Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Tiền đang bỏ nước Nga ra đi

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua, một đô la Mỹ đổi được hơn 25 đồng “Rúp,” đơn vị tiền tệ của Nga, lần đầu tiên kể từ Tháng Mười năm 2007. Ðầu năm nay, hối suất thường nằm giữa 23 và 24 rúp lấy một đô la. Ngân hàng MDM ở MaxCơVa cho biết Ngân Hàng Trung Ương Nga đã bán ra 4 tỷ rưỡi đô la trong mấy ngày để hỗ trợ đồng rúp. Trước ảnh đồng rúp liên tiếp xuống giá, trong mấy ngày đã mất 2%, Ngân Hàng Trung Ương Nga đã lên tiếng cải chính rằng họ không đưa ra một biện pháp đặc biệt nào mà chỉ tiếp tục việc bán đô la như trước. Hôm qua, Ngân Hàng Trung Ương Nga đã hạ giá đồng rúp xuống 15.24 rúp đổi một đô la.

Trước khi quân Nga đánh Georgia, Ngân Hàng Trung Ương Nga cũng hay can thiệp vào hối suất, nhưng thường họ chỉ mua đô la vào để ghìm giá trị đồng rúp không cho tăng lên sợ thiệt hại về xuất cảng. Lâu nay đồng rúp chỉ lên giá chứ không xuống vì người nước ngoài cho Nga vay, các công ty vay được đô la hay Euro phải đem đổi lấy rúp. Giới đầu tư vẫn tin tưởng vào tài nguyên giầu có của Nga, ngân sách chính phủ thặng dư, cán cân thương mại cũng thặng dư, và quỹ dự trữ ngoại tệ tăng lên, hiện nay khoảng 580 tỷ Mỹ kim, đứng hạng ba trên thế giới sau Trung Quốc và Nhật Bản.

Nhưng sau khi Nga can thiệp vào Georgia, đồng rúp không lên nữa mà bắt đầu xuống. Nhiều người Nga muốn đổi rúp lấy đô la hoặc Euro để chuyển ra nước ngoài. Trong tuần lễ ngay sau khi chiến cuộc bùng nổ ngày 8 Tháng Tám, Ngân Hàng Trung Ương Nga cho biết quỹ ngoại tệ dự trữ đã giảm mất hơn 16 tỷ Mỹ kim. Theo ngân hàng Goldman Sachs, 21 tỷ Mỹ kim đã từ Nga chuyển ra ngoại quốc trong 2 tuần liên tiếp. Ngân hàng Pháp BNP ước tính trong ba tuần đã có 25 tỷ Mỹ kim chạy ra khỏi nước Nga. Nhưng tình trạng đồng rúp xuống giá mấy hôm nay cho thấy dòng tiền chảy từ nước Nga ra ngoài lại đang tăng lên.

Một hậu quả của tình trạng đồng tiền bỏ đi là lãi suất ở Nga đã tăng, cao thêm 1.5% trong Tháng Tám. Giới kinh doanh Nga đã nói thẳng với Tổng Thống Medvedev là phải chấm dứt tình trạng lãi suất tăng khiến các xí nghiệp khó vay vốn. So với Tháng Bẩy, số tiền các công ty Nga vay nợ đã giảm 87% trong Tháng Tám.

Tiền bỏ đi khỏi nước xẩy ra cùng một lúc với hiện tượng những người Nga có tiền cũng rút chân ra khỏi thị trường chứng khoán, họ bán cổ phần của các công ty Nga. Ngay trong ngày 8 Tháng Tám khi quân Nga tiến công, thị trường chứng khoán Matx Cơ va đã tụt giảm 6.5%. Tính đến đầu Tháng Chín, chỉ số RTX đã giảm mất 36%. Tức là giá trị của các công ty ghi tên trên thị trường đã giảm hơn một phần ba, trị giá khoảng 500 tỷ Mỹ kim, lớn gần bằng số dự trữ ngoại tệ của cả nước. Theo tin tức trong giới đầu tư, hai người Nga bán tháo nhiều cổ phần của công ty dầu khí Gazprom nhất cũng là những người giầu hạng nhất nước. Hầu như các công ty Nga không thể gây vốn bằng cổ phần nữa; trong Tháng Bẩy các cổ phần mới phát hành thu vào tổng cộng 933 triệu Mỹ kim, trong Tháng Tám chỉ còn gây vốn được 3 triệu Mỹ kim!

Nhưng tình trạng thị trường chứng khoán Nga xuống đã diễn ra từ trước cuộc xâm lăng xứ Georgia. Lý do vì các chính sách của chính phủ Putin. Ông Putin may mắn lên cầm quyền vào lúc kinh tế Nga bắt đầu hồi phục sau cuộc khủng hoảng năm 1998, nhờ những chương trình cải tổ của cựu Thủ Tướng Primakov. May mắn thứ hai của ông Putin là “tiền như tự trên trời rớt xuống,” khi giá dầu khí, nhiên liệu tăng lên gấp ba lần trên thế giới, mà dầu lửa cùng hơi đốt chiếm 60% tổng số hàng xuất cảng của Nga.

So sánh với các nước khác trong Liên Bang Xô Viết cũ sẽ thấy rõ sự thua kém của Nga. Năm 2000, khi ông Putin bắt đầu cầm quyền, Nga là nước phát triển nhanh thứ nhì trong số các nước đó, chỉ thua Turkmenistan. Ðến năm 2005 nước Nga tụt xuống hàng thứ 13. Trong thời gian từ 1999 đến 2007, kinh tế Nga đã tăng thêm 69% trong lúc ông Putin cầm quyền. Cùng thời gian đó, kinh tế nước Azerbaijan tăng trưởng hơn 270%, Turkmenistan tăng gần 200% (hai nước cũng nhờ có dầu khí), những nước Armenia, Kazakhstan đều tăng khoảng 100%, tức là GDP tăng gấp đôi. Những nước trên bờ biển Baltic không có tài nguyên phong phú như Nga, là Estonia, Latvia đều tăng gần 100%, còn Lithunia, Ukraine và Georgia cũng đều tăng trưởng cao hơn Nga, trên 70%. Tỷ lệ phát triển của kinh tế Nga đứng hạng thứ 12 trong số 15 quốc gia thuộc Liên Xô cũ trong 8 năm vừa qua. Với nguồn tài nguyên thiên nhiên rất lớn và lực lượng lao động có khả năng học vấn và kỹ thuật cao nhất của Liên Bang Xô Viết cũ, đáng lẽ nước Nga phải phát triển nhanh nhất. Tình trạng thua kém này chỉ vì các chính sách sai lầm của ông tổng thống, nay xuống làm thủ tướng, gây ra.

Chính sách kinh tế của ông Putin là tìm cách quốc hữu hóa trở lại những công ty lớn được bán cho tư nhân, thay thế các nhà đại tài chủ cũ bằng các người thân cận với ông, trong đó có ông đương kim tổng thống. Ông Putin có khi trực tiếp đe dọa công khai các chủ nhân xí nghiệp, như công ty quặng mỏ Mechel, ghi tên trên cả thị trường chứng khoán New York. Một câu nói đe dọa của ông Putin đăng trên báo đã khiến cho giá cổ phiếu công ty Mechel giảm mất 38%, các cổ đông của công ty này mất 6 tỷ đô la trong một ngày! Chẳng trách Ngân Hàng Thụy Sĩ UBS mới giảm 20% số tiền đầu tư vào chứng khoán ở Nga, vì cho rằng mức “rủi ro chính trị” ở nước này đã gia tăng.

Nhưng các con số không đủ để diễn tả tình trạng kinh tế Nga đi xuống. Còn nhiều hiện tượng đáng chú ý khác. Dân số Nga đang xuống, mỗi năm giảm mất trên 700 ngàn người, như ông Putin đã báo cáo với Quốc Hội. Tình trạng y tế ở Nga đang xuống dốc. Tỷ lệ người Nga bị nhiễm HIV là 0.9%, cao nhất chỉ thua mấy nước Phi Châu. Trong những năm từ 1995 đến 1998, tuổi thọ trung bình của dân Nga đã tăng lên; nhưng từ năm 1999 đến 2007 đã tụt xuống chỉ còn 59 tuổi cho nam giới và 72 tuổi cho nữ giới! Trước khi ông Putin cầm quyền một người Nga trung bình tiêu thụ gần 11 lít rượu một năm, tới năm 2004 con số tăng lên thành 14 lít rưỡi; bệnh nghiện rượu gây ra 18% số người chết mỗi năm.

Cùng với số lượng rượu tiêu thụ, bộ máy công quyền ở Nga đã tăng gấp đôi dưới thời ông Putin, nay lên tới 1.5 triệu nhân viên. Trong đó tăng nhiều nhất là lực lượng cảnh sát, tình báo và nhân viên thâu thuế. Nhưng nạn tham nhũng cũng gia tăng, nước Nga được xếp hạng thứ 121 trong số 163 quốc gia được Tổ Chức Minh Bạch Thế Giới (Transparency International) nghiên cứu để xếp hạng.

Tổng Sản Lượng Nội Ðịa Nga hiện nay cũng chỉ lớn bằng 2.8% của Tổng Sản Lượng Thế Giới. Như vậy, chúng ta hiểu tại sao các nước chung quanh Nga không tỏ vẻ sợ hãi sau khi Nga đánh Georgia. Ngược lại, nhiều nước còn công khai bầy tỏ thái độ chống đối, như các nước miền Baltic, Ba Lan, Ukraine. Những nước gần Nga nhất, ở miền Trung Á sẽ lo củng cố mối quan hệ với Trung Quốc và Tây phương, để hoàn tất những ống dẫn dầu khí mới, không đi qua Nga. Ông Putin có thể xuất quân đánh Georgia chỉ cốt để mê hoặc dân chúng Nga vẫn tiếc nuối một địa vị siêu cường đã mất. Nhưng sự thực kinh tế sẽ kìm tay chân ông lại, không thể phiêu lưu xa hơn được nữa.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Hà Nội phản đối kế hoạch tấn công Việt Nam trên báo Trung Quốc
Tác giả: DCVOnline


Việt Nam đã chính thức phản đối Trung Quốc qua cái gọi là “kế hoạch xâm lăng” được đăng tải trên các mạng websites có nội dung trình bày những chi tiết của một cuộc chiếm đóng quân sự toàn diện Việt Nam bởi Trung Quốc.

Hà Nội đã hai lần triệu tập những viên chức ngoại giao cao cấp của Trung Quốc để bày tỏ mối quan tâm qua bản tin mà theo đó, cho dẫu không có nguồn rõ ràng và không chính thức, đã đánh động thành phần chóp bu quân sự và ngoại giao ở thủ đô Việt Nam sau khi bài báo này đã được đăng tải nhiều lần trong tháng qua.

Những kế hoạch dự định trình bày chi tiết một cuộc tấn công xâm lăng trong 31 ngày, bắt đầu với năm ngày đầu tấn công Việt Nam từ đất liền, từ biển và từ không gian và lên tới cực điểm là lúc 310.000 lính Trung Quốc ào ạt tấn công Việt Nam từ Vân Nam (Yunnan), Guangxi và từ vùng biển Nam Hải. Lực lượng kỹ thuật điện từ tiến hành gây nhiễu điện từ mạnh đối với trung tâm chỉ huy, hệ thống thông tin và ra đa của Việt Nam cũng được nhắc đến, cùng với chuyện phong tỏa tuyến đường phía cực Nam của Nam Hải (biển Đông).


“Việt Nam … là mối đe dọa chủ yếu nhất đối với an ninh lãnh thổ Trung Quốc, và là trở ngại lớn nhất đối với sự trổi dậy ôn hòa của Trung Quốc,” những kế hoạch được đưa lên mạng ở Sina.com và tối thiểu là ở ba websites khác cho hay.

“Cũng vậy, Việt Nam là trọng điểm chiến lược của toàn thể Đông Nam Á châu. Việt Nam cần phải được chinh phục trước nếu Đông Nam Á châu muốn được nằm trong sự kiểm soát của Trung Quốc lần nữa.


Cho nên nhìn từ bất kỳ góc độ nào, Việt Nam là một cục xương khó nuốt.”

Trong bản thông báo gởi cho South China Morning Post, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam ông Lê Dũng xác định là các viên chức của Bắc Kinh đã được yêu cầu “có thái độ để những bài báo phản cảm như thế sẽ không được đăng tải lần nữa bởi vì những điều như thế có thể ảnh hưởng xấu đến …. mối quan hệ song phương.”


“Đây là tin tức không thích hợp đi ngược lại xu hướng hòa bình, hữu nghị và hợp tác cho sự phát triểntrong vùng va trên thế giới và nó cũng không ích lợi gì cho mối quan hệ tốt đẹp đang xảy ra giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam,” ông Lê Dũng nói.

Ông thêm rằng Trung Quốc ghi nhận yêu cầu từ phía Việt Nam và “tuyên bố rằng … bản tin trên mạng kia không phản ảnh lập trường của nhà nước Trung Quốc.”

Trong lúc đó, một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao ở Bắc Kinh nói rằng “tiếng nói khác biệt” trên internet đại diện cho những hành động cá thể “bởi một dúm nhỏ người, có nghĩa là không cách gì họ có thể đại diện cho quan điểm của Trung Quốc trong chuyện đó.”

"Nhà nước Trung Quốc coi việc phát triển mối quan hệ giữa Trung Quốc - Việt Nam là quan trọng và tích cực cam kết gia tăng sự quảng bá cho mối quan hệ hữu nghị Trung Quốc - Việt Nam này,” ông nói.


Các nguồn tin từ phía nhà nước Việt Nam nói rằng họ lấy làm lúng túng khi những bài báo trên vẫn còn nằm trên mạng, khi họ tin rằng nà nước Trung Quốc kiểm soát được những nội dung của các mạng internet thuộc Trung Hoa lục địa.

Nhiều viên chức tin rằng những bài báo trên có thể ra đời sau khi sự căng thẳng giữa hai bên ngày càng tăng vì vùng biển Nam Hải đang xảy ra cuộc tranh chấp, nơi mà Bắc Kinh mới đây đã cố gắng áp lực những hãng dầu quốc tế rút ra khỏi những hiệp đồng tìm kiếm dầu khí với Việt Nam.


Báo South China Morning Post tường thuật hôm tháng Bảy là đặc sứ Trung Quốc đã cảnh cáo hãng ExxonMobil – là hãng dầu lớn nhất thế giới -- rằng tương lai làm ăn với Trung Hoa lục địa có thể bị ảnh hưởng xấu ngoại trừ hãng ExxonMobil này chấm dứt những hợp đồng tìm và khai phá dầu ở miền trung và nam Việt Nam. Giới quản trị hãng ExxonMobil nói rằng tư thế pháp lý của Việt Nam vững vàng.


Ông Song Xiaojun, một chuyên gia quân sự có văn phòng làm việc ở Bắc Kinh, miêu tả kế hoạch tấn công Việt Nam được đăng trên internet, có tựa đề “Một trận đánh để ổn định toàn vùng” này, là một chuyện tiếu lâm.


Ông nói, “Nó, hầu hết chỉ là một trò chơi bởi một vài tay quân sự tài tử và nó chẳng có gía trị quân sự nào.”


Ông Carl Thayer, một chuyên gia chuyên nghiên cứu Việt Nam của Đại học Quốc gia Úc Đại Lợi (Australia) nói rằng đó là chuyện không nghĩ ra được khi Trung Quốc đưa một chuyện xâm lăng như thế lên giấy trắng mực đen lộ liễu thế, ngụ ý đây không là chuyện thật. Nhưng ông Thayer nhấn mạnh chuyện này có thể làm nóng cựa những thành phần “quốc gia cực đoan” từ hai phía.

Tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam. Quân Đội Nhân Dân Việt Nam hiện có 100.000 nhân viên quân sự hay 20 phần trăm sức mạnh toàn diện của QĐND ăn rồi "chuyên đi làm kinh tế". Nguồn: DCVOnline.net

Trung Quốc là nguồn nhập cảng lớn nhất của Việt Nam và cả hai chính phủ đã làm việc cùng nhau để tái xây dựng mối quan hệ trong những năm gần đây, mặc dù có những căng thẳng nhạy cảm sau cuộc chiến ngắn ngủi mà đẫm máu ở biên giới năm 1979.

Cũng như phát triển sâu đậm mối quan hệ hữu nghị giữa lãnh tụ cộng sản hai nước, cả hai bên đã đạt được những thành tựu trong việc giải quyết những tranh chấp biên giới đường bộ dài 1.400 cây số và vùng vịnh Bắc bộ. Tuy nhiên, vùng đất nằm dưới quần đảo Trường Sa có khả năng giàu dầu và khí đốt ở vùng Nam Hải vẫn là điểm xích mích, va chạm chính.

Được biết cho đến nay, báo chí nhà nước Việt Nam vẫn chưa đưa tin này ở trong nước. Thế nhưng, đã có rất nhiều người trong nước biết tin này qua các hãng thông tấn nước ngoài và các website báo mạng của người Việt hải ngoại.

Cũng chính vì sự bưng bít của nhà nước cộng sản Việt Nam mà làm cho người dân lo âu, nhất là những gia đình có con hiện đang du học ở Trung Quốc. Câu hỏi của người ở Việt Nam này tựu trung là: "Nếu Trung Quốc đánh Việt Nam, nhờ cậu, (hay dì, chú, bác...) hỏi giùm con tôi có thể chạy vào tị nạn ở tòa đại sứ Mỹ, Pháp, Anh, Nhật... không?" .

© DCVOnline

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Putin giăng bẫy hay bị rơi vào bẫy

Ngô Nhân Dụng

Khi quân Nga tấn công Georgia, lấy cớ quân đội Georgia đã tiến vào vùng Nam Ossetia, nhiều người coi như ông tổng thống xứ Georgia đã rơi vào cái bẫy do ông Vladimir Putin đào sẵn. Ông ta chỉ chờ dịp này để kiếm cớ “dậy Georgia một bài học” và tạo cơ hội cho hai miền Nam Ossetia và Abkhazia chính thức tách khỏi Georgia, chờ ngày nhập vào nước Nga.

Nhưng gần một tháng sau ngày ông Putin xua quân vào nước láng giềng, nhiều người khác lại nghĩ chính con gấu Nga đã bị rơi vào bẫy. Vì cuộc hành quân vào Georgia chỉ mang lại cho nước Nga một mối lợi nhỏ, là tăng thêm được hơn 200 ngàn dân và mở rộng lãnh thổ thêm được 12,500 cây số vuông, trong khi diện tích Nga đã là rộng nhất thế giới, hơn 17 triệu km2. Trước khi quân Nga can thiệp, cả hai vùng đất này đã ly khai và chỉ giao thương với Nga rồi, không thêm được mối lợi thực tế nào. Sau chiến địch Georgia, nước Nga bị thiệt về ngoại giao và về kinh tế.

