Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Trịnh Hòa - Cái Tát Tai Tập Thể
Tác giả: Trần Giang



Theo đúng lịch trình mà Sứ quán Trung Quốc tuyên bố thì hôm nay, 18 tháng 11 năm 2008, tàu chiến Trịnh Hòa sẽ cập bến Đà Nẵng và ở lại đến ngày 22 mới rời bến. Đây là một vết thương mới cho dân tộc Việt Nam trong tháng 11, tháng đánh dấu tròn một năm Bắc Kinh chính thức thành lập huyện Tam Sa để bao gồm luôn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Thời gian cuối năm cũng đánh dấu nhiều đợt ngư dân Việt bị hải quân Tàu xả súng bắn giết trên biển Đông trong 5 năm qua. Vậy tại sao những người lãnh đạo đảng CSVN lại chọn thời điểm này để thêm một cái nhục cho người Việt Nam?

Lý do đơn giản là vì đây không phải là chọn lựa của Hà nội mà là một quyết định ép buộc của Bắc Kinh sau khi cả 3 lãnh tụ cao nhất của đảng CSVN đều đã long trọng thề hứa tại Bắc Kinh là sẽ tuyệt đối thờ bái 16 chữ vàng và không dám đòi hỏi gì trên biển Đông nữa. Những tuyên bố của cựu trưởng ban đàm phán biên giới Lê Công Phụng vào tháng trước càng cho Bắc Kinh biết rõ gan ruột của những người cầm đầu đảng CSVN đã chấp nhận chịu thua và sẵn sàng dựa vào Bắc Kinh để cai trị ngược lại dân tộc Việt Nam dù biết rất rõ các ác ý của họ. Ông Lê Công Phụng tuyên bố rằng: "Sống bên cạnh nước lớn thì phải biết cách sống ... Đấy là kinh nghiệm của ông cha sống bên cạnh xứ láng giềng lớn, thì mình cũng phải học theo các cụ."

Và đó là những lời khuyến khích dẫn đến cái bạt tai mang tên Trịnh Hòa.


Chiến hạm Trịnh Hòa Trong số hàng chục ngàn tàu chiến lớn nhỏ, Trung Quốc nhất định phải đem sang tàu chiến mang tên Trịnh Hòa, vị quan đời nhà Minh mà Bắc Kinh đang gian ngoa tuyên bố là người đã chiếm Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc, bất kể mục tiêu của các đoàn tàu Trịnh Hòa 600 năm trước là chinh phục thuộc địa để kiếm đồ triều cống. Trên Hoàng Sa và Trường Sa thời đó chỉ có phân chim và trứng rùa.

Và rồi trong số các cảng quan trọng của Việt Nam, Trung Quốc nhất định không phải là cảng Sài Gòn, Hải Phòng, hay Nha Trang; mà phải là cảng Đà Nẵng, gần nhất với quần đảo Hoàng Sa. Vì vậy, không thể chối cãi Bắc kinh không những chủ ý bạt tai các nhà lãnh đạo Hà nội đang quì trước cổng thiên triều mà còn cố tình dằn mặt cả dân tộc Việt Nam rằng toàn bộ lãnh đạo đảng CSVN đều đã và còn phải thần phục thì các phản đối của khối dân chúng bên dưới chỉ uổng công vô ích. Hãy im miệng chấp nhận đi.

Đảng CSVN cũng biết rất rõ đây là cái bạt tai của thiên triều, và không chỉ dành cho riêng họ. Chính vì vậy mà lãnh đạo đảng, qua Ban Tuyên Giáo Trung Ương Đảng, lập tức ra chỉ thị cho mọi báo, đài phải dấu đi cái tên Trịnh Hòa của con tàu, mà chỉ được dùng cái tên phiên âm Zheng He xa lạ. Cùng lúc toàn bộ hệ thống công an được báo động để dập ngay mọi mầm mống uất hận trong nhân dân.

Đến nay thì ít ai còn ngạc nhiên khi lãnh đạo đảng CSVN sẵn sàng chịu ăn bạt tai liên tiếp để giữ cái ghế cai trị của họ, nhưng người Việt Nam có chấp nhận để họ xuyên tạc luôn cả lòng yêu nước và cách ứng xử của tổ tiên chúng ta không?

Dân tộc Việt Nam có để loại người như Lê Chiêu Thống, Lê Công Phụng phỉ báng những giọt máu Việt Nam đã đổ suốt 10 năm trường, từ 1979 đến 1989, để bảo vệ bờ cõi phía Bắc, là không biết "cách sống" với nước lớn, không?

Và sau hết, Dân tộc Việt Nam, kể cả các cựu chiến binh, chiến binh, và đảng viên cộng sản, có chấp nhận đưa mặt ra cho Bắc Kinh tát trong lúc miệng bị bịt, tay bị trói bởi lãnh đạo đảng CSVN nữa không?

Hãy tham gia lời kêu gọi của những trái tim yêu nước và tự trọng dân tộc đang vang lên trên khắp đất nước:

"Hỡi các bạn đang đau xót cho thân thể và danh dự tổ quốc, Chúng ta phải vượt qua hàng rào công an để gào lên lời phản đối ! Chúng ta phải khẳng định dân tộc Việt Nam không bao giờ chấp nhận dâng cúng Hoàng Sa-Trường Sa cho bất kỳ ngoại bang nào !

Hãy cùng nhau gọi điện thoại phản đối vào thẳng Sứ quán và Lãnh sự Trung Quốc tại Việt Nam vào các ngày 18 đến 22 tháng 11 năm 2008, tức thời gian tàu chiến Trịnh Hòa đậu trên đất Việt."

Trần Giang

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Cần Thăm-Nom và Săn-Sóc Nhau Lúc Còn Sống


Trong văn-chương Việt, bài thơ ‘Khóc Bạn’ của Nguyễn Khuyến đã lột được sự ân-cần và quí-mến bạn hết lòng trong khi bạn còn sống. Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê với tất-cả tâm-hồn và bằng tận-cùng của sự mến-thương luyến-tiếc: ‘Rượu ngon không có bạn hiền,/ Không mua không phải không tiền không mua./ Câu thơ nghĩ đắn-đo không viết,/ Viết đưa ai, ai biết mà đưa./ Giường kia treo những hững-hờ,/ Đàn kia gảy những ngẩn-ngơ tiếng đàn.’

Khóc như thế mới là khóc, thương như thế mới là thương! Khi sống chúng ta đối-đãi với nhau chân-tình và để ý săn-sóc nhau hết lòng thì khi bạn chết, việc khóc than, viếng đám ma, chia buồn, và an-ủi của chúng ta đối gia-đình của bạn mình mới có ý-nghĩa.

I. Sự Đời
Ngày nay, ở hải-ngoại này, có một số người vì bận-rộn với danh quyền lợi, họ đã để cho tình-cảm gia-đình và nghĩa bằng-hữu bị nguội-lạnh phai-mờ. Khi cha mẹ, anh em, và bạn-bè còn sống, họ chẳng chăm-nom thăm hỏi nhau mà còn lấy cớ này lý nọ để bào-chữa, chẳng hạn như: ‘bố tôi ghét tôi, mẹ tôi thiếu bổn-phận, anh tôi hư-hỏng, em tôi không nghe lời, bạn tôi ở xa quá, tôi bận-rộn mà lại ở xa họ quá, v.v. nên tôi không đến thăm họ được!’

Có những trường-hợp khi cha mẹ già yếu, con cái đã tìm cách đưa các cụ vào viện dưỡng-lão. Đây cũng là việc thông-thường ở Bắc-Mỹ này. Tuy-nhiên, trừ trường-hợp giữ các cụ ở nhà sẽ gây ra nguy-hiểm đến tính-mạng cho các cụ, cho gia-đình, và cho hàng-xóm thì không kể, nếu các cụ vẫn tỉnh-táo hay người nhà còn có thể trông-nom săn-sóc được mà đưa các cụ vào sống trong ‘nursing home’ thì thật tội-nghiệp cho các cụ.

Đã có những trường-hợp cha mẹ vì già yếu và bệnh-hoạn phải nằm trong nhà thương, con cái cả tuần mới tới thăm được một đôi lần. Các cụ nằm ‘chết khô’ không có người con nào ngó tới. Thế mà khi cha mẹ qua đời, con cái tổ-chức đám ma thật to, kẻ phúng người điếu nhộn-nhịp, khóc than kể-lể hết lời, mua loại hòm (săng) cho thật sang, xây mộ cho lớn, đắp bia cho đẹp, và làm lễ cầu-siêu cho linh-đình tốn đến cả mấy chục ngàn ‘đô-la.’ Có phải đây là cách để gột rửa sự tệ-bạc của mình đối với cha mẹ lúc còn sinh-tiền và che mắt thế-gian không?

Có trường-hợp, người đã chết được cả tháng trời mới thấy bản tin phân-ưu của bạn bè ở cùng một địa-phương xuất-hiện trên mặt một tuần-báo. Sự gần-gũi lui tới thăm nhau có thắm-thiết lúc còn sống không? Bản tin phân-ưu này có giá-trị gì ngoài sự mua danh lấy tiếng?

Có người khi còn sống bị ngay cả bạn thân của họ chê là kẻ có thủ-đoạn, thế mà khi chết, họ cũng được bè-bạn đăng lời phân-ưu. Vì ‘nghĩa tử là nghĩa tận,’ người ta thường tha-thứ và rộng-lượng với người chết nên cố nhờ đăng vài lời phân-ưu để được tiếng là cao-thượng. Đôi khi người ta đăng lời phân-ưu là để đạt một mục-đích khác nữa. Thật là một trò hề và giả đạo-đức!

Có người khó tính và chán-chường cho sự giả-dối của loại người nói ở trên đã thốt ra một câu thật chí-lý giống như lời Chúa Jesus đã viết trên cát trong truyện ‘Ném Đá’: ‘Bọn Giả-Dối!’

Ở Bắc-Mỹ này, tình gia-đình và bè-bạn không được thắm-thiết như ở Á-Đông ta nên người ta đã tự lo cho cái chết của họ một cách thật đầy-đủ, chẳng hạn như mua bảo-hiểm nhân thọ (Life Insurance) để khi chết gia-đình có tiền sinh sống và trang-trải ma-chay, nào đóng tiền trước cho nhà-quàn (funeral home) để họ lo đám ma của mình (prepaid funeral) mà khỏi cần nhờ đến ai. Thật là tiện-lợi hết chỗ nói.

Khi sống, người Bắc-Mỹ đã được hưởng mọi thứ tự-do thật xứng-đáng với nhân-phẩm con người. Khi chết họ cũng thoải-mái vì không phải lo cảnh ‘xẩy đàn tan nghé’ hay làm phiền-lụy ai.

Ngoài ra, vì người dân Bắc-Mỹ có đóng thuế và đóng tiền hưu nên chính-phủ có trách-nhiệm lo đám ma cho người dân. Chính vì thế, những người dân nghèo đã có cơ-quan xã-hội (social services) ở địa-phương lo đầy-đủ cả lúc sống cũng như khi chết. Khi nhà có người nằm xuống, nếu thân-nhân nộp đơn xin tiền trợ-cấp để lo đám tang thì cơ-quan xã-hội sẽ cấp cho họ một khoản tiền đủ để chi-dụng trong việc này.

Đối với những người có đi làm và có đóng tiền hưu thì khi chết họ được hưởng tiền tử-tuất, tối-đa khoảng 3 ngàn đồng tùy theo số năm đi làm và số tiền đóng cho quỹ hưu-trí. Tiền tử-tuất này do cơ-quan ‘National Health & Welfare, Income Security Programs’ cấp nếu thân-nhân hay người đại-diện nhà-quàn đứng tên xin.

Ở Bắc-Mỹ này không ai phải bó chiếu đem chôn một cách âm-thầm như người dân sống dưới chế độ Cộng-Sản tại Việt Nam. Mặc-dầu người dân được bọn Cộng-Sản tôn-vinh là ‘nhân-dân làm chủ,’ nhưng trong thực-tế, người dân bị bọn Việt-Cộng đối-xử rất tệ, thậm-chí không bằng con vật ở Bắc-Mỹ này.

II. Tại Sao Người Ta Phải Tổ-Chức Đám-Ma Cho Linh-Đình?

Có đám ma được gọi là quốc-táng do triều-đình hay chính-phủ đứng ra lo. Lá cờ quốc-gia được phủ lên quan-tài trong khi đưa đám. Đây là nghi-lễ chôn-cất của chính-phủ dành cho những người chết có công đánh trận hay tử-nạn trong khi phục-vụ quốc-gia. Ngoài ra, lá cờ của quốc-gia còn được kéo lên nửa chừng cột cờ ở khắp nơi trong nước, gọi là cờ rũ hay cờ tang. Đây là biểu-hiệu để tang người quá-cố đã có công đối với dân-tộc.

Có đám ma làm theo nghi-lễ tôn-giáo hay phong-tục cổ-truyền để tôn-vinh người chết về công-lao của họ đối với đạo-pháp và dân-tộc.

Có đám ma được tổ-chức linh-đình và trọng-thể do dân-chúng và các đoàn-thể đứng ra tổ-chức để tỏ lòng nhớ ơn người chết đã vì họ mà hy-sinh, và luôn thể để biểu-dương thế-lực phản-đối nhà cầm quyền đương-thời đã gây ra cái chết này.

Có những đám ma rất linh-đình do thân-nhân, bằng-hữu, và những người mến-mộ tổ-chức dành cho nhà báo, kịch-sĩ, ca-sĩ, nhà thơ, nhà văn, họa-sĩ, cầu-thủ, võ-sĩ, và nhà giáo, v.v. Trong đám ma này người ta đọc điếu-văn (bài văn đọc trong đám tang để tỏ lòng nhớ ơn và thương-tiếc người quá-cố) phát-biểu những kỷ-niệm đã có với người chết, và nói lên những công-đức của người quá-cố trong lúc còn sinh-tiền, v.v.

Sau đám ma, người ta còn tổ-chức các buổi cầu-nguyện và các buổi tưởng-niệm để vinh-danh công-đức người quá-cố cho mọi người lấy đó làm gương.

Có những đám ma của loại người giầu có để khoe của, khoe danh, khoe sang vì quen biết các ông to bà lớn, và để dễ-dàng cho con cháu sinh sống và làm ăn sau này.

III. Tại Sao Người Ta Hay Tỏ Ra Quan-Tâm và Ân-Cần Đối Với Một Người Khi Họ Sắp Chết và Sau Khi Họ Chết Hơn Lúc Còn Sống.

