Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Sàng Lọc Trí Thức

Nguyễn Ðạt Thịnh

Trí thức là những người lính tiền đạo trên hướng tiến bộ của mọi quốc gia, tiến bộ thực hiện từng ngày, trên nhiều địa hạt, từ sáng chế khoa học, đến những cải thiện thuận lợi nhà máy sản xuất, những khám phá y học…, sáng chế không chỉ tập trung vào những quốc gia tiền tiến, mà ngay cả từ những nước nhỏ hơn nhưng biết trọng dụng trí thức, đào tạo trí thức và tạo điều kiện cho họ sáng tạo trong việc làm.

Một thí dụ: người trí thức Nhật đã thành công trong việc “bình dân hóa” chiếc xe hơi bằng những sáng tạo của họ; bình dân hóa bằng việc hạ giá chiếc xe, giảm tốn kém sử dụng để vừa tầm vói của mọi công nhân thông thường. Họ làm chiếc xe hơi và cái máy xe nhỏ lại, để việc sử dụng xe hơi bớt tốn kém, không còn là độc quyền chỉ dành cho người Âu, Mỹ, mà trở thành phương tiện di chuyển hàng ngày của mọi người, kể cả những người Á, Phi.

Sự thành công của họ đã loại những chiếc xe V 8 của Hoa Kỳ, nặng bốn, năm tạ, máy 5 lít trở lên, dài gần chục thước; biến những chiếc xe cồng kềnh này thành lỗi thời, xấu xí đến mức chính khách tiêu thụ người Mỹ cũng chê, không dùng nữa.

Sáng kiến của những nhà trí thức, kỹ sư Nhật không chỉ giúp sản phẩm Nhật thắng sản phẩm Mỹ trên thị trường xe hơi, họ còn thành công cả trên những thị trường xe 2 bánh, máy truyền hình, máy ảnh; giờ này người Mỹ thích xe mô tô Honda, Suzuki hơn những chiếc Harley cồng kềnh ngày xưa. Hỏi họ về một hãng Mỹ thứ nhì sản xuất xe 2 bánh, 99% người Mỹ không kể tên được hãng này.

Thí dụ thứ nhì: Kỹ sư Nam Hàn đang giúp sản phẩm Korean dành được một phần quan trọng trên những thị trường máy điện thoại di động và máy truyền hình. Giờ này những trade mark Sam Sung, Hyundai đang trở thành quen thuộc với khách hàng Hoa Kỳ, và những chiếc Santa Fe, Sonata đang chia một mặt đường khá lớn trên mọi xa lộ liên bang.

Sau khi nhìn quanh những thành quả của trí thức Nhật và Nam Hàn trên thị trường Mỹ, hãy thử nhìn và tìm hiểu về tình trạng trí thức của người Việt Nam.

Nhận xét đầu tiên là người Việt Nam rất thông minh, điều này có thể được chứng minh vô cùng dễ dàng bằng những thành công rực rỡ của thế hệ thứ nhì di dân Việt Nam sang Hoa Kỳ và những quốc gia khác.

Người trẻ Việt Nam đang nắm giữ nhiều chức vụ quản trị trong các hãng xưởng Hoa Kỳ, ấy là chưa kể những khoa học gia đang được nể phục với những sáng tạo của họ trên các địa hạt hóa học, khoa học chiến tranh, và ngay cả trong cơ quan NASA nữa.

Nhận xét thứ nhì là tại Việt Nam việc đào tạo trí thức bị sàng lọc bằng những hệ thống tàn độc; thực dân Pháp sàng lọc trí thức Việt Nam bằng hệ thống học đường Kim Tự Tháp: mỗi quận chúng cho lập một trường tiểu học, mỗi tỉnh một trường trung học, và mỗi “kỳ” (Nam, Trung, và Bắc Kỳ) một trường đại học. Do đó trong một ngàn cậu học sinh tiểu học, chỉ một cậu vào đến bực đại học.

Sau cuộc nội chiến, chiếm được toàn cõi Việt Nam, Việt Cộng sàng lọc trí thức bằng chính sách “học tài, thi lý lịch” để chỉ con cháu “cách mạng” được lọt vào đại học. Chính sách này và khả năng yếu kém của các giáo sư đại học Việt Cộng tạo ra hàng ngàn ông tiến sĩ không có thực học gây bế tắc cho hoạt động kinh tế và kỹ nghệ Việt Nam khi họ được nhận vào thị trường thế giới WTO.

Sau 33 năm thành công trong việc loại trừ con cháu những người Việt Nam chống cộng trên ngưỡng cửa trường đại học, giờ này Việt Cộng vẫn tiếp tục công cuộc gạn lọc, sàng xẩy; biện pháp mới giúp chúng phân biệt con cháu những gia đình thân cộng và những gia đình còn lại là tiền; chúng tính tiền học đại học rất nặng để chỉ những người làm việc hay cộng tác với nhà nước mới có đủ tiền cho con đi học.

Về chính sách học phí đại học, tờ Tuổi Trẻ viết, “TT - Trên thực tế, nhiều trường ĐH đang cố “đẻ” ra không ít khoản thu phụ bên cạnh học phí vốn đã không nhỏ đối với sinh viên, đặc biệt là những sinh viên nghèo.

“Ngoài học phí phải đóng như những trường ĐH công lập khác, sinh viên hệ ĐH khóa 1 học theo niên chế sẽ phải đóng thêm 200.000 đồng/học kỳ tiền cơ sở vật chất. Thêm vào đó là 100.000 đồng lệ phí thư viện. Nếu cộng với 900.000 đồng học phí, sinh viên chính quy khóa 1 sẽ phải đóng 1.200.000 đồng/học kỳ. Đối với sinh viên ĐH theo học hệ liên thông, số tiền này còn cao hơn gần gấp đôi. Đặc biệt, sinh viên bậc CĐ phải đóng tiền cơ sở vật chất nhiều hơn hẳn sinh viên ĐH với số tiền 350.000 đồng/học kỳ cùng lệ phí thư viện 100.000 đồng. Nhưng đó vẫn chưa phải là mức cao nhất. Những học sinh học hệ trung cấp bốn năm còn phải đóng tiền cơ sở vật chất xấp xỉ học phí với 500.000-600.000 đồng/học kỳ.

“Sinh viên học theo hình thức tín chỉ cũng không được loại trừ khỏi cách thu tiền lạ lùng này. Trường chia đều phí cơ sở vật chất ra từng tín chỉ để buộc sinh viên phải nộp. Theo đó, cứ mỗi tín chỉ sinh viên ĐH đóng 52.000 đồng học phí, đồng thời đóng thêm 28.000 đồng tiền cơ sở vật chất.”

Chuyển đổi số tiền này thành mỹ kim thì học phí tại Sài Gòn không đắt hơn học phí những trường đại học tại Hoa Kỳ, nhưng khác biệt giữa hai hệ thống trường ốc là số học phí 1.2 triệu đồng tại Sài Gòn có thể lớn hơn lương những người thợ dệt, thợ giầy đang liên miên đình công đòi tăng lương trước những xưởng họ làm việc tại Biên Hòa hay Bình Dương; trong lúc số tiền học của cậu sinh viên California không thể nào nhiều hơn lương ông bố.

Ấy là chưa nói đến việc cậu sinh viên Ca Li còn có quyền xin grant, và cả cậu lẫn ông bố đều có quyền đi vay loan theo chương trình cậu học.

Việt Cộng sẽ không làm như vậy vì chúng có nhu cầu sàng lọc để duy trì tình trạng “con vua thì lại làm vua/Con ngụy ở tù thì quét lá đa.”

Nguyễn Ðạt Thịnh

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Vài cảm tưởng về
Tiếng hát Phan Văn Hưng

Hội Trường Nhật Báo Viễn Ðông không còn chổ với số ghế tối đa; những khán giả đến sau đều phải đứng dựa tường, chen chúc nhau. Tuy đông như vậy, nhưng không khí trong hội trường rất ấm cúng, trật tự, lắng nghe một cách trang trọng! Nhạc sĩ Phan Văn Hưng, với dáng dấp khỏe mạnh, lanh lẹ đầy sức sống. Bộ râu rất đặc biệt của Phan Văn Hưng cũng là một hấp dẫn tò mò! Ðó là quan sát đầy chủ quan của người viết!

Chưa bao giờ tôi đi xem một buổi trình diễn nhạc hay hội họp nào trong Cộng Ðồng mà có Bà Xã tôi đi kèm, nếu buổi hội họp đó không có nhiều người vợ tôi quen biết. Nhưng kỳ nầy, Bà Xã tôi lại vui vẻ chịu đi, vì muốn nghe Phan Văn Hưng hát. Quả thật bài hát “Bạn bè của tôi” thường được đài phát thanh Little Saigon Radio, trong chương trình “Lá thư Saigon” đã làm cho tác giả nổi tiếng khi chẳng ai biết anh xuất xứ từ đâu. Khi đang lái xe tìm Parking trên đường Moran, vợ tôi cười nói với tôi: “ Phan Văn Hưng và anh cùng thời phải không? Lúc anh ta học ở Pháp với Trần Văn Bá thì anh cũng Ðại Học Sài Gòn...” Tôi cười quay qua cải: “Thời đi học của Phan Văn Hưng và Trần văn Bá có lẽ sau anh. Lúc họ là Sinh Viên ở bên Pháp có thể anh đang chiến đấu ở Pleiku. Cứ tính lúc Trần Văn Bá bị xử tử là lúc đó anh đang ở tù ngoài Miền Bắc VN!”... “ Không! em nghĩ họ với anh cùng thời, có khi cùng lứa tuổi...”

Suốt hai giờ ngồi nghe anh Hưng hát, những bài hát của chính anh sáng tác và có lẽ chỉ có anh hát mới nói hết được ý nghĩa và những ẩn chứa toát ra từ giọng vút cao, thanh và khác hẳn những tiếng hát bình thường. Tiếng đàn nhuần nhuyễn trầm đều chợt nổi lên những bâng khuâng khoắt khoải và uất ức! Người ta có thể ngồi nghe anh hát suốt buổi mà không thấy chán, nhưng những quặn thắt lương tâm, những giằn xé từ âm ba cộng với giọng hát vút cao, làm cho người nghe du vào hoài niệm, chới với trong các dử kiện lịch sử thảm thương từ tiếng hát Phan văn Hưng! Ðó là chứng tích lịch sử cận đại, là trận bảo dân tộc, lôi cuốn bạn bè, người thân của ta vào một vũng lầy thê thảm chưa từng có!

Ðến đây, chúng ta nên xem một email của chị Kiều Mỹ Duyên gởi cho nhà văn Việt Hải để thấy được rỏ nét buổi hát của Phan Văn Hưng:

“ Việt Hải ơi! Chị đến 2PM kém 3 phút, không còn lối đi, có một ông dẫn chị vào hàng ghế đầu, chị dẫn theo 4 người, 3 từ Âu Châu đến, một người từ Long Beach, đi thẳng lên hàng nhất, ngồi đâu ngồi đó không được đứng, không được đi tới đi lui, không còn đường nào mà đi, tổ chức cái kiểu nầy thì may quá không có ai xĩu cũng là phúc đức ông bà để lại. Chị nói với BS Nguyễn Thị Nhuận: em ơi còn ghế không em, cho thêm ghế em ơi! Nhuận nói: Chị ơi! có bao nhiêu cái ghế trong tòa báo Viễn Ðông đem hết ra rồi, bô lảo cũng đứng, Nhuận cũng đứng, mọi người đều đứng, đi nghe nhac đứng, đứng từ cửa sau không thấy nhạc sĩ đâu, Phan văn Hưng trước khi hát: Minh ơi! cho anh bài này, Minh ơi! cho anh bài kia... May mà Minh là con trai nếu Minh là đàn bà là tiêu mạng rồi... Bây giờ thì Phan Văn Hưng vẫn còn nằm dưởng bệnh, bỏ nhiều talk show hôm nay. Ngoài máy lạnh mở tối đa, còn mấy cái quạt máy cũng đem ra hết, chị cũng gần xĩu, cho đến lúc giải lao, chị vào bên trong nhà báo để thở, gặp BS Nhuận chị nói: Nhuận ơi! Chị sắp tắt hơi rồi. Nhuận bảo chị ra ngoài thở một chút rồi vào... Mai mốt Phan Văn Hưng có đến, em làm ơn tổ chức ở sân trường Ðại Học có cỏ, có cây còn thở được em ơi!....

Ta thử xem lời ca của Phan Văn Hưng, qua các nhạc phẩm tiêu biểu, sẽ thấy ẩn chứa một nổi niềm chua chát, uất ức... Toàn thể lời ca là bản cáo trạng sống, là nhân chứng trong một giai đoạn lịch sử bi tráng cùng cực của cả dân tộc:

“Em sinh ra em làm người Việt Nam
Trong gian ngỏ tối không nước không đèn,
Vòng tay âu yếm của mẹ sầu thương
Ðôi tay khẳng khiu, đôi tay thật buồn,
Vòng tay âu yếm ( mẹ ơi) đôi tay thật buồn
Em sinh ra em là người Nghệ An.....”

“Ta muốn hát cho thằng bé tát dầu,
Chết nơi cầu cạnh xưởng Ba Son....”

“Bé thơ ơi, cuộc đời em viên sỏi
Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu...”

“Chúng ta là bước người xông pha
Chúng ta là những lớp phù sa
Chúng ta là ngọn đuốc bùng to
Chúng ta là Tự Do!!!...”

“ Bạn bè của ta...
Thằng cụt chân thì đạp xích lô
Còn thằng giàu cha... là thằng ma cô...”

Phan Văn Hưng đã làm cho chúng ta, người Việt Nam tị nạn Cộng Sản trên khắp thế giới lắng nghe và nhận diện đâu là nguyên nhân của trận bão dân tộc làm tan nát từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, từ già đến trẻ trong tất cả mọi phương diện từ đạo đức đến nhân cách, từ gian dối này đến thủ đoạn nọ...!

Trong cuộc chiến tranh sống còn, chúng ta đã chứng kiến một Trịnh Công Sơn và những bản nhạc đòi làm chứng nhân cho giai đoạn lịch sử mà, người miền Bắc tràn xuống miền Nam để làm sứ mạng nhuộm đỏ toàn thể mảnh đất tự do còn sót lại. Họ Trịnh đã đem tiếng hát phản chiến làm cho bao người bị ru ngủ, buồn chán, ghét chiến tranh trong lúc cần họ nhất. Phan Văn Hưng cũng làm cái việc đem tiếng hát của mình làm nhân chứng cho thời kỳ cả nước Việt bị ách “đô hộ” của chũ nghĩa CS! Anh ghi lại những hình ảnh đau thương, thống khổ của toàn dân tộc. Nhạc và lời buồn đó ăn sâu vào từng người tha hương đang cố hết sức đấu tranh đòi tự do cho dân tộc. Nhưng trong lời ca tiếng nhạc của Phan Văn Hưng không kêu gọi tính đấu tranh, không phải là loại nhạc đấu tranh mà chỉ than vãn, chỉ ghi nhận những hình ảnh, sự kiện đầy đau khổ lên nét nhạc lời ca.

Chúng ta đang cần những loại nhac đấu tranh và xây dựng như nhạc và lời Nguyễn Ðức Quang, Xuân Ðiềm và ban Tù Ca cùng những nhạc sĩ nói lên vừa là nổi đau khổ của toàn thể dân tộc vừa kêu gọi phất cờ dũng cảm vùng đứng thẳng người lên nhìn về phía trước. Rất tiếc, nhạc và lời của Phan văn Hưng không có được những đặc tính ấy.

letamanh

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Đôi dòng cảm nghĩ về các bức thư của nữ tù nhân Hồ Thị
Bích Khương viết từ trong trại giam tỉnh Nghệ An gửi ra!


Nguyễn Khắc Toàn
Vào những ngày cuối tháng 9/2008 vừa rồi, khi chốt canh gác lần thứ 10 trong vòng gần 3 năm qua do công an thành phố Hà Nội tái lập trước nhà tôi vẫn còn đang hoạt động, thì bất chợt một hôm tôi nhận được 1 bức thư từ trong Nghệ An gửi ra theo đường bưu điện dạng “thư bảo đảm”.

Tôi vội xé phong thư và đọc liền 1 mạch 3 lá thư gửi kèm trong đó, gồm có 2 thư viết riêng cho tôi và 1 bản khiếu nại tố cáo do đích thân chị Hồ Thị Bích Khương quê ở xóm 3, xã Nam Anh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An viết, còn người gửi cho tôi được ghi trên bì thư là chị Hồ Thị Lan - người chị ruột của Bích Khương. Điều đặc biệt, là tất cả các thư này đều được viết trên nền bìa giấy mầu vàng, cứ 1 thư gồm 2 tờ 4 trang chữ được viết kín sau đó khâu đính lại với nhau ở góc trên bằng chỉ trắng, nền giấy rất mỏng y như giấy pơluya chuyên dùng để viết thư được lột từ vỏ thùng hộp mỳ ăn liền, nó không phải là khổ giấy A 4 thông thường. Bởi thế, khi scan theo các bản gốc này thì có đoạn thư viết dài quá không chụp quét được hết nội dung các dòng chữ viết trên đó. Do vậy, tôi phải chụp quét tới 2 lần để lấy hết các dòng viết rồi đánh dấu thứ tự theo số bằng trang các trang 3a và 3b để minh hoạ cho các bức thư đã được đánh máy lại nhằm giúp người đọc hiểu hết nội dung người viết, và kèm theo các bản thư gốc viết tay cùng phong bì thư để minh chứng. Điều đáng chú ý là bản khiếu nại tố cáo của chị được gửi tới các cơ quan quyền lực nắm sức mạnh của chế độ từ tỉnh đến đảng và nhà nước ở trung ương. Các địa chỉ gưỉ đến, cụ thể gồm có : Giám đốc công an tỉnh Nghệ An, ông bộ trưởng bộ công an Lê Hồng Anh, Bộ chính trị trung ương ĐCSVN, Ban bí thư TW ĐCSVN, Viện kiểm sát tối cao…nhưng tất cả đều không được trả lời hay hồi âm theo luật định hiện hành cho chị, người tù đang mỏi mòn trong ngóng ánh sáng công lý nơi đường hầm tăm tối !!!...

