Bình Luận Thời Sự
Trung Quốc Mong Ai Làm Tổng Thống Hoa Kỳ?
Tác giả: Nguyễn Văn Khanh
Ngay từ những ngày đầu tiên của vòng sơ bộ, chỉ nhìn vào danh sách ứng viên hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa không thôi cũng đã có thể đoán được ai là người Trung Quốc mong sẽ trở thành tân tổng thống Hoa Kỳ ở nhiệm kỳ tới.
Trong danh sách gần 20 ông cộng với một bà đã có, Dân Biểu Kucinich và ông cựu Thị Trưởng Rudy Guiliani của cánh Cộng Hòa chắc chắn là những người Bắc Kinh gạch sổ đầu tiên. Ông dân biểu đại diện cho tiểu bang Ohio từng lên tiếng chỉ trích Bắc Kinh về nhân quyền, và có ý muốn ngăn cản không cho Hoa Lục những dễ dãi về thương mại khi đưa hàng vào thị trường Mỹ. Ông cựu thị trưởng thành phố New York cũng thế, có lập trường rất cứng rắn về tự do phát biểu tư tưởng và tự do tôn giáo, được thể hiện rõ qua những bài nói chuyện của ông sau biến biến cố 11 Tháng Chín 2001. Ðương nhiên người có lập trường như vậy không phải là người Bắc Kinh mong.
Ông John McCain của đảng Cộng Hòa thì sao? Có lẽ Bắc Kinh chẳng bao giờ muốn thấy vị nghị sĩ của tiểu bang Arizona làm chủ Tòa Bạch Ốc. Ngoài những lời tuyên bố bày tỏ thái độ gay gắt đối với các hành dộng Trung Quốc đã làm với người dân Tây Tạng và với các nhà bất đồng chính kiến, giới lãnh đạo Bắc Kinh còn mường tượng ra cảnh ông McCain quyết định tăng cường sức mạnh của quân đội ở nhiều khu vực, trong đó có vùng Châu Á mà ông đã phục vụ thời trai trẻ, và cũng không phải là chính trị gia chủ trương thị trường mậu dịch tự do phải đi đôi với công bằng cho cả hai phía. Dưới con mắt chính trị, ông McCain chẳng bao giờ xem Hoa Lục là “Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc”, vì từ khi chưa tham gia chính trường ông đã coi quốc gia đông dân nhất thế giới là “Cộng Sản Trung Hoa”.
Bên đảng Dân Chủ, ngay khi cuộc “đối đầu chính trị” giữa hai ứng viên Hillary Clinton và Barack Obama đang tạo sôi nổi khắp thế giới, những nhà lãnh đạo Bắc Kinh dù luôn luôn theo đúng chủ trương “không bình luận gì về chuyện chính trị nội bộ của quốc gia khác” nhưng trong lòng, có lẽ, họ mong thấy bà Clinton thành công. Từ những năm cuối thế kỷ 20, ông bà Clinton đã là người được dân chúng Hoa Lục mến mộ, cũng là người được giới lãnh đạo Trung Quốc quý trọng. Dưới thời Tổng Thống Bill Clinton, năm nào Trung Quốc cũng được hưởng quy chế mậu dịch, được đảm bảo vào WTO, và chính ông Clinton âm thầm vận động cũng như công khai ủng hộ để Bắc Kinh được chọn tổ chức Thế Vận Hội 2008. Ông Clinton đã là “người bạn tốt của nhân dân Hoa Lục”, các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện giờ đương nhiên muốn thấy - và tin - bà Clinton sẽ đi theo bước của chồng.
Nhưng cũng không thể bỏ qua những lời tuyên bố bà Clinton đã đưa ra lúc còn ở cương vị một ứng viên hy vọng sẽ được đảng Dân Chủ đề cử tranh chức tổng thống. Bà nhắc lại cách đây 10 năm đã đến Hoa Lục, đã đọc bài diễn văn nói về nữ quyền trước khi hứa hẹn “sẽ trình bày thẳng thắn với Bắc Kinh về tình trạng nhân quyền, về những hoạt động kinh tế và những trở ngại khác mà Hoa Kỳ phải đương đầu khi thảo luận trực tiếp với Trung Quốc”. Cũng chính bà nói “phải tìm cách cân bằng ngân sách” để tranh vay nợ của Hoa Lục, và cảnh báo “nếu không thực hiện những kế hoạch về ngân sách ngay trong lúc này, chúng ta sẽ gặp khó khăn hơn khi nói chuyện với Bắc Kinh, vì họ tiếp tục có lợi thế hơn chúng ta”. Rõ ràng bà muốn cho cử tri Mỹ thấy hình ảnh của một “Iron Lady” ngồi ở Phòng Bầu Dục.
Ông Obama thì sao? Trong những cuộc tranh luận trên T.V., vị nghị sĩ da mầu của tiểu bang Illinois đã trình bày quan điểm của ông về Trung Quốc, cho dù theo nhận xét của những quan sát viên chính trị những quan điểm ông Obama đưa ra không cứng rắn lắm, nhưng vẫn đủ để ông Hồ Cẩm Ðào và các ủy viên Bộ Chính Trị phải quan tâm. Về môi trường, ông Obma từng bảo “không khí ô nhiễm ở Hoa Lục sẽ có ngày bay sang đến đất Mỹ”, trách nhiệm của Washington là phải làm việc với Bắc Kinh để ngăn chận không cho điều đó xảy ra. Cũng có lần ông Obama đề nghị chính phủ áp dụng biện pháp cứng rắn với các món hàng nhập khẩu từ Hoa Lục “như đồng minh Nhật Bản của chúng ta đang làm”. Ông còn bảo: “chúng ta nên nói thẳng với họ rằng nếu họ không cải thiện, không theo đúng quy định về an toàn thực phẩm Hoa Kỳ đặt ra, nước Mỹ sẽ ngưng nhập khẩu hàng sản xuất từ Trung Quốc”.
Tóm lại, tất cả các ứng viên tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ đều đã đưa ra nhận định, quan điểm của họ về Trung Quốc và những gì cần phải làm ngay sau khi tuyên thệ nhậm chức vào đầu năm tới. Dựa vào đó chúng ta có thể đoán biết ai là người giới cầm quyền Bắc Kinh mong sẽ trở thành chủ nhân mới của Tòa Bạch Ốc.
Trước hết, các ứng viên Cộng Hòa đều không phải là người Bắc Kinh chờ đợi. Lịch sử cho thấy Tổng Thống Cộng Hòa Richard Nixon là người đã mở một kỷ nguyên ngoại giao mới cho Hoa Lục khi ông bắt tay với lãnh tụ Mao Trạch Ðông, nhưng cũng chính lịch sử cho mọi người thấy các vị tổng thống Cộng Hòa sau đó đều có một chính sách cứng rắn với Trung Quốc. Ở diễn đàn Thượng Viện Liên Bang, ông McCain là người từng lên án Bắc Kinh một cách khắt khe, khi tranh cử quảng cáo vận động của ông có đưa hình ông đang dìu Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, vị lãnh đạo tinh thần của nhân dân Tây Tạng. Những điều ông McCain đã nói, những gì ông McCain đã làm khiến cho Hoa Lục phải e ngại vì nhỡ ông này trở thành tân tổng thống Mỹ thì sao?
Liệu Bắc Kinh có muốn ông Obama trở thành người lãnh đạo nước Mỹ không? Chưa chắc. Ông Obama là một nhân vật vẫn còn quá mới với thế giới - trong đó có cả Trung Quốc - do đó chưa thể biết chắc chắn kế hoạch ngoại giao của ông sẽ như thế nào, và đến bây giờ ngay chính cử tri Hoa Kỳ cũng chưa biết rõ những điểm nào sẽ được ông coi là quan trọng khi hoạch định chính sách đối ngoại với Bắc Kinh. Ðương nhiên Trung Quốc không thích và cũng không muốn phải tiếp xúc với những người “chưa rõ nét” như vậy.
Chỉ còn mỗi mình Bà Clinton, nhân vật Bắc Kinh xem là “dễ làm việc chung” nhất. Những người đang điều khiển chính trường Hoa Lục tin bà là người thực tiễn, thận trọng và tính toán kỹ lưỡng khi phải đưa ra một quyết định đối với họ. Giới lãnh đạo Bắc Kinh cũng biết chưa hẳn bà đã là “người bạn tốt” như họ mong đợi, nhưng ít ra bà sẽ không có những quyết định khiến quan hệ đôi bên trở thành căng thẳng. Họ cũng biết bà Clinton hãnh diện là người được nhân dân Hoa Lục quý mến và trong vai trò của một vị tổng thống Hoa Kỳ, Bà sẽ không làm những gì để mất cảm tình mà nhân dân Trung Quốc đang dành cho bà.
Rất tiếc, bây giờ không còn bà Clinton trong cuộc chạy đua tiến về Tòa Bạch Ốc nữa. Chỉ còn có 2 người: một ông McCain với lập trường cứng rắn, một ông Obama với chính sách ngoại giao chưa rõ rệt. Cả hai đều không nằm trong danh sách ứng viên được cảm tình với giới lãnh đạo Bắc Kinh, dù họ hiểu sớm muộn gì bắt buộc phải “làm việc” với một trong hai ông, và không có chọn lựa nào khác.
Tác giả: Nguyễn Văn Khanh
Ngay từ những ngày đầu tiên của vòng sơ bộ, chỉ nhìn vào danh sách ứng viên hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa không thôi cũng đã có thể đoán được ai là người Trung Quốc mong sẽ trở thành tân tổng thống Hoa Kỳ ở nhiệm kỳ tới.
Trong danh sách gần 20 ông cộng với một bà đã có, Dân Biểu Kucinich và ông cựu Thị Trưởng Rudy Guiliani của cánh Cộng Hòa chắc chắn là những người Bắc Kinh gạch sổ đầu tiên. Ông dân biểu đại diện cho tiểu bang Ohio từng lên tiếng chỉ trích Bắc Kinh về nhân quyền, và có ý muốn ngăn cản không cho Hoa Lục những dễ dãi về thương mại khi đưa hàng vào thị trường Mỹ. Ông cựu thị trưởng thành phố New York cũng thế, có lập trường rất cứng rắn về tự do phát biểu tư tưởng và tự do tôn giáo, được thể hiện rõ qua những bài nói chuyện của ông sau biến biến cố 11 Tháng Chín 2001. Ðương nhiên người có lập trường như vậy không phải là người Bắc Kinh mong.
Ông John McCain của đảng Cộng Hòa thì sao? Có lẽ Bắc Kinh chẳng bao giờ muốn thấy vị nghị sĩ của tiểu bang Arizona làm chủ Tòa Bạch Ốc. Ngoài những lời tuyên bố bày tỏ thái độ gay gắt đối với các hành dộng Trung Quốc đã làm với người dân Tây Tạng và với các nhà bất đồng chính kiến, giới lãnh đạo Bắc Kinh còn mường tượng ra cảnh ông McCain quyết định tăng cường sức mạnh của quân đội ở nhiều khu vực, trong đó có vùng Châu Á mà ông đã phục vụ thời trai trẻ, và cũng không phải là chính trị gia chủ trương thị trường mậu dịch tự do phải đi đôi với công bằng cho cả hai phía. Dưới con mắt chính trị, ông McCain chẳng bao giờ xem Hoa Lục là “Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc”, vì từ khi chưa tham gia chính trường ông đã coi quốc gia đông dân nhất thế giới là “Cộng Sản Trung Hoa”.
Bên đảng Dân Chủ, ngay khi cuộc “đối đầu chính trị” giữa hai ứng viên Hillary Clinton và Barack Obama đang tạo sôi nổi khắp thế giới, những nhà lãnh đạo Bắc Kinh dù luôn luôn theo đúng chủ trương “không bình luận gì về chuyện chính trị nội bộ của quốc gia khác” nhưng trong lòng, có lẽ, họ mong thấy bà Clinton thành công. Từ những năm cuối thế kỷ 20, ông bà Clinton đã là người được dân chúng Hoa Lục mến mộ, cũng là người được giới lãnh đạo Trung Quốc quý trọng. Dưới thời Tổng Thống Bill Clinton, năm nào Trung Quốc cũng được hưởng quy chế mậu dịch, được đảm bảo vào WTO, và chính ông Clinton âm thầm vận động cũng như công khai ủng hộ để Bắc Kinh được chọn tổ chức Thế Vận Hội 2008. Ông Clinton đã là “người bạn tốt của nhân dân Hoa Lục”, các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện giờ đương nhiên muốn thấy - và tin - bà Clinton sẽ đi theo bước của chồng.
Nhưng cũng không thể bỏ qua những lời tuyên bố bà Clinton đã đưa ra lúc còn ở cương vị một ứng viên hy vọng sẽ được đảng Dân Chủ đề cử tranh chức tổng thống. Bà nhắc lại cách đây 10 năm đã đến Hoa Lục, đã đọc bài diễn văn nói về nữ quyền trước khi hứa hẹn “sẽ trình bày thẳng thắn với Bắc Kinh về tình trạng nhân quyền, về những hoạt động kinh tế và những trở ngại khác mà Hoa Kỳ phải đương đầu khi thảo luận trực tiếp với Trung Quốc”. Cũng chính bà nói “phải tìm cách cân bằng ngân sách” để tranh vay nợ của Hoa Lục, và cảnh báo “nếu không thực hiện những kế hoạch về ngân sách ngay trong lúc này, chúng ta sẽ gặp khó khăn hơn khi nói chuyện với Bắc Kinh, vì họ tiếp tục có lợi thế hơn chúng ta”. Rõ ràng bà muốn cho cử tri Mỹ thấy hình ảnh của một “Iron Lady” ngồi ở Phòng Bầu Dục.
Ông Obama thì sao? Trong những cuộc tranh luận trên T.V., vị nghị sĩ da mầu của tiểu bang Illinois đã trình bày quan điểm của ông về Trung Quốc, cho dù theo nhận xét của những quan sát viên chính trị những quan điểm ông Obama đưa ra không cứng rắn lắm, nhưng vẫn đủ để ông Hồ Cẩm Ðào và các ủy viên Bộ Chính Trị phải quan tâm. Về môi trường, ông Obma từng bảo “không khí ô nhiễm ở Hoa Lục sẽ có ngày bay sang đến đất Mỹ”, trách nhiệm của Washington là phải làm việc với Bắc Kinh để ngăn chận không cho điều đó xảy ra. Cũng có lần ông Obama đề nghị chính phủ áp dụng biện pháp cứng rắn với các món hàng nhập khẩu từ Hoa Lục “như đồng minh Nhật Bản của chúng ta đang làm”. Ông còn bảo: “chúng ta nên nói thẳng với họ rằng nếu họ không cải thiện, không theo đúng quy định về an toàn thực phẩm Hoa Kỳ đặt ra, nước Mỹ sẽ ngưng nhập khẩu hàng sản xuất từ Trung Quốc”.
Tóm lại, tất cả các ứng viên tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ đều đã đưa ra nhận định, quan điểm của họ về Trung Quốc và những gì cần phải làm ngay sau khi tuyên thệ nhậm chức vào đầu năm tới. Dựa vào đó chúng ta có thể đoán biết ai là người giới cầm quyền Bắc Kinh mong sẽ trở thành chủ nhân mới của Tòa Bạch Ốc.
Trước hết, các ứng viên Cộng Hòa đều không phải là người Bắc Kinh chờ đợi. Lịch sử cho thấy Tổng Thống Cộng Hòa Richard Nixon là người đã mở một kỷ nguyên ngoại giao mới cho Hoa Lục khi ông bắt tay với lãnh tụ Mao Trạch Ðông, nhưng cũng chính lịch sử cho mọi người thấy các vị tổng thống Cộng Hòa sau đó đều có một chính sách cứng rắn với Trung Quốc. Ở diễn đàn Thượng Viện Liên Bang, ông McCain là người từng lên án Bắc Kinh một cách khắt khe, khi tranh cử quảng cáo vận động của ông có đưa hình ông đang dìu Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, vị lãnh đạo tinh thần của nhân dân Tây Tạng. Những điều ông McCain đã nói, những gì ông McCain đã làm khiến cho Hoa Lục phải e ngại vì nhỡ ông này trở thành tân tổng thống Mỹ thì sao?
Liệu Bắc Kinh có muốn ông Obama trở thành người lãnh đạo nước Mỹ không? Chưa chắc. Ông Obama là một nhân vật vẫn còn quá mới với thế giới - trong đó có cả Trung Quốc - do đó chưa thể biết chắc chắn kế hoạch ngoại giao của ông sẽ như thế nào, và đến bây giờ ngay chính cử tri Hoa Kỳ cũng chưa biết rõ những điểm nào sẽ được ông coi là quan trọng khi hoạch định chính sách đối ngoại với Bắc Kinh. Ðương nhiên Trung Quốc không thích và cũng không muốn phải tiếp xúc với những người “chưa rõ nét” như vậy.
Chỉ còn mỗi mình Bà Clinton, nhân vật Bắc Kinh xem là “dễ làm việc chung” nhất. Những người đang điều khiển chính trường Hoa Lục tin bà là người thực tiễn, thận trọng và tính toán kỹ lưỡng khi phải đưa ra một quyết định đối với họ. Giới lãnh đạo Bắc Kinh cũng biết chưa hẳn bà đã là “người bạn tốt” như họ mong đợi, nhưng ít ra bà sẽ không có những quyết định khiến quan hệ đôi bên trở thành căng thẳng. Họ cũng biết bà Clinton hãnh diện là người được nhân dân Hoa Lục quý mến và trong vai trò của một vị tổng thống Hoa Kỳ, Bà sẽ không làm những gì để mất cảm tình mà nhân dân Trung Quốc đang dành cho bà.
Rất tiếc, bây giờ không còn bà Clinton trong cuộc chạy đua tiến về Tòa Bạch Ốc nữa. Chỉ còn có 2 người: một ông McCain với lập trường cứng rắn, một ông Obama với chính sách ngoại giao chưa rõ rệt. Cả hai đều không nằm trong danh sách ứng viên được cảm tình với giới lãnh đạo Bắc Kinh, dù họ hiểu sớm muộn gì bắt buộc phải “làm việc” với một trong hai ông, và không có chọn lựa nào khác.

Bầu Cử Mỹ Trước Trận Chung Kết Mọi con mắt đang đổ dồn về Denver và Minneapolis để chờ đón đại hội toàn quốc đảng Dân chủ và đảng Cộng hoà chính thức chọn người đại diện đảng ra tranh cử tổng thống. Trước cuộc đua chung kết, TNS John McCain bất ngờ vượt lên dẫn điểm đối thủ Dân chủ Barack Obama do sự tin tưởng của cử tri về kinh nghiệm, đối ngoại, an ninh quốc gia và điều hành kinh tế.
Đảng Dân chủ sẽ họp đại hội toàn quốc tại Denver, Colorado từ 25/8 đến ngày 28/8 để khẳng định ứng viên tham gia đường đua song mã và hàn gắn những vết thương có từ cuộc cạnh tranh dữ dội trong giai đoạn bầu cử sơ bộ giữa Barack Obama và Hillary Clinton.
Đảng Cộng hòa sẽ tiến hành đại hội toàn quốc ở Minneapolis và chính thức chỉ định John McCain là ứng viên Tổng thống từ ngày 1 đến 4 tháng 9.
Tại sao J. McCain vượt lên?
Bước vào giai đoạn này, TNS McCain đang giành ưu thế. Theo kết quả thăm dò chung do Reuters/Zogby công bố ngày 20/8, ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng hòa đã bất ngờ vượt lên dẫn trước 5 điểm so với đối thủ từ đảng Dân chủ về số cử tri ủng hộ (46% so với 41%) và ông cũng được cử tri công nhận là người quản lý nền kinh tế tốt hơn ứng viên Obama.
Đây được coi là “sự thay đổi đột ngột” bởi suốt một thời gian dài TNS da màu vẫn luôn dẫn điểm TNS đảng Cộng hòa với tỉ lệ cách biệt 7 – 12%.
Sự đảo ngược bất ngờ này là kết quả một tháng nỗ lực của TNS McCain trong cuộc “tấn công” vào sự thiếu kinh nghiệm của đối thủ, chỉ trích quan điểm thiếu nhất quán của ông Obama đối với một số vấn đề mới phát sinh, cũng như chế diễu chuyến công du nước ngoài đánh bóng tên tuổi cá nhân của ông.
Hai tuần trước, khi ứng viên Obama có một kỳ nghỉ kéo dài một tuần ở Hawaii, thì TNS McCain tranh thủ nắm bắt cơ hội Nga đưa quân vào Gruzia để nhấn mạnh các quan điểm về chính sách đối ngoại, khẳng định sự vượt trội của mình so với đối thủ trong lĩnh vực này.
Ngay sau khi biết tin chiến sự nổ ra tại Gruzia (8/8), ứng cử viên đảng Cộng hoà đã có những tuyên bố cứng rắn phản đối hành động quân sự của Nga, trước cả khi Tổng thống G. Bush đưa ra quan điểm chính thức về sự kiện này. Ông McCain kêu gọi nước Mỹ cần có phản ứng cứng rắn, đồng thời yêu cầu triển khai lực lượng gìn giữ hoà bình quốc tế của NATO tại Nam Ossetia, Mỹ phải bắt tay với Azerbaijan, Thổ Nhĩ Kỳ và các nước đồng minh khác nhằm củng cố an ninh cho đường ống dẫn khí Baku-Tbilissi-Ceyhan.
Trong khi đó, TNS Obama cũng lên án hành động tiến công quân sự của Nga vào Gruzia nhưng lời lẽ khá nhẹ nhàng và chung chung: “Tôi lên án mạnh mẽ các hành động bạo lực đang nổ ra ở Gruzia và kêu gọi ngừng ngay lập tức xung đột vũ trang”.
