Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

LỄ TẠ ƠN TẠI HOA KỲ
Giao chỉ - San Jose -2008, Nov 26, 2008
Quả thực người Mỹ đã có đầy đủ lý do để giữ gìn truyền thống với ngày lễ tạ ơn vào tháng 11 mỗi năm.

Lịch sử ghi rằng vào năm 1620 có một nhóm gia đình người Anh theo Tin Lành đã đi tìm đất mới để sống đời tự do tín ngưỡng.

Con tàu Mayflower nổi danh vượt Ðại Tây Dương chở di dân với các niềm tin giáo lý khác nhau đến vùng Plymouth Rock của tiểu bang Massachusetts bây giờ.. Nhóm gia đình người Anh chỉ có hơn ba chục, số còn lại là phần đông thủy thủ đoàn. Tổng sốÔ 102 người.

Ðây là con tàu chính thức của di dân vì gồm cả gia đình vợ con. Trải qua một năm đầu với mùa đông khắc nghiệt, không đủ thực phẩm, không có đủ quần áo, không có nơi cư trú nên di dân đã phải chôn cất 46 người. Qua năm sau, mùa gặt 1621 thành công, di dân cùng dân da đỏ bản xứ tổ chức tiệc mừng lễ tạ ơn trên đất Mỹ.

Ðó là ngày lễ hội đầu tiên tại Mỹ Châu và truyền thống còn mãi đến ngày nay. Không dựa theo 1 đạo giáo nào, lễ tạ ơn trải qua gần 400 năm đã thành ngày hội của cả quốc gia cảm ơn trời đất cho mọi người đủ cơm áo để sinh tồn.

Trong bữa tiệc lễ tạ ơn năm đầu tiên di dân đã ăn thịt già rừng, ăn bánh làm bằng trái bí đỏ và thực đơn này đã trở nên món ăn truyền thống ngày lễ hội của Mỹ quốc cho tới ngày nay.

Tuy nhiên để trở thành 1 ngày quốc lễ chính thức thì phải tới năm 1863, vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ là ông Lincoln mới đề nghị vào tháng 11 và tổng thống Roosevelt ban hành luật. Từ đó Lễ Tạ Ơn được chính phủ công nhận vào ngày thứ năm của tuần lễ thứ tư tháng 11 hàng năm.

Bây giờ Hiệp Chủng Quốc đã trở thành quê hương mới của các sắc dân. Từ 102 di dân trên tàu “Hoa Tháng Năm,” Hoa Kỳ đã có 300 triệu dân và trở thành quốc gia hùng cường nhất thế giới. Nước Mỹ có tiềm lực lớn hơn tất cả quốc gia Âu Châu gộp lại. Và điểm đặc biệt nhất, Hoa Kỳ chính là miền đất của cơ hội.

Hãy đưa ra một thí dụ cụ thể tại quốc gia dù tiến bộ như Nhật Bản nhưng không bao giờ một di dân nước ngoài có thể trở thành triệu phú, chính khách, khoa học gia, hay tài tử tại đất nước của Thiên Hoàng. Nhưng tại Mỹ thì bất cứ chuyện gì cũng có thể xẩy ra cho người ngoại nhập.

Một tài tử điện ảnh gốc Áo là ông Arnold đã trở thành thống đốc California. Ngoại trưởng Hoa Kỳ vốn là một người da đen sinh trưởng ở Hải Ðảo thuộc Mỹ. Tướng Colin Powell trước khi làm ngoại trưởng đã từng là tham mưu trưởng liên quân. Mới đây khi ông Powell đệ đơn từ chức, tổng thống Bush đã đưa bà Condoleezza Rice lên kế nhiệm. Báo chí thân mật gọi bà là “Condi.” Cần phải biết là chức vụ ngoại trưởng ởợ vị trí quan trọng thứ 4 trong guồng máy hành pháp Hoa Kỳ. Nếu xảy ra biến động thì người thay thế tổng thống là phó tổng thống kiêm chủ tịch thượng viện. Người thứ ba là chủ tịch Hạ Viện và rồi đến ngoại trưởng Hoa Kỳ. Vị trí thứ 4 của bậc thang trong quốc gia đầy quyền lực trên thế giớiờ nằm trong tay một phụ nữ da đen độc thân 50 tuổi đã từng nổi danh trong giới khoa bảng tại đại học Stanford California.

Trước khi được mời về làm cố vấn an ninh Bạch Cung, nàng Condi da đen đã làm khoa trưởng đại học danh tiếng nhất thế giới với ngân sách 1 tỷ rưỡi mỹ kim, 1400 giáo sư với nhiều tước hiệu Nobel dạy 14,000 sinh viên ưu tú trên toàn thế giới. Không phải vì là bà Rice có khả năng nói tiếng Nga với tổng thống Putin mà bởi vì bà may mắn sống ở miền đất Hứa nơi đã tạo cơ hội cho tất cả mọi người. Cho đến mùa lễ tạ ơn 2008 thì một huyền thoại đã thành sự thực. Một người con của di dân da đen, thượng nghị sĩ Obama đã được bầu làm tổng thống Hoa Kỳ.

Không nước nào trên thế giới có thể dành cho người dân những cơ hội như thế.

Là quốc gia được thành lập và xây dựng bởi các di dân, tiền nhân của Mỹ quốc đã viết nên các bản văn bất hủ là hiến pháp và tu chính án Dân Quyền.

Ðạo luật quốc tịch của Hoa Kỳ ban hành 1790, hơn 200 năm trước đã có những lời vàng ngọc như sau:

“Bất cứ ai tỵ nạn đến Hoa Kỳ, sau khi được xác nhận sẽ hưởng quy chế nhập cư.”

Như vậy chúng ta hiểu một cách giản dị là nếu đã đến Mỹ thì sẽ có cơ hội trở thành người Mỹ.

Căn cứ vào điều khoản của luật 1790, một đạo luật khác đã ra đời năm 1975 có tên là Indochina Migration and Refugee Act.

Sau đây là đoạn văn năm 75 mà di dân Việt Nam cần đọc lại trong mùa tạ ơn năm 2008.

“Tổng thống Hoa Kỳ sẽ làm bất cứ điều gì để mở rộng cánh cửa đón người tỵ nạn đến từ 3 quốc gia Ðông Dương. Các viên chức trách nhiệm tại Mỹ sẽ đưa ra tất cả mọi phương tiện để giúp cho người dân tỵ nạn định cư. Phải nỗ lực làm giảm những đau khổ kinh hoàng của người tỵ nạn đến từ Ðông Nam Á.”

Vào tháng 7-1977 sau 2 năm đầu giúp đỡ người tỵ nạn Ðông Dương di tản đợt 75, Hoa Kỳ ban hành luật gia hạn việc cứu trợ về tài chánh, y tế, và dịch vụ.

Tháng 3-1980 Mỹ ban hành thêm luật quy chế tỵ nạn vĩnh viễn và đề ra một chính sách tỵ nạn áp dụng chính thức tại Mỹ. Suốt 33 năm qua, khi nhiều khi ít, khi khó khăn, khi dễ dàng, Hoa Kỳ đã dành ra những cấp khoản lớn lao cho người Việt đến Mỹ để trở thành 1 cộng đồng di dân đông đảo nhất trong cuối thế kỷ thứ 20.

Trong buổi bình minh của lịch sử Hoa Kỳ lập quốc, di dân vượt Ðại Tây Dương đến Mỹ Châu đa số gốc Âu Châu. Sau đó, Thái Bình Dương đưa đến Mỹ dân Tầu và Nhật.

Từ bao lâu nay hoàn toàn không có người Việt đến Mỹ cho đến khi gặp cơn hồng thủy 1975. Truyền thống của dòng giống Việt tộc thường không khích lệ con đường tha phương cầu thực. Vì vậy ngoại trừ số nhỏ qua lập nghiệp bên Miên, Lào và Thái, phần lớn người Việt đều ở lại với quê hương ven biển Nam Hải.

Khi miền Nam xụp đổ tháng 4-1975 đợt di tản đầu tiên của người Việt đã mở ra một đầu cầu quan trọng cho lịch sử di dân từ Châu Á. Những chuyến đi vô cùng mạo hiểm của thuyền nhân đã làm thành thiên anh hùng ca của con đường đi tìm tự do với hàng ngàn con tàu Mayflower của dân Việt đã ra đi không bao giờ đến được miền đất Hứa.

Cũng nhân dịp ghi dấu 30 năm định cư tại Hoa Kỳ 1975-2005. Bảo tàng viện do cơ quan IRCC,Inc. gây dựng đã hoàn thành hai tác phẩm. Ðóng lại con tàu Vượt biên có tên là Tân Phát đúng kích thước và chi tiết con tàu thật. Ðồng thời họa sĩ thực hiện bức hình sơn dầu vĩ đại cao 10 feet và dài 15 feet mô tả con tàu Tân Phát đang lướt sóng trên biển Ðông.

Ðây là con tàu thực sự đã đưa được nhóm gia đình Việt Nam vượt biển thành công hiện định cư tại Úc Châu và Bắc Mỹ.

Những người di dân Việt Nam định cư tại Hoa Kỳ trong đợt đầu khi xây dựng cuộc đời đã ăn những con gà Tây cùng với các gia đình bảo trợ, với các họ Ðạo trên 50 tiểu bang Hoa Kỳ.

Rồi những bức hình và những lá thơ gửi về cho thân quyến tại quê nhà đã trải qua suốt 10 năm khốn khổ sau 75. Miền Bắc là nơi giam giữ tù cải tạo. Miền Nam là những khu kinh tế mới.

Khi di dân Việt Nam trải qua 10 lần dự tiệc tạ ơn tại Hoa Kỳ thì những thùng quà gửi về đã làm cho cả đất nước hồi sinh. Từ cây kim sợi chỉ, từ chai thuốc tây đến thước vải. Những tờ giấy Mỹ Kim nằm trong hộp thuốc đánh răng với lời thư dặn dò đầy nước mắt. Thư viết rằng thuốc đánh răng này tốt lắm. Cố sức giữ lại mà dùng, đừng bán đi. Vỏ cũng xài được, đừng vất đi. Người ở lại đã phải nát óc vò đầu để tìm ra được ý nghĩa mật thư là trong túp thuốc có tiền. Có khi lá thư viết rằng nếu đói quá thì bán vải, bán đá lửa, bán bút bi đi mà ăn, nhưng cố giữ lấy cái thùng giấy đựng quà mà dùng. Hiểu được ý nghĩa lá thơ, người Saigòn phải lần mò tháo hết vỏ thùng để tìm thấy giấy 100 đô giữa hai lớp bìa cứng

Và cứ như thế dưới nhiều hình thức những con gà Tây của lễ tạ ơn Hoa Kỳ đã về đến Việt Nam. Quà và tiền gửi về thể hiện cho hình ảnh vật chất đầy đủ ở phía chân trời và đồng thời cũng là hình ảnh cuộc sống tự do rực rỡ nở hoa với chan hòa ánh sáng.

Và dù 5 ăn 5 thua con tàu Mayflower đã ra đi từ khắp miền duyên hải Việt Nam có khi chỉ là những chiếc ghe nhỏ bé mong manh.

Người Việt đã vì nhiều lý do để ra đi suốt bao nhiêu năm qua. Và danh từ Boat People trong tự điển thế giới đã không còn cùng ý nghĩa xưa cũ để chỉ những người sinh sống ở trên thuyền.

Boat People ngày nay có nghĩa là người Việt đã đi tìm tự do bằng thuyền vượt biển Nam Hải.

Lịch sử các cuộc di dân của nhân loại đã đưa đến nhận định rằng “Ta không thể lựa chọn sinh quán, nhưng ta có thể chọn lựa để sống ở miền đất mà chúng ta yêu quý.”

(You cannot choose the land you birth, but you can choose the land you love)

Thực đúng như vậy, chúng ta đã sinh ra đời trên quê hương không hề có sự lựa chọn nhưng nếu phải trả giá với sự sống chết thì chúng ta vẫn có cơ may lựa chọn nơi sinh sống.

Vì vậy không phải là chỉ người Mỹ hậu duệ của con tàu Hoa Tháng Năm đến từ Ðại Tây Dương mới có quyền ăn gà Tây tháng 11.

Dân Việt tỵ nạn cũng có đủ tư cách để cúng trời đất vào mùa lễ hội tạ ơn hàng năm. Xem chuyện Do Thái và Palestine tranh chấp đẫm máu ở miền Trung Ðông để biết rằng cả hai dân tộc này đã khốn khổ biết chừng nào. Năm ngàn năm trước người Do Thái vì lý do tôn giáo đã bỏ nước ra đi đến bốn phương trời. Họ thành công trên khắp thế giới nhưng vẫn hướng về đất thánh Jerusalem đầy huyền thoại. Sau khi bị Ðức Quốc Xã bức hại dã man tại Âu Châu, khi đại chiến kết thúc, thế giới mở đường cho Do Thái trở về quê xưa dựng nước.

