
Mùa hè với những chuyến đi xa
ngọc thủy

Chào Washington xanh mãi ngàn năm
Cuối tháng Tư năm nay tôi có dịp về thăm lại Seattle, là nơi tôi đặt chân đến ngay ngày đầu tiên trong chuyến đi từ Việt Nam sang Hoa Kỳ theo diện ODP, cách đây gần mười tám năm về trước. Định cư ở San Jose được gần ba năm, tôi lại có cơ duyên lên Seattle làm đài phát thanh Sàigòn từ giữa năm 1993 cho tới cuối năm 1995 mới trở về lại Thung Lũng Hoa Vàng. Tuy không tìếp tục làm đài phát thanh nữa nhưng mối duyên lưu luyến và duyên văn nghệ vẫn còn, nên sau đó tôi vẫn được các anh chị mời lên chơi ít nhất một năm cũng đôi ba lần với thật nhiều tình cảm mến thương. Nhất là anh chị bác sĩ Nguyễn Xuân Thìn, anh chị Nguyễn Ngọc Hốt, gia đình chị Đỗ Thị Sáng, chị hai Trần Ni v.v...
Lần nào tôi về cũng được các anh chị dành cho một buổi tiệc họp mặt để mời một số các bạn hữu thân quen đến chơi, nên hầu như mỗi lần về là tôi đều có dịp gặp lại tất cả. Thỉnh thoảng các anh chị còn chung sức đứng ra lo việc tổ chức ra mắt sách cho tôi, thật vui, thật đẹp với tình nghĩa tràn đầy, bên cạnh những lẳng hoa đẹp tươi thắm từ anh chị Trần Thiện Hiệp, chị Tư Huệ nhà hàng Moon Light .v.v... vì biết tôi rất mê thích hoa. Ngoài những buổi lễ hội sinh hoạt cộng đồng, mỗi lần các anh chị gả chồng cưới vợ cho con cũng mời tôi về làm MC cho có dịp gặp gỡ lại bạn bè. Bởi thế, dù đang bận thế nào, nghe gọi một tiếng thôi là tôi thu xếp để bay về. Như lần này, khi nghe Bác sĩ Nguyễn Xuân Dũng gọi điện thoại mời làm MC cho buổi lễ Quốc Hận 30 tháng Tư tại Seattle là tôi vui vẻ nhận lời ngay.
Có lẽ vì tình thân thương chân thành nơi đây mới gắn bó tôi bền chặt đến thế. Tôi rất quý trọng tình cảm, thích cho đi và cũng thích nhận lại để thấy cuộc đời luôn nẩy mầm, mọc nhánh tốt tươi bằng lòng yêu thương bao dung, thông cảm và tử tế. Hơn nữa tôi yêu thiên nhiên nên cảnh sắc ở đây luôn quấn quyện tâm hồn tôi, gợi nhớ lại cho tôi cả một thời quá khứ mộng mơ xưa vơi vùng trời Đả Lạt yêu dấu cũ.
Bước xuống phi trường Seatac, đón tôi là cơn mưa rào mùa hạ thoáng qua khiến không gian se se lạnh, nhưng lòng vẫn ấm áp vì mắt tôi được chạm ngay vào màu xanh của rừng đồi thông bao phủ chập chùng. Mầu xanh ấy đã bao lần rung động trái tim tôi, bởi nó luôn tạo cho lòng người cảm giác tươi non mơn mởn lại, đằm thắm dịu dàng hơn. Tôi mỉm cười và nói thầm với cánh rừng bạt ngàn trải dọc hai bên đường: Chào thành phố xanh mãi ngàn năm, hôm nay tôi đã về, về thăm lại thành phố đáng yêu có những người quen biết tử tế của tôi đây. Xin hãy ươm ủ cho tôi thêm nhiều mộng mơ và tươi mát mà đất rừng của bạn luôn gieo rắc nhé! Và lạ ghê, mảnh trời xanh cùng hàng thông reơ đang đứng nghiêng trên triền dốc kia, hình như cũng đang ngó tôi cười xôn xao những nụ mừng, có phải? Thật kỳ diệu! Và bao điều cảm xúc trong tôi không biết diễn tả thế nào trong phút giây gần-chạm này, chỉ biết lòng mình dường cũng nghiêng theo con dốc ngàn còn đọng hơi sương biêng biếc ấy:
trở lại phố xanh tháng hạ hồng
ngàn thông trùng điệp sóng mênh mông
Seattle mừng vui chuyển ấm
bỗng thấy lòng rộn rã lâng lâng
nở muộn hoa đào vẫn thắm tươi
đồi xanh mây trắng đẹp khung trời
bâng khuâng phố cũ đường mưa ướt
thầm lặng hàng phong để lá rơi...
n.t.
Xe đang chạy vào phố thị Seattle mà hồn tôi ngỡ đang phơi phới như thuở tuổi đôi mươi, trên đường nghỉ hè mỗi năm, chỉ mới tới Bảo Lộc - Di Linh - Tùng Nghĩa thôi là tôi đã cố giương đôi mắt mở tròn thật to, hân hoan hít thở, thâu nhận cái mầu xanh tươi thắm của cao nguyên Đà Lạt vào lòng. Đà Lạt quê hương ơi, mỗi lần nghĩ tới Đà Lạt thôi là tôi đã thấy niềm vui luyến nhớ dạt dào, như bước chân tuổi trẻ rộn ràng ngày xưa, chân đi tới mà đầu ngẩng cao ngắm đất trời bao la, hát vang vang những bài ca hy vọng với bao sức sống yêu đời, yêu người, yêu đất nước cùng bao hoài bão đẹp ngời chứa chan.
hồn ta mênh mông quá
dào dạt tình thiên nhiên
lời reo ca rộn rã
ngọt mát thấm vào tin
n.t.
Dù đã cuối tháng Tư nhưng vẫn còn là mùa xuân nên thời tiết không đến nỗi lạnh buốt da, vậy mà chiều tối đi ra ngoài cũng cần mặc thêm áo ấm. Mà có sá gì đâu bởi tôi vẫn cảm thấy ấm áp mỗi khi về thăm lại Seattle, dù luôn được đón chào bằng những cơn mưa (mưa ở đây hầu như quanh năm suốt tháng). Mấy hôm nay, thỉnh thoảng vẫn có mưa rào rào một chút rồi tạnh như để làm duyên. Nhưng nguyên ngày thứ Bẩy 26/04/08, thì trời rất đẹp nắng. Buổi trưa lúc 11 giờ tại hội trường Yerler Gazet, khi tôi đến đã thấy đông đảo quan khách, có thấp thoáng những tà áo dài bên cạnh những bộ quân phục gợi nhớ lại hình ảnh oai hùng của những người lính chiến Việt Nam Cộng Hòa năm xưa.
Hôm nay tôi cũng mặc chiếc áo dài màu đen điểm những chiếc lá trắng và xanh, chân "mang đôi guốc cao cao" đang thướt tha yểu điệu theo tà áo vậy mà bổng cũng muốn chuyển bước theo nhịp hát quân hành dập dồn hùng tráng vang lên từ chiếc loa phóng thanh bên trong hội trường. Khung cảnh rộn ràng nhưng vẫn giữ được sự trang trọng của buổi lễ.
