Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Chuyện dài CA SĨ HẢI NGOẠI về Việt Nam hát hò

Phạm Phong Dinh
Gần đây có nhiều thân hữu và độc giả đề nghị chúng tôi viết một vài bài về hiện tượng ca sĩ Việt Nam ở hải ngoại về nước và ca sĩ từ Việt Nam ra hải ngoại trình diễn. Ðây là một vấn đề khá nhạy cảm, vì nó động chạm đến nỗi niềm ấp ủ riêng trong lòng của từng người.

Hầu như bất cứ một người nào trở về Việt Nam đều trang bị sẵn cho mình 1001 lý do chính đáng nhất không chê vào đâu được, để khi có người nào chạm vào thì có cái để mà trưng ra làm bằng cớ và phản... pháo. Nào là “quê hương là chùm khế ngọt, quê hương là con diều biếc”, “ta” về Việt Nam ăn khế ngọt (bởi khế Mỹ chua thấy bà) và thả diều thì có gì sai? “Ta” về Việt Nam là “ta” thực hiện cái nhân quyền thiêng liêng của nước Mỹ ban bố cho ta, còn ai bẻ vào đâu được. Chính những kẻ nói này nói nọ, phê bình “ta” chuyện về Việt Nam để hoàn thành những hoài bão và tâm nguyện, những kẻ ấy mới là những kẻ không chịu “thực thi” nhân quyền. Ðất nước này, tức ở hải ngoại, là nơi tự do, là những free countries, “ta” muốn làm gì thì ta làm, ai làm gì được nhau thì cứ bảo.

Vấn đề đi đi về về giữa hải ngoại và Việt Nam của ca sĩ xoành xoạch như đi chợ, đã trở thành một cuốn truyện dài với nhiều tình tiết hấp dẫn, đại khái giống như cái mục Xe Cán Chó-Chó Cán Xe, tuy tầm phào bá láp nhưng độc giả rất thích tìm hiểu. Người ta muốn biết những khuôn mặt nào đã xé rào nhảy về Việt Nam kiếm ăn, những người ca sĩ nào vẫn còn nuôi trong tim lý tưởng quốc gia chân chính. Trong thời gian qua chúng tôi có nhặt nhạnh được chút ít tin tức về chuyện dài ca sĩ, xin được viết ra đây mấy hàng cho quý độc giả thân mến, coi như mua vui cũng được một vài trống canh. Nhưng càng viết thì càng thấy buồn, vì những nhân vật trong bài viết này đa số đều là những tai to mặt lớn trong vườn hoa văn nghệ Việt Nam hải ngoại, với những cái tên từ lâu nhận được rất nhiều sự thương mến của người Việt tị nạn lưu vong.

Sự đời nghĩ cũng có nhiều chuyện buồn cười. Ngày xưa, cũng chính rất nhiều trong số này, trong lúc chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa còn đang đổ máu xương chống ngăn làn sóng cộng sản xâm lược cho đến giờ thứ hai lăm, thậm chí sang đến giờ thứ bốn mươi tám, tức vài ngày sau ngày 30.4.1975, chính những con người vô loại này đã xách đít chạy trước rất sớm. Lúc ấy thê thảm lắm, quý độc giả cứ xem lại những cuốn phim tài liệu về di tản thì rõ, nước mắt nước mũi cứ là chàm ngoàm, đu bám trên những sợi dây thừng bên hông tàu trông rất rùng rợn, hay tranh nhau leo lên những bức tường vào tòa đại sứ Mỹ với những hàng dây thép gai nhìn vô cùng lạnh gáy. Ôi, cái tình yêu nước của những con người ấy sao mà nó cao cả và thiêng liêng lắm vậy. Thà chết ở xứ người, thà chịu không có cà pháo mắm tôm ăn, chứ không chịu đội chung bầu trời với vẹm cộng. Giờ đây, sau ba mươi năm, những con người này xênh xang áo gấm về làng cũng trước nhất hơn ai hết, sẵn lòng qụy lụy nâng bi vẹm với bất cứ giá nào để được về chúng ban cho mấy trái khế ngọt mà xơi. Ô là là, bây giờ thì tha hồ xơi cà pháo với mắm tôm chính gốc Việt Nam bằng thích nhé.

Hai trong số những ca sĩ quốc gia hải ngoại về đầu quân cho vẹm cộng sớm nhất là Hương Lan và Elvis Phương hơn một thập niên qua thì ai cũng đã biết hết rồi. Công cuộc làm ăn của Hương Lan và Elvis Phương ở “quê hương” coi bộ rất khấm khá, nên cô cậu phải giữ rịt lấy, như những con thú nhà ôm chặt lấy khúc xương của chủ quẳng cho. Theo Elvis Phương, thì nếu những ca sĩ về Việt Nam chịu chăm chỉ đi hát ở các phòng trà thì sẽ có cuộc sống dư dả. Nguồn tin quốc nội cho biết rằng cứ mỗi một phùa hát ở phòng trà, mỗi ca sĩ bợ nhẹ một ngàn đô la. Nếu hát trên live show, thì cứ hai bản cũng được một nghìn. Bản thân Elvis Phương luôn có một lịch trình đi hát đầy kín, đến nỗi bà vợ của Phương cũng kêu trời, có lẽ sợ chồng đi hát nhiều quá có ngày ngã lăn đùng ra bất đắc kỳ tử chăng, bởi anh ta đã một lần đi mổ tim rồi. Lần này tim vỡ như xác hoa tigone là chết chắc. Elvis Phương đang cư ngụ trong một ngôi biệt thự ở làng “Việt Kiều” trong khu vực An Phú Ðông, thuộc tỉnh Gia Ðịnh ngày trước thì phải. Hàng xóm của Phương có ca sĩ Anh Quý, Hương Lan và Ái Vân.

Hương Lan vừa đi hát vừa trông coi một nhà hàng ở quận Bình Thạnh. Ngoài ra nàng còn mở thêm trại nuôi cá, vườn cây ăn trái ở tỉnh Bình Phước (tức Bình Long và Phước Long). Có tin cho rằng, khi về già, Hương Lan sẽ về sống ở đấy. Trường hợp Ái Vân, ngày xưa, năm 1989 khi bức tường Bá Linh sụp đổ, nàng đang là cán bộ văn nghệ thuộc tầm cỡ nghệ sĩ nhân dân của Hà Nội ở Ðông Ðức, đã chạy sang xin tị nạn chính trị bên Tây Ðức. Ðối với vẹm, đó là cái tội phản đảng, có lẽ sẽ bị tru di tam tộc. Nhưng giờ đây nàng vẫn cứ ung dung sinh sống tại Việt Nam, thế là thế nào. Câu trả lời thì đến một đứa bé cũng biết.

Những ca sĩ hải ngoại chạy về Việt Nam đa số thuộc về thế hệ “già”, cái thế hệ bôn tẩu ra nước ngoài trong những ngày lửa loạn cuối cùng ở Sài Gòn, hay trong những lần vượt biển sóng gió đi tìm tự do. Thời gian trôi qua, những nếp nhăn dần hằn đậm trên mặt, giọng hát đã dần tàn tạ, không nhanh chân về nước kiếm chác chút ít trước khi vĩnh viễn lùi vào bóng tối của sự lãng quên, thì còn đợi lúc nào nữa. Những giọng ca gọi là hàng đầu, những gì gọi là vượt không gian và thời gian như Lệ Thu, Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Duy Quang, Lê Uyên, Thái Châu, Julie, Giao Linh, v.v.. đều đã có mặt ở quê nhà. Ðó là chưa nói đến ông cụ Phạm Duy, bởi nhiều người đã nói nhiều về cụ rồi. Một trong vài danh ngôn xanh dờn mà cụ để lại cho đời là “Tôi có chống cộng đâu, tôi chỉ chống gậy”. Có lẽ đó là lá bùa hộ mệnh giúp cụ được thung dung về lại Việt Nam và khiến cho Hà Nội hài lòng. Ngoài ra cụ còn cấm những người chống cộng hải ngoại không được hát nhạc của cụ nữa, chắc không muốn vẹm nghe lại những điệu nhạc hùng tráng và những lời lẽ “chống gậy” rất đanh thép của cụ dành cho chúng, làm chúng ngứa ngáy, không khéo chúng tống xuất cha con cụ trở ra ngoại quốc thì khốn cả lũ. Cụ Phạm Duy đi về đã đành, cụ còn kéo theo cả một lô một lốc con cái nhà cụ theo. Nào là Duy Quang, Duy Cường, rồi Duy Minh. Nào Thái Thảo, Thái Hiền. Thậm chí cô cựu dâu nhà họ Phạm là Julie cũng xách gói về. Ôi, người người cùng về, nhà nhà cùng về. Duy Quang đã tìm thấy hạnh phúc với một người vợ trẻ ở quê nhà. Trông tấm hình Duy Quang đứng bên cô dâu, làm gợi nhớ đến kép lão Michael Douglas bên nàng Catherine Zeta-Jones, còn nước nôi gì nữa.

Một nhân vật thuộc dạng quái chiêu không thể không nhắc đến là Chế Linh. Anh ta đã về Việt Nam cùng phái đoàn văn hóa UNICEF trong chương trình văn hóa thế giới và trình diễn ở Hà Nội. Danh chính ngôn thuận như thế, Chế Linh sợ đếch gì vẹm cộng. Thế mà anh ta đã xun xoe nói những lời bợ đỡ chúng, khiến cho những tên nói láo nhất cũng phải đỏ mặt xấu hổ. Lúc mới sang định cư ở Toronto, Gia Nã Ðại, trong dạng tị nạn cộng sản được mấy năm, tình yêu nước còn bồng bột, Chế Linh đã tình nguyện đóng vai một người tù của chế độ nằm trong một cái cũi giam diễn hành trên đường phố Toronto, để tố cáo chế độ tàn bạo của Hà Nội vẹm. Theo phái đoàn UNICEF vào Việt Nam, Chế Linh cứ hát hò cho người dân Hà Nội nghe trong tư cách một sứ giả của Liên Hiệp Quốc, anh không có điều gì phải sợ cộng sản hết. Anh không cần phải nịnh bợ chúng, để chúng quên đi cái cũi tù của anh. Cùng lắm, nếu vẹm có nhốt anh trở vào cũi, thì anh sẽ trở thành anh hùng dân tộc. Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ và cộng đồng người Việt toàn thế giới sẽ tích cực tranh đấu đòi vẹm thả anh ra. Lúc đó, Chế Linh sẽ trở về hải ngoại trong ánh vinh quang. Thật đáng tiếc, Chế Linh không có được tầm vóc đó.

Lê Uyên, cái tên gợi đến cuộc tình thơ mộng và lãng mạn của đôi tài danh Lê Uyên-Phương cũng đã về hát trong chương trình Duyên Dáng Việt Nam. Ngày xưa đôi uyên ương này rất thích trầm mình trong những cõi tình ái rong rêu. Lê Uyên đã cho biết rằng nàng sẽ về nước sinh sống luôn, sẽ mua nhà ở Ðà Lạt, một nơi chốn gợi nhiều kỷ niệm êm đềm của một thời vang bóng. Lê Uyên cũng dự định mở một nhà hàng, là sở trường làm ăn của nàng.

Nói đến nhà hàng ăn với uống thì không thể nhắc đến “nữ hoàng sầu muộn” Giao Linh. Nàng vốn là dân Gia Nã Ðại cư ngụ ở thành phố Toronto, như trường hợp Chế Linh. Chẳng rõ ngày xưa, Giao Linh đã mang cái biệt hiệu kỳ dị này là từ cái chuyện gì, quý độc giả kính mến có biết thì xin nói cho, thật cảm tạ. Nó cũng tương đương với cái danh hiệu “sầu nữ” của bà Út Bạch Lan, bởi giọng ca thê thiết nức nở và cuộc đời tình ái đầy tan vỡ của nàng. Về Việt Nam, Giao Linh thường theo các đoàn lưu diễn hát ở những tỉnh, và cũng có góp mặt trong những chương trình Bước Chân Hoàn Vũ. Hiện nay thì Giao Linh đang làm chủ nhân của một quán cơm tấm kiêm luôn quán phở ở đường Lê Văn Duyệt cũ, công việc làm ăn cũng phát đạt. Có lẽ nên cải danh cho nàng thành “nữ hoàng hớn hở” chăng. Cũng chuyện ăn uống, Duy Quang đang trông coi quán Phở 24, chẳng rõ 24 tượng trưng cho cái gì và hách xì xằng mở luôn phòng trà Tình Ca. Ngoài ra, Duy Quang cũng là một trong những cột trụ của những buổi nhạc hội Duyên Dáng Việt Nam.

Lệ Thu, tiếng hát cùng thời với những Giao Linh, Thanh Thúy, một giọng hát quý còn hơn cả vàng, thường làm chúng ta ngất ngây với những bài nhạc nhắc nhớ về Hà Nội và Miền Bắc thời tiền chiến, thời gian qua nàng đã có mặt trong những nhạc hội Bước Chân Hoàn Vũ ở Việt Nam. Ðức Huy có một phòng thu âm và hài lòng với những show trình diễn người ta mời. Nhạc sĩ kiêm diễn viên điện ảnh Tùng Giang năm, bảy năm trước đây di tản về Việt Nam, anh đã tìm thấy được một tình yêu đích thực với một cô gái rất trẻ. Nàng từng hứa sẽ trọn đời chăm sóc người chồng già nay đau mai ốm. Nhưng gần đây, tình yêu ấy đã vỗ cánh bay xa, Tùng Giang ngậm ngùi trở qua Mỹ với đứa con thơ và căn bệnh ngặt nghèo đang hành hạ thân thể anh. Lúc tình đời đi xuống như thế thì Tùng Giang mới nhận thấy cái tấm lòng của tình người hải ngoại trong một sự ấp ủ và bao dung. Nhiều bạn bè, thân hữu, khán giả ái mộ anh đã tìm đến ân cần giúp đỡ anh, Tùng Giang lại lên tinh thần và nuôi dưỡng một hy vọng để sống.

Những giọng ca hàng đầu vượt vũ trụ như Khánh Hà và Tuấn Ngọc cũng tìm thấy những cơ hội làm ăn ở Việt Nam, nên cũng nhanh chân xách gói chạy hộc tốc về. Kẻo thôi bọn đi trước chúng nó cười vào mũi, rằng trâu chậm uống nước đục. Hai con người thuộc một gia đình dòng dõi văn nghệ gộc này năm 2007 đã xuất hiện trong một đại nhạc hội, mẹ ơi, mang cái tên chỉ nghe thôi đã ớn lạnh, là Nối Vòng Tay Lớn. Những tay ký giả kịch tràng quốc nội đã viết những hàng bốc thơm Khánh Hà như sau: “Không ai nghĩ, sau ngần ấy năm Khánh Hà vẫn còn có nhiều khán giả, đặc biệt là những khán giả trẻ. Sức hút giọng ca đã thực sự chinh phục khán giả bỏ tiền ra mua vé xem cô diễn”.

