Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Ông Xã

Gã Siêu
Có những đêm không ngủ, lồm cồm bò dậy, gã bèn thầm thĩ cám ơn Thượng đế vì đã thương cho gã được sinh ra đời dưới một ngôi sao sáng. Ngôi sao sáng ấy chính là thân con giai, chính là kiếp của anh đờn ông.

Thực vậy, nếu so sánh đờn ông với đờn bà, gã liền nghiệm ra rằng: - Đờn bà sao mà lắm chuyện nhiêu khê rắc rối quá vậy.

Chẳng hạn về cơ thể
Cơ thể chị đờn bà phức tạp hơn anh đờn ông một trời một vực. Nhất là tháng nào đờn bà cũng phải trải qua những ngày xiểng liểng và xính vính, chẳng muốn thò mặt ra ngoài đường, chẳng muốn động móng tay lay thử bất kỳ một việc nào cả. Thậm chí con ruồi đậu vào mép cũng chẳng buồn xua. Thế nhưng, nếu không có những ngày xiểng liểng và xính vính ấy thì đâu còn phải là đờn bà con gái nữa.

Chuyện rằng: Một hãng phim nổi tiếng tại “Hồ ly vọng” bên Mỹ, kinh đô điện ảnh của cả và thế giới, người ta đành phải cho nghỉ việc trong những ngày xiểng liểng và xính vính của cô đào chính. Thế là cả một bầu đoàn thê tử, từ ông đạo diễn tới các tay chuyên viên đều được ngồi chơi xơi nước và ngáp vặt. Kẹt lắm thì mới phải làm. Và nếu có làm thì cũng phải hết sức tế nhị và vô cùng dịu dàng, kẻo cô đào chính ấy mà nổi máu tam bành lục tặc lên, thì quả là rách việc.

Nói thế là để cho phe đờn ông con giai, nhất là mấy anh chồng thông cảm và hiểu cho thân phận đờn bà. Chớ nên táy máy, gây ồn ào hay bắt chị vợ phải lao động cật lực, như làm đồ nhậu, đãi đằng bè bạn trong những ngày… đèn đỏ bật sáng.

Chẳng hạn về áo quần
Áo quần của chị đờn bà lủng củng hơn anh đờn ông rất nhiều. Mỗi lần có công việc mà phải đi chung cùng với cô em gái. Áo quần của gã thì chỉ cần một cái túi nhỏ cũng chưa đầy. Còn của cô nường hử ? Một va li to đùng cũng vẫn còn thiếu. Ấy là chưa kể đến những thứ phụ tùng lỉnh kỉnh khác nữa như : gương và lược, son và phấn…lại phải một cái bóp nhỏ cho cái dịch vụ làm đẹp này.

Tuy nhiên, cái lý do chính khiến gã phải thầm cám Thượng đế trong suốt cả cuộc đời, đó là đờn ông con giai được cưng hơn đờn bà con gái.

Thực vậy, từ cổ chí kim, từ đông sang tây, ngoại trừ một vài trường hợp rất ư là họa hiếm, trong đó đờn bà làm tới chức nữ hoàng, tổng thống, thủ tướng hay bộ trưởng…còn phần đông đờn bà con gái đều bị coi rẻ và không có lấy được một địa vị đáng kể nào trong xã hội, chính vì vậy, các cụ ta ngày xưa đã bảo :
- Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô. Một cậu con giai đã là có, mười cô con cái vưỡn kể là không.
Sở dĩ các cụ ta ngày xưa quan niệm như thế vì do ảnh hưởng của Khổng giáo. Bởi vì theo Khổng giáo :
- Một trong ba điều đại bất hiếu, đó là không có con giai để nối dõi tông đường.

Chuyện rằng: Hai vợ chồng nhà kia đẻ một ruỗi được năm cô con gái. Người tốt thì khen hai vợ chồng ấy thật may mắn vì có được “ngũ long công chúa”, còn kẻ thối mồm thì nói cạnh nói khóe, nói xỏ nói xiên mỗi khi gặp anh chồng :

- Thế nào lũ vịt giời nhà ông đã có con nào…toi chưa ?

Anh chồng rất lấy làm đau khổ. Thấy anh chồng mỗi ngày một héo hắt và quay quắt, khiến chị vợ vô cùng xót xa, như chính mình bị héo hắt và quay quắt vậy. Ngày nọ chị vợ bàn với anh chồng :

- Hay là mình mướn người đẻ giùm ?

Anh chồng lúc đầu chối bai bải, viện cả tục ngữ ra mà bênh vực cho thái độ chung thủy, cũng như phớt tỉnh Ăng lê của mình :

- Gái mà chi, trai mà chi,
Sinh ra có nghĩa, có nghì là hơn.

Thế nhưng, tự thâm tâm anh chồng cũng cảm thấy bất ổn với lũ vịt giời nhà mình, nên sau một thôi một hồi năn nỉ ỉ ôi của chị vợ, anh chồng cũng đành miễn cưỡng đồng ý.

Và thế là chị vợ bèn đi tìm một cô gái khỏe mạnh, thảo một hợp đồng rõ ràng rành mạch như một hợp đồng kinh tế để mang bầu thay cho mình: Sinh xong thì trả con lại và được hưởng một số tiền, rồi ai về nhà nấy. Chấm hết.

May thay cô gái sinh được một mụn con giai.

Thế nhưng, liền sau đó thì hợp đồng bị bể cái rụp. Sở dĩ như vậy là vì cô gái không muốn trả lại đứa con. Còn anh chồng, vì qua lại thăm con nhiều lần, nên lửa tình nhen nhúm, rồi cuối cùng đã bỏ chị vợ để mà cắm dùi bên nhà cô gái.

Đến lúc này, chị vợ mới sáng mắt ra thì đã quá…muộn.

Bên Trung đông và nhất là những người theo đạo Hồi, đờn bà con gái mỗi khi ra đường còn phải che mặt, để khỏi bị thiên hạ nhìn thấy, bởi vì dung nhan mỹ miều ấy chỉ được dành cho một mình đức ông chồng thưởng thức mà thôi.

Riêng trong lãnh vực gia đình, nền luân lý Khổng mạnh còn đưa ra những qui luật thật chặt chẽ và nghiệt ngã cho số kiếp của đờn bà, đó là tam tòng:

- Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Nghĩa là người con gái khi còn ở nhà thì phục tùng cha, khi đi lấy chồng thì phục tùng chồng, còn khi chồng chết thì phục tùng con.