Chương trình được bắt đầu vào lúc 11:30 phút. Sau nghi thức chào cờ và mặc niệm, tôi cùng Hoa Hậu Linda Vi Trâm giới thiệu quan khách Việt & Mỹ, nghi thức dâng hương tri ân tưởng kính đến anh linh các anh hùng tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã vị quốc vong thân. Bác sĩ Nguyễn Xuân Dũng đã thay mặt Ban Tổ Chức lên nói đôi lời phát biểu cảm tưởng về buổi lễ. Trong không khí trang nghiêm này khiến tôi chợt bùi ngùi nghĩ đến Bác sĩ Nguyễn Xuân Thìn khi ông đang là đương kim chủ tịch cộng đồng Tacoma cách đây gần mười năm về trước, ông đã cùng Bác sĩ Nguyễn Xuân Dũng đứng ra tổ chức buổi lễ tưởng niệm 30/04 lần đầu tiên tại Tacoma (những lần trước đều tổ chức ở Seattle).
Kỳ đó, ông đã mời tôi về điều khiển chương trình cho buổi lễ rất long trọng trong một hội trường rộng lớn với hơn một ngàn người tham dự mà đặc biệt có sự góp mặt của ca nhạc sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh & Mỹ Lan và Nhật Chương đã tạo phần văn nghệ hôm đó rất hào hùng và cảm động với những ca khúc đặc sắc chuyên chở tình yêu quê hương đất nước cùng vinh danh những người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngày này năm xưa, Bác sĩ Nguyễn Xuân Thìn còn hăng say nhiệt tình trong việc tổ chức ngày Quốc Hận, ngày này hôm nay ông đã khuất bóng dương trần, bởi đã ra đi sau cơn bạo bệnh ở tuổi sáu mươi vào đầu năm 2002, ngay ngày tôi vừa trở về San Jose sau chuyến đi Nhật cuối năm 2001 tham dự cuộc hội thảo về đề tài Sự Bi Thảm Của Chiến Tranh cùng những nhận thức về cuộc chiến tranh Việt Nam (Nam & Bắc VN) sau 26 năm (1975-2001) chấm dứt chiến tranh (có sự tham chiến của các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn và đồng minh Hoa Kỳ). Mà ngay cả ca nhạc sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh còn hăng say hát những khúc nhạc tình ca cho Quê hương và đời lính ngày đó, cũng đã theo bước ra đi về miền miên viễn vào tháng 5 năm 2005 tại Nam California khi tuổi đời cũng mới vừa qua sáu mươi thôi. Thời gian chỉ mới cách tám năm mà giờ đây, trên sân khấu của ngày tưởng nhớ 30 tháng Tư này đã hoàn toàn vắng bóng hai người ấy mãi mãi.
Sự ra đi của một người bạn và cũng là người anh kết nghĩa của tôi đã để lại bao điều thương tiếc trong lòng bạn hữu anh em, vì anh là người bác sĩ hiền hòa luôn tận tâm với chức vụ lương y của mình, không những thế anh còn là người rất yêu âm nhạc - văn nghệ và luôn luôn giữ vững tinh thần chống Cộng rất cao. Một việc bác sĩ Nguyễn Xuân Thìn đã làm tôi rất cảm động và không bao giờ quên, đó là chuyện anh tự nguyện bỏ tiền và công sức để in hằng ngàn những sticker hình lá cờ vàng ba sọc đỏ để biếu tặng khắp mọi người với hy vọng lá cờ thân yêu sẽ được dán khắp nơi ở trên xe, trên tường, trên bàn làm việc và anh còn làm riêng một số thành huy hiệu nhỏ để có thể gắn trên áo. Điều mong ước của anh là ở bất cứ nơi nào cũng có dấu hiệu của lá cờ vàng Tổ Quốc, một biểu tượng trân quý của người Việt Quốc Gia luôn hiện diện trong trái tim mọi người và không bao giờ bị xóa nhòa trên thế giới.
Trong buổi lễ năm nay còn có sự phát biểu của cựu Đại tá Hứa Yến Lến, Luật sự Nguyễn Quang Trung (đại diện Luật sư Trần Thái Văn từ California) cụ Phan Vỹ là một nhân sĩ đến từ thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Ông cũng là một chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng, đã từng vào tù ra khám tới bẩy lần trong thời kháng chiến chống đô hộ thực dân và vẫn tiếp tục con đường tranh đấu cho đến bây giờ. Dù đã hơn tám mươi tuổi và ăn chay trường đã mấy mươi năm nhưng trông ông còn rất khỏe mạnh và minh mẫn với tiếng nói sang sảng hào khí.
Riêng nhà văn Trần Phong Vũ, cũng đến từ Nam California, giới thiệu về quyển sách Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương phát hành. Nguyên tác của ký giả Pháp: Pierre Darcourt, là một phóng viên chiến trường ngoại quốc đã có mặt hầu hết các chiến trường Việt Nam từ Quảng Trị, Khe Sanh, Kontum, Pleiku tới An Lộc vang danh. Quyển sách này đã được cựu Đại tá Dương Hiếu Nghĩa chuyển dịch qua Việt ngữ. Là một sĩ quan Thiết Giáp của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ngoài chức vụ Tỉnh trưởng tỉnh Vĩnh Long, cuối năm 1972, Đ/T Dương Hiếu Nghĩa còn là trưởng khối Ngoại Vụ Ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên cho tới cuối tháng tư năm 1975. Và ông cũng là một chiến sĩ của Đại Việt Quốc Dân Đảng. Sau khi đi tù Cộng sản 13 năm, ông sang Hoa Kỳ định cư vào đầu năm 1992. Thời gian đầu ông cư ngụ ở Washington State, nhưng mấy năm sau này, ông về sống ở miền nắng ấm Orange County trong sự thanh đạm của đời sống Thiền sư, mong rũ bỏ được phần nào bụi trần quá khứ, tham-sân-si hỷ-nộ-ái-ố của thế gian.
Đặc biệt trong chương trình có chiếu Slideshow một đoạn phim tài liệu lịch sử Đất Nước Tôi do phóng viên Nguyễn Dương & Ngọc Yến (con gái cựu Đ/T Dương Hiếu Nghĩa) phụ trách. Đôi uyên ương luôn nhiệt tình, sốt sắng trong các công cuộc đấu tranh Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam này đến từ Spokane, một thành phố cao nguyên của Tây Bắc Hoa Kỳ nhiều sương tuyết phủ quanh năm nên hiếm hoi ngày nắng ấm.
Nơi mà tôi chỉ được nghe cô nàng Yến đó kể nhiều mà chưa một lần được tới, nên lòng vẫn ước ao sẽ có một ngày thấy được bầu trời trắng xóa tuyết rơi, để ở cùng không gian lạnh giá ấy vài ngày cho biết. Trong bài hát Đời Đá Vàng thì nhạc sĩ Vũ Thành An viết rằng: "có dầm dề mưa tuyết mới vui ngày nắng về", nhưng có lẽ được sống ở miền Cali nắng ấm (đứng núi này trông núi nọ) nên tôi muốn ao ước ngược lại (hay muốn được thấm
cái lạnh thấu xương của đất trời vào hồn, để lỡ một mai mình có gặp nắng mưa bão tuyết cuộc đời gieo xuống nhiều gió lạnh gian nan thì sẽ thấy bớt phần nào sự lạnh lẽo, tái tê chăng?!)