Có phải ông Putin đã dại dột tự mình rơi vào bẫy hay không?

Chúng ta không nên coi thường ông Putin. Ông ta có thể đã thấy trước những hậu quả tai hại cho nước Nga, nhưng ông bất cần. Vì dù cuộc chiến Georgia có tai hại cho 160 triệu người Nga trong nhiều năm tới, nhưng giai cấp cầm quyền gồm các nhà tư bản và cựu sĩ quan công an KGB ở chung quanh ông Putin sẽ nhân dịp này củng cố được quyền bính vững vàng hơn nữa. Và đó mới là chuyện ông Putin quan tâm.

Trên mặt ngoại giao, chưa bao giờ các nước Âu Châu và Mỹ đồng ý với nhau trong việc đối phó với Nga như bây giờ. Trước đây các nước Âu Châu có thể sẽ tỏ ý nghi ngại việc chính phủ Mỹ đang đổ tiền liên tiếp vào Georgia, nhưng trong tuần này họ không những không phản đối mà còn góp một tay nữa. Cuộc tấn công của Nga gây thiệt hại cho Georgia hơn một tỷ Mỹ kim về kinh tế. Nhưng Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đã hứa sẽ cho Georgia vay 750 triệu Mỹ kim, Ngân Hàng Thế Giới đã chấp thuận món nợ 350 triệu Mỹ kim để xây dựng hạ tầng cơ sở. Chính phủ Mỹ lại hứa một tỷ đô la viện trợ. Và Liên Hiệp Âu Châu sẽ viện trợ Georgia một tỷ đồng Euro (gần tỷ rưỡi đô la Mỹ) nữa.

Một hậu quả khác về ngoại giao là các nước cộng sản cũ ở Âu Châu và các nước thuộc Liên Bang Xô Viết cũ đều lo lắng hơn sau khi quân Nga tấn công Georgia. Lo lắng nhưng không lo sợ, trái lại, họ tìm cách giảm bớt mối lo bằng cách tiến đến gần các nước Tây Phương và Trung Quốc hơn. Các nước vùng biển Baltic tỏ thái độ rõ rệt nhất. Ba nước Latvia, Estonia, và Lithuania đã cùng với Ba Lan đưa ra một tuyên ngôn coi cuộc khủng hoảng tại Georgia là một thử thách mà Liên Hiệp Âu Châu (EU) và Minh Ước Bắc Ðại Tây Dương (NATO) phải đối đầu. Ngay sau khi bản tuyên cáo được đưa ra, đại sứ Nga tại Latvia đã chính thức cảnh cáo các nước trên, nhưng vô hiệu. Cả 3 nước vùng Baltic đều đã từng bị Nga sáp nhập trong thời Xô Viết, và Ba Lan từng bị Nga cộng sản hóa trong nửa thế kỷ, nhưng nay cả 4 nước đều là thành viên của Nato. Ðiều 5 trong hiến chương của minh ước này viết rõ rằng nếu một nước thành viên bị tấn công thì các nước khác sẽ tới giải cứu. Vì thế, họ không run sợ trước những lời đe dọa của Nga.

Sau vụ Georgia, Ukraine, một nước khác thuộc Liên Xô cũ càng cảm thấy bị đe dọa và tỏ thái độ cứng rắn hơn đối với Nga. Với 17 triệu người nói tiếng Nga trong một quốc gia có 47 triệu dân, Ukraine lúc nào cũng lo Nga sẽ xúi giục một cuộc nội loạn để chiếm lấy vùng Crimea ven Hắc Hải. Dưới thời cộng sản, các chính phủ Liên Xô đều có chính sách lưu đầy dân các nước vùng Baltic, vùng Caucase, Hắc Hải đi Siberia, và đưa người Nga chính gốc tới sống tại các quốc gia này để “trồng người.” Nga cũng di dân sang các nước Hồi Giáo ở Trung Á như vậy.

Tuy bị đe dọa trước vụ Georgia nhưng ông tổng thống Ukraine lại tỏ ra sẵn sàng đương đầu với ông Putin trong một cuộc chiến tranh cân não. Một lý do cũng là để ông tranh giành ảnh hưởng với bà thủ tướng, là người bị coi là quá mềm yếu đối với Nga. Ông tổng thống sẽ được dân Ukraine cho điểm tốt vì trong tâm thức dân tộc này không ai quên được hơn 4 triệu người Ukraine đã chết đói trong vụ tập thể hóa nông nghiệp của Stalin hồi 1930. Ngay giữa cơn khủng hoảng chính trị vì ông tổng thống và bà thủ tướng bất đồng, cả hai người vẫn tiếp đón ông phó tổng thống Mỹ đến trấn an các quốc gia trong vùng này. Trong tuần trước, ông Thủ Tướng Putin đã chính thức trấn an Ukraine rằng Nga không bao giờ có tham vọng trên nước này, và ông nhắc lại Nga đã cam kết từ lâu công nhận vùng Crimea là thuộc Ukraine.

Các nước miền Trung Á thuộc Liên Xô cũ vẫn còn nằm trong vòng ảnh hưởng của Nga, nhưng quyền lợi của họ khiến nước nào cũng muốn đi tìm thế đối trọng qua đường liên hệ với các nước lớn khác. Một mục tiêu trong chuyến đi của Phó Tổng Thống Cheney tuần này là đến Azerbaijan. Ông sẽ bảo đảm nước này và những nước bên kia bờ biển Caspian như Turkmenistan, Kazakhstan, Tajikistan, là dầu, khí của họ có thể an toàn chuyển qua Azerbaijan và Georgia sang thị trường Âu Châu và Phi Châu. Những quốc gia nhiều dầu và hơi đốt này cũng không muốn bị lệ thuộc vào các đường dẫn dầu qua Nga và Iran. Trong tuần qua bốn nước trong vùng, với sự hỗ trợ của Trung Quốc, cũng là một nước láng giềng lớn đã bầy tỏ tinh thần độc lập đối với Nga trong cuộc họp của Liên minh Thượng Hải, trong đó họ không ủng hộ Nga trong việc tách hai vùng đất của Georgia ra khỏi nước này. Cộng Sản Bắc Kinh có nhiều lý do để từ chối ủng hộ Nga: ngay trong nước họ cũng có nhiều vùng muốn ly khai. Cho nên trong tuần trước ngoại trưởng Trung Quốc đã bầy tỏ “mối quan ngại” trước việc Nga công nhận hai vùng mới ly khai khỏi Georgia tuyên bố độc lập. Hồi đầu năm nay, khi Nga lên án việc các nước Tây Phương công nhận Kosovo tuyên bố độc lập, lúc đó Trung Quốc hoàn toàn ủng hộ lập trường của Nga. Nếu Nga tiếp tục các hành động đe dọa các nước láng giềng, chắc thái độ của Trung Quốc sẽ nghiêng về phía Mỹ.

Trung Quốc có thể là một nước được lợi trong vụ ông Putin đánh Georgia. Ðối với Bắc Kinh, khi nào nước láng giềng phía Bắc của họ bị rắc rối ở nơi khác thì tốt cho họ, nhất là khi nước Nga phải lo đối phó với cả Âu Châu lẫn nước Mỹ ở vùng Caucase. Nhiều vùng tranh chấp giữa Nga và Trung Quốc vẫn còn được “cất tạm trong tủ lạnh” vì chưa ngã ngũ. Người Trung Hoa vẫn tiếp tục vượt biên giới sang Nga sinh sống, hợp pháp hoặc không hợp pháp. Trung Quốc phải ủng hộ các nước Trung Á giữ tư thế độc lập với Nga, để bảo đảm nguồn tiếp tế dầu, khí, để chính Trung Quốc không bị lệ thuộc vào dầu khí của Nga. Trung Quốc cũng đang đầu tư vào ngành dầu khí của Iran và Iraq, dầu từ đó có thể chuyển qua ống tới Trung Quốc. Trong cuộc cãi cọ giữa Nga và các nước Tây Phương, Trung Quốc tìm cách đứng ngoài, nói những lời nhân nghĩa, và hưởng lợi.

Còn Nga đang bị cô lập. Vụ Nga tấn công Georgia giúp cho những nước đối nghịch của Nga là Âu Châu và Mỹ đoàn kết với nhau hơn. Mặt khác, những nước láng giềng của Nga lại lo ngại để tìm cách đề phòng Nga nhiều hơn. Họ sẽ kết bạn với Mỹ, Âu Châu và Trung Quốc nhanh hơn trước. Khi kinh tế các xứ này càng liên kết với thế giới nhiều hơn thì các nước khác sẽ phải quan tâm bảo vệ họ nhiều hơn. Nước Nga sẽ bị cô lập hơn về ngoại giao trong hàng chục năm tới.

Một độc giả Nhật báo Người Việt đã viết thư nêu lên giả thuyết cho là chính phủ Mỹ đã cố ý xúi ông tổng thống xứ Georgia “làm bậy” để cho ông Putin xua quân qua Georgia trừng phạt, để ông Putin sa bẫy. Chúng ta khó tin những lời bàn kiểu “Mao Tôn Cương” đó. Vì chính phủ một nước lớn như nước Mỹ không thể chơi những trò nguy hiểm như vậy; nguy hiểm đến tính mạng hàng trăm, hàng ngàn người, mà hậu quả không thể tính trước được sẽ ra sao. Người lãnh đạo nước Mỹ có thể quyết định sai lầm, vì thiếu tin tức đúng, cũng như mọi người vậy. Nhưng họ rất khó làm những việc liều lĩnh, vì họ đều biết mình chịu trách nhiệm trước dân chúng, trước lịch sử.

Tuy nhiên, khi một nhà bình luận có uy tín quốc tế như ông Martin Wolf cũng nêu lên mối nghi ngờ đó, thì chúng ta phải chú ý hơn. Cuối tuần vừa qua, Martin Wolf đã viết trên nhật báo Fiancial Times ở London rằng ông Putin đang muốn gây một cuộc tranh chấp với Tây Phương để củng cố uy tín và quyền hành của chính ông trên nước Nga. Còn ở Mỹ thì nhiều người cũng muốn lôi nước Nga trở lại một tình trạng “chiến tranh lạnh” với lý do khác. Chỉ cần một vài người có tiếng trong chính trường Mỹ (không nhất thiết là nhân viên trong chính phủ, và chắc là không phải), họ chỉ cần nói xúi bẩy vài câu là ông tổng thống nước Georgia có thể tưởng bở. Ông nóng tiết đem quân “trừng phạt” đám côn đồ ở Nam Ossetia đang sát hại người dân Georgia, tưởng rằng ông Putin sẽ không dám đụng tới mình! Và thế là một cái bẫy được trương lên để mời ông Putin tiến tới! Trong khi đó thì hai đảng ở Mỹ đang tranh cử. Nếu vụ Georgia càng sôi nổi, nếu Nga với Mỹ càng công khai đấu khẩu gay go, thì ai cũng biết đảng nào và ứng cử viên nào sẽ thêm ưu thế!

Tất cả cũng chỉ là những giả thuyết, không nên coi là sự thật chắc chắn.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Lúc nào cũng cần phải học
Tác giả: Hoàng Ngọc Nguyên
Khi thủ đô Tiệp Khắc nô nức tiến vào Mùa Xuân Prague, ở Miền Nam chúng ta đang còn phải bận tâm trước những đổ nát sau vụ Mâu Thân, bồn chồn trước những bất định về chính trị và tương lai của đất nước. Những tin tức về cuộc phiêu lưu tìm kiếm nụ cười cho chủ nghĩa xã hội ở một nơi xa xôi như thế, dường như chúng ta đọc qua, cố tưởng tượng một chút, và rồi quên đi trước những thực tế thúc bách của cuộc sống. Ước gì thời đó chúng ta có thể nghĩ sâu hơn một chút.
Ông Nguyễn Văn Vĩnh có một bài viết nổi tiếng: “Gì cũng cười”. Ông phàn nàn “An Nam ta có một thói lạ là thế nào cũng cười.” Thông thường nụ cười là biểu hiện của sự vui vẻ, hài lòng, hạnh phúc, trừ phi người ta lạm dụng nó vào những mục đích khác không đẹp. Người Việt ta trong bao nhiêu đời đã phải sống khổ quá, cho nên nhiều khi phải cười cho đỡ khổ. Khi nào khổ quá mức, người ta bảo “cười không được”. Nhưng cái cười ở người Việt chúng ta, gì cũng cười, là một cách biểu hiện sự tìm kiếm ở người khác sự chia sẻ, thông cảm, đồng tình… Chúng ta xem nụ cười là một phần ngôn ngữ quan trọng. Và nói chung, ở con người, không có cái gì con người hơn, nhân bản hơn là nụ cười.
Image
Thanh niên Tiệp khắc phất cờ trước xe tăng Nga ngày 21 tháng 8, 1968 tại thủ đô Prague. AP PHOTO/LIBOR HAJSKY/CTK
Chủ nghĩa xã hội của ông Stalin mà ông áp đặt lên các nước “chư hầu” trong Cộng hòa Liên bang Xã hội Xô Viết (Liên Xô) và những nước Đông Âu vệ tinh như Ba Lan, Tiệp Khắc, Đông Đức, Rumani…là một chủ nghĩa xã hội không có nụ cười. Một số người trên có thể cười với người dưới, nhưng đó là cười “dân vận”. Một số người không phải là người trên, nhưng họ cũng không cười, như các cô mậu dịch viên, các tiếp viên hàng không, các nhân viên phường xã… bởi vì lạnh lùng là một biểu thị của quyền lực. Người dân là người dưới, cho nên họ không cười. Không cười vì quá khổ, không cười vì quá sợ, quá căng thẳng. Họ sợ bị hiểu lầm là thiếu tôn kính. Họ sợ là khi cười một cách méo mó, người ta có thể biết được sự đau khổ bên trong của họ. Hay biết được họ nghĩ gì bên trong. Không cười là sự chối bỏ đau lòng cái phần nhân bản ở con người của mỗi người. Sự phủ nhận con người bằng một chế độ cai trị bằng áp bức, khủng bố, đe dọa… chính là sự phi nhân của chế độ. Vào tháng Giêng, trong khi những người lãnh đạo ở Hà Nội âm thầm tiến hành kế hoạch Tết Mậu Thân, ở Tiệp Khắc, ông Alexander Dubcek, sau khi đánh bại được người cầm đầu đảng Cộng Sản Tiệp Antonin Novotny đương nhiệm để lên làm tổng bí thư thứ nhất, đã nói lên thông điệp lịch sử: xây dựng chủ nghĩa xã hội với một bộ mặt con người” (socialism with a human face). Nhân bản hóa chủ nghĩa xã hội, người ta nói, có nghĩa là xây dựng một “chủ nghĩa xã hội với một nụ cười”. Việt Nam dã đổi mới từ năm 1986, nhưng 22 năm sau, tìm lại nụ cười xem ra vẫn còn khó, thông thường người ta chỉ thấy nụ cười của những người hưởng thụ – cũng chẳng có bao nhiêu trong xã hội. Người Tiệp tìm lại nụ cười dễ hơn người Việt chăng, hay là vì thông điệp của ông Dubcek minh bạch hơn. Có nhiều điều người ta có thể còn nhắc đến mãi trong Mùa Xuân Prague nao nức đó. Người dân thủ đô cả ngày chỉ trông chờ và tìm kiếm mua báo, bởi vì ông Dubcek ra lệnh bãi bỏ hoàn toàn chế độ kiểm duyệt, và người ta tha hồ viết và tha hồ đọc. Người ta viết tất cả những điều mà 20 chục năm qua họ đã phải câm nín kể từ khi xe tăng của Hồng quân lăn bánh vào thành phố và đưa những người Cộng Sản Tiệp lên cầm quyền. Chính cuộc cách mạng này đã “tháo gỡ tất cả các cửa ngăn lụt, những luồng nước đã bao lâu nay bị chận lại bắt đầu tuôn vào. Báo chí đưa ra những việc hung bạo trong quá khứ trên đầy các trang. Tòa án bắt đầu xem lại tất cả những vụ được xử trong những năm 50 nhằm sửa sai công lý, và một ủy ban đặc biệt bắt đầu cho phục hồi cho hàng ngàn nạn nhân của những phiên toà kiểu Stalin trong thời trước. Báo chí, truyền hình và đài phát thanh bùng nổ trong hào khí của tự do diễn đạt; những tác phẩm của kịch tác gia đối kháng Vaclav Havel được dàn dựng; những nhạc sĩ hippie sau này là ban nhạc rock “phi lý” Những người nhựa của Vũ trụ (Plastic People of the Universe) bắt đầu náo động trên sân khấu…” – như hồi tưởng của một nhà báo của Time magazine. Giới công nhân, cũng bắt đầu xét nét về vai trò của đảng lãnh đạo, vì họ nói chủ nghĩa xã hội là của họ, và là công nhân họ không cần đảng lãnh đạo mà chỉ cần công đoàn. Người ta nhìn đến sự lãnh đạo kém cỏi ở những nhà máy và đến đời sống cơ cực của họ khi nhìn qua các nước láng giềng Tây Âu. Ngành tư pháp trong khi đó tìm kiếm những bảo đảm an toàn cho quyền con người tối thiểu của người dân. Những nhà văn, sau này là thành viên của phong trào nhân quyền 77, đã nói rõ: chủ nghĩa xã hội chẳng có nghĩa gì nếu không có tự do. Tuy nhiên, lãnh tụ Điện Cẩm Linh Leonid Brezhnev làm sao có thể tưởng được có một chế độ chuyên chính song hành với quyền tự do, dân chủ, với sự từ chối sự lãnh đạo của đảng khắp nọi nơi. Tuy nổi tiếng là người say sưa, nghiện rượu, ông còn đủ tỉnh táo để tổ chức một cuộc chinh phạt của một lực lượng 200,000 quân thuộc năm nước trong khối Minh ước Varsovie (Warsaw pact) Liên Xô, Ba Lan, Hungari, Đông Đức, Bulgaria, ba bốn mũi vượt biên giới Tiệp Khắc tiến vào thủ đô Prague. Sau ba bốn tuần bình định không tốn một viên đạn, quân chư hầu lục tục rút lui, chỉ còn 75,000 Hồng quân và 60 xe thiết giáp trấn thủ quanh thủ đô Prague. Người dân Tiệp không tổ chức vũ trang đối kháng. Họ chỉ nói với những “chiến sĩ” trên xe tăng: các ông là người xâm lược. Họ treo cờ rũ và cờ tang trên các công thự và các tòa nhà cao tầng. Họ viết đầy trên đường phố: “Người Nga cút đi”, “Tự do muôn năm”, “Trả lại độc lập cho chúng tôi”… Thanh niên từ các ngõ ngách tiến ra khắp các đường phố, reo hò: “Muôn năm Dubcek”. Họ leo lên các xe tăng và đối chất với lính Nga. Lính Nga hỏi: “Chúng tôi đến đây giải phóng, tại sao các anh lại phản đối?”, “Bọn phản cách mạng, phản động của phương tây, của Tây Đức đang phá hoại các anh, sao các anh lại ủng hộ người ta?”. Người dân Tiệp trả lời: “Chẳng có người ngoài nào ở đây cả. Chỉ có các ông là người ngoài. Chẳng ai đe dọa chủ quyền của chúng tôi cả. Chỉ có các ông xâm phạm chủ quyền. Đây là sự lựa chọn của chúng tôi.” Cuối cùng, thì các người lính phải nói: “Chúng tôi chỉ làm theo lệnh trên”, và họ đóng nắp xe tăng lại, rút dưới hầm xe, mặc cho những thanh niên Tiệp nhảy ầm ầm trên đầu. Alexander Dubcek bị bắt, bị đưa về Mạc Tư Khoa, bị hạch hỏi, bị giam lỏng và bêu diếu – giống như Pen Sovan lãnh tụ Khmer Đỏ bị Lê Đức Thọ bắt ở Nam Vang và đưa về Hà Nội giam năm 1979. Sau đó, năm 1969 ông được cử làm đại sứ Tiệp tại Thổ Nhĩ Kỳ được một năm. Rồi năm 1970 ông trở lại Prague, được đưa đến một địa phương xa xôi làm “cán bộ lâm nghiệp”. Nhiều người nhớ lại cái ngày tang tóc 20-8-1968 khi tỉnh dậy thấy xe tăng của Nga tràn đường phố. Họ nói: “Chúng tôi chẳng dám nghĩ có được một ngày hôm nay.” Nhưng 21 năm sau, cuộc Cách mạng Nhung đã chấm dứt chế độ Cộng Sản ở Tiệp Khắc, và Dubcek vẫn được ghi nhớ là người đã nhóm lên ngọn lửa đầu tiên cháy âm ỉ mãi trong cả hai thập niên trước khi bùng lên vào năm 1989. Một viên tư lệnh Nga đang điều quân tại Georgia có phát biểu: “Phương Tây phải hiểu rằng nước Nga chúng tôi không phải là một Đế quốc Tội ác và cũng chẳng phải là Liên Xô”, ý nói quân Nga vượt biên giới đi vào Georgia, chiếm đóng lãnh thổ nước này… chỉ nằm trong sứ mạng bảo vệ kiều dân Nga, “giải phóng” cho Nam Ossetia và Abkhazia, bảo vệ hòa bình, an toàn, chống nạn diệt chủng … Khi nói thế, ông chống chế một ám ảnh: nước Nga lúc nào cũng thế, và Nga hay Liên Xô thật ra cũng chỉ là Nga thôi. Cái tâm địa (mentalité), hay tật xấu, thói xấu của Nga đã có từ ngàn đời, xem quyền bá chủ của mình hơn chủ quyền và quyền tự quyết hay sự toàn vẹn lãnh thổ của các nước lân bang. Georgia năm 2008 có khác gì Hungari 1956 hay Tiệp Khắc 1968. Nga đang cho rằng Mỹ làm ra vụ Kosovo đầu năm nay thì Nga làm vụ Georgia hiện nay. Quả thật quan điểm chiến lược của Mỹ về thế giới ngày nay đã dẫn đến nhiều chính sách và biện pháp sai lầm của Washington, nhưng cũng không thể nói khác hơn được là Nga đang bị thôi thúc mạnh mẽ bởi những tât xấu khó bỏ. Tuần qua, Nga đã cảnh cáo Moldova, cũng là một nước “anh em, đồng chí” cũ trong Liên Xô, đừng hòng tìm cách giải quyết vấn đề Transnistrian như cách Georgia giải quyết vấn đề Nam Ossetia và Abkhazia. Transmistrian cũng thuộc lãnh thổ Moldova, cũng được Liên Xô cho tự trị từ lâu, cũng đang đòi được ly khai, độc lập… Giống hệt Nam Ossetia và Abkhazia. Tổng thống Moldova vội đáp: “Vâng, vâng, tôi đã hiểu bài học Georgia!”. Tổng thống Dmitry Medvedev nói rằng Nga chẳng sợ gì sự trở lại “chiến tranh lạnh”. Thủ tướng Putin “của ông” thì tố rằng Mỹ đã “đạo diễn tất cả vụ Georgia!”. Mỹ, NATO, Liên hiệp châu Âu đều đang lúng túng. Chỉ có điều khung cảnh địa lý chính trị ở miệt Đông Âu đó nay đã khác xưa. Nga đã hết chư hầu. Nga đã hết vệ tinh. Nhờ Cách mạng tháng Mười, Nga mới cưỡng chế được chư hầu. Nhờ Đệ nhị thế chiến, Nga mới có vệ tinh. Cho nên, sự bất định, bất an sẽ làm cho khí hậu vùng Hắc Hải mùa nào cũng khó chịu. Người ta cứ tưởng sau khi Liên xô sụp đổ, một quá trình tự do hóa và thúc đẩy phát triển kinh tế sẽ cho người ta thấy một nước Nga mới, Âu hóa hơn, hội nhập hơn, dân chủ hơn trong nước, thoải mái hơn trên quốc tế. Có người còn mơ tưởng đưa Nga vào khối NATO để “bao vây Trung Quốc”. Tính toán thì như thế, mà cách lựa chọn hành động của Tổng thống George Bush lại đầy những mâu thuẫn. Mặc dù bà ngoại trưởng của ông được xem là một trong những người nghiên cứu hàng đầu về nước Nga, chính sách của Mỹ đối với nước Nga chỉ phản ảnh một sự nông cạn, hời hợt đáng sợ trong thời đại ngày nay. Cách đây 40 năm, người Việt chúng ta ở hai bên bờ vĩ tuyến 17 xem ra chẳng học được gì về bài học Tiệp Khắc. Ngày nay, người ta đang nhắc lại bài học đó. Nó nhắc nhở cho chúng ta không có gì thỏa hiệp được với những giá trị tự do, dân chủ của con người. Nó cũng cho ta thấy sự khủng khiếp, ngang ngược của chủ nghĩa bá quyền nước lớn. Mùa Xuân Prague vẫn còn là một bài học giá trị. (HNN)

