Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Image

10 Thương !

Mot thương cái miệng có duyên :
Khi vui em hót khi buồn em la
Tánh em vốn dĩ thật thà
Chuyện nhà đem kể ra ba xóm làng .

Hai thương em rất đảm đang :
Việc làng việc nước em "mần" hết ga
Việc nhà em chẳng thiết tha
Chỉ làm chiếu lệ qua loa rồi nằm !

Ba thương đôi mắt lá răm :
Lông mày lá liễu,mi cong mơ huyền
Mỗi khi thấy có bạc tiền
Mắt em dị ứng liên miên chớp hoài .

Bốn thương em rất đại tài :
Lương chồng đếm kỹ, không sai một hào
Tiền nước tiền điện tốn hao
Đưa em, em cứ đổ vào "lô tô" .

Năm thương em biết căn cơ :
Khi cần mua sắm,em vô " Mê xì " ( Macy )
Áo quần, giầy dép cần chi
Mua chừng năm bẩy va ly đủ dùng .

Sáu thương tứ đức, tam tòng :
Theo anh em quyết, lo chồng lo con
Cơm trưa thì sẵn cá lon
Đến bữa cơm tối em " phôn " nhà hàng ...

Bảy thương thùy mị , dịu dàng :
Giận anh em chẳng nói quàng nói xiên
Cũng không than khóc như điên
Chỉ quăng chén dĩa , anh liền " tẩu " nhanh .

Tám thương em tính toán lanh :
" Sê vinh "(saving) đã có em canh từng đồng
Rút ra khoảng tám ngàn đồng
Em đi sửa mũi , vú , mông , lông mày ...

Chín thương ăn nói thật hay :
Tiếng Việt đã ngọng , chữ Tây lại xài
Mỹ đen cộng với Mỹ lai
Trộn hai ba thứ chẳng sai tiếng bồi .

Mười thương hai đứa xứng đôi :
Vô tâm đoản tính em tôi nhất nhì
Vắt tay tính tóan chi ly
Chê em không lấy còn thì tìm ai ?
Thôi thôi đừng nói dông dài
Em ơi , sửa soạn ngày mai theo chồng
Bàn thờ anh đã sửa xong
Vuông ba tấc rộng vừa mông em ngồi ....
Last edited by mexanh on Sun Nov 30, 2008 2:38 am, edited 2 times in total.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Chết Ngoài Kế Hoạch
Trần Khải Thanh Thuỷ

"…Chết sông chết suối, ngờ đâu chết đuối đọi đèn..…

Thằng cháu tôi đi bộ đội bốn năm, bảy tháng, lù lù dẫn xác về. Chưa kịp nhập hộ khẩu, đã sinh cờ bạc, số đề, rượu chè, rồi thất tình, đau khổ... Một buổi trưa nó nốc rượu say mèm và gục mặt chết ở vũng nước tiểu của mình.

Gom góp họ hàng được gần ba trăm ngàn, tôi tức tốc đạp xe lên cửa hàng huyện, nơi chuyên bán áo quan, xô màn:

- Chị... chị làm ơn...

Chị bán hàng mặt lạnh như tiền:

- Hết rồi bác ạ!

- Kia thây... - tôi lặng người, rón rén chỉ vào đống áo quan trước mặt.

Chị ta bảo:

- Của quý bốn đấy, bác ạ, quý ba bán hết từ ba hôm nay rồi. Tuần sau bác lại.
Tôi kêu lên:

- Trời ơi... có mà đau đẻ chờ sáng giăng...

Thông cảm với bộ dạng nhớn nhác, chán chường của tôi, chị bán hàng nói với giọng thông cảm:

- Thôi, thế này vậy, bác chịu khó đạp xe lên huyện xin chữ ký chứng thực, đề nghị linh động giải quyết, rồi về đây cháu bán cho...

Nhưng rồi thấy tôi cứ đứng lặng, tưởng như đang phải nói chuyện với thây ma, chị bán hàng gắt:

- Kìa, đi đi chứ bác. Quãng chục cây số nữa thôi... Nhưng bác nhớ phải quay về xã viết đơn và xin dấu má thật đầy đủ đấy.

Gần sáu mươi tuổi đầu, bao lần đối mặt với cái chết, chưa bao giờ tôi trải qua tâm trạng bực bội và căng thẳng đến mức này... Xếp cả chồng tiền gần ba trăm ngàn, tháo luôn cả chiếc đồng hồ Citizen màu vàng chanh đặt lên quầy, tôi bảo:

- Đây, để làm tin, đề nghị chị linh động giải quyết, chứ sức vóc tôi không đạp nổi ba chục cây số nữa đâu.

- Ấy chết, không được. - chị ta nguây nguẩy - có chỉ thị của trên rồi.. Quý ba này chúng cháu chỉ được phép bán 2000 cái, mà đã vượt mức trên hai chục cái rồi... Khổ! Sao bác không chịu khó đến từ tuần trước? Sang quý tư cháu hụt chỉ tiêu trên giao thì khốn.

- Thế... - tôi ngơ ngác -... chị nói.... nói thế... có nghĩa là... cháu tôi chết ngoài kế hoạch?

- Vâng, có thế cháu mới yêu cầu bác phải có chứng thực của địa phương và giấy xác nhận của huyện chứ.

Lại còn thế nữa.... Như cái xác không hồn, tôi lừ đừ dắt xe ra, đầu nhức buốt

Tôi quay điện thoại.

- A lô...

- Gì đấy - đầu dây bên kia có tiếng đáp khẽ kèm theo một tiếng gắt... Thủ trưởng đi họp rồi.

- Đề nghị... - tôi lớn tiếng

Mặc thái độ nôn nóng của tôi, người bên kia, giọng còn trẻ lắm, lên giọng:

- Đại sự quốc gia bố già ơi... Tuần sau bố quay lại nhá!

- Trời ơi...! - tôi rên lên, tưởng đất dưới chân sụp lở hàng mảng.

- Khổ lắm... đã bảo đại sự quốc gia mà lị - giọng anh ta càng lúc càng thêm chớt nhả - Bố không chờ được đâu. Mà chờ cũng chẳng để làm gì. Thủ trưởng không giải quyết đâu. Trừ có cái chết.

- Dạ... - tôi đổi sợ thành mừng, líu lưỡi - Chết ạ?... Vâng, thế thì trường hợp này của tôi đúng là chết, chết thật đấy ạ... Cháu tôi...

- Mẹ bố khỉ - hắn cười khành khạch - Cháu bố thì liên quan gì đến đây?

- Nhưng... - tôi chưng hửng

- Định hối lộ hả?... Bắt cóc thủ trưởng về tận quê ăn cỗ cơ đấy... Dịp khác nhé. Hắn tuyên bố.

Tôi đột ngột nổi cơn lôi đình.

- Không còn dịp nào hết!

- Bố cưới hay thằng cháu bố chẳng hạn?

Nghe tiếng máy xập, tôi thất vọng đạp xe ra về, cảm giác rõ hai đầu gối củ lạc sắp long ra đến nơi.

***

Đúng giờ ngọ hôm sau mọi ước muốn của tôi rồi cũng được thực hiện (cũng may, cuộc họp chỉ kéo dài... có một ngày).. Nhờ sự "ngoài kế hoạch" của thằng cháu, tôi được dịp tham quan một lô phòng ban và nhận diện không biết bao nhiêu "ngài đáng kính".Hoá ra từ cái váy quan liêu đẻ ra lắm ban bệ, chức tước thật. Chả trách thằng cháu tôi chưa kịp nhập hộ tịch đã nóng lòng chui đầu ra khỏi váy để rồi rơi tọt xuống đất đen theo kiểu "ngoài kế hoạch" thế này.

Hộc tốc đưa giấy về nhà tôi mới ngã ngửa... Dưới hàng loạt chữ ký và con dấu đo đỏ ở phía dưới là dòng chữ "Đề nghị xem xét lại". Hoặc "Chờ xác minh"... Thì ra vì cuống, vì cái bệnh quên không đeo kính, vì cái đầu u mê, nên khi ở trụ sở công an xã bước ra tôi đã không chịu xem lại, xem thật kỹ cho chắc ăn. Tưởng đơn thuần là giấy chứng thực báo tử, ai ngờ họ còn ghi thêm mấy dòng nghi vấn:

"Chết không rõ lý do.. Công an địa phương đang tiến hành điều tra".

Tôi vò đầu, bứt tai, muốn dựng xác cháu lên mà đánh cho hả giận. Cái ngữ nó sống báo hại bố mẹ, chết báo hại chú... Hai ngày trời đạp xe giữa trời nắng chang chang như đổ lửa với sáu bận đi về hơn trăm cây số có ít đâu... trời ơi! Trời có mắt không hả trời? Hay trời cũng mắc bệnh quan liêu nốt?

Nhìn nét mặt chưng hửng của tôi, thằng cả kịp hiểu ra tất cả, nó dúi tút thuốc lá và cả bọc chè vài cân vào tay tôi, rồi giục:

- Bố chịu khó quay lại chỗ công an xã, nói khó với các anh ấy, nhờ các anh ấy chứng thực cho.

Bảo họ ghi thật rõ vào. "Đã chết hẳn vì lý do thất tình do uống rượu"...

Chưa đủ, nó còn dặn thêm:

- Dù hoàn cảnh thế nào bố cũng phải giữ bộ mặt cho thật tươi tỉnh cho con nhờ... Chứ như người sắp đưa ma thế kia, bố ai dám nhận chè thuốc của bố?

Lại một ngày đạp xe, chầu chực, rút kinh nghiệm, lần này tôi thủ sẵn một bao thuốc trong túi và nụ cười thường trực... trên khoé miệng. Đến phòng ban nào cần chứng thực đóng dấu, tôi lập tức bấm bật lửa tanh tách và... vén môi cười xoè... Cuối cùng một dòng chữ loằng ngoằng nửa giun, nửa dế kiểu... bổ túc văn hoá lớp 3 của ông chủ tịch huyện cũng phải bò ra:

"Chết ngoài kế hoạch. Linh động giải quyết."

Cô bán hàng hôm xưa đã nghỉ. Thay cho cô là một thị trẻ hơn, cong cớn khi nhận xấp giấy từ tay tôi:

- Dấu má gì mà mờ thế này?