Tiếp nối phần văn nghệ, tôi cùng điều họp chương trình với nghệ sĩ Thanh Trọng, anh cũng từng cùng tôi giới thiệu nhiều chương trình sinh hoạt hội đoàn hoặc về văn hóa nghệ thuật ở địa phương này trước đây. Chương trình có chủ đề nên hầu hết các ca sĩ góp mặt đều hát lên những ca khúc quê hương, ngợi ca sự hy sinh và tình yêu của người lính chiến năm xưa. Đặc biệt tiếng hát của Ngọc Minh, người nữ ca sĩ được ưu ái mệnh danh là Người Yêu Của Lính đã hát những bài thật hay và vẫn làm rung động khán thính giả, nhất là những người "Lính Già Xa Quê Hương", bởi các anh trẻ nhất thì năm nay cũng đã trên năm mươi tuổi rồi.
Với một câu phỏng vấn ngắn bất chợt của tôi trên sân khấu, chị Ngọc Minh đã trả lời rằng: trong bao nhiêu năm qua, chị vẫn luôn vui sướng và tự hào khi hát những nhạc phẩm về tình yêu cùng sự hy sinh gian khổ của những người lính chiến. Cho đến tận bây giờ chị vẫn yêu thương kính trọng họ với lòng biết ơn bởi chồng chị cũng là một người lính Việt Nam Cộng Hòa. Lời tâm sự này làm nhiều người cảm động và mến thương hơn người nữ ca sĩ luôn thủy chung với những tình khúc quê hương, tình lính thiết tha.
Tất cả tình yêu, sự hy sinh mất mát, kỷ niệm của những tháng ngày quân ngũ, "lội bùn dơ băng lau lách xuyên ngang" hoặc hào hùng quả cảm trong từng phút giây lửa đạn với đồng đội hôm nao, nay như đang trở về, sống dậy trong bao lòng tiếc nhớ đang có mặt ở đây, đang ngậm ngùi nghĩ tới những người bạn cùng vào sinh ra tử nơi chiến trường xưa, đã gục ngã vùi thây trên mảnh đất quê hương ngày nào. Hồn thiêng của khí hùng bất tử dường như còn u uất theo từng tiếng hát bay cao trong buổi lễ Quốc Hận 30 tháng Tư, dù rằng đã ba mươi hai năm dâu bể ròng rã trôi qua trên mệnh nước nổi trôi.
Ôi, buồn làm sao khi nhớ lại ngày tan vỡ quê hương để bao năm qua dân tộc còn mãi điêu linh, dân tình thêm khốn khổ dưới ách đọa đầy, cuộc sống đồng bào thêm rên xiết lầm than dưới chế độ Cộng sản tham lam tàn bạo mà Đảng CSVN vẫn cố tình che mắt bưng tai để đốt cháy quê hương mỗi lúc thêm hư hao tàn rụi. Chỉ lo vơ vét của công làm của riêng, bán chác đổi tháo đất đai, phung phí rồi phá hoại tài nguyên đất nước. Họ bất chấp những thủ đoạn đê hèn, quyết cưỡng chiếm miền Nam hầu mặc tình tham ô chiếm đoạt, vắt kiệt dầy nát mảnh đất thơm lành trù phú, để bù đắp cho sự nghèo nàn thiếu thốn khi theo "Bác" theo "Đảng" lúc trước, chứ nào phải để "thống nhất nước nhà, xây dựng hạnh phúc hòa bình" đưa đất nước tiến mau cho kịp bằng thế giới văn minh, tự do và đời sống người dân được ấm no đâu.
Chủ thuyết chỉ xảo trá vẽ vời, đi ngược cùng dối gian trắng trợn, bởi dân nào có được nâng cao đời sống hay bị hạ thấp đến chỗ tận cùng, mà quan quân cán bộ thì thi nhau vinh thân phì gia đến mức dư thừa đem ra ngoại quốc cất dấu đầu tư riêng. Giai cấp giàu, nghèo của cán bộ cầm quyền và người dân trong nước cách biệt nhau như núi cao vực thẳm chứ đừng nói gì đến chuyện được san bằng để ai cũng có đều như nhau.
Hoàng Sa, Trường Sa, rồi Giáo xứ Thái Hà cùng bao nhiêu vụ kiện dân oan làm dấy động đồng bào trong và ngoài nước phải xót đau kinh khiếp thì CSVN vẫn tìếp tục đàn áp thẳng tay những người lên tiếng nói, khiếu kiện. Vẫn ngang nhiên cướp của, cướp nhà, cướp đất của dân, của Chùa, của Nhà Thờ như một đất nước thời lạc hậu dưới chế độ bạo quyền không luật pháp phân minh. Dân không được ấm no, có nghèo có khổ có cùng đinh kiết xác, xã hội có lạc hậu hay tệ nạn xẩy ra bao nhiêu gì cũng mặc thây, mặc tình, không cần biết. Nhà nước và cán bộ cầm quyền càng giàu mạnh thì lại càng nhắm mắt lơ là việc dựng xây đất nước sao cho phát triển phú cường, xã hội sao cho tốt đẹp công bằng. Từ Bắc vào Nam để vắt kiệt nguồn lợi còn dồi dào bằng chức quyền, sức mạnh. Mạnh tiến vào Nam để hưởng lợi thật nhiều, mạnh ai nấy vét, tha hồ hưởng thụ ăn chơi. Còn mấy ai nghĩ đến, tự hỏi rằng, hiện tình đất nước xã hội chủ nghĩa Cộng sản hiện nay sẽ đưa dân tộc Viêt Nam chúng ta đi về đâu? Nhất là cho tương lai của tiền đồ, lớp đàn em, con cháu hôm nay và ngày mai?!
Buổi lễ đã chấm dứt vào lúc bốn giờ chiều cùng ngày. Không gian còn vương rơi những sợi tơ vàng óng ánh của buổi chiều nắng nhẹ. Những lời chào hỏi, bắt tay thân mến của mọi người dành cho tôi hôm nay đã làm ắp đầy niềm vui ấm áp. Dù đã đi xa khỏi những sinh hoạt cộng đồng ở đây hơn mười năm mà vẫn còn được mừng đón trong cách thế thân thương tin tưởng như thế, đối với tôi là một điều thật đáng trân quý và trân trọng.
Bốn ngày cuối tuần trôi qua thật nhanh với những bận rộn gặp gỡ bạn bè. Buổi trưa thứ Hai về lại Thung Lũng Hoa Vàng, tiễn đưa tôi là khung trời êm ả biếc xanh màu thạch bích, có rừng thông lộng gió vẫy chào và vẫn có những nụ cười thấp thoáng của hàng cây dương sỉ hai bên đưởng, đong đưa ánh mắt tỏa cánh che lặng nhìn theo bóng tôi đi. Thôi, chào tạm biệt nhé, ngàn xanh ơi, hãy gieo rắc cho đời thêm những nụ mầm hy vọng mới tươi, hãy giữ mãi cho đời những ca khúc yêu thương từ trái tim của loài cây luôn thẳng đứng giữa đất trời bao la và hãy giữ cho tôi niềm kiêu hãnh của người thiếu nữ Việt Nam năm xưa, yêu những ngày quá khứ của quê hương, lớn lên bằng những mộng mơ thời tao loạn, dẫu chất chồng nghiệp oan đau khổ nhưng vẫn chói ngời dấu son đi cùng hệ lụy với núi sông, mà quê nhà hôm nay vẫn là tiếng gọi thiết tha, ray rứt nhất trong trái tim đã sống bao ngày theo vận nước nổi trôi. Và xin giữ cho tôi một khung trời Sài Gòn và Đà Lạt thân yêu cũ, ngàn thông xanh nhé, để tâm hồn tôi được sống mãi như bài ca tuổi trẻ năm xưa của thuở học trò mang đầy hoài bão đẹp thiết tha, nồng ấm yêu đời yêu người, yêu tổ quốc non sông.