Trong khi đó, nền luân lý này lại nới lỏng và nhẹ tay đối với đờn ông con giai khi cho phép :

- Trai năm thê bảy thiếp.

Còn :

- Gái chính chuyên chỉ có một chồng.

Bên Ấn độ, quê hương anh bảy Chà và, có nơi người ta còn tuân theo một tập tục được liệt vào hàng dã man, đó là khi anh chồng mà ngỏm, thì chị vợ và các thê thiếp của anh ta cũng phải “đi ngủ với giun” để theo hầu anh ta nơi chín suối.

Không phải chỉ xã hội, mà hình như chính Thượng đế cũng thiên tư và cố tình cưng phe đờn ông con giai hơn.

Thực vậy, các cụ ta ngày xưa cũng bảo: - Gái tham tài, trai tham sắc.

Mà tài thì càng phát triển theo thời gian, còn sắc thì ngược lại, bị thời gian làm cho tàn phai, như tục ngữ đã dạy :

- Giai ba mươi tuổi đương xoan,
Gái ba mươi tuổi đã toan về già.

Chỉ có những kẻ cù nhầy theo kiểu “nhất lý nhì lỳ tam ì tứ ẩu” như gã mới dám mở mồm mở miệng ra mà phét lác :

- Giai ba mươi tuổi đã già,
Gái bốn mươi tám đang ra má hồng.

Sinh ra đã thiệt thòi, lớn lên đờn bà con gái lại càng thiệt thòi hơn, bởi vì bản thân đã trở nên một nỗi lo âu ám ảnh cho cả bố lẫn mẹ :

- Cha chết không lo bằng gái to trong nhà.
- Gái lớn trong nhà như ma chửa cất.
- Gái chậm chồng, cha mẹ khắc khoải.

Kẻ sính vũ khí đạn dược thì bảo: - Có con gái lớn như chứa một trái bom trong nhà, không biết nó sẽ phát nổ lúc nào.

Rồi đến khi đi lấy chồng, tương lai của đờn bà con gái như một canh bạc, phó mặc cho may rủi, chứ ít khi được làm chủ quyết định cũng như cuộc đời của mình : Phận gái mười hai bến nước, may thì vào bến trong, còn chẳng may thì vào bến đục. Phận gái như giọt mưa sa, may thì rơi xuống chỗ tốt, còn chẳng may thì rơi xuống đống bùn :

- Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

- Thân em như giếng giữa đường,
Người khôn rửa mặt, người thường rửa chân.

Và nhiều khi đã xảy ra những chuyện tréo cẳng ngỗng khá đau lòng :

- Tiếc thay cây quế giữa rừng,
Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo.

- Tiếc thay cái chậu nước trong,
Để cho bèo tấm, bèo ong dạt vào.

- Tiếc thay hạt gạo trắng ngần,
Đã vo nước đục, lại vần than rơm.

Tuy nhiên, nhiều khi đã yên bề gia thất, thế mà đờn bà con gái vẫn phải cắn răng chịu đựng những thiệt thòi chỉ vì những thói hư tật xấu của anh chồng.

Thực vậy, chân tướng của anh chồng nào cũng đều có những nét dễ ghét và không thương nổi. Hôm nay, gã xin nói tới một nét dễ ghét và không thương nổi ấy, đó là cái thói độc tài và độc đoán.

Vậy độc tài và độc đoán là kí gì ?

Theo gã nghĩ : - Độc đoán là quyết định hoàn toàn theo ý riêng của mình, phe lờ mọi góp ý của người khác.

Còn độc tài thì bao trùm một lãnh vực rộng lớn hơn : - Dành hết mọi quyền hành cũng như quyền lợi cho bản thân hay phe cánh của mình.

Đây cũng chính là cái thói hư mà nhiều anh chồng đã mắc phải hay đang thích mắc phải.

Thực vậy, vào cái thưở ban đầu lưu luyến ấy, anh chàng đã tỏ ra vô cùng ga lăng và hào hoa phong nhã. Đối với cô nường, thì anh chàng “cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa”. Cô nường muốn gì thì anh chàng cũng hết sức chiều theo, cho dù lắm lúc chẳng có được một đồng xu dính túi.

Hay nói theo kiểu vua Hêrôđê : - Ái khanh muốn gì thì cứ xin. Cho dù một nửa nước, trẫm cũng vưỡn sẵn lòng.

Thế nhưng, khi ván đã đóng thuyền, cô nường đã trở thành chị vợ thì bất nhóc nhách. Và thế là “a lê hấp”, anh chồng bèn quay phắt một trăm tám mươi độ, tính tình bỗng trở nên bẳn gắt, mồm miệng thì luôn chửi bới. Quả thực anh chồng đã để lộ chân tướng “vũ phu chi cục mịch” của mình, như tục ngữ diễn tả :

- Khi chưa, cầu lụy trăm đàng.
Được rồi, thì lại phũ phàng làm ngơ.

Cộng thêm vào đó là lời khuyên răn :

- Dạy con từ thưở còn thơ,
Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về.

Và như thế, anh chồng được đà, mặc sức thao túng chiến trường, tha hồ mà biểu lộ sự độc tài độc đoán của mình dưới mọi hình thức.

Trước hết là trong tư tưởng.

Anh chồng thường cho rằng cái gì mình nghĩ đều là đúng, là phải, còn cái gì chị vợ tưởng đều là sai, là trái. Bởi vậy, hễ chị vợ mở miệng nói lên sự gì thì liền bị kê tủ đứng :

- Đờn bà con gái biết cái chi mà nói.

Sở dĩ như vậy, vì những tư tưởng của tiền nhân đã in sâu vào đầu óc vốn ưa “hách xì xằng” của anh chồng :

- Khôn ngoan cũng thể đờn bà,
Dù là vụng dại cũng là đờn ông.

Và anh chồng đã nhìn chị vợ bằng nửa con mắt :

- Đờn ông nông cạn giếng khơi,
Đờn ba sâu sắc như cơi đựng trầu.

Cơi đựng trầu thì có được là bao, nên chi anh chồng thường chép miệng thở dài với một thoáng khinh khi: - Ôi giào, đờn bà con gái ấy mà.