Trên mặt trận kinh tế, mối quan tâm hàng đầu của 58% cử tri Mỹ, vốn là lĩnh vực thế mạnh của ứng viên Obama, cũng bị TNS McCain “chiếm lĩnh”. 49% cử tri Mỹ cho rằng ứng cử viên Cộng hoà sẽ là người quản lý kinh tế tốt hơn so với 40% đứng về phía TNS Obama.
Một cuộc khảo sát mới đây của hãng Reuters cũng cho kết quả nghiêng về TNS McCain khi có tới 21/29 chuyên gia kinh tế đến từ các tổ chức tài chính Mỹ và một số tên tuổi nổi tiếng ở Phố Wall khẳng định ông làm tổng thống sẽ tốt hơn cho thị trường chứng khoán Mỹ trong năm đầu tiên sau cuộc bầu cử, trong khi chỉ 6 người chọn ông Obama và 2 người không trả lời câu hỏi này.
Như vậy, TNS Obama đã tự đánh mất phần sân của mình khi ông tỏ ra là người không quyết đoán, hay thay đổi trong khi thảo luận về vấn đề năng lượng.
TNS McCain, cựu tù nhân chiến tranh Việt Nam, người từng thừa nhận thiếu kinh nghiệm về quản lý kinh tế, đã ủng hộ chính sách của chính quyền Bush trong việc mở rộng khai thác dầu khí ngoài khơi nước Mỹ trong bối cảnh giá xăng dầu thế giới đang leo thang chóng mặt.
Trong khi đó, Thượng nghị sĩ Obama phản đối kế hoạch này. Tuy nhiên, gần đây, ông Obama đã thay đổi lập trường khi cho biết sẽ ủng hộ kế hoạch mở rộng khai thác dầu khí ở lãnh hải của Mỹ nhưng ở mức độ có giới hạn. Đây là một trong vài chuyển hướng gần đây về chính sách của ông Obama. Tuy nhiên, các chuyên gia phân tích cho rằng, những thay đổi này có thể đã khiến sự ủng hộ của các cử tri Mỹ dành cho ông giảm sút, đặc biệt là trong các thành viên đảng Dân chủ và những cử tri độc lập.
“Lập trường không vững của ông Obama đã làm tổn thương hình ảnh của ông trước những cử tri tự do”, nhà phân tích chính trị John Zogby nhận định.
Nhiều người Mỹ, trong đó có số lớn cử tri Dân chủ vẫn còn tỏ thái độ hoài nghi về thượng nghị sỹ da màu. Một số nhìn nhận ông là người quá trẻ và thiếu kinh nghiệm trong một thế giới đầy nguy hiểm. Số khác lại cho rằng bản thân ông chưa đủ hấp dẫn người khác và xa cách với dân nghèo. Không ít người lại đặt câu hỏi về lòng yêu nước của ông. Ông hay thay đổi quan điểm về một số vấn đề quan trọng gần đây như: kiểm soát súng, Mỹ nên hay không nên nói chuyện với Iran và Syria. Hay những vấn đề ít quan trọng hơn như: có nên đeo huy hiệu có cờ Mỹ… TNS Obama còn bị chỉ trích nặng nề về việc ông không dám đối đầu vì những lợi ích chung của người dân, quốc gia, đảng Dân chủ, như đối thủ McCain. Ông McCain đã có nhiều hành động quyết liệt, kể cả đối đầu với các thành viên kỳ cựu của đảng Cộng hoà, trong các vấn đề lớn như: vấn đề toàn cầu, cải cách tài chính trong tranh cử, nhập cư hay đạo luật về tra tấn tù nhân…
Sự ủng hộ dành cho TNS Obama trong đảng Dân chủ đã giảm 9 điểm trong tháng này, xuống còn 74%. Trong khi đó, TNS McCain đang giành được sự ủng hộ của 81% thành viên trong đảng Cộng hoà. Đáng buồn hơn, sự ủng hộ của các cử tri độc lập dành cho TNS bang Illinois cũng đã giảm 12 điểm so với một tháng trước đây.
Mặc dù ứng cử viên phó tổng thống hiếm khi ảnh hưởng tới kết quả bầu cử tổng thống, song việc lựa chọn người cùng liên danh là quyết định quan trọng nhất mà mỗi ứng cử viên tổng thống phải đưa ra, trước khi chính thức giành được sự đề cử của đảng, và quyết định này có thể cho thấy nhiều điều. Paul Light, giáo sư trường đại học New York, nói: “Đây là cơ hội để các ứng viên cho thấy họ biết cách lựa chọn”.
Việc ông Obama tuyên bố chọn Thượng nghị sĩ bang Delaware, Joseph Biden, làm người liên danh tranh cử đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi, nhưng cũng có không ít coi đây là một sự đặt cược đầy mạo hiểm.
Joseph Biden đáp ứng 3 tiêu chuẩn của Obama: sẵn sàng trở thành tổng thống, có khả năng giúp ông quản lý đất nước và chủ động phản biện những ý kiến của ông. Là Thượng nghị sĩ 6 nhiệm kỳ của Delaware, đương kim Chủ tịch Ủy ban Quan hệ Đối ngoại của Thượng viện, Biden có nhiều kinh nghiệm về chính sách đối ngoại, cái mà Obama rõ ràng thiếu. Thứ nữa, mặc dù xuất thân từ tầng lớp trung lưu nhưng nền tảng gia đình người Mỹ gốc Ireland cộng với cách bỏ phiếu ôn hoà, ủng hộ các hiệp hội đã giúp Biden được lòng các cử tri thuộc dân tộc thiểu số và tầng lớp lao động. Điểm này sẽ giúp Obama lấp chỗ trống thiếu sự ủng hộ của tầng lớp cử tri lao động. Hơn nữa, tính cách sôi nổi, bản lĩnh và có tài ăn nói thuyết phục, Biden sẽ hỗ trợ cho ứng viên Obama, vốn thường tỏ ra dè dặt và thận trọng trong các cuộc đối đầu chính trị căng thẳng.
Nhưng Biden, 65 tuổi, tuổi tác cũng như quá trình phục vụ lâu dài trên đồi Capitol có thể là đe doạ tiềm tàng đối với khẩu hiệu tranh cử của Obama là mang tới những đổi mới cho Washington. Biden đã thể hiện khả năng yếu kém trong các cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân chủ trong năm nay. Ông nổi tiếng là dông dài. Và ông vẫn bị soi mói bởi quyết định rút khỏi chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1988 sau khi bị phát hiện “sao chép” những lời lẽ trong bài diễn văn của một nhà lãnh đạo Công đảng Anh. Hơn nữa, chính Biden là người từng có những lời chỉ trích cay nghiệt nhất với sự thiếu kinh nghiệm và “ngây thơ về chính trị” của Obama.
Việc Obama chọn Biden làm bạn đồng hành sẽ dấy lên những ý kiến trái chiều. Người ta chỉ biết rõ tính hiệu quả của quyết định này khi cuộc tổng tuyển cử diễn ra vào tháng 11 tới.
Trong khi đó, ở phía đảng Cộng hoà, TNS John McCain dự định sẽ tuyên bố người đồng hành trong khoảng thời gian giữa đại hội đảng Dân chủ và trước đại hội đảng Cộng hoà. Nhiều người quả quyết, ông sẽ công bố danh tính “phó tướng” của mình vào ngày 28/8 khi ông bước sang tuổi 72. Hiện tại, có hai nhân vật sáng giá cho vị trí này, mỗi người có điểm yếu, mạnh riêng:
Thứ nhất, Mitt Romney, 61 tuổi, đối thủ lớn nhất của J. McCain trong các cuộc bầu cử sơ bộ, sẽ đem lại cho McCain kinh nghiệm về kinh tế và quản lý mà McCain không có. Romney được nhiều người ở Utah và Colorado yêu mến. Cha ông, George Romney, là cựu Thống đốc bang Michigan. Tuy nhiên, người ta vẫn nghi ngờ lập trường thay đổi của Romney đối với các vấn đề như nạo thai và quyền của người đồng tính khi ông từ bỏ các chính sách ôn hòa để ve vãn những người bảo thủ.
Thứ hai, Tim Pawlenty, Thống đốc bang Minnesota, có thể mang lại cho J. McCain sự ủng hộ của những người Cộng hòa bảo thủ và giúp McCain giành phiếu ở một bang đã ủng hộ cho các ứng cử viên đảng Dân chủ từ năm 1976. Lớn lên ở St. Paul, ông được biết tới như một người ủng hộ việc giảm thuế và ngân sách. Trong khi được đánh giá là một sự lựa chọn an toàn, Pawlenty ít được biết đến ở ngoài bang này.
Tính đến lúc này, chiến dịch tranh cử Tổng thống Mỹ đã trải qua 18 tháng với hàng tỷ đôla được đổ ra cho vận động cử tri và hiện giờ “phần thưởng” - chiếc ghế chủ Nhà Trắng - đã rất gần. Nhưng thời gian hai tháng tới cũng sẽ là giai đoạn quyết liệt nhất của tiến trình bầu cử. Dự kiến, sau khi chính thức được đề cử, ứng cử viên hai đảng sẽ chạm trán trong các cuộc tranh luận trực tiếp vào ngày 26/9, 7/10 và 15/10. Theo các nhà phân tích, những cuộc tranh luận như vậy sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của cử tri vào ngày tổng tuyển cử 4 tháng 11.
CSVN giải thích lý do thu thẻ hành nghề báo chí: Nguyên nhân chính là dám phản kháng
Tác giả: Blog phongCK Hà Nội - Sau khi bị dư luận trong nước cũng như hệ thống truyền thông ngoại quốc chỉ trích về việc thu hồi thẻ hành nghề của 7 nhà báo, hôm 22 Tháng Tám, Cục Báo Chí của Bộ Thông Tin Truyền Thông CSVN đã phát hành một thông báo giải thích về lý do thu hồi thẻ hành nghề của 7 nhà báo theo quyết định đã được Ðỗ Quý Doãn, thứ trưởng bộ này công bố hôm 1 Tháng Tám.
Thông báo cho biết, 7 nhà báo bị thu hồi thẻ hành nghề của 4 cơ quan báo chí là vì ba lý do khác nhau. Trừ hai nhà báo ở báo Người Cao Tuổi bị thu hồi thẻ nhà báo vì tham ô, đã bị điều tra khởi tố những nhà báo còn lại bị thu hồi thẻ hành nghề vì dám phản kháng hoặc “phạm thượng”.
Các ông Nguyễn Quốc Phong (phó tổng biên tập báo Thanh Niên), Bùi Văn Thanh (phó tổng biên tập báo Tuổi Trẻ), Huỳnh Kim Sánh (tổng thư ký tòa soạn báo Thanh Niên) và Dương Ðức Ðà Trang (trưởng văn phòng đại diện báo Tuổi Trẻ tại Hà Nội) bị thu hồi thẻ hành nghề vì là “những người đã trực tiếp viết, biên tập, duyệt đăng các tin bài về vụ PMU 18, trong đó có những thông tin sai sự thật nghiêm trọng. Ðặc biệt là những thông tin kích động phản đối hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong loạt tin bài sau khi hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải bị cơ quan an ninh điều tra khởi tố, bắt giam”. Những hành vi này được nhận định là “đã vi phạm luật báo chí”.
Ông Trần Ðình Dũng, phóng viên báo Khoa Học và Ðời Sống bị thu thẻ hành nghề vì đã đưa tin, ảnh các cá nhân (là viên chức chính quyền CSVN ngủ gà gật trên chuyên cơ khi tháp tùng Nguyễn Tấn Dũng thăm Hoa Kỳ). Hành vi này được cho là vi phạm cả luật dân sự lẫn luật báo chí. Ngoài việc bị thu hồi thẻ hành nghề, ông Dũng còn bị báo Khoa Học và Ðời Sống “cảnh cáo” và chuyển công tác khác.
Một blogger có nickname là “Osin” - đồng thời đang là nhà báo ở Việt Nam nhận định một cách chua chát: “Ði tìm nguyên nhân các nhà báo bị rút thẻ trong tình hình hiện nay, thực ra, là một việc làm không cần thiết. ‘Cha mẹ’ rõ ràng, đã hết kiên nhẫn khi nhìn đám ‘con cháu’ đi ra khỏi tầm ‘gọi dạ, bảo vâng’. Sự trừng phạt, nhân một vài câu nói được cho là hỗn hào, cũng là điều dễ hiểu.
Ở các quốc gia tiến bộ, những cơ quan đã nắm trong tay các nhánh quyền lực nhà nước thì thôi không nắm truyền thông. Thậm chí các đảng phái cũng tránh công khai ra báo. Cho dù vẫn có những cơ quan truyền thông trực thuộc chính phủ, chính phủ ở những quốc gia ấy, cũng không thể cư xử với các cơ quan báo chí đó theo kiểu ‘con cháu trong nhà’. Hãng BBC được lập ra bởi nhà nước Anh, hàng năm BBC nhận từ chính phủ một khoản ngân sách hơn 4 tỷ bảng Anh. Tuy nhiên, BBC vẫn có quyền chỉ trích cả nữ hoàng và thủ tướng. Vì, 4 tỷ đó không phải của nữ hoàng mà là tiền của nhân dân Anh đóng góp, chính phủ chi để thực hiện quyền của nhân dân về ngôn luận tự do.
Ở ta, theo con số mà Bộ Tài Chánh công khai, chỉ riêng phát thanh và truyền hình, một năm, ngân sách phải chi hơn 1,300 tỷ (không có con số ngân sách chi cho báo Nhân Dân và hệ thống báo địa phương). Rất nhiều quan chức nghĩ rằng, 1,300 tỷ ấy là tiền của mình, những cơ quan báo chí đã nhận 'tiền của mình' mà đi 'phê bình mình' là 'không đạo lý'. Phương pháp tư duy ấy, được các quan chức áp dụng ngay cả với những tờ báo không hề nhận từ ngân sách xu nào. Chúng ta không thể tranh cãi điều này mà phải sống chung với nó. Nếu như ở một quốc gia nghèo đói, vực dậy dân trí khó khăn ra sao thì ở một quốc gia chưa có dân chủ, cải thiện quan trí lại là một việc muôn phần nan giải.
Nhiều người, rất dị ứng với vai trò ‘công cụ’ mà báo chí Việt Nam đang gánh trên vai. Nhiều người khác lại cho rằng, xét cho cùng, báo chí ở trong thể chế nào cũng đều là công cụ. Vấn đề là khi dùng báo chí, chính quyền phải ý thức là họ đang sử dụng một công cụ truyền thông. Uốn nắn báo chí tới mức làm cho nó méo mó, không còn gánh vác được trách nhiệm của một phương tiện truyền thông thì không những uy tín của báo chí cũng hết mà sự tôn trọng vào chính quyền, cho dù vẫn được tung hô, cũng hết...
Cái thời, sử dụng ban tuyên giáo để nhắc nhở báo chí hình như đã qua, các tổng biên tập gần đây thỉnh thoảng lại bị triệu tập bởi những cơ quan chính quyền không hề có chức năng trông coi báo chí. Có nhiều sự việc báo chí phải lên xuống giải trình chỉ vì thắc mắc của một ‘đại gia’. Tin nổi bật trên trang nhất của tờ Tuổi Trẻ gần đây thường là ‘điểm thi’ rồi ‘thủ khoa’. Tin các nhà thầu Nhật khai đã hối lộ 820 nghìn USD cho một quan chức ta thì nhân dân phải đọc trên BBC, một cơ quan được coi là 'đài địch'. Lời khai của các nhà thầu Nhật chưa hẳn là chính xác và cho dù chính xác thì cũng chưa chắc đã còn chứng cứ để có cơ sở buộc tội quan chức nói trên. Nhưng, ‘lời khai’ đó đã trở thành tin, nếu ‘tin’ không được truyền thông thì dân chúng sẽ rất hoang mang, và lòng tin vào những quyết tâm chống tham nhũng khó lòng mà củng cố.
Ngay cả ở những quốc gia mà chính quyền được lập không bằng lá phiếu của nhân dân thì uy tín với nhân dân vẫn là một điều hữu ích. Tuổi Trẻ, cũng giống như nhiều tờ báo khác, trong những phút giây ‘nhiệt tình cách mạng’, đã có những bài báo mà những người viết tin là họ đang góp phần đấu tranh với tham nhũng. Các quan chức chính quyền có thể không thích điều này nhưng cũng đừng nên quá lo. Những phóng sự do phóng viên độc lập điều tra gần như càng ngày càng trở nên thiếu vắng. Chất liệu điều tra vẫn chủ yếu được 'xì ra' từ các cơ quan nằm trong tầm kiểm soát. Khả năng ‘chống tham nhũng’ của ‘báo chí công cụ’ hiện thời, rất khó có thể chạm tay được vào tham nhũng thật. Sự năng nổ của báo chí, cũng giống như các thanh niên xung phong đứng ở ngã tư, chủ yếu chỉ nhắc nhở được những người ngay và khiến cho những kẻ gian không lộng hành lộ quá.
Ða số những tờ báo mà chính quyền hiện thời đang ra tay chấn chỉnh, đều tự hạch toán kinh doanh, có những tờ báo đã nộp hàng trăm tỷ đồng tiền thuế cho nhà nước. Những tờ báo ấy từ lâu đã sống và phát triển bằng tiền bạc của nhân dân, nhưng trên thực tế, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân không nhiều lắm. Những tiếng nói thẳng thắn trên báo chí, chủ yếu, làm cho người dân tin tưởng nhiều hơn ở chính quyền và Ðảng (về quyết tâm chống tham nhũng và dân chủ tự do). Niềm tin mà báo chí tạo ra ấy đôi khi đã giúp ‘xả’ những ức chế trong dân và ‘tháo’ được rất nhiều ‘ngòi nổ’. Những niềm tin như vậy, liệu có còn không khi mà sau đợt xử lý báo chí hiện nay, chỉ còn lại những tờ báo chỉ biết cúi đầu ngoan ngoãn”.
Trong một cuộc họp báo được tổ chức tại Hà Nội nhân dịp làm đại sứ tại Việt Nam tròn một năm, ông Michalak, đại sứ Hoa Kỳ, nhận xét: “Tuy hiến pháp Việt Nam ghi rõ rằng công dân có quyền phát biểu ý kiến nhưng giữa Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam lại có các định nghĩa khác nhau về tự do ngôn luận”.
Cuối năm ngoái, Bộ Thông Tin-Truyền Thông của chính quyền CSVN đã thành lập thêm ba cơ quan để siết chặt việc quản lý báo giới. Ngoài Cục Báo Chí (chuyên quản lý các tờ báo in), bộ này còn lập ra Cục Thông Tin Ðối Ngoại (quản lý thông tin đưa ra bên ngoài Việt Nam), Cục Phát Thanh Truyền Hình và Thông Tin Ðiện Tử (quản lý toàn bộ hoạt động phát thanh, truyền hình và thông tin trên Internet), Cục An Toàn Thông Tin (kiểm tra “tính chính xác” của thông tin và chuyên “xử lý những người đưa tin sai lệch”) nhưng dù áp dụng nhiều biện pháp khác nhau (cảnh cáo, cách chức, buộc chuyển công tác hoặc cho nghỉ việc một số cán bộ quản lý báo chí, thậm chí thu hồi thẻ hành nghề hoặc bắt giam một số nhà báo), thực tế vẫn cho thấy, chính quyền CSVN không thể kiểm soát thông tin chặt chẽ như trước. Sự phát triển của Internet đã làm bùng phát cả các trang web lẫn blog - nhật ký cá nhân trên Internet - và càng ngày những trang web cũng như các blog này càng mang sắc thái của một hệ thống truyền thông đối lập, vượt khỏi “tầm với” của chính quyền CSVN. Ðáng kể là trong số các blog này, có khá nhiều blogger (người mở blog) là những nhà báo chuyên nghiệp, sẵn sàng cung cấp những thông tin cũng như chia sẻ các suy nghĩ vốn vẫn bị xem là “cấm kỵ”.
Tác giả: Blog phongCK Hà Nội - Sau khi bị dư luận trong nước cũng như hệ thống truyền thông ngoại quốc chỉ trích về việc thu hồi thẻ hành nghề của 7 nhà báo, hôm 22 Tháng Tám, Cục Báo Chí của Bộ Thông Tin Truyền Thông CSVN đã phát hành một thông báo giải thích về lý do thu hồi thẻ hành nghề của 7 nhà báo theo quyết định đã được Ðỗ Quý Doãn, thứ trưởng bộ này công bố hôm 1 Tháng Tám.
Thông báo cho biết, 7 nhà báo bị thu hồi thẻ hành nghề của 4 cơ quan báo chí là vì ba lý do khác nhau. Trừ hai nhà báo ở báo Người Cao Tuổi bị thu hồi thẻ nhà báo vì tham ô, đã bị điều tra khởi tố những nhà báo còn lại bị thu hồi thẻ hành nghề vì dám phản kháng hoặc “phạm thượng”.
Các ông Nguyễn Quốc Phong (phó tổng biên tập báo Thanh Niên), Bùi Văn Thanh (phó tổng biên tập báo Tuổi Trẻ), Huỳnh Kim Sánh (tổng thư ký tòa soạn báo Thanh Niên) và Dương Ðức Ðà Trang (trưởng văn phòng đại diện báo Tuổi Trẻ tại Hà Nội) bị thu hồi thẻ hành nghề vì là “những người đã trực tiếp viết, biên tập, duyệt đăng các tin bài về vụ PMU 18, trong đó có những thông tin sai sự thật nghiêm trọng. Ðặc biệt là những thông tin kích động phản đối hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong loạt tin bài sau khi hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải bị cơ quan an ninh điều tra khởi tố, bắt giam”. Những hành vi này được nhận định là “đã vi phạm luật báo chí”.