"trả lại tôi là tuổi trẻ mênh mông
chúng mình như lúa reo trên ruộng đồng
dù mưa tuôn dù bão cuốn
bông lúa vàng cuồn cuộn gió vươn lên
trả lại tôi là tuổi trẻ măng non
là tuổi son ở Phù Đổng vươn vai
chúng mình khi đứng lên cao bằng trời
trả lại tôi là tuổi trẻ vô tư
chúng mình như lũ chim trong rừng già..."
--(nhạc và lời Phạm Duy)
Lượt trở về, tôi lại được ngồi kế bên cửa sổ, lại được tha hổ ngắm cảnh xinh tươi. Từ độ cao trên phi cơ ngó xuống, tấm thảm nhung xanh mượt mà, óng ả thêm dưới tia nắng mặt trời. Cảnh tuyệt vời vô tả! Bồi hồi ngắm cảnh sắc thiên nhiên quá đỗi huy hoàng, tôi chợt nhớ tới bài tùy bút Nắng Tháng Ba khi lòng tôi ngày đó cũng ngất ngây say cũng với cảnh đẹp dường này:
"Từ khung cửa nhỏ, nơi tôi thường ngồi mơ mộng ngắm rừng thông xanh trên dãy đồi trước mặt. Bầu trời vẫn lãng đãng từng phiến mây trôi như kẻ bước nhàn du thong thả. Vài cụm sương chưa kịp tan dưới tia nắng nhẹ của mặt trời buổi sớm, quyện từng làn tơ trắng mỏng, vờn quanh lơ lửng trên những ngọn thông cao. Những đỉnh lá màu xanh sáng nay như có chiều lơi lả. Ồ! Thì ra gió xuân đã thổi nhẹ về đây cùng với nắng lụa tháng ba, để chải cho suối tóc thông thêm óng ả mượt mà, cho lòng tôi chợt xôn xao lay động.
Seattle này là thành phố mưa bay, nên xuân hạ thu đông, bốn mùa thường trĩu hạt mưa giăng. Có khác chăng là nắng tháng ba ươm vàng rực rỡ hơn trong những ngày khô ấm. Và mưa dẫu có rơi, dường như nghe cũng thánh thót ngọt ngào hơn trong khúc dạo mưa xuân.
Lá phong ngưng thay đổi để giữ màu xanh tươi hòa cùng với lá thông ngàn năm không đổi sắc trên cao nguyên hữu tình của thành phố Seattle.
Màu xanh ngập trong nắng gió, bao phủ khắp núi đồi, chan hòa sức sống trẻ trung tươi mát, đang vẫy mời lòng người hãy thêm tin yêu hy vọng với cuộc sống, với thiên nhiên.
Tôi yêu thành phố này, có lẽ vì cảnh sắc nơi đây giống cao nguyên Đà Lạt, một thành phố thân yêu với biết bao hình ảnh, kỷ niệm thật thơ mộng tuyệt vời của quê hương Việt Nam. Bởi thế chăng, mà tất cả những ai đã từng sống nơi đây cũng nhiều yêu mến chẳng nỡ rời xa. Qua lòng yêu mến đó, họ đã gọi thành phố này với những cái tên thật đẹp, thật dễ thương như: Xanh Mãi Ngàn Năm, (Evergreen), Đô Thị Ngọc Bích, Thành Phố Mưa Bay.v.v...
Vâng, nếu có dịp nào đó, tôi xin mời bạn hãy ghé thăm thành phố Seattle một lần, bạn nhé. Nếu bạn đến vào mùa hè, bạn sẽ thấy nắng hạ hồng ở đây soi bóng xuống những hàng cây dương sỉ làm óng ánh hẳn một mảnh trời. Cảnh sắc đó như chiếc chèo mầu nhiệm đưa bạn bơi ngược giòng thời gian trở về với thế giới thần tiên của những câu chuyện cổ tích thời thơ ấu có những rừng cây treo toàn lá nạm vàng chói rực.
Sang thu, phong cảnh thật tuyệt vời để bạn tha hồ chiêm ngưỡng tất cả nét đẹp, vẻ dịu dàng của bức tranh tạo hóa vẽ lên. Gió thu chỉ làm da bạn hơi se lạnh, đủ để thấy thèm hơi ấm của tình nhân. Ngắm mây, bạn sẽ thấy hồn mình như được chất theo từng phiến mây trắng nõn đang rủ nhau xây thành trên đỉnh núi để cùng phiêu bạt với mây ngàn gió núi khắp muôn phương. Rừng phong với sắc lá đã nhuộm màu, hiến tặng cho cuộc sống những phút giây thi vị. Bổng dưng, bạn trở thành người nghệ sĩ yêu đời với bao sắc lá vàng, cam, đỏ, tía kia sẽ làm lòng bạn ngân vang những khúc tình ca dào dạt.
Khi trời đã vào đông, hoa tuyết bay từng cánh hoa trắng nhỏ phủ lên khắp núi đồi những chiếc mũ bạc dầy cộm. Gió đông lạnh khiến ta mơ được ấp ủ tay nhau để truyền hơi ấm từ lửa nóng trái tim.
Và khi xuân về, không gian ngập ánh nắng vàng lung linh, nắng của tháng ba đầu mùa, bạn sẽ được đi trên thảm lụa màu xanh với mây trời trắng biếc. Bạn sẽ cùng tôi chợt ước ao: Ta hãy cùng giăng tay, gom một ít phiến mây thanh bình, hái những đọt lá xanh tươi hy vọng, hứng một chút nắng vàng tươi đẹp để gởi về mảnh đất quê hương thân yêu của chúng ta bên kia bờ đại dương...".
Cánh phi cơ cao dần, từ từ bỏ lại phía sau lưng khung trời thành phố mưa bay. Một làn mây mỏng vừa lướt qua, mây bồng bềnh thênh thang. Hồn tôi nhập theo cánh mây trời phiêu lãng, trôi lênh đênh theo từng giòng kỷ niệm chợt mọc lên thành rừng, như ở cao nguyên phố Đà Lạt xưa...! Xin chào tạm biệt Seattle mến yêu!

Chào khung trời phượng tím San Diego
Gần cuối tháng năm, tôi có dịp đi xuống San Diego để gặp bác An Tâm và Bảo Ngọc bay về từ thành phố Bellingham để cùng thăm Bảo Long & Hân. Chuyến đi chơi bốn ngày nơi đây đã cho tôi đầy ắp tình thương thân mến. Chúng tôi cùng ra biển, dạo công viên, xem bảo tàng viện, cùng đi chơi phố .v.v.. . Và được cùng nhau nhắc lại những ngày xưa thân ái nơi cư xá sĩ quan Châu Văn Tiếp ở Quang Trung ngày cũ, nhắc tới bao người quen biết cùng sống cạnh nhau mấy năm trời, cùng chịu đựng mấy cuộc pháo kích dữ dội của Việt cộng vào năm Tết Mậu Thân 1968.
Giờ đây, những người năm cũ ấy chẳng bao giờ chúng tôi có dịp gặp lại, hiện đang sống ở đâu, chẳng biết? Nhưng có người đã vĩnh viễn ra đi như bố nuôi của tôi là đại úy Lương Quang Phụng, chị Quỳnh, chị Quế, Phượng... nghe tin đã chết lâu rồi, ngày mới đi tù cộng sản về và mấy chị kẻ chết vì đạn pháo trong cơn bão lửa 1975, kẻ ngả xuống trên thuyền ra sông... xa. Rồi hai bác cháu còn nhắc tới chú Trung úy Ty thích cầm cây đàn ghi ta hát bản Lòng Mẹ hoặc bài Trăng Tàn Trên Hè Phố cho tôi nghe và hay thưởng tôi mấy bản nhạc mà tôi rất thích dù có khi phải bỏ cả một buổi trưa không ngủ để tìm mua cho tôi kịp đem vào lớp hát chơi với bạn.
