Bình Luận Thời Sự
Ứng viên tổng thống Mỹ đả kích nhau dữ dội
Tác giả: trangdenonline
Thượng nghị sĩ John McCain và Barack Obama không tiếc lời công kích lẫn nhau trước cuộc tranh luận trực tiếp lần hai chuẩn bị diễn ra hôm nay.
Ứng viên đảng Cộng hòa McCain cáo buộc đối thủ Dân chủ Obama quá nhạy cảm. Ông cũng cho rằng thượng nghị sĩ da đen bỏ mặc cuộc khủng hoàng bất động sản phát triển. "Thực sự Barack Obama là ai?", ông hỏi đám đông tại bang New Mexico hôm qua. "Trong khi các ứng viên khác phải giải trình về bản thân và các hoạt động của họ, Thượng nghị sĩ Obama cảm thấy không cần làm thế".
Lời công kích này đưa ra trong khi phe của McCain tiếp tục chỉ trích Obama vì "kết thân" với người sáng lập ra phong trào cực đoan hồi thập niên 60 William Ayers. Phe Obama cáo buộc McCain "chơi xấu", đồng thời phản pháo lại bằng một đoạn video, cho thấy McCain liên quan tới một bê bối Keating Five về tài chính hai thập kỷ trước đó. "Các cử tri cần biết hết sự thật về mối liên quan giữa McCain và vụ Keating", người đứng đầu tranh cử của Obama - David Plouffe - cho biết hôm qua. Phe Obama cho rằng thượng nghị sĩ 72 tuổi "không nhất quán" về cuộc khủng hoảng tài chính.
Chiến dịch công kích cá nhân gay gắt này nổ ra trong thời điểm chỉ còn một ngày nữa là tới cuộc tranh luận trực tiếp lần thứ hai giữa hai ứng viên tổng thống Mỹ. McCain hy vọng sẽ xoay chuyển được tình thế vốn nghiêng về Obama do cuộc khủng hoảng kinh tế. Các cuộc trưng cầu đều cho thấy cử tri dành nhiều ưu ái hơn cho ứng viên da màu. Thêm vào đó, thị trường chứng khoán phố Wall giảm điểm hôm qua, khiến nhiều người lo ngại rằng gói cứu trợ 700 tỷ USD của chính phủ không thể giúp giảm nhiệt khủng hoảng.
Sau cuộc tranh luận đầu tiên, các cuộc trưng cầu đều cho thấy Obama giành phần thắng. Tuy nhiên, chương trình hôm nay được tổ chức theo phong cách quen thuộc với McCain hơn. Các ứng viên sẽ trả lời câu hỏi từ 100 cử tri
Tác giả: trangdenonline
Thượng nghị sĩ John McCain và Barack Obama không tiếc lời công kích lẫn nhau trước cuộc tranh luận trực tiếp lần hai chuẩn bị diễn ra hôm nay.
Ứng viên đảng Cộng hòa McCain cáo buộc đối thủ Dân chủ Obama quá nhạy cảm. Ông cũng cho rằng thượng nghị sĩ da đen bỏ mặc cuộc khủng hoàng bất động sản phát triển. "Thực sự Barack Obama là ai?", ông hỏi đám đông tại bang New Mexico hôm qua. "Trong khi các ứng viên khác phải giải trình về bản thân và các hoạt động của họ, Thượng nghị sĩ Obama cảm thấy không cần làm thế".
Lời công kích này đưa ra trong khi phe của McCain tiếp tục chỉ trích Obama vì "kết thân" với người sáng lập ra phong trào cực đoan hồi thập niên 60 William Ayers. Phe Obama cáo buộc McCain "chơi xấu", đồng thời phản pháo lại bằng một đoạn video, cho thấy McCain liên quan tới một bê bối Keating Five về tài chính hai thập kỷ trước đó. "Các cử tri cần biết hết sự thật về mối liên quan giữa McCain và vụ Keating", người đứng đầu tranh cử của Obama - David Plouffe - cho biết hôm qua. Phe Obama cho rằng thượng nghị sĩ 72 tuổi "không nhất quán" về cuộc khủng hoảng tài chính.
Chiến dịch công kích cá nhân gay gắt này nổ ra trong thời điểm chỉ còn một ngày nữa là tới cuộc tranh luận trực tiếp lần thứ hai giữa hai ứng viên tổng thống Mỹ. McCain hy vọng sẽ xoay chuyển được tình thế vốn nghiêng về Obama do cuộc khủng hoảng kinh tế. Các cuộc trưng cầu đều cho thấy cử tri dành nhiều ưu ái hơn cho ứng viên da màu. Thêm vào đó, thị trường chứng khoán phố Wall giảm điểm hôm qua, khiến nhiều người lo ngại rằng gói cứu trợ 700 tỷ USD của chính phủ không thể giúp giảm nhiệt khủng hoảng.
Sau cuộc tranh luận đầu tiên, các cuộc trưng cầu đều cho thấy Obama giành phần thắng. Tuy nhiên, chương trình hôm nay được tổ chức theo phong cách quen thuộc với McCain hơn. Các ứng viên sẽ trả lời câu hỏi từ 100 cử tri
Tư bản hay Xã hội? Quan trọng nhất là dân chủ
Ngô Nhân Dụng
Từ năm 1989 không còn ai đặt câu hỏi nên lựa chọn Chủ Nghĩa Tư Bản hay Chủ Nghĩa Xã Hội nữa. Cho tới mấy tuần nay, vấn đề đó lại được gợi lên. Nhưng, chúng ta sẽ thấy, đó là một vấn đề giả, một vấn đề giả từ cả trăm năm trước đây.
Nhưng nhiều người mới nêu lên vấn đề đó với lòng thành thật. Thế giới đang chứng kiến cảnh chao đảo của các thị trường chứng khoán và các ngân hàng. Trong hai ngày qua thị trường New York tụt mất hơn 10% giá trị. Quốc hội và chính phủ Mỹ đã đồng ý kế hoạch giải cứu tốn 700 tỷ đô la rồi mà vẫn chưa tạo lại được niềm tin vào thị trường. Nhiều người ở Âu Châu tuyên bố thời đại thống trị của chủ nghĩa tư bản, hoặc ít nhất là chủ nghĩa tư bản theo lối Anglo Saxon (Mỹ và Anh Quốc) đã chấm dứt. Ngay sau đó, các thị trường chứng khoán và ngân hàng ở Âu Châu cũng lung lay. Thị trường Nga đã tụt giảm từ đầu năm, giữa Tháng Chín chính phủ Nga đã phải trợ giúp 100 tỷ, hôm qua mới đưa thêm 37 tỷ cho các ngân hàng vay, với những điều kiện còn dễ dãi hơn chính phủ Mỹ đặt ra cho các ngân hàng của họ. Một nước thịnh vượng lên chỉ nhờ dầu lửa tất nhiên cơn khủng hoảng cũng gia tăng khi dầu xuống giá.
Chúng ta chứng kiến cảnh nhà nước can thiệp để cứu thị trường ở khắp thế giới! Ngày xưa Tổng Thống Reagan nổi tiếng với lời tuyên bố khi tranh cử: “Chính phủ không phải là lời giải đáp cho các vấn đề của nước Mỹ! Chính cái chính phủ đó là vấn đề cần giải quyết!” Ông là vị tổng thống mở cánh cửa cho chủ thuyết kinh tế tự do được hồi sinh trong 25 năm qua, lên mạnh nhất trong thời Tổng Thống Bush. Bây giờ chúng ta chứng kiến cảnh các nhà tư bản tới yêu cầu chính phủ giúp giải quyết cuộc khủng hoảng của chính họ. Ngày Thứ Hai, ông cựu chủ tịch ngân hàng Lehman (đã phá sản hôm 15 Tháng Chín) được mời ra điều trần trước các dân biểu quốc hội, ông nói rằng mỗi đêm ông vẫn tự hỏi và cho đến khi chết ông sẽ còn tự hỏi không biết tại sao chính phủ Mỹ không giải cứu công ty của ông mà vài ngày sau lại cứu công ty bảo hiểm AIG!
Ở bên Anh, chính phủ đang dùng hàng trăm tỷ Mỹ kim cứu những ngân hàng lớn nhất nước, có ngân hàng gần như được quốc hữu hóa một phần. Nhưng các đại biểu quốc hội thuộc đảng Bảo Thủ đều đồng ý với các biện pháp của chính phủ thuộc đảng Lao Ðộng. Dù cánh tả hay cánh hữu, hai đảng lớn ở Anh đều coi việc chính phủ can thiệp để cứu thị trường là chuyện tự nhiên. Một nhà bình luận người Anh viết: Ở nước Anh bây giờ, ai cũng theo chủ nghĩa Dân Chủ Xã Hội.
Nhưng ở Mỹ thì còn nhiều cuộc tranh luận về chủ thuyết kinh tế. Những người rất bảo thủ và những người rất cấp tiến đều chống đạo luật giải cứu 700 tỷ của chính phủ Bush (một chính phủ được coi là bảo thủ), nhưng với những lý do khác nhau.
Nhiều dân biểu Hạ Viện Mỹ chống lại vì họ muốn bảo vệ nguyên tắc “chính phủ không can thiệp vào kinh tế; hãy để cho thị trường hoạt động tự do, lời ăn lỗ chịu!” Họ tố cáo đạo luật đó biến đang nước Mỹ thành một nước “xã hội chủ nghĩa!” Có người còn nói đây là một “hành động quốc hữu hóa” lớn nhất kể từ sau cuộc Cách Mạng Tháng Mười năm 1917 ở Nga! Nhiều dân biểu thiên tả chống, nhưng với lý do ngược lại: Các nhà tư bản đã được tự do nhiều quá nên làm bậy! Tại sao người dân đóng thuế phải đem tiền cứu họ khi chính họ gây ra mối họa mà cả nước phải gánh chịu?
Có thể nói cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2008 đã làm sống lại cuộc tranh luận từ thế kỷ trước: Chủ Nghĩa Tư Bản hay Chủ Nghĩa Xã Hội?
Nhưng đây là một cách đặt vấn đề sai. Vì đặt căn bản trên những lý thuyết cực đoan mà bây giờ không còn ai tin nữa. Một là lý thuyết kinh tế tự do tuyệt đối. Hai là lý thuyết cộng sản, dùng nhà nước để điều hành tất cả mọi hoạt động kinh tế, từ đó nhà nước thành chủ nhân của cả xã hội, can thiệp vào mọi sinh hoạt không riêng gì lãnh vực kinh tế.
Bây giờ trên thế giới không còn ai muốn theo những đường lối đó, chắc chỉ còn trừ xứ Bắc Hàn vẫn theo chủ nghĩa cộng sản.
Nếu vấn đề trên là giả, thì đâu là sự lựa chọn thực sự? Từ hàng trăm năm nay, vẫn có một vấn đề cho mọi người chọn lựa, là làm sao cân bằng quyền lực giữa thị trường tự do với vai trò của nhà nước.
Chính phủ Mỹ đã nhiều lần can thiệp vào thị trường, lần lớn nhất là sau cuộc khủng hoảng năm 1929. Những đạo luật ra đời dưới thời Tổng Thống Franklin Roosevelt đã chấm dứt một thời kỳ “tư bản sơ khai” ở nước Mỹ, hệ thống tài chánh và ngân hàng được đặt trong vòng kỷ luật chặt chẽ hơn. Sau đó còn nhiều lần khác, gần đây nhất là năm 1989, khi chính phủ Bush (thân phụ ông Bush bây giờ) đứng ra giải cứu các ngân hàng tiết kiệm sau mấy năm khủng hoảng khiến hàng ngàn ngân hàng nhỏ sụp đổ. Ðó là chưa kể những vụ can thiệp lẻ tẻ vào năm 1998 khi một quỹ đầu tư lớn sập suýt nữa kéo theo cả thị trường New York, hay là hồi 1987 khi thị trường New York mất 22% giá trị trong một ngày Thứ Hai Ðen.
Ở nước Mỹ, cuộc cạnh tranh giữa “nhà nước” và “thị trường” không bao giờ ngừng. Có những người nhiệt liệt tin rằng cả guồng máy nhà nước chỉ là cái chướng ngại làm cho thị trường không phát huy được những khả năng giúp cho mọi người sống sung túc, thịnh vượng hơn. Cứ để yên cho nó tự do, thị trường sẽ tự điều chỉnh và tự giải quyết mọi khó khăn. Ngược lại, có những người tin tưởng triệt để là nhà nước không thể nào nhác mắt bỏ qua không giám sát các hoạt động của thị trường. Không những nhà nước đóng vai điều hòa quyền lợi của mọi tầng lớp trong xã hội, mà còn lo giúp các nhà tư bản hoạt động trong trật tự để bảo vệ chính họ.
Cuộc tranh luận giữa hai lối suy nghĩ đó đã bắt đầu từ hàng trăm năm, và có thể sẽ còn kéo dài trong hàng trăm năm nữa!
Các nước Âu Châu, đặc biệt là các nước Bắc Âu cũng có những cuộc tranh luận như vậy, nhưng những nước có lịch sử lâu đời (hay gọi là già nua) này nghiêng về phía đề cao vai trò của nhà nước trong việc điều hòa quyền lợi giữa các tầng lớp dân chúng. Nhưng về mặt giám sát thị trường thì có những nước Âu Châu cũng không khác gì nước Mỹ. Anh Quốc là một thí dụ. Người Anh đều đồng ý phải để chính phủ lo vấn đề y tế, chính phủ phải lo vấn đề chuyên chở. Nhưng chính phủ Anh lại cho các xí nghiệp và ngân hàng được tự do không thua gì chính phủ Mỹ.
Cuộc chạy đua giữa thị trường và nhà nước diễn ra hàng ngày, mỗi bên đều cố giành thêm quyền cho mình. Hễ chính phủ làm thêm luật, là các nhà kinh doanh khó chịu và phản đối, dù đó là luật kiểm soát thực phẩm hay luật bắt các ngân hàng phải giữ số vốn dự trữ cao. Ngược lại, guồng máy hành chánh của nước nào, dưới chế độ nào cũng tìm cách mở rộng quyền hành của mình bằng cách đặt ra những luật mới!
Cho nên, sự lựa chọn của mỗi quốc gia sẽ khác nhau. Mỗi nước sẽ ấn định một thế quân bình giữa quyền giám sát của nhà nước và quyền tự do của thị trường. Bình thường, thì cuộc tranh đấu giữa hai bên diễn ra liên tục, không ngừng, mỗi bên đều tìm cơ hội giành lấy thêm quyền cho mình.
Ai đứng làm trọng tài cho cuộc chạy đua đó? Ở những quốc gia dân chủ tự do thì trọng tài cuối cùng vẫn là người dân. Chính các cử tri khi đi bỏ phiếu sẽ lựa chọn những đường lối kinh tế của vị tổng thống và của quốc hội sắp tới.
Nhưng người dân bình thường có đủ kiến thức để chọn một đường lối kinh tế tốt nhất hay không? Ðây cũng là một câu hỏi sai. Trong thế giới loài người không có cái gì là tối hảo! Người dân một nước chọn một đường lối là theo nhu cầu của họ, khi họ đi bỏ phiếu. Nếu họ chọn sai, họ sẽ gánh hậu quả. Dân chúng có quyền chọn sai, đó là bản chất của chế độ tự do dân chủ. Nhưng sau mấy năm, họ thấy sai họ có quyền sửa đổi bằng lá phiếu!
Người dân Mỹ vẫn làm công việc lựa chọn và thay đổi đó từ hơn 200 năm nay. Sau khi kinh tế nước Mỹ trì trệ trong thập niên 1970 chẳng hạn, Tổng Thống Reagan nhân cơ hội đó mở cửa cho giới kinh doanh được tự do hơn, kêu gọi giảm bớt luật lệ và guồng máy nhà nước thi hành luật. Lúc đó ông Reagan được dân Mỹ hoan nghênh, vì người bình thường không phải chủ xí nghiệp hay ngân hàng cũng cảm thấy đang khó thở muốn được cởi trói! Nhưng bây giờ, cuộc khủng hoảng tài chánh khiến cả nước Mỹ thấy những nhà tư bản đã tạo nghiệp mà cả nước phải chịu cảnh khốn đốn. Cho nên cả hai ứng cử viên tổng thống Mỹ năm nay đều kêu gọi phải xét lại, cần hạn chế quyền tự do của các nhà tư bản để họ bớt làm bậy. Tức là lại thêm luật lệ và thêm người lo việc thi hành luật!
Người ta thường nói sức mạnh của nước Mỹ là do hệ thống kinh tế tư bản. Không phải như vậy đâu. Nước này họ mạnh chính vì họ giữ được một chế độ tự do dân chủ hơn 200 năm qua.
Ngô Nhân Dụng
Từ năm 1989 không còn ai đặt câu hỏi nên lựa chọn Chủ Nghĩa Tư Bản hay Chủ Nghĩa Xã Hội nữa. Cho tới mấy tuần nay, vấn đề đó lại được gợi lên. Nhưng, chúng ta sẽ thấy, đó là một vấn đề giả, một vấn đề giả từ cả trăm năm trước đây.
Nhưng nhiều người mới nêu lên vấn đề đó với lòng thành thật. Thế giới đang chứng kiến cảnh chao đảo của các thị trường chứng khoán và các ngân hàng. Trong hai ngày qua thị trường New York tụt mất hơn 10% giá trị. Quốc hội và chính phủ Mỹ đã đồng ý kế hoạch giải cứu tốn 700 tỷ đô la rồi mà vẫn chưa tạo lại được niềm tin vào thị trường. Nhiều người ở Âu Châu tuyên bố thời đại thống trị của chủ nghĩa tư bản, hoặc ít nhất là chủ nghĩa tư bản theo lối Anglo Saxon (Mỹ và Anh Quốc) đã chấm dứt. Ngay sau đó, các thị trường chứng khoán và ngân hàng ở Âu Châu cũng lung lay. Thị trường Nga đã tụt giảm từ đầu năm, giữa Tháng Chín chính phủ Nga đã phải trợ giúp 100 tỷ, hôm qua mới đưa thêm 37 tỷ cho các ngân hàng vay, với những điều kiện còn dễ dãi hơn chính phủ Mỹ đặt ra cho các ngân hàng của họ. Một nước thịnh vượng lên chỉ nhờ dầu lửa tất nhiên cơn khủng hoảng cũng gia tăng khi dầu xuống giá.
Chúng ta chứng kiến cảnh nhà nước can thiệp để cứu thị trường ở khắp thế giới! Ngày xưa Tổng Thống Reagan nổi tiếng với lời tuyên bố khi tranh cử: “Chính phủ không phải là lời giải đáp cho các vấn đề của nước Mỹ! Chính cái chính phủ đó là vấn đề cần giải quyết!” Ông là vị tổng thống mở cánh cửa cho chủ thuyết kinh tế tự do được hồi sinh trong 25 năm qua, lên mạnh nhất trong thời Tổng Thống Bush. Bây giờ chúng ta chứng kiến cảnh các nhà tư bản tới yêu cầu chính phủ giúp giải quyết cuộc khủng hoảng của chính họ. Ngày Thứ Hai, ông cựu chủ tịch ngân hàng Lehman (đã phá sản hôm 15 Tháng Chín) được mời ra điều trần trước các dân biểu quốc hội, ông nói rằng mỗi đêm ông vẫn tự hỏi và cho đến khi chết ông sẽ còn tự hỏi không biết tại sao chính phủ Mỹ không giải cứu công ty của ông mà vài ngày sau lại cứu công ty bảo hiểm AIG!
Ở bên Anh, chính phủ đang dùng hàng trăm tỷ Mỹ kim cứu những ngân hàng lớn nhất nước, có ngân hàng gần như được quốc hữu hóa một phần. Nhưng các đại biểu quốc hội thuộc đảng Bảo Thủ đều đồng ý với các biện pháp của chính phủ thuộc đảng Lao Ðộng. Dù cánh tả hay cánh hữu, hai đảng lớn ở Anh đều coi việc chính phủ can thiệp để cứu thị trường là chuyện tự nhiên. Một nhà bình luận người Anh viết: Ở nước Anh bây giờ, ai cũng theo chủ nghĩa Dân Chủ Xã Hội.
Nhưng ở Mỹ thì còn nhiều cuộc tranh luận về chủ thuyết kinh tế. Những người rất bảo thủ và những người rất cấp tiến đều chống đạo luật giải cứu 700 tỷ của chính phủ Bush (một chính phủ được coi là bảo thủ), nhưng với những lý do khác nhau.
Nhiều dân biểu Hạ Viện Mỹ chống lại vì họ muốn bảo vệ nguyên tắc “chính phủ không can thiệp vào kinh tế; hãy để cho thị trường hoạt động tự do, lời ăn lỗ chịu!” Họ tố cáo đạo luật đó biến đang nước Mỹ thành một nước “xã hội chủ nghĩa!” Có người còn nói đây là một “hành động quốc hữu hóa” lớn nhất kể từ sau cuộc Cách Mạng Tháng Mười năm 1917 ở Nga! Nhiều dân biểu thiên tả chống, nhưng với lý do ngược lại: Các nhà tư bản đã được tự do nhiều quá nên làm bậy! Tại sao người dân đóng thuế phải đem tiền cứu họ khi chính họ gây ra mối họa mà cả nước phải gánh chịu?
Có thể nói cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2008 đã làm sống lại cuộc tranh luận từ thế kỷ trước: Chủ Nghĩa Tư Bản hay Chủ Nghĩa Xã Hội?
Nhưng đây là một cách đặt vấn đề sai. Vì đặt căn bản trên những lý thuyết cực đoan mà bây giờ không còn ai tin nữa. Một là lý thuyết kinh tế tự do tuyệt đối. Hai là lý thuyết cộng sản, dùng nhà nước để điều hành tất cả mọi hoạt động kinh tế, từ đó nhà nước thành chủ nhân của cả xã hội, can thiệp vào mọi sinh hoạt không riêng gì lãnh vực kinh tế.
Bây giờ trên thế giới không còn ai muốn theo những đường lối đó, chắc chỉ còn trừ xứ Bắc Hàn vẫn theo chủ nghĩa cộng sản.
Nếu vấn đề trên là giả, thì đâu là sự lựa chọn thực sự? Từ hàng trăm năm nay, vẫn có một vấn đề cho mọi người chọn lựa, là làm sao cân bằng quyền lực giữa thị trường tự do với vai trò của nhà nước.
Chính phủ Mỹ đã nhiều lần can thiệp vào thị trường, lần lớn nhất là sau cuộc khủng hoảng năm 1929. Những đạo luật ra đời dưới thời Tổng Thống Franklin Roosevelt đã chấm dứt một thời kỳ “tư bản sơ khai” ở nước Mỹ, hệ thống tài chánh và ngân hàng được đặt trong vòng kỷ luật chặt chẽ hơn. Sau đó còn nhiều lần khác, gần đây nhất là năm 1989, khi chính phủ Bush (thân phụ ông Bush bây giờ) đứng ra giải cứu các ngân hàng tiết kiệm sau mấy năm khủng hoảng khiến hàng ngàn ngân hàng nhỏ sụp đổ. Ðó là chưa kể những vụ can thiệp lẻ tẻ vào năm 1998 khi một quỹ đầu tư lớn sập suýt nữa kéo theo cả thị trường New York, hay là hồi 1987 khi thị trường New York mất 22% giá trị trong một ngày Thứ Hai Ðen.
Ở nước Mỹ, cuộc cạnh tranh giữa “nhà nước” và “thị trường” không bao giờ ngừng. Có những người nhiệt liệt tin rằng cả guồng máy nhà nước chỉ là cái chướng ngại làm cho thị trường không phát huy được những khả năng giúp cho mọi người sống sung túc, thịnh vượng hơn. Cứ để yên cho nó tự do, thị trường sẽ tự điều chỉnh và tự giải quyết mọi khó khăn. Ngược lại, có những người tin tưởng triệt để là nhà nước không thể nào nhác mắt bỏ qua không giám sát các hoạt động của thị trường. Không những nhà nước đóng vai điều hòa quyền lợi của mọi tầng lớp trong xã hội, mà còn lo giúp các nhà tư bản hoạt động trong trật tự để bảo vệ chính họ.
Cuộc tranh luận giữa hai lối suy nghĩ đó đã bắt đầu từ hàng trăm năm, và có thể sẽ còn kéo dài trong hàng trăm năm nữa!
Các nước Âu Châu, đặc biệt là các nước Bắc Âu cũng có những cuộc tranh luận như vậy, nhưng những nước có lịch sử lâu đời (hay gọi là già nua) này nghiêng về phía đề cao vai trò của nhà nước trong việc điều hòa quyền lợi giữa các tầng lớp dân chúng. Nhưng về mặt giám sát thị trường thì có những nước Âu Châu cũng không khác gì nước Mỹ. Anh Quốc là một thí dụ. Người Anh đều đồng ý phải để chính phủ lo vấn đề y tế, chính phủ phải lo vấn đề chuyên chở. Nhưng chính phủ Anh lại cho các xí nghiệp và ngân hàng được tự do không thua gì chính phủ Mỹ.