Ông Trần Ðình Dũng, phóng viên báo Khoa Học và Ðời Sống bị thu thẻ hành nghề vì đã đưa tin, ảnh các cá nhân (là viên chức chính quyền CSVN ngủ gà gật trên chuyên cơ khi tháp tùng Nguyễn Tấn Dũng thăm Hoa Kỳ). Hành vi này được cho là vi phạm cả luật dân sự lẫn luật báo chí. Ngoài việc bị thu hồi thẻ hành nghề, ông Dũng còn bị báo Khoa Học và Ðời Sống “cảnh cáo” và chuyển công tác khác.
Một blogger có nickname là “Osin” - đồng thời đang là nhà báo ở Việt Nam nhận định một cách chua chát: “Ði tìm nguyên nhân các nhà báo bị rút thẻ trong tình hình hiện nay, thực ra, là một việc làm không cần thiết. ‘Cha mẹ’ rõ ràng, đã hết kiên nhẫn khi nhìn đám ‘con cháu’ đi ra khỏi tầm ‘gọi dạ, bảo vâng’. Sự trừng phạt, nhân một vài câu nói được cho là hỗn hào, cũng là điều dễ hiểu.
Ở các quốc gia tiến bộ, những cơ quan đã nắm trong tay các nhánh quyền lực nhà nước thì thôi không nắm truyền thông. Thậm chí các đảng phái cũng tránh công khai ra báo. Cho dù vẫn có những cơ quan truyền thông trực thuộc chính phủ, chính phủ ở những quốc gia ấy, cũng không thể cư xử với các cơ quan báo chí đó theo kiểu ‘con cháu trong nhà’. Hãng BBC được lập ra bởi nhà nước Anh, hàng năm BBC nhận từ chính phủ một khoản ngân sách hơn 4 tỷ bảng Anh. Tuy nhiên, BBC vẫn có quyền chỉ trích cả nữ hoàng và thủ tướng. Vì, 4 tỷ đó không phải của nữ hoàng mà là tiền của nhân dân Anh đóng góp, chính phủ chi để thực hiện quyền của nhân dân về ngôn luận tự do.
Ở ta, theo con số mà Bộ Tài Chánh công khai, chỉ riêng phát thanh và truyền hình, một năm, ngân sách phải chi hơn 1,300 tỷ (không có con số ngân sách chi cho báo Nhân Dân và hệ thống báo địa phương). Rất nhiều quan chức nghĩ rằng, 1,300 tỷ ấy là tiền của mình, những cơ quan báo chí đã nhận 'tiền của mình' mà đi 'phê bình mình' là 'không đạo lý'. Phương pháp tư duy ấy, được các quan chức áp dụng ngay cả với những tờ báo không hề nhận từ ngân sách xu nào. Chúng ta không thể tranh cãi điều này mà phải sống chung với nó. Nếu như ở một quốc gia nghèo đói, vực dậy dân trí khó khăn ra sao thì ở một quốc gia chưa có dân chủ, cải thiện quan trí lại là một việc muôn phần nan giải.
Nhiều người, rất dị ứng với vai trò ‘công cụ’ mà báo chí Việt Nam đang gánh trên vai. Nhiều người khác lại cho rằng, xét cho cùng, báo chí ở trong thể chế nào cũng đều là công cụ. Vấn đề là khi dùng báo chí, chính quyền phải ý thức là họ đang sử dụng một công cụ truyền thông. Uốn nắn báo chí tới mức làm cho nó méo mó, không còn gánh vác được trách nhiệm của một phương tiện truyền thông thì không những uy tín của báo chí cũng hết mà sự tôn trọng vào chính quyền, cho dù vẫn được tung hô, cũng hết...
Cái thời, sử dụng ban tuyên giáo để nhắc nhở báo chí hình như đã qua, các tổng biên tập gần đây thỉnh thoảng lại bị triệu tập bởi những cơ quan chính quyền không hề có chức năng trông coi báo chí. Có nhiều sự việc báo chí phải lên xuống giải trình chỉ vì thắc mắc của một ‘đại gia’. Tin nổi bật trên trang nhất của tờ Tuổi Trẻ gần đây thường là ‘điểm thi’ rồi ‘thủ khoa’. Tin các nhà thầu Nhật khai đã hối lộ 820 nghìn USD cho một quan chức ta thì nhân dân phải đọc trên BBC, một cơ quan được coi là 'đài địch'. Lời khai của các nhà thầu Nhật chưa hẳn là chính xác và cho dù chính xác thì cũng chưa chắc đã còn chứng cứ để có cơ sở buộc tội quan chức nói trên. Nhưng, ‘lời khai’ đó đã trở thành tin, nếu ‘tin’ không được truyền thông thì dân chúng sẽ rất hoang mang, và lòng tin vào những quyết tâm chống tham nhũng khó lòng mà củng cố.
Ngay cả ở những quốc gia mà chính quyền được lập không bằng lá phiếu của nhân dân thì uy tín với nhân dân vẫn là một điều hữu ích. Tuổi Trẻ, cũng giống như nhiều tờ báo khác, trong những phút giây ‘nhiệt tình cách mạng’, đã có những bài báo mà những người viết tin là họ đang góp phần đấu tranh với tham nhũng. Các quan chức chính quyền có thể không thích điều này nhưng cũng đừng nên quá lo. Những phóng sự do phóng viên độc lập điều tra gần như càng ngày càng trở nên thiếu vắng. Chất liệu điều tra vẫn chủ yếu được 'xì ra' từ các cơ quan nằm trong tầm kiểm soát. Khả năng ‘chống tham nhũng’ của ‘báo chí công cụ’ hiện thời, rất khó có thể chạm tay được vào tham nhũng thật. Sự năng nổ của báo chí, cũng giống như các thanh niên xung phong đứng ở ngã tư, chủ yếu chỉ nhắc nhở được những người ngay và khiến cho những kẻ gian không lộng hành lộ quá.
Ða số những tờ báo mà chính quyền hiện thời đang ra tay chấn chỉnh, đều tự hạch toán kinh doanh, có những tờ báo đã nộp hàng trăm tỷ đồng tiền thuế cho nhà nước. Những tờ báo ấy từ lâu đã sống và phát triển bằng tiền bạc của nhân dân, nhưng trên thực tế, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân không nhiều lắm. Những tiếng nói thẳng thắn trên báo chí, chủ yếu, làm cho người dân tin tưởng nhiều hơn ở chính quyền và Ðảng (về quyết tâm chống tham nhũng và dân chủ tự do). Niềm tin mà báo chí tạo ra ấy đôi khi đã giúp ‘xả’ những ức chế trong dân và ‘tháo’ được rất nhiều ‘ngòi nổ’. Những niềm tin như vậy, liệu có còn không khi mà sau đợt xử lý báo chí hiện nay, chỉ còn lại những tờ báo chỉ biết cúi đầu ngoan ngoãn”.
Trong một cuộc họp báo được tổ chức tại Hà Nội nhân dịp làm đại sứ tại Việt Nam tròn một năm, ông Michalak, đại sứ Hoa Kỳ, nhận xét: “Tuy hiến pháp Việt Nam ghi rõ rằng công dân có quyền phát biểu ý kiến nhưng giữa Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam lại có các định nghĩa khác nhau về tự do ngôn luận”.
Cuối năm ngoái, Bộ Thông Tin-Truyền Thông của chính quyền CSVN đã thành lập thêm ba cơ quan để siết chặt việc quản lý báo giới. Ngoài Cục Báo Chí (chuyên quản lý các tờ báo in), bộ này còn lập ra Cục Thông Tin Ðối Ngoại (quản lý thông tin đưa ra bên ngoài Việt Nam), Cục Phát Thanh Truyền Hình và Thông Tin Ðiện Tử (quản lý toàn bộ hoạt động phát thanh, truyền hình và thông tin trên Internet), Cục An Toàn Thông Tin (kiểm tra “tính chính xác” của thông tin và chuyên “xử lý những người đưa tin sai lệch”) nhưng dù áp dụng nhiều biện pháp khác nhau (cảnh cáo, cách chức, buộc chuyển công tác hoặc cho nghỉ việc một số cán bộ quản lý báo chí, thậm chí thu hồi thẻ hành nghề hoặc bắt giam một số nhà báo), thực tế vẫn cho thấy, chính quyền CSVN không thể kiểm soát thông tin chặt chẽ như trước. Sự phát triển của Internet đã làm bùng phát cả các trang web lẫn blog - nhật ký cá nhân trên Internet - và càng ngày những trang web cũng như các blog này càng mang sắc thái của một hệ thống truyền thông đối lập, vượt khỏi “tầm với” của chính quyền CSVN. Ðáng kể là trong số các blog này, có khá nhiều blogger (người mở blog) là những nhà báo chuyên nghiệp, sẵn sàng cung cấp những thông tin cũng như chia sẻ các suy nghĩ vốn vẫn bị xem là “cấm kỵ”.
Ảnh Hưởng Của Trung Quốc
Đối Với Công Cuộc Vận Động Dân Chủ Tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Trang
LGT: Bài viết dựa vào những điểm chính trong bài phát biểu của ông Nguyễn Thanh Trang nhân Hội Nghị Quốc Tế Toàn Cầu Yểm Trợ Dân Chủ Hóa Trung Quốc và Á Châu được tổ chức vào đầu tháng 8 tại Tokyo.
Việt Nam là một nước nằm sát biên giới phía Nam của Trung Quốc, và là bao lơn của lục địa Á Châu nhìn ra Thái Bình Dương, một trong những hải lộ quan trọng nhất trên thế giới, về cả hai phương diện thương mãi và chiến lược quân sự quốc tế.
Do ảnh hưởng của Khổng giáo, Việt Nam cũng như Trung Quốc đều có một truyền thống về bậc thang giá trị trong xã hội theo thứ tự từ trên xuống dưới là: quân, sư, phụ. Thêm vào đó, sau hàng ngàn năm sống dưới các chế độ quân chủ, người Việt cũng như người Tàu đều quen tôn kính, sợ sệt vua chúa và quan chức nhà nước. Đó là một truyền thống ngày nay quảng đại quần chúng, nhất là dân quê, thợ thuyền vẫn còn chịu ảnh hưởng đáng kể và nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam cũng như Trung Quốc đã lợi dụng tối đa.
Chính Sách Đàn Áp Nhân Quyền và Dân Chủ của Trung Quốc
Với chủ trương duy trì quyền lãnh đạo độc tôn và tuyệt đối, Trung Quốc không cho phép bất cứ một đảng phái chính trị nào ngoài đảng Cộng Sản có quyền hoạt động.
Trước đây, tại Trung Quốc cũng như tại tất cả các nước Cộng Sản khác, dân chúng không có quyền kinh doanh, tư hữu, vì theo họ, đó là đường lối của chủ nghĩa tư bản, người bóc lột người! Nhưng sự thật oái oăm, các nước theo tư bản hầu hết đều phồn thịnh, và đời sống của người dân tương đối sung túc hơn người dân tại các nước Cộng Sản rất nhiều. Trước tình trạng kinh tế càng ngày càng suy thoái và thua xa các nước theo chủ nghĩa tư bản, sau khi Mao Trạch Đông qua đời, Đặng Tiểu Bình đã cứu nguy Trung Quốc bằng chủ trương táo bạo “mèo trắng mèo đen đều tốt miễn bắt được chuột”. Kể từ đó, Trung Quốc dứt khoát từ bỏ chủ trương kinh tế chỉ huy, chấp nhận đường lối kinh tế thị trường và tôn trọng quyền tư hữu. Hầu hết các công ty quốc doanh cũng dần dần được giải tư. Nhờ chính sách đổi mới đó, nền kinh tế của Hoa Lục đã thực hiện những bước tiến nhảy vọt hết sức ngoạn mục.
Nhưng Đặng Tiểu Bình vẫn trung thành với chủ trương độc tài, độc đảng, và vì thế, trong nỗ lực hiện đại hóa kinh tế, người dân được quyền tự do buôn bán, nhưng nhà cầm quyền vẫn tiếp tục cấm đoán các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do nghiệp đoàn, và tự do tôn giáo.
Ngay cả trong vấn đề cải tiến lề lối vận hành để đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa và toàn cầu hóa, nhà cầm quyền Trung Quốc cũng chỉ cho phép sửa đổi những luật lệ về hành chánh và thương mãi, chứ tuyệt đối không cho cải tổ những luật lệ liên quan đến các lãnh vực nhạy cảm, cấm kỵ như đối lập chính trị, nghiệp đoàn lao động, tự do báo chí, và tự do tôn giáo.
Với chủ trương khống chế những đòi hỏi về nhân quyền và dân chủ, Trung Quốc luôn luôn xử dụng biện pháp tổng hợp vừa đe dọa vừa mua chuộc. Công an, cảnh sát luôn luôn tìm mọi cách trấn áp những phần tử bất đồng chính kiến. Tùy theo cá nhân và trường hợp, họ có thể dùng biện pháp khủng bố, tù đày, hoặc mua chuộc. Họ sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn, từ đe dọa đến ban phát tiền bạc, địa vị, và ngay cả mỹ nhân kế để cám dỗ những người nầy, để cuối cùng đương sự phải khuất phục Cộng Sản. Bất cứ khi nào có những cuộc chống đối bất kể vì nguyên nhân gì, lực lượng an ninh đều được lệnh phải mạnh tay dẹp ngay từ trong trứng nước để tránh nguy cơ lan rộng.
Ảnh Hưởng của Trung Quốc Đối Với Nhân Quyền và Dân Chủ Tại Việt Nam
Từ trước năm 1990, Hà Nội đã sống còn nhờ hậu thuẫn mạnh mẽ của hai nước đàn anh Liên Xô và Trung Cộng. Nhưng sau khi Liên Xô và khối Cộng Sản tại Đông Âu sụp đổ, Việt Nam phải hoàn toàn dựa vào Trung Quốc, và vì thế, Trung Quốc càng lớn mạnh bao nhiêu thì CSVN càng bị lệ thuộc và khống chế bấy nhiêu. Trong khi đó, càng lớn mạnh bao nhiêu thì mộng bá quyền của Trung Quốc càng lớn bấy nhiêu. Với đà phát triển cao nhất thế giới trong hơn 10 năm qua, nền kinh tế của Trung Quốc hiện nay đứng hàng thứ ba trên thế giới. Họ đã xích hóa Mông Cổ và Tây Tạng. Họ đang tranh chấp các hải đảo với Nga Sô và Nhật Bản. Trung Quốc đã đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và một phần Trường Sa cũng như đã lấn chiếm hàng trăm cây số vuông đất đai vùng biên giới của Việt Nam. Họ đã viện trợ dồi dào không những cho những nước Cộng Sản chư hầu như Việt Nam, Lào, Bắc Triều Tiên và Cuba mà họ còn viện trợ tài chánh, quân sự và thương mãi cho nhiều nước tại Trung Đông, Phi Châu và Nam Mỹ.
Trung Quốc đã tăng cường quân số và hiện đại hóa các lực lượng hải quân, không quân và bộ binh. Gần đây họ đã xây một căn cứ tàu ngầm hiện đại, đồ sộ và kiên cố tại bờ biển phía Nam đảo Hải Nam, đe dọa trầm trọng an ninh vùng Á Châu Thái Bình Dương nói chung và Việt Nam nói riêng.
Sự lớn mạnh của Trung Quốc cũng là một tấm gương cho Hà Nội noi theo và là lý do để họ biện minh cho chủ trương độc tài, độc đảng của đảng Cộng Sản Việt Nam. Vì theo họ, nhờ sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, Trung Quốc đã thoát khỏi ách xâu xé của các cường quốc Tây phương trong thế kỷ trước và không những thế, ngày nay Trung Quốc đã tiến lên địa vị siêu cường.
Trong hơn 60 năm qua, CSVN đã luôn luôn là một học trò ngoan ngoãn của Trung Cộng. Từ chiến dịch đàn áp trí, phú, địa hào, đến phong trào cải cách ruộng đất, đấu tố và giết hại hàng ngàn người dân vô tội, đến phong trào trăm hao đua nở, mở màn thảm cảnh đấu tố, giam cầm các văn nghệ sĩ không tuân phục cộng sản. Việc gì CSVN cũng theo gương của đàn anh Trung Cộng.
Chính sách đàn áp nhân quyền và dân chủ của Trung Cộng càng ngày càng tinh vi và man rợ. Đảng Cộng Sản tại Trung Quốc đã duy trì quyền độc tôn lãnh đạo đất nước nhờ khủng bố, bưng bít thông tin và tuyên truyền lừa bịp. Học hỏi kinh nghiệm đó, nhà cầm quyền Hà Nội cũng theo đuổi một chính sách độc tài, sắc máu để duy trì và củng cố quyền lực. Vì thế, càng ngày phong trào vận động nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam càng phải đối phó với rất nhiều khó khăn trước gọng kìm và bàn tay sắt của Đảng CSVN. Trong khi đó, Hà Nội càng ngày càng chịu nhiều áp lực và phải lép vế trước tham vọng bá quyền của Trung Quốc.
Sau đây là hai trường hợp điển hình.
Trường hợp thứ nhất, vào cuối năm 1999, lẽ ra Thủ Tướng CSVN Phan Văn Khải đã sắp xếp sẵn sàng cùng với Tổng Thống Bill Clinton ký kết Hiệp Ước Song Phương Việt Mỹ, nhưng vì quyền lợi và áp lực của Trung Quốc, Việt Nam phải đợi Trung Quốc ký Hiệp Ước Thương Mãi với Hoa Kỳ trước, đến vài năm sau Việt Nam mới ký.
Trường hợp thứ hai, ngày 1-10-2001, Lê Chí Quang, một luật sư trẻ tuổi yêu nước, đã viết một bài báo nhan đề: “Hãy Cảnh Giác Bắc Triều” để tố cáo âm mưu Trung Cộng
muốn cướp đất, cướp biển của Việt Nam thì chỉ hơn một tháng sau, Lê Chí Quang đã bị bắt, và sau đó đã bị kết án 4 năm tù và 3 năm quản chế.
Kết Luận
Hơn 200 năm trước, Napoleon đã từng nói Trung Quốc cũng như một con sư tử đang ngủ, đừng ai đánh thức nó dậy, vì khi nó thức dậy, thế giới sẽ run sợ vì nó. Thật vậy, Napoleon đã nói không sai. Trung Quốc đã vương vai đứng dậy sau nhiều thập kỷ bị các cường quốc Tây phương xâu xé, ngược đãi. Sự lớn mạnh của Trung Quốc ngày nay đã làm cho thế giới kinh ngạc và lên án, nhất là chính sách độc tài đảng trị và các tệ nạn như đàn áp nhân quyền, xâm lăng Tây Tạng, lấn đất và cướp biển của Việt Nam, làm ô nhiễm trầm trọng giòng sông Mê Kông và khí quyển toàn cầu, v.v. Nhưng có lẽ tệ hại và nguy hiểm nhất là tham vọng bành trướng và mộng bá quyền của Trung Quốc.
Cũng chính vì thế, trong bài báo “A Long Wait at the Gate to Greatness” đăng trên tờ nhật báo Washington Post, ngày 27-7-2008, ký giả John Pomfret đã viết: “Krushchev đã tuyên bố Liên Xô sẽ chôn vùi Hoa Kỳ, nhưng ngày nay, ai cũng nghĩ rằng chính Trung Quốc đang đào mồ chôn chúng ta”.
Theo thống kê của Ngân Hàng Quốc Tế, năm 2006, tổng sản lượng công nghệ của Hoa Kỳ là 2.700 tỷ Mỹ kim, trong khi Trung Quốc sản xuất 1.124 tỷ Mỹ kim, tính theo hối suất chính thức 7,77 Nhân Dân tệ cho một Mỹ kim. Nhưng đó là con số giả tạo, vì Bắc Kinh cố tình dìm trị giá đồng Nhân Dân tệ xuống 2,38 lần, nghĩa là trị giá đích thực tổng sản lượng công nghệ của Trung Quốc là 2.717 tỷ Mỹ kim, tức còn cao hơn của Hoa Kỳ chút đỉnh. Vì thế, ngày nay không ai có thể phủ nhận Trung Quốc là một cường quốc kinh tế.
Với một dân số trên 1,3 tỷ người và một nền kinh tế lớn mạnh, một lực lượng quân sự hùng hậu được trang bị tối tân, hiện đại, với kho vũ khí nguyên tử lớn thứ ba trên thế giới sau Mỹ và Nga, và quan trọng nhất, quốc gia đó đang bị cai trị bởi đảng Cộng Sản độc tài và có khuynh hướng quốc gia cực đoan, ngày nay Trung Quốc hiển nhiên trở thành một hiểm họa lớn nhất của thế giới, hơn cả hiểm họa của phát xít Nhật, Đức Quốc Xã và phát xít Ý cộng lại trong thời đệ nhị thế chiến, vì vào thời đó, ba nước ấy không có một đảng chính trị thống nhất với trên 3 triệu đảng viên và không được tổ chức quy mô, chặt chẽ như Đảng Cộng Sản Trung Hoa.
Để đối phó với hiểm họa nầy, các cường quốc Tây phương phải tìm mọi cách hỗ trợ tối đa lực lượng dân chủ, phong trào dân oan khiếu kiện, công nhân chống lại sự bóc lột của bọn tư bản cấu kết với cán bộ Cộng Sản, quần chúng chống lại nạn tham nhũng, bất công xã hội, đòi sang bằng hố cách biệt giàu nghèo giữa các miền sát bờ biển và các vùng sâu trong nội địa, cũng như hố cách biệt giàu nghèo giữa bọn tư bản đỏ và quảng đại quần chúng nông dân, thợ thuyền nghèo khó tại Hoa lục.
