Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
CSVN Hãy Đưa Vấn Đề Hoàng Sa Trường Sa Ra Trước Hội Đồng Bảo An LHQ
Nghe bằng Flash
Hôm 11 tháng 7 vừa qua, dưới quyền chủ tọa của Việt Nam, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã bác bỏ dự thảo nghị quyết trừng phạt đối với lãnh đạo và đặc biệt là với tổng thống nước Cộng Hòa Zimbabwe. Nguyên nhân là trong cuộc bầu cử tổng thống mới đây đã xẩy ra những vụ gian lận, giết hại cử tri và thành viên đảng đối lập mà chính quyền của đương kim tổng thống Robert Mugabe là thủ phạm.
Cuộc bầu cử tổng thống tại nước thuộc địa cũ của Anh Quốc đã diễn ra vào ngày 29/3/2008, được coi như có rất nhiều dấu hiệu chính quyền gian lận. Ngay từ sau vòng đầu, và nhất là từ khi Ủy Ban Bầu Cử công bố kết quả, Mugabe đã dùng công an, quân đội thủ tiêu, giết hại những thành viên của đảng đối lập. Thậm chí nhiều cử tri đã bầu cho ông Morgan Tsvanggirai cũng bị giết hại. Chính bản thân ông này cũng cảm thấy bị đe dọa nên đã phải rút lui không dám ra ứng cử vòng hai và trốn vào tòa Đại Sứ Cộng Hòa Liên Bang Đức. Như vậy, ở vòng thứ hai chỉ còn ứng cử viên độc nhất là đương kim tổng thống Robert Mugabe và dĩ nhiên là ông ta đắc cử.
Theo các quan sát viên quốc tế thì ông Robert Mugabe là nhà độc tài khét tiếng của châu Phi. Ông ta từng tuyên bố rằng ông đã được trời định ông lãnh đạo nước Cộng Hòa Zimbabwe. Và vì thế, ông ta đã không ngần ngại dùng mọi thủ đoạn, kể cả giết người hàng loạt để nắm giữ chính quyền. Ngày 29/6 ông Mugabe 84 tuổi đã nhậm chức nhiệm kỳ thứ 6 sẽ kéo dài thêm 5 năm nữa, sau 28 năm cầm quyền. Dư luận thế giới đã rất bất bình về cuộc bầu cử này tại Zimbabwe. Ông Tổng Thư Ký LHQ Ban Ki Mun và các quan sát viên quốc tế đã tố cáo cuộc bầu cử này không thể hiện lòng dân. Cũng vì những lý do nêu trên mà Hoa Kỳ trong lúc còn là Chủ Tịch HĐBA/LHQ hồi tháng 6 đã đệ trình Hội Đồng bản dự thảo quyết nghị lên án ông Robert Mugabe và tập đoàn lãnh đạo Zimbabwe đồng thời có những biện pháp trừng phạt nước này như cấm buôn bán vũ khí, đông lạnh tài sản của tập đoàn lãnh đạo Zimbabwe... Bản dự thảo nghị quyết này đã được xét duyệt trong tháng 7, tháng Việt Nam làm chủ tịch và đã bị HĐBA/LHQ với hai phiếu phủ quyết của Nga và Trung Quốc khiến nó bị bác bỏ. Chi tiết về cuộc bỏ phiếu này như sau: 9 phiếu chấp thuận dự thảo nghị quyết gồm có các nước Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Bỉ Croatia, Ý, Costa Rica, Panama, Burkina Faso; 5 phiếu chống gồm Nga, Trung Quốc, Nam Phi, Lybia, Việt Nam; riêng Indônêxia đã tế nhị không bỏ phiếu. Tuy số phiếu bác bỏ ít hơn phiếu chấp thuận; nhưng vì 2 phiếu của Nga và Trung Quốc mang tính phủ quyết nên đã có kết quả như trên. Đa số thành viên LHQ đã bày tỏ sự thất vọng đối với HĐBA/LHQ vì đã ủng hộ độc tài, chống lại nhân dân Zimbabwe. Nhưng nếu người ta nhìn kỹ lại thì ngoại trừ Nam Phi là nước đang đứng làm trung gian để giải quyết khủng hoảng tại Zimbabwe, Nga, Trung Quốc, Lybia và Việt Nam đều có một chế độ độc tài tàn bạo giống như Zimbabwe. Có khác nhau chăng là ở chỗ kẻ thì nói mình làm tổng thống là do trời định, kẻ thì viết vào Hiến Pháp rằng chỉ có mình mới được lãnh đạo quốc gia. Tất cả cùng có mục đích chung: bất chấp mọi biện pháp, phải bám chặt lấy ngôi vị độc tôn trên chính quyền.
Nếu nói cộng sản Hà Nội xúi quẩy thì cũng không sai vì mới tới phiên làm chủ tịch HĐBA/LHQ thì gặp chuyện khiến cả thế giới phê phán Hội Đồng. Nhưng thực ra cơ hội Việt Nam tham gia HĐBA/LHQ và nay lại giữ chức chủ tịch Hội Đồng này là một cơ may ngàn năm một thuở đối với Việt Nam. Đây đúng là nơi, bây giờ đúng là lúc phải làm rạng danh dân tộc và đất nước Việt Nam trên diễn đàn quốc tế cao cấp nhất của nhân loại. Không phải chạy theo chân Nga-Tầu mà làm cho đất nước vẻ vang. Hai nước này có quyền phủ quyết. Họ không cần lá phiếu của Hà Nội. Hành động bỏ phiếu theo họ chỉ nói lên tư thế "theo voi ăn bã mía". Điều đáng làm trong lúc này, ở vị trí chủ tịch HĐBA/LHQ là phải đưa vụ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc xâm chiếm. Còn nhớ vào năm 1974, sau khi hải quân Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, mặc dù lúc đó, tình hình chiến sự đang hồi khốc liệt trên đất liền, đồng minh bắt đầu tháo chạy, sức cùng, lực kiệt, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vẫn cực lực tố cáo, khiếu kiện tới các cơ quan tư pháp quốc tế, trong đó có cả LHQ. Hành động đó tuy không đem lại kết quả; nhưng nó chứng tỏ lòng yêu nước, sự dũng cảm và quyết tâm bảo vệ giang sơn gấm vóc của tổ tiên để lại. Ở địa vị ngày hôm nay mà không dám đưa vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa ra trước HĐBA/LHQ thì đúng là đảng và Nhà Nước CSVN có tội lớn đối với Tổ Quốc. Tội không bảo vệ được bờ cõi. Tội đi làm tôi tớ cho quân xâm lược ngoại bang. Đảng và Nhà Nước CSVN hãy chứng tỏ lòng yêu nước, sự dũng cảm và quyết tâm bảo toàn lãnh thổ bằng cách đưa vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa ra trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc.
Trần Đức Tường
Nghe bằng Flash
Hôm 11 tháng 7 vừa qua, dưới quyền chủ tọa của Việt Nam, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã bác bỏ dự thảo nghị quyết trừng phạt đối với lãnh đạo và đặc biệt là với tổng thống nước Cộng Hòa Zimbabwe. Nguyên nhân là trong cuộc bầu cử tổng thống mới đây đã xẩy ra những vụ gian lận, giết hại cử tri và thành viên đảng đối lập mà chính quyền của đương kim tổng thống Robert Mugabe là thủ phạm.
Cuộc bầu cử tổng thống tại nước thuộc địa cũ của Anh Quốc đã diễn ra vào ngày 29/3/2008, được coi như có rất nhiều dấu hiệu chính quyền gian lận. Ngay từ sau vòng đầu, và nhất là từ khi Ủy Ban Bầu Cử công bố kết quả, Mugabe đã dùng công an, quân đội thủ tiêu, giết hại những thành viên của đảng đối lập. Thậm chí nhiều cử tri đã bầu cho ông Morgan Tsvanggirai cũng bị giết hại. Chính bản thân ông này cũng cảm thấy bị đe dọa nên đã phải rút lui không dám ra ứng cử vòng hai và trốn vào tòa Đại Sứ Cộng Hòa Liên Bang Đức. Như vậy, ở vòng thứ hai chỉ còn ứng cử viên độc nhất là đương kim tổng thống Robert Mugabe và dĩ nhiên là ông ta đắc cử.
Theo các quan sát viên quốc tế thì ông Robert Mugabe là nhà độc tài khét tiếng của châu Phi. Ông ta từng tuyên bố rằng ông đã được trời định ông lãnh đạo nước Cộng Hòa Zimbabwe. Và vì thế, ông ta đã không ngần ngại dùng mọi thủ đoạn, kể cả giết người hàng loạt để nắm giữ chính quyền. Ngày 29/6 ông Mugabe 84 tuổi đã nhậm chức nhiệm kỳ thứ 6 sẽ kéo dài thêm 5 năm nữa, sau 28 năm cầm quyền. Dư luận thế giới đã rất bất bình về cuộc bầu cử này tại Zimbabwe. Ông Tổng Thư Ký LHQ Ban Ki Mun và các quan sát viên quốc tế đã tố cáo cuộc bầu cử này không thể hiện lòng dân. Cũng vì những lý do nêu trên mà Hoa Kỳ trong lúc còn là Chủ Tịch HĐBA/LHQ hồi tháng 6 đã đệ trình Hội Đồng bản dự thảo quyết nghị lên án ông Robert Mugabe và tập đoàn lãnh đạo Zimbabwe đồng thời có những biện pháp trừng phạt nước này như cấm buôn bán vũ khí, đông lạnh tài sản của tập đoàn lãnh đạo Zimbabwe... Bản dự thảo nghị quyết này đã được xét duyệt trong tháng 7, tháng Việt Nam làm chủ tịch và đã bị HĐBA/LHQ với hai phiếu phủ quyết của Nga và Trung Quốc khiến nó bị bác bỏ. Chi tiết về cuộc bỏ phiếu này như sau: 9 phiếu chấp thuận dự thảo nghị quyết gồm có các nước Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Bỉ Croatia, Ý, Costa Rica, Panama, Burkina Faso; 5 phiếu chống gồm Nga, Trung Quốc, Nam Phi, Lybia, Việt Nam; riêng Indônêxia đã tế nhị không bỏ phiếu. Tuy số phiếu bác bỏ ít hơn phiếu chấp thuận; nhưng vì 2 phiếu của Nga và Trung Quốc mang tính phủ quyết nên đã có kết quả như trên. Đa số thành viên LHQ đã bày tỏ sự thất vọng đối với HĐBA/LHQ vì đã ủng hộ độc tài, chống lại nhân dân Zimbabwe. Nhưng nếu người ta nhìn kỹ lại thì ngoại trừ Nam Phi là nước đang đứng làm trung gian để giải quyết khủng hoảng tại Zimbabwe, Nga, Trung Quốc, Lybia và Việt Nam đều có một chế độ độc tài tàn bạo giống như Zimbabwe. Có khác nhau chăng là ở chỗ kẻ thì nói mình làm tổng thống là do trời định, kẻ thì viết vào Hiến Pháp rằng chỉ có mình mới được lãnh đạo quốc gia. Tất cả cùng có mục đích chung: bất chấp mọi biện pháp, phải bám chặt lấy ngôi vị độc tôn trên chính quyền.
Nếu nói cộng sản Hà Nội xúi quẩy thì cũng không sai vì mới tới phiên làm chủ tịch HĐBA/LHQ thì gặp chuyện khiến cả thế giới phê phán Hội Đồng. Nhưng thực ra cơ hội Việt Nam tham gia HĐBA/LHQ và nay lại giữ chức chủ tịch Hội Đồng này là một cơ may ngàn năm một thuở đối với Việt Nam. Đây đúng là nơi, bây giờ đúng là lúc phải làm rạng danh dân tộc và đất nước Việt Nam trên diễn đàn quốc tế cao cấp nhất của nhân loại. Không phải chạy theo chân Nga-Tầu mà làm cho đất nước vẻ vang. Hai nước này có quyền phủ quyết. Họ không cần lá phiếu của Hà Nội. Hành động bỏ phiếu theo họ chỉ nói lên tư thế "theo voi ăn bã mía". Điều đáng làm trong lúc này, ở vị trí chủ tịch HĐBA/LHQ là phải đưa vụ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc xâm chiếm. Còn nhớ vào năm 1974, sau khi hải quân Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, mặc dù lúc đó, tình hình chiến sự đang hồi khốc liệt trên đất liền, đồng minh bắt đầu tháo chạy, sức cùng, lực kiệt, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vẫn cực lực tố cáo, khiếu kiện tới các cơ quan tư pháp quốc tế, trong đó có cả LHQ. Hành động đó tuy không đem lại kết quả; nhưng nó chứng tỏ lòng yêu nước, sự dũng cảm và quyết tâm bảo vệ giang sơn gấm vóc của tổ tiên để lại. Ở địa vị ngày hôm nay mà không dám đưa vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa ra trước HĐBA/LHQ thì đúng là đảng và Nhà Nước CSVN có tội lớn đối với Tổ Quốc. Tội không bảo vệ được bờ cõi. Tội đi làm tôi tớ cho quân xâm lược ngoại bang. Đảng và Nhà Nước CSVN hãy chứng tỏ lòng yêu nước, sự dũng cảm và quyết tâm bảo toàn lãnh thổ bằng cách đưa vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa ra trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc.
Trần Đức Tường


Tự Do Ngôn Luận?
Tác giả: Vũ Linh
..Nhưng khó chấp nhận được chính là những lời tự quảng bá là ‘trung thực và công bằng’...
Nước Cờ Hoa có thể chế chính trị tự do dân chủ nhất thế giới, đó là điều ít ai chối cãi được dù ưa hay ghét "đế quốc" Mỹ. Tự do có nghĩa là ai muốn nói gì thì nói, nói sai nói đúng, nói phải nói quấy, nói khôn nói dại, nói trắng nói đen, nói thật nói phét,… tất cả đều được hết.
Tại Mỹ, các đài và báo, như hầu hết ký giả viết tin, đọc tin và bình luận, đều lớn tiếng tự quảng bá là đáng tin cậy nhất, trình bày tin tức trung thực nhất, và bình luận công bằng nhất. Luận điệu này có lẽ là điều láo khoét nhất mà chúng ta có thể nghe được.
Bất cứ một ký giả viết tin, hay đọc tin, hay một bình luận gia nào cũng vậy, cũng chỉ là những con người bằng xương bằng thịt, với ý nghĩ, cảm xúc, yêu thương, giận ghét, sở thích… của mỗi người. Do đó, từng lời nói, bài viết hay cách họ lọc tin để suy diễn cũng chỉ phản ánh suy tư rất chủ quan của họ. Điều này là dễ hiểu và ai cũng có thể chấp nhận được. Nhưng khó chấp nhận được chính là những lời tự quảng bá là "trung thực và công bằng". Không một ký giả hay nhà bình luận nào, chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp -kể cả kẻ viết bài này- có thể đứng trong một vị thế trung dung tuyệt đối được. Sự thật đơn giản vậy thôi.
Nhìn vào hệ thống truyền thông Mỹ, người ta thấy rõ là một số đài truyền hình và báo hoàn toàn khống chế truyền thông Mỹ. Về truyền hình thì đó là các đài lớn như ABC, CBS, NBC và CNN, trong khi về báo thì có các nhật báo New York Times, Washington Post, USA Today, Los Angeles Times, San Francisco Chronicles, Chicago Tribune, hay các tuần báo Time và Newsweek. Tất cả những đài truyền hình và báo nặng ký ấy được gọi chung là MSM, chữ viết tắt của Mainstream Media, nghĩa là truyền thông của dòng chính lưu.
MSM từ trước đến giờ vẫn là tiếng nói của giới cấp tiến Mỹ, có lập trường chung rất cấp tiến (liberal) và thiên tả, thường là thân cận với phe cấp tiến trong đảng Dân Chủ.
Sự thiên vị của MSM không là chuyện mới lạ mà thật sự đã có từ mấy thập niên rồi.
Có lẽ nhiều người chưa quên được tờ New York Times là báo đã công bố hồ sơ tối mật Ngũ Giác Đài (The Pentagon Papers) do một nhân viên Bộ Quốc Phòng có tư tưởng phản chiến ăn cắp và cung cấp cho và gây thiên lệch cho cuộc chiến chống Cộng Sản của quân dân miền Nam Việt Nam dưới thời TT Nixon. Chúng ta cũng còn nhớ Washington Post là tờ báo đã khui vụ Watergate để đánh gục Nixon. Đây cũng là tờ báo đã khui vụ cựu đại tá Oliver North cung cấp vũ khí cho các lực lượng tự do Nicaragua chống lại nhà độc tài cộng sản Ortega khiến TT Reagan bối rối không ít.
Gần đây hơn, tờ New York Times cũng là tờ báo đã công bố chi tiết về những vụ chính quyền Mỹ theo dõi các đường giây chuyển ngân lậu để tài trợ khủng bố trên thế giới, và gây khó khăn cho chính quyền Bush đang truy lùng các nhóm khủng bố liên hệ đến Al Qaeda.
Hiển nhiên, bảo vệ lập trường thiên tả cấp tiến của mình, cũng như nhu cầu đăng tin sốt dẻo để bán báo là chuyện quan trọng hơn xa các vấn đề bảo vệ an ninh quốc gia đối với MSM.
Cuộc tranh cử tổng thống Mỹ, kể cả các cuộc tranh cử sơ bộ, đã kéo dài gần hai năm nay. Chúng ta đã có dịp nghe đài, xem truyền hình, và đọc báo rất nhiều. Do đó, cũng đã nhìn thấy rõ khía cạnh thiên vị của truyền thông Mỹ.
Ví dụ điển hình nhất là tờ The New York Times (NYT).
Đầu mùa hè năm 2007, khi cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc bắt đầu, tờ NYT bắt buộc phải có ý kiến về các ứng viên hai phe Dân Chủ và Cộng Hòa đang tranh cử. NYT lên tiếng hậu thuẫn bà Hillary Clinton bên Dân Chủ - dĩ nhiên vì lúc đó chưa ai biết Obama là ai - và ông John McCain bên Cộng Hòa. NYT ủng hộ McCain một phần vì ông này trước đây tranh cử chống thống đốc Bush của Texas trong cuộc tranh cử năm 2000 và sau đó đã nhiều lần lên tiếng phát biểu khác ý với Chính quyền Bush về nhiều vấn đề quan trọng, như thuế, chiến thuật tại Iraq, cách cư xử với tù nhân khủng bố, v.v...