Nếu ai đó có từng bị tù đầy vì lý do chính trị, tôn giáo, chính kiến hay kể cả tù hình sự tại các lao ngục của thể chế mang danh XHCN ở Việt Nam hiện nay thì mới thấy hết ý nghĩa quý giá của việc chuyển được các lá thư này ra tới ngoài xã hội. Nhất là, việc nó lại được công bố trên Mạng lưới internet toàn cầu như hiện nay, thì đây quả là một sự kỳ diệu rất hiếm có và đáng nể phục cho thân phận những người tù bất đồng chính kiến này !!!

Đọc xong các lá thư lần thứ nhất, sau đó tôi tiếp tục đọc đi đọc lại mấy lần nữa và suy nghĩ quyết định phải công bố lên Mạng internet cho công luận rộng rãi biết. Bởi vì, tôi thấy rằng đây không chỉ là việc nữ tù nhân Hồ Thị Bích Khương gửi thư riêng cho tôi, mà còn muốn thông qua các lá thư đó để nhờ tôi hãy chuyển giúp chị đến công chúng, đến tất cả những ai quan tâm tới công cuộc đấu tranh giành lại tự do, dân chủ, nhân quỳên và công lý trên quê hương, xứ xở này nữa. Đó là hãy chuyển những dòng tâm tư và đôi nét về cảnh ngộ của chị nói riêng cũng như số phận của hàng trăm, hàng ngàn tù nhân chính trị, tôn giáo nói chung trên cả nước mà các chính trị phạm đang tồn tại mòn mỏi trong ngục tù chế độ của đảng, nhà nước CHXHCN Việt Nam. Đây cũng chính là những bằng chứng để phản chứng minh cho điều mà họ không ngớt phủ nhận leo lẻo, hoặc chối bay biến trước cả thế giới và dư luận dân chúng quốc nội. Là không bao giờ có những tù nhân vì chính kiến, vì chính trị hay vì lý do tôn giáo trên lãnh thổ Việt Nam, quốc gia mà đảng Cộng sản và nhà nước của họ đang nắm toàn quyền cai trị một cách triệt để, toàn diện và tuyệt đối...!!!

Qua nội dung các thư của Bích Khương viết từ ngục tối, nơi chị đang chịu đoạ đầy khốc liệt, tôi thực sự cảm phục đến kinh ngạc sự can đảm lạ thường của một phụ nữ đã và đang là nạn nhân rất tiêu biểu của sự đàn áp tàn khốc mà hoàn cảnh của chị, một nông dân nghèo quê xứ Nghệ giàu lòng ái quốc, thương dân, căm ghét bất công, áp bức, lên án không chùn bước trước nạn quan quyền chà đạp kiếp phận người dân ở tầng lớp cần lao !

Quê hương Nghệ An của chị, dải đất miền Trung Xứ Nghệ nơi sản sinh ra các điệu hò ví rặm bát ngát thơ mộng, địa danh nơi đây có núi Hồng Lĩnh, có dòng sông Lam mát rượi chảy qua… Chính nơi đây cũng rất nổi tiếng với những danh nhân văn hoá, những cuộc nổi dậy quật khởi chống giai cấp thống trị bạo tàn trong suốt chiều dài lịch sử oai hùng và cũng thật bi tráng, tủi hổ đến não lòng !!!

Gần 80 năm về trước nơi đây đã chứng kiến hàng ngàn nông dân các huyện Thanh Chương, Nam Đàn nhất tề đứng dậy làm nên một Xô Viết Nghệ Tĩnh Đỏ. Một cuộc nổi dậy mang tính ấu trĩ, cực đoan và cực tả do phải chịu ảnh hưởng sâu đậm của chủ nghĩa cộng sản Bôn sê vích khi ấy bên nước Nga và Liên Xô cũ mà các lãnh tụ cộng sản như Lê nin, Staline cầm đầu. Và những người cộng sản xứ An Nam lạc hậu thế hệ đầu tiên, đầu đàn đã ngộ nhận đây là con đường cứu cánh cho cả dân tộc, rồi được họ du nhập vào quốc nội trong những năm cuối thập niên 20 và đầu thập niên 30 của thế kỷ trước. Cuộc nổi dậy của tầng lớp các nông phu, thợ thuyền nghèo đói đứng lên chống chế độ thực dân Pháp và phong kiến mục nát lúc đó đã bị dìm trong bể máu với hàng trăm dân lành bị giết hại dã man, thật tai hại xót xa và lãng phí vô cùng !

Sau ngày hoà bình năm 1954 lập lại tại miền Bắc Việt Nam, nơi đây đã chứng kiến cuộc trỗi dậy của hàng ngàn nông dân huyện Quỳnh Lưu đứng lên chống lại bọn cường hào, địa chủ ác bá mới mang danh “giai cấp vô sản đỏ” thống trị. Thế rồi hậu quả, họ cũng chịu chung số phận bị đàn áp tan hoang như cuộc nổi dậy Xô Viết Nghệ Tĩnh năm xưa dưới thời thuộc Pháp !!! Nơi đây cũng chính là quê hương chôn rau cắt rốn của các chí sĩ Phan Bội Châu, Phạm Hồng Thái và của các thủ lãnh đảng CSVN như ông Hồ Chí Minh, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Hoan, Trần Quốc Hoàn... cùng rất nhiều lãnh tụ kỳ cựu của khác nữa của đảng CSVN trước đây và hiện nay không sao kể hết....

Nhưng thật đáng buồn thay, máu xương và mồ hôi nước mắt của dân chúng Xứ Nghệ đổ xuống quá nhiều trong các cuộc trường chinh mấy thập kỷ sau sự kiện Xô Viết Nghệ Tĩnh năm xưa. Ấy vậy mà, quê hương, con người nơi đây nghèo đói vẫn hoàn nghèo đói, lam lũ và lầm than. Cuộc sống của số đông dân chúng trên mảnh đất giàu lòng quật cường và cách mạng này vẫn đầy rẫy bất công, áp bức chồng lên áp bức ! Hàng ngàn, vạn, hàng trăm vạn những công dân Hồ Thị Bích Khương, Nguyễn Xuân Tứ, Phạm Hồng Đức...vv… cùng vô số đồng bào dân oan trong tỉnh nhà, ngày nay một lần nữa đã phải đứng dậy chống giai cấp thống trị mới, chống bọn cường hào ác bá thời đại “a còng” (@) hiện đại mà chúng còn tinh vi hiện đại hơn trước, nguy hiểm và gian trá hơn trước rất nhiều lần là như vậy đó !!!...

Vì điều kiện sinh hoạt trong nhà tù của chế độ XHCN ở trong nước rất ngặt nghèo, nhất là đối với những tù nhân vì bất đồng chính kiến với đảng CSVN như Bích Khương, nên các buổi thăm nuôi của gia đình với chị đều bị công an trại giam ngồi kèm rất chặt chẽ không bao giờ rời mắt và rời tai dù chỉ là lấy một giây, một phút. Bởi vì họ rất biết nếu các thông tin từ nhà tù lọt ra ngoài thì rất nguy hiểm cho chế độ, cũng như ngược lại các thông tin từ ngoài xã hội và nhất là thế giới văn minh bên ngoài lọt được vào đến tai các tù nhân chính trị này cũng rất tai hại mỗi khi họ biết được các tin tức quý giá dù rất nhỏ nhoi. Trong các lần được gặp gỡ gia đình đến thăm nuôi tại trại giam B - 14, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, ngoại vi Hà Nội hay khi ở trại giam Ba Sao - Nam Hà trong hơn 4 năm tù đầy khắc nghiệt từ đầu năm 2002 đến đầu năm 2006, tôi đã chứng kiến thực tế như vậy. Mỗi khi được ra gặp người thân trong phòng riêng đặc biệt, ngoài việc bị công an trại tù giám sát chặt chẽ như thế, thì người tù chính trị còn bị khám xét rất kỹ từng tý một trên thân thể, trên áo quần để lục lọi tìm kiếm các lá thư bí mật có thể được mang theo để chuyển ra ngoài.

Thế nhưng điều kỳ diệu đã xảy ra, là gia đình Bích Khương đã nhận được đầy đủ các thư do chính tay người nữ tù bất khuất này viết ra khá chi tiết và rõ ràng. Qua các nội dung thư được gửi ra, chúng ta có thể phán đoán được chị đã viết trong các thời điểm khác nhau. Có thư được viết khi chị đã bị giam cầm trong gần 1 năm rưỡi, có thư được viết ra khi chị đã ở tù được gần 2 năm và sau đó chờ cơ hội tốt tất cả mới được chuyển bí mật ra ngoài, cuối cùng đã đến được với chúng ta. Tôi đã từng phải chịu mức án tù khá nặng nề dài tới 12 năm và 3 năm quản thúc tại địa phương mà tòa án của đảng CSVN và nhà nước XHCN của họ tuyên phạt do các hoạt động tranh đấu đòi dân chủ hóa đất nước của mình. Tôi đã từng ở các trại giam, các nhà tù khét tiếng của tổng cục an ninh - bộ công an, rồi trại cải tạo lao động Ba Sao, nơi có các tù nhân chính trị danh tiếng từng thụ án như cụ Hoàng Minh Chính, Linh mục Nguyễn Văn Lý, cựu phi công Lý Tống, ông Trần Mạnh Quỳnh, thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, các tù nhân của chế độ cũ Việt Nam Cộng hòa trước đây ở miền Nam như các tướng Nguyễn Hữu Có, Lê Minh Đảo, các ông Võ Đại Tôn, Trương Văn Sương – (một người tù đã thụ án bước sang năm thứ 33 của cuộc đời mình)… Nên chính vì thế tôi càng thấu hiểu và ngợi khen sự thông minh, lanh lợi, lòng can đảm lạ thường của Hồ Thị Bích Khương trong việc tổ chức, bố trí đưa được các lá thư trong tù ra ngoài xã hội như thế này thật tuyệt vời làm sao…

Sau này, lớp thế hệ chúng tôi có các trí thức trẻ, như các em Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Văn Đài…cũng đã từng và đang bị tù ở trại giam Ba Sao nơi đây. Bởi thế tôi cũng càng hiểu việc để lọt những lá thư dù là của tù thường phạm hình sự ra ngoài xã hội thì sẽ phải chịu kỷ luật của ban giám thị trại tù ra sao.

Về việc này, nếu đối với tù hình sự khi vi phạm nội quy như vậy sẽ bị kỷ luật theo “quy chế trại giam”, nhẹ thì bị cảnh cáo, nặng thì bị cắt thăm nuôi 1 hay vài tháng, nặng nữa thì vừa cắt thăm nuôi vừa bị đưa đi cùm biệt giam vài tháng ! Trường hợp các tù nhân chính trị trong những giai đoạn đen tối nhất trước đây cũng phải chịu như vậy. Thậm chí có trường hợp sẽ bị trại giam và bộ máy đàn áp của an ninh nhà nước kiến nghị với “viện kiểm nhân dân, toà án nhân dân” tiến hành lập hồ sơ, khởi tố, truy tố các tù nhân để cộng tội, cộng án tù giam thêm dài lâu hơn nữa ! Nhưng sau này và có thể là giai đoạn hiện nay trong bối cảnh mới hoàn toàn khác trước kia, nên phía công an nhà nước CSVN đã có phần cởi nới, nhẹ nhàng hơn trước, các chính trị phạm đã không còn bị trừng phạt nặng nề như trước nữa. Đối với những trường hợp tù nhân chính trị có tên tuổi mà thế giới bên ngoài biết đến nhiều thì có phần đỡ hơn, vì phía cơ quan an ninh nhà nước họ có e dè trong việc trừng phạt các nhân vật này để bị đỡ mang tiếng với công luận thế giới và trong nước.

Vào một lần trước kỳ đảng và nhà nước CSVN có chủ trương đặc xá 4 lần trong 2 năm liền (2004 -2005) nhân dịp các ngày đại lễ của “nhà nước đảng CSVN” trong các năm này, thì có một lần tôi đã gửi được chót lọt nhờ qua 1 tù nhân hình sự phạm tội về kinh tế ở sát buồng giam bên cạnh khi được đặc xá trở về xã hội chuyển lá thư tới gia đình trước dịp 30/4/2005. Sau đó gia đình tôi đã chuyển đến ông Nguyễn Thanh Giang xem trước và tiếp đó được phổ biến trên Mạng internet toàn cầu mà công luận đã rõ. Lập tức chỉ mấy ngày sau tôi bị một tốp cán bộ của cục A - 42, tổng cục an ninh do các thượng tá chức vụ phó phòng, là Nguyễn Thiện Hân và Cường cùng nhiều sĩ quan an ninh khác trên cục A 42 của tổng cục an ninh - bộ công an từ Hà Nội tức tốc lao về thẩm vấn sự việc tày trời này !!!

Còn đối với những tù hình sự khác, khi để xảy ra sự kiện này thì chắc chắn sẽ bị kỷ luật rất nặng nề với các mức như đã nói trên. Chính vì bức thư được lọt ra thế giới bên ngoài đó, nên lẽ ra tôi đã được thả vào đợt 30/4/2005 hoặc muộn là vào nhất dịp trước ngày 2/9/2005, nhưng vì thế mà tôi đã bị giam cầm thêm 8 - 9 tháng nữa cho đến đầu năm 2006 mới được tạm phóng thích để trở về nhà !

Trường hợp chị Hồ Thị Bích Khương đây là lần tù thứ 2, lần trước chị bị bắt giam tại Hà Nội khi tham gia đấu tranh chống lại các lực lượng an ninh Hà Nội theo lệnh cấp trên đến trấn áp, bắt bớ, tước đoạt một số đồ dùng của đồng bào dân oan tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng, Hà Nội. Chuyện này tôi đã trực tiếp nghe các dân oan Nguyễn Thị Kỷ quê Thái Bình, Vũ Thị Bình quê gốc Hải Phòng, ông Nguyễn Hữu Châu nhà ở số 66 ngõ Lệnh Cư, phố Khâm Thiên, quậm Đống Đa, Hà Nội và nhiều người khác kể lại, rằng chính tay Bích Khương đã cào cấu tấn công lại tên phó công an phường Thụy Khê khi bị chúng đánh đập tàn bạo để tự vệ cho mình và baỏ vệ đồng bào nghèo khác đang phải sống vạ vật tại vườn hoa. Chính vì hành động dũng cảm này nên chị đã bị bắt giam ngay tức khắc rồi bị đưa vào trại Hỏa Lò, sau đó “tòa án quận nhân dân” Ba Đình tuyên phạt 6 tháng tù giam. Trước toà án của nhà nước và đảng CSVN tại thủ đô Hà Nội, Bích Khương đã đứng can đảm quay lưng lại khinh bỉ toàn bộ hội đồng xét xử, những kẻ đã mượn danh nghĩa các cơ quan “bảo vệ pháp luật của nhà nước XHCN ” thực chất là chỉ để đàn áp các quyền Công dân, quyền Con người căn bản một cách chuyên nghiệp và có hệ thống ! Khi bị mấy công an áp giải đứng bên cạnh xông vào cưỡng bức bắt quay lại chủ toạ cuộc xét xử thì chị đã dùng bàn tay với một ngón chỏ quét 1 vòng từ thư ký toà, đại diện viện kiểm sát, đến các “hội thẩm nhân dân” và đến cả chính viên chủ phiên tòa để chỉ thẳng tay tố cáo những kẻ đang kết án, buộc tội mình. Sự kiện phi thường quá đỗi này đã được cô Vũ Thanh Phương một thành viên can trường của Khối 8406 và Phong trào dân chủ Việt Nam viết khá cụ thể nêu lại toàn bộ lời tuyên bố của người phụ nữ gan dạ Hồ Thị Bích Khương đứng trước vành móng ngựa hôm ấy, ngày cách đây đã hơn 3 năm về trước !

Đây thật là chuyện phi thường hiếm thấy rất khó phai mờ theo thời gian năm tháng và thật đáng biểu dương vô cùng, bởi vì ngay cả đấng nam nhi mày râu trong hoàn cảnh như vậy chưa chắc đã có khí phách uy dũng đến như vậy so với chị. Người dân Hà Nội đã từng chứng kiến các vị như cụ Hoàng Minh Chính, hay cựu đảng viên CSVN bất phục chế độ Tạ Đình Đề trước đây đã làm được việc đó và rất ít sự biến này được tái diễn lại…

Khi hết án được ra tù vào cuối tháng 11/2005, Hồ Thị Bích Khương trở về nhà tiếp tục dẫn đầu các cuộc đấu tranh tại quê hương thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và tại thủ đô Hà Nội. Chị bênh vực đồng bào nghèo khổ bị áp bức, bị cướp đoạt tài sản như mình. Chị sống hiền hoà, cần cù chịu khó và lành mạnh, dù ở đâu cũng toát lên bản chất người phụ nữ nông thôn dịu dàng với thân hữu bạn bè, nhưng dữ dội và quyết liệt với kẻ nghịch thù. Giờ đây sự tranh đấu của chị đã không còn cô đơn, lẻ loi như trước nữa, bởi vì chị đã, đang và sẽ tiếp tục chính thức đứng trong đội ngũ những người đối kháng tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ, tự do và công lý. Chị sống tuy nghèo khổ cơ cực, nhưng nhân cách và tâm hồn luôn luôn trong sáng, đây là điều rất hiếm thấy trong khối “dân oan” mà tôi đã từng gặp gỡ trong mấy năm qua, nó hoàn toàn trái nghịch với những kẻ coi môi trường dân oan đau khổ làm nơi kiếm sống và làm giàu. Có trường hợp thậm chí chúng còn quay quắt, phản trắc phá hoại phong trào đấu tranh mà dư luận ngày nay đã biết quá rõ chúng là ai !