Riêng chú Đại úy Vinh thì hay rủ tôi đánh quần vợt vào buổi sáng vì ở trước sân nhà chú có một khoảnh sân rất rộng. Mười trái cầu tôi đánh tới, chú đều bắt được một cách nhẹ nhàng nhưng mười cú đánh trả lại từ chú, tôi chỉ vớt được một nửa là hay lắm rồi nên cứ phải chạy đi lượm trái cầu đỡ hụt hoài, có lẽ nhờ vậy mà hồi đó tôi mặc áo dài đi học hay áo bà ba ở nhà (vì thích mặc áo bà ba bằng vải tơ lụa nên tôi biết cắt may lấy bằng tay chớ không biết may máy gì cả) thì được khen là có dáng mềm mại dễ thương. Rồi bác Thiếu tá Nhàn ngay sau lưng nhà tôi có một sân lát gạch đỏ đặt nhiều cây bông kiểng thiệt đẹp nên tôi hay vào khu vườn đó ngắm hoa và để nghe mấy con chim hót rất hay được bác nuôi trong lồng.
Vì ở xa gia đình con cái nên bác lấy cây cảnh và chim chóc làm niềm vui. Bác lại có cả một kho tàng về chuyện cổ tích nên tôi thường được nghe bác kể bao nhiêu là chuyện hay ở trên đời. Thấy tôi còn nhỏ mà chịu ngồi yên lắng nghe bác kể chuyện, biết thích ngắm hoa và nghe chim hót nên bác thường gọi tôi sang chơi, đãi tôi ăn bánh ngọt hoài và còn gọi đùa tôi là cô bạn nhi đồng hàng xóm. Vậy mà có một lần thấy cây sứ kiểng được bác trồng trong một cái chậu sành rất đẹp, nở được mấy bông hoa nên tôi liền xin hái một bông, bác không cho vì rất quý, vì ỷ được bác thương nên tôi cố nài nỉ: "Cháu chỉ xin bác một bông thôi, bác xem có bông nào xấu nhất, bác cho cháu nhé", nghe xong bác lại bật cười trả lời tôi rằng: "Hoa nào cũng đẹp, chỉ có mỗi bác Nhàn là xấu thôi, không có hoa nào xấu cả, cháu ơi".
Lúc đó còn trẻ con nên tôi đã phụng phịu và có hơi dỗi hờn bác một chút mặc dù được bác đền cho một chai nước cam Berley mà tôi thường thích uống. Giờ này nghĩ tới mấy chuyện ấu thơ đó mới thấy nhiều kỷ niệm đáng nhớ vơí bác Nhàn, mà lại thấy quý ông hơn vì ông đã dành cho tôi nhiều mến thương và đã gắn vào trang sách tuổi thơ tôi một khoảnh sân gạch đỏ với nhiều bông hoa cùng tiếng hót của chim non trong lồng, cho tôi cả một pho sách dầy cổ tích sáng đẹp bao điều đạo nghĩa của những tấm lòng nhân ái cùng sự tin tưởng vào công bằng thưởng phạt của Thượng Đế linh thiêng.
Xin nguyện cầu cho bác được bình yên dù ở nơi nào, vì nay chắc bác đã quá già rồi. Ngày đó bố Phụng, chú Ty, chú Vinh đều trẻ cả, còn tôi thì mới ở tuổi mười hai mười ba rồi lớn dần thêm một chút mới rời xa. Thoắt, đổi đời một cái, tôi và chú Ty, chú Vinh, chị Hà, chị Quế, chị Quỳnh thưở ấy là những cô thiếu nữ yêu đời ở độ tuổi mười bẩy mười tám, thích làm thơ, chép nhiều bài thơ hay để đọc cho đứa em nhỏ tôi nghe đã trôi dạt tuốt tận đâu đâu không một lần gặp lại, biệt tăm luôn. Còn bố Phụng thì thành người thiên cổ sau ngày tàn chiến cuộc với mấy năm tù đày, không bao giờ nhìn thấy nữa...
Hai bác Trương Quang An biết tôi từ khi tôi còn bé, cưng chiều tôi như đứa con gái nhỏ vì bác không có con gái, còn mấy em trai Bảo Lộc, Bảo Long, Bảo Ngọc còn bé xíu. Bác An hay kể cho tôi nghe những ngày đầu đời quân ngũ, nơi đóng quân ở tận Faifo vào những năm 1952-1953. Vị chỉ huy của bác lúc ấy là Đại úy Lữ Lan, còn bác là Thiếu úy mới ra trường. Sau khi bác Lữ Lan đổi ra Huế, bác Trương Quang An về Bến Tre cưới vợ, một cô gái ngoan hiền tên Minh Tâm con gái của ông Cả Mẫn nức tiếng giàu có ở địa phương thời bấy giờ. Sau đám cưới một tháng, bác đưa người vợ mới cưới mười bẩy tuổi ra tiền đồn vào giữa năm 1954, gặp ngay trận đánh dữ dội của Việt cộng rồi bị bắt làm tù binh hơn nửa năm mới được trở về nhờ dịp trao trả tù binh sau ngày ký kết hiệp định Genève 1954.
Qua đầu thập niên 70, bác được thăng cấp Trung tá, đổi về Bộ Tổng Tham Mưu làm việc cùng Trung Tướng Lữ Lan. Không ngờ xẩy ra biến cố 30/04/1975, bác bị đưa ra Bắc cầm tù, ba năm sau chết trong trại tù cộng sản. Hồi đó, bác Trương Quang An chỉ mới ngoài bốn mươi, người Lính không chết ngoaì mặt trận trong những năm đầu quân ngũ khi trực diện với những mặt trận khốc liệt ngoài miền Trung mà lại chết vì đói vì kiệt sức dưới sự quản chế độc ác và hèn hạ của chính sách ngụy tạo "khoan hồng" của Cộng sản Việt Nam sau ngày cưỡng chiếm miền Nam 1975.
Bác ơi, trong những ngày tan tác năm xưa và cho đến tận bây giờ con vẫn nhớ nụ cười hiền của bác cùng hai tiếng gọi thân thương "con bé thủy" hay "thủy con' của bác khi thấy con xuât hiện nơi cửa bếp hay cửa phòng khách nhà bác bởi thường khi mới đi học về, vừa cất cái cặp táp xong là con chạy qua nhà bác chơi ngay. Bác nhớ không, hàng cây bả đậu trồng chung quanh sân nhà bác thường rơi xuống mấy chiếc lá thổi bay như mấy con vụ, nó thường rớt xuống mấy cái hột tròn kêu vang trên mặt đường tráng nhựa, tiếng nghe thật dòn mà lại thanh nên con thích lắm, thường lượm mấy cái hột mầu nâu có vân bóng bẩy ấy để tập gọt ra rồi khắc thành hình con cá mà mấy chú lính trong trại làm rất đẹp. Bác dặn con chơi cẩn thận, chớ có ăn thử như đã có một vài người dại dột, nhấm thấy bùi bùi ăn vào ngộ độc đường ruột rồi chết ngay.