Song song với các nỗ lực trên, thế giới cần quan tâm yểm trợ một cách quy mô và dồi dào các tổ chức xã hội dân sự và lực lượng dân chủ tại Việt Nam cũng như tại Hoa Lục, bởi vì những gì xảy ra tại Hoa Lục sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình chính trị tại Việt Nam và các nước lân bang. Ngoài ra, các cường quốc Tây phương còn phải tìm mọi cách giúp đỡ Việt Nam, Bắc Hàn, Lào, Cam Bốt và Miến Điện sớm thoát khỏi hoặc bớt dần mức lệ thuộc vào Trung Quốc để tạo những môi trường thuận lợi hơn cho các phong trào Dân Chủ tại những quốc gia đó có thể lớn mạnh và sớm đạt được thắng lợi cuối cùng..
Nguyễn Thanh Trang
(Tokyo, ngày 5-8-2008)
Đối Với Công Cuộc Vận Động Dân Chủ Tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Trang
LGT: Bài viết dựa vào những điểm chính trong bài phát biểu của ông Nguyễn Thanh Trang nhân Hội Nghị Quốc Tế Toàn Cầu Yểm Trợ Dân Chủ Hóa Trung Quốc và Á Châu được tổ chức vào đầu tháng 8 tại Tokyo.
Việt Nam là một nước nằm sát biên giới phía Nam của Trung Quốc, và là bao lơn của lục địa Á Châu nhìn ra Thái Bình Dương, một trong những hải lộ quan trọng nhất trên thế giới, về cả hai phương diện thương mãi và chiến lược quân sự quốc tế.
Do ảnh hưởng của Khổng giáo, Việt Nam cũng như Trung Quốc đều có một truyền thống về bậc thang giá trị trong xã hội theo thứ tự từ trên xuống dưới là: quân, sư, phụ. Thêm vào đó, sau hàng ngàn năm sống dưới các chế độ quân chủ, người Việt cũng như người Tàu đều quen tôn kính, sợ sệt vua chúa và quan chức nhà nước. Đó là một truyền thống ngày nay quảng đại quần chúng, nhất là dân quê, thợ thuyền vẫn còn chịu ảnh hưởng đáng kể và nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam cũng như Trung Quốc đã lợi dụng tối đa.
Chính Sách Đàn Áp Nhân Quyền và Dân Chủ của Trung Quốc
Với chủ trương duy trì quyền lãnh đạo độc tôn và tuyệt đối, Trung Quốc không cho phép bất cứ một đảng phái chính trị nào ngoài đảng Cộng Sản có quyền hoạt động.
Trước đây, tại Trung Quốc cũng như tại tất cả các nước Cộng Sản khác, dân chúng không có quyền kinh doanh, tư hữu, vì theo họ, đó là đường lối của chủ nghĩa tư bản, người bóc lột người! Nhưng sự thật oái oăm, các nước theo tư bản hầu hết đều phồn thịnh, và đời sống của người dân tương đối sung túc hơn người dân tại các nước Cộng Sản rất nhiều. Trước tình trạng kinh tế càng ngày càng suy thoái và thua xa các nước theo chủ nghĩa tư bản, sau khi Mao Trạch Đông qua đời, Đặng Tiểu Bình đã cứu nguy Trung Quốc bằng chủ trương táo bạo “mèo trắng mèo đen đều tốt miễn bắt được chuột”. Kể từ đó, Trung Quốc dứt khoát từ bỏ chủ trương kinh tế chỉ huy, chấp nhận đường lối kinh tế thị trường và tôn trọng quyền tư hữu. Hầu hết các công ty quốc doanh cũng dần dần được giải tư. Nhờ chính sách đổi mới đó, nền kinh tế của Hoa Lục đã thực hiện những bước tiến nhảy vọt hết sức ngoạn mục.
Nhưng Đặng Tiểu Bình vẫn trung thành với chủ trương độc tài, độc đảng, và vì thế, trong nỗ lực hiện đại hóa kinh tế, người dân được quyền tự do buôn bán, nhưng nhà cầm quyền vẫn tiếp tục cấm đoán các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do nghiệp đoàn, và tự do tôn giáo.
Ngay cả trong vấn đề cải tiến lề lối vận hành để đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa và toàn cầu hóa, nhà cầm quyền Trung Quốc cũng chỉ cho phép sửa đổi những luật lệ về hành chánh và thương mãi, chứ tuyệt đối không cho cải tổ những luật lệ liên quan đến các lãnh vực nhạy cảm, cấm kỵ như đối lập chính trị, nghiệp đoàn lao động, tự do báo chí, và tự do tôn giáo.
Với chủ trương khống chế những đòi hỏi về nhân quyền và dân chủ, Trung Quốc luôn luôn xử dụng biện pháp tổng hợp vừa đe dọa vừa mua chuộc. Công an, cảnh sát luôn luôn tìm mọi cách trấn áp những phần tử bất đồng chính kiến. Tùy theo cá nhân và trường hợp, họ có thể dùng biện pháp khủng bố, tù đày, hoặc mua chuộc. Họ sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn, từ đe dọa đến ban phát tiền bạc, địa vị, và ngay cả mỹ nhân kế để cám dỗ những người nầy, để cuối cùng đương sự phải khuất phục Cộng Sản. Bất cứ khi nào có những cuộc chống đối bất kể vì nguyên nhân gì, lực lượng an ninh đều được lệnh phải mạnh tay dẹp ngay từ trong trứng nước để tránh nguy cơ lan rộng.
Ảnh Hưởng của Trung Quốc Đối Với Nhân Quyền và Dân Chủ Tại Việt Nam
Từ trước năm 1990, Hà Nội đã sống còn nhờ hậu thuẫn mạnh mẽ của hai nước đàn anh Liên Xô và Trung Cộng. Nhưng sau khi Liên Xô và khối Cộng Sản tại Đông Âu sụp đổ, Việt Nam phải hoàn toàn dựa vào Trung Quốc, và vì thế, Trung Quốc càng lớn mạnh bao nhiêu thì CSVN càng bị lệ thuộc và khống chế bấy nhiêu. Trong khi đó, càng lớn mạnh bao nhiêu thì mộng bá quyền của Trung Quốc càng lớn bấy nhiêu. Với đà phát triển cao nhất thế giới trong hơn 10 năm qua, nền kinh tế của Trung Quốc hiện nay đứng hàng thứ ba trên thế giới. Họ đã xích hóa Mông Cổ và Tây Tạng. Họ đang tranh chấp các hải đảo với Nga Sô và Nhật Bản. Trung Quốc đã đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và một phần Trường Sa cũng như đã lấn chiếm hàng trăm cây số vuông đất đai vùng biên giới của Việt Nam. Họ đã viện trợ dồi dào không những cho những nước Cộng Sản chư hầu như Việt Nam, Lào, Bắc Triều Tiên và Cuba mà họ còn viện trợ tài chánh, quân sự và thương mãi cho nhiều nước tại Trung Đông, Phi Châu và Nam Mỹ.
Trung Quốc đã tăng cường quân số và hiện đại hóa các lực lượng hải quân, không quân và bộ binh. Gần đây họ đã xây một căn cứ tàu ngầm hiện đại, đồ sộ và kiên cố tại bờ biển phía Nam đảo Hải Nam, đe dọa trầm trọng an ninh vùng Á Châu Thái Bình Dương nói chung và Việt Nam nói riêng.
Sự lớn mạnh của Trung Quốc cũng là một tấm gương cho Hà Nội noi theo và là lý do để họ biện minh cho chủ trương độc tài, độc đảng của đảng Cộng Sản Việt Nam. Vì theo họ, nhờ sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, Trung Quốc đã thoát khỏi ách xâu xé của các cường quốc Tây phương trong thế kỷ trước và không những thế, ngày nay Trung Quốc đã tiến lên địa vị siêu cường.
Trong hơn 60 năm qua, CSVN đã luôn luôn là một học trò ngoan ngoãn của Trung Cộng. Từ chiến dịch đàn áp trí, phú, địa hào, đến phong trào cải cách ruộng đất, đấu tố và giết hại hàng ngàn người dân vô tội, đến phong trào trăm hao đua nở, mở màn thảm cảnh đấu tố, giam cầm các văn nghệ sĩ không tuân phục cộng sản. Việc gì CSVN cũng theo gương của đàn anh Trung Cộng.
Chính sách đàn áp nhân quyền và dân chủ của Trung Cộng càng ngày càng tinh vi và man rợ. Đảng Cộng Sản tại Trung Quốc đã duy trì quyền độc tôn lãnh đạo đất nước nhờ khủng bố, bưng bít thông tin và tuyên truyền lừa bịp. Học hỏi kinh nghiệm đó, nhà cầm quyền Hà Nội cũng theo đuổi một chính sách độc tài, sắc máu để duy trì và củng cố quyền lực. Vì thế, càng ngày phong trào vận động nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam càng phải đối phó với rất nhiều khó khăn trước gọng kìm và bàn tay sắt của Đảng CSVN. Trong khi đó, Hà Nội càng ngày càng chịu nhiều áp lực và phải lép vế trước tham vọng bá quyền của Trung Quốc.
Sau đây là hai trường hợp điển hình.
Trường hợp thứ nhất, vào cuối năm 1999, lẽ ra Thủ Tướng CSVN Phan Văn Khải đã sắp xếp sẵn sàng cùng với Tổng Thống Bill Clinton ký kết Hiệp Ước Song Phương Việt Mỹ, nhưng vì quyền lợi và áp lực của Trung Quốc, Việt Nam phải đợi Trung Quốc ký Hiệp Ước Thương Mãi với Hoa Kỳ trước, đến vài năm sau Việt Nam mới ký.
Trường hợp thứ hai, ngày 1-10-2001, Lê Chí Quang, một luật sư trẻ tuổi yêu nước, đã viết một bài báo nhan đề: “Hãy Cảnh Giác Bắc Triều” để tố cáo âm mưu Trung Cộng
muốn cướp đất, cướp biển của Việt Nam thì chỉ hơn một tháng sau, Lê Chí Quang đã bị bắt, và sau đó đã bị kết án 4 năm tù và 3 năm quản chế.
Kết Luận
Hơn 200 năm trước, Napoleon đã từng nói Trung Quốc cũng như một con sư tử đang ngủ, đừng ai đánh thức nó dậy, vì khi nó thức dậy, thế giới sẽ run sợ vì nó. Thật vậy, Napoleon đã nói không sai. Trung Quốc đã vương vai đứng dậy sau nhiều thập kỷ bị các cường quốc Tây phương xâu xé, ngược đãi. Sự lớn mạnh của Trung Quốc ngày nay đã làm cho thế giới kinh ngạc và lên án, nhất là chính sách độc tài đảng trị và các tệ nạn như đàn áp nhân quyền, xâm lăng Tây Tạng, lấn đất và cướp biển của Việt Nam, làm ô nhiễm trầm trọng giòng sông Mê Kông và khí quyển toàn cầu, v.v. Nhưng có lẽ tệ hại và nguy hiểm nhất là tham vọng bành trướng và mộng bá quyền của Trung Quốc.
Cũng chính vì thế, trong bài báo “A Long Wait at the Gate to Greatness” đăng trên tờ nhật báo Washington Post, ngày 27-7-2008, ký giả John Pomfret đã viết: “Krushchev đã tuyên bố Liên Xô sẽ chôn vùi Hoa Kỳ, nhưng ngày nay, ai cũng nghĩ rằng chính Trung Quốc đang đào mồ chôn chúng ta”.
Theo thống kê của Ngân Hàng Quốc Tế, năm 2006, tổng sản lượng công nghệ của Hoa Kỳ là 2.700 tỷ Mỹ kim, trong khi Trung Quốc sản xuất 1.124 tỷ Mỹ kim, tính theo hối suất chính thức 7,77 Nhân Dân tệ cho một Mỹ kim. Nhưng đó là con số giả tạo, vì Bắc Kinh cố tình dìm trị giá đồng Nhân Dân tệ xuống 2,38 lần, nghĩa là trị giá đích thực tổng sản lượng công nghệ của Trung Quốc là 2.717 tỷ Mỹ kim, tức còn cao hơn của Hoa Kỳ chút đỉnh. Vì thế, ngày nay không ai có thể phủ nhận Trung Quốc là một cường quốc kinh tế.
Với một dân số trên 1,3 tỷ người và một nền kinh tế lớn mạnh, một lực lượng quân sự hùng hậu được trang bị tối tân, hiện đại, với kho vũ khí nguyên tử lớn thứ ba trên thế giới sau Mỹ và Nga, và quan trọng nhất, quốc gia đó đang bị cai trị bởi đảng Cộng Sản độc tài và có khuynh hướng quốc gia cực đoan, ngày nay Trung Quốc hiển nhiên trở thành một hiểm họa lớn nhất của thế giới, hơn cả hiểm họa của phát xít Nhật, Đức Quốc Xã và phát xít Ý cộng lại trong thời đệ nhị thế chiến, vì vào thời đó, ba nước ấy không có một đảng chính trị thống nhất với trên 3 triệu đảng viên và không được tổ chức quy mô, chặt chẽ như Đảng Cộng Sản Trung Hoa.
Để đối phó với hiểm họa nầy, các cường quốc Tây phương phải tìm mọi cách hỗ trợ tối đa lực lượng dân chủ, phong trào dân oan khiếu kiện, công nhân chống lại sự bóc lột của bọn tư bản cấu kết với cán bộ Cộng Sản, quần chúng chống lại nạn tham nhũng, bất công xã hội, đòi sang bằng hố cách biệt giàu nghèo giữa các miền sát bờ biển và các vùng sâu trong nội địa, cũng như hố cách biệt giàu nghèo giữa bọn tư bản đỏ và quảng đại quần chúng nông dân, thợ thuyền nghèo khó tại Hoa lục.
Song song với các nỗ lực trên, thế giới cần quan tâm yểm trợ một cách quy mô và dồi dào các tổ chức xã hội dân sự và lực lượng dân chủ tại Việt Nam cũng như tại Hoa Lục, bởi vì những gì xảy ra tại Hoa Lục sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình chính trị tại Việt Nam và các nước lân bang. Ngoài ra, các cường quốc Tây phương còn phải tìm mọi cách giúp đỡ Việt Nam, Bắc Hàn, Lào, Cam Bốt và Miến Điện sớm thoát khỏi hoặc bớt dần mức lệ thuộc vào Trung Quốc để tạo những môi trường thuận lợi hơn cho các phong trào Dân Chủ tại những quốc gia đó có thể lớn mạnh và sớm đạt được thắng lợi cuối cùng..
Nguyễn Thanh Trang
(Tokyo, ngày 5-8-2008)
Tôi đứng ở Thái Hà mà suy tư
Tác giả: Mai Hạnh
Diễn tiến ở Thái Hà vẫn không thay đổi, những thông tin mới nhất cho thấy cả hai bên không dừng bước. Người dân ở Thái Hà dựa vào đâu để tiếp tục kiên trì đấu tranh ? Phía chính quyền dựa vào đâu để “cương quyết” dẹp bỏ ?
Một lần nữa Vatican sẽ can thiệp để giáo sĩ tại Thái Hà cùng với giáo dân “cuốn cờ” lui bước như cuộc “cuốn cờ” ở Tòa Khâm sứ ?
Không chắc.
Vì đã một lần Vatican tỏ thiện chí, nhưng vấn đề kéo dài không giải quyết, bài “ c…trâu để lâu hóa bùn !” Vatican đã ngộ ra, chắc chắn Vatican đã thấy những giọt nước mắt của người giáo dân Hà Nội khi nghe lời cha của mình “cuốn cờ”. Thấy những giọt nước mắt là thấy được lòng trung tín, thấy được nỗi oan khiên, thấy được lòng hy sinh đại độ.
Chuyến viếng thăm Việt Nam vừa qua của phái đoàn Tòa Thánh nói lên điều gì ? Tại sao không như những chuyến đi trước : Hà Nội, Huế và Saigon ? Thăm một số dòng tu, thăm một số chủng viện, cử hành thánh lễ, họp mừng vỗ tay ? Mà lại là Hà Nội, Quảng Trị và Đalat, có phải Tòa Thánh muốn nói với người giáo dân Việt Nam rằng, Tòa Thánh ủng hộ cuộc đấu tranh cho công lý và sự thật ? Tòa Thánh muốn gọi đích danh tên của chuyến đi là “ Tòa Khâm sứ, La Vang và Giáo Hoàng Học viện ? Những cơ sở đã bị cưỡng đoạt trong quá khứ.
Phản ứng của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Chính quyền cho biết : không phải giám mục nào cũng đồng ý với các ông” ( nói với các cha ở Thái Hà ). Cuộc đấu tranh đang diễn ra ở Hà Nội, Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt bước vào phòng họp thường kỳ 2008 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam ( HDGMVN ), chắc chắn vấn đề được đặt lên bàn hội nghị, Đức Tổng Giám Mục bước ra vẫn vẻ mặt bình an và vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh, gần đây, ngài còn viết thư an ủi và khích lệ Thái Hà. Phải có sự đồng tâm nhất trí của HĐGMVN, đó là điều chắc chắn.
Có thể có một vị giám mục nào đó trong một phút nao lòng nói vài câu đẩy đưa, có thể có những vị giám mục im lặng không lên tiếng, nhưng như thế không phải là không đồng ý và phản đối cuộc đấu tranh. Hãy trở lại quá khứ một chút, vụ phong thánh cho các anh hùng Tử đạo tại Việt Nam, trừ mấy “cụ quốc doanh” mà ai cũng biết tận tường là đã bán lương tâm, còn lại thì tất cả các giám mục Việt Nam, kể cả các giám mục im lặng, kể cả vị giám mục “một phút nao lòng nói vài câu đẩy đưa”, vị nào cũng lập bàn thờ “Andre Dũng Lạc và các bạn tử đạo tại Việt Nam” khẩn cầu đêm ngày, năm nào cũng “cúng giỗ” thật hoành tráng. Nói các Đấng không bằng lòng, phản đối là mơ ngủ hoặc là một trò chia rẽ rẻ tiền.
Các dòng tu thế nào ? Chắc chắn sẽ ủng hộ, chí ít là ủng hộ bằng lời cầu nguyện, mà các anh chị em ở Thái Hà cần nhất là lời cầu nguyện. Họ ủng hộ vì nhà dòng nào cũng bị áp bức, bị lấy đất, lấy cơ sở một cách trắng trợn, táo tợn hơn là lấy để làm những chuyện đồi bại ( vụ lấy cơ sở làm vũ trường, mại dâm, ma túy, phá thai, … ).
Dòng Chúa Cứu Thế thế nào, Cha Giám Tỉnh đã viết thư cho anh em trong Tỉnh Dòng : “sinh mệnh anh em nhà Hà Nội gắn liền với sinh mệnh của từng anh em”, đã là quá rõ.
Tin vào Chúa và tin vào sức mạnh quyền năng của Chúa, tin vào Mẹ và tin vào tình thương che chở của Mẹ, tin vào sự nghiệp của Hội Thánh không quyền lực nào phá nổi. Người giáo dân và giáo sĩ Thái Hà tiếp tục con đường của mình.
Về phía chính quyền
“Cương quyết” vì bị áp lực từ nhiều phía,
Muốn bảo vệ quyền lực, muốn chứng tỏ mình có quyền. Sẽ bị va chạm tự ái nếu giáo dân có những lời lẽ và hành động thiếu tôn trọng, vì thế cương quyết trở thành “cương quyết” trong ngoặc kép.
Bị áp lực từ những người có chức có quyền, họ đã nuốt hết tài sản và chia ba chia bảy rồi, tiền đã vào túi để chuyển ra nước ngoài rồi, không thể nhả ra được nữa, phải làm cho đến cùng, phải bịt miệng và phải trấn áp bằng bạo lực cho im tiếng. Thế nhưng “ai ăn mà bây giờ mình phải chịu”, chẳng dại gì chạm vào thần thánh, nên cương quyết trở thành “cương quyết”.
Tôn giáo là một ngưỡng riêng của con người, nhiều lần có kẻ dại dột dùng vũ lực súng ống mà triệt phá đập hạ, nghe đâu đã phải trả giá bằng sinh mạng của chính mình. Có đem vũ khí và mọi thứ của vũ lực bước vào cái ngưỡng mênh mang không hề biết như vậy được không ? Thế là cương quyết thành “cương quyết”.
Vì thế chắc là : Giáo dân vẫn kiên trì như đã vẫn kiên trì, chính quyền sẽ ra thêm nhiều văn bản nữa cũng chẳng đi đến đâu. Vấn đề chỉ giải quyết được khi chỉ ra và có biện pháp với bọn người tham nhũng cướp của giữa ban ngày mà thôi.
Tác giả: Mai Hạnh
Diễn tiến ở Thái Hà vẫn không thay đổi, những thông tin mới nhất cho thấy cả hai bên không dừng bước. Người dân ở Thái Hà dựa vào đâu để tiếp tục kiên trì đấu tranh ? Phía chính quyền dựa vào đâu để “cương quyết” dẹp bỏ ?
Một lần nữa Vatican sẽ can thiệp để giáo sĩ tại Thái Hà cùng với giáo dân “cuốn cờ” lui bước như cuộc “cuốn cờ” ở Tòa Khâm sứ ?
Không chắc.
Vì đã một lần Vatican tỏ thiện chí, nhưng vấn đề kéo dài không giải quyết, bài “ c…trâu để lâu hóa bùn !” Vatican đã ngộ ra, chắc chắn Vatican đã thấy những giọt nước mắt của người giáo dân Hà Nội khi nghe lời cha của mình “cuốn cờ”. Thấy những giọt nước mắt là thấy được lòng trung tín, thấy được nỗi oan khiên, thấy được lòng hy sinh đại độ.
Chuyến viếng thăm Việt Nam vừa qua của phái đoàn Tòa Thánh nói lên điều gì ? Tại sao không như những chuyến đi trước : Hà Nội, Huế và Saigon ? Thăm một số dòng tu, thăm một số chủng viện, cử hành thánh lễ, họp mừng vỗ tay ? Mà lại là Hà Nội, Quảng Trị và Đalat, có phải Tòa Thánh muốn nói với người giáo dân Việt Nam rằng, Tòa Thánh ủng hộ cuộc đấu tranh cho công lý và sự thật ? Tòa Thánh muốn gọi đích danh tên của chuyến đi là “ Tòa Khâm sứ, La Vang và Giáo Hoàng Học viện ? Những cơ sở đã bị cưỡng đoạt trong quá khứ.