Cuộc chạy đua giữa thị trường và nhà nước diễn ra hàng ngày, mỗi bên đều cố giành thêm quyền cho mình. Hễ chính phủ làm thêm luật, là các nhà kinh doanh khó chịu và phản đối, dù đó là luật kiểm soát thực phẩm hay luật bắt các ngân hàng phải giữ số vốn dự trữ cao. Ngược lại, guồng máy hành chánh của nước nào, dưới chế độ nào cũng tìm cách mở rộng quyền hành của mình bằng cách đặt ra những luật mới!
Cho nên, sự lựa chọn của mỗi quốc gia sẽ khác nhau. Mỗi nước sẽ ấn định một thế quân bình giữa quyền giám sát của nhà nước và quyền tự do của thị trường. Bình thường, thì cuộc tranh đấu giữa hai bên diễn ra liên tục, không ngừng, mỗi bên đều tìm cơ hội giành lấy thêm quyền cho mình.
Ai đứng làm trọng tài cho cuộc chạy đua đó? Ở những quốc gia dân chủ tự do thì trọng tài cuối cùng vẫn là người dân. Chính các cử tri khi đi bỏ phiếu sẽ lựa chọn những đường lối kinh tế của vị tổng thống và của quốc hội sắp tới.
Nhưng người dân bình thường có đủ kiến thức để chọn một đường lối kinh tế tốt nhất hay không? Ðây cũng là một câu hỏi sai. Trong thế giới loài người không có cái gì là tối hảo! Người dân một nước chọn một đường lối là theo nhu cầu của họ, khi họ đi bỏ phiếu. Nếu họ chọn sai, họ sẽ gánh hậu quả. Dân chúng có quyền chọn sai, đó là bản chất của chế độ tự do dân chủ. Nhưng sau mấy năm, họ thấy sai họ có quyền sửa đổi bằng lá phiếu!
Người dân Mỹ vẫn làm công việc lựa chọn và thay đổi đó từ hơn 200 năm nay. Sau khi kinh tế nước Mỹ trì trệ trong thập niên 1970 chẳng hạn, Tổng Thống Reagan nhân cơ hội đó mở cửa cho giới kinh doanh được tự do hơn, kêu gọi giảm bớt luật lệ và guồng máy nhà nước thi hành luật. Lúc đó ông Reagan được dân Mỹ hoan nghênh, vì người bình thường không phải chủ xí nghiệp hay ngân hàng cũng cảm thấy đang khó thở muốn được cởi trói! Nhưng bây giờ, cuộc khủng hoảng tài chánh khiến cả nước Mỹ thấy những nhà tư bản đã tạo nghiệp mà cả nước phải chịu cảnh khốn đốn. Cho nên cả hai ứng cử viên tổng thống Mỹ năm nay đều kêu gọi phải xét lại, cần hạn chế quyền tự do của các nhà tư bản để họ bớt làm bậy. Tức là lại thêm luật lệ và thêm người lo việc thi hành luật!
Người ta thường nói sức mạnh của nước Mỹ là do hệ thống kinh tế tư bản. Không phải như vậy đâu. Nước này họ mạnh chính vì họ giữ được một chế độ tự do dân chủ hơn 200 năm qua.
Nông Đức Mạnh cầu học Kim Chính Nhật
Ngô Nhân Dụng
Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đang họp Trung Ương Ðảng mà một đề tài quan trọng nhất là cho phép nông dân mua bán tự do “quyền sử dụng” ruộng đất. Dự án mới cho phép người dân được mua bán quyền sử dụng này giữa các cá nhân hoặc các công ty, đồng thời được phép cầm cố ruộng, đất để gây vốn làm ăn. Các nhà quan sát thấy đây là một bước chuẩn bị cho việc tư hữu hóa, dần dần xóa bỏ chính sách công hữu hóa ruộng đất thi hành từ khi đảng Cộng Sản chiếm chính quyền năm 1949. Từ nhiều năm qua các kinh tế gia Trung Hoa đã đề nghị tư hữu hóa ruộng đất để gia tăng phát triển kinh tế nông thôn, nhưng cho đến nay đảng Cộng Sản vẫn chưa dám thực hiện vì họ nắm quyền sở hữu ruộng đất cũng như chế độ hộ khẩu để kiểm soát đời sống 730 triệu nông dân.
Khi Trung Quốc bắt đầu cải tổ kinh tế 30 năm trước, nông thôn là nơi được cởi trói đầu tiên. Nhờ người dân được tự do, năng suất nông nghiệp tăng nhanh, các xí nghiệp hương thôn ra đời, đời sống nông dân được cải thiện. Nhưng sau vụ Thiên An Môn năm 1989, Giang Trạch Dân chuyển hướng, chú trọng vào các doanh nghiệp nhà nước, hạn chế quyền lợi của nông dân. Ðảng Cộng Sản Trung Quốc hiện theo chủ trương “lấy nông thôn nuôi thành thị.” Những người được hưởng lợi nhiều nhất là dân ở các thành phố, còn nông dân bị bỏ quên.
Trong thực tế, hiện nay người dân Trung Quốc (cũng như ở Việt Nam) đã tự ý trao đổi, mua bán quyền sử dụng đất đai rồi. Nhưng đó là những hành động bên lề pháp luật, tồn tại được nhờ các quan chức nhắm mắt bỏ qua. Chính sách mập mờ đó tạo cơ hội tham nhũng và vẫn không tạo thành những món vốn lớn, không khuyến khích cải thiện năng suất. Nếu mai mốt Bắc Kinh làm một cuộc “cải cách ruộng đất ngược chiều,” cho nông dân được tự do mua bán, cầm thế, rồi tiến đến công nhận quyền sở hữu ruộng đất tư, thì nông thôn Trung Quốc sẽ có cơ hội phát triển nhanh hơn, tiền vốn được huy động nhiều hơn, có thể giải quyết được vấn nạn của 150 triệu nông dân thiếu việc làm lang thang tới các thành phố tìm việc và không có hộ khẩu. Các người lãnh đạo cộng sản Trung Quốc cũng hiểu rằng khi người dân được tự do hơn thì kinh tế và xã hội đều phát triển tốt đẹp hơn.
Khi đảng Cộng Sản Trung Quốc đã thay đổi rồi, hy vọng cộng sản ở Việt Nam cũng được học tập và làm theo. Nhưng trong khi chờ đợi, các người cầm đầu đảng ở Hà Nội lại cho thấy họ đang đi tìm học ở chỗ khác! Trước đây chúng ta vẫn biết Cộng Sản Việt Nam coi Cộng Sản Trung Quốc là thầy. Nay họ đang đi cầu viện ông Kim Chính Nhật!
Ðầu tuần lễ này, một ủy viên cao cấp Bộ Chính Trị là ông Lê Hồng Anh, một đại tướng bộ trưởng bộ công an, cầm đầu một phái đoàn sang ký thỏa ước cộng tác với bộ công an chính phủ Bắc Hàn. Ngày Thứ Ba mùng 7 Tháng Mười vừa rồi ông Lê Hồng Anh đã được Kim Vĩnh Nam, con trai ông Kim Chính Nhật tiếp đón trong lúc ông bố nằm bệnh, không ai biết là bệnh gì. Theo báo chí Nhật Bản tường thuật, Lê Hồng Anh tuyên bố tại trụ sở quốc hội Bắc Hàn rằng, “Trong khi tham quan Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên, phái đoàn đã chứng kiến những thành công to lớn mà nhân dân Triều Tiên đã gặt hái được trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Ðảng Công Nhân Triều Tiên do lãnh tụ kính yêu Kim Chính Nhật lãnh đạo.” Ông Lê Hồng Anh nhân dịp này đã ca tụng cả mối tình đồng chí thắm thiết giữa Hồ Chí Minh và Kim Nhật Thành, bố của ông Kim Chính Nhật.
Lê Hồng Anh giả bộ không biết hàng triệu dân Bắc Hàn đang bị nạn đói đe dọa, không nhớ chuyện lãnh tụ kính yêu Kim Chính Nhật đã để cho hai triệu nông dân chết đói hơn mười năm trước đây. Ðó là thành quả xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội của bố con ông Kim! Cứ nghĩ đến cảnh tượng ở Bắc Hàn mà người Việt Nam đã thấy ghê rợn!
Dân Việt Nam đang tự hỏi Ðảng Cộng Sản sẽ xoay xở thế nào để người dân không phải chịu họa lạm phát đã từng lên tới 30% một năm, làm cách nào để giảm giá xăng dầu trong nước sau khi giá dầu thô trên thế giới đã giảm từ 147 đô la một thùng hồi Tháng Bảy xuống chỉ còn 84 đô la một thùng? Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn đang lo học tập các kỹ thuật kìm kẹp dân của chính quyền Bình Nhưỡng. Nhờ các kỹ thuật tinh vi đó cho nên dân Bắc Hàn bị đói thì cố nhịn chứ không ai dám nghĩ tới chuyện chống lại nhà nước cộng sản.
Cộng Sản Việt Nam đang cần học tập công an Bắc Hàn. Vì chính họ đang lo phải đối phó với dân Việt. Không phải chỉ có những vụ giáo dân thắp nến cầu nguyện đòi trả lại đất cho giáo hội khiến chính quyền lo lắng. Họ lo nhất là những vụ biểu tình khác sẽ xẩy ra khi những người dân nghèo nhất nước không còn chịu nổi cảnh thóc cao gạo kém, xăng dầu lên giá, cường hào bất công và cảnh ăn cắp, tham nhũng trâng tráo đầy rẫy trong lớp người thống trị. Mối lo lớn nhất của chính quyền cộng sản là lạm phát.
Từ đầu năm 2008 khi tỷ lệ lạm phát lên tới 14%, cả nước đã báo động. Nhưng sau đó lạm phát cứ thế leo thang, lên tới 20%, hơn 25%, rồi tới 30% một năm. Coi như số tiền kiếm được của tất cả mọi người dân Việt Nam bị giảm mất 30%, giống như bị đánh thuế 30%. Nông dân và công nhân là những người bị đánh đau nhất! Vì món chi tiêu lớn nhất của họ là ăn, uống, mà thực phẩm thì bị tăng giá gấp đôi con số chính thức 30%. Những người nghèo nhất nước, nhưng người lãnh lương tối thiểu đang bị đánh thuế 60% trên lợi tức của họ!
Sau khi Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản công khai khiển trách chính phủ Nguyễn Tấn Dũng về việc điều hành kinh tế, Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng họp vào Tháng Bảy vừa qua đã trao quyền quyết định về kinh tế cho Bộ Chính Trị, một cách làm nhục ông Nguyễn Tấn Dũng mà không phải cất chức. Nhưng trong ba tháng qua, Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản đã làm gì để giúp cho kinh tế nước ta ổn định được giá cả? Chưa có gì cả. Cho nên trong tuần trước, Trung Ương Ðảng lại họp lần nữa, một phiên họp vừa bất thường vừa khẩn cấp; và đề tài chính vẫn là lạm phát.
Bài diễn văn khai mạc phiên họp của ông Nông Ðức Mạnh đã nói đến lạm phát như mối nguy lớn nhất, tiếp theo là cán cân thương mại thâm thủng (mặc dù xuất cảng đã gia tăng), và công nhân đình công liên tiếp. Ông Mạnh chưa nói thêm một báo nguy kinh tế nữa, là năm nay số tiền “Việt kiều” gửi về nước thế nào cũng giảm xuống, khi kinh tế các nước Âu Mỹ đều suy yếu! Sau khi kể các tai họa, ông Nông Ðức Mạnh yêu cầu hội nghị Trung Ương Ðảng hãy tìm hiểu các nguyên do của tình trạng lạm phát trầm trọng hiện nay và các tìm biện pháp đối phó.
Nên nhớ lại rằng ông Nông Ðức Mạnh là người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay, và đảng này tự nhận chỉ có họ mới lãnh đạo được nước Việt Nam, không thể thay thế họ được. Nhưng bây giờ là Tháng Mười năm 2008, một năm sau khi cơn khủng hoảng lạm phát ở Việt Nam bắt đầu bùng nổ, người lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản còn chưa biết, còn yêu cầu Trung Ương Ðảng tìm hiểu coi nguyên nhân vì đâu đưa tới trận bão lạm phát hiện nay!
Nhưng 160 người trong Trung Ương Ðảng làm cách nào ngồi hút thuốc với nhau rồi tìm ra những nguyên nhân và bầy ra phương cách giải quyết nạn lạm phát, nạn thâm thủng cán cân chi phó, và làm sao bắt các công nhân nhịn đói hoặc cho con nghỉ học mà không đi biểu tình đòi tăng lương? Một chính phủ có những guồng máy chuyên viên trong ba bốn bộ phụ trách kinh tế, tài chánh, kế hoạch, đầu tư, và cả một bộ tham mưu đầu não của ngân hàng trung ương; tại sao ông tổng bí thư không yêu cầu họ trả lời nguyên nhân vì sao sinh ra lạm phát để công nhân Việt Nam bị mất 60% số tiền lương tối thiểu của họ? Các chuyên viên kinh tế tài chánh ở nước ta đâu có thua kém gì người nước khác, tại sao không hỏi ý kiến họ?
Nhưng khi 160 ủy viên Trung Ương Ðảng Cộng Sản họp, thực ra họ không lo vấn đề kinh tế, tài chánh quốc gia. Họ lo nhất là vấn đề kinh tế tài chánh của gia đình, của vợ con trước hết. Cho nên họ họp nhau là để bảo đảm những món bổng lộc đang hưởng không bị mất. Và cuộc họp Trung Ương Ðảng lần này, cũng như lần trước, là một cơ hội để hai phe Nguyễn Tấn Dũng và Nông Ðức Mạnh tấn công lẫn nhau tranh giành quyền lực. Cho tới nay, chưa biết kết quả ông Mạnh thắng hay ông Dũng thắng. Nếu hai bên vẫn chưa phân thắng bại thì có thể sẽ dẫn tới một đại hội giữa kỳ để cuộc tranh hùng tiếp tục.
Trong khi chờ đợi các tay đầu đảng phân ngôi vị cao thấp thì người dân vẫn phải lo với việc làm sao mua đủ gạo, đóng đủ tiền cho con đi học, các xí nghiệp lo có tiền đủ để mua xăng chạy máy, chạy xe. Cho nên, đảng Cộng Sản đang lo ngại là phải. Ðồng bào Công giáo biểu tình còn thu hẹp trong phạm vi gần nhà thờ. Khi các công nhân và nông dân xuống đường thì sẽ đông và lan rộng khắp nơi. Lúc này cử ông Lê Hồng Anh sang cầu viện Bắc Hàn đúng là rất hợp thời!
Ngô Nhân Dụng
Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đang họp Trung Ương Ðảng mà một đề tài quan trọng nhất là cho phép nông dân mua bán tự do “quyền sử dụng” ruộng đất. Dự án mới cho phép người dân được mua bán quyền sử dụng này giữa các cá nhân hoặc các công ty, đồng thời được phép cầm cố ruộng, đất để gây vốn làm ăn. Các nhà quan sát thấy đây là một bước chuẩn bị cho việc tư hữu hóa, dần dần xóa bỏ chính sách công hữu hóa ruộng đất thi hành từ khi đảng Cộng Sản chiếm chính quyền năm 1949. Từ nhiều năm qua các kinh tế gia Trung Hoa đã đề nghị tư hữu hóa ruộng đất để gia tăng phát triển kinh tế nông thôn, nhưng cho đến nay đảng Cộng Sản vẫn chưa dám thực hiện vì họ nắm quyền sở hữu ruộng đất cũng như chế độ hộ khẩu để kiểm soát đời sống 730 triệu nông dân.
Khi Trung Quốc bắt đầu cải tổ kinh tế 30 năm trước, nông thôn là nơi được cởi trói đầu tiên. Nhờ người dân được tự do, năng suất nông nghiệp tăng nhanh, các xí nghiệp hương thôn ra đời, đời sống nông dân được cải thiện. Nhưng sau vụ Thiên An Môn năm 1989, Giang Trạch Dân chuyển hướng, chú trọng vào các doanh nghiệp nhà nước, hạn chế quyền lợi của nông dân. Ðảng Cộng Sản Trung Quốc hiện theo chủ trương “lấy nông thôn nuôi thành thị.” Những người được hưởng lợi nhiều nhất là dân ở các thành phố, còn nông dân bị bỏ quên.
Trong thực tế, hiện nay người dân Trung Quốc (cũng như ở Việt Nam) đã tự ý trao đổi, mua bán quyền sử dụng đất đai rồi. Nhưng đó là những hành động bên lề pháp luật, tồn tại được nhờ các quan chức nhắm mắt bỏ qua. Chính sách mập mờ đó tạo cơ hội tham nhũng và vẫn không tạo thành những món vốn lớn, không khuyến khích cải thiện năng suất. Nếu mai mốt Bắc Kinh làm một cuộc “cải cách ruộng đất ngược chiều,” cho nông dân được tự do mua bán, cầm thế, rồi tiến đến công nhận quyền sở hữu ruộng đất tư, thì nông thôn Trung Quốc sẽ có cơ hội phát triển nhanh hơn, tiền vốn được huy động nhiều hơn, có thể giải quyết được vấn nạn của 150 triệu nông dân thiếu việc làm lang thang tới các thành phố tìm việc và không có hộ khẩu. Các người lãnh đạo cộng sản Trung Quốc cũng hiểu rằng khi người dân được tự do hơn thì kinh tế và xã hội đều phát triển tốt đẹp hơn.
Khi đảng Cộng Sản Trung Quốc đã thay đổi rồi, hy vọng cộng sản ở Việt Nam cũng được học tập và làm theo. Nhưng trong khi chờ đợi, các người cầm đầu đảng ở Hà Nội lại cho thấy họ đang đi tìm học ở chỗ khác! Trước đây chúng ta vẫn biết Cộng Sản Việt Nam coi Cộng Sản Trung Quốc là thầy. Nay họ đang đi cầu viện ông Kim Chính Nhật!
Ðầu tuần lễ này, một ủy viên cao cấp Bộ Chính Trị là ông Lê Hồng Anh, một đại tướng bộ trưởng bộ công an, cầm đầu một phái đoàn sang ký thỏa ước cộng tác với bộ công an chính phủ Bắc Hàn. Ngày Thứ Ba mùng 7 Tháng Mười vừa rồi ông Lê Hồng Anh đã được Kim Vĩnh Nam, con trai ông Kim Chính Nhật tiếp đón trong lúc ông bố nằm bệnh, không ai biết là bệnh gì. Theo báo chí Nhật Bản tường thuật, Lê Hồng Anh tuyên bố tại trụ sở quốc hội Bắc Hàn rằng, “Trong khi tham quan Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên, phái đoàn đã chứng kiến những thành công to lớn mà nhân dân Triều Tiên đã gặt hái được trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Ðảng Công Nhân Triều Tiên do lãnh tụ kính yêu Kim Chính Nhật lãnh đạo.” Ông Lê Hồng Anh nhân dịp này đã ca tụng cả mối tình đồng chí thắm thiết giữa Hồ Chí Minh và Kim Nhật Thành, bố của ông Kim Chính Nhật.
Lê Hồng Anh giả bộ không biết hàng triệu dân Bắc Hàn đang bị nạn đói đe dọa, không nhớ chuyện lãnh tụ kính yêu Kim Chính Nhật đã để cho hai triệu nông dân chết đói hơn mười năm trước đây. Ðó là thành quả xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội của bố con ông Kim! Cứ nghĩ đến cảnh tượng ở Bắc Hàn mà người Việt Nam đã thấy ghê rợn!
Dân Việt Nam đang tự hỏi Ðảng Cộng Sản sẽ xoay xở thế nào để người dân không phải chịu họa lạm phát đã từng lên tới 30% một năm, làm cách nào để giảm giá xăng dầu trong nước sau khi giá dầu thô trên thế giới đã giảm từ 147 đô la một thùng hồi Tháng Bảy xuống chỉ còn 84 đô la một thùng? Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn đang lo học tập các kỹ thuật kìm kẹp dân của chính quyền Bình Nhưỡng. Nhờ các kỹ thuật tinh vi đó cho nên dân Bắc Hàn bị đói thì cố nhịn chứ không ai dám nghĩ tới chuyện chống lại nhà nước cộng sản.
Cộng Sản Việt Nam đang cần học tập công an Bắc Hàn. Vì chính họ đang lo phải đối phó với dân Việt. Không phải chỉ có những vụ giáo dân thắp nến cầu nguyện đòi trả lại đất cho giáo hội khiến chính quyền lo lắng. Họ lo nhất là những vụ biểu tình khác sẽ xẩy ra khi những người dân nghèo nhất nước không còn chịu nổi cảnh thóc cao gạo kém, xăng dầu lên giá, cường hào bất công và cảnh ăn cắp, tham nhũng trâng tráo đầy rẫy trong lớp người thống trị. Mối lo lớn nhất của chính quyền cộng sản là lạm phát.
Từ đầu năm 2008 khi tỷ lệ lạm phát lên tới 14%, cả nước đã báo động. Nhưng sau đó lạm phát cứ thế leo thang, lên tới 20%, hơn 25%, rồi tới 30% một năm. Coi như số tiền kiếm được của tất cả mọi người dân Việt Nam bị giảm mất 30%, giống như bị đánh thuế 30%. Nông dân và công nhân là những người bị đánh đau nhất! Vì món chi tiêu lớn nhất của họ là ăn, uống, mà thực phẩm thì bị tăng giá gấp đôi con số chính thức 30%. Những người nghèo nhất nước, nhưng người lãnh lương tối thiểu đang bị đánh thuế 60% trên lợi tức của họ!
Sau khi Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản công khai khiển trách chính phủ Nguyễn Tấn Dũng về việc điều hành kinh tế, Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng họp vào Tháng Bảy vừa qua đã trao quyền quyết định về kinh tế cho Bộ Chính Trị, một cách làm nhục ông Nguyễn Tấn Dũng mà không phải cất chức. Nhưng trong ba tháng qua, Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản đã làm gì để giúp cho kinh tế nước ta ổn định được giá cả? Chưa có gì cả. Cho nên trong tuần trước, Trung Ương Ðảng lại họp lần nữa, một phiên họp vừa bất thường vừa khẩn cấp; và đề tài chính vẫn là lạm phát.
Bài diễn văn khai mạc phiên họp của ông Nông Ðức Mạnh đã nói đến lạm phát như mối nguy lớn nhất, tiếp theo là cán cân thương mại thâm thủng (mặc dù xuất cảng đã gia tăng), và công nhân đình công liên tiếp. Ông Mạnh chưa nói thêm một báo nguy kinh tế nữa, là năm nay số tiền “Việt kiều” gửi về nước thế nào cũng giảm xuống, khi kinh tế các nước Âu Mỹ đều suy yếu! Sau khi kể các tai họa, ông Nông Ðức Mạnh yêu cầu hội nghị Trung Ương Ðảng hãy tìm hiểu các nguyên do của tình trạng lạm phát trầm trọng hiện nay và các tìm biện pháp đối phó.
Nên nhớ lại rằng ông Nông Ðức Mạnh là người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay, và đảng này tự nhận chỉ có họ mới lãnh đạo được nước Việt Nam, không thể thay thế họ được. Nhưng bây giờ là Tháng Mười năm 2008, một năm sau khi cơn khủng hoảng lạm phát ở Việt Nam bắt đầu bùng nổ, người lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản còn chưa biết, còn yêu cầu Trung Ương Ðảng tìm hiểu coi nguyên nhân vì đâu đưa tới trận bão lạm phát hiện nay!
Nhưng 160 người trong Trung Ương Ðảng làm cách nào ngồi hút thuốc với nhau rồi tìm ra những nguyên nhân và bầy ra phương cách giải quyết nạn lạm phát, nạn thâm thủng cán cân chi phó, và làm sao bắt các công nhân nhịn đói hoặc cho con nghỉ học mà không đi biểu tình đòi tăng lương? Một chính phủ có những guồng máy chuyên viên trong ba bốn bộ phụ trách kinh tế, tài chánh, kế hoạch, đầu tư, và cả một bộ tham mưu đầu não của ngân hàng trung ương; tại sao ông tổng bí thư không yêu cầu họ trả lời nguyên nhân vì sao sinh ra lạm phát để công nhân Việt Nam bị mất 60% số tiền lương tối thiểu của họ? Các chuyên viên kinh tế tài chánh ở nước ta đâu có thua kém gì người nước khác, tại sao không hỏi ý kiến họ?
Nhưng khi 160 ủy viên Trung Ương Ðảng Cộng Sản họp, thực ra họ không lo vấn đề kinh tế, tài chánh quốc gia. Họ lo nhất là vấn đề kinh tế tài chánh của gia đình, của vợ con trước hết. Cho nên họ họp nhau là để bảo đảm những món bổng lộc đang hưởng không bị mất. Và cuộc họp Trung Ương Ðảng lần này, cũng như lần trước, là một cơ hội để hai phe Nguyễn Tấn Dũng và Nông Ðức Mạnh tấn công lẫn nhau tranh giành quyền lực. Cho tới nay, chưa biết kết quả ông Mạnh thắng hay ông Dũng thắng. Nếu hai bên vẫn chưa phân thắng bại thì có thể sẽ dẫn tới một đại hội giữa kỳ để cuộc tranh hùng tiếp tục.