Bây giờ lại đến lượt người dân của đất Palestime phải ra di. Và cuộc đấu tranh giành đất giữa 2 mối cựu thù vì niềm tin tôn giáo bắt đầu. Hận thù chất ngất đến nỗi có hàng ngàn người quyết đổi mạng sống để giết hết sắc dân thù nghịch gồm cả đàn bà và trẻ con vô tội.

Mối hận thù truyền kiếp đã đưa đẩy Hoa Kỳ và cả thế giới vào cơn Hồng Thủy của cuộc chiến chống khủng bố hiện nay.

Ðã từ lâu miền Trung Ðông không hề có những ngày lễ tạ ơn với cuộc sống bình yên. Và cũng không có triển vọng sẽ có một tương lai bình yên ở một nơi đầy dầu hỏa được gọi là vàng đen trong lòng đất.

Người Việt tại Hoa Kỳ đang sống bình yên ở miền đất cơ hội nhưng điều quan trọng hơn hết là chúng ta có dịp mở rộng viễn kiến để nhìn ra thế giới đầy thảm họa và biến động.

Với các tin tức, với các hình ảnh ghi nhận được, mỗi công dân Hoa Kỳ dù là bổn sinh hay ngoại nhập đều dễ dàng trở thành người dân có tri thức, có sự hiểu biết, có tấm lòng rộng lượng, có đức tính tha thứ, để sống với nhau tử tế. Ðặc biệt có đủ hạnh phúc căn bản với cơm no áo ấm và tự do để cùng nhau dâng lễ tạ ơn với các niềm tin tôn giáo khác nhau.

Nhân dịp Thanksgiving, xin gửi đến quý vị lời chúc mừng một lễ tạ ơn đầy hạnh phúc.

Giao Chỉ, San Jose

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Quà tặng Lễ Tạ Ơn
Wednesday, November 26, 2008

Ngô Nhân Dụng

Ngày Thứ Ba, chính phủ và ngân hàng trung ương Mỹ đã tặng cho dân món quà mừng Lễ Tạ Ơn trị giá 800 tỷ đô la. Tính từ Tháng Chín đến giờ, tổng số tiền mà chính phủ Mỹ đã hứa và đã dùng trong việc giải cứu thị trường tài chánh đã lên tới 4 ngàn tỷ đô la! Số tiền 800 tỷ đô la mới sẽ được chuyển qua đường thị trường tới các ngân hàng, các công ty tài chính và đầu tư, để họ có thêm tiền cho vay, nhờ thế mà những người tiêu thụ khi vay nợ được hưởng lãi suất thấp hơn.

Ðây là một phương cách kích thích cho kinh tế không bị suy sụp nặng. Chính phủ và Quốc Hội Mỹ, và cả bộ tham mưu của vị tổng thống tân cử đều đã nói đến những kế hoạch kích thích kinh tế. Ông Barack Obama đã nêu lên con số 500 tỷ Mỹ kim mà chính phủ tương lai sẽ chi tiêu để kích thích kinh tế. Khi số người thất nghiệp tăng lên, dân tiêu thụ nghèo hơn, các ngân hàng thắt chặt trong việc cho vay, số tiêu thụ trong nước Mỹ sẽ giảm. Tiền tiêu thụ đóng góp hai phần ba vào Tổng Sản Lượng Nội Ðịa của nước Mỹ, dân bớt tiêu thụ thì sản lượng trong nền kinh tế sẽ giảm thêm. Trong tình trạng đó, chính phủ phải đóng vai chi tiêu để gia tăng số cầu bù lại với sự giảm sút trong số tiền người dân chi tiêu. Ðó là một chính sách kinh tế đã được đưa ra từ thập niên 30 trong thế kỷ trước, sau cuộc đại khủng hoảng.

Nhưng ngay cả những kế hoạch cho chính phủ chi tiêu để kích thích kinh tế cũng lo không đủ để nâng số sản xuất và tiêu thụ lên. Một kinh nghiệm mới nhất là vào Tháng Ba năm 2008 Quốc Hội và chính phủ Bush đã trả lại cho dân đóng thuế ở Mỹ gần 160 tỷ đô la. Những ngân phiếu được gửi đến cho từng gia đình trong Mùa Hè, nhưng hậu quả gần như là không kích thích được số tiêu thụ một chút nào, để cho nền kinh tế vẫn tiếp tục sa sút. Cho nên, kế hoạch mới nhất của Ngân Hàng Trung Ương Mỹ sẽ tiếp tay thêm cho những chương trình kích thích chi tiêu của nhà nước bằng cách bơm vào nền kinh tế số tiền khổng lồ 800 tỷ đô la.

Trong món quà 800 tỷ đô la đó Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang tức Ngân Hàng Trung Ương sẽ dùng 600 tỷ nhắm vào việc tài trợ địa ốc, với hậu quả tức thời là làm giảm lãi suất cho những người vay mua nhà hoặc đang cần tái tài trợ các món nợ mua nhà. Với số tiền này tiếp máu cho thị trường nhà cửa, hy vọng rằng cơn khủng hoảng tín dụng bắt nguồn từ các món nợ mua nhà không trả được sẽ nguôi bớt đi.

Số tiền 200 tỷ khác sẽ nhắm giúp những người tiêu thụ khác, như sinh viên vay tiền đi học, người mua xe, các tiểu thương vay tiền kinh doanh, thứ nhất là được các ngân hàng cho vay, thứ hai là được hưởng lãi suất thấp hơn.

Còn phía Bộ Tài Chánh trong chính phủ sẽ dành ra 20 tỷ để bảo đảm cho những món nợ thuộc số 200 tỷ nói trên, số tiền này lấy trong ngân khoản 700 tỷ mà hồi Tháng Chín Quốc Hội đã biểu quyết cho chính phủ dùng để giải cứu thị trường tín dụng.

Ðiều đáng chú ý là nếu Bộ Tài Chánh và chính phủ Mỹ muốn chi thêm một đô la để kích thích nền kinh tế thì họ cũng phải chờ được Quốc Hội cho phép. Vì theo hiến pháp Mỹ Quốc Hội là cơ quan nắm quyền chuẩn chi, muốn chi thêm phải chờ hàng tháng hoặc lâu hơn cho các đại biểu Quốc Hội bàn luận. Ngay số tiền 700 tỷ được chuẩn chi trước đây, sau khi sủ dụng 350 tỷ thì bộ trưởng tài chánh sẽ phải ra trước Quốc Hội báo cáo để xin giải ngân số 350 tỷ còn lại. Nhưng nếu Ngân Hàng Trung Ương đem 800 tỷ đô la ra cho vay để giảm lãi suất thì họ không phải xin phép ai cả, đỡ mất thời giờ rất nhiều.

Câu hỏi đầu tiên của người dân Mỹ đóng thuế là làm cách nào Ngân Hàng Trung Ương có 800 tỷ đô la để đem ra giúp những người đã, đang hoặc sắp đi vay được hưởng lãi suất thấp? Liệu chúng tôi có phải gánh nợ hay không?

Câu trả lời là Ngân Hàng Trung Ương Mỹ có quyền in tiền để dùng! Và ở đây họ dùng để cho vay, sẽ được trả lại, chứ không ai cho không!

Trách nhiệm của Ngân Hàng Trung Ương là ngăn ngừa lạm phát và hỗ trợ cho kinh tế phát triển. Ngân Hàng Trung Ương có thể tăng hoặc giảm số lượng tiền lưu hành trong nước. Thí dụ khi họ cắt bớt lãi suất thì nhiều người vay nợ được dễ dàng hơn, tổng số tiền lưu hành trong xã hội sẽ lên cao. Hoặc khi Ngân Hàng Trung Ương tăng lãi suất thì việc vay nợ khó khăn hơn, tổng số tiền chạy trong nền kinh tế sẽ giảm.

Nhưng các ngân hàng trung ương vẫn bị bó tay một phần, vì họ có thể tăng tổng số tiền lưu hành trong nước nhưng họ không thể cưỡng ép những đồng tiền đó phải lưu hành được. Thí dụ, trong tình trạng hiện nay các ngân hàng và giới đầu tư đều dè dặt không muốn bỏ tiền ra cho vay. Số trái khoán khổng lồ hàng ngàn tỷ Mỹ kim bị kẹt cứng, không ai muốn mua và không ai có thể bán, vì dính vào các món nợ địa ốc. Tổng số tiền lưu hành vẫn như cũ nhưng hàng ngàn tỷ đồng bị kẹt nằm yên một chỗ không chạy qua chạy lại nữa. Những biện pháp mới nhất của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang là để tháo gỡ cảnh kẹt xe trên xa lộ này.

Số tiền 600 tỷ đô la đầu tiên sẽ được dùng ngay tuần sau, đem mua những trái khoán liên hệ tới các món nợ mua nhà, do chính phủ cho vay hoặc các ngân hàng được chính phủ bảo trợ cho vay. Với triển vọng đó, các ngân hàng thấy ngay họ sắp bán được trái phiếu và sẽ có tiền cho vay tiếp. Một chỗ kẹt, đọng của dòng tiền tệ được khai thông. Riêng quyết định này đã có hậu quả ngay lập tức là khiến cho lãi suất các món nợ mua nhà thời hạn 30 năm đã giảm ngay nửa phần trăm, xuống khoảng 5.5% trong hai ngày qua. Những người sắp mua nhà sẽ được hưởng lãi suất mới này, những người muốn dùng nhà thế chấp để vay cũng vậy. Do đó, nhiều người sẽ vay để lấy tiền tiêu thụ hoặc đầu tư. Trong hai ngày qua nhiều người đã vay tiền ngay để hưởng lãi suất mới. Tuy nhiên, chỉ những người được coi là có khả năng trả nợ và số tiền nợ trên ngôi nhà không quá lớn so với giá trị ngôi nhà thì mới được hưởng lãi suất thấp mới. Hiện có khoảng 12 triệu chủ nhà ở Mỹ bị kẹt vì giá trị ngôi nhà của họ thấp hơn số tiền vay nợ; những người đó sẽ phải chịu thua.

Ngoài thị trường địa ốc, những thị trường tín dụng khác cũng được khai thông với 200 tỷ khác của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang. Cơ cấu lưu chuyển cho số tiền này khá phức tạp. Nói tổng quát, Ngân Hàng Trung Ương sẽ cho một số ngân hàng vay tiền để họ tài trợ các món nợ của người tiêu thụ, như các sinh viên, người mua xe trả góp, và các tiểu thương. Việc vay và cho vay này không trực tiếp theo đường thẳng mà đi qua những chứng khoán bảo đảm bằng các món nợ tiêu thụ trên. Một điều lo ngại là những người tiêu thụ đến vay sau cùng không trả được nợ. Vì lý do đó, Bộ Tài Chánh đã đứng ra bảo đảm bù lỗ tới mức 20 tỷ đô la, tức là giả thiết có 10% các con nợ không trả được.

Vì tất cả số tiền 800 tỷ đều dưới hình thức cho vay, cho nên sau cùng Ngân Hàng Trung Ương Mỹ sẽ đòi lại được, trừ những người vay không trả được nợ. Con số 20 tỷ đô la mà Bộ Tài Chánh đứng ra bảo lãnh nằm trong con số dự trù có thể mất; mà số tiền 20 tỷ đó thí chính phủ đã được Quốc Hội cấp trong đạo luật Tháng Chín.

Liệu các những kế hoạch kích thích lên trên 3 ngàn tỷ đô la lại được tăng cường với 800 tỷ đô la mới có tăng số tiền lưu hành lên nhiều quá và do đó sẽ tăng áp lực lạm phát hay không?

Các người đang có trách nhiệm đối với kinh tế Mỹ như ông Bộ Trưởng Tài Chánh Henry Paulson và ông Chủ Tịch Ngân Hàng Trung Ương Ben Bernanke cũng đồng ý với ông Lawrence Summers, cố vấn kinh tế của tổng thống tân cử Obama, trong việc lựa chọn kế hoạch cứu nguy kinh tế. Ðây là việc lựa chọn giữa hai thứ rủi ro ngược chiều nhau, là có thể hoặc thái quá hoặc bất cập, mặc dù người quyết định vẫn muốn tìm đúng mức trung dung.

Thứ nhất là thận trọng rụt rè, kế hoạch cứu nguy quá yếu ớt sẽ trở nên vô hiệu quả. Thứ hai là cho liều thuốc mạnh quá, chi nhiều quá mức cần thiết, gây ra nhiều hậu quả xấu ngoài mối lo lạm phát.