Thường thì vào dịp Tết, lúc năm cùng tháng tận, người ta hay rộng-lượng với nhau. Họ bỏ đi các dị-biệt (different) cùng các xích-mích đã có để cùng nhau tổ-chức Tết để đón mừng xuân và hy-vọng một tương-lai tốt-đẹp hơn trong năm mới. Cũng trong chiều-hướng này, khi biết tin thân-nhân và bạn-bè hấp-hối hay đã qua đời mà trước đó có khi cả hằng năm chẳng bao giờ họ liên-lạc với nhau, người ta nghĩ rằng lúc này họ nên bỏ ra chút thì-giờ để đến thăm người hấp-hối, nhìn mặt người chết một lần chót, hay gửi đăng đôi lời chia buồn trên báo-chí để chuộc lại thái-độ lạnh-nhạt trước kia. Đây là một cử-chỉ đẹp, biết ăn-năn hối-cải, và độ-lượng nhưng ý-nghĩa chẳng có bao nhiêu vì lúc sống đã chẳng ra gì thì còn kể chi khi đã chết.

Có trường-hợp người ta đi phúng-điếu là để trả nợ vì trước đây người mà nay qua đời hay bà con của người này đã đi phúng-điếu thân-nhân của họ. Trong một số trường-hợp khác, có những người cùng làm chung một sở hay ở cùng một nơi với nhau; khi ở cơ-quan hay hàng-xóm có người qua-đời, bạn-bè và người hàng-xóm rủ họ đi phúng-điếu thì họ đi, chứ chưa chắc họ thực-sự muốn đi. Danh-sách những người đăng trong mục tin phân-ưu cũng vậy; có nhiều trường-hợp, bạn-bè hay tòa-soạn tưởng mình chơi thân với người quá-cố nên họ tự-động thêm tên mình vào.

Một số người đã đối-đãi tệ-hại với bạn-bè, họ tưởng rằng nói vài lời an-ủi với người hấp-hối coi như chuộc lại cả một thời-gian dài không một lần thăm viếng hỏi-han. Họ đến phúng-điếu và chia buồn với tang-quyến chỉ là tỏ thiện-chí làm lành và gột-rửa sự lạnh-nhạt hay hiềm-khích với gia-đình người quá-cố trước đây. Đây cũng là một việc tốt nhưng chưa đủ.

Có nhiều trường-hợp, con cái tệ-bạc với cha mẹ và đối với cha mẹ không ra gì, nhưng khi cha mẹ sắp qua đời, họ quây-quần bên giường bệnh lúc cha mẹ hấp-hối để tỏ ra mình lo-lắng và thương-tiếc cha mẹ một cách tự-nhiên phát-sinh tự đáy lòng. Ngoài ra, họ còn quây-quần bên giường bệnh lúc cha mẹ hấp-hối với mục-đích để xem cha mẹ có dặn-dò (trối) cho mình tiền của gì không.

Những người con có hiếu thường tổ-chức đám ma cho cha mẹ rất linh-đình cốt để tỏ lòng hiếu-kính một cách chân-tình. Nhưng cũng có trường-hợp, các con làm đám tang cho cha mẹ một cách linh-đình để gột-rửa sự bạc-bẽo của họ đối với cha mẹ trước đây.

Đối với những người đến phúng-điếu, có nhiều trường-hợp người ta đến phúng-điếu chia buồn với tấm-lòng thành. Thái-độ của họ nói lên tấm-lòng sẵn-sàng giúp-đỡ cho tang-gia bất-cứ lúc nào và bất-cứ cái gì khi cần đến. Đời vẫn có những người tốt thực-sự và vô vị-lợi. Có người đến phúng-điếu vì họ đã từng ngưỡng-mộ và tôn-kính người quá-cố mà không có dịp nào được gặp tận mặt hay nói trực-tiếp được một lời trong lúc người ấy còn sống. Có trường-hợp, người ta thân nhau nhưng lười liên-lạc nên khi nghe tin nhau bị bệnh hay qua đời họ đã cố-gắng đến an-ủi hay chia buồn.

Một số người thân nhau, họ không để ý đến nhau khi còn sống và cho đây là sự bình-thường. Trường-hợp này cũng giống như người có tự-do sẵn rồi thì không thấy tự-do là quan-trọng. Đến khi mất tự-do, họ mới thấy tự-do là quí. Đối với mười ngón tay của ta, khi bình-thường ta không thấy ngón nào là ngón quan-trọng. Nếu vì lý-do gì mà bị cụt đi một ngón, ta mới thấy thiếu-thốn và bất-tiện như thế nào. Chính vì lý-do này người ta mới ân-cần thăm nhau khi bị bệnh, hay thương-tiếc nhau vô-cùng khi đã mất nhau.

Nói chung, đám ma có linh-đình hay không, lễ cầu-siêu có lớn hay không, và phần mộ có to và đẹp-đẽ hay không, tất-cả đều dành cho người sống và đều làm rạng-rỡ cho người còn sống. Chết là hết. Sau này có mâm cao cỗ đầy hay không cũng chỉ là dành cho người sống. Việc đối-đãi với nhau khi còn sống mới là quan-trong. Cần đùm-bọc thương-yêu và săn-sóc nhau lúc sống chứ đừng để đến khi thân-nhân hay bằng-hữu chết mới tỏ lòng thương-tiếc.

Nhiều người tin rằng cần tụng-niệm Phật A-Di-Đà để cầu xin vãng-sanh (qua kiếp trần-gian) về cõi Tây-Phương Cực-Lạc. Thật ra Cõi Tây-Phương Cực-Lạc đã ở tại trong lòng mình. Không có đất Phật ở đâu bên ngoài. Lục Tổ Huệ-Năng đã dạy: ‘Kẻ mê-muội thì niệm Phật cầu vãng-sanh về cõi bên kia, người tỉnh-ngộ chỉ làm cho tâm mình được thanh-tịnh. Người phàm-phu không hiểu rõ tánh Phật của mình, chẳng biết rằng Tịnh-Thổ hay Tịnh-Độ, tức là đất Phật, đã có sẵn nơi tâm mình và ngay tại nơi mình đang ở, nên cứ lo cầu Đông nguyện Tây. Còn người đã giác-ngộ rồi thì biết rằng đâu đâu cũng là Tịnh-Thổ, tức là chỗ nào cũng có Phật ở đó cả.’ Con người khi còn sống nên giữ tâm mình cho thanh-tịnh để biết bổn-tâm nhận rõ bổn-tánh thì sẽ giác-ngộ thành Phật, chẳng cần phải cầu vãng-sanh làm gì vì lòng ta là đất của Phật rồi.

Hãy trân-trọng thời-gian được sống gần nhau, hãy tu-tâm dưỡng-tánh khi mình còn sống chứ đừng cầu vãng-sanh về ‘cõi Tây Phương Cực Lạc.’
IV. Quan-Niệm Của Một Số Người Về Việc Ma-Chay

Chính vì thấy sự phiền-hà khi thân-nhân phải tổ-chức đám ma mà rất nhiều người khi sắp chết họ đã trối lại là không nên làm đám ma linh-đình, miễn phúng-điếu, miễn thăm-viếng. Họ không muốn làm phiền ai và chỉ yêu-cầu thân-nhân làm đám ma thật đơn-giản mà thôi.

Một số người thì chú-trọng vào việc ăn-ở tốt với nhau lúc còn sống, sẵn-sàng giúp-đỡ nhau, và sẵn-sàng lo sống chết cho nhau trong mọi hoàn-cảnh. Sống sao cho tình-nghĩa vẹn-toàn để khi không còn có nhau nữa, họ không có gì phải hối-tiếc. Đám ma lớn nhỏ không thành vấn-đề nữa. Phúng-điếu hay không cũng vậy. Họ không vì người đã chết mà làm phiền-hà người khác hay để cho người ta kiếm ăn trên xác chết của mình. Một số người khác tự lo trước cho cái chết của mình để khi nằm xuống họ không làm phiền người nhà.

Có những người, vì lợi-ích chung của nhân-loại, họ đã ký giấy hiến thân-xác mình sau khi chết cho các cơ-quan nghiên-cứu để làm phương-tiện cho sinh-viên trường thuốc học-hỏi. Ma-chay trong trường-hợp này không thành vấn-đề nữa. Không còn phải sợ cảnh ‘ma chê cưới trách.’ Đây là một hành-động thật là cao-thượng và vị-tha. Thật đáng được thán-phục! Có những người thực-tế hơn đã làm điếu-văn cho cha mẹ, vợ chồng, hay bạn-bè ngay khi những người này còn sống (sinh-điếu). Làm ‘sinh-điếu’ kiểu này thật là có ý-nghĩa vì khi còn sống mà được nghe thân-nhân hay bằng-hữu khóc mình, ta mới thấy cảm-động và thú-vị vô-cùng. Có những nhà thơ đã làm điếu-văn khóc vợ lúc vợ còn đang chung sống với mình. Sau khi nghe bài sinh-điếu, có bà đã khóc mùi-mẫn vì sung-sướng. Thật là cảm-động một cách chân-thành đầy ý-nghĩa và tuyệt-vời.

V. Kết-Luận

Nếu khi chúng ta còn sống mà không thăm-nom và săn-sóc nhau thì những hành-động làm ma-chay (lễ tống-táng người chết) cho linh-đình, phúng-điếu, và phân-ưu dành cho nhau khi có người qua đời, tuy có cần-thiết, nhưng vẫn mang tính-cách lừa-dối người và lừa-dối chính bản-thân ta, nó không có một chút ý-nghĩa nào cả.

Hãy thăm-nom, săn-sóc, và giúp-đỡ nhau lúc còn sống mới thật là có ý-nghĩa và hữu-ích. Có như thế thì việc làm ma-chay, phúng-điếu, và phân-ưu mới có ý-nghĩa. Chết là hết. Ta nên nhớ rằng tất-cả những gì người sống làm cho thân-nhân hay bạn-bè đã qua đời chỉ vì những người còn sống và giúp cho những người sống yên lòng mà thôi.

Tuy-nhiên, ta vẫn phải làm đám tang cho người qua đời, nhưng chỉ nên làm giản-tiện và làm những gì cần-thiết mà thôi

Khải-Chính Phạm Kim-Thư

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Từ Arlington Nhớ Về Biên Hòa

Giao Chỉ, San Jose
Image
Bên đây, bên đó
Người Việt tại Hoa kỳ, từ thân phận di tản tỵ nạn, nay trở thành công dân. Chúng ta có quê hương xưa bỏ lại và đất nước mới để xây dựng cuộc đời. Xin cùng tác giả tìm hiểu về những vùng đất rất đặc biệt. Miền đất vĩnh cữu từ Arlington, Virginia đến nghĩa trang quân đội Biên Hòa tại Việt Nam.

Trải qua 150 năm tính đến mùa thu năm 2008, khu đất 624 mẫu với những đồi lớn nhỏ chập chùng nằm bên bờ sông Potamac, đã được tuyên dương là Nghĩa trang Quốc gia Hoa Kỳ. Khu vực này là tài sản của dòng họ Lee, vị tướng tư lệnh của đạo quân miền Nam trong cuộc chiến tương tàn Nam Bắc, Hiệp Chủng Quốc. Lúc đầu, đất này chỉ là khu nghĩa địa thông thường, nhưng sau được cải danh là Nghĩa trang quốc gia. Đã có 16 ngàn chiến binh được chôn cất sau cuộc nội chiến. Trên 320 ngàn ngôi mộ, là nơi an nghỉ của các chiến sĩ anh hùng Hoa Kỳ suốt hơn 200 năm qua. Tính đến nay mỗi tuần vẫn có gần 30 chiến sĩ được an táng.
Image Từ phía bên kia Đại dương, hơn 20 cây số ở phía Bắc thành phố Saigon, là nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Từ khi chiến tranh Việt Nam gia tăng cường độ giữa thập niên 60, vùng đất trên 120 mẫu bao la, bên tả ngạn con đường đi Vũng Tàu là khu được bộ Tổng Tham Mưu chọn làm nghĩa trang hình con ong. Khởi sự mang danh ‘Nghĩa Trang Quân Đội’ từ 1965, nhưng về sau đã có dự trù trở thành ‘Nghĩa Trang Quốc Gia Việt Nam’.

Cho đến tháng 4 năm 1975, miền Nam đã chôn cất 16 ngàn tử sĩ và từ đó đến nay, 33 năm qua không có người nào được chôn cất thêm. Nghĩa trang này đã bị tàn phá một phần bởi bộ đội Cộng sản miền Bắc và nay bị lãng quên trong hoang phế.

Xem lại lịch sử Arlington, kể từ khi chôn cất những tử sĩ đầu tiên năm 1802, nhưng đến năm 1864 mới thành Nghĩa Trang Quốc Gia. Hiện nay Arlington đã trở nên một danh lam thắng cảnh của thủ đô Hoa Thịnh Đốn với gần 5 triệu du khách hằng năm.

Trong khi đó nghĩa trang Biên Hòa chỉ có 10 năm lịch sử ngắn ngủi từ lúc chôn người lính đầu tiên tháng 3 năm 1965 cho đến 3 ngôi mộ tập thể được vùi dập vội vàng vào sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975. Tuy nhiên từ hai vùng đất tử sinh của Hoa Kỳ và Việt Nam đã có những con số trùng hợp lạ lùng.

Tính đến khi tổng kết chiến tranh Nam Bắc Hoa Kỳ đã có 16 ngàn tử sĩ đã được chôn trên đất Arlington, và tại Biên Hòa, khi miền Nam thất thủ, QLVNCH cũng đã chôn cất tại đây 16 ngàn tử sĩ. Cho đến nay, từ nghĩa trang xưa, gia đình đã di chuyển cải táng về quê khá nhiều. Di hài chiến binh miền Nam từ nghĩa trang hoang phế ra đi thêm một lần nữa nên hiện nay chỉ còn trên 10 ngàn ngôi mộ với diện tích thu hẹp từ 120 mẫu còn lại hơn 50 mẫu.

Arlington ngày xưa với 16 ngàn tử sĩ của cuộc nội chiến ngày nay có trên 300 ngàn chiến sĩ Hoa kỳ đã được chôn cất. Một bên có cả 200 năm lịch sử chung sự trong chiến tranh mà vẫn còn tồn tại. Còn Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta, chỉ có 10 năm kiến tạo và chôn cất anh em, nhưng trang sử của nghĩa trang xưa chẳng còn được bao nhiêu, dù trên di sản văn bản hay dưới lòng mộ sâu. Bức tượng ‘Thương tiếc’ đầy huyền thoại bị địch phá bỏ và 20 năm sau vào năm 2005, Cộng sản lại phá thêm 10 thước chiều cao của ‘Nghĩa dũng đài’.

Trong nỗi ngậm ngùi nhớ về nghĩa trang xưa, chúng tôi đi thăm Arlington của quê hương mới. Nhân ngày cựu chiến binh Mỹ năm 2008 , chúng tôi có xin gửi đến những tin tức về 1 vùng đất lịch sử đăc thù của Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ.
Đi tìm lịch sử dưới đáy mồ Ngày mai là ngày cựu chiến binh Hoa Kỳ 2008, và hôm nay chính là ngày thích hợp nhất để chúng tôi đi tìm lịch sử dưới đáy mồ. Các đơn vị tập dượt, du khách lần lượt vào thăm nhộn nhịp nhưng chưa phải là lễ chính nên đường xe còn thong thả.

