Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

MỘT VỊ LÃNH ĐẠO CÓ TẦM CỠ

“Giết Tổng Giám Mục Kiệt”!
Đó là những tiếng hô rợn người của một đám đông gồm mấy trăm con người điên loạn vừa la hét vừa đập phá tại linh địa Đức Bà vào đúng 0 giờ 05 phút tại Thái Hà được Vietcatholic ghi lại rất tỷ mỷ trong bản tin ngày 22-09-2008. Điều đáng ghi là sự việc trên đây diễn ra trước sự chứng kiến của những viên chức có trách nhiệm bảo vệ an ninh trật tự. Câu hỏi đặt ra là do đâu mà Đức Tổng Giám Mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt trở thành người không chỉ đáng ghét, mà thậm chí đáng giết chết như vậy. Để thử tìm câu trả lời, ta hãy tiếp tục ghi nhận một số sự kiện xảy ra trước đó.
Image
Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

“Cảnh cáo” ông Ngô Quang Kiệt
Vẫn theo VietCatholic (Chúa nhật 21-09-2008) thì ngày 21-09 UBND Thành phố Hà Nội đã có công văn số 1370/UBND-TNMT về việc “cảnh cáo ông Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Hà Nội”:

• 1. Dừng ngay các hành vi vi phạm pháp luật. Nếu không sẽ bị xử lý theo quy định của Luật. Đồng thời có trách nhiệm vận động các giáo sỹ, giáo dân chấp hành đúng các quy định của pháp luật, không được tổ chức hoạt động tôn giáo trái phép, khẩn trương di chuyển tượng, thánh giá... về đúng nơi thờ tự.

• 2. Không được tổ chức các hoạt động thông tin tuyên truyền với nội dung xuyên tạc, kích động, lợi dụng, lôi kéo giáo sỹ, giáo dân vào các hoạt động vi phạm pháp luật.

Nhưng muốn biết do đâu mà có công văn này thì câu trả lời không khó, đó là từ cuộc họp giữa một bên là phái đoàn Toà TGM Hà Nội do chính Đức Tổng Giám Mục dẫn đầu và bên kia là UBND Tp. Hà Nội, dẫn đầu là ông Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo, cuộc họp diễn ra cùng ngày 20-09 trước khi có công văn nói trên. Khi tường thuật lại cuộc họp này, báo đài Nhà Nước đã trích ra một câu nói của Đức Tổng, cắt bỏ ngữ cảnh của câu văn để có cớ kết án ngài. Nguyên văn câu nói của Đức Tổng như sau: Do đó, chúng tôi xin nhắc lại, chúng tôi rất mong muốn xây dựng một khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng. Cả câu văn là như thế, nhưng báo đài chỉ giữ lại mấy chữ: Chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam để kết tội Đức Tổng Giám Mục Hà Nội là miệt thị dân tộc đất nước mình, gây bức xúc phẫn nộ trong nhân dân Thủ đô. Nhưng đây chỉ là cái cớ, vì khi trích dẫn lời Đức Tổng Kiệt, người ta đã cố tình cắt bỏ ngữ cảnh khiến cho phần còn lại diễn tả ý tưởng ngược với ý của người nói. Vậy đâu là lý do sâu xa của thái độ hằn học đến tột độ như thế.
Quyền chứ không phải ân huệ Cũng trong lời phát biểu trước UBND Tp. Hà Nội, Đức Tổng Giám Mục Hà Nội đã nói: Trước hết ông chủ tịch có nói rằng: Uỷ ban nhân dân TP đã tạo rất là nhiều điều kiện cho Giáo Hội Công Giáo trong những năm qua nhất là dịp Lễ Noel… chúng ta phải công nhận trong những năm gần đây có nhiều điều kiện, thế tuy nhiên khi như thế, khi nói tạo điều kiện vẫn còn mang cái tâm lý xin cho: tức là cái này là ân huệ tôi ban cho anh đó. Nhưng mà cái tôn giáo là cái quyền tự nhiên con người được hưởng. Và nhà nước vì dân cho dân phải có trách nhiệm tạo cái điều đó cho người dân chứ không phải cái ân huệ chúng tôi xin. Không có. Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải là cái ân huệ “xin cho”. Phải xem đoạn video của Vietcatholic khi nghe Đức Tổng Giám Mục nói những lời này với phong thái tự do thanh thản, với giọng nói đanh thép, ta mới hiểu: đây không phải là một người đi xin, nhưng là một người đi đòi, đòi cái quyền tự do đã bị tước đoạt. Và theo tôi, đây mới thực sự là lý do khiến nhà cầm quyền cộng sản nhảy chồm lên như người bị điện giựt: cả gan đụng đến quyền. Khi tôi đi đòi lại cái quyền của tôi, điều đó có nghĩa là quyền của tôi đã bị tước đoạt, đã bị đánh cướp.
Ai đã nói trước? Dễ thường có người trách Đức Tổng Kiệt tại sao khi không lại nhảy vào ổ kiến để chuốc hoạ vào thân! Thưa đối thoại ôn hoà, kiên tâm chờ đợi đã bao nhiêu năm rồi, nay khi UBND Tp. HN cho xe ủi đến Toà Khâm Sứ thì mọi niềm hy vọng đối thoại ôn hoà đã tiêu tan. Nhưng có một điều quan trọng mà ta không được phép quên là khi Đức Tổng Giảm Mục Hà Nội phản bác cơ chế “xin-cho” thì ngài chỉ nói một chuyện bình thường mà ai cũng nghĩ, nhưng nhất là ngài chỉ lặp lại một điều HĐGM/VN đã nói trong thư ngỏ gửi đến các nhà lập pháp Nước ta sau Đại hội các Giám mục năm 2002. Xin trích một đoạn:

• Xoá bỏ khuyết tật lớn thứ hai là cơ chế bất công và tha hoá con người.

• Cơ chế xin-cho là một điển hình về cơ chế bất công và tha hoá. Cơ chế xin-cho là một cơ chế bất công và tha hoá con người vì những lý do sau đây:

• Cơ chế xin-cho biến những quyền tự do của công dân thành những thứ quyền Nhà Nước nắm trong tay và ban bố lại cho người dân dưới dạng những cái phép. Như thế cơ chế xin-cho vừa xoá đi các quyền tự do của người dân, vừa biến một Nhà Nước của dân, do dân và vì dân thành một chủ nhân ông nắm trong tay các quyền tự do của người dân và thi ân cho họ theo cảm tính hoặc ngẫu hứng của mình.

Và Khi Đức Tổng Giám Mục Hà Nội công khai phản bác cơ chế “xin-cho” trước nhà cầm quyền Hà Nội thì ngài đã đứng vào thế tranh đấu để đòi lại quyền của mình. Đó mới là lý do khiến lãnh đạo Hà Nội nhảy chồm lên và một mặt dùng tất cả các phương tiện nhân lực (công an, cảnh sát cơ động, dân phòng, đoàn TN Cộng sản HCM), vật liệu (dùi cui, roi điện…) kể cả chó nghiệp vụ trong việc giải toả khuôn viên Toà Khâm Sứ để làm công viên với tốc độ nhanh chưa từng thấy trong lịch sử xây dựng, mặt khác sử dụng báo đài để xuyên tạc, mạ lị người đứng đầu Giáo Hội Công Giáo thuộc giáo tỉnh miền Bắc.
Từ ngạc nhiên đến phẫn nộ và tìm cách trả thù Trở lại với cuộc gặp gỡ giữa phái đoàn Toà Tổng Giám Mục Hà Nội với UBND Tp. HN, sau khi ông Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo kể lể các ân huệ Thành phố đã ban cho Giáo Hội trong những năm qua nhất là vào dịp Noel, điều ông chờ là một lời “cám ơn Nhà Nước đã tạo điều kiện thuận lợi, v.v…” (đây vốn là thứ văn chương ta thường nghe từ phía lãnh đạo tôn giáo của ta sau những dịp lễ khánh thành nhà thờ, truyền chức linh mục, khấn dòng…), thế nhưng thay vì lời cám ơn ông chờ đợi, ông lại được nghe, và có lẽ lần đầu tiên, lại từ phía vị lãnh đạo cao cấp nhất của giáo tỉnh Công Giáo miền Bắc: vấn đề ở đây không phải là ân huệ, mà là quyền. Nói rõ rà: Tôi không đi xin ơn, mà là đi đòi quyền. Điều này không chỉ đụng đến cá nhân ông Chủ tịch hay UBND do ông cầm đầu, nhưng đụng ngay đến chế độ độc tài toàn trị vốn coi dân như cỏ rác.
Tầm vóc người lãnh đạo Câu nói cũng như phong cách Đức Tổng Kiệt cho thấy ngài là một vị lãnh đạo có tầm cỡ. Và đằng sau chiến dịch rầm rộ để mạ lị và cô lập ngài, ta như sờ thấy được nỗi e sợ của nhà cầm quyền vốn đã quen nghe những lời lẽ nhún nhường từ bao năm nay. Nhưng nhìn từ góc độ người tín hữu Công Giáo, ta phải tạ ơn Thiên Chúa đã cho Giáo Hội Việt Nam một vị lãnh đạo không chỉ ôn hoà, khôn ngoan, nhưng vô cùng can đảm.

Kết Luận

Khi tôi viết những dòng này thì đã có tin tức về cuộc gặp gỡ giữa bốn vị đại diện HĐGM/VN với Thủ Tướng Chính Phủ. Mất công ra tận thủ đô để cuối cùng nghe “bổn cũ soạn lại” quan điểm của Nhà Nước Việt Nam về vấn đề đất đai…, tôi thầm nghĩ: chỉ uổng tiền mua vé máy bay và mất thì giờ. Đến nông nổi này thì chẳng còn ai tin là có thể đối thoại với nhà cầm quyền Cộng sản. Điều đáng lưu ý là trong cuộc gặp này các vị đại diện HĐGM đã được giao sứ mạng “dạy dỗ” Đức Tổng Kiệt. Xem ra Đức Tổng Giám Mục Hà Nội đang là nỗi e sợ ngay của những vị lãnh đạo cao cấp nhất của chế độ. Điều này cho thấy họ đã nhận ra tầm cỡ của người đứng đầu giáo tỉnh Công Giáo miền Bắc: Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt.

Sài-gòn, ngày 01 tháng 10 năm 2008
LM Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, ofm

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Ông Dũng sắp “triều kiến” Bắc Kinh! Liệu có đủ bản lãnh để “đu dây”?


Nguyễn Tấn Dũng và Ôn Gia Bảo từng gặp nhau ở Nam Ninh năm 2007 nhân dịp Hội chợ triển lãm ASEAN-Trung Quốc
Đại sứ Trung Quốc xác nhận Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng sẽ chính thức thăm Trung Quốc vào cuối tháng Mười, bác bỏ tin đồn về việc có đi hay không.

Giữa lúc chính trị nội bộ Việt Nam đang diễn biến phức tạp, đã có đồn đoán ở Hà Nội rằng ông Dũng có thể cân nhắc việc đi thăm Trung Quốc.

Tuy vậy, nói với truyền thông Việt Nam nhân Ngày quốc khánh Trung Quốc 1/10, Đại sứ Trung Quốc Hồ Càn Văn xác nhận chóp bu của hai nước Cộng sản sẽ bàn nhiều vấn đề được quan tâm.

Theo phía Trung Quốc, ông Ôn Gia Bảo và Nguyễn Tấn Dũng sẽ hội đàm ở Bắc Kinh khi ASEM 7 diễn ra 24/25 tháng 10.

Trước đó, từ ngày 23 đến 27 tháng Chín, Thứ trưởng Ngoại giao CSVN Vũ Dũng, đã đến Bắc Kinh.

Mục đích của ông Vũ Dũng là “chuyển thông điệp của lãnh đạo cấp cao Việt Nam gửi lãnh đạo cấp cao Trung Quốc về một số vấn đề quan trọng trong quan hệ hai nước, trong đó có vấn đề Biển Đông”.

Gần đây, căng thẳng có xu hướng tăng lên trong khu vực thềm lục địa mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền, đặc biệt là sau khi Bắc Kinh gây áp lực với một số công ty nước ngoài muốn làm ăn với Hà Nội trong vùng tranh chấp.

Không chỉ một lần và với giọng điệu dường như ngày càng mạnh mẽ, Hà Nội đã lên tiếng bảo vệ quyền khai thác tài nguyên trong “vùng thềm lục địa tối thiểu 200 hải lý của Việt Nam”.

Nhưng mặt khác, khi Tổng Bí thư Cộng đảng VN, Nông Đức Mạnh thăm Trung Quốc hồi tháng Năm, thì có giọng điệu ngọt ngào : hai phía đồng ý nâng tầm quan hệ theo hướng “đối tác hợp tác chiến lược toàn diện”.

Nguồn tin ngoại giao từ Việt Nam nói chuyến thăm của ông Dũng là nhằm “cụ thể hóa nội dung” của quan hệ hợp tác chiến lược này.

Cùng chuyến thăm của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết dự kiến sang Nga trong tháng 10 năm nay, có bình luận cho rằng Việt Nam đang cân bằng lại quan hệ với Hoa Kỳ bằng các chuyến thăm cao cấp đến các cường quốc là đối thủ của Mỹ.

Theo BBC

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

NGHĨ VỀ NGUYỄN CHÍ THIỆN
Trần Phong Vũ
Vài điều thưa trước

Tối Thứ Năm 25-9-2008, nhà văn Phan Nhật Nam có nhã ý dành cho tôi một cuộc phỏng vấn trên đài SBTN về biến cố tòa Khâm sứ Hànội và Thái Hà. Trước khi kết thúc, anh nêu một câu hỏi ngoài lề: “Anh nghĩ gì về chuyện ‘NCT thật – NCT giả’ vừa được khơi lại gần đây giữa lúc đang có những vấn đề nóng bỏng tại quốc nội? Nó có liên hệ gì tới điều dư luận cho là người ta muốn đánh lạc hướng sự quan tâm của bà con tị nạn ngoài này không?” Sau khi trả lời vắn tắt, tôi đã công khai nói với anh cũng như quý khán thính giả đài SBTN là nếu có thì giờ tôi sẽ lên tiếng.
Và đây là tiếng nói của tôi, một người làm truyền thông, văn hóa tự do.
Trước hết, cần nói ngay để tránh ngộ nhận: những gì tôi viết trong bài này không phải để bênh vực hay biện hộ cho nhà thơ Nguyễn Chí Thiê.n. Giản dị: vì tự thân con người, nhân cách, lối sống của anh cho thấy anh không cần ai bênh vực hay biện hộ.
Cách đây ít lâu, khi đọc được đây đó những lời lẽ gay gắt nhắm vào anh (vẫn không ngoài chuyện NCT thật - NCT giả, NCT chống cộng – NCT tay sai CS), tôi dọ ý xem anh có tính lên tiếng không thì nhận được câu trả lời: “Dứt khoát tôi sẽ không bao giờ lên tiếng, vì những ai tin tôi thì họ đã tin rồi. Còn những người không tin, hoặc cố tình không tin, thì dù có cải chính cách mấy cũng vô ích”.
Hiểu rõ tâm tính anh, từ đấy tôi không thắc mắc nữa.
Bài này cũng không phải để tranh luận hay phản bác quan điểm của những người chống đối, bôi bác Nguyễn Chí Thiê.n. Có thể không chia sẻ nhưng tôi tôn trọng ý kiến của mọi người theo cách riêng của tôi. Vì thế, trong bài viết ngắn này tôi chỉ giới hạn vào mục tiêu duy nhất là trình bày những gì tôi biết về nhà thơ Nguyễn Chí Thiê.n. Tôi không có ý thuyết phục bất cứ ai phải nghĩ về nhà thơ này giống tôi, và càng không có dụng tâm trả lời hay tranh luận với những vị có những quan điểm, nhận thức khác tôi.

Những điều tôi biết

Tôi được gặp và quen biết Nguyễn Chí Thiện (NCT) vào những năm đầu thiên niên thứ ba, thời gian linh mục Nguyễn Văn Lý tái phát động cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo, cho nhân quyền nhân phẩm Việt Nam. Đây cũng là thời gian tôi cùng một số anh em bắt đầu thực hiện nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân để tiếp tay cho những nỗ lực của những nhà dân chủ ở quốc nội, nhất là những nỗ lực của nhóm giáo sĩ Công giáo theo tinh thần cố TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền, trong đó, cha Lý được coi là cánh chim đầu đàn.
Cái biết và sự đồng cảm của tôi về nhà thơ NCT dựa trên hai nguồn chính:
1/ Những nhân chứng mà tôi may mắn được gặp những người quen biết anh từ thời thơ ấu.
(b) những nhân vật đã sống, đã trải nghiệm cùng với anh về những khổ đau nghiệt ngã và từng thông chia với anh những vần thơ uất nghẹn được nghiền ngẫm và ghi lại trong ký ức qua những tháng năm dài trong ngục tù cộng sản. Tất cả những vị này hiện còn sống và đang có mặt ở hải ngoại hoặc ở trong nước.
2/ Những cảm nghiệm cùng những nhận định riêng của cá nhân tôi về con người và nhân cách NCT.

1 – a/ Danh tính, quê hương, gốc gác NCT:

Cách đây không lâu, trong một buổi giới thiệu thi phẩm Hoa Địa Ngục (do Cành Nam miền đông Hoa Kỳ của giáo sư Nguyễn Ngọc Bích và bà Trương Anh Thụy xuất bản) ở phòng sinh hoạt đài Little Sàigòn Radio ở quận Cam, anh Nguyễn Thanh Hùng, một giọng ngâm thơ nổi tiếng trong nhiều chương trình thi văn trên đài phát thanh quốc gia trước tháng 4-75, được mời lên diễn đàn. Trước khi gửi tới cử tọa giọng ngâm điêu luyện, đa dạng và truyền cảm của anh, Nguyễn Thanh Hùng khua cây gậy chống trước mặt tướng Nguyễn Bảo Trị và nhà thơ NCT trên hàng ghế đầu vừa cười vừa nhắc lại những kỷ niệm thời niên thiếu của anh với ông cựu tướng trong những năm sống ở Hànội trước 54. Riêng với tác giả Hoa Địa Ngục, anh chỉ vào nhà thơ và lớn tiếng nói với mọi người: còn ông thi sĩ này tôi biết ông từ thời ông còn là một cậu bé ở làng Thượng Thọ, đồng hương của tôi, anh ruột ông là cựu trung tá QLVNCH Nguyễn Công Giân hiện cư ngụ trên DC, ấy thế mà cho đến nay vẫn có người còn nghi ngờ ông là NCT giả!
Tôi tin lời chứng của Nguyễn Thanh Hùng vì tôi quen biết anh từ hồi còn ở trong nước và hiểu rất rõ về nhân cách của anh. Ngoài thái độ tôn trọng sự thật, không có lý do nào buộc anh phải lên tiếng về trường hợp NCT.

b/ Thời gian NCT bị cầm tù:

Những nhân vật giúp tôi biết về tác giả Hoa Địa Ngục trong những năm dài bị cộng sản cầm tù qua nhiều chặng thời gian và nơi chốn khác nhau gồm có các ông Nguyễn Ký, hai linh mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Viết C ông Kiều Duy Vĩnh và nhà văn Vũ Thư Hiên (trong số những vị này, hai ông NK, KDV và nhà văn VTH thuộc nhóm bạn tù thân tín được NCT đọc thơ cho nghe. Riêng nhà văn VTH, thay vì kể lại những gì ông trao đổi trực tiếp trong những lần gặp gỡ ở Mỹ hoặc ở Pháp, tôi sẽ trích lại những chứng từ của ông trong tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày do nhà xuất bản Văn Nghệ ấn hành năm 1997 để độc giả dễ dàng tra cứu).

* Ông Nguyễn Ký: hiện cư ngụ trong vùng tiểu Sàigòn, nam California, Hoa Kỳ. Trong những năm đầu ở quận Cam, NCT sống chung với gia đình ông Ký ở thành phố Garden Grove. Bản thân tôi có nhiều dịp tới thăm NCT tại đây. Vì thế, tôi có cơ hội nói chuyện nhiều với ông Ký để có lần được cho biết: ông là người đầu tiên phát hiện NCT chính là tác giả thi phẩm đầu được lưu hành trong cộng đồng tị nạn ở HK dưới tiêu đề Tiếng Vọng Từ Đáy Vực khi chưa ai biết, kể cả những người in và phát hành tập thơ này.
Trả lời câu hỏi của tôi là nguyên do nào ông quen biết NCT và đựa vào đâu ông có thể xác quyết thi phẩm này là của NCT, ông Ký cho hay:
Bản thân ông đã trải qua nhiều năm tù chung với NCT.

(2) Trong những thời khoảng bị giam chung, mỗi lần viết xong một bài thơ đắc ý, NCT thường lén đọc cho ông và một số bạn tù thân tín nghe. Nghe mãi rồi nhập tâm lúc nào không hay. Đầu thập niên 80 (khoảng năm 1982), thời gian ông mới tị nạn qua Mỹ, đang theo học tại ĐH Fullerton. Một hôm có đứa cháu cho biết vừa được coi tập thơ có tên là Tiếng Vọng Từ Đáy Vực, rồi hỏi ông khi ở tù có quen ai từng làm thơ và đi tù tới hơn hai chục năm không, ông hỏi có nhờ bài nào trong tập thơ không thì cháu ông cố nặn trí nhớ và đọc cho ông nghe câu “Bác Hồ rồi lại Bác Tôn”. Ông nhẩm đọc lại câu thơ “có vẻ quen quen” và ngay lập tức cả một dĩ vãng tù đày hiện về trong tâm trí ông. Nhẩm lại câu thơ một lần nữa, rồi như một phản xạ của vô thức, miệng ông bật ra câu thơ kế “Cả hai đều thích ôm hôn nhi đồng”. Nhìn trân trân vào khoảng không, ông nói lớn: “đích thị là Nguyễn Chí Thiện rồi!”

Chuyện này đến tai nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang. Qua nhạc sĩ NĐQ, ông Ký có cơ hội gặp gỡ và nói chuyện đầu đuôi với ông Đỗ Ngọc Yến. Sau đó, với bút hiệu Minh Thi, ông Ký là người thứ nhất đã phát giác trên tờ nhật báo Người Việt: NCT chính là tác giả TVTĐV từ những năm đầu thập niên 80.

* Linh mục Nguyễn Văn Lý: người tù chung phòng với ông NCT trong hai năm 1990-1991 ở trại tù Nam Hà. Sau khi cha Lý tái phát động cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo, cho nhân quyền, nhân phẩm Việt Nam vào năm 2000, tôi có nhiều cơ hội liên lạc với ngài qua Email hoặc trực tiếp qua đường giây điện thoại viễn liên. Có lúc tôi đã hỏi về NCT và được cha Lý xác nhận tất cả những gì anh đã thuật lại với tôi.

* Linh mục Nguyễn Viết C.: hiện còn ở Việt Nam. Khoảng vài tháng trước, vị linh mục này qua thăm thân nhân ở Mỹ. Trong một bữa ăn ở nhà hàng Song Long đường Bolsa gồm có 5 người: ông Ký, NCT, linh mục C, linh mục Đức Minh và tôi. Dịp này, cha C. đã ôn lại nhiều kỷ niệm trong hơn 10 năm ngồi tù, kể cả thời gian bị đày ải lên Cổng Trời, trong đó có khoảng 7 năm tù chung với tác giả Hoa Địa Ngu.c. (LM C. phải vào tù ngay từ sau tháng 7-1954 khi còn là một chủng sinh. Sau khi được trả tự do ông trở lại chủng viện tiếp tục con đường tu học và mãi tới đầu thập niên 90 mới được chịu chức linh mục).

* Ông Kiều Duy Vĩnh (KDV): hiện ở Hànô.i. Trong tác phẩm Chuyện Kể Năm 2000, nhà văn Bùi Ngọc Tấn có nhắc tới một nhân vật đồng tù tên Kiều Xuân Vĩnh. Đấy chính là KDV mà vì lý do riêng tác giả họ Bùi đổi tên đệm của ông Vĩnh. Trước tháng 7 năm 1954, KDV là đại úy tiểu đoàn trưởng trong quân đội quốc gia. Ông là SVSQ trừ bị khóa đầu ở Nam Đi.nh. Sau nhiều lần bị từ chối, cách đây mấy năm ông được sở CA Hànội cho phép qua Mỹ thăm thân nhân.
Trong buổi gặp gỡ anh em ở hàng hiên tòa soạn tuần báo Viettide (khi ấy còn ở đường Moran và là tòa soạn của tờ Việt Báo hiện nay), nhờ anh Đỗ Việt Anh thông báo tôi tìm tới góp mă.t. Nếu trí nhớ của tôi không quá tệ thì bữa ấy có sự hiện diện của các anh Vũ Thư Hiên, NCT, Đỗ Quý Toàn, Đỗ Việt Anh, Phạm Phú Minh, Phạm Quốc Bảo, Nguyễn Xuân Nghĩa, cô Mai Khanh và một số anh em khác tôi không nhớ hết, nhà văn Nhật Tiến có mặt nhưng vì bận bên trong tòa soạn nên ít xuất hiện… Trên bàn có bia và đồ nhậu (gà vịt quay, đồ phá lấu, bánh mì).
Tôi nhớ trong buổi gặp gỡ hôm ấy, KDV uống khá nhiều, gần như ông không ăn hoặc ăn rất ít. Ông kể lại đủ thứ chuyện: chuyện cùng với Phan Hữu Văn theo chân và chỉ đường vẽ lối cho mấy chuyên viên truyền hình người Pháp toan tính đột nhập trại Thanh Cẩm để phỏng vấn tù nhân Đoàn Viết Hoạt nhưng bất thành, chỉ lấy được ít hình quanh tra.i. Những pha đứng tim mà anh và Phan Hữu Văn (thời gian hai người được tự do đang ở Hànội) trải qua trong cuộc phiêu lưu đầy bất trắc ấy. KDV cũng nói tới lý do ông kẹt lại Hànội năm 1954 rồi bị cộng sản tống vào nhà tù ngót 20 năm: vì chữ hiếu phải vâng lời song thân khi ấy mang ảo tưởng là cộng sản sẽ buông tha cho gia đình nhờ có công với kháng chiến (trước đây hai cụ đã đóng góp nhiều cho Mặt Trận Việt Minh). Nhưng các cụ đã lầm: chỉ ít lâu sau khi đất nước chia đôi, KDV bị tống giam và thân phụ ông bị đấu tố đến chết!
Có lúc ông khóc ngất. Có lúc ông cất tiếng cười như ngây, như da.i. Giữa giòng lệ KDV cao giọng chửi đổng những kẻ may mắn được thoát thân ra hải ngoại, được hưởng đủ thứ tự do thế mà lại manh tâm mon men tìm về làm tôi mọi cho một chế độ bạo tàn!
Rồi ông đứng dậy cất giọng sang sảng ngâm thơ. Hết thơ Phạm Thái tới thơ NCT. Ngây ngất nhìn bóng dáng cao lớn của KDV, nghe ông ngâm thơ mà tôi như thấy thấp thoáng trước mắt, trong hồn, hình ảnh uy dũng mang vẻ man dại, hoang đường của một mẫu tráng sĩ thời xưa. Ông ngâm hết bài này đến bài khác, nhất là những trích đoạn ẩn giấu tâm trạng bi phẫn trong bài thơ dài có tên Đồng Lầy. Những vần thơ hào sảng như nằm sẵn trong ký ức cứ thế tuần tự trào ra. Có một lúc, NCT hích vào vai tôi nói nhỏ: trí nhớ thằng Vĩnh thật khiếp đảm! Anh có nhận ra bài nó vừa ngâm không? Nó nói của tôi mà chính tôi cũng không còn nhớ nữa.

