cờ lớn nhỏ nền vàng ba sọc đỏ.

Ông Nguyễn Thế Phong, Chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự do ở Úc, trong một cuộc phỏng vấn của đài Phát thanh 4EB (FM), đã cho biết một số chi tiết về vụ rước cờ vàng. Từ 7 giờ sáng, thanh niên gốc Việt ở Úc và một số ở nước khác khoảng 4,000 người đã tập trung ở Công viên Belmore. Ông Phong nói tổ chức của ông đã làm 5,000 lá cờ, trong đó 1,000 lá cờ cỡ lớn và cỡ trung, còn lại cỡ nhỏ để cầm tay. Từ công viên, đoàn thanh niên Việt đã rước cờ đi bộ quãng đường dài 4 cây số trong thành phố để đến nơi hành lễ là trường đua Randwick. Dọc lề đường dân Úc cũng như rất nhiều du khách đều đứng lại xem, vỗ tay hoan hô đoàn thanh niên VN mang cờ vàng. Tại nơi hành lễ những người được dự thánh lễ đã vào sân từ trước, trong số này đã có khoảng 1,000 thanh niên gốc Việt và cả giới trẻ từ VN qua. Nhưng khi đoàn 4,000 thanh niên cầm cờ vàng tới, ban tổ chức cũng mở cổng cho họ vào luôn với tất cả cờ vàng. Sau đó những lá cờ lớn nhỏ được phân phát hết cho giới trẻ VN có mặt từ trước, và cả những người nước ngoài cũng đòi được cầm cờ vàng ba sọc đỏ. Rút cuộc khu cờ vàng chiếm chỗ lớn nhất trong rừng cờ quốc tế.

Ông Phong cho biết một thanh niên Công giáo Việt ở Úc, anh Phạm Vũ Anh Dũng đã có dịp dâng lên Giáo Hoàng một khăn choàng mầu vàng có ba sọc đỏ, vì thời tiết ở Úc lúc này là mùa đông. Đức Thánh Cha đã cười vui, ban phúc lành cho khăn và Ngài cầm khăn tự choàng lên cổ. Cờ vàng đã đại thắng, không phải chỉ thắng trong một dịp hiếm có, mà còn thắng dài dài trong những ngày sắp tới. Cờ vàng là linh hồn của dân tộc. Linh hồn còn, dân tộc còn ...mãi mãi trong tương lai của loài người.

SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Cá Rỉa Chân

Image

Một thẩm mỹ viện ở Tiểu bang Virginia Hoa kỳ đã dùng Cá để Rỉa Chân bàn chân phụ nữ ,một phương pháp trị liệu mới.Do chủ nhân người Mỹ gốc Việt nghĩ ra.

CNN
Posts: 1017
Joined: Wed Dec 01, 2004 8:18 am

Post by CNN »

Nguyễn_Sydney wrote:Cá Rỉa Chân...
Một thẩm mỹ viện ở Tiểu bang Virginia Hoa kỳ đã dùng Cá để Rỉa Chân bàn chân phụ nữ .....
Một ngày nào đó thử dùng cá mập :P :P :P

CNN

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Tây Tạng Chạy Đua?

TRẦN KHẢI .

Chỉ còn vài tuần nữa là khai mạc Thế Vận Bắc Kinh 2008. Nếu tất cả các diễn tiến êm đẹp trôi qua như Đảng CS Trung Quốc mong đợi, cuộc chiến đòi tự trị của dân tộc Tây Tạng, hay ít nhất là cuộc chiến đòi tôn trọng nhân quyền tại vùng miền núi cao nhất thế giới này, có thể sẽ vĩnh viễn bị bỏ quên trong trí nhớ của các chính khách toàn cầu. Và do vậy, một cuộc đua đang diễn ra trong những ngày trước Thế Vận để nêu cao chính nghĩa Tây Tạng… nhưng có vẻ như những tiếng vang quá rời rạc, và như dường không đủ sức mạnh để áp lực Bắc Kinh. Thậm chí, các ống kính truyền hình thế giới cũng không chịu săn tìm các hình ảnh Tây Tạng nữa. Có phải cuộc đua đã xong rồi, ngay cả trước khi Thế Vận khai mạc?