Giữa hai thứ rủi ro đó, các người lãnh đạo kinh tế Mỹ nghĩ thà rằng chịu thứ rủi ro thứ nhì còn hơn là để cho thứ rủi ro thứ nhất xẩy ra. Vì nếu các kế hoạch giải cứu hệ thống tài chánh và nền kinh tế mà quá yếu, bất cập, thì chính phủ sẽ phải tiếp tục cứu nữa, mỗi bước cứu chữa đều quá nhỏ và quá trễ, sẽ kéo dài tình trạng kinh tế suy thoái lâu hơn. Ngược lại, nếu số tiền đem đổ vào nền kinh tế có thể tăng áp lực lạm phát thì Ngân Hàng Trung Ương và chính phủ sẽ có những biện pháp để ngăn chặn dần dần sau.

Giới lãnh đạo kinh tế tài chánh Mỹ đã can đảm dùng liều thuốc mạnh. Nhiều người Mỹ sẽ được hưởng nhờ kế hoạch mới này, từ các người chủ nhà đang lo bị sai áp tới các sinh viên lo không đủ tiền đóng học phí. Trong mùa Lễ Tạ Ơn này nhiều người sẽ cầu nguyện cho kế hoạch cứu nguy kinh tế của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang thành công!

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Khủng bố ở Ấn Độ: Một mũi tên trúng hai đích

Các cuộc tấn công ở Ấn Độ là một hành động khủng bố quy mô lớn do một nhóm những kẻ đánh bom liều chết được huấn luyện
kỹ càng tiến hành với mục tiêu gây bất ổn không chỉ ở Ấn Độ mà còn cả toàn khu vực.
Image
Khủng bố tấn công Ấn Độ (Ảnh Rian)

Hành động khủng bố này nhằm phô diễn sức mạnh. Mục đích của bọn chúng là đe dọa xã hội và nhà chức trách Ấn Độ. Các vụ đánh bom ở Mumbai (Bombay) được tiến hành theo quy luật của chiến tranh du kích đô thị và nhằm vào nhiều mục tiêu cùng một lúc. Vì lý do này, cuộc tấn công ban đầu chắc chắn thành công mặc dù vẫn chưa rõ đa số thủ phạm sẽ chết hay bị bắt trong một hoặc hai ngày tới.

Những kẻ hoạch định các vụ khủng bố mới nhất ở Mumbai muốn thế giới biết tên của một Bin Laden mới và tổ chức của kẻ này. Tội ác hôm 27/11 ở Mumbai do nhóm Deccan hay Ấn Độ Mujaheddin tiến hành.

Mục tiêu khủng bố là những địa điểm nổi tiếng nhất ở Mumbai, như thể là bọn khủng bố đang đi theo một hướng dẫn viên vậy. Nhà ga Victoria cũ, một kiệt tác của kiến trúc thời thuộc địa, trông giống như một nhà thờ khổng lồ hay lâu đài Doge ở Venice. Taj Mahal là một trong những khách sạn nổi tiếng của thế giới. Mumbai là một thành phố 15 triệu dân với mọi sắc tộc và tôn giáo. Hơn nữa, trung tâm tài chính quốc gia này còn quan trọng đối với Ấn Độ hơn cả New Delhi. Do vậy, hoàn toàn có thể hiểu được khi Mumbai trở thành mục tiêu.
Yếu tố nước ngoài Giới phân tích nói rằng các vụ tấn công khủng bố tuần này vượt xa các vụ khủng bố do các nhóm trong nước tiến hành trước đây về độ phức tạp, số người liên quan và sự thành công trong mục tiêu ban đầu (nghĩa là gieo rắc sự sợ hãi).

’’Đây là một mốc mới đầy kinh hoàng trong cuộc thánh chiến toàn cầu. Không một nhóm khủng bố Ấn Độ bản địa nào lại có khả năng này. Mục tiêu là phá hoại biểu tượng phục hưng kinh tế của Ấn Độ, phá hoại lòng tin của các nhà đầu tư và kích động một cuộc khủng hoảng Ấn Độ Pakistan’’, Bruce Riedel, một nhà phân tích trước đây từng làm việc cho CIA và Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ, đồng thời là tác giả của cuốn ’’Truy tìm al-Qaeda’’, nói.

Hành động khủng bố lớn này sẽ chỉ làm ngạc nhiên những người không theo dõi các diễn biến ở Ấn Độ. Có một làn sóng các vụ đánh bom tại những nơi đông người ở quốc gia này kể từ tháng 5 tới nay. Phản ứng của cảnh sát khá hiệu quả. Tháng 9 vừa qua, nhóm Ấn Độ Mujaheddin - những kẻ đã nhận trách nhiệm về vụ tấn công mới nhất tại Mumbai - đã cảnh báo sẽ báo thù cho những chiến dịch truy quét thành công mà các lực lượng chống khủng bố tại Mumbai tiến hành.

Số người thiệt mạng trong các vụ khủng bố 27/11 không phải là kỷ lục ở Ấn Độ. Tháng 3/1993, 13 vụ nổ bom đồng loạt đã làm 257 người thiệt mạng và 1.100 người bị thương tại Mumbai. Tháng 7/2006, 200 người chết trong một loạt vụ đánh bom tàu hỏa và các nhà ga. Lại một lần nữa, cảnh sát tìm được thủ phạm. Những kẻ trốn thoát đã trả đũa. Tiện thể, bọn khủng bố đòi phóng thích những tù nhân đã bị bắt giữ do các cuộc tấn công trước đây

Hành động khủng bố 27/11 có một đặc trưng nước ngoài. Có thông báo rằng một số kẻ khủng bố đã tới Mumbai trên những chiếc thuyền máy (đa số các khách sạn ở Mumbai nằm trên bờ biển) và một số kẻ có tóc xoăn. Liệu những kẻ này có liên quan tới Somalia, nơi các tàu chiến Ấn Độ đang tham gia vào các chiến dịch chống hải tặc Somalia? Khả năng này là có thể vì Mumbai là một căn cứ hải quân của Ấn Độ song còn quá sớm để khẳng định bất kỳ điều gì. Ấn Độ và thế giới sẽ phải mất nhiều ngày mới xác định được chính xác điều gì đã xảy ra.

Các quan chức ở Ấn Độ, Mỹ và châu Ây nói rằng thủ phạm có lẽ bao gồm các mạng lưới khủng bố Hồi giáo nằm ở Pakistan. Những mạng lưới này trong quá khứ đã nhận được sự trợ giúp từ các cơ quan tình báo Pakistan.

Không ít nhà phân tích và quan chức cho rằng vụ tấn công mang dấu ấn của Lashkar-i-Taiba và Jaish-i-Muhammad, hai mạng lưới Hồi giáo cực đoan từ Pakistan. Hai nhóm này đã tiến hành khủng bố ở Ấn Độ trước đây và đã tiến hành một chiến dịch bạo lực kéo dài tại vùng lãnh thổ Kashir tranh chấp, nơi Ấn Độ và Pakistan tranh giành trong 6 thập kỷ qua. Gốc rễ của cuộc xung đột kéo dài này là tôn giáo: Đa số dân Ấn Độ là Hindu trong khu hầu hết dân Pakistan là Hồi giáo.

Một số chuyên gia cho rằng vụ khủng bố này mang dấu ấn al-Qaeda vì nó liên quan tới nhiều cuộc tấn công đồng thời, nhằm vào người nước ngoài. Tuy nhiên, những người khác lại hoài nghi, cho rằng al-Qaeda dựa vào những kẻ đánh bom liều chết, chứ không phải các tay súng. Hơn nữa, al-Qaeda không có tổ chức ở Ấn Độ.
Sai lầm của Mỹ? Chắc chắn sẽ có những so sánh vụ 27/11 với các vụ tấn công khủng bố 11/9 và phản ứng của Mỹ. Ở trong nước, Mỹ đã tiến hành nhiều biện pháp hiệu quả, với những chi phí khổng lồ. Ở nước ngoài, Mỹ đã tấn công và chiếm đóng Afghanistan - nguồn gốc của mối đe dọa khủng bố. Tuy nhiên, sau đó, tài nguyên của cường quốc quân sự mạnh nhất thế giới này không đủ để kiểm soát hoàn toàn Afghanistan cũng như các vùng lãnh thổ lân cận của Pakistan. Sẽ chẳng có gì ngạc nhiên nếu việc hoạch định cuộc tấn công khủng bố Mumbai diễn ra ở Pakistan hoặc Afghanistan.

Mọi biện pháp của Mỹ và các đồng minh ít liên quan tới chống khủng bố trong khu vực. Washington đã tìm cách lợi dụng làn sóng ủng hộ của dân chúng để đạt một mục tiêu hoàn toàn khác, đó là khẳng định vị thế bá quyền toàn cầu. Mỹ chiếm đóng Iraq, quốc gia chẳng liên quan tới khủng bố và bắt đầu tiến hành một chương trình đưa các giá trị Mỹ một cách vô hình vào toàn bộ thế giới Hồi giáo này song nỗ lực đó đã không đạt được hiệu quả như mong muốn. Hậu quả là Mỹ đang rơi vào khủng hoảng và ảnh hưởng bị suy giảm trong khi những kẻ khủng bố Hồi giáo tiếp tục làm công việc của chúng.

Rõ ràng chẳng một ai sẽ lặp lại sai lầm của Mỹ. Liệu Ấn Độ có thể hoạch định chiếm đóng Pakistan bằng vũ khí hạt nhân? Liệu Ấn Độ có định chiếm đóng Afghanistan hay Somalia? Đừng quên rằng giống như Nga, Ấn Độ một phần nào đó cũng là một quốc gia Hồi giáo, có nhiều người Hồi giáo hơn cả Pakistan. Do vậy, Ấn Độ sẽ phải vạch ra một chiến lược chống khủng bố, một việc mà Mỹ đã không làm.

Chiến lược này không nên bó hẹp ở trong nước. Rốt cuộc thì những sự kiện xảy ra trong vài tháng qua cho thấy Ấn Độ nằm trong số những quốc gia hàng đầu của thế giới, giống như Trung Quốc và một số nước khác. Vì lý do này, không thể phớt lờ tội ác ở Mumbai.

Không thể xây dựng lại liên minh chống khủng bố của thế giới trên một cơ sở mới. Trong năm 2001, Ấn Độ đã tìm cách nhắc thế giới rằng New York không chỉ là mục tiêu duy nhất và gốc rễ của khủng bố thế giới nằm trên các đường biên giới của Ấn Độ. Tuy nhiên, những cảnh báo đó đã không được lắng nghe. Lần này, có lẽ mọi việc sẽ khác đi.
Nguội lạnh quan hệ Ấn Độ -Pakistan Các vụ tấn công khủng bố ở Mumbai còn đe dọa làm xấu đi các mối quan hệ đang ấm dần lên giữa Ấn Độ và Pakistan, trong bối cảnh phương Tây đang tìm cách thuyết phục Islamabad tập trung vào việc tiêu diệt al-Qaeda và Taliban đang ẩn náu ở khu vực gần biên giới với Afghanistan.

Ấn Độ không loại trừ Pakistan liên quan tới các vụ tấn công trên. Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh hôm 27/11 nói rằng các chiến binh ở ngoài Ấn Độ là thủ phạm. Ở Pakistan, tuyên bố này được hiểu rộng rãi là một lời cáo buộc Pakistan dính líu.

Trong khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng Pakistan là Ahmed Mukhtar nói rằng ’’không nên đổ lỗi cho Pakistan như trong quá khứ’’ vì Pakistan không dính líu tới những hành động đẫm máu này’’. Hôm 28/11, Thủ tướng Pakistan Gilani đã gọi điện cho người đồng cấp Ấn Độ và cam kết chính phủ của ông ủng hộ hoàn toàn cuộc chiến chung chống lại chủ nghĩa cực đoan và khủng bố.

Quan hệ xấu đi giữa Pakistan và Ấn Độ sẽ làm cho chính sách ngoại giao của Mỹ trong khu vực thêm phức tạp. Tổng thống Mỹ mới đắc cử là Obama đã nói rằng bình thường hóa quan hệ giữa hai nước láng giềng Nam Á này sẽ là ưu tiên hàng đầu trong chính sách ổn định Afghanistan cũng như đánh bại al-Qaeda trong khu vực.

Minh Sơn (theo RIA, NYT, Reuters)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

“Những Ngày Cuối Cùng” của độc tài đảng trị
Friday, November 28, 2008

Ngô Nhân Dụng

Ngày chót trong chuyến du lịch ở xứ Ai Cập vừa qua, chúng tôi được đi qua một nghĩa trang ở thủ đô Cairo. Khi nói đến nghĩa địa, chúng ta hình dung cảnh những nấm mồ. Nhưng ở đây chỉ thấy những cái “nhà,” có tường vách, có mái phẳng. Người Ai Cập để thi hài người chết dưới sàn nhà, cả gia đình “đoàn tụ” cùng một nơi, để những người còn sống có thể mang thực phẩm tới đó cùng “ăn chung” với những người quá cố, và cầu nguyện cùng với họ.