Qua khỏi trung tâm đón chào khách bốn phương, chúng tôi đi bộ đến vùng đất xa xôi nhất. Khu 18 chôn cất tử sĩ miền Nam và khu 14 mồ tập thể hai miền Nam Bắc trên 2000 người chết. Khu xa nhất mang số 18 và trên đường về ghé vào khu 14. Một ngày khác, sẽ đi tìm nơi chôn 10 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có một Thiếu tá họ Vũ.
Image Hai bên đường khá đông các học sinh đi theo thầy, cô từng đoàn dài. Trên 600 mẫu đất bao la cắt ra hàng trăm mảnh. Có những mộ bia đều đặn thẳng tắp đến chân trời. Cũng có những khu đất nhỏ chôn cất tướng lãnh anh hùng với mộ chí rất đặc thù khác biệt. Những pho tượng cấp chỉ huy cỡi ngựa đặt trên lối đi. Tướng trên mình ngựa, bốn chân chạm đất là các vị chết thông thường. Chiến mã co chân trên mặt đất là chủ tướng chết tại sa trường.

Hàng cây lá đổi mùa, vàng chen sắc đỏ phủ kín cả trời xanh. Những bia mộ trắng dọc ngang ẩn hiện. Hàng mộ bên đường có chữ USCT là những người lính da đen tử trận. (United States Colored Troup) Có những mộ chí khắc chữ ‘Citizen’. Cho đến khi đã hy sinh, binh sĩ gốc nô lệ được chính thức giải phóng để trở thành có quốc tịch Hoa Kỳ.

Tổng cộng có 21 khu di tích lịch sử để ghé thăm. Mộ Tổng Thống Kennedy là nơi du khách ghé thăm nhiều nhất. Trước khi vị Tổng Thống trẻ tuổi bị ám sát, Arlington chỉ có hơn một triệu du khách thăm hàng năm. Khi ông được an táng ở đây với ngọn lửa ‘ Tân biên cương’, số du khách tăng lên gấp bốn lần. Khu đổi gác tại tượng đài ‘Chiến sĩ vô danh’ cũng là nơi nhiều người dừng chân.

Từ ngôi nhà của tướng Lee, tư lệnh quân đội miền Nam, du khách nhìn thẳng xuống ngọn tháp cao của tượng đài Tổng Thống Washington. Dòng sông Potamac lịch sử chạy ngang qua như giải lụa xanh thẳng góc với hồ gương phản chiếu long lanh ánh bạc.

Tiếng máy thổi lá xào xạc vang động góc trời, nghe đâu đây như tiếng binh đao của thời nội chiến. Du khách chợt thấy lòng mình lắng xuống với tiếng thì thầm của hơn 300,000 chiến binh dưới đáy mồ lịch sử mà hồn thiêng còn vương vấn đâu đây.

Arlington là miền đất giáp Đại Tây Dương. Người dân Việt lưu vong phải hướng về miền Tây, thả hồn bay ngang qua lục địa Bắc Mỹ mới đến bờ biển Thái Bình, và phải qua cả một đại dương mới về đến Nghĩa trang Biên Hòa.Tại miền đất bỏ lại 33 năm về trước, vẫn còn hơn 10 ngàn tử sĩ của miền Nam nằm chờ.

Nhà thơ Thục Vũ, Trung tá Võ Bị Liên Quân Đà Lạt 54, chết tại ngục tù Yên Bái đã viết nên câu thơ bất hủ:

“Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây...
áo rách sát xương vai gầy,
cùng chung kiếp sống lưu đầy..."
Hòa hợp hòa giải tại Hoa Kỳ Cuộc nội chiến tại Hoa Kỳ, hai bên dựa trên nền tảng xây dựng đất nước và lý tưởng tự do bình đẳng. Thực ra làm một cuộc chiến đầy cay đắng tại Hiệp Chủng Quốc kể từ sau chiến tranh cách mạng thành công và lập quốc. Quân hai bên Nam Bắc như anh em một nhà chia đôi chém giết nhau trong bốn (4) năm từ 1861 đến 1865. Đã có con số thương vong khủng khiếp là 620,000 người. Với dân số Hoa Kỳ thời đó là 30 triệu dân, ta có thể coi như con số tử trận tương đương với hơn 6 triệu người của dân số 300 triệu dân Mỹ hiện nay.

Vì vậy hận thù chất ngất, sự hàn gắn giữa hai bên đã phải đòi hỏi một thời gian dài. Thêm vào đó, vài ngày sau miền Bắc chiến thắng thì vị Tổng Thống anh hùng của Mỹ quốc bị ám sát chết. Lửa oán hờn bốc cháy. Câu chuyện đau thương và con đường lịch sử hàn gắn tại nghĩa trang Arlington là các dữ kiện điển hình.

Sau cuộc chiến dù rằng đã có 1 số ngôi mộ tử sĩ miền Nam nằm tại Arlington nhưng nghĩa trang này vẫn được coi chính thức của phe Liên Bang miền Bắc. Gia đình thân nhân miền Nam không được phép vào thăm mộ tử sĩ. Đến thời kỳ chiến tranh chống Mễ Tây Cơ, thanh niên miền Nam tình nguyện nhập ngũ cùng miền Bắc đứng lên bảo vệ đất nước. Hận thù dần dần lắng xuống.

Vào đầu thập niên 90, chính xác là năm 1901, tức là 35 năm sau cuộc chiến Nam Bắc, quốc hội Hoa Kỳ bắt đầu kêu gọi hòa giải dân tộc. Một khu đất cao phía Bắc của nghĩa trang Arlington được dành riêng làm nơi chôn cất di hài của chiến sĩ miền Nam. Những ngôi mộ dân quân miền Nam tại vùng Hoa Thịnh Đốn được cải táng đưa vào Arlington. Tổng cộng 482 di hài chôn thành vòng tròn chung quanh 1 tượng đài. Vào ngày lịch sử 4 tháng 6 năm 1914, kỷ niệm 106 ngày sinh nhật của vị tổng thống miền Nam bại trận là ông Jefferson Davis, tượng đài tại khu nghĩa trang miền Nam được khánh thành dưới sự chủ tọa của tổng thống Wilson và cựu chiến binh của cả 2 miền hiện diện.

Điêu khắc gia đã hoàn tất bức tượng bà mẹ chiến sĩ miền Nam trên bệ cao 32 Food. Khi bức màn phủ tượng đồng kéo xuống, nét mặt bà mẹ miền Nam buồn rầu nhìn xuống hàng mộ của những đứa con trai hy sinh, nước mắt hòa giải long lanh trên má những người cựu chiến binh già cả hai miền đất nước. Từ trên đỉnh cao của Arlington, ngay tại khu nghĩa trang lính miền Nam nhìn xuống phía Nam, về phía tay trái là khu di tích mang số 14. Tại đây có 1 nấm mồ vĩ đại ghi dấu con số oan nghiệt 2111 chiến binh cả 2 miền trong cuộc nội chiến được chôn tập thể. Những trận đánh sau cùng ở vùng Ricmond, có lần trên 50 ngàn tử sĩ 2 bên hy sinh trong trận sáp lá cà đẫm máu. Khi mưa tuyết, bùn lầy trải qua nhiều ngày, đã có trên 2000 xác không thể nhận diện là quân Nam hay Bắc. Tư lệnh chiến trường đã cho chôn vào mồ tập thể và bên trên ghi dấu chiến sĩ vô danh của nội chiến. Hàng chữ khắc trên đá cẩm thạch đã dành cho lính hai bên lời xưng tụng cao quý và bình đẳng trước Thượng đế.

Như vậy vào 150 năm xưa, để hàn gắn thù hận cuộc chiến Nam Bắc, người Mỹ đã phải chờ đợi 35 năm mới tạm thời giải tỏa được nỗi niềm qua lãnh vực chung sự. Bao giờ đến lượt nghĩa trang quân đội Biên Hòa tại Việt Nam.

33 năm đã trôi qua.
Image

Tóm lược về Nghĩa trang quốc gia Arlington
1. Năm 1802 khu đất Arlington là tài sản của dòng họ Lee. Lúc đó ông Rober E. Lee là tướng quân đội Liên bang, chỉ huy trưởng trường West Point. Sau ông ra đi làm tư lệnh quân đội miền Nam trong cuộc nội chiến. Hiện nay vẫn còn ngôi nhà Arlington House tưởng niệm tướng Lee. (#15).

2. Nghĩa trang quân đội lúc đầu có 200 mẫu, chôn người lính đầu tiên tên là Christman, thuộc trung đoàn 67 ngày 13 tháng 5-1864.

3. Người nô lệ da đen là phu đào huyệt đầu tiên James Parks, sanh ra tại Arlington được giải phóng sau nội chiến và khi chết cũng được chôn tại đây.

4. 1500 chiến binh da đen trong hàng ngũ Liên quân hy sinh trong nội chiến cũng được chôn tại đây.(Section 27) Trên mộ bia có tên và 4 chữ USCT (United States Colored Troup). Có trường hợp chỉ ghi Citizen. Không một người da đen nào chôn ở Arlington trong tư cách nô lệ. (#19).

5. Nội chiến Hoa Kỳ kéo dài trong 4 năm từ 1861 đến 1865. Đã có 620,000 quân của 2 bên chết chôn cất tại nhiều nghĩa trang khắp nơi. Riêng quân miền Bắc đã chôn tại Arlington là 16 ngàn người.

6. Thời gian từ 1892 đến 1943 đã có 1 số chiến sĩ hy sinh trong cuộc chiến cách mạng chống quân Anh đã được cải táng vào Arlington.

7. Lần lượt các chiến sĩ hy sinh trong đệ nhất, đệ nhị thế chiến, chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam, Trung Đông đều được mai táng tại đây. Những tượng đài chiến sĩ vô danh (#8) cho mỗi cuộc chiến đều được xây dựng. Gồm cả các mộ chiến sĩ vô danh.(#14).

8. Hai vị tổng thống đã chôn tại Arlington là Tổng thống William H. Taft (#17) và tổng thống John F.Kennedy (#1) cùng các vị anh hùng tên tuổi, (#10) các phi hành gia, (#12) các anh thư liệt nữ của Hoa Kỳ.(#9) Các anh hùng của vụ 9/11 hay các chiến sĩ hy sinh trên các chiến hạm.(#11).

9. Hiện nay nghĩa trang Arlington có đến 624 mẫu đất và đã chôn cất trên 320 ngàn người gồm cả các tử sĩ và các công dân hy sinh cho đất nước. Mỗi tuần lễ, trung bình có 27 đám tang theo nghi lễ quân sự.

10. Sau cuộc nội chiến 1861-1865 có 2111 tử sĩ hai bên được chôn tập thể. Mộ chiến sĩ vô danh của cuộc nội chiến Hoa Kỳ nằm tại khu vực gần Arlington House (#14) . Năm 1901 là năm hòa giải dân tộc. Nghĩa trang và tượng đài của miền Nam được dựng lên (# 18 ).

11.Đặc biệt tại Arlington có tổng cộng 62 người không phải quốc tịch Hoa Kỳ được chôn cất.

Trong số nầy có 10 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa. 9 người vô danh và 1 người là Thiếu tá bộ binh

Có 2 phi công Việt Nam vô danh mất tích tại Lào tháng 3-1968 trong chuyến bay cùng với Thượng sĩ Richarrd Fitts. Hiện chôn tập thể tại Section 34 grave 4524.

Trường hợp thứ ba là 7 chiến binh VNCH vô danh chết cùng 4 chiến binh Hoa Kỳ trên chuyến trực thăng rớt bên Lào ngày 5 tháng 3-1971 hiện chôn tập thể tại Section 3 Grave 4439.

Vào năm 1968-1971, Bộ tư lệnh KQ VN có thể đã ghi phi vụ mất tích, nhưng cho đến năm 1990 toán truy tìm MIA mới đến được chỗ lấy xác. Nhưng chỉ còn xương đã vở nát và lẫn lộn.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Mỹ sắp 'hết thời' thống trị toàn cầu

Image

Hải quân Mỹ có thể sẽ có thêm nhiều cạnh tranh trong các năm tới
Sự thống trị về kinh tế, quân sự và chính trị của Hoa Kỳ có thể suy yếu trong hai thập niên tới,
theo một báo cáo tình báo mới của Mỹ về các xu hướng toàn cầu.
Hội đồng Tình báo Quốc gia (NIC) dự đoán Trung Quốc, Ấn Độ và Nga sẽ ngày càng thách thức ảnh hưởng của Hoa Kỳ.

Hội đồng này cũng nói đồng đôla sẽ không còn là đồng tiền chính của thế giới nữa và các thiếu hụt lương thực và nước uống sẽ hun đúc xung đột.

Tuy nhiên, báo cáo cũng thừa nhận rằng các hậu quả này không phải là không thể tránh khỏi và sẽ phụ thuộc vào hành động của các nhà lãnh đạo thế giới.

Phóng viên của BBC, Jonathan Beale ở Washington nói điều này sẽ tạo ra một viễn cảnh ảm đạm cho Tổng thống đắc cử Barack Obama khi vẽ ra một bức tranh tối màu cho tương lai ảnh hưởng và quyền lực của Hoa Kỳ.

Theo báo cáo 'Các khuynh hướng toàn cầu 2025', tài liệu mới nhất do Hội đồng NIC chuẩn bị bốn năm một lần, được ra đúng dịp mỗi nhiệm kỳ tổng thống kế tiếp: "20 năm chuyển đổi tới đây sang một hệ thống mới sẽ chứa đựng đầy rủi ro."

Tuy nhiên, báo cáo kết luận: "Hoa Kỳ sẽ vẫn duy trì vị thế đơn nhất như một chủ thể quan trọng nhất song sẽ có ít đi sự thống trị."

Sử dụng vũ khí hạt nhân


Hội động NIC dự báo có thêm nhiều xung đột trong tương lai

Nghiên cứu của NIC năm 2004 đã phác hoạ một bức tranh nhiều mầu hồng hơn về vị thế toàn cầu của Hoa Kỳ, với sự thống trị của Hoa Kỳ được kỳ vọng tiếp tục.

Nhưng báo cáo mới nhất nói những nền kinh tế đang nổi lên như Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil sẽ trao thêm sự cạnh tranh nhiều hơn cho Hoa Kỳ ở đỉnh cao của một hệ thống quốc tế đa cực.

Báo cáo này nhận định một thế giới với nhiều trung tâm quyền lực hơn sẽ ít ổn định hơn một thế giới với một hoặc hai siêu cường và tạo ra nhiều tiềm năng xung đột hơn.

Nóng ấm toàn cầu sẽ có một tác động lớn hơn vào năm 2025, gây ra các khan hiếm về lương thực và nước vốn có thể thổi bùng xung đột toàn cầu.

Báo cáo nói việc sử dụng các vũ khí hạt nhân tương tự cũng sẽ gia tăng khi các quốc gia có dụng ý xấu và các nhóm khủng bố có được tiếp cận lớn hơn tới các loại vũ khí đó.

Thế nhưng Hội đồng Tình báo NIC cũng đề xuất một phạm vi hành động cho các nhà lãnh đạo nhằm tránh các kịch bản đó.