- Thì dấu của huyện mà chị!

- Huyện nào. Cháu bảo cái dấu ở giấy báo tử kia.

- Ô hay, cháu tôi chết thật mà chị.

- Biết thật hay giả??... Lần sau bác lưu ý rút kinh nghiệm. Dấu mờ thế này mà còn cầm lên đây là cháu bắt về xã xác minh lại đấy.

- Ô...

Vẫn biết tất cả sự lo lắng quan tâm cho sự ra đi của người đã chết chỉ có tác dụng an ủi với người sống. Còn "cát bụi lại trở về với cát bụi". Song "nghĩa tử là nghĩa tận". Tôi cố gắng chọn lấy một cái áo quan đèm đẹp, không nứt, không vênh, không hụt quá hoặc to quá. Khổ một nỗi đống gỗ hòm này quá dở. Không chứng nọ cũng tật kia.

Chị bán hàng thấy tôi có vẻ phân vân, phát bực:

- Thôi, bác ôm nhanh hộ cháu một cái đi. Còn nhiều thủ tục phải giải quyết lắm đấy!

- Vâng, - tôi vội vàng cầu cứu - Chị duyệt cho tôi ít xô màn tiêu chuẩn.

- Bác ra đầu phố mà mua. Hay chửa, đã "chết ngoài kế hoạch" còn đòi duyệt xô màn trong tiêu chuẩn.

Há miệng mắc quai, tôi đành chữa thẹn:

- Thôi được, chị cho tôi nộp tiền thuê xe.

- Chỉ xe tang thôi đấy bác nhớ. Công tác phục vụ tang lễ đã hoàn thành kế hoạch quý ba rồi, tất cả xe khách bây giờ được trên huy động vào đám cưới để làm kế hoạch ba hết. Mùa này là mùa cưới mà.

Run run cầm tấm hoá đơn thuê xe trên tay, tôi khật khưỡng đạp về nhà. Thằng cả bàn:

- Bố cứ ra công ty xe khách mà thuê. Những năm, sáu trăm người cơ mà. Phần lý do thuê bố cứ ghi đại là "đám cưới".

- Đồ...

Tôi trợn mắt, chưa kịp quát nó đã cười ngoác miệng chữa thẹn:

- Thì đang mùa cưới mà bố. Lên tận đấy mà nói lý do: thuê xe tang cho đám ma. Bố ai người ta dám...

***


Nhìn dòng chữ nguệch ngoạc "10 giờ sáng 25/8" trên hợp đồng, tôi giật thót mình:

- Ấy chết, bác linh động cho. Gia đình tôi nhỡ đã ba bốn hôm nay rồi, nóng nực thế này....

- Thì "ngoài kế hoạch" mà bác, Hợp đồng chúng em kín cả rồi, nể bác lắm đấy, nhưng mà chịu...

Thôi chịu khó chờ mấy hôm vậy, bác ạ. Có tốn kém thêm một chút, nhưng vui vẻ. Cả đời mới có một lần ấy mà. Nóng nực sợ thiu bác cứ quăng hết vào tủ lạnh là khỏi lo... Có ế ẩm nữa, bác cứ quay lại đây, anh em cánh xế chúng em xài giúp... Nhồi vào "tủ nóng" còn tốt hơn tủ lạnh đấy bác ạ.

Dở cười dở mếu tôi quay trở lại nhà.

Công việc liệm thi hài bắt đầu. Thay vì những tiếng thút thít, nỉ non, ai oán và lén giơ tay áo lên quệt nước mắt, người ta lẩm bẩm chửi lũ ruồi nhặng chết tiệt và lén giơ tay... bịt mũi, xua ruồi. Chiếc quan tài đèm đẹp tôi đã mất công chọn cả buổi sáng hoá ra quá chật so với thi thể người quá cố. Một phần vì thi hài "nóng nở ra", phần khác vì sản phẩm của công ty là "ngoài kế hoạch", nên những người gia công đóng hòm đã cố gắng tận dụng cả chiều rộng lẫn chiều dài tấm ván. May mà đặt được cháu nằm nghiêng.

Chết đâu phải đã hết. 10 giờ sáng, quang cảnh nhà anh chị tôi hệt như một đám "hát bội". Nửa bưng mặt khóc, nửa bưng miệng cười. Hai chàng tài xế văng tục chửi um. Thực hiện đúng hợp đồng, chàng Công ty xe khách vòng vo tìm nhà. Quay ra quay vào mấy lần thấy vẫn đúng số nhà ghi trên hợp đồng, nhưng không phải đám cưới mà là đám tang. Biết bị "ăn quả lừa" chàng ta làm toáng lên, một hai đòi huỷ hợp đồng. Chàng xe tang (dù đã được lót tay trước bao thuốc, chai rượu), nhân cơ hội cũng khăng khăng đòi huỷ hợp đồng luôn vì đã quá quy định những... bốn ngày. Chỉ khổ cho anh chị tôi, khóc con năm sáu ngày đã cạn kiệt cả nước mắt rồi, trước tình cảnh "không khóc không xong với chúng nó" này, đành phải chạy ra nỉ non, khóc lóc, hứa hẹn "bồi thường đâu ra đó", nghe chừng tang thương hơn cả lúc khóc con.

Hai xe bon bon trên đường tới khu vực cổng nghĩa trang, cả mấy trăm con người đã quên dần "cõi thế", hướng cả vào cõi âm. Trạm dừng cuối cùng của mọi số kiếp sang hèn, đói khổ. Bỗng có tiếng quát giật giọng:

- Dừng lại!... dừng lại!

Anh lái xe khách khựng người trên vô lăng, cặp mắt đảo tứ phía, miệng lẩm bẩm:

- Lại chuyện gì nữa thế này?

Tôi giật mình, trước khi nhảy xuống phòng bảo vệ nghĩa trang còn kịp dõi đôi mắt về phía trước, nơi chiếc xe tang đã mất hút trong lòng nghĩa trang...

Trên xe đám đông hốt hoảng, nhốn nháo. Sẵn kinh nghiệm trong một tuần phục dịch, tôi... vén môi nở nụ cười thường trực và đánh bật lửa tanh tách... Hoá ra trăm sự tại cái chữ... hỉ này. Thật khỉ gió cái nhà anh tài. Xe đưa tang mà dám dán kín cả các hình thù nhảy nhót điên loạn, lại còn trương cả cái chữ hỉ to bằng... mả bố thằng ăn mày ngay đầu xe nữa. Có chết cha con người ta không?

Tài hùng biện, bao thuốc loại sang và chiếc bật lửa "bỏ quên" đã phát huy tác dụng. Chiếc thanh chắn từ từ được nâng lên, anh tài tăng hết ga đâm đánh xầm vào đít xe tang trước mặt.

Tôi cúi đầu, theo mọi người chui ra khỏi xe, cố nén một tiếng thở phào nhẹ nhõm. Bỗng từ đâu anh tôi chạy lại, như hiện về từ thế giới bên kia. Mặt xanh mét, líu cả lưỡi.
- Khổ thân tôi không. - anh nói - Cháu nó chưa có hộ khẩu, người ta bảo không được phép chôn ở đây.

Sau lưng tôi đám đông biến thành cuộc biểu tình, cãi cọ, giằng co, la ó. Mấy bà cô hờ:

- "Ôi cháu ơi... biết chết khổ, chết nhục thế này thì tội gì cháu chết cháu ơi!"

Chàng lái xe tang tức khí mở toang cửa, đuổi hết mọi người xuống, rú ga, lùi sát đít xe đựng áo quan vào tận cửa văn phòng, rồi nhảy xuống, văng tục:

- Mẹ chúng mày. Không để yên cho ông đi, ông khênh quan tài vào giữa văn phòng cho mà ngửi. Lúc nào ngán thì tự chôn. Xem chúng mày có dám ăn thịt nó không?

Nhìn theo dáng điệu tự tin của thằng cả nhà tôi đi vào phía trong, tôi thở ra một hơi nhẹ nhàng.

Đúng nửa tiếng sau, nó quay ra bấm tôi: "Xong rồi... Bố tưởng nhập khẩu cho người chết dễ hơn người sống chắc?..."

Nó dúi vào tận mặt tôi tấm thẻ mộ: Lô 38, khu II, số mộ 1078... Rồi lên giọng giảng giải: Bố ơi, đồng tiền đi trước bao giờ cũng khôn, bố ạ. Tháng trước con đưa ông bạn con ra đây, gia đình lóng ngóng không biết đường lo lót chu đáo, cho nên phải vào nằm trong khu nghĩa trang làm phúc. Ở đấy toàn tứ cố vô thân, chết đường, chết chợ cả thôi bố ạ. Người ta lại vừa bốc mộ xong, nước ngập trắng xoá, dép nhựa, giẻ rách, mảnh áo quan không tan rữa được nổi lềnh phềnh kín mặt hố.. Thật đúng là thế giới của người chết nghèo... Vừa nãy con phải nhờ "Bác" ba lần đưa đường chỉ lối(!) chúng nó mới chịu cho anh ấy được ra ở lô II này đấy, ngay gần khu các vị lãnh đạo.

Hoá ra, trong thế giới vĩnh hằng của người đã chết đẳng cấp vẫn còn phân biệt, quy luật giá trị vẫn còn tác oai tác quái.

... Đúng nghi lễ của người Việt Nam, chiều hôm ấy anh chị tôi làm cơm cúng ba ngày, mời bạn bè, họ hàng và người đưa tiễn ở lại thắp nén nhang để cùng tưởng nhớ tới người đã khuất. Trong vòng khói nhang nghi ngút, tôi rợn người khi nghe thấy tiếng khóc thút thít của cháu.

- Làm sao? - tôi thì thầm hỏi cháu tôi - Cháu làm sao?

- Cháu khổ quá chú ơi!

- Biết rồi! Khổ, chết ngoài kế hoạch thì sướng làm sao được!

- Biết thế này thà cháu sống mang tiếng là thằng ăn tàn, phá hoại cho xong.

- Thôi, dẫu sao mọi việc cũng qua rồi. Cháu bây giờ yên ấm dưới suối vàng.