Tuy là không gây nhiều tiếng vang, nhưng vẫn có các vận động cho cuộc chiến nhân quyền ở Tây Tạng. Hôm Thứ Tư 23-7-2008, thông tấn AP loan tin rằng một nghị quyết đã trình lên Hạ Viện Hoa Kỳ trong đó kêu gọi Trung Quốc "tức khắc ngưng vi phạm nhân quyền và ngưng đàn áp người Tây Tạng và Uighur, và hãy ngưng ủng hộ các chính phủ Sudna và Miến Điện."

Tuy là nghị quyết đúng là bênh vực người Tây Tạng, nhưng cũng có vẻ như của các vị dân cử Đảng Dân Chủ muốn làm khó Tổng Thống Bush. Nghị quyết đề ra bởi dân biểu Dân Chủ Howard Berman, chủ tịch Uy Ban Đối Ngoại Hạ Viện, đã được đồng ý để đưa ra khoáng đại Hạ Viện tuần tới biểu quyết, trong đó nói rằng Trung Quốc phải giữ đúng "truyền thống Thế Vận của tự do và cởi mở."

Nghị quyết gồm 12 điểm cũng kêu gọi TT Bush, người sẽ tham dự lễ khai mạc Thế Vận, là đưa ra một "tuyên bố công khai mạnh mẽ" tại Bắc Kinh về tình hình nhân quyền TQ và hãy tới gặp các gia đình "những tù nhân lương tâm" đang bị giam. Chưa hết, nghị quyết còn yêu cầu TT Bush tới thăm các vùng Tây Tạng và Tân Cương trong khi có mặt ở Trung Quốc dịp Thế Vận. Cũng chưa hết, nghị quyết yêu cầu đối thoại trực tiếp giữa Bắc Kinh và Đức Đạt Lai Lạt Ma, lãnh tụ tinh thần của dân tộc Tây Tạng.

Vấn đề là nghị quyết này không có tính ràng buộc. Thế cho nên, cũng như là để nói chơi thôi. Tuy nhiên, Bắc Kinh cũng chơi trò phù thủy: giả vờ như biết lắng nghe các "bức xúc nhân quyền" của các vị dân cử Hoa Kỳ. Bởi vậy, Trung Quốc mới bày ra một trò chơi hết sức là Tây Phương.

Trung Quốc cho biết là sẽ cho lập các nơi dành riêng cho người biểu tình tại Bắc Kinh trong thời gian diễn ra các cuộc tranh tài thế vận. Ông Liu Shaowu, trưởng ban an ninh của ủy ban tổ chức thế vận, cho biết người biểu tình đuợc phép xử dụng ít nhất 3 công viên gần các sân vận động. Ông Ni Jianping, giám đốc Viện nghiên cứu Hoa Kỳ, là người vận động để lập ra các khu biểu tình, nói: dân đuợc phép biểu tình tại các nơi đó sẽ không gây gián đoạn Thế Vận Hội.

Điều chưa rõ là có dễ tới các khu dành riêng hay không, cũng không thấy công an nói có cần giấy phép đặc biệt. Thậm chí đến, chúng ta cũng chưa rõ là những người Tây Tạng, dân oan khiếu kiện, hay các tín đồ theo giáo phái Pháp Luân Công có quyền biểu tình ở đây hay không. Hay là các khu biểu tình này lúc nào cũng có công an giả làm thường dân đứng chật hết? Một nhà vận động nhân quyền tin rằng đây chỉ là 1 cách làm đẹp bề ngoài, bởi nhà chức trách Bắc Kinh đã từ chối cấp chiếu khán cho các nhà hoạt động ngoại quốc.