Nhưng phần khác vì McCain lúc đó đang là một "ngôi sao" hết sức lu mờ, không ai nghĩ ông có chút hy vọng nào hết chống lại cựu thị trưởng New York Rudolph Giuliani hay cựu thống đốc Massachussetts Mitt Romney.
Việc hậu thuẫn một người nổi tiếng chống Bush mà lại có vẻ vô vọng đắc cử có thể được hiểu như kiểu khều giò lái đảng Cộng Hòa và TT Bush không hơn không kém.
Đến tháng Hai năm 2008, khi ông McCain đã nổi bật như người sẽ đắc thắng cuộc tranh cử sơ bộ bên Cộng Hòa thì NYT bèn thân tặng ông này một loạt bài tố cáo không chứng cớ răng ông này cách đây cả chục năm đã gian díu với một bà là chuyên viên vận động hành lang - lobbyist. Nhiều người thắc mắc không hiểu tại sao NYT lại lên tiếng hậu thuẫn ông McCain nếu đã biết về vụ lem nhem này. Có thể NYT đã cố tình lên tiếng hậu thuẫn và ca ngợi ông McCain là ứng viên Cộng Hòa sáng giá nhất, để rồi sau đó có dịp chứng minh được với thiên hạ người khá nhất của Cộng Hòa cũng chỉ là thứ lem nhem vớ vẩn thôi!
Không may cho NYT là loạt bài này bị phản ứng ngược. Tờ báo không đưa ra được bằng chứng nào mà chỉ dựa vào lời kể của một người giấu tên, nên bài báo bị coi là vô giá trị và có tính cách bôi bác. Ông McCain thoát hiểm.
Trung tuần tháng Bẩy vừa qua, ông McCain lại bị NYT tặng cho một món quà nữa.
Hồi tháng Sáu, ông Obama lên tiếng tuyên bố "có thể xét lại" lịch trình rút quân khỏi Iraq của ông. Ông liền bị phe Cộng Hòa tố ngay là lập trường chao đảo, chuyển hướng để lấy phiếu mấy ông bảo thủ và độc lập không chấp nhận rút quân cấp tốc bất kể hậu quả của Obama. Để đỡ đòn, Obama viết một bài tràng giang đại hải phân trần và giải thích về lập trường của ông trong việc rút quân khỏi Iraq, đồng thời đả kích mạnh mẽ lập trường của McCain và Bush. Bài viết của Obama được NYT đăng nguyên văn trên mục bình luận của báo này.
Một tuần lễ sau, ông McCain viết một bài để trả lời những chỉ trích của Obama và chất vấn lại lập trường của Obama.
NYT từ chối không cho đăng bài trả lời của ông McCain. Chủ bút phụ trách mục bình luận góp ý (Op-ed) của NYT giải thích là bài của Obama đưa ra lập luận mới lạ (new), trong khi bài của McCain có nhiều thiếu sót, nhiều câu hỏi không được trả lời, đồng thời lại chỉ trích Obama hơi nhiều. Ông chủ bút xác nhận NYT sẽ vui vẻ cứu xét việc đăng bài của McCain nếu ông này chịu viết lại, rập khuôn theo bài của ông Obama (nguyên văn: "mirrors Senator Obama’s piece"). Cũng cần biết ông chủ bút này trước đây là phụ tá đặc biệt của TT Dân Chủ Bill Clinton!
Sự kiện NYT đăng bài của Obama rồi không cho đăng bài trả lời của McCain, tự nó đã là hơi quá thiên vị. Bây giờ NYT lại còn yêu sách đòi McCain phải viết "rập khuôn" theo Obama thì quả là chuyện lạ. Không khác gì trường hợp các bài viết của các ký giả được các chủ biên "hướng dẫn" cách viết trong chế độ báo chí của các nước cộng sản. Nhưng đây lại là chyện đang xẩy ra trên nước Mỹ, nơi được gọi là thành trì của tự do ngôn luận, với một tờ báo được coi là lớn nhất Mỹ.
Nếu ai không tin NYT là báo cấp tiến thiên vị Obama thì chỉ cần nhìn vào sự kiện trên để hiểu rõ vấn đề hơn.
Nhưng không phải chỉ có NYT là cơ quan truyền thông duy nhất đang cố gắng rao giảng "đạo Obama".
Trước đây, bà Hillary tuy cũng là phe Dân Chủ, nhưng vì ít cấp tiến hơn Obama và thuộc loại đồ cổ, không hấp dẫn gì lắm, nên các báo cấp tiến đã ra công kéo bà xuống để tâng bốc Đấng Tiên Tri mới Obama. Bà Hillary gân cổ phản đối cũng vô hiệu.
Ngay sau khi bà Hillary đại thắng tại Texas và Ohio, có hy vọng lật ngược thế cờ, thắng Obama trong những cuộc bầu chót của cuộc tranh cử sơ bộ bên Dân Chủ, thì cả hai tuần báo Time và Newsweek đều cho ngay hình Obama lên trang bìa với bài viết kèm theo tuyên bố Obama đã đắc cử đại diện cho đảng Dân Chủ, hoá giải ngay dư âm của hai cuộc chiến thắng của bà Hillary. Dĩ nhiên trong các cuộc bầu sơ bộ sau đó, các cử tri của Obama phấn khởi, đi bầu ào ào, trong khi cử tri của Hillary nản chí nằm nhà không đi bầu nữa, hay đi bầu cho Obama vậy. Khiến cho Obama thắng thật, đúng như hai tuần báo đã loan tin từ trước.
Sau khi Obama hạ được bà Hillary thì ông bắt đầu đổi chiến lược. Bắt đầu trở giọng ôn hòa, bớt quá khích cấp tiến hơn để thu hút phiếu của các cử tri độc lập và Cộng Hòa ôn hòa. Ông thay đổi lập trường trên một loạt vấn đề, từ việc nuốt lời hứa nhận tiền công quỹ để tranh cử, đến việc chấp nhận sở hữu súng mà mình vẫn chống đối từ lâu, việc bỏ phiếu miễn tố các công ty điện thoại trước đây đã giúp Bush nghe lén những cuộc đối thoại của các nghi can khủng bố, xét lại việc rút quân tại Iraq, … Tất cả những thay đổi lập trường lộ liễu của Obama nếu không được giới truyền thông cấp tiến nức nở ca ngợi như hành động khôn ngoan, thì cũng được chấp nhận như có tính thực tế.
Dù còn hơn ba tháng nữa mới tới ngày bàu cử và các cuộc thăm dò dư luận đều cho thấy một tình trạng ngang ngửa giữa hai ứng viên, nhưng tuần báo Time trong số ra trung tuần tháng Bẩy đã khẳng định McCain hoàn toàn vô vọng rồi, chỉ vì theo Time, Obama chính là sự thay đổi mà tất cả mọi người đang mong đợi. Nói cách khác, Time chỉ lập lại một khẩu hiệu quen thuộc của Obama thôi, coi như lập luận này đã trở thành sự thật vậy.
Time ra số đặc biệt với 24 trang (một kỷ lục chưa từng xẩy ra) ca tụng Obama bằng danh từ và giai thoại vặt có tính cách thần thánh hoá Obama đến độ ngay các báo New York Times và Washington Post cũng cảm thấy hơi quá trớn.
Sự thiên vị cũng được thể hiện qua cách phổ biến tin tức.
Đài truyền hình ABC cách đây không lâu, gửi nữ ký giả Martha Raddatz qua Iraq thăm dò dư luận quân nhân Mỹ tại đây. Bà hỏi ý 60 quân nhân về ba ứng viên Obama, Hillary và McCain. Năm mươi bốn người nói sẽ bỏ phiếu cho McCain, 4 người ủng hộ Obama, và 2 ủng hộ bà Hillary. Tối hôm sau, khán giả coi TV ở Mỹ được thấy bà ký giả này phỏng vấn 3 quân nhân ủng hộ Obama và 2 quân nhân ủng hộ bà Hillary. Không có một lời nói nào về 54 quân nhân ủng hộ McCain.
Sự tôn sùng Obama lan qua tới hai cô con gái. Một ký giả của Associated Press viết bài nức nở ca ngợi hai cô bé Malia, 10 tuổi, và Sasha 7 tuổi này là rất ngoan, không bao giờ cãi nhau, sáng ngủ dậy biết tự làm giường, rồi tự đi lấy quần áo mặc đi học, mỗi ngày được bố Obama cho một đô vì giữ phòng ngủ sạch sẽ. Làm sao ký giả này biết rõ những chi tiết ấy vậy, nếu không phải là được chính hai ông bà Obama cung cấp, rồi cứ thế đăng lên báo thôi, coi như sự thực vì được đích thân Đấng Tiên Tri cung cấp!
Gần đây hơn, sự thiên vị của giới truyền thông còn được phơi bày hết sức lộ liễu trong cuộc công du nước ngoài của ông Obama.
Ngay sau khi đắc cử đại diện đảng Cộng Hòa, ông McCain đi ra nước ngoài ba lần, một lần đi Iraq, Afghanistan và Âu Châu, y như Obama bây giờ. Hai lần kia, ông đi Canada và Nam Mỹ. Nhưng cả ba cuộc chu du này đều chẳng ai hay biết. Giới truyền thông loan tin vắn tắt, coi như không có chuyện gì đặc biệt xẩy ra.
Nhưng gần đây khi đến phiên Obama chu du Iraq, Afghanistan và Âu Châu thì báo chí và truyền hình chạy tin hàng đầu trên trang nhất từ cả tuần trước đến cả tuần sau. Thậm chí, cả ba người đọc tin chủ chốt (anchorman/woman) của cả ba đài truyền hình ABC, CBS và NBC, cùng với hơn hai trăm ký giả đã đi theo phái đoàn của Obama. Ngay cả TT Bush khi đi công du viếng thăm chính thức một nước nào trên thế giới cũng chưa bao giờ có được sự "hộ tống" của cả ba đài truyền hình toàn quốc và nhiều ký giả như vậy!
Bị chỉ trích, các ký giả này giải thích là chỗ nào có tin sốt dẻo là họ cần phải đến. Thì cũng đúng vậy. Chỉ có điều là như thế có nghĩa là với họ, chỉ có chỗ nào có Obama thì mới là chỗ có tin sốt dẻo. Chỗ nào không có Obama là chỗ đó không có tin gì đáng nói?
Theo thống kê của một tổ chức giám sát truyền thông, trong sáu tuần lễ từ đầu tháng Sáu đến giữa tháng Bẩy vừa qua, tuần nào thì tin tức về Obama cũng được loan báo nhiều hơn tin tức về McCain. Tổng cộng số phút được dành cho Obama trên ba đài truyền hình chính là 2 tiếng (114 phút), trong khi McCain chỉ được chưa tới một tiếng (48 phút).
Chắc chắn với cuộc chu du của Obama, những con số này sẽ thay đổi nhiều. Thứ ba 22 tháng 7, Katie Couric của CBS có chương trình đặc biệt phỏng vấn Obama, hôm sau, 23 có Charlie Gibson của ABC, rồi hôm sau nữa, 24, tới phiên Brian Williams của NBC. Ba ngày, ba chương trình phỏng vấn đặc biệt, chưa kể các tin tức về cuộc chu du do hơn hai trăm ký giả khác loan tải. Trong khi ấy, McCain tới phi trường Manchester để viếng thăm tiểu bang New Hampshire được đúng… một ký giả ra đón. Các báo giải thích là họ… hết người vì tất cả đã được gửi đi theo Obama rồi.
Nếu nhìn vào khía cạnh tiền yểm trợ thì sự thiên vị cũng rất rõ. Theo báo cáo của hai ứng viên. Các cơ quan truyền thông và ký giả đã ủng hộ Obama hơn 315.500 đô, và yểm trợ McCain 3.150 đô, đúng 1% số tiền Obama nhận được!
Chuyện truyền thông phe đảng thiên vị Obama không có gì lạ. Điều lạ là dù cho tỷ lệ hậu thuẫn TT Bush xuống thật thấp và truyền thông tung hô Obama lên mây xanh, hy vọng thắng cử của Obama vẫn hết sức mong manh. Trong cuộc thăm dò dư luận của Newsweek tháng Sáu vừa qua, Obama thắng McCain 15 điểm, đến giữa tháng Bẩy, tỷ lệ này tụt xuống mức 3 điểm, rồi qua cuối tháng Bẩy, lại tuột nữa, xuống còn có 1 điểm.
Dân Mỹ thật ra cũng không đến nỗi ngu ngơ lắm. Họ ý thức khá rõ sự thiếu trung thực của truyền thông. Theo như cuộc thăm dò dư luận mới đây của đài truyền hình Fox, hai phần ba dân Mỹ (67%) cho rằng truyền thông muốn Obama thắng, và chỉ có một phần mười (11%) dân Mỹ nghĩ rằng truyền thông trung lập. Một thăm dò dư luận khác cho thấy chỉ có khoảng 15% dân Mỹ tin tưởng giới truyền thông, chưa bằng một nửa mức hậu thuẫn 33% của TT Bush mà giới truyền thông không ngớt chê bai là bết bát nhất lịch sử Mỹ. Con số 15% này chỉ hơn có con số 11% mà dân Mỹ dành cho các dân biểu nghị sĩ Dân Chủ trong quốc hội.
Hoa Kỳ là xứ của tự do ngôn luận. Ai muốn nói gì thì nói. Báo chí muốn bênh phe nào hay chống phe nào là quyền của họ, được Hiến Pháp bảo vệ. Chỉ cần giới truyền thông có đủ tự trọng để đừng vỗ ngực cho rằng mình trung thực và trung lập thôi. Nhưng hình như đòi hỏi này hơi khó cho giới truyền thông cấp tiến Mỹ (26-7-08).
Vũ Linh

THƯ TRẢ LỜI ĐẠI SỨ CỘNG SẢN VIỆT NAM NGUYỄN TÂM CHIẾN
VỀ VIỆC VINH DANH LÁ CỜ VIỆT NAM CỘNG HÒA VÀ DỰ ÁN
TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ TỰ DO TẠI TIỂU BANG WASHINGTON
Nhân vụ Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang là Pam Roach đưa ra hai nghị quyết tại Thượng Viện Tiểu Bang. Nghị quyết thứ nhất là công nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ; nghị quyết thứ hai ủng hộ dự án xây tượng đài tại tiểu bang Washington kỷ niệm các chiến sĩ chiến đấu cho Tự Do.
Sau đó Nghị Sĩ Roach nhận một bức thư từ Đại sứ Cộng sản Việt Nam phản đối cả hai Nghị quyết trên. Ông Terrell A. Minarcin đã đánh máy lại thư Nguyễn Tâm Chiến và viết thư trả lời.
Đại sứ Cộng sản Việt Nam tại Washington D.C. đã phản ứng một cách điên cuồng, nên đã phạm phải những lỗi lầm nghiêm trọng về ngoại giao và bang giao quốc tế, trong đó có việc xâm phạm vào công việc nội bộ của công dân và đất nước Hoa Kỳ.
Sau đây là thư phản đối của Nguyễn Tâm Chiến, Đại Sứ Cộng sản Việt Nam gửi Thượng Nghị Sĩ Pam Roach, tiểu bang Washington.
Ngày 10-2-2004
Kính thưa Thượng Nghị Sĩ Roach:
Với sự quan tâm đặc biệt mà tôi viết thư này gửi ông liên quan đến một nỗ lực thứ hai nhằm thừa nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ được trình bày trong văn kiện SJM8045. Đây là để tái khẳng định rằng nhân dân và chính phủ Việt Nam không thể chấp thuận với dự án xây dựng Tượng Đài. Tôi xin chia sẻ với ông về ý nghĩ của tôi.
Thứ nhất, dự án Tượng Đài đi ngược lại những quy ước quốc tế và thực tiễn. Bây giờ, cái gọi là Việt Nam Cộng Hòa đã không còn tồn tại, hơn ba mươi năm qua, lá cờ của nó đã không còn chỗ đứng hợp pháp tại Việt Nam. Giống như một số văn bản hoặc nghị quyết, ngôn ngữ của dự án Tượng Đài Kỷ Niệm rõ ràng đã phủ định sự hiện hữu của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ vối Hoa Kỳ từ năm 1995.
Thứ hai, kể từ khi khởi đầu của giai đoạn mới của sự bình thường hóa và hòa giải với quý quốc vào năm 1995, Việt Nam đã làm hết sức mình để đẩy lùi quá khứ và nhìn về phía tương lai, phấn đấu để xây dựng một quan hệ mà đôi bên đều có lợi. Trong tiểu bang của ông, hãng Boeing đã bán máy bay cho Việt Nam và Cảng Seattle vẫn là một cảng chị em với cảng Hải Phòng của miền Bắc Việt Nam trong chương trình trao đổi. Theo ý tôi, dự án Tượng Đài Kỷ Niệm, dấu hiệu làm sống lại quá khứ của hận thù và buồn đau, không phục vụ cho lợi ích của cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ hoặc tiểu bang Washington.
Thứ ba, với một chính sách kiên định, Việt Nam hoan nghênh sự tham gia năng động của Việt kiều trong việc mở rộng quan hệ có lợi cả hai bên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và sự hội nhập hữu hiệu của họ vào dòng sinh hoạt chính lưu của đời sống Mỹ.Việt Nam hy vọng mãnh liệt rằng cộng đồng của người Mỹ gốc Việt, khoảng gần năm mươi ngàn đã chọn tiểu bang của ông làm quê hương mới, sẽ cũng tiếp nhận tinh thần thân hữu và hợp tác.
Sau hết, ở cấp liên bang vị Ngoại Trưởng và các giới chức cao cấp Hoa Kỳ đã luôn luôn tuyên bố rằng Hoa Kỳ không công nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ. Trong cuộc họp với tôi vào mùa hè vừa qua, Thống Đốc Gary Locke đã nói ông ta và tiểu bang Washington ủng hộ sự gia tăng quan hệ hai bên cùng có lợi giữa tiểu bang Washington và Việt Nam.
Như ông có thể nhớ lại, Nghị Quyết Thượng Viện loại này số 8659 đã bị rút lại sau cuộc duyệt xét vào mùa xuân vừa qua, khi những ý tưởng này được đưa ra bàn thảo.