- Chưa qua đâu chú ơi... Hu...hu... hu, cháu không nằm ngửa được... hòm chật quá! Mà sao khi đắp mộ cháu chú không "chi đẹp" cho mấy thằng phu mộ để chúng nó trừng phạt cháu, đắp điếm qua loa, ẩu không chịu được, để đến nỗi bây giờ suốt dọc sống lưng và phía dưới chân cháu đất sụt từng mảng, hở toác hoác. Gió nghĩa trang lồng lộng, lạnh buốt sống lưng, chú ơi... hu... hu...

Tôi đâm bổ đến chỗ thằng cả đang ngồi "chén chú chén anh", lôi xềnh xệch nó đi trước con mắt ngơ ngác của cả nhà:

- Đi! Ra ngay nghĩa trang với tao. Chỉ có mày đi tao mới yên tâm. Sau này bố có làm sao, nhớ là bố chỉ trông cậy vào một mình mày thôi đấy, con ạ.... Trời ơi! Chết mà còn khốn nạn khốn khổ thế này sao?!!

Sấp ngửa chạy ra chỗ dựng chiếc xe đạp cà tàng, thằng cả bảo:

- Bố ơi, đến lượt bố, bố nhớ phải chết trong kế hoạch đấy nhớ, cho chúng con nhờ, chứ ngoài kế hoạch thế này, khổ lắm...

Hà Nội cuối 1986
Trần Khải Thanh Thuỷ

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

LÀM TỪ THIỆN
HAY… GIÚP VIỆT CỘNG?


Nguyễn Quốc Đống
Trong nhiều năm qua đồng bào hải ngoại đã bỏ công, bỏ của rất nhiều để giúp cho các công tác từ thiện phục vụ đồng bào trong nước: trẻ mồ côi cần tiền để có nhà ở và được nuôi ăn; người khuyết tật cần tiền để trị bệnh; đồng bào bị thiên tai bão lụt cần tiền để trở lại đời sống bình thường; các xóm nghèo cần tiền để xây giếng nước, xây trường học, xây nhà thương; các tu sĩ cần tiền để tu bổ nhà thờ, chùa chiền; các bệnh viện cần tiền để mua dụng cụ y khoa, để mổ mắt người già, vá miệng trẻ em v.v…

Trong tinh thần “Lá Lành Đùm Lá Rách” đồng bào chúng ta tại hải ngoại không ngại chắt bóp những đồng tiền kiếm được bằng mồ hôi nước mắt khó nhọc để đổ về Việt Nam, gọi là để “trọn nghĩa đồng bào”. Nhưng có bao giờ chúng ta nghĩ lại xem việc làm của chúng ta có thực sự giúp đồng bào thay đổi số phận tối tăm của họ hay chỉ góp phần vào việc kéo dài cuộc sống lầm than của họ trong một chế độ độc tài phi nhân. Chúng ta có nghĩ rằng mình đang đưa vai gánh vác dùm công tác xã hội cho bạo quyền Cộng Sản để chúng rảnh tay đàn áp, bóc lột đồng bào nhiều hơn nữa hay không? Chúng ta có nghĩ rằng mình đang đem phấn son tô điểm cho một chế độ thối nát, bất công đáng bị vứt bỏ vào sọt rác của lịch sử hay không? Cộng Sản Việt Nam (CSVN) vừa bòn rút tiền bạc của chúng ta vừa tìm cách làm nhục chúng ta mà nhiều người trong chúng ta vô tình không ý thức được nên dễ dàng để Việt Cộng và các tay sai của chúng tại địa phương lợi dụng.

Câu chuyện cô Tim-Aline Rebeaud, người Thụy Sĩ hiện đang sinh sống tại Việt Nam, nhân danh tổ chức “Căn Nhà May Mắn” của cô ta đi khắp Âu châu và Mỹ châu (tháng 10 và 11, 2008) quyên góp cả triệu đô la của đồng bào Việt Tỵ Nạn Cộng Sản đem về Việt Nam nói là để “nuôi trẻ mồ côi, khuyết tật” là một thí dụ điển hình. Cô đã từng đi Bỉ, Canada, Mỹ (San Jose, San Fernando…) và quyên góp được rất nhiều tiền. Thấy cô là người ngoại quốc mà đã hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình để nuôi dạy các trẻ Việt mồ côi và khuyết tật tại quê nhà, ai mà nỡ từ chối không góp tiền cho cô để cô làm công tác từ thiện cao quý này. Mọi chuyện xảy ra suông sẻ như ý cô Tim và nhóm thiện nguyện của cô. Chuyện “không như ý”ù đã xảy ra vào ngày 25 tháng 10, 2008 tại buổi gây quỹ của cô Tim tại trụ sở của Hội Người Việt tại San Fernando Valley, California. Tại đây, Cô Tim từ chối không tham dự lễ chào cờ Việt Nam Cộng Hòa (Cô bỏ ra ngoài hút thuốc lá), sau đó cô thẳng thắn đòi hỏi Ban Tổ Chức phải dẹp bỏ Cờ Vàng trong Hội trường. Cô còn yêu cầu những người trong Ban Tổ Chức phải tháo bỏ những huy hiệu cờ vàng trên áo của họ. Cô Tim nói cô không muốn “việc từ thiện” của cô “mang màu sắc chính trị” và cô không thể đứng dưới cờ bất cứ một quốc gia nào!

Cô Tim có nói hết sự thực cho chúng ta nghe hay không? Cô nói cô “không đứng dưới cờ bất cứ một quốc gia nào” nhưng mọi người đều được xem hình chụp côõ đứng sát lá cờ đỏ sao vàng của Việt Cộng trên một sân khấu khi đang cao giọng cùng hát với các em tại một buổi lễ trong nước. Cô nói “việc từ thiện cô đang làm không có chính trị” nhưng tại lớp học của Căn Nhà May Mắn, cô đã dạy cho trẻ em về lịch sử của cờ đỏ sao vàng. Phải chăng cô làm thế để chúng “biết yêu tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của chúng, một tổ quốc đã tạo dựng Căn Nhà May Mắn cho chúng có chỗ nương thân! Lời nói và việc làm của cô Tim có đi đôi với nhau hay không?

Tiền của đồng bào Việt tỵ nạn Cộng sản tại hải ngoại thì cô Tim rất “cần” và rất “quý”, nhưng cờ Vàng, biểu tượng của người dân Việt Hải Ngoại thì cô rất “sợ” và rất “ ghét”! Tiền cô thu được phải chăng cô được tự do sử dụng theo ý muốn? Quý vị thử nghĩ CSVN sẽ cho cô Tim tự do dùng tiền này theo ý thích của cô và theo nhu cầu của Căn Nhà May Mắn của cô hay không? Chúng sẽ cho một tổ chức từ thiện với vài chục đứa trẻ mồ côi như tổ chức “Căn Nhà May Mắn” sử dụng một ngân quỹ lên đến cả triệu đô la à? Khi đi gây quy, cô Tim không đi một mình. Cô có cả một phái đoàn tháp tùng. Những người này không cho phép các phóng viên báo chí có mặt tại các buổi gây quỹ chụp hình. Chúng là Việt Cộng hay Việt Gian Cộng Sản mà lại sợ bị chụp hình trong một buổi gây quỹ từ thiện như thế?

Cô Tim đã trở thành một công cụ để CSVN vắt sữa các “con bò sữa béo tốt” tại hải ngoại. Nói đúng hơn cô đang là “con cưng” của chúng vì cô giúp đem tiền về cho chúng và cái quan trọng hơn thế là Cô còn giúp cho chúng triệt hạ lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, lá cờ Di Sản Tự Do, Dân Chủ và là biểu tượng của người Việt tỵ nạn Cộng sản tại hải ngoại. Cô giúp chúng làm “công việc khó khăn” này một cách hết sức dễ dàng, không tốn công khó nhọc. Cái khiến chúng hết sức vui mừng là “buộc được người Tỵ Nạn Cộng Sản tự gỡ bỏ biểu tượng của chính mình”. Cô Tim chỉ “yêu cầu” mà được như ý nguyện ngay. Cô nào có phải mất công “trèo lên tháo cờ Vàng” của chúng ta đâu? Chính ông Richard Mười Trương, chủ tịch Hội Người Việt tại San Fernando Valley đã cho tháo gỡ cờ cất đi để làm hài lòng cô Tim và phái đoàn từ thiện của cô. CSVN đã sử dụng chiến thuật “Nhu thắng Cương” một cách ngoạn mục. Chúng ta hẳn còn nhớ chuyện Hồng Y Phạm Minh Mẫn “ra lệnh” cho giáo dân Việt Nam phải dẹp bỏ cờ Vàng trong Ngày Thanh Niên Thế Giới (World Youth Day) tại Úc châu vào tháng 7, 2008 vừa qua. Họ đâu có nghe lời ngài mà còn cương quyết giương cao cờ vàng chính nghĩa của họ khắp nơi từ Úc châu sang Mỹ châu, ở bất cứ nơi nào ngài có mặt. Cuối cùng vị Hồng Y này đã phải lui bước trước sự cương quyết của giáo dân Việt tỵ nạn Cộng sản. Chúng ta hẳn cũng còn nhớ các chuyến công du nhục nhã của các lãnh đạo CS chóp bu như Phan Văn Khải, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng... Đồng bào chúng ta giương cao ngọn cờ vàng và khiến chúng phải giấu kín lộ trình, chui rúc như chuột và phải nhục nhã đi vào nhà bằng cửa hậu. Trong quá khứ chúng ta cũng đã từng cương quyết phản đối các tu sĩ đi quyên tiền mà đòi dẹp bỏ cờ vàng (Vụ giám mục Hoàng Văn Tiệm đòi dẹp cờ vàng tại Vietnam Center, Saint Paul, Minnesota tháng 11 năm 2003 khiến đồng hương phẫn nộ và biểu tình phản đối dữ dội, Linh Mục Trịnh Tuấn Hoàng đòi bỏ cờ vàng tại buổi gây quỹ của ông ta vài tháng trước đây. Thiền sư Thích Thanh Từ đi thuyết pháp tại nhiều tiểu bang ở Mỹ cũng đòi dẹp cờ Vàng trong chùa và cũng bị Phật tử phản đối (CSVN đã “thưởng” công cho ông này một ngôi chùa rất lớn ở tỉnh Tuyên Đức là Trúc Lâm Thiền Viện tọa lạc trên một ngọn đồi dọc theo con đường từ Tùng Nghĩa đến thành phố Đà Lạt). Nhưng với cô Tim, lần này Việt Cộng và Việt Gian nằm vùng thắng lớn! Chiếc áo dài Việt Nam dễ thương trên người cô Tim - Aline , lời nói tiếng Việt nhỏ nhẹ của cô đã làm chúng ta “mềm lòng” đưa đến mất cảnh giác, quên mất mình là ai, đang làm việc gì cho ai và vì ai?