Anh chồng đang sống trong thời buổi văn minh tin học, thế mà lại rất sính nền luân lý Khổng mạnh, vì nền luân lý này vốn bênh vực quyền lợi của đờn ông con giai, nên ngu gì mà không chuộng.

Ngoài chuyện áp đặt tam tòng, tức là ba sự cần phải phục tùng, như đã trình bày ở trên, nền luân lý này lại còn tròng vào cổ đờn bà con gái cái ách “phu xướng phụ tùy”, anh chồng phán điều chi thì chị vợ phải răm rắp làm theo, không được ý kiến, ý cò chi cả.

Thế nhưng, chuyện đời nhiều lúc chẳng đơn giản tí nào, hơn thế nữa :

- Việc người thì sáng,
Việc mình thì quáng.

Thành thử mới cần phải đón nhận những ý kiến xây dựng của người khác để mở rộng đường dư luận. Bởi vì những ý kiến này thường khách quan hơn, nên dễ tìm ra được những giải quyết vừa hợp tình lại vừa hợp lý.

Trong khi đó, đầu óc của anh chồng vốn nghiêng về suy luận và tổng hợp, còn đầu óc của chị vợ lại thường nghiêng về trực giác và chi tiết. Vì thế, thiên hạ đã bảo : - Cái nhìn đúng, không phải là cái nhìn của chàng hay của nàng, mà là cái nhìn của cả hai đứa chúng mình.

Đồng thời, như các cụ ta thường nói : - Thuận vợ, thuận chồng tát bể đông cũng cạn.

Điều lý tưởng nhất đó là sau khi đã bàn bạc, lắng nghe và trao đổi, vợ chồng đi tới một sự nhất trí, rồi cùng cộng tác với nhau để thực hiện điều đã nhất trí ấy, thì theo gã nghĩ : Khó khăn nào cũng sẽ được vượt qua.

Tiếp đến là trong lời nói.

Ngày xưa thì :
- Anh anh, em em.
Hay :
- Mình ơi.
Chí ít thì cũng :
- Mẹ thằng cu…Má cái đĩ.

Còn bây giờ, nhất là khi cơn giận nổi lên bừng bừng, rồi tẩu hỏa nhập ma, phát ngôn bừa bãi theo kiểu mày tao chi tớ :

- Cái con mẹ mày…cái con mụ nọ.

Lời lẽ thì thô tục cộc cằn, như dùi đục chấm mắm tôm. Rồi lại còn cho nhau ăn đủ thứ cao lương mỹ vị đến quỉ thần cũng không lường nổi.

Anh chồng cứ gân cổ mà nói thật lớn, cứ y như rằng càng nói lớn bao nhiêu thì sự thật sẽ nằm trên phần đất của mình bấy nhiêu. Tới nước này, lắm chị vợ không còn kìm nổi sự chịu đựng và nhường nhịn của mình nữa, nên cũng đốp chát, thành thử làm điếc lỗ nhĩ hàng xóm, như một câu danh ngôn đã bảo :

- Trước khi cưới, anh nói thì chị nghe, còn chị nói thì anh nghe. Liền sau khi cưới, anh nói thì anh nghe, chị nói thì chị nghe. Còn lâu sau khi cưới, thì cả hai cùng nói, nhưng hàng xóm phải nghe.

Anh chồng thường áp dụng chiến thuật : cả vú lấp miệng em. Việc đầu tiên là phải chửi cái đã, chửi phủ đầu vì chửi chậm sẽ…chết. Giống như mấy ông tài xế, chẳng may gây tai nạn giao thông, thì chẳng cần biết nạn nhân bị thương nặng hay nhẹ, sống hay chết…cứ việc vô tư hoa chân múa tay, mở to mồm mà chửi, vì nếu không chửi thì sợ rằng người khác sẽ chớp mất lẽ phải, hay lẽ phải sẽ bị bay hơi.

Lý luận của anh chồng trong nhiều hoàn cảnh thật ngang còn hơn cả cua, thế mà vưỡn vỗ ngực cho mình là đúng, là phải, nhất là lý luận trong cơn say, cơn xỉn, thì quả là hết nước nói :

- Tao đã bảo cái con mẹ mày hai với hai là năm đấy. Giỏi thì cãi lại coi.

Anh chồng nói để mà nói, nói để mà áp đảo đối phương, chứ nào còn nhớ tới lời khuyên :

- Lời nói chẳng mất tiền mua,
Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau.

Sau cùng là trong việc làm.

Đức Kitô đã dạy : - Lòng đầy thì mới tràn ra ngoài.

Và chúng ta cũng bảo : - Tư tưởng thì hướng dẫn hành động.

Một khi đã cho mình là đúng, là phải, thì anh chồng thường biểu lộ sự độc tài độc đoán của mình ra bên ngoài qua những lời nói đao to búa lớn, coi trời bằng vung, huống chi là chị vợ. Hơn thế nữa, còn được biểu lộ qua những hành động chuyên chế và áp đặt đối với vợ con trong nhà.

Thực vậy, cung cách cư xử của anh chồng là cung cách “chồng chúa vợ tôi”, có nghĩa là chồng làm chủ, còn vợ làm tôi đòi phục vụ từ A đến Z, từ đầu chí cuối.

Mặc dù thời buổi bây giờ là thời buổi nam nữ bình quyền, thế mà gã vẫn thấy trong một vài gia đình, tới bữa cơm ông bố hay anh chồng ngồi chễm chệ một mình một cỗ riêng biệt. Bao nhiêu thịt thà cá mú phải được dành ưu tiên cho “lão chủ phải gió” này. Sau khi lão ta đã xơi no đủ phủ phê, thì mới tới lượt vợ con.

Thật tội nghiệp cho chị vợ mỗi khi anh chồng tổ chức ăn nhậu đãi đằng bè bạn. Vừa vất vả mua sắm và nấu nướng, mồi hôi mồ kê chảy xuống đầy mặt ròng ròng, vừa phải dọn dẹp rửa ráy, ấy là chưa kể tới việc các đấng mày râu quá chén đến nỗi cho chó ăn chè, phải thu dọn chiến trường đã bị ô nhiễm một cách nồng nặc này.