Nhưng các viên chức công an thì lúc nào cũng nói dễ lọt tai. Trưởng ban an ninh họ Liu nói: cần cân nhắc thăng bằng giữa nhu cầu vui chơi và an toàn. Ông Liu giải thích thêm: Thế Vận Hội Athens 2004 và Thế Vận Hội Muà Đông 2002 tại Salt Lake City đã làm tương tự.

Nếu Bắc Kinh thật tâm cho người dân ra đứng biểu tình, chúng ta có nên chụp cơ hội này để rủ nhau ra đây giương biểu ngữ đòi TQ trả cho VN các đảo Trường Sa và Hoàng Sa hay không? Có nên yêu cầu sứ quán CSVN ở Bắc Kinh kêu gọi du học sinh VN ở Trung Quốc ra trước các sân Thế Vận rủ nhau mang biểu ngữ đòi CSTQ hoàn trả các đảo Biển Đông hay không?

Chỗ này nên thấy: Trung Quốc nói vậy, nhưng thực ra không phải là vậy. Có biểu tình gì cũng chỉ là trình diễn thôi. Như trường hợp dân tộc Tây Tạng: Vấn đề thực tế nơi đây là, dù có được ra đứng biểu tình ở Bắc Kinh hay không, số phận dân tộc Tây Tạng đã định sẵn.

Bản tin của thông tấn PTI hôm 24-7-2008 cho biết rằng Trung Quốc đã chỉ thị cho tất cả các cán bộ và viên chức tại Tây Tạng trong vòng 2 tháng phải gọi tất cả con em của họ trở về từ các trường học và tu viện hải ngoại điều hành bởi ngài Đạt Lai Lạt Ma. Chỉ thị này ban hành ngày 14-7-2008, cho biết trong 2 tháng phải đưa con em các nơi trên về nước, nếu không thì các cán bộ sẽ bị khai trừ khỏi Đảng CSTQ, bị lột chức và bị kỷ luật.

Tình hình các cán bộ ở Tây Tạng cũng ưa đưa con cháu ra ngoài du học, và cả tu học - ngay cả ở các trường và tu viện cho các vị sư Tây Tạng lưu vong điều hành. Mấy chục năm qua thì không sao hết. Đảng CSTQ trước giờ nhắm mắt bỏ qua. Và bây giờ cũng sẵn sàng nhắm mắt bỏ qua, cho tới khi hoàn tất Thế Vận Bắc Kinh.

Thời hạn 2 tháng, có nghĩa là giữa tháng 9-2008 sẽ bắt đầu thanh trừng lớn ở Tây Tạng. Lúc đó thì qua Thế Vận rồi, thế giới có thể sẽ quên hẳn chuyện Tây Tạng rồi.Thế nên, chúng ta có thể chỉ còn có vài tuần nữa để xem người Tây Tạng chạy đua để lên tiếng với thế giới về hoàn cảnh bi thảm của họ. Dù có nghị quyết của Hạ Viện Mỹ hay không, người Tây Tạng biết rằng thời gian nhiều phần không đứng về phía họ. Nhất là, trong lễ khai mạc Thế Vận Bắc Kinh, khi TT Bush đứng bên cạnh Hồ Cẩm Đào, và quên bẳng các yêu cầu của nghị quyết nhân quyền Tây Tạng mà Hạ Viện Mỹ đưa ra. Ai biết được, lúc đó, có thể là TT Bush sẽ bị hớp hồn bởi các màn trình diễn khai mạc Thế Vận do nhà đạo diễn thiên tài Trương Nghệ Mưu dàn dựng. Ai biết được, nghệ thuật cũng có khi đẩy lùi được một cuộc chiến nhân quyền vào bóng tối… Bất kể đó có là cuộc chiến nhân quyền của ngài Đạt Lai Lạt Ma và cả một khối dân tộc đang đau khổ.

TRẦN KHẢI

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Trung Quốc đã chi tiêu cho TVH Olympic như thế nào?