Phản ứng của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Chính quyền cho biết : không phải giám mục nào cũng đồng ý với các ông” ( nói với các cha ở Thái Hà ). Cuộc đấu tranh đang diễn ra ở Hà Nội, Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt bước vào phòng họp thường kỳ 2008 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam ( HDGMVN ), chắc chắn vấn đề được đặt lên bàn hội nghị, Đức Tổng Giám Mục bước ra vẫn vẻ mặt bình an và vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh, gần đây, ngài còn viết thư an ủi và khích lệ Thái Hà. Phải có sự đồng tâm nhất trí của HĐGMVN, đó là điều chắc chắn.
Có thể có một vị giám mục nào đó trong một phút nao lòng nói vài câu đẩy đưa, có thể có những vị giám mục im lặng không lên tiếng, nhưng như thế không phải là không đồng ý và phản đối cuộc đấu tranh. Hãy trở lại quá khứ một chút, vụ phong thánh cho các anh hùng Tử đạo tại Việt Nam, trừ mấy “cụ quốc doanh” mà ai cũng biết tận tường là đã bán lương tâm, còn lại thì tất cả các giám mục Việt Nam, kể cả các giám mục im lặng, kể cả vị giám mục “một phút nao lòng nói vài câu đẩy đưa”, vị nào cũng lập bàn thờ “Andre Dũng Lạc và các bạn tử đạo tại Việt Nam” khẩn cầu đêm ngày, năm nào cũng “cúng giỗ” thật hoành tráng. Nói các Đấng không bằng lòng, phản đối là mơ ngủ hoặc là một trò chia rẽ rẻ tiền.
Các dòng tu thế nào ? Chắc chắn sẽ ủng hộ, chí ít là ủng hộ bằng lời cầu nguyện, mà các anh chị em ở Thái Hà cần nhất là lời cầu nguyện. Họ ủng hộ vì nhà dòng nào cũng bị áp bức, bị lấy đất, lấy cơ sở một cách trắng trợn, táo tợn hơn là lấy để làm những chuyện đồi bại ( vụ lấy cơ sở làm vũ trường, mại dâm, ma túy, phá thai, … ).
Dòng Chúa Cứu Thế thế nào, Cha Giám Tỉnh đã viết thư cho anh em trong Tỉnh Dòng : “sinh mệnh anh em nhà Hà Nội gắn liền với sinh mệnh của từng anh em”, đã là quá rõ.
Tin vào Chúa và tin vào sức mạnh quyền năng của Chúa, tin vào Mẹ và tin vào tình thương che chở của Mẹ, tin vào sự nghiệp của Hội Thánh không quyền lực nào phá nổi. Người giáo dân và giáo sĩ Thái Hà tiếp tục con đường của mình.
Về phía chính quyền
“Cương quyết” vì bị áp lực từ nhiều phía,
Muốn bảo vệ quyền lực, muốn chứng tỏ mình có quyền. Sẽ bị va chạm tự ái nếu giáo dân có những lời lẽ và hành động thiếu tôn trọng, vì thế cương quyết trở thành “cương quyết” trong ngoặc kép.
Bị áp lực từ những người có chức có quyền, họ đã nuốt hết tài sản và chia ba chia bảy rồi, tiền đã vào túi để chuyển ra nước ngoài rồi, không thể nhả ra được nữa, phải làm cho đến cùng, phải bịt miệng và phải trấn áp bằng bạo lực cho im tiếng. Thế nhưng “ai ăn mà bây giờ mình phải chịu”, chẳng dại gì chạm vào thần thánh, nên cương quyết trở thành “cương quyết”.
Tôn giáo là một ngưỡng riêng của con người, nhiều lần có kẻ dại dột dùng vũ lực súng ống mà triệt phá đập hạ, nghe đâu đã phải trả giá bằng sinh mạng của chính mình. Có đem vũ khí và mọi thứ của vũ lực bước vào cái ngưỡng mênh mang không hề biết như vậy được không ? Thế là cương quyết thành “cương quyết”.
Vì thế chắc là : Giáo dân vẫn kiên trì như đã vẫn kiên trì, chính quyền sẽ ra thêm nhiều văn bản nữa cũng chẳng đi đến đâu. Vấn đề chỉ giải quyết được khi chỉ ra và có biện pháp với bọn người tham nhũng cướp của giữa ban ngày mà thôi.

Nữ ứng cử viên Phó Tổng Thống của Mc Cain
Tác giả: trangdenonline.
Ông John McCain đã chọn một người phụ nữ đúng chung liên danh tranh cử với mình:đó là nữ thống-đốc của tiểu-bang Alaska,bà Sarah Palin. Bà Sarah Palin,một người thuộc phe bảo thủ,còn rất trẻ,mới chỉ 44 tuổi và sẻ trở thành vị nữ phó Tổng Thống đầu tiên nếu như ông McCain đắc cử vào tháng 11 sắp tới.
Ông McCain vừa mới ăn sinh nhật 72 tuổi vào ngày thứ sáu,đã đầu tư vào giới trẻ và đặc biệt hơn nữa là vào nữ giới. "Chưởng" này của ông được coi là một tuyệt chiêu:vận động được giới bảo thủ,vận động được giới trẻ,vận động được giới phụ nữ! Sau lựa chọn này,hai phe Cộng Hoà và Dân Chủ đã đi vào cuộc vận động tranh cử gay go!Từ nay đến khi bầu cử 04/11 chỉ còn khoảng tròm trèm 70 ngày.
Quốc dân nghị hội của đảng Cộng Hoà sẽ khởi sự vào ngày thứ hai tới đây tại St Paul (Bắc Minnesota).Tổng Thống Bush và Phó Tổng Thống Dick Cheney sẽ tham dự nghị hội.
Mặc dù chỉ trích thượng nghị sĩ McCain mạnh mẽ trong bài diễn văn đọc ngày thứ năm tại Denver,ông Obama cũng phải nói "ông McCain,một cựu tù binh của chiến-tranh Việt Nam,đã mặc quân phục của đất nước chúng ta với sự can trường,xứng đáng được tri ân và kính phục".Các thăm dò dư luận của viện Gallup ấn hành ngày thứ năm cho thấy ông Obama hơn ông McCain sáu điểm (48% cho Obama và 42% cho McCain) nhưng sau việc tuyên bố chọn nữ ứng cử viên phó tổng thống của McCain,tình thế có thể thay đổi.Nếu giấc mơ của Obama là xoá bỏ kỳ thị chủng tộc,thể hiện của ông McCain là sự bình đẳng nam nữ.Lựa chọn của McCain cho thấy ông chuẩn bị để giới trẻ thay thế trong khi đó, ông Obama cho thấy dành vị thế thứ yếu cho người già...
Theo một Giáo Sư Sử Học của Princeton,ông Julian Zelizer,diễn văn của ông Obama được coi là một "khởi điểm tốt"nhằm thu hút số 18 triệu cử tri của bà Hillary R.Clinton,ông còn cần phải làm hơn thê để có thể thắng McCain vì "bài diễn văn không giúp gì cho việc chinh phục những người chưa nhất định".
Vấn đề giờ đây diễn ra trên một bình diện khác:giấc mơ xoá bỏ kỳ thị sẽ thắng hay giấc mơ bình đẳng nam nữ sẽ thắng.Cá nhân người điểm tin cho rằng nữ quyền là một điều quan trọng và việc có được khối cử tri nữ sẽ làm nghiêng phần thắng lợi.
So với Obama,bà Sarah Palin trẻ hơn,năm nay bà mới 44 tuổi,trẻ hơn Obama đến 3 tuổi Và nếu Obama mới làm thượng nghị sĩ mới 3 năm, bà Palin mới làm Thống Đốc Alaska từ 2006!
"Thượng nghị Sĩ John McCain đã loan báo vào ngày hôm nay ông đã chọn bà Sarah Palin,Thống Đốc tiểu bang Alaska,đứng chung liên danh và hành xử như là phó tổng thống của ông" theo như thông cáo của ban vận động tranh cử của McCain.
Nữ Thống Đốc Palin là một nhà lãnh đạo vững chắc đã chứng tỏ trong nhiệm kỳ của bà là bà sẵn sàng đảm nhiệm trách vụ Tổng Thống" để thay thế trong trường hợp cần thiết,nhân vật số một của Hoa Kỳ,theo như đội vận động của ông McCain.
Bà đã để những người Cộng Hoà và Dân Chủ trong chánh quyền của bà xát lại gần nhau và nổi tiếng về việc đem lại những thay đổi và cải cách mà chúng ta cần thiết ở Hoa Thịnh Đốn.
Sinh ngày 11/02/1964, bà Sarah Palin đã tốt nghiệp truyền thông và báo chí, thuộc về cánh bảo thủ của đảng Cộng Hoà. Đã kết hôn và có năm con, bà chống lại việc phá thai, thành viên của National Rifle Association (NRA), một 'lốp-by cực mạnh về dầu hoả khí đốt, và ủng hộ việc xây dựng một ống dẫn để vận chuyển khí thắp xuyên qua Alaska, tiểu bang rộng nhất Hoa Kỳ.
Và bất chấp những người bảo vệ môi sinh,bà bảo vệ với nhiệt tình việc mở ngõ các vùng thiên nhiên được bảo vệ ở địa cực (Arctic National Wildlife Refuge) cho việc khai mỏ dầu hoả,một trong những trục về chánh sách năng lượng của ông McCain.
Nhưng cũng như McCain là người được tiếng "thẳng thắn",bà sẵn sàng chống lại một cách ồn ào các người lãnh đạo của đảng.Bà cũng là người chống lại những vụ lem nhem trong đảng Cộng Hoà.
Lựa chọn bà Sarah Palin vào trách vụ nữ ứng cử viên Tổng Thống trong Liên Danh của mình,ông McCain đã tung ra một tuyệt chiêu!
Tổng Hợp AFP
Thái Hà Hôm Nay Có Sợ Hãi Không?
Tác giả: DCCT
Tưởng sau cuộc vây ráp bằng roi điện và giầy đinh tối qua, bà con giáo dân được phen sợ hãi, sẽ không dám đến Thái Hà xem lễ nữa. Chiều nay, có tin đồn là tối nay còn không có lễ ở Thái Hà vì các Cha sợ nên bỏ trốn hết, đừng nên xuống đó.
Thế nên nhiều người lại quyết tâm đến Thái Hà hơn, để khẳng định tấm lòng của mình với giáo xứ đang khi đau thương, nhất là khi Cha Phụng đã được đưa trên TV để chịu trận xỉ vả.
Nhưng thật không ngờ, tối nay, buổi tối mà số người đến Thái Hà tăng hơn những đêm trước rất nhiều. Thánh lễ chật kín cả nhà thờ, nghe Cha ở Nhà thờ Hàng Bột giảng về Thánh Gioan Baotixita, Ngài đã chịu chết một cách đau đớn, thê thảm khi nói lên sự thật trước sự loạn luân của nhà vua. Trong bài giảng, Cha đã khẳng định, sự thật sẽ chiến thắng, công lý sẽ được sáng tỏ. Thánh nhân đã chiến thắng nhà vua đồi bại không phải vì khi đang sống, nhưng là khi thời gian đã qua đi. Tấm gương làm chứng cho sự thật của Thánh nhân đã chiến thắng vị vua bạo tàn, vua chỉ nhất thời, còn dân vạn đại.
Bài giảng này không biết có lọt vào tai mấy cán bộ đang rình mò ở ngoài hay không, nhưng thấm thía đối với người dân Thái Hà hôm nay.
Tan lễ, đoàn rước đến linh đài dài dằng dặc làm cho các công an cũng ngạc nhiên. Họ không ngờ giáo dân lại coi thường đau khổ như thế.
Đoàn gồm có các Cha do Cha Phụng mới về cùng với 7 cha trong dòng mặc toàn áo đỏ. Sau việc kính tuần bảy ngày trước linh đài Đức Mẹ, đoàn rước gồm các cha đã đi đến tượng đài Đức Mẹ phía trong và hát mừng kính Mẹ. Sau đó, đoàn đã đi một vòng xung quanh Linh địa Đức Bà sang phía bên kia, trong ngôi nhà đã bị nhà nước cho phá dở dang. Đoàn rước đi trong đêm tối với ánh nên trên tay, vì phía trong, nhà nước đã cho tắt hết các bóng điện để tiết kiệm điện cho đất nước.
Đoàn rước đông đảo đã làm nhiều người, nhất là lương dân xung quanh, vì họ nghe nói công an đã trấn áp được giáo dân thắng lợi, nhưng hôm nay lại thấy đông đúc hơn nên nhiều người đã ra xem. Hôm nay, công an ít hơn những hôm trước, chắc họ nghĩ bây giờ có thách đố, thì giáo dân cũng không dám bén mảng tới nơi này.
Đoàn giáo dân và linh mục hôm nay đến linh địa Đức Bà, là câu trả lời với lực lượng bạo lực là họ không hề run sợ.
Nhưng hôm nay thì họ đã nhầm to. Một số người dân cho biết, khi chưa xong lễ, một số công an khá đông tập trung trước hội chữ thập đỏ. Khi lễ xong, Cha Khải sau khi căn dặn bà con xong, ngài nói “tất cả lên đường” để ra Thánh địa, thì công an chạy tán loạn, chắc họ nghĩ giáo dân lại đi ra ngoài đường, làm mồi cho họ như đêm qua nên chạy ra chuẩn bị.
Tình hình chị người dân tộc bị đánh hiện đang nguy hiểm, chị bị đau đầu và thỉnh thoảng nôn, chóng mặt, hiện nay vẫn phải nằm lại ở nhà xứ để chăm sóc. Một số người tối qua bị đánh hôm nay không đi làm được, nhưng đến bệnh viện khám khai là do công an đánh thì bác sỹ đã không dám cho giấy chứng thương.
Chiều nay, Cha Khải và một số Cha đã ra quận để chất vấn, họ trả lời tỉnh bơ là chúng tôi không đánh ai, cho đến bây giờ chưa thấy đơn trình báo nào về việc bị công an đánh. Thật đúng là miệng lưỡi công an nhà nước cộng sản.
Nhiều nơi hiệp thông cầu nguyện với Thái Hà, hôm nay nhiều đoàn người đã về đây cùng Thái Hà để chia sẻ và cầu nguyện.
Những ngày tới, bà con vẫn nhất định sẽ không sợ hãi mà bỏ cuộc, trái lại họ càng vững tin hơn.
Chúc Thái Hà luôn bình an và kiên cường. Xin hãy hiệp thông với anh chị em chúng ta trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay. Họ đang cần điều đó hơn bao giờ hết.
Thái Hà 29-8-2008
Dòng Chúa Cứu Thế
Tác giả: DCCT
Tưởng sau cuộc vây ráp bằng roi điện và giầy đinh tối qua, bà con giáo dân được phen sợ hãi, sẽ không dám đến Thái Hà xem lễ nữa. Chiều nay, có tin đồn là tối nay còn không có lễ ở Thái Hà vì các Cha sợ nên bỏ trốn hết, đừng nên xuống đó.Thế nên nhiều người lại quyết tâm đến Thái Hà hơn, để khẳng định tấm lòng của mình với giáo xứ đang khi đau thương, nhất là khi Cha Phụng đã được đưa trên TV để chịu trận xỉ vả.
Nhưng thật không ngờ, tối nay, buổi tối mà số người đến Thái Hà tăng hơn những đêm trước rất nhiều. Thánh lễ chật kín cả nhà thờ, nghe Cha ở Nhà thờ Hàng Bột giảng về Thánh Gioan Baotixita, Ngài đã chịu chết một cách đau đớn, thê thảm khi nói lên sự thật trước sự loạn luân của nhà vua. Trong bài giảng, Cha đã khẳng định, sự thật sẽ chiến thắng, công lý sẽ được sáng tỏ. Thánh nhân đã chiến thắng nhà vua đồi bại không phải vì khi đang sống, nhưng là khi thời gian đã qua đi. Tấm gương làm chứng cho sự thật của Thánh nhân đã chiến thắng vị vua bạo tàn, vua chỉ nhất thời, còn dân vạn đại.Bài giảng này không biết có lọt vào tai mấy cán bộ đang rình mò ở ngoài hay không, nhưng thấm thía đối với người dân Thái Hà hôm nay.
Tan lễ, đoàn rước đến linh đài dài dằng dặc làm cho các công an cũng ngạc nhiên. Họ không ngờ giáo dân lại coi thường đau khổ như thế.
Đoàn gồm có các Cha do Cha Phụng mới về cùng với 7 cha trong dòng mặc toàn áo đỏ. Sau việc kính tuần bảy ngày trước linh đài Đức Mẹ, đoàn rước gồm các cha đã đi đến tượng đài Đức Mẹ phía trong và hát mừng kính Mẹ. Sau đó, đoàn đã đi một vòng xung quanh Linh địa Đức Bà sang phía bên kia, trong ngôi nhà đã bị nhà nước cho phá dở dang. Đoàn rước đi trong đêm tối với ánh nên trên tay, vì phía trong, nhà nước đã cho tắt hết các bóng điện để tiết kiệm điện cho đất nước.
Đoàn rước đông đảo đã làm nhiều người, nhất là lương dân xung quanh, vì họ nghe nói công an đã trấn áp được giáo dân thắng lợi, nhưng hôm nay lại thấy đông đúc hơn nên nhiều người đã ra xem. Hôm nay, công an ít hơn những hôm trước, chắc họ nghĩ bây giờ có thách đố, thì giáo dân cũng không dám bén mảng tới nơi này.
Đoàn giáo dân và linh mục hôm nay đến linh địa Đức Bà, là câu trả lời với lực lượng bạo lực là họ không hề run sợ.
Nhưng hôm nay thì họ đã nhầm to. Một số người dân cho biết, khi chưa xong lễ, một số công an khá đông tập trung trước hội chữ thập đỏ. Khi lễ xong, Cha Khải sau khi căn dặn bà con xong, ngài nói “tất cả lên đường” để ra Thánh địa, thì công an chạy tán loạn, chắc họ nghĩ giáo dân lại đi ra ngoài đường, làm mồi cho họ như đêm qua nên chạy ra chuẩn bị.
Tình hình chị người dân tộc bị đánh hiện đang nguy hiểm, chị bị đau đầu và thỉnh thoảng nôn, chóng mặt, hiện nay vẫn phải nằm lại ở nhà xứ để chăm sóc. Một số người tối qua bị đánh hôm nay không đi làm được, nhưng đến bệnh viện khám khai là do công an đánh thì bác sỹ đã không dám cho giấy chứng thương.
Chiều nay, Cha Khải và một số Cha đã ra quận để chất vấn, họ trả lời tỉnh bơ là chúng tôi không đánh ai, cho đến bây giờ chưa thấy đơn trình báo nào về việc bị công an đánh. Thật đúng là miệng lưỡi công an nhà nước cộng sản.
Nhiều nơi hiệp thông cầu nguyện với Thái Hà, hôm nay nhiều đoàn người đã về đây cùng Thái Hà để chia sẻ và cầu nguyện.
Những ngày tới, bà con vẫn nhất định sẽ không sợ hãi mà bỏ cuộc, trái lại họ càng vững tin hơn.
Chúc Thái Hà luôn bình an và kiên cường. Xin hãy hiệp thông với anh chị em chúng ta trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay. Họ đang cần điều đó hơn bao giờ hết.
Thái Hà 29-8-2008
Dòng Chúa Cứu Thế
Chung quanh lời tuyên bố của Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng
Tác giả: Tiến Hồng

Hình: Bản đồ Biển Đông và vị trí khai thác dâu của công ty Mỹ ExxonMobile.
Theo bản tin của BBC « VN ‘thực thi quyền khai thác dầu’ » ngày 27/8/2008, trong buổi họp báo không được báo chí trong nước loan tải vì lý do nhạy cảm( ! ), thứ trưởng ngoại giao Vũ Dũng (1) khi được hỏi về phản ứng của Trung Quốc đối với các dự án của Việt Nam với tập đoàn BP và ExxonMobil, nói: “Tất cả các dự án Việt Nam đang tiến hành đều nằm trong vùng thềm lục địa tối thiểu 200 hải lý (2) của Việt Nam ».
Ông nhấn mạnh: “Quyền của chúng ta thì chúng ta làm” !
Lần đầu tiên, một giới chức có thẩm quyền của Việt Nam « dám » đưa ra một lời tuyên bố mạnh mẽ như vậy. Vào tháng 6/2008, bộ Ngoại giao đã không có phản ứng như thế khiến cho hãng dầu BP của Anh phải rút lại dự án hơn 2 tỉ MK ký kết với Việt Nam liên quan đến các lô dầu khí (blocks) cũng ở thềm lục địa tối thiểu gần Hoàng Sa và Vịnh Bắc bộ thuộc phân giới của Việt Nam. Tại sao lần này Việt Nam có vẻ mạnh miệng hơn lần trước ?
Trước hết, có một điểm rất quan trọng cần lưu ý. Về cơ bản, đây không phải là xung đột về chủ quyền đối với cả quần đảo (Trường Sa hay Hoàng Sa) mà chỉ là vùng hải phận và thềm lục địa giữa bờ biển Việt Nam và quần đảo này Đó là vùng được công ước quốc tế về luật biển 1982 xác định là vùng kinh tế đặc quyền bao gồm 200 hải lý từ thềm lục địa.