Người “có công” giới thiệu cô Tim với cộng đồng người Việt hải ngoại là Trung Tâm Băng Nhạc Thúy Nga. Trong băng DVD Chân Dung Người Phụ Nữ Việt Nam, MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên đã giới thiệu cô Tim như một người con gái ngoại quốc nhưng có trái tim Việt Nam biết hy sinh hạnh phúc cá nhân để hàn gắn vết thương cho xã hội nghèo khổ Việt Nam. Cô được giới thiệu cùng 1 nữ tu Thiên chúa giáo và 1 ni cô Phật giáo. Cả ba người nhận được 1 số tiền tại chỗ là 30,000 USD (mỗi người nhận 10,000 USD). Đây chỉ là “bước dạo đầu” của “kịch bản từ thiện”. Bước hai như chúng ta vừa thấy trong vài tháng qua, cô Tim đem về nước được cả triệu đô la. Ký giả báo Người Việt thì ca tụng cô Tim là “bà tiên hiền dịu” trong chuyện cổ tích, là “bà mẹ Việt Nam” có tấm lòng nhân ái bao la…

Bọn CSVN bất lương cần tiền của chúng ta để “xoa dịu vết thương” trong xã hội thối tha của chúng nhưng lại xấu hổ không muốn cho các em bé mồ côi, tật nguyền biết được ân nhân đích thực của chúng là ai. Chúng đâu dám nói cho các em biết ân nhân của các em chính là những người bị chúng đánh đuổi ra khỏi nước cách đây hơn 30 năm, phải liều chết bỏ nước ra đi, vượt biển, vượt biên và chịu trăm ngàn cảnh khổ nhục để có được ngày hôm nay. Những ngày đó Việt Cộng gọi chúng ta là “ngụy, là đĩ điếm, là bọn phản quốc, bám chân đế quốc để hưởng bơ thừa, sữa cặn...”. Ngày nay “vật đổi sao dời”, chúng ta thành “khúc ruột ngàn dặm thân yêu” của chúng. Nói đúng ra CSVN chỉ coi chúng ta là “những con bò sữa” hay “những con gà đẻ trứng vàng” mà thôi. “Bà Tiên Hiền Dịu” là Cô Tim đã đi rồi và đồng bào tỵ nạn CS chúng ta tại hải ngoại “không chết” nhưng “bị thương trầm trọng” với những xào xáo, chia rẽ, người bênh, kẻ chống v.v… Lần này một mũi tên Việt Cộng bắn ra, trúng được tới 3 con chim: thứ nhất chúng thu được tiền của đồng bào hải ngoại, thứ hai chúng hạ nhục được cờ Vàng và thứ ba chúng làm cộng đồng chia rẽ! Qua chuyện cô Tim, chúng ta cũng ý thức được những ai là người có trách nhiệm để cho Việt Cộng xâm nhập được vào phòng tuyến chống Cộng của chúng ta tại hải ngoại. Không biết chúng ta có học được gì sau bài học đắng cay này hay không?

Đồng bào Việt tỵ nạn Cộng Sản tại hải ngoại hãy tỉnh thức đi. Lòng nhân ái của chúng ta cần phải được đặt đúng chỗ. Hãy dùng đồng tiền mồ hôi nước mắt của chúng ta vào những công việc ích lợi khác, chẳng hạn như giúp các nhà tranh đấu cho dân chủ trong nước hay giúp đỡ các thương phế binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đồng đội cũ của chúng ta, những người ngày xưa đã hy sinh cho tự do của chúng ta và ngày nay đang bị bạo quyền CS trả thù tàn độc. Chúng ta cũng đừng nên quên góp một bàn tay vào việc xoa dịu vết thương trong lòng xã hội Mỹ là xã hội đã cưu mang chúng ta và gia đình chúng ta những ngày khốn khó năm xưa. Theo báo cáo của Bộ Canh Nông, số trẻ em Mỹ đói ăn năm 2007 lên đến 691,000 (cứ 8 trẻ em thì có 1 em không có đủ thực phẩm để ăn hàng ngày, theo tài liệu đăng trên báo Star Tribune, ngày 18 tháng 11, 2008).

Với tình trạng kinh tế suy thoái như hiện nay con số này còn tăng cao thêm nữa. Đọc báo hàng ngày chúng ta đều thấy số người đến viếng các nơi phát thực phẩm miễn phí (food shelves) đã gia tăng đáng kể khiến các cơ quan từ thiện phải khẩn thiết xin đồng bào trợ giúp. Nếu có từ tâm và có đôi chút tiền bạc dư dả, chúng ta nên mở rộng hầu bao để làm một việc làm có ý nghĩa, cũng là để trả một phần nào món nợ ân tình đối với nước Mỹ, quê hương thứ hai của nhiều người chúng ta. Chúng ta đã bị bọn Việt Cộng xảo trá đánh lừa nhiều lần rồi. Đừng “Lầm” thêm một lần nữa!

Tháng 11, 2008

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Cái chết của ngôn ngữ

Nguyễn Hữu Liêm

"In the beginning was the Word." (John I)

Ở đầu thế kỷ trước, con người ngôn ngữ tây phương, như là hiện tượng nhân văn sau cùng, được khai sinh. Ở giờ phút bắt đầu đó, hắn tuyên bố rằng tất cả các vấn nạn tôn giáo và triết học chỉ là vấn đề của ngôn ngữ. Không hề có vấn đề chân lý tự bản chất - những câu hỏi và khúc mắc siêu hình, nhìn kỹ ra, chẳng qua là sự hiểu lầm về ngôn từ. Ngôn ngữ bắt đầu tất cả. Và cũng chính ngôn ngữ sẽ chấm dứt toàn diện các hiện tượng nhân văn.

Chúng ta hãy nhìn lại. Con người xưa cũ mang ý chí lập danh, nay hắn chỉ muốn lập ngôn. Hắn thấy được rằng nhân loại sống chết theo ngôn từ. Nói như Foucault thì con người chỉ biết yêu sau khi đọc văn chương về yêu đương. Văn thơ làm say đắm, tạo nên hình ảnh, thần tượng. Những thế hệ kế tiếp viết tuyên ngôn và xách động cách mạng. Biết bao tầng lớp thanh niên đã bỏ nhà, gia đình bà con thân thích, lên đường đi vào cõi máu xương gian khổ vì tiếng gọi của khái niệm ngôn từ. Ngôn từ sáng tạo. Ngôn từ huỷ diệt. Văn chương nâng cao tinh thần và đày đọa ý chí. Ngôn ngữ và văn chương là cơn sóng cho con thuyền hiện hữu đi qua biển thế gian vô cùng.

Con người là con vật biểu tượng. Nhưng ngôn ngữ không những chỉ là biểu tượng - mà là của những nhánh cây xa cành từ một gốc rễ huyền nhiệm sâu xa. "Tự khởi thuỷ là ngôi Lời (the Word). Chân lý đã được hình thành và trở nên thực thể, ngôi Lời trở nên thân xác, và ngôi Lời chính là Chân Lý sống giữa chúng ta, mà chúng ta không biết” (John I). Và khi mà chân lý đến voi những cá nhân khao khát tinh thần "quây quần bên nhau" lắng nghe vị thầy phát ngôn về sự Thật (Vedas), mỗi lời nói của vị Thầy chính là Chân lý. Đạo chính là Lời - là "logos."

Thế giới của ngôi Lời có rất ít lời nói. Con người ở đó chỉ nói khi có nguời biết lắng nghe. Trong sinh hoạt của cuộc sống hằng ngày, thiên nhiên nói và ca hát cho nhân loại. Khi mở miệng nói, người ta chỉ muốn đối thoại với Trời và Đất. Con người ít nói chuyện với nhau nếu không cần thiết - vì càng nói thì giữa người và người sự hiểu lầm càng tăng cao. Im lặng, vì thế, là phương cách thông hiểu phổ quát cho gia đình và tập thể.

Cho đến khi nhân loại chuyển sang một thời quán mới của tâm thức, văn viết xuất hiện và dần dần chiếm vai trò của văn nói. Nhưng con người cũng chỉ sử dụng văn tự, chữ viết, cho những nguyên tắc đạo lý sâu xa và vĩnh hằng - còn những gì liên quan đến chuyện thường nhật thì chỉ sử dụng tới lời nói mà không cần văn bản, ấn ký. Văn viết là chiếc cầu của ngôi Lời, bắt nhịp từ Đạo lý, qua sự thuyết giảng và "quây quần lắng nghe," đến một thế giới văn nói chỉ quan tâm đến những vấn đề truyền thông hằng ngày. Nhưng khi chữ viết đã trở nên quá phổ biến, con người ngôn ngữ đã trở nên những trí thức vốn sống nhiều về lý tính qua chữ viết. Người có học, từ đó, theo giòng thời gian càng viết nhiều hơn là nói, đọc nhiều hơn là nghe. Cái học từ đó đồng nghĩa với cái đọc.

Tuy nhiên, vốn là con người sống giữa trần gian, kẻ đọc sách đối diện với một khoảng không mới. Đó là sự trống vắng giữa hai bờ của sách vở, vốn viết về chuyện lâu dài, sâu xa, đối với những mẫu đàm thoại hằng ngày trong cuộc sống đời thường. Đây là lúc một chiếc cầu truyền thông mới xuất hiện: Báo chí.


Khi từ giã thế giới tư tưởng từ sách vở, người thành phố ở Tây Âu thay vào khoảng trống đó bằng báo chí. Hắn càng yêu trần gian đang là, hắn càng mê báo chí. Mỗi trang báo là một ly cà phê đánh thức tri thức và tình cảm về với một thực tại đang đi qua mà chính hắn không muốn dấn thân trực tiếp. Khi đọc báo, hắn chỉ tiếp xúc với biến cố trần gian qua ký hiệu ngôn ngữ in trên giấy. Thân xác của người đọc báo chỉ tiếp xúc với hiện tượng bằng hai cơ năng của tay cầm tờ báo và mắt để đọc. Trong tất cả lục năng tạo nên hiện tượng, tờ báo chỉ cần "sắc" và "pháp" và lại bỏ ra ngoài "thanh, hương, vị, xúc." Thế gian được người đọc tiêu thụ qua ngôn ngữ một cách thụ động.