Cuối cùng nhưng không kém quan trọng; tôi tin dự án Tượng Đài Kỷ Niệm, một khi được cơ quan lập pháp của ông thông qua, sẽ đâm bổ vào chính Hiến Pháp Hoa kỳ là nền tảng trao quyền hành cho việc thi hành chính sách đối ngoại duy nhất trong hệ thống liên bang. Vả lại, bằng sự kêu gọi công nhận lá cờ cũ ấy “như là lá cờ chính thức duy nhất của nhân dân Việt Nam”, nó sẽ làm cho quyền tự do phát biểu bị nghi ngờ.
Dưới ánh sáng của những nhận xét này, tôi thành kính yêu cầu ông đừng hành động hỗ trợ cho dự án Tượng Đài Kỷ Niệm.
Tôi cảm ơn ông về sự quan tâm và hợp tác.
Với lòng kính trọng cao nhất của tôi.
Ký tên : Nguyễn Tâm Chiến,
Đại Sứ.
THƯ PHÚC ĐÁP TỪ WASHINGTON STATE.
Ngày 23-2-2004
Thưa Ông Đại Sứ,
Tôi vừa nhận được một bản sao của thư ông gửi đến Nghị Sĩ Pam Roach đề ngày 10-2-2004. Tôi xin trả lời thư đó.
Nếu bất cứ một nước nào khác viết bức thư này, thì sẽ đơn thuần một chuyện buồn cười.
Nhưng đây lại là của nước ông, Ông Đại Sứ, nước Cộng sản Việt Nam. Nước ông chưa bao giờ tôn trọng hoặc thành thật tuân theo những thủ tục và quy định của bất cứ một thỏa hiệp quốc tế nào mà nước ông đã ký kết vào. Tuy nhiên, nước ông sẽ chỉ núp đằng sau các Thỏa hiệp ấy khi nào chúng thích hợp cho quyền lợi của nước ông. Khi có những cá nhân, chẳng hạn như bản thân tôi hoặc Ông M. Benge, hoặc các tổ chức như Ân Xá Quốc Tế, Ủy Ban Tự Do, Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền, cáo buộc quý quốc với vô số hành động vi phạm nhân quyền hoặc tổn hại, thì lập tức quý quốc đáp lại bằng cách nói rằng những vấn đề mà chúng tôi đang quan tâm tới là những vấn đề nội bộ và rằng chúng tôi đã can thiệp vào chính sách của quý quốc. Thế cũng được.
Ở đây, với quá trình được sắp đặt, chính ông đang can thiệp vào Tiểu bang Washington về những vấn đề không liên quan gì đến ông cả. Sao mà chúng tôi vinh danh sự đóng góp của các cá nhân hoặc các cộng đồng dân tộc ở đây tại Washington lại là ăn nhập đến ông. Xin hãy từ bỏ hành động can thiệp vào những vấn đề nội bộ của chúng tôi.
Ông muốn chúng tôi công nhận và vinh danh lá cờ của ông. Lá cờ đại diện cho một quốc gia đã thực hiện những cuộc tàn sát diệt chủng, huynh đệ tương tàn và buôn bán nô lệ quốc tế. Tôi, với tư cách một cư dân của tiểu bang Washington, không thể nào tha thứ hành động ấy. Sao ông dám đòi hỏi tôi làm? Làm như thế sẽ đưa tôi đến sự đồng lõa với những tội ác lớn lao chống nhân loại của nước ông.
Ông nói rằng dự án Đài Tưởng Niệm phủ định sự tồn tại của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nó chẳng làm được việc nào như thế đâu. Đối lại với các bảo tàng viện và đài tưởng niệm của nước ông, Đài Tưởng Niệm này bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với những người đã trả cái giá cao nhất cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trong nước Việt Nam Cộng Hòa cũ. Ngọn cờ của Việt Nam Cộng Hòa từ đó được công nhận như là ngọn cờ của tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trên khắp thế giới. Các màu sắc của nó thật là tiêu biểu. Ba sọc đỏ tượng trưng cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Trong lúc màu vàng nói lên sự quý giá biết bao của những lý tưởng ấy, màu đỏ tượng trưng cho sự đổ máu để bảo vệ những lý tưởng đó. Cả trong quá khứ và cả đối với những người sẽ bảo vệ những lý tưởng ấy cho đến chết. Tôi, trước hết, hân hạnh công nhận lá cờ Tự Do và tỏ lòng vinh danh nó. Tôi cũng sẽ hân hạnh công nhận lá cờ của ông khi ông công nhận lá cờ của chúng tôi. Trước khi ấy, đối với tôi, lá cờ của ông tượng trưng cho giết hại, khủng bố, ngược đãi, tráo trở, buôn bán nô lệ và vi phạm nhân quyền.
Ông tuyên bố rằng ông đang “cực kỳ” nỗ lực để đẩy lùi quá khứ. Vâng, với nước của ông, hồ sơ quá khứ là sự xâm phạm tất cả các tiêu chuẩn của hành động văn minh, nên tôi hoàn toàn hiểu được mong muốn đẩy lùi quá khứ của ông. Sau hết, mục đích về sự thừa nhận của ông chỉ bị tổn thương bởi những hành động quá khứ của nước ông.
Tất cả các cư dân của tiểu bang Washington sẽ cảm thấy sung sướng hơn để mở bàn tay thân hữu và hợp tác khi nước ông có đầy đủ Tự Do, Dân Chủ và mở rộng Nhân Quyền cho tất cả người dân Việt Nam. Trước khi đó, xin hãy tránh khỏi công việc nội bộ của chúng tôi.
Dự án Đài Tưởng Niệm không phải là một lời tuyên bố của chính sách ngoại giao. Nơi mà ông lấy ra cái ý tưởng đó ngoài phạm vi của tôi. Một lần nữa, ông lại cố gắng làm mờ tối vấn đề. Những gì mà nhân dân Mỹ làm không mắc mớ gì tới ông. Đây là một vấn đề nội bộ của tiểu bang Washington do những công dân bình thường vinh danh những người đã hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, là những lý tưởng đáng nguyền rủa đối với chính phủ chuyên chính bạo ngược của ông. Đó là những lý tưởng mà lá cờ nền vàng với ba sọc đỏ đã tượng trưng.
Bây giờ chúng ta hãy nhìn kỹ vào những gì mà nước ông đã làm và đang tiếp tục làm.
Cộng sản Việt Nam đã tham gia vào hành động diệt chủng. Nó đã chính thức bắt đầu suốt trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai. Chính nước ông đã tuyên chiến Cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai. Theo định nghĩa lúc bấy giờ, đó là một cuộc chiến tranh. Như vậy, nước ông bị ràng buộc bởi những Quy Ước Genève về cách đối xử với Tù binh chiến tranh. Thế nhưng, như tôi đã nói trước đây, nước ông chưa đủ thành thật và tôn trọng đối với những nguyên tắc căn bản của bất cứ một hiệp định quốc tế nào mà nước ông đã ký vào.
Sự đối xử với tù binh chiến tranh của các ông đã chứng minh cho điều đó. Ngoài ra, các ông đã hành quyết ít nhất là 11 tù binh Hoa Kỳ đang bị các ông giam giữ. Đó là một tội phạm chiến tranh và diệt chủng. Cho đến ngày nay, các ông vẫn cố tình phạm tội diệt chủng. Hãy lấy trường hợp của Lý Tống, một người Mỹ gốc Việt. Các ông đã tìm cách can thiệp vào tòa án và luật pháp của Thái-Lan và yêu cầu Thái-Lan hãy hành quyết Lý Tống. Tội danh của ông ta là gì? Nói cho dân Việt Nam về Tự Do là một trường hợp mà các ông không thể nào tha thứ được.
Cộng sản Việt Nam đã tham gia và tiếp tục tham gia vào cuộc huynh đệ tương tàn. Việc này đã khởi đầu vào năm 1956 khi chế độ Cộng sản tại Hà Nội phát động chương trình Cải Cách Ruộng Đất. Trong lúc có thể dễ dàng trút trách nhiệm lên kẻ khích động của Cộng sản Quốc tế là Hồ Chí Minh, thì kiến trúc sư thực sự là Trường Chinh. Đã có bao nhiêu người Việt Nam chết dưới cuộc tàn sát này? 10,000? - 50,000? - 100,000? Nhiều hơn? Ngay cả chỉ có một nạn nhân của cuộc tàn sát này, cũng đã tạo nên cảnh tương tàn huynh đệ rồi. Cuộc tàn sát nhắm vào người thiểu số Việt Nam tại miền Tây Bắc Việt Nam cũng cùng một loại (với cải cách ruộng đất). Mục đích của cuộc tàn sát này là “xóa sạch chủng tộc” số người Việt Nam thiểu số đã giúp cho người Pháp. Tôi nhắc đến điều này là để chứng minh rằng các ông đã tiếp tục chính sách này sau khi kết thúc Cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai với sự bắt đầu chính sách cưỡng bách tái định cư những người Việt Nam đã cộng tác với Việt Nam Cộng Hòa cũ tại những vùng mà các ông thản nhiên gọi là Vùng Kinh Tế Mới. Các ông tiếp tục chính sách diệt chủng hiện nay dưới dạng ngược đãi và khủng bố tôn giáo, nó cũng là một bằng chứng hiển nhiên về vi phạm nhân quyền. Bất cứ một người nào bị giết hại trong cuộc tàn sát này cũng là nạn nhân của chính sách diệt chủng và tương tàn của nước ông.
Hãy nhìn vào sự gắn bó của nước ông trong hành động buôn bán nô lệ. Nhiều lần trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai và cả sau đó, nước ông bán người Mỹ, bán đồng minh và tù binh Việt Nam qua nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Xô-Viết. Một bằng chứng, năm 1983, nước ông bán 275 người Mỹ và 27,000 tù binh Việt Nam qua Liên-xô để trừ nợ đã vay trong chiến tranh. Đây là một vi phạm quá trọng đại đối với nhân quyền và là một tội ác chống nhân loại. Đã có nhiều lần nước ông bán người Mỹ, đồng minh và tù binh Việt Nam qua Liên-Xô, nhưng mỗi một lần số lượng không nhiều lắm.
Nước ông có thể giải quyết nhiều trường hợp Tù Binh/Người Mất Tích Trong khi làm nhiệm vụ một cách dễ dàng bằng cách mở các hồ sơ quân đội và Công an của nước ông. Nhưng nước ông đã không làm chỉ vì không có lợi lộc gì trong việc giải quyết nhân đạo vấn đề tình cảm này. Nước ông tống tiền nước Mỹ cho lợi nhuận riêng và hưởng thụ. Tại sao? Bởi vì nước ông nhận thấy rằng Tổng Thống Nixon đã hứa viện trợ tái thiết cho nước ông khoảng 4 tỷ 3 đô-la. Điều này có thể xảy ra, nước ông có thể nhận được số tiền này một cách dễ dàng, nếu chịu công bố hồ sơ và danh sách tù binh của nước ông cho các gia đình và cho thế giới. Ít ra việc này cũng có thể làm giảm nhẹ một phần nào trong số tội ác của nước ông.
Rồi thì ông dám trơ tráo đòi hỏi rằng người Mỹ đừng can thiệp vào công việc nội bộ của ông và đòi vinh danh lá cờ của nước ông. Với hồ sơ của nước ông, lẽ ra ông nên vui mừng là đã không bị đưa ra xét xử bởi một Tòa án Quốc Tế về những tội ác chống nhân loại mà nước ông đã phạm.
Vậy thì, xin đừng can thiệp vào các vấn đề nội bộ của chúng tôi trong việc vinh danh những người đã chết vì Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Xin đừng xen vào để xem làm sao chúng tôi vinh danh những công dân đã đóng góp vào sự an sinh và no ấm của Tiểu bang chúng tôi.
Terrell A. Minarcin
Concerned Citizen for Freedom, Democracy, and Human Rights for Vietnam.
Bản dịch của NGUYỄN-CHÂU (San Jose)
NGUYÊN VĂN ANH NGỮ
From: Terrell Minarcin <tektalk@verizon.net>
Subject: Another International Incident
Date: Feb 23, 2004 9:30 PM
This is a rather long e-mail and for that I apologize. However, I think it is well worth reading, even if I did write.
Recently, State Senator Pam Roach introduced two resolutions in our State Senate. The first dealt with recognizing the flag of the former Republic of Vietnam. The second dealt with support for a proposed Freedom Fighters Memorial to be built here in Washington State.
Senator Roach then received a letter from the ambassador for communist Vietnam that protested both resolutions. I have re-typed the ambassador's letter. If you wish a copy of the letter with the letterhead on it, please e-mail me back and I will see that a copy of
it is FAXed to you. After the ambassador's letter is my response to him.
Please feel free to pass this e-mail to any one you wish.
Terry Minarcin
Dear Senator ROACH: February 10, 2004
It is with particular concern that I am writing to you regarding a second attempt to recognize the flag of the former Republic of Vietnam, as expressed in SJM8045. This is to reaffirm that the people and Government of Vietnam cannot agree with the proposed Memorial. Let me share with you my thoughts.
First, the proposed Memorial runs counter to international conventions and practices. Now that the so-called Republic of Vietnam ceased to exist over thirty years ago, its flag therefore no longer has legal standing in Vietnam. Like a number of similar bills or resolutions, the language of the proposed Memorial clearly negates the existence of the Socialist Republic of Vietnam that has established full diplomatic relations with the United States since 1995.
Secondly, since the start of the new phase of normalization and reconciliation in 1995 with your country, Vietnam has been doing her utmost to put the past aside and look forward to the future, striving to build a relationship that benefits both sides. In your State, Boeing has been selling airplanes to Vietnam and the Port of Seattle maintaining a sister port exchange program with Vietnam's northern port of Hai Phong. In my opinion, the proposed Memorial, languaged to revive the past of hatred and sadness, does not serve the interests of either Vietnam, or the United States, or Washington State.
Thirdly, as a consistent policy, Vietnam welcomes active participation by Vietnamese Americans in expanding the mutually beneficial relationship between Vietnam and US and their effective integration into the mainstream of the US life. It is Vietnam's strong hope that the community of Vietnamese Americans, about nearly fifty thousand of whom have chosen your State as their new home, will also adopt the spirit of friendship and cooperation.
Finally, at the federal level the Secretary of State and other senior US officials have repeatedly stated that the US does not recognize the former Republic of Vietnam flag. In his meeting with me last summer, Governor Gary Locke said he and the State of Washington are supportive of the acceleration of mutually beneficial ties between Washington State and Vietnam.
As you may recall, the similar Senate Resolution 8659 was withdrawn from consideration last spring when those thoughts were taken into account.
Last but not least; I believe the proposed Memorial, once passed by your legislature, could run afoul of the very US Constitution that vests the powers to conduct foreign policy solely in the federal system. Furthermore, by calling for the recognition of the former flag "as the only legitimate flag of the Vietnamese people," it also rendersthe freedom of expression questionable.
In light of these considerations, I respectfully urge you not to act in favor of the proposed Memorial.
I thank you for your consideration and cooperation.
With my best personal regards,
(signed)
NGUYEN TAM CHIEN
Ambassador
Mr. Ambassador; February 23, 2004
I recently received a copy of your letter to State Senator Pam Roach dated February 10, 2004. I would like to respond to that letter.
If any other country had written this letter, it would be, simply put, laughable. But it was your country, Mr. Ambassador, communist Vietnam.
Your country has never honorably or honestly met the protocols of any international agreement that you are a signatory to. Yet, you hide behind these agreements only when they suit your fancy. When individuals, such as myself or Mr. M. Benge, or organizations, such as Amnesty International or Freedom House, or Human Rights Watch, charge your country with numerous counts of violations of human rights or worse, you immediately respond by saying that the matters we are concerned with are internal matters and that we are interfering with your country's policies. So be it. You are interfering with due process here in the State of Washington in matters that do not concern you. How we honor the contributions of individuals or ethnic communities here in Washington is of no concern to you. Quit interfering in our internal matters.
You want us to recognize and honor your flag. The flag represents a country that has promulgated pogroms of genocide, fratricide and international slave trafficking. I, as a resident of the State of Washington, can not condone such behavior. How dare you insist that I do? To do so makes me an accomplice to your egregious crimes against humanity.
You state that the proposed Memorial negates the existence of the Socialist Republic of Vietnam. It does nothing of the sort. In contrast to your museums and memorials, this Memorial pays tribute to those who paid the ultimate price for Freedom, Democracy and Human Rights in the former Republic of Vietnam. The flag of the former Republic has since come to be recognized as the flag for the struggle for Freedom, Democracy, and Human Rights throughout the World. The colors are quite symbolic. The three bands stand for Freedom, Democracy, and Human Rights. While the gold shows how precious these
ideals are, the red stands for the blood shed for these ideals, both in the past and for those who will defend these ideals to the death. I, for one, am glad to recognize the Freedom Flag and to pay honor to it. I will be glad to recognize your flag when you recognize mine. Until then, your flag, for me, stands for murder, persecution, duplicity, slave trading, and human rights violations.
You state that you are trying your utmost to put the past aside. With your country's past records of abuse of all standards of civilized behavior, I fully understand your desire to brush the past aside. After all, your cause for recognition is only hurt by your past actions.
All of the residents of Washington will be more than happy to extend to you the hand of friendship and cooperation when you fully embrace Freedom, Democracy and to extend Human Rights to all Vietnamese. Until then, stay out of our internal affairs.
The proposed Memorial is not a statement of foreign policy. Where you got that idea is beyond me. Once again, you try to cloud the issue. What the people of America do is not your concern. It is an internal affair of the State of Washington by private citizens to honor those who gave their lives defending Freedom, Democracy, and Human Rights, ideals which are anathematic to your despotic government. That is what that flag of gold with three horizontal red stripes stand for.
Now let us look closely at what your country has done and continues to do.
Communist Vietnam has engaged in genocide. This began in earnest during the Second Indochina War. You declared it the Second Indochina War. By definition then, it was a war. As such, you were bound by the Geneva Conventions governing the treatment of Prisoners of War (POWs). But, as I stated before, you have yet to honestly and honorably meet the tenets of any international agreement to which you are a signatory.
Your treatment of POWs testifies to this. In addition, you executed at least 11 American POWs who were in your custody. This is a war crime and genocide. To this day, you try to commit genocide. Take the matter of Ly Tong, a Vietnamese-American. You tried to interfere in a Thai court of law and demanded that Thailand execute Ly Tong. His crime? Telling the Vietnamese about Freedom, a condition that you can not tolerate.