Trong khi chờ đợi các tay đầu đảng phân ngôi vị cao thấp thì người dân vẫn phải lo với việc làm sao mua đủ gạo, đóng đủ tiền cho con đi học, các xí nghiệp lo có tiền đủ để mua xăng chạy máy, chạy xe. Cho nên, đảng Cộng Sản đang lo ngại là phải. Ðồng bào Công giáo biểu tình còn thu hẹp trong phạm vi gần nhà thờ. Khi các công nhân và nông dân xuống đường thì sẽ đông và lan rộng khắp nơi. Lúc này cử ông Lê Hồng Anh sang cầu viện Bắc Hàn đúng là rất hợp thời!
Nỗi đau của chế độ Hà Nội
Tác giả: Roger Mitton, Asia Sentinel, Khánh Ðăng lược dịch
Việt Nam đang phải đối diện với cơn bão lốc chính trị trong khi các tai họa kinh tế ngày càng tồi tệ hơn.
Sự chia rẽ trong nội bộ Ðảng cộng sản đang nắm quyền ở Việt Nam đã lan rộng hơn, theo sau hậu quả của nền kinh tế đang tiếp tục đi xuống, đe dọa đến sự ổn định chính trị lâu dài của đất nước.
Uỷ ban trung ương là bộ phận then chốt của đảng hồi tuần trước đã tổ chức một phiên họp khẩn cấp trong một nỗ lực nhằm đẩy mạnh cuộc chiến chống lại nạn lạm phát đang hoành hoành, tình trạng bất ổn lao động vẫn tiếp tục, và một mức thâm thủng mậu dịch đang lớn dần.
Chẳng có gì là bí mật khi có các quan điểm trái ngược về cội rễ của nguyên nhân gây ra tình trạng kinh tế suy sụp trầm trọng ở Việt Nam, và cách nào tốt nhất để giải quyết, đã lan tràn qua các tầng lớp cán bộ trong đảng từ thành phần lãnh đạo cao nhất trong Bộ chính trị đến các đảng viên nòng cốt ở địa phương.
Giới lãnh đạo đảng vẫn còn duy trì mối bất hòa giữa những người tiếp tục ủng hộ chính sách khuếch trương kinh tế có mức tăng trưởng cao của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, và một nhóm đang gia tăng đông đảo chung quanh Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh thiên về một mức tăng trưởng vững chắc, chậm hơn và có nhiều khả năng chịu đựng.
Lẩn quẩn vào những tư tưởng kinh tế khác biệt này là những mối hiềm thù cá nhân đã có từ lâu về việc ông Dũng thăng chức nhanh chóng cho các nhà kỹ trị (technocrats) và các đồng hương người miền Nam của ông, loại bỏ ra ngoài những cán bộ cao cấp khác, rõ ràng nhất là những người ở miền Trung. Cộng thêm vào những mối rạn nứt này là cuộc vận động chống tham nhũng uể oải thiếu sinh động, do chính ông Thủ tướng cầm đầu, cũng như các vụ đàn áp mới đây đối với các nhà báo và giáo dân Công giáo.
Các nguồn tin ngoại giao và từ trong đảng cho biết có nhiều lời suy đoán đồn đãi cho rằng nếu các mối rạn nứt này trở lên trầm trọng hơn, thì có thể sẽ bất ngờ đưa đến một cuộc khủng hoảng lãnh đạo trong tương lai sắp tới.
Trong hội nghị trung ương hồi tuần trước ở Hà Nội, một phiên họp lần thứ ba trong năm nay, vốn là việc trước đây chưa từng xảy ra, tất cả 160 uỷ viên trung ương đảng đã được triệu tập một cách vội vã nhằm cố gắng ngăn chặn việc công khai thanh trừng lẫn nhau và tập trung tư tưởng vào nền kinh tế khủng hoảng hiện đang bắt đầu đe doạ đến ổn định xã hội và sự kiểm soát của đảng.
Theo truyền thống thì đảng chỉ tổ chức hai phiên họp thường niên cho uỷ ban trung ương đảng, nhưng theo sau phiên họp khoáng đại đầu tiên hồi tháng Giêng, thì một phiên họp thứ hai được vội vã triệu tập vào tháng Bảy để cố gắng đưa ra quyết định sẽ làm gì về sự suy xụp của nền kinh tế. Rồi bây giờ lại có phiên họp thứ ba vào tháng Mười.
Giáo sư Carlyle Thayer, một chuyên gia về các vấn đề Việt Nam thuộc Học viện Quốc phòng Úc Ðại Lợi nói rằng : “Một hội nghị trung ương lần thứ ba cho thấy có điều gì đó rất quan trọng đang được thảo luận”.
Chính thức thì cuộc thảo luận kín đáo kéo dài ba ngày đặt trọng tâm toàn bộ vào các vấn đề kinh tế xã hội và đặc biệt là làm sao để ngăn ngừa nền kinh tế vốn đã bị suy nhược không bị chìm sâu thêm vì hậu quả của sự xáo trộn kinh tế từ Hoa Kỳ.
Ông Nguyễn Trấn Bạt, chủ tịch Investconsult Group, một trong những công ty tư vấn kinh doanh lớn nhất Việt Nam, đã bình luận: “Hội nghị trung ương này rất quan trọng vì nó chú trọng vào việc làm thế nào để đối phó với nạn lạm phát và làm sao để phản ứng trước sự đi xuống của thị trường Hoa Kỳ”.
Nhưng điều này chẳng có gì là mới mẻ, ở cả hai cuộc hội nghị trước đây trong năm nay, giới lãnh đạo đảng chủ yếu đã thảo luận một cách chính xác về các đề tài tương tự, mỗi lần thảo luận lại càng làm tăng thêm sự hoảng hốt và lo lắng – và với sự gia tăng cấu xé lẫn nhau ở đằng sau lưng về việc ai đã, hoặc đã không, đưa ra đường lối hành động đúng đắn.
Trong phiên họp trước đây, các uỷ viên trung ương đảng, là những người đã mất hết sự kiên nhẫn với chính phủ khi tỷ lệ lạm phát tăng vọt lên gần 30%, đã giao cho Bộ chính trị trách nhiệm giám sát nền kinh tế cho đến hết năm nay. Mười bốn uỷ viên Bộ chính trị là cơ quan có quyền lực cao nhất của đảng. Và quyết định nắm lấy quyền kiểm soát nền kinh tế, ra khỏi chính phủ của ông Dũng là một biện pháp mang tính cảnh cáo cao độ có hiệu quả làm lạc hướng nội các và đội ngũ cố vấn kinh tế của ông Dũng.
Ông Dũng và nhóm của ông ta chẳng làm được gì về việc này cả vì họ chỉ là một thiểu số trong Bộ chính trị, là chỗ mà thành phần ủng hộ cho ông Nông Ðức Mạnh vốn có tính thận trọng, hợp nhất chiếm ưu thế.
Hội nghị trung ương hồi tháng Bảy không cần thiết là một biểu hiện thiếu tin tưởng vào ông Thủ tướng còn tương đối mới mẻ, nhưng là một dấu hiệu cho thấy nhiều uỷ viên trung ương đảng vẫn còn chưa cảm thấy được thuyết phục rằng ông Dũng đúng là người để điều hành đất nước trong thời kỳ khó khăn này. Và thực tế là họ đã cho triệu tập một phiên họp khẩn cấp khác vào tuần trước rõ ràng cho thấy họ vẫn chưa cảm thấy được thuyết phục.
Thật vậy, chỉ có một ngày trước khi hội nghị được triệu tập, ông Dũng đã nhắc lại lời cảnh báo quen thuộc của mình về việc các ban ngành và cơ quan tài chánh phải dành ưu tiên cho việc kềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh xã hội và duy trì mức tăng trưởng thích hợp.
Những lời nói của ông Dũng chẳng có chút tác dụng nào đáng ghi nhận, nhưng ông ta vẫn tiếp tục thúc đẩy cho một mức tăng trưởng mạnh mẽ khoảng 7% cho năm nay, mà nhiều người cảm thấy là không thể nào đạt được.
Nhưng ít nhất nó thực tế hơn mục tiêu ban đầu 9% của chính phủ ông ta. Ngân hàng Phát triển Á Châu và các cơ quan khác hiện đang tiên đoán một con số tăng trưởng ở mức 5%.
Và trong hội nghị hồi tuần trước, đảng đã rộng rãi diễn đạt sự tiên đoán của riêng mình bằng những ngôn từ chung chung, tuyên bố rằng “sự tăng trưởng nên được giữ ở một mức thích hợp và chịu đựng được”. Ðã qua rồi cái dự kiến tương lai về những mức tăng trưởng 8% mà Việt Nam đã ghi nhận được trong suốt thập niên qua.
Ông Dũng cũng chỉ thị cho các ban ngành, bộ phận kinh tế, nhất là Ngân hàng Nhà nước, phải chú ý đến sự lên xuống ở các thị trường tài chánh thế giới cũng như Hoa Kỳ, hầu Việt Nam có thể đưa ra các biện pháp cứu chữa nhằm bảo đảm cho sự sống còn của hệ thống ngân hàng trong nước. Theo ông Dũng, người đã từng có một thời gian ngắn –đúng ra là chẳng có tài cán gì– cầm đầu ngân hàng trung ương, thì cuộc khủng hoảng tài chánh Hoa Kỳ cho đến nay chưa có một tác động đáng kể nào đối với nền kinh tế Việt Nam.
Tuy nhiên, trong khi ông Dũng thận trọng cảnh báo rằng Việt Nam phải duy trì sự cảnh giác, thì lời nói của ông ta vẫn được xem như phần nào đó có vẻ quá tự mãn. Dư luận trong giới kinh doanh cho biết rằng hiện đang có một cảm giác nặng nề về sự đi xuống của kinh tế Hoa Kỳ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế đang ngất ngư của Việt Nam.
Ông Nguyễn Trấn Bạt nói : “Rõ ràng là sự đi xuống của kinh tế Hoa Kỳ sẽ ảnh hưởng tới các chỉ tiêu kinh tế và xã hội của đảng, và có thể sẽ cần thiết phải điều chỉnh lại các mục tiêu lâu dài".
Thị trường Hoa Kỳ rất quan trọng cho nhiều mặt hàng xuất cảng của Việt Nam, đáng ghi nhận là vải vóc, thuỷ sản, giày dép, và nhiều hàng hoá rẻ tiền khác. Và chính ông Mạnh chứ không phải là ông Dũng đã nhấn mạnh việc cần thiết cho một sự cấp bách mới lớn hơn nhằm đẩy mạnh xuất cảng trong khi cùng lúc đó, kiểm soát nhập cảng để cố gắng giảm thiểu mức thâm thủng mậu dịch đang bộc phát.
Thêm nữa, lượng kiều hối của người Việt hải ngoại gởi về sẽ ít hơn từ Hoa Kỳ, Âu Châu và Úc Châu. Và chắc chắn có ít hơn những hứa hẹn đầu tư từ Hoa Kỳ sẽ được thực hiện.
Tính lạc quan thận trọng của ông Dũng trái ngươc lại với lời phát biểu mở đầu của tổng bí thư Mạnh trong ngày kế tiếp của hội nghị. Ngôn ngữ của họ có thể là nhã nhặn và trên bề mặt thì không quá khác nhau, nhưng ở phía dưới thì sự tương phản vô cùng rõ rệt.
Ông Mạnh nhận xét rằng mặc dù xuất cảng có tăng trưởng và có nhiều hứa hẹn đầu tư, nhưng vẫn còn nhiều yếu kém và thiếu sót, bao gồm nạn lạm phát bùng phát, một mức thâm thủng mậu dịch đang căng phồng và tình trạng lao động bất an. Nói theo một cách khác, thì quần chúng đang bức xúc và bất mãn – và điều đó có thể sẽ đưa đến nhiều khó khăn lớn cho đảng nếu không được giải quyết sớm. Ông ta thúc giục uỷ ban trung ương đảng hãy tìm ra nguyên nhân và có hành động thích ứng.
Sự thực là ông tổng bí thư đảng có nên cần thiết phải nhắc lại –một năm sau khi cuộc khủng hoảng xảy ra ở Việt Nam lần đầu tiên– là họ vẫn cần phải xác định ra những nguyên nhân, chứ đừng nói đến việc tìm các giải pháp, là một điều đáng sợ.
Trong năm qua, mọi sự đã đi từ xấu đến càng xấu hơn cho nền kinh tế Việt Nam vốn được lèo lái bằng xuất cảng, và hiện giờ, với thị trường xuất cảng lớn nhất của Việt Nam đang đi vào tình trạng kinh tế trì trệ thụt lùi (recession), mọi việc thậm chí còn có thể thảm não hơn, nhất là đối với người dân có lợi tức thấp và giới trung lưu là hai thành phần phải đối diện với sự gia tăng mới của giá cả các mặt hàng thiết yếu.
Thứ trưởng Bộ công thương Bùi Xuân Khu cho biết hồi tuần trước rằng Việt Nam sẽ bắt đầu gia tăng giá điện do nhà nước kiểm soát lên khoảng 20% vào năm tới để thu hút thêm đầu tư vào ngành năng lượng không có khả năng và thiếu hiệu quả một cách thê thảm. “Cho đến gần đây chúng tôi vẫn duy trì giá bán lẻ thấp với mục đích kềm chế lạm phát, nhưng giá cả sẽ bắt đầu tăng vào năm 2009”.
Những biện pháp như vậy có khả năng làm tăng thêm sự bất mãn trong quần chúng và tình trạng lao động bất an, cũng như gây thêm sự chia rẽ trong đảng về việc những hành động như vậy có lợi lộc gì không. Đảng đã chính thức thú nhận rằng cái ngày sớm nhất mà nạn lạm phát có khả năng trở lại tỷ lệ ở mức một con số sẽ không đến cho đến năm 2010.
Cùng với việc vật lộn với các vấn đề gai góc này, hội nghị trung ương hồi tuần trước cũng thảo luận về phiên họp quốc hội kế tiếp sẽ sớm được triệu tập ở Hà Nội.
Giới lãnh đạo đảng biết rõ rằng họ phải cố đưa ra một công thức về chính sách kinh tế hợp với sự mong đợi của các đại biểu và do đó ngăn chặn được những chỉ trích cay đắng mà họ đã nhận được hồi tháng Giêng khi nạn lạm phát, ở khoảng 14%, mới chỉ vừa bắt đầu gặm nhắm vào và mức thâm thủng mậu dịch cũng như tình trạng bất ổn lao động có vẻ tương đối bình thường.
Nhưng đó không phải là tình trạng hiện thời, và cũng như hồi tháng Giêng, các đại biểu Việt Nam từ các vùng nông thôn có thể sẽ đặc biệt nổi bật trong việc đánh giá chính phủ khi họ kể lại thật chi tiết các nỗi đau về tài chánh do nạn lạm phát gây ra cho nông dân trong khu vực bầu cử của họ.
Không biết cái hội nghị “đánh thức” hồi tuần trước có thúc giục được giới lãnh đạo đảng có thêm các hành động –và phối hợp chặt chẽ hơn- hay không thì còn phải coi lại. Nếu không thì khả năng có một hội nghị nữa, hoặc thậm chí một đại hội đảng giữa nhiệm kỳ, mà trong đó các các tay lãnh đạo cao cấp, gồm cả ông Dũng lẫn ông Mạnh, có thể bị gạt qua một bên hoặc ngay cả việc bị loại bỏ.
Như ông Mạnh đã cảnh báo trong phát biểu kết thúc hội nghị thì : “Ðặc biệt rất quan trọng để lấy lại sự đoàn kết nhất trí trong đảng, toàn dân, toàn quân và tất cả các bộ phận ban ngành”.
Ðảng không những chỉ lo sợ về những chia rẽ nội bộ, mà còn đề phòng về bất cứ các rắc rối xã hội hoặc thành phần đối lập chính trị nào. Vì thế vừa qua mới có một chiến dịch đàn áp các nhà báo và giáo dân Công giáo. Nhiều nhà báo nổi tiếng đã bị bắt trong nhiều tháng qua, và hai trong những phóng viên đi tiên phong trong công cuộc chống tham nhũng trong nước sắp sửa bị đưa ra xử vì vạch trần những hành động sai trái của giới lãnh đạo đảng trong vụ xì-căng-đan tai tiếng PMU18 cách đây hai năm.
Nhiều thành viên của giáo hội Công giáo, trong đó có Tổng giám mục Hà Nội, cũng bị cảnh cáo phải chấm dứt biểu tình về việc tịch thu tài sản của họ do hậu quả của chiến tranh Việt Nam. Cho rằng các cuộc biểu tình vừa qua là “hoàn toàn không chấp nhận” được, Thủ tướng Dũng nói rằng : “Nếu những hành động này không chấm dứt, nó sẽ có một tác động bất lợi về những quan hệ tốt giữa nhà nước và giáo hội”.
Mới đây, ông Dũng đã gặp gỡ nhiều giám mục, nhưng vấn đề tranh chấp đất đai vẫn không được giải quyết và còn là một trở ngại chính yếu trong việc tái lập lại quan hệ ngoại giao giữa Hà Nội và Vatican.
Các cán bộ đảng ở địa phương, nhất là những người cùng phe với các đảng viên kỳ cựu như ông Mạnh, Thường trực Ban bí thư Trương Tấn Sang và Bộ trưởng công an Lê Hồng Anh, được biết là đang bực bội về việc chậm trễ để đưa ra các biện pháp mạnh mẽ hơn. Họ tin rằng Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương khác đang quá bận tâm vào tình trạng xáo trộn tài chánh hiện thời trên thế giới và cuộc bầu cử Tổng thống ở Hoa Kỳ, để chú ý đến việc đàn áp tôn giáo và báo chí ở Việt Nam.
Những người khác, hầu hết là nằm trong phe có tính hoà giải hơn của ông Dũng, thì lập luận rằng cách giải quyết tốt nhất là cả hai phía phải trấn tỉnh lại.
Theo ông Nguyễn Trần Bạt thì : “Mặc dù chính quyền địa phương rõ ràng là không thể hoàn trả khu đất lại cho giáo hội Công giáo vì không có một khuôn khổ luật pháp nào để dựa vào đó mà thi hành, nhưng tôi vẫn ưa thích việc chọn lựa một thái độ ôn hoà để giải quyết vấn đề”.
Giáo sư Thayer nói thêm : “Một đường lối cứng rắn đối với giáo hội Công giáo thì không bao giờ là một ý kiến tốt, và giữa lúc có cuộc khủng hoảng kinh tế thì đó lại càng là một ý kiến xấu hơn. Nhưng dù sao thì thành phần bảo thủ sẽ lên tiếng đưa ra mối quan tâm của họ về sự ổn định chính trị”.
Thật vậy, việc trấn áp báo chí cũng như các hành động đối với người Công giáo cũng là các đề tài được thảo luận trong hội nghị tuần trước vì cũng giống như sự suy xụp kinh tế, nó va chạm đến nỗi ám ảnh của đảng về ổn định chính trị và sự tiếp tục quyền cai trị độc đảng.
Tiến sĩ Nguyễn Quang A, giám đốc Viện nghiên cứu phát triển ở Hà Nội nói rằng : “Người cộng sản luôn luôn dùng sự lo sợ về tình trạng bất ổn làm cái cớ để không chịu dân chủ hóa đất nước và họ sẽ tiếp tục làm như vậy”.
Giới lãnh đạo đảng coi sự ổn định chính trị ở Viêt Nam là tảng đá góc tường để thu hút đầu tư ngoại quốc, đặc biệt là sự bất ổn đang tiếp tục lan tràn ở các quốc gia cạnh tranh với họ trong khu vực như Mã Lai Á, Thái Lan và Phi Luật Tân.
Vào đầu muà hè này, ông Michael Pease, chủ tịch Phòng thương mãi Hoa Kỳ đồng thời là Tổng giám đốc công ty Ford ở Việt Nam nói rằng : “Thành công của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài phần lớn là dựa vào sự trông mong ở việc ổn định kinh tế và chính trị”.
Một báo cáo hồi đầu năm nay của Business Monitor International Ltd, liệt kê các quốc gia dựa trên rủi ro chính trị, đã đánh giá Việt Nam đứng ngang hàng thứ hai với Hồng Kông, sau Tân Gia Ba, về ổn định chính trị ngắn hạn.
Theo lẽ tự nhiên thì giới lãnh đạo đảng, cả những kẻ điềm đạm lẫn những người có tầm nhìn về phía trước, đều thích thú tán thưởng các báo cáo như vậy và tìm cách để bảo đảm cho sự xáo trộn về kinh tế, tôn giáo và báo chí hiện thời không làm náo động sự đánh giá lạc quan đó –mà một số đang lo ngại là sự xáo trộn đó đã bắt đầu khởi sự.
Ông Vũ Mão, một đảng viên kỳ cựu nguyên là chủ tịch Ủy ban đối ngoại quốc hội, nói rằng : "Tôi cảm thấy buồn vui lẫn lộn khi nghe rằng sự ổn định chính trị ngắn hạn ở Việt Nam được đánh giá quá cao. Việc đánh giá này là quá mức trong cái nhìn của tôi, và không xem xét đến nhiều vấn đề ung nhọt của Viêt Nam như quyền xử dụng đất đai, tình trạng nghèo đói ở nông thôn và chất lượng đời sống của giới công nhân có thu nhập thấp”.
Ông Thayer nói thêm : “Dĩ nhiên là có sự bất mãn đang lớn dần trong những người dân thành thị về giá cả gia tăng, nạn ô nhiễm môi trường, nạn kẹt xe và vấn đề tham nhũng".
Quả thực như thế, khi nói đến sự đánh giá lâu dài về rủi ro chính trị, thì Việt Nam không được đánh giá tốt trong báo cáo trên và nằm gần cuối, chỉ khít khao hơn các quốc gia như Lào và Miến Ðiện.
Dĩ nhiên là tính ngay cả việc tranh chấp trên tầng lớp chóp bu trong nội bộ đảng hiện nay, thì ít ai nghĩ rằng chế độ cộng sản tại Việt Nam sẽ xụp đổ vì nền kinh tế bị suy xụp, và hành động của vài nhà bất đồng chính kiến, ký giả và tu sĩ can trường. Nhưng chắc chắn là giới lãnh đạo hiện thời đang bị nhiều áp lực và đã không có cách nào khác hơn là phải triệu tập phiên họp khẩn cấp hồi tuần trước. Những kết quả cuối cùng của cuộc họp đó vẫn đang được từ từ làm sáng tỏ.
Tác giả: Roger Mitton, Asia Sentinel, Khánh Ðăng lược dịch
Việt Nam đang phải đối diện với cơn bão lốc chính trị trong khi các tai họa kinh tế ngày càng tồi tệ hơn.
Sự chia rẽ trong nội bộ Ðảng cộng sản đang nắm quyền ở Việt Nam đã lan rộng hơn, theo sau hậu quả của nền kinh tế đang tiếp tục đi xuống, đe dọa đến sự ổn định chính trị lâu dài của đất nước.
Uỷ ban trung ương là bộ phận then chốt của đảng hồi tuần trước đã tổ chức một phiên họp khẩn cấp trong một nỗ lực nhằm đẩy mạnh cuộc chiến chống lại nạn lạm phát đang hoành hoành, tình trạng bất ổn lao động vẫn tiếp tục, và một mức thâm thủng mậu dịch đang lớn dần.
Chẳng có gì là bí mật khi có các quan điểm trái ngược về cội rễ của nguyên nhân gây ra tình trạng kinh tế suy sụp trầm trọng ở Việt Nam, và cách nào tốt nhất để giải quyết, đã lan tràn qua các tầng lớp cán bộ trong đảng từ thành phần lãnh đạo cao nhất trong Bộ chính trị đến các đảng viên nòng cốt ở địa phương.
Giới lãnh đạo đảng vẫn còn duy trì mối bất hòa giữa những người tiếp tục ủng hộ chính sách khuếch trương kinh tế có mức tăng trưởng cao của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, và một nhóm đang gia tăng đông đảo chung quanh Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh thiên về một mức tăng trưởng vững chắc, chậm hơn và có nhiều khả năng chịu đựng.
Lẩn quẩn vào những tư tưởng kinh tế khác biệt này là những mối hiềm thù cá nhân đã có từ lâu về việc ông Dũng thăng chức nhanh chóng cho các nhà kỹ trị (technocrats) và các đồng hương người miền Nam của ông, loại bỏ ra ngoài những cán bộ cao cấp khác, rõ ràng nhất là những người ở miền Trung. Cộng thêm vào những mối rạn nứt này là cuộc vận động chống tham nhũng uể oải thiếu sinh động, do chính ông Thủ tướng cầm đầu, cũng như các vụ đàn áp mới đây đối với các nhà báo và giáo dân Công giáo.
Các nguồn tin ngoại giao và từ trong đảng cho biết có nhiều lời suy đoán đồn đãi cho rằng nếu các mối rạn nứt này trở lên trầm trọng hơn, thì có thể sẽ bất ngờ đưa đến một cuộc khủng hoảng lãnh đạo trong tương lai sắp tới.
Trong hội nghị trung ương hồi tuần trước ở Hà Nội, một phiên họp lần thứ ba trong năm nay, vốn là việc trước đây chưa từng xảy ra, tất cả 160 uỷ viên trung ương đảng đã được triệu tập một cách vội vã nhằm cố gắng ngăn chặn việc công khai thanh trừng lẫn nhau và tập trung tư tưởng vào nền kinh tế khủng hoảng hiện đang bắt đầu đe doạ đến ổn định xã hội và sự kiểm soát của đảng.