Ngày hôm sau, như đã ước hẹn trước, tôi tới nhà cựu trung tá Khanh thuộc binh chủng không quân đón KDV đi thăm một nhóm bạn bè, phần đông là những người chưa hề biết ông. Trong khi trao đổi, chuyện trò với anh em, ông tâm sự: “vợ tôi là người Công giáo, chúng tôi lấy nhau nhưng đạo ai nấy giữ. Tuy vậy, vì chiều vợ, tối tối tôi thường cầu kinh chung với bà và các con tôi. Mỗi lần đọc kinh Lạy Cha đến câu ‘…như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con’ là tôi khựng la.i. Tội không muốn đọc tiếp. Không phải là người quá khích, tôi có thể tha bất cứ ai, riêng tụi cộng sản bất nhân đã làm tan nát gia đình tôi, tôi không thể nào tha được!”

KDV cũng kể cho tôi và các bạn tôi nghe nhiều chi tiết về NCT trong những năm tháng ở tù chung, kể cả những gặp gỡ sau này vào những thời gian hai người được trả tự do. KDV cho biết, chính trong những thời khoảng ấy, ông được NCT đọc cho nghe những vần thơ được viết ra bằng máu lệ của anh, đến nỗi lâu ngày đã nhập tâm, cho đến nhiều năm sau ông vẫn còn nhớ.
Trong dịp này, theo lời yêu cầu của KDV tôi đã tìm gặp thân nhân, bạn bè xin được một số kính lão, kính cận đủ thứ để tặng ông, vì theo ông, những cặp kính đáng vứt đi hoặc bi bỏ xó bên này nhưng lại rất cần cho bà con bên nhà phần đông là những người nghèo khổ không có khả năng mua kính mới. Tôi và nhóm bạn bè tôi cũng tặng anh một ngân khoản, giúp anh trang trải một phần những chi phí bắt buộc cho chuyến đi thăm thân nhân. Dịp Uyên Thao về thăm Việt Nam vài năm trước tôi cũng gửi mấy trăm để biếu người bạn mới này.

* Nhà văn Vũ Thư Hiên: Để khỏi phải kể lại những gì tôi được nghe từ chính cửa miệng VTH trong một lần gặp gỡ bên Pháp và nhiều lần ở Mỹ, tôi xin trích lại vài đoạn trọng tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày của anh do Văn Nghệ xuất bản tại California, HK lần đầu năm 1997
Trang 725 ĐGBN giòng thứ 6 tính từ đầu trang:
“Anh Nguyễn Chí Thiện, một tù nhân có thâm niên đáng kính, một nhà thơ được ưu ái trong tầng lớp trí thức của xã hội tù…”
Trang 726 ĐGBN từ giòng thứ tư đến cuối và qua 25 giòng đầu trang 727:
“Nguyễn Chí Thiện làm nhiều thơ. Chiều chiều chúng tôi tụ họp nhau ở sau trại ngắm hoàng hôn, uống trà và nghe thơ. Nhìn cảnh những Kiều Duy Vĩnh, Nguyễn Chí Thiện, Lê Trình, Văn Thợ Mộc, Tôn Thất Tần…, kẻ đứng người ngồi trong ráng chiều bàng bạc của một vùng rừng núi âm u bắt đầu ngả sang màu tím, tôi nhớ tới bức tranh vẽ Những Người Tháng Chạp trong cảnh lưu đày ở Sibir thời Nga Hoàng.
Những bài thơ của Nguyễn Chí Thiện không hợp với tạng tôi. Thơ của anh trần trụi, bỗ bã, nói thẳng vào vấn đề, mà tôi thì lại thích thơ gợi, thơ kích thích trí tưởng tượng, thứ thơ cho phép người đọc được tham gia thêm vào cái đã có sẵn trong bài thơ, câu thơ một chút tâm hồn mình. Nhưng cũng có bài của anh đọng lại trong trí nhớ:

Không có chỗ cho con tàu trái đất
Tôi là người hành khách bơ vơ.
Lỡ chuyến, lầm ga, mất cắp, bây giờ
Tôi ủ rũ trên sàn toa lạnh ngắt,
Cái toa đen dành cho súc vâ.t.
Hoặc:
Người xưa ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Rồi cúi đầu thương nhớ quê hương…
Còn tôi đây ngẩng đầu nhìn nhện chăng tơ vướng
Rồi cúi đầu nhặt hạt cơm vương Cao lênh khênh giữa các bạn tù, Nguyễn Chí Thiện nhìn đời qua cặp kính trắng mà đàng sau chúng là cặp mắt lồi ngơ ngác.
Bộ quần áo trại phát, dự tính cho người tù có chiều cao trung bình, quá cũn cỡn trên người anh, làm thò đôi cẳng chân khẳng khiu ra ngoài. Thiện không bao giờ đi dép, tứ thời anh diện đôi guốc mộc tự đẽo, làm anh cao thêm mấy phân nữa. Thiện không phải là người tù bướng bỉnh, chống đối bất cứ ai vào bất cứ lúc nào. Anh còn thuộc loại hiền lành nữa là khác. Có vẻ lúc nào anh cũng ngơ ngác, cũng ngạc nhiên trước cuộc đời bụi bậm và uế ta.p. Anh ghê tởm nó, nhưng cũng không có ý định dọn dẹp nó hay sửa chữa nó. Nói tóm lại anh chẳng gây sự với cán bộ trại giam. Nhưng đó là một người tù không thể bẻ gẫy. Tinh thần bất khuất trong những người tù không biểu hiện ở thái độ ngang tàng mà ở thái độ bất cần, thái độ khinh ma.n.

Có lần đi lao động về tôi thấy Nguyễn Chí Thiện đã bị khóa cánh tiên ngoài cổng tra.i. Trông anh như bộ xương người trong giờ cách trí –lồng ngực ưỡn ra nhìn rõ từng rẻ sườn. Nhìn thấy tôi Thiện mặt đỏ gay còn cố mỉm cười thay lời chào.
Trình Hàng Vải thì thào với tôi:
- Chúng nó bắt được mấy bài thơ của Thiê.n.
Những người tù số lẻ lặng lẽ đi ngang bạn mình đang bị hành hạ. Mặt họ đanh la.i. Tôi nghĩ: chỉ cần nhìn thấy cảnh này chứ không cần nếm nó người dân cũng khó mà yêu được chế độ.
Kiều Duy Vĩnh đánh giá cao cái ngoại lệ mà người tù chống cộng cực đoan dành cho tôi.
-Thiện nó tin anh lắm đấy! Mà cũng trọng anh lắm đấy! Nếu không nó chẳng đọc thơ cho anh nghe đâu…”
Nói chuyện trực tiếp qua đường giây điện thoại với tác giả ĐGBN chiều Thứ Tư 01-10-08, tôi được Vũ Thư Hiên xác nhận là những đoạn liên hệ tới NCT trong hồi ký, anh viết từ những năm 1993, 1994, tức là thời gian NCT còn ở trong nước chưa qua Hoa Kỳ. Theo tôi, đây là một sự kiện đáng chú ý.

2/ Những trải nghiệm riêng

Tám năm trời quen biết, tôi có dịp gặp gỡ, trao đổi với NCT trong nhiều sinh hoạt cộng đồng. Không phải chỉ ở quận Cam, mà còn ở nhiều nơi. (Những lần cùng anh xuất hiện trong những cuộc họp báo, những cuộc phỏng vấn, những buổi hội luận trên các đài phát thanh, các chương trình truyền hình ở nam hoặc bắc California. Những lần giới thiệu sách cho bản thân, cho những bằng hữu thân quen như giáo sư Đỗ Mạnh Tri (Pháp): các tác phẩm Hiện Tượng Nguyệt Biều - Di Sản mác-Xít Tại Viê.tnam; như nhà biên khảo Minh Võ (San Diego, HK): các tác phẩm Hồ Chí Minh, Nhận Định Tổng Hợp - Sách Lược Xâm Lăng Của CS-; như nữ sĩ Tường Lam (Đức quốc): Ngược Giòng Thới Gian; anh cũng đề tựa cuốn Ai Giết Hồ Chí Minh của Minh Võ…). Qua những sinh hoạt này, tôi nhận ra nơi NCT:
- Một mẫu người có trí nhớ đặc biệt, óc nhận xét, phán đoán tinh tế, sắc bén.
- Một lối sống giản dị, khiêm tốn, hòa đồng với tha nhân.
- Một nhân cách khác thường: trọng điều nhân nghĩa hơn tiền bạc, dứt khoát chọn lối sống khắc khổ, tự chế như một nhà tu.
- Quan trọng hơn hết, nơi anh tôi bắt gặp một người có một tinh thần quốc gia không dời đổi, một lập trường chống cộng -nói chính xác hơn là chống cái ác- dứt khoát, kiên đi.nh. Có lần Đỗ Mạnh Tri nói với bạn bè anh: "đối với tôi, chỉ với Hoa Địa Ngục, Nguyễn Chí Thiện đã là một Monument, một Tượng Đài sống". Riêng người viết những giòng này đã hơn một lần thú nhận với những người thân quen: cùng một đề tài vạch trần tội ác cộng sản, một tiếng nói của NCT nặng gấp trăm lần tiếng nói của tôi.

Sau đây là vài dấu chứng cụ thể.

Về nhân cách NCT: Chưa bao giờ tôi thấy anh thất hứa với bạn bè. Chưa lần nào anh tỏ ra là kẻ chuộng hư danh, ham tiền ba.c. Dù cuộc sống đơn nghèo, đạm bạc (trước khi được hưởng tiền trợ cấp SSI dành cho những người trên 65 tuổi, anh sống bằng tiền nhuận bút của hai tác phẩm Hoa Địa Ngục và Hỏa Lò do nhà xuất bản Cành nam ở miền Đông chi trả và trong ba năm ở Pháp do tổ chức IPW (International Parliament of Writers) đài thọ chi phí ăn ở), anh luôn khảng khái khước từ sự giúp đỡ của anh em, dù nhiều hay ít, kể cả trường hợp những tác giả nhờ anh đi đây đó giới thiệu sách và tỏ ý muốn biếu tặng anh một số tiền như một cách để cám ơn anh.

Gần đây, vì nhà văn Phan Nhật Nam có ý bán căn nhà nhỏ của anh trong khu mobilhome trên đường Mc Fađen (nơi NCT đang ở chung), anh hỏi tôi xem có chỗ nào cho share phòng không, tôi tâm sự với một người ba.n. Ngay sau đó người bạn này và chủ nhà vốn là người thân của anh mời tôi và NCT tới coi một căn hộ thật khang trang trên lầu một, với đầy đủ tiện nghi: phòng ngủ, bếp, phòng tiếp khách, trang bị đồ đạc tươm tất, sẵn sàng để dọn vào. Trong một buổi ăn chiều hôm sau ở nhà hàng Bon Ami trên đường Euclid, trước mặt tôi và anh bạn, chủ nhân thẳng thắn ngỏ lời mời NCT đến ở vô điều kiện, không phải trả bất cứ chi phí nào, kể cả tiền nhà. Anh cám ơn và khất sẽ trả lời sau khi đi San Franciso, theo lời mời của tổ chức Pháp Luân Công, trở về. Nhưng khi ra xe, anh nói nhỏ với tôi: “vì không muốn làm buồn lòng một người có lòng tốt với mình, tôi chưa trả lời ngay. Nhưng trong thâm tâm tôi đã quyết định từ chối. Anh nghĩ coi: làm sao tôi có thể nhận một ân huệ lớn lao một cách khơi khơi như vậy được!”

Lần anh giúp giới thiệu tác phẩm Di Sản Mác-Xít Tại Việt nam, tác giả là giáo sư Đỗ Mạnh Tri nhờ tôi chuyển biếu anh 300 MK, nhưng anh dứt khoát chối từ. Viện cớ là không có nhu cầu. Bị ép quá, anh nhận, nhưng ngay sau đó đã tặng lại cho nguyệt san ĐDGD vào lúc tờ báo còn ở giai đoạn phôi thai. Lần anh giúp giới thiệu tác phẩm Hồ Chí Minh, Nhận Định Tổng Hợp và viết lời tựa cho cuốn Ai Giết Hồ Chí Minh trước đó của nhà biên khảo Minh Võ, anh cũng nhất định từ chối không nhận tiền, mặc dầu tôi và anh Minh Võ hết sức nài ép. Trường hợp anh giới thiệu tác phẩm Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Vĩ Nhân Thời Đại của tôi ở nam California ấn bản đầu năm 2005 và lần tái bản năm 2006 trên San Jose cũng tượng tự như thế. Rồi đến lần tiến sĩ Bùi Hạnh Nghi, phu quân nữ sĩ Tường Lam từ Đức quốc qua nhờ anh giới thiệu cuốn Ngược Giòng Thời Gian ở quận Cam và San Jose anh vẫn giữ nguyên tắc bất di dịch là một mực chối từ mọi thứ thù lao, mà theo lẽ công bằng anh có quyền nhâ.n.

Cuối cùng, tôi đành bịa ra vài lý do để gián tiếp giúp anh.
Thứ nhất, đưa tiền nhờ anh chuyển biếu những nhà văn trong nước mà anh thường giúp đỡ (vì trong quá khứ tôi đã chứng kiến nhiều lần anh trao tiền tận tay cho nhà văn Vũ Thư Hiên, khi 200 khi 100 để nhờ chuyển về VN tặng những người bạn tù ngày xưa, trong khi tôi biết rõ bản thân anh lúc ấy cũng không dư giả gì.) Những dịp như vậy có lần anh nhận và cũng có lần anh từ chối với lý do vừa mới gửi rồi.

Thứ hai, khi nhà xuất bản Cành Nam tái bản cuốn Hoa Địa Ngục, tôi đã trao anh một số tiền mặt nói là để đặt mua trước mấy chục cuốn tặng bạn bè ở xa. Cách này thật ra cũng chỉ có giá trị tượng trưng vì thực ra sách của anh mỗi lần tái bản và giới thiệu đây đó đều được độc giả nhiệt tình chiếu cố không còn một cuốn. Tôi còn nhớ hôm giới thiệu sách ở hội trường đài Little Sàigòn Radio, theo lời căn dặn trước của NCT, ông Nguyễn Ký, một trong những người tình nguyện giúp anh trong buổi sinh hoạt hôm ấy, đã gói sẵn số sách tôi đặt mua. Nhưng vào phút chót, khi thấy vẫn có người cần mà sách đã hết, tôi nói ông Ký mở ra để bán. Phần tôi sẽ chờ lấy đợt sau.

Về khả năng và trí thông minh: Có nhiều cơ hội nói chuyện trực tiếp với NCT và qua những lần nghe anh phát biểu về nhiều lãnh vực, từ chính trị tới văn hóa, thi ca đông tây kim cổ, thấy anh quán triệt gần như tất cả mọi vấn đề, tôi không khỏi ngạc nhiên khi đối chiếu với tuổi tác và thời gian vướng vòng lao lý rất sớm của anh.

Về khả năng Pháp ngữ, tôi phải thành thật thú nhận là tôi không đủ tư cách để đưa ra nhận xét riêng. Nhưng dựa vào những gì nguyên luật sư kiêm nghị sĩ Nguyễn Văn Chức nói với tôi, tôi tin NCT là người có trình độ. Tôi thường tự hỏi: do đâu mà một người sinh năm 1939, bị đi tù rất sớm như NCT lại có được một khả năng hiểu biết về Pháp ngữ như thế? Theo tôi phỏng đoán thì có lẽ nhờ trí thông minh, có năng khiếu về ngoại ngữ, dựa vào cái nền của những năm ở bậc tiểu, trung học và tổng cộng thời gian 27 năm ngồi tù giúp anh có cơ hội học hỏi qua sách vở và các bạn đồng tù, nên mới được như thế chăng? Trong tác phẩm Viết Về Bè Bạn, nhà văn Bùi Ngọc Tấn có nói tới trường hợp nhà văn Dương Tường, một người ngồi trên ghế nhà trường không được bao lâu, tham gia kháng chiến, đi bộ đội từ thời niên thiếu, rày đây mai đó, nhưng vì hiếu học, chiếc ba lô trên vai lúc nào cũng đầy nhóc sách vở. Nhờ thế sau này không những Dương Tường nối tiếng là người viết và là nhà phê bình văn học có hạng mà còn là người thông thạo nhiều sinh ngử. Ông quen biết rất nhiều tác giả Âu Mỹ. Mỗi khi những vị này ghé qua Việt nam đều phải nhờ tới vai trò trung gian của ông. Tiết lộ của nhà văn họ Bùi giúp tôi lý giải một phần thắc mắc về trường hợp NCT.

Trở lại những điều luật sư Nguyễn Văn Chức nói với tôi về NCT, có lúc tôi ngần ngại không muốn nhắc tới trong bài viết này, vì sợ do một căn nguyên nào đó sẽ bị phủ nhâ.n. Nhưng tin rằng sự thật trước sau vẫn là sự thật, và hẳn luật sư Chức, dù trong hoàn cảnh nào, cũng chia sẻ một niềm tin như tôi, do đó tôi xin phép ghi lại vài lời, vẫn chỉ với mục tiêu duy nhất là trình bày những gì tôi biết về NCT mà thôi.

Năm 1996, khi tôi viết xong tập biên khảo Một Thoáng Nhìn Về GHVN Qua Biểu Tượng Đức Gioan Phaolô II, tôi được luật sư Nguyễn Văn Chức viết Lời Tựa cho cuốn sách. Từ đấy chúng tôi thường liên lạc với nhau. Một hôm (tôi không nhớ đích xác năm nào), trong khi đàm đạo nhiều chuyện qua đường giây điện thoại viễn liên, luật sư Chức đề cập tới NCT. Ông cho hay đã có lần NCT ở chơi trong nhà ông cả tuần lễ. Trong thời gian ấy, NCT lúc nào cũng quanh quẩn bên tủ sách của ông, trong đó hầu hết đều là sách tiếng Pháp và tiếng Anh, văn học, thi ca, chính trị, luật pháp, đủ loa.i. Ban đầu ông hoài nghi trình độ đọc và hiểu Pháp ngữ của NCT, vì thế nhân một lúc thuận tiện ông gợi lại tên và tác phẩm của một vài tác giả Pháp để dò ý NCT. Và qua cuộc trao đổi hôm ấy ông nhìn nhận là NCT có một trình độ khá vững về Pháp ngữ cũng như am tường về nhiều tác giả, tác phẩm thời danh của Pháp

Về trí nhớ và óc phân tích, tổng hợp: Qua những lần cùng NCT lên tiếng trong những buổi hội luận hoặc phỏng vấn trên TV, Radio, hoặc những lần nghe anh nói chuyện đây đó, điều tôi hết sức cảm phục là trí nhớ đặc biệt và óc phân tích, tổng hợp sắc bén, nhanh nhạy của anh. Ký ức của NCT không chỉ giới hạn trong hàng trăm bài thơ của anh, hay của một vài tác giả nào đó mà anh đã nhập tâm từ thuở nào. Nó còn bộc lộ cả trong những trích dẫn bất chợt về câu nói của một văn nhân, nghệ sĩ, một chính trị gia, một nhà khoa học đông tây, kim cổ nào đó khi anh cần minh chứng hoặc làm sáng lên ý tưởng của một vấn đề anh vừa đề câ.p. Trong những lần NCT được mời thuyết trình, tôi chưa bao giờ thấy anh phải viết ra giấy, dù chỉ là một dàn bài sơ lươ.c.

NCT có một lối nói dễ dàng, giản dị, không cầu kỳ, làm dáng. Anh luôn tỏ ra là người biết tôn trọng đối tượng anh nói với, và vì thế anh được cử tọa, dù thuộc thành phần thượng lưu, trí thức hay bình dân quý mến và nồng nhiệt đón nhâ.n. Một phần quan trọng, theo nhận định của tôi, là mỗi khi đến với cử tọa, với khán thính giả, anh đến bằng tấm lòng, bằng trái tim chứ không chỉ bằng ngôn ngữ. Những gì anh nói ra xuất phát từ tấm lòng chân thành, ngay thẳng của mình.

Về lập trường chính trị: Nguyễn Chí Thiện không phải là một chính trị gia. Anh không xếp hàng trong bất cứ đảng phái chính trị nào. Nhưng anh là người có một lập trường chính trị rõ rệt, dứt khoát, không dời đổi. Đó là lập trường quốc gia, chống lại mọi thế lức gian dối, độc ác mà chủ nghĩa nô bộc cộng sản được anh xếp lên hàng đầu. Trong hồi ký Đêm Giữa Ban Ngày, nhà văn Vũ Thư Hiên xếp NCT vào loại “chống cộng cực đoan”. Ở một khía cạnh nào đó, nhận xét này không sai. Nơi cuối trang 725 và đầu trang 726, nhà văn họ Vũ viết:
“- Nạn đói là kinh niên đối với một nước như Trung Quốc –tôi nói với Thiê.n-. Không phải những người cộng sản là nguyên nhân duy nhất. Thời Tưởng, tôi biết, nạn đói còn xảy ra nhiều hơn. Hãy nhớ lại bọn Tàu phù sang ta năm 1945. Không phải chỉ đói, mà còn man rợ nữa…
Thiện trợn mắt. Anh không thích một câu đế ngang xương như thế. Với anh, cộng sản là xấu, là tồi tệ, là kinh tởm, chấm hết. Không một cái gì của cộng sản có thể là tốt.
Cái cách tôi đánh đồng loại chính quyền Tưởng Giới Thạch với chính quyền Mao Trạch Đông như thế là không đươ.c. Không hiểu sao anh vẫn chấp nhận tôi…”
Có lẽ chỉ với hai tác phẩm Hoa Địa Ngục, Hỏa Lò và với những chứng từ trên đây của nhà văn Vũ Thư Hiên đã quá đủ. Tôi không cần phải nhắc lại những gì chính tai tôi được nghe trong những buổi thuyết trình, hội luận, phỏng vấn ở nhiều nơi mà NCT là diễn giả chính, để chứng minh lập trường quyết liệt và dứt khoát của anh đối với chủ nghĩa độc tài chuyên chính cộng san. Ngay lúc đang ở trong nhà tù cộng sản mà NCT đã như thế thì khi được tháo cũi, xổ lồng, anh có bôn ba đây đó để vạch trần bộ mặt thật nhơ nhớp, phản bội đất nước, phản bội dân tộc của chế độ cộng sản thì chỉ là chuyện đương nhiên, không cần tranh cãi.
Nhắc tới nguồn dư luận cho rằng NCT đang ở hải ngoại là NCT “giả” do cộng sản dựng lên để phá đám, một người bạn nói đùa với tôi: nếu đúng như vậy thì tôi mong cộng đồng mình ở ngoài này được đảng và nhà nước chiếu cố cung cấp thêm cho vài ba chục hoặc 100 NCT khác nữa. Dù là câu nói đùa, tự thâm tâm tôi chia sẻ ước mong này của anh ba.n.