Chủ tịch Hội đồng NIC, Thomas Fingar nói: "Trong một số trường hợp, việc vận hành của các cơ chế thị trường nhằm giải quyết và làm giảm thiểu, nếu không nói là đi tới giải quyết các vấn đề này, đều không vượt quá tầm tư duy của nhân loại hay của các hệ thống chính trị."

Tuy nhiên, như phóng viên của BBC nói thêm, cũng cần chú ý rằng trước đây tình báo Hoa Kỳ cũng đã có nhận định sai.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Quan điểm sống của giáo sư 82 tuổi lấy vợ 28 tuổi


Nhân dịp tới Singapore giữa tháng 10/2008 để nhận bằng tiến sĩ danh dự trường Đại học Nanyang, nhà khoa học Dương Chấn Ninh, một trong hai người Hoa đầu tiên nhận giải Nobel khoa học (giải Vật lý 1957, cùng Lý Chính Đạo) đã chia sẻ với công luận suy nghĩ của ông về cuộc sống của người già.

Món quà cuối cùng của Thượng Đế

Người Trung Quốc (TQ) rất tự hào về Dương Chấn Ninh, vì ông là người Hoa được tặng giải Nobel danh giá và cũng vì ông đã có nhiều đóng góp to lớn đối với đất nước TQ.

[center]Image[/center]
[center]Vợ chồng Dương Chấn Ninh - Ông Phàn [/center]

Dương Chấn Ninh cho rằng rất ít người được may mắn như ông, tại mỗi bước ngoặt đều chọn được con đường đúng đắn; và rốt cuộc Thượng Đế đã tặng ông món quà cuối cùng – đó là cô vợ mới cưới. Người vợ trước đó là bà Đỗ Chí Lễ, từng chung sống với ông hơn nửa thế kỷ (1950-2003).

Ngày 24/12/2004, Dương Chấn Ninh, 82 tuổi, kết hôn với cô Ông Phàn, nữ nghiên cứu sinh thạc sĩ người huyện Sán Đầu (Quảng Đông) 28 xuân xanh, kém Dương 54 tuổi và còn kém con gái út của ông 15 tuổi. Nay giáo sư Dương 86 tuổi còn vợ 32.

Cuộc hôn nhân này gây xôn xao dư luận TQ, khiến đôi tình nhân phải chịu sức ép rất lớn, đi đâu cũng được các nhà báo "chăm sóc".

Dương an ủi Phàn: sau đây ba bốn chục năm nữa, nhất định mọi người sẽ nói sự kết hợp của chúng mình là một mối tình lãng mạn đẹp. Ông cho rằng Phàn yêu quý tính ngay thẳng chân thành của ông.

Nhiều người lo Dương Chấn Ninh bị Phàn lừa, vì ông có danh vọng cao lại giàu có (từng tặng trường Đại học Thanh Hoa 10 triệu USD). Ngược lại, ông cho rằng có lẽ thiên hạ đều nghĩ ông đã làm một việc thiếu đạo đức là lừa bịp cô gái trẻ. "Thực ra hai chúng tôi đã suy nghĩ rất chín chắn về cuộc hôn nhân này" – ông nói.

[center]Image[/center]
[center] Lễ mừng sinh nhật tuổi 85 của GS Dương Chấn Ninh
có sự xuất hiện của người vợ Ông Phàn[/center]

Ông cho rằng cuộc hôn nhân đó trên một cách nào đấy sẽ kéo dài cuộc sống của mình. "Nếu không lấy Phàn thì tôi sẽ cảm thấy các sự việc trong ba bốn chục năm tới chẳng can hệ gì đến mình; còn bây giờ tôi biết rằng qua cuộc sống của Phàn, những sự việc ấy sẽ liên quan khăng khít với tôi. Một cách bản năng, suy nghĩ ấy đã ảnh hưởng rất quan trọng tới tôi".

Và ông bảo cô vợ trẻ: "Một số việc tôi sẽ không được thấy, nhưng sau đây ba bốn chục năm em sẽ thấy thay cho tôi".
Dương Chấn Ninh cho rằng cuộc hôn nhân này rất ý nghĩa đối với ông; và hiện nay ông còn khỏe, có thể chăm sóc vợ. Vì học chuyên ngành tiếng Anh nên Phàn dễ dàng trò chuyện với các con và bạn của ông. Rất may là gia đình hai bên đều đồng thuận. Các bạn của Dương cho rằng đây là việc ông nên làm.

Năm nay 86 tuổi, Dương Chấn Ninh đến Singapore trong bộ dạng nhanh nhẹn, vui tươi khỏe mạnh hơn trước; điều đó chứng tỏ quyết định của ông là đúng. Gần đây dư luận TQ lại có tin đồn cô Phàn đã to bụng!

Sau đây là nội dung trả lời phỏng vấn "Báo Buổi sáng" (Singapore) của Dương Chấn Ninh.

"Tâm lý chịu trách nhiệm là một khâu quan trọng trong đời sống hôn nhân"

Mười năm trước tôi cùng Đỗ Chí Lễ đến thăm một làng người già ở bang Florida, nơi có hơn 1000 hộ đều là người hưu trí, trong đó có một số giáo sư của phân hiệu Stony Brook thuộc trường Đại học bang New York.

[center]Image[/center]
[center]Dương Chấn Ninh: "Trong việc kết hôn thời nay, bất cứ ai cũng chịu tác động của xúc động tình cảm"[/center]

Tại đây chúng tôi thấy nhiều bạn tôi từng mất vợ hoặc chồng nay đã tái hôn. Tôi nghĩ, nếu không gặp Phàn thì có lẽ tôi cũng dọn đến đây ở, sau một thời gian tôi sẽ tái hôn với bà góa nào đấy. Điều này hoàn toàn có khả năng. Tóm lại tôi chẳng muốn sống cô đơn – điều đó không hợp với cá tính của tôi.

Trước đây tôi có quen một nhà vật lý rất nổi tiếng người Anh là Rudolf Ernst Peierls (1907 - 1995), hơn tôi mười tuổi. Ông này từng có cuộc hôn nhân hạnh phúc với vợ. Sau khi bà ấy mất, ông sống thêm được mười mấy năm, hầu hết thời gian là ở nhà một mình cô đơn vò võ.

Nhà khoa học Dương Chấn Ninh

[center]Image[/center]

Sinh năm 1922 tại thành phố Hợp Phì tỉnh An Huy; cha là người TQ đầu tiên đỗ tiến sĩ toán ở Mỹ rồi làm chủ nhiệm khoa tại ĐH Thanh Hoa.

Dương Chấn Ninh tốt nghiệp ĐH Liên hợp Tây nam rồi nhận bằng thạc sĩ tại ĐH Thanh Hoa khi 22 tuổi. Năm 1946 nhận học bổng du học Mỹ. Năm 1948 nhận bằng tiến sĩ tại ĐH Chicago, ở lại Mỹ nghiên cứu khoa học. Năm 1957 cùng Lý Chính Đạo nhận giải Nobel vật lý.

Từ 1971 về TQ nhiều lần để thăm thân và giúp TQ đưa người sang Mỹ nghiên cứu, học tập, đồng thời giảng dạy tại TQ. Năm 1994 được Viện Khoa học TQ bầu làm viện sĩ quốc tịch nước ngoài; 1998 được ĐH Thanh Hoa tặng danh hiệu Giáo sư danh dự.

Năm 1950 kết hôn với bà Đỗ Chí Lễ, con một quan chức cao cấp của Quốc Dân Đảng TQ. Có 3 con (1 gái).

Sau khi vợ chết, cuối 2003 về TQ định cư và giảng dạy tại ĐH Thanh Hoa.

Tôi không muốn sống như thế. Sau khi Đỗ Chí Lễ qua đời, tôi quyết định sẽ tái hôn. Giá như không gặp cô Phàn thì tôi cũng lấy người khác thôi. Chẳng phải vì tôi đã có đối tượng, mà là do cá tính của tôi.

Tôi đã tra cứu thấy bình quân người 82 tuổi có thể sống thêm 6 năm nữa. Đấy chỉ là con số đổ đồng, có người có thể sống thêm 10 năm. Tôi đã tái hôn được 4 năm nay với Phàn, tình hình rất tốt. Tôi lại tra cứu lần nữa, thấy người 86 tuổi bình quân có thể sống thêm 5 năm nữa. Như vậy khả năng tôi thọ hơn 90 tuổi là khá lớn.

Ở tuổi 82 lấy vợ, rất ít người có thêm được cuộc sống vợ chồng lâu tới trên 10 năm. Ngày xưa, bà Trần Hương Mai lấy thiếu tướng không quân Mỹ Chennault (*) hơn bà 33 tuổi. Hai người chung sống được 10 năm thì ông ốm chết, lúc ấy bà Trần mới 32 tuổi.

Về sau bà có viết cuốn hồi ký "Một nghìn ngày xuân" kể lại 11 mùa xuân chung sống, ngày nào cũng là mùa xuân, cho nên tổng cộng là 1000 ngày. Thời gian như vậy là quá ngắn, thật tiếc.

Tôi gặp Phàn lần đầu năm 1995 tại Đại học Sán Đầu (Quảng Đông); năm 2004 thì chính thức quen nhau. Dịp Tết năm ấy Phàn gửi thiếp chúc Tết cho tôi. Sau đó tôi có gọi điện thoại mời cô đến chơi với tôi ở Hong Kong. Từ đó tôi hiểu cô nhiều hơn. Nhưng chênh lệch tuổi quá lớn làm tôi băn khoăn mãi.

Tôi không ngại người đời chê cười cho tôi lấy vợ trẻ là mất đạo đức. Tôi sợ nhất là khi tôi chết thì Phàn không có ai chăm sóc, dù cô còn rất trẻ. Khi quyết định lấy Phàn, điều tôi băn khoăn nhất là tôi sẽ không thể cùng Phàn chung sống được lâu.

Tôi suy nghĩ mãi cuối cùng mới thông. Tôi bảo Phàn, khi tôi không còn trên đời nữa thì em có thể tái hôn. Phàn nói, anh không thể nói như thế. Tôi đáp: Dương Chấn Ninh khi trẻ thì không nói thế đâu, già rồi mới nói vậy. Tôi nghĩ, tâm lý chịu trách nhiệm là một khâu quan trọng trong đời sống hôn nhân.

Được chung sống với Phàn thật là một sự khéo trùng hợp. Tôi luôn nghĩ mình là kẻ gặp may; ngoài Phàn ra tôi khó có thể chọn được một người vợ nào như cô, mọi việc đều rất thuận lợi.

Trong việc kết hôn thời nay, bất cứ ai cũng chịu tác động của xúc động tình cảm. Thời trước việc dựng vợ gả chồng ở TQ 100% do cha mẹ xếp đặt; ở nước ngoài cũng gần như thế.

[center]Image[/center]
[center]"So với nhiều nam giới khác, tôi coi trọng bạn đời hơn"[/center]

Ngày nay, cha mẹ không còn ràng buộc được con cái nữa, thanh niên thế giới nhiều khi chưa suy nghĩ kỹ đã lấy nhau, điều đó phản ánh trên tỷ lệ ly hôn tăng không ngừng. Nhưng ở Mỹ thì tỷ lệ ly hôn đã đến giới hạn, không còn tiếp tục tăng nữa.

Tôi nghĩ đó là do thanh niên Mỹ đã rút ra được quá nhiều bài học tiêu cực từ ly dị, họ trở nên thận trọng khi xử lý việc hôn nhân. So với nhiều nam giới khác, tôi coi trọng bạn đời hơn. Điều đó liên quan tới hoàn cảnh gia đình.

Tôi cùng cha mẹ và các em mình có quan hệ rất khăng khít; khiến tôi rất coi trọng quan hệ với người trong nhà. Tôi chịu ảnh hưởng mạnh của cha tôi.

Hồi ấy những người cùng đi du học nước ngoài với cha tôi khi về TQ thường hay bỏ vợ. Cha tôi không làm thế; ông có thái độ gánh chịu trách nhiệm với gia đình. Có lẽ cái gien ấy đã lưu lại trên người tôi. Đời sống của cha mẹ tôi khi về già đã chứng minh quyết định của cha tôi là sáng suốt.

Tiên sinh Hồ Thích (**) thì khác. Trước khi du học nước ngoài, ông mới đính hôn mà chưa cưới. Chỉ vì không dám đi ngược ý muốn của mẹ mà ông đành lấy bà Giang Đông Tú ông vốn không có cảm tình. Ông có nhiều bạn gái; về sau tuy có ngoại tình nhưng không dám ly dị vợ. Đời sống vợ chồng của ông không vui vẻ. Tôi có đến thăm nhà ông ở New York, bà vợ ông suốt ngày chơi mạt chược.

Nguyên Hải

------------

Ghi chú:

1. Claire Lee Chennault (1890-1958), người chỉ huy Phi đội Hổ Bay gồm các phi công tình nguyện Mỹ giúp TQ kháng chiến chống Nhật hồi thập niên 40, lập chiến công lừng lẫy; được người Mỹ chọn là một trong hai tướng Mỹ nổi tiếng nhất trong đại chiến II.

2. Hồ Thích (1891-1962), người An Huy, năm 1910 du học Mỹ, học trò triết gia chủ nghĩa thực dụng Dewey. Về dạy ĐH Bắc Kinh, đề xướng cải cách văn học, rất có ảnh hưởng ở TQ. Từng làm đại sứ Trung Hoa Dân Quốc tại Mỹ. Sau 1949 sống ở Đài Loan

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Chuyện Quốc Ca Hoa Kỳ
24/11/2008


Nhân đọc một tài liệu về Quốc Ca Hoa Kỳ, tôi ngạc nhiên đến thích thú khi được biết âm điệu bài Quốc Ca Hoa Kỳ hiện nay, nguyên thuỷ đã là nhạc của một "bài ca uống rượu" (drinking song) của The Anacreonic Society (Hội Những Dân Chơi) một loại Câu Lạc Bộ Playboy Tửu Sắc đóng đô ở Strand London vào hậu bán Thế Kỷ 18. Tôi lần mò thêm một số tài liệu khác, kể cả của Chánh Quyền như Bộ Ngoại Giao, Thư Viện Quốc Hội, Viện Bảo Tàng Lịch Sử Hoa Kỳ...thì quả đúng như vậy. Xin đơn cử vài websites dưới đây:

http://www.loc.gov/exhibits/treasures/trm065.html http://en.wikipedia.org/wiki/The_Star_Spangled_Banner

Vào thời gian đầu, người ta vẫn nghĩ tác giả "bài ca uống rượu" là Dr. Thomas Arnold, người đã sáng tác nhiều bản nhạc cho Hội Anacreonic nhưng sau này, sau nhiều khảo cứu, Ông John Stafford Smith, một thành viên của Hội, được chính thức xác nhận là tác giả. Bài hát rất phổ thông ở Anh Quốc và Hoa Kỳ cuối Thế Kỷ 18 cũng như đầu Thế Kỷ 19 đến nỗi ai không biết bài này sẽ bị xem như không phải là dân chơi, dân sành điệu. Ông Francis Scott Key đã dựa vào nhạc của bài hát để viết nên bài thơ làm lời cho Quốc Ca Hoa Kỳ. Câu chuyện về bài thơ ấy như sau:

Trận chiến năm 1812 được coi là khốc liệt nhất khi người Anh tấn công và thiêu hủy điện Capitol và Toà Bạch Ốc ở Thủ Đô Washington Hoa Kỳ, sau đó họ chuẩn bị chiếm hải cảng Baltimore thuộc Tiểu Bang Maryland trong khu vực Vịnh Chesapeake. Hải cảng này được bảo vệ bởi Căn Cứ McHenry. Tổng số có 16 Chiến Hạm của Hạm Đội Vương Quốc Anh tham gia trận này đang xếp hàng tiến về mục tiêu.