Khi trông thấy có đông người ở trong nghĩa trang, có du khách trong đoàn hỏi tại sao nhiều người thế? Người hướng dẫn du lịch địa phương, anh Abdul giải thích, đó không phải là những người đi viếng mộ. Họ là những người vô gia cư vẫn vào đó ăn, ngủ mỗi ngày. Anh nói thêm: Ở Cairo có một triệu người vô gia cư (homeless). Thủ đô Ai Cập chứa 20 triệu dân, hơn một phần tư dân số cả nước. Ðoàn xe du khách đi qua một khu dân cư chật chội, anh Abdul chỉ tay: Có thấy triền núi đằng sau những ngôi nhà kia không? Mấy tháng trước núi lở, đè xuống nhiều ngôi nhà ổ chuột và chôn sống hàng trăm người. Quý vị có biết chuyện đó hay không? (Có, tôi đọc chuyện này trên tuần báo Economist vào Tháng Chín). Abdul kể tiếp: Chính phủ nói sẽ cứu trợ những nạn nhân mất nhà. Nhưng cho tới giờ không thấy gì cả!

Báo Econommist còn cho biết chính phủ Ai Cập cũng có những chương trình gia cư xây nhà ở cho dân nghèo, nhưng nhà xây xong phần lớn chỉ cung cấp cho thân nhân, bạn bè của các quan chức nhà nước. Còn dân nghèo vẫn sống trong những ngôi nhà xây bất hợp pháp, trong một nước rộng một triệu cây số vuông nhưng chỉ có 3% là đất trồng trọt được. Báo Economist cho biết có hơn hai triệu rưỡi người Ai Cập không kiếm đủ bữa ăn hàng ngày.

Ði du lịch ở Ai Cập, chúng ta sẽ ở những khách sạn 5 sao, đi xe có máy lạnh, không phải trông thấy cảnh người nghèo sống thế nào. Sẽ có dịp chiêm ngưỡng những đền đài vĩ đại dựng lên từ 3000 năm đến 5000 năm trước đây, những mộ vua chúa và các kim tự tháp. Riêng Hoàng Ðế (Pharaoh) Ramses II, sống trước đây khoảng 3,300 năm, trị vì trong 67 năm, sinh hơn 150 người con, đã để lại hàng trăm pho tượng lớn và hàng ngàn pho tượng nhỏ của ông, cùng những ngôi đền tráng lệ xây ở vùng thượng nguồn song Nile xuống đến bờ biển để kỷ niệm ông và bà hoàng hậu.

Ngày nay ông tổng thống Ai Cập cũng nắm toàn quyền về quốc phòng, an ninh, ngoại giao, và nguồn lợi dầu khí. Ông thủ tướng chỉ chịu trách nhiệm và có quyền trong phạm vi kinh tế, xã hội. Tạp chí Economist cho biết kinh tế Ai Cập đã phát triển cao trong 4 năm qua, sau khi ông thủ tướng mới lên bắt đầu “đổi mới kinh tế.” Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế lên 7% một năm. Hàng xuất cảng tăng từ 9 tỷ đô la năm 2003 lên 24 tỷ đô la năm 2007. Số đầu tư ngoại quốc vào Ai Cập lên tới 11 tỷ Mỹ kim năm ngoái. Giá nhà ở thủ đô Cairo cũng như giá cổ phần trên thị trường chứng khoán tăng rất nhanh, trước khi xẩy ra cơn khủng hoảng toàn thế giới hiện nay.

Kinh tế phát triển nhưng không được phân chia đồng đều. Có những người sống cao hơn cả mức sống mà chúng ta coi là đế vương. Máy bay nhỏ của tư nhân xếp hàng ở phi trường Cairo. Một đám cưới ở thủ đô Cairo được tổ chức linh đình, khách khứa mặc quần áo mua từ Paris và Milano; riêng tiền hoa để trang hoàng trong bữa dạ yến cũng tốn 60,000 Mỹ kim - lợi tức theo đầu người là 100 đô la Mỹ một năm! Tỷ lệ lạm phát ở Ai Cập lên tới 23%, chỉ thua mức 26% tại Việt Nam. Nhưng chính phủ trợ cấp bánh mì và xăng. Xăng chỉ có hơn một đô la một ga lông Mỹ, giới có tiền được hưởng. Số xe hơi bán tăng gấp 4 lần trong 4 năm qua. Nhưng người dân Ai Cập nghèo có thể mua một ổ bánh mì với giá rẻ bằng một xu (cent) Mỹ, nhờ chính phủ trợ cấp.

Tại sao một quốc gia có năm ngàn năm lịch sử, với di tích những công trình xây dựng hùng vĩ và tinh xảo từ mấy ngàn năm như vậy, mà bây giờ dân chúng lại nghèo khổ và chịu cảnh bất công đến thế?

Chỉ thấy một câu trả lời: Vì những người cầm quyền ở xứ này, từ thời Thượng Cổ thường khinh rẻ dân, bạc đãi dân; người dân chưa bao giờ được sống với một chút tự do để tập làm chủ cuộc đời mình.

Những công trình kiến trúc vĩ đại thời Thượng Cổ cho thấy những dải đất đai hai bên bờ sông Nile đủ nuôi dân. Vì chính quyền mỗi thời đại có thể huy động được hàng trăm ngàn dân công lao lực, những người đó không chăn nuôi hay sản xuất lúa gạo. Nhưng các công trình xây dựng đó cũng chứng tỏ dân tộc này đã sản xuất những nhà toán học, các kỹ sư, các nhà thiên văn đại tài so với các xứ khác cùng thời gian đó. Thành phố Alexandria từ thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên đã được dựng lên rồi trở thành một trung tâm văn hóa của Ðịa Trung Hải. Thư viện Alexandria có hàng triệu bộ sách viết bằng 5 thứ ngôn ngữ thông dụng, trước khi bị thiêu hủy. Các nhà toán học Hy Lạp như Pythagore, Archimede, Euclid đều đã đi du học tại đây.

Một nền văn minh sáng chói như vậy, tại sao để lại di sản là một quốc gia nghèo đói và bất công như bây giờ? Vẫn chỉ có một câu trả lời: Vì các chế độ độc tài đã bòn rút xương tủy dân tộc này, người dân chưa bao giờ được thử sống với một nền nếp xã hội trong đó người dân được quyền làm chủ một phần nào vận mạng của họ. Khi người dân bị khinh rẻ mãi, có khi họ cũng nhiễm thói quen tự hạ thấp giá trị của họ. Với những triều đại vua chúa bóc lột hết sức dân của các Pha-rô, dân Ai Cập không có lý do gì để bảo vệ giai cấp lãnh đạo của họ khi đất nước bị xâm lăng. Những đế quốc từ châu Phi tới Ba Tư, Hy Lạp, La Mã, rồi Ðế quốc Ottoman, Pháp, Anh, đã lần lượt chiếm đóng Ai Cập, người dân không còn sức kháng cự và cũng không muốn kháng cự. Dân chúng bị các chính quyền thay phiên nhau khai thác đến kiệt lực. Cho nên khi các đế quốc đến thì không ai tha thiết bảo vệ những người cai trị.

Một chế độ tài đảng trị đã thay thế chế độ thực dân từ năm 1952, nhưng ông Nasser cũng mơ “theo định hướng xã hội chủ nghĩa,” cộng tác với Liên xô, đưa dân vào nhiều cuộc chiến tranh vô bổ; đến năm 1973 ông Sadat mới chấm dứt. Từ đó tới nay, dân Ai Cập vẫn sống dưới quyền của một đảng chính trị. Tổng Thống Hosni Mubarak đã ngồi tại chức 27 năm nay và giờ đã 80 tuổi; nhưng con ông, 44 tuổi, lại đang chuẩn bị mong được lên kế vị. Dưới áp lực của Mỹ, chính phủ Ai Cập chấp nhận có đảng đối lập và một số báo chí độc lập. Nhưng gần đây chính một đại biểu Quốc Hội đối lập đã phản đối Ngoại Trưởng Mỹ Condoleezza Rice khi bà chỉ trích chế độ thiếu dân chủ, cho thấy ngay những người gọi là đối lập cũng thân chính quyền. Ayman Nour, chính trị gia đối lập đang ngồi tù sau khi đã ra tranh cử với Tổng Thống Mubarak vào năm 2005. Ðảng cầm quyền mới thắng lớn trong một cuộc bầu cử ở địa phương năm nay, trong 52,000 ghế nghị viên chỉ có 1,00 người thuộc đảng đối lập. Mở những tờ nhật báo bằng tiếng Pháp và tiếng Anh thân chính phủ chỉ thấy những tin tức tốt đẹp về ông tổng thống và các hoạt động của chính quyền. Tờ tạp chí của Bộ Giao Thông Vận Tải in giấy láng viết một bài dài về ông bộ trưởng, với những hình ảnh ông trình diện trước ông tổng thống kèm theo hình ông cùng với phu nhân ngồi uống trà, lại thêm hình ông bộ trưởng cùng hai công tử bận đồ lớn, toàn những hình mầu sắc lộng lẫy. Ðó là những dấu hiệu của một chế độ độc tài đảng trị dùng báo chí để ca tụng đảng và những người cầm quyền.

Một nước 75 triệu dân phải nuôi 6 triệu công chức, một tập đoàn tham nhũng kiểm soát guồng máy chính trị và kinh tế. Guồng máy công chức đó coi việc trị dân là một đặc quyền, cho phép họ ra lệnh và trừng phạt. Khi đi trên xa lộ qua thành phố Cairo chúng ta thấy bao nhiêu ngôi nhà nhiều từng, cũ kỹ và xấu xí, nhưng xây cất dang dở. Người hướng dẫn cho biết theo luật thì chủ nhà chỉ phải đóng thuế thổ trạch sau khi việc xây nhà hoàn tất. Cho nên mọi người đều xây gần xong thì ngưng, để một tầng lầu không có mái hoặc cửa sổ chưa xong. Tại sao chính phủ không sửa lại luật thuế nhà đất để không cho người ta trốn thuế? Không biết! Có thể vì những người có quyền làm luật cũng là chủ nhân những ngôi nhà đang cất dở dang đó! Ðấy là cách guồng máy cai trị làm việc. Gần đây một đạo luật lưu thông được ban hành tăng mức tiền phạt rất nặng dù người lái xe vi phạm tội rất nhỏ. Người Việt Nam không khỏi liên tưởng đến chỉ thị cấm người ngực lép không được lái xe gắn máy ở Việt Nam, cùng một lối cai trị dân tùy theo hứng của các quan chức! Sau khi luật lưu thông ở Ai Cập được sửa đổi, giá biểu hối lộ cảnh sát đã tăng lên!

Ký giả Hamdi Qandil mới xuất bản cuốn sách “Những Ngày Cuối Cùng.” Ông Hamdi viết: “Chế độ này đang trên giường bệnh chờ chết, và chúng ta chỉ còn chờ ngày đưa đám. Tất cả những ngả đường để thay đổi một cách ôn hòa và tiệm tiến đã bị chặn. Chỉ còn một con đường là người dân bất hợp tác.”

Những ai tò mò muốn biết các dấu vết của nền văn minh Ai Cập vẫn nên đến thăm quốc gia cổ kính này, trong đời một người nên thấy tận mắt các di tích đó ít nhất một lần. Năm ngoái Ai Cập đã tiếp nhận 13 triệu du khách, nguồn ngoại tệ và thành phần lớn nhất trong Tổng Sản Lượng Nội Ðịa. Mỗi du khách tới đây một tuần có thể giúp nhiều gia đình người Ai Cập được no bụng trong một năm, riêng ý nghĩ đó cũng khiến người đi du lịch không mang mặc cảm phạm tội nếu biết cảnh người dân còn nghèo đói. Nhưng khi du lịch ở Ai Cập chúng ta không khỏi nghĩ đến thân phận nước Việt Nam.

Cũng giống như chế độ độc tài ở Ai Cập, đảng Cộng Sản Việt Nam đang nuôi một bộ máy tham nhũng khổng lồ, với số công an cảnh sát đông đảo có khả năng kiểm soát từng người dân, ngăn chặn tất cả các ý kiến khác với chính quyền chứ đừng nói tới hành động chống đối. Việc cải tổ kinh tế cũng tạo nên cảnh chênh lệch giầu nghèo ở Việt Nam không thua gì ở Ai Cập. Ai Cập cũng đang có nhiều cuộc biểu tình, đình công của công nhân và nông dân không khác gì ở Trung Quốc hay Việt Nam. Chế độ Cộng Sản ở Trung Quốc và Việt Nam còn độc tài hơn chính quyền Ai Cập vì họ không chấp nhận một tiếng nói đối lập nào. Một ký giả như Hamdi Qandil không thể nào xuất bản sách ở Việt Nam, nhất là khi bìa cuốn sách lại in hình vẽ nhạo ông tổng thống! Nhưng Việt Nam cũng cần một ký giả can đảm như Hamdi Qandil. Cần một cuốn sách vạch ra chúng ta đang sống “Những Ngày Cuối Cùng” của một chế độ độc tài đảng trị đang trên đà phá sản.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Oan Cho Dân Ta Quá !