Trông thấy những con trâu về trước đang nhai cỏ non và húp nước béo tưng bừng, nhộn nhịp không thể tả nổi, những con trâu còn chưa về Việt Nam nôn nao xốn xang quá đi. Có nguồn tin cho rằng, giọng ca vàng Ý Lan cũng có ý định về nước trình diễn, nhưng khổ nỗi lịch trình diễn ở hải ngoại cũng đã bận tối tăm mặt mũi lắm rồi, nên nàng “đành” hoãn việc ấy lại một thời gian. Hiện Ý Lan đang rất tích cực hoạt động trong lĩnh vực giúp phụ nữ phòng căn bệnh ung thư vú, mà nó rất phổ biến trong hạn tuổi từ 50 trở lên. Ðây là một căn bệnh gây khủng khiếp cho toàn thế giới, nó chiếm đến 10% số phụ nữ trong hạn tuổi đó. Có nghĩa là cứ một trong mười người phụ nữ sẽ vướng chứng bệnh này. Ý Lan cũng đã từng trải qua một cơn khủng hoảng tinh thần và đã vượt thoát được căn bệnh. Nàng hiểu rõ tâm trạng lo sợ của người đứng bên bờ vực thẳm, nên muốn san sẻ những thông tin hữu ích giúp người phụ nữ Việt Nam sớm biết trước để thoát khỏi lưỡi hái của tử thần. Hiện nay, có những chương trình giúp người phụ nữ theo dõi được tình trạng sức khỏe của mình. Tại Canada, cứ hai năm một lần, phụ nữ trên 50 tuổi được chụp mammogram miễn phí. Chẳng những thế mà các cơ quan y tế nhiều tỉnh bang còn ân cần gởi thơ đến tận nhà mời đi chụp nữa.

Nguyễn Hưng, một khuôn mặt thuộc thế hệ trước 1975 được bà Thu Dung, giám đốc trung tâm băng nhạc Rạng Ðông ở Việt Nam thực hiện một chương trình live show trong tháng 12.2007 vừa qua. Nguyễn Hưng, một nghệ sĩ thuộc lò Thúy Nga, chỉ chuyên nhảy nhót và hát những bản tình ca vô thưởng vô phạt, nên vẹm cộng chẳng làm khó dễ gì anh, sẵn lòng cho anh về nước nhảy nhót cho công chúng xem. Thuộc dạng nhảy nhót, đôi vợ chồng Linda Trang Ðài-Tommy Ngô đã về nước từ khuya. Nhạc nhảy và gào ở trong nước hiện nay khá nhiều, nên Trang Ðài và Tommy Ngô tha hồ mà nhảy và gào.

Dường như để cảnh cáo những nghệ sĩ xuất hiện trong những chương trình nhạc hội chống cộng, mà những người viết trong nước gọi là “nhạy cảm về chính trị”, bà Rạng Ðộng đã nhắn nhe với những ai đang ôm mộng về ăn khế, thả diều và hát hò, rằng những ca sĩ muốn về Việt Nam, rất đơn giản, là đừng tham gia đến những nhạc hội chống đối lại vẹm cộng. Có phải chăng vẹm cộng muốn dần tách rời nghệ sĩ với những chương trình nhạc hội có tinh thần quốc gia dân tộc và chống cộng cương quyết như của Trung Tâm Asia chẳng hạn. Người nghệ sĩ hải ngoại nên xem đó là những lời đe dọa và khủng bố tinh thần, nó nằm trong chính sách trấn áp tư tưởng của chúng.

Hà Nội, thông qua bọn nô bút và cai thầu văn nghệ đã coi thường trình độ chính trị của nghệ sĩ hải ngoại quá đi. Chỉ mới có hơn một tá lớp nghệ sĩ già xun xoe về nước, mà chúng cứ tưởng giới nghệ sĩ hải ngoại sẽ sẵn sàng chạy theo và chịu quy hàng. Tình hình hoạt động nghệ thuật ở hải ngoại đang có chiều hướng khả quan, các nghệ sĩ bận rộn đi trình diễn ở khắp tiểu bang, sang đến Canada, Úc, Nhật, châu Âu, thậm chí có trường hợp “xù show” vì nhiều lý do. Nhiều phòng trà lớn vẫn là nơi đón nhận những tài năng ca nhạc. Ca sĩ hải ngoại muốn hát nhạc gì thì hát, phần nhiều là những bài nhạc tình, nhạc lính cũ của ngày xưa. Sự thắng thế của nhạc Miền Nam ở toàn cõi Việt Nam ngày nay đang là một vấn đề xốn nhức của ngành văn hóa cộng sản. Công chúng thích nghe nhạc Miền Nam, thường được biết là Nhạc Vàng, thậm chí thế hệ trẻ ở Miền Bắc cũng nghe và nghêu ngao hát Nhạc Vàng. Những người về nước cho biết, hiện nay ở bất cứ đâu, ở những nơi công cộng, hàng quán, tiệm cà phê, trên xe đò liên tỉnh, người ta mở nhạc Miền Nam công khai, luôn cả nhạc lính của Trần Thiện Thanh. Thời gian là một sàng lọc và là một bằng chứng hùng hồn nhất trả lời cho câu hỏi Ai Thắng Ai trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật và cả trong nhiều lĩnh vực khác nữa. Anh khoe anh giỏi anh tài, thì anh cứ bảo bọn nhạc nô đặt nhạc cho nó hay hay lên, âm điệu bổng trầm du dương nhiều vào, lời nhạc trau chuốt lên như những vầng thơ, như những áng văn thêu hoa dệt gấm đi, thì công chúng sẽ lắng nghe nhạc của các anh. Anh mà làm được như thế thì chúng tôi xin tình nguyện đi bằng haià tay cho anh coi.

Trong chiều hướng gọi là phi chính trị đó, những nghệ sĩ không hay ít có những hoạt động ca hát chống cộng như Kim Anh, Carol Kim được cho về nước. Kim Anh đi vào lòng khán giả hải ngoại với những bản tình ca lãng mạn Trung Hoa, đặc biệt tên nàng gắn liền với Mùa Thu Lá Bay. Carol Kim, một ca sĩ nhạc tình cảm kiêm nhạc kích động quen thuộc của thập niên 1960, 1970, một cái tên cùng thời với những Phương Tâm, Mai Lệ Huyền trong thể loại nhạc vui và kích động. Liệu nàng có sánh nổi với những ca sĩ trẻ hơ hớ trong cùng dạng nhạc này ở trong nước hay không, hoặc nàng sẽ chỉ tìm về với những bài tình ca nhẹ nhàng? Những cái tên quen thuộc như Phương Dung, Trang Thanh Lan, Phương Hồng Ngọc và cả nhạc sĩ Từ Công Phụng đang chờ đợi sự “duyệt xét” của những tòa đại sứ Việt cộng ở Hoa Kỳ và đang xin giấy phép hoạt động từ Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn ở Việt Nam. Ðây là một nguồn tin do các thợ viết vẹm tung ra trên các diễn đàn internet trong bản tin nhạc Việt, mức độ khả tín còn đang trong vòng được nghiên cứu và phối... kiểm. Tuy nhiên, đối với Phương Dung nếu quả đúng như thế thì có phiền phức đấy, vì nàng chuyên hát nhạc lính Việt Nam Cộng Hòa, nàng rất hãnh diện khoe cái thành tích ấy mỗi lần lên sân khấu. Cho về bên nớ, có lẽ vẹm nên buộc nàng hát những nhạc “bộ đội”, đại khái như Cô Gái Sài Gòn Ði Tải Ðạn, Tiếng Chày Trên Sóc Bombo bụp bùm bum, ô hô, nên chăng. Các ông bà bầu show ở Việt Nam đang khuyên những nghệ sĩ lỡ vướng vào chuyện chính trị hãy sớm làm đơn giải trình cho ngành văn hóa, thì vẫn được vẹm cứu xét cho về Việt Nam theo nguyện vọng. Nói giải trình cho nhẹ một chút, chứ tình thực nó ở dạng những tờ tự thú trước bình minh, rằng chúng em lỡ dại, mong quý anh tha cho, chúng em xin cắn cỏ ngậm vành.

Thế hệ nghệ sĩ sau thời điểm 1975 mà đã thành danh ở hải ngoại nhờ vào lòng thương mến của công chúng như Hoài Linh, Mạnh Ðình, Gia Huy, Phi Nhung, Thành Lễ, Nhật Hạ cũng đã về Việt Nam trong nhiều năm qua. Rồi đây, có lẽ cái danh sách những con vẹt về nước hót sẽ được bổ sung thêm, tuy không nhiều. Với những người nghệ sĩ đã quay lưng lại với chính cái nhãn hiệu tị nạn chính trị của mình để khoác lên chiếc mặt nạ che giấu cảm xúc thật của họ trước cặp mắt cú diều của vẹm cộng, từ giây phút ấy tiếng hát của họ đã trở nên những âm thanh vô hồn. Cứ mỗi lần nhìn tất cả những con người đó hát trên sân khấu, dẫu là loại nhạc gì, tình ca hay tình lính, hẳn công chúng sẽ không còn tìm thấy được cảm xúc thật của mình hòa theo cùng được nữa. Bởi những tiếng hát ấy không xuất phát từ con tim thổn thức của mình mà chỉ là những chiếc máy hát, những chiếc máy có những cái khe để người ta bỏ những đồng tiền vào.

Ðối với những người nghệ sĩ Việt Nam chân chính ở hải ngoại mà cho đến thời điểm này vẫn còn khẳng khái ấp ủ tấm lòng son với chính nghĩa quốc gia, gìn giữ những giá trị nhân bản và truyền thống văn hóa của dân tộc, vẫn giữ lòng cương cường không chịu khuất phục trước bạo quyền Hà Nội, chúng ta xin được nghiêng mình cúi đầu giở nón trân trọng bày tỏ sự kính phục và yêu mến. Những tiếng hát này mới là những sợi dây tơ rung lên những cảm xúc thực sự, và chính là những giọng hát vượt không gian và thời gian.

Phạm Phong Dinh

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Muốn có quyền làm người,người dân phải trả giá rất đắt
Tác giả: Đinh Vinh Phúc



“…Vụ đất đai Thái Hà là một chuyện nhỏ mọn, nhưng thái độ hành xử của chính quyền lại có ý nghĩa to lớn. Ý nghĩa là một khi động đến quyền lực chuyên chính là người dân phải đối phó với bạo lực về mọi mặt…”

Cuộc tranh đấu của xứ Thái Hà, quận Đống Đa, Hà Nội, đã kéo dài từ đầu năm đến nay mà vẫn không tới kết quả nào, nhưng đã đưa tới nhiều hậu quả mà dư luận không ngờ. Những hậu quả này đều có hai bộ mặt, tùy cách nhìn của người quan sát.

Thí dụ đã có một cuộc đổ máu vào đêm 28 tháng 8 vừa qua ngay trước trụ sở công an quận Đống Đa. Đó là bằng chứng cho thái độ dứt khoát của chính quyền không ngần ngại đàn áp để tận diệt tinh thần đối kháng của cộng đoàn giáo dân ở thủ đô, như chính phủ Trung Quốc đã đối xử như vậy dối với sinh viên của họ năm 1989. Nhưng dùng dùi cui điện đánh đập người dân hiền lành đến ngã xỉu, máu me đầy mặt, vào thời buổi này có cái bất tiện là làm dư luận nhớ lại cái bản chất dã man của chính quyền cộng sản Việt Nam, trước sau vẫn như một, lúc nào cũng có thể phơi bày cái tâm trạng hung tàn đã được những ý thức hệ ngoại lai đào luyện từ gần một thế kỷ nay. Bất cứ lúc nào người CS Việt Nam cũng có thể phản ứng một cách vũ phu ngoài sự tưởng tuợng của quần chúng, ngay cả đối với những người đã sống dưới chế độ trong mấy chục năm.

Cộng sản vẫn là một hiện tượng quái gở trong lịch sử dân tộc, nhưng chỉ khi bị đánh đập, bị truy tố, bị tù tội, người ta mới ý thức đến sự kiện hiển nhiên như vậy. Rồi người ta lại quên đi, với thời gian và lời ru ngủ của các cơ quan tuyên truyền. Con người bất lực trước bạo quyền chính vì sự yêu ớt tinh thần và lòng khao khát an ổn cho bản thân và gia đình.

Tuy nhiên cho đến nay người tín hữu Hà Nội đã biểu dương sự sáng suốt và lòng can đảm của mình như ít khi ta được chứng kiến như vậy. Lý do chính là người giáo dân có lòng đạo. Họ có thói quen nhận định thời cuộc qua kinh nghiệm của một cộng đoàn đã hiện diện trên mảnh đất quê hương từ 5 thế kỷ nay, đã phải chịu đựng những cuộc bách hại dữ tợn ghê gớm và chính sách vu khống liên tục qua mọi thời đại. Kinh nghiệm giúp người tín hữu nhận diện cộng sản ngay từ dầu, vào những năm 1940, và từ đó đến nay không hề bị nao núng.

Bầu khí vui mừng, hân hoan trong các lễ hội với từng mấy trăm ngàn người ở La Vang không làm họ quên thân phận hẩm hiu của họ dưới chế độ cộng sản. Họ là người có lý lịch tôn giáo, hạng ba trong xã hội sau những người không có lý lịch và gia đình cán bộ. La Vang và Thái Hà là hai hình ảnh nổi bật của cộng đồng công giáo Việt Nam trong đầu thế kỷ này. Ở hai nơi cũng chỉ là những lời nguyện cầu, cho mọi người và cho tổ quốc. Lòng sùng kính Đức Bà Maria ở Việt Nam cũng như ở nhiều quốc gia mang một nội dung ái quốc.


Image
Image
Giáo dân bị công an dùng bạo lực tại Thái Hà


Người dân Nga vẫn có thói quen đi biểu tình với hình ảnh Đức Mẹ, y như giáo dân ở xứ Thái Hà khi họ hát những bài thánh ca tha thiết cầu xin cho quê hương đuợc an bình và ấm no. Giáo dân có cách diễn tả lòng ái quốc một cách mãnh liệt, luôn luôn nhắc nhở tới những thử thách mà quê huơng phải đối phó và lòng tin tưởng cho một ngày mai tươi sáng nhờ vào hồng ân của Thiên Chúa. Người cộng sản không thể hiểu được những giá trị thiêng liêng nơi người tín hữu Thái Hà, trong cuộc tranh đấu hiện nay, và trong truyền thống đạo, đã vào lịch sử Việt Nam.

Người công giáo Việt Nam trong những thế kỷ sau sẽ nhớ mãi tới Thái Hà cũng như La Vang, hai địa danh vang lừng tinh thần đạo trong phong ba, như những tia ánh sáng trong đêm mù. Chế độ không biết là họ đã hành động vô ý thức khi muốn đả phá một trung tâm của Đức Mẹ. Các thế hệ sau sẽ tiếp tục hướng về Thái Hà và nhắc nhở lại cuộc đàn áp. Mảnh đất ở Thái Hà, đối với chính quyền chẳng có giá trị là bao, không nên bỗng dưng biến nó thành một vấn đề sống còn của chế độ.

Trả lại khu đất cho giáo xứ là một hành động bình thường đối với các chính thể bình thường. Cộng sản là ngoại lệ, thời gian sẽ làm sáng tỏ thêm cách hành chính thất sách của chính quyền ở Thái Hà.