Communist Vietnam has engaged in and continues to engage in fratricide.
This began in 1956 when the communist regime in Hanoi started their land reform programs. While it would be easy to blame the agent provocateur of the Communist Internationale, Ho Chi Minh, the real architect was Truong Chinh. How many Vietnamese died under this pogrom? 10,000? 50,000? 100,000? More? Even one victim of this pogrom constitutes fratricide. The pogrom initiated against the Vietnamese minorities in northwest Vietnam fall into this same category. The aim of this pogrom was to "ethnically cleanse" Vietnam of those minorities who had helped the French. I mention this to show that you continued this policy after the conclusion of the Second Indochina War with the start of your forcible relocation of Vietnamese who were associated with the former Republic of Vietnam to those areas you so blithely called New Economic Areas. You continue your ethnic cleansing today under the guise of religious persecution, which is also a blatant human rights violation. Any one executed under this pogrom is a victim of your genocidal and fratricidal policies.
Let us take a look at your country's involvement in the international slave trafficking movement. Several times during the Second Indochina War, and even afterwards, you sold American, allied, and Vietnamese POWs to the former Union of Soviet Socialist Republics. To whit, in 1983, you sold 275 American and 27,000 Vietnamese POWs to the USSR to reduce your war debt to them. This is a most egregious violation of human rights and a crime against humanity. There were other times you sold other American, allied and Vietnamese POWs to the USSR but not so many at one time.
You could resolve many of the POW/MIA cases with ease by opening up your military and political police files. You do not because there is no profit in humanely resolving this emotional issue. You extort monies from America for your own profit and gain. Why? Because you feel that President Nixon promised you some $4.3 billion dollars in reconstruction aid. Be that as it may, you can recover that money easier if you release your files publicly to the families and to the world. At least this can mitigate some of your crimes.
And then you have the gall to demand that Americans not interfere in your internal affairs and to honor your flag. With your record, you should be happy not to be on trial by an international court for your crimes against humanity.
Until then, do not interfere in our internal affairs in how we honor those who have died for Freedom, Democracy, and Human Rights. Do not interfere with how we honor our citizens who contribute to the well being and welfare of our State.
Terrell A. Minarcin
Concerned Citizen for
Freedom, Democracy, and Human Rights for Vietnam

Làm Thế Nào Để Người Dân Không Còn Sợ Chính Quyền Độc Tài
Tác giả: Chu chi Nam
«Bất cứ xã hội nào mà không được soi sáng bởi những hiền triết, thì sẽ bị lừa gạt bởi những lang băm, quỉ quái.» (Toute socìété qui n’est pas éclairée par des philosophes, est trompée par des charlatans.) – ( Prospectus, 1793)
Chính quyền cộng sản Việt Nam hiện nay là một chính quyền độc tài, lang băm, quỉ quái. Tất cả mọi chế độ độc tài nào cũng dựa trên hai cột trụ chính :
1) Bộ máy công an khủng bố nhằm đàn áp làm cho người dân sợ hãi ;
2) Bộ máy thông tin, tuyên truyền bôi bác sự thật, đánh lạc hướng và ru ngủ dân. Để đánh sập độc tài, không còn cách nào hơn là làm thế nào để thức tỉnh người dân, để người dân không còn sợ bạo quyền, can đảm đứng lên đòi hỏi những quyền căn bản của mình.
Chính vì ý thức rõ bản chất của chế độ độc tài với 2 cột trụ chính như vừa nói ; Đức Giáo hoàng Jean Paul I I, vừa mới lên ngôi, trở về thăm quê là nước Ba Lan, đang chìm đắm trong chế độ độc tài cộng sản, Ngài không ngần ngạì tuyên bố với dân Ba Lan : « Hãy can đảm ! Đừng sợ xệt ! Và hãy hy vọng ! »
Cũng như những nhà đấu tranh cho dân chủ nhân quyền ở Liên sô, nhà văn nhận giải Nobel văn chương năm 1973, ông Soljennytsine, nhà khoa học, cha đẻ của bom nguyên tử Nga sô, ông Sakharov, đã lấy câu châm ngôn Nga làm kim chỉ nam cho cuộc đấu tranh dân chủ, nhân quyền Nga sô : « Một lời nói sự thật nặng hơn quả địa cầu. »
Vì vậy làm thế nào để người dân can đảm đứng lên nói sự thật. Đó chính là làm sập chế độ độc tài. Chúng ta hãy cùng nhau suy nghĩ về phương cách này :
1.- Chính quyền phải từ người dân mà ra không thể ngước lại
Làm thế nào để người dân không còn đầu óc suy nghĩ « Mình chỉ là thần dân để phục vụ chính quyền « ; mà phải nghĩ rằng :« Chính quyền là do dân mà ra ; chính quyền là để phục vụ người dân ; chứ không ngược lại. »
Thật vậy, theo Jean Jacques Rousseau ( 1712-1778), mà tư tưởng cuả ông đã ảnh hưởng rất nhiều trong cuộc Cách mạng Pháp và ngay cả Cách mạng Hoa Kỳ, trong quyển sách Về Hợp Đồng Công Xã hay Những Nguyên Tắc về Quyền Chính trị ( Du Contrat social ou Principes du Droit politique), ông cho xuất bản vào tháng tư năm 1762, thì giữa người cai trị, cầm quyền và người dân có một hợp đồng, một khế ước. Đó là lúc đầu của xã hội loài người, con người sống tự do, tự tại ; nhưng con người ý thức được rằng để chống đỡ với thiên nhiên, thú dữ, để tiến bộ, con người đã hợp đoàn lại ; rồi bầu lên người đại diện của mình, tức người cầm quyền, qua một khế ước, theo đó người cầm quyền phải làm tròn khế ước, hợp đồng, đó là phải bảo vệ sự an ninh và đời sống an lành của người dân ; nếu không, người dân có quyền truất phế nhà cầm quyền, bãi bỏ hợp đồng vì người cầm quyền không giữ đúng lời hứa. Bởi lẽ đó quyền hành của người cầm quyền là đến từ người dân.
Vì vậy quyền tự do bầu cử, ở đây tôi muốn nói đến quyền tự do bầu cử thực sự, chứ không giả dối kiểu « Đảng cử, dân bầu « như ở Việt Nam, và quyền tự do ngôn luận thật sự là 2 cột trụ chính của một nền dân chủ.
Cũng như Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776 :
« Chúng tôi cho là hiển nhiên những chân lý sau đây : tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng ; Đấng Tạo Hóa ban cho họ những quyền bất khả nhượng ; trong những quyền này có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Những chính quyền được thiết lập lên bởi người dân là để bảo đảm những quyền này ; và quyền hạn của chính quyền là đến từ sự đồng thuận của người dân. Một khi, một chính quyền nào đó đi ngược lại nhiệm vụ trên, người dân có quyền thay đổi hay bãi bỏ chính quyền ấy và thiết lập lên một chính quyền mới, tạo dựng nó lên trên những nguyên tắc và tổ chức nó dưới hình thức thế nào để có thể bảo đảm an ninh và hạnh phúc của người dân. » ( Tuyên Ngôn Độc lập Hoa Kỳ 4/7/1776).
Quan niệm « Vua là Con trờỉ », quyền của vua là do Trời ban hay quan niệm tôn thờ lãnh tụ, lãnh tụ là ông Trời trên trái đất này, nhất ở những nước độc tài hiện nay, là những quan niệm lỗi thời, nó đi ngược lại với những nguyên tắc dân chủ, theo đó quyền tối thượng thuộc về người dân, chính người dân ban phát quyền cho chính quyền và họ có quyền truất phế chính quyền, nếu chính quyền không làm tròn khế ước, hợp đồng đã hứa với dân qua những cuộc bầu cử.
2.- Không biến thành công cụ "trên đội dưới đạp"
Làm thế nào để giới sĩ phu, trí thức không tự biến mình thành công cụ, thành người công chức, chỉ phục vụ chính quyền, học để cố có bằng cấp, để trở thành công chức, vinh thân phì gia, không nghĩ tới người khác, không nghĩ tới dân, không còn tinh thần liên đới, sống xa rời dân, theo tinh thần « trên đội, dưới đạp », trên thì đội bạo quyền để có bổng lộc, dưới thì đạp dân, theo tinh thần « kị húy » và « chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng « .
Thật vậy, nếu chúng nhìn xa và rộng, ở mức độ văn minh, thì văn minh Đông phương, kể cả văn minh Ả Rập, bắt đầu rất sớm, những phát minh lớn bắt đầu từ Đông phương, không những địa bàn, thuốc súng, giấy, máy in, mà ngay cả toán học, chữ viết ( a, b, c), mà người Tây phương đang dùng là bắt đầu từ Đông phương. Nhưng tại sao văn minh Đông phương bị khựng lại, rồi bị Tây phương qua mặt ? Có rất nhiều lý do, trong đó có 2 lý do chính: 1) Đông phương đắm chìm quá lâu trong chế độ quân chủ phong kiến, có thể nói cho tới ngày hôm nay ; 2) Giới sỹ phu, trí thức đã không làm tròn trách nhiệm của mình.
Vì là nói đến hiện tượng chậm tiến, thiếu phát triển về vật chất cũng như tinh thần, tôi chỉ nói đến những nước Đông phương chậm tiến, hoặc về vật chất, hoặc về tinh thần hay cả hai. Những nước Ả Rập, nhất là những nước có dầu hỏa, nhờ tài nguyên thiên nhiên đã trở nên giầu có về vật chất ; nhưng về tinh thần thì vẫn vô cùng chậm tiến, vẫn đắm chìm trong chế độ độc tài quân chủ phong kiến, cha truyền con nối, phẩm trật tối đa, phụ nữ bị khinh rẻ.
Chỉ cần đến một vài nước Ả Rập, ra ngoài đường, thấy một ông nào đó ăn mặc có vẻ giàu có, theo sau là một số phụ nữ, là vợ cả, vợ bé của ông nọ, người bị quấn như một khúc vải, chỉ chừa 2 khe nhỏ là 2 con mắt ; chúng ta cũng đã rõ đây là chế độ gì, người phụ nữ được tôn trọng ra sao. Không cần lý luận xa xôi và dài dòng, phụ nữ chiếm ít nhất ½ dân số của một xã hội, nay bị coi rẻ, không được đi học, ra đời, như vậy là ½ nhân tài bị thui chột, tất nhiên sẽ đưa đến sự chậm tiến, ít nhất về tinh thần và giáo dục, còn về vật chất, nếu là một nước có dầu hỏa, thì dù giầu có chăng nữa, cũng là sự giàu có « Trời cho « , không do chính tay mình làm ra.
Tại Á châu, tôi xin nói đến 4 nước chậm tiến là Tàu, Việt Nam, Bắc Hàn và Miến Điện.
Tàu, Việt Nam, Bắc Hàn là những nước còn theo cộng sản. Chế độ cộng sản chỉ là một chế độ phong kiến trá hình trên thực tế. Với chế độ độc tài quân chủ phong kiến, thì vua là con Trời, thay Trời trị dân, cùng với triều đình ; dân phải phục tùng vua và triều đình vô điều kiện. Với chế độ cộng sản thì quan niệm tôn thờ lãnh tụ, tôn thờ đảng, lãnh tụ và đảng không bao giời lầm, dân phải nhất nhất tuân theo.
Với chế độ phong kiến thì có cha truyền con nối, ngày hôm nay với chế độ cộng Bắc Hàn cũng vậy, với chế độ cộng sản Cu Ba, thì anh truyền em nói ; đối với chế độ cộng sản Tàu và Việt Nam, nếu chúng ta xem tiểu sử của các ông lớn trong trung ương đảng hay bộ chính trị, thì chúng ta thấy phần đông họ là con cháu của các ông cộng sản lớn trước đây. Nhưng sự khác biệt giữa độc tài phong kiến và độc tài cộng sản đó là :
Với chế độ quân chủ phong kiến còn có sự tôn trọng danh dự, nhân phẩm, liêm sỉ ; với chế độ độc tài cộng sản thì chẳng có danh dự, chẳng có nhân phẩm và chẳng có liêm sỉ ; với chế độ phong kiến có sự tôn trọng tinh thần, với chế độ cộng sản, con người chỉ chạy theo vật chất, như hiện tình ở những nước cộng sản đã chúng tỏ, con người có thể làm nên tội ác dễ dàng vì một vài quyền lợi vật chất nhỏ.
Với chế độ phong kiến, sự độc tài ở xa người dân, chỉ ở trên trung ương, triều đình ; với cộng sản, sự độc tài xuống tận người dân, ở ngay thôn xóm, với bộ máy đảng, và cộng sản đã biết dùng kỹ thuật, khoa học để củng cố độc tài của mình.
Văn minh đông phương bị khựng lại, rồi bị qua mặt là vì giai tầng trí thức không đóng đúng vai trò của mình, tự biến mình thành công cụ phục vụ triều đình, sống xa rời dân, theo tinh thần « Trên đội, dưới đạp », trọng cái học từ chương, trích câu tầm cú, trọng bằng cấp, chứ không trọng thực tài, có bằng cấp để được triều đình trước đây, và được đảng cộng sản, trọng dụng, hiện nay, để được vinh thân, phì gia, mặc kệ dân, quan niệm : » ta ở dưới một vài người, nhưng ta ở trên cả vạn người », thêm vào đó : » ta yên thân và gia đình sung xướng, sống chết mặc ai ; như vậy là đủ rồi. »
Chúng ta chỉ cần suy nghĩ về vấn đề kỵ húy ở bên Tàu và ở Việt Nam, theo đó người thí sinh có thể viết bất cứ cái gì, ngoài việc động đến triều đình, đến tên mấy ông vua, đây là điều kiện đầu tiên để bài được chấm ; sau đó mới nói đến bài khá hay không ; nhưng khá ở đây cũng là trích cú tầm câu, xa rời thực tế, làm sao được lòng triều đình và các ông giám khảo. Một khi đậu rồi thì về hống hách với dân ; nên mới có câu : « Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng » là vậy.
Tinh thần này chúng ta có thể nói nó còn kéo dài cho tới ngày hôm nay vớichế độ cộng sản.
Tất nhiên ở đây, tôi không vơ đũa cả nắm, Việt Nam vẫn có những người trí thức can đảm như Nguyễn trường Tộ, nhóm Nhân Văn Giai Phẩm và gần đây như Lê chí Quang, Phạm hồng Sơn, Lê thị Công Nhân và nhiều người khác. Tuy nhiên đại đa số là những trí thức , như những người trong 700 tờ báo, 200 đài phát thanh, truyền hình, vẫn còn đầu óc « quị gối khom lưng, bẻ cong ngòi bút của mình để phục vụ bạo quyền », miễn sao có chút bổng lộc, yên thân, yên gia đình.
Độc tài Miến Điện chỉ là độc tài quân phiệt, một thứ độc tài phát xít Hitler. (1)
3.- Phải bẻ gẫy bộ máy tuyên truyền của bạo quyền
Làm thế nào để bẻ gãy bộ máy tuyên truyền của bạo quyền. Bộ máy tuyên truyền cộng sản hiện nay là bắt chước của Hitler, nhắc đi nhắc lại nhiều lần một sự việc dầu không có, dầu không phải sự thật ; nhưng vì được nhắc mãi, nên dân đã tin là sự thật. Để đối đầu với kỹ thuật đó, chúng ta khuyến khích dân bạo dạn đứng lên tố cáo sự sai trái, can đảm phản bác tất cả những dối trá, không để trong lòng, mà phải nói cho nhiều người biết rõ đâu là phải, đâu là trái.. Hãy cố gắng vận động tối đa kỹ thuật truyền thông hiện đại internet, radio, báo chí, pal talk để chuyển tin tức sự thật giữa những người ngoài nước với người trong nước, giữa những người trong nước với nhau.
Theo một số sử gia và tờ tuần báo Le Nouvel Obervateur của Pháp, khi quân đội Đồng minh vào Bá Linh không những đi kiếm các nhà khoa học Đức mà kiếm cả quyển nhật ký của Goebbells, lý thuyết gia của Đức quốc xã, người đã từng nói câu : « Một sự việc dù không phải là sự thật ; nhưng chúng ta nhắc đi nhắc lại nhiều lần, lúc đầu dân còn bán tín, bán nghi, sau đó dân tin là chân lý. »
Nhật ký của Goebbells được viết rất đầy đủ, kỹ lưỡng mỗi ngày, gồm 10 tập dày, được chính ông bảo trì, chăm sóc, bỏ trong những cái rương, quân đội Nga lấy được 9/10, phần 1/10 còn lại được lấy bởi quân đội Pháp, nay được lưu trữ tại kho dự trữ tài liệu của Bộ Ngoại giao Pháp.
Phương pháp tuyên truyền của Goebbells không những lập đi lập lại nhiều lần, mà còn đưa ra những bánh vẽ và gây lòng căm thù nơi quần chúng. Căm thù người Do Thái, bánh vẽ thiên đàng thế giới được thống trị bởi Đức quốc xã, người chủng tộc Aryen, một lý thuyết chủng tộc tinh khiết của Hitler trong quyển Cuộc Chiến đấu của tôi ( Mon Combat), lý thuyết hoàn toàn phản khoa học.
Không phải là một tình cờ khi quân đội Liên sô tìm kiếm nhật ký của Goebbells ; ngày hôm nay, nếu chúng ta quan sát tuyên truyền cộng sản và tuyên truyền Đức quốc xã, thì chúng ta thấy nó giống nhau. Phải nói cộng sản đã bắt chước Đức quốc xã, bắt chước Goebbells.
Vì vậy để đương đầu với sự lập lại của cộng sản, chúng ta cũng phải lập lại. Cộng sản lập đi lập lại sự dối trá, chúng ta lập đi lập lại sự thật. Cộng sản lập đi lập lại lòng hận thù, chúng ta lập đi lập lại lòng khoan dung của con người nói chung, của những tôn giáo. Cộng sản chủ trương vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo. Chúng ta hô hào duy trì và làm tốt đẹp gia đình, tổ quốc và tôn giáo.