Không ngờ sau này khi miền Nam rơi vào tay Cộng sản, bác bị bắt đi tù một lần nữa, dù tù chung với nhiều số phận anh em đồng đội khác ở Hoàng Liên Sơn, nhưng lần này Việt cộng hành hạ khắc nghiệt quá, bắt lao động cực nhọc dưới cái lạnh cắt da nhưng cho ăn ít oi để chịu đựng đói khát, nên tự lần hồi đuối sức, nhìn thấy gì ăn được là ăn ngay nên hỡi ơi, chỉ vài cọng rau muống sống thôi đã làm bao người chết oan uống mà trong số đó có bác. Năm đó bác chỉ mới bốn mươi sáu tuổi.
Những người sĩ quan trẻ tuổi ưu tú của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, sau ngày 30 tháng Tư/1975, tất cả bị lùa vào các trại tập trung, bị Việt cộng giam cầm hành hạ cho tới chết bằng nhiều lối, nhiều cách chứ họ không cần ra tay đâm thẳng vào tim hay đánh đập bắn bằng súng đạn gì cả. Thế đó, mà đã biết bao người Lính khi trở thành tù nhân Cộng sản đã vùi thây nơi rừng thiêng nước độc miền Việt Bắc xa xôi, mà người thân chẳng bao giờ biết được phần xác của chồng, cha, con, anh em mình bị vùi nông chôn lấp ở đâu?! May lắm, là được biết tin qua thân nhân của những người bạn tù đồng đội, đồng cảnh ngộ tìm cách cho biết tin buồn. Có ai ngờ, ngày được lệnh đi "học tập cải tạo" theo chính sách "khoan hồng" của Cộng sản Bắc Việt là ngày sinh ly tử biệt từ đấy, mãi mãi không về!
Ôi, có bao nhiêu tiếng khóc than ly biệt, vẫn nặng sầu trong tim như mối sầu quê vẫn canh cánh bên lòng của bao người góa phụ:
"giòng sông khuất dạng mù khơi
thuyền xưa lạc bến chơi vơi nẻo về
ưng trời gió lộng sơn khê
mang mang một khối sầu quê bên lòng!"
n.t.

Chào New York rực rỡ Cờ Vàng
Giữa tháng Sáu, tôi lại tạm xa Thung Lũng Hoa Vàng năm ngày để đi New York tham dự Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế được tổ chức vào thứ bẩy ngày 21/06/2008.
Lần nào trước khi đi xa, hầu như tôi thức trắng đêm, bởi cố tật là mọi thứ thu xếp hành lý chuẩn bị cho nguyên một chuyến đi vẫn cứ đợi tới phút chót mới chịu làm, nhất là lần này tôi đáp chuyến bay sớm vào lúc 6 giờ sáng thứ Năm ngày 19/6/08.
Đúng 4 giờ rưởi sáng, chị Hoàng Cúc đã tới nhà để chở tôi ra phi trường vì chị là người bạn đồng hành của tôi trong chuyến đi này. Bên ngoài trời còn mờ mờ tối, nhưng nhờ ánh đèn đường hắt lên cho thấy hàng cây hai bên đường cũng đã thức giấc với tiếng lá thầm thì gọi vẫy nhau bằng những tiếng lay động nhẹ. Lòng tôi cũng hồi hộp xôn xao với những niềm vui háo hức sắp có trước mặt. Chuyến bay đầu tiên cất cánh lúc sáu giờ sáng để bay qua Atlanta.
Trong thời gian chờ đợi ở đây, tôi gọi điện thoại về Việt Nam để liên lạc với chị Đỗ Hữu Tùng. Vì Trung Tá Đỗ Hữu Tùng là người bạn đồng khóa 16 VBĐL và cũng là Lữ đoàn phó Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến 360 cùng với Trung Tá Lữ đoàn trưởng Nguyễn Xuân Phúc. Năm 1972, Thiếu tá Đỗ Hữu Tùng đang là Tiểu đoàn trưởng TĐ 6/TQLC đã cùng các chiến sĩ đồng đội dựng được lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay ngạo nghễ nơi Cổ thành Quảng Trị trong ngày tái chiếm vẻ vang (19/06/1972). Tiếc thay hai người bạn thân thiết và cũng là hai người lính oai hùng này đã mãi mãi ra đi theo tiếng hờn sông núi trong ngày bão lửa của quê hương đang dần vỡ tan trong tiếng lịnh lui binh.
Đó là ngày cuối tháng ba năm 1975, hai người Lính ấy sau khi cố gắng hết sức mình để đem 3 tiểu đoàn từ Đại Lộc dưới làn mưa pháo đạn về đến Đà Nẵng được an toàn. Rồi kể từ khi đó, không ai còn nhìn thấy bóng dáng hai người Lính đảm lược kiên cường ấy nữa. Họ đã ở lại cùng Non Nước, đi theo cùng Non Nước để được hòa nhập cùng xác máu anh em đồng đội đã đổ xuống cho miền Nam Tư Do, để được trôi trên dòng biển lớn quê hương ra mãi ngàn khơi! Chỉ xót thương cho người góa phụ ôm hai con thơ trong cảnh nước mất nhà tan vào thời điểm tháng Tư đen ngày ấy.
Quen biết nhau từ thuở mười ba, hai anh chị tuy không học cùng lớp nhưng lại cùng trường, rồi thương yêu nhau cho tới ngày anh theo tiếng gọi lên đường, gia nhập trường Võ Bị Đà Lạt làm người lính chiến xông pha nơi mặt trận thường xuyên, tình yêu đó chị ôm ấp mãi với bao tháng ngày làm chinh phụ đợi chờ cho đến khi thành người vọng phu trong niềm cô đơn, đau khổ biệt tin chồng. Người thiếu phụ ấy như trăm ngàn người thiếu phụ miền Nam, yêu chồng thương con, đảm đang gánh vác việc nhà, tạm chôn dấu niềm đau xuống tận đáy lòng để lo bảo bọc dậy dỗ các con sớm thành người hữu dụng cho xã hội.
Sau này, niềm an ủi và khích lệ rất lớn cho chị và các con là sự quan tâm của những người bạn đồng khóa VBĐL với anh Đỗ Hữu Tùng. Không quên người bạn dù không còn hiện hữu với nhân gian nên họ cố gắng tìm cách liên lạc với gia đình chị vẫn còn ở lại Sàigòn, vẫn thường xuyên thăm hỏi, gởi tiền quà về giúp đỡ. Ngày nay theo như lời chị cho tôi biết, một cháu trai và một cháu gái của anh chị đã được ăn học tới nơi tới chốn, rất ngoan và luôn hiếu thảo với mẹ. Câu chuyện của chị là một hành trang đẹp đẽ cho tôi mang suốt dọc đường hôm đó cùng những ngày sau, đó là tấm lòng người vợ thủy chung, người mẹ sống vì con và tất cả cho con. Cuộc đời vẫn đẹp và đáng vui sống biết bao với những tấm lòng đôn hậu, trung trinh và tử tế ấy.
Đây là lần thứ tư tôi bay qua thành phố hoa lệ này để có mặt trong ngày Văn Hóa vậy mà vẫn náo nức với chuyến đi xa này như mới đi lần đầu. Bởi tôi yêu thích sức sống tràn đầy của nơi được mệnh danh là thành phố không ngủ (City Never Sleep) này ghê lắm. Chỉ cần bước chân ra phố là ta có thể hòa nhập vào dòng xe cộ ngược xuôi như mắc cửi, người người tấp nập đông vui, kẻ thì rảo bước đi nhanh như chạy để tới kịp sở làm hoặc nơi chốn hẹn hò nào đó (thành phần này đa số là người địa phương), người thì chậm bước nhàn du hoặc bị kéo theo làn sóng người nhộn nhịp tung tăng (hầu hết là du khách từ nhiều tiểu bang hoặc khắp nơi trên thế giới).