Theo truyền thống thì đảng chỉ tổ chức hai phiên họp thường niên cho uỷ ban trung ương đảng, nhưng theo sau phiên họp khoáng đại đầu tiên hồi tháng Giêng, thì một phiên họp thứ hai được vội vã triệu tập vào tháng Bảy để cố gắng đưa ra quyết định sẽ làm gì về sự suy xụp của nền kinh tế. Rồi bây giờ lại có phiên họp thứ ba vào tháng Mười.
Giáo sư Carlyle Thayer, một chuyên gia về các vấn đề Việt Nam thuộc Học viện Quốc phòng Úc Ðại Lợi nói rằng : “Một hội nghị trung ương lần thứ ba cho thấy có điều gì đó rất quan trọng đang được thảo luận”.
Chính thức thì cuộc thảo luận kín đáo kéo dài ba ngày đặt trọng tâm toàn bộ vào các vấn đề kinh tế xã hội và đặc biệt là làm sao để ngăn ngừa nền kinh tế vốn đã bị suy nhược không bị chìm sâu thêm vì hậu quả của sự xáo trộn kinh tế từ Hoa Kỳ.
Ông Nguyễn Trấn Bạt, chủ tịch Investconsult Group, một trong những công ty tư vấn kinh doanh lớn nhất Việt Nam, đã bình luận: “Hội nghị trung ương này rất quan trọng vì nó chú trọng vào việc làm thế nào để đối phó với nạn lạm phát và làm sao để phản ứng trước sự đi xuống của thị trường Hoa Kỳ”.
Nhưng điều này chẳng có gì là mới mẻ, ở cả hai cuộc hội nghị trước đây trong năm nay, giới lãnh đạo đảng chủ yếu đã thảo luận một cách chính xác về các đề tài tương tự, mỗi lần thảo luận lại càng làm tăng thêm sự hoảng hốt và lo lắng – và với sự gia tăng cấu xé lẫn nhau ở đằng sau lưng về việc ai đã, hoặc đã không, đưa ra đường lối hành động đúng đắn.
Trong phiên họp trước đây, các uỷ viên trung ương đảng, là những người đã mất hết sự kiên nhẫn với chính phủ khi tỷ lệ lạm phát tăng vọt lên gần 30%, đã giao cho Bộ chính trị trách nhiệm giám sát nền kinh tế cho đến hết năm nay. Mười bốn uỷ viên Bộ chính trị là cơ quan có quyền lực cao nhất của đảng. Và quyết định nắm lấy quyền kiểm soát nền kinh tế, ra khỏi chính phủ của ông Dũng là một biện pháp mang tính cảnh cáo cao độ có hiệu quả làm lạc hướng nội các và đội ngũ cố vấn kinh tế của ông Dũng.
Ông Dũng và nhóm của ông ta chẳng làm được gì về việc này cả vì họ chỉ là một thiểu số trong Bộ chính trị, là chỗ mà thành phần ủng hộ cho ông Nông Ðức Mạnh vốn có tính thận trọng, hợp nhất chiếm ưu thế.
Hội nghị trung ương hồi tháng Bảy không cần thiết là một biểu hiện thiếu tin tưởng vào ông Thủ tướng còn tương đối mới mẻ, nhưng là một dấu hiệu cho thấy nhiều uỷ viên trung ương đảng vẫn còn chưa cảm thấy được thuyết phục rằng ông Dũng đúng là người để điều hành đất nước trong thời kỳ khó khăn này. Và thực tế là họ đã cho triệu tập một phiên họp khẩn cấp khác vào tuần trước rõ ràng cho thấy họ vẫn chưa cảm thấy được thuyết phục.
Thật vậy, chỉ có một ngày trước khi hội nghị được triệu tập, ông Dũng đã nhắc lại lời cảnh báo quen thuộc của mình về việc các ban ngành và cơ quan tài chánh phải dành ưu tiên cho việc kềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh xã hội và duy trì mức tăng trưởng thích hợp.
Những lời nói của ông Dũng chẳng có chút tác dụng nào đáng ghi nhận, nhưng ông ta vẫn tiếp tục thúc đẩy cho một mức tăng trưởng mạnh mẽ khoảng 7% cho năm nay, mà nhiều người cảm thấy là không thể nào đạt được.
Nhưng ít nhất nó thực tế hơn mục tiêu ban đầu 9% của chính phủ ông ta. Ngân hàng Phát triển Á Châu và các cơ quan khác hiện đang tiên đoán một con số tăng trưởng ở mức 5%.
Và trong hội nghị hồi tuần trước, đảng đã rộng rãi diễn đạt sự tiên đoán của riêng mình bằng những ngôn từ chung chung, tuyên bố rằng “sự tăng trưởng nên được giữ ở một mức thích hợp và chịu đựng được”. Ðã qua rồi cái dự kiến tương lai về những mức tăng trưởng 8% mà Việt Nam đã ghi nhận được trong suốt thập niên qua.
Ông Dũng cũng chỉ thị cho các ban ngành, bộ phận kinh tế, nhất là Ngân hàng Nhà nước, phải chú ý đến sự lên xuống ở các thị trường tài chánh thế giới cũng như Hoa Kỳ, hầu Việt Nam có thể đưa ra các biện pháp cứu chữa nhằm bảo đảm cho sự sống còn của hệ thống ngân hàng trong nước. Theo ông Dũng, người đã từng có một thời gian ngắn –đúng ra là chẳng có tài cán gì– cầm đầu ngân hàng trung ương, thì cuộc khủng hoảng tài chánh Hoa Kỳ cho đến nay chưa có một tác động đáng kể nào đối với nền kinh tế Việt Nam.
Tuy nhiên, trong khi ông Dũng thận trọng cảnh báo rằng Việt Nam phải duy trì sự cảnh giác, thì lời nói của ông ta vẫn được xem như phần nào đó có vẻ quá tự mãn. Dư luận trong giới kinh doanh cho biết rằng hiện đang có một cảm giác nặng nề về sự đi xuống của kinh tế Hoa Kỳ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế đang ngất ngư của Việt Nam.
Ông Nguyễn Trấn Bạt nói : “Rõ ràng là sự đi xuống của kinh tế Hoa Kỳ sẽ ảnh hưởng tới các chỉ tiêu kinh tế và xã hội của đảng, và có thể sẽ cần thiết phải điều chỉnh lại các mục tiêu lâu dài".
Thị trường Hoa Kỳ rất quan trọng cho nhiều mặt hàng xuất cảng của Việt Nam, đáng ghi nhận là vải vóc, thuỷ sản, giày dép, và nhiều hàng hoá rẻ tiền khác. Và chính ông Mạnh chứ không phải là ông Dũng đã nhấn mạnh việc cần thiết cho một sự cấp bách mới lớn hơn nhằm đẩy mạnh xuất cảng trong khi cùng lúc đó, kiểm soát nhập cảng để cố gắng giảm thiểu mức thâm thủng mậu dịch đang bộc phát.
Thêm nữa, lượng kiều hối của người Việt hải ngoại gởi về sẽ ít hơn từ Hoa Kỳ, Âu Châu và Úc Châu. Và chắc chắn có ít hơn những hứa hẹn đầu tư từ Hoa Kỳ sẽ được thực hiện.
Tính lạc quan thận trọng của ông Dũng trái ngươc lại với lời phát biểu mở đầu của tổng bí thư Mạnh trong ngày kế tiếp của hội nghị. Ngôn ngữ của họ có thể là nhã nhặn và trên bề mặt thì không quá khác nhau, nhưng ở phía dưới thì sự tương phản vô cùng rõ rệt.
Ông Mạnh nhận xét rằng mặc dù xuất cảng có tăng trưởng và có nhiều hứa hẹn đầu tư, nhưng vẫn còn nhiều yếu kém và thiếu sót, bao gồm nạn lạm phát bùng phát, một mức thâm thủng mậu dịch đang căng phồng và tình trạng lao động bất an. Nói theo một cách khác, thì quần chúng đang bức xúc và bất mãn – và điều đó có thể sẽ đưa đến nhiều khó khăn lớn cho đảng nếu không được giải quyết sớm. Ông ta thúc giục uỷ ban trung ương đảng hãy tìm ra nguyên nhân và có hành động thích ứng.
Sự thực là ông tổng bí thư đảng có nên cần thiết phải nhắc lại –một năm sau khi cuộc khủng hoảng xảy ra ở Việt Nam lần đầu tiên– là họ vẫn cần phải xác định ra những nguyên nhân, chứ đừng nói đến việc tìm các giải pháp, là một điều đáng sợ.
Trong năm qua, mọi sự đã đi từ xấu đến càng xấu hơn cho nền kinh tế Việt Nam vốn được lèo lái bằng xuất cảng, và hiện giờ, với thị trường xuất cảng lớn nhất của Việt Nam đang đi vào tình trạng kinh tế trì trệ thụt lùi (recession), mọi việc thậm chí còn có thể thảm não hơn, nhất là đối với người dân có lợi tức thấp và giới trung lưu là hai thành phần phải đối diện với sự gia tăng mới của giá cả các mặt hàng thiết yếu.
Thứ trưởng Bộ công thương Bùi Xuân Khu cho biết hồi tuần trước rằng Việt Nam sẽ bắt đầu gia tăng giá điện do nhà nước kiểm soát lên khoảng 20% vào năm tới để thu hút thêm đầu tư vào ngành năng lượng không có khả năng và thiếu hiệu quả một cách thê thảm. “Cho đến gần đây chúng tôi vẫn duy trì giá bán lẻ thấp với mục đích kềm chế lạm phát, nhưng giá cả sẽ bắt đầu tăng vào năm 2009”.
Những biện pháp như vậy có khả năng làm tăng thêm sự bất mãn trong quần chúng và tình trạng lao động bất an, cũng như gây thêm sự chia rẽ trong đảng về việc những hành động như vậy có lợi lộc gì không. Đảng đã chính thức thú nhận rằng cái ngày sớm nhất mà nạn lạm phát có khả năng trở lại tỷ lệ ở mức một con số sẽ không đến cho đến năm 2010.
Cùng với việc vật lộn với các vấn đề gai góc này, hội nghị trung ương hồi tuần trước cũng thảo luận về phiên họp quốc hội kế tiếp sẽ sớm được triệu tập ở Hà Nội.
Giới lãnh đạo đảng biết rõ rằng họ phải cố đưa ra một công thức về chính sách kinh tế hợp với sự mong đợi của các đại biểu và do đó ngăn chặn được những chỉ trích cay đắng mà họ đã nhận được hồi tháng Giêng khi nạn lạm phát, ở khoảng 14%, mới chỉ vừa bắt đầu gặm nhắm vào và mức thâm thủng mậu dịch cũng như tình trạng bất ổn lao động có vẻ tương đối bình thường.
Nhưng đó không phải là tình trạng hiện thời, và cũng như hồi tháng Giêng, các đại biểu Việt Nam từ các vùng nông thôn có thể sẽ đặc biệt nổi bật trong việc đánh giá chính phủ khi họ kể lại thật chi tiết các nỗi đau về tài chánh do nạn lạm phát gây ra cho nông dân trong khu vực bầu cử của họ.
Không biết cái hội nghị “đánh thức” hồi tuần trước có thúc giục được giới lãnh đạo đảng có thêm các hành động –và phối hợp chặt chẽ hơn- hay không thì còn phải coi lại. Nếu không thì khả năng có một hội nghị nữa, hoặc thậm chí một đại hội đảng giữa nhiệm kỳ, mà trong đó các các tay lãnh đạo cao cấp, gồm cả ông Dũng lẫn ông Mạnh, có thể bị gạt qua một bên hoặc ngay cả việc bị loại bỏ.
Như ông Mạnh đã cảnh báo trong phát biểu kết thúc hội nghị thì : “Ðặc biệt rất quan trọng để lấy lại sự đoàn kết nhất trí trong đảng, toàn dân, toàn quân và tất cả các bộ phận ban ngành”.
Ðảng không những chỉ lo sợ về những chia rẽ nội bộ, mà còn đề phòng về bất cứ các rắc rối xã hội hoặc thành phần đối lập chính trị nào. Vì thế vừa qua mới có một chiến dịch đàn áp các nhà báo và giáo dân Công giáo. Nhiều nhà báo nổi tiếng đã bị bắt trong nhiều tháng qua, và hai trong những phóng viên đi tiên phong trong công cuộc chống tham nhũng trong nước sắp sửa bị đưa ra xử vì vạch trần những hành động sai trái của giới lãnh đạo đảng trong vụ xì-căng-đan tai tiếng PMU18 cách đây hai năm.
Nhiều thành viên của giáo hội Công giáo, trong đó có Tổng giám mục Hà Nội, cũng bị cảnh cáo phải chấm dứt biểu tình về việc tịch thu tài sản của họ do hậu quả của chiến tranh Việt Nam. Cho rằng các cuộc biểu tình vừa qua là “hoàn toàn không chấp nhận” được, Thủ tướng Dũng nói rằng : “Nếu những hành động này không chấm dứt, nó sẽ có một tác động bất lợi về những quan hệ tốt giữa nhà nước và giáo hội”.
Mới đây, ông Dũng đã gặp gỡ nhiều giám mục, nhưng vấn đề tranh chấp đất đai vẫn không được giải quyết và còn là một trở ngại chính yếu trong việc tái lập lại quan hệ ngoại giao giữa Hà Nội và Vatican.
Các cán bộ đảng ở địa phương, nhất là những người cùng phe với các đảng viên kỳ cựu như ông Mạnh, Thường trực Ban bí thư Trương Tấn Sang và Bộ trưởng công an Lê Hồng Anh, được biết là đang bực bội về việc chậm trễ để đưa ra các biện pháp mạnh mẽ hơn. Họ tin rằng Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương khác đang quá bận tâm vào tình trạng xáo trộn tài chánh hiện thời trên thế giới và cuộc bầu cử Tổng thống ở Hoa Kỳ, để chú ý đến việc đàn áp tôn giáo và báo chí ở Việt Nam.
Những người khác, hầu hết là nằm trong phe có tính hoà giải hơn của ông Dũng, thì lập luận rằng cách giải quyết tốt nhất là cả hai phía phải trấn tỉnh lại.
Theo ông Nguyễn Trần Bạt thì : “Mặc dù chính quyền địa phương rõ ràng là không thể hoàn trả khu đất lại cho giáo hội Công giáo vì không có một khuôn khổ luật pháp nào để dựa vào đó mà thi hành, nhưng tôi vẫn ưa thích việc chọn lựa một thái độ ôn hoà để giải quyết vấn đề”.
Giáo sư Thayer nói thêm : “Một đường lối cứng rắn đối với giáo hội Công giáo thì không bao giờ là một ý kiến tốt, và giữa lúc có cuộc khủng hoảng kinh tế thì đó lại càng là một ý kiến xấu hơn. Nhưng dù sao thì thành phần bảo thủ sẽ lên tiếng đưa ra mối quan tâm của họ về sự ổn định chính trị”.
Thật vậy, việc trấn áp báo chí cũng như các hành động đối với người Công giáo cũng là các đề tài được thảo luận trong hội nghị tuần trước vì cũng giống như sự suy xụp kinh tế, nó va chạm đến nỗi ám ảnh của đảng về ổn định chính trị và sự tiếp tục quyền cai trị độc đảng.
Tiến sĩ Nguyễn Quang A, giám đốc Viện nghiên cứu phát triển ở Hà Nội nói rằng : “Người cộng sản luôn luôn dùng sự lo sợ về tình trạng bất ổn làm cái cớ để không chịu dân chủ hóa đất nước và họ sẽ tiếp tục làm như vậy”.
Giới lãnh đạo đảng coi sự ổn định chính trị ở Viêt Nam là tảng đá góc tường để thu hút đầu tư ngoại quốc, đặc biệt là sự bất ổn đang tiếp tục lan tràn ở các quốc gia cạnh tranh với họ trong khu vực như Mã Lai Á, Thái Lan và Phi Luật Tân.
Vào đầu muà hè này, ông Michael Pease, chủ tịch Phòng thương mãi Hoa Kỳ đồng thời là Tổng giám đốc công ty Ford ở Việt Nam nói rằng : “Thành công của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài phần lớn là dựa vào sự trông mong ở việc ổn định kinh tế và chính trị”.
Một báo cáo hồi đầu năm nay của Business Monitor International Ltd, liệt kê các quốc gia dựa trên rủi ro chính trị, đã đánh giá Việt Nam đứng ngang hàng thứ hai với Hồng Kông, sau Tân Gia Ba, về ổn định chính trị ngắn hạn.
Theo lẽ tự nhiên thì giới lãnh đạo đảng, cả những kẻ điềm đạm lẫn những người có tầm nhìn về phía trước, đều thích thú tán thưởng các báo cáo như vậy và tìm cách để bảo đảm cho sự xáo trộn về kinh tế, tôn giáo và báo chí hiện thời không làm náo động sự đánh giá lạc quan đó –mà một số đang lo ngại là sự xáo trộn đó đã bắt đầu khởi sự.
Ông Vũ Mão, một đảng viên kỳ cựu nguyên là chủ tịch Ủy ban đối ngoại quốc hội, nói rằng : "Tôi cảm thấy buồn vui lẫn lộn khi nghe rằng sự ổn định chính trị ngắn hạn ở Việt Nam được đánh giá quá cao. Việc đánh giá này là quá mức trong cái nhìn của tôi, và không xem xét đến nhiều vấn đề ung nhọt của Viêt Nam như quyền xử dụng đất đai, tình trạng nghèo đói ở nông thôn và chất lượng đời sống của giới công nhân có thu nhập thấp”.
Ông Thayer nói thêm : “Dĩ nhiên là có sự bất mãn đang lớn dần trong những người dân thành thị về giá cả gia tăng, nạn ô nhiễm môi trường, nạn kẹt xe và vấn đề tham nhũng".
Quả thực như thế, khi nói đến sự đánh giá lâu dài về rủi ro chính trị, thì Việt Nam không được đánh giá tốt trong báo cáo trên và nằm gần cuối, chỉ khít khao hơn các quốc gia như Lào và Miến Ðiện.
Dĩ nhiên là tính ngay cả việc tranh chấp trên tầng lớp chóp bu trong nội bộ đảng hiện nay, thì ít ai nghĩ rằng chế độ cộng sản tại Việt Nam sẽ xụp đổ vì nền kinh tế bị suy xụp, và hành động của vài nhà bất đồng chính kiến, ký giả và tu sĩ can trường. Nhưng chắc chắn là giới lãnh đạo hiện thời đang bị nhiều áp lực và đã không có cách nào khác hơn là phải triệu tập phiên họp khẩn cấp hồi tuần trước. Những kết quả cuối cùng của cuộc họp đó vẫn đang được từ từ làm sáng tỏ.
Khi Niềm Tin Bị Đánh Mất
Tác giả: Mai Loan
Frederick Mishkin là một giáo sư kinh tế học của trường Đại học Columbia, được bổ nhiệm vào hội đồng quản trị của Ngân hàng Dự trữ Liên bang (Federal Reserve) mà người đứng đầu là ông Ben Bernanke. Nhiệm kỳ của ông Mishkin kéo dài đến năm 2014 nhưng ông vừa mới xin từ chức vào tháng trước để trở về trường Columbia dạy học tiếp. Trong vụ khủng hoảng trên thị trường tài chính hiện nay, ông đã kể lại cho nhà báo David Leonhardt của tờ nhật báo New York Times một thí dụ trong gia đình khá lý thú để nói lên sự lo ngại của ông, cũng như của nhiều chuyên gia kinh tế khác, vì sao mà cuộc khủng hoảng này có thể dẫn đến những hậu quả khốc hại hơn vì những suy nghĩ đơn giản nhưng lầm lẫn của nhiều người.
Vào năm 1929, ông nội của ông là Meyer Mishkin làm chủ một tiệm buôn quần áo cho dân lao động tại thành phố New York. Khi thị trường chứng khoán tại Wall Street tụt dốc thê thảm vào tháng 10 năm đó (gần giống như tình trạng hiện nay), ông Mishkin quay sang nói với cậu con, Sidney Mishkin, lúc bấy giờ đang là sinh viên theo học tại trường City College, rằng ông không lấy gì làm ngạc nhiên, nếu không muốn nói rằng có phần đồng ý vì "đúng là đáng đời cho những cái bọn vô lại bất lương đó".
Chừng một năm sau, khi những khó khăn trên thị trường tài chính ở Wall Street bắt đầu lan rộng xuống nền kinh tế cả nước, thì tiệm buôn của ông Frederick Mishkin cũng phải bị sập tiệm vì ông không còn đủ khách hàng còn tiền để đến mua đồ. Và cậu con trai Sidney đã phải bỏ học để ra đi làm giúp cho gia đình vượt qua cơn nguy khó, nhưng từ đó về sau ông Mishkin không bao giờ tìm lại được nữa một công việc đều đặn và có thu nhập đầy đủ.
Đó cũng là tâm lý chung của nhiều người dân Mỹ hiện nay mà giáo sư Mishkin cũng như phần đông các chuyên gia kinh tế khác đều lo ngại có thể dẫn đến một ngả rẽ tệ hại. Họ bắt đầu lo sợ khi thấy người dân, và nhiều vị dân cử, có suy nghĩ và phản ứng giống như vị tiểu thương Meyer Mishkin của gần 70 năm về trước, dường như chỉ thích nhìn thấy những kẻ làm giàu trên thị trường Wall Street cũng phải bị lâm nạn thay vì chú trọng đến việc cứu nguy nền kinh tế nói chung. Phản ứng của người dân không phải là không có lý, nhưng sự lo ngại của các chuyên gia đáng chú ý hơn, nhưng có lẽ giới này đã không thành công để thuyết phục cho người dân hiểu được vì sao mà họ phải tạm gác sang bên những tình cảm bực tức đó để cùng đoàn kết lo cho sự an nguy chung của quốc gia.
Kể ra cũng khó thuyết phục cho người dân về một hiểm hoạ to lớn có thể xảy đến nếu chỉ nói một cách tổng quát rằng các thị trường tín dụng có thể bị co cụm lại, mọi người sẽ gặp khó khăn hơn khi đi vay nợ và nền kinh tế có thể rơi vào tình trạng suy trầm, và tệ hơn nữa, có thể tụt vào tình trạng suy thoái tệ hại chưa từng thấy kể từ sau cơn Đại Suy Thoái (Great Depression). Cho đến nay, người ta chưa cảm nhận rõ tác hại của cơn khủng hoảng này lên đời sống của người dân, ngoài trừ việc họ có thể bắt đầu nhận ra rằng tài sản để dành về hưu của họ, trong các quỹ như 401(k), đã bị sút giảm, xuyên qua các con số trên các báo cáo hàng năm. Vì thế cho nên những lời báo động về một cuộc suy thoái xem chừng như có tính cách hoảng hốt quá đáng, và cái kế hoạch chính phủ bỏ ra 700 tỷ Mỹ-kim từ tiền thuế của dân không khác gì một liều thuốc cứu nguy cho những kẻ tài phiệt vô lại bất lương của Wall Street. Có lẽ ông tổng trưởng tài chính Henry Paulson và thống đốc Ngân hàng Trung ương Ben Bernanke đã không giải thích nổi bài học về hậu quả của cơn khủng hoảng tín dụng, đã không nối kết hữu hiệu các dữ kiện để đưa ra một nhận định đầy đủ cho thấy là tại sao điểm A sẽ dẫn đến điểm B rồi C rồi cuối cùng sẽ đi đến cơn suy thoái. Vì thế cho nên giáo sư Frederic Mishkin và nhà báo David Leonhardt đành phải cố gắng.
Nói chung, không phải ai cũng thích đưa ra những tiên đoán quá bi quan khi cho rằng một sự xuống dốc to lớn có thể dẫn đến tình trạng như kỳ Đại Suy Thoái. Thật ra chính phủ, qua Bộ Ngân Khố và Ngân hàng Trung Ương, đã phản ứng mạnh mẽ trên thị trường từ cả năm qua để đối phó với đà tụt dốc, khác với tình trạng thụ động như thời của chính quyền Herbert Hoover vào năm 1929. Hiện nay, tuy nhiều người nói đến rủi ro suy trầm — tức là khi mức tổng sản lượng quốc dân (GDP) không tăng trong 6 tháng liền — nhưng trong thực tế, điều đó chưa xảy ra. Và nếu có diễn ra, nó cũng chỉ tụt dốc chưa tới 1% hay 2% và trong một thời gian ngắn, chứ khó có thể tưởng tượng tụt dốc đến 30% như đã xảy ra vào thời điểm năm xưa. Giống như nhà báo kinh tế Robert Samuelson nhận định trong bài viết trên tờ Washington Post, cho dù thống kê mới nhất chỉ ra có đến hơn 600,000 người mất việc so với năm ngoái, thì cũng còn lại đến hơn 137 triệu người dân Mỹ vẫn tiếp tục có công ăn việc làm. Thỉnh thoảng, người ta có thể nghe nói đến cổ phiếu của một vài công ty bị tụt giá thê thảm, nhưng bù lại cũng có nhiều đại công ty khác, như các hãng dầu hoả ExxonMobil, PhilipsConoco, kiếm lời vượt trội trong cùng thời gian đó. Nền kinh tế của Hoa Kỳ hiện nay giàu mạnh và vững chắc hơn nhiều so với thời điểm của bảy thập niên về trước. Điều đó có nghĩa là đa số người dân Mỹ vẫn có cuộc sống thoải mái và chỉ một thiểu số rất nhỏ phải sống trong tình cảnh thiếu thốn ngặt nghèo. Thành thử cho dù có biến cố nào xảy đến, không ai nghĩ rằng sẽ có một loạt các thành phố ở Mỹ này sẽ rơi vào tình trạng bỏ hoang và xác xơ vì đói kém.