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Tòa Bạch Cung có thể trở thành Tòa Hắc Cung không?
Linh Vũ
LTS: Đây là ý kiến riêng của Linh Vũ, không nhất thiết là ý kiến của bổn báo. Chúng tôi đăng để rộng đường dư luận và sẵn lòng đón nhận những ý kiến khác biệt.

Cali Today News - Trong bài viết về chính trị Hoa Kỳ trong khoa bói toán trước đây của tôi luận bàn về ba ứng cử viên Tổng Thống Hillary Clinton, Barack Obama và John McCain đã có nhiều người bàn luận và đưa ra nhiều ý kiến khác nhau bệnh vực lẫn đả kích. Thật ra đó chỉ là một đề tài hạn hẹp trong phạm vi cá nhân để chia xẻ cùng mọi người trong mùa bầu cử và nhất là cung cấp chút nguồn vui trong những ngày cuối tuần cho những ai thích đề tài “politics” chứ không có ý đồ gì khác.

Sau khi đọc qua những ý kiến của mọi người, tôi cảm thấy có một vấn đề khác cũng không kém phần nhạy bén đã được nhiều người nói đến đó là sự kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ. Có người nói với chúng tôi rằng: Tòa Bạch Cung có thể trở thành tòa Hắc Cung không? Đây là sự việc rất quan trọng và rất dễ bùng phát hỗn loạn to lớn trong xã hội dân chủ, bình đẳng hiện nay ở Hoa Kỳ. Hôm nay chúng tôi muốn luận bàn một vài yếu tố liên quan đến da màu ở Hoa Kỳ để chia xẻ trong bài toán bầu cử hiện nay để chúng ta thử tìm một đáp số.

Trước khi đi sâu vào đề tài, chúng tôi xin xác định với quí vị đây chỉ là ý kiến cá nhân để chia xẻ cùng với quí vị trong những giây phút thư giãn chứ không có ý đồ xấu nào cả xin quí vị đừng chụp cho chúng tôi cái nón cối kỳ thị thì oan lắm lắm...

Từ ngày đầu tiên của mùa bầu cử nhiều người đã tỏ ra lo ngại và sợ hãi là Barack Obama có thể bước chân vào Tòa Bạch Ốc an toàn không!. Nếu sự thật ông Barack Obama là vị Tổng Thống đầu tiên da đen của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ thì quả thật giấc mơ của Mục Sư Luther King đã thành sự thật và Hoa Kỳ là nước siêu dân chủ, siêu bình đẳng trên hoàn vũ. Hiện nay chính phủ Hoa Kỳ đã giữ an ninh tối đa cho các ứng cử viên Tổng Thống, nhưng mọi người đang lo ngại cho số mệnh của ứng cử viên đảng Dân Chủ Barack Obama lý do tại sao? Đó là câu hỏi mà mọi người đang bàn tán nhưng không ai dám nói lên những ý nghĩ thật sự trong lòng mình là Hoa Kỳ có thật sự không còn sự kỳ thị chủng tộc hay không.

Hay những người da trắng đã thật sự hòa đồng sống chung trong thế giới đại đồng không phân biệt chủng loại!. Chúng tôi xin đi ngược vài đoạn lịch sử của Hoa Kỳ để chúng ta có cái nhìn tổng quát hơn trên sự việc.

Bắt đầu khoảng năm 1609 đến 1807 những người da đen từ Tây và Trung Phi đã bị bắt mang đến làm nô lệ ở Bắc Mỹ, suốt thời kỳ bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương và có một số người khác đến từ Caribbean, Nam Mỹ và Phi Châu. Hiện nay là thành phần chủng tộc đang sinh sống tại Hoa Kỳ có tổ tiên là thổ dân Châu Phi hay gọi là người Mỹ gốc Phi hay nôn na gọi là người Mỹ da đen.

Đến năm 1860 người nô lệ da đen được đem vào miền Nam Hoa Kỳ lên đến 3.5 triệu người. Chính thời kỳ này đã gây ra nhiều tranh cãi trong chính trị và xã hội Mỹ. Cho đến khi Tổng Thống Abraham Lincoln đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm 1860 thì dẫn đến hành động ly khai trong liên bang Hoa Kỳ và sau đó bùng nổ cuộc nội chiến năm 1861 - 1865. Sau khi miền Bắc dành được chiến thắng, nội chiến chấm dứt thì bản tuyên ngôn giải phóng nô lệ ra đời năm 1862. Tuy nhiên vấn đề quan trọng là có khắc phục được sự kỳ thị trong lòng dân Mỹ hay không đó là điều đáng nói.

Vào cuối thế kỷ thứ 19th có rất nhiều nỗ lực và nhiều điều luật về vấn đề kỵ thị được đặc ra được nhiều người da trắng ủng hộ hoặc đỡ đầu như ở các tiểu bang: Texas, Mississippi, Alabama, Louisiana, Georgia, Florida, South Carolina, North Carolina, Virginia, Oklahoma, Arkansas, Tennessee và Kansas. Tòa Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ cũng đã phán quyết nhiều đạo luật để bênh vực người da đen nhất là trong vụ án Plessy V. Ferguson năm 1896.

Dù nhiều điều luật được chính phủ ban hành qua nhiều giai đoạn lịch sử Hoa Kỳ nhưng vấn đề phân biệt chủng tộc vẫn chưa khắc phục được trong lòng người dân Mỹ. Ông Malcolm.X là một người da đen, một tín đồ Hồi Giáo, một chiến sĩ tranh đấu không mệt mỏi cho sự công bằng sắc tộc, ông là người được đa số cộng đồng da đen ủng hộ đã tranh đấu mạnh mẽ và gây nhiều hành vi bạo động nhất để chống lại sự kỳ thị của người da trắng, cuối cùng ông đã bị giết chết năm 1965.

Năm 1968 Mục Sư Martin Luther King tiếp tục cuộc hành trình tranh đấu cho người da đen, ông là người dẫn đầu phong trào tranh đấu cho dân quyền đã bị ám sát khi đang đứng trên ban công khách sạn Lorraine ở thành phố Memphis tiểu bang Tennessee. Cái chết của ông đã dấy lên nhiều phẫn nộ và nhiều cuộc bạo động nổi lên trên 60 thành phố của Hoa Kỳ, ngay cả khi Tổng Thống Lyndon B. Johnson tuyên bố ngày quốc táng cho ông.

Cũng vì sự bênh vực cho sắc tộc và cố dập tắt ngọn lửa kỳ thị chủng tộc, điều này đã đưa đến cái chết của Cố Tổng Thống John F. Kennedy. Nhiều người cho rằng cái chết của ông có thề do bọn cực đoan phân biệt chủng tộc hành động.
Tuy có nhiều cuộc ám sát và đàn áp trong những cuộc nổi loạn của nhiều thành phố nhưng người da đen không sợ hãi, họ luôn mạnh dạng đứng lên tranh đấu.

Lịch sử Hoa Kỳ còn ghi đậm những sự kiện như vụ án “Brown chống sở Giáo Dục thành phố Topeka tiều bang Kansas khi Tối Cao Pháp Viện phán quyết chủ trương phân biệt chủng tộc tại các cơ sở giáo dục công lập, vụ sát hại Emmett Till ở Money, Mississippi, Rosa Parks tầy chay xe buýt ở Montgomery, Alabama, vụ kỳ thị ở Little Rock, Arkansas.v.v

Trong suốt thời gian tranh đấu có nhiều cuộc xuống đường biểu tình đòi tự do, bình đẳng, vụ xuống đường đông nhất năm 1963 ở Washington DC đó cũng chính là nhân tố tạo nên áp lực với Tổng Thống John F. Kennedy và sau đó đến Tổng Thống Lyndon B. Johnson thông qua đạo luật dân quyền năm 1964.

Khoảng 15 năm trước đây ở South Carolina có vụ thảm sát mang tên là “Thảm sát Orangeburg” giết chết ba người da đen và trên 27 người khác bị thương, vụ giết chết chủ nhiệm kim chủ bút một tờ báo ở Los Angeles v.v. nhiều và nhiều nơi nữa nhưng chúng tôi không cần thiết phải nêu ra ở đây. Tóm lại trong thời gian nhiều thập niên qua vấn đề kỳ thị sắc tộc vẫn chưa khắc phục được hoàn toàn tại Hoa Kỳ. Hiện nay Hoa kỳ là một Quốc Gia đang đề cao tự do, dân chủ và bình đẳng cho toàn cầu, nhưng ngay tại Quốc Gia họ vẫn còn nhiều vấn đề chưa thật sự đã giải quyết. Nếu chúng ta nhìn một góc cạnh sâu xa, thực tế và khách quan hơn, chúng ta có thể thấy hành động kỳ thị vẫn còn ngấm ngầm xung quanh đời sống của người dân Hoa Kỳ. Có những sự kiện không lộ diện, có sự kiện lộ diện nhưng được che đậy bằng những phương pháp tinh vi nhân bản hơn hay bằng bức bình phong công bằng đạo đức để che đậy hành vi tội ác.

Chúng tôi đồng ý là người da đen ở Hoa Kỳ đã tiến bộ rất nhiều kể từ thập niên 1900- 1917 họ đã có nhiều cải thiện trong đời sống, đã có nhiều giai cấp trung lưu, nhiều nhà thức giả, nhiều phát triển lớn mạnh về kinh tế, nhiều Đại Học mọc lên ỏ miền Nam nước Mỹ như Tuskegee hay Đại Học Atlanta, nhiều giáo hội, báo chí dành cho giới học thuật.v.v Tóm lại khi đạo luật dân quyền ra đời người Mỹ da đen đã bước lên những bước xa hơn trong đời sống xã hội mà đa số là người da trắng.

Hiện tượng người da đen ra ứng cử ghế Tổng Thống không phải là việc mới mẻ gì vì trước đây Jesse Jackson cũng đã từng ra ứng cử và năm 2008 có ông Mục Sư Al Sharpton tiểu bang New York mặc dù không đến mức cuối như ông Barack Obama hiện nay. Những người da đen khác như Tướng Colin Powell người có chức vị cao nhất trong quân đội Hoa Kỳ và giữ chức vụ Ngoại Trưởng trong chính phủ Bush và hiện nay là bà Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice, đồng thời có một số Thượng Nghị Sĩ, dân biểu hiện trong chính phủ.

Còn người giàu có ở thế kỷ 20th như Oprah Winfrey mặc dù không bằng ông Bill Gate trong năm 1999 với 100 tỉ, Ca Sĩ nhạc Rock Michael Jackson, tay đánh Goft Tiger Woods, những nhà thể thao của các đội Football, Basket ball, võ sĩ Quyền Anh.v.v tuy nhiên đó cũng chỉ là số ít, thật sự người da đen chưa được giúp đỡ nhiệt tình của cộng đồng da trắng, một mặt họ chưa tiếp cận hệ thống giáo dục, họ không thật sự muốn có sự đổi thay có thể vì mặc cảm sắc tộc cho nên đời sống kinh tế vẫn chưa theo kịp được người da trắng.

Trở lại vấn đề ứng cử viên Tổng Thống da đen Barack Obama hiện nay, nếu nhìn trên thực tế thì không có ai nghĩ rằng sẽ có một người da đen gốc Châu Phi sẽ nhậm chức Tổng Thống Hoa Kỳ trong tháng 01/2009. Nếu có, đó là người làm lịch sử Hoa Kỳ sau hơn hai trăm năm lập quốc. Chúng ta đã nghe ông Barack Obama tuyên bố trong những cuộc đi vận động ông thường nói: Cuộc bầu phiếu này không liên quan đến giàu nghèo, trẻ già, giới tính, tôn giáo, người da đen hay da trắng mà sự so sánh giữa quá khứ với tương lai. Ông đã nhấn mạnh nhiều lần “Race doesn't matter” “chủng tộc không quan trọng” nhưng trong thực tế vấn đề chủng tộc rất quan trọng tại Hoa kỳ hiện nay.