Trước khi Hạm Đội vào trong tầm hiệu quả của đại bác, có hai người Mỹ, Đại Tá John Skinner cùng đi với một Luật Sư (kiêm Thi Sĩ tài tử) tên là Francis Scott Key, khởi hành từ Baltimore trên chiến hạm HMS Minden, đến một trong những chiến hạm Anh, để điều đình về việc thả Bác Sĩ William Beanes (một người bạn của Key đã bị bắt trong trận chiến Washington DC). Công tác này thực ra nằm trong một kế hoạch trao đổi tù binh đã được Tổng Thống James Madison phê chuẩn. Skinner và Key lên Chiến Hạm HMS Tonnant ngày 7 tháng 9 nói chuyện với Trung Tướng Robert Ross và Đô Đốc Alexander Cochrane khi họ đang soạn thảo kế hoạch tấn công. Lúc đầu phía Anh Quốc từ chối việc trao trả Bác Sĩ Beanes nhưng sau khi Skinner và Key cho họ đọc những lá thư do chính những tù binh thương binh người Anh viết cảm tạ sự chăm sóc tận tâm của BS Beanes, người Anh đồng ý. Vì lý do sắp đến ngày khai hoả, đồng thời e ngại việc tiết lộ kế hoạch, cả 3 người đều bị tạm giữ trên tàu Surprise, sau đó chuyển qua HMS Minden, chờ cho xong cuộc tấn công.

Hạm đội Anh gồm 16 chiến hạm bắt đầu đồng loạt pháo kích và tấn công căn cứ McHenry ngày 12/9/1814 và kéo dài trong 2 ngày kể cả một nỗ lực đổ bộ lên phía Tây của căn cứ nhưng đã bị hoả lực từ cứ điểm cuối cùng của thành phố là đồn Covington chặn đứng. Đại Tá Skinner và Key hồi hộp theo dõi cuộc chiến từ trên tàu Anh. Không ai có thể cung cấp một chút tin tức nào. Hai ông chỉ biết nhìn về chân trời, nơi Căn Cứ McHenry có một lá đại kỳ dài 42 feet (cỡ 14 mét). Lá cờ này thời bấy giờ có 08 sọc đỏ, 07 sọc trắng và 15 ngôi sao trắng (hiện vẫn còn được lưu giữ và trưng bày tại Viện Bảo Tàng National Museum of American History. Quốc Kỳ ngày nay có 07 sọc đỏ, 06 sọc trắng và 50 ngôi sao trắng).

Đêm 13/9 cuộc pháo tập đột nhiên ngừng hẳn. Sự im lặng ngột ngạt bao trùm. Không rõ cuộc tấn công thất bại hay căn cứ McHenry đã thất thủ. Francis Key nóng lòng ngồi chờ bình minh lên. Khi những tia sáng yếu ớt đầu tiên xuất hiện cuối chân trời, Key mở to mắt cố gắng nhìn về hướng McHenry. Hình như có một lá cờ ẩn hiện trong sương mai dày đặc nhưng không biết cờ phe nào. Càng chờ, niềm hy vọng càng dâng cao với ước mơ, Key đã viết 2 câu thơ đầu tiên:

O, say can you see, Ô kìa bình minh lên
by the dawn's early light Đang tan dần sương mai
What so proudly we hail'd Làm sáng thêm hy vọng
at the twilight's last gleaming Thấp thoáng ở chân trời

Gió thổi nhè nhẹ trong sương sớm. Lá cờ vẫn đong đưa xa xa. Đôi mắt Key hoen lệ nhìn chăm chú như muốn nổ tung. ...thêm từng tia nắng cho bầu trời sáng dần....đúng rồi! Key nhận ra đó chính là những cái sọc thân thương! Chính là những ngôi sao trìu mến! Đúng là căn cứ McHenry vẫn còn đứng vững! Đúng là phe ta đã toàn thắng. Key sung sướng la lên:

T'is the Star-Spangled Banner Cờ Sao chính là đây
O long may it wave Sẽ ngàn năm tung bay
O'er the land of the free Tự do miền đất hứa
And the home of the brave Quê hương của can trường

Trận chiến kết thúc. Đại Tá Skinner và Key cùng với người bạn BS Beanes được đưa vô đất liền phóng thích chiều tối 16/9. Đêm đó Key đã hoàn chỉnh 04 câu thơ tại khách sạn Indian Queen Hotel dưới tựa đề "Defense of Fort McHenry" (Phòng Thủ Căn Cứ McHenry). Sáng hôm sau, ông đem đến khoe người anh rể đang là một thẩm phán tại địa phương Judge Joseph H. Nicholson. Ông này thích quá đem in ngay trên tờ Bản Tin. Thật ra, Francis Scott Key không mong mỏi gì hơn vì 04 câu thơ này khi đọc lên nó có cùng một số câu, số chữ tương tự như âm điệu của một bài hát phổ thông thời bấy giờ của dân nhậu là bài "to Anacreon in Heaven" (Tay Chơi Trên Thiên Đình). Nhạc có sẵn vì rất nhiều người đã biết. Lời lại phản ảnh chuyện thời sự nóng bỏng nhất. Thế là bài hát được truyền đi nhanh chóng. Đặc biệt tại những quán rượu. Nâng ly mừng chiến thắng. Hát vang lời ca mới toanh vinh danh biến cố này. Nỗi vui và niềm tự hào cuồn cuộn dâng cao, lan ra khắp nơi. Ba ngày sau, người ta đưa lên cả hai tờ Baltimore Patriot và tờ The American. Rồi tiếp tục xuất hiện trên 17 tờ báo suốt từ Georgia lên đến New Hampshire. Năm đó (1814) F.S. Key vừa tròn 35 tuổi. Bài hát được đổi tựa thành "The Star-Spangled Banner" ("Cờ Đính Sao" hay "Cờ Sao") được Hải Quân Hoa Kỳ chính thức xử dụng năm 1889, Tổng Thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson công nhận năm 1916 nhưng phải đến ngày 3 tháng 3 năm 1931 mới được Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận và Tổng Thống Herbert Hoover ký sắc lệnh công nhận là Quốc Ca.

Trước năm 1931 cũng đã có một số bài hát được xử dụng song hành với bài Cờ Sao, nổi bật nhất là bài "Hail, Columbia" như những quốc ca trên thực tế (de facto) chứ chưa có một bài nào được Quốc Hội chính thức thông qua. Chỉ sau khi có bài báo của Robert Ripley ngày 3/11/1929 đặt vấn đề: "Bạn biết không? Cho đến nay, Hoa Kỳ vẫn chưa có Quốc Ca!", dư luận mới rầm rộ lên, đưa đến việc chính thức hoá bài "Cờ Sao".

Điều 36 U.S.C khoản 301 (United States Code: Luật về Tác Phong) quy định rằng "Bất cứ ai, khi nghe Quốc Ca có sự hiện diện của Quốc Kỳ, ngoại trừ những quân nhân mặc quân phục, cũng phải đứng nghiêm, mắt nhìn thẳng vào Quốc Kỳ, tay phải đặt lên tim mình. Những ai có đội mũ thì giở mũ ra bằng tay phải, úp mũ lên vai trái với bàn tay phải ở vị trí tim mình. Quân nhân mặc quân phục phải chào kính theo lễ nghi quân cách. Trong các buổi lễ, khi có Quốc Ca mà không có Quốc Kỳ thì cũng phải làm như vậy cho đến hết nốt nhạc cuối cùng".

Ngay cả trong các cuộc diễn hành, khi có toán Quốc Kỳ dẫn đầu, chúng ta thấy đa số khán giả hai bên đường đứng dậy, một số người chào kính theo quy định trên đây.

Phải công nhận rằng bài Star-Spangled Banner rất khó hát vì độ cao thấp quá xa, quá cách biệt (một octave rưỡi). Luật Tác Phong Hoa Kỳ không quy định phải hát theo nhưng nếu hát được càng tốt, có thể hát theo bằng tiếng Việt nếu thích, nếu không, cũng nên hiểu ý nghĩa của lời ca. Nhìn các Vận Động Viên Hoa Kỳ trên đấu trường hay trên bục nhận huy chương, khi Quốc Ca Hoa Kỳ được trổi lên, thấy họ hát theo thật cảm động, nhìn thấy trong ánh mắt họ niềm kiêu hãnh, tự hào quê hương, đất nước. Bài này đã được dịch ra rất nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới như Latin, Pháp, Đức...mà bản tiếng Tây Ban Nha "Nuestro Himno" (Our Anthem) do những người Mễ hát trong những lần biểu tình mấy năm qua đã gây nhiều tranh cãi. Tuy nhiên bản dịch tiếng Spanish năm 1919 tựa đề "La Bandera de Estrellas" (The Flag of Stars) đã được Sở Giáo Dục thuộc Bộ Nội Vụ lúc bấy giờ công nhận.

Người viết xin được gợi ý phần tiếng Việt của bài Quốc Ca Hoa Kỳ này, đề nghị độc giả thử hát bài Quốc Ca Hoa Kỳ bằng tiếng Việt như dưới đây xem có xuôi tai và dễ hát hay không, "mua vui cũng được một vài trống canh" thôi, đồng thời xin vui lòng chỉ giáo thêm nếu thấy cần bổ túc hay sửa chữa. Chân thành cám ơn.
QUỐC CA HOA KỲ THE STAR-SPANGLED BANNER

Ô kìa bình minh lên Oh, say can you see,
Ánh dương tan dần sương mai By the dawn's early lights
Làm tỏ sáng thêm hy vọng What so proudly we hailed
Rộn ràng thấp thoáng nơi chân trời As the twilight's last gleaming
Những sao sọc ngời quang vinh Whose broad stripes and bright stars
Đã bao phen cuộc tử sinh Through the perilous fight
Từ đổ nát thê lương điêu tàn O'er the ramparts we watched
Vẫn sừng sững hiên ngang bóng cờ Were so gallantly streaming
Đêm qua đêm pháo sấm sét And the rockets' red glare
Tiếng bom rền vang khắp chốn The bombs bursting in air
Vẫn uy nghi ngọn cờ Gave proof through the night
Vẫn cao vút lòng son sắt That our flag was still there
Dù bao khốn khó luôn kiên gan Oh, say, does that Star-Spangled
Chí lớn tung bay Banner yet wave
Trời tự do miền đất hứa O'er the land of the free
Và quê hương của can trường? And the home of the brave?
NGUYỄN THẾ THĂNG
kbc4648@aol.com

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Tính Tình Qua Màu Sắc Yêu Thích
Tác giả: Tuệ Giải


"Hãy nói cho tôi biết bạn thích màu nào. Tôi sẽ nói tính tình bạn ra sao".

Màu Nâu Hạt Dẻ: Bạn là người trung thực. Bạn yêu sự thật và chỉ nô lệ cho cái đầu của chính mình. Bạn trân quý từng chữ trong bài thơ Lời Mẹ Dặn của thi sĩ Phùng Quán. Bạn thích màu nâu, nhưng không phải màu nâu già cỗi của nhụy hoa hướng dương. Bởi vì "mênh mông trời đất vô thường, lẽ đâu chỉ biết một phương mặt trời?". Bạn yêu thích thông tin nhiều chiều, xét nhìn mỗi sự kiện dưới nhiều góc cạnh, qua nhiều lăng kính. Bạn sẵn sàng tin tưởng người đối diện. Nhưng chắc chắn bạn không thể chấp nhận để cho họ lợi dụng sự tin cậy đó mà áp đảo bạn. Nếu họ phản bội lòng tin của bạn hay của người chung quanh, bạn vẫn thường là người đầu tiên nói rõ điều đó cho họ và cho cả những người chung quanh đều biết để có thái độ ứng xử thích hợp với họ. Tính trung thực đòi hỏi ở bạn một cách sống độc lập. "Dù yêu tất cả tiếng người, sao tôi vẫn ghét những lời nói chung. Tâm hồn ta đẹp vô cùng, lẽ đâu ngôn ngữ đóng khung hẹp hòi?". Tư duy thông thoáng, nhưng độc lập. Không chờ ai nghĩ dùm hay nói hộ. Cũng không thể tin vào một hệ thống truyền thông một chiều rồi dựng tường lửa chặn bít các chiều còn lại. Mẫu người trung thực của bạn thường có những nhận định chính xác, sâu sắc cho từng vụ việc. "Cầm bút với lòng tự hào, lưỡi không chịu uốn đời nào ngòi cong". Đó là thiên tính rất cần và lẽ ra phải có của giới làm báo và truyền thanh. Bạn sẽ thành công với những góp ý thẳng thắn trên mục "Bạn đọc viết" của các báo. Đó cũng là một cách thao dượt để trở thành những cây bút nghiệp dư nhưng rất đáng tự hào.



Màu Vàng Vỏ Chanh: Bạn là người công minh. Bạn yêu thơ, thích nhạc, yêu người, yêu đời, nhưng nhất định không chịu được kẻ ác và việc ác. Bạn sẵn sàng ứng xử bằng tình người với mọi người chung quanh, kể cả những kẻ chức quyền thiếu nhân cách. Nhưng chắc chắn bạn không bao giờ muốn tưởng thưởng cho những kẻ tóm thu rồi làm sai quấy việc điều hành sinh hoạt cả nước, kể cả ở cấp thấp nhất. Ngay cả việc làm ngơ trước những sai quấy đó cũng khó chấp nhận được đối với bạn. Làm ngơ trước tội ác cũng là một cách đồng lõa với tội ác, đúng như bạn nói! Tính công minh của bạn bảo rằng: Nhân tính là một lẽ - Minh bạch là một lẽ khác. Phải rạch ròi đúng-sai. Phải rõ ràng công-tội. Đâu thể nào "Mở còng bằng cách chặt tay mọi người"! Phải trắng-đen đâu ra đó. Thương hay ghét không có chỗ đứng bên cạnh tính công minh. Bạn cũng không chờ đợi được thăng thưởng từ những kẻ ác. "Dẫu chưa đến nỗi phải quỳ, đã cong lưng nhận còn gì tự do?". Bạn không nệ hà gian khó phấn đấu, nhưng nhất định là không chịu được sự lệ thuộc. Bạn không thể viết hay nói theo ý người khác. Tính công minh kêu gọi và luôn nhắc nhở bạn phán xét độc lập và ứng xử độc lập. Thường, những người có cùng tính công minh như bạn vẫn mơ ước thành lập những nhóm, những hội, những đoàn thể độc lập phục vụ cho quyền lợi căn bản nhất của từng nhóm người cùng ngành nghề hay cùng cảnh ngộ. Thân chúc các bạn đạt thành ước nguyện.