Vài giòng trước khi kết thúc

Trên đây là tất cả những gì tôi biết về con ngưới, tác phong, tư cách và lập trường của nhà thơ NCT. Cái biết ấy căn cứ vào những gì chính tôi nghe được, đọc được qua những chứng từ của những nhân vật hiện còn sống ở trong nước hoặc hải ngoại, trong đó có những chi tiết trích dẫn nguyên văn trong tập hồi ký đồ sộ của nhà văn Vũ Thư Hiên: tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày.
Tôi không che giấu tình cảm kính trọng và quý mến của tôi đối với NCT.
Vì nhân cách của anh. Nhất là vì ở anh, tôi tìm được một mẫu người đồng tâm, đồng chí. Cả anh và tôi đều không trực tiếp làm chính trị, không có tham vọng chính trị, nhưng chúng tôi có chung một ý thức và quan điểm chính trị: ngày nào còn sống, còn thở, chúng tôi quyết tâm tiếp tục dấn thân tiếp tay với những cá nhân, những tập thể đang đấu tranh tiêu diệt mọi thế lực gian dối, độc ác để xây dựng một một thể chế dân chủ, tư do, trong đó nhân quyền, nhân phẩm của 84 triệu đồng bào phải được triệt để tôn trọng trên quê hương Việt Nam.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

NGHỀ CHỤP MŨ

Đinh Lâm Thanh
Ba triệu người Việt Quốc Gia định cư tại nước ngoài chỉ là một số nhỏ so với trên tám chục triệu trong nước, nhưng chính là mối lo sợ hàng đầu đối với ngụy quyền cộng sản Việt Nam. Đây là một cộng đồng đầy đủ thực lực, từ nguồn chất xám, tinh thần đoàn kết, khả năng tài chánh đến vai trò chính trị…Ngoại trừ tại Hoa kỳ, số người tỵ nạn còn lại định cư rải rác khắp toàn thế giới, nhưng cộng đồng người Việt, chẳng những đã thu hút cảm tình người bản xứ mà còn thay đổi được lối nhìn, quan niệm và thái độ của thế giới tự do đối với những người đã bỏ xứ ra đi sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tinh thần đoàn kết dưới màu cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của người Việt Quốc Gia đã giúp người dân bản xứ nhận ra sự hiểu biết thô sơ, lệch lạc cũng như những sai lầm của họ trước kia về chế độ cộng sản Việt Nam. Ngoài ra cần phải nói thêm, các nổ lực và thành quả tốt đẹp của người Việt trong việc hội nhập vào xã hội mới cũng như tinh thần chống cộng triệt để đã vô hiệu hóa tất cả những lời tuyên truyền bịp bợm, láo khoét của các cơ quan ngoại giao cộng sản từ trong nước cũng như ở hải ngoại.


Vừa chiếm đoạt Miền Nam, Hà Nội đã vội vàng cướp tài sản, bỏ tù, đày đi kinh tế và xua ra đại dương những người mà cộng sản cho là biếng nhác, ăn hại, phản động, tay sai, đánh thuê và là mầm mống nguy hiểm cho chế độ. Nhưng chỉ một thời gian sau, chính Hà Nội lại âu yếm gọi bằng ‘khúc ruột ngàn dặm’ và trân trọng trải thảm đỏ, mời những người bị chúng đã xua ra biển nên quên hận thù, quay về đùm bọc lấy anh em ruột thịt xây dựng lại quê hương!. Vừa van lạy xin tiền ‘khúc ruột ngàn dặm’, vừa lo sợ trước tinh thần đoàn kết cũng như những thành công về kinh tế và chính trị của cộng đồng người Việt ở nước ngoài, chúng đã tung chương trình kiều vận núp bóng dưới nghị quyết 36. Trên bình diện quốc tế, tập đoàn cộng sản đã thua hẳn cộng đồng người Việt Quốc Gia tại hải ngoại về mọi phương diện. Muốn đánh bại cộng đồng, con đường tốt nhất là phải phá thối và gây chia rẽ nội bộ…Do đó, để đập tan cộng đồng, cộng sản Việt Nam đã nghiên cứu và dành một ngân khoảng lớn để huấn luyện, tổ chức và thưởng công cho điệp viên, cán bộ nằm vùng và những ai đã lỡ ‘dính chàm’ phải cúi đầu chờ lệnh.


Chỉ có hai sức mạnh khả dĩ đánh đổ được tập đoàn bạo quyền Hà Nội mà thôi, đó là tinh thần Đoàn Kết và Ngoại Tệ của cộng đồng người Việt hải ngoại, mà tinh thần đoàn kết của người Việt hải ngoại mới đích thực là mối lo trầm trọng của tập đoàn cộng sản Việt Nam. Chúng ta không lạ gì khi Hà Nội đặt vấn đề phá hoại cộng đồng lên hàng đầu và đã chi ra nửa tỷ dollars cho chương trình kiều vận và phá hoại qua nghị quyết 36.


Nghị quyết nầy gồm nhiều tiết mục nhưng chung quy có thể thu gọn trong 3 phần với 3 mục đích chính: Lường gạt, tuyên truyền và phá hoại!


- Lường gạt: Kêu gọi chất xám và tiền của người Việt nước ngoài. Đây là phần nổi của nghị quyết. Làm một công hai việc, vừa đánh bóng chế độ qua tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc và kêu gọi khúc ruột ngàn dặm đem hết khả năng và của cải về phục vụ đất nước. Nhưng thực tế là một sự lường gạt trắng trợn những người dễ tin đem chất xám về phục vụ củng cố một tập đoàn thối nát, bất tài và tham nhũng. Đồng thời chúng khai thác tình thâm ruột thịt, liên hệ gia đình của những ‘con gà đẻ trứng vàng’ ở nội địa hầu móc túi thân nhân nước ngoài.


- Tuyên truyền: Lợi dụng truyền thông, văn hóa để len lỏi vào cộng đồng bằng cách ru ngủ, mua chuộc, lôi kéo từ người lớn xuống trẻ em dưới nhiều hình thức, từ sách báo, ca nhạc, cải lương đến các hoạt động xã hội, tôn giáo và nhất là chú trọng vào chương trình dạy tiếng Việt cho trẻ nhỏ. Các tòa đại sứ cộng sản được cấp những ngân sách khổng lồ để thi hành nghị quyết bằng cách tổ chức những đội ngũ cán bộ, mục đích len lỏi vào các cơ sở của người nước ngoài như báo chí, truyền thanh truyền hình, lập ra nhiều trang báo điện tử, diễn đàn hoặc dùng tiền mua chuộc từ cá nhân đến tập thể trong các tổ chức nầy. Đây là phần chìm mà các cơ quan ngoại giao tại hải ngoại phải thi hành theo lệnh bộ chính trị của đảng.


Trong năm qua cộng sản Việt Nam đã thất bại, các cơ quan ngoại giao nước ngoài không đạt được đích của năm 2006 trong chương trình xâm nhập vào toàn bộ các hiệp hội, đoàn thể, đảng phái của người Việt hải ngoại. Quan trọng nhất là cuối năm 2006 chúng đã hoàn toàn thất bại trong âm mưu dùng tiền mua chuộc hoặc thay thế các chức vụ chủ tịch của cộng đồng bằng các cán bộ nằm vùng hay những tên cò mồi dễ dạy.


- Phá hoại: Len lỏi vào cộng đồng, đảng phái, đoàn thể để tạo mâu thuẩn, gây chia rẽ, phá rối Cộng đồng người Việt hải ngoại…đồng thời huấn luyện, nuôi dưỡng đám ‘chó săn’ để chúng theo dõi, bôi xấu, hù dọa, chụp mũ những ai có hành động gây phương hại cho chế độ cộng sản. Đây mới là chính phần trọng tâm của nghị quyết 36!


Phần nổi và phần chìm tôi đã có dịp trình bày trong những bài trước, trong phạm vi lần nầy xin đề cập đến một đòn ma giáo thuộc phần trọng tâm của nghị quyết 36, là chụp những chiếc mũ cộng sản cho những ai mà Hà Nội xem là thành phần cực kỳ phản động ở nước ngoài.


Chụp mũ hay đội nón cối lên đầu những người quốc gia có tinh thần chống cộng kiên trì, đối với cộng sản là một thượng sách, vừa ít tốn tiền nhưng tạo được nhiều kết quả thật quan trọng. Bất cứ ai có tên trong sổ đỏ thuộc thành phần ‘cực kỳ phản động’ ở hải ngoại mà cộng sản Việt Nam không thể mua chuộc, hù dọa hay bắt bớ được thì cứ việc ra lệnh cho đàn em đội ngay lên đầu họ một vài chiếc nón cối thật lớn là xong chuyện! Vì cộng sản biết rằng, cộng đồng người Việt Tự Do hải ngoại chẳng những căm thù bọn cộng sản chính hiệu mà còn xa lánh, tẩy chay những tên tay sai ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản như trường hợp Trần Trường ở Cali cách đây vài năm. Cứ việc đội lên đầu người nào một vài cái nón cối thì trước sau gì danh dự của nạn nhân cũng bị tổn thương không nhiều thì ít. Thật vậy, một khi dùng nón cối quật ngã được người nào thì xem như cộng sản đã thắng một trận đánh lớn mà không mất một viên đạn.


Điều tệ hại quan trọng nhất là một số ít người trong cộng đồng thiếu suy tư phán đoán, thiếu tìm hiểu nạn nhân để chận đứng và vạch trần âm mưu của Cộng sản, do đó họ đã vô tình nối giáo cho giặc bằng sự im lặng, sợ bị trả thù…Nhiều người trong cộng đồng tuyên bố chống cộng vung vít, ngồi lại với nhau thì hùng hổ nói thật hay, nhưng khi có việc lại rút vào bóng tối…Chỉ một việc nhỏ như đi biểu tình chống cộng hằng năm vào ngày 30.4 thì thật đáng buồn khi so sánh sự hiện diện của thành phần nầy trong những buổi tiệc liên hoan kỷ niệm thì không sót một ai!


Người chống Cộng nhiệt tình, công khai ra mặt thường bị cô đơn, vì bà con giòng họ, bạn bè, đồng hương, đồng chí trong các tổ chức thường tìm cách né tránh. Chuyện cũng thật dễ hiểu vì những người nầy thường về Việt Nam du hí, thăm bà con, làm ăn, dĩ nhiên phập phồng lo sợ nhà nước Việt Nam sẽ làm khó dễ, gây trở ngại công việc đầu tư, di chuyển, du hí…một khi Hà Nội khám phá ra họ có liên hệ giây dưa với những ‘tên cực kỳ phản động’. Dựa vào thế mặc cảm sợ sệt của những người nầy, cộng sản cứ thẳng tay tiến tới, đội chiếc nón cối lên đầu hết kẻ nầy đến người kia. Do đó, mấy năm trở lại đây, trò chụp mũ phát triển thật nhanh chóng. Thử nghĩ lại xem, đã có biết bao nhiêu người yêu nước nhiệt tình, xã thân cho đại cuộc đã nhụt chí rút vào bóng tối vì những chiếc nón cối trên đầu!


Thành phần chuyên nghiệp hành nghề chụp mũ là những ai? Có thể là một trong ba hạng người sau đây: Cán bộ điệp viên đội lốt người tỵ nạn. Người nhẹ dạ đã-đang-sẽ hưởng bổng lộc của địch. Người bị ‘dính chàm’ của cộng sản vì một vấn đế nào đó. Vì một khi vết chàm của cộng sản đã dính lên người thì không bao giờ gội rửa được! Cái bẫy giăng ra thật đơn giản là khi ban ân huê cho một cá nhân nào, cộng sản chỉ cần ghi lại tất cả dấu vết để sau đó áp lực nạn nhân phải thi hành những yêu cầu của chúng. Nhiều trường hợp đi tù, một vài cá nhân đã bán đứng đồng đội, mục đích kiếm điểm với kẻ thù để được làm ‘cai tù’ ăn trên ngồi trước, để chạy tội hay hy vọng rút ngắn thời gian cãi tạo trở về đoàn tụ với gia đình…Lúc cần thì cộng sản xử dụng những bút tích đó để hù dọa, bắt chẹt và ép buộc phải tìm cách đội lên đầu cái nón cối cho những ai mà cộng sản cần phải thanh toán! Đó là trò đểu của Hà Nội đang mang ra áp dụng tại hải ngoại để tách rời những người chống cộng ra khỏi cộng đồng người Việt.


Các điệp viên núp bóng người tỵ nạn thường xử dụng nhiều tên ảo, dùng những lời chưởi bới hạ cấp, thô tục trên các diễn đàn, gởi thư qua các hộp thư điện tử và dùng điện thoại cộng cộng để chưởi bới hăm dọa. Phương thức nầy chưa được hoàn hảo, vì những lời hăm dọa chưởi bới dưới tên ảo không gây xáo trộn cộng đồng bằng những pháp nhân có thật. Nhưng những người nầy thì không trực diện nói chuyện với nạn nhân mà chỉ dùng lối chuyền tai người nầy qua người khác. Trường hợp nầy thật nguy hiểm vì cộng sản đã thành công trong việc gây xáo trộn cộng đồng, tạo chia rẽ giữa người nầy kẻ kia. Nhân cách của những kẻ thường dùng kỹ thuật rỉ tai đã xấu vì nói lén sau lưng người khác, người ‘bị’ nghe hay ‘được’ nghe thường không chú ý, nhưng nghe mãi nghe hoài cũng thấm vào đầu óc họ. Đó là chiến thuật tuyên truyền của cộng sản, cứ nói mãi thế nào cũng còn lưu lại trong đầu người nghe không nhiều thì ít! Những người đội tên giả chưởi bới vô liêm sĩ thật ra không nguy hiểm bằng hạng người rỉ tai người nầy người kia thì chúng ta cần phải cảnh giác. Kết quả cộng sản đã thắng bằng lối tuyên truyền cố hữu, chỉ một viên đạn bắn ra đã sát hại nguyên cả đàn chim.


Một ít người ít hiểu biết, ích kỷ, ham danh…muốn trở thành lãnh tụ bằng con đường tắt với vài ba đàn em dưới trướng đã khua chuông đánh trống, đấm đá lung tung để tìm cách vương lên bằng những trò hề rẻ tiền, tranh dành chức vụ rồi bôi xấu, chụp mũ lẫn nhau…Hành động của thành phần nầy đã tạo ra những môi trường thuận lợi cho kế hoạch phá hoại theo nghị quyết 36. Để kết nạp thành phần nầy, địch có thể cung cấp nhân lực cũng như tài chánh mục đích tạo ra thật nhiều hiệp hội, nhiều đoàn thể, đảng phái nhằm chia xẻ tinh thần đoàn kết của cộng đồng. Vô tình thành phần nầy trở thành công cụ không công cho địch, rồi một ân huệ hay hứa hẹn nào đó, họ sẽ trở thành những tay đắc lực phục vụ cho quyền lợi của đảng cộng sản Việt Nam.


Chụp mũ là thủ đoạn của cộng sản, hành động nầy là nghề nghiệp của các diệp viên, những tên cán bộ công an núp bóng trong hàng ngũ tỵ nạn. Những người quốc gia chân chính, đừng vì ganh ghét cá nhân, đừng vì một chút lợi lộc tiền bạc hay những lời hứa hẹn của địch mà nhắm mắt làm theo lệnh quan thầy, đánh lung tung người nầy đến người khác.


Một khi Hà Nội chỉ thị phải đánh một người nào thì phải nghĩ rằng người đó là cái gai trước mặt mà chúng cần phải nhổ bỏ. Nếu đánh gục họ thì xem như một người quốc gia đã dùng vũ khí cộng sản đánh thẳng vào cộng đồng người Việt Tự Do ở hải ngoại.

Việc vạch mặt chỉ tên những tên cộng sản nằm vùng phá hoại cộng đồng là một việc phải làm của tất cả mọi người. Nhất trong giai đoạn nầy để loại những phần tử đang ráo riết gây rối và phá hoại cộng đồng dưới nhiều lãnh vực. Nhưng tuyệt đối đừng nghe lời của những người có thành tích bất hảo, miệng chống cộng vung vít nhưng đàng sau chúng đưa tay nhận tiền bạc lợi lộc của kẻ thù để đội lên đầu những người chống cộng chân chính và nhiệt huyết những cái nón cối. Cần phải tìm hiểu, nghiên cứu thật chính xác về đời tư, quá trình hoạt động của hai đối tượng, người hành nghề cụp mũ cũng như nạn nhân để tránh việc xét đoán lầm người. Chỉ một hành động chuyền miệng rỉ tai bôi xấu một người nào đã là hành động của kẻ tiểu nhân, chưa kể đến những chuyện bày đặt buồn cười vô căn cứ thì chúng ta nên xét lại và ngăn chận kịp thời, tránh chuyện ‘tam sao thất bổn’ nhỏ biến thành lớn, chuyện ruồi bu thành vấn đề quan trọng.


Thật ra không có chuyện gì có thể bưng bít lâu dài, không nhanh thì chậm. Tất cả sự thật sẽ được phơi bày dưới ánh mặt trời, chừng đó người đời sẽ phê phán hành động của những người hành nghề chụp mũ và con cái cháu chắc sẽ tủi nhục vì những hành động của cha ông mình. Nhưng hiện tại nếu không mau trừ khử những người hành nghề chụp mũ kịp thời thì trong giai đoạn quyết liệt nầy cộng đồng chúng ta sẽ thiếu hoặc mất đi những người tiên phong chống cộng.


Chụp mũ là nghề của bọn công an, điệp viên nằm vùng. Nếu là người quốc gia, những ai đã bỏ xứ ra đi vì không chấp nhận chế độ Cộng sản thì xin hãy dừng tay, đừng vì cá nhân, tiền bạc, phe nhóm mà nhắm mắt chụp mũ những người đang tranh đấu nhiệt tình trong lòng cộng đồng người Việt. Một điều khẳng định rằng, một khi Cộng sản ra lệnh chụp mũ một người nào thì chắc chắn rằng Hà Nội muốn bịt miệng và tách rời người đó ra khỏi cộng đồng bằng trò chia rẻ.


Cũng xin nhắc nhở những người đang hành nghề chụp mũ, không phải ai cũng sợ chiếc nón cối, mà một số người chống cộng nhiệt tình, có lý tưởng từ trong máu huyết mà họ đã chứng minh bằng những hành động bất vụ lợi từ lúc cắp sách đến trường cho đến ngày nay, thì không bao giờ cái nón cối đánh gục được họ. Đối với những người nầy, càng bị chụp mũ, họ càng đứng dậy, hiên ngang tiếp tục con đường tranh đấu cho đến ngày nhắm mắt.


Mong rằng những người trong hàng ngũ quốc gia thường xử dụng đòn chụp mũ hãy lấy lương tâm tìm hiểu nạn nhân. Thật tình mà nói, những người chống cộng thật cô đơn, chính vợ con họ phản đối vì đã gây cho gia đình biết bao lo lắng buồn phiền mà còn bị những người thường về Việt Nam như bà con, thân nhân, bạn bè cũng như đồng hương, đồng chí…tránh né vì sợ cộng sản khám phá ra có liên hệ thân thiết với những tên ‘cực kỳ phản động’ ở nước ngoài!


Tóm lại, người trí thức quân tử dám nói dám làm, tôn trọng sự thật và sẵn sàng chấp nhận sai trái của mình, nếu có. Tiểu nhân, ngữa tay nhận ân huệ tiền bạc của bất cứ ai để thi hành bất cứ tội ác nào được giao phó, từ ném đá giấu tay, mang tên ảo, rỉ tai, bôi xấu đến chụp mũ những người bị đối phương xếp vào loại ‘phản động’. Thế thì người Việt Tự Do nuôi dưỡng bao che cho tiểu nhân làm gì để chúng tiếp tay Hà Nội, bôi nhọ những phần tử Quốc gia…để rồi cộng đồng sẽ thiếu nhiều chiến sĩ tiền phong trong hàng ngũ chống Cộng sản.


Nếu còn chút lương tri, xin hãy nghĩ lại xem….

Đinh Lâm Thanh

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Cuộc Hội Ngộ của "Những Người Tử Tế"

Image
Tôi mượn câu nói của nhà thơ Hà Thượng Nhân diễn tả thành phần cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam (TNCTVN) mà ông gọi họ là "Những Người Tử Tế". Ông viết "...anh em HO trước khi bị Cộng Sản bắt đi tù, đều là những 'người tử tế'. Và sau bao năm tháng bị 'cải tạo', họ vẫn là 'người tử tế'. Cộng Sản đã không thuyết phục hay thay đổi được ý thức và con người của họ để trở thành những kẻ xấu như chúng".

Cuộc hội ngộ thật cảm động và chan hoà nước mắt của những "người tử tế" có tên là "Ngày Hội Ngộ Tù Nhân Chính Trị Việt Nam" đã diễn ra trong suốt ba ngày, mùng 3,4 và 5 tháng 10, 2008 tại thành phố Dallas, Texas ở Hoa Kỳ do Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam (GĐTNCTVN), với sự góp sức của hàng chục hội đoàn cũng nhiều thiện nguyện viên ở điỉa phương cũng như trên toàn nước Mỹ.

Vừa trở lại Hoa Kỳ sau chuyến lưu diễn Úc Châu, và mặc dù đang bị cảm nặng, nhưng tôi tự nhủ lòng là sẽ phải có mặt tại Dallas bằng bất cứ giá nào. Vì đây là cơ hội đầu tiên và có thể là duy nhất mà tôi có dịp gặỉp gỡ trong cùng một lúc hàng ngàn cựu TNCTVN đến từ khắp nơi trên thế giới, mà đa số là các sĩ quan ưu tú của QLVNCH. Những người đã hy sinh cả quãng đời trai trẻ để cầm súng chiến đấu bảo vệ quê hương, tổ quốc và tự do, dân chủ. Cho đến khi CS Hà Nội xua quân cưỡng chiến miền Nam thì họ phải chịu cảnh lao tù, sống nhục nhằn, cơ cực trong các trại tù "cải tạo" ở những nơi rừng thiêng, nước độc!

Tôi mang ơn họ và mong có dịp đền đáp món nợ ân tình này, dù chẳng ai đòi! Khi đứng ra tổ chức các buổi đại nhạc hội xây dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ hoặc gây quỹ cứu trợ Thương Phế Binhỉ VNCH v..v.., tất cả đều không ngoài những mục đích nói trên mà tôi hằng ấp ủ trong lòng. Nhưng không phải chỉ có mình tôi suy nghĩ như vậy, mà cả hàng trăm thiện nguyện viên cũng mang tâm trạng giống như tôi. Họ là những cá nhân rất hăng hái trong các sinh hoạt cộng đồng hay thuộc những hội đoàn tại điạ phương như Hội HO Dallas/Fort Worth, Hội Quảng Đà, Hội Cao Niên, Hội Cựu Sinh Viên Chiến Tranh Chính Trị, các Hội Cựu Nữ Sinh Gia Long và Lê Văn Duyệt (SJ), Gia Đình Mỹ Việt, Hội VoViNam, cũng như Hiệp Hội Truyền Thông Báo Chí v..v... Chính vì thế mà ngay từ sáng Thứ Năm, họ đã tấp nập túc trực ở cả hai phi trường Dallas/Fort Worth để ân cần tiếp đón những cựu TNCT từ phương xa về họp mặt. Người thì ở các khách sạn tươm tất, kẻ thì trú ngụ tại nhà bạn hữu để hàn huyên tâm sự chuẩn bị cho buổi họp mặt ngoài trời được diễn ra từ 10 giờ sáng Thứ Sáu mùng 3 tháng 10 trong một công viên xinh đẹp nằm bên Hồ Đá Trắng (White Rock Lake). Hàng ngàn TNCT đã đến với nhau theo đúng nghiã của chủ đề "Trở Về", và càng ý nghiã hơn vì buổi họp mặt này lại do một hội đoàn dân sự đứng ra tổ chức, đó là Hội Quảng Đà với tinh thần "Quần Chúng Nghĩ Gì Về Người Tù Nhân Chính Trị VN".

Sự tiếp đãi chu đáo và nồng nhiệt của các hội viên Hội Quảng Đà qua những món ăn đặc biệt cùng với một chương trình sinh hoạt phong phú đã làm ấm lòng khách phương xa. Nhưng có lẽ phần "tìm bạn tù xưa", là tiết mục cảm động nhất trong ngày. Những tiếng hò reo, la ó mừng vui, kể cả tiếng "chửi thề" khi nhận được nhau, trộn lẫn với nghẹn ngào và nước mắt khi nghe tin những "thằng bạn" đã nằm xuống, dù trong trại tù năm xưa hay nơi đất khách, quê người. Ôi cao quý thay tình chiến hữu, tôi có cảm tưởng họ đang sống lại những ngày vui năm cũ và chờ mong buổi hội này đã từ lâu! Dù thời gian có làm bạc đi mái đầu xanh thời trai trẻ, nhưng tình bạn của những người tù vẫn không thay đổi và họ vẫn là những "người tử tế". Tử tế từ cuộc sống cho đến gia đình và hướng dẫn con cái trở nên người hữu dụng trong xã hội. Hãy cứ "nghe lén" những cuộc hàn huyên tâm sự của họ thì bạn sẽ thấy rõ điều này.

Một điểm đáng chú ý nữa là sự hiện diện đông đảo của đại diện các cơ quan báo chí, truyền thông và truyền hình Việt Mỹ tại địa phương cũng như trên toàn nước Mỹ và ở một số quốc gia khác.
Image Khi hoàng hôn vừa buông xuống thì một sinh hoạt khác gọi là "Đêm Tâm Giao" được diễn ra tại hội trường giáo xứ Thánh Phêrô nằm trên đường Garland do Gia Đình Mỹ Việt phụ trách. Đây là một tổ chức của các em Con Lai Mỹ Việt (Amerasian) được thành lập từ gần 2 năm qua, quy tụ hàng ngàn hội viên và có các ban đại diện ở nhiều tiểu bang trên toàn quốc HK. Sự cộng tác của các em không ngoài mục đích là để cùng chia sẻ những đắng cay mà các vị cựụ TNCTVN đã phải trải qua dưới chế độ CS, so ra cũng không khác gì thân phận của những người Con Lai mà CSVN vẫn thường dùng chữ "Mỹ, Ngụy" để gọi chung cho cả hai thành phần nói trên.