Từ trong ngục tù, qua những dòng thư viết ra, chúng ta vẫn thấy chị trăn trở, tỏ sự “hối tiếc” về một lỗi rất nhỏ thuộc về kỹ thuật khi phổ biến các bài, ảnh của chị gửi ra từ quê nhà mà nguyên nhân sơ xuất này là do viết nhầm đôi dòng chú thích nội dung ghi dưới các bức ảnh của chính tay chị chụp tại hiện trường để tố cáo lực lượng công an nhà nước đã đánh đập bản thân chị và nhiều đồng bào dân lành khác tại ngay trụ sở tiếp công dân của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An !!! Cũng chỉ mấy ngày sau sự kiện này công an huyện và tỉnh Nghệ An đã thực hiện lệnh từ trung ương ra tay bắt giam chị vào ngày 25/4/2007. Điều đó cho mọi người chúng ta biết rõ con người Hồ Bích Khương có nhân cách, phẩm chất đạo đức chân chính, thật thà và mộc mạc toả sáng sự tinh khiết đến nhường nào !

Khi phải ra thủ đô để đến các “cơ quan tiếp công dân khiếu nại tố cáo” của đảng và nhà nước để đòi quyền lợi cho gia đình mình, chị luôn luôn tỏ ra là người có dũng khí đấu tranh mãnh liệt và tư cách đường hoàng làm bộ máy công an cũng như chính quyền rất căm tức khó chịu. Họ coi chị như cái gai cần phải nhổ bỏ ra khỏi con mắt của họ càng nhanh càng tốt. Đã có mấy lần công an Hà Nội bắt giữ đưa chị sang “Trại xã hội Đồng Dầu” bên huyện Đông Anh, rồi ép buộc gia đình ký giấy xác nhận chị bị bệnh tâm thần để đưa đi đầy ải lâu dài trong các nhà thương điên của họ !!! Chị phải chịu cuộc sống tuy nghèo túng, nhưng giầu lòng nhân ái, thường hay giúp đỡ những người cô thế xung quanh. Khi có được chiếc máy tính, USB và máy chụp ảnh do anh chị em bên ngoài giúp đỡ tài chính, chị quyết tâm dùng làm phương tiện hoạt động, cụ thể để chuyên viết đơn từ giúp đồng bào ở Hà Nội và quê nhà bị tước đoạt tài sản, bị bỏ tù oan sai, nên ai ai cũng quý mến. Chị thường hay đùm bọc và chia sẻ thương yêu với những người cùng cảnh ngộ như mình và có uy tín khá cao trong đồng bào dân oan ở quê hương và tại thủ đô.

Tại Hà Nội, ngoài việc phải chầu chực nộp đơn từ tố cáo, chị còn giành thời gian tranh thủ đi làm thuê hay lang thang đi nhặt rác phế liệu để bán lấy tiền tồn tại qua ngày vừa nuôi con vừa lấy đó làm nguồn sống để tiếp tục cuộc đấu tranh lâu dài gian khổ của mình. Khi đêm tối đến, chị lại trở về vườn hoa Mai Xuân Thưởng ngủ bên mái hiên nhà vệ sinh công cộng cùng đồng bào dân oan nghèo khổ khác. Khi bị những kẻ xấu cùng giới nữ với mình vu cáo, xuyên tạc, hãm hại, bôi nhọ danh dự, chị bình tĩnh, ra sức kiềm chế, ung dung ngồi viết các bài báo để công bố trên Mạng phê phán lại những đối tượng xấu đó với những lý lẽ vững chắc, sắc sảo để bảo vệ danh dự, uy tín của mình, đồng thời vạch trần được bộ mặt đạo đức giả chuyên nghề chỉ lợi dụng hoàn cảnh đau khổ của đồng bào dân oan để kiếm sống của đối tượng kia trước công luận.

Nhớ lại, khi Hồ Thị Bích Khương đến gặp tôi vào tháng 6 hay tháng 7 gì đó lần đầu tiên trong năm 2006, lúc đó chính tôi đã nhờ kỹ sư Bạch Ngọc Dương chụp cho bức ảnh 2 mẹ con người phụ nữ nghèo khổ này một tấm ảnh với dự định sẽ dùng để minh hoạ cho các bài viết sau này có liên quan đến chị. Thế nhưng, sau đó chiếc thẻ nhớ có tấm hình của 2 mẹ con Bích Khương đã bị công an bảo vệ chính trị Hà Nội tịch thu tại đồn Tràng Tiền trong lần họ bắt giữ Ks Bạch Ngọc Dương và Ls Nguyễn Văn Đài khi đến thăm tôi. Gặp được đôi lần lúc đầu với Hồ Thị Bích Khương tôi rất mừng vui vì phát hiện ra trong người con gái xứ Nghệ này những phẩm chất tuyệt vời mà qua mấy lá thư từ nhà tù gửi ra được công bố dưới đây sẽ làm cho mọi người biết rõ thêm về chị.

Chúng ta hoàn toàn có quyền so sánh đơn giản rằng, trong khi có những trí thức chỉ mới hơn 2 tháng tù đã hoàn toàn suy sụp tinh thần, thậm chí bị hoảng loạn chỉ nghĩ đến tự sát và cuối cùng đi đên đầu hàng bộ máy đàn áp, có kẻ thì khi bị bắt giam vào tù luôn mồm xin khoan hồng tha tội, luôn tay xin viết kiểm điểm thú nhận mọi tội lỗi, rồi luôn tự sỉ vả mình đã chót ngộ nhận phạm pháp khi tham gia đấu tranh đòi dân chủ cốt chỉ để mong được đảng và nhà nước CSVN giảm án, tha tù sớm trở về đoàn tụ gia đình, có kẻ chỉ mới 3-4 tháng đã phải công khai lên Tivi để xin công an và nhà nước khoan hồng xem xét, tha thứ và hứa hẹn không tái phạm tội nữa…vv…và vv…

Trong khi đó đối với Hồ Thị Bích Khương, thì cả lần tù trước và lần tù này bộ máy trấn áp của công an nhà nước đâu có tìm được dấu hiệu đầu hàng của chị !!!??? Đây quả thật là một con người phi thường trong số những chiến sĩ quả cảm, phi thường nhất - những người dám xả thân thực sự tranh đấu cho lý tưởng và các mục tiêu dân chủ hoá nước nhà. Chị hoàn toàn xứng đáng được vinh danh và ngợi ca mà chúng ta không còn gì để hoài nghi về con người này nữa. Nhất là trong bối cảnh chiến dịch bắt bớ hàng loạt những anh em hoạt động dân chủ và một số dân oan vừa diễn ra trong nước thì việc công bố các lá thư từ trong tù của Hồ Thị Bích Khương gửi ra cho chúng ta càng thêm ý nghĩa biết bao !!!.

Qua thực tế đấu tranh, nhất là trong môi trường tù đầy ác nghiệt mới có thể cho chúng ta câu trả lời rõ ràng, là chỉ có qua trui rèn, tôi luyện thì mới biết được bản chất, bản lĩnh chính trị vững vàng và nhân cách cao đẹp của mỗi con người mà thôi. Thật đúng là : “Ngọc càng mài càng sáng” hay “ Thép càng tôi càng cứng” là vậy ! Giờ đây những tên tuổi, các nữ anh thư của chúng ta, như từ Lê Thị Công Nhân, Hồ Thị Bích Khương, đến Phạm Thanh Nghiên... đã hoàn toàn được khẳng định rất vững chắc trước công luận.

Tôi cũng nghĩ rằng Hồ Thị Bích Khương cũng như các tên tuổi khác trong đội ngũ tranh đấu rất trở nên quen thuộc với dư luận trong và ngoài nước, như nhà báo Trương Minh Đức, cựu doanh nhân trẻ Phạm Bá Hải, cô Phạm Thanh Nghiên, cựu quân nhân Lê Thanh Tùng, cựu nhà giáo Vũ Hùng, cựu tù nhân chính trị Nguyễn Văn Tính...là hoàn toàn xứng đáng được nhận lãnh các giải thưởng Nhân quyền cao quý của Quốc tế và Hải ngoại ngay trong năm 2008 này vì các thành tích đấu tranh thực tiễn của họ đã đóng góp cho công cuộc chung.

Cũng cần phải nói là trong suốt thời gian Bích Khương bị bắt giam và thụ án tù, cô Vũ Thanh Phương trong Sài Gòn được sự phân công của tôi đã thường xuyên gửi giúp các phần quà quý giá đầy tình nghĩa của đồng bào hải ngoại chuyển về hỗ trợ để nuôi con trai chị, cũng như tiếp tế trong lao tù cho chị. Nhân đây một lần nữa, tôi gửi lời cảm tạ đến tất cả quý vị đã có tấm lòng với trường hợp của Bích Khương và xin được nêu cụ thể sự hỗ trợ quý báu của những địa chỉ thân thiết như : Nhóm thân hữu tiểu bang Oregon – Hoa Kỳ, Khối 1706, chị Hồng - Việt Kiều, chị Bảo Khánh - đài Vietnam Sydney Radio, Khối 1906 mà anh Trần Hồng Quân, ông Trương Quốc Hùng ( nickname “Hẹn nhé Sài Gòn” ) bên Úc Châu là nbững người đại diện đã trực tiếp giúp đỡ và ông Bùi Xuân Quang của Hội tương trợ Pháp - Việt ở thủ đô Paris. Còn bây giờ, thì tôi từ Hà Nội đang trực tiếp gửi các món quà còn lại do bà con người Việt chúng ta ở hải ngoại hỗ trợ gửi về cho chị ruột và chị chồng của Bích Khương ở quê nhà.

Khi tôi viết những dòng của bài này nhằm vinh danh tên tuổi chị thì chỉ còn mấy tháng nữa, cụ thể là vào ngày 25/4/2009 nữ tù nhân chính trị Hồ Thị Bích Khương hết án sẽ được ra tù để trở về xã hội tạm thời đoàn tụ gia đình. Tôi tin chắc rằng chị sẽ trở lại Phong trào tranh đấu đòi dân chủ, tự do, nhân quyền và công lý để tiếp tục góp phần mạnh mẽ của mình vào sự nghiệp tranh đấu cho mục tiêu cao cả sáng ngời chính nghĩa của cả dân tộc Việt Nam chúng ta.

Hôm nay, tôi hân hạnh giới thiệu cùng quý độc giả các bức thư quý giá do chính tay người nữ tù nhân bất khuất phản kháng chế độ độc tài - Hồ Thị Bích Khương viết từ lao ngục gửi ra để công luận tỏ tường về khí phách của một phụ nữ được trưởng thành và rèn luyện từ thực tế đấu tranh và từ phong trào dân oan đi lên.

Còn một chi tiết tôi thấy cũng cần phải nêu trong bài viết này, là trước khi công bố chính thức các bức thư của người em gái ruột mình đang trong lao tù lên Mạng toàn cầu, tôi đã có tới hơn 4 - 5 lần gọi điện về Nghệ An để nói chuyện, động viên chị ruột Hồ Thị Bich Khương và được chị đồng ý hoàn toàn việc bạch hoá các tư liệu này cho dư luận biết.

Tôi hy vọng trong lần thăm nuôi vào ngày 30/10/2008 tới đây, Bích Khương sẽ rất vui mừng, phấn khởi khi biết tin các dòng thư thân yêu hiền hoà nhưng thật dữ dội, quyết liệt của mình được bay đến với hàng triệu, hàng chục triệu bạn đọc gần xa… Các lá thư này như những cánh chim bằng bay không biết mỏi, như những làn gió mát lành lan toả đến mọi miền trên khắp địa cầu để chuyển tải đến công luận thông điệp dứt khoát…

Rằng : “Không bao giờ, vĩnh viễn không bao giờ bạo lực, cường quyền của kẻ thống trị, của những thế lực đen tối dù tạm thời có uy quyền đến mấy có thể khuất phục, hoặc làm khiếp nhược được những tiếng nói tranh đấu chân chính và đích thực trên đất nước còn khốn khổ, lầm than này ”!!!

Viết tại Thủ đô - Việt Nam ngày 20 và 21/10/2008
Nhà báo tự do Nguyễn Khắc Toàn
Số nhà 11, Ngõ Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

ChứcTrách

Ngô Nhân Dụng

Trong đời sống kinh tế, chữ TÍN là căn bản. Mình gửi tiền vào ngân hàng vì tin sẽ không bị mất. Ngân hàng cho mình vay, gọi là “tín dụng,” vì tin luật pháp sẽ buộc mình phải trả. Nếu có những thân chủ không trả được nợ, ngân hàng phải tin rằng đó là một số nhỏ. Trong mọi hoạt động kinh tế đều như vậy. Một công ty sản xuất áo sơ mi tin rằng những hợp đồng mình đã ký với nhà cung cấp vải, chỉ, hộp đựng áo, vân vân; hoặc những hợp đồng thuê mướn những công nhân làm việc may áo, đơm khuy, cắt chỉ, vân vân; tất cả các hợp đồng đó đều được mọi người tôn trọng. Nếu không có niềm tin như vậy thì kinh tế cả thế giới không chạy được.

Hôm qua, ông Alan Greenspan, cựu chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, tức Ngân Hàng Trung Ương của nước Mỹ, được mời điều trần trước Quốc Hội về nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng tài chánh hiện tại. Ông đã thú nhận rằng trong thời gian giữ trách nhiệm giám sát hệ thống tài chánh quốc gia có một điều ông đã lầm. Mối lầm lẫn của ông là ông đã tin rằng các ngân hàng lúc nào cũng lo bảo vệ giá trị tài sản cho các cổ đông của họ.

Nhưng đó là niềm tin chung của tất cả hệ thống kinh tế thị trường. Tất cả những người mua cổ phần của mọi công ty, mọi ngân hàng, đều phải có sẵn tin rằng những người quản đốc công ty hay ngân hàng lúc nào cũng tìm cách bảo vệ giá trị của công ty, ai cũng cố gắng làm tăng giá trị cổ phiếu. Muốn được như vậy, khi thuê mướn người làm quản đốc, các công ty, các ngân hàng đều ấn định mức lương và tiền thưởng tùy thuộc vào thành quả của công việc. Cách đo lường thành quả dễ nhất là căn cứ vào giá trị cổ phần tăng nhiều hay ít. Nếu không có niềm tin như vậy thì cả hệ thống kinh tế thị trường sẽ sụp đổ!

Vậy tại sao ông Alan Greenspan lại cảm thấy mình đã tin lầm? Bởi vì trong mấy năm qua ở Mỹ nhiều ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng đầu tư, hãng bảo hiểm, nhiều định chế tài chánh có lịch sử hàng trăm năm rất khả kính, có lúc đã đầu tư một cách liều lĩnh vào các chứng khoán mà chính họ cũng không hiểu rõ giá trị các chứng khoán này sẽ thay đổi ra sao nếu có những biến cố bất ngờ xẩy ra.

Những quyết định đầu tư liều lĩnh của ban giám đốc các ngân hàng và định chế tài chánh khác trong mấy năm trước đây không những đã làm cho tài sản của các cổ đông bị tụt giảm, mà còn làm cho cả nước, cả thế giới bị liên lụy.

Tại sao lại có nhiều người cùng phạm lầm lẫn trong cùng một thời gian để bây giờ chúng ta rơi vào cơn khủng hoảng này? Ðây là câu hỏi sẽ được nghiên cứu kỹ lưỡng để tìm câu trả lời trong thời gian tới. Vì phải biết lý do tại sao thì chúng ta mới biết cách vẽ ra những biện pháp ngăn ngừa không để xẩy ra lần khác giống như lần này. Nói chung, mọi người đã thấy phải thiết định lại hệ thống giám sát các ngân hàng và các công ty đầu tư cho có hiệu quả hơn, mà không làm cho hệ thống bị tê liệt hoặc mất sáng kiến, mất tính linh động của nó.

Một yếu tố cần thiết để cho hệ thống giám sát hữu hiệu là phải có tin tức đầy đủ và kịp thời trao đổi trong cả hệ thống, để việc mọi người thẩm lượng giá trị các chứng khoán đúng hơn, không để rơi vào những lầm lẫn lớn như mới xẩy ra nữa. Thông tin đầy đủ và kịp thời đòi hỏi cả hệ thống phải có tính chất công khai, minh bạch, có như vậy mới xác định được chức trách (accountability) rõ ràng.

Muốn bảo vệ niềm tin vào hệ thống kinh tế cũng như xã hội, phải làm sao cho chức trách rõ ràng, minh bạch. (Chữ accountability trong tiếng Anh, từ điển kinh tế ở Hồng Kông dịch là Chức Trách, người Trung Hoa ở lục địa và Ðài Loan dịch là Kinh Quản Trách Nhiệm, nói Chức Trách gọn hơn). Khái niệm Chức Trách cần được phổ biến, tìm hiểu, và thảo luận khi chúng ta bàn việc xây dựng một nước Việt Nam tương lai. Một hệ thống kinh tế mà không có chức trách rõ ràng thì ngay trong đời sống bình thường nó không mang lại hiệu quả kinh tế, khi gặp biến thì sinh khủng hoảng. Một hệ thống chính trị mà không có chức trách rõ ràng thì sinh ra hối mại quyền thế, tham nhũng, thối nát. Một hệ thống xã hội mà không có chức trách rõ ràng thì không còn kỷ cương, không còn đạo lý.

Thí dụ, trong xã hội ai cũng biết chúng ta không nên đổ rác bừa bãi. Nhưng làm sao để các công ty thải chất độc ra sông, ra biển chịu trách nhiệm về hành động của họ? Ai cũng biết trẻ em phải có quyền được đi học, một quyền công dân thường ghi trong hiến pháp. Nhưng nếu một công ty thuê trẻ em làm việc để có thể bóc lột dễ hơn, thì ai là người sẽ bị trừng phạt? Người chủ xưởng hay là viên thanh tra lao động, hay là quan chức địa phương? Chức trách không rõ thì những sai lầm tác hại sẽ kéo dài mãi mãi.

Rất nhiều câu hỏi tương tự từ phạm vi nhỏ tới lớn: Ai chịu trách nhiệm trong công ty khi việc kinh doanh thua lỗ? Ai chịu trách nhiệm trong một nước khi nạn đĩ điếm, ma túy lan tràn?