Mới đây, phía Trung Quốc đã công bố thông tin đáng mừng rằng lần đầu tiên trong lịch sử tổ chức TVH, tất cả số lượng vé xem Olympic đã hết veo. Có lẽ con số này sẽ giúp nhà tổ chức trang trải cho khoản chi phí khổng lồ chuẩn bị cho kỳ TVH 2008 này. Dưới đây là sơ lược những khoản chi của ban tổ chức Olympic Bắc Kinh

Cơ sở vật chất

Tổng chi phí cho cơ sở vật chất, bao gồm xây dựng thêm hệ thống tàu điện ngầm, sân bay, tàu cao tốc, đường xá và khu vực thi đấu lên tới 20 tỷ bảng.

Sân vận động Olympic, vẫn được biết đến với cái tên thân mật Tổ chim, đã khiến chính quyền Bắc Kinh phải móc hầu bao chi trả 250 triệu bảng. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến con số khổng lồ để xây dựng sân vận động này là do người ta đã phải sử dụng đến 41.875 tấn thép cho hệ thống hoa văn trên mái vòm đặc biệt dành riêng cho nó.
Image
Sân vận động Olympic với cái tên thân mật "Tổ chim" - Ảnh: USToday

Giải toả dân cư

Người ta ước tính rằng có khoảng 1,5 triệu người đã phải di dời do công tác tổ chức Olympic. Con số này là do Trung tâm di trú có trụ sở tại Geneva thống kê và công bố. Trong khi đó, phía Trung Quốc đưa ra con số khiêm tốn hơn nhiều, chỉ có 6.000 người phải di dời và tái định cư tại các địa điểm khác.
Image
Nhà thi đấu thể dục dụng cụ - Ảnh: Chinadaily

An ninh

Để đảm bảo an ninh cho sự kiện thể thao lớn nhất thế giới này, nhà chức trách thành phố Bắc Kinh đã phải huy động tới 100.000 cảnh sát có vũ trang, và quân đội xung quanh thành phố.

Thêm vào đó, người ta cũng cho lắp đặt thêm 300.000 camera theo dõi và hệ thống phảt hiện máy bay hoặc tên lửa xâm nhập ở bên cạnh Sân vận động Olympic.

Bất kỳ ai cung cấp thông tin cho nhà chức trách về mối đe doạ đến an ninh sẽ nhận được khoản tiền thưởng rất lớn, từ 10.000 – 500.000 nhân dân tệ (gấp 5 lần so với mức thưởng thông thường). Bắc Kinh cũng khẳng định rằng, lực lượng an ninh sẽ kiểm tra sát sao giấy tờ tuỳ thân của những người có mặt tại khu vực thi đấu.
Image
Trung tâm thi đấu trong nhà - Ảnh: BBC

Đón khách

Cơ quan du lịch Bắc Kinh hôm 11/7 vừa rồi rằng tỷ lệ khách đặt phòng tại các khách sạn 5 sao của thành phố là 77%, còn tại khách sạn 4 sao là 44%. Công ty du lịch lữ hành Ctrip tiệt lộ rằng tất cả các khách sạn đều đang cố gắng hểt sức để phục vụ nhu cầu đặt phòng của khách.

Dựa trên kinh nghiệm từ các kỳ TVH trước, nhà tổ chức dự tính rằng sẽ có khoảng 500.000 khách nước ngoài và 1.1 triệu khách trong nước tới Bắc Kinh theo dõi Olympic. Con số này sẽ mang lại cho ngành công nghiệp du lịch thành phố khoản lợi nhuận ước tính 116 tỷ nhân dân tệ. Tuy vậy, nếu như thủ tục làm visa đến Trung Quốc không quá lằng nhằng, con số này hẳn sẽ không dừng lại ở đó.

Chuẩn bị chung

Ban tổ chức Olympic Bắc Kinh đã huy động khoảng 400.000 tình nguyện viên trong và ngoài nước. Khoảng 40 triệu bình hoa sẽ nở rộ trên khắp các tuyến phố tại Bắc Kính. Chính quyền thành phố cũng sẽ đóng cửa 20 nhà máy và cấm lưu hành 1 triệu ôtô đê giảm thiểu ô nhiễm.