Đêm Tâm Giao với một chương trình nhạc tù ca thật phong phú và ý nghiã, có sự tham dự và đóng góp của Ban Tù Ca Xuân Điềm, nhạc sĩ Phan Văn Hưng đến từ Úc Châu, nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh và Việt Dzũng của nhóm Hưng Ca cùng ban văn nghệ Quảng Đà và những tiếng hát của chính quý vị TNCT, kéo dài cho đến nửa đêm.
Image Sáng Thứ Bẩy mùng 4 tháng 10 thì cả ba sinh hoạt: Triển lãm, hội thảo và nghi lễ đều được diễn ra tại cùng một điạ điểm, đó là Special Events Center nằm chễm chệ ở một khu vực rộng lớn trên đại lộ Naaman Forest. Đây là một trong số những trung tâm sinh hoạt rộng rãi, trang trọng và lịch sự nhất tại Dallas/Ft Worth. Ngay từ 8 giờ sáng, hàng ngàn chiếc xe đã nối đuôi nhau để vào bãi đậu. Khách phương xa thì lần lượt được shuttle của khách sạn hoặc xe riêng của các thiện nguyện viên đưa đến địa điểm sinh hoạt. Tôi nghe có tiếng thì thầm của một số TNCT "... có thế chứ, gọi là Ngày Hội Ngộ TNCT thì phải trang trọng và lịch sự như vậy mới xứng đáng với ý nghĩa của nó chứ...". Tôi đồng ý với nhận xét này, nhưng chợt lại đâm ra lo, bởi vì tôi sẽ là một trong số 2 MC điều khiển chương trình ngày hôm nay, và nếu không nhờ các chi tiết đã được tiến sĩ Walter Hoan Nguyễn soạn sẵn thì khó có thể diễn ra một cách suôn sẻ cho buổi lễ.



Chủ đề "Tạ Ơn Người, Tạ Ơn Đời" xem ra thật vô cùng thích hợp. Khởi đi bằng phần chào quốc và quân kỳ do các cưụ quân nhân đại điện mọi binh chủng cùng sự cộng tác của nhiều hội đoàn hướng đạo, cảnh sát, tuyên uý và quân đội Mỹ ở điỉa phương. Theo sau là lễ truy điệu các chiến sĩ VN, HK và đồng minh cùng những người đã bỏ mình vì lý tưởng tự do. Phần đồng tế vong hồn tử sĩ cùng những người đã bỏ xác trong ngục tù CS do quý vị cao niên thực hiện nghe thật thê lương và não ruột. Không khí bao trùm bởi những tiếng sụt sùi và nức nở!
Image Khoảng 1500 người đã có mặt trong hội trường, kể cả các quan khách Việt Mỹ cùng đại diện chính quyền, ông thị trưởng thành phố, quý vị dân cử, đặc biệt là đại diện của những quốc gia đồng minh đã gởi quân tham chiến ở VN. Bà Khúc Minh Thơ đại diện BTC đọc lời chào mừng và tri ân đến những người đã tiếp tay với Hội GĐTNCT và có công vận động cũng như tranh đấu cho tiến trình định cư các cựu TNCT/VNCH, mà đặc biệt nhất là ông Robert Funseth, phụ tá thứ trưởng ngoại giao HK thời bấy giờ. Ông Funseth vì lý do tuổi tác nên không thể có mặt tại Dallas, tuy nhiên ông đã gởi một thông điệp thăm hỏi thật chân tình đến toàn thể cựụ TNCTVN, đồng thời nhắc lại những nỗ lực và đóng góp tích cực mà bà Khúc Minh Thơ cùng hội GĐTNCTVN đã chung sức với ông để mang đến sự thành công cho chương trình HO.
Image Phần phát biểu cùng bầy tỏ lòng tri ân của Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh có thể được xem là những cảm nghĩ tiêu biểu đại diện cho thế hệ trẻ đối với tập thể QLVNCH nói chung và các vị TNCT nói riêng. Sự hiện diện của KHG Dương Nguyệt Ánh đã được các gia đình TNCT đón nhận một cách nồng nhiệt và thân thiết.

Nữ tài tử Kiều Chinh, giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, dân biểu Hubert Võ, cùng đại diện các nước đồng minh, các viên chức chính quyền và quý vị dân cử điỉa phương cũng lần lượt lên phát biểu ngỏ lời tạ ơn rất chân tình và tha thiết. Tuy nhiên tiết mục giới thiệu "những người tù lâu năm nhất" cùng với phần trao Cờ Vàng cho các quả phụ tử sĩ, kể cả phu nhân các vị tướng đã chết trong tù do nhà văn Huy Phương đảm trách đã làm cả hội trường rơi lệ. Tôi cũng không cầm được nước mắt khi hai phu nhân của cố chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang và Lê Trung Trực đã nắm chặt tay tôi để cám ơn về nỗ lực can thiệp cho các con của quý bà được đoàn tụ với Mẹ ở HK. Tôi khóc không phải vì ơn nghĩa mà những "ngươì tử tế" dành cho mình, mà khóc vì đã góp phần đem lại chút hạnh phúc nhỏ nhoi cho những người quả phụ, cả một đời hy sinh cho chồng, cho con và cho quê hương, dân tộc.
Image Trong quá khứ tôi cũng đã từng nhận được rất nhiều lời cảm ơn tương tự như trên, nhưng không biết mình có xứng đáng hay không, bởi vì thật ra đa số các trường hợp can thiệp được thành công đều phải có sự tiếp tay của chị Khúc Minh Thơ. Thậm chí trong gói hành lý của chuyến đi này, tôi còn mang theo cả một chồng hồ sơ cuả những sĩ quan đã trở về trên chiếc tầu VN Thương Tín để nhờ chị Thơ tiếp tục can thiệp với Bộ Ngoại Giao HK cho các trường hợp cùng hoàn cảnh trớ trêu của họ.

Phần cuối chương trình, cựu dân biểu TNCT Nguyễn Lý Tưởng đã phát biểu cảm tưởng của chính ông cùng thân hữu về công lao của những người vận động lập pháp cho đạo luật HO được thành hình kể cả tu chính án McCain, khiến cho hàng chục ngàn những người con của TNCT đã được đoàn tụ với cha mẹ và xây dựng cuộc đời bên trời tự do. Sau đó ông giới thiêu ban chấp hành lâm thời cuả Gia Đình Mỹ Việt cùng các con em TNCT và họ đã tặng hoa cho vị đại diện của TNS John McCain có mặt trong buổi lễ thật trang trọng, cảm động và đầy ý nghiã nói trên.

Khi phần nghi lễ chấm dứt, mọi người đã kéo đến khu vực triển lãm để xem các tài liệu lịch sử cùng những kỷ niệm và hình ảnh của những người tù. Đây là nỗ lực rất to lớn của Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân & Việt Nam Cộng Hòa do cựu đại tá Vũ Văn Lộc và cơ quan IRCC tại San Jose đảm trách với sự hy sinh to lớn về cả hai phương diện tài chánh cùng nhân lực trong mục đích tiếp tay cho hội GĐTNCT thực hiện "Ngày Hội Ngộ Tù Nhân Chính Trị Việt Nam" được thêm hoàn hảo và phong phú.
Image Nhiếp ảnh gia quân đội lừng danh Nguyễn Ngọc Hạnh, dù tuổi đã cao, nhưng vẫn còn đầy khát vọng, quyết tâm đem các tác phẩm tuyệt vời của ông chia sẻ với các "bạn tù" và công chúng để nói lên những hình ảnh bi hùng của QLVNCH.

Đêm xuống với làn gió mát cuả những ngày đầu Thu ở Dallas. Tôi đến hội trường sớm để cùng với Việt Dzũng chuẩn bị cho buổi trình diễn văn nghệ có một không hai với chủ đề "Ba Hình Ảnh, Một Cuộc Đời" với sự tham dự và đóng góp của những ca sĩ là con của quý vị cựu TNCT. Tất cả đều là những giọng hát đã thành danh và là những tên tuổi hàng đầu của nền âm nhạc VN tại hải ngoại như, Thế Sơn, Băng Tâm, Trần Thái Hoà, Diễm Liên, Như Quỳnh, Nguyên Khang, Hồ Hoàng Yến, Thành Lễ v..v.., bên cạnh những giọng hát trẻ trung Ánh Minh, Đoàn Phi, cùng sự đóng góp cuả các nghệ sĩ thuộc nhóm Gia Đình Mỹ Việt là Randy và Vân Anh cùng nhà vẽ kiểu thời trang Kathy Đặng ...

Gần 4000 ngàn người ngồi kín hội trường để nghe tâm sự về hình ảnh và cuộc đời của những người lính chiến oai hùng, rồi trở thành tù nhân chính trị sau cuộc đổi đời tháng Tư, 1975 và bây giờ mang thân phạân lưu vong nơi đất khách. Họ cũng có dịp để biết rằng trong khi đang sống trong tù thì ở hải ngoại hầu như ai cũng nhớ đến họ, cũng xót xa và đớn đau không kém, như lời nhạc sĩ Phan Văn Hưng đã hát trong đêm hôm đó:

Ai trở về xứ Việt, nhắn giùm ta người ấy ở trong tù.

Nghe đâu đây vang giọng hờn rên xiết.

Dài lắm không, đằng đẵng mấy muà Thu...

Các bạn ta ơi, bao giờ được thả?

Biết bao giờ ăn được bát cơm tươi,

Được lắng nghe tiếng chim cười,

Biết bao giờ, biết bao giờ, biết bao giờ?

Hoặc như lời trăn trở mà tôi đã viết thay cho các đồng bào ở hải ngoại thời bấy giờ:

Chiều nay có một người di tản buồn.

Gọi anh em, còn ai hay mất ai?

Còn bao nhiều thằng xông pha chiến khu,

Và bao nhiêu nằm trong những lao tù?

Hay cay đắng hơn nữa với Việt Dzũng qua bài "Một Chút Quà Cho Quê Hương"! Ai bảo rằng kẻ ra đi mà không nhớ người ở lại, và lại càng không nên nói, người đi trước đã không tranh đấu hay vận động cho "các bạn ta ơi, bao giờ được thả"? Xin đừng làm chua xót lòng nhau.
Image Chương trình càng về khuya càng tăng niềm xúc động, nếu Diễm Liên làm chất ngất người nghe với "Người Tình Không Chân Dung" thì Băng Tâm làm tuôn thêm dòng lệ của người tù qua bài "Cái Cò", diễn tả thân phận cùng sự hy sinh của người Vợ tù, rồi Thế Sơn trong bộ chiến y đã gợi lại trang sử hào hùng với "Người Ở Lại Charlie" và "Anh Không Chết Đâu Anh"!

Đêm đã gần tàn, tâm sự tưởng như đã trút hết cho nhau nhưng bỗng chợt Như Quỳnh lại thay người hải ngoại gởi tâm tình về quê hương trao cho những Mẹ già, đang là những người dân oan khiếu kiện vì bị lũ con phản phúc, quên đi công lao nuôi nấng nhọc nhằn của Mẹ. Âm thanh của tiếng rên xiết hoà với hình ảnh bà Mẹ già run rẩy đưa tấm bảng đòi lại căn nhà và mảnh đất năm xưa, cộng với giọng hát thiết tha của Như Quỳnh trong nhạc phẩm "Khóc Mẹ Dân Oan" đã tạo niềm cảm xúc tột độ cho tất cả mọi người hiện diện. Trong bầu không khí thật im lặng và lúc mọi người đang chú ý lắng nghe, bỗng có một phụ nữ chạy thẳng lên sân khấu ôm chặt lấy Như Quỳnh và nói "em làm cô cảm động quá, cô đâu ngờ người Việt ở hải ngoại lại có thể chia sẻ tâm tình một cách sâu đậm và tha thiết như vậy đối với những người dân oan ở trong nước hiện nay. Cô chỉ vừa đặt chân đến HK được hơn một tháng, và đây là lần đầu tiên được nghe bài hát này..."
Image Mọi người ai cũng ngỡ ngàng với cử chỉ vưà rồi của người khách lạ, nhưng sau khi biết bà chính là luật sư Bùi Kim Thành, người nữ tù nhân chính trị nổi tiếng vì tranh đấu cho công bình, nhân ái và đòi hỏi quyền lợi của tập thể dân oan ở quê nhà nên đã bị CSVN giam giữ trong nhiều tháng qua. Nhờ sự vận động tích cực của cộng đồng người Việt hải ngoại cùng áp lực quốc tế nên bà đã được trả tự do và bị tống xuất ra khỏi VN, hiện đang sống tỵ nạn tại tiểu bang Texas. Hình ảnh trên cũng đã chấm dứt buổi nhạc hội mang nhiều ý nghiã của "Ngày Hội Ngộ Tù Nhân Chính Trị Việt Nam". Mọi người chia tay nhau trong những cảm xúc lưu luyến ngậm ngùi và buồn vui lẫn lộn, tôi thấy có nhiều người miệng thì cười rất tươi nhưng tay vẫn đưa lên để gạt dòng lệ chẩy.

Ngày mai Chủ Nhật mùng 5 tháng 10 trước giờ chia tay các cựu TNCT tùy theo tôn giáo, sẽ còn gặp mặt nhau trong các buổi Thánh lễ cầu nguyện tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp hoặc cầu siêu tại Chùa Đạo Quang, tất cả đều hướng về những người TNCTVN đã vĩnh viễn ra đi. Riêng tôi phải bay sớm để kịp giờ đến thành phố Seattle hầu tiếp tay với Hội Cứu Trợ TPB VNCH tiểu bang Washington trong một buổi gây quỹ cứu trợ TPB. Ngồi trên phi cơ, tôi thầm cầu nguyện cho toàn thể quý vị cựu TNCTVN, cùng chị Khúc Minh Thơ, ban tổ chức và các thiện nguyện viên được dồi dào sức khoẻ để tiếp tục phục vụ tha nhân và tiếp tục làm những điều tử tế như họ đã và đang thực hiện.

Nam Lộc
Đầu Thu 2008

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Phan Văn Hưng
Tiếng Hát Cho Tự Do
"Việt Nam bao năm chìm trong bóng đêm dầy
Vẫn kiên cường nuôi chí phục hưng
Việt Nam vươn lên từ những tấm thân gầy
Nguyện xây đắp thương yêu tràn đầy
Người hỡi đứng lên giành quyền sống làm người
Dù máu xương đọa đầy vẫn tiền tới
Ngày đã đến cho trang sử mới ra đời
Tiếng non sông giục mời..."
(Bài Việt Nam Vinh Quang, thơ Nam Dao, nhạc Phan Văn Hưng)

Phan Văn Hưng ca cho cả một dân tộc Việt Nam trong khát vọng tự do, người dân hiền hòa bị chế độ Cộng Sản thống trị miền Bắc từ năm 1954 và toàn lãnh thổ vào năm định mệnh 1975. Lời thơ bài hùng ca này do hiền thê của anh viết. Nhà văn Nam Dao đã viết lên hàng trăm bài văn biên khảo chính trị, những bài tham luận về những cái xấu xa của chính sách độc đoán của nhà cầm quyền Cộng Sản. Một đất nước Việt Nam vinh quang về nguồn gốc lịch sử tạo nước và giữ nước của tiền nhân. Thế mà ngày hôm nay đất đai, lãnh hải bị nhà cầm quyền đem dâng nộp cho ngoại bang để được yên thân hiếp đáp và cai trị tiếp nhân dân trong hà khắc, bốc lột, từ bốc lột sức lao động của người dân đền bốc lột đất đai, nhà cửa, ruộng vườn, những nguyên nhân gây ra nạn dân oan khiếu kiện.

Phan Văn Hưng sáng tác từ nguồn thơ của người bạn đời đồng chia sẻ những lý tưởng sống trong đời với anh, những tiếng lòng nhân bản nhưng bất khuất:

"Việt Nam oai linh nghìn thu sáng danh ngời
Đất Tiên Rồng nuôi chí hùng anh
Việt Nam dang tay thành tâm khắp nhân loại
Cùng thế giới đi xây tình dài
Việt Nam thắp cao ngọn đuốc ấm cho đời
Bằng trái tim vun trồng thời đại mới
Hồn sông núi vang trong mạch sống giống nòi
Bước đi trong miệt mài...."

Tôi nghe link nhạc “Việt Nam Vinh Quang”:
Việt Nam Vinh Quang

Đây chính là bài hát làm kiêu hãnh Viêt Nam trong tôi, tiếng gọi tình thương quê hương và tình yêu đất nước dâng cao dạt dào. Tôi yêu lời ca của bài quốc ca Việt Nam Tự Do của chúng ta và bài hùng ca "Việt Nam, Việt Nam", nhưng rồi khi nghĩ đến những tác giả của nó tâm tư dâng lên nỗi cay đắng, muộn phiền.

Nhạc Phan Văn Hưng được xem như loại nhạc hưng ca, hay loại nhạc du ca, phần nhiều những tác phẩm anh sáng tác nói lên nỗi ngậm ngùi cơ cực của quê hương, anh đem những chuyện thực trong đời sống viết thành ca khúc, những chuyện vô lý của xã hội Cộng Sản vào lời ca tiếng hát như loài chim quốc sống xa quê hương, quốc nhớ nhà dâng lên tiếng hót cô liêu trong sầu bi, mang những lời ca như tiếng khóc thổn thức, những tình tự đầy trắc trở trên quê hương thống khổ.

Đôi nét về tiểu sử Phan Văn Hưng, anh sinh năm 1950 tại Hà Nội. Năm 1954 theo gia đình di cư vào Nam. Sau khi đậu tú tài II anh được học bổng sang Pháp du học năm 1969 và tốt nghiệp về Kỹ Sư Cơ Khí và Hầm Mỏ. Bảy năm sau khi mất miền Nam, gia đình anh quyết định rời Pháp để sang định cư tại Úc, Phan Văn Hưng đã sinh hoạt với Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Paris với Trần Văn Bá. Trong suốt 10 năm sinh sống ở Pháp, ngoài những sáng tác và trình diễn âm nhạc, anh còn là sáng lập viên của tổ chức văn học "Văn Đoàn Lam Sơn" và của tờ báo "Nhân Bản", một tờ báo Việt ngữ mang lập trường quốc gia dân tộc nhân bản tại Âu Châu.
Image
Tuổi Thơ Việt Nam
Như Phan Văn Hưng tâm sự anh chịu ảnh hưởng nhiều nhạc sĩ ngoại quốc khi học nhạc và guitar, tôi nghe bài hát "Sinh Ra Làm Người Việt Nam" mang âm hưởng nhạc của Cat Stevens. Tôi gần gủi với tiếng hát ngân dài của anh quyện vào âm vang tiếng nhạc pop rock ngày xưa. Nhưng tiếng ngân dài trong bài ca này nói lên nỗi xót xa của tuổi trẻ Việt Nam quê tôi sao quá gian truân. Không gian ngõ tối không nước không đèn. Vòng tay âu yếm của mẹ hiền Việt Nam trong sầu thương, với đôi tay khẳng khiu, đôi tay thật buồn. Mẹ ơi, vòng tay âu yếm đôi tay thật buồn... Em sinh ra em làm người Việt Nam, và sinh trong cuộc lầm than. Sinh ra trong đời bấp bênh gian truân vô vọng

mmm mmm... Tiếng hát của Phan Văn Hưng cất lên như tiếng khóc cho một dân tộc trong lầm than, anh khóc thay cho Mẹ Việt Nam, anh hát cho hàng trăm ngàn em bé thơ ngây hay tuổi trẻ Việt Nam bị mua bán thân xác hay sức lao động của các em từ Cam Bốt, Trung Quốc, Đài Loan đến Hàn Quốc.

Nhạc Phan Văn Hưng là tiếng lòng chia sẻ kiếp sống thống khổ của người dân tôi. Hình như bờ mi các em đang khóc từ nơi chân trời xa xăm, tiếng ngân dài của Phan Văn Hưng nơi cuối bài cho một cảm nhận bi thương để tim tôi ray rứt, lạc loài, và để mắt tôi bỗng cay nhạt nhòa...

"Em sinh ra em làm người Việt Nam
Trong gian ngõ tối không nước không đèn
Vòng tay âu yếm của mẹ sầu thương
Đôi tay khẳng khiu, đôi tay thật buồn
Vòng tay âu yếm (mẹ ơi) đôi tay thật buồn

Em sinh ra em ở chợ Nghệ An
Em buông thuốc trắng ai hay bên đường
Đời trong xó rãnh đã quên tình thương
Đôi mắt già nua, đôi mắt lạnh lùng
Cặp mắt thờ ơ, (người ơi) đâm nhói vào hồn

Đ.K.
Em sinh ra em làm người Việt Nam
Và sinh trong cuộc lầm than
Sinh ra trong đời bấp bênh gian truân vô vọng
mmm mmm ...

Em sinh ra em học tập siêng năng
Nhưng hai tay trắng buông xuôi phận hèn
Làm sao em biết tương lai nào hơn
Đôi tay thừa dư, đôi tay bần cùng
Làm sao em biết (người ơi) đôi tay tuổi hờn.

Em sinh ra em nhập cuộc vui chơi
Mong quên đi nỗi trái ngang trong đời
Cuồng quay trong giấc vui say tàn hơi
Con tim thờ ơ, con tim hững hờ
Cuồng quay trong giấc (người ơi) con tim lạc loài

Em sinh ra em là một bông hoa
Đôi môi tươi thắm cho ai dày vò
Mình thân em đứng giữa chợ đường xa
Đôi môi hằn khô, đôi môi vật vờ
Chiều lộng trong gió (người ơi) đôi môi bụi mờ

Em sinh ra nơi cửa khẩu Lạng Sơn
Hai vai lam lũ vác muôn dặm trường
Màn đêm muỗi vắt trên ngọn mù sương
Đôi vai lạnh căm, đôi vai nhục nhằn
Màn đêm muỗi vắt (người ơi) đôi vai nhục nhằn... "

Link nhạc: (Sinh Ra làm người Việt Nam)


Tôi nghe Phan Văn Hưng nói về anh hùng Trần Văn Bá như sau: "Anh Trần Văn Bá là một người lãnh đạo không giống như ý nghĩa thông thường. Khi nói đến lãnh đạo, người ta hay nghĩ đến một người hùng biện, phất cờ xông pha, chỉ tay, vạch đường lối. Anh Bá không như thế. Sự kiên quyết thì anh có thừa, nhưng luôn luôn được bộc lộ ra ngoài bằng những lời lẽ ôn tồn, thân thiện. Lòng can đảm anh cũng chẳng thiếu, nhưng không bao giờ thấy anh hô hào kêu gọi bất cứ ai đi theo anh. Anh có một viễn kiến chính trị rất sâu sắc, nhưng hiếm khi nào thấy anh tranh luận. Ảnh hưởng của anh trong đám sinh viên tụi tôi nhẹ nhàng nhưng rất sâu. Ngay cả thời tôi làm báo cho anh, anh cũng chỉ đôi ba lần gợi ý về những điều cần nói, còn tất cả để mặc cho tôi lo liệu. Chỉ đến khi anh ra đi thì anh em sinh viên tụi tôi mới thấy thiếu anh...

Tôi không biết có phải là sự ngẫu nhiên hay không, nhưng tôi cũng muốn nhạc của mình như thế. Tôi không muốn dùng nhạc để hô hào, mà chỉ muốn lay chuyển nội tâm của người nghe. Lòng kiên quyết có khi cần nằm ẩn đằng sau những nốt nhạc mềm mại. Chuyện hô hào, thúc giục thì có lẽ nên để cho mỗi người tự làm lấy, vì một khi cái tâm phụng sự được nuôi lớn thì người đó sẽ tự mình tìm thấy cách thực hiện hay nhất trong hoàn cảnh riêng của mình."

Đến năm 1982, đôi bạn đời Phan Văn Hưng và Nam Dao sang định cư tại Úc châu và vẫn tiếp tục sáng tác, thực hiện những bài hát đạt được sự mến mộ nồng nhiệt từ quần chúng. Đan cử ví dụ như: "Việt Nam Vinh Quang", "Ai Về Xứ Việt", "Bài Ca Tuổi Trẻ", "Sinh Ra Là Người Việt Nam", "Đứa Bé Việt Nam và Viên Sỏi", "Bạn Bè Của Tôi", "Hai Mươi Năm", "Trái Tim Tôi Là Bến", "Nếu Em Nghe Bài Hát Này", "Có Phải Em Là Em Bé", "Bài Ca Cho Em Bé Thảo", "Giọt Nước Mắt Của Mẹ", "Bài Ca Cho Bé Hải", "Thằng Bé Tát Dầu”,...

Tôi còn nhớ năm 1995, ký giả Kiều Mỹ Duyên giới thiệu tôi dĩa CD "Hai Mươi Năm" của anh Phan Văn Hưng, CD có bài hát "Thằng Bé Tát Dầu”, chị Duyên kể rằng lần đầu nghe bài hát chị xúc động đến rơi lệ. Câu chuyện nói lên nỗi oan khiên hai đứa bé ăn cắp dầu ở Xưởng tàu Ba Son.