Gã đã được tham dự bữa tiệc mừng thượng thọ của một anh chồng. Người ngoài khi nghe bốn tiếng “tiệc mừng thượng thọ”, cứ ngỡ anh chồng này chí ít cũng phải ngót nghét bảy mươi, như cổ nhân đã bảo :

- Thất thập cổ lai hy.

Ai dè anh chồng mới vừa tròn bốn mươi, nên mừng tứ tuần để sớm được hưu non, cũng như để sớm được lên lão mà cà kê dê ngỗng với “các cụ trong rân”, theo kiểu Tú xương :

- Việc nhà phó mặc cho bu nó,
Quắc mắt khinh đời cái bộ anh.

Thái độ độc tài và độc đoán còn được biểu lộ một cách rõ ràng hơn cả qua công tác dạy vợ. Thường thì những anh chồng này dạy bằng bạo lực, bởi vì vũ phu chi cục mịch vốn là nghề của chàng.

Trước hết, là quẳng nồi niêu xoong chảo, bát đĩa…ra ngoài sân mỗi khi bực bội tức tối trong lòng. Tiếp đến, là thượng cẳng chân hạ cẳng tay cho chị vợ ăn đòn.

Sau đây gã xin ghi lại một vài quái chiêu mà những anh chồng vũ phu đã sử dụng để dạy cho chị vợ một bài học. Những quái chiêu này đã được báo Công an đăng tải.

Quái chiêu thứ nhất, đó là dạy vợ bằng dao :
Với cung cách sinh hoạt “chồng chúa, vợ tôi” đã quen, nên Lê ngọc Ân, ngụ tại Gò vấp, rất dễ nổi cơn thịnh nộ mỗi khi vợ làm trái ý mình. Ngày 12.5.1999, Ân bảo vợ đi mua xe nước mía về bán, nhưng chị Nguyễn thị như Hoa, vợ của y, chưa mua được. Thế là Ân nổi giận đùng đùng, ra tay…cạo đầu vợ để lấy uy tín. Tàn nhẫn hơn, y lại cạo bằng…dao Thái lan, khiến chị Hoa bị rách cả mảng da đầu, máu ra nhiều đến nỗi bất tỉnh phải dưa vào bệnh viện cấp cứu. Hiện gã chồng vũ phu đã bị bắt giữ về tội dùng dao hành hạ vợ.

Quái chiêu thứ hai, đó là dạy vợ bằng lửa :
Vì tức giận, nên Nguyễn văn Son 30 tuổi, ngụ tại Kiên giang, vào ngày 5.6.1999 sau khi đi uống rượu về, hắn đã trói vợ là chị Lý thị Oanh và đổ dầu vào chị rồi châm lửa đốt. Phát hiện vụ “nướng vợ” này, bà con lối xóm vội đến cứu chữa, nhưng chị Oanh đã bị phỏng nặng. Nguyễn văn Son đã bỏ trốn và hiện đang bị truy nã.

Hẳn là còn nhiều quái chiêu khác nữa, nhưng bằng đó cũng đã đủ để cho thấy việc dùng bạo lực để dạy vợ là điều không thể chấp nhận được. Nồi niêu xoong chảo bị đập bể, thì rồi chính anh chồng lại phải nai lưng ra kiếm tiền mua sắm lại. Chị vợ mang thương tích thì chính anh chồng lại mất công, mất của mà thuốc thang chạy chữa. Còn nếu chẳng may chị vợ chết luôn thì bản thân anh chồng sẽ vào tù để đền tội, bàn dân thiên hạ sẽ coi anh ta là hạng vũ phu, còn gia đình chắc chắn sẽ lâm vào cảnh nheo nhóc và tan nát.

Để kết luận, gã xin ghi lại nơi đây một kiểu dạy vợ khác, theo chiến thuật “bất bạo động” của ngài Gandhi, vị anh hùng của dân tộc Ấn độ.

Kiểu dạy này đã được đăng trên báo Phụ nữ qua tâm sự của một anh chồng:

Tôi và vợ tôi lấy nhau vì tình yêu. Chúng tôi là bạn trước khi là người tình. Chúng tôi rất hiểu nhau, vậy mà khi đã sống chung, chúng tôi đã có không ít những mâu thuẫn, kình cãi. Từ những lần xung đột như vậy, tôi mới bắt đều nhận ra tính cách của chúng tôi mới khác nhau biết bao.

Tôi điềm đạm, còn cô ấy nóng nảy. Tôi hiền, còn cô ấy dữ. Tôi vốn tiết kiệm lời, còn cô ấy lại hay nói. Tôi dễ bỏ qua, còn cô ấy luôn chấp nhất…Ngán ngẩm thật và gay go thật để tìm ra một giải pháp cho vấn đề của vợ chồng tôi.

Thế là…
Khi cô ấy làm rùm beng lên về một chuyện gì đó. Tôi chẳng dại gì mà hé môi. Cô ấy thắc mắc, tôi vẫn đủ khôn ngoan để mà không mở miệng. Cô ấy to tiếng, tôi vẫn đủ bình tĩnh để mà làm thinh. Cô ấy càm ràm mãi, tôi vẫn đủ sáng suốt để mà yên lặng.
Tôi còn nhớ kỷ niệm này.

Lần đó, khi vợ tôi nổi cơn tam bành, tôi im lặng. Cô ấy không chịu. Tôi đọc báo. Cô ấy giật tờ báo. Tôi im lặng. Cô ấy hùng hổ :

- Thà anh đánh em.

Tôi im lặng. Cô ấy lao vào tôi : - Thà anh đuổi em.

Tôi im lặng. Tôi mở nhạc, cô ấy tắt. Tôi im lặng. Tôi lên giường nằm khép mắt, cô ấy vạch mắt tôi ra. Tôi im lặng. Thế là cô ấy ngồi phịch xuống và khóc. Tôi vẫn cứ im lặng.
Khóc chán, cô ấy đưa mắt lên…kiếm tìm. Bắt gặp. Tôi không đành im lặng nên…cười.

Thế là…

Vợ tôi bây giờ ư ? Tất nhiên là rất tuyệt.