N.T.V

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

GIÚP "NHỮNG NGƯỜI BỊ BỎ QUÊN"

Huy Phương

Một buổi chiều tháng 6 năm 1977, trong khi chồng đang ở trong tù, người vợ phải đưa đứa con gái út đang bị sốt nặng vào bệnh viện tỉnh nhà. Trong lúc làm hồ sơ bệnh lý, người y tá hỏi chồng chị đâu, thật thà, chị trả lời là anh đang "đi cải tạo chưa về". Y không nói gì, nhưng một lúc sau, chị thấy y thầm thì gì với viên y sĩ đang khám bệnh, và sau đó kết quả là chúng bỏ mặc con gái chị nằm đợi trên sàn nhà cho tới lúc trời tối. Lúc thấy đứa bé sốt và bắt đầu mê man, nói lảm nhảm, chị hốt hoảng bồng con la hét cầu cứu. Môt viên y sĩ mới lên phiên đã khám bệnh cho con chị và cho chị biết cháu bị sưng màng óc, cần phải chích một loại thuốc phải đi mua ngoài với một số tiền mà chị không thể nào có được.

Chị phải ôm con suốt đêm, chờ sáng hôm sau, đến giờ làm việc mới bán được nửa lít máu, đủ tiền mua cho con một liều thuốc. Ðứa bé này lớn lên, mất hết trí nhớ, thường lên cơn động kinh, trở thành tàn tật suốt đời .

Ðó là điều người ta gọi là "đối xử phân biệt", không hề che dấu lòng thù hận một cách tàn bạo dưới chế độ Cộng Sản. Cũng như thế, hằng trăm nghìn người thương binh của miền nam, không thể nào che dấu lý lịch với đôi mắt mù, cái chân cụt và quá khứ đã là một người lính có thành tích chiến đấu chống Cộng Sản ngoài mặt trận. Không còn khả năng làm lụng để kiếm miếng cơm nuôi gia đình và chính bản thân mình, những người này còn phải sống trong không khí lạnh lùng, ngờ vực và khinh rẻ của kẻ chiến thắng không có tình người. Chính phủ, quân đội, đơn vị, cấp chỉ huy, đồng đội không còn, gia đình quyến thuộc không đủ sức cưu mang vì chính họ cũng bị nhận chìm tận cùng dưới đáy xã hội.

Trong xã hội mới, những người thương binh VNCH thật sự đã là "những người bị bỏ quên".

Những người con gái Việt Nam vì cơm áo, đã tự nguyện bỏ nước ra đi để lấy chồng ngoại quốc, chẳng may một số rơi vào hoàn cảnh bị bạc đãi, nhân phẩm bị chà đạp, ngay chính phủ đã đẩy họ vào con đường cùng cũng không làm gì để cứu họ. Vì họ là "những người bị bỏ quên" nên nhiều vị linh mục, cơ quan thiện nguyện đã gây quỹ để có thể đến tận nơi giúp đỡ, cứu vớt họ.

Những người chẳng may mắc phải những chứng bệnh phong cùi đang sống cuộc đời nghèo đói, bất hạnh trên khắp quê hương, trong khi chính phủ Việt Nam thờ ơ, không giúp đỡ, họ là "những người bị bỏ quên", đã được các cơ quan phước thiện mở những phong trào cứu trợ rộng lớn, để đồng hương hằng tâm hằng sản của chúng ta tận tình giúp đỡ.

Ở Việt Nam, dân chúng bần cùng là "những người bị bỏ quên": nhiều trẻ em ở các vùng nông thôn Việt Nam bụng đói, không có áo quần mặc và vì vậy cũng không có cơ hội đến trường. Nhiều nơi, người già không có cơm ăn. Nhiều trẻ em khuyết tật cần vá môi. Nhiều người mù cần mổ mắt. Hải ngoại luôn luôn nghĩ đến quê nhà và đồng bào nên đã có những chiến dịch rộng lớn để làm những công việc ấy, thường trực và khắp nơi vì cho rằng chính phủ Việt Nam không nghĩ đến hay không đủ sức lo cho họ. Trường học cần xây thêm, chùa và nhà thờ cũng cần phát triển rộng lớn hơn.