Chúng ta kiên trì, đừng nản lòng khi nghe cộng sản nói : « Những người chống cộng sản chỉ biết nói, mà không biết làm. » Nói lên sự thật, nói lên tình thương đối với gia đình, quốc gia và tôn giáo, tại sao lại không nói, tại sao không lập đi lập lại. Chính cộng sản Việt Nam mới nên ngừng nói dối,ngừng nói lên những hận thù, nên giải tán 700 tờ báo và 200 đài phát thanh, truyền hình, vứt bỏ những loa phóng thanh mắc ở mọi góc phố bắt dân nghe những lời dối trá, những bánh vẽ, mà dân chán, không thèm nghe. Thêm vào đó chúng ta hãy cố gắng vận dụng tối đa những thuận lợi khoa học truyền thông : báo chí, internet, pal talk, radio v.v…
4.- Bẻ gẫy hệ thống công an
Làm thế nào để bẻ gãy hệ thống công an dọa nạt và đàn áp cộng sản : Đó là phải biết đấu tranh có tổ chức. Một chiếc đũa thì có thể bẻ gãy ; nhưng một bó đũa thì khó bẻ gãy. Dân oan hãy kín đáo liên hệ với nhau, với những người tranh đấu khác, trước khi làm một việc gì, và nên làm đông đảo. Ngày hôm nay điện thoại cầm tay phổ biến. Hãy kín đáo liên lạc, sau đó bất ngờ tụ tập. Và làm thế nào để người dân không còn tâm lý : « Nhà hàng xóm cháy thì mặc kệ ; miễn là nhà ta không cháy « , mà cần phải nghĩ rằng : « Nhà hàng xóm cháy rồi sẽ lây sang nhà ta ; ngày hôm nay kẻ cướp, kẻ ác nhân đến uy hiếp nhà hàng xóm, mà ta không chịu liên đới bảo vệ họ, thì ngày mai kẻ cướp, kẻ ác nhân sẽ uy hiếp chính chúng ta. »
Thật vậy, người dân trong và ngoài nước hãy liên đới đấu tranh với nhau. Người của mọi ngành, mọi nghề, mọi giai tầng, người không cộng sản và người cộng sản phản tỉnh hãy cùng nhau liên đới đấu tranh cho những quyền căn bản của mình. Nên nhớ câu của ông Elie Wisel, giải Nobel Hòa bình năm 1986:
« Tôi thề không bao giờ im tiếng nếu ở đâu con người còn đau khổ và bị đọa đày. Chúng ta phải nhập cuộc. Trung lập chỉ có lợi cho kẻ đàn áp… Nếu chỉ còn một tù nhân lương tâm bị giam dữ, quyền tự do của chính chúng ta cũng bị đe dọa. Các nạn nhân này họ chỉ đòi hỏi một điều, đó là họ không bị cô đơn ; không bị quên lãng ; rằng khi họ không còn quyền được nói, chúng ta sẽ nói thay họ. Và nếu tự do của họ tùy thuộc vào cuộc tranh đấu của chúng ta, thì ngược lại, tự do của chúng ta cũng tùy thuộc vào số phận của họ. »
Chúng ta nên nhớ lời của Linh mục Nguyễn văn Lý : « Tự do hay là chết " . Thêm vào đó, mọi người phải có tinh thần công nghĩa và liên đới công nghĩa. Dù là 1 đồng chăng nữa chúng ta cũng không hối lộ cho kẻ bạo quyền, và mọi người đều phải liên đới làm như vậy. Người Pháp có câu :
« Hôm nay chúng ăn cắp của ta một trái trứng, ngày mai nó ăn cắp của chúng ta một con bò. » Đừng thấy việc xấu nhỏ mà cứ làm và tránh không làm dù là một việc tốt nhỏ.
Giới sĩ phu, trí thức Việt Nam hãy hướng dẫn dân trong những đòi hỏi thiết thực của họ trong mọi ngành, mọi nghề, trong việc chống sưu cao, thuế nặng, tiền học cho con em tăng bất ngờ, quá nhiều, giá cả tăng quá cao, bị đuổi đất, cướp nhà. Đừng đòi hỏi người dân phải hiểu thế nào là định nghĩa tự do, dân chủ, nhân quyền, rồi đưa ra luận điệu : « Dân trí Việt Nam còn thấp. » Tự do, dân chủ, nhân quyền đối với người dân, chính là miếng cơm manh áo của họ hàng ngày bị đe dọa, thiếu thốn, cuộc sống của họ bị chèn ép, bóc lột từng giờ. Một nhà tư tưởng đã nói : « Để làm cách mạng thì cần đến giai tầng bình dân. Nhưng để cách mạng thành công, thì cần đến giai tầng sĩ phu, trí thức. « Giai tầng sĩ phu trí thức hãy nhận lấy trách nhiệm của mình là hướng dẫn, dìu dắt dân, thay vì đổ lỗi cho họ. [ Trí thức VN trong nước toàn là trí ngủ... ]
Dân tộc Hoa Kỳ cách đây cả hơn 200 trăm năm đã đứng lên đòi hỏi những nhu cầu thiết thực, như chống việc chính quyền đô hộ Anh tăng giá tem cò gửi thư, tăng thuế trà, rồi được hướng dẫn bởi giai tầng sĩ phu trí thức Hoa kỳ, nên cuộc cách mạng Hoa Kỳ 1776 đã thành công. Gần đây các dân tộc Nga Sô và Đông Âu đã can đảm đứng lên đấu tranh cho những nhu cầu thiết yếu của mình và đã được hướng dẫn bởi giới sĩ phu, trí thức, nên các cuộc cách mạng dân chủ, nhân quyền ở Nga Sô và Đông Âu đã thành công.
Người dân Việt, nhất là giới sĩ phu, trí thức Việt, hãy noi gương dân tộc.Nga sô, Đông Âu, nghe lời Đức Giáo hoàng Jean Paul I I, « Hãy can đảm ! Đừng sợ xệt ! Và hãy hy vọng !»
Hãy can đảm đứng lên đấu tranh cho những quyền căn bản của chính minh !« Đừng nghĩ rằng mình sinh ra là để phục vụ chính quyền ; mà chính quyền được chính người dân thiết lập ra để phục vụ dân. Một khi chính quyền đó không làm tròn nhiệm vụ được dân trao phó, thì người dân có quyền bãi bỏ chính quyền đó, để thiết lập nên một chính quyền mới. (2)
Chu chi Nam

Khúc Quanh Chữ U
Nguyễn Ðạt Thịnh Ðơn vị dàn chào với những người lính được tuyển chọn trên tiêu chuẩn cao lớn, chỉ là đơn vị trình diễn của Quân Khu Thủ Ðô.
Chiếc xe thồ Việt Cộng đang đánh một đường quanh chữ U khá đẹp mắt: ngày thứ Hai 28 tháng Bẩy báo Hà Nội Mới online loan tin Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đột ngột quyết định thuyên chuyển toàn bộ 5 tướng lãnh nắm quyền chỉ huy Quân Khu Thủ Ðô của Việt Cộng. Dũng ký một loạt 6 quyết định thay đổi tư lệnh, tư lệnh phó, chính ủy, phó chính ủy và tham mưu trưởng quân khu Thủ Ðô, nói cách khác, phá vỡ guồng máy chỉ huy của quân khu.
Quyết định số 999/QĐ-TTg thuyên chuyển Trung tướng Nguyễn Như Hoạt, Tư lệnh Quân khu Thủ đô sang giữ chức Giám đốc Học viện Quốc phòng, bốn quyết định số 1001, 1002, 1003 và 1004/QĐ-TTg, cất chức trung tướng Nguyễn Ðăng Sáp, chính ủy, thiếu tướng Trần Trung Khương, phó chính ủy, thiếu tướng Lê Hải Bình, tư lệnh phó kiêm tham mưu trưởng và thiếu tướng Nguyễn Văn Nghịnh, phó tư lệnh, giao hoàn họ trở về bộ quốc phòng để nhận công tác khác.
Cuộc thuyên chuyển toàn bộ và đột ngột rõ rệt mang tính chất cấp bách cất chức để phòng ngừa, nếu không nói là để chặn đứng một cuộc đảo chánh, vì quân khu thủ đô là quyền lực chỉ huy những đơn vị trấn đóng Hà Nội và những vùng ngoại vi, lực lượng duy nhất có thể thực hiện một cuộc đảo chánh quân sự.
Những tướng lãnh bị cất chức bị coi là thuộc phe thân Trung Cộng, nên việc thay đổi không thể không liên hệ đến Trung Cộng, đến Hoa Kỳ, đến cuộc tranh chấp giếng dầu Hoàng Sa, và đến thái độ của hai hãng dầu quốc tế British Petroleum (BP) và Exxon. Trung Cộng đã yêu cầu hai hãng dầu này ngưng không cộng tác với Việt Nam trong việc khai thác giếng dầu hiện đang hoạt động, và dò tim để khoan thêm những giếng dầu mới. Các chuyên viên về thị trường dầu hỏa cho rằng hai hãng dầu này sẽ nhượng bộ Trung Cộng để bảo vệ quyền lợi thương mại của họ lớn đến nhiều tỉ mỹ kim và những cơ sở thương mại đang hoạt động trên lục địa Trung Hoa.
Tháng trước BP, hãng dầu của Anh, đã tạm ngưng hoạt động trên bờ biển Việt Nam, nhưng sau khi thấy Exxon, hãng dầu của Mỹ, không lui, mặc dù Exxon cũng bị Trung Cộng yêu cầu rút ra khỏi những hoạt động tìm dầu trên vùng biển mà Trung Cộng nói là lãnh hải của họ, và mặc dù chiến hạm Trung Cộng đã bắn bổng, cảnh cáo một chiếc tầu chở chuyên viên dò tìm dầu hỏa của Exxon, BP đổi thái độ, trở lại hoạt động trên thềm lực địa Việt Nam.
Phản ứng của Trung Cộng đối với thái độ ương ngạnh của hai hãng dầu quốc tế như thế nào? Họ có ý định thực hiện một cuộc đảo chánh tại Hà Nội không? Hai câu hỏi này chỉ có Nguyễn Tấn Dũng và 5 tướng bị cất chức mới trả lời được; tuy nhiên ai cũng biết nếu Trung Cộng có chủ mưu đảo chánh Hà Nội, và nếu họ thành công, thì họ không cần đuổi hai hãng dầu BP và Exxon ra khỏi Hoàng Sa nữa, mà tân chánh phủ Việt Cộng sẽ làm chuyện đó, tránh cho họ cái nguy cơ đụng chạm quân sự với Hoa Kỳ và Anh.
Chưa có tin tức nào đề cập đến giả thuyết này; nhưng chăc chắn cuộc đảo chánh lật đổ nhóm Việt Cộng đang cầm quyền hiện nay để thay vào đó bằng một nhóm Việt Cộng khác, có quan điểm thân Trung Cộng, là việc dễ làm hơn việc đối phó với 2 hãng dầu có sự yểm trợ của hai lực lượng quân sự đáng nể của Anh và Hoa Kỳ.
Hải quân Trung Cộng không dám hạ nòng khẩu đại bác đã bắn cảnh cáo tầu tìm dầu của Exxon, để bắn trực xạ đánh đắm con tầu họ thù ghét đó. Họ thừa biết một phát đại bác bắn ra như vậy sẽ là tiếng súng lệnh khởi đầu cuộc chiến tranh Trung Cộng-Hoa Kỳ, cuộc chiến họ không muôn xẩy ra, và cũng chưa đủ sức đương cự.
Ðể hiểu rõ ý nghĩa của “sự cố” này, hãng thông tấn RFA tìm hỏi ý kiến những chuyên viên về Việt Nam; cựu đại tá Việt Cộng Bùi Tín dè dặt nhận xét: “Có thể nói trong lịch sử quân đội chưa bao giờ có một sự thay đổi như thế; thứ hai nữa là cái thay đối này không cùng loạt với các quân khu khác trong cả nước.
“Ngoài ra Quân Khu Thủ Đô là quân khu trực tiếp của Bộ Quốc Phòng, nó làm nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan đầu não của Bộ Chính Trị, của chính phủ, thế mà chỉ riêng thay đổi có mỗi quân khu đó thôi thì có thể nói đây là một sự kiện vô tiền khoáng hậu, tức là trước kia cũng chưa từng có và sau này cũng ít khi mà có thể có như thế.
Cái này nó diễn ra không phải vào cuối năm, cũng không phải vào một dịp cách mạng tháng tám hay mùng 2 tháng 9 như là bình thường, mà ở đây nó diễn ra vào thời điểm đặc biệt sau hôi nghị trung ương 7 vừa rồi”.
Là một chuyên viên về Việt Cộng, nhưng ông Bùi Tín lại chỉ nói để không nói gì cả, không giải thích gì cả; ông nói chuyện cất chức hàng loạt 5 tướng lãnh là việc chưa bao giờ xẩy ra, điều đó ai cũng biết; ông lại nói việc cất chức chỉ xẩy ra riêng tại quân khu Thủ Ðô thôi, không xẩy ra tại các quân khu khác, bản tin Hà Nội Mới đã nói rõ đặc tính đó trước ông.
Thấy ông Tín chỉ nói huề vốn, RFA tìm hỏi thêm một nhà phân tích khác về Việt Nam, tiến sĩ Nguyễn Văn Huy; ông Huy nói, “Từ lâu nay Bộ Quốc Phòng cũng như Bộ Chính Trị chuẩn bị một sự thay đổi nhân sự quan trọng để trẻ hoá guồng máy lãnh đạo quân đội tại Quân Khu Thủ Đô, đồng thời cũng để cải cách một số dư luận người ta than phiền về cán bộ quân đội tại Quân Khu Thủ Đô với các vụ việc như là tham nhũng về đất đai, hay là về vật tư, hay là chức quyền này nọ tại Quân Khu Thủ Đô”.
Giầu óc tưởng tượng đôi chút người ta còn có thể hình dung ra việc tống đạt nghị định cất chức được giao cho 5 tiểu đội an ninh võ trang, và 5 ông tướng Việt Cộng bị “thuyên chuyển” được những tiểu đội này “hộ tống” trên đường giao hoàn họ trở về ngồi chơi xơi nước tại bộ quốc phòng.
Nói cách khác: không cho họ có thì giờ để kịp trở tay phản ứng. Giờ này họ có còn được tự do hay không, cũng là một câu hỏi.
Tính chất đột ngột và quyết liệt trong hành động của Nguyễn Tấn Dũng là chuyện không thể phủ nhận; tuy nhiên sau khúc quanh chữ U vô cùng quan trọng này, việc gì sẽ xẩy ra?.
Trả lời câu hỏi này là job của Cậu Chín, ông thầy bói nổi tiếng của Houston, vì sau việc Nguyễn Tấn Dũng “ba rê” được cú “sút” đảo chánh của phe thân Trung Cộng thì giờ này quả bóng đang nằm trên sân Bắc Kinh.
Một cách khác để đặt lại cùng một câu hỏi vừa nêu là: Hồ Cẩm Ðào sẽ làm gì để tiếp tục quản lý quận Tam Sa –tên Tầu của quần đảo Hoàng Sa mà Trung Cộng có tham vọng chiếm đoạt?
Nguyễn Ðạt Thịnh

Thế Giới Mất Đi Cây Đại Thụ: Nhà văn Solzhenitsyn Nhà văn người Nga từng phơi bày hệ thống nhà tù thời Stalin trong các cuốn tiểu thuyết, sau đó buộc phải sống tị nạn 20 năm đã qua đời gần Moscow ở tuổi 89.
Alexander Solzhenitsyn, tác giả các cuốn ‘Quần đảo ngục tù' (the Gulag Archipelago) và ‘Một ngày trong cuộc đời Ivan Denisovich’ (One Day In The Life Of Ivan Denisovich), đã trở về Nga năm 1994. Một hãng tin Nga trích lời con trai ông, Stephan cho hay bố mình qua đời tại nhà hôm 3/8
trong khi một hãng khác trích lời các nguồn tin trong giới văn học cho hay ông bị đột quỵ. Người từng được trao giải Nobel bị bệnh huyết áp cao nhiều năm nay.
Sau khi quay trở về Nga, ông Solzhenitsyn đã viết một số cuộc bút chiến về lịch sử và bản sắc Nga.
Một phát ngôn viên của Điện Kremlin cho hay, Tổng thống Nga Dmitry Medvedev đã gửi lời chia buồn tới gia đình nhà văn.
Tù nhân, bệnh nhân và nhà văn
Ông Solzhenitsyn là sĩ quan pháo binh trong quân đội Soviet thời Thế Chiến II và từng được tặng thưởng huân chương vì lòng can đảm. Tuy nhiên, năm 1945, ông bị tố giác vì đã viết thư chỉ trích Stalin.
Tám năm sau đó, ông bị cầm tù trong hệ thống trại tập trung thời Soviet, hay còn được biết tới với cái tên Gulag, trước khi ông bị đày tới Kazakhstan, nơi ông được chữa trị thành công bệnh ung thư dạ dày.
Cuốn tiểu thuyết về một ngày trong nhà tù Gulag của Denisovich đã khiến ông trở nên nổi tiếng thời kỳ hậu Stalin.
Tuy nhiên, trong vòng một thập kỷ, nhà văn được trao giải Nobel văn học năm 1970, và cùng lúc bị mật vụ KGB quấy nhiễu.
Alexander Solzhenitsyn
Sinh ngày 11/12/1918
1945: bị kết án tám năm tù giam vì chống Xô Viết
1962: Một ngày trong cuộc đời Ivan Denisovich được xuất bản ở Nga
1970: Được trao giải Nobel Văn học
1974: Phần đầu của ‘Quần đảo ngục tù’ ra đời
13/2/1974: Đi lưu vong
1994: Trở về Nga
3/8/2008: Qua đời ở Matxcơva Năm 1973, phần đầu trong ba tập cuốn ‘Quần đảo ngục tù' đã được xuất bản tại phương Tây.
Tập sách này miêu tả tỉ mỉ những lạm dụng có hệ thống trong hệ thống nhà tù và trại tập trung thời Soviet khoảng thời gian 1918 tới 1956.
Cuốn sách đã gây ra những chỉ trích mạnh mẽ trong báo chí Soviet. Họ gọi ông là một kẻ phản bội tổ quốc.
Đầu năm 1974, chính quyền Soviet tước quyền công dân của ông và trục xuất ông khỏi đất nước.
Tiếng nói lương tri
Ông sau đó sống tại Vermont, Mỹ, nơi ông hoàn thành nốt hai tập tiếp theo của cuốn tiểu thuyết ‘Quần đảo ngục tù’. Trong khi sống ẩn dật tại đó, ông phản bác cái ông coi là sự xuống cấp đạo đức ở phương Tây.