Bạn hãy lời xúi dại của gã, cứ thử làm như thế một lần xem sao ? Kết quả thế nào nhớ báo cho gã được hay.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Cua "Đào" Xưa và Nay

Hưng Yên
"Cua đào" hay "tán gái" thì cũng thế, nhưng theo thiển ý của chúng tôi thì hai tiếng “cua đào” nó có vẻ nhẹ nhàng, thanh nhã hơn là dùng hai tiếng “tán gái”, nó vừa quê quê, vừa tục tục làm sao ấy. Thế nhưng các cụ ta ngày xưa chắc chắn chỉ mới có từ tán gái hoặc ve gái chứ làm gì đã có từ cua đào. Có nơi chúng tôi còn nghe các cụ ấy bảo là đi “lơn” gái nữa cơ. Nhưng chữ “lơn” sao thấy nó thô tục quá, thành ra chúng tôi không dùng ở đây.

Cua đào là tán gái, có nghĩa là thấy người con gái hay người đàn bà nào mà mình thích thì dùng cách ve vãn, lấy lòng để được gần gũi hầu thực hiện những ý đồ mà mình toan tính ở trong lòng. Có lẽ không ai có thể nói chắc chắn được là các cụ ta ngày xưa cua đào như thế nào, có viết thư kẹp vào sách hoặc làm thơ rồi dúi vào tay người đẹp như chúng ta bây giờ hay không? Ðiều này chúng tôi thấy là không ổn vì các cụ bà của chúng ta ngày xưa rất ít có người được cắp sách đến trường, nói cho rõ ràng hơn là hiếm có người biết chữ lắm. Cái cỡ như các bà Ðoàn Thị Ðiểm, bà Huyện Thanh Quan, bà Hồ Xuân Hương thật là hiếm, quý, không đủ để đếm cho đầy 10 đầu ngón tay. Ðến như bà cụ thân sinh ra chúng tôi đây, cũng chưa đựơc kể là “cổ ” gì cho lắm, mà khi chúng tôi đã có trí khôn, nghe cụ nói lại thì cụ cũng có được theo học chữ Nho một ít lâu nhưng đến nay đã quên sạch rồi, còn chữ Quốc Ngữ thì chỉ A B C dắt dê đi ị! Thế thì bảo làm sao mà cụ ông viết thư “tán” cụ bà được chứ?! Như vậy chứng tỏ là các cụ ta ngày xưa rất khó cua đào bằng “chữ ”, mà chỉ có thể cua đào bằng “miệng”.

Một cái khó khăn của các cụ ta ngày xưa nữa là, theo quan niệm về lễ giáo ngày đó thì đàn bà con gái chỉ quanh quẩn ở trong nhà, ngoài đường ngoài xá là nơi chốn của đàn ông:

Gái thì giữ việc trong nhà
Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa
Trai thì đọc sách ngâm thơ
Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa...
(dân ca VN)


Hoặc:

Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây (Chinh phụ ngâm)

Thế thì dễ gì gặp mặt để mà tán tỉnh được, bởi vậy các cụ ông cụ bà ta ngày xưa lấy nhau phần lớn là do sự sắp đặt của cha mẹ, hoặc là do mai mối, các cụ chẳng cần phải tìm hiểu, phải yêu trước như chúng ta bây giờ, cứ về ăn ở với nhau, sinh con đẻ cái rồi tình yêu từ từ đến sau. Do phần lớn các cụ bà không biết chữ, thành thử các cụ ông chỉ có thể “cua” các cụ bà bằng “miệng”, mà cua bằng miệng thì phải mặt đối mặt mới cua được. Trong cuốn Tục Ngữ, Thành Ngữ, Ca Dao và Dân Ca Việt Nam của Soạn giả Trần Ngọc Ngải có cả thẩy 16.347 câu, nói về đủ mọi vấn đề, riêng về “cua đào” có lẽ tiêu biểu nhất là những câu dưới đây:

Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây tím chung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Ðể anh mua gạch bát tràng về xây
Xây dọc anh lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân...


Hoặc:

Ðường đi trăm dặm anh qua
Mượn mình làm mối cho ta một người
Một người mười tám đôi mươi
Một người vừa đẹp vừa tươi như mình...


Rõ nét và hay nhất có lẽ là bài “Ðêm Qua Tát Nước Ðầu Ðình”:

Ðêm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà?
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu
Áo anh sứt chỉ đã lâu
Muốn nhờ cô ấy vào khâu cho cùng...


Mượn cớ tát nước ngoài đầu đình bỏ quên cái áo để tìm cách lân la nói chuyện, sau đó tả oán: Áo anh sứt chỉ đã lâu mà vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu, vậy anh muốn nhờ cô ấy vào khâu cho, được không?

Khâu rồi anh sẽ trả công
Ðến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho


Rõ ràng quá rồi, có công xá đàng hoàng chứ không phải làm chùa. Mà anh trả công cô nàng bằng cái gì? Bằng sôi vò, bằng lợn béo, bằng rượu tăm, bằng đôi chiếu cho em nằm, bằng đôi chăn cho em đắp, đôi tằm cho em đeo... Ngoài ra còn quan tám tiền treo, quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau... Hậu hĩnh quá, nhưng khi nghĩ lại thì toàn là những thứ mà một anh chàng sắp lấy vợ phải có hoặc phải sắm, thế thì rõ ràng chồng em là anh chứ còn ai vào đấy nữa? Anh vừa khôn vừa láu cá bỏ mẹ!...

Ðó là những câu “tán” tìm thấy trong sách vở, còn “tán” thực sự ở ngoài đời mà nhân vật điển hình thì hình như cũng chỉ có hai vị là cụ Nguyễn Trãi và cụ Nguyễn Công Trứ. Cụ Nguyễn Trãi giúp vua Lê Lợi 10 năm đánh đuổi giặc Tầu, bài Bình Ngô Ðại Cáo của cụ nổi danh thiên hạ thì ai cũng biết rồi. Cụ làm quan lớn lắm, thế mà đến cái tuổi ngoài 6 bó, gần hết xíu quách rồi cụ mới gặp được nàng Thị Lộ sắc nước hương trời còn trẻ măng. Không biết cụ có tỉ tê, tán tỉnh hoặc “bùa phép”gì khác không, chứ cứ theo sách vở kể lại thì cụ chỉ “cua” nàng bằng 4 câu thơ thế này:

Ả ở đâu ta, bán chiếu gon
Hỏi rằng chiếu ấy hết hay còn
Xuân xanh chừng độ bao nhiêu tuổi
Ðã có chồng chưa, được mấy con?