Nói ngắn gọn: tờ báo chính là thế gian. Lòng khát sống với thế gian nay chính là ý chí muốn trang trải tâm tư vào từng trang báo.

Nhưng thế gian mà tờ báo dọn ra cho độc giả là một mặt hồ nông nỗi, lung linh phản chiếu rất mơ hồ một thực tại không có chiều sâu - chỉ vì ngôn ngữ của báo chí phản ảnh một hiện tượng ngôn ngữ không có nội dung nguyên tắc lâu dài vượt qua khỏi tính bất thường và giảo hoạt của biến cố. Mỗi bài báo là một hoạt cảnh cho một thực tại tuỳ theo góc cạnh tiếp thu và sự trình bày của nhà báo. Nhà báo nào, ngôn ngữ đó. Ngôn ngữ nào, thực tại đó. Con người ngôn ngữ thời nay đã đánh mất chiều sâu của nguyên tắc, của ngôi Lời khi hắn đắm chìm vào thế giới của báo chí.

Trong thế giới ngày hôm nay, ngôi Lời không có nơi trú ngụ. Con người báo chí của chữ viết và trang báo nay cũng đang chết dần mòn. Truyền hình và điện thoại đã lấn vào lãnh thổ của chữ viết. Chữ viết đã xuống ngôi từ lúc nó bị môi trường truyền thông mới của internet hạ bệ. Khi chữ viết xuất hiện trên màn ảnh vi tính, hay trên điện thoại, nó không còn trang trọng để được tôn trọng. Nó không có một sự hiện hữu lâu dài như là trên trang sách, trang báo giấy. Ngôn ngữ báo chí từ internet thì cũng như là lời nói trên điện thoại hay là trên truyền hình. Chữ nghĩa cứ như gió thổi, như mây bay, như nước chảy qua cầu. Chúng xuất hiện và chúng tan đi ngay như bèo bọt của không gian ảo tuỳ theo từng cái click của bàn tay nhấn vào con chuột trên mặt bàn. Thế giới báo chí của internet không những chỉ là ảo, mà là bạc bẽo và vô vị.

Và đó là bản chất của trần gian bây giờ. Mọi người đều thi nhau nói rất nhiều nhưng không có điều gì đáng để lắng nghe; mọi người thi nhau viết thật nhiều nhưng không có điều gì đáng để đọc. Khi ngôn ngữ không còn nội dung chân lý để chuyên chở, không có cái Đạo để cưu mang, thì tất cả chữ viết của báo chí, dù ở phương tiện nào, rồi cũng bị đi vào phận ảo và bạc. "Con chồn có hang, con chim có tổ, nhưng đứa con của con Người (son of Man) - tức là ngôn ngữ - không có nổi chiếc gối để tựa đầu." (Luke IX). Người thời nay, khi họ đã không còn tìm kinh sách, đâu còn tin vào lời lẽ, chữ viết của thánh hiền. Chân lý chỉ là ảo tưởng, ít ai còn tin vào chữ Đạo. Sách vở cũng chẳng mang giá trị nào - huống chi là ngôn ngữ báo chí.

Hễ khi sách vở và báo chí đã không còn là một cưu mang cho lý tưởng, không còn là con đường cho nguyên tắc, không là hiện thân cho ý chí cá nhân và tập thể, thì văn viết đã bị mất chỗ đứng tự trong lòng người đọc. Nguyên nhân của sự xuống dốc này không phải là vì nội dung, lập trường hay là khả năng của người viết, nhà văn hay nhà báo. Mà trái lại. Sách vở và báo chí đã chết khi con người ngôn ngữ thời đại đã không còn tin vào ngôn ngữ nữa.

Cái chết của văn hóa đọc, từ sách vở đến báo chí, và song song với nó là tự do báo chí và tư tưởng, ngôn luận - như trường hợp ở Việt Nam bấy lâu nay - phát xuất từ sự sụp đổ giá trị của văn viết. Khi cả một dân tộc không còn tin vào và coi trọng văn viết thì tự do tư tưởng, ngôn luận, báo chí tự nó chỉ là một trò ảo, để rồi sẽ không có một con người hay tập thể nào tôn trọng - hoặc chịu dấn thân tranh đấu cho lý tưởng này.

Trong cảnh chợ chiều của nhân loại, khi mà ngôn ngữ đang bày ra tràn ngập nhưng không ai coi trọng chúng nữa, chữ viết dù có cho không cũng không ai thèm nhận. Ngôn ngữ không còn là biểu tượng và tự chính nó nay đã là hư không. Văn viết đã mất hồn; văn nói không còn nghĩa. Hãy tin ta đi. Ngôn ngữ đã chết. Vì trong trái tim của nhân loại đương thời thì ngôi Lời đã tắt lửa tự thưở nào.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

SỨC MẠNH CỦA LÒNG TỪ BI

Hạnh Chi

Đại-đế Nã-Phá-Luân của nước Pháp, người từng làm rung chuyển đất trời, sụp đổ lâu đài, thành quách mỗi khi đoàn chiến mã của ông băng qua, nhưng ở lúc cuối đời, đã để lại câu nói:
“Có hai sức mạnh trên thế giới. Đó là sức mạnh của thanh gươm và sức mạnh của tấm lòng. Nhưng chung cuộc, bao giờ tấm lòng cũng đánh bại thanh gươm.”
Hai hình ảnh tương phản đó, là sự hủy diệt và hàn gắn, sự tàn ác và lòng từ-bi.
Sức mạnh của tấm lòng chính là lòng từ-bi. Với sức mạnh này, thanh gươm sẽ bị tấm lòng bẻ gẫy!

Nhân gian đời-thường, sau bao kinh nghiệm chìm nổi, thịnh suy, cuối cùng cũng phải nhận rằng, những gì tưởng là tột đỉnh của lẽ sống, thực ra chỉ là vô thường mà những vết thương trầm thống đó, chỉ có lòng từ bi mới chuyển hóa và trị liệu được.

Lòng từ bi theo lời Phật dạy, chẳng phải chỉ đối với người sống mà còn với kẻ chết. Những oan hồn uổng tử vất vưởng ba nẻo sáu đường biết trông cậy vào đâu để mong giải thoát và tìm đường tái sinh kiếp khác! Nhờ lòng hiếu thảo của Đại hiếu Mục Kiền Liên muốn báo hiếu cứu mẹ thoát khỏi địa ngục mà Đức Phật đã dạy Kinh Vu Lan bồn, cách tứ sự cúng dường cùng việc thí thực cô hồn trong rằm tháng bẩy. Bao hồn oan lang thang đói khát đã nương sức từ bi, trông chờ ngày tháng đó mà có bát cháo no lòng; và quan trọng hơn cả là nhờ công đức hồi hướng chí thành của người cúng thí mà có cơ may gặp duyên lành được giải thoát.

Đây là hình thức chung cho đại chúng, mỗi năm mới cúng một lần. Nhưng vì biết được sự khát khao trông đợi của biết bao oan hồn uổng tử, tuy khuất mày khuất mặt nhưng đau đớn luôn phảng phất, mênh mang trời đất nên có nhiều tự viện vẫn thành tâm thí thực mỗi ngày, hoặc mỗi tuần.
Tôi thấy được điều này ở chùa Phật Tổ.

Hàng tuần, chúng tôi có hai ngày tu niệm Phật thường xuyên là thứ bẩy và chủ nhật. Những Phật tử ở xa, đến từ chiều thứ sáu, nghỉ đêm tại chùa cho đến hoàn mãn lúc 5 giờ chiều chủ nhật. Sau khi hoàn mãn, quý thầy cô trong chùa thường sắp một bàn dài, trước cửa chánh điện, bầy trái cây, bánh kẹo, chè, cháo, để cúng cô hồn. Những Phật tử dự khóa tu đều hoan hỷ ở lại góp lời trì tụng. Mỗi chiều chủ nhật, cư dân địa phương quanh chùa lại nghe tiếng trống của thầy Thường Giới, quyện cùng tiếng khánh, tiếng mõ của các sư-cô, thiết tha mời gọi bao oan hồn gần xa hãy mau về thọ tài hưởng thực, thính pháp văn kinh:

“Thần chú gia trì cam lồ thủy
Phổ thí hà sa chúng cô hồn
Nguyện giai bảo mãn xả xan tham
Tốc thoát U Minh sanh Tịnh Độ
Quy y Tam Bảo phát Bồ Đề
Cứu cánh đắc thành Vô Thượng Đạo
Công đức vô biên tận vị lai
Nhứt thiết cô hồn đồng pháp thực”

Mỗi lần tới đoạn này, chúng tôi đều vừa cất tiếng tụng, vừa nhìn nhau vì cùng nhận được như có sự giao cảm nhiệm mầu:
“Oai linh thần chú phi thường, nước mát biến thành nước cam lộ, cúng thí vô số chúng cô hồn, cầu cho no ấm hết xan tham, thoát khỏi U minh về Cõi Tịnh, quy y Tam Bảo rõ Đạo Mầu, rốt ráo trọn nên bậc Vô Thượng, công đức không lường ở vị lai, tất cả cô hồn đồng Pháp-thực”

Những ai từng dự lễ cúng cô hồn, dù phẩm vật dâng cúng đơn sơ tới đâu nhưng với lời trì tụng chí thành giữa làn khói hương nghi ngút đều cảm thấy ít nhiều bâng khuâng của sự giao cảm âm dương cách biệt.