Năm 1980 Phan Văn Hưng phổ thành bài hát "Thằng Bé Tát Dầu" từ thơ Nam Dao, ý nói lên hoàn cảnh cơ cực, bần cùng của người dân nghèo. Trong một ngục tù vĩ đại được Cộng Sản tạo ra, trẻ em phải đi ăn cắp dầu từ xưởng Ba Son mưu sinh cho gia đình, để rồi hai bé trai thơ ngây phải đền mạng do việc ăn cắp dầu. Đứa bé anh ở tuổi mười ba, đã bị gục ngã dưới làn đạn AK của Công Sản. Đứa bé em khóc ngất khi ôm xác anh mình đã chết:

"Tôi muốn hát cho thằng bé tát dầu
Chết nơi cầu cạnh xưởng Ba Son
Tuổi mười ba da trần xạm nắng
Vớt cặn dầu về đổi lấy miếng cơm
Hai đứa bé bơi xuồng đến gầm cầu
Đứa quơ dầm miệng giục em ơi
Phải làm nhanh coi chừng họ thấy
Tát lẹ vào dầu đổ ướt chiếc khoang
Ôi quá nhiều dầu sao quá nhiều
Chắc phen này hẳn được cơm no!
Ngày chợ đến sẽ mua sữa một lần
Cho thằng Cu nếm thử nghe em
Mơ chưa dứt, trên cầu chúng thấy rồi
Mắt lạnh lùng nạp khẩu AK!...
Tràng đạn bắn chết em quá vội vàng
Buông dầm rơi ngỡ ngàng trên khoang...
Máu em trào nhuộm cả hai vai
Thằng nhỏ ôm anh mình bật khóc
Lớp cặn dầu này đổi lấy xác anh !
Bé tát dầu, thằng bé tát dầu!
Chết nơi cầu cạnh xưởng Ba Son..."
Image
Đứa Bé Vượt Biên
Hình như Phan Văn Hưng quan tâm đến tuổi thơ, trong số khá nhiều bài ca của anh đề cập về tuổi trẻ, hoặc tuổi thơ. Chẳng hạn như "Có Phải Em Là Em Bé", "Bài Ca Cho Em Bé Thảo", "Bài Ca Cho Bé Hải", và bài hát bi thương phổ thơ Trần Trung Đạo, "Đứa Bé Việt Nam và Viên Sỏi", em bé 5, 6 tuổi theo gia đình vượt biên, cả gia đình đều tử nạn trên biển, phép nhiệm màu cứu vớt em sống. Mỗi chiều trong trại tị nạn tạm cư Palawan, em thường ra biển nhặt những viên sỏi trong cô đơn.

“Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi
Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu

- Viên kẹo tròn này để dành cho Mẹ
Viên kẹo vuông này để lại cho Ba
Viên kẹo nhỏ này để qua cho chị
Viên kẹo lớn này để lại cho em
Còn viên kẹo thật to này ...là phần Bé đấy

Bên bờ biển Palawan
Có một em bé gái
Tuổi mới chừng lên sáu lên năm
Đang ngồi đếm từng viên sỏi nhỏ
Và nói chuyện môt. mình
Như nói với xa xăm …

Chiếc ghe nhỏ vớt vào đây mấy bữa
Trên ghe sót lại chỉ dăm người
Lạ lùng thay một em bé mồ côi
Đã sống sót sau sáu tuần trên biển

Họ kể lại em từ đâu không biết
Cha mẹ em đã chết đói trên tàu
Chị của em hải tặc bắt đi đâu
Sóng cuốn mất người em trai một tuổi

Kẻ sống sót trong sáu tuần trôi nổi
Đã cắt thịt mình lấy máu thắm môi em
Ôi những giọt máu Việt Nam
Linh diệu vô cùng
Nuôi sống em
Một người con gái Việt

Mai em lớn dù phương nào cách biệt
Nhớ đừng bao giờ đổi máu Việt Nam
Máu thương yêu đã chảy bốn ngàn năm
Và sẽ chảy cho muôn đời còn lại

- Viên kẹo tròn này để dành cho Mẹ
Viên kẹo vuông này để lại cho Ba
Viên kẹo nhỏ này để qua cho chị
Viên kẹo lớn này để lại cho em
Còn viên kẹo thật to này ... là phần Bé đấy

…Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi
Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu.”

(thơ Trần Trung Đạo, nhạc Phan Văn Hưng)

Một bài ca khác liên quan đến thời gian phong trào vượt biên lên cao. Bài hát "Trái Tim Tôi Là Bến", nhạc Phan Văn Hưng, phổ thơ Bắc Phong. Khi nghe Phan Văn Hưng hát tôi có cảm tưởng như anh cất lên lời nguyện cầu từ con tim, từ làn da thớ thịt, bằng máu xương cầu xin cho sự bình an, nhạc anh dìu những cánh buồm rách nát trong cơn giông bão tố đến bến bờ Tình Thương của con người.

"Buồm của anh rách nát
Bởi bao đợt sóng nhồi
Thì xin anh hãy vá
Bằng những miếng da tôi
Ngòi của anh đã gãy
Hãy mài trên xương tôi
Chấm máu tôi mà viết
Về lương tâm con người

Đ.K.:
Dù đêm trăng không lên
Nhưng mắt trẻ là sao
Trái tim tôi là bến
Xin anh cứ bơi vào

Đàn của anh đã vỡ
Hãy dạo trên thân tôi
Lấy tiếng tôi mà hát
Về đau thương con người"

Trái Tim Tôi Là Bến (Phan Văn Hưng - Bắc Phong)
Link nhạc: Trái Tim Tôi Là Bến



Phan Văn Hưng tâm sự về nhạc anh thực hiện kết hợp cùng với người bạn đời Nam Dao. Anh chị không chú trọng vào lời cầu kỳ, hoa mỹ. Ngược lại, anh chị chỉ dùng lời nhạc bình dị, mộc mạc. Tôi nghĩ đó là điểm thành công của họ, vì nhạc như vậy sẽ dễ nhập tâm và đi vào lòng người.

Phan Văn Hưng và Nam Dao là những chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận văn hóa. Đôi uyên ương này dùng khả năng thiên khiếu của mình vào mục tiêu phụng sự cho quê hương và dân tộc.

“Tôi sẽ hát những bài hát đầu tay của Nam Dao và tôi, những bài hát mộc mạc không tham vọng, nhưng cũng là những bài hát đã đánh dấu cuộc đời chúng tôi cũng như của các bạn của tôi. Thời đó chúng tôi đã khóc cho quê hương, cho đồng bào mình, thì ngày hôm nay tiếng khóc đó vẫn chưa dứt. Ngày hôm nay chúng tôi vẫn viết ca khúc, có thể kỹ thuật làm nhạc đã già dặn hơn, đề tài cũng có thể đã thay đổi theo những biến đổi của đất nước, nhưng trong tiếng uất nghẹn chưa nguôi đó, tôi vẫn cảm thấy lòng mình rực lửa vì con đường dân tộc mình đi nhất định sẽ có ngày rực sáng.” (Lời Phan văn Hưng)

"Bài Ca Tuổi Trẻ" là tác phẩm nối kết tuổi trẻ Việt Nam khắp nơi hãy ý thức vai trò đấu tranh cho tự do cho quê hương lầm than, thiếu vắng tự do:

"Từ khắp những phương trời
Và muôn lối đi trong đời
Gặp nhau trong tâm hồn Việt Nam sáng ngời

Mồ hôi trên cánh đồng
Mẹ ru trên núi sông
Tình quê hương ta ôm ấm trong lòng

Chúng ta là bước người xông pha,
Chúng ta là những lớp phù sa
Chúng ta là ngọn đuốc bừng to
Chúng ta là TỰ DO !!!
Bạn hỡi ... ơ....ơi !
Hành trang ta đem trong ta,
Một khối óc, một tấm lòng, một giấc mơ"

Link nhạc: Bài Ca Tuổi Trẻ

Anh vẽ lên bức tranh quê hương bằng máu đỏ như sự cương quyết của dân tộc đứng thẳng chống chọi với bạo lực. Anh mang tiếng lòng của loài chim quốc bay đi đó đây hát cho tự do, cho yêu thương và cho tình người qua 121 bài ca.

Nhạc anh nhìn qua lăng kính nhân bản là những nét chấm phá tô điểm cho bao câu chuyện thương tâm khiến người nghe dễ xúc động. Tiếng ca ai oán ngân dài thanh âm rung vút cao, dù những lời cầu bình an cho thuyền tị nạn, hay nỗi khao khát tự do nhân quyền hoặc tôn vinh đất nước Việt Nam như bài ca tôi vốn yêu thích:

"Việt Nam oai linh nghìn thu sáng danh ngời
Đất Tiên Rồng nuôi chí hùng anh
Việt Nam dang tay thành tâm khắp nhân loại
Cùng thế giới đi xây tình dài
Việt Nam thắp cao ngọn đuốc ấm cho đời
Bằng trái tim vun trồng thời đại mới
Hồn sông núi vang trong mạch sống giống nòi
Bước đi trong miệt mài...."

Việt Nam Vinh Quang, thơ Nam Dao, nhạc Phan Văn Hưng:
Link nhạc: Việt Nam Vinh Quang

Việt Hải

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Giọt Mưa Trên Tóc
Tác giả: Tiểu Tử


LGT: Tiểu Tử là bút hiệu của ông Võ Hoài Nam, sanh năm 1930, tại Gò Dầu Hạ, Tây Ninh, tốt nghiệp trường Kỹ sư Marseille năm 1955, từng dạy lý hoá trung học Pétrus Ký, sau làm việc cho hãng dầu SHELL Việt Nam từ năm 1956 đến 30/04/1975. Cuối năm 1978, ông vượt biên, định cư ở Pháp từ đầu năm 1979, làm việc cho hãng đường mía của Nhà nước Côte d' Ivoire (Phi Châu) 1979-1982. Sau đó, ông làm việc cho hãng dầu SHELL Côte d'Ivoire từ năm 1982 đến 1991 thì ông về hưu. Về văn nghiệp, trước 1975, ông giữ mục biếm văn "Trò Đời" của nhựt báo Tiến, bắt đầu viết truyện ngắn khi làm việc ở Côte d'Ivoire. Tập truyện "Những Mảnh Vụn" do Làng Văn Toronto xuất bản là tập truyện đầu tay của ông. Truyện của ông giản dị, ngôn ngữ đối thoại mộc mạc, chất phác, gần gũi với cuộc sống thường nhật của người dân Nam Bộ, nhưng luôn luôn gói ghém những tình cảm xúc động, chân thành và trong sáng của con người Việt Nam đối với quê hương, đất nước, con người...

Đường Hai Bà Trưng. Chiều. Một trai một gái tuổi độ 17, 18, đạp xe về hướng Tân Định, đi song song. Bỗng, trời nổi gió ào ào rồi mây đen kéo về vần vũ. Mọi người đều hối hả, đi như chạy, để tránh mưa. Đứa con trai giục:

- Đạp lẹ lên Kim! Qua khỏi đoạn này mới có chỗ đụt.

Đứa con gái gật đầu, chồm lên nhấn mạnh bàn đạp, nhưng chỉ vài phút sau mưa đã rơi lắc rắc xuống hai đứa làm chúng nó cười lên hăng hắc, cái cười hồn nhiên thanh thoát khi thấy mình bị mưa đuổi kịp, cái cười còn nguyên nét trẻ con trong trò chơi "cút bắt"! Chúng nó vội tấp vào mái hiên một tiệm giày. Sau khi dựng xe đạp lại ngay ngắn, Kim nhìn bạn, hơi ân hận:

- Tại Nghĩa đợi Kim mới bị mưa ướt đó. Phải hồi nãy Nghĩa đạp đi trước thì đâu có sao?

Đứa con trai tên Nghĩa vừa nhìn quanh vừa trả lời, người hơi lắc qua lắc lại giống như cành cây đong đưa trong cơn gió thoảng:

- Mình đi chung mà Kim.

Nghe bạn nói, Kim yên lặng nhìn ra mưa mà nghe lòng thật ấm cúng. Sự nhạy cảm của người con gái ở tuổi đó đã giúp Kim nhận thấy một tình yêu nho nhỏ đang nhen nhúm giữa hai đứa, một "cái gì" vừa nhẹ nhàng vừa tinh khiết, mà lại vừa thật là rung động. Một "cái gì" cứ bắt phải cần có nhau; một "cái gì" cứ bắt phải nghĩ đến nhau. Một "cái gì"... Một "cái gì"... Không biết nữa! Kim cảm thấy nóng hai vành tai. Kim nhìn xuống chiếc áo bà ba trắng đang dán vào người từng mảng nhỏ. Tự nhiên, Kim khoanh tay lại che ngực, rồi tự trách thầm: "Phải nghe lời má đội nón thì bây giờ đã có cái gì để ôm cho đỡ ngượng. Con gái gì mà đi đâu cũng đầu trần! Cho đáng...". Thật ra, Kim thấy đội nón bực bội quá, cứ nghe ngứa ngáy trên đầu như mấy ngày chưa gội và sau đó khi lấy nón ra tóc cứ như bị dán keo nằm nhẹp xuống coi thật chướng mắt. Cho nên, thảng hoặc có đi đâu với má thì Kim cầm theo cái nón lá cho khỏi bị rầy, kỳ dư là đi đầu trần - dù đi học hay đi lao động cũng vậy. Thành ra, tóc Kim bồng lên thật đẹp, đen huyền xõa xuống ngang vai, chao qua chao lại khi Kim nghiêng đầu và lúc nào cũng tự do phất phơ theo chiều gió. Mấy thằng bạn cùng lứa - nhứt là Nghĩa - thường hát ghẹo: "Nắng lên, gió lên cho tóc em bồng..." Và Kim thấy hãnh diện với "mái tóc em bồng" đó.

Cơn mưa thật lớn. Vỉa hè, mặt đường... đều lai láng nước. Làm như là nước từ dưới đất dâng lên!

Bên kia đường là nhà thờ Tân Định với bức tường cao kéo dài. Bên này, chỗ nào có mái hiên là có người đứng đụt. Cách chỗ hai đứa đứng vài căn phố là tiệm nước mà phía trước là chiếc xe mì với hàng ghế đẩu đứng trong mưa chờ khách.

Mái hiên chỗ hai đứa đụt bỗng nghiêng triền qua một bên, đổ ào nước xuống như một dòng thác. Không bảo nhau mà cả hai đứa cùng nhảy lùi vào trong và cùng đứng về phía mái hiên không đổ nước. Khoảng trống không bị ướt dưới mái hiên bây giờ thu hẹp lại chỉ còn một góc nhỏ vừa đủ cho hai đứa đứng. Không đứng sát vào nhau, nhưng đứng thật gần nhau...

Nghĩa quay nhìn phía sau: cửa lưới sắt tiệm giày đóng im lạnh ngắt. Bên trong tủ kiếng, kệ hàng trống bốc, bụi đầy. Nhìn sang Kim, Nghĩa nói:

- Kim biết không? Ông chủ tiệm giày này đã đưa gia đình vượt biên cách đây ba bốn tháng...

- Sao Nghĩa biết?

Kim ngạc nhiên, bởi vì nhà Nghĩa ở xóm Chi Lăng, còn đây là chợ Tân Định.

Nghĩa chỉ tay sang nhà thờ:

- Con nhỏ em của Nghĩa học ở trường nhà thờ bên kia. Chiều nào Nghĩa cũng tới đón nó. Trong khi chờ đợi, nghe mấy anh xích lô nói chuyện với nhau mới biết.

- Họ đi thoát không?

- Không biết nữa. Mà không phải có tiệm giày đi thôi đâu. Cả dãy phố này đều lần lượt chui hết. Cho nên nhà nào nhà nấy đóng cửa im ỉm, Kim thấy không? Nhà Nước tịch thâu lâu rồi sao không thấy cấp cho ai hết.

Kim nhìn ra mưa, bâng khuâng:

- Không biết họ đi có thoát không?

Im một lúc, bỗng Nghĩa ngập ngừng hỏi nhỏ:

- Gia đình Kim có định... có định... đi không Kim?

Kim nhìn bạn, nửa ngạc nhiên, nửa dò xét. Rồi khi thấy không có gì khác lạ trên gương mặt của người bạn trai, Kim thở dài nhìn ra mưa:

- Gia đình Kim mà đi đâu, Nghĩa! Chạy gạo hằng ngày thì lấy vàng đâu mà đi chui?

Nghĩa bối rối, người hơi lắc lư:

- Thì... hỏi là hỏi vậy thôi, chớ Nghĩa cũng biết...

Ba của Kim làm thầy giáo. Hồi thời "ngụy", bị động viên, rồi chạy chọt được biệt phái trở về đi dạy học - để khỏi đi đánh giặc. Qua trào Việt Cộng, hai chữ "biệt phái" đã làm cho chúng nghi là CIA nên bắt đi học tập từ đó đến giờ. Ở nhà, má và chị Hai của Kim chạy ngược chạy xuôi lảnh đồ về may để nuôi năm miệng ăn và góp nhóm chút đỉnh để lâu lâu đi thăm ba của Kim một chuyến. Cho nên, nói chuyện "lo đi vượt biên" cũng như chuyện xuống biển mò trăng...

Bên gia đình Nghĩa cũng không hơn. Ngày xưa, ba Nghĩa làm kế toán ngân hàng, bây giờ đan giỏ chầm nón ở tổ "Mây Tre" Phú Nhuận với má Nghĩa. Hai ông bà sáng đi tối về, đèo nhau trên xe đạp. Nghĩa và con nhỏ em đi học, tối về dán bao giấy bỏ mối cho mấy bà ngoài chợ gói hàng. Bữa cơm gia đình thường là tương chao hoặc ba cái trứng luộc dầm nước mắm. Chuyện "vượt biên" đúng là chuyện mò trăng đáy biển!

Bỗng Kim nhìn Nghĩa, một thoáng tinh ranh nằm trong ánh mắt:

- Còn Nghĩa? Có tính đi không?

Nghĩa phì cười, miệng rộng huệch:

- Kim trả thù hả?

Kim cười bằng mắt, nhái lại câu của Nghĩa khi nãy, người cũng nhẹ lắc lư:

- Thì... hỏi là hỏi vậy thôi.

Không bảo nhau mà cả hai cùng phá lên cười, cái cười che giấu sự sung sướng bên trong của mỗi đứa, cái cười của những người cùng cảnh ngộ gặp nhau, cái cười không phải của niềm vui mà là của sự an ủi. Rồi chúng nó nhìn nhau một thoáng, trước khi quay nhìn đi nơi khác để cảm thấy thật gần gũi nhau vô cùng.

Mưa thôi ồ ạt nhưng vẫn chưa dứt hột thì nửa vùng trời đã hé nắng ở đằng kia. Ánh nắng xiên xiên thật sáng, thật trong làm như vừa được mưa lau sạch bụi! Nắng chiều mà giống như nắng sáng.

Nắng xuyên mưa đổ xuống chỗ Kim và Nghĩa, giống như vệt đèn pha sân khấu. Nghĩa nhìn Kim đứng trong vùng ánh sáng đó bỗng nhớ tới vở kịch thần thoại Liên Xô mà hai đứa đóng trong trường cách đây mấy tháng, trong đó Nghĩa làm người cùng khổ còn Kim là bà tiên áo trắng, mái tóc đầy kim tuyến lấp lánh như kim cương. Bây giờ, những giọt mưa đọng lại trên tóc Kim cũng lấp lánh như kim cương trong tia nắng chiều nghiêng chụp xuống. Đẹp quá!

Kim chợt bắt gặp cái nhìn ngây dại của bạn, nóng bừng hai tai.

- Nhìn gì kỳ vậy Nghĩa?

Nghĩa giật mình, người hơi lắc lư:

- Nghĩa đang nhìn mấy giọt nước trên tóc Kim. Nó... Nó...

Kim mỉm cười, lắc mạnh đầu mấy cái rồi đưa hai tay vuốt tóc tém vào ót. Tóc được gom lại, dính vào nhau thành một cái đuôi cong cong.

Nghĩa tiếp:

- Nó giống như kim cương. Thật giống kim cương. Uổng quá!

- Cái gì uổng?

Kim ngạc nhiên hỏi. Nghĩa đang tiếc rẻ hình ảnh đẹp của Kim khi nãy với những giọt mưa trên tóc, bất ngờ bị hỏi vặn, không biết phải trả lời làm sao. Nghĩa đưa tay gãi ót, chặc lưỡi:

- Thì...

Mắt Nghĩa bỗng sáng lên, mặt hí hửng. Một ý nghĩ vừa thoáng qua trong đầu, Nghĩa chụp lấy như người sắp chết đuối chụp lấy cái phao:

- Uổng quá chớ! Nếu là kim cương thiệt thì Kim dư sức đưa gia đình đi vượt biên rồi.

Rồi Nghĩa cười lên ha hả, cái cười của người vừa thoát nạn. Kim cũng cười theo bạn, nhưng cười vì cái ý nghĩ ngộ nghĩnh bắt nguồn từ những giọt mưa trên tóc.

Trời cũng vừa hết mưa. Đường phố khi nãy vắng tanh, bây giờ đầy người trở lại. Làm như mưa ngừng cho nước rút xuống để rừng người mọc lên! Nghĩa và Kim nhập vào đoàn người đạp xe về ngã Phú Nhuận. Không khí sau mưa mát rượi. Hai đứa đều có cảm giác như mặt mũi mình vừa được rửa sạch trong cơn mưa.

Đến ngã tư Phú Nhuận, Nghĩa vẫy tay chào bạn:

- Thôi, "bye" nghe Kim.

Rồi cắm đầu đạp nhanh về hướng Gia Định trong lúc Kim quẹo sang trái để về cổng Phi Long.

Sau bữa cơm tối, ba gọi Nghĩa và con nhỏ em vào buồng, kéo ngồi xuống chiếc chiếu trải dưới đất, vẻ nghiêm trọng, thấp giọng nói:

- Hổm rày ba má giấu tụi con. Bây giờ, tới lúc phải cho tụi con biết. Khuya nay mình vượt biên.

Nghĩa cảm thấy choáng váng mày mặt, mồ hôi đổ ra như tắm. Trước mắt Nghĩa bỗng là một khoảng trống không mơ hồ. Nghĩa không còn thấy ba. Nghĩa không còn thấy em. Nhưng Nghĩa còn loáng thoáng nghe tiếng ba nửa xa nửa gần:

- Ba sẽ chở má. Nghĩa chở em. Mình đạp xuống cầu Kinh, bỏ xe ở nhà bác Tám rồi băng ruộng ra bờ sông cách đó chừng năm trăm thước. Ghe chờ ở đó. Tụi con đừng đem gì theo hết. Cứ đi tay không như mình đi thăm bác Tám vậy. Hiểu chưa?

Nghĩa gật đầu như người máy, nhưng Nghĩa không hiểu. Thật tình không hiểu! Ba má vẫn hay than vắn thở dài: "Phải chi nhà mình có chút đỉnh gì để liều một chuyến vượt biên như thiên hạ coi ra sao". Khi gặp bạn bè, ba thường chép miệng: "Tôi mà biết bị kẹt lại như vầy, tôi đã đưa gia đình di tản cha nó hồi bảy mươi lăm rồi! Bây giờ thì thôi. Đành muôn năm ở lại với Bác!". Vậy mà bây giờ... bây giờ... Nghĩa không hiểu! Thật tình không hiểu! Mới hồi nãy đây, còn đứng đụt mưa chung với Kim, còn đùa nhau về chuyện vượt biên - lý do để hai đứa thấy gần nhau hơn nữa - còn đạp xe song song trên đường dài - dù đường dài có dài thăm thẳm chắc hai đứa lúc nào cũng đạp xe song song... Vậy mà bây giờ... bây giờ... Sao nó giống như ngã tư Phú Nhuận, mỗi đứa đi về một hướng, hai hướng ngược nhau trên một đường thẳng, nghĩa là chẳng bao giờ gặp lại nhau dù có kéo mãi về vô tận. Và những giọt mưa trên tóc. Ờ... những giọt mưa trên tóc! Những gì hồi nãy mới thấy đây, mới hiện diện đây, những rung động, những cảm nhận thật rõ ràng mới đây, hồi nãy, khi đứng đụt mưa với Kim dưới mái hiên tiệm giày... bây giờ sao giống như giọt mưa trên tóc, chỉ một cái lắc đầu đã rơi mất trong không gian! Còn Kim?... Kim?... Kim sẽ làm sao? Một câu hỏi thật ngớ ngẩn nhưng nói lên chiều sâu của tình yêu vừa chớm, thứ tình yêu chưa rõ nét như bước chân chập chững của trẻ thơ, thứ tình yêu còn thơm mùi giấy mực học trò, còn thật thà như đọc cửu chương hai! Nghĩa bỗng thấy cần phải gặp Kim. Gặp ngay bây giờ. Không biết để làm gì, nhưng phải gặp. Không biết sẽ nói cái gì, nhưng cứ gặp trước cái đã. Có một cái gì thúc đẩy từ bên trong. Có một cái gì kêu gọi từ bên ngoài. Nghĩa không hiểu nữa. Cảm thấy thật cần thiết, thật cấp bách!

Nghĩa bước ra phòng khách, với tay lên kệ lấy đại hai quyển sách gì đó rồi nói với ba đang soạn giấy tờ trên bàn:

- Con đem trả sách cho thằng Tuân.

Khi thấy ba nhìn mình soi mói, Nghĩa tiếp:

- Trả cho nó học.

Ba gật đầu:

- Ờ... Nhưng ba cấm con nói "chuyện đó" với bất cứ ai, dù là bạn thân cũng vậy. Nghe chưa?

Nghĩa gật đầu, đẩy xe đạp ra sân. Ba nói với theo:

- Trả rồi về ngay nghe con, Nghĩa.

Nghĩa "dạ" rồi phóng lên xe, đạp thật nhanh. Trên đường Phan Đăng Lưu (Chi Lăng cũ), Nghĩa ném hai quyển sách vào một đống rác rồi đi thẳng.

Nhà Kim ở xóm cổng Phi Long. Nghĩa vẫn quen lui tới. Vậy mà bây giờ sao thấy nó xa thăm thẳm. Mặc dù xe đã lao nhanh nhưng Nghĩa vẫn có cảm tưởng như hãy còn quá chậm. Nghĩa vừa nhấn mạnh bàn đạp vừa nghĩ miên man: "Không biết phải nói làm sao đây? Ba đã cấm thì mình làm sao nói? Mà không nói làm sao Kim hiểu? Không biết mình đi có thoát không? Rồi cuộc đời sẽ ra sao? Không có Kim mình sẽ ra sao? Còn Kim? Kim sẽ ra sao? Ra sao?... Ra sao?...". Thật nhiều câu hỏi để không có được một câu trả lời. Người con trai đó cảm thấy thật chơi vơi, tất cả đều vuột khỏi tầm tay, tất cả đều vượt khỏi tầm suy luận của nó, nó không hiểu được gì hết, không chủ động được chuyện gì hết! Lần đầu tiên, người con trai đó nhận thấy cuộc đời này quá nhiều rắc rối chớ không đơn giản như những bài toán ở trong trường, mà mình thì giống thằng học trò dốt nhìn tấm bảng đen thấy nó rộng bằng cái sân banh...