Chỉ có thế thôi, thế mà Thị Lộ theo cụ về dinh đấy.

Ðến cụ Nguyễn Công Trứ thì thật là hết ý, chuyện kể như thế này: Thuở còn là một học trò, cụ mê một em đào hát quá xá cỡ, mê đến nỗi cụ phải xin làm một tay đánh trống cho đoàn hát để được gần người đẹp. Một hôm cụ theo em đi hát ở đâu đó, có lẽ với nhiệm vụ mang đồ và”ắc coóc” cho em, đến một quãng đồng vắng, không biết cụ tán tỉnh hay năn nỉ ỉ ôi thế nào mà cụ để nhẹ được em một quả, sau khi được rồi thì cụ biến. Bẵng đi một thời gian khá lâu, một hôm em lại được mời đi hầu hát cho một vị quan lớn nọ, gặp mặt quan, tưởng ai hoá ra là cái anh học trò phải gió ngày nào. Nàng nhận ra chàng nhưng chàng lại không nhớ nàng là ai, phải đợi đến khi nàng hát:

Giang sơn một gánh giữa đồng
Thuyền quyên ứ hự, anh hùng nhớ chăng?.


Khi đó quan mới nhận ra nàng là người mà mình mê tít thò lò thuở nào, thế rồi sau cuộc hát có còn chuyện gì xẩy ra giữa quan và nàng nữa không thì... chúng tôi không biết!

Ấy là nói chuyện “cua đào”của các cụ ta ngày xưa ở bên ta, nay nói một chút qua đến chuyện bên Tầu, cũng đều là “cua” bằng miệng, chứ bằng viết thư hoặc bằng thơ thì chưa thấy. Ðọc trong truyện Kiều, ta thấy Kim Trọng tán nàng Kiều bằng những câu:

Rằng: Từ ngẫu nhĩ gặp nhau
Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn
Xương mai tính đã rũ mòn
Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay
Tháng tròn như gửi cung mây
Trần trần một trận áp cây đã liều
Tiện đây xin một hai điều
Ðài gương soi đến dấu bèo cho chăng?


Ðến như Sở Khanh, một tên “mặt mo” mà cũng ba hoa thế này:

Tức gan riêng giận trời già
Lòng này ai biết cho ta hỡi lòng
Thuyền quyên ví biết anh hùng
Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi.


Còn Từ Hải, một tay chọc trời khuấy nước thì:

Từ rằng: Tâm phúc tương cờ
Phải tuồng trăng gió vật vờ hay sao
Bấy lâu nghe tiếng má đào
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?.


Ðến khi Kiều “chịu đèn” rồi thì Từ Hải hưá hẹn:

Một lời đã biết đến ta
Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau...


Chỉ riêng có một người không dùng lời mà lại dùng tiếng đàn để o mèo, đó là chàng Tư Mã Tương Như đã gẩy khúc Phượng Cầu Hoàng để cám dỗ nàng Trác Văn Quân. Trên đây là những cách “cua đào” của người xưa. Bây giờ chúng tôi xin nói về những lối cua đào của “người nay”, nghĩa là từ thời chúng tôi cho đến các bạn trẻ bây giờ. Thế nào chả có vị thắc mắc muốn hỏi: thế nhà bác có cua đào bao giờ không? Nếu có thì cứ đem ngay chuyện nhà bác ra mà nói, việc gì phải nói chuyện của những ai ai cho nó thêm phiền toái mà chưa chắc đã có thật! Vâng, dĩ nhiên là chúng tôi có cua đào chứ, không phải chỉ một lần mà những mấy lần cơ.

Tôi với nàng học cùng trường nhưng khác lớp. Nàng có nước da bánh mật, mặt tròn, tóc dài bồng bềnh. Thật ra thì nàng không đẹp, nhưng được cái rất nhí nhảnh dễ thương, thế nên tôi mới thích nàng hết ý. Ðã nhiều đêm tôi mơ thấy tôi và nàng dắt tay nhau đi dung dăng dung dẻ trên bãi biển Nha Trang, tình không thể tả được (ngày đó tôi học ở Nha Trang). Khi tỉnh dậy, tôi nghĩ bụng: Nếu sau này mình lấy vợ mà được một người như nàng thì cũng đã mãn nguyện lắm rồi. Thế là tôi quyết chí “cua” nàng, biến nàng thành người yêu của tôi để sau này sẽ là vợ tôi. Tôi viết cho nàng một lá thư mà cho tới nay, vì đã lâu quá rồi - từ đó đến nay đã ngoài 50 năm rồi còn gì nữa - tôi không còn nhớ là mình đã viết gì ở trong đó, nhưng chắc là lâm ly, bi thiết, tả cảnh tả tình dữ lắm! Tôi bỏ lá thư vào phong bì, dán lại cẩn thận, sau đó kẹp phong thư vào trong một cuốn sử thế giới rồi cầm tới trường. Ðến chi tiết này thì tôi nhớ như in.

Hôm đó là một buổi chiều trời mưa tầm tã (lớp tôi học buổi sáng, lớp nàng học buổi chiều). Tôi cầm cuốn sách đứng thập thò ở trước cửa phòng học của nàng. Thày Ngô Thiều đang giảng bài, thấy tôi thập thò ở ngoài cửa, thày bước ra hỏi: Có chuyện gì thế? (Thày Ngô Thiều dạy sử, địa cho cả lớp nàng lẫn lớp tôi) Tôi đưa cuốn sách cho thày, nói: “Con mượn của chị L cuốn sử, nay đem trả lại, xin thày cầm vào đưa cho chị ấy dùm con!” Thày gật đầu, cầm cuốn sách vào đưa cho nàng và nói gì đó. Nàng ngước mắt nhìn tôi một cái rồi cầm cuốn sách bỏ vào hộc bàn, sau đó lại chăm chú nghe thày giảng bài. Sau khi thấy rõ ràng là nàng đã cầm cuốn sách bỏ vào hộc bàn rồi tôi mới yên trí ra về, lòng hồi hộp, hy vọng... Mãi đến hơn một tuần lễ sau, nghĩ là nàng đã đọc thư tôi và cũng đã viết thư hồi âm cho tôi rồi, nên cũng vào một buổi chiều trời mưa lâm râm, tôi khoác áo mưa đứng chờ nàng ở trước cổng trường. Tan học, nàng đi ra. Tim đập thình thịch, tôi bước lại gần nàng, thì thầm hỏi: “L đã đọc thư anh chưa, có thư trả lời cho anh không?” Nàng vừa đi vừa mở cặp lấy cuốn sử đưa cho tôi rồi lại lặng lẽ đi, không nói môt tiếng! Tôi cầm cuốn sách, thấy bên trong cũng cồm cộm như có một lá thư, lòng tràn trề sung sướng vì nghĩ chắc là thư của nàng trả lời cho tôi đây. Về đến nhà, mở cuốn sách ra thì bên trong có một lá thư thật, nhưng đó lại chính là lá thư mà tôi đã viết cho nàng. Bao thư còn dán nguyên, chứng tỏ là nó chưa hề được bóc ra và nàng đã chẳng thèm đọc thư tôi! Ðau khổ, bẽ bàng, tôi cầm phong thư xuống bếp, bỏ vào lưả đốt ra tro, không thèm đọc lại là mình đã viết gì ở trong đó nữa!!!