Khu đất của xứ Thái Hà, kể từ năm 1928, là 60 000 thước vuông. Năm 1961, chính quyền cộng sản chiếm đoạt tất cả, chỉ để lại cho xứ đạo 2700 thước. Từ năm 1994, các linh mục dòng Chúa Cứu Thế, phụ trách xứ đạo, đã lập đơn khiếu nại, và từ đầu năm nay tổ chức cầu nguyện trên chính mảnh đất thuộc quyền sở hữu của nhà xứ. Chính quyền phản ứng bằng dùi cui điện và luận điệu vu khống trên đài truyền hình, bào chí, đặc biệt tờ Hà Nội Mới và tờ Sài Gòn Giải Phóng. Người cộng sản có súng trong tay và tiền đô la trong ngân hàng, sử dụng các phương tiện truyền thông để mạt sát những người dân khiếu nại. Họ hoàn toàn tin vào hiệu lực của bạo lực để vô hiệu hóa sức phản kháng của nhân dân. Tương lai sẽ cho họ vỡ mộng. Khát vọng tự do vẫn sống trong tâm hồn người Việt.

Vụ đất đai Thái Hà là một chuyện nhỏ mọn, nhưng thái độ hành xử của chính quyền lại có ý nghĩa to lớn. Ý nghĩa là một khi động đến quyền lực chuyên chính là người dân phải đối phó với bạo lực về mọi mặt. Mấy chục thước vuông mà đã vậy, nói chi đến quyền dân chủ, tự do bầu cử, đa nguyên đa đảng mà giới chính trị hải ngoại không ngớt đưa ra trên báo chí!

Có mấy ai ý thức là muốn đòi hỏi gì thì phải can đảm hứng chịu những cú dùi cui của cảnh sát động cơ? Tranh luận với chính quyền không đi tới đâu vì họ nói quanh co và gian dối ra mặt không chút ngượng nghịu. Họ thản nhiên cả quyết là không hề có cuộc đàn áp mới đây ở Thái Hà. Không nên nuôi ảo mộng là Tự Do sẽ đương nhiên tới người dân như là thời tiết thay đổi bốn mùa. Trái lại phải tin là sớm muộn người Việt Nam sẽ có gan đụng độ với công an, nghiã là xuống đường, thay vi ngồi ở nhà gõ máy vi tính.

Muốn có quyền làm người, người dân phải trả giá rất đắt. Thực tế phũ phàng như vậy đó. Cứ theo dõi tình hình ở Thái Hà mà suy ra.

Một diều nổi bật trong vụ đất đai Thái Hà là vai trò của các ngành truyền thông, dụng cụ của chinh quyền, hoàn toàn cho các tin thất thiệt, không bao giờ cho những đương sự, tức là các linh muc ở Thái Hà, có tiếng nói. Người giáo dân Thái Hà không được cho cơ hội để đính chính và trình bày quan diểm của mình. Nhưng may thay, nhờ phương tiện hiện đại của máy tính, của máy hình số, của internet… dù chính quyền có xuyên tạc tuyên truyền dối trá thế nào đi chăng nữa, những tin tức và hình ảnh đích thực của cuộc tranh đấu của họ cũng lọt được ra ngoài và được loan truyền rộng rãi cho thế giới biết đến.

Chính quyền Hà nội chủ trương thông tin một chiều đã vậy, lại còn vu khống, gán cho người khiếu nại có thái độ ngoan cố. Nhiều độc giả nhận định thời cuộc theo cách nhìn thiên lệch của báo chí Nhà Nước. Làm sao họ có thể ý thức sáng suốt đến thời cuộc bất lợi cho nhà cầm quyền? Độc quyền bao chí đi sát với các cuộc đàn áp. Không thể có tự do và dân chủ bao lâu không có báo chí tư nhân. Tự do báo chí là điều kiện cần thiết cho xã hội. Tự do ở đây là quyền tuyệt đối, vượt trên mọi vấn đề chính thể. Không có chế độ nào có quyền thiết lập một hệ thống báo chí quốc doanh độc quyền như ở Việt Nam hiện nay. Điều đáng bỡ ngỡ là người miền Nam đã được hưởng quy chế bao chí tư nhân trong hơn thế kỷ, thế mà xem ra đã đành an phận với chế độ báo chí quốc doanh từ mấy chục năm nay.

Giới trí thức Việt Nam sẽ phải trả lời thế nào với hậu lai vì thái độ thụ động của họ trước vấn đề này? Đáng lẽ họ phải sống chết với đòi hỏi của lương tâm. Nếu họ không quyết tâm, ngày đêm dồn sức vào việc phục hồi báo chí tư nhân, thì họ có thể làm gì thay lại?

Cuộc tranh đấu rất khiêm tốn của giáo dân Thái Hà làm dư luận có dịp đặt lại một số vấn đề, để nhận định thực trạng của Việt Nam dưới chế độ cộng sản.

Paris 31 tháng 8 năm 2008
Đinh Vinh Phúc

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Nhân Quyền Và Độc Tài Toàn
Trị Không Thể Cùng Tồn Tại


Lý Đại Nguyên

Image
Giáo dân cầu nguyện tại Thái Hà.

Cuộc tranh đòi lại nhà đất thuộc Dòng Chúa Cứu Thế của Giáo Dân xứ Thái Hà với nhà cầm quyền Hà nội mỗi lúc một thêm trầm trọng, mà không lối thoát. Bên giáo dân thì căn cứ vào số nhà đất của Dòng Chúa Cứu Thế vốn thuộc quyền Tư Hữu hợp pháp, mà mình đã thủ đắc trước khi có cái chế độ Việt cộng độc tài tham nhũng hiện nay. Nên việc đòi lại đất bị mất là hợp tình, hợp lý. Còn Việt cộng thì nhân danh chế độ Công Hữu, do đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, dân làm chủ (hờ) để tịch thu nhà đất của nhà thờ, nhà chùa, hay bất cứ của công dân nào, rồi tùy tiện phân phối cho những đối tượng mà đảng cho là được quyền xử dụng, hay bán cho ngoại nhân, hoặc chia nhau hưởng lợi thì cũng là hợp pháp đối với họ. Vì đảng quyết định là luật rồi. Cũng giống như thời Phong Kiến "ý Vua là ý Trời". Lệnh Vua là công lý. Chính vì vậy, mới có cảnh Dân Oan đi khiếu kiện suốt cả đời mà không được giải quyết. Trường hợp của giáo xứ Thái Hà cũng không ngoại lệ.

Thế nhưng với cuộc đấu tranh quyết liệt đòi công lý hiện nay của Giáo Dân Thiên Chúa trong Giáo Phận ở ngay Thủ Đô Hà nội, trước sự chứng kiến của con mắt quốc tế, nhất là dư luận Hoa kỳ và thế giới đang đòi Việt cộng phải Tôn Trọng Nhân Quyền, Tự Do Tôn Giáo, Dân Chủ Hoá chế độ để đưa kinh tế Việt Nam thoát khỏi cảnh suy thoái trầm trọng, do di lụy của thứ kinh tế Thị Trường theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa chết tiệt hiện nay tạo ra. Đây không còn là cảnh Dân Oan khiếu kiện bình thường nữa, mà là một tập thể Tôn Giáo có tổ chức, quyết liệt đấu tranh, chỉ cần Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tự thắng được chính mình, nhận trách nhiệm, cùng với Dân Oan, cùng với các Giáo Hội đòi thay đổi Chế Độ Công Hữu thành Chế Độ Tư Hữu, thì mới mở được lối thoát cho Việt Nam. Như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã theo đuổi suốt 33 năm nay.

Sau ngày chính thức tiếp nhận quyền lãnh đạo tối cao Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống, kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN đã công bố Bản Tuyên Cáo của Hội Đồng Lưỡng Viện về Nhân Quyền cho Người Sống, Linh Quyền cho Người Chết và Dân Chủ cho Xã Hội. Với nhận định: "Ngày nay, tổ quốc đang lâm nguy vì nạn xâm lấn đất và biển cùa ngoại bang, mà 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là nỗi đau nhức nhối. Trong khi ấy chính quyền tại vị nhu nhược nếu không nói là đồng lõa. Nên GHPGVNTN kêu gọi toàn dân trong và ngoài nước mau chóng kết thành một khối để bảo vệ non sông và nòi giống...". Đòi nhà nước Việt cộng phải: "1- Thay đổi chính sách thù nghịch tôn giáo đối với các tôn giáo tại Việt Nam, thể hiện bằng sự công nhận sinh hoạt độc lập và phi chính trị của các tôn giáo, phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo Hôi Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và các tôn giáo chưa được thừa nhận..."; "2- Áp dụng triệt để Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị, mà Việt Nam tham gia ký kết tại LHQ năm 1982, và tiêu chuẩn hóa pháp luật Việt Nam theo Công Ước Quốc Tế về Nhân Quyên, Tự Do, Dân Chủ của LHQ"; "3- Loại bỏ điều 4 Hiến Pháp tạo điều kiện cho sự tham gia cứu quốc và kiến quốc của toàn dân, của mọi thành phần dân tộc, mọi gia đình, tôn giáo và chính trị"; "4- Triệu tập Hội Nghị Toàn Dân, bao gồm các tôn giáo và đảng phái dân tộc ra đời từ đầu thế kỷ XX cho đến nay, khai mở cuộc hóa giải các tranh chấp, hận thù nẩy sinh từ những ý thức hệ ngoại lai gây nên tấm thảm kịch bản địa suốt sáu mươi năm chưa dứt, hầu đặt cơ sở cho việc trao quyền lãnh đạo cho toàn dân trong một thể chế dân chủ tam quyền phân lập và đa đảng..."

Bản Tuyên Cáo của Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN nói lên ý nguyện thiết tha của toàn dân Việt Nam, ở trong và ngoài nước. Đúng với nhu cầu Dân Chủ Hóa chế độ, đòi Cộng đảng phải trả lại quyền tự chủ xây dựng, phát triền xã hội, kinh tế, và tham gia chính trị cho toàn dân. Nhằm giành lại chủ quyền cho Dân Tộc trên trường quốc tế, để Quốc Dân Việt Nam chủ động hội nhập với tiến trình Toàn Cầu Hóa, mà vẫn duy trì được bản sắc Văn Hóa Dân Tộc trong thời đại Nhân Chủ Nhân Văn Toàn Thế Giới. Cụ thể bước đầu là Việt Nam phải bỏ điều 4 Hiến Pháp của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, mà Cộng đảng đã ngang nhiên cướp quyền lãnh đạo của toàn dân, để đứng trên Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, mà tùy tiện điều hành quốc gia. Từ đó đại biểu chính thức của toàn dân viết ra bản Hiến Pháp Dân Chủ thực sự làm "mẹ" cho luật pháp quốc gia để đưa ra Trưng Cầu Dân Ý. Thay cho bản Hiến Pháp lạc hậu phi dân chủ hiện hành, cho phép dùng luật tùy tiện của Cộng đảng, để giới hạn quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do lập hội hiến định của người dân. Cộng đảng đã biến hiến pháp và luật pháp của chúng thành công cụ thiết lập chế độ độc đảng, độc tài, toàn trị tại Việt Nam. Thế nên trong chế độ độc đảng, độc tài toàn trị này không có chỗ đứng của Nhân Quyền, cho dù toàn dân, cả thế giới và người bạn lớn mới của Việt cộng là chính phủ Hoa kỳ có đòi hỏi cách mấy thì Việt cộng vẫn cứ ì ra đó.
Image Nhưng cũng may, Hoa kỳ là nước Dân Chủ trọng pháp. Để cụ thể hóa vấn đề Nhân Quyền, nhất là đối với những nước hậu Cộng sản vô tôn giáo. Quốc Hội Hoa kỳ 1998 đã biểu quyết thành Đạo Luật Tự Do Tôn Giáo Thế Giới. Từ đó chính phủ Mỹ lấy vấn đề Tự Do Tôn Giáo làm chính sách ngoại giao của mình. Quốc Hội Mỹ cho thành lập Ủy Ban Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế, để theo rõi chính sách ngoại giao tôn giáo của chính phủ. Việc chính phủ Mỹ đã đặt Việt Nam vào trong danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt - CPC- theo các khoản đề ra trong đạo luật về tự do tôn giáo quốc tế. Nhưng vì nhu cầu nhập nội Việt Nam, năm 2006, Chính quyền Bush đã rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách "phong ác thần" đó, để Mỹ giúp cho Việt Nam được gia nhập WTO, với hy vọng Việt cộng biết điều hơn về Tự Do Tôn Giáo ở Việt Nam. Nhưng chứng nào tật ấy. Sau khi được vào WTO, và tiếp TT Bush tại Hà nội, Việt cộng lại thẳng tay đàn áp tôn giáo và tiêu diệt nhân quyền. Nên "Ủy Ban Hoa Kỳ đặc trách vấn đề Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế - USCIRF - hôm thứ Hai, 25-08-2008 đã công bố một phúc trình có tựa đề "Trọng Điểm Chính Sách về Việt Nam", ghi nhận những sự kiện Ủy Ban tìm hiểu được trong chuyến đi thăm Việt Nam năm 2007, đồng thời nêu rõ những hành động gây phiền nhiễu, bắt giữ và tù đầy được chính phủ (VN) bảo trợ, nhằm vào cá nhân và lãnh tụ các cộng đồng tôn giáo khác biệt trong nước". Nên, "Ủy Ban kêu gọi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đặt Việt Nam trở lại vào danh sách các quốc gia đáng quan tâm đặt biệt" - CPC - Trong khi đó Dự Luật Nhân Quyền cho Việt Nam hy vọng sẽ được Thượng Viện Hoa Kỳ thông qua thành Luật vào đầu tháng 09-2008 này. Đạo luật này là một áp lực mạnh đối với Việt cộng. Theo ông Đại Sứ Mỹ tại Hà nội, Michael Michalak thì:"Hoa kỳ cũng sẵn sàng giúp đỡ kỹ thuật cho Quốc Hội Việt Nam, và sẽ tiếp tục các cuộc đối thoại và tham khảo ý kiến công khai với Việt Nam để bảo đảm quyền tự do phát biểu tư tưởng, tự do tôn giáo và tự do báo chí, đồng thời cải thiện tình trạng trong sáng, để có thể chống tệ nạn tham nhũng trong nước một cách tốt đẹp hơn". Xem thế Hoa kỳ cả Lập Pháp lẫn Hành Pháp cũng nhìn rõ chế độ độc tài tham nhũng toàn trị của Việt cộng không thể cùng tồn tại trước nhu cầu nhân quyền của toàn dân và toàn cầu.