Ðã có những hội đoàn, những tổ chức, những nhóm thiện nguyện cứu đói, cứu nghèo, cứu bệnh tật, cứu gái sa chân, cứu trẻ bị bán đi, cứu già thiếu gạo...

Tôi có cảm tưởng những vùng đất cứu trợ trên đã được chính quyền trong nước cho khai quang, có khi còn giữ "an ninh bãi đáp" cho trực thăng đổ người xuống cứu trợ để đỡ tay đỡ chân cho đảng lo việc trấn áp dân chủ, nhân quyền. Còn địa hạt thương phế binh VNCH còn đầy mìn bẫy, hầm hố, thù hận khiến công việc cứu trợ phải tiến hành lén lút, bí mật hay đột kích gây thêm nhiều trở ngại, khó khăn cho cả phía những người hảo tâm và cả những nạn nhân xấu số này.

Thương phế binh, đáng lẽ là những người mà hải ngoại cần phải nhớ trước tiên, từ khi cấp chỉ huy quân đội miền nam bước chân lên Ðệ Thất Hạm Ðội hay đảo Guam, từ khi người vượt biển được đặt chân lên đất liền, từ khi người cựu tù được người ra đón ở sân bay, lại là những người bị quên lãng nhất.

Bà Dương Nguyệt Ánh, chuyên viên chất nổ của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, tác giả trái bom "nhiệt áp" đã nói rằng, là một người tỵ nạn chiến tranh, bà "không bao giờ quên được hình ảnh người lính Hoa Kỳ và VNCH đã từng bảo vệ cho bà có một cuộc sống an toàn ở miền nam trước đây". Chúng ta cũng hiểu rằng người lính VNCH thiệt thòi hơn cả sau chiến tranh chính là người thương phế binh hôm nay.

Cô Liên Hương, một bác sĩ trong nhóm Huynh Ðệ Chi Binh ở San Jose, cũng như chúng ta đã có mặt tại Hoa Kỳ tự do, no ấm hôm nay sau những ngày "tan hàng" đã hoạt động để cứu giúp "những người bị lãng quên", vì cô nghĩ rằng cô đã mang ơn những người này, người thương phế binh VNCH:

"Tôi viết thư cho anh hôm nay không phải như một người Việt Kiều xa xứ được ưu đãi trong một đời sống an lành và thoải mái hơn về vật chất lẫn tinh thần đang nghiêng mình xuống với người đồng loại bất hạnh, nhưng tôi viết với tâm trạng của một cô gái năm xưa đã lớn lên yên ổn giữa thành phố Saigon, nhìn tuổi thơ ấu của mình trôi qua dưới ánh hỏa châu và những tiếng bom đạn hằng đêm vẫn vọng về từ một chiến trường xa. Ở đó, bao nhiêu xương máu và nước mắt của cả một thế hệ tuổi trẻ đã đổ xuống để che chở cho những cô gái nhỏ như tôi được tiếp tục bình yên đến trường. Ở đó vẫn có biết bao nhiêu người chiến sĩ như các anh còn ôm tay súng chiến đấu đơn độc với những giờ phút chót, để gia đình chúng tôi có cơ hội xuống thuyền ra đi tìm đến những quê hương hạnh phúc mới bên này bờ biển Thái Bình Dương.