Màu Trắng Sữa Tươi: Bạn là người tôn trọng nhân phẩm và luật pháp. Bạn luôn cố gắng giữ điều thiện, làm điều phải, đúng theo tiếng gọi của lương tâm và theo văn bản pháp luật. Đối với bạn, điều răn hay chữ giới trong tôn giáo có giá trị còn cao hơn cả văn bản luật. Chính vì vậy, bạn chờ đợi mẫu mực đó ở mọi người chung quanh. Cũng chính vì vậy, bạn sẽ khó lòng chấp nhận một chính phủ thường xuyên bẻ gãy luật pháp và chà đạp nhân vị. Bản cảm nhận rõ sự tổn thương khi thấy nhan nhản những dữ liệu ngày càng nhiều về tình trạng đứng trên và đứng ngoài luật pháp. Bạn không cô đơn. Rất nhiều người nhìn thấy điều đó và không thể chờ đợi thiện chí cải sửa ở những kẻ cố ý làm sai để làm giàu. Đừng chờ đợi sự cải sửa đó ở họ. Chính bạn và bằng hữu chí cốt của bạn mới là người cải sửa. Từ những việc dễ nhất là tẩy chay các cửa hàng, dịch vụ của những kẻ đứng trên và đứng ngoài luật pháp, mà không ai có thể bắt tội được các bạn về thái độ "không mua bán - không giao dịch" đó. Hoặc đồng lòng "tịnh khẩu trong giờ học chính trị", tức là không nói, không bàn, không nghe, không thấy gì cả. Nếu cả lớp, cả trường, tiến đến cả nước đều tịnh khẩu, không tham gia, thì các giờ học chính trị sẽ bị dẹp bỏ thôi…. Dần dần tiến đến những việc khó hơn, ví dụ như sưu tập danh tính địa chỉ của những kẻ đứng trên và đứng ngoài pháp luật, với những vụ việc có bằng chứng xác thực, rồi cùng thành lập những trang mạng blog miễn phí để thăm dò ý kiến nhân dân về những kẻ sai quấy đó v.v…. Xã hội sẽ trắng, sạch và thoáng hơn, thông qua những kế hoạch nhỏ như thế đấy bạn.



Màu Tím Khoai Môn: Bạn là người nhân ái và thẳng tính. Thương người như thể thương thân. Bạn có nhiều xúc cảm và sống nhiều với nội tâm. Bạn có thể chịu đựng sự khổ cực cho mình nhưng không thể làm ngơ trước sự nghèo khổ hoặc bị áp bức của người khác. Bạn cảm được ý thơ Đỗ Phủ: "Cửa son rượu thịt bốc hơi, ngoài đường chết đói bao người trắng xương". Bạn vẫn thường tự nhủ: Giải pháp duy nhất là thăng hoa tình người, điều gì trái với tình người thì phải làm tỏ rõ, điều gì đi ngược lại tình người thì phải phản đối. Do đó, khi nói lên điều sai quấy của kẻ chức quyền, bạn không hề giảm thiểu tình người với họ, bạn chỉ giảm thiểu sự hợp tác với họ, cho đến khi họ nhận trách nhiệm về sự sai quấy, đền bù thiệt hại cho các nạn nhân, hoặc cao hơn một nấc, là tự điều chỉnh lại việc làm cho đúng. Đây không phải là công việc của một người, hay có thể hoàn tất trong một ngày. Những tấm lòng vàng như bạn không hiếm trên đất nước này. Tuổi trẻ như bạn còn rất nhiều cơ hội. Hãy liên kết lại để có một tiếng nói chung, một sinh hoạt chung. Để tiến từ những việc có tính cách từ thiện sang lãnh vực xã hội thực sự. Tức là bắt đầu bằng những gói quà cho người nghèo khổ và kết thúc bằng sự liên kết giải quyết những vấn nạn tham nhũng cửa quyền của xã hội vốn là nguyên nhân trực tiếp tạo ra sự nghèo khổ cho dân mình. Ở khoảng giữa của con đường thăng hoa xã hội đó là một giai đoạn bất hợp tác với chính quyền để tạo áp lực thay đổi. Những người nhân ái và thẳng tính như bạn thật khó lòng hợp tác với một chính quyền phi nhân bản chỉ biết làm giàu trên xương máuvà nước mắt của nhân dân. Đó là lẽ đương nhiên. Hãy vạch rõ những sai trái của họ và kêu gọi thân nhân bằng hữu tẩy chay những chính sách làm mất tính tình người của họ.



Màu Xanh Lá Mạ: Bạn là người kiên nhẫn. Cho dù là trong nhà bạn có treo một chữ Nhẫn viết theo kiểu thư pháp hay không, bạn vẫn không nệ hà làm những việc nhỏ, thường xuyên lặp lại và lắm lúc kéo dài. Kiên nhẫn là một đức tính cần thiết cho sự thành công. Điều đó không có nghĩa là bạn chỉ ngồi yên chờ đợi mọi sự việc xảy ra. Mà cũng không phải chờ đợi những điều tốt xảy ra cho chỉ bản thân mình không thôi. Bạn kiên nhẫn nhưng lại có thêm đức tính chủ động và vị tha. Bạn mong muốn và tạo điều kiện để sớm có những hồi đáp trực tiếp bằng lời nói hay hành động làm thay đổi xã hội cho tốt đẹp hơn. Bởi, "Còn gì là nuớc với non, mỗi người dân một héo hon cảnh nhà"? Sự kiên nhẫn của bạn thể hiện ở chỗ bạn không ưng manh động, mà chỉ tạo những điều kiện thay đổi bằng phương pháp ôn hòa bất bạo động. Nhẫn nhưng không Nhục. Nhẫn nhưng không Nhịn. Nhẫn là thường xuyên làm những việc vừa tầm, an toàn, nhưng kết tụ ra những ảnh hưởng liên đới thành các áp lực tạo sự thay đổi. Nhẫn như nước chảy. Nước chảy không chỉ để chảy, mà còn để làm đá mòn, và làm sạch lòng suối. Chúc bạn luôn vững tâm và giàu nghị lực để chân cứng đá mềm.



Màu Đỏ Gạch Cua: Bạn là người linh động và sáng tạo. Bạn yêu thích tranh ảnh, hội họa, điêu khắc…. Bạn thưởng thức nghệ thuật trong đời sống và tự sáng tạo ra nghệ thuật sống. Bạn không bị gò bó trong một khung suy nghĩ hẹp. Bạn luôn luôn thích thú với những thử nghiệm mới. Điều này giúp bạn rất nhiều trong phương cách giải quyết công việc hàng ngày. Nếu cách này không kết quả, bạn sẽ thử cách khác. Nếu vấn đề này giải quyết xong, bạn sẽ để mắt tới vấn đề kế tiếp, ưu tiên theo tầm quan trọng của chúng. Nếu cảm thấy lời kêu gọi hay hướng dẫn của mình bắt đầu nhàm, bạn sẽ sáng tạo hoặc thay đổi cách kêu gọi hay hướng dẫn, để thu hút sự quan tâm nhiều hơn của người khác. Tính linh động và kiên trì này dự phần rất lớn trong quy trình kết hợp thành bản lãnh lãnh đạo của bạn. Điều quan trọng là những áp dụng linh động và sáng tạo của bạn nhằm vào lãnh vực xã hội mang đến rất nhiều lợi ích cho quần chúng. Nhiều người đang nhìn về bạn như một mẫu mực sống, kể cả những người chỉ nghe nói tới chứ chưa từng gặp bạn. Chung quanh bạn là một vòng đai thân hữu có thể hoạt động xã hội như một đoàn thể tự lập. Mọi người đang chờ đợi lời đề nghị gợi ý của bạn. Nhanh chóng lên nào!



Màu Tím Nếp Than: Bạn là người công bình. Phó sản của tính công bình này là lòng vị tha. Những phát biểu của bạn ít khi vượt qua khỏi ngưỡng chừng mực. Bạn không hề muốn thắng người khác, nhưng cũng không để cho ai hiếp đáp bản thân mình. Bạn không có nhu cầu nói nhiều nhưng nhất định là không chấp nhận bị bịt miệng hoặc để bất kỳ ai khác bị bịt miệng. Bạn không mưu cầu làm giàu cho bản thân, nhưng bạn mong muốn mọi người đều có cơ hội ngang bằng nhau để học hỏi, làm việc, thăng tiến và thịnh vượng. Bạn chỉ không chấp nhận những cách làm giàu bất chính dựa trên chức quyền của bản thân, hoặc dựa trên sự đau khổ của người khác khi phải cầu cạnh cho được việc. Bạn chỉ thường gióng tiếng bởi vì bạn mong muốn mọi người sống hài hòa, không ai được quyền nhân danh bất cứ điều gì để áp bức kẻ khác. Bạn lại càng không thể cho phép việc áp bức đó xảy ra có hệ thống mà lại được coi là bình thường như một truyền thống. Tính công bình của bạn là điều đáng xiển dương để toàn xã hội đều được vậy. Ưu điểm của bạn là không chỉ công bình trong tư duy, mà là trong cả hành động. Thấy điều nghĩa mà không làm thì không thể chịu được. Chữ "hèn" là chữ khó viết nhất đối với bạn. Chữ "dũng" lại mang đến cho bạn rất nhiều bằng hữu chí cốt. Người tốt việc tốt luôn tạo thành tiếng tốt và sinh ra những đoàn thể tốt mà không nhất thiết là đoàn thể chính quy. Những năm tháng trước mặt sẽ mang đến cho các bạn rất nhiều cơ hội dấn thân.



Màu Đỏ Hạt Lựu: Bạn là người tri thức. Giá trị sự hiểu biết của bạn không hề đặt căn cứ trên học hàm, học vị, nhất là vào thời này. Kiến thức của bạn không bị đóng khung bởi các giáo trình và trôi nổi theo các phong bì. Bạn thấy rất rõ, hơn ai hết, tình cảnh "Lồng son chim hót thảnh thơi, dăm ba hạt thóc quên trời tự do" nhan nhản trên đất nước mình. Bạn biết rất rõ, hơn ai hết, rằng: "Nô lệ đầu tiên, nơi mỗi người, ở ngay trong đầu". Bạn hiểu rất rõ, hơn ai hết, rằng "Kẻ cho và kẻ xin quyền làm người, cả hai đều cố ý hoặc vô tình làm mất nhân cách con người". Thực tế và lịch sử cũng từng xác định với bạn rằng quyền lực hoàn toàn tùy thuộc vào sự hợp tác của nhiều người và chỉ tồn tại khi nào còn có người phục tùng. Quyền lực sẽ sụp đổ vào những cao điểm bất phục tùng của cả xã hội. Vua chúa, Tướng lãnh… xưa nay đều bó tay trước những cao điểm đó trong lịch sử nhân loại, bất kể là nước nào, bất kể là thời nào. Bạn nói đúng: Đấu tranh bất bạo động chính là phương cách hữu hiệu nhất để hóa giải sự tập trung quyền lực vào một nhúm người, thông qua ý niệm xã hội bất phục tùng. Khi hành xử ý niệm này, người ta giữ lại cho mình cái quyền hợp tác hay không, thay vì buông trôi như chuyện đương nhiên. Chính điều đó mang đến cho từng người một giá trị ở sự chọn lựa của mình: Nếu buông trôi, mình sẽ là một con số không. Nếu tỏ thái độ, mình sẽ góp tiếng với đời và khiến cho nhúm người quyền lực nọ phải co cụm lại. Sự chênh lệch sẽ tiến đến và vượt qua mức ngang ngửa để leo tới cao điểm. Hãy vững tin và rao truyền đến bằng hữu những ý tưởng cao đẹp này của bạn. Cờ không tự chạy đến tay bạn. Bạn hãy vươn tay ra nắm lấy cờ. Sẽ có khối người theo bước chân của bạn.



Màu Hồng Hoa Đào: Bạn là người bình tĩnh. Đối với bạn, giá trị của sự thuyết phục nằm trên sự thật và lý lẽ trình bày sự thật chứ không phải là cường độ của giọng nói. Tính thuyết phục lại càng không thể có từ hệ thống lập luận của lưỡi gỗ hay lưỡi lê. Bạn được người đời kính trọng chứ không khiếp sợ. Bạn vẫn thường tâm niệm rằng: Người hùng biện nhất không cần phải xòe tay đập bàn, hay bụm tay bịt miệng người khác; Người đấu tranh dũng cảm nhất sẽ không bao giờ nổi nóng, hay hãi sợ khi đối phương nổi nóng; Người chiến sĩ cao cả nhất sẽ không bao giờ sử dụng bạo lực và vũ khí giết người; Kẻ quả cảm giết người sẽ chết thảm; Kẻ quả cảm không giết người sẽ sống an bình. Sự bình tĩnh này đã giúp bạn rất nhiều trong mọi mặt của cuộc sống đầy tính phấn đấu hôm nay. Đặc biệt trong trường hợp bạn là một nhân viên công lực, lương tâm của bạn vẫn mong cầu sự yên bình cho dân tộc và sự phát triển của đất nước chứ không phải là sự tồn tại của một triều đại. Đúng như bạn nghĩ: Không có một tập thể công an hay quân đội nào được thành lập để chống lại hay để áp đảo nhân dân. Bạn xuất thân từ nhân dân, và được huấn luyện để bảo vệ và phục vụ nhân dân. Cho nên, chí lý thay, trước khi phang gậy hay bóp cò, hãy nghĩ đến những kẻ nhận lãnh đầu gậy hay viên đạn có đích thực là những người hô hào một chủ nghĩa lỗi thời làm cho đất nước này đói nghèo và lạc hậu suốt mấy thập niên nay hay không? Điều này luôn luôn có lợi lâu dài cho tương lai gia đình bạn nói riêng và cả dân tộc nói chung.