Chỉ trích mạnh mẽ đường lối dân chủ của Boris Yeltsin, ông không quay trở lại Nga ngay khi Liên Xô sụp đổ năm 1992 như những người lưu vong khác. Lần hồi hương năm 1994 của ông cũng đầy kịch tính, khi ông trở về bằng đường bộ từ vùng Viễn Đông của Nga.
Những tác phẩm sau này của Solzhenitsyn, trong đó có các bài luận về tương lai của Nga, đã gây ra các tranh cãi.
Năm 2000, ông ra tác phẩm lớn cuối cùng, ‘Hai trăm năm cộng sinh’ (Two Hundred Years Together) phân tích vị thế của người Do Thái trong xã hội Nga cũng như vai trò của họ trong cuộc Cách mạng tháng Mười Nga.
Cuộc đời Alexander Solzhenitsyn
Hoa tưởng niệm được đặt đầy bênngoài tư gia của nhà văn Alexander Solzhenitsyn
Alexander Solzhenitsyn, vừa qua đời ở tuổi 89, là người từng đóng một vai trò quan trọng trong việc chấm dứt chủ nghĩa cộng sản.
Ông sáng tác các tiểu thuyết cao đẹp, lên án sự đàn áp của chế độ Soviet.
Sinh ra trong một gia đình trí thức Cossack, Alexander Solzhenitsyn tốt nghiệp ngành toán lý chỉ vài tuần trước khi Liên bang Soviet có cuộc chiến sinh tồn với Hitler.
Solzhenitsyn trở thành sỹ quan pháo binh và được tặng thưởng về lòng quả cảm. Tuy nhiên, năm 1945, ông đã bị lên án về tội dám chỉ trích Stalin trong một lá thư.
Cuộc đời Solzhenitsyn
Tám năm sau đó của ông bị chôn vùi giữa muôn ngàn người khác trong trại tù. May mắn hơn một số người, ông đã sống sót qua thời kỳ này.
Tiếp theo đó, ông bị lưu đày tại Kazakhstan, cũng là thời gian ông được chữa khỏi chứng ung thư dạ dày.
Sau vụ thất thế của nhà cải cách Khrushchev, cơ quan mật vụ Nga KGB tăng cường sách nhiễu Solzhenitsyn, buộc ông phải đem xuất bản các tác phẩm của mình ở nước ngoài.
Tiểu thuyết "Vòng tròn đầu tiên" (The First Circle) và "Trại ung thư" (Cancer Ward) tiếp tục lên tiếng về hệ thống Soviet.
Năm 1970, ông được trao giải Nobel Văn học. Tuy nhiêu, ông không tới Stockholm dự lễ trao giải vì sợ sẽ không được trở về quê nhà.
Năm 1973, tập đầu tiên trong bộ tiểu thuyết "Quần đảo ngục tù" gồm ba tập được xuất bản tại phương Tây. Ông đã phải giấu giới chức về tác phẩm này vì sợ những người được nhắc tới trong đó bị báo thù.
Bị coi là kẻ phản bội
Tuy nhiên, người từng giúp việc cho ông là Elizaveta Voronyanskaya đã tiết lộ nơi để tác phẩm khi bị KGB thẩm vấn. Sau đó, bà đã treo cổ tự vẫn.

Ông Solzhenitsyn đã trải qua 8 năm trong trại cải tạo
Solzhenitsyn quyết định công bố tác phẩm. "Quần đảo ngục tù" kể một cách chi tiết về việc lạm dụng có hệ thống của chính quyền Soviet trong thời gian từ 1918 tới 1956 tại hệ thống rộng lớn các nhà tù và trại cải tạo.
Việc công bố tác phẩm đã dẫn tới một chiến dịch bạo lực chống lại Solzhenitsyn trên hệ thống báo chí Soviet, nơi người ta gọi ông là một kẻ phản bội.
Đầu năm 1974, danh tiếng quốc tế của Solzhenitsyn cũng không giúp ông thoát khỏi cảnh bắt bớ.
Tuy nhiên, thay vì bỏ tù ông, giới chức Soviet đã tước quyền công dân và trục xuất ông ra khỏi đất nước.
Khi sống lưu vong, ông tiếp tục gây nhiều tranh cãi, đáng kể là khi ông ra một loạt các tài liệu nói về những nghi ngờ về việc sáng tác tiểu thuyết "Sông Đông êm đềm" của nhà văn Mikhail Sholokhov.
Cuối cùng, ông định cư tại Vermont, Hoa Kỳ cùng người vợ thứ hai và ba người con trai. Tại đây, ông đã hoàn tất nốt hai tập của tiểu thuyết "Quần đảo ngục tù".
Trở lại nước Nga
"Đêm Phổ", một tác phẩm truyện thơ dài về cuộc tiến quân báo thù của Hồng Quân vào vùng Đông Phổ năm 1945 được công bố năm 1977.
Ông được cho là đã sáng tác và ghi nhớ truyện thơ này từ 25 năm trước, trong thời gian chịu cảnh tù đày.
Việc công bố "Quần đảo ngục tù" khiến Solzhenitsyn trở thành đối tượng đấu tố của truyền thông Nga hồi thâp niên 70
Tuy nhiên, Solzhenitsyn bác bỏ chủ nghĩa tự do, bác bỏ khái niệm dân chủ mà Gorbachev và Yeltsin đưa ra như một sự hoang đường. Ông cũng chỉ trích chủ nghĩa tự do Tây phương.
Ông trở lại nước Nga hồi 1994 và nói với Quốc hội Nga (Duma) rằng người Nga hậu cộng sản vẫn đang chưa được sống trong một nền dân chủ.
Ông lên án các chính trị gia là tham nhũng. Ông thường xuất hiện trên truyền hình để lên tiếng phản đối đất nước từng sỉ nhục, rồi sau lại vinh danh ông.
Năm 2000, tác phẩm "Hai trăm năm cộng sinh" của ông lại bàn tới vấn đề nhạy cảm, khi tìm hiểu về vị thế của người Do thái trong xã hội Soviet.
Ông bác bỏ một số cáo buộc về chủ nghĩa bài Do thái. Dần dần, người Nga không còn mấy quan tâm tới những lời chỉ trích của ông.
Cá nhân cựu Tổng thống Vladimir Putin từng tới thăm ông hồi năm 2007 để trao tặng ông giải thưởng quốc gia Liên bang Nga vì những tác phẩm mang đầy tính nhân văn.
Năm 2006, bộ phim Nga đầu tiên dựa trên một trong các tiểu thuyết của ông, "Vòng tròn đầu tiên", được trình chiếu trên truyền hình quốc gia, bốn thập niên sau khi tác phẩm được công bố.
Bộ phim truyền hình 10 tập nói về sự khủng bố dưới triều đại Stalin, mô tả Liên bang Soviet như một nhà tù khổng lồ.
Cũng trong năm 2006, Solzhenitsyn, khi đó 87 tuổi, đã chỉ trích Nato và cáo buộc tổ chức này là tìm cách kiểm soát nước Nga.
Khi đó, Alexander Solzhenitsyn đã giành được vị trí trong lịch sử như một trong các nhà văn Nga xuất sắc nhất thế kỷ 20.
Sự chia sẻ thiết tha của người Việt hải ngoại với thương binh VNCH

Quang cảnh đồng hương đến tham dự Ðại Nhạc Hội
“Cám Ơn Anh, người Thương Binh VNCH” kỳ II. Một góc trước sân khấu. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Các điện thoại viên đang tất bật nhận sự đóng góp của đồng bào khắp nơi gọi về đài TV-SBTN
đóng góp cho Ðại Nhạc Hội cứu trợ TPB/VNCH. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Các em nhỏ trong Gia Ðình Phật Tử liên tục cung cấp nước giải khát
cho hàng ngàn đồng hương đến tham dự nhạc hội cứu trợ TPB/VNCH. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt) Nguyên Huy/Người Việt
Trên 380 ngàn Mỹ kim là con số tổng kết sơ khởi được loan báo trước khi kết thúc Ðại Nhạc Hội “Cám ơn Anh, Người Thương Binh VNCH” kỳ II.
Có thể nói đây là một sinh hoạt của cộng đồng người Việt hải ngoại đã thu hút được một số đồng hương tham dự kỷ lục chỉ trong một buổi. Theo ước tính của giới truyền thông báo chí Việt ngữ ở Nam California thì có thể tới hơn 13 ngàn lượt người đã đến tham dự trong đại nhạc hội này vào hôm Chủ Nhật 3 tháng 8 tại sân vận động trường Grande High School thuộc thị xã Garden Grove, Nam California.
Ðại Nhạc Hội Cứu Trợ Thương Binh VNCH kỳ II này đã được các tổ chức như Hội H.O. Cứu Trợ TPB và Quả Phụ, Liên Hội Chiến Sĩ VNCH Nam Cali, Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Tây Nam Hoa Kỳ cùng Trung Tâm Băng Nhạc Asia, Ðài Truyền Hình SBTN và nhiều đoàn thể trong cộng đồng đứng ra tổ chức được sự hỗ trợ của nhiều cơ sở thương mại lớn và các cơ quan truyền thông báo chí Việt ngữ tại Nam California.
Từ hơn một tháng qua, đồng hương người Việt đi qua các chợ và trung khu Little Saigon đã thường thấy những toán anh chị em cựu quân nhân tự nguyện mang vé Ðại Nhạc hội đi bán dạo vào những ngày cuối tuần. Theo nhiều anh em cho biết thì việc bán vé cũng không dễ dàng cho lắm, đôi khi còn nhận được những sự từ chối phũ phàng. Nhưng theo bà Hạnh Nhơn, chủ tịch Hội H.O. Cứu Trợ TPB&Quả Phụ cũng là trưởng ban tổ chức cho biết thì số vé dù chưa tổng kết được cũng đã bán được gấp đôi kỳ trước. Ông Nam Lộc, người điều hợp tổng quát trong ban tổ chức thì luôn luôn tin tưởng rằng chúng ta sẽ vượt qua con số hơn 450 ngàn của kỳ trước.
Ngay từ 8 giờ sáng, tại sân vận động đã tấp nập những cựu quân nhân QLVNCH thuộc mọi binh chủng đến chia nhau nhận lãnh những công tác sắp xếp ghế ngồi, phân khu trong khán đài, tổ chức việc giữ trật tự, giúp việc bán vé và linh tinh đủ mọi chuyện cho một cuộc tổ chức đại quy mô. Bốn lều lớn đã được nhà thầu dựng lên mà theo ông Nam Lộc cho biết thì “đó là tối đa mà ban tổ chức tìm thuê được kể cả đã phải lên tận Los”.
Dù giờ khai mạc được ấn định là 12 giờ trưa, nhưng vào lúc 11 giờ các bãi đậu xe quanh trường Grande High School đã không còn một chỗ. Người ta ước tính trong hội trường lúc này đã có tới trên ba ngàn đồng hương có mặt chờ đợi. Bẩy vị niên trưởng là cựu Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, cựu Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, Bùi Ðình Ðạm, cựu Ðề Ðốc Trần Văn Chơn, cựu Chuẩn Tướng Không Quân Nguyễn Hữu Tần, Võ Dinh và Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, chủ tịch Tập Thể Chiến Sĩ VNCH hải ngoại cũng đã có mặt trước lúc khai mạc cùng với đại diện các tôn giáo và các hội đồng hương người Việt tại Nam California.
Trước lúc khai mạc, như để khởi lên không khí sôi động chia sẻ thương đau cùng những thương binh VNCH kẹt lại trong chế độ cộng sản, ban tổ chức đã cho đọc một bức tâm thư của thương binh VNCH đại diện cho tập thể anh em thương binh VNCH từ trong nước gửi ra khi nghe được tin đồng bào và đồng ngũ ở hải ngoại tổ chức cứu trợ. Trong thư có đoạn: “Quý vị đã đến với anh em phế binh khổ nạn tại quê hương, đến bằng tất cả tâm tình quí trọng, xuyên qua biết bao nhiêu lần cứu giúp và nâng đỡ trường kỳ, liên tục, bằng tiền bạc thuốc men, xe lăn, phương tiện chỉnh hình, phương tiện sinh sống... Trong đêm đen cứu tinh là ánh sáng, trong khổ đau cứu tinh là tình thương và trong cảnh sa sút kiệt quệ, cứu tinh là giúp đỡ...”
“Nghe tin này, nhiều anh em chúng tôi đã bật khóc, khóc vì xúc động khi cảm nhận được rằng: những mảnh đời khốn cùng với xác thân cụt què đui mù bại liệt mà bị thế thái nhân tình rẻ rúng lại được một cái giá thật ý nghĩa trước tình thương và tấm lòng yêu chuộng của cộng đồng người Việt, đồng bào nơi hải ngoại”.
Ðúng 12 giờ trưa, Ðại Nhạc Hội Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH kỳ II khai mạc. Tiếng hùng ca của toàn thể người tham dự trong bài quốc ca VNCH dội lên nhắc nhớ mọi người hình tượng lại cuộc chiến đấu của người lính VNCH mà hình ảnh vẫn còn kia. Ðó là toán Quốc Quân kỳ. Ðó là những cựu chiến binh VNCH bên những vũ khí, phương tiện quân sự trong chiến tranh đang chờ phụ diễn lại cảnh chiến đấu can trường của người lính VNCH. Những cuộc chiến đấu ấy đã để lại biết bao thương binh mà chúng ta phải nhớ đến.
Nhắc nhớ đến những người thương binh này, cựu trung tá nữ quân nhân Hạnh Nhơn, trưởng ban tổ chức kể lại những thảm cảnh “Họ là những người đã hy sinh tất cả để bảo vệ an ninh cho Tổ Quốc và cuộc sống yên lành của dân chúng miền nam. Vậy mà sau khi đất nước bị cộng sản chiếm đoạt, tuy còn sống sót nhưng họ lại là những người kém may mắn nhất, phải âm thầm sống trong cảnh thiếu thốn nhục nhã cùng cực, phải mang tấm thân tàn với những bệnh hoạn và tàn tật thương tâm như mù lòa, bại liệt, cụt một tay hay cả hai tay, cụt một hay hai chân, với những thương tích từ hơn 30 năm trước vẫn chưa lành vì không được chữa trị, và nhất là không có một nghề nghiệp nào thích hợp với tàn lực của anh em trong cuộc đổi đời. Ðã vậy còn bị chính quyền cộng sản hắt hủi, xua đẩy và làm nhục gần như muốn loại bỏ họ ra khỏi xã hội. Nếu có cảnh địa ngục trần gian thì anh em thương binh là những nạn nhân đang phải ngụp lặn trong đó cho đến khi lìa đời”.
Ông Nam Lộc, người đứng vận động anh chị em nghệ sĩ cho biết: “Ðối với anh chị em nghệ sĩ, trong cả năm trời đi lưu diễn khắp nơi nhưng không có buổi gây quĩ nào đối với họ có ý nghĩa hơn là gây quĩ cứu trợ thương binh VNCH”.
Ý nghĩ này cũng được nữ ca sĩ Ý Lan, Diễm Liên, Phương Hồng Quế và nam ca sĩ Tuấn Vũ, Nguyên Khang nhắc lại trong cuộc phỏng vấn của đài truyền hình SBTN sau đó.
Một nhân vật đang được cộng đồng nhắc nhở đến khá nhiều là nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh. Bà đã từ miền Ðông nước Mỹ bay về có mặt trong đại nhạc hội cứu trợ này. Trước khi phát biểu theo lời mời của ban tổ chức, bà đã đưa tấm ngân phiếu 2 ngàn Mỹ kim cho ban tổ chức để đóng góp vào công cuộc cứu trợ. Trong lời phát biểu, bà đã nhắc đến nỗi nhục nhã và khổ ải của người thương binh VNCH sau 30.4.1975. Bà nhấn mạnh “Thương binh VNCH không phải là những kẻ mồ côi, hay nạn nhân bão lụt đang trông chờ vào sự bác ái của chúng ta. Họ chính là chủ những món nợ ân tình mà chúng ta đã vay ngày trước. Dẫu chủ nợ không có khả năng đòi nhưng chẳng lẽ tôi lại đành lòng làm ngơ và dù biết là trả hết cả đời cũng vẫn chưa xóa được nợ, nhưng thôi tôi đành cố gắng được chút nào hay chút đó, bằng cách này hay cách khác. Ðó là sự có mặt của tôi hôm nay trong đại nhạc hội này”.
Tiếp đó nhiều khách đặc biệt của đại nhạc hội cứu trợ thương binh VNCH cũng được ban tổ chức mời lên phát biểu. Nữ phi công can trường Elizabeth Phạm của Quân Lực Hoa Kỳ có mặt cũng cho rằng “từng được chứng kiến sư hy sinh của đồng ngũ nên cô hiểu và tri ân những thương binh VNCH vô cùng”. Nữ phi công Elizabeth Phạm cũng kêu gọi tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại hãy tiếp bước cha anh để cho một Việt Nam được tự do dân chủ.
Người thương binh quả cảm can trường Quách Vĩnh Trường cũng đại diện anh em thương binh trong nước và hải ngoại nói lên lời tri ân sâu sắc đối với những sự giúp đỡ của đồng bào hải ngoại.
Phần phát biểu của quan khách tham dự khá ngắn gọn nhưng súc tích và đầy ý nghĩa. Ðây là sự sắp xếp của ban tổ chức muốn dành nhiều thì giờ cho bà con thưởng thức một chương trình ca nhạc với gần cả trăm ca nhạc sĩ, nghệ sĩ đóng góp. Các ca nhạc sĩ đã chọn hát những bài hát của một thời chiến chinh. Mỹ Lan và Trần Thiện Anh Chí với “Anh Không Chết Ðâu Anh”, Băng Tâm với “Từ Ðó Em Buồn”, Công Thành và Lyn với “Tình yêu Thủy Thủ', Ý Lan với “Kỷ Vật Cho Em”, Doanh Doanh với “Nắng Chiều”, Nguyễn Hồng Nhung với “Người Tình Không Chân Dung”, Lâm Nhật Tiến với “Những Ðêm Chờ Sáng”, Thanh Lan với “Tôi Nhớ Tên Anh”, Nguyên Khang với “Chân Trời Tím”, Diễm Liên với “Gởi Gió Cho Mây Ngàn Bay” và Thanh Thúy với “Tấm thẻ Bài”. Rồi Tuấn Vũ, Mỹ Huyền, bé Ðan Vy, Phương Thảo-Ngọc Lễ, Phương Hồng Quế... tất cả đã làm cho sân khấu vừa sôi động vừa xúc động không chỉ qua lời ca tiếng hát mà còn ở những chân tình của các ca nhạc sĩ phát biểu trước mỗi bài hát được trình bày.