Lý Đại Nguyên

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image
VỢ HIỀN

Tràm Cà Mau

Vợ tôi không phải là một người đàn bà có nhan sắc khuynh nước đổ thành. Bởi tôi, vốn tài mạo tầm thường và cũng không có nhiều may mắn bất ngờ để lọt mắt xanh những cô có nhan sắc chim sa cá lặn. Vả lại tôi cũng thường nghe bố tôi tuyên truyền nhồi nhét trong cái đầu từ nhỏ rằng, đẹp đến mấy rồi cũng trở thành méo mó xấu xí, và vợ đẹp là vợ người ta. Vợ tôi cũng không có tài ba xuất chúng, bởi tôi vốn nể sợ và có thành kiến với những người đàn bà tài giỏi, vì họ thường kiêu ngạo và hay thành độc tài vợ trị. Ðộc tài đảng trị thì có thể bỏ nước chạy ra biển chết, chứ độc tài vợ trị thì không chạy đâu cho thoát cả! Vợ tôi chỉ là một người đàn bà trung bình trên tất cả mọi mặt. Với một vóc dáng tầm thường bên ngoài, không vêu vao xấu xí khó nhìn. Bên trong nàng mang một tấm lòng hiền hậu, bao dung, biết hành xử khôn ngoan khéo léo, để đem lại cho gia đình hạnh phúc êm ấm lâu bền mà tôi vô cùng biết ơn mỗi khi nghĩ đến. Trong nhiều năm chung sống, chưa bao giờ nàng nặng lời với tôi, chưa bao giờ có cử chỉ hay ngôn ngữ thiếu lịch sự, cũng chưa lần khóc lóc giận hờn đòi hỏi điều này điều kia, hoặc đặt điều kiện làm khó, hay so đo chuyện nhà với gia đình người khác. Ngoài tình cảm tha thiết chia sẻ của vợ chồng, nàng âu yếm như một người tình, khoan dung rộng lượng như một người mẹ và hiểu biết như một người tri kỷ.

Năm tôi hai mươi tám tuổi, mẹ tôi nóng ruột thúc hối ép tôi lập gia đình. Bà đưa cái công thức cổ xưa của mấy ông Tàu bày ra là "tam thập nhi lập". Tôi cũng chưa đến ba mươi, mẹ tôi cứ gán đại thêm cho hai tuổi để dễ bề ép uổng. Tuổi đó, thích được quen nhiều bạn gái, bạn thôi thì được, nhưng nghe đến chuyện hôn nhân là xanh mặt. Vì qua kinh nghiệm bạn bè, kinh nghiệm giao tiếp trong sở, tôi thấy đa số mấy anh có vợ rồi thì dường như bị khép chặt trong cái vòng "chuyên chính" của bà vợ nhà! Cái vòng tuy lỏng lẻo và êm ái, nhưng bằng sắt, rất chặt và siết cứng. Một anh bạn thân, lâu lâu giận vợ, đến nhà tôi ở lại, nằm rũ ra trên giường như đống mền rách rầu rĩ nói với tôi: - Tao chỉ mong có được một ngày an bình, sung sướng như mày, một ngày thôi cũng đủ. Nghe thế thì không sợ sao được? Trong sở tôi có mấy anh bạn bị vợ cào rách mặt và phải lấy cớ là dao cạo râu cắt. Ai cũng biết chuyện gì đã xảy ra, vì mặt mày các anh láng lẫy, trơn tru, có sợi râu nào đâu mà phải cạo cho dao cắt! Một ông lớn tuổi khác, vợ vào tận sở xé áo và kêu bằng mày tao, còn tố cáo ông mang bằng kỷ sư giả bên Pháp về. Nhan nhản những tấm gương gia đình u ám trước mắt như vậy, thì chỉ có ngu quá hoặc liều mạng mới không sợ mà thôi. Tôi khất lần mãi không được, phải bẻn lẻn theo mẹ, đi ra mắt, và xem mặt nhiều cô con gái các gia đình mà bà quen biết.

Tôi theo lời dạy của một anh quân sư quạt mo, cứ mang bộ mặt đưa ma đến nhà người ta và ăn nói nhát gừng cộc lốc, thì không ai muốn gả con gái cho, và các cô thấy vậy thì cũng ớn lạnh mà dạt ra. Thế mà cũng có nhiều nhà khen tôi hiền lành, muốn gả con gái cho. Tôi tìm đủ lý do nói riêng với mẹ để chê bai từ khước. Cô thì chê mặt dài, cô thì chê mũi lớn, cô khác chê mắt có đuôi, cô thì mồm như có râu. Toàn cả những lý do vu vơ. Mẹ tôi phiền muộn thở dài, vì biết con trai bà cũng chẳng có sự nghiệp gì sáng giá, chẳng có một phong cách đặc biệt nào, mà đòi hỏi quá đáng chăng? Không nỡ để mẹ buồn, tôi đem Lam, người bạn gái thân thiết nhất về giới thiệu với mẹ, bà vui vẻ chịu ngay. Bà khen Lam láu lỉnh, bặt thiệp và xinh đẹp.

Mẹ tôi đến thăm xả giao nhà Lam hai lần để dò xét gia thế, và quyết liệt chống đối cuộc hôn nhân, lấy lý do là mẹ Lam dữ dằn và có cách cư xử thiếu lễ độ với chồng. Tôi nói: - Con cưới Lam chứ cưới bà ấy đâu mà mẹ sợ? Mẹ tôi nhất quyết tin rằng, mẹ hổ thì khó sinh được con cừu. Vì cách đối xử của cha mẹ, ảnh hưởng đến tính tình con cái. Cha mẹ dữ dằn, con cái khó mà hiền lành được, vì ngày ngày học cách ăn nói, cách đối xử, tiêm nhiễm những thói quen của cha mẹ, và đem ra xử sự với đời, mà không biết đó là xấu. Tôi cố bào chữa cho Lam, nhưng mẹ tôi đã nhất quyết, không lay chuyển được. Bà nói: - Mẹ thương con, mẹ không muốn sau này con khổ vì đời sống gia đình thiếu hạnh phúc. Vì không có gì khổ bằng có vợ dữ dằn, hỗn láo, có thể làm người chồng buồn phiền sinh ra rượu chè, cờ bạc, trai gái hư hỏng. Mẹ thương con, lo cho tương lai con nên mẹ không chịu. Tôi định nói với mẹ rằng, con trai của mẹ cũng chẳng hiền lành chi, mà chê thiên hạ. Nhưng sợ mẹ buồn nên im lặng. Mẹ của Lam biết được ý kiến của mẹ tôi, nổi tự ái, nói nhiều lời tàn nhẫn, tổn thương đến gia đình tôi, và tuyên bố không bao giờ gả Lam cho tôi. Khi bị trắc trở, ngăn cấm thì tình yêu càng thêm tha thiết bốc lửa, và hai đứa tôi càng quyết vượt qua hàng rào ngăn cản của gia đình. Muốn sống cho nhau, và sống chết vì tình yêu.


Một lần chìu ý mẹ, tôi miễn cưỡng đi xem mặt một cô mà mẹ tôi gọi là gia đình phúc hậu đàng hoàng. Tôi chẳng tha thiết gì, chỉ giữ đủ lịch sự tôi thiểu để cho mẹ khỏi mất mặt. Lần đó Lam biết được, nàng giận dữ sỉ vả tôi: - Anh là một thằng đểu cáng, xấu xa đê tiện, một kẻ hèn nhát núp váy mẹ, không dám làm gì cả. Anh không xứng đáng với tình yêu của tôi. Tôi nghe mà bàng hoàng, như bị sét đánh. Hai đứa giận nhau. Tôi chợt nhớ tới lời nhận xét của mẹ, và thấy bà cũng có lý phần nào. Nhưng tim tôi vẫn nát tan xót xa vì chuyện tình đổ vỡ. Ngay sau đó, Lam có người yêu mới là Tuân. Tuân cũng là trong đám bạn bè quen biết lâu dài với tôi, tính tình Tuân hiền lành, chịu đựng, và Tuân đã bền bỉ theo đuổi Lam từ lâu. Nửa năm sau, tôi đi dự đám cưới Tuân, Lam với trái tim vỡ nát, nhưng cũng vui mừng vì Lam lấy được chồng hiền lành và đàng hoàng, có thể bảo đảm đời sống tinh thần vật chất cho gia đình sau này. Tôi thật tình nghĩ rằng, tôi không bằng được Tuân về nhiều mặt. Lam bỏ tôi là phải. Mẹ tôi làm như lấy vợ cho bà, cứ khóc lóc thúc giục mãi.



Tôi tâm sự với một ngưBi bạn cũ. Anh cười và nói: - Hay là cậu thử tìm hiểu Mai, em gái tôi xem sao. Nó cũng sẵn có cảm tình với cậu đó. Mai hiền lành lắm. Ðược bạn khuyến khích, tôi bắt đầu tìm hiểu Mai. Nàng không đẹp, không xấu, chăm chỉ, hiền lành. Trước đây, đến nhà bạn chơi, tôi chỉ thấy Mai thấp thoáng đâu đó sau bàn học, hoặc lẳng lặng rút lui sau khi cúi đầu chào lễ phép. Dẫn Mai đi chơi, tôi không tìm hiểu được chi nhiều về Mai, vì nàng quá thụ động, khi nào cũng nhẹ nhàng chìu chuộng, ít đưa ý kiến riêng. Khi hỏi ý, nàng thường bảo: - Dạ, anh cho em đi đâu cũng thích cả, anh vui thì em cũng vui. Tôi đem nhận xét về cái hiền lành của Mai nói với một người bạn. Anh cười hô hố và nói: - Trời ơi, khi mới quen thì em nào mà không hiền lành như thánh mẫu, dịu dàng như tiên cô. Khi cưới về thì cái đuôi dài thòng mới lòi ra, và dữ như chằng tinh. Em nào cũng vậy cả. Tôi hỏi thẳng anh của Mai, anh trả lời: - Con nhỏ hiền lành, biết nhường nhịn và rất dịu dàng. Cậu có phước lắm mới gặp nó. Không phải vì nó là em gái mà tôi khen đâu.

Mẹ tôi đến thăm gia đình Mai nhiều lần, khen mẹ của Mai phúc hậu, hiền lành, cư xử lịch sự, phải phép với chồng. Bà nghĩ rằng, nhất định Mai cũng học được nề nếp gia đình của mẹ, không nhiều thì ít. Bà thúc tôi làm đám cưới ngay. Tôi xin hoãn một thời gian để tìm hiểu thêm, mẹ không chịu và bảo: - Lấy vợ thì lấy liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha. Tôi nói rằng, nếu nghe được lời dèm pha đúng, thì cũng là điều tốt, mình khỏi phải xét đoán lầm người. Mẹ tôi lại giảng cho tôi rằng, chín mươi phần trăm cách cư xử của con cái là do ảnh hưởng sinh hoạt tốt xấu của cha mẹ. Cha mẹ gieo vào đầu con cái thứ tư tưởng nào, thì nó sẽ hành động theo lối đó. Thương mẹ, tôi tạm quên kinh nghiệm ghê gớm trong đời sống gia đình của bạn bè và đồng sự, liều thân lấy vợ cho mẹ vui lòng. Có một ông bạn bảo rằng, lại thêm một thằng đàn ông ngu muội đi vào vết xe đổ nghìn năm của nhân loại.

Tôi cưới Mai, nàng như cái bóng dịu hiền bên tôi.Tôi thấy mình tan loãng vào tình yêu êm đềm, và chợt nhận ra đời sống gia đình êm ái, thoải mái và hạnh phúc hơn nhiều lần đời sống độc thân. Không thấy gò bó tù túng trong dây ràng buộc của gia đình như nhiều người thường bảo. Mai lo lắng cho tôi những thứ cần thiết lặt vặt trong cuộc sống bình thường, bổ khuyết cho tôi những thiếu sót, dịu dàng an ủi tôi những khi lo buồn. Tôi nói với vợ: - Anh ngu quá, biết lấy vợ mà sung sướng hạnh phúc như thế này, thì đâu để độc thân đến gần ba mươi tuổi. Uổng thật. Những khi chúng tôi có ý kiến trái ngược, Mai dịu dàng phân tích thiệt hơn cho tôi nghe, rồi để cho tôi quyết định. Sau khi quyết định xong, dù có trái ý nàng, Mai cũng vui vẻ cố gắng giúp tôi hoàn thành công việc. Không như các bà khác, những lúc chồng làm trái ý, thì các bà mong cho ông chồng thất bại để chứng tỏ ý kiến của bà là đúng, là hay. Mai thường nói: - Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn. Nếu ai cũng khăng khăng giữ ý của mình, thì chẳng làm nên được việc gì cả. Cũng có khi quyết định của tôi sai lầm, đưa đến kết quả không tốt. Những lúc này, Mai thường hết lời dịu dàng an ủi tôi, và cho rằng tôi không có lỗi gì cả, ví ai cũng có thể sai lầm, và Mai cho rằng nàng cũng có phần lỗi, vì chưa tận tình giúp tôi đầy đủ ý kiến để làm quyết định. Từ đó, tôi cảm thấy mình phải lắng nghe ý kiến của vợ nhiều hơn. Tôi nghĩ, nếu những lúc này mà Mai dằn vặt, nằng nặc buộc tôi tôi, thì chưa chắc tôi đã thấy mình lầm lỗi. Mai không như một số đàn bà khác, đúng hay sai cũng đổ lỗi cho chồng, và những khi chồng thất bại trong đời, là cái dịp cho các bà chê bai, mai mỉa, nói những lời tàn nhẫn.


Ngoài xã hội, có những lúc tôi vô tình hoặc thiếu may mắn, gây nên những sai lầm với người khác, Mai tự đứng ra, gánh vác hết trách nhiệm thay tôi. Tự ái đàn ông, đâu cho phép tôi để vợ gánh vác trách nhiệm thay mình. Tôi thấy thương và quý vợ nhiều hơn. Mai bảo: - Chuyện nhỏ, để em gánh vác giúp, anh để tâm trí làm những việc khác ích lợi hơn. Tôi thầm nghĩ, tôi thì làm chi có việc lớn mà gánh vác. Những năm mới lấy nhau, tài chánh gia đình khó khăn, đắp trước bù sau hàng tháng. Áo quần đơn sơ, ăn uống dè xẻn. Thế mà Mai bao giờ cũng vui vẻ, chưa bao giờ nghe Mai than thở hoặc so sánh với các bạn bè khác. Nàng thường nói: - Chúng ta nghèo vật chất, nhưng giàu hạnh phúc, tinh thần thanh sạch, thế là đủ. Ðời sống biết đủ là đủ. Chính vì Mai không than thở, nên tôi thấy mình có trách nhiệm nhiều hơn về tài chánh gia đình. Buổi chiều về, tôi đi dạy thêm cho các lớp đêm. Ngày nghỉ, tôi mở lớp dạy kèm luyện thi cho từng nhóm nhỏ. Tài chánh gia đình nhờ đó mà dồi dào hơn, có thêm tiền, nhưng Mai không vui, mà chỉ lo cho tôi thiếu sức khỏe sinh bệnh hoạn. Năm đó, tôi không chịu theo bè cánh với nhóm tham nhũng, chúng đày tôi về một tỉnh nhỏ xa xôi. Tôi buồn phiền lắm. Không đi thì không được, đi thì bỏ hết công chuyện làm ăn riêng tư. Mai khuyên tôi nhẫn nhịn, và gắng tìm vui trong hoàn cảnh mới. Khi chúng tôi về tỉnh nhỏ, Mai thường an ủi và nâng đở tinh thần tôi, đặt mua các thứ sách báo tôi thích, để giải trí và quên đi phần nào nổi buồn nơi tỉnh nhỏ. Mai xin được việc ở một nhà dạy trẻ, để phụ thêm kinh tế gia đình....