Thế nhưng cũng có những sự kiện đáng để ý vì nó cho thấy những cơ chế khiến nền kinh tế có thể rơi vào suy thoái trầm trọng cũng tương tự như tình trạng đã diễn ra trước thời kỳ Đại Suy Thoái vào đầu thập niên 1930. Trong cả hai trường hợp, một cuộc khủng hoảng tín dụng đều là nguyên nhân khởi đầu.
Vào đầu thập niên 1930, mặc dù thị trường Wall Street cũng bị thua lỗ nặng, nhưng nền kinh tế Mỹ vẫn chưa bị suy sụp. Mức tiêu thụ của người dân và sự đầu tư của giới kinh doanh tuy có giảm, nhưng chưa đến mức to lớn. Thế nhưng đến cuối năm 1930 thì một loạt các cơn hoảng loạn của các nhà băng đã dồn dập xảy đến. Các món đầu tư của các nhà băng bị thua lỗ — hoặc trong nhiều trường hợp bị đồn là có thể thua lỗ — đã khiến cho nhiều thân chủ hoảng sợ và thi nhau đến ngân hàng để rút hết tiền trong các trương mục. Thế là hàng trăm các nhà băng khác thi nhau sập tiệm vì không thể nào đào ra đủ tiền mặt để trả lại cho thân chủ.
Khi một nhà băng ở địa phương sập tiệm, thì tất cả nhân viên và ban giám đốc cũng mất việc luôn, đem luôn với họ tất cả những dữ kiện và thông tin cần thiết về thân chủ của nhà băng đó. Những nhà băng khác rất ngần ngại cho vay vì họ không hiểu rõ về những khách hàng của địa phương này, không biết ai có thành tích trả nợ tốt hay có công việc vững vàng. Thế là thị trường tín dụng tiêu tan. Giáo sư Mishkin nhận định: "Khi một nhà kinh doanh có sáng kiến hay và kế hoạch làm ăn vững vàng, nhưng lại không được nhà băng sẵn sàng tài trợ, thì anh ta không thể nào lao đầu vào cuộc kinh doanh. Và đó là lúc mà nền kinh tế bị sụp đổ." Hay nói đúng hơn, là khi cuộc suy thoái trở thành một cuộc đại suy thoái. Đến năm 1932, thì mức tiêu thụ của người dân và giới kinh doanh coi như sụp tiệm, và giá cổ phiếu trên toàn thị trường tài chính tụt dốc đến hơn 80% trị giá.
Một trong những kinh tế gia nghiên cứu để đưa ra lý thuyết về sự thiếu thốn dữ kiện và thông tin cần thiết của nhà băng cho vay là nguyên nhân chính tạo ra cơn suy thoái chính là ông Ben Bernanke. Ông gọi kho kiến thức bị mất mát này là "tư bản kiến thức" (informational capital), tức là một mớ tài sản về kiến thức thông tin cần thiết.
Và dường như lịch sử lại tái diễn gần 70 năm sau. Giờ đây, tuy đã có đầy đủ phương tiện khoa học và điện toán để thu thập thông tin cần thiết về các thân chủ vay nợ, nhưng những biến cố trong hơn một năm qua, khởi đi từ vụ bể bóng lỗ lã của các món nợ xấu thuộc loại subprime trên thị trường địa ốc, cho thấy là giờ đây hầu như đa số các nhà băng đều không nắm vững về tình hình của những người muốn vay nợ. Nguyên nhân chính là vụ chứng-khoán-hoá các món nợ (securitized debts), tức là xào nấu các tờ giấy nợ thế chấp bằng địa ốc này để gói với những món nợ khác và biến thành cổ phiếu hay trái phiếu như là những món nợ tốt. Trớ trêu thay, việc toàn-cầu-hoá nền kinh tế có công dụng phát triển các dịch vụ kinh doanh tại khắp nơi thì cũng có hậu quả là khi chuyện xấu xảy ra, nó cũng lan tràn nhanh chóng khắp nơi. Tất cả nhà băng ngày nay đều rơi vào tình trạng không biết rõ trong các món nợ cầm giữ của mình phần xấu chiếm bao nhiêu, và trong những khách hàng cần vay nợ, không biết ai có thành tích tốt hay có đủ khả năng để trả nợ trong tương lai. Tức là thị trường tài chính cũng mất đi cái "tư bản kiến thức" cần thiết để tiếp tục an tâm làm ăn. Vì thế mà các nhà băng ngần ngại cho vay, thay vào đó bỏ tiền để mua công khố phiếu, tuy không có tiền lời, nhưng coi như là chắc chắn không bị mất. Trong trường hợp nhà băng chịu cho vay, thường là tính với phân lời cao, và đòi hỏi thân chủ phải thế chấp nhiều hơn. Và chính điều này mới là điều đáng lo ngại vì nhiều phần là khi phân lời càng lên cao và việc vay mượn không còn dễ dãi nữa thì nền kinh tế cũng sẽ khó vận hành xuông xẻ.
Nhiều người sẽ tự hỏi rằng vì sao mà các nhà băng lại lo sợ thái quá đến gần như vô lý như vậy. Nói chung, đa số người dân Mỹ cũng như các cơ sở kinh doanh ở Hoa Kỳ này cũng đều vững vàng, làm ăn khá giả, chứ đâu phải là những thành phần không đáng tin cậy. Tại sao các nhà băng lại không chịu nhảy ra vào dịp này để cho vay nợ với phân lời cao và do đó sẽ thu về lời nhiều hơn.
Có hai lý do giải thích vì sao điều đó không xảy ra. Lý do thứ nhất khá đơn giản: nhà băng chủ nợ lo sợ rằng thân chủ trông có vẻ khấm khá ngày hôm nay nhưng thực chất thì không phải khả quan như vậy. Việc các đại ngân hàng như Bear Stearns, Lehman Brothers một sớm một chiều tiêu ma càng khiến cho sự lo sợ này càng đứng vững.
Lý do thứ hai hơi rắc rối hơn. Các nhà băng có nhiều món nợ dài hạn (như nợ mua nhà) nhưng đồng thời cũng phải vay nợ ngắn hạn. Khi mượn nợ ngắn hạn, nhà băng sẽ phải trả tiền lời thấp hơn so với mức lời kiếm được khi cho vay nợ dài hạn. Vì thế nên các nhà băng luôn cần vay ngắn hạn để trả các món nợ này.
Trong tình cảnh hiện nay, các nhà băng đều hoang mang và sợ rằng những nhà băng sẽ không cho mình vay nợ ngắn hạn vì sợ hãi hay nghi ngờ (dẫn đến những tình trạng sập tiệm mau chóng như các nhà băng Wachovia và Glitnir ở Iceland). Để tránh rơi vào tình trạng nguy hiểm đó, các nhà băng bèn tìm cách tích tụ tiền vốn, thay vì cho vay để kiếm lời cao. Và khi mọi người thi nhau giữ vốn lại thì sớm muộn cũng sẽ có nhiều nhà băng khác thi nhau phá sản.
Lý do đơn giản và cũng là nguyên tắc thiết yếu trên thị trường hiện nay là một nền kinh tế không thể vận hành được khi người ta không thể vay mượn một cách dễ dàng. Điều này có thể không được thấy rõ một cách dễ dàng và mau chóng, bởi vì đa số các cơ sở kinh doanh cũng như tư nhân không phải ngày nào cũng đi vay các món nợ lớn. Thế nhưng, cuối cùng thì sự thể đó cũng sẽ diễn ra đúng trình tự như vậy. Thí dụ điển hình nhất là trên thị trường tiêu thụ xe hơi. Một khi việc vay nợ để mua xe gặp khó khăn, con số xe bán được sẽ bị tụt giảm thê thảm, như những thống kế mới nhất cho thấy: Ford bị tụt giảm 35% so với năm ngoái, GM bị nhẹ hơn, khoảng 16%. Dĩ nhiên, cũng có nhiều người nói rằng đó là vì xe Mỹ dở hơn xe Nhật v.v. . . Nhưng nếu đà này tiếp tục thì không lâu nữa, các hãng xe Toyota hay Honda cũng sẽ thấy con số bán xe tụt giảm so với thời gian trước.
Liệu cuộc khủng hoảng này có thể được giải quyết mà không cần đến kế hoạch cứu vớt của chính phủ hay không, khi một số các nhà băng quyết định rằng họ không nên bỏ qua cơ hội kiếm lời như lúc này? Trên lý thuyết điều này có thể đúng. Và liệu người dân và Quốc Hội có quyền phản đối chính phủ đã quá hấp tấp đưa ra một kế hoạch cứu trợ quá tốn kém cho người thọ thuế mà không có những biện pháp trừng phạt thích đáng lên những nhà tài phiệt của Wall Street hay không? Điều này cũng hoàn toàn hợp lý.
Nhưng vấn đề cuối cùng không chỉ đơn thuần là việc cứu nguy cho thị trường tài chính Wall Street. Vấn đề cấp bách hiện nay là tìm cách giảm nguy cơ cho một tình trạng tệ hại thê thảm có thể xảy đến. Tức là tìm cách giới hạn những thiệt hại do hậu quả bất cẩn và thái quá của thị trường trong những thập niên qua. Và đó là điều đáng tiếc, vì trong lúc tìm cách giới hạn những thiệt hại rủi ro đó, không thể nào tránh đến việc cần phải cứu nguy giúp đỡ cho Wall Street trước đã. Bởi vì từ đó mà thị trường tín dụng mới có thể hoạt động lại, và nền kinh tế mới có thể vận hành mạnh mẽ trở lại.
Bằng không, thì như lời giáo sư Frederic Mishkin nhận định: "Không làm gì hết bây giờ thì cũng giống như là làm những điều đã dẫn đến tình trạng Đại Suy Thoái lúc trước."
Mai Loan
Tác giả: Mai Loan
Frederick Mishkin là một giáo sư kinh tế học của trường Đại học Columbia, được bổ nhiệm vào hội đồng quản trị của Ngân hàng Dự trữ Liên bang (Federal Reserve) mà người đứng đầu là ông Ben Bernanke. Nhiệm kỳ của ông Mishkin kéo dài đến năm 2014 nhưng ông vừa mới xin từ chức vào tháng trước để trở về trường Columbia dạy học tiếp. Trong vụ khủng hoảng trên thị trường tài chính hiện nay, ông đã kể lại cho nhà báo David Leonhardt của tờ nhật báo New York Times một thí dụ trong gia đình khá lý thú để nói lên sự lo ngại của ông, cũng như của nhiều chuyên gia kinh tế khác, vì sao mà cuộc khủng hoảng này có thể dẫn đến những hậu quả khốc hại hơn vì những suy nghĩ đơn giản nhưng lầm lẫn của nhiều người.
Vào năm 1929, ông nội của ông là Meyer Mishkin làm chủ một tiệm buôn quần áo cho dân lao động tại thành phố New York. Khi thị trường chứng khoán tại Wall Street tụt dốc thê thảm vào tháng 10 năm đó (gần giống như tình trạng hiện nay), ông Mishkin quay sang nói với cậu con, Sidney Mishkin, lúc bấy giờ đang là sinh viên theo học tại trường City College, rằng ông không lấy gì làm ngạc nhiên, nếu không muốn nói rằng có phần đồng ý vì "đúng là đáng đời cho những cái bọn vô lại bất lương đó".
Chừng một năm sau, khi những khó khăn trên thị trường tài chính ở Wall Street bắt đầu lan rộng xuống nền kinh tế cả nước, thì tiệm buôn của ông Frederick Mishkin cũng phải bị sập tiệm vì ông không còn đủ khách hàng còn tiền để đến mua đồ. Và cậu con trai Sidney đã phải bỏ học để ra đi làm giúp cho gia đình vượt qua cơn nguy khó, nhưng từ đó về sau ông Mishkin không bao giờ tìm lại được nữa một công việc đều đặn và có thu nhập đầy đủ.
Đó cũng là tâm lý chung của nhiều người dân Mỹ hiện nay mà giáo sư Mishkin cũng như phần đông các chuyên gia kinh tế khác đều lo ngại có thể dẫn đến một ngả rẽ tệ hại. Họ bắt đầu lo sợ khi thấy người dân, và nhiều vị dân cử, có suy nghĩ và phản ứng giống như vị tiểu thương Meyer Mishkin của gần 70 năm về trước, dường như chỉ thích nhìn thấy những kẻ làm giàu trên thị trường Wall Street cũng phải bị lâm nạn thay vì chú trọng đến việc cứu nguy nền kinh tế nói chung. Phản ứng của người dân không phải là không có lý, nhưng sự lo ngại của các chuyên gia đáng chú ý hơn, nhưng có lẽ giới này đã không thành công để thuyết phục cho người dân hiểu được vì sao mà họ phải tạm gác sang bên những tình cảm bực tức đó để cùng đoàn kết lo cho sự an nguy chung của quốc gia.
Kể ra cũng khó thuyết phục cho người dân về một hiểm hoạ to lớn có thể xảy đến nếu chỉ nói một cách tổng quát rằng các thị trường tín dụng có thể bị co cụm lại, mọi người sẽ gặp khó khăn hơn khi đi vay nợ và nền kinh tế có thể rơi vào tình trạng suy trầm, và tệ hơn nữa, có thể tụt vào tình trạng suy thoái tệ hại chưa từng thấy kể từ sau cơn Đại Suy Thoái (Great Depression). Cho đến nay, người ta chưa cảm nhận rõ tác hại của cơn khủng hoảng này lên đời sống của người dân, ngoài trừ việc họ có thể bắt đầu nhận ra rằng tài sản để dành về hưu của họ, trong các quỹ như 401(k), đã bị sút giảm, xuyên qua các con số trên các báo cáo hàng năm. Vì thế cho nên những lời báo động về một cuộc suy thoái xem chừng như có tính cách hoảng hốt quá đáng, và cái kế hoạch chính phủ bỏ ra 700 tỷ Mỹ-kim từ tiền thuế của dân không khác gì một liều thuốc cứu nguy cho những kẻ tài phiệt vô lại bất lương của Wall Street. Có lẽ ông tổng trưởng tài chính Henry Paulson và thống đốc Ngân hàng Trung ương Ben Bernanke đã không giải thích nổi bài học về hậu quả của cơn khủng hoảng tín dụng, đã không nối kết hữu hiệu các dữ kiện để đưa ra một nhận định đầy đủ cho thấy là tại sao điểm A sẽ dẫn đến điểm B rồi C rồi cuối cùng sẽ đi đến cơn suy thoái. Vì thế cho nên giáo sư Frederic Mishkin và nhà báo David Leonhardt đành phải cố gắng.
Nói chung, không phải ai cũng thích đưa ra những tiên đoán quá bi quan khi cho rằng một sự xuống dốc to lớn có thể dẫn đến tình trạng như kỳ Đại Suy Thoái. Thật ra chính phủ, qua Bộ Ngân Khố và Ngân hàng Trung Ương, đã phản ứng mạnh mẽ trên thị trường từ cả năm qua để đối phó với đà tụt dốc, khác với tình trạng thụ động như thời của chính quyền Herbert Hoover vào năm 1929. Hiện nay, tuy nhiều người nói đến rủi ro suy trầm — tức là khi mức tổng sản lượng quốc dân (GDP) không tăng trong 6 tháng liền — nhưng trong thực tế, điều đó chưa xảy ra. Và nếu có diễn ra, nó cũng chỉ tụt dốc chưa tới 1% hay 2% và trong một thời gian ngắn, chứ khó có thể tưởng tượng tụt dốc đến 30% như đã xảy ra vào thời điểm năm xưa. Giống như nhà báo kinh tế Robert Samuelson nhận định trong bài viết trên tờ Washington Post, cho dù thống kê mới nhất chỉ ra có đến hơn 600,000 người mất việc so với năm ngoái, thì cũng còn lại đến hơn 137 triệu người dân Mỹ vẫn tiếp tục có công ăn việc làm. Thỉnh thoảng, người ta có thể nghe nói đến cổ phiếu của một vài công ty bị tụt giá thê thảm, nhưng bù lại cũng có nhiều đại công ty khác, như các hãng dầu hoả ExxonMobil, PhilipsConoco, kiếm lời vượt trội trong cùng thời gian đó. Nền kinh tế của Hoa Kỳ hiện nay giàu mạnh và vững chắc hơn nhiều so với thời điểm của bảy thập niên về trước. Điều đó có nghĩa là đa số người dân Mỹ vẫn có cuộc sống thoải mái và chỉ một thiểu số rất nhỏ phải sống trong tình cảnh thiếu thốn ngặt nghèo. Thành thử cho dù có biến cố nào xảy đến, không ai nghĩ rằng sẽ có một loạt các thành phố ở Mỹ này sẽ rơi vào tình trạng bỏ hoang và xác xơ vì đói kém.
Thế nhưng cũng có những sự kiện đáng để ý vì nó cho thấy những cơ chế khiến nền kinh tế có thể rơi vào suy thoái trầm trọng cũng tương tự như tình trạng đã diễn ra trước thời kỳ Đại Suy Thoái vào đầu thập niên 1930. Trong cả hai trường hợp, một cuộc khủng hoảng tín dụng đều là nguyên nhân khởi đầu.
Vào đầu thập niên 1930, mặc dù thị trường Wall Street cũng bị thua lỗ nặng, nhưng nền kinh tế Mỹ vẫn chưa bị suy sụp. Mức tiêu thụ của người dân và sự đầu tư của giới kinh doanh tuy có giảm, nhưng chưa đến mức to lớn. Thế nhưng đến cuối năm 1930 thì một loạt các cơn hoảng loạn của các nhà băng đã dồn dập xảy đến. Các món đầu tư của các nhà băng bị thua lỗ — hoặc trong nhiều trường hợp bị đồn là có thể thua lỗ — đã khiến cho nhiều thân chủ hoảng sợ và thi nhau đến ngân hàng để rút hết tiền trong các trương mục. Thế là hàng trăm các nhà băng khác thi nhau sập tiệm vì không thể nào đào ra đủ tiền mặt để trả lại cho thân chủ.
Khi một nhà băng ở địa phương sập tiệm, thì tất cả nhân viên và ban giám đốc cũng mất việc luôn, đem luôn với họ tất cả những dữ kiện và thông tin cần thiết về thân chủ của nhà băng đó. Những nhà băng khác rất ngần ngại cho vay vì họ không hiểu rõ về những khách hàng của địa phương này, không biết ai có thành tích trả nợ tốt hay có công việc vững vàng. Thế là thị trường tín dụng tiêu tan. Giáo sư Mishkin nhận định: "Khi một nhà kinh doanh có sáng kiến hay và kế hoạch làm ăn vững vàng, nhưng lại không được nhà băng sẵn sàng tài trợ, thì anh ta không thể nào lao đầu vào cuộc kinh doanh. Và đó là lúc mà nền kinh tế bị sụp đổ." Hay nói đúng hơn, là khi cuộc suy thoái trở thành một cuộc đại suy thoái. Đến năm 1932, thì mức tiêu thụ của người dân và giới kinh doanh coi như sụp tiệm, và giá cổ phiếu trên toàn thị trường tài chính tụt dốc đến hơn 80% trị giá.
Một trong những kinh tế gia nghiên cứu để đưa ra lý thuyết về sự thiếu thốn dữ kiện và thông tin cần thiết của nhà băng cho vay là nguyên nhân chính tạo ra cơn suy thoái chính là ông Ben Bernanke. Ông gọi kho kiến thức bị mất mát này là "tư bản kiến thức" (informational capital), tức là một mớ tài sản về kiến thức thông tin cần thiết.
Và dường như lịch sử lại tái diễn gần 70 năm sau. Giờ đây, tuy đã có đầy đủ phương tiện khoa học và điện toán để thu thập thông tin cần thiết về các thân chủ vay nợ, nhưng những biến cố trong hơn một năm qua, khởi đi từ vụ bể bóng lỗ lã của các món nợ xấu thuộc loại subprime trên thị trường địa ốc, cho thấy là giờ đây hầu như đa số các nhà băng đều không nắm vững về tình hình của những người muốn vay nợ. Nguyên nhân chính là vụ chứng-khoán-hoá các món nợ (securitized debts), tức là xào nấu các tờ giấy nợ thế chấp bằng địa ốc này để gói với những món nợ khác và biến thành cổ phiếu hay trái phiếu như là những món nợ tốt. Trớ trêu thay, việc toàn-cầu-hoá nền kinh tế có công dụng phát triển các dịch vụ kinh doanh tại khắp nơi thì cũng có hậu quả là khi chuyện xấu xảy ra, nó cũng lan tràn nhanh chóng khắp nơi. Tất cả nhà băng ngày nay đều rơi vào tình trạng không biết rõ trong các món nợ cầm giữ của mình phần xấu chiếm bao nhiêu, và trong những khách hàng cần vay nợ, không biết ai có thành tích tốt hay có đủ khả năng để trả nợ trong tương lai. Tức là thị trường tài chính cũng mất đi cái "tư bản kiến thức" cần thiết để tiếp tục an tâm làm ăn. Vì thế mà các nhà băng ngần ngại cho vay, thay vào đó bỏ tiền để mua công khố phiếu, tuy không có tiền lời, nhưng coi như là chắc chắn không bị mất. Trong trường hợp nhà băng chịu cho vay, thường là tính với phân lời cao, và đòi hỏi thân chủ phải thế chấp nhiều hơn. Và chính điều này mới là điều đáng lo ngại vì nhiều phần là khi phân lời càng lên cao và việc vay mượn không còn dễ dãi nữa thì nền kinh tế cũng sẽ khó vận hành xuông xẻ.
Nhiều người sẽ tự hỏi rằng vì sao mà các nhà băng lại lo sợ thái quá đến gần như vô lý như vậy. Nói chung, đa số người dân Mỹ cũng như các cơ sở kinh doanh ở Hoa Kỳ này cũng đều vững vàng, làm ăn khá giả, chứ đâu phải là những thành phần không đáng tin cậy. Tại sao các nhà băng lại không chịu nhảy ra vào dịp này để cho vay nợ với phân lời cao và do đó sẽ thu về lời nhiều hơn.
Có hai lý do giải thích vì sao điều đó không xảy ra. Lý do thứ nhất khá đơn giản: nhà băng chủ nợ lo sợ rằng thân chủ trông có vẻ khấm khá ngày hôm nay nhưng thực chất thì không phải khả quan như vậy. Việc các đại ngân hàng như Bear Stearns, Lehman Brothers một sớm một chiều tiêu ma càng khiến cho sự lo sợ này càng đứng vững.
Lý do thứ hai hơi rắc rối hơn. Các nhà băng có nhiều món nợ dài hạn (như nợ mua nhà) nhưng đồng thời cũng phải vay nợ ngắn hạn. Khi mượn nợ ngắn hạn, nhà băng sẽ phải trả tiền lời thấp hơn so với mức lời kiếm được khi cho vay nợ dài hạn. Vì thế nên các nhà băng luôn cần vay ngắn hạn để trả các món nợ này.
Trong tình cảnh hiện nay, các nhà băng đều hoang mang và sợ rằng những nhà băng sẽ không cho mình vay nợ ngắn hạn vì sợ hãi hay nghi ngờ (dẫn đến những tình trạng sập tiệm mau chóng như các nhà băng Wachovia và Glitnir ở Iceland). Để tránh rơi vào tình trạng nguy hiểm đó, các nhà băng bèn tìm cách tích tụ tiền vốn, thay vì cho vay để kiếm lời cao. Và khi mọi người thi nhau giữ vốn lại thì sớm muộn cũng sẽ có nhiều nhà băng khác thi nhau phá sản.
Lý do đơn giản và cũng là nguyên tắc thiết yếu trên thị trường hiện nay là một nền kinh tế không thể vận hành được khi người ta không thể vay mượn một cách dễ dàng. Điều này có thể không được thấy rõ một cách dễ dàng và mau chóng, bởi vì đa số các cơ sở kinh doanh cũng như tư nhân không phải ngày nào cũng đi vay các món nợ lớn. Thế nhưng, cuối cùng thì sự thể đó cũng sẽ diễn ra đúng trình tự như vậy. Thí dụ điển hình nhất là trên thị trường tiêu thụ xe hơi. Một khi việc vay nợ để mua xe gặp khó khăn, con số xe bán được sẽ bị tụt giảm thê thảm, như những thống kế mới nhất cho thấy: Ford bị tụt giảm 35% so với năm ngoái, GM bị nhẹ hơn, khoảng 16%. Dĩ nhiên, cũng có nhiều người nói rằng đó là vì xe Mỹ dở hơn xe Nhật v.v. . . Nhưng nếu đà này tiếp tục thì không lâu nữa, các hãng xe Toyota hay Honda cũng sẽ thấy con số bán xe tụt giảm so với thời gian trước.