Làm sao để đồng bào chúng ta luôn luôn tỉnh thức về chức trách? Mọi người trong xã hội phải có thói quen chỉ đích danh những tổ chức hoặc cá nhân, với những địa vị, chức vụ, và quyền hành mà xã hội trao cho họ, họ phải chịu trách nhiệm về những vấn đề liên can tới các chức vụ, địa vị và quyền hành đó.

Ngày Thứ Tư vừa qua, ông chủ tịch công ty Wal-Mart mới nói chuyện ở Bắc Kinh với một ngàn người thuộc các xí nghiệp Trung Hoa chuyên cung cấp hàng hóa cho Wal-Mart. Công ty bán lẻ lớn nhất thế giới của nước Mỹ hiện mỗi năm bán số lượng hàng hóa của Trung Quốc trị giá khoảng 30 tỷ Mỹ kim. Ngoài ra họ cũng có 115 cửa hàng sử dụng 53,000 nhân viên trong lục địa. Cho nên khi ông Lee Scott nói thì nhiều người lắng nghe.

Những lời ông Scott nói được nhật báo Financial Times (Tài Chánh Thời Báo) thuật lại ngày hôm qua, ông nhắm khuyến cáo các xí nghiệp bán hàng cho Wal-Mart hãy tôn trọng những luật lệ của nước họ, của Trung Quốc! Nếu không thì không thể làm ăn với Wal-Mart lâu dài được!

Những điều mà ông Lee Scott nêu lên để đòi hỏi các nhà cung cấp là: phải tôn trọng luật lệ bảo vệ môi trường sống, luật lao động, và phải đóng thuế, không được trốn thuế! Ngoài ra, 200 công ty lớn nhất trong số những nhà cung cấp cho Wal-Mart phải cho Wal-Mart biết tên và địa chỉ của những cơ xưởng bán hàng cho họ dùng trong quá trình sản xuất, để dễ truy tầm nguồn gốc của những vi phạm nếu có. Họ cũng phải tìm cách tiết kiệm năng lượng trong nội bộ 20% và chế biến các món hàng điện (thí dụ, màn ảnh ti vi phẳng) sử dụng ít điện, bớt đi 25%.

Ông Scott tóm tắt quy tắc đạo đức kinh doanh như sau: “Một công ty mà quỵt tiền không trả lương giờ phụ trội cho công nhân; hoặc gian trá khi khai tuổi công nhân, hoặc đổ rác và hóa chất độc hại xuống các con sông của chúng ta; hoặc không trả thuế và không tôn trọng các hợp đồng; thì cuối cùng chính các công ty đó đã phạm lỗi gian trá về phẩm chất của những món hàng họ chế tạo ra.”

Câu nói đó gợi cho người ta nhớ đến vụ các công ty chế sữa với chất độc ở Trung Quốc. Ông Scott muốn nhắc nhở các nhà kinh doanh Trung Quốc rằng các xí nghiệp chịu trách nhiệm với cả xã hội, đây là xã hội Trung Hoa của người Trung Hoa, về những các vấn đề môi trường, lao động, thuế khóa. Ông phải tới tận Bắc Kinh để nói, vì công ty Wal-Mart sẽ yêu cầu các nhà cung cấp hàng hóa cho họ phải ký những bản hợp đồng trong đó ghi rõ cả lời cam kết tôn trọng các luật lệ như trên!

Không thấy nhà báo ghi lại một lời phản đối nào của đại biểu các xí nghiệp Trung Hoa được mời đến nghe công ty Wal-Mart nói. Chắc họ cũng đồng ý rằng trong xã hội phải có những người nhắc nhở cho nhau về chức trách và cần giữ niềm tin xã hội ung. Ít nhất, mọi người phải tin vào luật lệ và tin luật lệ sẽ được thi hành! Ông Lee Scott đã giúp người Trung Hoa xây dựng và củng cố niềm tin vào hệ thống xã hội của họ! Với những vụ xì căng đan như vụ sữa độc, người Trung Hoa đang cần những liều thuốc mạnh như thế!

Cũng đáng buồn khi những người hậu duệ của Khổng Tử, Mạnh Tử phải ngồi nghe một nhà kinh doanh ngoại quốc đến khuyên nhủ mình phải tôn trọng luật lệ của nước mình! Nhưng điều này cũng hiểu được. Vì sau nửa thế kỷ sống dưới chế độ cộng sản mọi kỷ cương Khổng Mạnh đã bị xóa bỏ hết. Người ta không còn giữ khái niệm về Chức trách nữa. Trong Luận Ngữ, Khổng Tử nói thuyết “Chính Danh.” Ðó là một cách gọi tên khái niệm Chức Trách, trong phạm vi chính trị.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »



Image

AI SẼ LÀ TỔNG THỐNG HOA KỲ ?


Huệ Vũ
Chỉ còn một thời gian ngắn sẽ tới ngày bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ, theo kết quả thăm dò dư luận, liên danh Cộng Hoà của Nghị Sĩ John McCain đang chạy đua nước rút để đuổi kịp đối thủ Barack Obama.

Thăm dò của Reuters/C-span/Zogby trong tuần qua, liên danh Obama bỏ rơi đối thủ trên dưới 10% đã được thu hẹp trong ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật. Từ gần 10% trong ngày 24, đột ngột rớt xuống còn 5%, là con số chệch lệch thấp nhất trong liên tiếp 3 tuần qua. Kết quả thăm dò thường có con số xác xuất là cộng hay trừ khoảng 3%.

Cũng theo các kết quả thăm dò mới nhất của Zogby, ứng cử viên Obama dẫn đầu ứng cử viên McCain trong số cử tri độc lập là 50% so với 34%, dẫn đầu trong số cử tri phụ nữ là 55% so với 41%. Trong số cử tri theo đạo Công Giáo, ông Obama dẫn đầu 17%, đối với người theo đạo Tin Lành, nhưng không phải là phái Phúc Âm (Evangelicals) chỉ dẫn đầu 4%. Đạo Evengelicals ủng hộ McCain trên 70%. Trong thành phần cử tri ôn hoà (moderates) ông Obama được ủng hộ 64% so với 29% ủng hộ McCain. Đối với thành phần bảo thủ, ứng cử viên McCain được trên 70% ủng hộ, nhưng trái lại ông Obama được trên 90% thành phần cấp tiến (liberals) ủng hộ. Ứng cử viên McCain đã vượt qua và dẫn đầu đối thủ 12% trong số cử tri đàn ông da trắng.

Mức dẫn đầu của ông Obama so với McCain theo thăm dò của viện Gallup không bị sụt giảm như Zogby, vẫn giữ mức trên 9 điểm. Kết quả theo dõi hàng ngày của Gallup trong ngày 27/10 cho thấy ông Obama dẫn dầu McCain trong số người đã ghi danh đi bầu lại tăng lên 10 điểm là 52% so với 42%. Theo kết quả thăm dò của CBS và New York Times công bố trong ngày 27, ứng cử viên Obama dẫn đầu 13 điểm, 52% so với 39%.

Sự lên điểm của nghị sĩ McCain qua thăm dò Zogby trong 2 ngày qua được giải thích có thể là vì ứng cử viên Obama đã nghỉ vận động để đi thăm bà ngoại đang bệnh, Nghị sĩ McCain trong những ngày gần đây chỉ nói về kinh tế, bớt tấn công cá nhân đối thủ, và liên danh của ông cũng mạnh mẽ tách rời họ với Tổng thống George W. Bush. Ưùng cử viên phó tổng thống Sarah Palin đã nói rằng Tổng thống Bush là một trở ngại bất lợi lớn nhất cho liên danh. Nghị sĩ McCain cũng cho rằng chính phủ Bush phải chịu trách nhiệm đối với sự suy thoái của nền kinh tế và làm cho quốc gia chồng chất nợ nần. Trả lời phỏng vấn qua chương trình “Meet the Press” của đài NBC trong ngày 26, nghị sĩ McCain đã lần nữa lập lại ông không phải là Tổng thống Bush. Ứng cử viên McCain cũng nói rằng ông đã trải qua nhiều cuộc bầu cử, ông thấy rõ sự căng thẳng, theo kết quả thăm dò thì ông bị bỏ rơi nhiều hơn thực tế: “I’ve been in a lot of presidential camps ... and I see the intensity out there, and I see the passion ... have shown me much further behind than we actually are”,

Đối với các sắc dân thiểu số ở Hoa Kỳ, cộng đồng người Do Thái ủng hộ Obama so với McCain có tỷ lệ 3 trên 1, với 74% so với 22%.

Theo thăm dò của 4 trường đại học Berkley, USC, UC Riverside và Rutgers, cộng đồng người Mỹ gốc Á Châu có 41% ủng hộ ứng cử viên Obama so với 22% cho biết sẽ bỏ phiếu cho Nghị sĩ McCain. Tuy nhiên đối với Cộng Đồng Việt Nam, trên 51% ủng hộ McCain so với chỉ có 24% ủng hộ Obama. Trong khi đó, 60% người Mỹ gốc Nhật, và 52% người Mỹ gốc Ấn ủng hộ Obama. Theo thăm dò của Pew Research, 57% người Mỹ nói tiếng Tây Ban Nha ủng hộ Obama so với 23% ủng hộ MCain.

Dư luận các nước trên thế giới hiện gần như nghiêng hẳn về phía ứng cử viên Obama. Theo thăm dò của viện Gallup thực hiện trên 70 nước từ tháng 5 cho tới tháng 9 cho thấy dân chúng các nước từ Phi Châu tới Á Châu, Trung Đông, Nam Mỹ đều ủng hộ Obama nhiều hơn so với McCain. Đặc biệt là dân chúng các nước Âu Châu quan trọng, Canada, Úc, và Nhật Bản đã ủng hộ ứng cử viên đảng Dân Chủ với một tỷ lệ rất lớn. Tỷ lệ ủng hộ ứng cử viên Obama so với McCain ở Canada là 67% sv 22%, ở Úc là 64% sv 14%, ở Áo 58% sv 10% , ở Bỉ là 64% sv 6%, ở Đan Mạch là 69% sv 8%, ở Pháp là 64% sv 4%, ở Đức là 62% sv 10%, ở Na Uy là 71% sv 13%, ở Anh là 60% sv 15%, ở Hoà Lan là 74% sv 10%, ở Nhật là 66% sv 15%. Trong 70 nước chỉ có 3 nước có tỷ lệ ủng hộ ứng cử viên McCain nhiều hơn Obama là Georgia, Cam Bốt và Phi Luật Tân nhưng với sự chênh lệch rất nhỏ. Ở Phi Luật Tân có 28% ủng hộ McCain nhưng 20% ủng hộ Obama.

Tuy nhiên, con số thăm dò toàn quốc có cho thấy ông Obama dẫn đầu 1 con số hay 2 con số đi nữa, thì điều này cũng không thể kết luận là ông ta sẽ chắc chắn thắng cử. Theo hệ thống bầu cử Hoa Kỳ, người dân trực tiếp bỏ lá phiếu, nhưng quyết định cuối cùng là do con số cử tri đoàn của mỗi tiểu bang gọi là Electral College. Mỗi tiểu bang có một con số cử tri đoàn bằng con số dân biểu trong tiểu bang cộng cộng với 2 nghị sĩ. Tổng số cử tri đoàn toàn quốc của 50 tiểu bang cộng với Waghington D.C. là 538 phiếu. Ứng cử viên thắng nhiều phiếu cử tri nhất trong tiểu bang sẽ nhận hết con số cử tri đoàn của tiểu bang, theo nguyên tắc “ăn cả ngã về không”.

Tuy nhiên có 2 tiểu bang là Maine and Nebraska không chịu áp dụng luật này mà phân chia con số cử tri đoàn cho từng đơn vị bầu dân biểu. Bầu cử theo lối cử tri đoàn quyết định cuả Hoa Kỳ, nhiều khi một ứng cử viên tổng thống hơn đối thủ nhiều triệu phiếu trên toàn quốc, nhưng đã phải thất cử chỉ vì thua vài trăm lá phiếu ở một tiểu bang có con số cử tri đoàn quan trọng, như cuộc bầu cử tổng thống năm 2000.

Trong 50 tiểu bang Hoa Kỳ, có những tiểu bang được coi là chắc chắn của Cộng Hoà hay Dân Chủ; là red state hay blue state; như Texas được coi là Red State - tiểu bang Cộng Hoà, trong khi đó California được coi là Blue State - tiểu bang Dân Chủ. Có những tiểu bang được coi là thiên Dân Chủ hay thiên Cộng Hoà, có những tiểu bang gọi là tiểu bang “chiến trường”, ứng cử viên phải thắng ở những tiểu bang chiến trường này mới bảo đảm có thể thắng cử. Dựa theo các con số thăm dò, các cơ quan thăm dò đã đưa ra nhiều con số ước tính khác nhau về con số cử tri đoàn mà hai ứng cử viên có thể nhận được cho tới ngày 27/10, các cơ quan thăm dò đã đưa ra những con số ước lượng như sau: CNN: Obama 301 – McCain 150; Quinnipiac University: Obama 269 – McCain 128; Zogby: Obama 275 – McCain 236; Survey USA: Obama 303 –McCain 220; Poll of Polls: Obama 367 – McCain 157 . . . Hầu như tất cả các cơ quan thăm dò đều đưa con số cử tri đoàn mà ông Obama nắm giữ hiện giờ đều cao hơn đối thủ.

Lúc chúng tôi viết bài này, chỉ còn 7 ngày nữa tới ngày bầu cử là thời gian có thể quá ngắn để ứng cử viên McCain thay đổi làn sóng. Hình như xưa nay ít có một ứng cử viên nào được các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ chấm thắng qua 3 cuộc tranh luận liên tiếp đã phải thất cử. Dù yêu hay ghét ông Obama, dù tỷ lệ dẫn đầu lên xuống bất thường, tới ngày hôm nay, giữa 2 ứng cử viên, ông Obama vẫn là người có nhiều hy vọng hơn đối thủ McCain. Theo ông Karl Rove, một chiến lược gia của đảng Cộng Hoà, ông McCain chỉ còn cách duy nhất để thắng là gieo hoang mang đối với đối thủ và khai thác ưu điểm, quan điểm của mình. (Mr. McCain has only one hope: to drive home doubts about Mr. Obama based on his record, and share as much as he can about his own values and vision to reassure voters.)

Mặc dầu thăm dò dư luận là một khoa học có con số xác xuất cộng trừ 3, đôi khi cũng chứng tỏ sai lầm với thực tế, như cũng đã từng xảy ra trong thời gian vận động giành sự chỉ định của đảng Dân Chủ giữa Nghị Sĩ Hillary Clinton và Barack Obama. Phân biệt màu da ở Hoa Kỳ ngày nay không còn như xưa. Chỉ còn một tỷ lệ nhỏ cử tri da trắng còn coi màu da là một yếu tố chọn lựa. Tuy nhiên, cuộc bầu cử tổng thống trong ngày cuối cùng rất có thể có hiện tượng Bradley được gọi là ảnh hưởng Bradley xảy ra. Trong cuộc bầu cử thống đốc California năm 1982, ứng cử viên da màu Tom Bradley đã dẫn đầu các kết quả thăm dò, nhưng cuối cùng những người cho biết sẽ bầu cho ông khi tới phòng phiếu đã bỏ phiếu cho đối thủ của ông là người da trắng. Hiện tượng Bradley đã làm cho kết quả thăm dò chính trị ở giữa ứng cử viên da màu và da trắng ở Hoa Kỳ ít chính xác. Những người da trắng khi trả lời câu hỏi của những cơ quan thăm dò không muốn chứng tỏ mình là người kỳ thị, nhưng khi tới phòng phiếu yếu tố kỳ thị màu da đã trở thành yếu tố quyết định của lá phiếu. Chức vụ tổng thống là chức vị quan trọng nhất ở Hoa Kỳ, rất có thể hiện tượng Bradley không còn hiện diện trong những cuộc bầu cử điạ phương, dân biểu, nghị sĩ trong những năm gần đây lại tái hiện trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2008. Một yếu tố khác có thể làm kết quả bầu cử khác hẳn với thăm dò đối với Ứng cử viên Obama; đó là, ông ta được đa số thanh niên, sinh viên ủng hộ, nhưng thành phần trẻ này lại là những người rất lười đi bỏ phiếu so với lớp người lớn tuổi thuộc thành phần bảo thủ.

Tóm lại, dù có kết quả thăm dò thuận lợi hơn cho ứng cử viên Obama, việc ông được trở thành vị tổng thống da màu đầu tiên của Hoa Kỳ hay không cũng phải chờ tới cuối ngày 4/11 mới có thể có câu trả lời.

Theo thăm dò của 4 trường đại học Berkley, USC, UC Riverside và Rutgers, cộng đồng Việt Nam chúng ta chỉ có 24% ủng hộ ứng cử viên Barack Obama. Việc Cộng Đồng Việt Nam lội ngược dòng so với các sắc dân thiểu số khác là điều dễ hiểu vì chúng ta là nạn nhân của chế độ Cộng Sản và vẫn còn thiên kiến. Mọi cộng đồng, cá nhân của người công dân Hoa Kỳ khi ủng hộ hay bỏ phiếu cho một ửng cử viên nào ngoài vấn đề cân nhắc chính sách, còn nghĩ tới quyền lợi mà người ứng cử viên có thể đem lại cho mình. Một đại thương gia, hay nhân viên cao cấp có lợi tức trên 250.000 mỹ kim một năm không phải đảng viên Dân Chủ có lẽ sẽ dồn bỏ phiếu cho ứng cử viên McCain; trong khi đó một công nhân nghèo nếu không có những yếu tố chính trị nào khác chi phối có thể sẽ dồn phiếu cho Ứng cử viên Obama.