Màu Vàng Lúa Chín: Bạn là người trầm tính. Bạn trọng chiều sâu hơn diện rộng. Bạn quý chất lượng hơn khối lượng. Bạn đánh giá bản thân dữ kiện không cao bằng phương cách xử lý dữ kiện. Sự chọn lựa của bạn thường được cân nhắc kỹ lưỡng, dựa trên phạm trù tổng thể và lâu dài hơn là cá biệt và nhất thời. Từ đó, bạn trân trọng giá trị gia đình và xã hội hơn là thành công cá nhân. Quyết định của bạn bén nhọn như mũi kim của chiếc cân tiểu ly. Về mặt xã hội, suy nghĩ rất đúng đắn của bạn là: Biện pháp đối đầu ôn hòa bất bạo động thoạt nhìn có vẻ tiêu cực ở mặt vật lý nhưng thực sự vô cùng tích cực ở mặt tâm lý. Bạn luôn cần phát biểu cảm tưởng chứ không phải lòng thù hận. Bạn không đi tìm một chiến thắng trên chiến bại của đối thủ, bạn chỉ muốn đối thủ thông hiểu và đổi thay cho phù hợp với xu thế thời đại. Bạn cũng chỉ muốn giải quyết vấn nạn chứ không phải tấn công vào những con người gây ra hay mắc kẹt trong vấn nạn đó. Bạn không chỉ muốn né tránh xung đột cơ thể, bạn còn muốn ngăn chận cả những xung đột tâm lý qua lòng hận thù nữa. Biện pháp đối đầu ôn hòa bất bạo động mà bạn ủng hộ chính là con đường êm phẳng nhất dẫn tới một xã hội nhân hòa và tiến bộ cho cả dân tộc. Hãy dàn trải những suy nghĩ này của bạn đến nhiều bạn khác để tất cả cùng có những phản ứng thích hợp với mọi hoàn cảnh và giúp cho xã hội đi lên.



Tuệ Giải

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

NĂM NAY TẠ ƠN

Vi Anh
Ngày 27 tháng 11 là Lễ Tạ Ơn năm nay. Ngày 20 tháng 1 năm sau là ngày TT Bush bàn giao chánh quyền cho TT đắc cử Obama.

Lễ Tạ Ơn năm nay đáng để tạ ơn đất nước nhân dân Mỹ đã bầu một người Mỹ gốc Phi Châu Ô Barack Obama lần đầu tiên lên làm tổng thống Mỹ, và tạ ơn TT Bush đã quyết chiến với quân khủng bố Hồi Giáo cực đoan, gần suốt hai nhiệm kỳ, đem lại an ninh đất nước và nhân dân Mỹ.

Tạ Ơn nước Mỹ là xứ sở của người nhập cư, mái ấm của những người tự do, và đất hứa của cơ hôi đồng đều, đã giúp cho con một người nhập cư Kenya, mới thế hệ thứ hai sanh ở Mỹ đã vươn lên được. Tạ Ơn TNS Obama từ một gia đình nghèo khó, tầng lớp hạ lưu đã cố gắng vươn lên. Tạ ơn TNS Obama đã huy động được lòng dân, nội lực quốc gia dân tộc Mỹ để nhân dân và chánh quyền Mỹ làm được một kỳ tích lịch sử cả thế giới ngợi khen, làm đẹp thêm hình ảnh nước Mỹ. TT Obama không phải là chiếc đủa thần. TT Obama mới lên, đang thành lập nội các, chánh phủ, theo thông lệ, người Mỹ dành cho Ong tối thiểu 3 tháng 10 ngày, nên còn quá sớm để xem tài thao lược của cá nhân Ong và chánh phủ do Ong lãnh đạo. Chờ xem và ân đền nghĩa trả bốn năm sau cũng không muộn.

Nhưng không thể không tạ ơn TT Bush, người rời khỏi Phủ Tổng Thống, tối thiểu là hai điều. Việc mới nhứt trước khi mản nhiệm là tạo mọi điều kiện để có một cuộc bầu cử an ninh, và người dân chọn những người lãnh đạo quốc gia, toàn thể dân biểu Hạ Viện và một phần ba Thượng Viện. Quan trọng nhứt là vị tổng thống Da Đen đầu tiên. Cám ơn TT Bush đã tử tế với TT Obama và bàn giao chánh quyền đầy thiện ý, thiện tâm, hơn ý muốn của những nhà lập hiến nữa.

Việc thứ hai là sau 8 năm ở Nhà Trắng tại Washington DC, TT Bush ung dung ra đi. Trong 8 năm, Ong đã dành hết thì giờ, tâm lực và trí lực để bảo quốc an dân. Nhìn lại sắc diện của Ong hồi mới lên làm tổng thống với bây giờ tóc trắng , trán nhăn sâu thêm, mắt thâm thêm đủ biết bao nỗi lo toan suy tính ngày đêm suốt 8 năm trường trong vai trò lãnh đạo quốc gia và tư lịnh tối cao quân lực Mỹ do nhân dân Mỹ giao phó.

Một người lãnh đạo quốc gia, một nhà chánh trị, một thống tướng dù ở Đông hay ở Tây, là người phải hoàn thành trách nhiệm với tất cả tấm lòng thành và can đảm, phát huy chánh nghĩa cao thượng và công minh. George W. Bush rõ rệt đã vuông tròn đạo lý ấy khi làm tổng thống nước Mỹ. Chắc chắn bây giờ rất nhiều người sẽ không chia xẻ nhận xét này, nhưng với độ lùi thời gian đủ dài, công luận lắng đọng một thời gian, lịch sử sẽ đem lại công lý cho TT Bush.

Ngay trong thời điểm này, khi TT Bush mới rời khỏi chức vụ, bàn giao cho TT Obama mà chánh đảng, lập trường và quan điểm có nhiều điểm khác nhau, hành động lâu nay của TT Bush chưa được thừa nhận đi nữa, người ta cũng đủ công bình để thấy quyết tâm và hành động của TT Bush đóng góp rất nhiều. Về bảo quốc an dân, suốt gần 8 năm trời sau cuộc khủng bố 911đầy xúc phạm của quân Hồi Giáo cực đoan đối với Mỹ, TT Bush đã lèo lái con thuyền quốc gia qua sóng gió, đem lại cho đất nước nhân dân Mỹ một nền nội an đông bình tây định, "bốn phương phăng lặng, hai kinh vững vàng".

Về phát huy dân chủ, giá trị và niềm tin lịch sử của Mỹ và giấc mơ của các nưóc trên thế giới, TT Bush đã tạo được cảm hứng, đã gieo được mầm tự do, dân chủ tại nhiều nước trên thế giới, nhưng nơi mà chế độ độc tài và dã man đã thâm căn cố đế. Không ai có thể tưởng được tự do đã thăng quá mau ở Trung Đông so với lịch sử độc tài của vùng này. Bây giờ người dân Iraq, Afghanistan có thể đi bầu làm ra chánh quyền, phụ nữ được đến trường và ngồi làm bộ trưởng, dân biểu, giáo sư đại học. Càng ít lại nhũng tên độc tài khát máu, những nhà cầm quyền chứa chấp khủng bố cũng ít lại. Lại nhiều thêm giao thương, đầu tư, giúp đỡ giữa các nước mạnh thêm.

Tượng Thần Tự Do ở Mỹ vẫn còn là cây đèn pha, sao Bắc Đẩu đối với những người nhập cư vào Tân Thế Giới từ năm 1886. Anh sáng đó, niềm tin đó, cảm hứng tự do đó bao nhiêu tổng thống Mỹ đã giữ gìn, đã phát huy, mà TT Bush là một trong những người tiếp nối với tất cả lòng thành, niềm tin vào đầu thế kỷ 21 và thiên niên kỷ thứ ba của Nhân Loại. Thế kỷ 20 tự do của Au Châu bị độc tài Phát xít và Quốc Xã tước đoạt.
Chính những tổng thống Mỹ đã kết họp, chánh quyền và nhân dân Mỹ và các nước, hy sinh mạng sống và tài sản đến để đem lại tư do cho Au châu.. Cộng sản muốn xuất cảng cách mạng vô sản tạo Chiến tranh Lạnh, cũng chính Mỹ đương đầu khắp nới trên thế giới đến khi Đế quốc Liên xô sụp đổ. Hai mươi năm sau Bức Tường Ô nhục Bá Linh sụp đổ, Liên Au hiểu thêm tự do là điều kiện căn bản và tiên quyết của phú cường.

Tại khúc quanh của hai thế kỷ 20 và 21, vào ngày 11 Tháng Chín năm 2001, ngay năm đầu của nhiệm kỳ 1 của TT Bush, Quân Hồi Giáo Cực Đoan khai chiến với Tự do, bằng cuộc khủng bố 911. đanh ngay vào nưóc Mỹ. Họ dùng khủng bố để đạt mục tiêu chánh trị tối hậu là triệt tiêu tư do, dân chủ. Lịch sử trớ trêu lại giao cho TT Bush cái khó khăn chống khủng bố, chống lại một kẻ thù vô hình nhưng ở đâu cũng có, một chiến tranh bất cân xứng nhưng kinh hoàng. Chiến tranh chánh nghĩa, chiến tranh ý thức hệ, chiến đấu cho tự do thắng thua ở chỗ kiên định lập trường, can đảm trong quyết định, và dám lãnh trách nhiệm. Việc tái đắc cử nhiệm kỳ hai của TT Bush là câu trả lời rõ rệt nhứt của nhân dân Mỹ, là cách Tạ ơn sâu xa TT Bush.

Nhiệm kỳ hai, trong những tháng ngày sắp giã từ TT Bush, công luận tỏ ra bất mãn Ong về Chiến tranh Iraq. Nhưng một người lãnh đạo quốc gia nào đi nữa, một tổng thống Mỹ nào đi nữa, miển có trách nhiệm với quốc gia dân tộc thì cũng phải bảo quốc an dân, bảo vệ chánh nghĩa tự do như TT Bush đã làm.


VI ANH

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Hãy Sống Với Lòng Biết Ơn


Hãy biết ơn Mặt Trời đã cho ta sự sống.
Hãy biết ơn từng vạt nắng đang lung linh nhảy múa trong vườn để ta cảm nghiệm được sự ấm áp của thiên nhiên.
Hãy biết ơn Mặt Trăng kia đã cho ta bao đêm dài thơ mộng mà qua đó bao bài hát, bài thơ trữ tình nảy nở.
Hãy biết ơn từng con suối nhỏ để cho ta nghe được tiếng thủ thỉ của núi rừng.
Hãy biết ơn từng cơn gió nhẹ làm lòng ta tươi mát.
Hãy tạ ơn biển đã cho ta nguồn dinh dưỡng, từng chuyến viễn du đầy thi vị và những cuộc phiêu lưu mạo hiểm
làm phong phú hóa tình cảm của con người và qua đó cũng là con đường của một dân tộc bị áp bức mưu tìm Tự Do.
Hãy biết ơn cả tiếng chim ca vì đó là tiếng nhạc của Trời.
Hãy tạ ơn cả những con sông đang ôm ấp những bờ kinh thửa ruộng,
cho phù sa tuôn tràn màu mỡ, cho lúa tốt trổ bông, cho tôm cá đầy đồng, cho xóm làng tụ hội, cho chợ búa mọc lên, cho thương buôn trên bến dưới thuyền,
cho giao thông thuận tiện, cho mạch sống làng quê ngày thêm phong phú.
Hãy biết ơn từng bài ca dao, từng tiếng chuông chùa êm ả để thấy hồn dân tộc vẫn còn năm sâu trong tâm khảm.
Hãy tạ ơn tiếng ru của mẹ để con biết rằng vòng tay đó chính là Thiên Đường.
Hãy tạ ơn đời.
Hãy cám ơn cả những người đã dối gạt ta để ta hiểu được thế nào là lòng trung tín.
Hãy cám ơn cả người xỉ vả, chụp mũ, bôi lọ, đánh phá ta để ta có dịp huân tập hạnh nhẫn nhục
và hiểu được thế nào là sự tha thứ.
Hãy biết ơn những gì gọi là bạo lực vì qua đó ta liễu ngộ đước chân lý vĩnh cửu của tình thương.
Hãy biết ơn cả những thiên tai, thảm họa để cho thấy cuộc sống này qúi giá.
Hãy tạ ơn những người đã nằm xuống để cho ta được sống.
Hãy biết ơn người chiến sĩ đang ngày đêm canh gác, xả thân nơi chiến địa để ta được sống yên bình, mưu cầu hạnh phúc.
Hãy cám ơn sự vấp ngã vì qua đó ta trưởng thành.
Hãy biết ơn cả những người thợ vì họ là những vị thần sáng tạo.
Hãy tạ ơn cả những người đang làm những nghề nghèo hèn nhất vì không có họ ta phải chân lấm tay bùn.
"Dã ơn cái cối cái chày.
Đêm khuya giã gạo có mày có tao" (Ca Dao)
Hãy biết ơn cả tiếng gà gáy trong những buổi trưa hè, tiếng võng đưa kẽo kẹt, tiếng sáo diều ngân, tiếng trẻ nói bí bô,
tiếng con sáo hót, tiếng ai hát đúm, hát dân ca, hát văn, hát ru, hát hò quan họ để thấy hồn Việt Nam thiêng liêng, bất tử.
Hãy cám ơn cây đa đã cho ta bóng mát.
Hãy cám ơn cả cái Đình để xóm làng mở hội, văn hóa lưu truyền, gái trai hò hẹn.
Hãy cám ơn cả cái Miếu vì qua đó ta thấy các tiên hiền, liệt sĩ, danh nhân vẫn còn ở với chúng ta.
Hãy cám ơn cả những chuyện thần tiên để con trẻ hay ăn chóng lớn, người già quên đi bao nỗi nhọc và gái trai nuôi bao mộng đẹp.
Hãy biết ơn tất cả dù là một hạt mưa, hạt cát, hạt muối, bó rau, miếng khoai, miếng cà, miếng sắn.
Hãy biết ơn và tạ ơn tất cả.
Lòng biết ơn là lòng Từ Bi là bài kinh sám hối sâu xa và mầu nhiệm.
Kẻ sống với lòng biết ơn chính là kẻ sống với Chân Hạnh Phúc và là kẻ có tâm hồn cao thượng nhất.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

TẠ ƠN TRỜI, TẠ ƠN NGƯỜI

Linh Mục Trần Quý Thiện
Mỗi khi giao tiếp với người khác, một trong những tâm tình cao quý mà bất cứ ai trong chúng ta cũng quý mến trân trọng: Đó là tâm tình biết ơn. Biết ơn là bộc lộ tâm tình tri ân với vị ân nhân về những điều tốt lành mà mình đã lãnh nhận. Những điều tốt lành ấy gồm nhiều hình thức: Một cử chỉ thân ái, một lời khích lệ, một món quà tặng, một hành động nâng đỡ tinh thần hay vật chất, một hồng ân của Thượng Đế. Mỗi tặng vật luôn gói ghém một giá trị tinh thần. Nó là biểu tượng của Tình Thương. Nó mang ý nghĩa của sự cho đi phần nào chính bản thân ngời tặng.

Thông thường những tâm tình biết ơn được thể hiện qua ngôn ngữ, cử chỉ và hành động. Biết ơn là một hành động văn minh cao quý chứng tỏ con ngời có giáo dục. Biết ơn là một cử chỉ lịch thiệp thể hiện sự kính trọng người khác, đặc biệt người ấy lại là vị ân nhân của mình. Vị ân nhân có khi không cần người thụ ân cám ơn. Nhưng bổn phận người mang ơn luôn luôn phải bày tỏ lòng biết ơn. Đó là quy luật và nguyên tắc xử thế trong cuộc sống.