Có người cho rằng: Bất cứ là gốc người nào, da đen, da đỏ, da vàng, da trắng miễn sống đúng môi trường thì cũng thành đạt như người bản xứ. Có thể đây là câu nói an ủi và tự hào của bản thân nhưng thực tế vẫn còn nhiều phụ phàng. Chúng ta hãy nhìn mới đây vấn đề sắc tộc vừa được khơi dậy qua báo chí về mối quan hệ của ứng cử viên Tổng Thống Obama với Mục Sư về hưu Jeremiah Wright là người có lập trường sắc tộc cực đoan đã làm cho ông Obama mất đi nhiều phiếu ủng hộ của nhiều tiểu bang và làm cho nhiều người Mỹ đã nghĩ không tốt về ông.
Việc kỳ thị sắc tộc dù có pháp luật ngăn cấm, dù con người cố che đậy thế nào đi nữa thì sự thật vẫn là sự thật khó thay đổi được trong lòng con người, như mới đây bà Ngoại Trưởng Condoleezza Rice tuyên bố với Nhật Báo Washington Times về lãnh vực chủng tộc bà nói rằng: “ Người Châu Phi và người Châu Âu là những sắc tộc đã tạo dựng nước Mỹ, người Châu Âu đến đây do sự tự ý chọn lựa, còn người Châu Phi đến đây trong xiềng xích nô lệ. Đó không phải là thực tế đẹp đẽ cho mấy về chuyện thành lập Quốc Gia chúng ta” Con cháu của những người nô lệ đó đã không thể nào được có cơ hội tốt đẹp ngay từ lúc mới bước vào đời”.

Đó chính là những lời nói chân tình nhất mà bà Codoleezza Rice đã nhìn thấy trong xã hội Hoa Kỳ, mặc dù hiện nay bà đang nắm một chức vụ khá cao trong chính quyền Bush. Trong cuộc sống có những sự thật nhưng người ta không giám nói vì sợ luật pháp, có những điều khi nói ra sẽ mất quyền lợi hay bị thiệt hại đến bản thân hay gia đình mình. Bà Codoleezza Rice đã trưng bày những kinh nghiệm cá nhân của cuộc đời bà để chúng minh rằng Hoa Kỳ vẫn còn nhiều mâu thuẫn chưa khắc phục được trong vấn đề sắc tộc.

Bây giờ chúng ta thử nhìn qua một vài góc cạnh khác như trong lãnh vực giáo dục, chính phủ đã nâng đỡ khá nhiều cho người da đen qua nhiều chương trình học bổng, trường học, số điểm.v.v mục đích để nâng cao trình độ dân trí và hội nhập đời sống chung trắng đen, nhưng điều này không mấy khả quan, hãy nhìn các trường trung và đại học số học sinh da đen tốt nghiệp được bao nhiêu phần trăm. Cho nên từ những yếu tố đó trong con mắt người da trắng vẫn xem thường người da đen. Đó mới chỉ là một trong hằng trăm yếu tố khác để người da trắng kỳ thị sắc tộc, kể cả da vàng, da đỏ.

Vấn đề kỳ thị sắc tộc không chỉ có ở người da trắng mà ngay cả trong chúng ta cũng có ý tưởng kỳ thị. Quí vị thử tự hỏi chính con tim mình trong khoảng thời gian sống tại Hoa Kỳ quí vị có bao giờ kỳ thị sắc tộc hay không? chúng tôi xin nêu lên một vài vấn đề:

-Quí vị có muốn cho con mình học ở những trường toàn là người da đen hay người Mễ không? chắc là không rồi.

-Quí vị có muốn mua một căn nhà trong khu dân cư người da đen hay không? chắc là không rồi.

-Quí vị có muốn gả con gái mình cho người da đen để có người rể và cháu ngoại là người da đen hay không ? chắc là không.

-Quí vị có muốn con trai mình lấy vợ người da đen để có những đứa cháu nội da đen hay không? chắc là không. Chúng tôi chỉ đưa ra một vài trường hợp để chúng ta suy gẫm mặc dù chúng ta cũng chỉ là người thiểu số thuộc hạng thứ hai thứ ba gì đó thôi.

Còn người Mỹ thì sao! chúng ta tính xem có bao nhiêu người đàn ông, đàn bà người da trắng lấy vợ, lấy chồng người da đen. Có một số người đàn bà da trắng lấy chồng da đen phần đông vì những lý do như hút xách, ham muốn tình dục, hay tiền bạc.v.v nếu không phải vì những lý do đó chưa chắc điều đó dễ xảy ra. Còn đàn ông da trắng lấy vợ da đen thì còn quá hiếm hoi.

Bây giờ chúng tôi trở lại trường họp ứng cử viên Barack Obama hiện nay ông là người được đảng Dân Chủ chọn để tranh cử với liên danh ông John McCain – Sarah Palin. Chúng ta thử suy gẫm xem vấn đề gì sẽ xảy ra theo kinh nghiệm lịch sử Hoa Kỳ ?.

Sở dĩ ông Barack Obama được thành công rực rỡ trên trường chính trị Hoa Kỳ và đã đánh bại ứng cử viên Hillary Clinton, đó có phải là sự sắp xếp của các nhà tài phiệt Mỹ đứng phía sau Barack Obama từ ngày đầu tiên. Theo tin đồn trên các website mà tôi đọc được là: Trước khi tuyên bố ứng cử, ông Barack Obama đã nhận khoảng tiền ủng hộ 32 triệu mà nhiều người cho rằng của đảng Cộng Hòa và những nhà tài phiệt cung cấp. Nhiều người ngạc nhiên đặc câu hỏi, tại sao lại giúp cho người của đảng dân chủ mà là người da đen. Đây là chuyện thâm cung bí sử của Hoa Kỳ và đầu óc siêu việt của những nhà làm chính trị. Đầu tiên, Ông Barack Obama là người sáng giá được giới trẻ hâm mộ, có nhiều phiếu bầu của người da đen, vì thế có nhiều cơ hội đánh ngã bà Hillary Clinton. Thứ hai, đảng CH cho rằng nếu khi bà Clinton thắng + với vị Phó Tổng Thống có chút uy tín, thì bà Clinton có thể chiến thắng đảng Cộng Hòa một cách dể dàng, vì đảng CH đã giữ tám năm trong tòa nhà trắng, thời gian đủ lâu làm cho mọi người chán nãn, mất lòng tin, nhất là thời kỳ suy thoái hiện nay của Hoa Kỳ. Hơn nữa với chu kỳ thay đổi để giữ cân bằng quyền lực của hai đảng gần như là một truyền thống.. Hay nói một cách khác, nếu bất kỳ một người da trắng nào của đảng DC ra ứng cử trong nhiệm kỳ này đều có nhiều cơ hội thắng cử.

Chính vì thế mà đảng Cộng Hòa và nhóm tài phiệt đã lợi dụng tâm lý thâm sâu trong lòng người dân Mỹ là vấn đề sắc tộc có thể giúp chiến thắng dễ dàng mà mọi người không ai nhìn thấy điều thâm sâu đó. Một việc làm hoàn toàn dựa trên căn bản pháp lý, sự tự do, dân chủ và bình đẳng của người Hoa Kỳ. Với con mắt của thế giới nhìn vào sẽ thấy một nước Hoa Kỳ toàn hảo. Nhưng sự thật nhiều khi trái ngược lại, quí vị thử suy nghĩ xem khi còn lại hai ứng cử viên một da trắng một da đen khi đi bầu người Mỹ sẽ chọn ai? Chúng tôi nghĩ rằng bên trong bức màn che, chỉ có con tim mình biết được lá phiếu sẽ bầu cho ai, nhất là lòng kỳ thị sắc tộc vẫn còn đậm nét trong mỗi người dân da trắng hiện nay, cho dù họ không thích đảng Cộng Hòa, không thích ông John McCain hay bà Sarah Palin đi chăng nữa, nhưng lòng kỳ thị làm họ không còn sự chọn lựa nào khác.
Hơn nữa những ngày cuối của cuộc chạy đua của hai đảng quí vị sẽ nhìn thấy nhiều pha ngoạn mục của các cơ quan truyền thông, truyền hình Mỹ sẽ đưa ra nhiều đề tài liên quan đến Barack Obama từ gia đình dòng họ của ông ở Kanya với cuộc sống nghèo khổ, thấp kém liệu người dân Mỹ có thề chấp nhận một lãnh đạo của mình có nguồn gốc như thế không và Hoa Kỳ hiện nay là Quốc Gia hàng đầu đang lãnh đạo thế giới liệu ông Barack Obama có thề là một lãnh tụ tài ba?
Đế kết luận chúng tôi xin đưa ra một vài nhận xét và lo ngại của một vài người về ứng cử viên Tổng Thống Barack Obama.

Trong cuộc phỏng vấn nhà văn Lessing của tờ Dagens Nyheter, Thủy Điển về các ứng cử viên Tổng Thống bà nói về ông Barack Obama như sau “ Ông ấy sẽ không trụ được lâu vì tư cách là một người da đen trên chiếc ghế Tổng Thống. Chúng sẽ sát hại ông thôi”. Một nhà văn khác cũng được nhận giải Nobel Toni Morrison lại nỗ lực cổ vũ cho 6ng Barack Obama trong cuộc chạy đua này.

Chúng tôi hy vọng những nguyên tắc công bằng, những phẩm giá bẩm sinh, quyền bình đẳng, sự tư do dân chủ sẽ là nền móng cho nhân loại cho công lý và hòa bình thế giới.

Linh Vũ

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Dân Thái Hà đòi công lý

Ngô Nhân Dụng

Cuộc xung đột giữa giáo dân và chính quyền ở ấp Thái Hà bắt nguồn từ chính sách cướp đất của đảng Cộng Sản Việt Nam. Ðảng Cộng Sản phải chịu trách nhiệm giải quyết, những cơ quan như cảnh sát, hội đồng nhân dân thành phố, tòa án, chỉ là tay chân của đảng mà thôi. Nhưng “Vụ Thái Hà” chỉ cho thấy một phần nổi của tình trạng xã hội bất công, nhân tâm ly tán vì chính quyền man trá khiến người dân mất lòng tin tưởng.

Như các bản tin trên nhật báo Người Việt đã tường thuật, từ 10 năm qua giáo dân ấp Thái Hà đã yêu cầu trả lại khu đất đang do công ty May Chiến Thắng đang khai thác. Nhà nước thành phố Hà Nội nói rằng khu vực đó đã được Linh Mục Vũ Ngọc Bích “giao đất” cho nhà nước sử dụng, nhưng các giấy tờ đưa làm bằng cứ mỗi bản viết một ngày khác nhau. Chính Linh Mục Vũ Ngọc Bích, khi còn sống, cũng đã cùng các giáo dân đòi lại đất cho giáo xứ. Cho nên dù ông có bị ép phải ký giấy “giao đất” thì ông cũng có quyền đòi lại không giao nữa.

Cảnh nhà nước chiếm đất bằng cách ép dân “hiến tặng” đã được đảng cộng sản áp dụng ở nước ta từ nửa thế kỷ nay. Sau khi nhà nước được “hiến” đất rồi, các cán bộ cộng sản sẽ chia cho nhau sử dụng, nhân danh những tổ chức, cơ quan của đảng, nhưng quyền hành thuộc vào tay những cá nhân cán bộ, đảng viên. Theo tục ngữ Việt Nam, “để lâu cứt trâu hóa bùn,” sau mươi năm hay vài chục năm, các cán bộ cộng sản biến đất của người ta thành của công, rồi lại biến của công thành của riêng mình!

Cho nên nguyên nhân trực tiếp khiến người dân Thái Hà phải đứng lên tranh đấu với số người tập họp đông đảo là vì khu đất bị chiếm đoạt đó có thể bị sẽ chia lô đem bán. Khi các tư nhân và xí nghiệp kinh doanh tư đã được quyền sử dụng thì các cán bộ cộng sản sau khi thu tiền “bán đất” rồi sẽ phủi tay đứng ngoài; để cho các nhóm tư nhân tranh chấp với nhau. Nếu đất được trả lại cho giáo xứ thì sẽ được dùng vào việc ích lợi chung. Nếu đem bán cho tư nhân sử dụng, thì giá trị của hàng vạn thước đất sẽ được bỏ vào túi tham của các quan chức và biến mất!

Ðây là một vấn đề chung của tất cả những nước đã bị cộng sản chiếm, một di sản của lịch sử trong thế kỷ qua. Cuộc cách mạng của đảng cộng sản ở bất cứ nước nào cũng là một vụ cướp tài sản của những người đang có để đem chia lại cho người khác. Bản Tuyên ngôn Cộng Sản năm 1848 đã nói rõ điều đó: “Những kẻ cướp đoạt sẽ bị cướp lại.”

Nhưng sau khi đã cướp đoạt và chia của với nhau rồi, chế độ cộng sản đã dựng lên một hệ thống, một trật tự mới, có tính cách lâu dài. Trong hệ thống mới đó vẫn có những người đóng vai “thống trị” làm chủ quyết định việc phân chia tài sản; và những người phải đóng vai “bị trị,” những nạn nhân bị bóc lột công sức tạo ra của cải. Giới thống trị lúc nào cũng lấy danh nghĩa “nhân dân lao động” nhưng trong thực tế họ bóc lột những người lao động để chia “giá trị thặng dư lao động” cho họ được hưởng. Vì các đảng cộng sản nắm độc quyền cả chính trị, kinh tế lẫn văn hóa, tư tưởng, cho nên họ bảo vệ trật tự mới một cách tuyệt đối. Ngay cả những ý nghĩ nêu vấn đề về trật tự xã hội đó cũng bị coi là “phản động.”

Sau hàng nửa thế kỷ thí nghiệm trên thế giới, chế độ cộng sản đã thất bại, nổ bùng lên ngay từ bên trong. Một cuộc cách mạng mới tại nước Nga và Ðông Âu đã thay chế độ cộng sản bằng cách tổ chức lại xã hội. Chính các đảng viên cộng sản ở các nước trên cũng muốn thay đổi vì họ nhìn thấy chế độ độc tài của họ kìm hãm sự phát triển kinh tế và hủy hoại các giá trị nhân bản. Trật tự xã hội mới, theo lối tư sản dân quyền không dựa trên “quyền chuyên chế” của một đảng mà đặt trên nền tảng “quyền của dân.” Nhờ bầu cử tự do, các đại biểu của dân đặt ra pháp luật và cả xã hội sống theo luật lệ. Báo chí và đảng phái được tự do là những định chế kìm hãm việc lợi dụng quyền lực. Ở Trung Quốc và Việt Nam thì chế độ cộng sản vẫn tìm cách lách, né để tồn tại và giai cấp thống trị vẫn sử tiếp tục công việc cướp đoạt cũ.

Công việc cướp đoạt đó đã bắt đầu từ thời kháng chiến chống Pháp, khi cộng sản Việt Nam theo sự chỉ đạo của các cố vấn Trung Quốc tổ chức cải cách ruộng đất để giết người cướp của một cách có quy mô. Sau cuộc “cải cách ruộng đất” đẫm máu, hàng chục ngàn người chết oan ức, các cố vấn Trung Quốc cho phép “sửa sai.” Nhưng chính sách cướp đất vẫn tiếp tục dưới những hình thức mới, với quy mô nhỏ hơn, âm thầm hơn, nhưng lan rộng khắp nơi. Ở mỗi làng mỗi xóm, mỗi khu phố đều xảy ra những vụ cướp đoạt. Mỗi cán bộ có thể trở thành một vị vua con ở nơi mình cai trị, bản chất này đến nay vẫn chưa thay đổi dù trên bề mặt quyền lục đã giảm nhẹ hơn. Vì trong một chế độ mà những người nắm quyền được toàn quyền về cả chính trị lẫn kinh tế thì xã hội không có một định chế hữu hiệu nào có thể ngăn cản được lòng tham của kẻ thống trị. Ai đã sống ở miền Nam sau năm 1975 đều biết cảnh đảng viên cộng sản đi từng nhà nhòm ngó coi tài sản của chủ nhà có những gì, nếu thấy thèm món đồ nào chỉ việc ngắm nghía, mân mê món đó, chờ đến lúc chủ nhà biết ý và tự nguyện “biếu” cho yên thân. Còn các cán bộ thì tạo áp lực trên các xí nghiệp, các tổ chức tư nhân, từ các hội thanh niên, giáo dục, từ thiện cho đến tôn giáo, buộc mọi người “hiến” tài sản. Trên nguyên tắc là “hiến” cho đảng và nhà nước để dùng vào việc chung. Nhưng đảng là đảng của họ, nhà nước cũng là nhà nước của họ, họ sẽ trao cho chính họ “quản lý” những tài sản đó; đợi đến ngày sẽ “hóa giá” biến của công thành của riêng. Ðó là một chính sách cướp đoạt công khai và tinh vi. Người ta có thể thực hiện được chính sách đó là nhờ độc quyền cai trị đã được đảng Cộng Sản ghi ngay trong hiến pháp. Ðiều 4 trong hiến pháp hiện nay vẫn khẳng định “Ðảng Cộng Sản lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Ðó là thứ giấy phép cho các đảng viên cộng sản quyền cướp đoạt. Trước họ cướp bằng đe dọa, nay họ cướp bằng cách thay đổi quy hoạch, luật lệ, thủ tục.

Công việc “Ðổi Mới” của đảng Cộng Sản chỉ thay đổi “phương pháp tạo ra của cải” trong xã hội. Nhưng bản chất của “hệ thống phân chia của cải” vẫn chưa đổi. Vì tất cả vẫn dựa trên độc quyền chuyên chế của một đảng. Những luật lệ mới đặt ra chỉ cốt để chính thức hóa những tài sản mà các đảng viên cao cấp chiếm đoạt được, và bảo vệ những tài sản đó trong lâu dài. Khi còn một đảng nắm quyền chuyên chế thì đảng đó sẽ tìm mọi cách củng cố “hệ thống phân chia của cải” đang tồn tại. Chính nhờ hệ thống đó mà họ đang được hưởng nhiều hơn người khác, và con cháu họ sẽ tiếp tục được hưởng, càng lâu càng tốt.

Cho nên Linh Mục Vũ Khởi Phụng ở giáo xứ Thái Hà, trong lá thư viết gửi Ðức Giám mục Hà Nội, đã nói rằng cuộc tranh đấu của giáo dân biểu lộ “sự thiếu lòng tin vào công lý xã hội... Những thế lực tiền bạc đang khống chế xã hội chứ không phải là công lý... Tâm trạng mất lòng tin và bất mãn gậm nhấm cơ thể xã hội.”