Liệu cuộc khủng hoảng này có thể được giải quyết mà không cần đến kế hoạch cứu vớt của chính phủ hay không, khi một số các nhà băng quyết định rằng họ không nên bỏ qua cơ hội kiếm lời như lúc này? Trên lý thuyết điều này có thể đúng. Và liệu người dân và Quốc Hội có quyền phản đối chính phủ đã quá hấp tấp đưa ra một kế hoạch cứu trợ quá tốn kém cho người thọ thuế mà không có những biện pháp trừng phạt thích đáng lên những nhà tài phiệt của Wall Street hay không? Điều này cũng hoàn toàn hợp lý.
Nhưng vấn đề cuối cùng không chỉ đơn thuần là việc cứu nguy cho thị trường tài chính Wall Street. Vấn đề cấp bách hiện nay là tìm cách giảm nguy cơ cho một tình trạng tệ hại thê thảm có thể xảy đến. Tức là tìm cách giới hạn những thiệt hại do hậu quả bất cẩn và thái quá của thị trường trong những thập niên qua. Và đó là điều đáng tiếc, vì trong lúc tìm cách giới hạn những thiệt hại rủi ro đó, không thể nào tránh đến việc cần phải cứu nguy giúp đỡ cho Wall Street trước đã. Bởi vì từ đó mà thị trường tín dụng mới có thể hoạt động lại, và nền kinh tế mới có thể vận hành mạnh mẽ trở lại.
Bằng không, thì như lời giáo sư Frederic Mishkin nhận định: "Không làm gì hết bây giờ thì cũng giống như là làm những điều đã dẫn đến tình trạng Đại Suy Thoái lúc trước."
Mai Loan

Cộng Đồng Người Việt tại Hoa Kỳ có tin ông Michalak không?
Tác giả: Từ Lê Phong
Hai tháng trước ông Michalak cũng đã về Houston Texas để hỗ trợ việc thành lập toà Tổng Lãnh Sự VC tại Houston. Nó thật thì đau lòng nhưng mấy ông đại sứ Mỹ tại Việt-Nam này chỉ lo cho quyền lợi của nước Mỹ mà không để ý đến quyền lợi của CĐNV tại Hoa Kỳ và 82 triệu người dân VN sống dưới chế độ độc tài của CS chút nào cả. Kể cả vụ nói chuyện tại nam Cali này cũng được tổ chức nhằm giải độc và cắt nghĩa thêm về quyền lợi và vai trò của Hoa Kỳ tại Việt-Nam mà thôi.
Cộng Đồng chúng ta đáng lẽ không nên làm chuyện ruồi bu, vô tích sự đến tham dự buổi nói chuyện với ông đại sứ Michalak - sắp về vườn - trong 3,4 tháng nữa. Dù sao thì "ăn cơm Chúa múa tối ngày" , ông này sẽ cố gắng bênh vực công việc của chính quyền Bush và nhún nhường công nhận là CSVN còn vi phạm nhân quyền nhưng đã có "tiến bộ" như các báo cáo mà đồng nghiệp ông đã trình bầy với Quốc Hội Hoa Kỳ.
Ngay mới đây nhất là vụ Thái Hà, CSVN đã dùng dùi cui điện, lựu đạn cay, đánh đập giáo dân đến cầu nguyện theo một nghi thức tôn giáo hoàn toàn bất báo động, mà vẫn được các đặc sứ Hoa Kỳ cho là VC có tiến bộ về tự do tôn giáo thì thật là lạ. Người ta chỉ cầu nguyện - tự do hành đạo - mà cũng bị đánh đập mà vẫn được ông Michalak cho là không vi phạm tự do tôn giáo thì lại càng khó hiểu.
Ông Mickalak làm việc cho chính quyền ông Bush, một chính quyền mà người dân Hoa Kỳ kết án là để cho tụi tài phiệt tư tung tự tác, từ vụ tăng tiền xăng dầu khiến mọi dịch vụ chuyên chở đều tăng giá, gây nên hệ quả dây chuyền tăng giá đủ mọi thứ, dân chúng đã khổ lại càng khổ hơn.
Năm công ty xăng dầu kiếm lời mỗi tam cá nguyệt lời mấy chục tỉ Mỹ Kim, đến vụ lấy tiền thuế của dân chúng ra tài trợ nhóm tài phiệt Wall Street, các công ty bán chính phủ cho vay tiền mua nhà "Federal Home Loan Mortgage Corporation" được gọi là Freddie Mac hoàn toàn thất bại, đưa đến tình trạng địa ốc trên nước Mỹ bị tê liệt, cả mấy triệu căn nhà bị kéo...
Đường lối đối ngoại của chính phủ Bush chỉ là thương mại, đãi ngộ đám tài phiệt, mà quên mất căn bản của Hiến Pháp Hoa Kỳ, Tuyên Ngôn độc lập, dân quyền của Mỹ Quốc từ năm 1776. Bà Condi Rice và các thứ trưởng ngoại giao, đặc sứ và đại sứ, không làm được một việc gì cho nền dân chủ tại Việt-Nam và thế giới. Hoa Kỳ nhượng bộ quá nhiều cho VN để đổi lấy nhân công rẻ cho các ông ty tài phiệt rút những giao kèo từ Trung cộng về VN. Ông Michalak bị điều động từ Trung Quốc về VN thay thế ông Marine cũng vì lý do đó.
Qua những bao che "vi phạm nhân quyền, chà đạp quyền tự do tôn giáo, trù dập các nhà dân chủ" cho CSVN, cắt đứt đuôi CPC, cho hưởng PNTR, cho vào WTO, cho làm thành viên HĐBA/LHQ (không thường trực) và sau cùng cho từng đàn con em (Con ông cháu cha) của đám cán bộ VC gộc sang Hoa Kỳ "ru" học, để rửa tiền của cha mẹ chúng. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã nhận được gì từ Cộng sản Việt-Nam?
Người ta vẫn nhớ lại kỳ cựu đại sứ Marine từ Việt-Nam về nam Cali ca tụng VC, chửi bới cộng đồng người Việt tỵ nạn mấy năm trước. Người dân tự hỏi Đại sứ Marine - với vợ là người VN - có thoát khỏi những dịp gửi gấm, "quà cáp", "bôi mỡ" của đám VC không?
Kỳ bầu cử 2008 này nếu đảng Cộng Hoà thua thì lỗi lớn nhất là chính phủ Bush đã hoàn toàn thất bại trong 8 năm cầm quyền. Những lời nói nẩy lửa rằng "Hoa Kỳ sẽ đứng đàng sau những dân tộc mong muốn tự do và dân chủ" trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ 2 của TT Bush đúng ra chỉ là những sáo ngữ ru ngủ. Ngay cả khi ông Bush mời gọi bốn vị đại diện CĐNV đến gặp tại toà Bạch Ốc cũng chỉ là những kiểu mỵ dân vô hiệu quả. Thử hỏi những đề nghị của các đại diện CĐNV trình lên TT Bush có được thi hành không hay chỉ là thoáng chui vào tai bên phải chạy ngay ra lỗ tai bên trái mà thôi.
Trong một thể chế dân chủ thực sự, thì người dân Hoa Kỳ vẫn có quyền ngờ vực và đặt câu hỏi là các viên chức ngoại giao Hoa Kỳ thường trực tại Việt-Nam hay lưu động, có bị mờ mắt, bị gài bẫy, hối lộ sau đó bị "thuần hoá" chưa?
Câu hỏi này chỉ có thể được trả lời sau ngày có chính phủ mới tại Toà Bạch Ốc đầu năm 2009 và người dân Hoa Kỳ yêu cầu điều tra cặn kẽ. Xin nhớ rằng Cộng sản, với phương châm "Cứu cánh biện minh cho phương tiện" chúng có thể làm bất cứ cái gì để đạt được mục đích.
Xung đột giữa nhà nước Việt Nam và tôn giáo,
qua các cuộc tranh chấp với Công Giáo gần đây
Tác giả: Phan Bá Việt
“…Đảng Cộng Sản Việt Nam đang cần một thay đổi lớn, thay đổi cả một văn hóa quyền lực. Đây là một thay đổi rất khó khăn vì ngoài một nhận thức mới họ còn phải giải quyết những sai lầm, kể cả những tội ác, đã tích lũy từ nhiều thập niên…”
Diễn tiến vụ Toà Khâm Sứ và giáo xứ Thái Hà có thể tóm lược trong vài nét chính: tịch thu nhà đất một cách tùy tiện không văn bản, hứa trả lại đất, nhưng rồi không trả và đề nghị các mảnh đất khác, sau đó khẩn cấp công viên hoá các khu đất giáo phận đang đòi lại, bắt giam những người được coi là có uy tín trong khối giáo dân, gửi côn đồ tới khiêu khích và đánh đập giáo dân tham gia cầu nguyện.
Diễn tiến này không khỏi gây ra nhiều thắc mắc. Tại sao không trao trả những khu đất yêu cầu mà lại chỉ định các khu đất khác? Có phải vì những khu đất đòi hỏi đã được chuyển nhượng nên không thể trao trả? Tại sao không lập công viên tại các khu đất đã đề nghị cho giáo phận Hà Nội? Có phải vì lời tuyên bố của tổng giám mục Ngô Quang Kiệt là khối Công Giáo chỉ đòi lại những nơi đã không được sử dụng vào công ích nên nhà nước đã vội vàng công viên hoá khu đất để vô hiệu hoá việc đòi lại đất? Tại sao lại vu khống và lăng nhục tổng giám mục Kiệt bằng các phương tiện truyền thông nhà nước? Tại sao lại sử dụng bọn xã hội đen?
Nhưng muốn hiểu những gì xảy ra cần ý thức trước hết một điều, đó là đề tài “Phân tích sự xung đột giữa nhà nước Việt Nam và tôn giáo, điển hình qua các cuộc tranh chấp với Công Giáo gần đây” tự nó đã chứa đựng một sai lầm. Không làm gì có xung đột và cũng không làm gì có tranh chấp. Bởi vì chỉ có thể nói tới xung đột và tranh chấp khi các đối tác trong cuộc tranh giành với nhau một quyền lợi mà cả hai đều có một lý do nào đó để cho là của mình. Đằng này chỉ là một sự bắt chẹt một chiều của một nhà nước cậy có bạo lực đối với một thành phần ôn hoà của xã hội dân sự. Công Giáo bị cướp đoạt đất một cách tùy tiện không qua một văn bản nào cả. Họ đòi hoặc phải trả lại họ hoặc phải có văn bản tịch thu hẳn hoi. Như vậy không thể gọi là một tranh chấp được. Vả lại các tôn giáo Việt Nam đều không có tham vọng chính trị nên không muốn và cũng không thể tranh chấp với chính quyền cộng sản. Đặc biệt là trong trường hợp Công Giáo thì hàng giáo phẩm Công Giáo Việt Nam từ trước đến nay luôn luôn có khuynh hướng nhẫn nhục với chính quyền, theo như lời Chúa phán: "của César hãy trả cho César, của Đức Chúa Trời hãy trả cho Đức Chúa Trời", ngay cả khi César lấn sang quyền của Thiên Chúa. Thái độ nhẫn nhục quá đáng này nhiều khi đã khiến người ta phải phiền lòng. Bởi vậy quan hệ giữa Công Giáo, và các tôn giáo Việt Nam nói chung, với chính quyền cộng sản chỉ là một quan hệ đàn áp đơn phương.
Nhưng tại sao lại có quan hệ đàn áp đơn phương như vậy?
Tính toàn trị và quan liêu của nhà nước công sản
Nhà nước Việt Nam hiện nay chỉ là công cụ của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Và ĐCSVN thì lại quan niệm rằng một khi mình đã cướp được chính quyền ("cướp chính quyền" là tiếng mà chính người cộng sản đã dùng để nói về Cách Mạng Tháng
thì tất cả đất nước là của họ. Đảng đã quy định quyền này bằng điều 4 của hiến pháp để biến Đảng thành một ông vua kiểu mới. Đảng là luật, chỉ một mình Đảng có quyền trên đất nước còn mọi người khác, mọi tôn giáo, phải thần phục, không có quyền đòi hỏi mà chỉ được phép xin, để Đảng tùy tiện cho hay không cho. Chính vì vậy nhà nước Việt Nam, công cụ của Đảng, đã tỏ ra hống hách quan liêu, không bao giờ chấp nhận là mình đã sai, không bao giờ muốn biết tới quyền của những người ngoài Đảng. Những ai có ý định đòi hỏi, không chấp nhận cách hành xử "xin-cho" thì phải bị đàn áp và trừng phạt. Trái với một nhận định hơi vội vàng, chủ nghĩa Mác-Lênin chưa hề cáo chung tại Việt Nam, mô hình kinh tế của nó đã phá sản và không thể tiếp tục được nữa, nhưng văn hóa toàn trị của nó vẫn còn đó.
Sợ hãi xã hội dân sự
Như mọi chính quyền toàn trị, chính quyền cộng sản Việt Nam rất sợ xã hội dân sự. Vì vậy họ chủ trương bóp nghẹt xã hội dân sự. Các tôn giáo là những thành phần của xã hội dân sự. Các tôn giáo lại có số người đông đảo, có truyền thống lâu dài, có lòng tin và sự gắn bó cao. Đó là những thành phần xã hội dân sự bền vững nhất nên cũng phải bị khống chế chặt chẽ nhất. Xã hội dân sự là điểm trên đó lập trường của đảng cộng sản và của đối lập dân chủ đối chọi với nhau một cách rõ rệt nhất. Một bên, đảng cộng sản, coi xã hôi dân sự như một mối nguy cẩn phải triệt tiêu; một bên, đối lập dân chủ, coi đó là yếu tố nền tảng của đất nước cần được phát huy tối đa.
Trong dự án chính trị Thành Công Thế Kỉ 21, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đã phát biểu một quan điểm trái ngược hẳn với quan điểm của chủ nghĩa cộng sản:
“Xã hội dân sự là toàn thể các giáo hội, hiệp hội, câu lạc bộ, các tổ chức thiện nguyện, các nghiệp đoàn, hợp tác xã, công ty, xí nghiệp. Nói chung, đó là tất cả các kết hợp của người dân, được thành lập để cùng theo đuổi một số mục đích chung và không nhắm tranh giành quyền lực chính trị.
Ý niệm xã hội dân sự đã được xuất hiện cùng một lúc với các xã hội văn minh. Đó là những sợi dây chằng chịt gắn bó những con người với nhau và gắn bó con người với xã hội. Những sợi dây liên lạc đan xen đó tạo ra sự bền chắc của quốc gia. Các kết hợp công dân tạo thành xã hội dân sự cũng là những cái nôi cho ý kiến, sáng kiến và tiến bộ. Một xã hội dân sự mạnh bảo đảm các ý kiến mới được nảy sinh nhanh chóng, các mâu thuẫn được phát hiện và giải quyết kịp thời, xã hội không ngừng tiến hóa trong hòa bình và trật tự.
Trong mô hình xã hội của chúng ta, xã hội dân sự còn được giao phó một vai trò quan trọng là thực hiện liên đới xã hội, giúp đỡ và bênh vực những người yếu kém và thiếu may mắn.
Mọi kết hợp đều tạo ra sức mạnh. Sức mạnh của xã hội dân sự là sức mạnh tổng hợp, nhưng không bao giờ thống nhất, của các kết hợp công dân có khi cùng hướng với nhau, có khi biệt lập với nhau và cũng có khi đối chọi với nhau. Sức mạnh của xã hội dân sự từng lúc và từng cơ hội hòa nhập với nhà nước hay đối lập với nhà nước, nhưng lúc nào cũng ảnh hưởng trên nhà nước và không bao giờ có tham vọng tranh quyền với nhà nước bởi vì nó không có và không thể có tham vọng chính trị.
Xã hội dân sự đảm bảo sự năng động của xã hội và đồng thời cũng bảo đảm tự do, dân chủ, nhân quyền, ngăn chặn mọi ý đồ độc tài chuyên chính. Mọi chế độ độc tài bạo ngược đều nhắm trước hết tiêu diệt xã hội dân sự. Bản chất của các chế độ độc tài là dựa trên một thiểu số để khống chế một xã hội phân hóa. Các bạo quyền không cần dân chúng tin yêu mình mà chỉ cần người dân đừng gắn bó với nhau để không có sức đề kháng. Không gì thỏa mãn các tập đoàn độc tài hơn là sự thờ ơ và bất lực của quần chúng.
Triết lý của một chế độ dân chủ, trái lại, coi xã hội dân sự là thành tố áp đảo và nền tảng của quốc gia vì thế vai trò của nhà nước là làm cho các kết hợp công dân ngày càng đông đảo, không ngừng tiến lên và mạnh lên để đóng góp tích cực cho sự phồn vinh của xã hội. Nhà nước dân chủ đa nguyên tự coi mình là công cụ của xã hội dân sự với sứ mệnh bảo đảm hoạt động lành mạnh của xã hội dân sự, để xã hội dân sự tạo hạnh phúc cho các công dân. Đó không phải là một sự từ nhiệm mà là một triết lý chính trị mới của một chính quyền đủ tự tin để đặt lòng tin vào các công dân. Trong quan hệ biện chứng với xã hội dân sự, nhà nước dân chủ đa nguyên tự coi mình là người trọng tài, phối hợp và thể hiện những nguyện vọng của xã hội dân sự. Nhà nước phục vụ chứ không khống chế xã hội dân sự”
Văn hoá tôn giáo của đảng cộng sản Việt nam
Việt Nam là một trong những nước may mắn không thực sự có vấn đề tôn giáo. Số người có tôn giáo chỉ là một tỉ lệ nhỏ và họ cũng không hề quá khích. Công giáo 8%, tín đồ Phật Giáo thực sự, nghĩa là những Phật tử hành đạo một cách tương đối đều đặn vào khoảng 10%, Cao Đài và Hoà Hảo chỉ còn rất ít tín đồ thực sự. Một cuộc thăm dò gần đây của đại học Irvine, Hoa Kỳ, cho thấy gần 90% thanh niên Việt Nam tuyên bố họ không theo và cũng không muốn có một tôn giáo nào; gần 100% không muốn tôn giáo can thiệp vào hoạt động chính trị. Bất cứ một chính quyền nào, trừ chính quyền cộng sản, cũng không có lý do nào để phải lo ngại các tôn giáo. Vấn đề tôn giáo chỉ đặt ra vì, ngoài tâm lý toàn trị, văn hoá cộng sản về bản chất cũng không khác một văn hóa tôn giáo, nghĩa là cũng đòi người dân tin Đảng thay vì lý luận, cũng đòi được tôn sùng thay vì phê phán. Chúng ta có thể thấy văn hoá tôn giáo của đảng cộng sản qua những ứng xử như việc thần thánh hoá các lãnh tụ (Hồ Chí Minh đã được đưa vào chùa và còn được cho ngồi ở nơi trang trọng hơn Đức Phật), việc đảng không bao giờ sai lầm, việc chủ trương xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, việc hô hào học tập đạo đức Hồ Chí Minh…. Chính văn hoá tôn giáo này đã khiến đảng cộng sản nhìn các tôn giáo như là các đối thủ.
Âm mưu chia rẽ Công Giáo với phần còn lại của dân tộc
Âm mưu lộ liễu của chính quyền CSVN là chia rẽ Công Giáo với phần còn lại của dân tộc. Họ muốn là dân chúng nhìn vụ Thái Hà và Tòa Khâm Sứ như là một tranh chấp giữa một bên là chính quyền CS muốn xây công viên và thư viện, nghĩa là những tiện ích công cộng phục vụ toàn dân, và một bên khác là Công Giáo chỉ muốn giành các khu đất cho mình. Vì vậy nhà nước đã sử dụng các cơ quan truyền thông để xuyên tạc vu khống, để khích động dân chúng và cố tạo ra hiềm khích giữa dân chúng và người Công giáo. Chiến dịch đả kích và bôi nhọ tổng giám mục Kiệt -bằng cách cắt xén và xuyên tạc những gì ông nói và bịa đặt cho ông những ý đồ mà ông không hề có- nằm trong mục tiêu cô lập người Công Giáo để dễ đàn áp. Chúng ta cần phải cảnh giác với âm mưu này và lên án mạnh mẽ một chính quyền đang cố tình chia rẽ dân tộc. Chia để trị luôn luôn là chủ trương của những chính quyền toàn trị. Đó cũng là lý do khiến đảng cộng sản rất dị ứng với chủ trương Hoà Giải và Hoà Hợp Dân Tộc mà Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên không ngừng cổ võ. Chính vì “Hòa giải và hòa hợp dân tộc là điều kiện cần cho thắng lợi của cuộc vận động dân chủ hiện nay và cũng là điều kiện cần cho thành công của cố gắng phục hưng đất nước ngày mai” (TCTK21) nên chúng ta cần phải cảnh giác với mọi âm mưu phá hoại chất liệu nhân xã của dân tộc ta.
Vấn đề cụ thể: cướp đoạt nhà đất để chia chác
Ngoài những nhận định về triết lý chính trị chúng ta không thể bỏ qua một mâu thuẫn cụ thể giữa chính quyền CS và các tôn giáo, đó là vấn đề nhà đất. Đảng CS đã cướp đoạt quá nhiều nhà đất của dân chúng, trong đó có các tôn giáo. Khối dân oan hiện nay lên tới gần một triệu người. Vấn đề nhà đất không phải là vấn đề riêng của Công Giáo, hay của một tôn giáo nào, hay của các tôn giáo, mà là vấn đề chung của cả dân tộc. Cả một dân tộc bị cướp bóc! Chính vì vậy mà các biến cố Thái Hà và Tòa Khâm Sứ nguy hiểm cho chế độ vì sự phản kháng của Công Giáo có thể lây lan sang nhiều thành phần dân tộc khác. Trong lịch sử cận đại của thế giới chưa có trường hợp một đảng cầm quyền nào cướp đoạt nhà đất của dân chúng trên một qui mô lớn như tại nước ta. Nhà đất là một trái bom nổ chậm. Điều đó càng khiến nhà nước cộng sản sợ và phản ứng thô bạo.
Một hy vọng
Những phân tích trên đây một lần nữa tái xác nhận là trong tình trạng hiện nay tại Việt Nam điều được nhìn như các xung đột giữa chính quyền với các thành phần dân tộc thực sự mới chỉ là những đàn áp đơn phương của một chính quyền đồng hóa cai trị với thống trị. Sự kiện người Công Giáo không nao núng, vẫn giữ được quyết tâm mà không bị trượt tuột vào thái độ căm thù là một yếu tố rất quan trọng và là một hy vọng. Nó có thể tạo ra thay đổi tâm lý cả trong xã hội Việt Nam lẫn trong đảng cộng sản. Về phía xã hội Việt Nam nó tạo ra ý thức rằng dù quyền lợi chính đáng đến đâu cũng phải đấu tranh có tổ chức nếu muốn giành thắng lợi. Cuộc đấu tranh của người Công Giáo Hà Nội đã có hiệu lực vì họ có tổ chức. Về phía đảng cộng sản từ chỗ không thể đàn áp người ta có thể dần dần bỏ tâm lý đàn áp và chấp nhận đối thoại như là phương thức văn minh hơn và hiệu quả hơn để giải quyết những bất đồng. Chúng ta không mong đợi gì hơn.
Đảng Cộng Sản Việt Nam đang cần một thay đổi lớn, thay đổi cả một văn hóa quyền lực. Đây là một thay đổi rất khó khăn vì ngoài một nhận thức mới họ còn phải giải quyết những sai lầm, kể cả những tội ác, đã tích lũy từ nhiều thập niên trong quá trình giành chính quyền, giữ chính quyền và lạm dụng chính quyền. Những người cầm quyền hiện nay không phải là nguyên nhân của phần lớn những vấn đề nghiêm trọng của đất nước, họ chủ yếu là những người đã kế thừa một di sản nặng nề. Chắc chắn rất nhiều người yêu nước sẵn sàng thông cảm những khó khăn của họ và sẵn sàng đánh giá những bước đi đúng hướng. Với điều kiện là chính họ cũng phải sẵn sàng chấp nhận một đoạn tuyệt quyết định với tâm lý và những tập quán cũ.
Phan Bá Việt
qua các cuộc tranh chấp với Công Giáo gần đây
Tác giả: Phan Bá Việt
“…Đảng Cộng Sản Việt Nam đang cần một thay đổi lớn, thay đổi cả một văn hóa quyền lực. Đây là một thay đổi rất khó khăn vì ngoài một nhận thức mới họ còn phải giải quyết những sai lầm, kể cả những tội ác, đã tích lũy từ nhiều thập niên…”
Diễn tiến vụ Toà Khâm Sứ và giáo xứ Thái Hà có thể tóm lược trong vài nét chính: tịch thu nhà đất một cách tùy tiện không văn bản, hứa trả lại đất, nhưng rồi không trả và đề nghị các mảnh đất khác, sau đó khẩn cấp công viên hoá các khu đất giáo phận đang đòi lại, bắt giam những người được coi là có uy tín trong khối giáo dân, gửi côn đồ tới khiêu khích và đánh đập giáo dân tham gia cầu nguyện.
Diễn tiến này không khỏi gây ra nhiều thắc mắc. Tại sao không trao trả những khu đất yêu cầu mà lại chỉ định các khu đất khác? Có phải vì những khu đất đòi hỏi đã được chuyển nhượng nên không thể trao trả? Tại sao không lập công viên tại các khu đất đã đề nghị cho giáo phận Hà Nội? Có phải vì lời tuyên bố của tổng giám mục Ngô Quang Kiệt là khối Công Giáo chỉ đòi lại những nơi đã không được sử dụng vào công ích nên nhà nước đã vội vàng công viên hoá khu đất để vô hiệu hoá việc đòi lại đất? Tại sao lại vu khống và lăng nhục tổng giám mục Kiệt bằng các phương tiện truyền thông nhà nước? Tại sao lại sử dụng bọn xã hội đen?