Bút Phím
Thỉnh thoảng, cứ nghe thông tin rằng “dân oan” ở các tỉnh lại kéo về Sài gòn khiếu kiện, trưa nay, lại nghe “dân oan” ở khu Kim Liên Hà nội đòi tự thiêu nếu công an đến giải tán họ, tôi tự hỏi: “Sao lại gọi là dân oan nhỉ?”

À, hẳn là họ bị chính quyền sở tại đối xử không công bằng, bị kẻ có chức quyền ức hiếp… Nghĩ cũng oan thật! Đất đai nhà cửa là mồ hôi nước mắt làm lụng từ đời này sang đời khác, bỗng dưng biến mất mà chỉ nhận được một số tiền không tương xứng thì ai không khỏi kêu gào oan khuất.

Bất giác sờ tay lên gáy: - Thế mình có phải là dân oan không nhỉ? Đất đai nhà cửa không bị giải tỏa, nhưng cứ có cảm giác rằng lâu nay mình vẫn phải mang trên đầu, trên cổ một cái gì đó rất nặng nề. Vẫn chưa thể lý giải nó là cái gì.

Thôi, dẹp sang bên lo viết cái đơn xin chuyển trường cho thằng nhóc đã! Vừa vào MsWord mở cái file “Don.doc” có lưu sẵn tiêu đề:

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Tôi bỗng lạnh toát cả người, như thể có một luồng điện chạy dọc suốt sống lưng. Trời đất, mình cũng là dân oan, hơn 80 triệu dân Việt hiện nay đều là dân oan cả!

Vâng, chính xác và hoàn toàn chính xác!

Đây nhé, cái gọi là Chủ nghĩa xã hội đã mang lại được gì cho dân ta ngoài cái thời bao cấp, cấm chợ ngăn sông, xếp hàng ăn độn, đói rách bần cùng... Ai nghĩ đến cái thời ấy mà không rùng mình sởn tóc gáy? Thế mà nó cứ chễm chệ nằm trên đầu trên cổ chúng ta trong mọi văn bản pháp quy, trên những cái cổng chào cao ngất, cứ như thể rằng mấy chục triệu dân Việt Nam đều phải đội ơn cái Chủ nghĩa xã hội này vậy. Oan cho dân ta quá, oan quá còn gì.

Tiếp đến là cái tiêu đề phụ “Độc lập…”.

Tôi tự hỏi hiện nay chúng ta đang sử dụng danh từ này theo nghĩa nào? Tự điển nào có thể định nghĩa được từ “độc lập” này khi Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa? Tự điển nào cắt nghĩa cho cái từ “độc lập” này khi Bắc Kinh lệnh cho Hà Nội phải dẹp biểu tình, cấm dân chúng không được biểu lộ lòng yêu nước bằng thái độ ôn hòa? Có ai chỉ giúp tôi cuốn tự điển ấy không? Giá nào tôi cũng mua, nếu không có thì oan cho dân ta quá, oan quá còn gì.

“…Tự do…”, ôi hai tiếng này như tắc nghẹn lại trong cổ họng tôi khi tôi hình dung cảnh hàng trăm ngàn người cùng da vàng máu đỏ, phải bỏ xác giữa biển khơi để đánh đổi cái “tự do” này lấy cái Tự Do bên kia bờ Thái Bình Dương. Đêm đêm tôi vẫn gào thét trong giấc mơ hai từ “tự do”, rồi sáng dậy loay hoay vượt tường lửa vào đọc tin tức từ thế giới Tự Do. Oan cho dân ta quá, cho cả những linh hồn đã chết oan lẫn những người còn đang sống.

Với “độc lập” ấy, với “tự do” kiểu ấy, xin nhường quyền bình luận từ “hạnh phúc” cho quý vị độc giả.

Tôi vẫn chỉ có một câu: Oan cho dân ta quá, oan quá còn gì!

Mới chỉ là dòng tiêu đề của lá đơn, tôi đã thấy oan khuất chất chồng. Chợt khám phá ra một điều thú vị: những cái gì hào nhoáng, bóng bẩy trong cái xã hội giả dối này đều chứa đựng điều bất ổn. Quên bẵng lá đơn với cái tiêu đề đáng sợ, tôi bắt đầu việc tìm kiếm các “mỹ từ” khác.

Và đây: “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Nhân dân ta làm chủ cái gì? Đất nước này ư?

Không. Ông chủ gì mà đầy tớ tự quyền cắt đất, nhượng biển vẫn không hề hay biết. Đến khi biết được thì cấm “ông chủ” không được hé răng kêu ca. Làm chủ kiểu gì khi một bác sĩ dịch bài viết “Thế nào là dân chủ” từ Anh sang Việt ngữ và phổ biến cho mọi người thì ông ta lập tức bị bắt bỏ tù. Oan cho nhân dân ta quá, oan quá trời ơi!

Rồi đây nữa: “…nhà nước của dân, do dân và vì dân”.

Thế à? “Của dân” là thế nào khi các thỏa hiệp về biên giới, lãnh hải được ký kết mà không qua một cuộc trưng cầu dân ý. Ngược lại, người dân muốn lên tiếng xác nhận chủ quyền lãnh thổ quốc gia lại phải xin phép đảng. Oan quá dân ta ơi!

“Do dân” là thế nào khi người dân không có quyền bầu lên những người họ tín nhiệm, đại diện cho quyền lợi của họ.

Cuối cùng, ai cũng thấy rõ những gì đảng và nhà nước này làm có thực sự “vì dân” không, hay chỉ vì lợi ích cá nhân của mấy triệu con người có gương mặt sắt máu, có trái tim đá sạn, có linh hồn đã bán rẻ cho quỷ dữ.

Rồi lịch sử sẽ phán xét công bằng, tội đồ dân tộc sẽ nhận đúng tội danh. Vận mệnh nước nhà chưa đến, hơn 80 triệu dân Việt có nhận thức được nỗi oan khiên mà mình đang gồng gánh suốt mấy chục năm qua không?

Đừng để những người dân mất đất, mất nhà phải cô đơn trong hai tiếng “dân oan”. Hãy chia sẻ, hãy đồng cảm cùng với họ, dân Việt ta ơi!

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Pakistan lo ngại về tuyên bố của Ấn Độ

Image
Một số người Pakistan đã xuống đường phản đối tuyên bố của Ấn Độ về sự dính líu của Pakistan
Những tuyên bố trên truyền thông Ấn Độ về các liên hệ ở Pakistan tới vụ tấn công ở Mumbai gây nhiều nghi ngờ ở Pakistan.
Hàng trăm người thiệt mạng trong vụ tấn công hồi tuần trước.

Các điều tra ban đầu cho thấy một số các tay súng là người Pakistan và đã đi thuyền tới Mumbay từ Karachi.

Nhưng điều này không làm người Pakistan bớt hoài nghi về điều mà họ cho là sự cố tình đổ lỗi cho Pakistan.

Nhiều người ở Pakistan cho rằng Ấn Độ đang nhìn sang Pakistan để che giấu những sai lầm trong hệ thống an ninh của chính họ.

Tại Karachi, nơi các tay súng được cho là đã xuất phát tới Mumbai, những người dân thường đặt câu hỏi tại sao mỗi lần xảy ra chuyện gì không hay ở Ấn Độ người ta lại đổ lỗi cho Pakistan.

Nhưng các tuyên bố bác bỏ thẳng thừng này cũng cho thấy người ta không biết tới hoặc không thừa nhận chuyện Pakistan đã không ít lần dùng các nhóm dân quân Hồi giáo để có cuộc chiến từ xa với Ấn Độ tại vùng lãnh thổ tranh chấp Kashmir.

Một trong các nhóm này, Lashkar-i-Taiba, bị đổ lỗi đã tấn công quốc hội Ấn Độ hồi năm 2001 khiến hai nước suýt có chiến tranh.

Nhưng Pakistan đã bác bỏ vụ đó và bất cứ liên hệ nào với vụ tấn công ở Mumbai vốn kéo dài ba ngày và làm hơn 170 người chết và bị thương.

Bác bỏ

Cho dù sự thật như thế nào đi chăng nữa, phía Pakistan nói cáo buộc của Ấn Độ là phản ứng nhất thời và không tính tới thực tế đã thay đổi.

Chúng ta phải hiểu rằng tình hình rất nghiêm trọng. Khi người Ấn Độ nói rằng đây là 9/11 của Ấn Độ thì đây là điều nghiêm trọng và chúng tôi phải để ý tới.
Ngoại trưởng Pakistan Shah Mahmood Qureshi
Ngoại trưởng Pakistan Shah Mahmood Qureshi khẳng định nước ông không có bất kỳ liên quan gì tới cuộc tấn công:

''Chúng tôi không có dính dáng gì và không có gì phải giấu diếm cả.

''Chúng tôi không có gì phải xấu hổ vì chính phủ Pakistan tin rằng quan hệ láng giềng thân thiện với Ấn Độ có lợi cho Pakistan.''

Một số nhà phân tích của Pakistan cũng đặt câu hỏi nếu Ấn Độ biết các tay súng tới từ Pakistan thì tại sao họ lại không thể chặn trước cuộc tấn công.

Họ cũng nói Ấn Độ cần đối mặt với thực tế là có những nhóm Hồi giáo cực đoan gần đây được lập ra ở chính Ấn Độ vì chính sách phân biệt đối xử và những hành động bạo lực tại các cộng đồng đối với người Hồi giáo.

Vụ đánh bom đoàn tàu tốc hành chạy từ New Delhi tới Lahore hồi năm 2007 lúc đầu cũng bị đổ cho Pakistan nhưng sau này lại do các nhóm Ấn giáo cực đoan cho một đại tá quân đội Ấn Độ chỉ huy.

Mặc dù vậy Ngoại trưởng Qureshi của Pakistan đồng ý rằng người Ấn Độ đang hết sức tức giận:

''Chúng ta phải hiểu rằng tình hình rất nghiêm trọng. Khi người Ấn Độ nói rằng đây là vụ 9/11 của Ấn Độ thì quả thật là điều nghiêm trọng và chúng tôi phải để ý tới.''

Leo thang

Về mặt chính thức, cả chính phủ và quân đội Pakistan đều cảnh báo Ấn Độ không nên có kết luận vội vàng.

Nhưng phản ứng của chính phủ và của tướng tá trong quân đội Pakistan cũng khác nhau.

Phía an ninh cho rằng Ấn Độ đang leo thang và muốn làm mất uy tín cơ quan tình báo của Pakistan.

Các quan chức an ninh và quân đội nói họ sẵn sàng hợp tác nhưng nếu Ấn Độ huy động quân đội, Pakistan cũng sẽ phản ứng tương tự và rút quân đang chống Taleban và al-Qaeda tại biên giới với Afghanistan.

Bên quân đội dường như cũng ngạc nhiên trước sự cởi mở quá mức với Ấn Độ của tổng thống Asif Zardari.

Gần đây nhất ông Zardari còn cam kết không sử dụng vũ khí hạt nhân trước với Ấn Độ, một điều đi ngược lại nguyên tắc trong nhiều năm qua của Pakistan.

Nhưng với cuộc tấn công mới nhất này người ta đang chưa rõ quan hệ giữa Ấn Độ và Pakistan có thể ấm nóng lên được không.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Hãy Thả Họ Tức Khắc
Trần Khải
Đã tới lúc nhà nước CSVN cần phải thả anh Điếu Cày, người đã bị giam và lãnh án tù vì cớ “trốn thuế,” nhưng thực ra là vì kêu gọi biểu tình chống CSTQ chiếm đảo Hoàng Sa, Trường Sa...

Đã tới lúc nhà nứơc CSVN cần phải thả anh Điếu Cầy, mà không cần chờ tới dịp Tết để ân xá hay chờ bất kỳ dịp nào khác, vì chính ngay khi CSTQ đưa tàu tới thăm dò các mỏ dầu Biển Đông là lúc toàn dân VN cần được chính phủ trấn an rằng cả nứớc đều chung một lòng giữ đất, giữ đảo.

Đã tới lúc nhà nước CSVN cần phải thả anh Điếu Cày, và hãy chính thức đưa ra lời xin lỗi anh; hãy nói rằng việc anh và các bạn thanh niên biểu tình đòi giữ đất, giữ đảo là điều hợp lý, và haỹ nói rằng đất nứơc cần rất nhiều người như anh, những người nóng lòng khi nghe chuyện cõi bờ bị xâm phạm.