Việc bỏ phiếu cho ai, hay vận động cho ai là quyền của người dân trong một nước tự do, nhưng ngôn ngữ có tính cách mạ lỵ, bóp méo sự thật, hằn học trên báo chí, trên internet của một cộng đồng thể hiện được trình độ và trí thức của cộng đồng đó. Trên một tờ báo mới đây một học giả họ Đặng viết” Ông Barack Hussein Obama là người sinh ra trong thập niên 60 của thế kỷ XX. Tổ tiên của ông là những người da màu từ vùng Phi Châu nghèo khổ đến Hoa Kỳ theo các đoàn tàu buôn với thân phận kẻ nô lệ tha phương cầu thực. Ông Nội của Barack Obama là người gốc Yemen. Cha đẻ của Obama được nhắc đến như một người vô trách nhiệm vì nghiện ngập rượu chè..” Đọc dòng chữ trên bài báo của ông họ Đặng, người viết không biết ông ra lấy từ đâu ra những yếu tố trên! Hầu như tất cả mọi bài báo của cộng đồng người Việt đều bênh vực cho Cộng Hoà, cho rằng nay là đảng “yêu nước”, là đảng giữ vững nước Mỹ, còn đảng Dân Chủ là đảng mị dân, sẽ làm tiêu tan nước Mỹ, họ viết tên liên danh “Obama – Biden” thành “Obama Bi Laden” để chế diễu, cho rằng Obama đắc cử sẽ bán nước Mỹ cho khủng bố. Họ bênh vực Cộng Hoà và đả kích Dân chủ không khác gì giống như giữa Quốc Gia và Cộng Sản thời chiến tranh Việt Nam! Những thái độ quá khích này chúng tôi nghĩ rằng chẳng lợi ích gì cho một cộng thiểu số rất nhỏ ở Hoa Kỳ và xa hơn là ích lợi của công cuộc tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ Việt Nam.

Có lẽ những người Việt Cộng Hoà còn hơn Mỹ này vì yêu nước Mỹ quá sức nên mới có thái độ quá khích trên. Người viết cũng có thân phận tỵ nạn như những vị này, nhưng chỉ có thể yêu nước Mỹ một phần nào đó. Chúng tôi chỉ mong một ngày nào đó có thể về quê hương nghèo khó để sống hết quãng đời còn lại. Hơn nữa, là một người chỉ tới sống ở Mỹ vài chục năm, nếu chúng tôi nói rằng mình yêu nước Mỹ hơn những người từng sống ở Mỹ nhiều đời, yêu nước Mỹ hơn đảng Dân Chủ, một đảng cũng lâu đời như Cộng Hoà (khi được hai ông Thomas Jefferson, James Madison thành lập có tên là Democratic – Republican Party, tách ra làm 2 trong thập niên 1830); lên tiếng mạ lỵ cho rằng Dân Chủ không yêu nước tôi nghĩ rằng điều này chỉ là một sự lố bịch.

Nhắc nhở đến ân oán quá khứ, giết Tổng thống Diệm là một người đại sứ Cộng Hoà chứ không phải chủ trương của Tổng thống Dân Chủ Kennedy, bỏ rơi Việt Nam là do phản chiến Dân Chủ, nhưng lừa Tổng thống Thiệu là Tổng thống Nixon, bỏ rơi Việt Nam Cộng Hoà là chủ trương của Kissinger đang là cố vấn của ông McCain, là của chính phủ Cộng Hoà Ford. Chính sách của đảng Cộng Hoà trong thời gian ông Bush cầm quyền cũng không có điểm nào gọi là lợi ích cho cuộc tranh đấu của người Việt. Tổng thống Bush cũng đã từng cho rằng quân đội Việt Nam Cộng Hoà không bằng “quân đội Iraq”! Quá khứ cũng cho thấy nếu Tổng thống Carter không ra lệnh cứu vớt người tỵ nạn, thì ngày nay rất nhiều người đang có mặt ở Hoa Kỳ đã vào miệng cá! Quá khứ lịch sử đối với chiến cuộc Việt Nam là sự sai lầm của cả Cộng Hoà và Dân Chủ. Không thể cứ tiếp tục chưởi rủa Dân Chủ, tôn vinh Cộng Hoà. Trong đầu thập niên 1990, một Luật Sư ở Houston đã tuyên bố “bọn người Việt theo Dân Chủ là bọn đĩ điếm..”

Chúng tôi nghĩ rằng nhưng lời tuyên bố như vậy là cực đoan quá trớn, và không có một cái nhìn xa xôi nào đối với tương lai. Chính trường của Hoa Kỳ là một sự thay đổi, người Việt ở trong đảng này hay đảng kia đều có thể bênh vực cho quyền lợi của cộng đồng. Là thành phần trẻ họ sẽ có cơ hội đi vào dòng chính trị Hoa Kỳ, để một ngày nào đó cộng đồng chúng ta có thể có những người đại diện cao cấp trong chính quyền, là dân biểu, là thượng nghị sĩ. Ngày nay cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ đã có nhiều anh chị em Việt Nam xuất thân từ Dân Chủ đã đắc cử vào nhiều chức vụ trong thành phố, trong tiểu bang. Ngược lại phía Cộng Hoà cũng vậy, và giới trẻ này không thấy có thái độ đen trắng, “tao thiện mày ác” như một số nào đó trong thế hệ lớn tuổi của những người viết báo Việt Ngữ, có thể trong đó có chúng tôi. Có thể tiếng Anh của họ cũng chỉ biết câu “don’t you understand” hay “do you understand?” như chúng tôi, cho nên sau cuộc tranh luận lần thứ nhất họ vội vã viết bài bình luận nói rằng “ Obama chứng tỏ gà mờ, thiếu kiến thức.. bị McCain dạy dỗ như học trò.!” Khi viết một bài báo gieo nghi vấn đối với số tiền vận động của ông Obama, không hiểu những người viết những bài như vậy đã nghiên cứu và biết rõ qui luật đóng góp tài chánh cho ứng cử viên ở Hoa Kỳ hay không?

Chúng tôi tạm nghĩ báo chí của người Việt chưởi bới lẫn nhau quá nhiều – cứ chưởi nhau cho đã! Nhưng không nên chưởi bới và mạ lỵ những chính trị gia Hoa Kỳ, dù họ là ai, nếu họ chưa làm điều gì xúc phạm tới danh dự hay quyền lợi tập thể người Việt. Chúng tôi nghĩ rằng điều này chẳng lợi ích gì cho tập thể, cho tương lai của Cộng Đồng. Trong sinh hoạt cộng đồng, hay đấu tranh chính trị của người Việt ở khắp nơi phiá Dân Chủ cũng rất gần gũi với chúng ta, có thể hơn Cộng Hoà. Trong số dân biểu Cộng Hoà chúng tôi cũng chưa thấy ai sẳn sàng tranh đấu cho nhân quyền ở Việt Nam như nữ dân biểu Loretta Sanchez. Nêu ra điều này chúng tôi chỉ muốn nói rằng Cộng Hoà hay Dân Chủ đều cần thiết cho chúng ta, không nên vì mang trên mình hai chữ Cộng Hoà hay Dân Chủ rồi mất đi sự ôn tồn, khách quan cần thiết.

Ông Obama cũng chưa hẳn đắc cử, ông McCain cũng chưa chắc thất bại, nhưng họ là hai người mà đa số trên dưới 60% dân chúng đều cho rằng ai đắc cử cũng đều là người tổng thống tốt. Một McCain đắc cử có thể là một người rút kinh nghiệm thất bại của Tổng thống Bush thực hiện nhiều sự cải cách (reform) cho đất nước như ông đã nhiều lần nhắc tới.

Chính phủ Hoa Kỳ dưới quyền Tổng thống McCain chúng tôi cũng tin rằng không đến nỗi tệ như chính phủ Bush!

Tuy nhiên, trong sự chọn lựa, chúng tôi sẽ bỏ phiếu cho ông Obama, lý do:

Thứ nhất, với chúng tôi ông Obama là một hiện tượng – con một người du sinh, xa cha từ nhỏ, được bà ngoại nuôi dưỡng, đã có thể ăn học thành tài, vươn lên trên diễn đàn chính trị để có thể trở thành một ứng cử viên tổng thống của một đảng chính trị Hoa Ky, chúng tôi cho rằng ông ta là một tấm gương sáng cho thế hệ thanh niên, cho con cái của những người mới tới Hoa Kỳ.

Thứ hai, một nước Mỹ có một tổng thống Mỹ đen sẽ mở ra một kỷ nguyên mới, Hoa Kỳ hoàn toàn cáo chung kỳ thị, màu da không còn là một yếu tố quan trọng trong sinh hoạt chính trị, con cái người da trắng, da đen, da vàng trong tương lai ai có tài đều hy vọng có thể trở thành tổng thống. Có thể hy vọng sẽ có những tổng thống họ Trần, họ Nguyễn.

Thứ ba, ông ta chứng tỏ là một người có khả năng thực sự, có sức thuyết phục và lôi cuốn thực sự. (Nếu ông ta là “gà mờ”, thì không thể lôi cuốn những cuộc nói chuyện qui tụ hàng trăm ngàn người (St Louis, Denver), hàng chục ngàn người (Orlando), trên 200.000 người ở Đức. Chúng tôi đã theo dõi các buổi diễn thuyết, tranh luận của ông và thấy rõ ông là người có tài thực sự.

Thứ tư, với sự ngưỡng mộ của người dân các nước hiện nay, ông ta có nhiều cơ hội phục hồi những thiệt hại ngoại giao mà chính phủ Bush đã gây ra. Đối với Phi Châu, một lục điạ nhiều tài nguyên chưa khai phá, đang bị Trung Cộng chiếm lĩnh ảnh hưởng, ông Obama là người sẽ dễ dàng mang Phi Châu gần lại Hoa Kỳ hơn bất cứ người tổng thống nào khác.

Thứ năm, Dân Chủ làm một đảng có truyền thống quan tâm tới vấn đề nhân quyền. Hy vọng chính phủ mới sẽ quan tâm tới nhân quyền ở Việt Nam hơn.

Thứ sáu, giai đoạn khó khăn kinh tế hiện nay, đất nước lại đang phải đối đầu với 2 cuộc chiến, giai đoạn này cần thiết phải có một hành pháp và một lập pháp thống nhất mới có thể có những quyết định nhanh chóng. Lịch sử chứng tỏ Dân Chủ có khả năng phục hồi kinh tế quốc gia hơn.

Thứ bảy, ông McCain đắc cử cũng không hẳn sẽ làm gì lợi ích cho CSVN lắm, nhưng từ việc ông ta và Kerry bảo trợ để CSVN sưả đổi liên hệ ngoại giao với Hoa Kỳ; bà Cindy đang có liên hệ chặt chẽ với Việt Nam, công tác từ thiện của bà dành cho trẻ em sứt môi cũng là một công tác đáng ngưỡng mộ. Nhưng khi ông McCain trở thành Tổng thống Hoa Kỳ thì CSVN chắc chắn sẽ khai thác tối đa để làn nãn chí những người tranh đấu trong nước!

CSVN hy vọng McCain đắc cử, tôi không muốn McCain đắc cử.

Đến giờ này, nếu không có điều gì bất thường xảy ra, tân tổng thống Hoa Kỳ sẽ là Barack Obama.

Huệ Vũ

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

BÙI GIÁNG & TRÒ CHƠI BÁN DÙI

LÊ BÍCH SƠN

Image
Chân dung nhà thơ BÙI GIÁNG.
Năm nào cũng vậy, mùa Đông về hắn thường hay nghe ngóng tin tức quê nhà. Bão lụt gần như đã trở thành “người bạn đồng hành” năm nào cũng “ghé thăm” giãi đất miền Trung. Riết rồi tạo nên trong hắn một thói quen hết sức…vô duyên: “… chờ tin bão lụt”.

Dạo này tin tức thiên tai ít nghe hơn trước, thay vào các chương trình radio Việt ngữ người ta thi nhau “bình loạn” chuyện bầu cử tổng thống Hoa Kỳ. Đôi khi rỉ rả một vài câu chuyện văn chương…

Bẵn đi một thời gian khá dài, cái tên Bùi Giáng gần như đã xoá sạch trong bộ nhớ của hắn; hôm nay lại hiện về. Người ta thay nhau ca ngợi Bùi Giáng là cây bút lớn, là thiên tài văn chương, nhà thơ cuối cùng thế kỷ 20, là…

Khác với những gì người ta nói về Bùi Giáng, cái tên Bùi Giáng đến với hắn bằng tất cả những cảm giác rùng rợn và lo sợ… mỗi khi phạm phải một sai lầm. Bùi Giáng trong hắn đích thực là “Ông Ba Bị”, nhân vật đen đủi, gớm ghiếc với chiếc bị lớn trong tay chuyên bắt con nít bỏ bao, trong những câu chuyện răn đe của người lớn…

Năm bảy, tám tuổi gì đó, lần đầu tiên hắn “diện kiến” Bùi Giáng trong một lần tan học. Bùi Giáng mặc áo quần rách tả tơi, gầy đen, tay cầm một cây gậy quấn vải có cột vài chai lọ trên đó, và dĩ nhiên không cầm chiếc bị nào để bắt cóc con nít… Ông Ba Bị Bùi Giáng hiền hơn những gì hắn nghe người ta kể!

…Sau đó, hắn tham gia cùng lũ trẻ trong vùng “chơi trò Bùi Giáng”. Trò chơi vừa thích thú, vừa lo âu sợ hãi lạ lùng. Bọn trẻ thi nhau tìm đến gần Ông rồi bất chợt hô to: “Bùi Giáng…bán dùi, Bùi Giáng…bán dùi…” rồi xô nhau mà chạy… Không biết Ông có đuổi theo phía sau hay không, nhưng “chơi trò Bùi Giáng” quả là một điều thích thú của lũ trẻ ngày đó.

Thời gian sau, bọn trẻ không còn thấy hình bóng Bùi Giáng nữa. Đoạn đường từ cầu Diêu Trì đến Ngã Ba Phú Tài vắng bóng Ông. Người ta thay nhau truyền những “bản tin”, đại loại như: “Bùi Giáng do C.I.A cài lại, và đã được “bốc” đi Mỹ tháng trước…”, hoặc “Bùi Giáng đã được một nhóm người vượt biên “tóm cổ” lên một chiếc tàu ra đi từ cảng Quy Nhơn…để thông dịch”; .v.v. Nói chung, Bùi Giáng đã rời khỏi Quy Nhơn để… đi Mỹ.

Năm hắn khăn gói vào Sài Gòn thi đại học, tờ lịch treo tường trong phòng Thầy hắn có ghi hàng chữ:

“Ta vẫn tưởng đầu đường thương xó chợ,
… Ai đâu ngờ xó chợ cũng…chơi nhau…”

Hắn bật cười. Ý thơ ngộ nghĩnh thiệt, nhưng suy gẫm kỹ quả là chí lý. Hỏi ra mới biết thơ Bùi Giáng.

Những ngày sau đó, hắn tìm ra một sự thật: Bùi Giáng… không đi Mỹ như người ta đã “thổi tin đồn”. Bùi Giáng vẫn còn sống và sống rất mãnh liệt ngay trên mảnh đất Sài Gòn đầy náo nhiệt. Thỉnh thoảng, hắn nhìn thấy Bùi Giáng "làm cảnh sát giao thông" giữa cầu Trương Minh Giảng; có lúc Ông trú mưa dưới mái hiên Trung Tâm Ngoại Ngữ Đại Học Sư Phạm (Đại Học Vạn Hạnh trước 1975); đôi khi Ông đến thăm chư Tăng ni và các Thiền viện trong những câu chuyện kể của quý Thầy…

Bùi Giáng bụi bặm, gầy gò, nghêu ngao, tự tại giữa đất Sài Gòn!

Sài Gòn những năm cuối thập kỷ 1990, thỉnh thoảng diễn ra một vài “sự kiện báo chí” được ghi nhận “cầu vượt cung”…

Câu chuyện về cái chết của diễn viên Lê Công Tuấn Anh đã khiến giá báo tăng gấp ba bốn lần nhưng vẫn “hiếm hàng”; nhiều người còn “sáng kiến” photocopy những phóng sự điều tra, bản tin liên quan (từ những tờ báo in ra giấy A4) “phát hành” “đáp ứng nhu cầu độc giả”; sinh viên thức dậy thật sớm đến các điểm phát hành mua cho được tờ báo mới để đem vào lớp thay nhau “bình loạn”…

Tin Bùi Giáng ra đi lại một lần nữa “chấn động” giới cầm bút. Lần này người ta không những chạy đi tìm mua các tờ báo in, mà gần như hiệu sách nào cũng được khách hàng hỏi: “Ở đây có thơ Bùi Giáng?”. Tin, tuỳ bút, phóng sự, truyện tự kể, bình luận, sách và thư pháp “Bùi Giáng” được người ta thi nhau phát hành, bày bán… Người ta thay nhau kể công, viết lách, phô trương trên những trang viết về những mối “thâm tình” cùng Bùi Giáng… khi nhục thân Ông được đưa từ Chùa Vĩnh Nghiêm đến nghĩa trang Gò Dưa - Thủ Đức; và mộ phần Ông chưa xanh cỏ…
Image
Mộ phần Thi sĩ Bùi Giáng tại nghĩa trang Gò Dưa - Thủ Đức.
Hắn cũng tìm riêng cho mình một bộ sưu tập Bùi Giáng nho nhỏ. Những lúc rảnh rổi, hắn vừa đọc, vừa giận, vừa thích thú, vừa chua xót… rồi lầm bầm một mình: “Ước gì một phần nhỏ lợi tức thu được từ những cuốn sách, tờ báo này… đủ để cho Bùi Giáng một bữa no, một manh áo mới!”

Mà cũng ngộ thiệt, Bùi Giáng - một người mà người ta cho là “bệnh tâm thần” - có đòi gì đâu? Ông tự tại rong chơi đến “đã đời”… không một xu dính túi.

“…Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi,
Đi lên, đi xuống đã đời du côn…” (Bùi Giáng)

Xét cho cùng Ông chẳng hề "du côn" chút nào! Phần "du côn" Ông đã "khiêm tốn" "nhường lại" kẻ khác...

Bùi Giáng vào cõi vô tận một ngày mùa Đông năm 1998, Sài Gòn lất phất những hạt mưa buồn. Mười năm sau đó, ở một nơi xa xăm, âm thầm thắp nén hương vọng hướng về Ông, hắn lặng lẽ cúi đầu tạ lỗi “trò chơi mất dạy… bán dùi” ngày xưa.