Nhưng muốn hiểu những gì xảy ra cần ý thức trước hết một điều, đó là đề tài “Phân tích sự xung đột giữa nhà nước Việt Nam và tôn giáo, điển hình qua các cuộc tranh chấp với Công Giáo gần đây” tự nó đã chứa đựng một sai lầm. Không làm gì có xung đột và cũng không làm gì có tranh chấp. Bởi vì chỉ có thể nói tới xung đột và tranh chấp khi các đối tác trong cuộc tranh giành với nhau một quyền lợi mà cả hai đều có một lý do nào đó để cho là của mình. Đằng này chỉ là một sự bắt chẹt một chiều của một nhà nước cậy có bạo lực đối với một thành phần ôn hoà của xã hội dân sự. Công Giáo bị cướp đoạt đất một cách tùy tiện không qua một văn bản nào cả. Họ đòi hoặc phải trả lại họ hoặc phải có văn bản tịch thu hẳn hoi. Như vậy không thể gọi là một tranh chấp được. Vả lại các tôn giáo Việt Nam đều không có tham vọng chính trị nên không muốn và cũng không thể tranh chấp với chính quyền cộng sản. Đặc biệt là trong trường hợp Công Giáo thì hàng giáo phẩm Công Giáo Việt Nam từ trước đến nay luôn luôn có khuynh hướng nhẫn nhục với chính quyền, theo như lời Chúa phán: "của César hãy trả cho César, của Đức Chúa Trời hãy trả cho Đức Chúa Trời", ngay cả khi César lấn sang quyền của Thiên Chúa. Thái độ nhẫn nhục quá đáng này nhiều khi đã khiến người ta phải phiền lòng. Bởi vậy quan hệ giữa Công Giáo, và các tôn giáo Việt Nam nói chung, với chính quyền cộng sản chỉ là một quan hệ đàn áp đơn phương.
Nhưng tại sao lại có quan hệ đàn áp đơn phương như vậy?
Tính toàn trị và quan liêu của nhà nước công sản
Nhà nước Việt Nam hiện nay chỉ là công cụ của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Và ĐCSVN thì lại quan niệm rằng một khi mình đã cướp được chính quyền ("cướp chính quyền" là tiếng mà chính người cộng sản đã dùng để nói về Cách Mạng Tháng
Sợ hãi xã hội dân sự
Như mọi chính quyền toàn trị, chính quyền cộng sản Việt Nam rất sợ xã hội dân sự. Vì vậy họ chủ trương bóp nghẹt xã hội dân sự. Các tôn giáo là những thành phần của xã hội dân sự. Các tôn giáo lại có số người đông đảo, có truyền thống lâu dài, có lòng tin và sự gắn bó cao. Đó là những thành phần xã hội dân sự bền vững nhất nên cũng phải bị khống chế chặt chẽ nhất. Xã hội dân sự là điểm trên đó lập trường của đảng cộng sản và của đối lập dân chủ đối chọi với nhau một cách rõ rệt nhất. Một bên, đảng cộng sản, coi xã hôi dân sự như một mối nguy cẩn phải triệt tiêu; một bên, đối lập dân chủ, coi đó là yếu tố nền tảng của đất nước cần được phát huy tối đa.
Trong dự án chính trị Thành Công Thế Kỉ 21, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đã phát biểu một quan điểm trái ngược hẳn với quan điểm của chủ nghĩa cộng sản:
“Xã hội dân sự là toàn thể các giáo hội, hiệp hội, câu lạc bộ, các tổ chức thiện nguyện, các nghiệp đoàn, hợp tác xã, công ty, xí nghiệp. Nói chung, đó là tất cả các kết hợp của người dân, được thành lập để cùng theo đuổi một số mục đích chung và không nhắm tranh giành quyền lực chính trị.
Ý niệm xã hội dân sự đã được xuất hiện cùng một lúc với các xã hội văn minh. Đó là những sợi dây chằng chịt gắn bó những con người với nhau và gắn bó con người với xã hội. Những sợi dây liên lạc đan xen đó tạo ra sự bền chắc của quốc gia. Các kết hợp công dân tạo thành xã hội dân sự cũng là những cái nôi cho ý kiến, sáng kiến và tiến bộ. Một xã hội dân sự mạnh bảo đảm các ý kiến mới được nảy sinh nhanh chóng, các mâu thuẫn được phát hiện và giải quyết kịp thời, xã hội không ngừng tiến hóa trong hòa bình và trật tự.
Trong mô hình xã hội của chúng ta, xã hội dân sự còn được giao phó một vai trò quan trọng là thực hiện liên đới xã hội, giúp đỡ và bênh vực những người yếu kém và thiếu may mắn.
Mọi kết hợp đều tạo ra sức mạnh. Sức mạnh của xã hội dân sự là sức mạnh tổng hợp, nhưng không bao giờ thống nhất, của các kết hợp công dân có khi cùng hướng với nhau, có khi biệt lập với nhau và cũng có khi đối chọi với nhau. Sức mạnh của xã hội dân sự từng lúc và từng cơ hội hòa nhập với nhà nước hay đối lập với nhà nước, nhưng lúc nào cũng ảnh hưởng trên nhà nước và không bao giờ có tham vọng tranh quyền với nhà nước bởi vì nó không có và không thể có tham vọng chính trị.
Xã hội dân sự đảm bảo sự năng động của xã hội và đồng thời cũng bảo đảm tự do, dân chủ, nhân quyền, ngăn chặn mọi ý đồ độc tài chuyên chính. Mọi chế độ độc tài bạo ngược đều nhắm trước hết tiêu diệt xã hội dân sự. Bản chất của các chế độ độc tài là dựa trên một thiểu số để khống chế một xã hội phân hóa. Các bạo quyền không cần dân chúng tin yêu mình mà chỉ cần người dân đừng gắn bó với nhau để không có sức đề kháng. Không gì thỏa mãn các tập đoàn độc tài hơn là sự thờ ơ và bất lực của quần chúng.
Triết lý của một chế độ dân chủ, trái lại, coi xã hội dân sự là thành tố áp đảo và nền tảng của quốc gia vì thế vai trò của nhà nước là làm cho các kết hợp công dân ngày càng đông đảo, không ngừng tiến lên và mạnh lên để đóng góp tích cực cho sự phồn vinh của xã hội. Nhà nước dân chủ đa nguyên tự coi mình là công cụ của xã hội dân sự với sứ mệnh bảo đảm hoạt động lành mạnh của xã hội dân sự, để xã hội dân sự tạo hạnh phúc cho các công dân. Đó không phải là một sự từ nhiệm mà là một triết lý chính trị mới của một chính quyền đủ tự tin để đặt lòng tin vào các công dân. Trong quan hệ biện chứng với xã hội dân sự, nhà nước dân chủ đa nguyên tự coi mình là người trọng tài, phối hợp và thể hiện những nguyện vọng của xã hội dân sự. Nhà nước phục vụ chứ không khống chế xã hội dân sự”
Văn hoá tôn giáo của đảng cộng sản Việt nam
Việt Nam là một trong những nước may mắn không thực sự có vấn đề tôn giáo. Số người có tôn giáo chỉ là một tỉ lệ nhỏ và họ cũng không hề quá khích. Công giáo 8%, tín đồ Phật Giáo thực sự, nghĩa là những Phật tử hành đạo một cách tương đối đều đặn vào khoảng 10%, Cao Đài và Hoà Hảo chỉ còn rất ít tín đồ thực sự. Một cuộc thăm dò gần đây của đại học Irvine, Hoa Kỳ, cho thấy gần 90% thanh niên Việt Nam tuyên bố họ không theo và cũng không muốn có một tôn giáo nào; gần 100% không muốn tôn giáo can thiệp vào hoạt động chính trị. Bất cứ một chính quyền nào, trừ chính quyền cộng sản, cũng không có lý do nào để phải lo ngại các tôn giáo. Vấn đề tôn giáo chỉ đặt ra vì, ngoài tâm lý toàn trị, văn hoá cộng sản về bản chất cũng không khác một văn hóa tôn giáo, nghĩa là cũng đòi người dân tin Đảng thay vì lý luận, cũng đòi được tôn sùng thay vì phê phán. Chúng ta có thể thấy văn hoá tôn giáo của đảng cộng sản qua những ứng xử như việc thần thánh hoá các lãnh tụ (Hồ Chí Minh đã được đưa vào chùa và còn được cho ngồi ở nơi trang trọng hơn Đức Phật), việc đảng không bao giờ sai lầm, việc chủ trương xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, việc hô hào học tập đạo đức Hồ Chí Minh…. Chính văn hoá tôn giáo này đã khiến đảng cộng sản nhìn các tôn giáo như là các đối thủ.
Âm mưu chia rẽ Công Giáo với phần còn lại của dân tộc
Âm mưu lộ liễu của chính quyền CSVN là chia rẽ Công Giáo với phần còn lại của dân tộc. Họ muốn là dân chúng nhìn vụ Thái Hà và Tòa Khâm Sứ như là một tranh chấp giữa một bên là chính quyền CS muốn xây công viên và thư viện, nghĩa là những tiện ích công cộng phục vụ toàn dân, và một bên khác là Công Giáo chỉ muốn giành các khu đất cho mình. Vì vậy nhà nước đã sử dụng các cơ quan truyền thông để xuyên tạc vu khống, để khích động dân chúng và cố tạo ra hiềm khích giữa dân chúng và người Công giáo. Chiến dịch đả kích và bôi nhọ tổng giám mục Kiệt -bằng cách cắt xén và xuyên tạc những gì ông nói và bịa đặt cho ông những ý đồ mà ông không hề có- nằm trong mục tiêu cô lập người Công Giáo để dễ đàn áp. Chúng ta cần phải cảnh giác với âm mưu này và lên án mạnh mẽ một chính quyền đang cố tình chia rẽ dân tộc. Chia để trị luôn luôn là chủ trương của những chính quyền toàn trị. Đó cũng là lý do khiến đảng cộng sản rất dị ứng với chủ trương Hoà Giải và Hoà Hợp Dân Tộc mà Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên không ngừng cổ võ. Chính vì “Hòa giải và hòa hợp dân tộc là điều kiện cần cho thắng lợi của cuộc vận động dân chủ hiện nay và cũng là điều kiện cần cho thành công của cố gắng phục hưng đất nước ngày mai” (TCTK21) nên chúng ta cần phải cảnh giác với mọi âm mưu phá hoại chất liệu nhân xã của dân tộc ta.
Vấn đề cụ thể: cướp đoạt nhà đất để chia chác
Ngoài những nhận định về triết lý chính trị chúng ta không thể bỏ qua một mâu thuẫn cụ thể giữa chính quyền CS và các tôn giáo, đó là vấn đề nhà đất. Đảng CS đã cướp đoạt quá nhiều nhà đất của dân chúng, trong đó có các tôn giáo. Khối dân oan hiện nay lên tới gần một triệu người. Vấn đề nhà đất không phải là vấn đề riêng của Công Giáo, hay của một tôn giáo nào, hay của các tôn giáo, mà là vấn đề chung của cả dân tộc. Cả một dân tộc bị cướp bóc! Chính vì vậy mà các biến cố Thái Hà và Tòa Khâm Sứ nguy hiểm cho chế độ vì sự phản kháng của Công Giáo có thể lây lan sang nhiều thành phần dân tộc khác. Trong lịch sử cận đại của thế giới chưa có trường hợp một đảng cầm quyền nào cướp đoạt nhà đất của dân chúng trên một qui mô lớn như tại nước ta. Nhà đất là một trái bom nổ chậm. Điều đó càng khiến nhà nước cộng sản sợ và phản ứng thô bạo.
Một hy vọng
Những phân tích trên đây một lần nữa tái xác nhận là trong tình trạng hiện nay tại Việt Nam điều được nhìn như các xung đột giữa chính quyền với các thành phần dân tộc thực sự mới chỉ là những đàn áp đơn phương của một chính quyền đồng hóa cai trị với thống trị. Sự kiện người Công Giáo không nao núng, vẫn giữ được quyết tâm mà không bị trượt tuột vào thái độ căm thù là một yếu tố rất quan trọng và là một hy vọng. Nó có thể tạo ra thay đổi tâm lý cả trong xã hội Việt Nam lẫn trong đảng cộng sản. Về phía xã hội Việt Nam nó tạo ra ý thức rằng dù quyền lợi chính đáng đến đâu cũng phải đấu tranh có tổ chức nếu muốn giành thắng lợi. Cuộc đấu tranh của người Công Giáo Hà Nội đã có hiệu lực vì họ có tổ chức. Về phía đảng cộng sản từ chỗ không thể đàn áp người ta có thể dần dần bỏ tâm lý đàn áp và chấp nhận đối thoại như là phương thức văn minh hơn và hiệu quả hơn để giải quyết những bất đồng. Chúng ta không mong đợi gì hơn.
Đảng Cộng Sản Việt Nam đang cần một thay đổi lớn, thay đổi cả một văn hóa quyền lực. Đây là một thay đổi rất khó khăn vì ngoài một nhận thức mới họ còn phải giải quyết những sai lầm, kể cả những tội ác, đã tích lũy từ nhiều thập niên trong quá trình giành chính quyền, giữ chính quyền và lạm dụng chính quyền. Những người cầm quyền hiện nay không phải là nguyên nhân của phần lớn những vấn đề nghiêm trọng của đất nước, họ chủ yếu là những người đã kế thừa một di sản nặng nề. Chắc chắn rất nhiều người yêu nước sẵn sàng thông cảm những khó khăn của họ và sẵn sàng đánh giá những bước đi đúng hướng. Với điều kiện là chính họ cũng phải sẵn sàng chấp nhận một đoạn tuyệt quyết định với tâm lý và những tập quán cũ.
Phan Bá Việt
Bảo mật và bảo mật hơn nữa!
Tác giả: Đối Thoại
Những công việc vận động và đấu tranh cho dân chủ hiện nay là một việc làm hết sức chính đáng và cần thiết cho xã hội Việt Nam. Nhưng trong con mắt của những kẻ cầm quyền độc đảng, những công việc đó, dù có đúng pháp luật hay không, là việc làm không thể dung thứ. Chúng sẽ luôn tìm mọi cách để dò la, nắm bắt thông tin về con người, công việc, kế hoạch của những người hoạt động dân chủ để có đối sách nhằm vô hiệu hóa hoặc triệt hạ sớm nhất. Nhất là trong giai đoạn chế độ độc đảng đang gặp những khủng hoảng đe dọa tới sự tồn vong của nó, hệ thống an ninh nô bộc của chúng sẽ được đặt ở tình trạng cảnh giác, nghi kỵ cao độ. Do đó, về nguyên tắc mọi hoạt động của những người hoạt động dân chủ, dù là những hoạt động có tính công khai hay hoạt động bí mật cần phải được bảo mật một cách tối đa, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi đảng cộng sản Việt Nam đang gặp những bế tắc lớn trong việc giải quyết các vấn nạn kinh tế, xã hội và khó khăn về nhân sự.
Đợt trấn áp, bắt giữ một loạt những người yêu nước vừa qua là thể hiện rõ của tính nghi kỵ, đàn áp khốc liệt của chế độ độc đảng và cũng cho thấy phần nào công tác bảo mật của những người hoạt động dân chủ còn nhiều lỗ hổng.
Cuộc đấu tranh dân chủ tất yếu sẽ phải trả những giá cần thiết như sách nhiễu, tù đày và thậm chí hy sinh. Nhưng nếu chúng ta không coi công tác bảo mật là một vấn đề hệ trọng có tính cốt lõi trong cuộc đối đầu với một chế độ mật thám công an trị (bất chấp pháp luật) thì con đường đấu tranh dân chủ sẽ phải trả những giá đắt, quá đắt và hệ lụy là con đường đi đến thắng lợi có thể xa hơn . Vì thế mỗi cá nhân, mỗi tổ chức, hội đoàn cần phải luôn nhấn mạnh công tác bảo mật và bảo mật hơn nữa, đặc biệt trong tình hình hiện nay.
Đối Thoại
Tác giả: Đối Thoại
Những công việc vận động và đấu tranh cho dân chủ hiện nay là một việc làm hết sức chính đáng và cần thiết cho xã hội Việt Nam. Nhưng trong con mắt của những kẻ cầm quyền độc đảng, những công việc đó, dù có đúng pháp luật hay không, là việc làm không thể dung thứ. Chúng sẽ luôn tìm mọi cách để dò la, nắm bắt thông tin về con người, công việc, kế hoạch của những người hoạt động dân chủ để có đối sách nhằm vô hiệu hóa hoặc triệt hạ sớm nhất. Nhất là trong giai đoạn chế độ độc đảng đang gặp những khủng hoảng đe dọa tới sự tồn vong của nó, hệ thống an ninh nô bộc của chúng sẽ được đặt ở tình trạng cảnh giác, nghi kỵ cao độ. Do đó, về nguyên tắc mọi hoạt động của những người hoạt động dân chủ, dù là những hoạt động có tính công khai hay hoạt động bí mật cần phải được bảo mật một cách tối đa, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi đảng cộng sản Việt Nam đang gặp những bế tắc lớn trong việc giải quyết các vấn nạn kinh tế, xã hội và khó khăn về nhân sự.
Đợt trấn áp, bắt giữ một loạt những người yêu nước vừa qua là thể hiện rõ của tính nghi kỵ, đàn áp khốc liệt của chế độ độc đảng và cũng cho thấy phần nào công tác bảo mật của những người hoạt động dân chủ còn nhiều lỗ hổng.
Cuộc đấu tranh dân chủ tất yếu sẽ phải trả những giá cần thiết như sách nhiễu, tù đày và thậm chí hy sinh. Nhưng nếu chúng ta không coi công tác bảo mật là một vấn đề hệ trọng có tính cốt lõi trong cuộc đối đầu với một chế độ mật thám công an trị (bất chấp pháp luật) thì con đường đấu tranh dân chủ sẽ phải trả những giá đắt, quá đắt và hệ lụy là con đường đi đến thắng lợi có thể xa hơn . Vì thế mỗi cá nhân, mỗi tổ chức, hội đoàn cần phải luôn nhấn mạnh công tác bảo mật và bảo mật hơn nữa, đặc biệt trong tình hình hiện nay.
Đối Thoại
Mơ Hồ
Ngô Nhân Dụng
Nhiều người đã đề nghị đảng Cộng Sản Việt Nam nên đổi tên; tên gì cũng được nhưng bỏ hai chữ Cộng Sản đi. Cả các đảng viên cộng sản cũng nhiều người đã đề nghị đổi tên đảng, mỗi người đưa ra những lý do rất đáng chú ý. Nhưng hiện giờ có nhiều biến cố mới khiến cho việc đổi tên này càng có lý do chính đáng hơn. Ðó là do tình trạng thế giới đang trải qua một cuộc khủng hoảng tài chánh! Cuộc khủng hoảng này cho thấy cả cái chủ nghĩa Cộng Sản lẫn việc lập ra cái đảng mang tên này có vẻ lố bịch. Vì nó đang mất đối tượng! Chủ Nghĩa Cộng Sản đặt ra để đánh Chủ Nghĩa Tư Bản, mà công việc này không cần nữa! Một cái tên mơ mộng để chống lại một cái chủ nghĩa mơ hồ, nên chấm dứt là phải!
Vì chưa bao giờ trong thế giới tư bản người ta thấy “chủ nghĩa tư bản” bị tấn công tan tác như bây giờ. Các ngân hàng đầu tư, các ngân hàng thương mại, những công ty môi giới chứng khoán, theo Karl Marx nói đó là những thành trì của “chủ nghĩa tư bản,” tất cả đang bị tấn công tới tấp, bằng cách quốc hữu hóa toàn thể hay là một phần.
Nhưng ai đang đóng vai các chiến sĩ tiền phong đứng lên tấn công vào các thành trì của “chủ nghĩa tư bản” này?
Nhìn mặt, thì thấy các chiến sĩ tiền phong trong cuộc công kích đó chính là những “nhà tư bản” theo định nghĩa của các ông Marx và Lenin! Ông Georges W. Bush, ông Henry Paulson, bà Merkel đều là những nhà tư bản. Các chính phủ Mỹ, Anh, Ðức, Tây Ban Nha, đều theo kinh tế tư bản. Nay chính họ đang “quốc hữu hóa” các ngân hàng nước họ.
Chính những nhà lãnh đạo của thế giới tư bản đang dùng quyền lực nhà nước tiến chiếm những pháo đài của chủ nghĩa tư bản! Làm việc đó là họ theo khuyến cáo của ông Vladimir Ilich Lenin, một ông thánh khác của chủ nghĩa Cộng Sản, ông đã trình bày kế hoạch này trong cuốn “Nhà nước và Cách Mạng.”
Vậy thì chúng ta biết nói làm sao?
Một kết luận rất giản dị là: Cái mà người ta gọi bằng tên “chủ nghĩa tư bản” nó không có thật. Nó là một sản phẩm trí thức, do óc tưởng tượng phì nhiêu của con người tạo ra. Trên thế giới từ hàng trăm năm trước đã có những “Ðảng Cộng Sản” nhưng không có một đảng nào gọi là “Ðảng Tư Bản” cả! Cái tên chủ nghĩa đó chỉ được đặt ra làm nhãn hiệu để tiện tấn công, để gọi tên cái trật tự xã hội họ muốn lật đổ, có vậy thôi! Cái tên để gọi một thứ không có thật, chỉ có trong đầu người ta! Như vậy gọi là sở tri chướng! Karl Marx là một nhà trí thức, nhiều môn đồ của ông sau này cũng thuộc giới trí thức. Các nhà trí thức thường yêu quý những cái gì bầy ra ở trong đầu của họ, tôn quý chúng hơn tất cả những sự thật sờ sờ trước mắt!
Tại sao nhiều người nghĩ rằng có thứ chủ nghĩa gọi là tư bản? Không ai viết tuyên ngôn cho nó như ông Marx đã viết Tuyên Ngôn Cộng Sản! Không ai lập đảng để tuyên truyền, bảo vệ chủ nghĩa đó cả! Danh từ “capitalism” được Thackery dùng lần đầu năm 1854. Bản Tuyên Ngôn Cộng Sản của Marx và Engels không dùng danh từ này. Hai ông viết tuyên ngôn theo yêu cầu của Liên Ðoàn Cộng Sản họp ở London. Ngay câu mở đầu họ đã dùng chữ “chủ nghĩa cộng sản” (communism) như là một viễn tượng đang trùm lên thế giới Âu Châu. Nhưng khi đả kích trật tự xã hội đương thời các ông đã nhắm vào “giai cấp tư sản” (bourgeoisie) làm mục tiêu tấn công, đánh vào một tầng lớp xã hội chứ không phải vào một chủ nghĩa. Ðến thế kỷ 20 danh hiệu “chủ nghĩa tư bản” được các đảng cộng sản sử dụng nhiều nhất, vì nó tiện cho họ trong việc vận động các tín đồ của chủ nghĩa cộng sản. Họ muốn tạo nên một tôn giáo mới, mang tên “Chủ Nghĩa Cộng Sản” cho nên phải gọi tên tất cả những gì họ chống dưới một cái tên chung khác, có như vậy mới dễ nói. Marx coi tất cả các định chế chính trị, văn hóa, tôn giáo của xã hội tư sản chỉ là một ý thức hệ bảo vệ quyền lợi giai cấp tư sản. Ðặt cho nó một cái tên để tiện việc tấn công, người ta biến một cuộc đấu tranh kinh tế, chính trị thành một cuộc đấu tranh ý thức hệ, nói cách khác là một cuộc “thánh chiến!”
Muốn hô hào người ta theo mình, phải đặt ra một cái bia để cùng bắn vào. Có đặt ra danh hiệu “chủ nghĩa tư bản” để mô tả nó như một thứ quỷ sứ canh gác địa ngục, thì người ta mới dễ tuyên truyền, cổ động cho cái “chủ nghĩa cộng sản” mà họ vẽ ra như một thiên đường, lôi kéo người khác chạy theo một giấc mơ hão huyền. Họ ôm cứng lấy cái lý thuyết và danh hiệu này trong suốt một thế kỷ vừa qua, vì nếu bỏ qua cái tên chủ nghĩa tư bản thì các chủ trương đấu tranh, giết người đoạt của sẽ mất một đối tượng!
Vậy sự thật thì cái họ gọi bằng tên “chủ nghĩa tư bản” nó là cái gì?
Ðó là những cách xếp đặt cuộc sống kinh tế chung trong xã hội loài người, mà nếu gọi bằng những tên khác thì dễ hiểu hơn mặc dù không còn hấp dẫn nữa. Cha đẻ của môn nghiên cứu kinh tế tư bản là Adam Smith (thế kỷ 18) gọi nó là kinh tế tự do. Các nhà kinh tế học sau ông gọi là hệ thống kinh tế thị trường. Ðặc tính của cách xếp đặt xã hội đó là tôn trọng quyền tư hữu, giá cả các hàng hóa và dịch vụ là do hoạt động của các tư nhân tự do trong thị trường chứ không phải do nhà nước quyết định, và các hoạt động kinh tế đều nhắm tìm doanh lợi tối đa. Cách xếp đặt xã hội đó diễn ra chầm chậm trong nhiều thế kỷ và thay đổi hoài hoài, không do một chủ nghĩa nào ấn định trước cả. Vì nó không phải là một chủ nghĩa, một tín điều cho nên nó tha hồ thay đổi, thích ứng, có khi quay sang tả, khi quay sang hữu, vì cuộc sống xã hội luôn luôn thay đổi!