Đã tới lúc nhà nước CSVN cần phải thả anh Điếu Cày, và phải trả tự do tức khắc, vì Trung Quốc đang ngày càng hung hãn lấn hiếp -- phần thì vận chuyển tiền giả, ma túy, chở rau, sữa lậu mang độc chất melamine tràn ngập VN với giá rẻ, phần thì lấn biển kiếm dầu, phần thì tình báo Trung Quốc bắt đầu mở các hồ sơ mật để đưa các sự thật ẩn kín ra nhằm phá hoại tên tuổi qúôc tế của ông Hồ Chí Minh, từ hồ sơ mật về người vợ Tăng Tuyết Minh, cho tới có tin rằng ông Hồ thật đã chết năm 1932 và người khác đã mang lý lịch giả này...

Đã tới lúc nhà nước CSVN cần phải thả anh Điếu Cày, để toàn dân đoàn kết một lòng, vì sóng gió Biển Đông đã thấy bắt đầu dữ dội, nếu không giữ đoàn kết một lòng, sẽ khó mà đương cự với cường đồ Phương Bắc...

Đã tới lúc nhà nước CSVN cần phải thả anh Điếu Cày, bởi vì ngay cả trên báo nhà nứơc VietnamNet cũng đã bắt đầu bênh vực anh qua một hình thức khéo léo: cho độc giả qua VietNamNet đòi hỏi gìn giữ chủ quyền biên giới lãnh thổ Việt Nam... Trong tình hình này, còn giam anh Điếu Cày là còn làm cho lòng dân không an ổn.

Báo nhà nươc VietNamNet phát hành trên mạng ngày 1-12-2008, có nhan đề là “Người dân ủng hộ việc xác định chủ quyền Việt Nam” đã có nhiều ý kiến điển hình như sau, trích:
“Hàng nghìn bạn đọc qua VietNamNet đã bày tỏ sự đồng cảm và nhất trí với tuyên bố của Bộ Ngoại giao về việc xác định chủ quyền biên giới lãnh thổ Việt Nam. Chúng tôi xin trích đăng một số ý kiến.
Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam

Tôi rất hoan nghênh lời phát biểu của ông Lê Dũng: "...khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền hợp pháp của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa...". Đó là sự thật không thể chối cãi! Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là đất đai của ông cha ta để lại. Toàn bộ nhân dân Việt Nam ủng hộ sự khẳng định này! Patriod_vn, TP.HCM, email: pearl_river_2007@...
Cần những hành động mạnh mẽ hơn lời tuyên bố trên, phải bảo vệ chủ quyền nước nhà bằng mọi giá. Nguyễn Duy Thanh, TP.HCM, email: herocrest_131@...

Quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa là của dân tộc Việt Nam. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử khẳng định điều này. Chính vì vậy, Trung Quốc nên tôn trọng chủ quyền Việt Nam. Nhân dân Việt Nam sẵn sàng đấu tranh bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng của mình. Thanh Lam, Sóc Trăng, email: thanh_lam6622@...

Việt Nam cần phải có biện pháp cứng rắn hơn về vấn đề Trường Sa, Hoàng Sa. Người dân chúng tôi luôn ủng hộ các biện pháp của Đảng và Chính phủ. Pham Van Khoa, Hải Dương, email: leducthinh2006@...

Tôi nghĩ nhà nước ta không thể chỉ tuyên bố chủ quyền như vậy mà phải có hành động cụ thể, sáng suốt. Nếu không, tài nguyên ở những nơi đó cạn kiệt là điều không thể tránh khỏi. Ha Trung, Hưng Yên, email: hatrung7@...
Tôi rất ủng hộ những tuyên bố vừa qua, đây là sự vi phạm chủ quyền của Việt Nam và Việt Nam phải tuyên bố rõ ràng về vấn đề này. Nguyen Manh Thang, Hà Nội, email: muadong_nuocnga@...

Ông cha ta đã vất vả để tạo dựng và có được chủ quyền trên hai quần đảo thì sao chúng ta lại không bảo vệ và phát triển được trên hai quần đảo đó? Cần phải có những biện phát thiết thực và hiệu quả hơn là điều mà mọi người dân mong muốn. Trần Minh, Kim Bảng, Hà Nam, email: minhcdt@...
Tôi hoàn toàn đồng ý với tuyên bố của Bộ Ngoại giao Việt Nam, chúng ta hoàn toàn khẳng định chủ quyền lãnh thổ của chúng ta. Kim Xuân Hòa, Vĩnh Phúc, email: kimvanhoa@...

Nhà nước cần có những hành động kiên quyết và cứng rắn hơn về chủ quyền quốc gia dân tộc. Chúng tôi luôn ủng hộ đất nước. Đặng Đình Quy, email: dangdinhquy5984@...

Việt Nam có đủ bằng chứng lịch sử về Hoàng Sa, Trường Sa. Chúng tôi rất tin điều này và luôn ủng hộ Chính phủ xác định chủ quyền đối với đất nước. Nguyen Huu Hieu, Hà Nội, email: Hieunguyen.hut@...

Truyền thống yêu nước chưa bao giờ phai mờ trong mỗi trái tim người Việt Nam chúng ta. Thời gian qua giới trẻ đã cho thấy điều đó. H.A, Bình Dương, email: qlgtbd@... (...)

Là một người lớn lên ở Miền Bắc XHCN, ngay từ thuở cắp sách đến trường, tôi đã thuộc lòng bài hát: Việt Nam - Trung Quốc núi liền núi sông liền sông, chung một biển Đông thắm tình hữu nghị. Trung Quốc bao giờ cũng nói: "đồng chí tốt, bạn bè tốt láng giềng tốt, đối tác tốt"… nhưng lời nói và việc làm của họ thật quá xa. Trong khi diễn ra những hoạt động "hữu nghị" thì họ ép những công ty thăm dò dầu khí nước ngoài đang làm ăn với chúng ta phải rút đi, họ dùng sức mạnh, bỏ ra hàng chục tỷ đôla để tìm cách chiếm hữu khai thác dầu khí trên vùng chủ quyền của nước ta.
Trong những ngày qua, dư luận của người Việt trên khắp thế giới hết sức sôi sục, đòi hỏi phải tỏ thái độ. Thậm chí nhiều người đã đề xuất biện pháp không dùng hàng Trung Quốc để phản đối… Chưa biết có đúng hay không, nhưng thực tình mà nói, cứ nhìn đến hàng Trung Quốc, tôi lại thấy đằng sau là cả một loạt những chuyện: Nói một đằng làm một nẻo... Lê Tư Thái, Phủ Thông, Bắc Kạn

Đề nghị Trung Quốc thực hiện theo nội dung Công ước Luật biển 1982
Tôi lấy làm bất ngờ khi tập đoàn dầu khí nhà nước Trung Quốc công bố đại dự án thăm dò, khai thác dầu khí trong khu vực tranh chấp ở biển Đông. Trong khi cách đó không lâu, Trung Quốc đã liên tiếp gây sức ép với tập đoàn BP (Anh) và Exxon Mobil (Hoa Kỳ) buộc họ phải rút khỏi các dự án hợp tác thăm dò dầu khí, cho dù ở vùng thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam, hoàn toàn thuộc quyền của Việt Nam.

Điều đáng nói, động thái trên của phía Trung Quốc được đưa ra ngay sau khi Thủ tướng nước ta vừa có chuyến thăm Bắc Kinh. Truyền thông hai nước đã đưa rất đậm những tuyên bố hữu nghị, hợp tác giữa hai bên, tái khẳng định nguyên tắc "hòn đá tảng" cho quan hệ giữa hai Đảng, hai nhà nước và nhân dân Việt Nam - Trung Quốc cho hiện tại và tương lai với 16 chữ vàng mà chính các nhà lãnh đạo Trung Quốc khái quát đề xướng là "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" và phương châm "Bốn tốt": "láng giềng tốt, hợp tác tốt, đối tác tốt, đồng chí tốt".

Thế giới ngày nay là thế giới văn minh, mọi ứng xử đều phải tuân theo luật pháp. Những hành động chèn ép kiểu nước lớn đã không còn phù hợp và gây nên phản cảm. Đương nhiên, thời đại nào, quốc gia nào cũng tồn tại bất đồng, xung khắc nhưng mọi bất đồng, tranh chấp đều phải được giải quyết dựa trên luật pháp quốc tế, quy tắc ứng xử và hợp tác mà hai bên đã đề ra, chứ không phải làm những việc đã rồi. Huống chi, Trung Quốc, Việt Nam và các bên liên quan đã phải mất nhiều thời gian và nỗ lực đàm phán để đi tới Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông năm 2002, trong đó đã ghi rất rõ: các bên đồng ý tự kiềm chế, tránh những hành động có thể gây căng thẳng và xung đột tại Biển Đông. Bùi Thành, Gia Lâm

Trung Quốc không thể đứng trên Công ước Luật biển để hành xử
Với hành động ngang ngược này, Trung Quốc đã vi phạm Công ước Luật biển năm 1982. Tất cả mọi nước phải có trách nhiệm thực hiện nội dung công ước đó và Trung Quốc cũng vậy. Thu Linh, Quảng Ninh

Tôi rất bất bình trước việc Trung Quốc bất chấp luật pháp quốc tế. Nếu muốn trở thành cường quốc, đóng vai trò lãnh đạo trong thế giới này, trước hết, Trung Quốc phải tuân thủ đúng những cam kết luật pháp quốc tế mà mình đã tham gia, không thể đứng trên luật pháp.

Về phía Việt Nam, tôi cho rằng ta phải có hành động cụ thể. Cần huy động sức mạnh nhân dân để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Xin các vị lãnh đạo hãy vì quyền lợi của dân tộc, giữ gìn cho muôn đời sau. Email: tim_kiem_love@...” (hết trích)

Đó là một phần trích từ lời của người dân trong nước, được báo nhà nứớc đăng tải. Đây là lúc nhà nứớc hãy suy nghĩ cho chín chắn: chỉ cần trả tự do cho nhà báo tự do Điếu Cày, kèm một lời xin lỗi đăng trên các báo, sẽ là bứơc đầu để hàn gắn lòng dân trứơc làn sóng dữ Phương Bắc.

Những trận đánh sắp tới nếu xảy ra, thật khó lường được thiệt hại. Chiến tranh là điều phải tránh, nhưng cũng là quyết định bất đắc dĩ phảỉ lựa chọn, vì có khi lùi thêm một bước là sẽ mất hết... Hãỹ nhìn tấm gương Tây Tạng mà biết sợ, để biết gìn giữ lòng dân cho cuộc chiến lớn, nếu phải xảy ra.

Hãy trả tự do cho anh Điếu Cày, và cho tất cả những người hoạt động dân chủ khác... Vì họ đã chứng tỏ cho cả nứơc nhìn thấy rằng họ đã là nhuũng ngừơi đi đầu vận động cho hạnh phúc toàn dân, đang chịu đựng các đàn áp bất công của nhà nứóc, và sẽ vẫn luôn luôn là những người không rời cuộc chiến vì an nguy của cả dân tộc.

Hãy trả tự do cho họ, tức khắc. Vì toàn dân muốn như thế.

TRẦN KHẢI

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Chống tham nhũng tại Việt Nam cần học kinh nghiệm Ấn Độ và Nigeria
Tác giả: Hà Giang, RFA



Trong một buổi họp báo của chính phủ gần đây, Tổng Thanh Tra chính phủ Trần Văn Truyền nhận định rằng tham nhũng là một vấn đề nghiêm trọng cần phải khắc phục. Đây không phải là lần đầu tiên chính phủ Việt Nam có những tuyên bố rất cương quyết về việc chống tham nhũng, nhưng những khẳng định này hầu như đã không cải thiện được tình trạng tham nhũng tại Việt Nam. Chống tham nhũng quả là một công việc không dễ dàng và đơn giản.Thông tin viên Hà Giang có bài viết tìm hiểu việc chống tham nhũng tại hai quốc gia Ấn Độ và Nigeria như sau.

Trong nhiều năm qua, chính phủ Việt Nam đã không ngớt kêu gọi dân chúng, cán bộ mọi ngành, các cơ quan, hội đoàn và giới truyền thông cùng nhau hỗ trợ việc ngăn chặn và chống lại nạn tham nhũng, nhưng dù đã có rất nhiều cố gắng, tình trạng tham nhũng tại Việt Nam cho đến giờ vẫn không hề thuyên giảm mà ngày càng có dấu hiệu trầm trọng hơn.