Khi chạy vội về Sài Gòn vào năm 1975, chúng tôi mất tất cả, trở thành trắng tay. Tôi lo lắng và muộn phiền lắm, nhưng nhờ thái độ trầm tĩnh và chịu đựng của Mai mà tôi bớt bối rối. Tr0ớc ngày miền Nam sụp đổ, chúng tôi bàn nhau là nên ở hay đi. Ý Mai thì nên đi để bảo toàn tính mạng cho gia đình, khi yên ổn thì quay trở về cũng chẳng mất mát gì. Phần tôi thì vì yêu mến quê hương một cách lãng mạn, quyết ở lại, muốn cùng chia sẻ khổ đau, sống chết cùng quê hương. Chủ nghĩa đối với tôi không quan trọng, tôi nghĩ chính thể nào cũng thế thôi, cũng cùng là người Việt, cùng giòng giống tổ tiên, thì việc gì mà phải bỏ chạy? Tôi đã lầm to. Thảm họa trùm xuống khắp miền Nam. Ðau khổ, lao tù, đói lạnh, đè nén, áp bức. Tôi cũng ôm gói đi tù như mọi bạn bè, Trong tù, tôi vô cùng ân hận về quyết định sai lầm, để thân xác mình bị tù đày, để vợ con bơ vơ, đau khổ, đói rách, không vốn liếng, không tài s3n. Ba tháng sau khi tôi đi tù, Mai thấy chồng chưa được thả về, đã xoay xở rất mau. Nàng mua áo quần cũ, cắt ra may thành áo quần trẻ em đem bỏ mối tại các chợ trời hè phố. Ðêm nào cũng may đến mười hai giờ khuya. Một mình nuôi chồng tù tội, nuôi con thơ dại, ngược xuôi trong cuộc đổi đời.

Những năm tháng nằm tù, có nhiều thì giờ suy nghĩ, tôi mới sâu sắc nhận ra mình mang ơn vợ quá nhiều. Tình cảm nàng dành cho tôi tràn đầy dịu dàng, bao dung, âu yếm và hy sinh. Tôi biết mình là kẻ có phước được vợ hiền.... Khi tôi được ra tù, thể xác tiều tụy, tinh thần suy nhược, đời sống bất ổn, bị đe dọa thườn g trực. Hàng tuần bị tên ----xoá bỏ---- khu vực đến thúc giục đuổi đi về vùng kinh tế mới, và nói lời hăm dọa. Tôi nản lòng bàn với Mai để dọn về vùng kinh tế mới cho yên thân. Nàng đã khôn ngoan giải thích rằng, bằng mọi giá phải bám vào thành phố, để sống còn và để bớt bị độc tài áp bức, bớt khốn khổ vì cái u mê của chế độ hành hạ. Nàng thường khuyên tôi: - Mình hãy xem cuộc đời này như một trò chơi không vui, đừng quá quan tâm đến những gì xảy ra cho mình, cho thiên hạ chung quanh. Những đau khổ mà mình đang chịu đựng cũng là một thứ thử thách, làm cho mình lớn thêm lên, trưởng thành hơn, và cứ vui với những gì nhỏ nhoi nhất có thể có trong thời gian này. Không xấu xa nào có thể tồn tại mãi mãi được, ánh sáng tương lai sẽ có ngày chiếu rọi trên quê hương. Mai đã an ủi, khuyên nhủ và dịu dàng dắt tôi đi qua quãng đời đau khổ trong chế độ lạ lùng vô nhân kỳ quái này. Chúng tôi bữa đói bữa no dắt nhau đi trong đời sống mịt mù của xã hội chủ nghĩa trá hình. Khi tôi ngỏ ý tham gia một tổ chức phục quốc chống lại chính quyền cộng sản trong thành phố, thì Mai đồng ý ngay. Nàng nói: - Chúng ta đã vất súng đầu hàng, chỉ mong được bình yên sống và góp phần xây dựng lại quê hương. Nhưng kẻ chiến thắng đọa đày nhân dân xuống vực thẳm. Không cho ai yên sống. Chính họ đã buộc chúng ta đứng dậy, cầm lại súng. Việc đáng làm thì phải làm. Nếu ai cũng trốn tránh cả, thì đau khổ này biết bao giờ dứt được? Nhưng phải thận trọng để khói phí thân làm việc dã tràng. Cùng với bạn bè cũ mới, chúng tôi tổ chức mua súng, liên lạc với các nhóm kháng chiến khác. Ra một tờ báo bí mật chuyền tay. Mai đã ngược xuôi giúp đỡ chúng tôi, mang tin tức, chuyển vận hàng hóa. Chúng tôi mơ mộng một ngày ánh sáng tự do chiếu rọi trên quê hương, trở lại đời sống không áp bức kẹp kềm. Một vài người trong nhóm bất cẩn, tổ chức bị đổ bể, đa số anh em bị bắt. Tôi chạy thoát được với cái áo có nhiều lỗ đạn bắn thủng bên hông. Mai nhờ người nhắn tôi bình tĩnh chờ nàng sắp đặt. Nàng vay mượn và bán hết đồ đạc trong nhà, đóng tiền cho tôi bí mật vượt biên....Phút cuối chủ thuyền cho vợ con tôi cùng đi với lời hứa trả tiền sau. Tôi cám ơn Trời Phật đã xui khiến cho chúng tôi còn có bên nhau trong đời.

Trên biển đói khát Mai nhường phần ăn uống cho con, cho chồng, với lý do là tôi cần sống hơn nàng, tôi có thể làm được nhiều việc ích lợi hơn. Nhưng theo ý tôi, thì chính Mai mới xứng đáng để sống sót vì đời sống nàng có nhiều ý nghĩa, tốt đẹp hơn. Những ngày khó khăn nắng cháy cực khổ tại trại tỵ nạn, nàng dành lấy hết tất cả việc vặt vãnh như lãnh thức ăn, xách nước, nấu nướng, chăm sóc con cái, để cho tôi có thì giờ tham gia tiếp tay phụ giúp các công tác chung trong trại. Mai dặn tôi tráng xa những nơi có tranh giành, có chút quyền lợi, chỉ kê vai gánh vác những việc có ích chung mà không ai làm. Với khuyến khích và an ủi của vợ, tôi làm được nhiều việc hữu ích cho cộng đồng. Trong lúc đó, một vài anh bạn tôi, tham gia việc cộng đồng mà như làm việc quốc cấm, bị vợ cằn nhằn, ngăn cản, mỉa mai rằng việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng. Nhiều người than vãn về những thiếu thốn, khó khăn, cực khổ trong trại tỵ nạn. Mai thì khi nào cũng vui vẻ, lạc quan, và cho rằng tương lai được sống đời tự do đang rõ ràng trước mắt. Những thiếu thốn khó khăn trong trại tỵ nạn là đương nhiên. Ở đây cũng còn sung sướng hơn những ngày tháng sống với chế độ công sản u ám, bất trắc, chèn ép, sợ hãi. Những khi con tôi chê cơm, Mai nhắc nhở cho chúng những ngày khoai sắn qua bữa, những ngày đói khát trA An biển khơi, thì chúng vội vàng ăn ngon lành những chén cơm trong trại tỵ nạn.

Chúng tôi đến Mỹ vào mùa Ðông, tuyết phủ ngút ngàn, trắng xóa cả đất trời. Chưa biết có thể làm gì để nuôi sống gia đình trong miền đất mới, nhưng nhờ trợ cấp xã hội trong thời gian đầu, đắp đổi tạm sống qua ngày. Dù không dư giả, tiền trợ cấp xã hội được Mai chia ra làm ba phần: hai phần ba nuôi sống gia đình với chi tiêu dè xẻn tiện tặn, một phần ba gởi về giúp những bạn bè đang đói khó khắc khoải trong lao tù, trong các vùng kinh tế mới.... Hai vợ chồng dắt nhau đi tìm việc, và không nản lòng. Tôi tìm được một chân rử a chén bát tại khách sạn Holiday Inn. Mai tìm được một chân làm bánh ngọt Donut. Chúng tôi tự túc được rồi, và từ đó mà tiến lên, tôi tìm được công việc khác trong hãng tiện có đồng lương khá hơn. Chúng tôi bắt liên lạc với bạn bè xa gần, và ao ước được đóng góp phần nào vào nỗ lực làm vơi khổ trên quê nhà. Thư của bạn bè hồi âm với lời lẽ bi quan, nhiều người khuyên tạm quên chuyện quê hương đi, mà lo cho đời sống bản thân và gia đình trước đã... Nhiều đêm Mai thì thầm: - Chúng ta có yên lòng hưởng hạnh phúc, tự do khi cả quê hương đang chìm đắm trong khổ đau? Chúng ta có quên được bao nhiêu người đang kỳ vọng chúng ta nơi quê nhà? Liệu chúng ta có làm được gì không hay chỉ mải mê lo cho đời sống riêng t=C 6?...

Chưa bao giờ tôi nghe Mai phàn nàn, sanh nạnh với tôi về công việc trong nhà. Chưa bao giờ nàng lên giọng sai bảo tôi hút bụi, quét nhà, rửa chén bát. Nếu rảnh, thì tôi làm, nếu tôi bận xem những trận thể thao hấp dẫn, thì thôi. Nhiều lúc Mai không cho tôi rửa chén bát, giành lấy mà làm, vì những lúc đó nàng rảnh rang. Chúng tôi cùng làm việc nhà trong tinh thần chia sẻ, không phải trong trách nhiệm phân chia việc nào chồng làm, việc nào vợ làm. Mai chưa bao giờ tranh hơn thua với chồng. Nàng quan niệm rằng, vợ chồng không cần tranh hơn thua nhau, hơn chồng cũng không được gì mà chỉ tổ tình yêu bị tổn thương.. Chưa bao giờ Mai lớn tiếng hay khăng khăng quyAt đoán việc gì. Khi nào cũng dịu dàng thảo luận và sẵn sàng chờ lúc thuận tiện để thuyết phục thêm. Tôi đã nghe thấy vợ nhiều người bạn, sẵn sàng xẵng tiếng với chồng, mở miệng ra là nói nặng lời, nói điều chua chát khó nghe, và tôi biết mình may mắn có vợ hiền... Những lúc tôi gặp khó khăn ngoài xã hội, mang bực bội và cái không vui về nhà, Mai thường khuyên tôi rằng: - Mục tiêu tối thượng của đời người là đi tìm hạnh phúc. Ði làm kiếm tiền cũng chỉ để mua hạnh phúc. Hạnh phúc đích thực của cuộc sống là gia đình vui vẻ, ấm êm và dễ chịu. Không tội chi đem cái khó khăn bực bội của bên ngoài về nhà cho mất vui, mà phí phạm ngày tháng yên ấm của gia đình. Dù giàu sang danh vọng đến mấy, mà gia đình thiếu hạnh phúc thì đời không còn ý nghĩa gì. Thế là tôi tìm được nguồn vui và yên tĩnh tâm hồn...

Nhiều khi nằm bên nhau, tôi hỏi Mai: - Sao hơn mười mấy năm sống bên nhau, chưa bao giờ em làm cho anh buồn lòng, chưa bao giờ em làm cho anh phải nổi giận. Em có khi nào buồn giận anh không? Nàng nói: - Sách dạy cho em biết rằng, người cho thì được nhiều hạnh phúc hơn người nhận. Không cầu thì sẽ được, không đòi thì sẽ có. Biết vui với cái tương đối mà mình đang có, thì trở thành kẻ sung sướng nhất trong đời. Cho đi tình thương chân thành, thì được nhận lại bằng tình thương. Nhiều người đàn bà đòi hỏi ở chồng quá đ=C 3ng, ngoài khả năng của chồng. Bao nhiêu cũng không thỏa mãn cả. Họ không nhìn thấy sự hy sinh của người khác, mà chỉ cố bươi móc lỗi lầm cỏn con của chồng để mà trách móc, giận hờn. Làm thế không có lợi gì cả, mà chỉ là cách phá hoại hạnh phúc gia đình hữu hiệu nhất.. Tôi thành thực mà nói rằng đã học được rất nhiều điều tốt của vợ tôi. Nàng càng dịu dàng, càng thu mình nhỏ lại, thì tôi càng thương yêu trang trải bù đắp cho vợ nhiều hơn. Mỗi khi đi làm về, thấy nét mặt tươi vui hân hoan của vợ, thì bao nhiêu mệt nhọc bực bội trong ngày đều tiêu tan. Khi tôi phạm phải lỗi lầm, hành động sai quấy, vợ tôi thường an ủi rằng, mình là con người chứ đâu phải là thần thánh chi, mà không có sai lầm. Ðừng buồn, cái thiệt hại này cũng là bài học tốt về sau. Những an ủi, khuyến khích tinh thần của vợ, làm cho đời sống tôi nhẹ nhàng, êm ái, thư dãn, không bị dồn ép, không bị áp lực cuộc sống, không có căng thẳng gia đình như nhiều bạn bè khác.

Trên bước đường tha hương, một lần vợ chồng Tuân-Lam ghé thăm chúng tôi. Tuân là bạn cũ, Lam là người xưa. Vợ tôi biết rõ mối tình cũ giữa tôi và Lam, nhưng nàng tin chồng, và rất lịch sự, vồn vã đón tiếp họ hết lòng. Có lẽ Mai cũng biết chuyện xưa của chúng tôi đã nguội lạnh từ lâu, chẳng ai còn tiếc thương chi. Tuấn vẫn hiền lành phúc hậu như xưa, nét mặt chịu đựng.. Ðêm khuya tôi vẳng nghe tiếng Lam đay nghiến dằn vặt chồng ở phòng bên cạnh, nói những lời thiếu lễ độ.. Về sau, mỗi lần nghĩ đến Lam, lòng tôi phơi phới, vì may mắn, cuộc đời không phải gắn liền với một người đàn bà như Lam. Tôi biết ơn mẹ nhiều hơn. Kinh nghiệm sống của mẹ đã giúp cho cuộc đời tôi có hạnh phúc hơn. Và tôi biết thương yêu, nể trọng vợ hơn nhiều.