Nên biết Karl Marx sử dụng danh từ chủ nghĩa tư bản, capitalism, như một kiểu làm kinh tế thị trường riêng. Marx phân biệt nó với các thứ kinh tế thị trường khác ở một chỗ, là trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thì quyền làm chủ các phương tiện sản xuất được tập trung vào tay một số cá nhân nhỏ, và càng ngày càng tập trung - cho nên ông tiên đoán nó sẽ sụp đổ. Nhưng đó chỉ là một tiên đoán mơ hồ, không có cơ sở.
Ngày nay quyền sở hữu các phương tiện sản xuất không quan trọng bằng quyền quyết định việc sử dụng tiền vốn. Mà quyền quyết định này được trải ra rộng ra, biến thái hoài, lâu lâu lại có những hình thức mới. Vì loài người chưa có kinh nghiệm với những cách xếp đặt mới hiện nay cho nên chưa đặt ra những luật lệ đầy đủ và đúng để điều tiết kinh tế, cho nên khủng hoảng mới đến! Nhưng ngay khi thấy có khủng hoảng, các người có trách nhiệm lập tức dùng guồng máy nhà nước can thiệp.
Tại sao các nhà tư bản lại dám “xã hội hóa” các ngân hàng như vậy? Bởi vì họ không theo một chủ nghĩa tư bản, không có một thứ tôn giáo tư bản như các đảng viên cộng sản. Các ông Bush ở Mỹ hay bà Merkel ở Ðức đều tin tưởng vào hệ thống thị trường tự do, nhưng khi cần họ dẹp bỏ niềm tin đó sang một bên. Mà nếu những người lãnh đạo đó muốn cưỡng lại cũng không được. Vì họ sống trong những chế độ dân chủ tự do. Họ không phải là những tín đồ của tôn giáo tư bản chủ nghĩa! Họ là “đầy tớ” của dân thật, chịu trách nhiệm với dân chứ không phải chỉ lo cho chủ nghĩa hay cho đảng mình!
Chỉ trong những chế độ độc tài thì các người cầm đầu mới có thể mặc cho dân chết, miễn là mình theo đúng chủ nghĩa của mình! Các ông Stalin, Mao Trạch Ðông đã làm cho mấy chục triệu người chết để thí nghiệm chủ nghĩa cộng sản của họ. Ông Hồ Chí Minh đi học chủ nghĩa cộng sản ở Nga rồi lại học theo ông Mao, cũng lôi kéo bao nhiêu người chạy theo giấc mơ hão huyền và hy sinh cho các lãnh tụ đó.
Ðiều đáng giận là những người lãnh đạo đảng cộng sản ở nước ta bây giờ vẫn lợi dụng cái nhãn hiệu cũ để tự lừa và lừa dối người khác mặc dù không ai còn tin vào cái lý thuyết hão huyền mà Hồ Chí Minh đem về dạy các đảng viên cộng sản nữa! Cho nên đã đến lúc đảng Cộng Sản Việt Nam phải xóa nhãn hiệu Cộng Sản đi. Làm gì có cái chủ nghĩa tư bản mà chống nữa? Ðảng Cộng Sản phải dứt khoát giã từ cái giấc Mơ của ông Hồ!
Ngô Nhân Dụng
Nhiều người đã đề nghị đảng Cộng Sản Việt Nam nên đổi tên; tên gì cũng được nhưng bỏ hai chữ Cộng Sản đi. Cả các đảng viên cộng sản cũng nhiều người đã đề nghị đổi tên đảng, mỗi người đưa ra những lý do rất đáng chú ý. Nhưng hiện giờ có nhiều biến cố mới khiến cho việc đổi tên này càng có lý do chính đáng hơn. Ðó là do tình trạng thế giới đang trải qua một cuộc khủng hoảng tài chánh! Cuộc khủng hoảng này cho thấy cả cái chủ nghĩa Cộng Sản lẫn việc lập ra cái đảng mang tên này có vẻ lố bịch. Vì nó đang mất đối tượng! Chủ Nghĩa Cộng Sản đặt ra để đánh Chủ Nghĩa Tư Bản, mà công việc này không cần nữa! Một cái tên mơ mộng để chống lại một cái chủ nghĩa mơ hồ, nên chấm dứt là phải!
Vì chưa bao giờ trong thế giới tư bản người ta thấy “chủ nghĩa tư bản” bị tấn công tan tác như bây giờ. Các ngân hàng đầu tư, các ngân hàng thương mại, những công ty môi giới chứng khoán, theo Karl Marx nói đó là những thành trì của “chủ nghĩa tư bản,” tất cả đang bị tấn công tới tấp, bằng cách quốc hữu hóa toàn thể hay là một phần.
Nhưng ai đang đóng vai các chiến sĩ tiền phong đứng lên tấn công vào các thành trì của “chủ nghĩa tư bản” này?
Nhìn mặt, thì thấy các chiến sĩ tiền phong trong cuộc công kích đó chính là những “nhà tư bản” theo định nghĩa của các ông Marx và Lenin! Ông Georges W. Bush, ông Henry Paulson, bà Merkel đều là những nhà tư bản. Các chính phủ Mỹ, Anh, Ðức, Tây Ban Nha, đều theo kinh tế tư bản. Nay chính họ đang “quốc hữu hóa” các ngân hàng nước họ.
Chính những nhà lãnh đạo của thế giới tư bản đang dùng quyền lực nhà nước tiến chiếm những pháo đài của chủ nghĩa tư bản! Làm việc đó là họ theo khuyến cáo của ông Vladimir Ilich Lenin, một ông thánh khác của chủ nghĩa Cộng Sản, ông đã trình bày kế hoạch này trong cuốn “Nhà nước và Cách Mạng.”
Vậy thì chúng ta biết nói làm sao?
Một kết luận rất giản dị là: Cái mà người ta gọi bằng tên “chủ nghĩa tư bản” nó không có thật. Nó là một sản phẩm trí thức, do óc tưởng tượng phì nhiêu của con người tạo ra. Trên thế giới từ hàng trăm năm trước đã có những “Ðảng Cộng Sản” nhưng không có một đảng nào gọi là “Ðảng Tư Bản” cả! Cái tên chủ nghĩa đó chỉ được đặt ra làm nhãn hiệu để tiện tấn công, để gọi tên cái trật tự xã hội họ muốn lật đổ, có vậy thôi! Cái tên để gọi một thứ không có thật, chỉ có trong đầu người ta! Như vậy gọi là sở tri chướng! Karl Marx là một nhà trí thức, nhiều môn đồ của ông sau này cũng thuộc giới trí thức. Các nhà trí thức thường yêu quý những cái gì bầy ra ở trong đầu của họ, tôn quý chúng hơn tất cả những sự thật sờ sờ trước mắt!
Tại sao nhiều người nghĩ rằng có thứ chủ nghĩa gọi là tư bản? Không ai viết tuyên ngôn cho nó như ông Marx đã viết Tuyên Ngôn Cộng Sản! Không ai lập đảng để tuyên truyền, bảo vệ chủ nghĩa đó cả! Danh từ “capitalism” được Thackery dùng lần đầu năm 1854. Bản Tuyên Ngôn Cộng Sản của Marx và Engels không dùng danh từ này. Hai ông viết tuyên ngôn theo yêu cầu của Liên Ðoàn Cộng Sản họp ở London. Ngay câu mở đầu họ đã dùng chữ “chủ nghĩa cộng sản” (communism) như là một viễn tượng đang trùm lên thế giới Âu Châu. Nhưng khi đả kích trật tự xã hội đương thời các ông đã nhắm vào “giai cấp tư sản” (bourgeoisie) làm mục tiêu tấn công, đánh vào một tầng lớp xã hội chứ không phải vào một chủ nghĩa. Ðến thế kỷ 20 danh hiệu “chủ nghĩa tư bản” được các đảng cộng sản sử dụng nhiều nhất, vì nó tiện cho họ trong việc vận động các tín đồ của chủ nghĩa cộng sản. Họ muốn tạo nên một tôn giáo mới, mang tên “Chủ Nghĩa Cộng Sản” cho nên phải gọi tên tất cả những gì họ chống dưới một cái tên chung khác, có như vậy mới dễ nói. Marx coi tất cả các định chế chính trị, văn hóa, tôn giáo của xã hội tư sản chỉ là một ý thức hệ bảo vệ quyền lợi giai cấp tư sản. Ðặt cho nó một cái tên để tiện việc tấn công, người ta biến một cuộc đấu tranh kinh tế, chính trị thành một cuộc đấu tranh ý thức hệ, nói cách khác là một cuộc “thánh chiến!”
Muốn hô hào người ta theo mình, phải đặt ra một cái bia để cùng bắn vào. Có đặt ra danh hiệu “chủ nghĩa tư bản” để mô tả nó như một thứ quỷ sứ canh gác địa ngục, thì người ta mới dễ tuyên truyền, cổ động cho cái “chủ nghĩa cộng sản” mà họ vẽ ra như một thiên đường, lôi kéo người khác chạy theo một giấc mơ hão huyền. Họ ôm cứng lấy cái lý thuyết và danh hiệu này trong suốt một thế kỷ vừa qua, vì nếu bỏ qua cái tên chủ nghĩa tư bản thì các chủ trương đấu tranh, giết người đoạt của sẽ mất một đối tượng!
Vậy sự thật thì cái họ gọi bằng tên “chủ nghĩa tư bản” nó là cái gì?
Ðó là những cách xếp đặt cuộc sống kinh tế chung trong xã hội loài người, mà nếu gọi bằng những tên khác thì dễ hiểu hơn mặc dù không còn hấp dẫn nữa. Cha đẻ của môn nghiên cứu kinh tế tư bản là Adam Smith (thế kỷ 18) gọi nó là kinh tế tự do. Các nhà kinh tế học sau ông gọi là hệ thống kinh tế thị trường. Ðặc tính của cách xếp đặt xã hội đó là tôn trọng quyền tư hữu, giá cả các hàng hóa và dịch vụ là do hoạt động của các tư nhân tự do trong thị trường chứ không phải do nhà nước quyết định, và các hoạt động kinh tế đều nhắm tìm doanh lợi tối đa. Cách xếp đặt xã hội đó diễn ra chầm chậm trong nhiều thế kỷ và thay đổi hoài hoài, không do một chủ nghĩa nào ấn định trước cả. Vì nó không phải là một chủ nghĩa, một tín điều cho nên nó tha hồ thay đổi, thích ứng, có khi quay sang tả, khi quay sang hữu, vì cuộc sống xã hội luôn luôn thay đổi!
Nên biết Karl Marx sử dụng danh từ chủ nghĩa tư bản, capitalism, như một kiểu làm kinh tế thị trường riêng. Marx phân biệt nó với các thứ kinh tế thị trường khác ở một chỗ, là trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thì quyền làm chủ các phương tiện sản xuất được tập trung vào tay một số cá nhân nhỏ, và càng ngày càng tập trung - cho nên ông tiên đoán nó sẽ sụp đổ. Nhưng đó chỉ là một tiên đoán mơ hồ, không có cơ sở.
Ngày nay quyền sở hữu các phương tiện sản xuất không quan trọng bằng quyền quyết định việc sử dụng tiền vốn. Mà quyền quyết định này được trải ra rộng ra, biến thái hoài, lâu lâu lại có những hình thức mới. Vì loài người chưa có kinh nghiệm với những cách xếp đặt mới hiện nay cho nên chưa đặt ra những luật lệ đầy đủ và đúng để điều tiết kinh tế, cho nên khủng hoảng mới đến! Nhưng ngay khi thấy có khủng hoảng, các người có trách nhiệm lập tức dùng guồng máy nhà nước can thiệp.
Tại sao các nhà tư bản lại dám “xã hội hóa” các ngân hàng như vậy? Bởi vì họ không theo một chủ nghĩa tư bản, không có một thứ tôn giáo tư bản như các đảng viên cộng sản. Các ông Bush ở Mỹ hay bà Merkel ở Ðức đều tin tưởng vào hệ thống thị trường tự do, nhưng khi cần họ dẹp bỏ niềm tin đó sang một bên. Mà nếu những người lãnh đạo đó muốn cưỡng lại cũng không được. Vì họ sống trong những chế độ dân chủ tự do. Họ không phải là những tín đồ của tôn giáo tư bản chủ nghĩa! Họ là “đầy tớ” của dân thật, chịu trách nhiệm với dân chứ không phải chỉ lo cho chủ nghĩa hay cho đảng mình!
Chỉ trong những chế độ độc tài thì các người cầm đầu mới có thể mặc cho dân chết, miễn là mình theo đúng chủ nghĩa của mình! Các ông Stalin, Mao Trạch Ðông đã làm cho mấy chục triệu người chết để thí nghiệm chủ nghĩa cộng sản của họ. Ông Hồ Chí Minh đi học chủ nghĩa cộng sản ở Nga rồi lại học theo ông Mao, cũng lôi kéo bao nhiêu người chạy theo giấc mơ hão huyền và hy sinh cho các lãnh tụ đó.
Ðiều đáng giận là những người lãnh đạo đảng cộng sản ở nước ta bây giờ vẫn lợi dụng cái nhãn hiệu cũ để tự lừa và lừa dối người khác mặc dù không ai còn tin vào cái lý thuyết hão huyền mà Hồ Chí Minh đem về dạy các đảng viên cộng sản nữa! Cho nên đã đến lúc đảng Cộng Sản Việt Nam phải xóa nhãn hiệu Cộng Sản đi. Làm gì có cái chủ nghĩa tư bản mà chống nữa? Ðảng Cộng Sản phải dứt khoát giã từ cái giấc Mơ của ông Hồ!
Vụ án có ranh giới đúng sai rất mờ nhạt
Tác giả: Luật sư Lê Quốc Quân
Phiên tòa xét xử các nhà báo và công an đã khép lại với những bản án nhẹ nhưng mở ra nhiều cơ hội đòi hỏi cho tự do báo chí và dân chủ nhân quyền ở Việt Nam.
Lần đầu tiên bốn bị cáo, là đảng viên cộng sản nằm ở trong cơ quan có quyền lực nhất là Bộ Công An và hai tờ báo lớn, bị đưa ra tòa trong một vụ án với những cáo buộc quyện chặt lấy nhau. Đã từng sát cánh trong cuộc chiến chống tham nhũng giờ họ là bị cáo đứng cùng nhau sau vành móng ngựa.
Việc đưa bốn bị cáo này ra tòa đặt những dấu hỏi to tướng về quan hệ giữa chống tham nhũng, tự do báo chí và quyền tự do dân chủ.
Rõ ràng trong bất cứ xã hội nào, muốn chống được tham nhũng phải đề cao việc minh bạch hóa và phương tiện tối ưu chính là tự do báo chí. Ở một tầm vóc lớn hơn, việc xét xử họ kích thích sự nghi ngờ của một khối dân chúng rộng lớn đang hoang mang vì mục kích những hành vi tham nhũng hàng ngày quanh mình trong khi các tờ báo đang càng ngày trở thành “lá cải sạch” khi chỉ nói nhiều về hiếp dâm, cướp của, hoa hậu và sàn nhảy “vương vãi bao cao su”...
Điều đó cho ta hy vọng vì quá trình dân chủ hóa đất nước đang tiến thêm một bước khi nó có thể thực hiện từ ngay chính trong lòng hệ thống. Dù bị bịt mệng trong một thời gian dài và việc đưa tin của các báo là rón rén nhưng trong sâu xa, nó thể hiện tính chính đáng của các “đồng chí” nhà báo.
Đây cũng là điều đáng vui mừng, đặc biệt là Nhà báo Nguyễn Việt Chiến, vì tin mình đã làm đúng. Họ đã đứng về phía nhân dân trong một môi trường bị bưng bít thô bạo. Họ đã “rót” một phần sự thật và đang sinh sôi nảy nở một cách chân thành trong khối bình dân. Lương tâm của khối dân chúng này sẽ càng ngày càng bất trị trong niềm khao khát sự thật nhiều hơn, mạnh hơn nữa.
Nghi ngờ về pháp lý
Trong khi tác nghiệp có thể các nhà báo chưa đúng hoàn toàn nhưng vấn đề là tính toàn diện và khách quan.
Khi quan tham bước ra khỏi nhà giam và vụ án bị tách ra là lúc kẻ thù của luật pháp phản công. Ở đây “tinh thần pháp luật” không được ứng dụng mà các “quy phạm pháp luật xơ cứng” được áp đặt. Thay vì xem xét một cách toàn cục, với các động cơ và mục đích, vụ án đã được tách khúc về các hành vi để cáo buộc phạm tội. Vụ án tham nhũng chưa xong và còn ngổn ngang những dấu hỏi về sự đúng sai thì sự phản đòn vội vàng đối với những người cầm bút là không chấp nhận được.
Giống như nhiều vụ án chính trị khác, vụ án này khách thể bị xâm hại là rất khó chứng minh. Trong luật pháp bao giờ cũng phải có hành vi phạm tội, có hậu quả xảy ra và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả đó thì mới xác định được có tội.
Ngược với những cáo buộc về xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, nhân dân không thấy có hậu quả mà ngược lại cám ơn các Nhà báo vì đã cung cấp cho họ nhiều góc nhìn hơn.
Khi hậu quả (khách thể) là không chứng minh được cùng với động cơ và mục đích (mặt chủ quan) là trong sáng thì các cấu thành tội phạm theo Luật hình sự phải coi như chưa có mà đối tượng điều chỉnh phải là Luật báo chí. Thêm nữa là không có “người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan” nào được triệu tập cho thấy sự mong manh trong cáo buộc về tính chất của hành vi.
Bài học cho tương lai
Họ xuất hiện trước tòa không hiên ngang, mãnh liệt như những nhà đấu tranh dân chủ đã từng bị đưa ra tòa bởi vì dù sao họ cũng là những đảng viên, đã từng ăn lương của chế độ này trong suốt cuộc đời hành nghề của mình. Đặc biệt Nguyễn Văn Hải đã thừa nhận đến 80% những cáo buộc của Viện Kiểm Sát là đúng.
Nhưng rõ ràng hiệp sau sẽ là quyết định. Khi chính họ được tự do làm báo tư nhân và có thể trở thành chủ bút, họ sẽ thiết tha hơn với những điều mình viết và chắc chắn sẽ kiên quyết bảo vệ quan điểm của mình.
Vụ án thực sự còn là một bài học lớn cho những người làm công tác an ninh, họ là nạn nhân trong một chế độ nơi các quyết định nặng tính độc tài. Các cơ sở để gọi là phạm tội là mờ nhạt, ranh giới giữa cái đúng và cái sai trở nên mong manh.
Bài học hay nhất có lẽ là bốn bị cáo này đã thực thi triệt để quyền tự do dân chủ, tự do báo chí – một nhân quyền cơ bản mà lẽ ra không bao giờ được có khái niệm “lợi dụng” đi kèm.
Và với việc kết án các cơ quan tố tụng đã “tặng không” cho phong trào dân chủ hai nhà báo nổi danh. Bốn cựu đảng viên cộng sản đã vô tình trở thành “đồng chí” với những ai đang đấu tranh đòi tự do dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam.
Việc làm của họ là có lợi cho dân tộc. Đó là điều mà các nhà báo nên tự hào.
Ls. Lê Quốc Quân
Tác giả: Luật sư Lê Quốc Quân
Phiên tòa xét xử các nhà báo và công an đã khép lại với những bản án nhẹ nhưng mở ra nhiều cơ hội đòi hỏi cho tự do báo chí và dân chủ nhân quyền ở Việt Nam.
Lần đầu tiên bốn bị cáo, là đảng viên cộng sản nằm ở trong cơ quan có quyền lực nhất là Bộ Công An và hai tờ báo lớn, bị đưa ra tòa trong một vụ án với những cáo buộc quyện chặt lấy nhau. Đã từng sát cánh trong cuộc chiến chống tham nhũng giờ họ là bị cáo đứng cùng nhau sau vành móng ngựa.
Việc đưa bốn bị cáo này ra tòa đặt những dấu hỏi to tướng về quan hệ giữa chống tham nhũng, tự do báo chí và quyền tự do dân chủ.
Rõ ràng trong bất cứ xã hội nào, muốn chống được tham nhũng phải đề cao việc minh bạch hóa và phương tiện tối ưu chính là tự do báo chí. Ở một tầm vóc lớn hơn, việc xét xử họ kích thích sự nghi ngờ của một khối dân chúng rộng lớn đang hoang mang vì mục kích những hành vi tham nhũng hàng ngày quanh mình trong khi các tờ báo đang càng ngày trở thành “lá cải sạch” khi chỉ nói nhiều về hiếp dâm, cướp của, hoa hậu và sàn nhảy “vương vãi bao cao su”...
Điều đó cho ta hy vọng vì quá trình dân chủ hóa đất nước đang tiến thêm một bước khi nó có thể thực hiện từ ngay chính trong lòng hệ thống. Dù bị bịt mệng trong một thời gian dài và việc đưa tin của các báo là rón rén nhưng trong sâu xa, nó thể hiện tính chính đáng của các “đồng chí” nhà báo.
Đây cũng là điều đáng vui mừng, đặc biệt là Nhà báo Nguyễn Việt Chiến, vì tin mình đã làm đúng. Họ đã đứng về phía nhân dân trong một môi trường bị bưng bít thô bạo. Họ đã “rót” một phần sự thật và đang sinh sôi nảy nở một cách chân thành trong khối bình dân. Lương tâm của khối dân chúng này sẽ càng ngày càng bất trị trong niềm khao khát sự thật nhiều hơn, mạnh hơn nữa.
Nghi ngờ về pháp lý
Trong khi tác nghiệp có thể các nhà báo chưa đúng hoàn toàn nhưng vấn đề là tính toàn diện và khách quan.
Khi quan tham bước ra khỏi nhà giam và vụ án bị tách ra là lúc kẻ thù của luật pháp phản công. Ở đây “tinh thần pháp luật” không được ứng dụng mà các “quy phạm pháp luật xơ cứng” được áp đặt. Thay vì xem xét một cách toàn cục, với các động cơ và mục đích, vụ án đã được tách khúc về các hành vi để cáo buộc phạm tội. Vụ án tham nhũng chưa xong và còn ngổn ngang những dấu hỏi về sự đúng sai thì sự phản đòn vội vàng đối với những người cầm bút là không chấp nhận được.
Giống như nhiều vụ án chính trị khác, vụ án này khách thể bị xâm hại là rất khó chứng minh. Trong luật pháp bao giờ cũng phải có hành vi phạm tội, có hậu quả xảy ra và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả đó thì mới xác định được có tội.
Ngược với những cáo buộc về xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, nhân dân không thấy có hậu quả mà ngược lại cám ơn các Nhà báo vì đã cung cấp cho họ nhiều góc nhìn hơn.
Khi hậu quả (khách thể) là không chứng minh được cùng với động cơ và mục đích (mặt chủ quan) là trong sáng thì các cấu thành tội phạm theo Luật hình sự phải coi như chưa có mà đối tượng điều chỉnh phải là Luật báo chí. Thêm nữa là không có “người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan” nào được triệu tập cho thấy sự mong manh trong cáo buộc về tính chất của hành vi.
Bài học cho tương lai
Họ xuất hiện trước tòa không hiên ngang, mãnh liệt như những nhà đấu tranh dân chủ đã từng bị đưa ra tòa bởi vì dù sao họ cũng là những đảng viên, đã từng ăn lương của chế độ này trong suốt cuộc đời hành nghề của mình. Đặc biệt Nguyễn Văn Hải đã thừa nhận đến 80% những cáo buộc của Viện Kiểm Sát là đúng.
Nhưng rõ ràng hiệp sau sẽ là quyết định. Khi chính họ được tự do làm báo tư nhân và có thể trở thành chủ bút, họ sẽ thiết tha hơn với những điều mình viết và chắc chắn sẽ kiên quyết bảo vệ quan điểm của mình.
Vụ án thực sự còn là một bài học lớn cho những người làm công tác an ninh, họ là nạn nhân trong một chế độ nơi các quyết định nặng tính độc tài. Các cơ sở để gọi là phạm tội là mờ nhạt, ranh giới giữa cái đúng và cái sai trở nên mong manh.
Bài học hay nhất có lẽ là bốn bị cáo này đã thực thi triệt để quyền tự do dân chủ, tự do báo chí – một nhân quyền cơ bản mà lẽ ra không bao giờ được có khái niệm “lợi dụng” đi kèm.
Và với việc kết án các cơ quan tố tụng đã “tặng không” cho phong trào dân chủ hai nhà báo nổi danh. Bốn cựu đảng viên cộng sản đã vô tình trở thành “đồng chí” với những ai đang đấu tranh đòi tự do dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam.
Việc làm của họ là có lợi cho dân tộc. Đó là điều mà các nhà báo nên tự hào.
Ls. Lê Quốc Quân