Tình cờ, tôi vừa đọc được một bài viết rõ nét về sự chiêu cảm nhiệm mầu này, cho chúng ta niềm tin mạnh mẽ hơn về một thế giới vô hình, tuy khoa học không chứng minh được nhưng cũng không thể phủ nhận được.
Bài viết về dịp mới đây, tăng thân Làng Mai sang thăm viếng Viện Phật Học Ứng Dụng Âu Châu (VPHUDAU), danh xưng tiếng Anh là European Institude of Applied Buddism (EIAB), tại thành phố Waldbroel, Đức Quốc.
Tòa nhà này đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử thịnh suy của nước Đức. Theo bài viết, năm 1895, tòa nhà hoành tráng, mênh mông này từng là bệnh viện chính của thành phố, với nhiều phân khoa, trong đó có sản khoa mà nhiều nhân vật tiếng tăm đã từng chào đời tại đây. Nhưng sau đó, bệnh viện này lại trở thành bệnh viện tâm thần và trung tâm nuôi giữ trẻ khuyết tật. Đến năm 1938, chính phủ Đức đương thời muốn trưng dụng làm Hàn Lâm Viện Quân Sự cho quân đội Đức nên đã ra lệnh di chuyển toàn bộ hơn 700 trẻ khuyết tật và những người tâm thần đi đâu, biệt tích!

Sau đó, tòa nhà được sửa sang nguy nga tráng lệ cho một Hàn Lâm Viện bề thế, nhưng quân đội chưa được xử dụng ngày nào thì Hitler thua trận! Ngôi nhà đương nhiên thuộc về Bộ Quốc Phòng, nhưng chỉ thỉnh thoảng dùng làm nơi tổ chức những khóa huấn luyện ngắn hạn cho các sỹ quan. Khi bức tường ngăn cách Đông và Tây Bá Linh sụp đổ thì một lần nữa, số mệnh tòa nhà nổi trôi theo lịch sử, bị bỏ trống lâu năm, rồi cuối cùng, được giao cho Phòng Bất Động Sản của quân đội để bán cho tư nhân.

Với sự nhiệm mầu gần như KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN, ngôi nhà đã được gợi ý thành Viện Phật Học Âu Châu dưới sự lãnh đạo tinh thần của Sư Ông Làng Mai, tức Thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh, thuộc thế hệ thứ 42 của Tông Lâm Tế và thế hệ thứ 8 của phái Liễu Quán.

Những tiến trình sau sự gợi ý này đã tiến nhanh ngoài dự tưởng của những người trong cuộc trên cả hai phương diện, tinh thần và vật chất. Những thương lượng khởi đầu: “Thôi, chúng tôi làm gì có tiền như thế mà mua nổi!”, tòa nhà đã GẦN NHƯ TẶNG KHÔNG, để với thời gian kỷ lục, nay đã thoát xác, thành Viện Phật Học Ứng Dụng Âu Châu.

Mới đây, sáng ngày 14 tháng 11 năm 2008, khi thiền hành trong công viên, Sư Ông chợt thấy trên vườn hoa dẫn vào cổng trước, một phiến đá rất đẹp, trên đó có gắn một miếng đá nhỏ hơn, hình chữ nhật, ghi chi chít tiếng Đức. Một sư-chú đã cúi xuống, đọc và dịch như sau:

“Đây là chứng tích kỷ niệm cách đây 60 năm, cũng vào ngày 14 tháng 11 năm 1938, nhà nước Đức Quốc Xã đã ra lệnh đem 700 trẻ khuyết tật trong tòa nhà này ra, chích thuốc giết chết họ và can thiệp vào bộ phận sinh dục của những người bệnh tâm thần còn khỏe mạnh để họ không thể sinh con.”
Bên dưới những giòng chữ này ghi ngày 14 tháng 11 năm 1998.
Sư Ông Làng Mai và tăng đoàn đều giật mình sửng sốt vì từ khi tiến hành thủ tục nhận tòa nhà này, dù đã đến đây mấy lần nhưng chưa hề nhìn thấy phiến đá, cũng chưa nghe ai nói về sự kiện này. Vậy mà, điều gì đã chờ đợi đến đúng ngày 14 tháng 11 năm 2008, để bước chân thiền hành của vị thiền-sư dừng lại trước phiến đá, ghi nhận được dấu mốc đúng 70 năm sau thảm kịch!

Nhận ra sự trùng hợp kỳ diệu này, chính vị thiền-sư từng thản nhiên trước mọi sự, cũng phải rùng mình!
Thầy Pháp Ấn, vị đệ tử lớn của Sư Ông và cũng là người sẽ chịu trách nhiệm điều hành Phật Học Viện Âu Châu trong giai đoạn đầu đã từng kể rằng, tuần lễ mới về, thầy thường nằm mộng thấy nhiều trẻ em khuyết tật khóc than, cầu cứu. Sáng ra, thầy có kể cho mọi người nghe thì các sư cô đã lập đàn, cúng cháo, bánh kẹo; thì một vài đêm sau đó, có sư cô đã nằm mộng thấy nhiều em bé chạy nhảy, vui đùa, cùng nhau ăn bánh kẹo thỏa thích. Các Thầy Cô nghĩ rằng, có lẽ chỉ vì thành tâm mà có biểu hiện trong những giấc mơ thế thôi.

Nhưng, sau sự khám phá bất ngờ về tấm bia đá ghi chứng tích thảm kịch này thì những dữ kiện đã kết hợp lại với nhau, không gì là tình cờ nữa! Những oan hồn từ thế giới vô hình đang cố gắng truyền đạt nỗi thống khổ của họ tới những ai mà họ tin là có thể bám víu, có thể tin tưởng sẽ cứu vớt họ được.

Thảm kịch xảy ra đã bẩy mươi năm. Suốt thời gian đằng đẵng đó, nỗi oan khổ của hơn bẩy trăm oan hồn, hẳn vẫn kêu khóc tức tưởi ngày đêm, nhưng vô vàn bi phẫn đó vẫn còn nguyên vẹn! Bẩy mươi năm, bao nhiêu ngàn vạn bước chân đã đi ngang, nhưng có lẽ không một tấm lòng nào đủ từ bi khiến bước chân dừng lại! Hoặc có dừng lại, nhưng không đủ năng lượng mẫn ái để cứu giúp!

Vậy thì, đây hẳn là thông điệp kỳ diệu của Chư Phật, Chư Bồ Tát, Chư Thiên, Chư Tiên đã sắp đặt để tòa nhà giam hãm bao oan khiên thống khổ này, nay được trở thành Linh Địa, nơi sẽ hướng dẫn và dìu dắt chúng sanh chuyển hóa và trị liệu thương tích cho nhau, để cùng lên đường giải thoát, giác ngộ.

Sự khám phá trùng hợp, bất ngờ này không những làm sững sờ dân chúng nước Đức mà còn khiến nhiều kẻ vô thần phải hoảng sợ, nghĩ lại về nghiệp báo oan gia, khi vay trả chưa xong thì nợ nần vẫn còn đó.

Lời khấn nguyện với các hương linh tại Waldbroel mà Sư Ông Làng Mai đã soạn để các sư cô cúng tụng mỗi chiều, thể hiện lòng Đại Từ Đại Bi mà Đức Thế Tôn đã truyền dạy ngài Mục Kiền Liên khi xưa:

“Xin hương linh quý vị và các cháu lắng nghe và chứng giám,
Bẩy mươi năm về trước, người ta đã đối xử rất tệ hại với liệt vị. Nỗi khổ niềm đau rất lớn ấy, ít ai thấy được.

Ngày nay, Tăng thân đã tới, đã nghe và đã hiểu tất cả những khổ đau, tủi nhục và uất ức ấy. Tăng thân đã đi thiền hành, đã ngồi thiền, đã thở trong chánh niệm, đã trì chú, tụng kinh, thí thực, để cầu, trên Chư Bụt, chư vị Bồ Tát, chư vị Tổ Sư, xin quý Ngài hồi hướng công đức vĩ đại của quý Ngài cho liệt vị và các cháu, để quí vị và các cháu có cơ hội chuyển hóa, tái sanh ra dưới hính thức mới. Những người đã làm khổ quí vị, họ cũng đã gánh chịu nhiều hậu quả khổ đau. Xin quí vị mở lòng từ bi, tha thứ cho họ, để họ cũng có cơ hội giải thoát và chuyển hóa.

Xin quí vị hộ trì cho Tăng thân và cho các thế hệ hành giả kế tiếp để họ có thể biến nơi này thành một cơ sở thực tập chuyển hóa và trị liệu, không những cho thành phố Waldbroel mà cho cả nước Đức và cả toàn thế giới.”
Lương tâm nhân loại ơi!

Với những huyền bí và mầu nhiệm của sự việc vừa bất ngờ chứng nghiệm và giao cảm, trước sự chứng kiến khách quan và đông đảo của mọi thành phần, chúng ta thử tưởng tượng xem, nếu tòa nhà này, qua sự mua bán bình thường, lại trở thành những địa điểm cung ứng thú vui dục lạc đời-thường, thì bao oan hồn uổng tử kia biết bám víu vào đâu mà mong ngày giải thoát!

Hạnh Chi

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Vợ tôi từng là người đàn bà phóng đãng!

Từ trước khi quen nhau vợ tôi đã không còn là trinh nữ. Chẳng những vậy tôi còn biết trước khi gặp tôi, nàng đã từng qua lại với không ít đàn ông. Không biết trên đời này, ngoài tôi, còn có bao nhiêu đàn ông chấp nhận một người vợ như vậy, nhưng tôi thì có thể. Nguyên nhân rất đơn giản, vì tôi yêu nàng.

Cuộc hôn nhân như vậy liệu có hạnh phúc không? Hai năm vợ chồng đã qua, đến giờ, tôi không hề chủ quan mà cho rằng giữa chúng tôi vẫn rất hoà hợp, nếu không nói là hạnh phúc. Còn tương lai? Tôi không biết, và cũng chẳng cần biết. Hôn nhân của chúng tôi được xây dựng trên cơ sở tình yêu, liệu có vĩnh hằng, liệu có mãi mãi nguyên vẹn tôi cũng không cần biết nữa là. Nhưng có thể khẳng định rằng, nếu một ngày nào đó nàng rời bỏ tôi, hoặc tôi rời bỏ nàng, thì chỉ có thể vì tình yêu đã đổi khác chứ tuyệt đối không do nàng đã từng có quan hệ tình dục với nhiều đàn ông trước khi là vợ tôi.