Một chị bạn gia đình không được hạnh phúc, hỏi vợ tôi bí quyết để được chồng thương yêu nể nang. Mai cười mà nói: - Không có bí quyết nào cả. Chỉ có câu chuyện sau đây, tôi thuộc nằm lòng từ thời còn đi học. Chuyện ở trong sách tập đọc của Pháp. Rằng:

- Có một anh nông dân đem bò ra chợ tỉnh bán. Suốt ngày không bán được phải dẫn bò về. Ðường xa mệt nhọc, con bò trở chứng không chịu đi. Có người gạ đổi con bò lấy con ngựa hồng tung tăng. Anh tưởng được ngựa sẽ thong thả dong cương ra về, nhưng con ngựa lạ chủ không chịu cho anh cưỡi và cũng trì kéo dằng dai. Một người khác dẫn con heo nái ngoan ngoãn đi qua, gạ đổi heo lấy ngựa, anh đổi liền. Ðường xa mệt nhọc, con heo cũng nằm ì không chịu đi, bí quá, anh đổi heo lấy một con dê nái. Con dê càng cứng đầu khủng khiếp, anh vật lộn với dê phờ phạc. Ðêm đã tối mịt mù, một hành khách đề nghị đổi dê lấy một con gà tr ống lớn. Vừa đói, vừa khát, vừa mệt, anh ôm con gà vào quán đổi lấy bữa cơm. Thế là một bữa ăn trả giá bằng một con bò. Ăn xong, anh nông phu thong thả ra về, vừa đi vừa ca hát khỏe khoắn. Khi về đầu làng, có bạn quen hỏi đi đâu mà về khuya thế.. Anh kể chuyện đi bán bò, và đổi con gà lấy bữa cơm. Người bạn hết hồn, khuyên anh khoan về nhà, mà bà vợ nổi cơn tam bành lên, không khéo vợ chồng xô xát gây ra án mạng. Anh nông dân bảo rằng, chắc vợ anh cũng thấy việc làm của anh là có lý. Người bạn ức quá, đánh cá một con bò, nếu chị vợ mà không gây gổ, thì anh nông dân sẽ được một con bò, còn ngược lại, phải mất lại một con bò khác. Người bạn đi theo núp bên ngoài nghe cuộc đối thoại của vợ chồng anh nông dân.. Ch ị vợ hỏi anh, đã ăn gì chưa, đi đường có mệt lắm không, bò bán có được giá không? Anh đáp rằng đã ăn rồi, con bò không bán được mà trên đường về nó không chịu đi nên đã đổi con bò lấy con ngựa rồi. Chị vợ nói rằng, có con ngựa cũng tốt, nó sẽ kéo xe, giúp mình di chuyển mau chóng hơn. Anh chồng cho biết con ngựa không chịu cho anh cưỡi nên đã đổi lấy con heo nái.. Chị vợ cũng tán thành ngay và còn dự trù con heo mùa sau sẽ sinh ra một bầy heo khác, rất có lợi. Anh chồng cho biết thêm, con heo cũng trở chứng không chịu đi nên đổi lấy một con dê cái. Chị vợ tiếp liền, là con dê cũng rất có lợi, từ nay mỗi sáng gia đình sẽ có sữa dê mà uống. Anh chồng lắc đầu và cho biết đã đổi con dê ương ngạnh lấy con gà trống lBn. Chị vợ anh nông phu tiếp rằng, có con gà cũng tốt, mỗi sáng nghe nó gáy cũng vui tai. Anh chồng bảo là buổi sáng ra đi không đem tiền theo, đói quá, đã vào quán đổi con gà lấy bữa cơm. Nghe xong, chị vợ anh nông phu đến quàng hai tay, ôm vai chồng và nói rằng, anh làm như thế là phải. Lấy của che thân, chứ đừng lấy thân che của. Ði cả ngày mệt nhọc đói khát, không ăn chịu sao nổi. Em đã để sẵn khăn, múc sẵn nước, anh đi tắm cho khỏe."

Mai kết luận rằng: "Muốn được chồng thương cũng rất dễ, đừng bao giờ tranh hơn thua với chồng, việc gì đã lỡ, thì cho qua luôn, vui vẻ chấp nhận, và dịu dàng, nhường nhịn chồng là yếu tố căn bản để được chồng thương".

Ngoài song thân ra, người tôi biết ơn nhiều nhất là vợ tôi. Ðời sống tôi có ý nghĩa hơn, sung sướng hơn, hạnh phúc hơn nhờ vợ khôn ngoan dịu dàng. Nhiều đêm thức giấc tôi nhẹ hôn lên mắt vợ, thầm so sánh tấm lòng hiền chân của vợ với trái tim của một vị nữ thánh. Phần nàng, thì luôn luôn: "Em chỉ muốn làm cái bóng nhỏ và âm thầm bên đời anh thôi". Mai chưa hề đọc thánh kinh, nhưng nàng đã biết chọn chỗ ngồi thấp nhất để được nâng lên cao nhất trong lòng chồng con.

Tràm Cà Mau

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Các nữ ca sĩ vn ngày càng "sexy"

"Tôi muốn hướng đến hình ảnh gợi cảm, sexy",
là tuyên bố của hầu hết các nữ ca sĩ trong thời điểm hiện tại.
Đó liệu có phải là "chiêu" để câu khách, gây scandal?

Sexy là phải... hở?
Mặc dù các nữ ca sĩ đều có một quan điểm khá giống nhau là "không phải sexy là hở hang", nhưng kỳ thực khi các cô "khoe" hình ảnh sexy của mình được đầu tư khá kỹ càng thì không hở ngang cũng hở dọc.

Ca sĩ Nhật Kim Anh khi ra album mới cách đây ít lâu có một tấm hình mà cô rất ưng ý thì không dám đưa cho báo chí vì... quá sexy.
Image
Ca sĩ Nhật Kim Anh đang muốn hướng đến hình ảnh nữ ca sĩ quyến rũ, hấp dẫn
Nhật Kim Anh mặc một bộ đồ đen bóng, hở một khe rất gợi cảm suốt từ ngực đến rốn. Toàn bộ tấm hình mà Nhật Kim Anh tâm đắc đó rất có vẻ "khiêu khích". Nhật Kim Anh đang muốn hướng đến hình ảnh nữ ca sĩ quyến rũ, hấp dẫn, cho nên các hình ảnh trong album mới của cô đều rất "bắt mắt" ở một điểm là váy thường được kéo lên rất cao, lộ nguyên một cặp đùi, áo cũng kéo khá trễ, hở khá sâu.

Tuy nhiên, hình ảnh là vậy, điều hơi "bất bình thường" là các ca khúc Nhật Kim Anh hát lại hướng về đối tượng khá teen, nên sexy như vậy có vẻ không hợp lắm.

Kiwi Ngô Mai Trang cũng mạnh miệng tuyên bố về việc không cần hở mà vẫn sexy, gợi cảm nhưng hình ảnh của cô thì chẳng trùng hợp chút nào với tuyên ngôn đó.
Image
Kiwi Ngô Mai Trang với hình ảnh "nàng tiên xanh" chìm đắm giữa núi rừng nguyên sơ đã làm "bỏng" mắt giới mày râu
Hình ảnh "nàng tiên xanh" chìm đắm giữa núi rừng nguyên sơ của Ngô Mai Trang thật sự làm "bỏng" mắt giới mày râu. Cặp chân thon dài, chiếc váy xanh mỏng manh trễ cổ, Kiwi nằm trên những gờ đá, giữa những tán lá xanh non, thật không có gì gợi cảm hơn nữa.


Dù mới 19 tuổi nhưng ca sĩ Trà My idol đã muốn hướng tới hình ảnh sexy, gợi cảm. Cô ca sĩ trẻ này rất chịu khó tiếp thị một hình ảnh váy ngắn, hở lưng hoặc hở ngực sâu với gương mặt cũng rất gợi cảm, đàn bà hơn nhiều so với cái tuổi 19 của cô.

Cô ca sĩ, diễn viên nổi tiếng bốc lửa Quách An An thì thẳng thắn bày tỏ sexy thì đôi khi cũng cần phải hở một chút. Cô đang trở lại sân khấu ca nhạc sau thời gian dài đóng phim và cũng đang xây dựng hình ảnh của mình sao cho thật gợi cảm, sexy.

Ngay như Mỹ Tâm, sự trở lại của Mỹ Tâm ở album mới "To the beat" và tour diễn xuyên Việt cũng đầy gợi cảm, nữ tính. Những Ngô Thanh Vân, Hồ Ngọc Hà, Thu Minh... cũng vẫn giương cao "quyền lực nữ" của mình với những hình ảnh thật gợi cảm đó. Cô ca sĩ tuổi teen Minh Hằng thì thật sự gây ấn tượng với những màn vũ đạo bốc lửa và hình ảnh áo siêu ngắn, quần siêu ngắn.
Sexy có là trào lưu?
Image

Trà My Idol cũng huớng tới hình ảnh ca sĩ sexy, gợi cảm, trông đàn bà hơn nhiều so với tuổi 19 của cô
Lâu nay, nhiều người hiểu sexy theo nghĩa hơi quá, có nghĩa là hơi "gợi", "phô bày"... Nhưng, thực sự, sexy chỉ đơn giản là gợi cảm, nữ tính mà thôi. Là phụ nữ, đương nhiên ai cũng muốn mình quyến rũ, hấp dẫn, nên việc các ca sĩ nữ xây dựng hình tượng sexy là điều dễ hiểu.

Tuy nhiên, không hẹn mà gặp, gần hết các ca sĩ nữ ra album mới trong thời kỳ này đều có "tuyên bố" xây dựng hình ảnh sexy, khiến cho người ta có cảm giác các cô đang học theo nhau. Tất nhiên, không có ai học ai cả vì việc xây dựng hình ảnh mới là chiến lược được đầu tư, tham khảo khá kỹ của các ca sĩ.



Quách An An nói rằng, việc xây dựng hình ảnh sexy của cô không những "hợp với dáng" cô mà cũng là bởi khi cô đi xem các ca sĩ khác, thấy rất hình những hình ảnh gợi cảm, sexy nên cũng muốn hình ảnh của cô được như vậy.

Ban đầu, việc xây dựng hình ảnh sexy và tuyên ngôn về sexy của một vài ca sĩ nữ giống như là một chiêu để tạo sự chú ý của dư luận và gây scandal. Lúc ban đầu, điều đó có hiệu quả, gây tò mò thực sự cho khán giả. Nhưng đến nay thì tuyên ngôn về sexy có mạnh bạo đến cỡ nào cũng không còn là "quả bom" nữa bởi vì đã quá nhiều tuyên bố như thế, hình ảnh sexy cũng đã quá bão hòa và giống nhau.

Image
Ca sĩ Quách An An thì thẳng thắn bày tỏ sexy thì đôi khi cũng cần phải hở một chút (Ảnh: blog Quách An An)
Thành ra, nhìn đồng loạt các hình ảnh sexy của các ca sĩ nữ, chỉ là hở ngực thật sâu, không mặc áo ngực, để lộ một phần "đôi gò bồng đảo", váy ngắn hoặc xẻ thật sâu để lộ cặp chân, nằm nghiêng ngả, bò toài hoặc gương mặt thật "khiêu khích"...

Hình ảnh sexy là hình ảnh đẹp và các ca sĩ nữ trên thế giới thường xây dựng cho mình. Tuy nhiên, với thuần phong mỹ tục của Việt Nam vốn luôn thích những tuýp phụ nữ e ấp, kín đáo một chút, thì có lẽ các ca sĩ nữ nên thực hiện đúng câu nói: "Không cần hở hang mà vẫn gợi cảm, sẽ hiệu quả hơn cho việc xây dựng hình ảnh cho mình".

Theo Nguyễn Thanh
Last edited by khieulong on Mon Sep 08, 2008 6:14 am, edited 1 time in total.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

CUỘC CÁCH MẠNG NHÂN PHẨM
Linh Mục Đinh Xuân Long


Từ ngữ “cách mạng” thường dễ làm những người Việt Nam chân chính bị “dị ứng”, bởi vì từ “cách mạng” dễ bị đồng hóa với những cuộc “cách mạng giải phóng” của đảng cs Việt Nam luôn đi kèm với bạo lực, lừa bịp, thủ tiêu, căm thù và phản bội. Cụm từ "cách mạng giải phóng" trong chủ thuyết Carl Max là giải thoát giai cấp bị áp bức khỏi giai cấp thống trị. Nhưng trên thực tế, đảng csVN, thay vì giải thoát người dân, đã theo lệnh thực dân đỏ Nga-Tàu, áp đặt gông cùm cộng sản trên toàn dân, tước đoạt hết mọi quyền thiêng liêng của con người. Đây không phải là cuộc cách mạng theo đúng nghĩa. Đây chỉ là tiến trình làm tay sai cho ngoại bang, một tiến trình nô lệ hóa toàn dân.

Lịch sử Việt Nam cận đại đã chứng tỏ điều đó khi hơn một triệu ngưòi di cư từ Bắc vào Nam trốn tránh chế độ phi nhân cs, khi hơn hai triệu con dân Việt rời bỏ quê hương đi tìm tự do nơi xứ người, khi gần 500 ngàn người bỏ mình trên đường vượt biên vì hai chữ tự do. Gần đây hơn cả, biến cố giáo xứ Thái Hà tại Hà Nội, một trong nhiều biến cố xung đột đã xảy ra tại VN, trong việc đòi lại đất và sở hữu đã bị chiếm đoạt trắng trợn bởi chính quyền cs Hà nội, minh định một điều không thể chối cãi là trong chế độ cs, không hề có luật pháp bảo vệ người dân, không hề có tự do, không hề có công lý và nhân quyền. Những diễn biến trong tuần qua tại Thái Hà cho thấy công an đã bạo hành dã man, đã xịt hơi cay vào những người tập trung cầu nguyện trong ôn hoà đòi công lý. Điều này chứng tỏ bản chất cố hữu dã man của đảng cs Việt Nam là chà đạp công lý và nhân phẩm con người.

Như chúng ta đã biết, một xã hội văn minh và đúng nghĩa luôn đề cao hai nguyên tắc căn bản:

1. Tôn trọng nhân phẩm, đề cao những giá trị con người và thiết lập những hệ thống để thăng hoa đời sống con người.

2. Bảo vệ quyền lợi chung của tập thể, quốc gia song song với quyền lợi của cá nhân. Những giải pháp để giải quyết các vấn đề xã hội nằm trên nguyên tắc thực hiện được sự quân bình giữa sự đáp ứng những nhu cầu căn bản của cá nhân và bảo vệ quyền lợi của tập thể mà mỗi cá nhân là một thành phần.


Nhìn vào hai nguyên tắc trên, chúng ta dễ dàng nhìn thấy rằng xã hội Việt Nam hiện thời dưới sự độc tài toàn trị của đảng cs Việt Nam, đã không hề đề cao hay thực hiện 2 nguyên tắc căn bản trên. Đối với người cs cầm quyền, đảng là trên hết, trên quyền lợi và danh dự của quốc gia, trên bất cứ nguyên tắc và cơ cấu nào bảo vệ và thăng tiến đời sống dân chúng. Trong xã hội này, bất công luôn xẩy ra vì chủ thuyết cs coi con người là vật chất, là con vật và luôn chà đạp nhân phẩm con người. Hơn nữa chế độ độc tài toàn trị của đảng cs không hề đặt quyền lợi của tập thể trên hết mà chỉ là quyền lợi và uy quyền của riêng đảng. Mọi hoạt động từ chính trị đến xã hội, và ngay cả đến học đường đều không ngoài mục đích là để bảo vệ quyền thống trị độc tôn của đảng. Một xã hội như vậy làm gì có công lý và tôn trọng con người. Những xáo trộn xã hội không thể tránh khỏi sẽ bắt nguồn từ những bất công và giải quyết một chiều vô pháp luật của chính quyền cs. Giáo Xứ Thái Hà, dân oan khiếu kiện, và bao nhiêu biến cố khác là những ví dụ điển hình.

Vì thế, đã đến lúc cần phải chấm dứt những hiện tượng bất công và những định chế xã hội rừng rú tại VN. Để có thể thay đổi những điều đó, chúng ta cần phải thực hiện một cuộc CÁCH MẠNG NHÂN PHẨM.