Chính với tấm lòng tri ân và ngưỡng mộ đó mà hôm nay tôi thấy cần phải viết cho anh cho các bạn của anh, những lời các anh xứng đáng được nghe nhưng có lẽ đã chưa bao giờ được nghe từ gần ba mươi năm qua, để các anh hiểu được rằng những hy sinh của mình đã không lãng phí hay vô ích. Những tượng đài có thể bị đạp đổ, nhưng những hình ảnh thần tượng ghi khắc trong lòng sẽ chẳng bao giờ bị xóa nhòa. Chúng ta đã mất mát rất nhiều thứ, những người thương binh như các anh đã mất hết một phần thân thể, tình yêu và tuổi trẻ, và những người Việt tỵ nạn như tôi cũng đã mất hết một nơi chốn dung thân để phải tha hương lưu lạc khắp mọi phương trời. Có một điều ngày hôm nay tôi mong chúng ta sẽ không đánh mất là tình người đến với nhau, để khoảng không gian anh đang sống và hít thở bớt đi niềm lẻ loi và cô độc.

Cuối cùng dù tôi không thể gởi nguyên một bài hát về cũng xin cho tôi được tặng anh và những người bạn anh hùng không tên tuổi của anh lời tựa của bài hát "You Are My Heroes", bởi vì cuối cùng trong cuộc đời này không có điều gì anh hùng và cao thượng hơn là hy sinh cuộc đời mình để cho người khác được quyền sống. Trong mắt tôi mãi mãi không có những người phế binh thương tật mà chỉ có những con người trai anh hùng một thời chọn cho mình con đường đi và và sống đích thực có ý nghĩa nhất".
(trích thư của cô Liên Hương gởi một người thương phế binh VNCH)

Những dòng chữ trên đây của một người con gái, một đứa em hậu phương cũng như tất cả chúng ta đã mang một món nợ không bao giờ trả nổi, món nợ xương máu mà chúng ta đã nương nhờ, vay mượn từ lúc chúng ta được yên ổn ở hậu phương, rất xa mặt trận, và cả đến lúc chúng ta ngoảnh mặt rời quê hương ra đi. Những năm trước, bức thư này đọc trên đài phát thanh ở Bắc Cali đã làm rơi lệ hằng nghìn người nghe ở hải ngoại, nhưng rồi cơm áo đa đoan, cuộc sống bề bộn, nhiều lúc chúng ta đã quên hẳn hình ảnh người thương phế binh Việt Nam một cách phụ bạc, nhẫn tâm mà đáng ra phải canh cánh ghi nhớ trong lòng.

Ở hải ngoại từ trước đến nay, những sự quyên góp giúp đỡ cho thương phế binh được đưa xuống hàng thứ yếu sau những chiến dịch dai dẳng cho người nghèo, cho trẻ thất học, cho chùa chiền, thánh thất, cho mổ mắt vá môi... Nếu có lòng, thì cũng với những hoạt động lẻ tẻ do một nhóm người, một tổ chức quy tụ một số thân hữu giúp cho năm bảy gia đình, hay khá hơn là vài trăm thương binh. Chúng ta chưa có được một ngày dành cho thương binh, một chiến dịch rộng lớn như những ngày chúng ta đóng góp cho quỹ kháng chiến, để rồi cuối cùng sự việc chẳng đi tới đâu, khiến lòng tin của hải ngoại mỗi ngày một suy kiệt.

Ẩn mình từ trong những xóm làng xa xuôi sống nhờ trên mảnh đất khô cằn khoai sắn, hay bầm giập giữa phố thị với xấp vé số trên tay, thậm chí còn trở thành kẻ hành khất kêu gọi tình thương của người qua đường đâu đó. Nỗi xót xa, tủi nhục ấy bao giờ tiêu tan được, cũng như những nỗi đau sâu thẳm trong tâm hồn họ không bao giờ hết, trong khi qua thời gian làn da nơi chân tay què cụt đã chai đá, những vết thương đã lành. Lớn hơn hết là những người thương phế binh này đã mang mặc cảm là "người đã bị bỏ quên" trên quê hương, nơi mà thù hận chưa nguôi, đối xử vẫn còn phân biệt như những người lính lạc đơn vị bị bỏ lại trên đất địch...