Trong lúc này thì đài truyền hình SBTN phát sóng trên toàn cõi Hoa Kỳ, Canada và Úc Châu trực tiếp truyền hình được công ty điện thoại V247 mở 25 luồng sóng tiếp nhận sự đóng góp của cộng đồng người Việt là khán thính giả SBTN ở khắp nơi gọi về đóng góp. Vào lúc 3 giờ chiều, tin được loan đi có sự đóng góp một khoản tiền lớn là 100 ngàn Mỹ kim của ông Trần Ðình Trường ở New York. Cũng vào lúc này, chỉ riêng khán thính giả của SBTN gọi vào đóng góp đã lên tới trên 80 ngàn trong khi tại chỗ cũng lên tới trên 30 ngàn. Ðồng bào khắp nơi liên tục gọi về đài xin đóng góp tới tấp khiến V247 phải gia tăng thêm hơn 10 làn sóng nữa mà vẫn không kịp tiếp nhận. Ba ca trực điện thoại gồm nhân viên đài SBTN, các phụ nữ thiện nguyện trong cộng đồng, anh chị em trong gia đình không quân VNCH, các em trong Gia Ðình Phật Tử Miền Quảng Ðức và các em trong tổ chức Hồng Thập Tự đã thay nhay tất bật suốt 7 tiếng đồng hồ đón nhận hàng ngàn cú điện thoại, cho mãi tới khi trên sân khấu các ca nhạc sĩ và ban tổ chức cùng nhau cất tiếng đồng ca “Và con tim sẽ vui trở lại” để tạm chia tay, kết thúc buổi đại nhạc hội cứu trợ Thương Binh VNCH, nhiều thiện nguyện viên vẫn còn phải trả lời và ghi nhận những sự đóng góp của đồng bào người Việt hải ngoại.
Nhìn trong diễn tiến buổi đại nhạc hội cứu trợ Thương Binh VNCH kỳ II này thấy quả là một sinh hoạt cộng đồng đúng nghĩa nhất. Nhiều hình ảnh thật xúc động như một cặp hai bác cao niên dìu nhau đến góp chút tiền già của mình còn cộng thêm với một bao lì xì nói là của đứa cháu để dành từ hồi Tết trong đó có 3 tờ 5 đô la cháu xin được gửi đến. Một hình ảnh khác nơi cửa ra vào, các em nhỏ trong Gia Ðình Phật tử, nhiều em chỉ mới 8, 9 tuổi cũng đến tham gia vào việc cung cấp nước giải khát cho đồng bào vào xem nhạc hội. Các em đã thay phiên nhau cùng các chú bác cựu quân nhân phát hết 16 ngàn chai nước ngọt do công ty Pacific Machine Company của ông Paul Chiểu cung cấp. Một hình ảnh khác nữa là nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh và nữ phi công Elizabeth Phạm liên tục được yêu cầu chụp hình kỷ niệm với gia đình khiến cho nơi hậu trường sân khấu lúc nào cũng đông kín những đồng hương đủ mọi lớp tuổi...
Mãi đến 8 giờ tối, đại nhạc hội kết thúc rồi mà nhiều đồng hương còn tụ lại san sẻ khó nhọc với anh em cựu quân nhân đang bắt đầu công việc thu dọn hiện trường. (NH)

Quang cảnh đồng hương đến tham dự Ðại Nhạc Hội
“Cám Ơn Anh, người Thương Binh VNCH” kỳ II. Một góc trước sân khấu. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Các điện thoại viên đang tất bật nhận sự đóng góp của đồng bào khắp nơi gọi về đài TV-SBTN
đóng góp cho Ðại Nhạc Hội cứu trợ TPB/VNCH. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Các em nhỏ trong Gia Ðình Phật Tử liên tục cung cấp nước giải khát
cho hàng ngàn đồng hương đến tham dự nhạc hội cứu trợ TPB/VNCH. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt) Nguyên Huy/Người Việt
Trên 380 ngàn Mỹ kim là con số tổng kết sơ khởi được loan báo trước khi kết thúc Ðại Nhạc Hội “Cám ơn Anh, Người Thương Binh VNCH” kỳ II.
Có thể nói đây là một sinh hoạt của cộng đồng người Việt hải ngoại đã thu hút được một số đồng hương tham dự kỷ lục chỉ trong một buổi. Theo ước tính của giới truyền thông báo chí Việt ngữ ở Nam California thì có thể tới hơn 13 ngàn lượt người đã đến tham dự trong đại nhạc hội này vào hôm Chủ Nhật 3 tháng 8 tại sân vận động trường Grande High School thuộc thị xã Garden Grove, Nam California.
Ðại Nhạc Hội Cứu Trợ Thương Binh VNCH kỳ II này đã được các tổ chức như Hội H.O. Cứu Trợ TPB và Quả Phụ, Liên Hội Chiến Sĩ VNCH Nam Cali, Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Tây Nam Hoa Kỳ cùng Trung Tâm Băng Nhạc Asia, Ðài Truyền Hình SBTN và nhiều đoàn thể trong cộng đồng đứng ra tổ chức được sự hỗ trợ của nhiều cơ sở thương mại lớn và các cơ quan truyền thông báo chí Việt ngữ tại Nam California.
Từ hơn một tháng qua, đồng hương người Việt đi qua các chợ và trung khu Little Saigon đã thường thấy những toán anh chị em cựu quân nhân tự nguyện mang vé Ðại Nhạc hội đi bán dạo vào những ngày cuối tuần. Theo nhiều anh em cho biết thì việc bán vé cũng không dễ dàng cho lắm, đôi khi còn nhận được những sự từ chối phũ phàng. Nhưng theo bà Hạnh Nhơn, chủ tịch Hội H.O. Cứu Trợ TPB&Quả Phụ cũng là trưởng ban tổ chức cho biết thì số vé dù chưa tổng kết được cũng đã bán được gấp đôi kỳ trước. Ông Nam Lộc, người điều hợp tổng quát trong ban tổ chức thì luôn luôn tin tưởng rằng chúng ta sẽ vượt qua con số hơn 450 ngàn của kỳ trước.
Ngay từ 8 giờ sáng, tại sân vận động đã tấp nập những cựu quân nhân QLVNCH thuộc mọi binh chủng đến chia nhau nhận lãnh những công tác sắp xếp ghế ngồi, phân khu trong khán đài, tổ chức việc giữ trật tự, giúp việc bán vé và linh tinh đủ mọi chuyện cho một cuộc tổ chức đại quy mô. Bốn lều lớn đã được nhà thầu dựng lên mà theo ông Nam Lộc cho biết thì “đó là tối đa mà ban tổ chức tìm thuê được kể cả đã phải lên tận Los”.
Dù giờ khai mạc được ấn định là 12 giờ trưa, nhưng vào lúc 11 giờ các bãi đậu xe quanh trường Grande High School đã không còn một chỗ. Người ta ước tính trong hội trường lúc này đã có tới trên ba ngàn đồng hương có mặt chờ đợi. Bẩy vị niên trưởng là cựu Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, cựu Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, Bùi Ðình Ðạm, cựu Ðề Ðốc Trần Văn Chơn, cựu Chuẩn Tướng Không Quân Nguyễn Hữu Tần, Võ Dinh và Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, chủ tịch Tập Thể Chiến Sĩ VNCH hải ngoại cũng đã có mặt trước lúc khai mạc cùng với đại diện các tôn giáo và các hội đồng hương người Việt tại Nam California.
Trước lúc khai mạc, như để khởi lên không khí sôi động chia sẻ thương đau cùng những thương binh VNCH kẹt lại trong chế độ cộng sản, ban tổ chức đã cho đọc một bức tâm thư của thương binh VNCH đại diện cho tập thể anh em thương binh VNCH từ trong nước gửi ra khi nghe được tin đồng bào và đồng ngũ ở hải ngoại tổ chức cứu trợ. Trong thư có đoạn: “Quý vị đã đến với anh em phế binh khổ nạn tại quê hương, đến bằng tất cả tâm tình quí trọng, xuyên qua biết bao nhiêu lần cứu giúp và nâng đỡ trường kỳ, liên tục, bằng tiền bạc thuốc men, xe lăn, phương tiện chỉnh hình, phương tiện sinh sống... Trong đêm đen cứu tinh là ánh sáng, trong khổ đau cứu tinh là tình thương và trong cảnh sa sút kiệt quệ, cứu tinh là giúp đỡ...”
“Nghe tin này, nhiều anh em chúng tôi đã bật khóc, khóc vì xúc động khi cảm nhận được rằng: những mảnh đời khốn cùng với xác thân cụt què đui mù bại liệt mà bị thế thái nhân tình rẻ rúng lại được một cái giá thật ý nghĩa trước tình thương và tấm lòng yêu chuộng của cộng đồng người Việt, đồng bào nơi hải ngoại”.
Ðúng 12 giờ trưa, Ðại Nhạc Hội Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH kỳ II khai mạc. Tiếng hùng ca của toàn thể người tham dự trong bài quốc ca VNCH dội lên nhắc nhớ mọi người hình tượng lại cuộc chiến đấu của người lính VNCH mà hình ảnh vẫn còn kia. Ðó là toán Quốc Quân kỳ. Ðó là những cựu chiến binh VNCH bên những vũ khí, phương tiện quân sự trong chiến tranh đang chờ phụ diễn lại cảnh chiến đấu can trường của người lính VNCH. Những cuộc chiến đấu ấy đã để lại biết bao thương binh mà chúng ta phải nhớ đến.
Nhắc nhớ đến những người thương binh này, cựu trung tá nữ quân nhân Hạnh Nhơn, trưởng ban tổ chức kể lại những thảm cảnh “Họ là những người đã hy sinh tất cả để bảo vệ an ninh cho Tổ Quốc và cuộc sống yên lành của dân chúng miền nam. Vậy mà sau khi đất nước bị cộng sản chiếm đoạt, tuy còn sống sót nhưng họ lại là những người kém may mắn nhất, phải âm thầm sống trong cảnh thiếu thốn nhục nhã cùng cực, phải mang tấm thân tàn với những bệnh hoạn và tàn tật thương tâm như mù lòa, bại liệt, cụt một tay hay cả hai tay, cụt một hay hai chân, với những thương tích từ hơn 30 năm trước vẫn chưa lành vì không được chữa trị, và nhất là không có một nghề nghiệp nào thích hợp với tàn lực của anh em trong cuộc đổi đời. Ðã vậy còn bị chính quyền cộng sản hắt hủi, xua đẩy và làm nhục gần như muốn loại bỏ họ ra khỏi xã hội. Nếu có cảnh địa ngục trần gian thì anh em thương binh là những nạn nhân đang phải ngụp lặn trong đó cho đến khi lìa đời”.
Ông Nam Lộc, người đứng vận động anh chị em nghệ sĩ cho biết: “Ðối với anh chị em nghệ sĩ, trong cả năm trời đi lưu diễn khắp nơi nhưng không có buổi gây quĩ nào đối với họ có ý nghĩa hơn là gây quĩ cứu trợ thương binh VNCH”.
Ý nghĩ này cũng được nữ ca sĩ Ý Lan, Diễm Liên, Phương Hồng Quế và nam ca sĩ Tuấn Vũ, Nguyên Khang nhắc lại trong cuộc phỏng vấn của đài truyền hình SBTN sau đó.
Một nhân vật đang được cộng đồng nhắc nhở đến khá nhiều là nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh. Bà đã từ miền Ðông nước Mỹ bay về có mặt trong đại nhạc hội cứu trợ này. Trước khi phát biểu theo lời mời của ban tổ chức, bà đã đưa tấm ngân phiếu 2 ngàn Mỹ kim cho ban tổ chức để đóng góp vào công cuộc cứu trợ. Trong lời phát biểu, bà đã nhắc đến nỗi nhục nhã và khổ ải của người thương binh VNCH sau 30.4.1975. Bà nhấn mạnh “Thương binh VNCH không phải là những kẻ mồ côi, hay nạn nhân bão lụt đang trông chờ vào sự bác ái của chúng ta. Họ chính là chủ những món nợ ân tình mà chúng ta đã vay ngày trước. Dẫu chủ nợ không có khả năng đòi nhưng chẳng lẽ tôi lại đành lòng làm ngơ và dù biết là trả hết cả đời cũng vẫn chưa xóa được nợ, nhưng thôi tôi đành cố gắng được chút nào hay chút đó, bằng cách này hay cách khác. Ðó là sự có mặt của tôi hôm nay trong đại nhạc hội này”.
Tiếp đó nhiều khách đặc biệt của đại nhạc hội cứu trợ thương binh VNCH cũng được ban tổ chức mời lên phát biểu. Nữ phi công can trường Elizabeth Phạm của Quân Lực Hoa Kỳ có mặt cũng cho rằng “từng được chứng kiến sư hy sinh của đồng ngũ nên cô hiểu và tri ân những thương binh VNCH vô cùng”. Nữ phi công Elizabeth Phạm cũng kêu gọi tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại hãy tiếp bước cha anh để cho một Việt Nam được tự do dân chủ.
Người thương binh quả cảm can trường Quách Vĩnh Trường cũng đại diện anh em thương binh trong nước và hải ngoại nói lên lời tri ân sâu sắc đối với những sự giúp đỡ của đồng bào hải ngoại.
Phần phát biểu của quan khách tham dự khá ngắn gọn nhưng súc tích và đầy ý nghĩa. Ðây là sự sắp xếp của ban tổ chức muốn dành nhiều thì giờ cho bà con thưởng thức một chương trình ca nhạc với gần cả trăm ca nhạc sĩ, nghệ sĩ đóng góp. Các ca nhạc sĩ đã chọn hát những bài hát của một thời chiến chinh. Mỹ Lan và Trần Thiện Anh Chí với “Anh Không Chết Ðâu Anh”, Băng Tâm với “Từ Ðó Em Buồn”, Công Thành và Lyn với “Tình yêu Thủy Thủ', Ý Lan với “Kỷ Vật Cho Em”, Doanh Doanh với “Nắng Chiều”, Nguyễn Hồng Nhung với “Người Tình Không Chân Dung”, Lâm Nhật Tiến với “Những Ðêm Chờ Sáng”, Thanh Lan với “Tôi Nhớ Tên Anh”, Nguyên Khang với “Chân Trời Tím”, Diễm Liên với “Gởi Gió Cho Mây Ngàn Bay” và Thanh Thúy với “Tấm thẻ Bài”. Rồi Tuấn Vũ, Mỹ Huyền, bé Ðan Vy, Phương Thảo-Ngọc Lễ, Phương Hồng Quế... tất cả đã làm cho sân khấu vừa sôi động vừa xúc động không chỉ qua lời ca tiếng hát mà còn ở những chân tình của các ca nhạc sĩ phát biểu trước mỗi bài hát được trình bày.
Trong lúc này thì đài truyền hình SBTN phát sóng trên toàn cõi Hoa Kỳ, Canada và Úc Châu trực tiếp truyền hình được công ty điện thoại V247 mở 25 luồng sóng tiếp nhận sự đóng góp của cộng đồng người Việt là khán thính giả SBTN ở khắp nơi gọi về đóng góp. Vào lúc 3 giờ chiều, tin được loan đi có sự đóng góp một khoản tiền lớn là 100 ngàn Mỹ kim của ông Trần Ðình Trường ở New York. Cũng vào lúc này, chỉ riêng khán thính giả của SBTN gọi vào đóng góp đã lên tới trên 80 ngàn trong khi tại chỗ cũng lên tới trên 30 ngàn. Ðồng bào khắp nơi liên tục gọi về đài xin đóng góp tới tấp khiến V247 phải gia tăng thêm hơn 10 làn sóng nữa mà vẫn không kịp tiếp nhận. Ba ca trực điện thoại gồm nhân viên đài SBTN, các phụ nữ thiện nguyện trong cộng đồng, anh chị em trong gia đình không quân VNCH, các em trong Gia Ðình Phật Tử Miền Quảng Ðức và các em trong tổ chức Hồng Thập Tự đã thay nhay tất bật suốt 7 tiếng đồng hồ đón nhận hàng ngàn cú điện thoại, cho mãi tới khi trên sân khấu các ca nhạc sĩ và ban tổ chức cùng nhau cất tiếng đồng ca “Và con tim sẽ vui trở lại” để tạm chia tay, kết thúc buổi đại nhạc hội cứu trợ Thương Binh VNCH, nhiều thiện nguyện viên vẫn còn phải trả lời và ghi nhận những sự đóng góp của đồng bào người Việt hải ngoại.
Nhìn trong diễn tiến buổi đại nhạc hội cứu trợ Thương Binh VNCH kỳ II này thấy quả là một sinh hoạt cộng đồng đúng nghĩa nhất. Nhiều hình ảnh thật xúc động như một cặp hai bác cao niên dìu nhau đến góp chút tiền già của mình còn cộng thêm với một bao lì xì nói là của đứa cháu để dành từ hồi Tết trong đó có 3 tờ 5 đô la cháu xin được gửi đến. Một hình ảnh khác nơi cửa ra vào, các em nhỏ trong Gia Ðình Phật tử, nhiều em chỉ mới 8, 9 tuổi cũng đến tham gia vào việc cung cấp nước giải khát cho đồng bào vào xem nhạc hội. Các em đã thay phiên nhau cùng các chú bác cựu quân nhân phát hết 16 ngàn chai nước ngọt do công ty Pacific Machine Company của ông Paul Chiểu cung cấp. Một hình ảnh khác nữa là nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh và nữ phi công Elizabeth Phạm liên tục được yêu cầu chụp hình kỷ niệm với gia đình khiến cho nơi hậu trường sân khấu lúc nào cũng đông kín những đồng hương đủ mọi lớp tuổi...