Trong những năm qua ở nước ta hàng vạn nông dân đã đi biểu tình vì đất đai, nhà cửa bị cướp đoạt bất công. Hàng vạn công nhân khắp nước phải đình công dù bất hợp pháp. Tất cả đều chỉ vì người dân nghèo đang bị lớp tư bản mới bóc lột, với sự đồng lõa của những người đang cầm quyền là đảng Cộng Sản.

Không còn nhịn nhục mãi, người dân Thái Hà đứng lên bảo vệ một “tài sản công” có thể bị guồng máy cướp đoạt của đảng cộng sản biến thành tài sản tư. Dân Thái Hà đang làm gương cho đồng bào khắp nước. Ðúng như Linh Mục Vũ Khởi Phụng viết, vụ Thái Hà chỉ là “một trường hợp minh họa” cho thấy những bất công đang diễn ra khắp nơi. Dân Ấp Thái Hà không sợ hãi. Người dân bị oan ức khắp nước sẽ hết sợ, sẽ đứng lên đòi lại những quyền lợi chính đáng của mình. Nhưng vượt lên trên những quyền lợi riêng tư, dân Việt Nam cần thắp lên những ngọn đuốc của Công Lý, mà bà con ấp Thái Hà đang châm lửa. Ðòi công lý cũng là bước đầu để tái lập niềm tin của người Việt đối với nước Việt, nhờ thế hồi phục sức sống của dân tộc Việt Nam.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Nhìn lại 50 năm công hàm Phạm Văn Đồng
Tác giả: Lê Vĩnh


Ngày 4 tháng 9 năm l958 Chính Phủ Trung Quốc ra tuyên cáo mở rộng lãnh hải của họ từ 3 hải lý thành 12 hải lý, áp dụng cho tất cả các lãnh thổ và hải đảo của Trung Quốc, trong đó họ bao gồm cả Tây Sa và Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt nam). Mười ngày sau, ông Phạm Văn Đồng, thủ tướng cộng sản Việt Nam, gửi công hàm cho thủ tướng Chu Ân Lai của Trung Quốc , tán thành tuyên cáo nói trên, mà không hề có lời phản bác nào trước việc Trung Quốc ngang nhiên xem Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của họ. Hơn một tuần sau, báo Nhân dân ra ngày 22 tháng 9 đăng toàn văn công hàm vừa kể, để toàn đảng, toàn dân và thế giới biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nay không còn là của Việt Nam nữa.



Bức công hàm tuy chỉ dài 121 chữ, nhưng nói rất rõ là chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà, tức Cộng sản Việt nam, chẳng những "ghi nhận", "tán thành" mà còn chỉ thị cho các cấp "triệt để tôn trọng" hải phận của Trung Quốc bao gồm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa. Như vậy, ngay trên văn bản này, ông Phạm Văn Đồng đã không nhân danh cá nhân ông, mà thay mặt cho chính phủ cộng sản Việt Nam ký kết. Trên thực tế, trong cương vị Thủ tướng, ông Phạm văn Đồng phải là người ký công hàm . Nhưng người ta đều biết, ông ta không phải là người tự quyết định, mà chỉ thừa hành quyết định chung của 11 người trong Bộ Chính trị hồi đó, mà người đứng đầu là ông Hồ Chí Minh. Sau 32 năm ngồi ghế thủ tướng, khi về vườn, ông Phạm Văn Đồng đã gián tiếp xác nhận điều này qua lời than thở rằng ,ông chẳng có quyền hành gì cả.



Sau này , vào những năm cuối đời, ông Phạm Văn Đồng biện bạch cho việc ông phải ký công hàm bán nước năm 1958 là vì lúc đó đang thời chiến. Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm cũng đã đưa ra những lời biện bạch tương tự, và được Thông tấn xã Việt Nam loan ngày 3 tháng 12 năm 1992. Ông Nguyễn Mạnh cầm cho rằng , việc Cộng Sản Việt Nam ủng hộ Trung Quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là cần thiết , vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc. Cả hai lời biện bạch này vừa là những lời nói dối, vừa cho thấy sai lầm to lớn của đảng cộng sản Việt Nam, căn nguyên đưa đến sự bại liệt của nước ta hiện nay. Vào năm 1958 không có cuộc chiến tranh nào cả. Lúc đó miền Nam chỉ có một ít cố vấn Mỹ, không nhiều gì hơn số cố vấn Nga, Tàu ở miền bắc. Nhưng đảng cộng sản Việt Nam đã hoạch định cuộc xâm lăng miền Nam, gọi là cuộc chiến "chống Mỹ cứu nước" tại đại hội đảng lần thứ 3, năm 1959. Chính cuộc chiến mà ông Hồ Chí Minh và nhóm lãnh đạo cộng sản nhất định phải tiến hành cho bằng được, dù có phải "đốt cháy cả dãy Trường Sơn", đã tàn phá đất nước, làm kiệt quệ sinh lực dân tộc. Rồi sau đó, với những sai lầm liên tiếp khác, đảng cộng sản Việt nam đã đưa đất nước xuống hố sâu của sự khánh kiệt mọi mặt; đành phải thúc thủ trước sự hung hăng của Trung Quốc. Ngày nay người ta đều phải thừa nhận là, miền nam trước kia, dù phải chịu đựng chiến tranh, nhưng cũng đã phát triển ngang hàng hoặc hơn các nước trong vùng. Nếu Hà Nội đừng gây ra cuộc chiến (*), thì đến nay chắc chắn miền Nam đã phát triển, hùng cường không thua kém gì Đại Hàn. Trong tình hình đó, liệu Trung Quốc có dám khinh thường Việt Nam như hiện nay không?



Trở lại bức công hàm bán nước năm 1958; 20 năm sau; bộ ngoại giao của Hà Nội ra tuyên bố cho rằng, công hàm đó chỉ mang tính chất ngoại giao. Cùng năm đó, báo chí đăng tin ông Lý Tiên Niệm, phó thủ tướng Trung Quốc nói rằng : "80 năm sau Trung Quốc mới nói chuyện Hoàng sa, Trường Sa với Việt Nam". Lời tuyên bố này khiến người ta phải tự hỏi, liệu còn những mật ước dâng nhượng đất đai khác của Hà Nội mà Bắc Kinh chưa tiết lộ không? Nhìn vào sự thậm thụt của cộng sản Việt Nam trong các hiệp định trên bộ năm 1999 và trên biển năm 2000, thì nghi vấn vừa kể không phải là vô căn cứ. Thỉnh thoảng, khi không bằng lòng đàn em ở Hà Nội, Bắc Kinh lại xì ra thêm một vài dữ kiện, mà Hà Nội phải ngậm bổ hòn làm ngọt.



Thực ra ,công hàm năm 1958 không phải là dữ kiện duy nhất về sự bán nước của cộng sản Việt Nam. Tháng 02 năm 1972, cục Đo Đạc và Bản Đồ thuộc phủ thủ tướng Cộng Sản Việt nam, khi ấn hành bản đồ thế giới đã xóa tên Hoàng Sa và Trường Sa, thay vào đó là tên Tây Sa và Nam Sa . Trong khi đó, thư viện của trung Hoa Dân Quốc (tức Đài Loan) vẽ bản đồ Việt Nam từ năm 1947, có cả Hoàng sa và Trường Sa. Tháng 5 năm 1976 báo Saigon Giải Phóng, trong bài bình luận việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực hồi tháng giêng năm 1974, đã viết rằng: "Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi!". Sách địa lý xuất bản năm 1974; trong bài "Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa" có viết rằng "chuỗi hải đảo từ Nam Sa (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) tới Hải Nam và Đài Loan là bức tường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc".



Nhìn lại năm mươi năm, khởi đi từ bức công hàm bán nước năm 1958 , và các hành vi bán nước khác của đảng cộng sản Việt Nam sau đó, cùng với những sai lầm nghiêm trọng, đã làm cho đất nước suy vong, dân tộc mất sức đề kháng ngoại xâm, điều người ta khẳng định được là, không ai khác, chính Đảng Cộng Sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử về tình trạng này. Trong đó, dù muốn dù không, công hàm năm 1958 tự nó đã vô hiệu hoá chủ quyền chính đáng của Việt nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Kéo theo những thiệt hại khác của dân tộc. Do đó, văn bản này cần phải được huỷ bỏ. Đây là điều cộng sản Việt Nam phải thực hiện, hầu phần nào chuộc tội bán nước mà đảng đã làm từ nửa thế kỷ qua.

--------------------
(*) Vào năm 1970, hai năm sau biến cố tết Mậu Thân, lực lượng cộng sản tại miền nam gần như bị tiêu giệt. Hạ tầng cơ sở của việt cộng cài cắm tại miền Nam hoàn toàn bị bị bật gốc . Chương trình bình định phát triển của Việt Nam Cộng Hoà tiến triển tốt đẹp. Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Thiệu lúc đó đã đưa ra lời kêu gọi miền bắc hãy ngưng chiến tranh. Hai miền nam bắc thi đua phát triển đất nước, thi đua đem lại phúc lợi cho người dân . Nhưng cộng sản Việt Nam đã đáp ứng lời kêu gọi này bằng việc tăng cường xâm nhập người và vũ khí vào miền Nam, gia tăng cường độ chiến tranh vào những năm sau đó.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Từ Phạm Văn Đồng tới Nguyễn Tấn Dũng
Tác giả: Ngô Nhân Dụng

Ông Nguyễn Tấn Dũng có thể sửa chữa một sai lầm mà ông Phạm Văn Ðồng đã phạm trước đây 50 năm. Nếu ông Dũng can đảm.


Ngày mai, 14 Tháng Chín 2008 đánh dấu 50 năm lá thư của ông Phạm Văn Ðồng gửi ông Chu Ân Lai, tổng lý quốc vụ viện (tức là thủ tướng) Trung Quốc. Trong lá thư này, ông thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tức là miền Bắc Việt Nam lúc đó, đã tỏ ý “tán thành” lập trường Trung Quốc về hải phận của họ.


Chính phủ Bắc Kinh bây giờ vẫn vin vào lá thư đó để chứng minh chính quyền cộng sản Việt Nam đã công nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Trung Quốc từ ngày 14 Tháng Chín oan nghiệt này.


Bây giờ, muốn phủ nhận ý kiến đó, ông Nguyễn Tấn Dũng hãy viết một công hàm khác, gửi Thủ Tướng Ôn Gia Bảo, giải thích rằng bức thư của ông Phạm Văn Ðồng không hàm chứa ý công nhận chủ quyền Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa. Hãy viết một lá thư ngắn gọn, rõ ràng, quả quyết, không ai hiểu lầm được, khác với lối văn mập mờ nửa trắng nửa đen của ông Phạm Văn Ðồng trước đây.


Bức thư Phạm Văn Ðồng chỉ có hai đoạn chính, ngoài hai câu thưa gửi và chào hỏi thường lệ ở đầu và cuối thư. Trong đoạn thứ nhất, ông Ðồng viết chính phủ của ông “tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận Trung Quốc.” Ðây là những lời lẽ rất tổng quát, cũng như câu mở đầu đoạn sau viết “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy ...” Ðây là những câu văn oan nghiệt ghi tên Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Phạm Văn Ðồng vào sổ đen của lịch sử Việt Nam chép tên những người bán nước trong lúc đang nắm giữ chính quyền. Vì “bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa” xác định các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền của nước họ. Tán thành bản tuyên bố đó là công nhận Trường Sa và Hoàng Sa thuộc Trung Quốc!


Nêu tên những người cầm đầu như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Phạm Văn Ðồng cũng chỉ là những tên tuổi tiêu biểu thôi, còn tất cả Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm chung. Bây giờ đảng Cộng Sản có trách nhiệm phải nói và làm ngược lại để rửa cái tiếng xấu muôn đời đó. Và họ có thể biện hộ, giải thích lá thư Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai theo cách khác.


Vì trong đoạn chính thứ nhì của bức thư, ông Phạm Văn Ðồng lại viết tiếp một câu cụ thể hơn, nói rõ hơn: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.”


Bây giờ ông Nguyễn Tấn Dũng có thể vin vào đoạn thứ nhì này để giải thích lại bức thư của Phạm Văn Ðồng. Có thể giải thích rằng đoạn trước chỉ là một lời tuyên bố tổng quát tỏ tình hữu hảo, còn đoạn sau mới là nội dung thật của bức công hàm. Nội dung chính yếu khi nói “tán thành” và “tôn trọng” lập trường của Trung Quốc là sẽ “triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.” Và chỉ có thế thôi, không có gì khác. Trong bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 về hải phận của Trung Quốc có rất nhiều chi tiết, vấn đề hải phận 12 hải lý chỉ là một. Tại sao bức thư lại nhấn mạnh tới việc “triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc?” Chỉ vì đó là điều duy nhất trong cả bản tuyên bố mà phía Hà Nội muốn nói trong văn thư này.


Hãy phân tích cả câu văn liên tục, nói rằng chính quyền Hà Nội “tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.” Hãy giải thích hai động từ “tôn trọng” và “chỉ thị” nối nhau bằng chữ “và” để giải thích rằng mệnh đề sau chú thích ý trong mệnh đề trước. Mệnh đề trước nói đến ý “tôn trọng quyết định ấy” và mệnh đề sau cho biết sẽ “chỉ thị” một hành động chứng tỏ sự “tôn trọng.” Tức là phía Hà Nội chỉ tôn trọng một điều trong quyết định của bản tuyên bố ngày 4 Tháng Chín mà thôi, đó là hải phận 12 hải lý. Tôn trọng hải phận 12 lý là ý chính và ý duy nhất của cả bức thư. Còn những vấn đề như chủ quyền trên các quần đảo ở Biển Ðông không được nêu lên trong lá thư, tức là chưa “tán thành” cũng chưa muốn “tôn trọng.” Nếu Phạm Văn Ðồng định nói là Hà Nội “tán thành” và “tôn trọng” tất cả các chi tiết trong “bản tuyên bố” của Trung Quốc thì tại sao ông ta lại phải nêu lên riêng “điều khoản 12 hải lý” này làm gì?


Ðó là những lý lẽ để đảng Cộng Sản Việt Nam có thể nói ngược lại, phủ nhận những lời giải thích lợi cho Trung Quốc về lá thư của Phạm Văn Ðồng. Lá thư trên có thể được viết ra với dụng ý “mập mờ;” đó là “nghề” của các cán bộ cộng sản. Lối nói mập mờ đó đã đánh lừa được rất nhiều người, thí dụ như khi gọi mọi người đi trình diện để “học tập” với lời nhắn hãy “mang theo lương thực đủ ăn một tháng!” Cả nước Việt Nam từ Bắc chí Nam đã từng bị đánh lừa kiểu đó hơn nửa thế kỷ nay, và thói ăn nói lừa đảo này bây giờ vẫn còn được sử dụng. Nhưng kẻ lừa đảo thế nào cũng có ngày gặp những tay lừa đảo giỏi hơn, cho nên Bắc Kinh đã lấy “gậy ông đập lưng ông” bằng lá thư của Phạm Văn Ðồng.


Tất nhiên, phân tích chữ nghĩa chẻ sợi tóc làm tư như trên sẽ không buộc được chính phủ Bắc Kinh thay đổi quan điểm của họ. Vì Bắc Kinh sẽ đưa ra những bằng cớ khác, cho thấy đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhắm mắt công nhận Trường Sa và Hoàng Sa trong những hành động khác nữa.


Chính quyền Bắc Kinh đã nêu lên những bằng cớ cho thấy đảng Cộng Sản Việt Nam “tán thành” họ một cách nhiệt liệt hơn một lá thư của Phạm Văn Ðồng. Bộ Ngoại Giao Trung Quốc cho biết ngày 6 tháng 9 năm 1958 báo Nhân Dân ở Hà Nội đã đăng đầy đủ chi tiết cả bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 của họ. Ðiều đó chứng tỏ chính quyền Hà Nội không những gửi thư tán thành mà còn nhiệt liệt tán thành, cho nên mới bắt dân chúng đọc báo Nhân Dân học tập để hiểu rõ quan điểm của Trung Quốc! Chưa hết, Bắc Kinh còn trưng ra một cuốn sách giáo khoa môn địa lý in ở Hà Nội năm 1974, trong đó ghi các quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tên người Trung Hoa gọi Trường Sa và Hoàng Sa) cùng với đảo Hải Nam nằm trong vòng đai phòng thủ của Trung Quốc.


Trước những chứng cớ đó, thật khó cãi tội bán nước. Nhưng trong việc ngoại giao, nói gì được thì vẫn cứ phải nói. Nước lớn nêu lý của nước lớn, nước nhỏ cũng phải hô lên những lý lẽ của nước nhỏ, cho bàn dân thiên hạ nghe! Cứ việc giải thích ngược lại bức thư của Phạm Văn Ðồng, Trung Quốc họ có đồng ý hay không mặc kệ họ, nhưng sẽ có nhiều nước, nhiều người khác họ lắng nghe. Ai ghét mình thì không đồng ý, ai thương thì sẽ đồng ý. Cuối cùng, thế ngoại giao của một nước dựa trên những sức mạnh khác chứ không chỉ dựa trên lời nói.


Cho nên nói được gì cứ nói. Bây giờ, ông Nguyễn Tấn Dũng, lấy danh nghĩa một người thừa kế ông Phạm Văn Ðồng, hãy viết một lá thư giải thích lại bức thư ngày 14 tháng 9 trước đây 50 năm. Nói quả quyết là ông Ðồng chỉ cho biết ý kiến tán thành hải phận 12 lý mà thôi. Tất cả các vấn đề khác không nói tới, tức là cứ để đó, sẽ còn bàn cãi!


Và bây giờ đúng là lúc cần bàn cãi nhiều chuyện, sau khi Bắc Kinh đe dọa công ty dầu khí ExxonMobil của Mỹ không được thăm dò ở thềm lục địa Việt Nam mà Trung Quốc coi là thuộc hải phận của họ. Hà Nội đã dám phản đối lời đe dọa của Trung Quốc. Công ty ExxonMobil cũng nói cứng, khác hẳn với công ty BP năm ngoái mới nghe dọa đã rút lui. Ông thứ trưởng ngoại giao Mỹ Negroponte đến Việt Nam cũng nói nửa kín nửa hở rằng các công ty Mỹ có quyền quyết định thăm dò dầu ở đâu cũng được miễn là có nước chủ nhà đồng ý.