Khi Nghĩa vừa thắng xe trước cổng nhà Kim thì con chó chạy ra sủa mấy tiếng rồi chồm lên cửa sắt vẫy đuôi mừng. Có tiếng má của Kim hỏi vọng ra:

- Ai đó?

- Dạ thưa cháu.

Nghĩa trả lời.

- Nghĩa hả? Đi đâu tối vậy?

Rồi đèn dưới hiên được bật lên, một bóng đèn nhỏ xíu tỏa ánh sáng vàng vọt như ánh sáng cây đèn dầu. Má của Kim bước ra mở cổng:

- Cháu ngồi chơi. Em nó tắm rồi ra bây giờ. Bác còn phải vô may tiếp mớ đồ để mai giao...

Nghĩa "dạ", rồi dựng xe vào tường rào. Con chó chạy lại quắn quýt mừng rồi chạy vào trong sủa mấy tiếng như để báo là nhà có khách! Nghĩa nhìn quanh: nhà vắng teo, chỉ nghe có tiếng máy may xành xạch đều đều. Nghĩa nghĩ: "Chắc mấy đứa nhỏ về dưới quê hết rồi. Chớ không thì đã chạy ào ra mừng như mọi khi". Sân nhà Kim tuy nhỏ nhưng tráng xi măng sạch sẽ. Ở góc sân có cây mận khá lớn, tàng gie ra phủ lấy sân như cây lộng. Dưới gốc mận, có mấy gộc củi to đặt đứng để làm ghế ngồi. Trên thân cây mận, hãy còn treo mấy giỏ phong lan mà ba của Kim trồng hồi đó.

Khi Nghĩa vừa ngồi xuống cạnh gốc mận thì Kim cũng vừa bước ra hiên nhà. Tóc Kim chải ngược về phía sau, để lộ khuôn mặt đều đặn với đôi mắt ngời tinh anh. Kim dừng ở hiên một chút... như để định hướng, rồi mới bước tiếp ra sân. Chỉ trong một thoáng đó thôi - một thoáng dừng lại của Kim - Nghĩa bỗng thấy không gian chìm mất chỉ còn lại gương mặt của người bạn gái là hiện hữu, là sinh động, là rạng rỡ... Nghĩa thấy gương mặt đó thật rõ, thật sáng. Thấy mái tóc hãy còn láng nước, tóc mai còn dán vào má vào tai. Thấy vầng trán rộng, thấy đôi mày dài. Thấy ánh sao trong mắt, thấy nét cười phớt nhẹ làn môi... Chỉ trong có một giây thật ngắn ngủi - như một chớp mắt - mà sao ngần đó nét, ngần đó chi tiết được Nghĩa nhìn thấy hết, thâu nhận rõ hết. Phải chăng đó là hình ảnh của Kim mà Nghĩa muốn ghi lần cuối cùng vào tim vào óc? Ghi lấy để giữ lấy mãi mãi, bởi vì, sẽ không còn có lần nào khác nữa để Nghĩa được nhìn Kim như bây giờ...

Kim vừa bước về hướng Nghĩa, vừa hỏi:

- Ủa? Đi đâu mà tối vậy Nghĩa?

Yên lặng. Từ cái thoáng dừng lại khi nãy của Kim, từ cái thoáng đặt hết tâm tư vào gương mặt của người bạn gái, Nghĩa không còn cảm nhận được sự hiện diện của mình. Tiếng của Kim, Nghĩa nghe loáng thoáng như trong chiêm bao.

Nghĩa chỉ sực tỉnh khi Kim đã ngồi đối diện. Người con gái đó có dáng ngồi thật thẳng, thật ngoan, thật dễ thương với hai bàn tay đặt nằm thoai thoải trên đầu gối. Ở Kim, toát ra một cái gì vừa tươi mát vừa tinh khiết, lại vừa trầm lặng với sức sống căng đầy. Nghĩa cảm thấy bối rối, không biết phải nói cái gì, nói làm sao, rồi miên man nghĩ: "Chắc Kim sẽ buồn lắm khi nghe mình nói. Chắc Kim cũng sẽ... cũng sẽ đau khổ lắm khi biết mình đi. Bây giờ còn ngồi đây với nhau chớ lát nữa đây, rồi ngày mai, rồi mãi mãi sẽ không còn gặp nhau nữa. Vĩnh viễn không gặp nhau nữa. Vĩnh viễn... Vĩnh viễn...". Nghĩa thấy thương Kim. Nghĩa thấy thương Nghĩa. Nghĩa thấy thương hai đứa. Nghĩa muốn khóc! Nghĩa không dám nhìn thẳng mặt Kim. Nghĩa nhìn đôi bàn tay thon nhỏ của Kim, đôi bàn tay ngoan hiền nằm trên đầu gối. Đôi bàn tay đó đã từng vẫy gọi Nghĩa trong đám đông, đã từng vỗ vào nhau thành nhịp khi Nghĩa đàn, và một hôm, đã từng kết lại giùm Nghĩa cái nút áo, sau một lần vật lộn với bầy em của Kim. Đôi bàn tay đó, rồi đây, suốt cuộc đời về sau, Nghĩa sẽ không còn được cầm lấy, nắm lấy, hay nhìn thấy, dù là trong giấc mộng. Không tự chủ được, Nghĩa nghiêng người tới cầm lấy hai bàn tay của Kim. Một cử chỉ thật đột ngột làm Kim sửng sốt định rút tay về, nhưng khi thấy Nghĩa chẳng có nét gì sỗ sàng nên để yên. Nghĩa giữ tay Kim trong tay mình như giữ một vật gì đẹp nhứt, quí nhứt của cuộc đời này. Như hơi thở. Như nhịp tim. Như tình yêu... tình yêu... tình yêu...

Yên lặng. Nghĩa ngồi như pho tượng. Lưng khom khom, đầu chúc xuống, cùi chỏ chống lên đùi làm hai vai nhô lên. Kim không nhìn thấy mặt Nghĩa, nhưng Kim "nhìn" thấy tâm tư của Nghĩa trong đôi bàn tay và trong dáng ngồi của bạn. Đôi bàn tay muốn nắm thời gian ngừng lại và dáng ngồi nói lên niềm thống khổ vô biên...

Yên lặng. Rồi có tiếng Kim hỏi, thật trầm tĩnh: "Nghĩa đi hả?"

Không có tiếng trả lời. Nhưng Nghĩa gật gật đầu, cái đầu đã ở sẳn tư thế cúi thấp xuống của một người nhận chịu số phận! Rồi vai Nghĩa bỗng run run, Nghĩa gục xuống tay nấc lên khóc. Bấy giờ - và chỉ bấy giờ - những ngón tay của hai đứa mới đan vào nhau, tự nhiên đan vào nhau, giữ lấy nhau, giữ chặt lấy nhau. Không biết tại sao? Không biết để làm gì? Mà cần gì phải biết, khi tất cả đều vô nghĩa? Vô nghĩa!

Yên lặng. Không gian không còn nữa. Thời gian không còn nữa. Vũ trụ bây giờ nằm trọn trong lòng tay hai đứa, một vũ trụ rách nát, đau thương. Ở đó, giữa những ngón tay đan chặt vào nhau, tình yêu vừa mới sinh ra, còn măng non nhưng sao đã thấy già nước mắt....

Yên lặng. Kim không khóc. Kim vẫn ngồi thẳng, nhìn thẳng, tuy tâm hồn đã tê dại. Phải một lúc lâu sau, thật lâu sau, Kim mới trở về với chính mình để nhận thấy rằng bỗng nhiên mình già đi mười mấy tuổi! Kim nhìn xuống Nghĩa, chỉ thấy cái đầu tóc ngắn, cái ót gầy gầy, đôi vai nhô cao. Hình ảnh cuối cùng của Nghĩa là đây chăng? Người con trai có đôi mắt xếch xếch, có cái cười rộng huỵch làm cho một bên má lúm đồng tiền, người con trai đã làm Kim rung động, người con trai đã làm Kim xao xuyến, người con trai đó, bây giờ, Kim chỉ nhìn thấy được có cái ót và đôi vai thôi! Rồi mai mốt... mai mốt... Một chua xót đang trạo trực dâng lên. Kim cắn môi kềm lại. Yên lặng...

Một lúc sau, Kim hỏi, giọng lạc đi:

- Chừng nào?

Nghĩa ngồi thẳng lên, tay vẫn không rời tay Kim, mặt còn đầy nước mắt, giọng cũng lạc đi:

- Khuya!

Kim nhìn gương mặt méo mó vì đau khổ của Nghĩa bỗng nghe xúc động dạt dào. Kim muốn chồm tới ôm lấy Nghĩa, ôm lấy gương mặt đầy nước mắt đó áp vào má mình, ôm thật chặt, xiết thật chặt, để mọi niềm đau được cùng chia sớt, để mọi nỗi hận được cùng xẻ đôi. Nhưng Kim gượng lai, gượng lại vì lễ giáo, và gượng lại vì sợ không rời nhau ra được nữa... Trào lòng dâng dậy miên man, Kim nhắm nghiền mắt lại, siết những ngón tay của Nghĩa, siết với hết sức mình, siết thật mạnh, siết thật đau, siết như để nén một trời thống khổ, siết như để bóp vỡ một cái gì uất nghẹn trong tim, siết như đang cố gắng nuốt một liều thuốc đắng, siết như... siết như để chia tay lần cuối trước khi lìa đời... Kim cắn răng để đừng bật khóc!

Yên lặng. Lâu sau, Nghĩa buông tay Kim đứng lên, lủi thủi lại lấy xe đạp. Kim bước theo, nhẹ như một cái bóng. Kim mở cổng, tiếng cổng rỉ sét rên lên. Nghĩa dẫn xe ra, không dám nhìn lại cũng không dám nói một lời, chỉ phóng lên xe đi thẳng. Kim đóng cổng, cổng sắt lại rên lên trước khi kêu cái rầm khô khan. Kim có cảm tưởng như mình vừa bị nhốt trong tù. Ngoài kia, đã là một thế giới khác.

Khi Kim bước lên cầu thang để lên gác - cái gác lửng ba làm cho Kim ngủ và học riêng một mình trên đó - Kim bỗng nghe hai chân mình yếu đi, chẳng còn chút sức lực nào hết. Kim cố bám từng nấc thang, mồ hôi đổ ra như tắm. Lên đến bên trên, Kim chỉ còn đủ sức gieo mình xuống giường, úp mặt xuống gối, khóc ngất... Bao nhiêu nước mắt trần gian xin gởi hết cho Kim, người con gái mang tâm trạng người góa phụ.

Trời mưa Paris. Ở đây không có "mưa rồi chợt nắng" như ở Sàigòn. Ở đây, mưa không ngập tràn cống rãnh, mưa không đưa rác trôi quanh phường phố. Cũng không có trẻ con cởi truồng chạy giỡn trong mưa. Cho nên, chẳng có gì để gợi nhớ như mưa Sàigòn...

Nghĩa ngồi một mình uống cà phê trong một bar ở khu Maubert. Hai cô đầm tránh mưa kéo vào ngồi bàn trước mặt. Những giọt mưa trên mái tóc vàng gợi nhớ những giọt mưa trên mái tóc đen của Kim hồi đó. Hồi đó, nghĩa là đã hơn bảy năm. Bảy năm không một tin tức gì hết của Kim, mặc dù đã gởi không biết bao nhiêu thơ, đã nhắn không biết bao nhiêu lời qua bạn bè của hai đứa! Cứ im lìm trống rỗng, làm như những chuyện gì đã xảy ra hồi đó chỉ là một ảo ảnh, một giấc mơ....

Những giọt mưa trên tóc hai cô đầm trước mặt vẫn lấp lánh dưới ánh đèn trong bar càng gợi lại hình ảnh Kim trong lần đụt mưa hồi đó với những giọt mưa trên tóc, rõ ràng như Nghĩa đang nhìn bây giờ. Vậy mà bây giờ....

Nghĩa đốt điếu thuốc. Hít một hơi dài bỗng nghe khói thuốc thật đắng và làm cay chảy nước mắt!

Tiểu Tử

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Bác sĩ Zivago của ViệtNam Tôi đã đọc "Bác sĩ Zivago" của Boris-Pasternack nhiều lần,bản dịch của Saigon trước 1975 <Vĩnh biệt tình em>, rồi cả bản dịch sau 75 do nhà xuất bản Văn Học ấn hành để cố tìm hiểu cái bi kịch của ông Bác sĩ Nga trong cuộc Nội chiến sau 1917 của Nga có đáng gọi là một tấn bi kịch mà khi đưa lên màn ảnh với diễn xuất của Omar Sharif, nó đã làm nức nở bao con tim của hàng triệu người trên thế giới này không, thì quả tình tôi hơi bị hụt hẫng so với những gì mà tôi sắp kể ra dưới đây về trường hợp của một bác sĩ, một người bạn thân của tôi mà vì những lý do tế nhị,cho phép tôi được không nêu tên thật của anh, cùng những nơi anh đã từng công tác. Mong các bạn lượng thứ cho.

Nhà Ngôn ngữ học Cao XuânHạo, lúc sinh thời, đã từng nói vui với bạn bè là: Nếu có ai đó mà cảm thấy mình khổ quá thì hãy nghĩ đến trường hợp của Tuân Nguyễn, khi ấy người đó sẽ thấy mình còn quá hạnh phúc <về trường hợp của Tuân Nguyễn, mong các bạn hãy truy cập vào một entry của "nhat si bao thu" sẽ rõ>. Nếu khi đó mà Cao xuân Hạo có biết trương hợp của Phan, bạn tôi, chắc anh sẽ nói khác đi vì cuộc đời của Phan, như tôi đã nói ở trên, còn bi kịch hơn những gì mà bác sĩ Zivago trong "Vĩnh biệt tình em" từng nếm trải rất nhiều.
Phan là một thanh niên Hà nội chính gốc, bạn chỉ cần gặp anh một lần là thấy nhận xét của tôi là chính xác. Sở dĩ tôi phải dùng chữ Hà nội gốc để nói về anh là bởi vì, ngày nay ta thường gặp những con người có "Hộ khẩu Hà nội", làm việc ở Hà nội, nhưng chỉ cần nói chuyện dăm ba câu là đã thấy rõ anh ta là một type provincial 100%, đại khái như : Tôi cũng là dân Hà Lội đấy chứ...

Phan thì không thế, cứ nhìn dáng đi đứng, cách ăn mặc, nghe anh nói hàng giờ về Marylin Monroe, Tony Curtis, Sylvana Mangano... rồi huýt sáo miệng rất điệu nghệ những bài nào có ở Milk-bar như O cangacero, Johnny is the boy for me là biết ngay anh không thể nào mới từ Thái Nguyên hay Thanh Hoá trở về.

Ngày ấy tôi cũng chỉ là một Sinh viên mà nói theo cách nói của đám vinh viên Hà nội thì tôi là "dân Hậu phương "mới về nhưng tôi lại có nhiều bạn cũ và mới, là dân Hà nội nên tôi có cảm tình ngay với Phan, nhất là những chiều đứng trên bực thềm, lối vào giảng đường xem anh chơi basket cùng với những Nguyễn quang Quyền, Ngô mạnh Sơn....

Qua Ngọc, một người bạn cũ, tôi được biết Phan là Sinh viên lớp Y4 cùng lớp với anh ruột của Ngọc là Dương văn Nhân. Ngọc còn thì thầm vào tai tôi là "Phan vừa vào Saigon mấy tháng rồi lại trở ra học ở Hanoi". Tôi ngạc nhiên hỏi vì sao thì Ngọc cho biết "Phan theo người yêu vào định học ở Saigon nhưng không hiểu sao lại ra,có thể là hai người đã bye bye nhau chăng."

Thỉnh thoảng lên nhà Ngọc nghe mâý đĩa nhạc qua cái pick-up nhà Ngọc tôi cũng gặp Phan và được biết thêm một passion nữa của anh là anh cũng thích chơi guitare classique như tôi, vì vậy chúng tôi cũng hay gặp nhau, tuy nhiên vì học khác ngành nên chúng tôi chưa mấy thân thiết với nhau.

Hai năm sau, ra trường tình cờ Phan lại công tác ở Phú thọ, cùng tỉnh với Liên một người bạn rất thân với tôi. Tha hương ngộ cố tri, Phan và Liên trở nên một cặp inseparable. Mỗi khi về Hà nội, cả hai lại cùng đến tôi để chơi đàn <ngày ấy tôi có một cây đàn classique rất hay, mỗi lần về Hà nội, Phan thường mượn về chơi>, rồi đi bát phố, đến Milk-bar nghe lại những bài quen thuộc.

Rồi ngày Phan lấy vợ, cả tôi và Liên đều là garcon d'honneur cho Phan. Vợ Phan tuy không sắc nước hương trời như những Uyên, Loan, Oanh. <bộ ba nổi tiếng của phố Hàng Bạc>. nhưng lại là một pianiste con nhà khá giả, bạn bè ai cũng nghĩ Phan là một người đã tìm được hạnh phúc, tuy chưa hẳn là tuyệt vời nhưng cũng khiến nhiều người mơ ước.

Đúng vậy thật, nếu chỉ căn cứ vào những năm đầu đời như thế thì lam gì tôi phải kể câu chuyện này để làm mất thì giờ của các bạn.

Sau ba năm công tác ở Phú thọ, với những thuận lợi ban đầu như tôi vừa kể trên, bắt đầu từ 1961, có một Bí thư đảng uỷ mới được cử về công tác tại Bệnh viện Phú thọ. Mà ông này thì xuất thân chỉ là một y tá xã, vào Đảng từ những năm KC chống Pháp. Với cái nhìn không mấy thiện cảm với đám trí thức gốc Hà nội, lại được đào tạo phần lớn thời gian trong vùng tạm chiếm, lại do các Giáo sư người Pháp như Dr Huyard giảng dậy. Do đó những mâu thuẫn lặt vặt bắt đầu phát sinh. Đại loại những chuyện như: sao mấy ông bác sĩ này, khi chẩn đoán bệnh nhân lại còn xen vào đôi câu tiếng Pháp <như he'morragie ce're'brale, như ìnfarctus du myocarde ....> chẳng hạn. Rồi chuyện chiều thứ 7 nào cũng phải về Hà nội để làm gi?

Chuyện bé xé ra to, một hôm,nhân phiên trực đêm của Phan, có bệnh nhân tử vong, ông kết tội Phan thiếu trách nhiệm trong công tác rồi ông súi giục gia đình bệnh nhân phát đơn kiện. Nhân chuyện đó, không biết do nguồn tin nào mà ông biết chuyện Phan đã vào Saigon trong thời gian 300 ngày sau Hiệp định Geneve, rồi lại ra Hà nội. Trong buổi kiểm điểm Phan, ông hỏi một câu chết người như sau: anh đã vào Saigon ở lại đó hơn ba tháng, sao còn ra Hà nội, hay anh nhận nhiệm vụ gì của CIA?

Một con người như Phan không thể trả lời là mình ra Hà nội vì yêu chế độ được. Mà có nói thế cũng chẳng ai tin. Anh bèn đứng dậy nói: Tôi sống ở đâu là quyền của tôi, ông không có quyền hỏi chuyện đó. Nói đoạn,anh đứng dậy bỏ ra khỏi phòng họp, nhún vai trong lúc miệng huýt sáo"o cangacerro" như những khi ra khỏi Milk-bar vậy.

Hậu quả của thái độ bất cần đó là họ đưa anh đi cải tạo 3 năm mà không cần xét sử gì cả.

Ở trại cải tạo cùng với những sĩ quan Nguỵ thời Pháp <mà đa số cũng đều là bạn anh như Vũ duy Đống,Vĩnh sẹo, Lê Trình...> cùng đám Tư sản chưa thực thà khai báo tài sản,đa số là dân Hàng Đào, Hàng Bạc... cũ, anh được các cán bộ quản giáo giao cho phụ trách phòng khám bệnh và phát thuốc cho các tù nhân bị bệnh.

Công việc này cũng chẳng mấy khó nhọc, lại gặp lại các bạn bè ngày trước, đám bạn mà ở Hà nội thường gọi là "Đi nhầm giầy" nên thời gian cải tạo cũng qua đi nhẹ nhàng. Sau năm 1962 anh lại gặp lại ở trong trại một guitarist chơi guitare moderne rất khá. Anh này có nickname là "Toán xồm"cũng vừa phải đi cải tạo về cái tội đã chơi những bài mà người ta gọi là "Văn hoá đồi truỵ" như Paloma, Besame-mucho... Thỉnh thoảng đám quản giáo lại gọi các anh lên, cho các anh mượn đàn để chơi cho họ nghe những thứ đồi truỵ đó, và được họ rất tán thưởng. Không những thế lúc chia cơm, họ còn thưởng thêm cho các anh, khi thì củ khoai,khi thì củ sắn ....

Thế rồi 3 năm "cải tạo "cũng qua đi. Ngày 2-9-1965, anh và một số "trại viên"khác được gọi lên với hy vọng sẽ được về với vợ con. Nhưng trong số mấy chục người lên đứng xếp hàng chờ được phóng thích, chỉ có dăm ba người mà các cán bộ nói là đã thành tâm cải tạo tốt là được về. Số còn lại, trong số đó có anh thì được giải thích là thời gian này tình hình Hà nội rất phức tạp, giặc Mỹ đánh phá ngày đêm, để các anh về lúc này không có lợi cho an ninh. Vậy nên hãy ở lại đây ít lâu nữa, cải tạo cho tốt khi nào tình hình chiến sự cho phép, sẽ cho các anh về.

Cái khoảng thời gian mà mấy ông quản giáo nói là "ít lâu "nữa,các bạn có tưởng tượng được nó kéo dài đến khi nào không? Xin thưa là mãi đến 1970 đấy. Nếu tính trung bình ra, mỗi con người chúng ta có 60 năm sống để vừa đi học, học xong thì làm việc, để phục vụ cho xã hội thì cái con người mà tôi gọi là Bác sĩ Zivago của Việt nam kia, đã mất 1/6 thời gian đó để ở tù vì cái tội dám huýt sáo "o cangacerro" trước mặt một ông Bí thư mà trong cả đời có lẽ chưa bao giờ bước chân ra Hà Nội. Mà nếu chuyện chỉ có thế thôi thì làm sao tôi dám đem so sánh với "Bác sĩ Zivago"của Boris-Pasternack cơ chứ.

Tất cả những gì tôi vừa kể trên mới chỉ là phần đầu của tấn bi kịch của một con người mà trong đời mình,ngoài nghề Bác sĩ ra,có lẽ anh chưa hề làm một điều gì xấu xa,chưa hề làm hại ai điều gì.

Trong thời gian anh ở tù thì ở ngoài đời, cô vợ Pianiste, sau khi sinh hạ cho anh một đứa con gái, đã không đủ can đảm hy sinh 10 năm xuân sắc để chờ anh về như những thiếu phụ trong bài thơ của Simonop:

Em ơi đợi anh về
Đợi anh về em nhé .

Bài thơ đó là dành cho các bà vợ có chồng đang chiến đấu ở ngoài mặt trận, nó không được viết để ca ngợi những bà vợ có chồng đang ở tù, dẫu cho đó là những người tù trí thức,những người đi tù chỉ đơn dản vì đã không chịu khuất phục trước những kẻ dốt nát hơn mình.

Cô vợ pianiste của anh đã đi bước nữa, để lại con gái anh cho ông bà ngoại nuôi. Cũng cần nói thêm là trường hợp ra tù bị vợ bỏ như anh không phải là duy nhất. Người bạn tù cùng trại với anh là Vũ duy Đống cũng bị vợ bỏ để lấy chính người em ruột của anh, người mà các con anh phải gọi bằng chú ruột. Anh này có lẽ chỉ còn hạnh phúc hơn anh ở chỗ hai đừa con gái ruột của anh vẫn còn gọi anh là bố ruột.

Còn anh thì sao?

Ngày anh về,con gái anh đã là học sinh lớp 6 ở trường Vân-Hồ. Do một tình cờ của số phận, bà vợ tôi lại là cô giáo chủ nhiệm của lớp đó. Biết được nỗi lòng của người cha muốn được gặp mặt đứa con ra đời lúc mình còn ở tù, bà đã bố trí cho Phan được gặp con gái mình ở ngay nhà tôi, nhưng con bé lại như không muốn nhận cha đẻ của mình. Nó nghe mẹ nó nói cha mình đã chết từ lúc nó mới sinh!!!

Nỗi bất hạnh của anh không chỉ đơn thuần như vậy.

Tuy anh đã được trở về nhưng tấm bằng Bác sĩ của anh, người ta đã không còn công nhận nữa. Ai dám cho anh hành nghề thầy thuốc bây giờ nữa. Để kiếm sống, anh đành phải sử dụng đến một nghề tay trái của mình: đó là nghề hoạ sĩ. Anh nhận những chiếc mành mành nhỏ, người ta làm để trang trí, mang về anh vẽ lên trên đó những hình trang trí: những cây trúc, cây mai, những con chim, con cò.... Cứ miệt mài làm như thế cả ngày, anh cũng đủ để lo cho mình ngày hai bữa cơm đạm bạc.

Nhưng anh không thể sống "độc thân "mãi như thế được.