Thời gian là liều thuốc nhiệm mầu, nó chữa lành vết thương lòng của người ta một cách kỳ diệu các cụ ạ. Tôi bị nàng cho leo cây một cách bẽ bàng như thế mà chỉ ít tháng sau thì đâu lại vào đó ngay. Thế rồi tôi lại gặp một người và tôi lại yêu người này quá cỡ thợ mộc, có thể nói là yêu hơn lần yêu trước nhiều. Rút kinh nghiệm lần thua trận trước, lần này tôi đi từ từ, bước từng bước thầm rất công phu. Biết được nàng này thích thơ văn, tôi sưu tập những bài thơ thật hay của Lưu Trọng Lư, của Xuân Diệu, của Nguyễn Bính, của TTKH rồi nắn nót chép tặng nàng, dĩ nhiên là có kèm theo cả thơ của tôi nữa. Tôi nhớ là đã làm có đến hơn một chục bài thơ gửi cho nàng, tuy thơ tôi không hay, nhưng có lẽ cũng đã làm nàng cảm động lắm. Ngày đó tờ Văn Nghệ Tiền Phong là tờ báo tôi khoái nhất và nhà văn thần tượng của tôi là ông Hoàng Hải Thủy. Tuần nào tôi cũng mua một tờ Văn Nghệ Tiền Phong, báo mua về tôi đưa nàng đọc trước, nàng đọc xong đưa trả lại rồi tôi mới đọc (nhà nàng cách nhà tôi không xa, có thể nói là chỉ “một dậu mồng tơi xanh rờn”, thơ Nguyễn Bính). Cũng vì o bế nàng kỹ thế nên lần này tôi chiến thắng một cách vẻ vang (Nói nhỏ để các cụ nghe: Nàng là bà xã tôi bây giờ đấy).

Cùng thời và cũng là một anh bạn rất thân của tôi, nhà anh cách nhà tôi chỉ một quãng đường, anh cũng yêu da diết một người con gái. Anh ca tụng nàng như là một thần tượng, anh viết thư cho nàng, làm thơ tặng nàng, đặc biệt là anh còn sáng tác nhạc để ca tụng người yêu nữa. Tôi còn nhớ mấy câu đầu trong bản nhạc của anh như thế này:

Tuyết Nghi ơi (Tên người yêu của anh là Tuyết Nghi)

Em là ánh sáng Là mùa xuân Em như ánh trăng rằm...

Thỉnh thoảng cứ vào khoảng 9-10 giờ đêm, tôi lại nghe tiếng sáo từ bên nhà anh vút lên: T... u... y... ế... t... N... g... h... i... ơ... i... Anh thổi sáo hay lắm mà vườn cây trái chung quanh nhà anh lại rất rộng, thành ra đêm khuya anh ra vườn thổi sáo không làm ai phiền lụy cả. Anh là người tài hoa, học giỏi, nhưng sao mà giống cụ Tú Xương thế không biết, lều chõng 2-3 lần cũng không qua nổi cái tú tài một. Tôi đi lính, đeo đến lon trung uý rồi mới thấy anh vào ắc ê trong trường Bộ Binh Thủ Ðức. Ra trường, lên thiếu uý rồi anh mới cưới vợ, dĩ nhiên trong đám cưới của anh có tôi. Một điều đáng nói nhất, vợ anh không phải là Tuyết Nghi. Tuyết Nghi trên mặt có một vết sẹo nhỏ, một chân có tật nên đi hơi khập khiễng, thế mà khi còn yêu nàng, anh đã ví nàng như là ánh sáng, như là mùa xuân và như ánh trăng rằm...

Ðúng là: “Khi yêu trái ấu cũng tròn” thật!

Tôi còn có một lần cua đào nữa, lần “cua” này cũng dễ thôi, chỉ có điều hơi tốn tiền một chút: Thí dụ như khi nàng đánh tứ sắc thì tôi sung sướng ngồi bên cạnh với hai bàn tay hí hoáy. Mà nàng đánh tứ sắc dở ẹc, cứ thua hoài, nhưng lại thua bằng tiền của... tôi! Lúc đó tôi đã vợ con đùm đề rồi, các cụ thấy là dại chưa?!

Cuộc đời tưởng cứ thế mà thăng hoa, không ngờ Việt Cộng nó vào, mọi thứ đều mất sạch sành sanh! Ði tù cải tạo về lại sống dưới chế độ Xã Nghĩa thêm gần chục năm nữa rồi mới qua Mỹ theo diện HO. Thời gian sống dưới chế độ của Bác và Ðảng là thời gian chết. Cả nước nghèo đói, làm teo bu di không đủ ăn còn đào điếc gì nữa?! Ðến khi qua được Mỹ thì già mất rồi, đành ngồi nhìn đám trẻ họ “làm ăn” vậy!