Kể ra thì đúng là tại số, bởi ngẫu nhiên mà tôi quen được nàng trên mạng. Nàng ít tuổi hơn tôi nhưng lại coi tôi như đứa em. Và không thể ngờ, ngay lần chuyện trò đầu tiên nàng đã nói mình không còn là trinh nữ, hơn thế, đã từng quan hệ theo kiểu tình một đêm với không ít đàn ông. Tôi kinh ngạc, không phải vì nàng hư hỏng, mà bởi sự thẳng thắn và tin cậy của nàng đối với người đàn ông lạ như tôi.

Cũng không thể phủ nhận thoạt đầu tôi đã hiểu lầm nàng, cho rằng nàng nói ra điều đó vì nghĩ vừa quen là tôi lập tức có thể yêu nàng ngay. Một gợi cảm tình dục kỳ lạ lướt qua đầu, nhưng sau đó tôi mới biết đã khiến nàng tổn thương. Nàng không phủ nhận quá khứ tệ hại của mình, nhưng giờ thì chỉ muốn quên đi, để bắt đầu cuộc sống mới, với hy vọng sẽ có được người hiểu nàng, yêu nàng thật sự. Tôi hiểu ra ý nguyện của nàng và ân hận về những lời mình nói trước đó. Rồi trong bối rối ấy, tôi nảy sinh một tình cảm rất khó tả với nàng.

Tôi đã yêu nàng, dù quá khứ nàng là thế. Với nhiều người khác, có thể sẽ rất khó. Gia đình phản đối, bạn bè chê cười, bởi như vậy thì nàng có khác gì đám gái làng chơi là mấy. Ngay nàng cũng khó mà tin nổi tôi thực sự yêu được nàng. Trước đó nàng đã chẳng thể tin vào chuyện tình yêu trên mạng, huống hồ nàng còn cho rằng khoảng cách giữa hai bên là rất lớn.

Sau khi quen trên mạng, chúng tôi chat với nhau một thời gian dài, và cũng nhiều lần điện thoại cho nhau. Nhưng nàng chẳng bao giờ coi tôi như một người yêu cả.

Thế rồi một lần tôi đề nghị gặp mặt, bất ngờ nàng sốt sắng nhận lời.

Trường học nàng nằm ở một khu vực hẻo lánh, phải ngồi gần tiếng đồng hồ xe hơi mới tới được. Tuy đã sống ở Vinh hơn hai chục năm nhưng tôi chưa bao giờ đến đây. Nghe nói trước kia nơi đây là một bãi tha ma, với không ít linh hồn cô độc lang thang. Khi gặp nàng, thấy tuy không xinh đẹp như tôi hình dung, nhưng cũng không thể coi là xấu. Buổi tối đầu xuân ấy, tôi và nàng ngồi bên hồ ngắm cảnh đêm, tán gẫu về mọi thứ chuyện, kể cả tình dục. Nàng chuyện trò theo cái cách người lớn với trẻ con khiến tôi rất bực mình, song đành chịu. Một trang sinh viên mà chưa từng yêu ai, chưa từng hôn cô gái nào, chắc hoá thành gấu mèo mất rồi.

“Muộn quá rồi, không về được nữa, có tìm giúp tôi chỗ nào ngủ lại không?” Tôi hỏi. Nàng không nói gì, kéo tay tôi đến một nhà trọ gần đó.

Sau khi làm xong thủ tục, nàng đưa tôi vào căn phòng nhỏ hẹp đến mức chỉ kê nổi một chiếc giường, à quên, thêm chiếc ghế tựa và một phích nước. Nàng nói cũng thấy mệt, nói chưa xong đã cởi xong áo, nằm lăn ngay ra chiếc giường độc nhất đó. Tôi nhìn nửa thân hình trần trụi của nàng mà run. Nàng có những đường cong tuyệt mỹ, và ngực, mông, đùi nàng sẽ khiến nhiều cô gái thèm muốn và ganh tị. Vậy mà những thứ đó lại không gợi nổi cho tôi một chút thèm muốn xác thịt nào.

Lúc này tôi đã có thể nhìn thấu trái tim nàng, một cô gái từng nói muốn sống cuộc sống của con người bình thường, và còn nói nhất định sẽ làm được. Nhưng cách hành xử này của nàng chỉ chứng tỏ nàng muốn thoả mãn nỗi thèm khát xác thịt của tôi. Thế là tôi bèn cao giọng mà bảo rằng tôi không cần nàng phải bận tâm giúp tôi thoả mãn, tôi chỉ muốn tình yêu của nàng thôi, nhưng dứt khoát không muốn chỉ là người tình một đêm, và lại càng không muốn tình cảm của chúng ta chỉ vì chuyện đó mà chấm dứt. Rồi tôi nhẹ nhàng giúp nàng mặc áo, ôm chặt nàng vào lòng. Nàng gối đầu lên tay tôi, rúc sâu vào lòng tôi: “Bây giờ em mới gặp, mới thấy một người đàn ông thực sự cao cả”.

Sinh nhật 22 tuổi của tôi, nàng đến tận nhà chúc mừng. Chúng tôi uống rượu. Do hơi men kích thích tôi ép nàng nằm xuống, hôn và vuốt ve nàng điên cuồng. Nàng không đáp lại, cũng không phản đối, cứ trân trân nhìn lên trần nhà, một giọt nước mắt trong suốt từ từ lăn ra. Giọt nước mắt như cái tát trời giáng vào mặt tôi. Đột nhiên tôi bừng tỉnh, biết mình đang làm một việc vô cùng xuẩn ngốc. Tôi lui ra xa nàng, ngồi thẳng dậy. Nàng khóc không thành tiếng, rồi hôn tôi đắm đuối, nói rằng. “Em yêu anh, em yêu anh, em mãi mãi yêu anh…” Thế là trái tim chúng tôi đã hoà làm một.

Tôi chưa một lần quan hệ tình dục. Song vì là chưa có điều kiện chứ không phải tôi coi chuyện làm tình là xấu. Nếu cho là xấu thì trên đời này có biết bao đàn ông phải gọi là nhơ bẩn? Trước khi lấy vợ, có mấy đàn ông chưa hề trải qua chuyện đó? Đàn ông có thể dùng tình dục chỉ để tìm khoái lạc thân xác hoặc để khoả lấp những cô đơn, trống vắng trong lòng song tôi không hiểu tại sao nhiều khi, chính những đàn ông đó lại cứ dè bỉu, thậm chí lên án những người phụ nữ từng có quan hệ tình dục trước hôn nhân? Thậm chí đó chính là những phụ nữ đã cùng họ vui vầy. Chẳng phải đó là một minh chứng cho nam quyền hay sao? Tại sao xưa nay chưa thấy phụ nữ đòi hỏi như vậy về đàn ông? Vậy đâu là bình đẳng?

Mỗi ngày tôi yêu nàng mãnh liệt hơn, và nàng cũng yêu tôi không kém. Tôi tin nàng yêu tôi, bởi trong những tháng đó, chúng tôi đã nghiêm túc nghĩ về tương lai, đã gặp bố mẹ của nhau, đã lên kế hoạch tỉ mỉ về việc mua nhà và làm đám cưới.

Điều khiến tôi bất ngờ là một hôm nàng bỗng bình tĩnh thông báo rằng tối qua nàng vừa có cuộc tình một đêm với người đàn ông xa lạ, và cho tôi một tuần để nghĩ xem có thể tiếp tục yêu nàng không?

Thật là những lời như sấm động bên tai. Tôi lặng người đi. Tại sao? Trước đây nàng đã làm những gì tôi có thể bỏ qua hết, thậm chí không cần biết đến nhưng tại sao giờ đây, khi đã yêu tôi, nàng vẫn tiếp tục buông thả mình với người khác giới? Và sao nàng lại có thể nói ra hành động đó một cách bình thản đến vậy? Hay nàng ngựa qen đường cũ? Lẽ nào tôi không thể thoả mãn nổi những đòi hỏi tình dục của nàng, và tóm lại, nàng cần cái gì, tình yêu hay tình dục? Tôi điên mất rồi. Tôi như người lạc lối. Tôi nghi ngờ đôi mắt tôi. Tôi nghi ngờ đôi tai tôi… Chẳng lẽ tôi yêu phải người không đáng được đón nhận tình yêu của mình?

Từ hôm đó, tôi mất hẳn đi năng lực sống. Trong có mấy ngày mà cả người tôi rã rời, bạc nhược, thậm chí còn ân hận vì đã quen nàng, đã yêu nàng. Trái tim tôi chửi rủa nàng, gọi nàng (tha lỗi cho tôi) là đồ điếm. Và tôi còn cho rằng, biết một cô gái không còn trinh mà vẫn yêu thì quả là đồ con lừa, sớm muộn gì cũng mọc sừng.

Nhưng tình yêu thì lại cứ như ma xui quỷ khiến người ta. trước tiên tôi nhận ra rất nhiều thứ trong con người tôi đã gắn liền với nàng. Nếu phải xa nàng, cũng tức là tôi sẽ phải cắt bỏ đi rất nhiều thứ gần như đã là của chính tôi. Như cái sự ngọt ngào của nàng chẳng hạn, nó chiếm lĩnh tôi lúc nào không rõ, để bây giờ nó nối liền các huyết mạch tôi. Vậy thì tôi chia tay sao nổi với nàng.

Thứ bảy, ngày phải lựa chọn đã đến. Và chiến thắng vẫn thuộc về tình yêu.

Dù không giải thích nổi nhưng tôi biết chắc rằng trái tim của tôi đã thuộc về nàng, đã chấp nhận nàng trọn vẹn, cả tốt lẫn chưa tốt. Dù thể xác của nàng có thuộc về vài chục hay đến vài trăm đàn ông đi nữa, nhưng trái tim nàng chỉ thuộc một tôi mà thôi.

Cuối cùng tôi dốc hết dũng cảm bày tỏ với nàng. Nghe xong, nàng khóc như mưa, ôm chặt lấy tôi, điên cuồng hôn tôi, môi run lên bần bật.

“Em biết em không nhìn lầm anh. Em biết anh sẽ bao dung tất cả. Xin lỗi anh, hãy tha lỗi cho cái sự ương bướng của em. Em nói dối anh đấy. Từ khi quen anh, em không hề đi lại với bất kỳ người đàn ông nào khác. Hãy tin em. Đây là lần đầu tiên em thử anh, và sẽ không có lần thứ hai đâu. Em yêu anh, tất cả mọi thứ trong và ngoài thân thể em đều là của anh, mãi mãi.”