Mình muốn đi đứng nói cười ra sao cũng được, chẳng ai dòm ngó để ý tới mình mà mình cũng chẳng kịp nhìn ngó tới ai vì mãi vui với bước chân rộn ràng cùng cặp mắt mê say được nhìn thấy bao điều mới mẻ. Thuở bé, tôi thường sợ nơi chốn đông người bởi không thích ồn ào náo nhiệt quá. Tôi thích nơi yên tĩnh êm đềm, yêu quang cảnh thôn dã đồng quê. Nhưng giờ đây, thỉnh thoảng đến nơi chốn xa hoa náo nhiệt này, tôi cảm thấy cuộc sống có lúc cũng phải sống cho thỏa thuê tràn trề cho dù có hối hả chạy theo nhịp đời tấp nập. Vì đó là chất nhựa của sức sống căng đầy, bởi cuộc đời "có bao lâu mà hững hờ", ta hãy tận hưởng hết những niềm vui, khám phá thêm điều mới trong từng giây phút của cuộc sống, trong giao tế, trong mắt nhìn, trong đụng chạm cùng trong bao nỗi cảm nhận vui buồn của riêng mình, của thế gian, của thời tiết nắng mưa và của cả không gian đất trời. Miễn sao mình vẫn giữ được niềm yêu thương cuộc đời và con người trong trái tim luôn nồng ấm, chứa chan.
Lần này tôi cũng ở khách sạn Carter của anh chị Trần Đình Trường ngay Times Square, có dịp gặp lại một số anh chị thân quen như ký giả Kiều Mỹ Duyên, Luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa từ Nam Caili, nhà văn Trần Quán Niệm, Linh mục Nguyễn Hữu Lễ từ Tân Tây Lan, anh chị bác sĩ Nguyễn Xuân Dũng ở Seattle, nhà báo Đỗ Thông Minh tới từ Nhật, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hùng bay qua từ Đức quốc và nhiều anh chị từ các tiểu bang khác cùng về tham dự Ngày Diễn Hành Văn Hóa.
Mỗi năm gặp lại mà thấy chị Sang vẫn trẻ, tuy lúc này chị rất bận rộn việc chăm sóc sức khoẻ cho người chồng mà chị hết lòng thương yêu tận tụy là anh Trần Đình Truờng (chủ nhân khách sạn Carter và là người tặng tấm check một triệu mỹ kim ngày 9-11 năm 2001 khi bọn khủng bố làm sập tòa tháp đôi Twin Tower) sau lần mổ tim vừa qua. Buổi chiều ngày thứ Sáu, chị Trần Đình Trường mời chị Kiều Mỹ Duyên, Tina Vũ, anh Nguyễn Văn Tánh (cựu chủ tịch cộng đồng và cũng là người tổ chức mấy năm trước cho cuộc diễn hành của phái đoàn Việt Nam ở New York), anh Đỗ Thông Minh và tôi đi ăn cơm chiều ở một nhà hàng trên phố dọc bờ sông đã được thắp sáng bằng những ngọn đèn mầu giăng quanh lấp lánh.
Và tôi cũng nhìn thấy ánh sáng lấp lánh trong đôi mắt của chị Sang khi chị kể cho tôi nghe về mối tình ngày xưa, lúc chị còn là cô nữ sinh mới lớn trong ngôi trường nữ của một tu viện do các Ma Soeur quản nhiệm. Hồi đó hẳn là chị rất xinh đẹp bởi đã mấy chục năm qua, vẻ đẹp tươi sáng vẫn còn rõ nét trên khuôn mặt dịu hiền của chị. Tình yêu của chị dành cho người chồng với mấy mươi năm tình nghĩa vẫn tỏa sáng, lấp lánh trên môi, trên mắt, trong nụ cười, giọng nói của chị khi kể khi nhắc về anh, vẫn nồng nàn ấm áp. Đẹp làm sao!
Buổi sáng thứ Bẩy, tôi dậy sớm để chuẩn bị đi diễn hành. Bộ áo dài xanh nước biển thêu hoa cúc trắng nhỏ rơi từng cánh trên hai tà áo tôi đã nhớ mang theo để mặc nhưng hỡi ơi... chiếc quần lụa nhờ may từ VN mang qua chưa một lần mặc thử, quá dài theo số đo tôi đã cho, nên đành xếp lại mà thay vào đó là bộ đồ tây áo sơ mi đen & trắng vậy. Tôi không đi xe bus mà thả bộ theo con đường phố, băng qua mấy block là tới ngay địa điểm tập trung ngay trên góc đường số 6 & 36.
Cũng như mấy năm trước, phái đoàn Việt Nam tập trung tại địa điểm nói trên vào lúc 9 giờ sáng ngày thứ Bẩy 21 tháng 6/08.
Đây là một cuộc diễn hành của nhiều sắc dân trên thế giới như: Tây Ban Nha, Tây Tạng, Romani, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan .v.v... Tất cả đều có một xe hoa mang theo chủ đề văn hóa nguồn cội đã hấp dẫn khách thưởng ngọan đông kín hai bên đường phố gần hai mươi block đường.
Khi đoàn diễn hành Việt Nam đi chầm chậm qua từng khu phố, những bài hát hùng ca vang lên cùng bao lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay phất phới giữa bầu trời cao xanh của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, giữa thủ đô New York, quyện thấm vào tận đáy lòng chúng tôi niềm sung sướng tự hào về một đất nước thân yêu: Việt Nam! Và vang vang những lời ca suốt dọc một con đường diễn hành của chúng tôi hôm nay làm sục sôi thêm một niềm tin yêu đẹp đẽ:
"Đáp Lời Sông Núi, anh em ta đáp lời Sông Núi
Tổ quốc lâm nguy xương máu này ta nguyện hiến dâng
Đáp Lời Sông Núi, anh em ta đáp lời Sông Núi
Quyết bảo vệ giang sơn ta thề chết cho quê hương!"
Trái tim mọi người như rực lửa trong niềm yêu mến quê hương đến tận cùng khi được nói lên niềm khao khát, hát vang lời ước vọng từ triệu con tim người yêu nước, mong truyền đạt tới muôn người, khắp muôn nơi từ trong nước tới bốn phương trời hải ngoại:
"đây muôn triệu con tim
đây muôn triệu khối óc cùng giòng máu Việt Nam
đây Hưng Đạo Vương
đây Lý, Lê, Trần
bốn ngàn năm chưa một lần khuất phục ngoại xâm!"