Một mối tình thứ hai đã đến với anh ở tuổi ngoài 40. Tuy muộn màng với cả hai, nhưng dù sao nó cũng giúp cho cả hai người có được những đêm đông bớt giá lạnh, làm cho họ thấy trên cuộc đời này không chỉ có hận thù và cay đắng. Kết quả của mối tình thứ hai này là một bé gái ra đời năm 1972 dưới cái tên là Phan-Thanh Nhàn. Cái tên này có lẽ muốn nói lên cái ước muốn sau cùng của đôi vợ chồng "rổ rá cạp lại" này. Họ mơ ước sẽ có được những ngày cuối đời sống trong sự thanh thản, không phải lo nghĩ gì đến "cơm áo,gạo tiền".

Nhưng nỗi mơ ước đó mãi mãi vẫn chỉ là ước mơ. Khi con Nhàn lên 3 tuổi thì cũng là lúc Phượng, tên người vợ thứ 2 của Phan, bắt đầu có những triệu chứng của căn bệnh mà Phan nói với các bạn thân là một pneumonie aigue <viêm phổi cấp>. Phượng bị ho ra máu và sụt cân nhanh chóng. Lại một lần nữa, số phận lại đùa dai với Phan vì bệnh này phải có nhiều tiền mới mong điều trị khỏi, nếu không sẽ biến chứng thành ung thư phổi. Và đến lúc đó thì, như lời Phan nói, Dieu seul le sait, a moins qu'un miracle soit arrive'.

Nhưng phép mầu đã không đến với Phan. Gần một năm sau, Phượng qua đời để Phan lại trở thành gà trống nuôi con khi con Nhàn chưa đến tuổi vào lớp 1. Bạn bè Phan lúc này có gặp anh ở đâu đó cũng chỉ còn nắm chặt lấy tay anh mà không biết nói gì hơn. Mà còn biết nói gì hơn, khi mà bất cứ lời chia buồn nào cũng trở nên trơ trẽn trước số phận trớ trêu của anh.

Đất nước Thống nhất, tôi vào Nam công tác. Chia tay nhau ở ga Hàng cỏ, Phan ôm choàng lấy tôi nói: toi đi là hợp tình, hợp cảnh rồi, riêng moi, từ nay lại thêm một nỗi buồn nữa ngoài nỗi buồn mồ côi vợ, đó là mồ côi bạn.T ôi nói: toi ở lại còn có Liên, có Thông, có Hoài.. Lo gì buồn. Phan nói: vẫn biết thế nhưng toi đi thì những lúc nghe nhạc, moi sẽ buồn nhất, biết nói với ai về tiếng đàn tuyệt diệu của Se'govia, về tiếng hát khàn khàn của Mary-Ford qua tiếng guitar của Les-Paul... Liên nó sống quá philo, Thông thì công chức quá còn Hoài thì chỉ có cái món kia thôi. Bá Nha mà không còn Tử Kỳ ở cạnh nữa thì còn chơi đàn làm gì nữa.

Tuy cách xa nhau gần 2000 Km nhưng tôi và Phan vẫn quan hệ với nhau qua thư từ đều đặn. Năm 1977, tôi nhận được một lá thư khá dầy của Phan, trong đó ngoài những chuyện đổi thay của Hà nội,chuyện bạn bè... còn có một chuyện khá vui: đó là chuyện Phan mới lấy vợ lần thứ 3. Người vợ thứ 3 này của Phan là con gái một ông bạn già của Phan, cô này kém Phan hơn 20 tuổi, có tên là Thắm. Đầu đuôi câu chuyện như sau: ông bố Thắm, người làng Trung-Kính, vốn là người vẫn cung cấp những chiếc mành mành cho Phan để anh trang trí lên đó những hoạ tiết cây cỏ, chim cá... rồi giao cho các quầy hàng trên chợ Đồng xuân bán.

Thông thường thì Phan đạp xe vào tận làng để lấy hàng,nhưng cũng có khi thì cô Thắm được bố sai mang hàng ra tận Hà nội để giao cho "chú Phan". Rồi một hôm, khi Phan vào lấy hàng thì được bố Thắm mời ở lại dùng bữa cơm thân mật với gia đình. Cơm nước xong, khi trên bàn nước chỉ còn lại 2 người đàn ông, ông cầm tay Phan nói: Này anh Phan, tôi với anh quan hệ làm ăn với nhau đã khá lâu. Gia cảnh anh tôi rất rõ, cảnh gà trống nuôi con cũng cực lắm, dù muốn dù không cũng phải có bàn tay người đàn bà thì mới ổn,anh ạ. Nói gần, nói xa, chẳng qua nói thật, tôi thấy con Thắm nhà tôi nó cũng quý anh, thôi thì tôi cho nó về làm bạn với anh đấy. Anh cứ về suy nghĩ đi, nếu anh thuận thì ta chỉ làm vài mâm cơm mời họ hàng, vài người bạn thật thân, và cũng là để xin phép tổ tiên cho con Thắm nó về làm dâu nhà anh. Rồi sau đó nó sẽ về trên đó trông nom công việc nhà cửa, đi giao hàng cho anh.

Sau buổi nói chuyện đó khoảng một tháng, ông bạn Liên của tôi, cùng với Thông, Hoài ... lại về làng Trung Kính "đón dâu" cùng với Phan và ông Độ là anh cả của Phan,t rong một đám cưới không có pháo nổ, không co' xe hơi đón dâu nhưng mọi người đều mừng cho hạnh phúc mới của Phan, con người cưới vợ lần thứ ba, khi đã ở tuổi tri thiên mệnh.

Trong 60 năm cuộc đời của Phan, ngoại trừ 25 năm đầu tiên, khi còn trẻ, đi học rồi thành Bác sĩ, quãng đời này trôi qua một cách yên ổn nhát, không có gì đáng nói. Mười lăm năm tiếp theo ra trường, lên Phú thọ công tác, rồi vào tù, ra tội, chạy vạy lo kiếm sống. Đây là khoảng thời gian đầy sóng gió trong đời anh, hai lần cưới vợ thì một lần vợ bỏ, một lần chôn vợ. Cũng khó lòng có thể tìm được một ai đó, ngoài anh, lại có thể có được một quãng đời trung niên kém may mắn hơn anh. Vì vậy nên khi đọc "Bác sĩ Zivago" của Boris-Pasternack tôi chỉ thấy có thể về tình yêu thì Zivago, ông Bác sĩ Nga này có những nỗi niềm truân chiên hơn Phan: yêu Tonia, lấy nàng làm vợ, rồi ra trận, gặp Lara yêu nhau và chung sống với nhau trong một khung trời đầy máu lửa, chết tróc... Thế nhưng về số phận con người thì cuộc đời Phan bi kịch hơn nhiều, như những gì chúng ta đã thấy ở hai lần lấy vợ đầu.

Thế còn mười năm cuối đời anh thì sao nhỉ?

Cuộc đời anh, từ khi có bóng dáng của Thắm lướt vào, có thể nói là những trang rực rỡ nhất của cuốn tiểu thuyết đời anh, nếu như có ai đó định viết nó. Căn hộ bé nhỏ, chưa đầy 20 m2, mang số 259 phố Bà Triệu của anh, từ khi có Thắm về như sáng sủa, rực rỡ hẳn lên, mặc dầu anh vẫn phải bò ra giữa đống bột mầu, mành mành để vẽ lên đó những hoạ tiết giống nhau, nhàm chán để có tiền duy trì một cuộc sống quá ư khiêm tốn cho 3 người. Có bàn tay người đàn bà, quả nhiên phép mầu đã đến với anh. Thắm là một cô gái chân quê, hay lam hay làm, lại giỏi buôn bán nên nội thất nhà anh dần thay đổi. Ngoài việc làm công việc nội trợ gia đình, Thắm còn tham gia việc buôn hàng Bắc Nam nhờ vào những chuyến xe lửa Thống nhất nối liền hai thành phố lớn nhất nước này. Cách làm ăn này rất thịnh hành trong thời gian này. Nhờ vậy mà nhà Phan đã có TV mầu, rồi cả đầu Video để xem phim Hàn quốc, tuy mọi thứ đó vẫn còn là second hand <năm 1982 đã mấy nhà có đồ Brand new>. Vợ chồng Phan đã có thể di chuyển trên những chiếc xe máy mà khi đó ta thường gọi là xe bãi rác. Nhưng có hề gì, cũ người mới ta mà, ngay bây giờ< 2008> cũng có phải ai cũng có những con xe SH,Attila... mà lướt gió đâu. Những lần vợ Phan đánh hàng vào Saigon cô thường tá túc tại mấy căn nhà trọ rẻ tiền, cạnh ga Hoà Hưng, khi tôi đến thăm, thường lại có quà Hà nội mang về. Về phía tôi, tôi cũng hay lùng những đĩa nhạc độc của Saigon để gửi ra cho Phan. Cô Thắm cũng đã sinh hạ cho Phan một bé trai mà hai vợ chồng thống nhất đặt tên là Phan-Chung. Chữ Chung, theo giải thích của Phan, có nghĩa là chấm hết, có nghĩa là anh chị sẽ không đẻ thêm đứa nào nữa, có nếp, có tẻ rồi còn gì.

Nhưng, Vâng lại nhưng. Cứ mỗi lần mà tôi phải hạ bút viết chữ nhưng cay nghiệt này là tôi lại mang một mặc cảm có lỗi với các bạn, bởi vì nó sẽ là sự bắt đầu cho một chuyện chẳng lấy gì làm vui. Nhưng từ ngày mà nền Kinh tế của chúng ta trở thành Kinh tế thị trường thì cho dù nó có thêm cái đuôi "có định hướng XHCN" nữa thì nó cũng là nguyên nhân làm nẩy sinh nhiều vấn đề phức tạp, làm đổi thay mọi quan hệ vốn một thời đã được coi như tốt đẹp. Nhiều gia đình đưa nhau ra toà chỉ vì tranh nhau một cái lối đi rộng có hơn 1m. Có gia đình mà giữa anh em ruột, thậm chí giữa cha và con, cũng không muốn nhìn mặt nhau chỉ vì tranh chấp nhau một mảnh sân vài chục m2.

Gia đình Phan cũng không thể nằm ngoài cơn gió lốc đó. Căn hộ Phan đang ở tuy chẳng mấy rộng rãi, nhưng oái oăm thay, nó lại nằm ngay mặt tiền của một con đường bề thế của Thủ đô: đường Bà Triệu. Như người ta vẫn nói: có mặt tiền là có tiền mặt, vì vậy mà có chuyện sau đây: Căn nhà Phan đang ở vốn mang tên của người anh cả của Phan lắm <khoảng 1/5 số tiền mua nhà>. Khi cụ còn sống cụ vẫn ở với Phan, dĩ nhiên khi cụ ra đi, căn hộ đó, về tình mà nói, nó là của Phan. Nhưng trên giấy tờ, mà bây giờ người ta gọi là sổ đỏ, thì căn nhà thuộc quyền sở hữu của ông Độ.

Năm 1992, do gợi ý của vợ và mấy đứa con gái, ông Độ đề nghị Phan nhường lại cho nhà ông 1/3 cái diện tích mặt tiền để bà Độ mở một cái kiosque nho nhỏ bán sách cũ, Phan đành nhượng bộ nghe theo ông vì dù sao nhà này cũng là của ông, ông cho mình ở thế này cũng là tốt lắm rồi.

Thực ra thì cái cửa hàng sách cũ của bà chị dâu cũng chẳng sinh lợi được là bao, nhưng đó chỉ là bước đầu của một cái kế hoạch khác, lớn hơn. Năm sau, ông Độ, lấy lý do mình bây giờ đã có tuổi, muốn về một nơi nào yên tĩnh để về ở dinh dưỡng tuổi già. Ông bèn triệu tập hội nghị gia đình, có sự tham dự của Phan <hôm đó cô Thắm, vợ Phan đang đánh hàng đi Nam, không có mặt>. Ông nói đã tìm được một căn nhà nhỏ hơn ở ngoại ô, giá cả chấp nhận được, ông sẽ bán căn nhà đang ở đi để về đấy ở cho yên tĩnh. Ông sẽ đền bù cho Phan một số tiền để Phan mua một căn nhà khác làm chỗ ở cho gia đình Phan. Số tiền ông đề nghị đương nhiên là không đủ để tái định cư cho gia đình Phan. Nhưng Phan cũng đành chấp nhận vì 2 lý do:

-1.Phan không muốn vì đồng tiền mà tình anh em bị sứt mẻ, tính Phan là như vậy.

-2.Căn nhà đang ở dù sao cũng là của ông Độ, do ông đứng quyền sở hữu. Mình làm to chuyện cũng chẳng được gì,chỉ tổ người ngoài chê cười.

Nghĩ vậy nên Phan chấp nhận giải pháp do ông Độ nêu lên. Buổi họp gia đình đã kết thúc trong sự hài lòng của mọi người, mà người vui nhất là bà Độ.

Chiều hôm sau, Thắm từ Saigon mang hàng về. Nghe Phan thuật lại diễn biến buổi họp hôm trước, cô lạnh người khi nghĩ đến ngày phải rời căn nhà này, nơi vợ chồng cô đã có được gần 10 năm sống yên ổn, công việc làm ăn của cô lại đang tiến triển tốt đẹp. Lần đầu tiên cô đay nghiến Phan: Rồi anh tính cầm 20 cây vàng của ông Độ để ra vỉa hè mà ở à? Muốn có một căn nhà cấp 4 ở ngoại ô để ở bây giờ, ít nhất phải gấp đôi số vàng đó. Nếu anh không nói lại với ông ấy thì để tôi nói. Phan phải dùng hết lời can dán, Thắm mới để anh yên, nhưng anh hứa sẽ đàm phán lại với ông Độ để xem có hơn được chút nào không.

Sáng hôm sau, nhân lúc ông Độ ngồi một mình anh đem chuyện giá cả nhà đang có chiều hướng lên cao ra nói và đề nghị ông thêm cho vợ chồng anh chút ít để anh có thể có được một căn nhà nho nhỏ để ở. Ông Độ hỏi lại: chú nói chút ít là bao nhiêu? Nhà em nói phải có 40 cây mới đủ, Phan đáp. Nghe đến đây, ông Độ trợn mắt lên mà nói: tôi tưởng chú thím muốn thêm độ vài ba cây thì tôi có thể tự mình quyết định được chứ nhiều thế thì phải chờ nhà tôi về đã. Xưa nay những chuyện tiền nong nhiều như vậy, tôi vẫn để bà ấy giải quyết cả. Câu chuyện đến đây là Phan đã quá mệt mỏi lắm rồi. Từ lâu anh đã bị chứng nhồi máu cơ tim nhẹ, những khi đi trên đường,quá mệt mỏi là anh đều phải ngồi xuống vệ đường, tựa lưng vào một gốc cây, lấy tay xoa nhẹ lên ngực cho đỡ đau, một lúc sau mới tiếp tục đi được. Từ hôm có buổi họp gia đình về chuyện nhà cửa, anh đã quá mệt mỏi lắm rồi, ngực anh bắt đầu lâm râm đau, nhưng anh vẫn gắng gượng để chờ vợ về xem sao. Nay thấy ông Độ nói vậy, anh bèn đứng dậy, xin phép ông về nói lại với Thắm xem ý cô ra sao.

Thấy Phan về, nét mặt ỉu xìu, Thắm đã sồn sồn hỏi: sao, ý ông Độ ra sao? Phan lắc đầu nói: vài cây nữa thì được, hơn nữa thì khó đấy. Nghe tới đó, Thắm gầm lên: Anh để đấy cho tôi, tôi sẽ gặp trực tiếp gặp bà Độ nói cho ra nhẽ, nhà mình đang ở, có hộ khẩu đàng hoàng, ai dám đuổi đi. Phan ôm ngực can Thắm: bây giờ không như ngày trước đâu, hộ khẩu chẳng là kí lô gì sất. Nhà tên người ta, người ta muốn bán lúc nào chả được, cô làm to chuyện có khi lại trắng tay mà ra vỉa hè ở đấy. Thắm càng gào to: ra vỉa hè à, tôi thách đứa nào dám quẳng đồ của tôi ra vỉa hè đấy. Lúc này, bà Độ cũng vừa đi chợ về, nghe Thắm nói thế, bà cũng gào lên: Mày không cần phải thách, để tao quẳng cái TV của mày ra đường xem mày làm gì được tao nào. Nói là làm, bà Độ sắn tay áo lên và lớn tiếng gọi con gái: con Thuý, con Vân đâu, chúng mày quẳng cái TV này ra đường cho tao, xem nó làm gì nào.

Thế rồi hai người đàn bà xông vào cắn xé nhau, hàng xóm xúm đen, xúm đỏ vào xem, chẳng ai còn để ý đến Phan, lúc này đang ôm ngực rên rỉ. Khi ông Độ từ trong nhà chạy ra thì Phan đã ngã ra sàn nhà và ngất đi. Ông bèn quát to: con Thuý đâu, đi gọi xe cấp cứu mau, chú Phan nguy rồi.

Hồi đó, các nhà tư đâu đã có điện thoại như bây giờ nên phải mất đến nửa giờ sau, Thuý mới gọi được xe cấp cứu đến, lúc này Phan đã rơi vào tình trạng hôn mê sâu và khi người ta đưa anh vào phòng cấp cứu Bệnh viện Bạch mai thì mấy ông Bác sĩ trực ở đó, có cả người từng là bạn cùng khoá với anh ngày trước nói: đây là một ca nhồi máu cơ tim cấp, vỡ động mạch, máu trào cả vào tim, phổi. Rất đáng tiếc là chúng tôi không thể làm gì cho gia đình được. Xin thành thực chia buồn.

Thực ra thì tất cả đoạn kết của câu chuyện buồn này, tôi chỉ được nghe Liên kể lại. Bản thân tôi, thời gian đó, cũng đang bận bịu với một công việc mới nhận ở Saigon sau khi về hưu, tôi không biết tin anh mất vì chẳng có báo nào bây giờ còn đăng những cáo phó về cái chết của những phó thường dân như Phan. Muốn được Báo Nhân Dân đăng cáo phó, theo Phạm văn Nhân, một người bạn thân khác của Phan, đã từng làm chính uỷ trong quân đội nói thì phải có 60 năm tuổi Đảng. Nhưng, hỡi ôi, Phan lại chỉ có 60 năm đầy sóng gió trên cõi đời này, với bao nỗi bất hạnh chồng chất.

Đi sau linh cữu Phan, đưa anh ra cánh đồng làng Trung Kính, chỉ lèo tèo dăm ba người bạn chí cốt với anh. Ngoài Liên, Thông Nhai <mới từ Saigon ra>, còn có những bạn cùng ở tù với anh như Duy Đống, Vĩnh sẹo, Lê Trình. Phía gia đình, ngoài Thắm đội mũ mấn với thằng Chung chống gậy đi bên con Nhàn còn có ông Độ, chỉ có mình ông và một cô con gái là Thuý đi đưa.

Lúc hạ huyệt, nghe Liên kể lại thì mọi người đều thấy ông Độ nói trong tiếng nấc nghẹn: chú Phan ơi, tôi cũng có một phần lỗi lầm trong cái chết của chú. Xin chú hãy xá tội cho tôi. Tôi sẽ thay chú lo lắng cho thằng Chung thành người. Vĩnh biệt chú.

Mười năm sau, năm 2003 tôi lại có dịp ra thăm Hà Nội. Liên cho hay, năm năm sau ngày mất của Phan, cô Thắm vợ Phan cũng đã theo anh ra đi, mộ Thắm nằm cạnh mộ Phan ngay giữa cánh đồng làng Trung kính.

Liên và tôi cùng rủ nhau về Trung Kính thăm mộ vợ chồng Phan. Tới nơi cả hai chúng tôi, nhất là tôi đều ngỡ ngàng trước những đổi thay nơi đây. Làng Trung Kính giờ đã đô thị hoá, những căn nhà lá ngày xưa đã nhường chỗ cho những căn hộ cao cấp. Cánh đồng làng xưa không còn nữa, Khi chúng tôi hỏi về những ngôi mộ ngày trước thì mọi người cho biết chúng đã được di dời đến một nơi khác. Khi được hỏi về nơi đó hiện ở đâu thì một anh thanh niên, tuổi còn khá trẻ dừng xe Dream lại mà trả lời: Thời buổi bây giờ, ai hơi đâu mà đi nhớ những chuyện dớ dẩn như thế. Hai ông có hỏi nhà người sống, may ra còn có người biết, chứ mồ mả người chết thì ai nhớ làm cái gì !

Saigon,15 năm sau ngày mất của Phan.

Thầy giáo làng

Vĩ Thanh.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Lòng Tự Hào,

Bảo Giang

Người ta có hai điều đáng để tự hào là : Sống đời lương thiện vói chính mình và đem sự lương thiện, tài đức của mình vào làm tăng tiến thêm tinh hoa cho xã hội. Nhưng người có lòng tự trọng là người cảm thấy tủi hổ, nhục nhã vì những hành vi bất lương, kém giáo dục do người đồng chủng gây ra.…

Thật vậy, nói về lòng tự hào, tôi tin rằng nhiều người chưa dễ quên hình ảnh của một vận động viên bơi lội Mỹ, cô Janet Evans đã biểu lô khi đứng trên lễ đài nhận tấm huy chương vàng trong kỳ thế vận hội Olimpic tai Soul vào năm 1988

Janet Evans năm ấy 17 tuổi, đi dự Olimpic lần đầu tiên và đã thắng được 3 huy chương vàng. Những huy chương ấy là tài năng. Nhưng lòng tự hào của Janet lại nằm đúng vào lúc, đôi mắt thơ ngời sáng nhìn theo bóng cớ, tai nghe hồn non sông như lòi gọi mời vượt thời gian trổi vang vang theo bài quốc ca. Bỗng chốc, sức sống như rung động đến từng làn da thớ thịt, rồi dòng nưóc mắt thánh thót lăn dài trên đôi gò má…Mặc cho dòng nước mắt tuôn rơi, cô vẫn hát theo lời tự hào của non sông…

Tôi cho rằng đó là hình ảnh tuyệt mỹ đã được biểu lộ từ tấm lòng lương thiện, mang khát vọng của đời mình tô thêm nét đẹp cho quê hương, xứ sở, nơi mình đã được sinh ra và lớn lên để làm người.

Janet Evans tự hào là phải. Cô tự hào không phải chỉ vì thành tích của cá nhân, nhưng còn là niềm tự hào to lớn từ dân tộc ấy, nơi đã sinh ra và làm trưỏng thành nhân loại. Nơi có những vĩ nhân đã giải phóng dân tộc, mở ra một trường dân chủ cho nhân loại. Ở đó có George Washington và ở đó có Abraham Linlcon, người đã giải phóng kiếp nô lệ của con ngưòi. Và ở nơi đó đã ấp ủ, hơn thế, như luồng gió mới truyền vào hơi thở của thế giới tư tưỡng Nhân Quyền và Dân Quyền. Và cũng là nơi, Tự Do, Công Lý của xã hội được tôn trọng và đặc biệt, nơi ấy đã cưu mang con người bằng tình người lương thiện.

* Anh nói thế, chẳng lẽ chỉ có một mình Janet Evans hay dân Mỹ mới có lòng tự hào và lòng tự trọng dân tộc, còn những người không thắng cuộc, và các dân tộc khác không có lòng tự hào về đất nước và con người của mình hay sao?

- Ồ, dĩ nhiên, mỗi người và mỗi dân tộc đều có lòng tự hào và tự trọng về thành tích và về dân tộc mình chứ. Ngay như chúng tôi đây, tuy người của chúng tôi chưa một lần đứng trên bục cao danh dự của quốc tế để lĩnh nhận những huy chương cao quý của nhân loại, Nhưng chúng tôi có khi nào không hãnh diện và tự hào về giòng dõi Việt tộc của chúng tôi đâu.

Này nhá, từ khởi đầu cuộc dựng nước và cứu nước của dân Việt, sách sử nước tôi đã ghi lại bao nhiêu nét hùng vỹ. Từ những cuộc kháng Minh, diệt Mông, đánh Hán đuổi Tây đến những ngày chinh chiến Quốc - Cộng, chẳng có khi nào mà không có những anh hùng của non sông làm rạng danh giòng giống Lạc Hồng. Anh mở sách ra mà xem, sau các vua Hùng là những triều Lý Lê Trần Nguyễn với những Trưng Nữ Vương, Ngô Quyền, Lý thường Kiệt, Hưng Đạo Vương, Bình Định Vương Lê Lợi, rồi Quang Trung Nguyễn Huệ đến Hàm Nghi, Phan đình Phùng, Hoàng hoa Thám, Ngô đình Diệm… Cà tây lẫn tầu đã dễ gì mà quên được những tên tuổi ấy. Rồi đến cuộc chiến bảo vệ quê hương, những danh tướng làm rạng màu cờ sắc áo Tự Do của giống nòi cũng hiển lộ thần oai vì dân tử tiết như Nguyễn Khoa Nam, Lê văn Hưng, Lê đăng Vỹ, Trần văn Hai…Tất cả là hồn thiêng sông núi còn sinh động trong lòng chúng tôi, lẽ nào chúng tôi không tự hào.

Còn hơn cả lòng tự hào nữa đấy. Chúng tôi đi mà dám ngửa mặt lên nhìn đời. Này nhá, khi Tổng Thống Ngô đình Diệm, tuy lãnh đạo đất nước chưa bao lâu, nhưng đến xứ người thì được anh hùng của dân tộc Hoa Kỳ, và là tổng thống đương nhiệm, thống tướng Dwight Eisenhower, đưa cả nội các ra tận chân máy bay mà đón rươc với đại lễ dành cho nguyên thủ một quốc gia.