Lâu nay Trung Quốc vẫn bác bỏ những hội nghị các quốc gia tranh chấp vùng Biển Ðông. Họ chỉ muốn nói chuyện tay đôi với từng nước một, vì họ biết rằng mối tranh chấp lớn nhất là với Việt Nam. họ cũng biết rằng cộng sản Việt Nam sợ họ từ lâu rồi. Bây giờ là lúc nên chứng tỏ Việt Nam không sợ! Ðảng cộng sản Việt Nam phải chứng tỏ nước mình không sợ thật chứ không phải chỉ phản đối chiếu lệ, yếu ớt, việc Bắc Kinh đe dọa các công ty dầu quốc tế. Cho nên ông Nguyễn Tấn Dũng nên nhân ngày 14 tháng 9 mà viết một lá thư phủ nhận những ý kiến của ông Phạm Văn Ðồng mà Bắc Kinh đang giải thích lợi cho họ. Có như vậy mới giúp cho các công ty dầu khí khác không lo lắng quá, để họ dám tới thăm dò và khai thác những vùng biển mà Trung Quốc còn coi là đang tranh chấp.


Những tranh chấp này sẽ còn diễn ra nhiều lần nữa, không những giữa Việt Nam và Trung Quốc mà còn giữa Trung Quốc với 4, 5 nước khác trong vùng, kể cả Ðài Loan. Ðài Loan họ còn không sợ, việc gì mình phải sợ?


Như vậy thì người Việt Nam càng nên nói lời cứng rắn, để chứng tỏ cho cả thế giới thấy mình không khiếp nhược. Ðây là lúc nên đọc lại Bình Ngô Ðại Cáo của Nguyễn Trãi: “Duy ngã Ðại Việt chi quốc - Thực vi văn hiến chi bang! Sơn xuyên chi phong vực ký thù - Nam Bắc chi phong tục diệc dị” (Duy nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu - Sơn hà cương vực đã chia - phong tục Bắc Nam cũng khác).


Trong bang giao quốc tế, mỗi quốc gia không có bạn, cũng không có kẻ thù, mà chỉ có quyền lợi phải bảo vệ. Nước càng nhỏ thì càng phải dựa vào các thế lực quốc tế mà tự bảo vệ mình, không thể kết bạn hay gây thù chuốc oán với nước nào cả. Những nước nhỏ như Ukraine, Lithuiana nằm bên cạnh con gấu Nga mà cũng không sợ, vì biết trong thế giới ngày nay không dễ gì một nước lớn có thể lấy thịt đè người. Nga không dám đánh Estonia hoặc Ba Lan, thì Trung Quốc cũng không dám tấn công Việc Nam, như họ đang để cho người Trung Hoa trình bày, trên mạng lưới Sina, “kế hoạch tấn công chiếm đóng” Việt Nam trong 31 ngày. Người phát ngôn chính phủ Trung Quốc nói rằng đó chỉ là ý tưởng đùa chơi của mấy cá nhân, không phản ảnh ý kiến của nhà nước. Họ làm như thể đảng Cộng Sản ở bên Trung Quốc biết tôn trọng quyền tự do ngôn luận của dân lắm! Nếu vậy thì tại sao lại Cộng Sản Việt Nam nhịn nhục? Tại sao các mạng lưới chống việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa lại bị chính quyền Hà Nội cấm và phá rối? Tại sao lại bỏ tù nhà báo Ðiếu Cầy Hoàng Hải? Chịu nhục với nước “đồng chí anh em” nhưng lại vẫn hống hách đe dọa người dân nước mình, để làm gì?


Nước ta và Trung Quốc đã sống bên cạnh nhau mấy ngàn năm rồi, bang giao có lúc nóng lúc lạnh, ai cũng biết. Việt Nam không dại gì khiêu khích Trung Quốc. Sau khi đánh đuổi quân Nguyên hoặc quân Minh, các vị vua như Trần Nhân Tôn, Lê Thái Tổ vẫn “dâng biểu tạ tội,” cho dân chúng được yên thân. Nhưng các vị minh quân đó không bao giờ “tán thành” để một tấc đất nào của tổ tiên rơi vào tay giặc.


Trong thế giới bây giờ không phải chỉ có Trung Quốc là nước lớn. Chính vì mình là nước nhỏ cho nên phải tỏ ra tự trọng, cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia. Có như thế các nước khác mới kính nể, để khi có tranh chấp thì nhiều nước sẽ đứng ra bênh vực mình.

@Nguoiviet Online

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Nam Quốc Sơn Hà...
và Tiền của Tàu Cộng in để sử dụng tại Hoàng Sa-Trường Sa.

Tác giả: Phạm thắng Vũ



Mất quần đảo Hoàng Sa và một số đảo khác của quần đảo Trường Sa vào tay giặc Tàu Cộng thì ta thấy không đời nào bọn giặc Tàu Cộng chịu trao trả lại nếu như nước Việt không có những biện pháp kiên quyết, khôn khéo trong đấu tranh với bọn chúng trên mặt trận ngoại giao và chắc chắn diễn biến thời gian có khi kéo dài cả hàng chục năm trời trong bàn thương thảo thì mới có cơ thành công.

Việc tranh chấp đòi hỏi giải quyết chủ quyền một vùng đất, lãnh hải, hải đảo thực sự đã có các tiền lệ xảy ra giữa các nước Japan-Liên Xô cũ, giữa Liên Xô (Nga hiện nay)-Tàu Cộng và sau cùng bằng con đường thương thảo hiệp định các bên đã giải quyết được.

Chúng ta nên nhớ là khi có tranh chấp về chủ quyền một vùng đất, lãnh hải nào đó...Các bên liên hệ đều trưng ra các bằng chứng (giả có, thật cũng có) để hổ trợ cho lý lẽ của họ. Khi tranh chấp với Nga về chủ quyền các vùng đất ở các đảo Trân Bảo, Ân Long, Hắc Hạt Tử (trong khu vực sông Usuri)...phía Tàu Cộng đã thu thập các tài liệu, đồ vật liên hệ chất đầy cả một toa xe lửa. Cũng vậy, khi phái đoàn nước Japan thương thảo với chính quyền nước Nga về các hòn đảo Sakhalin, họ đã thu thập tài liệu, đồ đạc chất đầy cả một gian phòng lớn và, điều này đáng để cho chúng ta lưu ý là phía Tàu Cộng hiện nay cũng tìm cách thiêu hủy các tài liệu, bằng chứng thuyết phục chủ quyền của nước Việt về quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa bằng các cách như phá hủy dấu vết chủ quyền VN trên các hòn đảo, ra lệnh cho tay sai của chúng trong hàng ngũ đầu lãnh cầm quyền ở Hà Nội làm cái công việc bắt bớ bỏ tù những người dân đòi hỏi chủ quyền về Hoàng Sa-Trường Sa.

Sắp tới đây, Sứ quán Tàu Cộng tại VN sẽ trưng bản công hàm của Thủ Tướng Phạm văn Đồng ra làm một chứng cớ cho việc xâm chiếm Hoàng Sa-Trường Sa của chúng.


Năm đó, khi bọn Tàu Cộng ra tuyên bố về 12 hải lý (bao gồm Hoàng sa-Trường sa) thì hà cớ gì mà tay Thủ Tướng Phạm văn Đồng phải ra một tuyên bố thừa nhận bản văn xâm lược đó. Lúc đó bọn Tàu Cộng đâu có ra một tối hậu thư bắt buộc nếu phía nhà nước CS Bắc Việt nếu không thừa nhận văn bản này thì chúng sẽ cắt các viện trợ (bao gồm cả các vũ khí để có cái mà mang vào miền Nam VNCH đánh trận, giết lương dân vô tội miền Nam và nướng tan bao nhiêu là thanh niên nam nữ miền Bắc).

Công bố chủ quyền về Hoàng Sa-Trường Sa là chuyện của bọn Tàu Cộng còn thừa nhận lời công bố đó hay không thừa nhận là chuyện của người nước Việt mình. Thật là sai lầm khi chính quyền CS Bắc Việt khi đó ra cái bản thông cáo thừa nhận này. Đã thế lại còn cho đăng ngay trên trang nhất của báo Nhân Dân (số ra ngày 22-9-1958) với lời nhắc lại nguyên văn trong bản thông báo thừa nhận dài 121 chữ này những đoạn như:"ghi nhận", "tán thành" mà còn chỉ thị cho các cấp "triệt để tôn trọng" hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của lục địa Trung Hoa, có đính kèm luôn bản đồ về đường ranh giới lãnh hải, bao gồm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa.


Các bạn đọc có thể tìm lục lại các trang báo Nhân Dân ngày đó để đối chiếu. Sai lầm quá sức tưởng tượng. Nhân nói về bản tuyên bố của Phạm văn Đồng này thì ta thấy là nội cái chuyện đi thừa nhận một vùng đất khi đó không thuộc do mình kiểm soát (đang nằm trong tay của chính quyền miền Nam VNCH) là thuộc chủ quyền của bọn Tàu cộng thì rõ ràng chính quyền CS Bắc Việt khi đó vừa vong quốc lại vừa lộ rõ cái tính xâm lăng miền Nam VNCH.

Đọc tới đây chắc chắn sẽ có những bạn đọc thân Cộng (Đám mà người trong nước gọi chung cái tên là Hồng Vệ Binh) sẽ nhẩy nhổm lên cho là Bắc Việt xâm lăng miền Nam VNCH hồi nào? Ta cứ thử đặt vấn đề là nếu trong thập niên 1960 (2 miền Nam-Bắc đang có chiến tranh và quân đội nước USA đã có mặt tại các chiến trường miền Nam VN) nếu chính quyền USA vì nhu cầu cuộc chiến có thể tuyên bố vùng đảo Cồn Cỏ (cực Nam thuộc lãnh thổ VN Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt)) là chủ quyền của hải quân USA và phía chính quyền miền Nam VNCH khi ra một tuyên bố (kiểu như của Đồng vều) thừa nhận... thì chắc chắn cái tiếng bán nước, phản quốc sẽ được miền Bắc CS lu loa lên cho toàn thể người dân Việt được biết ngay.

Nhưng mà đó chỉ là một giả dụ thôi. Ta hãy đọc tiếp là dù cùng một khối CS như nhau và tuy tự cô lập khỏi thế giới giới văn minh, trong nhiều năm đã lệ thuộc vào Tàu Cộng không những chính trị, ngoại giao mà cả từng chén cơm manh áo... nhưng Bắc Hàn (Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên) nhất định không nhượng cho Tàu cộng một tấc đất nào qua các hội nghị về đường biên giới dài 1416 km giữa hai nước. Mặc dù cai trị đất nước bằng một lý thuyết ngu dân hoang tưởng và bằng một chính sách độc tài sắt máu ... bị phần lớn nhân loại rẻ khinh, xa lánh, cha con Kim nhật Thành-Kim chính Nhật ít ra có một điểm đáng khen mà giới lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam không có, đó là quyết tâm giữ đất đai bờ cõi của tổ tiên họ để lại.

Giờ đây, giới trẻ trong nước đã đứng lên làm một hành động kiên quyết khi họ tự giác kêu gọi nhau xuống đường tuần hành biểu tình chống lại bọn Tàu cộng thì lại bị chính quyền CSVN tìm cách giải tán. Sắp tới, chính quyền CSVN chắc sẽ làm tất cả những gì họ có thể làm để ngăn cản các cuộc biểu tình (Có thể ngay trước các lãnh sự quán Tàu Cộng tại Hà Nội, Sài Gòn...) dù ôn hoà và bất bạo động của tuổi trẻ Việt Nam (dự kiến là ngày mai Chủ Nhật 14-9).

Sẽ có các vụ bắt bớ, bỏ tù...thậm chí đám công an Ưng-Khuyển có thể giết chết người dân biểu tình nữa. Tuy nhiên, lịch sử đã nhiều lần chứng minh, khi một chế độ chỉ còn trông cậy vào các phương tiện bạo lực trấn áp để tồn tại, chỉ còn biết sử dụng bộ máy công an kềm kẹp để duy trì quyền cai trị, ngày tàn của chế độ đó chỉ là vấn đề thời gian.

Chúng ta còn nhớ hành động tuyệt vọng của của tên trùm CS Nicolae Ceausescu khi ra lệnh công an bắn vào cuộc biểu tình của nhân dân Rumania sáng ngày 17 tháng 12 năm 1989 chỉ để dẫn đến bản án tử hình dành cho vợ chồng y ta một tuần sau đó. Lãnh tụ cộng sản Slobodan Milosevic một thời là Tổng thống Serbia đầy quyền lực nắm trọn quyền sinh sát trong tay, cuối cùng y cũng phải chết trong tù. Gã CS Erich Honecker hung thần Đông Đức, Gã Idi Amin đao thủ phủ của Uganda hay tên Mobuto bạo chúa của Uganda đều đã gởi tấm thân tàn trên đất khách, để lại tiếng xấu muôn đời. Bản thân các tay đầu lãnh Hà Nội đã quá nhu nhược không dám kiên quyết chống lại bọn Tàu Cộng thì phải để cho người khác làm cái việc đó chứ. Hồi nào tới giờ đảng CSVN đã giành cái độc quyền yêu nước nay cũng muốn giành cái độc quyền biểu tình hay sao khi tuyên bố là nhà nước chưa cho phép người dân biểu tình chống Tàu Cộng xâm lăng Hoàng Sa-Trường Sa. Trời ạ! Yêu nước Việt còn phải đợi chính quyền CS cho phép, bật đèn xanh thì mới được làm còn không thì có thể lãnh những hậu quả khôn lường.

Lại một sai lầm khi tìm cách dập tan đi các vụ biểu tình của người dân Việt chống lại bọn Tàu Cộng. Giới trẻ trong nước chắc chắn sau các vụ biểu tình này và qua các động thái của nhà nước CSVN thì họ thấy rõ là cái đảng CSVN, chính quyền CSVN chẳng hề vì đất nước Việt, dân tộc Việt như lời rêu rao trong bao năm nay. Họ sẽ chọn cho họ một thái độ, một phương cách chống lại bọn Tàu Cộng và tay sai trong hàng ngũ lãnh đạo chính phủ CSVN hiện nay mà không cần phải có ai đó làm một minh chủ dẫn dắt họ (khi có bản thông báo của Phạm văn Đồng thì bác Hồ vô vàn kính yêu vẫn đang sống khoẻ sống mạnh).

Mua danh (yêu nước Việt) bằng 3 vạn (trong quá khứ) nay đảng CSVN đã bán cái danh đó chỉ có 3 đồng. Mỗi lần có dịp lễ lạc trong nước thì thôi đảng CSVN, chính phủ CSVN trống giong cờ mở lôi những chuyện cũ ra nói điếc tai người dân về những cái gọi là Chiến Thắng Điên biên, Đường 9 Nam Lào, Chiến dịch Hồ chí Minh lịch sử...cũng sẽ chẳng đánh lừa được người Việt nào nữa ngoại trừ những người cùng một ruột với CS hoặc mù quáng, ngu trung tin vào đảng CSVN.

Nhân đây, người viết bài nầy xin kể lại một câu chuyện cũ trong những ngày đầu của của miền Nam VNCH vừa lọt vào cái rọ của CS Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam.


Những ngày đầu tháng 5 năm 1975, trên hè phố Lạc Long Quân ngay khu vực Ngã Tư Bẩy Hiền-thủ đô Sài Gòn của miền Nam VNCH vừa bị CS cưỡng chiếm, rất đông bộ đội Bắc Việt qua lại để mua sắm, để ngắm xem phố xá miền Nam VN. Tôi đã gặp anh ta, một bộ đội CS miền Bắc. Anh bộ đội nầy bên vai đeo lủng lẳng một Radio hiệu Philip và một cặp kiếng mắt đen xì trên mắt... đã chận tôi giữa đường để hỏi thăm ít việc riêng. Thấy đứng ở hè phố nói chuyện không tiện tôi đã mời anh bộ đội cùng ghé vào một tiệm kem bên đường. Anh bộ đội, xưng tên là Đỗ thành Minh thuộc Sư Đoàn 10 của Quân Đoàn 4 CSBV.

Theo lời anh kể, sư đoàn của anh đã đã vượt qua các cứ điểm của Sư đoàn 25 quân đội miền Nam VNCH suốt từ Tây Ninh, Củ Chi, Quân trường Quang Trung ... để sau cùng vào được thủ đô miền Nam VNCH bằng cửa ngõ Bà Quẹo-Ngã Tư Bẩy Hiền. Anh Minh nầy nghe tôi nói đang là học sinh lớp 12 thì cho biết bản thân anh nguyên là sinh viên trường ĐH Tổng Hợp Hà Nội trước khi vào quân đội. Thấy anh có chiếc Radio bên người, tôi hỏi anh có thường xuyên nghe tin tức không thì anh cho biết nghe đủ cả các tin kể cả các đài phương Tây. Câu chuyện lan man một hồi thì nói về vụ trận Hoàng Sa giữa hải quân miền Nam VNCH và giặc Tàu Cộng tháng 1 năm 1974 trước đó.

- Anh Minh có biết vụ hải chiến đó chứ? Tôi hỏi.

- Biết. Mình nghe đài mà...Hơn nữa đơn vị cũng được học tập về chuyện nầy khi vụ tranh chấp xẩy ra.

- Trung Cộng nó lấy Hoàng Sa rồi làm sao bây giờ hả anh?

- Mình bảo đảm với cậu là Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa là giữ hộ cho mình. Nếu không sẽ lọt vào tay bọn Mỹ.

- Bây giờ đâu còn Mỹ nữa mà quân đội các anh đã vào đây hết cả rồi vậy Trung Cộng có...trả lại Hoàng Sa cho mình không hả anh Minh?

- Chắc chắn họ sẽ trả khi có lời yêu cầu của Đảng và Chính phủ mình. Tình quốc tế vô sản mà. Người bộ đội miền Bắc nầy vô tư trả lời tôi.

Trước khi chia tay, anh bộ đội nầy còn cho tôi địa chỉ nhà anh ta tại Hà Nội. Nhà số...Phố Cát Linh. Một cái địa chỉ dễ nhớ.


Tôi đã quên anh bộ đội tên Minh nầy ngay sau đó. Mãi cho đến cuối năm 1988 nhân một chuyến đi ra miền Bắc và một sự tình cờ khi cùng anh Dũng (người đi cùng) ghé lại trong nhà người bà con của anh cũng trong khu phố Cát Linh nầy. Tôi lại nhớ đến anh bộ đội Đỗ thành Minh năm xưa và sau đó tôi đã tìm đến gặp anh. Trong căn nhà cũ kỹ, phải nhắc lại câu chuyện cũ thì anh mới nhớ tôi. Anh Minh đã phục viên (giải ngũ) ngay trong cuối năm 1975 và hiện đang kiếm ăn bằng nghề chạy xe xích lô đạp và sửa chữa lặt vặt các hư hỏng từ máy Radio, xe đạp, máy nổ , đồng hồ... Các nghề mà anh học được khi còn đóng quân ở thành phố Sài Gòn. Anh vẫn giữ thói quen nghe Radio và vì nhắc lại chuyện Hoàng Sa trong buổi nói chuyện năm xưa thì anh Minh nầy cho tôi biết thêm.