Có lời ca nào làm cháy bỏng trái tim người Việt Nam mà khi cất tiếng lên là lệ nóng lại tuôn trào trong niềm tự hào dân tộc đã vẻ vang từ bao đời Cha - Ông chúng ta:
"đây Hai Bà Trưng, đây Lý, Lê, Trần
bốn ngàn năm chưa một lần khuất phục ngoại xâm"
Thật ấm áp và hạnh phúc làm sao khi hôm nay tôi được cùng mọi người hát vang giữa bầu trời Tự Do những lời ca đẹp như tuổi trẻ ngày xưa, khơi dậy lửa nóng từ trái tim ắp đầy hoài bão thiết tha và hơi ấm tình quê hương, tình đồng bào thêm chan chứa đậm đà:
"đáp lời Sông Núi, anh em ta đáp lời Sông Núi
Tổ Quốc lâm nguy
xương máu này ta nguyện hiến dâng"
Những tiếng hát cất cao cùng rừng cờ vàng rợp bay trong buổi sáng hôm nay khiến tôi có cảm giác xúc động như những buổi sáng được chào cờ trong sân trường, thuở tuổi thiếu niên đang hăm hở vào đời với bầu nhiệt huyết luôn được dưỡng nuôi bằng bài Quốc Ca hùng tráng:
"này công dân ơi mau đứng lên dưới cờ
này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi
đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống
vì tương lai quốc dân
cùng xông pha khói tên
làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền
...nòi giống lúc biến phải cần giải nguy
người công dân luôn vững bền tâm trí
hùng tráng quyết chiến đấu
làm cho khắp nơi vang tiếng
người nước Nam muôn đời..."
Hơn ba mươi năm phải rời xa đất nước sau ngày Cộng sản nhuộm đỏ cả quê hương, đất nước vẫn chưa có niềm vui Dân Chủ, niềm hạnh phúc của Tự Do vẫn là nỗi trăn trở khát khao, Nhân Quyền vẫn bị chà đạp dưới gót giầy bạo lực, dân tộc Việt Nam vẫn chưa thực sự có một niềm tin yêu để củng cố và tiến triển đến chỗ mạnh giàu, dân chúng được ấm no. Áp bức, tù đày vẫn tạo nên bao cảnh cùng cực khổ đau hòa bao tiếng khóc than hờn oán của dân chúng vẫn không làm chùng tay đảng bộ. Thảm họa đen tối của hiện tình lẫn tương lai dân tộc vẫn không ngăn được lòng tham ô không đáy nơi những kẻ cầm quyền trong nước. Hơn ba mươi năm qua, họ vẫn ngang nhiên cướp nhà, chiếm đất của dân, tệ hơn là bán cả Hoàng Sa & Trường Sa cho đàn anh Tầu Cộng, bất kể bao công lao xây đắp của tiền nhân và giữ gìn cho hậu duệ mai sau, nên tôi thật thiết tha mong ước bài hát Đáp Lời Sông Núi mà nhạc sĩ Trúc Hồ đã viết hộ muôn triệu người cùng dòng máu Việt Nam chúng ta được cất cao vang vọng mãi tới muôn nơi, rung động tới muôn lòng:
'đáp lời Sông Núi, anh em ta đáp lời Sông Núi
quyết bảo vệ giang sơn từng tấc đất
từng cây cỏ, từng phố phường
từng con đường, từng hải phận quê hương"
Niềm hy vọng về tương lai tốt đẹp của Tổ Quốc Việt Nam nếu giải thể được chế độ Cộng sản, chắc chắn sẽ thật gần, khi người dân đã nhận thức rõ ràng và mọi người cùng đồng một lòng chung sức đạp đổ thành trì bưng bít dân tộc chúng ta trong hiểm họa lầm than.
Khi nhận được cuốn băng DVD Lá Thư Từ Chiến Trường do Diệu Quyên gởi tặng, tôi thật sự thích thú vì đây là một chủ đề tôi rất mến yêu. Từ lâu, tôi vẫn thầm cám ơn và thán phục những việc lám của Trung tâm Asia đã luôn chuyên chọn nhiều chủ đề mang ý nghĩa cao đẹp về tình yêu - đất nước - quê hương. Đặc biệt TT Asia luôn trân trọng tri ân, nhắc nhớ đến những hình ảnh cùng sự hy sinh cao đẹp của những người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Vẫn biết hầu hết trong chúng ta, những người đã sống và lớn lên trong giai đoạn quê hương khói lửa hoặc những người đã từng trải qua lằn tên mũi đạn, xông pha khắp các trận địa kinh hoàng để bảo vệ miền Nam năm xưa, thảy hết đều một lòng kính trọng những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã Sống và Chết cho Tổ quốc Việt Nam, cho Hòa Bình - Dân Chủ - Tự Do. Nhưng để làm thành một chuỗi dây chuyền nối kết từ quá khứ tới hiện tại và bước sang tương lai một cách đẹp đẽ và bền chặt thì mỗi cá nhân chúng ta khó thể thực hiện.
Trung tâm Asia là một lực lượng quy mô, đông đảo nhiều ca, nhạc, nghệ sĩ tài hoa đóng góp cùng với ban điều hành là những người mang hết tấm lòng yêu chuộng văn hóa - âm nhạc Việt Nam, tạo thành những chương trình nghệ thuật dồi dào chất lượng để phục vụ quần chúng được thưởng thức các ca khúc tuyệt vời từ giòng âm nhạc Việt Nam đã dàn trải qua bao cung bậc thăng trầm lịch sử của quê hương. Là sức mạnh của tiếng nói, lòng khát khao mơ ước của khối người Việt hải ngoại lẫn người dân trong nước đang mong mỏi trông chờ, nhìn về một hướng cho tương lai dân tộc được Tự Do - Giàu Mạnh - Vinh Quang.
Đặc biệt trong cuốn DVD với chủ đề Lá Thư Từ Chiến Trường do Trung tâm Asia thực hiện, ngoài những ca khúc ngợi ca sự hy sinh, tiết tháo oai hùng của người lính QLVNCH được dàn dựng công phu với những sắc áo mầu cờ của các quân binh chủng Việt Nam Cộng Hòa, để các con em của chúng ta bây giờ hiểu biết thêm nhiều về sự nghiệp hiển hách, sự hy sinh cao cả của các bậc Ông-Cha-Chú đã tận hiến cho quê hương Việt Nam trong lý tưởng Quốc Gia Tự Do trước đây. Riêng nhạc phẩm Đáp Lời Sông Núi của nhạc sĩ Trúc Hồ cùng những lời tâm tình từ một người viết nhạc sống trong thế hệ trẻ hôm nay, luôn thao thức về quê hương rồi cố gắng thể hiện qua giòng nhạc như viết thay nỗi ước vọng khát khao của muôn triệu người Việt Nam hiện đang sống ở hải ngoại hoặc những người dân đang bị bức bách khổ đau trong nước, đã làm tôi xúc động thật nhiều.
Trước khi chấm dứt bài này, tôi muốn được gởi tặng đến tất cả quý bạn đọc, bạn hữu khắp nơi và cũng kính tặng đến nhạc sĩ Anh Bằng, nhạc sĩ Trúc Hồ, Diệu Quyên và Thy Vân những câu thơ xin được góp phần với những tấm lòng yêu quê hương, luôn thiết tha được đáp lời Sông Núi thêm sáng tươi niềm hạnh phúc Tự Do:
"dậy mà đi tới! chúng ta đi
hai chữ Non Sông một hướng về
đã chẳng tiếc thân ngày vượt biển
còn bầu nhiệt huyết tạ tình quê!"
Xin nguyện cầu cho Tổ quốc Việt Nam chúng ta sớm thoát khỏi ách xiềng Cộng sản, để toàn dân được vui hưởng Hạnh Phúc - Tự Do, cùng chung sức đắp xây cho quê hương thực sự phú cường, tươi đẹp mãi.
ngọc thủy
suoi_van@yahoo.com
Nhà văn Ngọc Thủy là chủ bút tạp chí Suối Văn,
hiện điều hành chương trình Radio Tiếng Việt
Mến Yêu, San Jose CA trên làn sóng AM 1120.