Với hắn, Bùi Giáng tuy rách nát, gầy gò thân xác nhưng tâm hồn của Ông trong sạch, mãnh liệt vô cùng!

LÊ BÍCH SƠN
Miền Đông Hoa Kỳ tháng 10 năm 2008

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


Nhảy Múa Dưới Cơn Mưa
Lúc đó khoảng 8;30 sáng, phòng cấp cứu rất bận rộn. Một ông cụ khoảng trên 80 tuổi bước vào phòng và yêu cầu được cắt chỉ khâu ở ngón tay cái. Ông cu nói ông rất vội vì ông có một cuộc hẹn vào lúc 9 giờ. Tôi bắt mạch, đo huyết áp cho ông cụ xong, tôi bảo ông ngôi chờ vì tôi biết phài hơn một tiếng đồng hồ nữa mới có người đến cắt chỉ khâu cho ông. Tôi thấy ông nôn nóng nhìn đồng hồ nên tôi quyết định sẽ đích thân khám vết thương ở ngón tay cái của ông cụ vì lúc đó tôi cũng không bận với một bịnh nhân nào khác cả.

Khi khám tôi nhận thấy vết thương đã lành tốt vì vậy tôi đi lấy dụng cụ để tháo chỉ khâu ra và bôi thuốc vào vết thương cho ông cụ. Trong khi săn sóc vết thương cho ông cụ tôi hỏi ông là ông vội như vậy chắc là ông có môt cuộc hẹn với một bác sĩ khác sáng hôm nay phài không.

Ông nói không phải vậy nhưng ông cần phải đi đến nhà dưỡng lão để ăn điểm tâm với bà cụ vợ của ông ở đó. Tôi hỏi thăm sức khỏe của bà cụ thì ông cho biết là bà đã ở viện dưỡng lão một thời gian khá lâu rồi và bà bị bịnh Alzheimer (bịnh mất trí nhớ ở người lớn tuổi). Khi nói chuyện tôi có hỏi ông cụ là liệu bà cụ có buồn không nếu ông đến trể một chút. Ông cụ nói bà ấy không còn biết ông là ai nữa và đã 5 năm nay rồi bà không còn nhận ra ông nữa. Tôi ngạc nhiên quá và hỏi ông cụ, " và Bác vẫn đến ăn sáng với Bác gái mỗi buồi sáng mặc dù Bác gái không còn biết Bác là ai nữa?" Ông cụ mĩm cười, vỗ nhẹ vào tay tôi rồi nói "Bà ấy không còn biết tôi nữa nhưng tôi vẫn còn biết bà ấy là ai."

Khi ông cụ bước ra khỏi phòng, tôi phải cố gắng lắm để khỏi bật khóc. Tôi vô cùng xúc động và thầm nghĩ, "Ước gì đời mình có được một tình yêu như thế!"

Tình yêu thật sự không phải là tình yêu thân xác, cũng không phải là tình yêu lãng mạn.
Tình yêu thật sự là sự chấp nhận tất cả những gì đang có, đã từng có, và sẽ có hoặc không.

Mỗi ngày bạn nhận được rất nhiều email và phần lớn là chuyện vui hoặc chuyện khôi hài; nhưng thỉnh thoảng cũng có những email mang theo những thông điệp có ý nghĩa như thế này. Và hôm nay tôi muốn được chia xẻ thông điệp này với các bạn.

Người hạnh phúc nhất không nhất thiết là người có được những điều tốt đẹp nhất, mà là người biết chấp nhận và sống một cách tốt đẹp nhất với những gì mà mình có được. Tôi hy vọng bạn chia xẻ ý tưởng nay với những người mà bạn yêu mến.

"Cuộc sống không phải là làm sao để chịu đựng cho qua cơn bão, mà là làm sao để biết nhảy múa dưới cơn mưa".

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Ai sẽ là "tôi"

Trần Mộng Tú
Tôi là một người sống độc thân (và không có con), năm nay tôi 50 tuổi. Tôi sinh sống ở Virginia thuộc Hoa Thịnh Ðốn, sức khỏe đầy đủ và tôi có một việc làm vững chắc. Tôi có một người cha 85 tuổi, sống tại Houston, Texas.

Ôi bao dặm đường xa cách. Từ ngày mẹ tôi mất cha tôi sống một mình, ông không chịu rời căn nhà với những năm tháng của quá khứ và tôi không thể bỏ việc để dọn về nhà cha. Mùa Xuân năm ngoái cha tôi bị ngã bể xương hông và dập một bên sườn. Bây giờ cha tôi phải vào viện dưỡng lão dành cho người già ốm yếu và cha tôi được xếp vào danh sách phải săn sóc đủ một vòng tròn của chiếc đồng hồ treo trong phòng ông. Từ ăn uống, nằm ngồi, đi đứng, làm vệ sinh, nhất nhất điều có y tá. Cái điều đáng buồn là trong khi nhận tất cả phục dịch cho thân thể thì đầu óc của cha tôi vẫn còn cái minh mẫn của một ông giáo sư dậy toán cách đây mấy chục năm.

Tôi không thể thường xuyên bỏ công việc để đi xuống thăm cha, nhưng mỗi ngày tôi phải điện thoại, điện thư liên lạc với bác sĩ, dược sĩ, y tá và những người săn sóc cho cha tôi tại viện dưỡng lão. Tôi cố gắng thu xếp để mỗi hai tháng đến với cha tôi một cái cuối tuần, và mỗi năm về một tuần vacation vào dịp lễ Tạ Ơn hay Giáng Sinh. Tôi biết là cha tôi rất mừng mỗi lần thấy con đến thăm. Cái ánh mắt của cha tôi khi nhìn tôi chào ra về bao giờ cũng theo tôi suốt chuyến bay. Hôm nay cũng thế, khi ngửa cổ ra sau ghế để tìm một giấc ngủ ngắn trên phi cơ, tôi nhìn rất rõ lại hai con mắt của cha tôi. Bất giác tôi tự hỏi “Khi tôi vào tuổi già yếu. Ai sẽ là ‘TÔI’ để tới lui săn sóc hỏi han tôi thường xuyên?

Một người độc thân không có anh chị em và những người già không có con, những người có con sống không cùng một tiểu bang, hay xa hơn nữa ở tận một quốc gia khác thì sẽ rơi vào hoàn cảnh nào khi tuổi già lặn xuống như mặt trời lặn trên biển (bạn đã ngắm mặt trời lặn trên biển bao giờ chưa? Nó mất vào nước nhanh vô cùng).

Cái thùng thư ba, bốn ngày không có người lấy, hay đống báo thành chồng trước hiên nhà, cỏ không cắt, lá không cào, các cửa sổ không mở là dấu hiệu cho hàng xóm biết nên báo cho cảnh sát vì chủ nhân trong căn nhà đó ở một mình và là một người già.

Nỗi lo âu của một người không có thân bằng quyến thuộc ở gần lúc tuổi già không phải là nỗi lo âu “quá đáng”. Ðó là một điều chúng ta nên nghĩ đến khi còn có thể tìm hiểu và thu xếp cho chính mình.

Bà Barbara Gordon có mẹ già 92 tuổi sống ở Florida, trong khi bà làm việc ở New York bà đã đặt ra câu hỏi “Who will be ME for me.” Bà đem câu hỏi đó hỏi những người bạn độc thân như bà, không con hay có con tản mác mười phương, họ cùng nhau bàn bạc, đặt ra những câu hỏi cho tuổi già:

- Tôi sẽ sống ở đâu?

- Tôi sẽ sống như thế nào?

- Tôi có đủ tiền không?

- Ai sẽ săn sóc tôi nếu tôi mất khả năng hoạt động?

- Nếu tôi ngã (lúc già yếu) nằm dưới đất hai, ba ngày thì sao?

- Một ngày nào đó liệu tôi có phải rời căn nhà tôi đang ở ?

Những câu hỏi trên đưa đến những câu trả lời khác nhau mà câu nào cũng rất mơ hồ. Cuối cùng họ đi đến kết luận: Cái cách mình đang sống bây giờ sẽ ảnh hưởng rất nhiều vào đời sống của mình lúc về già. Họ làm cái danh sách sau đây như một kim chỉ nam.

“Có bạn bè ở mọi lứa tuổi.” Ðừng bao giờ nghĩ mình chỉ có thể thân với những người cùng lứa tuổi hay cùng hoàn cảnh như mình. Ðồng ý là họ hiểu mình hơn nhưng đồng thời cũng chỉ nghe những than thở của nhau, không có gì mới lạ. Giao thiệp với những người trẻ hơn mình cũng trẻ lại với cách suy nghĩ và ứng xử với đời sống “Mới” này. Giao thiệp với người già hơn mình để được hưởng sự khôn ngoan của họ.

“Kết thân với hàng xóm.” Chắc bạn không muốn ngã xuống sàn nhà, nằm dưới đất hai ngày rồi mà không có ai đến vực lên. Một tiếng gọi cửa của hàng xóm có khi cứu được sinh mệnh của bạn đấy. Chạy qua chạy lại nhà hàng xóm lúc còn khỏe là một điều rất nên làm. Có hàng xóm tin và thân nhau còn giao cho cả chìa khóa nhà nữa. Người lớn tuổi đâu còn sợ mất mát gì về vật chất, cái quý nhất chính là bản thân mình thôi. Nếu hai gia đình cùng trẻ cùng có con nhỏ ở cạnh nhau mà thân thiện được là một điều rất quý. Tránh được rất nhiều va chạm về con cái và hữu ích cho nhau khi về già.

“Một bác sĩ thân thiện và có lương tâm” rất cần. Ông bác sĩ này phải là một người sẵn sàng cho bạn khi bạn cần tới. Một người không bao giờ từ chối cắt nghĩa một câu hỏi xem ra không được chính xác mấy của bạn. (Những câu hỏi không có kinh nghiệm gì của người trẻ tuổi và quá lẩm cẩm của người già.)

“Dược sĩ trẻ hơn mình nhiều tuổi.” Mua thuốc với những người này, bạn được họ cắt nghĩa rõ ràng và thân thiện hơn. Người bệnh ở lứa tuổi nào cũng cần những dược sĩ trẻ trung.

“Tiêu ít, để dành nhiều.” Người trẻ để dành cho ngày mai. Người già để dành cho hậu sự.

Cần kiệm luôn luôn là một đức tính.

“Ăn uống cẩn thận hơn.” Thức ăn luôn luôn là một nguyên nhân chính cho sức khỏe. Người dân nước nào cũng tự hào về văn hóa ẩm thực của nước họ. Nhưng cái bao tử của cả bàn dân thiên hạ chỉ muốn tiêu thụ những thức ăn nhẹ nhàng, ít dầu mỡ và bổ dưỡng. Bạn cứ lắng nghe xem cơ thể bạn phản ứng thế nào sau mỗi bữa ăn khác nhau, thì bạn sẽ hiểu ngay nó muốn nói điều gì.

“Thể thao nhiều hơn” Ai cũng biết cơ thể cần vận động thì mới khỏe mạnh và đầu óc mới minh mẫn. Cứ cả ngày ngồi gõ cọc cọc (như chính tôi đây) ở máy vi tính, hay xem phim bộ như phần đông người Việt lớn tuổi, chắc chắn là không đúng rồi. Hãy đứng lên. Người trẻ có thể thao của người trẻ, người lớn tuổi có những sinh hoạt thể thao cho tuổi của mình. Nếu không đi xa được thì loanh quanh trong khu xóm, hoặc vung tay, khua chân ngay trong nhà mình. Ðừng ngồi yên một chỗ. Chim chóc ngoài vườn đang gọi bạn.

Ngay bây giờ phải là “MÌNH”. Có người đặt câu hỏi: “Ai thương tôi nhất”

Câu trả lời: “Mình thương chính mình nhất” Vì chồng, (vợ ) hay con mình cũng không thương mình bằng chính mình thương mình. Chồng, (vợ) hay con không thể chịu trách nhiệm về thân thể bạn được. Họ chỉ chia sẻ một phần nào.

Nếu bây giờ bạn thực hiện được những điều trên thì khi về già chính bạn đã lo được cho bạn khá nhiều. Vì có ai đó, không phải bà con mình (người bạn hàng xóm) sẽ nhắc cho bạn “Tối nay lúc 9:00 giờ có mục đọc truyện của đài phát thanh (tiếng Việt) hay lắm.

Hoặc: “Ngày mai Chủ Nhật bà có đi chùa không? Sẽ có xe đón đấy.”

tmt

(Theo My Generation)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

VÀI ĐIỀU GHI NHẬN
QUA CUỘC HỌP BÁO CỦA THI SĨ NGUYỄN CHÍ THIỆN.



Ngày thứ Bẩy 25 tháng 10 năm 2008 vừa qua, cuộc họp báo do Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện mời gọi đã thu hút được khoảng 500 người, đứng và ngồi chật phòng họp trên lầu cũng như phòng tiếp khách tại tầng trệt của khách sạn Ramada tại thành phố Garden Grove, bên cạnh Little Sàigòn, nơi được gọi là Thủ Đô Tị Nạn. Cuộc họp báo bắt đầu vào lúc 4 giờ và đã chấm dứt lúc 6 giờ chiều cùng ngày. Sau hai tiếng đồng hồ với những phần giới thiệu, tự trình bầy, tranh luận, đối chất, hỏi và đáp, cuộc họp báo đã để lại trong lòng người tham dự nhiều tình cảm sôi nổi nhưng thỏa mãn Những tiếng vỗ tay, những gật đầu, và những nụ cười chứng tỏ rằng bao thắc mắc đã được giải tỏa. Tuy vậy, với một số người ở xa, được nghe và nhìn qua các bản tường thuật bằng video, vẫn đưa lên diễn đàn trên mạng nhiều tư tưởng phê phán trầm trọng, thậm chí có vị còn tung ra cả một Đại Cáo Trạng (như Đốc Tờ Nguyễn Thị Thanh) hoặc bản Chính Thức Truy Tố Tên Gian Tế Mạo Nhận Đại Thi Hào Nguyễn Chí Thiện (của Bùi Như Hùng). Dựa vào những diễn tiến xẩy ra trong cuộc họp báo, một số nhận thức được ghi lại như sau:

I-Cuộc họp báo hoàn toàn tôn trọng nguyên tắc dân chủ:

Sau khi nhận được những thách thức,phê phán, hạch tội, và tuyên bố đích danh Nguyễn Chí Thiện là kẻ mạo nhận trên báo (Sàigòn Nhỏ) và các diễn đàn trên mạng, Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện đã mời gọi một cuộc họp báo công khai để trả lời những thách đố đó trong một tinh thần hoàn toàn tôn trọng tính chất Dân Chủ và Tự Do của mọi người trên đất Mỹ. Người bị tố cáo và người tố cáo gặp gỡ công khai truớc sự chứng kiến của báo chí và đồng hương. Vì không có ban tổ chức, không ghi danh, nên không rõ số đại diện báo chí là bao nhiêu, nhưng nguời tham dự đều tin rằng, buổi họp báo có sự hiện diện cuả đông đảo báo chí, truyền thanh, và truyền hình, vì lời mời gọi đã đuợc đăng trên các tờ nhật báo ở Nam Cali, trên một số báo tuần, đồng thời đuợc phổ biến công khai trên mọi diễn đàn liên tục từ nhiều tuần qua. Việc chuẩn bị rõ ràng và minh bạch. Không có gì che dấu. Không có ban tổ chức cồng kềnh, chỉ có hai người phụ giúp việc điều hợp chương trình. Không có chủ tọa, không người trên, kẻ dưới. Hai bên tôn trọng quyền Tự Do phát biểu của nhau. Khi một số đồng hương ồn ào phản ứng về những lời tuyên bố của bà Hoàng Dược Thảo, Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện đã liên tục kêu gọi xin mọi người yên lặng và mong những nguời tham dự nên tôn trọng sự phát biểu của bà Hoàng Dược Thảo. Ông cũng nhắc lại đôi lần là dành riêng cho bà Hoàng Dược Thảo thời gian 20 phút để nêu câu hỏi. (Bà Hòang Duợc Thảo đã tự bỏ ra về 2, 3 phút sau khi ông Thiện nhắc là bà còn 10 phút nưã.)

Tất cả các sự kiện diễn ra, những câu hỏi và trả lời được ghi lại trong nhiều máy thu hình, thu thanh của các đài truyền hình, các nhà báo, và tư nhân, không một ai có thể tẩy xóa, cắt xén, hay thay đổi. Những tài liệu này sẽ được dùng để đối chiếu trong tương lai, nếu có bất cứ thắc mắc hay ngộ nhận nào đến từ bất cứ đối tượng nào. Cuộc họp báo như thế, đã diễn ra trong một bầu không khí hoàn toàn Dân Chủ và Tự Do.

II- Tác giả và Tác quyền đã đuợc chứng minh một cách công khai:

a-Tác Giả:

Truớc đây, trong phần khai pháo cuả báo Saìgòn Nhỏ cuả bà Hoàng Duợc Thảo, qua bài viết cuả một người ký tên hiệu là Triệu Lan (Bà Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút Hoàng Duợc Thảo không cho biết một chi tiết nào về thân thế tác giả, ngoài việc cho Triệu Lan là "bà"), tiếp theo là các bài viết cuả những nhân vật có thực như Đặng Văn Nhâm, Nguyễn văn Chức, Bùi Nhữ Hùng, Hồ Công Tâm (tức Đỗ Ngọc Minh, anh ruột Cố Tiến Sĩ Đỗ Quý Sáng), Bác sĩ Nguyễn Thị Thanh, Bác sĩ Trần Ngọc Ninh, Duyên Lãng Hà Tiến Nhất và một số vị tham gia các diễn đàn "ảo" trên mạng, thì các vấn nạn chính liên quan đến nhân vật Nguyễn Chí Thiện như sau:

-Nguyễn Chí Thiện thật đã chết ngay khi đột nhập vào toà Đại Sứ Anh.