Xin đừng dị ứng với từ “cách mạng”. Cách mạng ở đây mang ý nghĩa thay đổi và giải thoát. Chúng ta vẫn luôn tâm niệm rằng chúng ta cần thay đổi con người cũ để trở nên con người mới. Chúng ta cần thay đổi những quan niệm lỗi thời, sai lầm và ù lì để hội nhập vào nếp sống lành mạnh và nhân bản. Chúng ta cần thay đổi những định chế bất công hiện tại để giải thoát người dân khỏi những bế tắc. Đây là cuộc cách mạng cần phải thực hiện kịp thời hướng về nhân phẩm bởi vì CON NGƯỜI là cứu cánh của vạn vật. Mọi hoạt động trong xã hội đều hướng về con người và phục vụ con người. Con người không phải là máy móc sản xuất phục vụ giai cấp chủ nhân cs đỏ như người cs từng chủ trương. Con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, có thân xác, có tâm hồn, có tư duy và ý chí chọn lựa là bản chất huyền diệu của con người. Vì thế phẩm giá con người phải được đề cao và tôn trọng.

Cuộc cách mạng này bắt đầu từ mỗi người, mỗi gia đình và lan rộng đến các cộng đoàn, tập thể. Một cuộc cách mạng làm thay đổi những cơ cấu xã hội hiện hành không thể dựa vào những lý thuyết mơ hồ thiếu thực tiễn, nhưng dựa vào những ý niệm thực tế trong cuộc sống người dân đó là đòi công lý và nhân quyền. Từ nhận định này, chúng ta khó lòng thiết lập những lý thuyết hay một mô hình cụ thể cho cuộc cách mạng này. Nên nhớ rằng đây là cuộc cách mạng phát xuất từ nhận thức (ý thức xâu xa về con người) rồi tiến tới hành động bảo vệ và kêu gọi mọi người tôn trọng quyền sống và quyền làm người của mỗi người. Đây là một tiến trình lâu dài và chúng ta có thể thực hiện từng giai đoạn và theo hai mức độ khác nhau:

1. Hạ Tầng Cơ Sở: Cuộc cách mạng nhân phẩm nên bắt đầu từ mỗi cá nhân khi chúng ta gia tăng ý thức về phẩm giá con người và giúp người khác tôn trọng những phẩm giá ấy. Đây là nền tảng của cuộc cách mạng nhân phẩm. Một cuộc cách mạng sẽ làm thay đổi, chuyển hóa từ bên trong, giải thoát chúng ta khỏi sự sợ hãi và bạo lực khi chúng ta chân nhận xâu xa giá trị phẩm giá con người mà không một thể chế chính trị nào có thể ngang nhiên chà đạp được. Cuộc cách mạng này khởi đầu từ mỗi gia đình khi cha mẹ có bổn phận giáo dục con cái theo chiều hướng nhân bản, tôn trọng con người, để chống lại nền giáo dục cs một chiều, phủ nhận giá trị con người theo định hướng xhcn. Ngoài gia đình, cần phải đề cao phẩm giá con người nơi môi trường làm việc để trưóc hết chống lại những bất công, bóc lột và hà hiếp ngay nơi công sở và sau đó là chống lại nền văn hóa bạo lực, mị dân, lừa dối và vô luân cúa chế độ cs. Mỗi gia đình là nền tảng nhân phẩm của xã hội. Nhiều gia đình được xây dựng trên phẩm giá con người sẽ ảnh hưởng lớn lao đến cộng đoàn và xã hội.

2. Thượng Tầng Kiến Trúc: Ở đây chúng ta không thể nói đến bình diện quốc gia được, nhưng chúng ta có thể bắt đầu từ những cộng đoàn, chẳng hạn Giáo Xứ Thái Hà và trong đó là sự ủng hộ của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế.

Một khi chúng ta đã chú tâm vào nhân phẩm, các vị lãnh đạo tinh thần cần lên tiếng, truyền đạt và giúp người dân hiểu hơn về những giá trị thiêng liêng của con người, đồng thời yêu cầu chính quyền biết tôn trọng những giá trị đó: quyền sống và quyền làm người. Yêu cầu ở đây không có nghĩa là đối thoại, hoà giải theo kiểu cs, để rồi không hề có một giải pháp cụ thể. Vụ Toà Khâm Sứ và Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt là một ví dụ điển hình. Yêu cầu ở đây là một đòi hỏi chính đáng cho công lý và đòi hỏi đó phải được đáp ứng cấp thời.

Vụ Toà Khâm Sứ và TGM Kiệt nhắc chúng ta nhớ đến Linh mục Zerzy Popielusko, người Ba Lan sống dưới chế độ cs, đã can đảm lên tiếng bảo vệ tự do và nhân phẩm con người vào thập niên 80. Trong thời gian làm Tuyên Úy cho Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan, cha luôn luôn gần gũi với những người bị áp bức, bênh vực họ, lên tiếng cho họ ngay cả trong toà giảng như ngài đã từng nói:“Liên đới có nghĩa là duy trì sự tự do trong nội tâm cho dù phải sống trong tình trạng nô lệ. Hãy vượt thắng sự sợ hãi.” Cha đã nhiều lần nhấn mạnh: “Đạo đức phải thắng gian tà.”

Điều đáng nói là trong thời gian đó, đáng lý phải nâng đỡ và bảo vệ Cha Zerzy, Hồng Y Glemp, Giáo chủ Ba Lan, lại thỏa hiệp với cs Ba Lan để làm khó dễ cha Zerzy từ vấn đề thuyên chuyển cha đến một nơi xa xôi cho đến để chính quyền cs tự do thao túng trù dập và cầm tù cha. Và cuối cùng, như chúng ta đã biết, cha đã bị mật vụ Ba Lan bắt cóc và giết chết. Cha Zerzy can đảm chấp nhận ngã xuống để người dân Ba Lan từ đó đứng lên đòi công lý và nhân phẩm rồi tiến tới lật đổ chế độ cs Ba lan.

Ở đây, chúng ta cần nêu rõ là chúng ta luôn luôn tôn trọng giáo quyền, nhưng xin đừng để sự thỏa hiệp giữa giáo quyền và tà quyền làm trở ngại tiến trình đòi hỏi cho công lý và nhân phẩm. Cuộc cách mạng nhân phẩm bắt đầu bằng những thay đổi cần thiết trong cộng đồng hầu giải thoát cộng đồng khỏi những trở ngại không chính đáng trong tiến trình cách mạng. Cuộc cách mạng này sẽ giải thoát chúng ta khỏi những ràng buộc không chính đáng đó trong khi mục đích tối thượng của chúng ta là nhân phẩm, đòi công lý, đòi hỏi quyền sống và quyền làm người của mỗi cá nhân.

Vì thế cần phải khích lệ mỗi cộng đoàn kiên trì đấu tranh cho công lý. Cần cổ võ những buổi tập trung cầu nguyện cho công lý vì đó là tiếng nói duy nhất và có tác dụng nhất trong một xã hội csVN luôn coi thưòng và giết chết nguyện vọng người dân.

Một cuộc cách mạng đã khởi đầu, từ Giáo Xứ Thái Hà, lan rộng tới các cộng đồng khác. Người dân lúc này hơn lúc nào hết ý thức về nhân phẩm và công lý. Chân lý và niềm tin sẽ thắng bạo lực. Chúng ta cần cổ võ, đề xướng và ủng hộ tích cực tiến trình cách mạng này. Và từ mỗi người trong chúng ta, cần tâm niệm rằng những định chế và cơ cấu xã hội hiện tại cần phải thay đổi, chế độ đảng trị lúc này không thể giải quyết những xung đột trầm trọng và chế độ này cần phải bị loại trừ. Đã đến lúc cần phải chấm dứt những xáo trộn do bất công và vô pháp luật gây ra để giải thoát xã hội VN khỏi những bế tắc.

Một cuộc cách mạng nhân phẩm không nhất thiết phải đổ máu, nhưng cần thiết sự can đảm và kiên trì trong tiến trình đề cao và tôn trọng con ngưòi là nền tảng của mọi hoạt động chính trị và xã hội. Xin hãy kiên trì cho đến khi đạt mục đích, cho đến ngày công lý được sáng tỏ. Xin hãy kiên cường để tạo dựng một xã hội công bằng và nhân phẩm hơn. Đây là cuộc cách mạng lâu dài, không những là đạp đổ những chủ thuyết và chính thể không phù hợp với nguyện vọng của người dân, mà còn nhằm tới gầy dựng một xã hội Việt Nam trong sáng, tự do và nhân phẩm hơn.

Con xin được hiệp thông cùng Quý Cha và Tu Sĩ Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế và anh chi em Giáo Xứ Thái Hà trong giai đoạn khó khăn đầy thử thách này. Xin kêu gọi mọi người ủng hộ cuộc cách mạng nhân phẩm này hầu tương lai VN và thế hệ tương lai được tươi sáng hơn.

Linh Mục Đinh Xuân Long

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Sự khác biệt giữa Người Vợ và Người Tình.

Vợ và người tình tuy cùng là... cánh phụ nữ nhưng giữa họ lại có vô vàn điểm khác nhau. Dưới đây là những dị biệt căn bản mà chúng tôi đã tìm hiểu và ghi nhận được từ một số quý ông để các bạn tham khảo.

- Vợ và người tình đều... vòi tiền của ta; nhưng sau đó, người tình ra sức chiều chuộng ta, trong khi vợ lại còn bắt ta... rửa chén, đổ rác.

- Người tình chăm sóc (đắp khăn nóng, pha nước chanh...) khi ta lỡ say xỉn, vợ thì... mắng nhiếc ta như tát nước vào mặt.

- Người tình gọi điện thoại di động cho ta khi cần, vợ đôi lúc không cần cũng gọi... để kiểm tra.

- Người tình thường xuyên tìm cách 'lên dây cót' bản lĩnh đàn ông của ta, vợ nhiều khi còn tiến hành... 'cấm vận'.

- Người tình luôn tìm ưu điểm của ta để khen ngợi, vợ lại thích soi mói khuyết điểm của ta để... kể khổ.

- Người tình không bao giờ so sánh ta với người đàn ông khác, vợ lại hay đem ta ra đối chiếu với... chồng bà hàng xóm.

- Vợ thường tìm hiểu nguyên nhân tại sao ta vui, người tình quan tâm đến việc vì sao ta buồn.

- Ở bên người tình ta có thể thẳng thắn bộc lộ quan điểm của mình, ở bên vợ tốt nhất là nên... im lặng.

- Khi giận nhau, người tình thường tìm cách làm lành với ta, còn với vợ, ta phải... xuống nước năn nỉ bả trước.

- Người tình nhìn thấy ta là líu lo như
... hát, vợ gặp ta là... lải nhải đủ thứ chuyện trên đời.

- Ta có thể nói lời chia tay nhẹ nhàng với người tình mà còn lưu luyến, còn vợ tìm cách xé xác ta thành trăm mảnh.



QUANG MINH SUU TAM .

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NGƯỜI CHỒNG VÀ NGƯỜI TÌNH
Dưới đây là một số dị biệt giữa người chồng và người tình mà ML ghi nhận được từ phiá các bà -

Chồng và người tình đều đòi hỏi như nhau, nhưng khi xong việc thì người tình vuốt ve biểu lộ sự âu yếm, còn chồng thì lăn ra ...ngủ -

Khi đi shop người tình xach giỏ cho ta, nếu ta lỡ xài nhiều tiền thì người tình chỉ mỉm cười rồi thôi, còn chồng thì không bao giờ thèm đi shop với ta, mà lỡ ta xài tiền hơi nhiều thì măt nặng mặt nhẹ -

Khi gọi điện thoại người tình thường hỏi thăm ta có khỏe không? có vui không? còn chồng thì gắt gỏng hạch sách -

Khi gần nhau người tình luôn tỏ ra trân trọng ân hụê mà ta đã cho, còn chồng thì coi đó là bổn phận của ta -

Ta làm bất cứ điều gì người tình cũng cho là đúng, là tốt, chồng thì dù ta có làm một trăm điều tốt cũng không khen được một câu -

Người tình lúc nào cũng cho ta là người đẹp nhất trên đời, còn chồng thì chỉ thích nhìn vợ hàng xóm -

Chỉ cần một cái nhíu mày của ta là người tình lăng xăng hỏi han an ủi, chồng thì dù ta có buồn một tháng cũng không biết -

Với người tình thì ta có thể nũng nịu, nhỏng nhẻo, với chồng thì đừng hòng -

Khi giận nhau người tình thường mua hoa tặng ta để làm lành, chồng thì một cái lá cũng không có -

Khi gặp ta người tình thường hỏi em đói bụng chưa? em thích ăn gì? chồng thì hôm nay tôi muốn ăn cái này cái nọ -

Ta có thể chia tay với người tình mà không sợ chi cả, còn chồng thì coi chừng ăn dao


Mỹ Linh Sưu Tầm

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Gần một triệu Mỹ kim cứu trợ thương binh VNCH


Image

Hình 1: Ban tổ chức Ðại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh, người Thương Binh VNCH” kỳ II họp báo công bố kết quả.
Từ trái qua là các ông Phan Tấn Ngưu, Nguyễn Văn Ức (LHCCS), Nam Lộc (TTAsia),
Trúc Hồ (SBTN), bà Hạnh Nhơn và ông Lê Quí (Hội H.O. Cứu Trợ TPB&Quả Phụ VNCH)

Image

Hình 2: Các thiện nguyện viên trong Hội H.O. Cứu Trợ TPB&Quả Phụ VNCH
đang soạn những giấy hồi báo mới nhận được để trình bày trong cuộc họp báo.



Bài và hình: Nguyên Huy/Người Việt


Gần một triệu Mỹ Kim do đồng hương người Việt hải ngoại đóng góp cứu trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH là kết quả của Ðại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh, người Thương Binh VNCH” kỳ II do Hội H.O. Cứu Trợ TPB &Quả Phụ VNCH cùng Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH, tập thể chiến sĩ VNCH Tây Nam Hoa Kỳ, Tổng Hội Sinh Viên VN Nam Cali, đài SBTN-TV, Trung Tâm Asia tổ chức vào ngày 3 tháng 8 vừa qua đã thu được.

Trong buổi họp báo của ban tổ chức Ðại Nhạc Hội vào buổi sáng hôm Chủ Nhật 7 tháng 9 vừa qua tại hội trường nhật báo Viễn Ðông, một bản tổng kết chi thu tính đến ngày 5 tháng 9 năm 2008 thì số tiền thu được qua đại hội là 960,450 Mỹ kim, trừ chi phí các khoản 55,359 Mỹ kim, còn lại được 905,091 Mỹ kim dành gửi về cho 9 ngàn thương binh và quả phụ VNCH.

Nhạc sĩ Trúc Hồ của SBTN cho biết: “Số tiền không chỉ dừng ở đó mà có thể còn lên tới 1 triệu vì SBTN chưa check xong những chi phiếu của khán thính giả SBTN còn tiếp tục gửi đến cho đến cuối năm...”

Ông Lê Quí trong tổ chức hội H.O. Cứu Trợ TPB & Quả Phụ VNCH trong dịp này cho biết: “Trong số hơn 13 ngàn hồ sơ TPB và Quả phụ VNCH mà hội hiện nhận được, hội chia làm ba loại gồm loại tàn phế cấp độ 100% sẽ được trợ cấp 200 Mỹ kim, loại tàn phế cấp độ 70% là 100 Mỹ kim và quả phụ là 50 Mỹ kim. Lần cứu trợ này hội sẽ chuyển về cứu trợ cho 1,500 trường hợp tàn phế cấp độ 100% số tiền là 300,000; cứu trợ 4,500 trường hợp tàn phế 70% hết 450,000 và 3,000 quả phụ hết 150,000. Tổng cộng là 900,000 Mỹ kim”.