Mãi đến 8 giờ tối, đại nhạc hội kết thúc rồi mà nhiều đồng hương còn tụ lại san sẻ khó nhọc với anh em cựu quân nhân đang bắt đầu công việc thu dọn hiện trường. (NH)

Một Thế Vận Hội tai tiếng
Tác giả: Hoàng Ngọc Nguyên
Thế Vận Hội Bắc Kinh sẽ sắp khai mạc. Du khách bây giờ đang lũ lượt đến, và chứng kiến thủ đô của một nước có gần 1.4 tỷ dân và một trong những nền kinh tế khổng lồ nhất thế giới đang tưng bừng bước vào một ngày hội lớn lao của thế giới. Không cần nói đến những nỗ lực của Trung Quốc trong cả năm năm nay dành cho Thế Vận Hội này –
Một cơ hội ngàn năm một thuở cho Trung Quốc phô trương những tiến bộ vĩ đại trên nhiều mặt của mình đã đạt được trong gần 30 năm qua khi nước này bắt đầu cải cách kinh tế theo hướng thị trường và mở cửa ào ạt xâm chiếm thị trường thế giới. Trên thành phố Bắc Kinh rộng mênh mông này, không thiếu gì di tích lịch sử cho người ta đến viếng, mặc dù khu vực nội cung của nhà Thanh cũng như quãng trường Thiên An Môn vẫn là nơi người ta nói đến nhiều nhất. Người ta nói chính quyền Bắc Kinh chuẩn bị chu đáo đến độ đã rốt ráo có một loạt tuyên truyền giáo dục người dân không khạc nhổ hay xã rác giữa đường – ít nhất trong ba tuần lễ hội -, không băng đường ngang xương, tập sắp hàng khi lên xe buýt hay vào tiệm ăn hay các cửa hàng mua sắm. Người ta còn dặn các cửa hàng ăn uống tạm thời không bán thịt chó vì có thể một số nhà tranh đấu cho quyền súc vật sẽ tổ chức biểu tình lên án việc sát hại gia súc. Ngoài đầu tư cho những phương tiện thi đấu và ăn ở của các vận động viên, chính quyền cũng đã không ngớt bỏ tiền để xây dựng các khu phố mua sắm (shopping mall), các quán ăn sang trọng, khách sạn 5 sao, đường xá mở rộng… Thậm chí xe buýt, xe điện đều được sơn phết lại như mới. Không khí giống như một ngày Tết nguyên đán, chỉ có điều kéo dài hơn và đông đảo người trên đường phố hơn.
Thử thách đích thực
Tuy nhiên, trong bề ngoài nô nức của Bắc Kinh với ngày “lễ hội của hành tinh” này là cả một sự bồn chồn bên trong. Bởi vì trong khi Trung Quốc đang cố chứng minh qua Thế Vận Hội này những bước phát triễn vượt bậc của mình chỉ trong một thời gian tương đối không dài cho một đất nước có một dân số chiếm đến 1/5 dân số thế giới, những nước phương tây và những nhà báo, nhà nghiên cứu hầu như chỉ để ý đến những thành tích về dân chủ, nhân quyền và chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Thậm chí, cũng không ít người phê phán Ủy ban Thế vận Quốc tế trong việc lựa chọn Bắc Kinh là nơi tổ chức Thế vận hội 2008. Và người ta cũng nói đến Trung Quốc làm Thế Vận Hội rình rang này với ý đồ gì, và ai là người thực sự hưởng lợi trong Thế Vận Hội năm nay.
Sự xét nét về chế độ chính trị ở Trung Quốc vừa không mới vừa không lạ. Những nước trước đây là cộng sản hay bây giờ vẫn còn xem mình là cộng sản luôn luôn là mục tiêu hàng đầu của tổ chức Human Rights Watch. Trung Quốc dĩ nhiên chưa bao giờ được xem là sạch sẽ về nhân quyền và dân quyền. Có thể xem bắt đầu là vụ quãng trường Thiên An Môn năm 1989, khi xe tăng đàn áp người biểu tình, hàng trăm người tranh đấu cho dân chủ bị đàn áp, bắt bớ. Cho đến nay có lẽ vẫn còn những người chưa được phóng thích. Ở Việt Nam, người ta thỉnh thoảng vẫn còn nghe nói có “đảng” này, đảng nọ hoạt động bí mật chống chế độ cộng sản, nhưng ở Trung Quốc bao la, rộng lớn như thế, nổi tiếng nhất vẫn là Pháp Luân Công – một tổ chức chính trị có tính tôn giáo mà thực lực chưa được biết rõ. Nhiều nhà bất đồng chính kiến ở Trung Quốc đã hoạt động bền bỉ và có hệ thống, được sự hỗ trợ của một số cá nhân và tổ chức nước ngoài. Nhưng thái độ của nhà cầm quyền Trung Quốc là dứt khoát: không cho những người chống đối bất cứ cơ hội nào sống sót. Một vài cựu lãnh tụ của Cộng Sản Trung Quốc cũng có lên tiếng, như cố Thủ tướng Triệu Tử Dương chẳng hạn, nhưng cũng như ông Võ Văn Kiệt ở Việt Nam, họ là những con én lạc đàn.
Nhiều nhà lý luận của phương tây có những quan điểm tương phản vể việc dân chủ hóa ở những nước đang phát triển kinh tế. Những nhà “trọng thương”, cổ xúy mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế với những nước vốn không có truyền thống dân chủ, cho rằng quá trình hội nhập toàn cầu hóa sẽ dần dần đưa ý thức dân chủ đến những nước từng theo chủ nghĩa cộng sản như Trung Quốc, Liên bang Nga hay Việt Nam chẳng hạn, hay những nước vốn quen thói độc tài như Miến Điện, Zimbabwe. Cũng có một trường phái lý luận rằng tập trung vào phát triển kinh tế không nhất thiết đưa đến “diễn tiến hòa bình”. Mở rộng giao thương và đầu tư vào những nước có máu độc tài để thúc đẩy dân chủ chỉ là một cách ngụy biện của những con quái vật “đa quốc gia” đang muốn làm giàu ở những nước mở ra nhiều cơ hội như những nước “kinh tế đang trỗi dậy”. Thực tế cho thấy trong thời đại ngày nay, cấm vận là chuyện không thể có, trong khi đó việc đầu tư của những nước tư bản phương tây hay Nhật Bản hay Đài Loan chẵng hạn vào những nước như Nga, Trung Quốc, Việt Nam… chỉ làm củng cố “giai cấp mới” trong nền kinh tế thị trường có thuộc tính mafia ở những nước này. Trước thực tế đó, những người chống Trung Quốc lại càng nhìn Thế Vận Hội với sự hằn học.
Năm nay, thêm một lần nữa lịch sử Trung Quốc đàn áp nguyện vọng độc lập của người dân Tây Tạng lại có thêm một niên hiệu. Có thể lợi dụng việc Trung Quốc đứng ra tổ chức Thế Vận Hội với những lời hứa tôn trọng nhân quyền, dân quyền của Bắc Kinh, những người chống đối ở Tây Tạng, trong đó có những nhà sư, đã xuống đường ở nhiều nơi. Nhà cầm quyền Trung Quốc đã đàn áp thẳng tay, bởi vì họ chủ trương phải dẹp ngay từ trong trứng nước những phong trào của những dân tộc và địa phương đòi độc lập, ly khai, như Kosovo tách ra khỏi Serbia chẳng hạn. Sự lên án mạnh mẽ của thế giới đã làm người ta tưởng Tổng thống Mỹ, Tổng thống Pháp… sẽ không đến dự Thế Vận Hội, nhưng rốt cuộc hai khuôn mặt lớn vắng mặt là Thủ tướng Đức Angela Merkel và Thủ tướng Anh Gordon Brown. Trong thực tế, một số chính sách đối ngoại của Trung Quốc đã bị phê phán, nhưng phản ảnh cách nhìn của họ về lợi ích “bá quyền” của Trung Quốc. Họ có hai nước đệ tử trung thành: Miến Điện và Bắc Hàn. Trong ý đồ mở rộng thanh thế của một “Chinafrique” (châu phi của người Hoa), họ đã im lặng trong những vụ đàn áp và tàn sát ở Zimbabwe và Sudan. Ngay ở vùng biển đông, nơi có tranh chấp về lãnh hải và các hải đảo giữa các nước Đài Loan, Phi Luật Tân, Việt Nam, Brunei, Indonesia… Trung Quốc có khuynh hướng muốn dùng sức mạnh hải quân của mình để đe dọa các nước trong vùng, chẳng cho công ty nước ngoài nào làm ăn.
Thế kỷ của Trung Quốc
Tác giả John Hoberman viết trên Tạp chí Foreign Policy nhiều uy tín rằng Thế Vận Hội được thành lập để bắc những nhịp cầu nối liền các nền văn hóa khác biệt và quảng bá hòa binh. “Thay vì thế, chúng thường che đậy những sự vi phạm nhân quyền, chẳng làm nên mấy những chuyển biến chính trị, và còn tạo thế hợp pháp cho những chính phủ vô đạo.” Trong một bài phân tích phê phán nặng nề Ủy ban Thế Vận Hội Quốc tế (IOC), ông nói rằng có một loạt những thế vận hội được quyết định dành cho những chế độ bạo quyền môt thời, như Đức năm 1934, Mexico 1968, Moscow năm 1980, Hán Thành năm 1988… Nêu lên câu hỏi Thế Vận Hội có xúc tiến nhân quyền không, ông cho rằng IOC luôn luôn lấy lý do này để biện minh quyết định lựa chọn địa điểm cho Thế Vận Hội, nhưng không bao giờ những nước tổ chức lại nhớ đến lời hứa sẽ cải thiện tình hình nhân quyền của họ. Ông cũng bác bỏ lý luận cho rằng Thế Vận Hội là chất xúc tác để thay đổi. Trước một câu hỏi khác là Thế Vận Hội là cơ hội làm tiền, ông lý luận rằng nó không hẳn là dịp cho nước chủ nhà thúc đẩy được tiến bộ kinh tế mà chính là cơ hội làm tiền của IOC, thu tiền quảng cáo từ những nhà tư bản trong ngành truyền hình cũng như những công ty lớn cần quảng cáo dịch vụ sản phẩm như Coca Cola, Wal-Mart, Microsoft… Từ đó ông đưa đến một kết luận rùng rợn “The IOC Is Corrupt” – IOC tham nhũng cho nên lựa chọn nơi tổ chức là để tối đa hóa lợi nhuận hơn là theo những mục tiêu cao đẹp của Thế Vận Hội. Những kết luân khác: Thế Vận Hội Bắc Kinh là TVH gây tranh luận nhiều nhất cho đến nay, và TVH không phải là một truyền thống “rạng rỡ” như người ta có thể nói trong bài diễn văn khai mạc.
Tuy nhiên, xét cho cùng, Trung Quốc với sự lớn mạnh của nó từ một tình trạng lạc hậu và chính trị kinh hoàng dưới thời Cách mạng Văn hóa, đáng được tổ chức TVH. Sự thực là Trung Quốc đã làm nên chuyện phi thường – những chuyện mà lý thuyết phát triển kinh tế cổ điển của những tác giả như Eugene Staley, Hla Myint, Arthur Lewis hay John Kenneth Galbraith không hề tưởng đến. Họ đã làm cho những lý luận xem gánh nặng dân số như một sức cản trở phát triển trở nên lạc hậu. Người ta nói rằng chỉ trong 30 năm nữa, nền kinh tế của Trung Quốc theo Tổng sản lượng Quốc nội (GDP) sẽ lớn nhất thế giới – qua mặt cả Hoa Kỳ. Bởi thế mà người ta nói rằng thế kỷ 21 là của châu Á, của Trung Quốc.
Người ta nói rằng Trung Quốc muốn đứng ra tổ chức TVH để phô trương với cả thế giới sự lớn mạnh của họ. Trong cả hai thế kỷ, đất nước to lớn này đã mắc phải nỗi đau của một đế chế suy tàn, bị liệt cường xâu xé. Ngay cả một nước nhỏ như Nhật Bản cũng ăn hiếp được Trung Quốc. Một đất nước to lớn như thế, chiếm diện tích gần hết châu Á, dân số thời đó chiếm đến ¼ dân số thế giới, mà phải cúi đầu, không ngẩng mặt lên được. Tuy nhiên, cũng có những nhà lý luận bài bác quan điểm đó. Những gì Trung Quốc muốn thế giới thấy, người ta đều đã thấy. Những gì Trung Quốc không muốn người ta thấy, người ta cũng thấy.
Như vậy, Trung Quốc muốn gì qua việc đầu tư rộn ràng cho TVH Bắc Kinh?
Theo bình luận của tờ New York Times, những người lãnh đạo Trung Quốc làm TVH này là cho người dân nước họ hơn là cho thế giới. Người cầm quyền muốn nhắc nhở cho người dân hiểu rằng những người lãnh đạo này là sự lựa chọn tốt nhất mà Trung Quốc nay mới có được. Họ muốn cho ngưòi dân trong nước thấy dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản cầm quyền, nước Trung Quốc đã trở nên hùng mạnh, lẫy lừng trên thế giới, quốc tế đều nể sợ. Họ đã khéo léo huy động sự ủng hộ của người dân bằng cách kích thích lòng tự ái dân tộc của một nước Đại Hán, kích động tinh thần dân tộc chủ nghĩa và lòng ái quốc – đủ để cho người ta không tìm cách nhìn vào chế độ để thách đố trật tự hiện hữu. Xét cho cùng, đâu đâu trên thế giới này người ta cũng thấy sự bất toại với lãnh đạo, và đâu đâu người ta cũng đang kêu gọi lòng ái quốc để cho người ta không soi mói nhìn đến người lãnh đạo nữa mà chỉ làm cho người dân gắn bó với chế độ qua sự kích thích lòng tự ái dân tộc. Chẳng có gì lạ khi người ta có khi cần đến chiến tranh để giải quyết những vấn dề nội bộ.
Hiểu như thế, thì ta cũng nên ủng hộ TVH. Dù sao nó cũng là dịp vui chơi. Dịp tranh tài. Một dịp cho người ta hiểu nhau hơn, hiểu điều tốt cũng như điều xấu. Bánh xe lịch sử đã quay, nên để cho nó đi tới! (HNN)

Trung Quốc muốn chiến tranh với Việt Nam?
Tác giả: Hồ Gươm
Thời gian gần đây mối tình hữu nghị núi liền núi sông liền sông vốn được tô vẽ trang điểm kỹ lưỡng, được đảm bảo bằng 16 chữ vàng giữa Việt Nam và Trung Quốc bỗng trở nên căng thẳng thấy rõ qua hàng loạt những sự kiện đã và đang sảy ra và được những hãng thông tấn nổi tiếng trên thế giới liên tục đưa tin, bài bình luận mà có lẽ gần gũi với người Việt chúng ta hơn cả là đài RFA cũng như đài BBC. Điều đáng ngạc nhiên ở chỗ, hơn 800 tờ báo và đủ loại các phương tiện truyền thông khác của Việt Nam hầu như chẳng đưa ra được một nguồn tin nào có giá trị đáng kể khả dĩ làm cho đông đảo tầng lớp quần chúng nhân dân Việt nam ở trong nước hiểu rõ hơn những sự kiện nghiêm trọng đang xảy ra ngày một thường xuyên để họ có thể hình dung được một bức tranh toàn cảnh sát với thực tế ảm đạm hơn ngoài những mẩu tin ngắn ngủi, rời rạc về hiện tượng Tàu ...lạ xâm hại lãnh hải, bắn giết, cướp phá tàu thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam.
Chúng ta cũng thường được nghe giới truyền thông quốc tế đưa tin về việc kiểm soát thông tin hết sức ngặt nghèo của chính quyền Trung Quốc thậm chí họ còn sẵn sàng bỏ tiền ra tuyển lựa một lực lượng hùng hậu để làm công tác hướng dẫn và tạo dư luận quần chúng, mỗi bài viết thuộc thể loại này được chính quyền Trung Quốc trả 50 xu tiền thưởng. Như vậy chúng ta có thể hiểu mà không sợ sai rằng những bài viết, những bàn luận được đăng tải trên những trang mạng nổi tiếng nhất ở Trung Quốc là những tấm gương phản ánh lại quan điểm của giới cầm quyền Trung Quốc thông qua những nội dung được đề cập đến ở trong những bài viết đó.
Tôi thật sự choáng váng khi cưỡi ngựa xem hoa qua 1 vài trang báo mạng của họ vì trong đó tràn ngập những bài viết kích động, cổ vũ cho một cuộc chiến tranh không khoan nhượng với Việt Nam, hình ảnh của Việt Nam bị bóp méo một cách rất lố bịch để phục vụ cho mục đích phát động cuộc chiến tranh này, có những tác giả không ngần ngại lớn tiếng kêu gọi chính quyền của họ cần sử dụng vũ khí Nguyên Tử để xóa sổ Việt Nam ra khỏi bản đồ hành chính thế giới.
Kinh nghiệm cho thấy, mỗi khi một cuộc chiến tranh thật sự bùng nổ thì trước đó bao giờ cuộc chiến tranh tâm lý cũng được phát động rộn rã và phải chăng thông điệp của những bài viết gần đây được phổ biến công khai và rộng rãi trên mạng lưới truyền thông của Trung Quốc chính là dấu hiệu cho chúng ta thấy chính quyền Trung Quốc đã bắt đầu phát động cuộc chiến tranh tâm lý đó?
Một số bài viết của báo chí Trung Quốc trong thời gian gần đây:
Kêu gọi phát động một cuộc chiến tranh ngay lập tức với Việt Nam
Những tham vọng không cần dấu diếm
Một bài viết khác cần tham khảo
Một bài kích động khác
Những bài viết được giật bằng những cái Tít rất giật gân:
我们迫切需要战争吗? ( Chúng ta cần gấp chiến tranh?)
中国准备彻底拿下越南 ( Trung Quốc đã sẵn sàng đánh chiếm toàn bộ VN)
中国军事进攻越南A计划!只此一战,天下可定!
( Quân Đội Trung Quốc hãy dùng Phương án A để tấn công VN! Cuộc chiến này sẽ quyết định thế giới!)
曾宪梓表示:"从今以后中国人不会被越南欺负了!
Đặng Tiểu Bình chỉ rõ: Từ nay TQ sẽ không còn bị VN đe dọa!
对越战争的战略选择
( Chiến Tranh với VN, sự lựa chọn chiến lược!)
越南加紧调整军力部署试图进一步控制南沙岛礁
海军应蓄势待发:准备第二次对越自� �反击战!