Trong bảng đánh giá mức độ tham nhũng năm 2008, tổ chức Minh bạch Quốc Tế đã xếp Việt Nam đứng thứ 121 trên 180 quốc gia, tụt xuống 10 bậc so với hai năm trước đây.

Những sự kiện như vụ án tham nhũng PMU18 và gần đây nhất là sự kiện ông Huỳnh Ngọc Sỹ bị công ty Pacific Consultants International, gọi tắt là PCI của Nhật tố cáo đích danh là đã nhận hối lộ nhiều lần; khiến dư luận ngày càng nghi ngờ quyết tâm và khả năng của chính quyền trong việc chống tham nhũng.

Theo tổ chức Minh Bạch Quốc Tế thì nạn tham nhũng tồn tại khi một chính thể khuyến khích và dung túng nó. Ông Peter Eigen, sáng lập viên của Minh Bạch Quốc Tế phát biểu:

Bài trừ tham nhũng đòi hỏi một bộ luật minh bạch được áp dụng nghiêm chỉnh, một chương trình hành động cụ thể, và nhất là vai trò độc lập của truyền thông trong việc phanh phui và đăng tải những tin liên quan đến tham nhũng.

Thật ra, không riêng Việt Nam phải đối phó với tham nhũng. Tệ trạng này xuất hiện ở mọi nước trên thế giới. Tuy nhiên, điều mà các nhà phân tích coi như một quy luật là tham nhũng bao giờ cũng tỷ lệ nghịch với minh bạch. Cụ thể là nứơc nào báo chí càng tự do, quyền phát biểu ý kiến càng đựơc tôn trọng thì tham nhũng càng ít. Có thể lấy trừơng hợp của Ấn độ và Nigeria minh họa điều này.

Tại Ấn Độ, theo bản tường trình của tổ chức Minh Bạch Quốc Tế, đời sống của hơn 55% dân nước này bị ảnh hưởng trực tiếp bởi tham nhũng. Năm 2008, tổ chức Minh bạch Quốc Tế đã xếp Ấn Độ đứng thứ 85 trên 180 quốc gia, tiến lên được 5 bậc so với năm 2004.

Một trong những lý do của sự tiến triển này là nhờ Đạo Luật “Quyền Được Thông Tin” (Right to Information Act), được chính phủ Ấn Độ cho ra đời vào tháng 6 năm 2005. Đạo Luật này cho phép người dân được quyền chất vấn viên chức nhà nước về các quyết định của họ, được quyền duyệt các hồ sơ làm việc, và kiểm soát việc làm của các viên chức, nếu cần. Đạo luật cũng đòi hỏi các viên chức phải cho xem hồ sơ và trả lời những khiếu nại của dân trong vòng 30 ngày, nếu không thì sẽ bị nộp phạt.

“Quyền Được Thông Tin” đã mang công lý đến cho nhiều người dân thấp cổ bé miệng tại Ấn Độ như bà Faizabad, một người đã liên tục nộp đơn xin một việc làm mà bà hội đủ điều kiện tại một công sở, ròng rã trên 20 năm, nhưng lần nào cũng bị khước từ, mà không được cho biết lý do tại sao. Ông Amod Kumar, viên chức phụ trách hồ sơ khiếu nại của bà chia xẻ:

Đây là một trường hợp đã kéo dài 20 năm, và giờ đây đạo luật Quyền Được Thông Tin không những đã giúp bà Faizabad nhận được việc, mà còn giúp cho chính quyền biết được những viên chức nào đã phạm luật trong việc xét đơn của bà.

Giới chức thẩm quyền tại Ấn Độ cho rằng giá trị lớn nhất của đạo luật Quyền Được Thông Tin là làm cho người dân tập thói quen đòi cho bằng được các thông tin liên quan đến những quyết định có ảnh hưởng đến đời sống của họ, và khiến các viên chức biết rằng việc làm của họ có thể sẽ bị người dân chất vấn.

Tương tự như Ấn Độ, kể từ năm 1999, những nhà làm luật tại Nigeria, một quốc gia đông dân ở Tây Phi, đã cố gắng vận động cho dự luật có tên là Tự Do Thông Tin (Freedom of Information Bill) được trở thành đạo luật, nhưng dự luật này đã bị Quốc Hội Nigeria bác bỏ lần thứ bẩy vào tháng 6 năm 2008.

Tuy chính phủ Nigeria chưa muốn cho người dân của họ được hưởng quyền Tự Do Thông Tin, nhưng lại cho phép một tổ chức có tên là The Nigerian Monitor, một tổ chức phi chính phủ có thiện nguyện viên khắp nơi, để xem xét, theo dõi và công bố tất cả những chi tiết về ngân sách của mọi hợp đồng lớn mà chính phủ Nigeria cho các nước khác đấu thầu.

Theo lời ông Lion Agwumezie, giám đốc của Nigerian Monitor thì thành công của họ nhờ vào hai yếu tố: Sự độc lập của tổ chức và nguồn thông tin tự do mà tổ chức này đã mang đến cho dân chúng. Những tường trình minh bạch về ngân khoản quốc gia dành cho những dự án lớn này đã khiến người ta chùn tay trong việc ăn hối lộ. Ông nói:

Mỗi người dân đều có quyền được biết tên những công ty đấu thầu với Nigeria, tên và địa chỉ cũng như số phôn của người đại diện cho những công ty này. Sẽ không bao giờ có chuyện một công ty “ma”được trúng thầu từ chính phủ Nigeria nữa. Người dân Nigeria cũng có thể theo dõi xem những dự án đã được hoàn tất được đến đâu rồi, cũng như hiểu những yêu cầu kỹ thuật của từng dự án…

Kinh nghiệm của hai nước Ấn Độ và Nigeria cho thấy mẫu số chung trong thành quả chống tham nhũng của cả hai quốc gia này là sự tự do thông tin, nhờ vào đó các cơ quan công quyền phải trả lời cho việc làm của mình trước người dân.

Trong khi đó, dư luận cho rằng vì chưa có tự do báo chí, và vì người dân không có quyền được thông tin đầy đủ cho nên việc chống tham nhũng tại Việt Nam xét ra vẫn chỉ là những lời khẳng định không thể thực hiện được./

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Vì Sao Đấu Tranh Chưa Thành
Vi Anh
Đấu tranh ở đây là đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, mà CS Hà nội đã cướp đoạt nửa thế kỷ ở Miền Bắc từ Aûi Nam Quan đến sông Bến Hải và một phần ba thế kỷ ở Miền Nam từ Bến Hải đến mũi Cà Mau. 33 năm đấu tranh không ngừng nghỉ, không mệt mỏi, thế mà chẳng những tự do, dân chủ, nhân quyền chưa có ở nước nhà VN, hàng ngũ người tỵ nạn CS ở hải ngoại không còn chặc chẻ lắm.

Trái lại CS Hà nội đã bang giao giao thương được với Mỹ, cựu thù của CS Hà nội nữa. Ba triệu người Việt ở Miền Nam bỏ nước ra đi để tỵ nạn CS mỗi năm lại gởi về khoảng 8 tỷ Đô la trong khi Mỹ cúp 300 triệu của 1 tỷ Đô la viện trợ cho VNCH, là VNCH sụp đổ. Có nhiều người chán ghét, hận thù CS, bị CS tù đày, bị CS cướp của qua đổi tiền và đánh tư sản, dùng thuyền nan vưọt đại dương, dùng những năm tù cải tạo để đi Mỹ tìm tự do bây giờ mỗi năm đi VN không dưới 200 000 lượt người. Tệ hơn nữa có người không dám đi biểu tình chống Cộng, sợ bị chụp hình, không được đi về VN hay về VN sẽ bị làm khó dễ. Dân ham tiền thì len lỏi về VN làm ăn dù chưa ai về VN làm giàu lớn mà được yên thân ra khỏi xứ . Dân ham gái cũng thế đi VN tìm cỏ non bò lạc, làm vợ con ở hải ngoại khổ đau, và làm cho xã hội VN đã bị CS cào băng đạo lý thêm nhiều tệ nạn xã hội nữa.

Còn truyền thông đại chúng tiếng Việt ở hải ngoại, đặc biệt là báo chí và truyền hình, cũng có người giả bộ cấp tiến, hoà nhập sâu sát vào dòng chánh Mỹ, để quá khứ ra sau hướng về tương lai phía trước theo chủ trương Mỹ, nhưng thực tế và thực sự là tránh né thông tin, nghị luận đấu tranh để đón gió trở cờ chờ quảng cáo của các công ty quốc doanh trong nước dù quốc doanh trong nước đâu có cần khách hàng hải ngoại, trừ vài dịch vụ tép riu.

Nên rất có lý những thăùc mắc tại sao CS ác độc quá trời mà sống dai như đỉa đói vậy và tại sao người Việt Quốc Gia đấu tranh hoài mà CS Hà nội vẫn sống nhăn. Dưới tinh thần biết mình biết người để chiến thắng và và lương thiện, và nghiêm khắc với chính mình, có hai lý do: tại CS và cũng tại ta người Quốc Gia, hai lý do hoà huyện nhau làm trậïm trà, trậm trật công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN tức chống CS vì có tự do, dân chủ, nhân quyền thì CS không có lý do tồn tại.

Tại CS. CS Aùc, cái gì cũng dám làm dù bạc ác, vô luân, vô đạo nhứt vì lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện. Còn người Quốc Gia thì quá đạo đức. Đến mức có khi thành đạo đức giả hễ ai lỡ làm một cái gì bạo một chút là búa phê bình, rìu chỉ trích bổ lên đầu, có khi bị đưa lên dàn hoả thiêu cho cháy tiêu luôn.

CS Hà nội đối nội có quốc gia, có ngân sách trong tay, có quân đội, công an cảnh sát thừa sức diệt chũng; và đối ngoại có ngoại giao và giao thương với hầu hết các siêu cường. Trong khi người Việt đấu tranh trong ngoài nưóc chỉ có tinh thần, có chánh nghĩa mà không có phương tiện vật chất, thường đấu tranh bằng tiền túi Lại lắm khi ăn cơm nhà ra vác ngà voi hàng tổng lại ghen hiền ghét ngỏ, bị chụp đủ thứ mũ từ CIA đến CS. Phải người dũng cảm, thương nước, thương dân lắm mới đủ kiên trì đấu tranh.
\
Tại "tàn dư" của cái bịnh sợ CS còn trong tiềm thức của người Viêt Quốc gia. "Tàn dư" khũng bố" đen, trắng, xám của CS đã từng làm tê cóng nhiều người khi còn ở nước nhà, nhưng vẫn còn làm lạnh cẳng không ít người khi ra được hải ngoại. Có người thực tình giúp tiền cho các phong trào đấu tranh nhưng dặn đừng nêu tên họ, không phải vì khiêm tốn mà vì ngại CS. Có người năn nỉ đừng chụp hình, sợ đi VN bị làm khó dễ, sợ VC "đì" vợ con còn kẹt ở nước nhà VN. Đảng Nhà Nước CS là một guồng máy tẩy não tinh vi, không ngừng nghỉ, không mệt mỏi. Già, kể cả những người đang sống ở ngoại quốc, đang đầy đủ tự do, dân chủ, nhiều đêm ngủ còn thấy ác mộng ngục tù CS. Coi CS như Aùc Thần, rất thù, rất ghét nhưng tránh xa. Nên ở xa thì biểu tình chống đối quyết liệt, còn thấy bóng dáng VC thì cố tránh từ xa. Trẻ thì CS đã cào bằng văn hoá, thay đổi lịch sử cận đại, biến tuổi trẻ trở thành những người bon chen để hưởøng thụ hơn là suy nghĩ đến vận mạng nước non. CS biến nhân sinh và thế giới quan của tuổi trẻ theo những tiêu chí mà CS đưa ra, tìm thấy sự hãnh diện, trong thương mại, trong sự làm giàu.

Bộ máy tuyên truyền của CS hoạt động mạnh và đều. Dùng kỹ thuật dụng danh đạt quả. Ai làm lợi cho CS thì CS gọi là "yêu nước, Việt Kiều khúc ruột ngàn dăm của quê hương, bộ phận không tách rời được của dân tộc". CS không thiếu lời hay ý đẹp và không thiếu ban khen cho mọi giới: "người tốt việc tốt", "tốt đạo đẹp đời".