Về phương thức chuyển tiền cứu trợ theo bà Hạnh Nhơn, hội trưởng hội H.O. Cứu trợ TPB & Quả Phụ, thì: “Cũng như các lần trước chúng tôi nhờ những dịch vụ chuyển tiền, chúng tôi xin được phép không tiện nói ra những cơ quan dịch vụ này. Chưa có một trường hợp nào người của hội đích thân mang về. Nhưng tất cả những trường hợp được cứu trợ, chúng tôi đều có nhận được giấy hồi báo có khi còn có cả những bức thư cảm ơn đọc lên nghe rất xúc động. Nếu ai có bất cứ thắc mắc gì xin cứ đến hội để xem các tài liệu hồi báo”.

Về việc thiết lập danh sách cứu trợ bà Hạnh Nhơn cũng cho biết hội được một số anh chị em sinh viên và thiện nguyện đến giúp làm danh sách, lưu trữ vào hệ thống điện toán rồi chuyển cho các dịch vụ chuyển tiền. Những hồ sơ được hội chấp nhận đưa vào danh sách cứu trợ, hội đã căn cứ trên các chi tiết số quân, cấp bậc, đơn vị, bị thương trong trận nào, tên các vị chỉ huy trực tiếp, bản cáo tri, tờ giám định y khoa, báo cáo tổn thất, chứng chỉ giải ngũ... Bà Hạnh Nhơn cũng cho biết, hội cũng đã tìm ra một số trường hợp gian trá. Bà Nguyễn thị Hoàng, một thiện nguyện viên trong ban cứu xét cho biết đã tìm ra được những giấy tờ cạo sửa, giả mạo số quân. Bà nói: “Chúng tôi biết về số quân của chính quy, của địa phương quân và nghĩa quân nên cũng dễ dàng nhận biết thực hư cũng như các giấy tờ giả mạo, cạo sửa tên những cơ quan đơn vị của QLVNCH”.

Sau phần báo cáo kết quả, ban tổ chức đã dành thời gian để báo chí truyền thông đặt những câu hỏi. Phóng viên Thanh Toàn nêu thắc mắc: “Có kiểm soát được dịch vụ chuyển tiền không” thì được trả lời: “Hội sẵn sàng đưa danh sách, hồi báo để quí vị khi về Việt Nam có dịp gặp anh em thương binh trong vùng kiểm tra lại”.

Về vấn đề có thể một TPB nhận được nhiều sự giúp đỡ của nhiều hội đoàn cứu trợ thì quan điểm của bà Hạnh Nhơn và hội cho rằng: “Nếu như có một TPB nào nhận được sự cứu trợ của hai ba nơi thì với một vài trăm Mỹ kim họ nhận được so với những mất mát họ phải gánh chịu thật chưa xứng đáng vào đâu”.

Bà Hạnh Nhơn cũng cho biết trong số hơn 13 ngàn hồ sơ xin cứu trợ của TPB/VNCH mà hội nhận được thì gồm có những TPB và quả phụ VNCH ở rải rác trên ba mươi mấy tỉnh tại miền Nam chứ không phải chỉ có ở các thành phố lớn. Hiện nay, qua hai cuộc tổ chức Ðại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh” anh em TPB/VNCH đã truyền cho nhau được biết khá nhiều về công việc cứu trợ này của cộng đồng người Việt hải ngoại nên số hồ sơ hội nhận được mỗi ngày một nhiều.

Cũng nhân dịp này, bà Hạnh Nhơn và các đại diện trong ban tổ chức xin nhắc nhở đồng hương khi về Việt Nam có mang đến cho hội một số hồ sơ các trường hợp TPB & quả phụ thì xin đừng nôn nóng vì hội phải giải quyết lần lượt, trước hết là hơn 13 ngàn hồ sơ hội nhận được trước đó đã.

Nghệ sĩ Nam Lộc đưa ra ý kiến rằng: “Công việc tổ chức cứu trợ thật là khó khăn cho một hội tư nhân chỉ gồm những nhân viên là thiện nguyện nếu chúng ta cứ dồn hết công việc cho hội. Nhưng nếu chúng ta, cứ mỗi gia đình nhận cứu trợ trực tiếp cho một trường hợp, mỗi năm chỉ cần gửi về 100 Mỹ kim thôi thì cũng không cần phải tổ chức đến đại nhạc hội”.

Ðây cũng là ý kiến của nhiều người tham dự cho rằng nếu như chúng ta cứ thắc mắc số tiền thu được sẽ được phân phối như thế nào thì tốt nhất chính chúng ta mỗi người nên nhận một trường hợp cứu trợ trực tiếp thì chúng ta sẽ không còn thắc mắc gì nữa.

Nói về kết quả tốt đẹp trong lần tổ chức cứu trợ này, các thành viên trong ban tổ chức như bà Hạnh Nhơn, nhạc sĩ Trúc Hồ, nghệ sĩ Nam Lộc, ông Nguyễn Văn Ức (thuộc Liên Hội Cựu Chiến Sĩ) và anh Lý Vĩnh Phong (thuộc Tổng Hội Sinh Viên VN Nam Cali) đều cho rằng thành quả lớn lao đến độ “không dám mơ tưởng” (bà Hạnh Nhơn) do từ tấm lòng của tất cả mọi người tử già đến các em nhỏ (nhạc sĩ Trúc Hồ) mà những người đứng ra tổ chức rất hãnh diện được đóng góp công sức (nghệ sĩ Nam Lộc). Riêng anh Lý Vĩnh Phong còn xin được cảm ơn cộng đồng đã cho tuổi trẻ đóng góp vào công việc nhiều ý nghĩa này để tuổi trẻ ý thức được con đường phải noi theo bước chân cha anh. (NH)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

MÓN NỢ NÀY XIN GHI NHỚ - ĐỪNG QUÊN !
phạmtínanninh

Đã hơn ba mươi ba năm, từ khi cơn lốc nghiệt ngã 30.4.75 đổ xuống miền Nam Việt Nam. Ba mươi ba năm đã đi qua với những thăng trầm lịch sử, đầy đủ tính bi hùng cho cả những người Việt trong và ngoài nước. Về phía những người Việt lưu vong - từ cả hai miền Nam-Bắc - đã bùng lên ngọn lửa mới. Đó là cao trào đấu tranh chính trị mang yếu tố thuyết phục và quyết định cho một quốc gia dân chủ và một nhà nước pháp trị. Trong nước, những tiếng nói lương tri, bất chấp khủng bố tù đày, đã dõng dạc lên tiếng thách thức quyền lực gian manh, độc tài, trước giá trị tự do nhân bản. Đây là một chuyển hướng có ý nghĩa lịch sử để dân tộc Việt Nam nhìn thấy được ánh sáng ở cuối một đường hầm bao nhiêu năm tăm tối.

Cùng với niềm hy vọng đó, xin mọi người hãy cùng thổi bùng lên một ngọn lửa khác, nhỏ bé và khiêm tốn, mà bấy lâu nay có rất nhiều người trong chúng ta đã lãng quên, hay có đôi phút chợt đến rồi cũng chợt đi như cơn gió thoảng.

Đó là tấm lòng – cũng có thể nói là một món nợ - của chúng ta đối với những anh em Thương Binh VNCH hiện còn trong nước. Những chiến sĩ dũng cảm, anh hùng, đã hy sinh một phần thân thể, không chỉ cho lý tưởng tự do, mà còn cho cả sự sống của chính chúng ta.

Những hy sinh này không phải chỉ được vinh danh, mà cần phải được chia sẻ và đền bù một cách cụ thể. Vì đó là trách nhiệm của mỗi người chúng ta - Thế hệ đã từng cùng một chiến tuyến, chung một chiến hào với họ. Giờ này tất cả đều đang ở đoạn cuối của cuộc đời. Đã quá trể, để đến lúc mỗi người nhắm mắt, nếu chính thế hệ lưu vong chúng ta chưa trả được phần nào món nợ máu xương này cho họ.

Mất một phần thân thể đã là một thiệt thòi khắc nghiệt nhất trong kiếp con người. Lại còn phải trải cuộc đời với xác thân tàn phế đó trong tay của kẻ cựu thù. Có lẽ chẳng còn nỗi bất hạnh nào đau đớn hơn. Những chiến hữu, những ân nhân, những người anh em này của chúng ta chỉ còn biết kéo lê những ngày vô vọng khốn cùng cho đến khi nhắm mắt.

Trên khắp nẻo đường đất nước, có biết bao người anh em ấy đang lê lết cái phần thân thể không đầy đủ, trong vũng lầy đen tối, cơ cực cả thể xác lẫn tinh thần. Nếu còn có vợ con thì cũng chỉ bần cùng nheo nhóc. Những người tật nguyền nơi vỉa hè đầu phố, có khi nào ta tự hỏi họ là ai, trong những người bạn chiến đấu năm xưa ? (Xin hãy dành một vài giây, thử tưởng tượng, nếu ngày trước chính bản thân ta đã không may như họ ?)

Bi kịch lịch sử đã đẩy họ vào hoàn cảnh đau thương đó. Cay đắng thay, những hy sinh của họ một thời đã từng được chúng ta ngợi ca, ngưỡng mộ, được các cấp chỉ huy (mà phần lớn đang sống ở hải ngoại) từng gắn huy chương, bội tinh lên ngực áo họ. Để rồi cuối cùng có còn lại một chút ý nghĩa nhỏ nhoi nào sau cái ngày tan đàn rã nghé ? Có còn chăng, chỉ là một chút tình ”huynh đệ chi binh” mà những người lính chúng ta vẫn hằng nói tự thuở nào .

Chúng ta - những người chiến hữu - những cấp chỉ huy – đã từng sát cánh, đã từng điều động họ trên trận mạc. Họ đã phải mất đi một phần thân thể để đem lại vinh quang và cả sự sống còn cho chúng ta. Xin mỗi người hảy tự hỏi : bao nhiêu năm nay, ta đã làm được gì cho họ?

Ngoài một số Hội Ái Hữu của vài Binh Chủng, đóng góp giúp nhau phần nào trong nội bộ, còn hầu hết những người lính bộ binh, địa phương quân, nghĩa quân - thành phần đông đảo nhất - thì có ai đứng ra lo cho họ ?

Chỉ mới vài năm trở lại đây, một số Hội Cứu Trợ Thương Phế Binh được thành lập, mà nổi bật nhất là Nhóm Huynh Đệ Chi Binh ở Bắc Cali của cựu trung tá Trần Đình Vọng (đã quá cố) và Hội HO Cứu Trợ TPB/QP VNCH ở Nam Cali, của cựu nữ trung tá Nguyễn Hạnh Nhơn.

Dù với tất cả nỗ lực, cùng với sự hổ trợ đắc lực của một số cá nhân, báo chí, đặc biệt là Trung Tâm Asia và Đài TH/ SBTN, nhưng thành quả đạt được cũng vẫn chỉ là khiêm tốn, so với số lượng Thương Binh, Qủa Phụ Tử Sĩ VNCH của chúng ta còn khốn khổ ở quê nhà..

(Xin thử làm một bài toán chia đơn giản nhất : với hai năm một lần tổ chức Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh, cho dù số tiền thu được khoảng một triệu đô la, chúng ta cũng chưa giúp được mỗi gia đình Thương Binh, Quả Phụ Tử Sĩ VNCH được 50 đô la / 1 năm . Bởi vì chỉ riêng Hội của cựu trung tá Nguyễn Hạnh Nhơn đã nhận trên 15.000 hồ sơ hợp lệ).

Tuy nhiên đó là những tấm lòng và sự nỗ lực đáng được mọi người chúng ta trân trọng và cùng ước mong ngọn lửa nghĩa tình này sẽ được thổi bùng lên bằng sự tiếp tay của tất cả mọi người.

Có một câu hỏi cũng đã được nêu lên: Chúng ta đã có những thành công trong việc kêu gọi và tranh đấu với chính phủ Hoa Kỳ. Chúng ta cũng đã có những người Mỹ gốc Việt tài năng đắc cử vào các cơ quan dân cử, một số giữ những chức vụ cao trong quân đội, chính phủ Hoa Kỳ. Liệu chúng ta có thể kết hợp vận động và tranh đấu một cách khôn ngoan đối với báo chí, cơ quan truyền thông, kêu gọi lương tri của quần chúng và chính phủ Hoa Kỳ, để họ có trách nhiệm với những người bạn đồng minh ngày nào mà họ đã từng phản bội, để rồi lại tiếp tục lãng quên họ trong tận cùng địa ngục ?

Chúng ta nghĩ gì vào khoảng mười năm trước đây, khi nhìn thấy trên truyền hình, một số sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ đã xin sự thứ tha của bà Phan Thị Kim Phúc. Cô bé năm nào bị ảnh hưởng bom Napalm chạy trần truồng đau đớn ở Trãng Bàng, mà hình ảnh trên báo chí, truyền hình đã làm cho cả thế giới xúc động, và bị Cộng sản lợi dụng cho cả một chiến dịch tuyên truyền thô bỉ. Cô bé ấy đã trở thành Đại sứ Hoà Bình tại Liên Hiệp Quốc. Nhân mùa Bầu Cử năm nay, những cử tri Mỹ gốc Việt cũng có quyền hỏi các Ứng Cử Viên của Đảng Cộng Hòa hay Dân Chủ : chính phủ Mỹ đã làm được điều gì cho nhũng người bạn đồng minh Nam Việt Nam, những chiến hữu ngày nào, bây giờ đang là những phế nhân mà nỗi nhục nhằn đớn đau còn hơn cả vạn lần như thế ?

Nhân dịp có mặt ở Cali, người viết đã được gặp và chứng kiến Bà Hạnh Nhơn vừa nói chuyện vừa phải làm việc. Ở cái tuổi trên 82 mà Bà đã dùng gần hết thời giờ, công sức và xử dụng cả cái ga-ra xe chật hẹp của nhà mình làm ”văn phòng” cho Hội trong công việc gom góp yêu thương gởi về cho anh chị em đồng đội cũ. Những hình ảnh ấy đã để lại trong tôi một niềm kính phục và ngưỡng mộ sâu xa.

Và cũng ở tại Cali, chúng tôi đã được gặp một số đồng hương, chiến hữu (trong đó có cả một số đàn anh của tôi ngày trước) đã hỏi tôi bao điều nghi vấn : - Liệu tiền có đến tận tay TPB trong nước ? - Liệu số tiền hơn 900.000 USD thu được trong Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 2 có nhiều quá hay không ? Tôi hiểu phần nào tâm trạng của họ giữa một cộng đồng mà rất nhiều người đã mất hết niềm tin vào một số hội hè. Nhưng tôi cũng thầm mong họ tự hỏi một điều: là chính họ đã từng góp một bàn tay, hay đã có đóng góp được gì cho công việc đáng quý này chưa?

Xin tất cả ”hãy thắp lên một ngọn nến còn hơn là ngồi đó để nguyền rủa bóng đêm”.

phạmtínanninh

(một người lính bộ binh)

Post Reply