Tôi vừa giận vừa mừng, mắng ầm ĩ, nhưng vẫn là mắng yêu.

“Em là đồ chết tiệt, đồ ngu ngốc… Em biết không, chỉ chút nữa thôi là chúng ta vĩnh viễn không còn được bên nhau. Sao em độc ác thế, hả em yêu của anh?”

Ba tháng sau, chúng tôi làm đám cưới. Năm tháng trôi qua, chúng tôi vẫn mê đắm lẫn nhau. Tôi không một chút nghi ngờ gì về tình yêu nàng dành cho tôi. Dù cho thân xác nàng sau này, nói dại, nhỡ có một lần phản bội, thì tôi vẫn cứ phải rộng lượng mà tha thứ cho nàng. Trong cái thời đại vô vàn những mê hoặc và cám dỗ này, ai có thể bảo đảm được mình không có chút tạp niệm trong lòng? Lẽ nào những đòi hỏi về tình dục lại không phải là một trong những bản năng của con người?

(Truyện ngắn Trung Quốc)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

VENICE CŨNG LỤT NHƯ HÀNỘI

Canh lut o Venice, Nuoc Y. Dau chi co mot minh HA NOI tro thanh Ha LOI?Cong truong St Mark rat dep, bay gio thanh... song, quan co'c hang sang nuoc ngap toi MO^NG!!!

Thành phố tình yêu ngập lụt

Thị trưởng thành phố Venice, Italy, cảnh báo dân chúng không nên ra ngoài đường bởi mực nước ở thành phố này lên tới 1,56 mét, cao nhất kể từ 22 năm nay.

Venice vào thu

Image
Công nhân Venice dỡ tấm ván từng được dùng để làm lối đi
qua vùng nước lớn hôm 1/12. Mực nước lên cao khiến các tấm ván này
trôi nổi trên quảng trường St. Mark. Ảnh: Reuters.

Image

Bàn ghế các nhà hàng ở gần quảng trường St. Mark ngập trong lũ. Ảnh: Reuters.

Image

Du khách khiêng hành lý qua nước lũ. Ảnh: Reuters.

Image
Khách hàng ngâm chân trong nước ở cửa hàng bánh. Ảnh: Reuters

Image
Khách bộ hành lội trên con phố nhỏ ở Venice Ảnh: Reuters.

Image
Nước ngập quá đầu gối ở Piazza San Marco. Gần như
tất cả các con đường trong thành phố - kể cả khu du lịch -
đã chìm trong nước. Ảnh: Getty Images.

Image
Du khách đi qua cây cầu Rialto nổi tiếng ở Venice. Ảnh: AP.

Image

Người chèo thuyền ăn sáng. Dịch vụ tàu bè và taxi
ở thành phố này đã ngừng hoạt động. Ảnh: Reuters.

Image
Du khách chụp ảnh cho nhau ở quảng trường St. Mark. Ảnh: Reuters.

Hải Ninh

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tiếng nổ tại khách sạn 5 sao giữa Sài Gòn

Khoảng 10h tối 6/12, một tiếng nổ phát ra từ khách sạn Caravelle quận 1,
TP HCM khiến một mảng trần thạch cao chừng 30 m vuông đổ sập, nhiều cửa kinh bị phá nát.
Toàn bộ tuyến đường xung quanh đã bị cảnh sát phong tỏa.

Theo nhiều người dân sống gần khu vực Caravelle Sài Gòn,
tiếng nổ phát ra từ bên trong khách sạn.

Image
Mảng trần thạch cao ở khách sạn Caravelle bị rớt xuống. Ảnh: MInh Đức
Ngay sau tiếng nổ, cả mảng trần thạch cao lớn của vòm tiền sảnh được thiết kế theo kiến trúc của Pháp nặng hàng trăm kg rơi từ độ cao khoảng 7m đổ sập xuống.

Một nam nhân viên khách sạn bị tấm thạch cao đè lên người. Dưới sàn cổng lớn ra vào phía gần nhà hàng Hoàng Long, bụi mù mịt, mảnh vỡ vương vãi khắp nơi. Mọi người trong khách sạn trong đó có rất nhiều khách ngoại quốc hoảng hốt đổ ra đường. Khách sạn đã di tản mọi người qua lối cửa bên.

Âm thanh của tiếng nổ ngay trung tâm đã khiến người kéo đến đông nghịt trước quảng trường Nhà hát thành phố. Cảnh sát phải phong tỏa các tuyến đường xung quanh cách hiện trường bị sập đổ với bán kính chừng 50 mét.

Khách sạn Caravelle được đặt tại trung tâm quảng trường Lam Sơn, trong lòng TP HCM, được bao quanh bởi những khu mua sắm sầm uất, cửa hàng và trung tâm thương mại, các khu giải trí. Đây là một trong những khách sạn 5 sao hàng đầu ở phía Nam.

Ngay sau tiếng nổ, lực lượng phòng cháy chữa cháy, cứu hộ cứu nạn đã điều 4 xe, 60 nhân viên, cảnh sát đến hiện trường. Lực lượng này đã dùng các phương tiện thủy lực nâng các tấm thạch cao sập để đưa nạn nhân đến bệnh viện Đa Khoa Sài Gòn cấp cứu.

Đại diện Caravelle chưa cung thông tin. Đến 11h đêm, hầu hết các con đường xung quanh đều bị phong tỏa. Hiện vẫn chưa biết nguyên nhân gây ra tiếng nổ.

Nhóm phóng viên

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Joseph Cao trở thành người Việt đầu tiên đắc cử Hạ Viện Hoa Kỳ
Saturday, December 06, 2008

Image
Luật sư Joseph Cao. (Hình: josephcaoforcongress.com)

Image
Luật sư Joseph Cao và gia đình. (Hình: josephcaoforcongress.com)
Đỗ Dzũng/Người Việt

NEW ORLEANS, Louisiana (NV) -- Luật sư Joseph Cao vừa đắc cử chức dân biểu liên bang sau khi đánh bại đối thủ William Jefferson trong cuộc bầu cử tối Thứ Bảy vừa qua, trở thành dân cử gốc Việt đầu tiên trong lịch sử Mỹ tại Hạ Viện Hoa Kỳ.

Luật sư Joseph Cao (Cộng Hòa) đã đánh bại Dân Biểu William Jefferson (Dân Chủ), một người da màu, ngồi trong Hạ Viện Hoa Kỳ chín nhiệm kỳ, giành quyền đại diện Địa Hạt 2 của tiểu bang Louisiana, mà 75% cử tri là người gốc Châu Phi và đa số theo đảng Dân Chủ.

Theo một bản tin của hãng thông tấn AP, luật sư gốc Việt này hiện dẫn trước ông William Jefferson, 52.9% so với 43.2%, sau khi 79% số phiếu được kiểm.

Luật sư Joseph Cao, 41 tuổi, là một luật sư di trú cộng tác với văn phòng Boat People SOS tại New Orleans, từng cho nhật báo Người Việt biết ông ít hy vọng thắng cử vì Dân Biểu William Jefferson là một dân cử đương nhiệm lâu năm.

Ngay cả đảng Cộng Hòa cũng không hy vọng luật sư này thắng cử. Vì thế, trong cuộc bầu cử sơ bộ của đảng này, luật sư Joseph Cao không có đối thủ.

Tuy nhiên, đảng này cũng giúp luật sư Joseph Cao $42,000.

Luật sư Joseph Cao, một cựu chủng sinh dòng Tên và là một nhà hoạt động cộng đồng Việt Nam tại New Orleans, từng ra ứng cử chức dân biểu tiểu bang Louisiana năm 2007 và bị thất bại.

Tuy vậy, trong cuộc bầu cử này, ông thu được khoảng $200,000 từ những người ủng hộ ông.

Khó khăn lớn nhất của luật sư gốc Việt này là làm thế nào thuyết phục cử tri trong địa hạt bỏ phiếu cho ông.

Ông nói với nhật báo Người Việt như sau: “Dân Biểu Jefferson là một người hoạt động lâu năm trong địa hạt. Thách thức lớn nhất của tôi là làm thế nào thuyết phục cử tri đừng bỏ phiếu cho ông ta và bỏ phiếu cho tôi.”

Dân Biểu Jefferson hiện đang chờ tòa kết án vì tội nhận hối lộ $90,000.

Luật sư Joseph Cao đến Hoa Kỳ năm 1975 cùng với một người chị và một người em trai, để lại cha mẹ năm anh chị em khác tại Việt Nam.

Cha của ông, một cựu sĩ quan QLVNCH, sau đó bị tù cải tạo bảy năm và mãi đến năm 1991 cả gia đình mới đoàn tụ.

Khi mới đến Hoa Kỳ lúc 8 tuổi, luật sư Joseph Cao học trung học Jersey Village High School, Houston, Texas.

Năm 1990, ông tốt nghiệp cử nhân vật l‎ý tại đại học Baylor University, Waco, Texas.

Sau đó, ông vào dòng Tên với ‎ý định trở thành linh mục và về sống ở New Orleans năm 1992.

Sau đó, ông Joseph Cao được nhận vào đại Fordham University, New York, và tốt nghiệp cao học triết năm 1995.

Sau khi tốt nghiệp, ông trở về New Orleans dạy triết và đạo đức tại đại học Loyola University.

Một năm sau, ông rời dòng Tên và sang tiểu bang Virginia dạy học và tham gia vận động cho người tị nạn Việt Nam được vào Hoa Kỳ với tổ chức Boat People SOS.

Năm 1997, ông trở về New Orleans, vừa học luật vừa dạy triết tại đại học Loyola University.

Ông tốt nghiệp bằng luật năm 2000 và làm việc cho công ty luật Waltzer Law Firm và làm cố vấn cho Boat People SOS tại New Orleans.

Luật sư Joseph Cao có vợ là bà Hiếu “Kate” Hoàng và hai cô con gái, Sophia và Betsy.

Năm 2002, luật sư Joseph Cao được Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận New Orleans chọn vào Hội Đồng Cố Vấn Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.

Ông nói với đài truyền hình CNN rằng “đây là sự kiện quan trọng khi có một người gốc Việt trong Quốc Hội Hoa Kỳ để đại diện cho 1.5 triệu đồng hương của ông tại Mỹ.” (Đ.D.)

Post Reply