-Nguyễn chí Thiện hiện tại là tay sai Cộng Sản đuợc gài sang làm lũng đoạn cộng đồng hải ngoại.

-Bản viết tay tập thơ Vô Đề và chữ viết cuả Nguyễn chí Thiện hiện tại không giống nhau.

-Hình cuả Nguyễn Chí Thiện lúc đột nhập vào toà Đại Sứ Anh và hình hiện tại không giống nhau.

-Nguyễn Chí Thiện, sau khi sang Mỹ đã không biết làm thơ.

-Nguyễn Chí Thiện là con bài của Việt Tân.

Sau khi được biết là Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện có ông anh ruột là Trung Tá Nguyễn Công Giân, Phòng Nhì, Tổng Tham Mưu, và Trung Tá Giân xác nhận đây chính là em ruột mình, nguời đã từng bị tù 27 năm vì làm Thơ chống Cộng, thì những cuộc tấn công lại chuyển sang ông anh, Trung Tá Nguyễn Công Giân, là "đã từng về miền Bắc vào năm 1958 và 1972."

Ngoài ra còn một số câu hỏi lẩm cẩm, có tính chất võ đoán, thiếu thực tế, thí dụ như "Nguyễn Chí Thiện chấp nhận ở tù 27 năm, chỉ để chuẩn bị cho ngày sang Mỹ", hay "Nguyễn chí Thiện không biết nói tiếng Pháp, lại không có cơ hội học tiếng Anh vì sau 1954, vì nhà cầm quyền miền Bắc đã bỏ chế độ học sinh ngữ"... và một số câu ác ý khác đuợc một số nguời trên diễn đàn đặt ra, không cần kể thêm ở đây, vì hoàn toàn không có giá trị, nếu không muốn nói là có tính chất "cuỡng từ đoạt lý", như lời cuả Luật sư Nguyễn Ngọc Bội, nguyên Giáo Sư Võ Bị Đà Lạt, nguời bạn học thiếu thời của Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện, từ tiểu học đến Đệ Tứ. Luật sư Nguyễn Ngọc Bội, nguời đến tham dự buổi họp báo, cho biết ông chia tay Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện để di cư vào Nam năm 1955. Ông xác nhận Nguyễn Chí Thiện "rất giỏi tiếng Pháp." (Pháp ngữ trong thập niên 50 - 60 vẫn còn là sinh ngữ chính. Thi Trung Học, Tú Tài vẫn phải làm Luận bằng tiếng Pháp. Những năm đầu 60, cuốn "La vie en Amerique" rất phổ thông, viết duới nhãn quan cuả nguời Pháp là cuốn sinh ngữ chính dành cho học sinh tiếng Anh, trình độ Tú Tài.)

Trong buổi họp báo, sự có mặt cuả nguyên Trung Tá Phòng 2 Tổng Tham Mưu Nguyễn Công Giân, xác nhận ông Nguyễn Chí Thiện hiện tại chính là em ruột ông, đã giải toả đuợc tất cả các nghi vấn về "Thiện giả, Thiện thật". Ông Giân còn khẳng định lời tố cáo cuả bà Hoàng Duợc Thảo là "ông Giân về miền Bắc trong năm 1958 và 1972" là hoàn toàn biạ đặt. Ông đã cho biết năm đó ông làm thông dịch viên cho phái đoàn quốc gia ở Mỹ. Và vì là một sĩ quan An Ninh, ông không thể về miền Bắc trong thời chiến đuợc. Sự tố cáo vô lý này nằm trong một âm mưu ác ý muốn hại đến danh dự cuả ông Giân, một Sĩ Quan cao cấp của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa cũng như muốn ám chỉ rằng cả hai anh em ông Thiện đều là điệp viên Cộng Sản.

b-Về việc xử dụng tiếng Pháp:

Như đã viết ở trên, Luật sư Nguyễn Ngọc Bội, bạn học thuở thiếu thời với Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện xác nhận Nguyễn Chí Thiện "rất giỏi tiếng Pháp." (Pháp ngữ trong thập niên 50 - 60 vẫn còn là sinh ngữ chính. Thi Trung Học, Tú Tài vẫn phải làm Luận bằng tiếng Pháp. Những năm đầu 60, cuốn "La vie en Amerique" rất phổ thông, viết duới nhãn quan cuả nguời Pháp là cuốn sinh ngữ chính dành cho học sinh tiếng Anh, trình độ Tú Tài.)

Khi bà Hoàng Duợc Thảo đặt vấn đề yêu cầu ông Thiện viết "chính tả" do bà Thảo đọc, ông Thiện đã mất bình tĩnh, nói hơi lớn tiếng, vì đây là một yêu cầu vô ly,ù hơn nữa còn xúc phạm đến danh dự cuả ông khi bà Thảo coi ông Thiện như một học trò để cô giáo Thảo đọc "chính tả" thử tài. Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, thay vì ngoan ngoãn ngồi xuống, cầm bút viết theo lời đọc của bà Thảo, đã nói một tràng dài tiếng Pháp khiến bà Hoàng Duợc Thảo im lặng. Sau khi bà Thảo ra về, ông Thiện đã đọc nguyên bản lá thư cuả ông Olive Todd, một nhà báo Pháp, xin lỗi ông Thiện khi truớc đây đã dưạ vào một nguồn tin không chính xác, cho rằng ông Thiện thật đã chết ngay khi vào toà Đại Sứ Anh. Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện, sau đó, đã nhìn thẳng vào lá thư bằng tiếng Pháp đó, mà dịch luôn một hơi sang tiếng Việt, không vấp váp.

(Ngày 18/10/2008 từ La Garde Freinet, Pháp quốc, Oliver Todd viết cho Nguyễn Chí Thiện một bức thư, trong đó có đoạn minh xác như sau:

"Trong quyển sách " Cruel Avril"của tôi (NXB Robert Laffont, Paris 1987), tôi có viết là ông đã chết trong tù vào mùa hè 1987. Tin tức sai lầm này do một cộng tác viên chuyển đến cho tôi. Cô ấy đã lấy tin đó trong một bài báo của tập san Quê Mẹ. Sự hiện diện của ông tại Orange County cũng đã đủ cải chính cái tin này rồi. Tôi rất tiếc đã không sửa chữa sai lầm của tôi trong ấn bản 2005 của quyển "Cruel Avril". Tôi xin thành thật cáo lỗi cùng ông." (Đỗ Thái Nhiên, "Anh không chết.")

c-Về câu tố cáo cho rằng ông là đảng viên Việt Tân:

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện khẳng định không bao giờ là đảng viên Việt Tân, làm cảm tình viên cũng không có. Ông không hề tham gia bất cứ một tổ chức đảng phái nào tại hải ngoại.

d- Về ý nghĩa cuả một số câu thơ:

Để trả lời câu hỏi "tại sao ông viết về biến cố 1954, lúc đó ông mới 16 tuổi, lại dùng ý từ cuả tuổi 20", ông cho biết làm thơ không phải là báo cáo. Thi sĩ xử dụng trí tuởng tuợng cuả mình mà nói về hoạt động cuả những bậc cha ông là chuyện bình thuờng. Thực tế, việc viết thay cho tư tưởng của các bậc anh hùng đã tạ thế là chuyện biết bao nhiêu nhà thơ, nhà văn đã làm. Trong trường hợp này, để chứng minh thêm, ông đã đọc ngay một bài thơ làm sau này rất hùng tráng, đuợc sự tán thuởng cuả toàn thể cử toạ.

e-Về việc giảo nghiệm chữ viết và hình ảnh:

Đây là chứng minh quan trọng nhất. Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện đã dẫn chứng bằng những chứng từ do các chuyên viên giảo tự và giả nghiệm hình ảnh cao cấp Hoa Kỳ phân tích từng nét bút, từng chi tiết trên hai tấm hình, lúc vào toà Đại Sứ Anh và hiện tại.

Luật Sư Đỗ Thái Nhiên, trong bài viết : "Anh không chết " đã ghi nhận những chi tiết như sau:

1) Chứng chỉ giảo nghiệm tự dạng ghi ngày 13/Dec/1995: Cuộc giảo nghiệm này được thực hiện bởi trung tâm giảo nghiệm quốc gia, Dorothy Brinkerhoff, tọa lạc tại số 4316 Boyar Avenue, Long Beach, Ca. 90807.

2) Chứng chỉ giảo nghiệm tự dạng ghi ngày 15/Oct/2008: Cuộc giảo nghiệm này được thực hiện bởi Trung tâm "A and M. Matley", địa chỉ 3092 Army Street, Ca. 94110.

Cả hai chứng chỉ số (1) và (2) đều kết luận chữ viết trong tập thơ Hoa Địa Ngục. (Bản chuyển vào tòa Đại Sứ Anh ngày 16/07/1979) và chữ viết của Nguyễn Chí Thiện ngày nay tại Mỹ là chữ viết của một người.

3) Chứng chỉ giảo nghiệm nhân diện qua hình chụp ghi ngày 03/08/2006: Cuộc giảo nghiệm này được thực hiện bởi trung tâm Stuchman, Forensic Photography, địa chỉ 421 Walnut Street, Suite 120, Napa, Ca. 94559. Chứng chỉ này kết luận: hình chụp Nguyễn Chí Thiện ở trong tù và hình chụp Nguyễn Chí Thiện ở Mỹ là hình của một người.

(Ngoài ra, một chứng minh ngoạn mục nhất mà Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện mới trình làng, là trang thứ Hai của tập thơ mà người ta gán cho là Vô Đề đó, có nguyên hàng chữ "HOA ĐỊA NGỤC" do chính tay ông viết từ hồi đó. Như vậy, việc cho là tập thơ có tên là "Vô Đề" của một thi sĩ Vô Danh đã chết nào đó, chỉ có trong trí tưởng tượng của những kẻ tấn công Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện.)

Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện đã soạn sẵn nhiều tập phóng ảnh các biên bản xác nhận này cho đại diện báo chí. Tất cả các tờ báo, đài truyền hình, truyền thanh đều đuợc các phóng ảnh này. Mọi thắc mắc, nếu có, Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện đề nghị nên liên lạc trực tiếp với những điạ chỉ cuả các chuyên viên ghi trên các biên bản.

g-Việc thách đố bà Hoàng Duợc Thảo bằng tiền mặt:

Điều đáng nói trong cuộc họp báo này, là trước khi đưa ra những bằng chứng cụ thể, Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện đã tạo nên một sự việc bất ngờ là thách đố bà Hoàng Dược Thảo, nếu chứng minh được ông là một người giả mạo, thì ông và nhóm bạn của ông sẽ phải mất cho cá nhân bà một số tiền là $200,000.00. Ngược lại, nếu bà Thảo không chứng minh được ông giả mạo trong khi ông lại chứng minh được mình chính là tác giả tập thơ Hoa Địa Ngục, bà Thảo sẽ phải tặng cho Nạn Nhân Cộng Sản, Những người tranh đấu cho Dân Chủ tại quê nhà một số tiền tương đương là $200,000.00. Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện sẽ không đụng đến số tiền này, nếu thắng cuộc. Lý do của cuộc thách đố này là vì chính bà Hoàng Dược Thảo đã thách thức ông Thiện cho giảo nghiệm những lá thư và hình ảnh do mình đưa ra. Bà Hoàng Dược Thảo đã không chấp nhận cuộc thách đố "ngược" này và bỏ ra về trong tiếng la ó của cử tọa.

h-Kết Luận:

Với tất cả những bằng chứng như thế, với tất cả những tờ xác nhận tự dạng cũng như hình ảnh cuả các chuyên viên giám định Hoa Ky,ø một kết luận duy nhất, một sư Thật duy nhất đã được trình bầy trong cuộc họp báo: TÁC GIẢ TẬP THƠ HOA ĐỊA NGỤC LÀ NGUYỄN CHÍ THIỆN. NHÂN VẬT NGUYỄN CHÍ THIỆN HIỆN TẠI MÀ CỘNG ĐỒNG ĐANG GẶP GỠ TỪ HƠN MỘT THẬP NIÊN QUA CHÍNH LÀ THI SĨ NGUYỄN CHÍ THIỆN, TÁC GIẢ CHÂN CHÍNH VÀ DUY NHẤT CỦA TẬP THƠ HOA ĐỊA NGỤC.

III-Tính Ác Độc của Con Người:

Không thể nói những người tấn công Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện đều là tay sai Cộng Sản, nhằm tiêu diệt một nhân chứng Chống Cộng, vì trong số những người phỉ báng ông Thiện kịch liệt nhất, có những nhân vật, trước đây, vẫn từng viết báo chống Cộng. Nhưng cũng không thể nào bỏ qua việc tìm hiểu nguyên nhân tại sao Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện lại bị bôi lọ, phỉ báng tàn tệ như thế, trong khi từ hơn 13 năm nay, ông Thiện chỉ làm việc "Thiện" nghĩa là chỉ làm những công việc chứng minh cho sự tàn ác của chế độ Cộng Sản. Ông đi thuyết trình khắp nơi, từ Âu Châu sang Mỹ Châu, từ Hạ Viện đến Thượng Viện, từ các phong trào tranh đấu chống Cộng đến những tổ chức phi chính trị. Tại bất cứ chỗ nào có cử tọa, ông đều nhấn mạnh đến nhiệm vụ của mọi người là phải giải tán chế độ Cộng Sản không khoan nhượng vì chúng là một cản trở cho việc phát triển của con người. Ông chỉ làm những việc có hại cho Cộng Sản. Vậy mà, nhiều nhân vật trí thức đã xử dụng quyền Tự Do Phát Biểu của mình để viết lên những bài đọc, dù trên các diễn đàn điện tử ảo, không phải trên các báo chí chính quy, những lời cay độc khủng khiếp, nhằm mục đích triệt hạ, không những tư tưởng, mà chính cá nhân Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện. Những câu văn mạnh mẽ, sắc bén như búa tạ, đọc lên là choáng váng. Những đoạn văn mổ xẻ lý lịch của ông Thiện như dao mổ người, không chữ nào mà không tóe máu.

Đặng Văn Nhâm, tác giả của câu văn bất hủ sau đây: "Thằng lính quốc gia chết, lục xác nó, thế nào cũng bắt được một cái muỗng nhôm, một cục đèn cầy nhỏ và một ống chích! (dụng cụ dùng để chích bạch phiến)", đã mổ xẻ ông Thiện liên tiếp nhiều bài báo, mỗi bài cả vài ngàn chữ, cho rằng ông Thiện đạo văn, ông Thiện ăn cắp, ông Thiện là điệp viên Cộng Sản, đồng thời kêu gọi cộng đồng phải tiêu diệt ông Thiện này. Các quý vị Bùi Như Hùng, Hồ Công Tâm (tức Đỗ Ngọc Minh, anh ruột của Cố Tián sĩ Đỗ Quý Sáng) Phương Hằng Dương Thị và Vũ Trọng Khanh (người tự cho mình là con của Vũ Trọng Phụng), Pete Dương (Mỗ Gia), Trần Thanh, Bác sĩ Nguyễn thị Thanh ... tấn công Nguyễn Chí Thiện hầu như hàng ngày trên các diễn đàn. Riêng Triệu Lan, như đã viết ở trên, gửi những bài dài cả chục ngàn chữ đến báo Sàigòn Nhỏ, phân tích và phân tích sao cho Nguyễn Chí Thiện phải gục đầu, hoặc phải biến khỏi mặt đất này.

Khi một số người viết văn như Phan Nhật Nam, Trần Phong Vũ, Chu Tất Tiến, Đỗ Thuấn, Tôn Thất Sơn...thấy người Công Chính bị tấn công, phỉ báng kinh hoàng, phải lên tiếng nói cho công đạo, lập tức cũng bị bủa vây bởi những lưới chụp chằng chịt gồm những danh từ thô bỉ: "Bầy chó của Nguyễn Chí Thiện", "Lũ tay sai của Thiện dổm". Một lô những bài thơ "vè" chửi bới được đặt ra liên tục. Bà Đỗ Thuấn, chủ trương tờ Ánh Dương biến thành "người tình của Nguyễn chí Thiện", "con Vện, con Vàng" và một lô danh từ tục tĩu khác. Chu tất Tiến thì trở thành Bồi Bút Cộng Sản, Tay Sai Cộng Sản nằm vùng, rồi Thằng Ăng Ten trong Tù cải Tạo, Cẩu Tặc Trư Tắc Tiếng, tay sai Việt Tân, kẻ mạo danh Quốc Gia Hành Chánh, Tên Tây Lai, sau đó, là Lão già thô bỉ, chuyên dụ dỗ gái tơ, lấy tiền và chiếm tình.

Kinh dị hơn nữa, là sau cuộc họp báo với những nhân chứng và vật chứng đầy tính thuyết phục và khoa học như thế, những tiếng kêu đòi tận diệt Nguyễn chí Thiện vẫn vang lên.

Trần Thanh, một chuyên viên nửa phần chống Cộng, nửa phần chống Ta, viết: "Ông thua thì người ta có quyền kết luận rằng ông là thằng nói láo!" Trần Thanh, không tham dự cuộc họp báo, cho rằng tất cả đại diện báo chí là "đám cò mồi", và khi đề cập đến việc ông Thiện thách $200,000.00, viết: "Do đó mà bọn lưu manh đã chắc thắng, đòi cá độ 200 ngàn đô la! Đúng là một lũ lưu manh, đểu cáng, mất dậy!" Trần Thanh còn làm một bài thơ để kết thúc bài viết ly kỳ này như sau:

Hôm nay trước mặt ba quân
Thiện xin chấp nhận đội quần Đào Nương.

Duyên Lãng Hà Tiến Nhất, sau một loạt bài đả kích Nguyễn Chí Thiện liên tục, viết tiếp về cuộc họp báo và cho rằng đó là "chợ cá Trần quốc Toản, Sàigòn. Có vị bảo là cuộc họp tổ dân phố..." Sau đó, bất ngờ, ông tặng cho hai cái mũ to tướng: "Đó là đặc tính làm ăn xưa nay của mấy ông Việt Tân và Nguyễn Hữu Chánh."