Trái lại, không gì xấu hổ, đáng chê trách bằng thái độ vô ơn của những người vô giáo dục, chỉ biết nhìn cái lợi trước mặt mà quên nhiệm vụ biết ơn của mình. Hàng năm cứ vào cuối tháng 11 dương lịch, mọi người khắp nơi trên đất Mỹ đều hân hoan chào đón ngày Đại Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving Day). Đây là một Đại Lễ quan trọng mang nhiều ý nghĩa, được nhân dân Hoa Kỳ mừng trọng thể nhất mỗi năm. Đây là một Đại Lễ Đặc Biệt nói lên nét văn hóa của một dân tộc văn minh tiến bộ. Đây cũng là một Đại Lễ mang tính Truyền Thống Lịch Sử của nhân dân Hoa Kỳ, kỷ niệm ngày tổ tiên họ dâng lên Thượng Đế những tâm tình biết ơn sâu xa, khi bắt đầu đến định cư tại miền Đất Hứa này.
* VÀI NÉT LỊCH SỬ NGUỒN GỐC ĐẠI LỄ TẠ ƠN

Image
Nói về nguồn gốc lịch sử Đại Lễ Tạ Ơn, sử gia Robert J. Myers viết trong tác phẩm Celebrations: Cách đây trên ba thế kỷ, năm 1620, một nhóm người Anh thuộc Giáo phái ly khai Pilgrim đã quyết định dời bỏ quê hương, đi tìm định cư trên một vung đất mới để được tự do tôn giáo. Đoàn người lữ hành này gồm 101 người và 48 thủy thủ đã khởi hành ngày 16 tháng 9, 1620 trong một đêm mùa đông giá lạnh. Nhóm người viễn du hải hành mạo hiểm này đã kéo buồm dời hải cung Plymouth, Anh quốc, trên một con tàu nhỏ mang tên Mayflower, nay đã trở thành danh xưng gắn liền với lịch sử dân tộc Mỹ.

Sau gần hai tháng lênh đênh trên biển cả, họ đã đặt chân đến bờ biển hoang vắng thuộc Vùng Cod (Cap Cod National Seashore), tiểu bang Massachusetts ngày 9 tháng 11, 1620. Thời gian ấy, miền đất mới này chỉ là một vùng hoang sơ, màu mỡ phì nhiêu nhưng chưa khai thác, do những bộ tộc người Da Đỏ chiếm lãnh. Thời gian đầu, họ đã phải trải qua một mùa đông lạnh lẽo tại nơi đây. Lương thực cạn dần. Mùa trồng tỉa chưa bắt đầu. Đói rét, bệnh tật đã làm nhiều người ngã bệnh và qua đời! Đời sống cơ cực nhọc nhằn kéo dài, nhưng trong thâm tâm họ vẫn tin tưởng rằng chính Thượng Đế là Người đã hướng dẫn họ đến vùng Đất Hứa này.

Sau đó nhóm di dân mới được những người bộ tộc Da Đỏ dạy cách sinh sống nơi miền đất lạ như trồng tỉa các loại hoa màu đậu bắp, khoai tây, chăn nuôi gia cầm hoặc vào rừng săn bắn thú ... Không bao lâu với ruộng đồng màu mỡ phì nhiêu cộng sức lao động cần cù, họ đã thu hoạch được những vụ mùa bội thu, nhất là vào năm 1621, chỉ sau một năm đến định cư tại nơi đây. Với họ, vùng đất mới Bắc Mỹ này đã thực sự trở thành “Đất Hứa" khác nào Thượng Đế đã dẫn dắt dân tộc Do Thái xa kia đen miền đất phì nhiêu của “sữa và mật ong" trong Kinh Thánh.

Họ quyết định tổ chức những Ngày Lễ Hội Lớn để Tạ Ơn Thượng Đế. Họ mời nhau dự tiệc với những trái cây, những chú gà tây truyền thống và những buổi liên hoan khiêu vũ. Để thể hiện những tâm tình biết ơn, họ lựa chọn những trái cây tốt tươi, những súc vật béo tốt dâng lên Thượng Đế

Theo sử gia Robert J. Myers, Đại Lễ Tạ Ơn đầu tiên được tổ chức năm 1621 tại Thành phố Plymouth, tiểu bang Massachusetts, kéo dài trong ba ngày, với duyệt binh, pháo bông và thao diễn quân sự. Tiếp theo là những bữa tiệc liên hoan, khiêu vũ, ca hát của những người di dân mới với những bộ tộc Da Đỏ. Những Đại Lễ Tạ Ơn Truyền Thống chỉ được chính thức thành lập sau đó 168 năm (1789 - 1621) dưới thời cố Tổng Thống George Washington (1732 - 1799). Ông được nhân dân Hoa Kỳ kính trọng và mến mộ như vị Cha Già của Dân Tộc, vì đã có công sáng lập Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Có thể nói, tất cả ý nghĩa trọng đại của Ngày Đại Lễ Tạ Ơn mà nhân dân Hoa Kỳ long trọng tổ chức bao đời nay, đã được công khai biểu lộ qua những lời tuyên bố lịch sử của Cố Tổng Thống George Washington vào năm 1789 sau đây:

“Kể từ nay, tôi đã quyết định và lựa chọn ngày thứ Năm trong tuần lễ thứ Tư tháng 11 dương lịch hàng năm, để toàn thể nhân dân Hoa Kỳ, thuộc các tiểu bang, Dâng hiến, Phụng thờ và Tạ Ơn Thượng Đế Tối Cao. Chính Ngài là vị Đại ân Nhân của dân tộc ta. Chính Ngài là Đấng đã ban muôn điều tốt lành mà chúng ta đã có, đang có và sẽ có.

Vì thế chúng ta hãy đồng tâm nhất trí dâng lên Thượng Đế tất cả tấm lòng tri ân chân thành của nhân dân ta. Nhờ sự bảo trợ và quan phòng của Ngài mà tổ tiên chúng ta đã đến được miền đất mới này, từ ngày khởi đầu cho đến ngày 'lập quốc Chúng ta hãy cảm tạ Thượng Đế vì đất nước đã được thanh bình sau những ngày chinh chiến.

Và hiện nay nhân dân đang được sống an bình trong một chế độ có hiến pháp và chính phủ, để duy trì hạnh phúc cho mọi người dân. Chúng ta hãy cảm tạ Thượng Đế vì sự tự do tôn giáo và nhân quyền đã được Ngài chúc phúc và bảo vệ. Sau cùng chúng ta hãy Tạ Ơn Thượng Đế vì muôn vàn ơn lành Ngài đã ban cho dân tộc chúng ta.” (Xem Celebrations của Robert J. Myers, trg 2Ạ78).
* NGHĨ VỀ ĐẠI LỄ TẠ ƠN VÀ TÂM TÌNH BIẾT ƠN Hàng năm mỗi lần nhân dân Hoa Kỳ hân hoan mừng Đại Lễ Tạ Ơn, thiết tưởng là một dịp thuận tiện để mọi người Việt Nam định cư tại đây, nhận định lại nhiệm vụ đối với đất nước mà chúng ta đang sinh sống cũng như cuộc sống chính mình. Từ Đại Lễ Tạ Ơn đầu tiên được chính thức thành lập đến nay, hàng năm nhân dân Hoa kỳ không bao giờ quên nhiệm vụ cảm tạ Thợng Đế đã hướng dẫn tổ tiên họ đến lập nghiệp tại Miền Đất Hứa trù phú phì nhiêu này.

Tâm tình biết ơn Thượng Đế được công khai xác nhận trong một ngày Đại Lễ Quốc Gia phải chăng đó là một nét văn hóa đặc biệt, một truyền thống cao quý của nhân dân Hoa Kỳ. Vì có biết ơn Thượng Đế, con người mới biết ơn và làm ơn cho nhau. Có biết Tạ Ơn Trời, con người mới biết Tạ Ơn Người.

Ngày nay đọc lại những lời tuyên bố lịch sử của Cố Tổng Thống George Washington trong ngày Đại lễ Tạ Ơn đầu tiên năm 1789, cách đây 209 năm, có lẽ không ai trong chúng ta không cảm phục và ngưỡng mộ sự cao cả trong tư tưởng của ông. Phải, chính những tư tưởng xuất chúng ấy đã trở thành nền tảng căn bản cho đời sống tự do dân chủ và lòng hào hiệp của họ.

Chính những nhận định xác đáng về vị trí của họ với Thượng Đế, với tổ tiên, với mọi người, đã làm cho đất nước Hoa Kỳ trở thành một quốc gia hiếu khách đón tiếp mọi sắc dân, mọi chủng tộc đến lập nghiệp tại đây Thượng Đế đã hướng dẫn tổ tiên họ đến đây, thì ngày nay đến lượt họ cũng mở rộng vòng tay đón tiếp các dân tộc khác.

Do đó ngày nay không có một quốc gia nào, mà người dân trên khắp thế giới mong muốn đọc đến định cư bằng đất nước Hoa Kỳ. Không có quốc gia nào mà nền Dân Chủ Tự Do đã trở thành khuôn mẫu cho các nơi khác noi theo bằng chính thể Dân Chủ Hoa Kỳ. Phải chăng chính tâm tình biết ơn đã trở thành nền tảng xử thế cho đời sống của người dân trong khi giao tiếp với người khác.

Là những người Việt Nam, chúng ta hãy nhớ lại biến cố đau thương tháng Tư đen 1975 của dân tộc. Sau khi cộng sản xâm chiếm Miền Nam, mọi người đều hốt hoảng sợ hãi, vì những gì đen tối nhất đang đổ ập trên cuộc đời chúng ta. Không gia đình nào mà không có người phải đi vào ngục tù cải tạo hoặc bị cưỡng bách đến định cư tại vùng kinh tế mới! Chính trong những năm tháng đen tối ấy, hàng đoàn người đã bỏ lại tất cả để vợt biên với hy vọng lập nghiệp tại vùng đất mới.

Hàng trăm ngàn người đã mất tích trong rừng sâu hoặc làm mồi cho cá mập. Những lúc lênh đênh trên Biển Đông hoặc băng rừng vượt suối, đối với mọi người được đến định cư tại Hoa Kỳ là một may mắn đặc biệt như đến Miền Đất Hứa trong Cựu Ước của Kinh Thánh. Thảng hoặc đến định cư tại quốc gia này theo các chng trình HO, ODP, Con Lai, chúng ta khác nào những tổ tiên của nhân dân Hoa Kỳ trước đây được Thượng Đế quan phòng hướng dẫn đến miền đất mới này.

Giờ đây nhìn lại cuộc sống hiện tại, nhiều người không thể ngờ rằng, họ đã có tất cả những gì mà trước đây không bao giờ dám mơ ước. Đa số người Việt tại Hoa Kỳ đã có công ăn việc làm, nhà cửa, xe cộ, con cái khôn lớn thành đạt, hơn gấp nhiều lần trước đây tại quê nhà. Nhưng có bao giờ chúng ta biết cảm tạ Thượng Đế như nhân dân Hoa Kỳ hàng năm mừng Đại Lễ Tạ Ơn không ? Có bao giờ chúng ta nhớ đến ngày đầu tiên đặt chân trên đất Mỹ để Tạ Ơn Thượng Đế, đồng thời cám ơn những vị ân nhân đã giúp đỡ mình trong những ngày đầu tiên bỡ ngỡ tại miền đất lạ này?

Nếu có người nào nghĩ rằng họ không mang ơn ai, đặc biệt với Thượng Đế, thì đó là một lỗi lầm lớn, vì đời sống mỗi người đều có những liên đới chập chùng. Trong cuộc sống mỗi người, chúng ta thường chẳng cho đi bao nhiêu nhưng đã nhận lãnh quá nhiều. Nếu một ngày nào đó, đời ta không còn nhận được những sự cộng tác, những yêu thương, những giúp đỡ, những cung cấp phương tiện của bao người khác, lập tức ta sẽ trở thành bơ vơ, nghèo nàn, khốn khổ biết bao!

Từ vật chất đến tinh thần, cuộc đời mỗi người đều được xây dựng bằng biết bao công ơn đóng góp của bao người, nhất là sự quan phòng và bao hồng ân của Thượng Đế Tiền bạc, quà tặng, ta có thể trả. Nhưng những ân tình thương mến làm sao có thể đáp đền? Những mồ hôi nước mắt, những tận tâm của bao người, mà chúng ta chia sẻ cho nhau đều là những tặng vật thiêng liêng cao quý. Chưa chắc ta đã hiểu rõ được giá trị xác đáng những hồng ân đó nói chi đền trả cho đủ!

Trong ngày Đại Lễ Tạ Ơn, không gì ý nghĩa và đáng khích lệ, nếu các Cộng đồng Người Việt tại Hoa Kỳ tổ chức những buổi gặp gỡ, những cuộc liên hoan, để củng cố tình thương, xây dựng sự đoàn kết thương cảm giữa những đồng bào ruột thịt, đặc biệt với những đồng bào mới đến định cư, ngay cả với những cộng đồng thiểu số khác và nhân dân địa phương. Càng nhiều sinh hoạt tương trợ, chúng ta càng làm cho ý nghĩa ngày Đại Lễ Tạ Ơn càng phong phú .

Thượng Đế yêu thương chúng ta. Phải chăng đó là điệp khúc mà mỗi chúng ta hãy lập lại trong từng giây phút của cuộc sống, nhất là khi nhìn lại bao hồng ân Ngài đã ban. Mỗi chúng ta đều có một chương trình đặc biệt trong sự Quan Phòng của Ngài. Đối với Ngài, không có đám đông vô danh, không có những con số như những người tù Đức Quốc Xã hay tù Việt cộng! Ngài gọi mỗi chúng ta bằng một tên gọi riêng. Mỗi người chúng ta đều có một giá trị không thể thay thế được đối với chương trình của Ngài. Ta không thể đo lường Tình Yêu của Thợng Đế bằng thước đo hẹp hòi là trí óc bé nhỏ của ta !!

Thượng Đế cũng không tạo dựng con người theo một khuôn mẫu chung như những cơ phận trong một cỗ máy, được sản xuất theo hệ thống dây chuyền, mà theo chương trình riêng cho mỗi người. Mọi biến cố vui buồn lớn nhỏ đều được Ngài xử dụng để mang lại thiện hảo cho ta, phương chi vấn đề định cư của gần một triệu người Việt tại miền đất Hoa Kỳ tự do dân chủ này. Sự hiện diện đông đảo này dĩ nhiên đối với Thượng Đế đã được đi vào kế hoạch khôi phục Quê Hương Việt Nam hôm nay và ngày mai.

Tất cả đều mang Dấu Ấn Tình Yêu của Thượng Đế. Tất cả đều là Hồng Ân của Ngài, nếu ta so sánh cuộc sống chúng ta với đồng bào ruột thịt trong nước đang sống trong thiếu thốn tất cả! Vậy còn gì thiết thực và xác đáng bằng tâm tình biết ơn mà mỗi người chúng ta dâng lên Thượng Đế trong Ngày Đại Lễ Tạ Ơn này.

Và phải chăng Ngày Đại Lễ Tạ Ơn là ngày mà chúng ta hãy Tạ Ơn Trời và Tạ Ơn Người.

Linh Mục Trần Quý Thiện

Post Reply