Giáo sư Ramses Amer, Khoa Khoa học chính trị trường Đại học Umea của Thụy Điển, một người chuyên theo dõi về quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng nhận xét (3): ''Vấn đề cơ bản ở đây là Việt Nam khai thác dầu khí ngoài khơi ở phía Đông, nơi xuất xứ phần lớn dầu thô của Việt Nam. Một phần của khu vực, mà Việt Nam nhận là nằm trong thềm lục địa và đặc khu kinh tế của Việt Nam, lại trùng với khu vực hải phận mà Trung Quốc nhận chủ quyền ». Nhận chủ quyền như thế là hoàn toàn vô lý như giáo sư Tạ Văn Tài đã phân tích trong bài phỏng vấn « Việt Nam có nên dựa vào Mỹ để đối phó với Trung Quốc » đăng trên RFA ngày 23/8/2008.
Ông Vũ Dũng đã phải mất hai ngày trước cuộc họp báo để « giải thích » với người đồng nhiệm Trung Quốc Vũ Đại Vỹ là vùng khai thác không thuộc vùng biển tranh chấp với Trung Quốc ! Và ông Nguyễn Tấn Dũng cũng sẽ phải tiếp tục « giải thích » trong chuyến đi Trung Quốc dự trù vào cuối năm nay.
Hãng dầu số 1 của Mỹ Exxon đã căn cứ vào điểm này để cho là vùng thăm dò khai thác dầu khí (thuộc thềm lục địa gần Hoàng Sa và Trường Sa) là thuộc chủ quyền của Việt Nam và do đó ký thoả hiệp khung về thăm dò và khai thác trữ lượng dầu khí nhân chuyến đi của thủ tướng Dũng cuối tháng 6/2008. Đây chắc chắn không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên với bản tuyên bố chung trong đó Mỹ ủng hộ chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam. Việc ký kết khế ước chính thức còn phải chờ một thời gian và tùy thuộc vào các dự án hợp tác của Petro Vietnam sau nhiều năm hợp tác sơ khởi về kỹ thuật và lượng giá. Sự hăm dọa của Trung Quốc về hậu quả kinh doanh chắc không làm cho Exxon Mobil lo ngại vì trị giá lớn lao của khế ước nhiều tỉ mỹ kim hơn hẳn 2 tỉ mỹ kim của hợp đồng dự tính với BP của Anh. Vả lại, nhân cơ hội lá bùa Mỹ này, BP dự tính sẽ tiếp tục các dự án với Petro Vietnam vào cuối năm sau khi đã phải bỏ dở vào tháng 6/2007 trước áp lực của Trung Quốc.
Bà Nicole Thompson, phát ngôn viên của bộ Ngoại giao Mỹ khi trả lời RFA ngày 28/7/2008 khi biểu lộ sự phản đối bất cứ nỗ lực nào gây áp lực (có nghĩa là sẽ can thiệp để bảo vệ) cho các công ty Mỹ hoạt động trong khu vực thềm lục địa của Việt Nam đã gián tiếp tỏ cho Trung Quốc biết đã đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp. Nó cũng đồng thời cho thấy Mỹ đặt nặng tầm quan trọng của việc khai thác dầu biển đông (được uớc tính trữ lượng có thể lên tới 40 tỉ tấn) tuy không thuộc Mỹ nhưng có ảnh hưởng đối với nền kinh tế Mỹ trong hiện trạng giá năng lượng tăng cao. Đồng thời về mặt quân sự, đây cũng là biểu lộ ý muốn về sự gia tăng hiện diện để bảo vệ các đồng minh của Mỹ trong vùng nhằm làm đối trọng với chính sách quân sự « viễn phương phòng vệ » của Trung Quốc (4). Tháng 5/2008, bộ trưởng quốc phòng Mỹ đã phát biểu tại Singapour là Trung Quốc không nên bắt nạt các nước nhỏ trong vùng. Việc gia tăng hợp tác về quân sự với Cămpuchia, Lào và Việt Nam gần đây nằm trong chiều hướng đó.
Khi đại sứ Mỹ trong cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 20/8/2008 tuyên bố là « Hoa Kỳ chắc chắn không muốn một ai can thiệp vào những doanh vụ của các công ty Mỹ đang thực hiện các hợp đồng thương mại », « chuyện muốn làm ăn với ai, làm ăn nơi nào là tuỳ thuộc vào quyết định của các công ty », những lời tuyên bố đó tuy không được báo giới trong nước loan tải vì nhạy cảm, đã thể hiện rõ ràng lập trường của Mỹ đã nêu và là « chỗ dựa » cho lời tuyên bố mạnh mẽ của ông Vũ Dũng ngày 26/8/2008.
Lịch sử đã chứng minh là chính sách bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc chỉ ngưng lại khi có một sức mạnh can thiệp. Chính sách ngoại giao đa phương cân bằng đã từng được đề cập tại bộ chính trị trong thập niên 1990 nhưng chỉ áp dụng một phần với ASEAN và bị bác bỏ vì giới lãnh đạo cộng sản đã đặt liên minh xã hội chủ nghĩa và lợi ích của đảng lên trên quyền lợi quốc gia. Hậu quả là bị Trung Quốc lấn át, coi thường để thực hiện những ý đồ về lãnh thổ (nhượng bộ tối đa trong các hiệp định biên giới 1999 và 2000, coi thường chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa, giết hại ngư dân vô tội…). Ngoài ra, trong mọi lãnh vực, từ kinh tế (cán cân ngoại thương quá chênh lệch, biên giới Việt Trung trở thành nơi thực hiện các dã tâm của Trung Quốc như than lậu xuất khẩu nhiều triệu tấn, những thủ đoạn gây hại cho môi sinh, tiền giả, lũng đoạn cơ cấu kinh tế và tiêu thụ..) đến an ninh quốc phòng, văn hoá… tất cả những thiệt hại mà Việt Nam gánh chịu khiến cho chúng ta có thể nói đến « diễn biến hoà bình Trung Quốc ».
Giờ đây, giới lãnh đạo đảng cộng sản không còn con đường nào khác để bảo toàn quyền lợi quốc gia là dựa vào Mỹ. Nhưng nói như thế không phải là tự nhiên mọi việc sẽ diễn tiến thuận lợi.
Không kể các chiến dịch trên báo chí như tờ Văn hối xuất bản ở Hồng Kông nói đến phải dậy cho Việt Nam một bài học về đồng thuận, trên mạng lưới điện tử kể từ tháng 4/2008 và gần đây (tháng 7, 8 gần ngày khai mạc Thế vận hội Bắc Kinh 2008) trên mạng sina.com (có số người xem trên 3 triệu, rất gần với nhà cầm quyền) đã tung ra một loạt bài theo hướng Trung Quốc phải chiến tranh ngay với Việt Nam dù là chiến tranh hạn chế. Mặc dù luận điểm đưa ra đã bóp méo sự thật nhưng nói lên rõ rệt chính sách không di dịch của Trung Quốc như chúng ta đã biết.
Nhưng không chỉ có thế. Vào lúc ông Vũ Dũng đang thảo luận với người đồng nhiệm Trung Quốc , theo RFA ngày 26/8/2008, nhiều tầu quân sự vũ trang có trang bị hoả tiễn giả dạng tầu đánh cá đã xuất hiện ở vùng vịnh Bắc bộ nơi trước kia công ty BP của Anh thăm dò và sau đó phải rút đi. Đây là một hành động có tính khiêu khích để làm áp lực.Cho đến khi ông Nguyễn Tấn Dũng sang Trung Quốc vào cuối năm, những hàng động khiêu khích như trên sẽ nhằm thử thách sự nhất trí trong nội bộ giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam trong kế sách đối phó với Trung Quốc.
Hiện nay, Trung Quốc chưa thể tiên liệu hậu quả một hành động quân sự đối với Mỹ, với các quốc gia khác và nhất là phản ứng tâm lý và khả năng phản ứng quân sự của Việt Nam mặc dù biết khá rõ thực lực (5). Trung Quốc và Việt Nam hiện có đường dây nóng sau chuyến đi của ông Triết hồi tháng 6/2008. Trung Quốc cũng biết rõ nội tình của mình chưa chuẩn bị cho một phiêu lưu quân sự.
Tuy nhiên, giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam cần phải gây lại niềm tin đã mất nơi dân chúng bằng cách thực sự mưu tìm sự đoàn kết dân tộc trước hiểm hoạ ngoại xâm. Nếu muốn dựa vào Mỹ để không bị Trung Quốc chèn ép, thì không thể để có khoảng cách nhiều về định nghĩa tự do, dân chủ như đại sứ Michalaak đã nêu trong buổi họp báo ngày 20/6/2008, nghĩa là cứ nhắm mắt đàn áp những người đấu tranh cho tự do ngôn luận, cho dân chủ để đến chỗ có thể bị thượng viện Mỹ biểu quyết về vi phạm nhân quyền.
Và giới lãnh đạo cộng sản cũng cần nhớ rằng : Nếu đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi của quốc gia thì sẽ không bao giờ có thể giải quyết được tất cả những khó khăn, khủng hoảng trong mọi lãnh vực kinh tế, xã hội hiện đang chồng chất và trước hết là ngoại xâm.
(1) Không phải ông Lê Dũng, phát ngôn viên thường được coi là « lưỡi gỗ » của bộ Ngoại giao.
(2) Tương đương với 320km ; 1 hải lý = 1,609km.
(3) Theo BBC, 17/4/2008.
(4) Chính sách này do đô đốc Lưu Hòa Thanh khởi sướng, chủ trương lấy Hoàng Sa, Trường Sa làm tuyến đầu phía nam để từ đó kiểm soát biển đông. Việc thành lập căn cứ cho tầu ngầm nguyên tử Tam Sa ở phía nam Hải Nam là nằm trong chính sách này. Và trữ lượng lớn dầu ở ngoài khơi hai quần đảo (rất cần cho sự phát triển kinh tế của Trung Quốc) cũng nằm trong chính sách « không gian sinh tồn mới » do bộ trưởng quốc phòng Trì Hạo Điền chủ xướng.
(5) Trích tờ Thái dương ngày 4/8/2008 (chỉ nên coi là tài liệu có tính cách tuyên truyền): Hải quân Việt Nam có 5,5 vạn quân với hơn 300 tàu chiến các loại Không quân Việt Nam có khoảng 3 vạn quân với hơn 480 máy chiến đấu các loại, bao gồm máy bay SU-27, SU-30 .Quân đội Việt Nam đầu tư chi phí lớn xây dựng 11 căn cứ hải quân và 15 căn cứ không quân hướng ra Biển Đông. Đồng thời Việt Nam tăng cường xây dựng các công sự mang tính vĩnh cửu trên các đảo mà Việt Nam chiếm lĩnh ở Nam Sa. Việc làm có ý nghĩa chiến lược nhất là Việt Nam đã xây dựng hai sân bay ở đảo Nam Uy và đảo Trường Sa, khiến không quân Việt Nam có được sân bay quý giá tiến ra Nam Sa; hàng loạt nhân viên, trang bị và vật tư đạn dược liên tục chở đến Nam Sa qua “hành lang trên không” này.
Để chuẩn bị cho cuộc chiến với Trung Quốc, mấy năm gần đây Việt Nam đã đưa ra “3 con át chủ bài lớn”, đó là tàu chiến mang tên lửa với uy lực lớn, máy bay chiến đấu tầm xa và tác chiến đặc công biển; hòng hình thành ưu thế tiến công phi đối xứng “lấy nhỏ kiềm chế lớn”. Quân đội Việt Nam còn lấy việc huấn luyện khoa mục người nhái tiến công các toà nhà, phá hoại công trình ngầm làm trọng điểm tác chiến ở Nam Sa. Đặc công nước của Việt Nam còn tiến hành các hoạt động theo dõi, gây nhiễu đối với các tàu thăm dò của Trung Quốc ở Nam Sa.
Tác giả: Tiến Hồng

Hình: Bản đồ Biển Đông và vị trí khai thác dâu của công ty Mỹ ExxonMobile.
Theo bản tin của BBC « VN ‘thực thi quyền khai thác dầu’ » ngày 27/8/2008, trong buổi họp báo không được báo chí trong nước loan tải vì lý do nhạy cảm( ! ), thứ trưởng ngoại giao Vũ Dũng (1) khi được hỏi về phản ứng của Trung Quốc đối với các dự án của Việt Nam với tập đoàn BP và ExxonMobil, nói: “Tất cả các dự án Việt Nam đang tiến hành đều nằm trong vùng thềm lục địa tối thiểu 200 hải lý (2) của Việt Nam ».
Ông nhấn mạnh: “Quyền của chúng ta thì chúng ta làm” !
Lần đầu tiên, một giới chức có thẩm quyền của Việt Nam « dám » đưa ra một lời tuyên bố mạnh mẽ như vậy. Vào tháng 6/2008, bộ Ngoại giao đã không có phản ứng như thế khiến cho hãng dầu BP của Anh phải rút lại dự án hơn 2 tỉ MK ký kết với Việt Nam liên quan đến các lô dầu khí (blocks) cũng ở thềm lục địa tối thiểu gần Hoàng Sa và Vịnh Bắc bộ thuộc phân giới của Việt Nam. Tại sao lần này Việt Nam có vẻ mạnh miệng hơn lần trước ?
Trước hết, có một điểm rất quan trọng cần lưu ý. Về cơ bản, đây không phải là xung đột về chủ quyền đối với cả quần đảo (Trường Sa hay Hoàng Sa) mà chỉ là vùng hải phận và thềm lục địa giữa bờ biển Việt Nam và quần đảo này Đó là vùng được công ước quốc tế về luật biển 1982 xác định là vùng kinh tế đặc quyền bao gồm 200 hải lý từ thềm lục địa.
Giáo sư Ramses Amer, Khoa Khoa học chính trị trường Đại học Umea của Thụy Điển, một người chuyên theo dõi về quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng nhận xét (3): ''Vấn đề cơ bản ở đây là Việt Nam khai thác dầu khí ngoài khơi ở phía Đông, nơi xuất xứ phần lớn dầu thô của Việt Nam. Một phần của khu vực, mà Việt Nam nhận là nằm trong thềm lục địa và đặc khu kinh tế của Việt Nam, lại trùng với khu vực hải phận mà Trung Quốc nhận chủ quyền ». Nhận chủ quyền như thế là hoàn toàn vô lý như giáo sư Tạ Văn Tài đã phân tích trong bài phỏng vấn « Việt Nam có nên dựa vào Mỹ để đối phó với Trung Quốc » đăng trên RFA ngày 23/8/2008.
Ông Vũ Dũng đã phải mất hai ngày trước cuộc họp báo để « giải thích » với người đồng nhiệm Trung Quốc Vũ Đại Vỹ là vùng khai thác không thuộc vùng biển tranh chấp với Trung Quốc ! Và ông Nguyễn Tấn Dũng cũng sẽ phải tiếp tục « giải thích » trong chuyến đi Trung Quốc dự trù vào cuối năm nay.
Hãng dầu số 1 của Mỹ Exxon đã căn cứ vào điểm này để cho là vùng thăm dò khai thác dầu khí (thuộc thềm lục địa gần Hoàng Sa và Trường Sa) là thuộc chủ quyền của Việt Nam và do đó ký thoả hiệp khung về thăm dò và khai thác trữ lượng dầu khí nhân chuyến đi của thủ tướng Dũng cuối tháng 6/2008. Đây chắc chắn không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên với bản tuyên bố chung trong đó Mỹ ủng hộ chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam. Việc ký kết khế ước chính thức còn phải chờ một thời gian và tùy thuộc vào các dự án hợp tác của Petro Vietnam sau nhiều năm hợp tác sơ khởi về kỹ thuật và lượng giá. Sự hăm dọa của Trung Quốc về hậu quả kinh doanh chắc không làm cho Exxon Mobil lo ngại vì trị giá lớn lao của khế ước nhiều tỉ mỹ kim hơn hẳn 2 tỉ mỹ kim của hợp đồng dự tính với BP của Anh. Vả lại, nhân cơ hội lá bùa Mỹ này, BP dự tính sẽ tiếp tục các dự án với Petro Vietnam vào cuối năm sau khi đã phải bỏ dở vào tháng 6/2007 trước áp lực của Trung Quốc.
Bà Nicole Thompson, phát ngôn viên của bộ Ngoại giao Mỹ khi trả lời RFA ngày 28/7/2008 khi biểu lộ sự phản đối bất cứ nỗ lực nào gây áp lực (có nghĩa là sẽ can thiệp để bảo vệ) cho các công ty Mỹ hoạt động trong khu vực thềm lục địa của Việt Nam đã gián tiếp tỏ cho Trung Quốc biết đã đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp. Nó cũng đồng thời cho thấy Mỹ đặt nặng tầm quan trọng của việc khai thác dầu biển đông (được uớc tính trữ lượng có thể lên tới 40 tỉ tấn) tuy không thuộc Mỹ nhưng có ảnh hưởng đối với nền kinh tế Mỹ trong hiện trạng giá năng lượng tăng cao. Đồng thời về mặt quân sự, đây cũng là biểu lộ ý muốn về sự gia tăng hiện diện để bảo vệ các đồng minh của Mỹ trong vùng nhằm làm đối trọng với chính sách quân sự « viễn phương phòng vệ » của Trung Quốc (4). Tháng 5/2008, bộ trưởng quốc phòng Mỹ đã phát biểu tại Singapour là Trung Quốc không nên bắt nạt các nước nhỏ trong vùng. Việc gia tăng hợp tác về quân sự với Cămpuchia, Lào và Việt Nam gần đây nằm trong chiều hướng đó.
Khi đại sứ Mỹ trong cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 20/8/2008 tuyên bố là « Hoa Kỳ chắc chắn không muốn một ai can thiệp vào những doanh vụ của các công ty Mỹ đang thực hiện các hợp đồng thương mại », « chuyện muốn làm ăn với ai, làm ăn nơi nào là tuỳ thuộc vào quyết định của các công ty », những lời tuyên bố đó tuy không được báo giới trong nước loan tải vì nhạy cảm, đã thể hiện rõ ràng lập trường của Mỹ đã nêu và là « chỗ dựa » cho lời tuyên bố mạnh mẽ của ông Vũ Dũng ngày 26/8/2008.
Lịch sử đã chứng minh là chính sách bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc chỉ ngưng lại khi có một sức mạnh can thiệp. Chính sách ngoại giao đa phương cân bằng đã từng được đề cập tại bộ chính trị trong thập niên 1990 nhưng chỉ áp dụng một phần với ASEAN và bị bác bỏ vì giới lãnh đạo cộng sản đã đặt liên minh xã hội chủ nghĩa và lợi ích của đảng lên trên quyền lợi quốc gia. Hậu quả là bị Trung Quốc lấn át, coi thường để thực hiện những ý đồ về lãnh thổ (nhượng bộ tối đa trong các hiệp định biên giới 1999 và 2000, coi thường chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa, giết hại ngư dân vô tội…). Ngoài ra, trong mọi lãnh vực, từ kinh tế (cán cân ngoại thương quá chênh lệch, biên giới Việt Trung trở thành nơi thực hiện các dã tâm của Trung Quốc như than lậu xuất khẩu nhiều triệu tấn, những thủ đoạn gây hại cho môi sinh, tiền giả, lũng đoạn cơ cấu kinh tế và tiêu thụ..) đến an ninh quốc phòng, văn hoá… tất cả những thiệt hại mà Việt Nam gánh chịu khiến cho chúng ta có thể nói đến « diễn biến hoà bình Trung Quốc ».
Giờ đây, giới lãnh đạo đảng cộng sản không còn con đường nào khác để bảo toàn quyền lợi quốc gia là dựa vào Mỹ. Nhưng nói như thế không phải là tự nhiên mọi việc sẽ diễn tiến thuận lợi.
Không kể các chiến dịch trên báo chí như tờ Văn hối xuất bản ở Hồng Kông nói đến phải dậy cho Việt Nam một bài học về đồng thuận, trên mạng lưới điện tử kể từ tháng 4/2008 và gần đây (tháng 7, 8 gần ngày khai mạc Thế vận hội Bắc Kinh 2008) trên mạng sina.com (có số người xem trên 3 triệu, rất gần với nhà cầm quyền) đã tung ra một loạt bài theo hướng Trung Quốc phải chiến tranh ngay với Việt Nam dù là chiến tranh hạn chế. Mặc dù luận điểm đưa ra đã bóp méo sự thật nhưng nói lên rõ rệt chính sách không di dịch của Trung Quốc như chúng ta đã biết.
Nhưng không chỉ có thế. Vào lúc ông Vũ Dũng đang thảo luận với người đồng nhiệm Trung Quốc , theo RFA ngày 26/8/2008, nhiều tầu quân sự vũ trang có trang bị hoả tiễn giả dạng tầu đánh cá đã xuất hiện ở vùng vịnh Bắc bộ nơi trước kia công ty BP của Anh thăm dò và sau đó phải rút đi. Đây là một hành động có tính khiêu khích để làm áp lực.Cho đến khi ông Nguyễn Tấn Dũng sang Trung Quốc vào cuối năm, những hàng động khiêu khích như trên sẽ nhằm thử thách sự nhất trí trong nội bộ giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam trong kế sách đối phó với Trung Quốc.
Hiện nay, Trung Quốc chưa thể tiên liệu hậu quả một hành động quân sự đối với Mỹ, với các quốc gia khác và nhất là phản ứng tâm lý và khả năng phản ứng quân sự của Việt Nam mặc dù biết khá rõ thực lực (5). Trung Quốc và Việt Nam hiện có đường dây nóng sau chuyến đi của ông Triết hồi tháng 6/2008. Trung Quốc cũng biết rõ nội tình của mình chưa chuẩn bị cho một phiêu lưu quân sự.
Tuy nhiên, giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam cần phải gây lại niềm tin đã mất nơi dân chúng bằng cách thực sự mưu tìm sự đoàn kết dân tộc trước hiểm hoạ ngoại xâm. Nếu muốn dựa vào Mỹ để không bị Trung Quốc chèn ép, thì không thể để có khoảng cách nhiều về định nghĩa tự do, dân chủ như đại sứ Michalaak đã nêu trong buổi họp báo ngày 20/6/2008, nghĩa là cứ nhắm mắt đàn áp những người đấu tranh cho tự do ngôn luận, cho dân chủ để đến chỗ có thể bị thượng viện Mỹ biểu quyết về vi phạm nhân quyền.