Hồ Công Tâm, biệt danh cuả nhà giáo Đỗ Ngọc Minh, anh ruột cuả cố Tiến Sĩ Đỗ Quý Sáng, thì làm thơ vè, cho rằng Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện mở động điếm tại Hải Phòng:

Thằng Thiện lé tù về mở động

Quán Bà Mâu cuộc sống phủ phê

Nhẩy dù, em út bao thuê

Đổ hồ chứa thổ, rành nghề sáu câu



Chuyện thơ phú Thiện hầu mù tịt

Chuyện ruợu chè, đớp hít thì chuyên

Đóng vai trò một điệp viên

Nằm vùng cộng sản, giao duyên Phở Bò



Thiện với Ác, Tự Do và Chết

Hai ngả đuờng khác biệt nhau xa

Đảng ta ve vãn Rô-ma

Trần Phong Vũ ngợi ca Hoả Lò!



Đội Cải Cách làm trò con khỉ

Con Vàng (1) kia, Hề Lý Tống đây

Nhật Nam (2) với Tiến (3) mặt dầy

Ăng ten Suối Máu nhập bầy sói lang.



[October 30, 2008]



(1) Bút Vàng Đỗ Thị Thuấn, báo Ánh Duơng

(2) Phan Nhật Nam

(3) Chu tất Tiến.

Nhưng những bài viết của Trần Thanh, Duyên Lãng Hà Tiến Nhất và Đỗ Ngọc Minh chưa rùng rợn bằng "Bản Chính Thức Truy Tố Tên Gian Tế Mạo Nhận Đại Thi Hào Nguyễn Chí Thiện", viết bằng mực đỏ và vàng, với những nét đại tự to như những lưỡi gươm của Đao Phủ Thủ. Trong Bản Truy Tố này (không nói là truy tố ở tòa án nào), vẫn lặp lại những luận điệu xưa cũ, tổng hợp tất cả những đề quyết của Triệu Lan, Trần Thanh, Đặng văn Nhâm, Duyên Lãng... Nghệ thuật gây ấn tượng của Bùi Nhữ Hùng đã có tác dụng trên một số người, khiến cho nhiều nguời đọc "net" tiếp tục chuyển đi, mà không ngăn chặn lại hoặc vứt vào thùng rác. Nhưng, trên hết, màn độc đáo nhất vẫn là Đốc tờ Thanh, sau khi thảo môät Đại cáo Trạng khổng lồ, Đốc tờ Thanh tuyên bố nẩy lửa "XIN CHỊU TỬ HÌNH" nếu những lời cáo trạng của bà không đúng sự thật.

Janusz Bardach và Kathleen Gleeson đã viết một cuốn sách nhan đề : "Man is wolf to man" dựa trên một câu ngạn ngữ đã có từ vài chục năm trước: "Người là Chó Sói của Người". Những ai đã từng đọc cuốn sách dịch của Hà Mai Anh, "Tâm Hồn Cao Thượng" sẽ lấy làm ngạc nhiên khi đọc tựa đề có tính chất kinh dị như trên. Những ai đó còn chút nào Tâm Hồn Cao Thượng, sẽ không hiểu nổi vì sao con người lại đối xử với nhau tàn tệ như chó sói thế. Tại sao xử dụng ngòi búùt để viết những lời cao đẹp, lại xử dụng bút như một Phán Quan Bút, thứ vũ khí trong chuyện "chuởng", một dụng cụ giết người, đâm tả, chém hữu, muốn lấy máu thiên hạ? Tại sao lại cứ dùng suy nghĩ của mình để hại kẻ vô tội? Làm như vậy, thì được ích gì? TẠI SAO LẠI CHỐNG NGUỜI-CỰC KỲ CHỐNG-CỘNG như Nguyễn Chí Thiện? Các nhà văn Trần Phong Vũ, Phan Nhật Nam, Chu Tất Tiến và nhà báo Đỗ Thị Thuấn có xứng đáng phải chịu những lời phỉ báng, lăng nhục khiếp đảm như thế không?

Có nguời cho rằng những âm mưu thâm độc kinh khiếp trên phải phát xuất từ Nghị Quyết 36, mục đích gây xáo trộn cộng đồng, làm mất niềm tin ở các chiến sĩ chống Cộng. Câu hỏi này xin để các tác giả của những bài viết kia trả lời.

Nguời viết bài này chỉ có thể trích dẫn lời Đức Phật dậy rằng: "All that we are is the result of what we have thought. If a man speaks or acts with an evil thought, pain follows him. If a man speaks or acts with a pure thought, happiness follows him, like a shadow that never leaves him." (Tạm dịch: Chúng ta chính là kết quả của những gì chúng ta suy nghĩ. Nếu một người nói hay hành động với tư tưởng của ma quỷ, niềm đau sẽ theo hắn. Nếu một người nói hay hành động với suy nghĩ trong sáng, hạnh phúc sẽ theo ông ta như là cái bóng, và không bao giờ rời xa người ấy nữa.) Nói chung, Làm Ác thì sẽ gặp quả báo. Ở Hiền thì sẽ gặp Lành.

Còn với Thiên Chúa, một trong mười điều răn quan trọng có điều răn "Chớ làm chứng dối". Ngoài ra, Chúa cũng dậy nhân loại : "Chớ tham của người", cũng có nghĩa là không được tham tiền bạc, danh dự của người ta, cùng với "Chớ lấy của người", không được cướp đi danh dự của người khác.

Trên hết, tất cả cuộc đời này là hư không trước mặt Thiên Chúa, nay còn mai mất. Như tinh túy của Đạo Phật đã cho thấy rằng cuộc đời chỉ là Sắc Sắc, Không Không. Với những nguời trên 60 tuổi, bản Cáo Phó đã được chuẩn bị sẵn đâu đó trong gia đình rồi, sao còn lo tranh dành, hung hãn? "Cuộc đời như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao..." Vậy, tại sao không làm chuyện tốt cho thiên hạ, lại lo giết người, nhất là giết những người công chính để một mai, nhắm mắt xuôi tay, còn mãi những lời ruả xả đi theo quan tài?



Chu Tất Tiến

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Tiếng Lóng Sàigòn,
Có Thể Bạn Chưa Biết

Một thời, một nơi chốn nào đó, trong đời sống ngôn ngữ dân gian lại nảy sinh ra một số tiếng lóng, một số thành ngữ, một câu hát nhại theo câu hát chính phẩm, hầu hết là để châm biếm, tạo nên nụ cười, hay có khi là để răn đe, tìm sự hoàn thiện trong cuộc sống, chúng chỉ sống một thời rồi tự biến mất, nhường chỗ cho đoạn đời “tiếng lóng” khác đến thay thế. Do đó, việc ghi chúng lại để đọc vui chơi hay phục vụ nghiên cứu văn học dân gian, chỉ có giá trị, khi ghi rõ định vị địa lý và thời gian.

Tỷ như Sài Gòn vào thập niên 60, thịnh hành một chùm tiếng lóng “sức mấy” để thay nói bất lực hay chuyện không thể. Phổ biến đến nỗi, một nhạc sĩ đã chọn làm đề tài cho một bài hát đường phố “Sức mấy mà buồn, buồn chi bỏ đi Tám”.

Những câu chuyện thuộc loại tiếng lóng đó xuất hiện vào thời buổi Sài Gòn bị tạm chiếm, Tây - Mỹ nhiễu nhương, quê hương chiến tranh buồn phiền; “sức mấy” đã trở thành bút hiệu của một chuyên mục phiếm luận trên báo, sau đó một kỹ thuật gia sản xuất còi ôtô đã chế ra một điệu còi ôtô, bấm còi là kêu vang trên phố một dòng nhạc còi auto 9 nốt “tính tính tè tè, tè ti tè ti té”, làm cho đường phố càng náo loạn hơn.

Trước đó cũng từ bài ca Diễm xưa của Trịnh Công Sơn mà sinh ra cụm từ tiếng lóng “xưa rồi Diễm ơi”, mỗi khi có ai lặp lại một đòi hỏi nào đó, mà người nghe muốn gạt phăng đi.

Thời các vũ trường mới du nhập Sài Gòn như Mỹ Phụng, Baccara, Tháp Ngà, thì dân chơi gọi Tài-pán tức người điều phối nhóm vũ nữ, bằng tiếng bóng “Cai gà”, gọi cảnh sát là "mã tà", vì police (cảnh sát) hay mang cái dùi cui, tiếng Tây là matraque, đọc trại thành “mã tà”. Cũng từ thời thuộc địa, tiếng Tây chế ra tiếng lóng âm Việt rất nhiều như: “gác-dang” tức thuê người làm bảo vệ; tiếng Pháp gardien đọc trại ra thành gác-dang. Cũng như nói “de cái đít” tức lùi xe arriere; tiền bồi dưỡng người phục vụ tiếng Pháp: pour-bois âm bồi gọi “tiền boa”, sau này chế ra là “tiền bo”.

Cũng thời Pháp thuộc, Sài Gòn có nhiều cách nói mà đến nay không ai biết nguyên do. Tỷ như gọi ngân hàng là nhà băng, gọi sở bưu điện là nhà dây thép, mua tem dán bao thư gọi là “con cò”, còn nếu gọi “ông cò” là chỉ cảnh sát trưởng mấy quận ở thành phố, gọi “thầy cò” tức là các ông chữa morasse các tòa báo do chữ correcteur, nhưng nói “cò mồi” là tay môi giới chạy việc, “ăn tiền cò” thì cũng giống như “tiền bo”, nhưng chữ này chỉ dùng cho dịch vụ môi giới.

Thời kinh tế mới phát triển, đi xe auto gọi là đi “xế hộp”, đi xe ngựa gọi là đi “auto hí”, đến thời xe máy nổ ầm ào, đi xe đạp gọi là “xe điếc”, đi nghỉ mát Vũng Tàu gọi là “đi cấp”, đi khiêu vũ gọi là “đi bum”, đi tán tỉnh chị em gọi là đi “chim gái”, đi ngắm chị em trên phố gọi là “đi nghễ”, gọi chỉ vàng là “khoẻn", gọi quần là “quởn”, gọi bộ quần áo mới là “đồ día-vía”. Đi chơi bài tứ sắc các bà gọi là “đi xòe”, đi đánh chắn gọi là “múa quạt”, đi chơi bài mạt chược các ông gọi là “đi thoa”, đi uống bia gọi “đi nhậu”, đi hớt tóc gọi đi “húi cua”. Có một cụm tiếng lóng từ Huế khoảng 1920 - 1950 du nhập Sài Gòn, đó là “đi đầu dầu”, tức các chàng trai ăn diện “đi nghễ” với đầu trần không mũ nón, để cái mái tóc chải dầu brillantine láng cóng, dù nắng chảy mỡ. Tuyệt vời gọi là “hết sẩy”, quê mùa chậm chạp gọi là “âm lịch", hách dịch tự cao gọi là "chảnh".

Tiền bạc gọi là "địa", có thời trong giới bụi đời thường kháo câu "khứa lão đa địa" có nghĩa ông khách già đó lắm tiền, không giữ lời hứa gọi là "xù", "xù tình", tức cặp bồ rồi tự bỏ ngang. Làm tiền ai gọi là "bắt địa", ăn cắp là "chôm chỉa", tương tự như "nhám tay" hay "cầm nhầm" những thứ không phải của mình.

Ghé qua làng sân khấu cải lương hát bội, người Sài Gòn gọi là làng "hia mão", có một số tiếng lóng người ngoài làng có khi nghe không hiểu. Tỷ như gọi "kép chầu", có nghĩa là đào kép đó tuy cũng tài sắc nhưng vì một lý do nào đó không được nhập biên chế gánh hát, đêm đêm họ cũng xách valyse trang phục phấn son đến ngồi café cóc trước rạp hay túc trực bên cánh gà, để đợi, ngộ nhỡ có đào kép chính nào trục trặc không đến rạp được, thì kép chầu thay thế vào ngay. "Kép chầu" phải thuần thục rất nhiều tuồng để đau đâu chữa đó.

Đào chính chuyên đóng vai sầu thảm gọi là "đào thương", kép chính chuyên đóng vai hung tàn gọi là "kép độc". Có một cụm tiếng lóng xuất phát từ hai nơi, một là cải lương rạp hát, hai là quanh các tòa soạn báo chí, đó là "café à la... ghi” tức uống café thiếu ghi sổ...

Vào làng báo mà tiếng lóng người Sài Gòn xưa gọi "nhật trình". Nếu thiếu tin lấy một tin cũ nhưng chưa đăng báo để đăng lấp chỗ trống, gọi là "tin kho tiêu”, các loại tin vớ vẩn dăm dòng từ quê ra tỉnh gọi là "tin chó cán xe", tin quan trọng chạy tít lớn gọi là "tin vơ-đét" vedette, nhặt từ tài liệu dài ra thành một bài gọn gọi là “luộc bài", chắp nhiều thông số khác nguồn ra một bài gọi là "xào bài", truyện tình cảm dấm dớ gọi là "tiểu thuyết 3 xu", các tạp chí bình dân xoi mói đời tư gọi là "báo lá cải". Làng nhật trình kỵ nhất là loan tin thất thiệt, lóng gọi là "tin phịa", nhưng trong "tin phịa" còn có hai mảng chấp nhận được đó là loan tin thăm dò có chủ đích, lóng gọi là "tin ballons" tức thả quả bóng thăm dò, hay tin thi đua nói dối chỉ được xuất hiện vào đầu tháng tư, gọi là "tin Cá tháng Tư".

Có đến bảy tiếng lóng để thay cho từ chết. Đó là "tịch", "hai năm mươi", "mặc chemise gỗ", "đi auto bươn", "về chầu diêm chúa", "đi buôn trái cây" hay "vào nhị tỳ”, "nhị tỳ" thay cho nghĩa địa và "số dách" thay cho số một... đều ảnh hưởng từ ngôn ngữ minh họa theo người Hoa nhập cư.

Thời điểm truyện và phim kiếm hiệp của Kim Dung nói chung là chuyện Tầu thịnh hành, người Sài Gòn đã chế ra nhiều tiếng lóng, như ai dài dòng gọi là "vòng vo Tam Quốc", ai nói chuyện phi hiện thực gọi là "chuyện Tề Thiên", tính nóng nảy gọi là "Trương Phi". Một số tên nhân vật điển hình của Kim Dung được dùng để chỉ tính cách của một người nào đó. Tỷ như gọi ai là "Nhạc Bất Quần" tức ám chỉ người ngụy quân tử, gọi là "Đoàn Chỉnh Thuần" tức ám chỉ đàn ông đa tình có nhiều vợ bé...

Sài Gòn là đất của dân nhập cư tứ xứ, nơi tha hương văn hóa bốn phương, nên ngôn ngữ càng thêm phong phú, trong đó tiếng lóng cũng "ăn theo" mà ra đời.

Thời Mỹ đến thì một tiếng "OK Salem", mà các trẻ bụi đời vừa chạy vừa la để xin ông Mỹ điếu thuốc. Thời gọi súng là "sén" hay "chó lửa", dân chơi miệt vườn gọi "công tử Bạc Liêu" còn hiểu được, Sài Gòn xuất hiện cụm từ "dân chơi cầu ba cẳng" thì thật không biết do đâu? Có lẽ cầu ba cẳng có tên Pallicao, lêu nghêu 3 cẳng cao như dáng vẻ cowboy trong các phim bắn súng, nên mới gọi "dân chơi cầu ba cẳng"? Đó cũng là lúc các tiếng lóng như "dân xà bát", "anh chị bự", "main jouer" tay chơi ra đời, chạy xe đua gọi là "anh hùng xa lộ", bị bắt gọi là "tó", vào tù gọi là "xộ khám”. Bỏ học gọi là "cúp cua", bỏ sở làm đi chơi gọi là "thợ lặn", thi hỏng gọi là "bảng gót". Cũng do scandal chàng nhạc sĩ nổi tiếng kia dẫn em dâu là ca sĩ K.Ng. qua Nhà Bè ăn chè, để ngoại tình trong túp lều cỏ bị bắt, từ đó "đi ăn chè" trở thành tiếng lóng về hành vi ngoại tình trốn ra ngoại ô.

Cũng có một số tiếng lóng do nói lái mà ra như "chà đồ nhôm" tức "chôm đồ nhà”, "chai hia" tức chia hai chai bia bên bàn nhậu, nó cùng họ với "cưa đôi”. Lóng thời sự loại này có "tô ba lây đi xô xích le" tức "Tây ba lô đi xe xích lô". Trong tiếng lóng còn chất chứa ân tình. Họa sĩ chuyên vẽ tranh sơn mài đề tài lá hoa sen xuất thân xứ Ca Trù hay than "buồn như chấu cắn", hay có người than phiền vì câu né tránh trách nhiệm với hai tiếng "lu bu" để thất hứa, nay còn có người nhấn thêm "lu xu bu" nại lý do không rõ ràng để trốn việc. Để tạm kết thúc phần dẫn này, tôi muốn nhắc một số âm sắc Bắc Hà. Những âm sắc theo chân người Hà Nội vào Nam rồi trở thành tài sản chung của người Việt. Bắt quả tang thành "quả tó", gọi chiếc xe Honda là "con rim", gọi tờ giấy 100USD là "vé", đi ăn cơm bình dân gọi là "cơm bụi", xuống phố dạo chơi gọi là "đi bát phố", gọi người lẩm cẩm là "dở hơi"...

Nhưng lý thú nhất là nhờ cụ cố nhà văn Nguyễn Tuân mà Sài Gòn nay có một tiếng lóng hiện đại thay cho cụm từ đi ăn nhà hàng theo American style - tiền ai nấy trả. Đó là cụm lóng KAMA, ghép bốn chữ tắt của "không - ai - mời - ai". Đi KAMA phở một cái, tức cùng đi ăn phở mà không ai mời ai, món ăn cổ truyền nhưng ứng xử là thoải mái. Vào thời văn minh hiện đại, ngôn ngữ tiếng Anh trở thành phổ biến, giới trẻ đã chế ra một tiếng khá văn hoa, như chê một ai đó chảnh, các cô nói "lemon question" tức chanh hỏi - chảnh.

Lê Văn Sâm

Post Reply