Còn ai không theo Đảng là "thù địch, phản động", thì CS thừa quỉ kế để triệt hạ. Khủng bố đen trắng xám, bao vây kinh tế, tạo mâu thuẫn, chia rẽ. Làm cho người dân sợ chánh trị, chán chánh trị và xa lánh chánh trị, coi đó là trò " dơ dáy, xôi thịt, chiếu trên chiếu dưới" dù bản chất chánh trị là sự sống, mua một lít xăng, mua báo này mà không mua báo khác, là chánh trị, dù căn cước đại đa số người Việt ở hải ngoại là tỵ nạn CS, tỵ nạn CS là tỵ nạn chánh trị, là chánh trị. Làm cho cộng đồng, tổ chức của ngưòi Việt hải ngoại bỉ chê là thiếu đoàn kết, thông nhứt vì tranh giành phe phái.
Tại cái bịnh vọng ngoại và khôn vặt. Đấu tranh mà đợi chánh quyền các nước siêu cưởng bật đèn xanh hay đèn đỏ. Quên một điều chánh quyền ngoại quốc nào cũng vậy, kể cả Mỹ không có thù muôn thuở, bạn muôn đời, chỉ có quyền lợi quốc gia họ là trên hết. Chờ người khác làm cho mình hưởng. Nhưng thấy ai hơn mình thì tị hềm, từ nói hành nói tỏi sau lưng đến chụp mũ, chưởi gần chưởi xa ngay trước mặt. Những lời trên chắc không vui tai nhưng cần thiết để biết mình, biết ngưòi hầu khắc phục để tiến lên. Thuốc đắng mới đả tật.



VI ANH

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Nhục cả nước

Ngô Nhân Dụng
Khi du lịch ở Cairo tôi gặp một thanh niên người Ðức ở cùng một khách sạn, cùng ngồi uống cà phê trong một quán vắng vẻ. Vì lý do xã giao bắt buộc, hai người phải chào hỏi nhau, và sau vài câu chuyện vãn, một câu hỏi tự nhiên là: “Anh ở nước nào tới đây?”

Khi biết quê quán anh ta ở thành phố Hannover, Ðức quốc tới, tôi hỏi thăm anh có biết về ngôi chùa Việt Nam nổi tiếng tại đó không? Anh biết tiếng, nhưng anh chưa có dịp thăm chùa vì đã đi làm việc ở Berlin từ lâu. Khi nghe tôi từ California sang đây và là người Việt Nam, anh thú nhận chưa đi thăm Việt Nam bao giờ. Nhưng anh lại hỏi tôi ngay một câu: “Tại sao nước lụt lớn đến chết người như vậy? Chỉ mưa thôi mà?”

Tôi phải nghĩ mấy giây mới hiểu câu hỏi của anh. Có một bản tin cũ mấy tuần trước về cảnh lụt lội ở Hà Nội, đã đăng trên báo Người Việt trước khi tôi rời California! Nhưng không thể ngờ người nước khác họ cũng chú ý đến tin đó; đến nỗi một người Ðức trẻ tuổi, đang đi công tác ở Ai Cập, mà lại quan tâm đến tin mưa và lụt ở Hà Nội như vậy! Quả thật là bất ngờ! Chắc lâu lắm báo chí nước họ mới có một tin quan trọng về nước Việt Nam đáng đọc, và anh ta muốn tỏ ra có chú ý đến nước Việt Nam nên mới hỏi thăm về chuyện này.

Là người Việt Nam thì vốn tính sĩ diện. Tôi cố giải thích cho anh hiểu rằng thành phố Hà Nội được thiết kế từ hơn thế kỷ trước, khi người ta ước tính dân số lên cao nhất chỉ tới mấy trăm ngàn. Mấy năm gần đây dân số mới tăng, giờ lên tới bốn triệu người, thành ra hạ tầng cơ sở không đủ đáp ứng!

“Nhưng chết đến 55 người thì nhiều thật!” Anh bạn trẻ vẫn tỏ ý thương xót. Tôi công nhận chuyện ấy thật khó hiểu! Không thể nào tự bào chữa cho nước mình được, tôi đánh trống lảng, quay sang hỏi anh ta tới Ai Cập dự hội nghị về cái gì, chỉ cốt bỏ qua chuyện Hà Nội Lụt.

Làm người Việt Nam, dù ở đâu, đi đâu, mình cũng chia sẻ tiếng tốt hay tiếng xấu của nước Việt Nam. Mình chưa kịp khoe khoang bốn ngàn năm văn hiến mà người ta đã hỏi thăm chuyện lụt lội chết người ngay ở thủ đô (sắp kỷ niệm 1000 năm lịch sử), thì mình cũng chia sẻ nỗi xấu hổ với đồng bào mình vậy. Là đồng bào thì phải chịu trách nhiệm chung với nhau cả. Cũng may trong mấy ngày sắp tới đây tôi sẽ không gặp người Nhật Bản nào cả. Tội nghiệp cho mấy người bạn tôi ở Nhật Bản, chắc họ vẫn bị những người chung quanh hỏi thăm về vụ công ty PCI hối lộ ở Việt Nam! Không ai nỡ chối rằng mình không chịu trách nhiệm nào về những chuyện đó!

Tôi cảm thấy nhục khi nghe tin hôm qua chính phủ Nhật Bản đã chính thức thông báo cúp bớt viện trợ phát triển ODA theo lối tín dụng lãi suất nhẹ cho Việt Nam. Họ nói rõ, tạm ngưng cho đến khi nào đảng Cộng Sản Việt Nam chứng tỏ họ có thể trừ nạn tham nhũng, hối lộ. Nghe tin đó, người Việt Nam ở bất cứ phương trời nào cũng cảm thấy nhục nhã. Không biết báo chí bên Ðức có loan báo tin này như tin mưa lụt ở Hà Nội hay không. Người Việt Nam ở khắp thế giới có thể được người ngoại quốc hỏi thăm về câu chuyện này. Một anh bạn tôi ở Zurich, Thụy Sĩ nhưng hay làm việc và tiếp xúc với người Nhật ở đó, không biết có người nào hỏi thăm anh chuyện này chưa? Anh giải thích ra sao?

Quý vị độc giả đã biết rồi, chuyện các viên chức của công ty PCI bị đưa ra tòa án ở Tokyo và họ khai đã nộp tiền hối lộ cho mấy quan chức cộng sản ở Sài Gòn trong vụ Dự án Xa lộ Ðông Tây. Dân chúng Nhật Bản đều đọc tin đó trên báo chí. Vụ PMU 18 ở Hà Nội hơn hai năm trước, tiền bị ăn cắp cũng có tiền viện trợ ODA của Nhật Bản nữa.

Dân Nhật được biết chuyện PCI hối lộ từ gần một năm nay rồi, ai đọc báo cũng biết tên ông Huỳnh Ngọc Sĩ, người đã đòi PCI đút lót 2 triệu 6 đô la. Nhưng “Ban Chỉ đạo Trung ương Phòng chống Tham nhũng” của đảng cộng sản Việt Nam vẫn tuyên bố trong vụ này họ chưa thấy có gì cụ thể cả! Cái cụ thể sờ sờ trước mắt bây giờ là cả nước chịu nhục nhã. Họ có thấy hay không?

Một điều nhục là ông đại sứ Nhật Bản Mitsuo Sakaba đã công bố tin cúp viện trợ trong một cuộc họp báo, ngay trong ngày họp đầu tiên của hội nghị các nguồn cấp viện cho nước ta. Tiếng Anh gọi họ là các “đô no” (donors), gồm các quốc gia và các định chế quốc tế, mỗi năm họp một lần như lần này. Các quan chức cộng sản Việt Nam có vẻ ngớ ra, không ngờ cái tin bị cúp hàng tỷ đô la viện trợ được tung ra giữa công chúng! Thật là nhục nhã!

Nếu khéo “ngoại giao” hơn, nghĩa là nếu muốn tỏ vẻ kính trọng chủ nhà một chút thôi, chính phủ Nhật có thể cho tin xấu này được tiết lộ ra theo cách khác, nhè nhẹ và chầm chậm.

Tại sao chính phủ Nhật không thông báo cho chính phủ Nguyễn Tấn Dũng biết trước một ngày, rồi chính họ loan báo tin buồn này trước khi họp hội nghị? Sau đó, khi báo chí hỏi, ông đại sứ Nhật chỉ gật đầu xác nhận là đủ rồi. Làm như vậy sẽ giữ được thể diện, không phải riêng thể diện của đám lãnh tụ cộng sản tham nhũng mà cũng nên bảo vệ mặt mũi cho cả dân tộc Việt Nam 84 triệu người nữa chứ!

Công bố việc cắt viện trợ trước công chúng đã là một tin làm mất mặt nước chủ nhà rồi, nhưng ông Ðại sứ Mitsuo Sakaba còn nặng tay hơn nữa. Ông nói thẳng lý do cúp tiền là vì chính quyền cộng sản Việt Nam tham nhũng quá. Ông nói viện trợ Nhật sẽ được tiếp tục trở lại khi nào đảng Cộng Sản Việt Nam cộng tác với chính phủ Nhật thiết lập một hệ thống bài trừ tham nhũng có hiệu quả.

Nói cách khác, Ðại sứ Mitsuo Sakaba tố cáo thẳng trước một hội nghị quốc tế rằng những món viện trợ cho nước Việt Nam chỉ nuôi một bọn tham nhũng. Dù thương yêu muốn giúp 84 triệu người dân Việt Nam đến mấy, chính phủ Nhật cũng không thể chấp nhận cảnh tiền bạc do dân Nhật đóng thuế bị bọn ăn cướp cộng sản Việt Nam lấy bỏ túi như vậy! Có thể coi đây là một cái tát vào mặt nhóm người cầm quyền ở nước ta.

Nhật Bản là quốc gia viện trợ cho Việt Nam nhiều nhất, số tiền Nhật cho bằng một phần ba tổng số các nước. Các nước khác sẽ lấy đó làm gương. Tất cả các nước cấp viện sẽ phải đặt câu hỏi này: Tại sao chính phủ Nhật Bản có can đảm công khai buộc tội đám người gian tham này, và Nhật Bản đã đưa ra biện pháp trừng phạt, còn chính phủ nước mình vẫn ngậm miệng, lại còn bỏ tiền ra nuôi tiếp cho chúng béo phì ra? Tại sao chính phủ Nhật Bản có tinh thần trách nhiệm đối với dân chúng họ, còn chính phủ các nước khác lại không thận trọng hơn trong việc đem tiền nuôi bọn kẻ cắp?

Nếu chính phủ các nước cấp viện không tự đặt câu hỏi đó, thì chính người dân và báo chí các nước đó sẽ có lúc đặt câu hỏi. Và kết quả sẽ không phải chỉ có số tiền viện trợ cho 84 triệu người Việt Nam sẽ bị giảm bớt. Hậu quả đau đớn nhất là nỗi nhục nhã cả một nước phải chịu, do một bọn cầm quyền thối nát gây ra!

Một nước phải ngửa tay xin tiền đã là nhục rồi. Nhưng trong thế giới bây giờ có bao nhiêu nước nghèo vẫn được các nước giầu viện trợ, nước mình cũng ngang hàng với nhiều nước Á Châu, Phi Châu khác, cho nên nỗi nhục này còn nhịn được.

Nhưng đã đi xin tiền rồi, đem tiền bố thí về nhà rồi, trong nhà còn ăn cắp của nhau nữa, nhục nhã làm sao đây! Ăn cắp trâng tráo như thế mà bọn họ cứ tiếp tục bao che tội cho nhau mấy chục năm nay, cả nước không ai dám nói gì, không dám làm gì cả, không thấy là nhục hay sao?

Ăn cắp những số tiền lớn một cách vô liêm sỉ đến nỗi chính phủ nước ngoài họ phải ngưng cho tiền vì sợ dân của họ phản đối! Ðại sứ Nhật Bản đã nói rằng dân chúng nước ông không cho phép chính phủ đem tiền cho những nước nghèo để lọt vào tay bọn căn cắp. Người Nhật đang tự hỏi nhau tại sao nước Việt Nam nhiều kẻ cắp thế! Niềm tủi nhục đó cả nước phải chịu đựng cho đến bao giờ?

Sáu tháng nay dân Nhật Bản ai cũng biết sự tích ông Huỳnh Ngọc Sĩ được lì xì hàng triệu đô la Mỹ bằng tiền mặt, còn báo chí Việt Nam thì không ai dám đi tìm hiểu xem ông ta sống thế nào, nhà cửa, gia đình ra sao, con cái học hành ở đâu. Không phóng viên nào dám đi tìm phỏng vấn các người cộng sự hay cấp chỉ huy của ông ta cả. Phải cắn răng ngậm miệng, không dám hỏi, không dám nói như vậy cho đến bao giờ?

Chúc các bạn may mắn, khi ra ngoài đường, đi du lịch, không gặp người Nhật Bản nào cả. Giống như ông bạn trẻ người Ðức gặp tôi ở Cairo, tự nhiên tò mò hỏi tại sao thành phố Hà Nội bị lụt khiến mình lúng túng. Làm người Việt Nam lúc nào mình cũng muốn bảo vệ thể diện cho đất nước. Nhưng làm sao bảo vệ được thể diện của ông Huỳnh Ngọc Sĩ và các đồng chí của ông ta bây giờ!

Post Reply