Ôi những vòng hoa chiến thắng ngày nào, những câu hát từ người em gái hậu phương, những mỹ từ và lời xưng tụng người ta đã dành cho anh. Số phận của người lính thất trận đã đổ nhào thêm lên tấm thân cụt què, yếu đuối. Họ sống cuộc đời cay đắng ấy (nếu còn có thể gọi đó là cuộc đời), có người mới hơn ba mươi năm, có người đã gần hết cuộc đời, thế giới ngày nay của họ có thể là một chiếc giường tre của người bị bại liệt, trên chiếc xe lăn của người què cụt lê lết hay ốm đau, già nua quanh quẩn trên sân nhà.

Thế giới hôm nay của chúng ta so với đời sống thương phế binh ở quê nhà là thiên đường và địa ngục, tương phản giữa ánh sáng và bóng tối. Dù có san sẻ tới mức nào cũng không lấp đầy nỗi thống khổ, dù bù đắp tới mức độ nào cũng không xứng đáng với sự hy sinh. Nhưng không lẽ chúng ta khoanh tay để nhìn những thương binh VNCH sống lặng lẽ cho hết một cuộc đời tàn tạ mà không bày tỏ được một cử chỉ biết ơn hay sao?

Chúng ta, những người may mắn sống trên một đất nước tự do, hạnh phúc đã nhớ gì về những người lính đã chiến đấu cho chúng ta sống, đã ở lại cho chúng ta ra đi.

Ðài truyền hình SBTN, Trung Tâm Asia đã cũng với Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam Cali sẽ tổ chức
MỘT ÐẠI NHẠC HỘI NGOÀI TRỜI

mang tên:
“CÁM ƠN ANH, NGƯỜI THƯƠNG BINH VIỆT NAM CỘNG HÒA, KỲ II”
SÂN VẬN ÐỘNG TRƯỜNG TRUNG HỌC BOLSA GRANDE
9401 Westminster Ave., Garden Grove, CA 92844
Ngày chủ nhật 3 tháng 8 năm 2008 vào lúc 12:30 đến 7:00PM

* với sự hiện diện đặc biệt của Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh và Nữ Ðại Úy Phi Công Elizabeth Phạm - cùng các Mcs Nam Lộc, Thùy D ương, Orchid Lâm Quỳnh, Giáng Ngọc , Minh Phượng, Ðỗ Tân Khoa . Các ban nhạc: The Soldier- Y2K - Moon Flowers - The Asia Band- Tù Ca Xuân Ðiềm...

* Cùng các ca sĩ Y Phương -Lê Nguyên -Tuấn Vũ -Trung Chỉnh- Thùy Hương- Phương Hồng Quế- Phi Nhung - Hoang Liên -Philip Huy- Băng Tâm- Ánh Minh- Ðan Nguyên- Diệp Thanh Thanh- Mai Lệ Huyền- Ngọc Minh- Nguyên Khang -Doanh Doanh -Diễm Liên -Lâm Nhật Tiến- Nguyễn Hồng Nhung- Mỹ Huyền -Thanh Lan- Y Phụng- Ý Lan -Trường Vũ- Thanh Tuyền -Ngọc Huyền- Quang Minh- Hồng Ðào - Phương Thảo- Ngọc Lễ -Hồ Hoàng Yến- Diệu Hương- Paolo -Nguyễn Tiến Dũng - Mỹ Lan- Bé Trần Thiện Anh Chí - Bé Ðan Vi và nhiều ca nhạc sĩ khác.

* Vé bán tại tất cả các nhà sách trong vùng Little Saigon, Hội H.O.

Cứu Trợ TPB-QP- VNCH và Liên Hội CCS-VNCH

Chi phiếu bảo trợ xin ghi: “ÐNH Cám Ơn Anh- Kỳ 2” và gởi về

- Ðài SBTN-TT Asia : P.O. Box 127- Garden Grove, CA 92842, hay

-Hội H.O. Cứu Trợ TPB-QP/VNCH: P.O. Box 25554 Santa Ana, CA 92799
Ðiện thoại liên lạc: (714) 669-0688 *(714) 590-8534

Post Reply