Kế đến, trong cuộc tỵ nạn Việt cộng mới cách đây vài ba chuc năm thôi, hàng ngũ người tỵ nạn cộng sản với hai bàn tay trắng bị bóc lột hôm nào, nay đã thành một lực lượng xây dựng được chỗ đứng vững chắc nơi mình sinh sống. Họ trưởng thành trong lương thiện và còn góp mặt trong tất cả các cơ chế từ hành pháp đến lập pháp và tư pháp tại các cấp chính quyền địa phương. Thuyền Nhân tỵ nạn cộng sản năm nào nay đã có những danh vị hàng quốc tế. Những danh tánh như Dương Nguyệt Ánh, Eugen Châu, Elizabeth Pham…. đã là những điển hình, chứng minh cho lòng tự hào và tự trọng của người Việt Nam trên trường quốc tế đấy!

- Phải những điều ấy thì đúng và ai là người Việt mả không tự hào về non sông đất nưóc cũng như dân tộc của minh. Nhưng tại sao, Ngài Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Hà Nội, lại bảo: “ chúng tôi cảm thấy nhục nhã khi cầm tờ hộ chiếu Việt Nam …” Nóí như thế là nghĩa gì? Có phải là Ngài phỉ báng Dân Tộc Việt Nam và chống đối dân tộc Việt Nam chăng?

- Sao mà lại có những kẻ đặt câu hỏi ngu đến như thế nhỉ? Há những kẻ đặt câu hỏi ấy không biết rằng, nóí như thế là Ngài Tổng Giám Mục đã biểu lộ lòng Tự Trọng của dân tộc một cách cao độ hay sao?

- Ối bác đảng ơi! hởi các đồng chí ơi! Họ bảo nói như thế là sự biểu lộ lòng tự trọng cao tầng đấy. Không phải là chống đối dân Việt Nam đâu! Chỉ có lủ phản động tin chúng chứ bác đảng nào mà tin cho cái “ný nuận” ấy được nhỉ?

- Này, không phải có mình tôi hay có vài người chấp nhận suy nghĩ ấy đâu. Nhưng là toàn dân Việt Nam đều nhận chân gíá trị như thế. Mà không phải chỉ riêng người Việt Nam tâm phục khẩu phục lời của Ngài Tổng Giám Mục công bố trước mặt những cán cộng cao cấp trong hàng ngũ gọi là cửa quyền Hà Nội đâu, nhưng là cả loài người văn minh, có đạo lý và luân lý trong cuộc sống đời thường đều công nhận lời nói với lòng tự trọng của Ngài đấy!

Bởi vì người có lòng tự trọng là người thấy tủi hổ vì những hành vi bất lương, thiếu đạo đức, thiếu gíao dục của người đồng chủng với mình gây ra!( ở đây được hiểu là do nhà cầm quyền Việt cộng gây ra)

Giải thích cách khác, bớt nhức nhối và đau đớn là vì Ngài thường đi ra ngoài nước, Ngài thấy chính quyền các nưóc thì tôn trọng nhân dân, tôn trọng quyền sống, quyền làm người cơ bản của đồng bào, tôn trọng sự tự do, tôn trọng Nhân Quyền, tôn trọng Nhân Phẩm và đạo đức xã hội. Sự tôn trọng ấy đã tạo điều kiện để phát triển về nhân bản và luân lý xã hội làm cho xã hội ngày một tốt đẹp, ngày thêm phát triển. Ngài muốn cho dân ta có được một ngày có những cái vinh dự như thế trên trường quốc tế,

Nhưng than ôi, khi quay về quê hương mình thì Ngài rơi nước mắt khi thấy nhân dân đi kêu oan, đòi đất đòi nhà trên bình diện cả nước. Chính quyền thì mặc sức vơ vét trên những luống cày một cách bất lương, vô đạo. Tệ hơn thế, còn ra sức dùng vũ lực trấn áp tinh thần của đồng bào. Đạo đức xã hội thì suy đồi. Đi đến bất cứ nơi nào thì cũng chỉ thấy cảnh công an, cán bộ cửa quyền tác oai tác quái. Tự Do Dân Chủ Độc Lập Hạnh Phúc của đồng bào chỉ là cái bánh vẽ trên giấy để cho nhà nươc tự do sử dụng mua vui trong cuộc chơi lừa bịp. Bởi vì, thực tế là người ta không thể tìm ở đâu ra sự Tự Do và ấm no của người dân, nói chi đến Hạnh Phúc và Độc Lập như cái khẩu hiệu của nhà nước này dựng lên!

Nhưng mãi đến nay, mới chỉ có một minh Ngài Tổng Giám Mục Hà Nội thay mặt toàn dân mà nói lên lời chân thật, tự trọng ấy. Nhưng ngày toàn dân sẽ hét vào mặt nhà nước Việt cộng như thế cũng không còn là xa nữa đâu.

- Tại sao Ngài Tổng Giám Mục và toàn dân Việt Nam lại thấy nhục nhã vì cái chế độ Việt cộng này?

Đơn giản là vì chúng đã làm tổn thương danh dự và nhân phẩm của Việt Nam trong mấy chục năm qua. Ngày nay, hai tiếng Việt Nam không còn được nhắc trên trường quốc tế với lòng kính trọng vì nơi đó có một giống dân lương thiện, hiền hoà, cần mẫn, can đảm, hiếu khách, đầy lòng tự hào và tự trong về khí phách của hồn thiêng sông núi. Trái lại, đi đến đâu cũng bị soi mói, bị nhìn dưới đôi mắt như những kẻ hạ cấp, trộm cắp thiếu lòng lương thiện, kém văn hóa.

- Tại sao dân Việt ta lai bị nhìn bằng đôi mắt khinh khi ấy nhỉ?

Dễ hiểu thôi, hảy điểm qua một số công việc của nhà nước này trong mấy chục năm qua. Từ việc lớn đến việc nhỏ. Từ việc chúng bán đất cầu quyền lực đến tàn sát giết hại nhân dân, đến việc đẩy ngưòi dân ra khỏi nước để vơ vét tiền của của của nhân dân, đến việc, xưa là đấu tố, nay là quy hoạch để cướp đoạt tài sản ruộng đất của nhân dân thì sẽ nhìn ra cái lý do tại sao người Việt Nam bị đánh giá và bị nhìn chung cái nhìn với Việt cộng.

Này nhá, hãy bắt đầu bằng cái tên Hồ chí Minh để xem cái chế độ vô đạo lý này đã lập được những công trạng gì cho Việt Nam :

1. Sau khi không được nhận vào trường bảo hộ để thoả mãn khát vọng làm nô lệ cho thực dân Pháp. Hồ chí Minh đã xin làm nô lệ cho đảng cộng sản Pháp rồi đến đảng cộng sản Liên Sô.

2. Khi ra khỏi nhà tù Quảng Châu, Hồ chí Minh đã nổi danh khắp năm châu vì món nghề chôm chỉa cuốn Ngục Trung Thư của một người tù cùng thời với Hồ.

3. Khi về nước thì Hồ chí Minh đã mượn đỡ cái tên Trần dân Tiên để viết về cuộc đời cách mệnh của Hồ. Tuy thế, Trần dân Tiên cũng không dám viết về cái gia phả đích thực của Hồ là con cái nhà ai. Trần dân Tiên là ai? Tại sao không viết sự thật đời “Chí Phèo” với thị Tăng Minh Tính, thị Khai, thị Xuân, mà lại ca tụng Hồ chí Minh? Phải chăng đây chỉ là một cái tên khác trong toan tính lường gạt nhân dân cả nước của Hồ chí Minh?

4. Rồi Hồ chí Minh và tập đoàn Việt cộng đã phản bội toàn dân trong công cuộc kháng chiến chống thực dân. Chúng đã thiết lập chế độ cộng sản nô lệ cho Nga Tàu trên toàn miền bắc, rồi ký công hàm bán nước, công nhận chủ quyền 12 hải lý của Trung cộng trên vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trực thuộc thẩm quyền hành chánh của Việt Nam Cộng Hoà theo hiệp định Geneve năm 1954 quy định.

5. Tập đoàn Hồ chí Minh, Đặng xuân Khu đã giết chết hơn 60,000, ngàn người Việt Nam trong sách lược cướp của giết ngươi ngụy trang dưới chiêu bài cải cách ruộng đất 1954-1957. và gần 5000 đồng bào ta ở Huế trong tết Mậu Thân. Cũng chính tập đoàn này đã gây ra cuộc hiến thảm khốc tại miền nam Việt Nam . Rồi đẩy hàng triệu người dân Việt bỏ nhà, bỏ nước ra đi. Khiến hàng trăm ngàn ngưòi bị chôn vùi dưới lòng đại dương.

6. Rồi tập đoàn Việt cộng hậu Hồ chí Minh là Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Mạnh Cầm, Phan văn Khải, Võ văn Kiệt thì đã cúc cung tận tụy làm nô lệ cho Tàu và chúng dám bán đất, bán bờ biển của Việt Nam cho Trung cộng qua hai hiệp thương và hiệp định biên giới 12-1999 và 12/2000.

7. Đồ đệ của Hồ Chí Phèo thì bịt miệng công lý, bịt miệng Linh Mục Nguyễn văn Lý giữa công đường. Tạo ra được một bức hình làm ô nhục toàn thể dân tộc Việt Nam . Người Việt Nam ngửa mặt lên làm sao được khi tấm hình này đã được truyền đi, và còn xây dựng trên những bức tường cao ở các thành phố hải ngoại cho nhân dân thế giới chiêm ngưỡng. Có ai không lên án, rồi kinh tởm cái dã man của cái chế độ Việt cộng này?

8. Rồi những kẻ có tài cầm búa, nhiễu loạn nhân tâm như Nguyễn thế Thảo, Hoàng công Khôi, Nguyễn đức Nhanh ở Hà Nội, Hoàn Kiếm thì tạo ra được những văn thư không thuộc thế giới loài ngươi, chúng nhân danh đảng và nhà nước Việt cộng để hù đọa và đưa bọn bất lương đến đập phá nhà cửa của lương dân và bạo hành nhân tâm con người Công Lý. Ấy là chưa kể đến những lau nhau ăn theo từ các cơ quan truyền thông, báo chí truyền hình, đài phát thanh. Chúng tự chà đạp và phi báng nhân phẩm, nhân tâm của chúng bằng cách cắt xén lời Công Lý, và hô hoán hỗ trợ cho cuộc bạo hành vô đạo này.

9. Hơn thế, đảng và nhà nước Việt cộng sau gần 6 thập niên cầm quyền đã tạo ra được một xã hội không còn biết đến sự thật, lời thật là gì. “ ngày nay chúng tôi phải nói dối nhau mà sống…. Trần quốc Thuận, phó chủ nhiệm quốc hội Việt cộng, khoá X” rồi “người ta nói dối lem lẻm, nói dối ở mọi nơi và mọi lúc… Nguyễn Khải, nhà văn nhớn của chế độ việt cộng” Bấy nhiêu vẫn chưa đủ, chúng còn thi nhau tạo ra một xã hội không còn luân thường đạo lý. Vào cửa quan chỉ gặp trộm cướp. Ra đường thì gặp toàn công an bất lương. Vào trường học thì ma cô bất lương hành nghề gạ tình lấy điểm, tung hoành. Người Dân lành trên khắp cả nước thì trở thành những dân oan lang thang đi đòi nhà đòi đất! Độc Lập ở đâu, Tự Do, Dân Chủ và Hạnh Phúc ở đâu? Ấy la chưa kể đến biết bao nhiêu phụ nữ Việt Nam bị chúng bán ra ngoại quốc để làm nô lệ tình dục cho khắp năm châu

Đấy là một số thành tích vẻ vang của nhà nước Việt cộng trong mấy chục năm qua tạo ra. Nhìn vào bảng thành tích này, Ai ? Ai? Và những ai nữa dám hãnh diện, dám tự hào về những hành động bất lương, vô luân của nhà cầm quyền Việt cộng?

Câu trả lời rõ ràng và dứt khoát là:

- Ngoài những cán cộng của Việt cộng và bọn việt gian ra, không một ngưòi Việt Nam nào dám hãnh diện, dám ngửa mặt lên vì những hành động dã nhân của nhà nước Việt cộng này.

Nói cách khác, toàn thể dân tộc Việt Nam là những ngưòi có lòng tự hào, có lòng tự trọng dân tộc đều thấy tủi hổ và nhục nhã vì cái hộ chiếu của mình do nhà nước Việt cộng cấp phát, nhưng đành phải ngậm đắng qua ngày.

Như thế, lòng tự trọng của Đức Tổng Giám Mục Hà Nội đã biểu lộ một cách toàn bích khi Ngài công khai nói trước cuộc họp của cái gọi là chủ toạ đoàn của uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội. Lời ấy không chỉ được nói trong cuộc họp, nhưng đã truyền đi trong cả nước, ra hải ngoại, toàn thể nhân dân đã nức lòng vì lời công tâm ấy. Như thế. lời lẽ ấy không chỉ biểu lộ sự nghiêm minh của lòng tự hào dân tộc. Nhưng còn là một bản án cho những hành động vô đạo lý do chế độ này tạo ra. Chúng phải chịu trách nhiệm vì đã làm ô nhục tiền nhân, cũng như danh dự của người Việt Nam .

Nói cách khác, Đó là lời Công Lý, ngài nói thay cho toàn dân Việt. Toàn thể dân tộc Việt Nam hãnh diện và biết ơn tấm lòng tự trọng và qủa cảm ấy.

- Nhưng tại sao Việt cộng lại lên án Ngài?

- Việt cộng lên án Ngài vì Những kẻ sống trong gian dối vô đạo, không bao giờ dám nghe, chứ đừng nói chi đến việc chúng sẽ chấp nhận lời Công Lý. Vì chúng u mê bảo vệ sự vô đạo nên phải lên án Công Lý.

- Vì sợ tiếng nói Công Lý sẽ bùng nổ trên cả nước và sợ nhân tâm sẽ quy về Ngài để đứng lên đòi lại công Lý, đòi lại Tự Do. Và vì phát xuất từ một nền văn hóa thấp hèn, suy đồi về đạo đức luân lý gia đình, không có nền tảng xã hội, lớp cán cộng không thể hiểu nổi lòng tự hào và tự trọng của dân tộc mang ý nghĩa gì? Chính vì sự không có hiểu biết này, nhà nước Việt cộng đã cắt xén lời nói của Ngài trên hệ thống phát thanh, trên truyền hình, báo chí rồi khích động, đưa những quân bất lương đến đập phá hàng rào đất đai của toà Giám Mục và của Thái Hà và cuồng loạn trong mưu đồ bôi nhọ một hình ảnh kiệt xuất trong tự hào của Việt Nam.

Tuy nhiên, ngày nay dân ta đã hiểu thế nào là Công Lý, thế nào là vô đạo. Nên chỉ có mình nhà nước Việt cộng và hệ thống của chnúg hãnh diện và tự hào về những hành động cuồng bạo, bất nhân vô đạo lý của họ. Toàn dân ta thì không.

Thật vậy, càng nhìn, càng đọc, càng thấy chúng diễn xuất trọn vẹn vai trò Chí Phèo của Nam Cao. Chỉ khác là thằng Chí Phèo không làm lãnh đạo và tiếc rằng, tác giả Nam Cao đã viết xong câu chuyện của Chí Phèo vào năm 1941 nên đã không ghi cho Chí Phèo cái họ Hồ! Nếu ông viết trễ mấy năm, cái kết chắc phãi khác?

Dầu vậy, bao lâu ánh nắng của mặt trời còn chiếu dọi trên đấu thì bấy lâu Công Lý còn hiện diện và người bước đi trong công lý luôn hân hoan và vui mừng. Và Ngày Vui Mừng của con dân Việt đã nằm trong tầm tay rồi.

Bảo Giang

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Tôi cũng muốn nói lên sự thật
Mặc dù đang sống tại Việt Nam, sau khi đọc bài “Bức tâm thư gởi Đảng và những người yêu mến sự thật” của cô Lê Thị Thanh Thảo đăng trên trang web vietcatholic. net, tôi thấy mình không thể ngồi yên cách hèn nhát được mà cần phải góp tiếng nói cùng với những người yêu nước bày tỏ tâm tình với nhà lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Ai sẽ lên tiếng... Who will speak

Trước tiên tôi xin giới thiệu về bản thân mình. Tôi tên là Trần Quốc Cường, 28 tuổi, quê Thái Nguyên, tốt nghiệp đại học sư phạm Hà Nội khoa Văn. Hiện nay tôi đang học cao học và công tác tại TPHCM. Tôi là con của cán bộ huyện đã về hưu, và cũng như cô Thảo, tôi không phải đạo Thiên Chúa. Có lẽ nhiều người sẽ hỏi tôi: không phải đạo Thiên Chúa thì viết làm gì? Tôi xin trả lời ngay: tôi viết vì ủng hộ sự thật! Không phải chỉ những người có đạo mới yêu sự thật mà tất cả mọi người đều yêu mến nó.

Mới đây tôi được một đồng nghiệp gởi bài “Bức tâm thư gởi Đảng và những người yêu mến sự thật” của cô Thanh Thảo, một nữ sinh viên du học tại Australia, đăng trên trang web vietcatholic. net. Thế là lần đầu tiên tôi biết trang web này. Tôi đã mất mấy đêm để đọc các thông tin trên đó. Và từ trang web, người ta cho tôi đường link qua nhiều trang khác. Đọc xong tôi cảm thấy mình thật xấu hổ và buồn vô cùng vì tôi nhận ra mình đã bị lừa đảo suốt 28 năm qua!

Thực ra chuyện tranh chấp đất đai trong vụ Tòa Khâm Sứ và nhà thờ Thái hà giữa người công giáo và chính quyền không lạ gì đối với tôi, vì báo đài trong nước có đưa tin. Nhưng từ trước đến nay tôi vẫn nghĩ đó là do một số giáo sĩ đã lợi dụng kích động quần chúng làm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, và tôi cũng bực tức với lời phát biểu của bác giám mục Ngô Quang Kiệt về tấm hộ chiếu Việt Nam. Nhưng khi đọc những thông tin trên trang web vietcatholic tôi mới thấy cái nhìn của mình quá thiển cận. Mình chỉ nghe được một chiều. Mình bị nhà nước nhồi sọ. Nhất là khi đọc xong bài của bạn Thảo và những bài tâm huyết khác tôi cảm thấy buồn bã và căm tức những cán bộ ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội; căm tức hệ thống báo đài VN và căm tức cả các ông lớn khác như ông Mạnh, ông Dũng, ông Triết... vì mấy ông này là đầu sỏ của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam. Chính mấy ông này đã làm ngơ để thuộc cấp của mình làm những việc lừa đảo và hại nhân dân trong thời gian qua.

Tại sao tôi nói thế? Bởi vì khi tòa giám mục Hà nội bị quân của các ông phong tỏa để xây công viên, bác giám mục Kiệt đã gởi đơn khẩn cấp kêu cứu các ông, tại sao các ông không chỉ đạo tạm ngưng để xem xét? Các ông không nhận được đơn hay nhận được mà không đọc? Các ông mù chữ không đọc được hay đang “bận” uống bia ôm hoặc tắm bùn như ông bộ trưởng GTVT trước đây đã làm? Tại sao các ông không cho báo chí đăng tin rằng: miếng đất đó trước đây đang phục vụ nhu cầu tôn giáo của giáo hội Thiên Chúa, rồi bị Đảng chiếm dụng?. Và những người này đã kiên nhẫn làm đơn suốt mười mấy năm trời để đòi lại, các ông không điếm xỉa mà lại rục rịch xây khách sạn, vũ trường gì đó. Đến khi họ không còn con đường nào khác đành phải thắp nến cầu nguyện hằng đêm để xin trời phật phù hộ. Khi họ đang cầu nguyện, các ông cho công an đến đánh và xịt hơi cay vào mặt họ.Tại sao các ông không cho báo chí nói như vậy mà chỉ nói rằng họ là những người không tuân thủ pháp luật, gây mất an ninh trật tự xã hội?

Đợi mãi đến khi công viên xây xong, các ông mới gặp mấy giám mục. Tưởng sẽ giải quyết được gì cho họ nhưng cũng không được. Thật là hết nói! Khi biết đầy đủ thông tin về vụ này, tôi cũng có tâm trạng như cô Thảo: “Chẳng lẽ Đảng Cộng Sản Việt Nam không còn ai tài ba hơn, không còn ai học cao hiểu rộng hơn, không còn ai cao thượng hơn để lãnh đạo và giải quyết các yêu cầu của người dân cách hợp lý hợp tình và thuận lòng người sao?”

Về lời phát biểu của bác giám mục Kiệt, tại sao các ông không cho báo chí đăng nguyên văn lời phát biểu của bác ấy mà chỉ cắt xén lấy một câu rồi xuyên tạc theo ý các ông? Đọc toàn văn lời phát biểu của bác Kiệt, tôi không thấy bác ấy là người phản bội dân tộc, mà phải nói là một anh hùng, vì bác ấy làm nhiều nghĩa cử cao đẹp. Nhất là khi nghe băng, tôi thấy giọng bác điềm đạm và thẳng thắn chứ không hằn học như mấy phát ngôn viên truyền hình tường thuật. Tại sao các ông làm ngơ để báo chí mạt sát người dân như vậy? Các ông đã chỉ đạo một cách ngu xuẩn để gây ra tai hại không lường được! Tôi xin phân tích để các ông thấy.

1. Khi đơn phương quyết định xây công viên, các ông chỉ được việc chứ không được người. Nếu đó là công việc liêm chính thì tại sao, trong khi xây dựng, các ông cho công an đứng dày đặc xung quanh? Công viên đã xây xong, cây cối xanh tươi, nhưng lòng các ông có thanh thản không? Nếu thanh thản thì tại sao các ông lại tiếp tục cho gắn camera, máy nghe trộm để theo dõi khu vực tòa nhà của bác giám mục Kiệt? Nếu các ông đang làm một việc chính nghĩa thì tại sao lại sợ những người dân bình thường? Tại sao các ông không đủ tri thức để tính toán xây dựng một công trình có tiếng khen ngàn đời mà lại xây dựng một công trình bị nguyền rủa muôn thuở?

2. Vì tầm nhìn quá thiển cận nên các ông chỉ thấy người Thiên Chúa giáo đang đòi mấy hecta đất chứ không nhận ra họ đang đòi công bằng và sự thật cho đất nước! Trước đây thì không, nhưng bây giờ tôi triệt để tán thành công việc của họ. Đất nước chúng ta còn quá nhiều bất công, gian dối, tham nhũng và áp bức... nên rất cần những người dám nói sự thật như bài của cô Thảo: “Đất nước Việt nam cần nhiều con người can đảm nói lên sự thật như Giám Mục cùng những người khác đã làm. Chúng cháu rất trân trọng những vị này hơn nhiều cán bộ nhà nước” . Những người chân chính, bất luận có tôn giáo hay không, rất trân trọng công bằng và sự thật. Họ sẵn sàng chết để bảo vệ những giá trị đó. Một đất nước hùng mạnh phải xây dựng trên công bằng và sự thật.

3. Cũng vì tầm nhìn quá thiển cận nên các ông chỉ đạo cho báo đài xuyên tạc và mạt sát bác giám mục Kiệt. Các ông tưởng như vậy sẽ làm mất uy tín của họ sao? Trái lại chính các ông bị mất uy tín. Chính Đảng Cộng Sản bị mất uy tín. Cả hằng ngàn người trẻ, trong đó có tôi, nhờ dịp này đã giác ngộ và nhận ra mình bị lừa đảo suốt mấy chục năm qua. Cô Thảo đã thay mặt cho chúng tôi nói lên điều đó: “Bây giờ chúng cháu đủ khôn lớn để nhận định rằng báo chí Việt Nam không còn là công cụ của nhân dân mà chỉ là công cụ của một phe đảng, một băng nhóm nào đó thôi. Nó không còn phục vụ lợi ích của nhân dân nữa mà chỉ phục vụ cho lợi ích của bọn cầm quyền. Vì thế chúng cháu không còn tin vào báo chí Việt Nam như xưa nữa” .

Lý do khác khiến tôi viết bài này vì tôi cũng ở trong số những người yêu mến sự thật. Hơn nữa tôi được xã hội xếp vào giới trí thức, ăn lương theo giới trí thức. Vì thế tôi phải suy nghĩ và đánh giá sự việc theo đúng tầm trí thức. Tôi không thể im lặng cách hèn nhát mà phải có trách nhiệm góp sức thông tin sự thật sau khi mình đã nhận ra. Từ khi đọc bài viết của cô Thảo tôi thấy xấu hổ với chính mình! Tại sao một cô bé còn đang ngồi ghế nhà trường mà nhận ra sự thật và lên tiếng bênh vực, còn mình thì không? Tôi thấy mình không thể để một chế độ gian dối đè đầu đè cổ mãi nữa. Tôi phải đứng lên giải thoát chính mình và đẩy lui sự gian dối. Tôi hoàn toàn khâm phục tinh thần kiên cường của bạn Thảo. Tôi sẽ tiếp tục kêu gọi nhiều người đóng góp tiếng nói chân thật cho đất nước Việt Nam thân yêu. Có nhiều người như vậy, tôi hy vọng trong tương lai không xa, chúng ta sẽ thoát khỏi cảnh bị áp bức và gian dối như hôm nay.

Tôi xin ai đọc bài này vui lòng gởi cho những người khác, nhất là những người ở trong nước, để họ không còn bị nô lệ bởi một chế độ đầy bất công và lừa bịp nữa. Tôi xin các báo đài trong nước hãy đăng bài của tôi để phổ biến đến mọi người.

Tôi cũng xin cám ơn cô Thảo. Cám ơn trang web vietcatholic cùng những trang web khác tôi đã đọc. Xin cám ơn tất cả những người đã và đang nói sự thật, dù họ thuộc tôn giáo nào hay không có tôn giáo. Nhờ họ mà tôi tìm lại được chính mình.

TPHCM ngày 10.10.2008

Trần Quốc Cường, Bình Thạnh

Địa chỉ mail lien lạc: trqcuong95@yahoo. com

Post Reply