- Bọn Tàu Khựa nó vừa đánh nhau với mình một trận lớn ở Trường Sa đấy. Phe mình kỳ nầy thiệt hại khá nhiều. Nó chiếm mẹ mấy cái đảo lớn rồi. Báo chí trong nước chẳng thấy đăng gì sất...Chỉ đài phương Tây loan tin thôi. Chó thật. Anh Minh giờ không còn gọi bọn Tàu Cộng là Trung Quốc như năm xưa mà nay đã gọi là Tàu Khựa.

- Trước đây thì chiếm Hoàng Sa giờ đánh tiếp Trường Sa. Vậy mà hồi đó anh nói với tôi là Trung Quốc sẽ trả lại... chỉ giữ hộ thôi mà.

- Thì Chính trị viên đơn vị phổ biến như vậy đó. Đâu ngờ. Anh Minh ngậm ngùi trả lời tôi.

Đã bao năm người dân Việt trong vòng kềm toả của bọn CS đều bị chúng lừa gạt đủ cách. Cứ cái gì lời chúng nói thì người dân VN bắt buộc phải tin là đúng là chân lý.

Yêu nước không có nghĩa là phải yêu chủ nghĩa xã hội. Đảng CSVN phạm nhiều sai lầm từ quá khứ tới hiện tại thì chúng ta, người dân Việt yêu nước không thể ngồi yên chịu lãnh những hậu quả của các sai lầm đó và, Ta phải tự hỏi ta là người Việt Nam hay là người An Nam?

Nước Việt đã từng phải ký với giặc Pháp Hòa Ước Giáp Thân 1884 (Pháp gọi là hoà ước Patennotre) nhưng rồi sau cùng khi thời cơ đến (sau Đệ Nhị Thế Chiến) chính phủ VN (vua Bảo Đại khi đó) đã tuyên bố hủy bỏ bản Hòa Ước nầy. Pháp đã từng in tiền để dùng tại Việt Nam khi đó.

Chỉ là một bản tuyên bố tán đồng của Phạm văn Đồng về một vùng đất không thuộc mình quản lý. Tàu Cộng có trưng dẫn nó ra làm một bằng chứng cho hành động xâm lăng của chúng thì cũng vô giá trị.


Phạm thắng VũSept 13, 2008.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Mặc cảm chiêu hồi và khát vọng tự do
Tác giả: Trần Trung Đạo



Mùa hè năm nay tôi đến thăm một đảo nhỏ vùng Trung Mỹ. Thật ngạc nhiên. Cuối tháng Bảy, những hàng phượng vĩ trổ bông màu đỏ rực giống hệt như trong các sân trường ở Việt Nam. Tuổi học trò mộng mơ ngủ yên trong ký ức chợt thức dậy ở một nơi rất xa xôi. Nhìn hàng phượng vĩ lòng lại bâng khuâng nhớ đến quê nhà. Cả gia đình ngồi bên hàng phượng đỏ và kể cho nhau nghe những kỷ niệm về hoa phượng. Hai mươi bảy năm. Thời gian tôi sống ở ngoài nước đã dài hơn thời gian tôi sinh ra và lớn lên trong nước, thế nhưng, Việt Nam vẫn là đề tài chính không chỉ trong sinh hoạt cộng đồng, những buổi họp mặt anh em văn nghệ, trong bữa cơm gia đình mà ngay cả trong những ngày ở lại trên một hòn đảo cách Việt Nam hàng chục ngàn dặm. Đơn giản, bởi vì đó là đất nước. Không có gì quan trọng hơn đất nước. Mỗi người rồi sẽ ra đi nhưng đất nước sẽ ở lại cho nhiều đời sau.


Có lần tôi được hỏi mai mốt có dịp trở về, ngoài gia đình, tôi sẽ đi đâu khác. Tôi trả lời rằng tôi sẽ đi thăm Hà Nội. Thật vậy, tôi không hề có ý nghĩ trở về chỉ để thăm những hàng phượng đỏ trên đường Bạch Đằng Đà Nẵng, những đồi sim tím ở Quế Sơn hay tìm lại những gì tôi đã mất. Không. Nền nhà cũ, con đường xưa, trường học, dòng sông tuổi thơ đã là kỷ niệm và dù vui hay buồn cũng đã thuộc về quá khứ. Mỗi thứ đã có một ngăn riêng trong tâm hồn. Tôi vẫn ôm ấp và sống với chúng trong mỗi ngày tôi còn có mặt ở đây. Nếu có dịp trở về, tôi sẽ đến thăm sông Hồng, Quốc Tử Giám, hồ Hoàn Kiếm, chùa Một Cột. Tôi sẽ đi Phong Châu, Phú Thọ để dâng nén hương lên anh linh các đấng vua Hùng. Tôi sẽ hành hương về Yên Tử, vùng đất tổ của Phật giáo Việt Nam. Ở mỗi nơi tôi sẽ không quên dành một phút để trịnh trọng thưa rằng tôi là người có lỗi.


Tôi có lỗi bởi vì trước đây tôi đã nghĩ sai về Hà Nội, nghĩ xấu về Hà Nội, nghĩ sai về miền Bắc, nghĩ xấu về miền Bắc. Hà Nội trong tôi 33 năm trước là trung tâm quyền lực của một chế độ độc tài, tàn bạo đã mang súng đạn của Nga, Tàu về tàn sát hàng triệu người dân miền Nam, giày xéo lên quê hương Việt Nam. Tôi có mặc cảm rằng ra Hà Nội là đầu hàng, ra Hà Nội là chấp nhận chế độ, là một hình thức chiêu hồi. Tôi ở lại Việt Nam thêm 6 năm nhưng nhất định không đi thăm miền Bắc, dù có nhiều cơ hội. Thực tế chính trị Việt Nam sau 1975 với hàng loạt các chính sách vô cùng thất nhân tâm là những đám mây đen che khuất đi những đền tháp vàng son của một Hà Nội uy nghi trong tâm hồn tôi. Đứng trên đường phố Sài Gòn buổi trưa 30 tháng 4 năm 1975, tôi nhớ lại những ngày ở Đà Nẵng đầu năm 1968 với tiếng gầm thét của những máy bay chiến đấu, những khẩu đại pháo nòng dài, những quân trang quân dụng, tất cả đều được chế tạo và mang đến từ nước Mỹ. Và 30 tháng 4 năm 1975 cũng chẳng khác gì. Từ khẩu súng trường cho đến túi lương khô, nếu không mang nhãn hiệu Trung Quốc thì cũng Liên Xô. Cả con người cùng dòng giống với tôi nhưng xa lạ không khác gì những anh chàng Mỹ đen Mỹ trắng trước đây. Đặc tính lai căn thể hiện không chỉ trong sách vở, trong giáo trình mà cả trong cách ăn nói, giọng hát, diễn kịch, điệu múa, dáng đi cũng rập theo cung cách của Nga. Hà Nội trong tôi sau 1975 không còn là Hà Nội nơi Trần Quang Khải từng khẳng khái ngâm vang “Thái bình nên gắng sức, non nước ấy ngàn thu” trong đêm liên hoan mừng chiến thắng quân Nguyên cuối thế kỷ 13. Giấc mơ được ra thăm miền Bắc của tôi không ai đụng nhẹ nhưng đã tan như chiếc bong bóng nước trong cơn mưa Sài Gòn buổi sáng cuối tháng 4 năm 1975.


Tôi cắt đứt không thương tiếc tình yêu dành cho chiếc nôi văn hóa của dân tộc Việt Nam mà từ tuổi thiếu thời tôi bao đêm mơ ước một lần được đến, được trở về thăm, được hôn lên mảnh đất nơi tôi đã từng viết “mỗi chiếc lá như còn nghe hơi thở, mỗi cành cây như có một linh hồn”. Thật vậy. Những năm đầu thập niên 1970, khi còn học trung học Trần Quý Cáp ở Hội An, nếu ai hỏi tôi sẽ làm gì sau khi đất nước thanh bình, tôi trả lời ngay rằng tôi sẽ đi thăm miền Bắc. Không phải vì tôi bị ảnh hưởng bởi nhạc Trịnh Công Sơn “khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi ba miền”, mà vì trong các môn học tôi vẫn thích nhất môn sử. Quê cha của tôi là Quảng Nam nhưng đất tổ của tôi là miền Bắc. Khi còn nhỏ, mỗi năm trong ngày giỗ chạp, bác tôi thường nhắc nhở con cháu, dòng họ chúng tôi lần đầu từ ngoài Bắc đi vào Nam chỉ có hai anh em, người anh dừng lại ở Quảng Nam nhưng người em thì đi tiếp vào Quảng Ngãi. Nhưng cũng sau lần chia tay đó họ đã lạc nhau cho đến bây giờ. Tôi lớn lên với cảm tình sâu đậm dành cho cả hai xứ Quảng thân yêu và niềm khao khát tìm về những bà con cùng tộc ở miền Bắc vẫn âm thầm chảy trong tâm hồn tôi. Thầy dạy môn sử cũng đam mê lịch sử như tôi và đã dạy chúng tôi những giờ sử tuyệt vời. Thầy diễn tả các trận Tụy Động, Chúc Động còn hay hơn Kim Dung tả trận Tụ Hiền Trang trong Thiên Long bát bộ. Từ ô cửa của trung học Trần Quý Cáp, những buổi chiều tôi đã thả hồn mình trôi theo sóng nước sông Hồng, và đâu đó dưới lòng sông như vẫn còn những chiếc cọc gỗ lim mà hơn một ngàn năm trước đã đâm thủng chiến thuyền quân Nam Hán hay hơn bảy thế kỷ trước Trần Hưng Đạo đã đánh bại quân Nguyên. Tôi thuộc nằm lòng tên tuổi của các vị danh tướng thời Lê Lợi như Lê Thạch, Lê Sát, Lê Lai, Nguyễn Xí, Đinh Lễ, Đinh Liệt… và các vương tước nhà Trần như Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản... Những địa danh Đông Đô, Tây Đô, Chi Lăng, Vạn Kiếp, Thiên Trường đi vào ý thức tuổi học trò của tôi như những niềm kiêu hãnh không bao giờ phai nhạt.


Là một trong những sinh viên thuộc diện “sinh viên chế độ cũ”, sau mấy tháng đi làm thủy lợi, chúng tôi trở về trường Luật học tiếp. Để tìm giải đáp cho những câu hỏi về Đảng Cộng sản, về chiến tranh và cách mạng Việt Nam, tôi học rất nghiêm túc, chăm chú lắng nghe các cán bộ giảng dạy kinh tế chính trị, triết học Mác - Lê, đến nhà tập thể để tìm hiểu thêm từ các giáo sư đại học miền Bắc về những điều các ông các bà có thể không nói hết ở trường và đọc tất cả những gì có thể đọc. Sau thời gian khá dài học hỏi và tiếp xúc với nhiều người, tôi hiểu ra rằng những gì tôi nghĩ về miền Bắc trước đó là không đúng. Tôi đã vơ đũa cả nắm. Đồng bào miền Bắc, giống như chúng tôi ở miền Nam, đều là nạn nhân của ý thức hệ cộng sản, thậm chí họ còn chịu đựng dài hơn, lâu hơn và đau đớn hơn nhiều. Thế hệ trẻ chúng tôi ở miền Nam cũng may mắn hơn những người cùng tuổi ở miền Bắc. Chúng tôi sinh ra và lớn lên trong một xã hội tuy không hẳn hoàn toàn tự do nhưng vẫn có ít nhiều chọn lựa. Chúng tôi chẳng những có quyền phàn nàn, chỉ trích mà còn xuống đường, hoan hô và đả đảo. Tuổi trẻ miền Bắc thì không. Họ sinh ra khi Đảng đã có rồi. Sự có mặt của Đảng Cộng sản như họ được dạy từ lớp mẫu giáo là một quy luật tất yếu của xã hội loài người. Đảng cần thiết như hơi thở và sự sống, tự nhiên như nắng và mưa, khoa học như mặt trời mọc buổi sáng và lặn vào buổi tối. Đảng là tối thượng, là tuyệt đối, trên cả cha mẹ, gia đình và tổ quốc. Chính sách tẩy não, thuần hóa con người không phải là sản phẩm độc quyền của chế độ cộng sản, nhưng chỉ trong xã hội cộng sản việc “trồng người” mới được xem như là mục tiêu của nền giáo dục. Tôi ý thức điều đó cũng là thời gian tôi phải lo tìm đường vượt biển, nên không có dịp ra thăm miền Bắc.


Đối với miền Nam, tôi cũng hiểu ra rằng miền Nam mất không phải vì thiếu 300 triệu đôla viện trợ đặc biệt đầu 1975 hay vì bị Mỹ bỏ rơi như cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thở than oán trách trong diễn văn cuối cùng của ông vài ngày trước khi lên máy bay. Miền Nam mất không phải vì quân đội Việt Nam Cộng hòa yếu kém hơn quân đội cộng sản hay các tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa không tài ba thao lược bằng các tướng cộng Sản. Cộng sản thắng cuộc chiến Việt Nam, như tôi đã viết trong vài bài trước trên talawas, chỉ vì từ ngày thành lập 1930 họ luôn nhất quán với mục đích toàn trị và bất chấp mọi phương tiện để đạt đến mục đích; họ tổ chức tinh vi và phát huy triệt để tính Đảng từ trong mỗi tổ ba người cho đến cấp trung ương, và quan trọng nhất, họ tận dụng lòng yêu nước truyền thống, nhất là đặc tính bảo thủ, của người dân Việt Nam. Việt Nam Cộng hòa thì hoàn toàn khác. Tại miền Nam không có một đảng chính trị nào được tổ chức tinh vi đến mức có thể gọi là lực đối kháng tương xứng với Đảng Cộng sản, không có một hệ thống thông tin ngang tầm với bộ máy tuyên truyền cộng sản và các nhà lãnh đạo miền Nam, vì những vướng mắc bản thân và mải lo tranh quyền đoạt lợi, đã không làm sáng lên được chính nghĩa, không tổng hợp được lòng yêu nước, yêu tự do dân chủ trong người dân miền Nam thành sức mạnh. Vì thế, nếu không có ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì rồi cũng sẽ có 30 tháng 4 năm 1976, 30 tháng 4 năm 1977, nói khác đi, việc miền Nam rơi vào tay cộng sản chỉ là vấn đề sớm hay muộn, trước hay sau chứ không phải là khả năng có hay không có thể xảy ra.


Với nhận thức đó, tôi không còn mang mặc cảm chiêu hồi khi nghĩ về Hà Nội và tìm lại được trong tôi tình yêu dành cho chiếc nôi của lịch sử Việt Nam. Vâng, nhưng đó không phải là quan trọng nhất. Quan trọng hơn thế nữa vì tôi hiểu đã rằng ngay từ trên những điêu tàn đổ nát, một cuộc chiến mới đã được phát động trong âm thầm trên phạm vi cả nước, đó là cuộc chiến giữa khát vọng tự do nhân bản và cộng sản độc tài toàn trị, giữa tự do và nô lệ, giữa thịnh vượng văn minh và nghèo nàn lạc hậu. Tôi bắt gặp trong ánh mắt của những người dân đang chui rúc dưới những tấm ny-long trên đường Trần Hưng Đạo, trong những căn nhà không vách ở các vùng kinh tế mới, đang sắp hàng bán máu ở bịnh viện Chợ Rẫy môt niềm đau câm nín và tôi tin một ngày những nỗi đau câm nín đó sẽ biến thành vũ khí. Không ai nói đây là cuộc tranh đấu dễ dàng. Bằng chứng là, dù nói gì thì nói, sau 33 năm chế độ cộng sản vẫn còn tồn tại và Việt Nam vẫn còn là một nước lạc hậu về văn minh, nghèo nàn về kinh tế và tất cả các quyền căn bản của một con người vẫn còn là một mơ ước xa xôi.


Cộng sản còn sống bởi vì nhiều người nghĩ rằng cộng sản đã chết.


Nếu cho rằng cộng sản đã chết thì trước khi chết cộng sản sống ở đâu? Liên Xô sau Cách mạng 1917 có phải là cộng sản không? Liên Xô dưới thời Stalin có phải là cộng sản không? Trung Quốc dưới thời Mao với những “nhà máy luyện kim sau hè” và công xã nhân dân có phải là cộng sản không? Bắc Hàn dưới thời Kim Nhật Thành có phải là cộng sản không? Campuchia dưới thời Pol Pot có phải là cộng sản không? Việt Nam dưới thời Hồ Chí Minh với Cải cách Ruộng đất và Nhân văn - Giai phẩm có phải là cộng sản không? Tất cả đều không và đều có, đều khác nhau và đều giống nhau. Không, bởi vì chưa có nước cộng sản nào kể cả Liên Xô với những kế hoạch 5 năm đầy tham vọng, đạt được những bước phát triển kinh tế có thể giải thích đúng với lý thuyết của Mác; và đều giống nhau, vì tất cả đều dùng những phương tiện mà lý thuyết Mác - Lê đã đề cao, đó là áp dụng bạo lực không thương tiếc đối với các thành phần xã hội cản trở bước tiến hay chống đối lại các mục tiêu của Đảng Cộng sản.