Và giới lãnh đạo cộng sản cũng cần nhớ rằng : Nếu đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi của quốc gia thì sẽ không bao giờ có thể giải quyết được tất cả những khó khăn, khủng hoảng trong mọi lãnh vực kinh tế, xã hội hiện đang chồng chất và trước hết là ngoại xâm.
(1) Không phải ông Lê Dũng, phát ngôn viên thường được coi là « lưỡi gỗ » của bộ Ngoại giao.
(2) Tương đương với 320km ; 1 hải lý = 1,609km.
(3) Theo BBC, 17/4/2008.
(4) Chính sách này do đô đốc Lưu Hòa Thanh khởi sướng, chủ trương lấy Hoàng Sa, Trường Sa làm tuyến đầu phía nam để từ đó kiểm soát biển đông. Việc thành lập căn cứ cho tầu ngầm nguyên tử Tam Sa ở phía nam Hải Nam là nằm trong chính sách này. Và trữ lượng lớn dầu ở ngoài khơi hai quần đảo (rất cần cho sự phát triển kinh tế của Trung Quốc) cũng nằm trong chính sách « không gian sinh tồn mới » do bộ trưởng quốc phòng Trì Hạo Điền chủ xướng.
(5) Trích tờ Thái dương ngày 4/8/2008 (chỉ nên coi là tài liệu có tính cách tuyên truyền): Hải quân Việt Nam có 5,5 vạn quân với hơn 300 tàu chiến các loại Không quân Việt Nam có khoảng 3 vạn quân với hơn 480 máy chiến đấu các loại, bao gồm máy bay SU-27, SU-30 .Quân đội Việt Nam đầu tư chi phí lớn xây dựng 11 căn cứ hải quân và 15 căn cứ không quân hướng ra Biển Đông. Đồng thời Việt Nam tăng cường xây dựng các công sự mang tính vĩnh cửu trên các đảo mà Việt Nam chiếm lĩnh ở Nam Sa. Việc làm có ý nghĩa chiến lược nhất là Việt Nam đã xây dựng hai sân bay ở đảo Nam Uy và đảo Trường Sa, khiến không quân Việt Nam có được sân bay quý giá tiến ra Nam Sa; hàng loạt nhân viên, trang bị và vật tư đạn dược liên tục chở đến Nam Sa qua “hành lang trên không” này.
Để chuẩn bị cho cuộc chiến với Trung Quốc, mấy năm gần đây Việt Nam đã đưa ra “3 con át chủ bài lớn”, đó là tàu chiến mang tên lửa với uy lực lớn, máy bay chiến đấu tầm xa và tác chiến đặc công biển; hòng hình thành ưu thế tiến công phi đối xứng “lấy nhỏ kiềm chế lớn”. Quân đội Việt Nam còn lấy việc huấn luyện khoa mục người nhái tiến công các toà nhà, phá hoại công trình ngầm làm trọng điểm tác chiến ở Nam Sa. Đặc công nước của Việt Nam còn tiến hành các hoạt động theo dõi, gây nhiễu đối với các tàu thăm dò của Trung Quốc ở Nam Sa.
Cuộc cách mạng vẫn tiếp tục
Tác giả: Phạm Hồng Sơn
Có lẽ khó có niềm vui nào sánh được sự hân hoan, vui sướng của người dân một nước sau gần 100 năm bị ngoại bang đô hộ, khinh rẻ, hắt hủi, khi được nghe những lời nói âm vang từ chính người cùng dòng máu, cùng tiếng nước mình:
“Hỡi đồng bào cả nước,
“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”….Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” (Trích: Tuyên ngôn Độc lập do Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 02/09/1945).
Sự bức xúc, ấm ức của cả một dân tộc bị coi rẻ trong bao năm, cho dù nguyên nhân không hẳn chỉ do ngoại bang, dường như được vỡ oà vào câu “Có” đồng thanh từ biển người vào cái ngày đó, khi vị Chủ tịch lâm thời khéo léo buông câu hỏi “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”.
Lòng tự tôn dân tộc, sau bao năm bị đè nén đã gặp đúng dịp thăng hoa làm ngây ngất lòng người. Mọi của cải, vàng bạc, châu báu và cả sinh mạng từng được tích cóp chi li hay suy tính hơn thiệt đều trở thành tầm thường. Lòng ái quốc đã vượt lên tất cả. Mọi người dân đều sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc không gợn chút toan tính cá nhân.
Trường lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam luôn cho thấy mỗi lần giành lại được độc lập từ tay ngoại bang luôn là một chiến công đầy cam go của cả dân tộc. Nhưng không biết do vô tình hay có chủ ý, những người con của nước Việt thời hiện đại khi khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập nói trên đã không nhắc đến tầm quan trọng của việc thực thi những quyền cơ bản của con người và sự bình đẳng cần phải có giữa các công dân trong một quốc gia – điều kiện làm cho độc lập dân tộc trở nên có ý nghĩa. Trong 1014 từ của bản Tuyên ngôn Độc lập đó phần lớn chỉ được dùng để lên án, kết tội lực lượng ngoại bang (Pháp và Nhật) và nhấn mạnh sự bình đẳng cần phải có giữa các dân tộc.
Đúng là sau đó, những khát khao độc lập, sự hy sinh vô cùng của dân chúng đã được đáp đền bằng một chính quyền hoàn toàn không có một ông “mắt xanh, mũi lõ” nào. Tất cả đều là người Việt Nam cả. Thậm chí tiếng Tây cũng phải lén lút khi sử dụng. Nhưng sự bất bình đẳng nội tại ngay giữa những người Việt da vàng, mũi tẹt đã ngày càng lộ rõ khi lực lượng ngoại bang dần rút khỏi đất nước.
Nhìn lại một cách toàn cảnh, giai đoạn thiết lập và củng cố của chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà khi đó, ta có thể thấy những mâu thuẫn ngày càng tăng theo thời gian đối với tinh thần “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng”. Chính quyền đưa ra chương trình “Diệt giặc đói”, nhưng theo sau đó là chương trình hắt hủi, triệt hạ những người có của ăn, của để. Chương trình “Diệt giặc dốt” đã mang lại kết quả to lớn về xoá mù chữ trong một thời gian ngắn, nhưng sau đó người dân chỉ có thể an toàn khi đọc hoặc viết theo những gì người cầm quyền không phật ý, kể cả việc ghi chép của các nhà sử học cũng không được là ngoại lệ. Ngay đến những sáng tác nghệ thuật không dùng đến chữ viết cũng phải trông chừng thái độ của người cầm quyền, nếu không muốn tai ương ập tới. Các thiết chế quyền lực công được dựng lên luôn kèm theo tên Nhân Dân như Uỷ Ban Nhân Dân, Hội Đồng Nhân Dân, Toà Án Nhân Dân, Viện Kiểm Sát Nhân Dân, Công An Nhân Dân, v.v nhưng tuyệt đối đều do các đảng viên của Đảng Cộng Sản nắm giữ. Cơ quan có sứ mạng bảo vệ công lý cho xã hội (bộ Tư Pháp) còn bị xoá đi trong hơn 20 năm, cho dù mọi quyền lực lúc đó đã hoàn toàn nằm trong tay Đảng Cộng Sản. Trong hệ thống chính quyền hoàn toàn của người Việt Nam lãnh đạo đó đã từng có những vị trí do những người dân không thuộc Đảng Cộng Sản đảm nhiệm, nhưng thường có ảnh hưởng không đáng kể hoặc chỉ có tác dụng làm cho sự bất bình đẳng giảm bớt đi sự phản cảm. Trước 1945 người dân lao động chỉ căm phẫn dựa vào thái độ ngạo mạn của kẻ ngoại quốc khi chúng xì xồ “Sa-lôt, san anh-đi-gien” (1) thì sau năm 1954, người dân lao động luôn phải bấm bụng nghe những câu tiếng Việt tươi rói nơi cửa miệng những cán bộ Nhà nước hay trên báo chí: “Bọn tư thương”, “ Quân phe phẩy, “Lũ con buôn”, “ Bọn Nhân Văn-Giai Phẩm”, “ Lũ phản động chống đảng”,…
Đến hôm nay, hẳn nhiều người đã hiểu ra rằng sự mất tự do, sự miệt thị do chính người đồng bào của mình gây ra có thể còn tệ hơn kẻ ngoại bang và rõ ràng là chua xót hơn.
Nếu bắt chước những người khởi thảo ra bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam lấy bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền, Dân quyền của Pháp năm 1791 làm sự đối chiếu, ta có thể thấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776, những người khởi thảo đã đề cập ngay đến tầm quan trọng và một số điều kiện cơ bản để đảm bảo cho mọi người dân của nước Hoa Kỳ độc lập trong tương lai (khi thoát khỏi sự áp chế, đô hộ của nước Anh) có quyền bình đẳng với nhau trong mọi vấn đề, kể cả quyền lãnh đạo đất nước. “…Trong những quyền ấy, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Để đảm bảo cho các quyền này, con người thiết lập ra các chính phủ và chính sức mạnh của các chính phủ này xuất phát từ sự ưng thuận của nhân dân. Và khi một hình thức Chính phủ nào đó trở nên đối nghịch với các mục đích trên thì Nhân dân có quyền thay đổi, hay phế bỏ chính phủ đó, và thiết lập một Chính phủ mới, dựa trên nền tảng những nguyên tắc như vậy và tổ chức các quyền lực của mình theo hình thức nào để cho các quyền lực đó có khả năng đảm bảo An ninh và Hạnh phúc cho họ nhiều nhất”, “…Nhà Vua đã không chịu tuân theo Pháp luật, một công cụ lành mạnh nhất, cần thiết nhất cho lợi ích công cộng”, “…Nhà Vua đã cản trở công việc Tư pháp bằng cách không chấp thuận Luật thiết lập Quyền Tư pháp” (…”among these are Life, Liberty, and the pursuit of happiness – That to secure these rights, Goverments are instituted among Men, deriving their just powers from the consent of the governed. That whenever any Form of Government becomes destructive of these ends, it is the Right of the People to alter or to abolish it, and to institute new Government, laying its foundation on such principles and organizing its powers in such form, as to them shall seem most likely to effect their Safety and Happiness”, “…He has refused his Assent to laws, the most wholesome and necessary for the public good”, “…He has obstructed the Administration of Justice, by refusing his Assent to Laws for establishing Judiciary Powers”) (2)
Tất cả 17 điều của bản Tuyên ngôn Nhân quyền, Dân quyền của Pháp năm 1791 đều là những điều nói đến những quyền cơ bản của từng cá nhân con người, nhấn mạnh rất nhiều lần và bằng nhiều cách về quyền bình đẳng tất yếu giữa những công dân khác nhau. “Mọi công dân đều bình đẳng trước luật pháp, nên đều có thể được giữ mọi chức vụ, mọi địa vị, mọi công vụ theo năng lực, và không có bất cứ sự phân biệt nào khác ngoài đạo đức và tài năng của mỗi người”(Tous les citoyens étant égaux à ses yeux, sont également admissibles à toutes dignités , places et emplois publics, selon leur capacité, et sans autres distinctions que celles de leurs vertus et leurs talents) (2).
63 năm đã trôi qua kể từ ngày câu nói bất hủ “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng” vang lên trên Quảng trường Ba Đình của nước Việt, nhưng sự bình đẳng giữa chính những người Việt với nhau vẫn là vấn đề đang phải phấn đấu. Biết bao câu hỏi trong xã hội Việt Nam đang còn bỏ ngỏ. Bao giờ công ty tư nhân cũng được đối xử trọng vọng như các tổng công ty nhà nước? Bao giờ đi tìm công lý không phải kèm theo “phong bì”? Bao giờ lời ta thán của người dân có tranh cãi đất đai với chính quyền cũng được đăng công khai trên mặt báo? Bao giờ một bí thư đảng uỷ cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật như một nhân viên thường? Bao giờ một người Việt Nam không phải là đảng viên Đảng cộng sản sẽ nắm chức vụ Thủ tướng hay chức vụ Bộ trưởng bộ Công an? Bao giờ trong Quốc hội sẽ có thành viên của không chỉ một đảng? Bao giờ thì Đảng cộng sản lịch thiệp với các đảng phái khác? Bao giờ? Bao giờ?...
Có lẽ đó chính là lý do sâu xa của nhiều người Việt Nam hôm nay đang dấn thân giống như những vị tiền nhân làm nên mùa thu Cách mạng năm xưa. Dấn thân là bởi nhiều người Việt Nam đang cầm quyền vẫn còn coi quyền bình đẳng giữa những người Việt với nhau như một nguy hiểm, một thách đố. Nhưng trong cuộc dấn thân hôm nay để tạo dựng một xã hội bình đẳng, tôn trọng quyền con người cho mọi người Việt Nam không chỉ có những người không phải cộng sản. Bởi không phải tất cả những người cộng sản hôm nay đều tán thành sự độc chiếm quyền lực của đảng của họ, cũng như không phải tất cả ai là cộng sản cũng đều muốn trở thành kẻ ăn trên ngồi trốc. Như vậy, với ý nghĩa hoàn thiện, cuộc cách mạng cách đây 63 năm vẫn đang được tiếp tục.
Phạm Hồng Sơn
Tháng 08/2009
Tác giả: Phạm Hồng Sơn
Có lẽ khó có niềm vui nào sánh được sự hân hoan, vui sướng của người dân một nước sau gần 100 năm bị ngoại bang đô hộ, khinh rẻ, hắt hủi, khi được nghe những lời nói âm vang từ chính người cùng dòng máu, cùng tiếng nước mình:
“Hỡi đồng bào cả nước,
“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”….Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” (Trích: Tuyên ngôn Độc lập do Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 02/09/1945).
Sự bức xúc, ấm ức của cả một dân tộc bị coi rẻ trong bao năm, cho dù nguyên nhân không hẳn chỉ do ngoại bang, dường như được vỡ oà vào câu “Có” đồng thanh từ biển người vào cái ngày đó, khi vị Chủ tịch lâm thời khéo léo buông câu hỏi “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”.
Lòng tự tôn dân tộc, sau bao năm bị đè nén đã gặp đúng dịp thăng hoa làm ngây ngất lòng người. Mọi của cải, vàng bạc, châu báu và cả sinh mạng từng được tích cóp chi li hay suy tính hơn thiệt đều trở thành tầm thường. Lòng ái quốc đã vượt lên tất cả. Mọi người dân đều sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc không gợn chút toan tính cá nhân.
Trường lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam luôn cho thấy mỗi lần giành lại được độc lập từ tay ngoại bang luôn là một chiến công đầy cam go của cả dân tộc. Nhưng không biết do vô tình hay có chủ ý, những người con của nước Việt thời hiện đại khi khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập nói trên đã không nhắc đến tầm quan trọng của việc thực thi những quyền cơ bản của con người và sự bình đẳng cần phải có giữa các công dân trong một quốc gia – điều kiện làm cho độc lập dân tộc trở nên có ý nghĩa. Trong 1014 từ của bản Tuyên ngôn Độc lập đó phần lớn chỉ được dùng để lên án, kết tội lực lượng ngoại bang (Pháp và Nhật) và nhấn mạnh sự bình đẳng cần phải có giữa các dân tộc.
Đúng là sau đó, những khát khao độc lập, sự hy sinh vô cùng của dân chúng đã được đáp đền bằng một chính quyền hoàn toàn không có một ông “mắt xanh, mũi lõ” nào. Tất cả đều là người Việt Nam cả. Thậm chí tiếng Tây cũng phải lén lút khi sử dụng. Nhưng sự bất bình đẳng nội tại ngay giữa những người Việt da vàng, mũi tẹt đã ngày càng lộ rõ khi lực lượng ngoại bang dần rút khỏi đất nước.
Nhìn lại một cách toàn cảnh, giai đoạn thiết lập và củng cố của chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà khi đó, ta có thể thấy những mâu thuẫn ngày càng tăng theo thời gian đối với tinh thần “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng”. Chính quyền đưa ra chương trình “Diệt giặc đói”, nhưng theo sau đó là chương trình hắt hủi, triệt hạ những người có của ăn, của để. Chương trình “Diệt giặc dốt” đã mang lại kết quả to lớn về xoá mù chữ trong một thời gian ngắn, nhưng sau đó người dân chỉ có thể an toàn khi đọc hoặc viết theo những gì người cầm quyền không phật ý, kể cả việc ghi chép của các nhà sử học cũng không được là ngoại lệ. Ngay đến những sáng tác nghệ thuật không dùng đến chữ viết cũng phải trông chừng thái độ của người cầm quyền, nếu không muốn tai ương ập tới. Các thiết chế quyền lực công được dựng lên luôn kèm theo tên Nhân Dân như Uỷ Ban Nhân Dân, Hội Đồng Nhân Dân, Toà Án Nhân Dân, Viện Kiểm Sát Nhân Dân, Công An Nhân Dân, v.v nhưng tuyệt đối đều do các đảng viên của Đảng Cộng Sản nắm giữ. Cơ quan có sứ mạng bảo vệ công lý cho xã hội (bộ Tư Pháp) còn bị xoá đi trong hơn 20 năm, cho dù mọi quyền lực lúc đó đã hoàn toàn nằm trong tay Đảng Cộng Sản. Trong hệ thống chính quyền hoàn toàn của người Việt Nam lãnh đạo đó đã từng có những vị trí do những người dân không thuộc Đảng Cộng Sản đảm nhiệm, nhưng thường có ảnh hưởng không đáng kể hoặc chỉ có tác dụng làm cho sự bất bình đẳng giảm bớt đi sự phản cảm. Trước 1945 người dân lao động chỉ căm phẫn dựa vào thái độ ngạo mạn của kẻ ngoại quốc khi chúng xì xồ “Sa-lôt, san anh-đi-gien” (1) thì sau năm 1954, người dân lao động luôn phải bấm bụng nghe những câu tiếng Việt tươi rói nơi cửa miệng những cán bộ Nhà nước hay trên báo chí: “Bọn tư thương”, “ Quân phe phẩy, “Lũ con buôn”, “ Bọn Nhân Văn-Giai Phẩm”, “ Lũ phản động chống đảng”,…
Đến hôm nay, hẳn nhiều người đã hiểu ra rằng sự mất tự do, sự miệt thị do chính người đồng bào của mình gây ra có thể còn tệ hơn kẻ ngoại bang và rõ ràng là chua xót hơn.
Nếu bắt chước những người khởi thảo ra bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam lấy bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền, Dân quyền của Pháp năm 1791 làm sự đối chiếu, ta có thể thấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776, những người khởi thảo đã đề cập ngay đến tầm quan trọng và một số điều kiện cơ bản để đảm bảo cho mọi người dân của nước Hoa Kỳ độc lập trong tương lai (khi thoát khỏi sự áp chế, đô hộ của nước Anh) có quyền bình đẳng với nhau trong mọi vấn đề, kể cả quyền lãnh đạo đất nước. “…Trong những quyền ấy, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Để đảm bảo cho các quyền này, con người thiết lập ra các chính phủ và chính sức mạnh của các chính phủ này xuất phát từ sự ưng thuận của nhân dân. Và khi một hình thức Chính phủ nào đó trở nên đối nghịch với các mục đích trên thì Nhân dân có quyền thay đổi, hay phế bỏ chính phủ đó, và thiết lập một Chính phủ mới, dựa trên nền tảng những nguyên tắc như vậy và tổ chức các quyền lực của mình theo hình thức nào để cho các quyền lực đó có khả năng đảm bảo An ninh và Hạnh phúc cho họ nhiều nhất”, “…Nhà Vua đã không chịu tuân theo Pháp luật, một công cụ lành mạnh nhất, cần thiết nhất cho lợi ích công cộng”, “…Nhà Vua đã cản trở công việc Tư pháp bằng cách không chấp thuận Luật thiết lập Quyền Tư pháp” (…”among these are Life, Liberty, and the pursuit of happiness – That to secure these rights, Goverments are instituted among Men, deriving their just powers from the consent of the governed. That whenever any Form of Government becomes destructive of these ends, it is the Right of the People to alter or to abolish it, and to institute new Government, laying its foundation on such principles and organizing its powers in such form, as to them shall seem most likely to effect their Safety and Happiness”, “…He has refused his Assent to laws, the most wholesome and necessary for the public good”, “…He has obstructed the Administration of Justice, by refusing his Assent to Laws for establishing Judiciary Powers”) (2)
Tất cả 17 điều của bản Tuyên ngôn Nhân quyền, Dân quyền của Pháp năm 1791 đều là những điều nói đến những quyền cơ bản của từng cá nhân con người, nhấn mạnh rất nhiều lần và bằng nhiều cách về quyền bình đẳng tất yếu giữa những công dân khác nhau. “Mọi công dân đều bình đẳng trước luật pháp, nên đều có thể được giữ mọi chức vụ, mọi địa vị, mọi công vụ theo năng lực, và không có bất cứ sự phân biệt nào khác ngoài đạo đức và tài năng của mỗi người”(Tous les citoyens étant égaux à ses yeux, sont également admissibles à toutes dignités , places et emplois publics, selon leur capacité, et sans autres distinctions que celles de leurs vertus et leurs talents) (2).