Đặng Tiểu Bình, một thời đã được thế giới ca ngợi là nhà cải cách xã hội lớn và thậm chí có người còn hy vọng ông ta sẽ từng bước mở đường cho một Trung Quốc dân chủ, hội nhập vào dòng phát triển của văn minh thế giới khi họ Đặng chuyển hướng nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường, xóa bỏ toàn bộ hệ thống công xã thời Mao, tố cáo tội ác của Cách mạng Văn hóa, thiết lập các khu kinh tế đặc biệt làm cửa ngõ giao thương quốc tế, cho phép người dân phát biểu ý kiến qua phương tiện của “Bức tường dân chủ” gần khu Tử Cấm thành ở Bắc Kinh. Đặng Tiểu Bình viếng thăm Mỹ vào tháng Giêng 1979 và được Tổng thống Jimmy Carter tiếp đãi như quốc khách, mặc dù chức vụ của ông ta chỉ là Phó Thủ tướng. Nhưng cũng chính Đặng Tiểu Bình chứ không ai khác, là người có quyền tối hậu trong quyết định tàn sát nhiều ngàn sinh viên Trung Quốc yêu dân chủ đầu tháng 6 năm 1989. Những chiếc tăng của các binh đoàn 27 và 28 trên đường phố Bắc Kinh gợi lại cho người xem hình ảnh của những chiếc tăng Liên Xô tại thủ đô Praha, Tiệp Khắc mùa xuân 1965 hay thủ đô Budapest, Hungary tháng 11 năm 1956. Thời điểm khác nhau, nạn nhân cũng khác màu da, nhưng phương pháp mà các lãnh tụ cộng sản áp dụng để tiêu diệt kẻ thù của đảng dù ở nước nào cũng giống nhau và độc ác như nhau. Cộng sản không phải chỉ là mớ lý luận mơ hồ mà chính là thực tế vô cùng cụ thể và tàn bạo. Đặc điểm áp dụng bạo lực không thương tiếc đó vẫn còn sống hùng và sống mạnh tại Việt Nam. Các cơ quan truyền thông quốc tế khi nhắc đến Việt Nam thường kèm theo chữ cộng sản đi đầu như để nhắc nhở người đọc về một xã hội còn nhiều lạc hậu, là một cơ chế chính trị độc tài, là một đảng chính trị sống nhờ bạo lực chứ không phải là nơi có những con người đang theo đuổi mục tiêu “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” như Mác viết.

Cộng sản còn sống vì căn bệnh sùng bái cá nhân vẫn còn hoành hành và tác hại.


Khi nói đến bịnh sùng bái cá nhân, người ta sẽ nghĩ ngay đến Bắc Hàn trước. Nhà báo Robert Marquand, một chuyên viên về Bắc Hàn của tờ Christian Science Monitor, trong các phóng sự về phần đất cô lập từ thế giới nầy đã thu thập hàng trăm tin tức, mẩu chuyện về cuộc sống đồi trụy cha con Kim Nhật Thành mà đối với phần lớn nhân loại gần như là những chuyện khó tin đến độ hoang đường. Theo Robert Marquand, Kim Chính Nhất có khoảng từ 2 đến 4 tỉ đôla ký thác trong các ngân hàng châu Âu. Sau khi kế thừa sự nghiệp của “lãnh tụ vĩ đại” năm 1994, Kim Chính Nhật sống xa hoa trong cung điện Trường Thọ ở Bình Nhưỡng và ngày đêm tận hưởng thú vui xác thịt với các đoàn vũ cho chính họ Kim đặt tên như “đội ca vũ”, “đội hạnh phúc”, “đội thỏa mãn”. Đối với việc ăn uống, y rất kiêng cữ và chọn lọc. “Lãnh tụ kính yêu” thích món ăn Ý hơn là món do các đầu bếp Bắc Hàn chuẩn bị. Để món ăn được nấu cho đúng kiểu, lãnh tụ mướn không những chỉ đầu bếp Ý mà còn yêu cầu chở nguyên cả cái bếp từ Ý sang để nấu nướng cho y ăn. Những điều đó xảy ra trong thời điểm khi khối Xô-viết vừa tan rã, các nguồn viện trợ lớn từ các quốc gia cộng sản bị cắt đứt, hạn hán, mùa màng thất thu, và trên đường phố tỉnh Bắc Hàm Kính (North Hamgyong) người chết đói nằm la liệt. Không một thống kê nào cho biết chính xác bao nhiêu người dân vô tội, bao nhiêu trẻ em Bắc Hàn đã chết, nhưng theo ước lượng từ nhiều cơ quan từ thiện quốc tế cũng như lời kể những viên chức Bắc Hàn cao cấp đào thoát được, khoảng 600 ngàn cho đến 3 triệu (hơn 10 phần trăm dân số) dân Bắc Hàn chết đói trong giai đoạn từ 1990 đến 1997. Tại sao một đất nước 23 triệu người lại có thể chấp nhận để những người lãnh đạo đất nước đối xử một cách tàn tệ như thế? Phải chăng họ sợ chết, bị bỏ tù, tra tấn, lao động khổ sai? Tất cả lý do đó đều đúng nhưng chưa phải là hoàn toàn chính đáng. Theo giáo sư và ký giả Bradley K. Martin, tác giả của tác phẩm Dưới sự bảo bọc đầy tình thương của cha già dân tộc (Under the Loving Care of the Fatherly Leader), được nhà điểm sách Nicholas D. Kristof của The New York Review of Books đánh giá là tác phẩm xuất sắc nhất về xã hội Bắc Hàn từ trước đến nay, ở Bắc Hàn “mọi người bị tiêm nhiễm ngay từ khi mới sinh ra để tin vào các lý thuyết tôn thờ cá nhân. Họ tin rằng cha con Kim Nhật Thành là bậc thánh nhân, vượt qua khỏi các luật căn bản của loài người, là một giống người đặc biệt, loại người xứng đáng để tôn thờ”. Phần lớn dân Bắc Hàn vẫn tin rằng nạn đói là do thời tiết, hạn hán, thất thu chứ không phải là hậu quả của một chính sách cai trị dã man, ngu xuẩn và tàn bạo nhất trong lịch sử loài người.


Các đảng viên cộng sản hay đoàn viên trung kiên của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh khi đọc những mẩu chuyện đau lòng đang xảy ra tại Bắc Hàn, hẳn nhiên cảm thấy an ủi bởi vì Việt Nam không phải là Bắc Hàn. “Bác Hồ tình yêu bao la” của họ không giống như Kim Nhật Thành. “Bác Hồ” xứng đáng được gọi là “cha già dân tộc”, là “nhà thơ lỗi lạc” của văn học Việt Nam, là “nhà quân sự thiên tài” không thua kém gì Hưng Đạo Đại vương, là “nhà giáo dục vĩ đại” của đất nước, không, không thể so sánh “Bác Hồ” với cha con Kim Nhật Thành bịnh hoạn kia được. Xin đừng mừng vội. Nếu đi hỏi những người dân Bắc Hàn, họ cũng trả lời tương tự như thế. Với người dân Bắc Hàn, Kim Nhật Thành cũng là “nhà thơ, nhà khoa học, nhà giáo dục vĩ đại”, đừng nói chi là “Bác Hồ” của Việt Nam mà cả gần bảy tỉ người trên trái đất nầy không ai có một đời sống thanh bần, trong sạch, một trái tim to lớn, một tình yêu bao la dành cho đất nước hơn là “lãnh tụ vĩ đại” và “lãnh tụ kính yêu” của họ. Điều đó cho thấy mức độ trầm trọng tuy có thể khác nhau, nhưng nhiều người Việt Nam cũng đang mang một căn bịnh như người dân Bắc Hàn. Một em bé khăn quàng đỏ của Việt Nam cũng ca ngợi “Bác Hồ tình yêu bao la” một cách chân thành như một em bé khăng quàng đỏ Bắc Hàn ca ngợi “lãnh tụ vĩ đại Kim Nhật Thành” của em. Sùng bái cá nhân là căn bịnh của chủ nghĩa cộng sản, nơi nào chủ nghĩa cộng sản đặt chân đến là nơi đó bịnh sùng bái cá nhân phát sinh và tồn tại theo suốt chiều dài của Đảng. Việt Nam cũng thế, đừng nói chi các làng bản xa xôi, nông thôn hẻo lánh, nơi ông Hồ được đưa vào miếu Thần hoàng để cúng tế hàng năm, mà ngay cả ở thành phố, trong chùa chiền, trong sách vở văn học, ông Hồ Chí Minh, giống như cha con họ Kim ở Bắc Hàn, vẫn được xem như là “là bậc thánh nhân vượt qua khỏi các luật căn bản của loài người, là một giống người đặc biệt, loại người xứng đáng để tôn thờ”. Chúa và Phật có thể sai nhưng ông Hồ thì không. Tất cả những tìm hiểu, nghiên cứu khoa học, khách quan, độc lập về cuộc đời ông Hồ đều bị nghiêm cấm và có thể bị bỏ tù nếu vi phạm. Bịnh sùng bái cá nhân như một loại tà đạo mấy chục năm qua đã giết chết các mầm mống sáng tạo, vươn lên, suy nghĩ độc lập trong nhiều thế hệ Việt Nam.


Đảng Cộng sản còn tồn tại nhờ vào một tầng lớp có học phục vụ cho Đảng.


Vì các lý do địa-chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam khống chế tư tưởng và đời sống con người khôn khéo hơn cha con Kim Nhật Thành nhiều. Thay vì đóng đinh toàn bộ đất nước vào một hệ thống giáo điều không tưởng như lý thuyết Juche ở Bắc Hàn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tạo ra những không gian sinh tồn tương đối rộng và tồn tại một cách độc lập dành cho các thành phần xã hội khác nhau. Mỗi thành phần có một môi trường sinh hoạt riêng và chịu các điều kiện chi phối riêng. Như Mác đã nói “Giai cấp tiểu tư sản là đòn xóc nhọn hai đầu”, thành phần có học phục vụ đắc lực nhưng nguy hiểm, cho nên vừa được nhiều biệt đãi mà cũng vừa bị kiểm soát chặt chẽ hơn so với các thành phần khác. Ngày nay, trong khu vườn văn học vẫn có tiếng chim kêu, có tiếng nước chảy, tiếng suối reo và các nhà thơ, nhà văn vẫn có quyền sáng tác, miễn là đừng bước ra khỏi giới hạn mà Đảng đã khoanh vùng. Ngoại trừ một số nhỏ đã vượt qua hay đang tìm cách vượt qua khỏi hàng rào cản để cùng chịu đựng với những bất hạnh của dân tộc, dùng ngòi bút để nói lên thảm trạng của đất nước hay đấu tranh cho quyền lợi đất nước, phần lớn đã ở lại trong vườn. Như Erich Maria Remarque viết trong Chiến hữu, “hạnh phúc bắt đầu từ thói quen”, họ dần dần cũng cảm thấy hạnh phúc và tự an ủi rằng ít ra môi trường sáng tác ngày nay tốt hơn nhiều so với ba mươi ba năm trước. Ngày nay họ không phải thức đêm nén bút để ca ngợi một “anh hùng diệt Mỹ” mà họ chưa bao giờ biết mặt hay tả một “chiến thắng thần thánh” mà họ chưa hề tham dự. Ngày nay họ có quyền viết về tình dục, tình yêu và cả về cuộc sống, miễn là đừng viết về cuộc sống của những người đang ở trong các nhà tù của chế độ, cuộc sống của hàng trăm ngàn phụ nữ Việt Nam đang bán mồ hôi nước mắt khắp thế giới, cuộc sống của hàng ngàn người dân oan khiếu kiện bị mất nhà mất đất đang ngồi chờ các quan lớn trả lời trong các công viên.



Hơn ai hết, thành phần có học biết rằng dù trong khoa học tự nhiên hay khoa học nhân văn, không có phản biện sẽ không bao giờ có sự thăng tiến và phản biện chỉ hình thành trên môi trường tự do sáng tạo chứ không thể ở một môi trường nào khác, thế nhưng, họ chấp nhận làm một người câm điếc để được tồn tại hơn là phản biện để rồi bị tước đi bổng lộc. Mới đây, ông Chu Hảo, nguyên thứ trưởng Khoa học Công nghệ và Môi trường, trong buổi phỏng vấn dành cho web Dân Trí mà talawas có nối lại trong mục spectrum, cũng thừa nhận rằng “để có độc lập tư duy, tự do sáng tạo và khách quan phê phán thì phải có một cơ chế dân chủ để đảm bảo cho các quyền đó.” Quá đúng. Tuy nhiên, khi được hỏi tại sao thời còn là Thứ trưởng ông đã không nói câu đó mà đợi cho đến khi không còn tại chức mới “lớn tiếng”, ông Hảo đáp “Đơn giản là khi còn tham gia quản lý, họ là con người của guồng máy đó nên phải tôn trọng kỉ luật guồng máy, chưa kể người trong cuộc khó có cái nhìn khách quan như người ở ngoài cuộc.” Ông không giải thích nhưng người đọc cũng hiểu việc “tôn trọng kỉ luật guồng máy” chính là việc phục vụ cho quyền lợi của Đảng Cộng sản theo kiểu ăn cây nào thì rào cây nấy. Nếu hiểu theo cách nói của ông Chu Hảo, trong guồng máy nhà nước hiện nay không ai đáng gọi là trí thức vì không ai dám phản biện, dám nói lên những cái đúng, tố cáo những cái sai, biết đau cái đau của dân tộc và biết buồn trong nỗi buồn của dân tộc. Như phần lớn những người thuộc tầng lớp có học, ông cũng không đủ can đảm bước ra khỏi chiếc chiếu mà Đảng đã trải cho các ông ngồi. Tâm trạng của ông Chu Hảo cũng là tâm trạng chung của những người thuộc tầng lớp gọi là trí thức trí thức xã hội chủ nghĩa hiện nay, khi về hưu, thất sủng, bị bỏ rơi, họ phê bình, phán xét như những quan tòa, nhưng thời gian trẻ trung, năng nổ, đóng góp được nhiều nhất cho đất nước thì họ lại là những kẻ tòng phạm.


Nhà báo Mike Benge của tờ Washington Times, trong bài bình luận trên ấn bản ngày 1 tháng 7 năm 2007, ‘Láo to’ sống tại Việt Nam (‘Big Lie’ lives in Vietnam), cho rằng Thomas Jefferson sẽ lăn lộn trong mồ nếu biết ông Hồ Chí Minh đã dùng câu nói bất hủ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” để lừa gạt dân tộc Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ qua. Trong cuộc chạy đua vào chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ, về quan điểm và cách giải quyết các vấn đề của Mỹ, John McCain và Barrack Obama gần như khác nhau hoàn toàn nhưng cả hai đều rất giống nhau trong định nghĩa về đất nước. Tối ngày 11 tháng 9 vừa qua, trong buổi phỏng vấn nhân dịp lễ tưởng niệm nạn nhân khủng bố, khi được hỏi tại sao ông yêu nước Mỹ, John McCain trả lời “Tôi yêu nước Mỹ, không chỉ là nơi tôi sinh ra và lớn lên mà còn là lý tưởng, là khát vọng”. Tương tự, trong diễn văn chấp nhận làm ứng cử viên Đảng Dân chủ, Barrack Obama đã nói: “Có một lời hứa đã làm cho nước Mỹ khác với các quốc gia khác, rằng qua sự làm việc cần mẫn và hy sinh, mỗi chúng ta có thể theo đuổi những giấc mơ riêng nhưng vẫn đến cùng nhau như một gia đinh nước Mỹ, để bảo đảm rằng các thế hệ sau cũng có thể theo đuổi các giấc mơ của họ.” John McCain và Barrack Obama không nói để tuyên truyền hay kiếm phiếu mà là sự thật. Từ khi Thomas Jefferson nắn nót những dòng chữ đầu tiên cho bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ 1776 cho đến hôm nay, nước Mỹ trải qua nhiều cuộc chiến, trong đó có cuộc chiến giành độc lập đầy vinh quang và một cuộc nội chiến tương tàn đẫm máu, nhưng họ vẫn là một cường quốc. Nước Mỹ trưởng thành không phải nhờ bom nguyên tử mà nhờ ở giấc mơ, lời hứa, khát vọng, như Tổng thống Kennedy một lần đã viết: “Con người có thể chết, đất nước có thể thăng hay trầm, nhưng lý tưởng luôn sống mãi”.


Nhà báo Mike Benge dùng câu nói của Thomas Jefferson để mỉa mai giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam như là những người ăn cắp ý tưởng của Mỹ để lừa gạt dân tộc Việt Nam nhưng ông có thể không biết rằng khát vọng độc lập tự do của dân tộc Việt Nam là một khát vọng có thật và bắt đầu từ nhiều ngàn năm thăng trầm của lịch sử. Câu nói của Thomas Jefferson rất hay, những câu trả lời của John McCain, Barrack Obama rất ý nghĩa, nhưng không phải là quá mới lạ. Tổ tiên Việt Nam đã mơ, đã sống và đã chết cho giấc mơ khai phóng của mình. Khát vọng tự do dân chủ chưa bao giờ bức thiết hơn lúc này, khi một phần lãnh thổ của tổ tiên đang nằm trong tay ngoại bang, khi Việt Nam mỗi ngày một lùi thêm so với đà tiến của nhân loại. Đây không phải lúc đứng trước ngã ba để chọn lựa đường nào là đúng nhất. Không giống như ngày xưa, thế hệ hôm nay chỉ có hai con đường để chọn, hoặc làm công cụ cho chế độ độc tài hoặc đi về phía dân tộc để cùng tranh đấu cho một ngày mai tươi đẹp. Nếu trước 1954, chính nghĩa của dân tộc Việt Nam là giải phóng đất nước ra khỏi chế độ thực dân bóc lột thì chính nghĩa của ngày nay là giải phóng đất nước khỏi chế độ cộng sản độc tài, chuyên chính, đưa dân tộc đi lên cùng nhịp với đà tiến tự do, dân chủ và văn minh. Vũ khí được trang bị hôm nay không phải là bom napalm, tăng T54, súng M16 hay AK47 mà là lòng yêu nước chân chính, là trí tuệ của thời đại. Người lính tự do trong trận chiến hôm nay là những người Việt Nam yêu nước, kiên nhẫn, biết hy sinh những quyền lợi và cả những đau nhức bản thân mình cho nhu cầu chung của đất nước, biết vượt qua được những cách ngăn tôn giáo, Bắc - Nam để sống vì tương lai của các thế hệ mai sau. Cuộc tranh đấu sẽ không diễn ra ở miền Nam hay miền Bắc, trên không hay ngoài biển, mà trải rộng khắp nơi, trong và cả ở ngoài nước. Chỗ dựa của người lính tự do không phải là đôla Mỹ hay súng đạn Nga mà là lịch sử, là Đống Đa, Vạn Kiếp trước đây và Hoàng Sa, Trường Sa hôm nay. Những tranh luận, biện minh, đối thoại, hay mặc cảm chiêu hồi, vì thế, đều không còn cần thiết nữa.


Chẳng lẽ 33 năm với tất cả chịu đựng và hy sinh, với tất cả máu và nước mắt nhỏ xuống khắp ba miền, chưa đủ là lý do để thay đổi chế độ độc tài này bằng một thể chế tự do dân chủ, mà phải đào xới thêm trong các văn khố ở Washington DC, Bắc Kinh, Moskva…, để chứng minh ai bán nước hơn ai?

Post Reply