63 năm đã trôi qua kể từ ngày câu nói bất hủ “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng” vang lên trên Quảng trường Ba Đình của nước Việt, nhưng sự bình đẳng giữa chính những người Việt với nhau vẫn là vấn đề đang phải phấn đấu. Biết bao câu hỏi trong xã hội Việt Nam đang còn bỏ ngỏ. Bao giờ công ty tư nhân cũng được đối xử trọng vọng như các tổng công ty nhà nước? Bao giờ đi tìm công lý không phải kèm theo “phong bì”? Bao giờ lời ta thán của người dân có tranh cãi đất đai với chính quyền cũng được đăng công khai trên mặt báo? Bao giờ một bí thư đảng uỷ cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật như một nhân viên thường? Bao giờ một người Việt Nam không phải là đảng viên Đảng cộng sản sẽ nắm chức vụ Thủ tướng hay chức vụ Bộ trưởng bộ Công an? Bao giờ trong Quốc hội sẽ có thành viên của không chỉ một đảng? Bao giờ thì Đảng cộng sản lịch thiệp với các đảng phái khác? Bao giờ? Bao giờ?...
Có lẽ đó chính là lý do sâu xa của nhiều người Việt Nam hôm nay đang dấn thân giống như những vị tiền nhân làm nên mùa thu Cách mạng năm xưa. Dấn thân là bởi nhiều người Việt Nam đang cầm quyền vẫn còn coi quyền bình đẳng giữa những người Việt với nhau như một nguy hiểm, một thách đố. Nhưng trong cuộc dấn thân hôm nay để tạo dựng một xã hội bình đẳng, tôn trọng quyền con người cho mọi người Việt Nam không chỉ có những người không phải cộng sản. Bởi không phải tất cả những người cộng sản hôm nay đều tán thành sự độc chiếm quyền lực của đảng của họ, cũng như không phải tất cả ai là cộng sản cũng đều muốn trở thành kẻ ăn trên ngồi trốc. Như vậy, với ý nghĩa hoàn thiện, cuộc cách mạng cách đây 63 năm vẫn đang được tiếp tục.
Phạm Hồng Sơn
Tháng 08/2009
Bắc kinh không che dấu mưu đồ bóp nghẹt các nước Đông Nam Á
Tác giả: Tú Anh
Các nước châu Á lo ngại : vì kẹt chân tại Irak và Afghanistan, nên Hoa Kỳ để cho Trung Quốc thao túng biển Đông. Liệu tương lai Đông Nam Á sẽ ra sao, nếu như tình thế này kéo dài ?
Trong bối cảnh xung đột tại Gruzia, tương quan lực lượng trên thế giới dường như đang được sắp xếp lại. Nước Nga không ngần ngại phô trương gân bắp. Dù có lời lẻ đanh thép nhưng chính phủ Mỹ không thể trực tiếp tiếp tay với Gruzia. Còn Liên Hiệp châu Âu thì manh nha ý định đóng một vai trò giải quyết khủng hoảng.
Thực ra thì dù gặp khó khăn tại Irak và Afghanistan, Hoa Kỳ và đặc biệt là lực lượng hải quân vẫn bá chủ trên khắp nẻo địa cầu. Nhưng theo các chuyên gia quốc phòng, thì từ nay Hoa kỳ phải quan tâm đến hải quân Trung quốc, đã đủ mạnh để bước vào câu lạc bộ 8 nước có hạm đội lớn. Và Trung quốc không che dấu tham vọng xưng hùng trên Thái bình dương .
Hai câu hỏi được đặt ra : một là để thực hiện được tham vọng này, Bắc kinh tiến hành một chiến lược ra sao ? Và Đông Nam Á , với vùng biển mà TQ gọi là biển Nam hải, sẽ bị hậu quả như thế nào ? Trong tạp chí hôm nay mời quý thính giả theo dõi bài nghiên cứu của Olivier Zajec trên nguyệt san Le Monde diplomatique số tháng 9 và phần phỏng vấn Giáo sư Ngô Vĩnh Long, đại học Maine, Hoa kỳ.
Trong phần dẫn nhập, nhà báo Pháp trích dẫn một chuyên gia Trung quốc : "Nhân dân Trung hoa đã phục hồi sinh lực và một lần nữa bước vào sân khấu thế giới". Lời tuyên bố "mang tính tự hào dân tộc" của giáo sư Tiền Thừa Đán, thuộc Đại học Bắc kinh có thể được xem như một chuyện bình thường. Thế nhưng chính ông là người đưa sáng kiến cho đài truyền hình trung ương Trung Quốc thực hiện một cuốn phim tài liệu gồm 12 tập, mỗi tập dài 55 phút với tựa đề : Đại quốc quật khởi. Tập tài liệu này đã tạo được thành công tại Trung Quốc vào năm 2006 và sau đó được chiếu trên kênh lịch sử History Channel của Hoa kỳ.
"Đại quốc quật khởi" giải thích những nổ lực của các đại cường từ xưa đến nay, từ Tây ban nha, Bồ Đào Nha, Anh ,Pháp, Nga, Đức, Nhật, Mỹ vươn lên hàng đầu thế giới. Mở cửa với bên ngoài, kiểm soát các hành lang hàng hải quan trọng, xây dựng những căn cứ yểm trợ hậu cần, phát huy lực lượng hải thuyền, bành trướng ảnh hưởng. Diện tích lãnh thổ và dân số không quan trọng. Chiến lược của các nước Tây phương trong quá trình phát triễn hiện nay là trọng tâm của chiến lược mới của chính phủ Trung Quốc qua kế hoạch "Công nghiệp hoá hàng hải cao cấp 2000" và tăng cường lực lượng hải quân theo vận tốc chóng mặt.
Sau khi trình bày quan điểm của Trung quốc , Le Monde diplomatique chỉ ra hai mục tiêu quan trọng nhất :
- thứ nhất là phá vở các chốt chận trong vùng biển Đông để tung hạm đội ra khơi tức là vùng biển sâu.
- thực hiện được ý đồ này, bước kế tiếp là "bảo đảm an toàn" cho đường vận chuyển dầu từ Trung đông và châu Phi.
Nhưng muốn thực hiện được hai mục tiêu này, hải quân Ttrung Quốc phải được tự do lưu thông trên các hành lang Đông Nam Á, qua bán đảo Đông dương ra tận ngoài khơi Thái bình dương. Nhưng theo một tài liệu của bộ quốc phòng Pháp phổ biến hồi tháng 5 năm 2007, thì "14.500 cây số biên giới trên biển của Trung quốc chứa đựng những khu vực tranh chấp tiềm tàng và va chạm. Tất cả những xung khắc này rất sâu xa và không giải quyết".
Cho nên, Đài Loan chỉ là một quân cờ trong bàn cờ Thái Bình dương. Ngoài mưu đồ chiếm Đài Loan, Bắc kinh còn tranh dành với Nhật Bản, Việt Nam và nhiều nước Đông Nam Á khác các hải đảo. và ngoài hải đảo, Trung quốc cũng tranh chấp lãnh hải với Hàn quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Philippines. Người ta không quên các trận đánh tại Hoàng sa năm 1974 và Trường Sa năm 1988. Theo kế hoạch của Lưu Hoa Thanh, tư lệnh hải quân Trung Quốc đề ra từ thập niên 80, thì ngoài việc chiếm lĩnh các mỏ dầu dưới đáy biển và thâu tóm nguồn hải sản ở biển Đông , mở rộng hành lang cho hạm đội ra khơi Thái Bình Dương mới là mục tiêu quan trong.
Bước thứ nhất, hải quân Trung Quốc áp đặt sức mạnh của họ tại biển đông phía Tây một đường ranh từ Nhật Bản kéo dài xuống Đài Loan, Philippines và Malaysia. Nhưng tại đây, hạm đội Trung Quốc phải đụng với đối thủ số một : đó là hải quân Nhật. Và Trung quốc đã nhiều lần trắc nghiệm phản ứng của Nhật bằng cách đưa tàu ngầm xâm nhập. Bước thứ hai của Trung quốc là tìm cách tiến xa thêm về hướng đông vào vùng biển sâu từ Nhật đến Indonesia qua đảo Guam, căn cứ yểm trợ của Mỹ trong vùng tây Thái Bình Dương.Chướng ngại chính trong khu vực này là đảo Đài loan.
Một khi bứng đi được những chướng ngại này thì Trung quốc sẽ tự do thực hiện mục tiêu thứ hai là "kiểm soát hành lang chuyên chở nhiên liệu" từ châu Phi và Trung Đông. Thế nhưng, các dự án này không phải dể thực hiện vì không có gì bảo đảm là Hoa kỳ, Nhật Bản và cả Ấn Độ điềm nhiên tọa thị. Cho nên bên cạnh chiến lược "biển khơi" của Trung ương đảng, Bắc kinh còn xây dựng một loạt căn cứ dọc theo duyên hải từ Đông Nam Á đến Ấn độ dương được gọi là "chuổi trân châu". Nhưng chiến lược này của Trung quốc đã bị Ấn Độ xem là "xâm lấn" vào vùng biển nhà. Không phải tự nhiên mà Ấn Độ đang đóng hai hàng không mẫu hạm.
Ngoài Nhật và Ấn, hành động tăng cường sức mạnh hải quân của Trung quốc cũng làm cho các nước nhỏ hơn như Malaysia, Singapore và Indonesia lo âu. Ba nước này cố gắng hiện đại hóa hạm đội của mình. Các nước Á châu e rằng : vì kẹt chân tại Irak và Afghanistan, Washington để cho Bắc Kinh thao túng biển Đông. Và tình trạng này biết đâu có nguy cơ kéo dài.
Để áp đảo các nước láng giềng, cụ thể hải quân Trung quốc trang bị và bố trí như thế nào?
Thừa cơ hội tốt , Hoa Kỳ bị phân tâm vì hai cuộc chiến cùng lúc, Trung quốc ra sức võ trang. Các hải quân công xưởng của Trung Quốc hoạt động ngày đêm. Các căn cứ hải quân, quân cảng, căn cứ tàu ngầm bí mật, điển hình là Tam Á đảo Hải Nam không ngừng cãi thiện nhờ vào ngân sách dồi dào , kinh tế phát triễn. Hiện nay, hải quân Trung quốc được Đảng ưu tiên. Trong quân ủy trung ương, lần đầu tiên tướng lãnh hải quân và không quân lấn lướt đồng sự lục quân. Hải quân đuợc tổ chức thành ba hạm đội Bắc Hải, tại Thanh Đảo, Đông Hải tại Thượng Hải và hạm đội Nam Hải có bản doanh đóng tại Trạm Giang, tỉnh Quảng Đông .
Trong tình thế này tương lai Đông Nam Á sẽ ra sao ? Theo Le Monde diplomatique, hải quân Hoa kỳ đưa ra nhiều sáng kiến để cũng cố hợp tác với hải quân châu Á và với cả Trung quốc. Mỹ đề nghị thành lập chung "hạm đội ngàn chiến thuyền". Nhưng Bắc kinh xem đây là một kế "nghi binh" nhằm ngăn cản Trung quốc trở thành một đại cường trên biển.
Kết luận của tác giả Olivier Zajec cho thấy là Trung quốc cương quyết thực hiện ý đồ khống chế biển Đông mà họ gọi là Nam hải. Họ đã khai thác cơ hội vàng khi Hoa kỳ rút khỏi Việt nam . Lần lượt họ chiếm Hoàng Sa năm 1974 và một phần Trường sa năm 1988. Cách bố trí và trang bị cho hai hạm đội Nam Hải và Đông Hải cũng không ngoài tham vọng bá quyền này. Trung quốc còn có chiến lược gọi là "Cận hải phòng ngự" nghe qua không có vẽ như là Trung quốc không muốn tấn công ai.
Trên tạp chí Thời đại mới, giáo sư Ngô Vĩnh Long, đại học Maine, Hoa kỳ, và cũng là một chuyên gia về Quốc Phòng Trung Quốc đã có dịp trình bày khá kỹ càng qua bài "Chiến lược hải quân của Trung quốc và hàm ý của nó đối với khu vực biển Đông". Hôm nay, RFI việt ngữ mời quý thính giả theo dõi phân tích của Giáo sư Ngô Vĩnh Long qua phần phỏng phấn sau đây.
Giáo sư Ngô Vĩnh Long
Tác giả: Tú Anh
Các nước châu Á lo ngại : vì kẹt chân tại Irak và Afghanistan, nên Hoa Kỳ để cho Trung Quốc thao túng biển Đông. Liệu tương lai Đông Nam Á sẽ ra sao, nếu như tình thế này kéo dài ?
Trong bối cảnh xung đột tại Gruzia, tương quan lực lượng trên thế giới dường như đang được sắp xếp lại. Nước Nga không ngần ngại phô trương gân bắp. Dù có lời lẻ đanh thép nhưng chính phủ Mỹ không thể trực tiếp tiếp tay với Gruzia. Còn Liên Hiệp châu Âu thì manh nha ý định đóng một vai trò giải quyết khủng hoảng.
Thực ra thì dù gặp khó khăn tại Irak và Afghanistan, Hoa Kỳ và đặc biệt là lực lượng hải quân vẫn bá chủ trên khắp nẻo địa cầu. Nhưng theo các chuyên gia quốc phòng, thì từ nay Hoa kỳ phải quan tâm đến hải quân Trung quốc, đã đủ mạnh để bước vào câu lạc bộ 8 nước có hạm đội lớn. Và Trung quốc không che dấu tham vọng xưng hùng trên Thái bình dương .
Hai câu hỏi được đặt ra : một là để thực hiện được tham vọng này, Bắc kinh tiến hành một chiến lược ra sao ? Và Đông Nam Á , với vùng biển mà TQ gọi là biển Nam hải, sẽ bị hậu quả như thế nào ? Trong tạp chí hôm nay mời quý thính giả theo dõi bài nghiên cứu của Olivier Zajec trên nguyệt san Le Monde diplomatique số tháng 9 và phần phỏng vấn Giáo sư Ngô Vĩnh Long, đại học Maine, Hoa kỳ.
Trong phần dẫn nhập, nhà báo Pháp trích dẫn một chuyên gia Trung quốc : "Nhân dân Trung hoa đã phục hồi sinh lực và một lần nữa bước vào sân khấu thế giới". Lời tuyên bố "mang tính tự hào dân tộc" của giáo sư Tiền Thừa Đán, thuộc Đại học Bắc kinh có thể được xem như một chuyện bình thường. Thế nhưng chính ông là người đưa sáng kiến cho đài truyền hình trung ương Trung Quốc thực hiện một cuốn phim tài liệu gồm 12 tập, mỗi tập dài 55 phút với tựa đề : Đại quốc quật khởi. Tập tài liệu này đã tạo được thành công tại Trung Quốc vào năm 2006 và sau đó được chiếu trên kênh lịch sử History Channel của Hoa kỳ.
"Đại quốc quật khởi" giải thích những nổ lực của các đại cường từ xưa đến nay, từ Tây ban nha, Bồ Đào Nha, Anh ,Pháp, Nga, Đức, Nhật, Mỹ vươn lên hàng đầu thế giới. Mở cửa với bên ngoài, kiểm soát các hành lang hàng hải quan trọng, xây dựng những căn cứ yểm trợ hậu cần, phát huy lực lượng hải thuyền, bành trướng ảnh hưởng. Diện tích lãnh thổ và dân số không quan trọng. Chiến lược của các nước Tây phương trong quá trình phát triễn hiện nay là trọng tâm của chiến lược mới của chính phủ Trung Quốc qua kế hoạch "Công nghiệp hoá hàng hải cao cấp 2000" và tăng cường lực lượng hải quân theo vận tốc chóng mặt.
Sau khi trình bày quan điểm của Trung quốc , Le Monde diplomatique chỉ ra hai mục tiêu quan trọng nhất :
- thứ nhất là phá vở các chốt chận trong vùng biển Đông để tung hạm đội ra khơi tức là vùng biển sâu.
- thực hiện được ý đồ này, bước kế tiếp là "bảo đảm an toàn" cho đường vận chuyển dầu từ Trung đông và châu Phi.
Nhưng muốn thực hiện được hai mục tiêu này, hải quân Ttrung Quốc phải được tự do lưu thông trên các hành lang Đông Nam Á, qua bán đảo Đông dương ra tận ngoài khơi Thái bình dương. Nhưng theo một tài liệu của bộ quốc phòng Pháp phổ biến hồi tháng 5 năm 2007, thì "14.500 cây số biên giới trên biển của Trung quốc chứa đựng những khu vực tranh chấp tiềm tàng và va chạm. Tất cả những xung khắc này rất sâu xa và không giải quyết".
Cho nên, Đài Loan chỉ là một quân cờ trong bàn cờ Thái Bình dương. Ngoài mưu đồ chiếm Đài Loan, Bắc kinh còn tranh dành với Nhật Bản, Việt Nam và nhiều nước Đông Nam Á khác các hải đảo. và ngoài hải đảo, Trung quốc cũng tranh chấp lãnh hải với Hàn quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Philippines. Người ta không quên các trận đánh tại Hoàng sa năm 1974 và Trường Sa năm 1988. Theo kế hoạch của Lưu Hoa Thanh, tư lệnh hải quân Trung Quốc đề ra từ thập niên 80, thì ngoài việc chiếm lĩnh các mỏ dầu dưới đáy biển và thâu tóm nguồn hải sản ở biển Đông , mở rộng hành lang cho hạm đội ra khơi Thái Bình Dương mới là mục tiêu quan trong.
Bước thứ nhất, hải quân Trung Quốc áp đặt sức mạnh của họ tại biển đông phía Tây một đường ranh từ Nhật Bản kéo dài xuống Đài Loan, Philippines và Malaysia. Nhưng tại đây, hạm đội Trung Quốc phải đụng với đối thủ số một : đó là hải quân Nhật. Và Trung quốc đã nhiều lần trắc nghiệm phản ứng của Nhật bằng cách đưa tàu ngầm xâm nhập. Bước thứ hai của Trung quốc là tìm cách tiến xa thêm về hướng đông vào vùng biển sâu từ Nhật đến Indonesia qua đảo Guam, căn cứ yểm trợ của Mỹ trong vùng tây Thái Bình Dương.Chướng ngại chính trong khu vực này là đảo Đài loan.
Một khi bứng đi được những chướng ngại này thì Trung quốc sẽ tự do thực hiện mục tiêu thứ hai là "kiểm soát hành lang chuyên chở nhiên liệu" từ châu Phi và Trung Đông. Thế nhưng, các dự án này không phải dể thực hiện vì không có gì bảo đảm là Hoa kỳ, Nhật Bản và cả Ấn Độ điềm nhiên tọa thị. Cho nên bên cạnh chiến lược "biển khơi" của Trung ương đảng, Bắc kinh còn xây dựng một loạt căn cứ dọc theo duyên hải từ Đông Nam Á đến Ấn độ dương được gọi là "chuổi trân châu". Nhưng chiến lược này của Trung quốc đã bị Ấn Độ xem là "xâm lấn" vào vùng biển nhà. Không phải tự nhiên mà Ấn Độ đang đóng hai hàng không mẫu hạm.
Ngoài Nhật và Ấn, hành động tăng cường sức mạnh hải quân của Trung quốc cũng làm cho các nước nhỏ hơn như Malaysia, Singapore và Indonesia lo âu. Ba nước này cố gắng hiện đại hóa hạm đội của mình. Các nước Á châu e rằng : vì kẹt chân tại Irak và Afghanistan, Washington để cho Bắc Kinh thao túng biển Đông. Và tình trạng này biết đâu có nguy cơ kéo dài.
Để áp đảo các nước láng giềng, cụ thể hải quân Trung quốc trang bị và bố trí như thế nào?
Thừa cơ hội tốt , Hoa Kỳ bị phân tâm vì hai cuộc chiến cùng lúc, Trung quốc ra sức võ trang. Các hải quân công xưởng của Trung Quốc hoạt động ngày đêm. Các căn cứ hải quân, quân cảng, căn cứ tàu ngầm bí mật, điển hình là Tam Á đảo Hải Nam không ngừng cãi thiện nhờ vào ngân sách dồi dào , kinh tế phát triễn. Hiện nay, hải quân Trung quốc được Đảng ưu tiên. Trong quân ủy trung ương, lần đầu tiên tướng lãnh hải quân và không quân lấn lướt đồng sự lục quân. Hải quân đuợc tổ chức thành ba hạm đội Bắc Hải, tại Thanh Đảo, Đông Hải tại Thượng Hải và hạm đội Nam Hải có bản doanh đóng tại Trạm Giang, tỉnh Quảng Đông .
Trong tình thế này tương lai Đông Nam Á sẽ ra sao ? Theo Le Monde diplomatique, hải quân Hoa kỳ đưa ra nhiều sáng kiến để cũng cố hợp tác với hải quân châu Á và với cả Trung quốc. Mỹ đề nghị thành lập chung "hạm đội ngàn chiến thuyền". Nhưng Bắc kinh xem đây là một kế "nghi binh" nhằm ngăn cản Trung quốc trở thành một đại cường trên biển.
Kết luận của tác giả Olivier Zajec cho thấy là Trung quốc cương quyết thực hiện ý đồ khống chế biển Đông mà họ gọi là Nam hải. Họ đã khai thác cơ hội vàng khi Hoa kỳ rút khỏi Việt nam . Lần lượt họ chiếm Hoàng Sa năm 1974 và một phần Trường sa năm 1988. Cách bố trí và trang bị cho hai hạm đội Nam Hải và Đông Hải cũng không ngoài tham vọng bá quyền này. Trung quốc còn có chiến lược gọi là "Cận hải phòng ngự" nghe qua không có vẽ như là Trung quốc không muốn tấn công ai.
Trên tạp chí Thời đại mới, giáo sư Ngô Vĩnh Long, đại học Maine, Hoa kỳ, và cũng là một chuyên gia về Quốc Phòng Trung Quốc đã có dịp trình bày khá kỹ càng qua bài "Chiến lược hải quân của Trung quốc và hàm ý của nó đối với khu vực biển Đông". Hôm nay, RFI việt ngữ mời quý thính giả theo dõi phân tích của Giáo sư Ngô Vĩnh Long qua phần phỏng phấn sau đây.
Giáo sư Ngô Vĩnh Long