Ở bên Mỹ này mà chỉ cua đào bằng nước bọt thì thật khó mà thành công lắm. Ăn tiền nhất là có cái mác: Bác sĩ, kỹ sư, luật sư hay giám đốc, manager vv... Bằng không thì cũng phải có job thơm, có việc làm vững chắc. Vì quen được nàng rồi còn phải dẫn nàng đi ăn, đi shopping. Phải nay quà này, mai quà khác, mà quà càng đắt tiền thì chàng càng có giá! Thời bây giờ mà còn cua đào bằng những câu tương tự như: Yêu em mấy núi (anh) cũng trèo, mấy sông (anh) cũng lội, mấy đèo (anh) cũng qua... thì khó mà thành công lắm vì nó xưa quá rồi. Thời buổi kim tiền thì càng “thực tế” càng tốt!

Tôi có quen một ông, năm nay cũng mấp mé ở vào cái tuổi “cổ lai hi” rồi, mỗi lần gặp nhau ông ấy đều than là cô đơn quá vì “bà già” đã mất từ lâu! Tôi bảo: Trong mấy tờ báo đấy, có thiếu gì các bà các cô, công dung ngôn hạnh đủ. Cứ mở cái mục Kết Bạn Thư Tín ra mà chọn, thấy bà nào, cô nào ưng ý thì viết thư mà xin bàn tay. Ông ấy thở dài: Có thử rồi, chọn mãi mới được một bà, thư đi thư lại mấy lần, hỏi về mình đủ thứ chuyện mà chẳng cho mình biết một tí gì về “người ta” cả, vừa bực mình, vừa mất thì giờ nên thôi luôn! Tôi nghĩ bụng: Ông này khó tính thật, người ta phải hỏi kỹ càng về ông là phải. Ai biết ông là thằng cha căng chú kiết nào, cứ rước đại ông về, hay là cứ về đại với ông, lỡ gặp phải một ông già “Ba Tri” với khẩu súng rỉ rồi làm sao?! Cua đào mà thiếu kiên nhẫn như ông thì đến ngày xuống lỗ cũng chưa chắc đã có... đào!

Thấy tôi tối ngày cứ chúi mũi vào cái Computer, trong khi bà xã tôi bận rộn hết chuyện này đến chuyện khác mà chẳng nhờ vả được gì ở tôi cả, bà ấy kéo một cái ghế đến ngồi bên cạnh tôi, hỏi: “Ông viết thư cho bà nào mà mải miết thế?” Ðọc xong một đoạn, bà ấy chép miệng, cười: “Bây giờ mà cua đào chỉ bằng mấy cuốn báo với ít bài thơ như ông ngày xưa, thì chỉ có nước nằm nhà ôm gối ôm, chứ đừng có hòng mà rớ được vào tay người đẹp!”...

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Cuộc đời quý bà lừa tình Việt kiều
Tác giả: Vũ Mai


Cuộc đời quý bà lừa tình Việt kiều bao trai trẻ

Người đàn bà luống tuổi run rẩy mãi trên vành móng ngựa. Thỉnh thoảng, bà lại đưa chiếc khăn mùi xoa che ngang khuôn mặt thanh tú, xanh xao. Sau lưng, ở hàng ghế trên cùng, 3 người đàn ông trong cuộc đời bà cũng cúi đầu.

Trong cái dáng vẻ khom nom, sợ sệt, Lâm Thị Phương Nga (52 tuổi) nhẹ giọng xin phép tòa được ngồi vì đang bị bệnh trong khi vị đại diện Viện kiểm sát công bố cáo trạng. Người đàn ông dáng vẻ bệ vệ, sang trọng buông tiếng thở dài. Ông là một Việt kiều đã bước sang tuổi 70, vốn là người tình mà cũng là bị hại của bị cáo trong vụ án “tình và tiền” này.

Cố co người trên băng ghế dài dành cho bị cáo, bà Nga vẫn chưa lấy lại được bình tĩnh nên cứ thấp thỏm hết nhìn Hội đồng xét xử rồi quay người nhìn khắp lượt phòng xử. Cùng lúc nhận được ánh mắt của những người đàn ông, vẻ ngại ngùng càng hiện rõ trên gương mặt nhợt nhạt của bà. Có lẽ trước đây, khi mặn nồng với họ, bà đã không thể tưởng tượng được một ngày tất cả lại phải đối đầu với nhau trong nghịch cảnh oái ăm này.
Image
Bà Nga sầu thảm giấu mặt khi trả lời tòa. Ảnh: Vũ Mai.



Bà Nga đã từng có một gia đình hạnh phúc với người chồng hiền lành và những đứa con ngoan. Thế nhưng, vào “một ngày đẹp trời” của cái tuổi hồi xuân, nét đẹp mặn mà của bà Nga đã khiến ông Mạnh - người đàn ông đang định cư tại Mỹ xao lòng trong một lần về thăm quê. Người đàn bà dần rời xa mái ấm gia đình từ đó.

Ly dị chồng, bà Nga về ở với ông Mạnh và được cung cấp đầy đủ điều kiện hơn trước. Tuy nhiên, mỗi lần ông này phải về Mỹ thì nỗi buồn chán, cô đơn lại xâm chiếm tâm hồn người đàn bà nhạy cảm. Theo bạn bè “giải khuây” trong các canh bạc, càng ngày bà Nga càng trượt dài vào nỗi đam mê. Sẵn tiền do “chồng” chu cấp, bà tham gia vào nhóm “đại gia Sài thành” tại các casino ở tận Campuchia. Tiền bạc cứ dần đội nón ra đi. Số lần xin tiền “chồng” ngày càng dày lên.

Trong những lần xa chồng, bà Nga đã trở thành tình nhân của Thành, một chàng tài xế taxi ít tuổi. Mê mệt với tình nhân, “đau” với những khó khăn, cực nhọc của Thành, bà càng hối thúc ông chồng Việt kiều gửi thêm tiền để “lo” cho người tình trẻ. Khi thì sửa nhà, mua xe hơi, lúc lại giúp đỡ họ hàng Thành đều do một tay bà Nga chu vén. Cùng lúc, thấy chồng cũ và các con phải vật lộn với kinh tế gia đình, nỗi áy náy khiến bà cũng “chi” nhiều triệu đồng cho họ mở nhà hàng để kiếm sống.

Cho đến một ngày, người tình bên kia địa cầu biết hết những việc bà đã làm. Choáng váng, vì bị “người vợ yêu quý” phản bội, ông Mạnh tuyên bố “cấm vận” và đòi lại tất thảy số tiền hơn 100 ngàn USD đã chu cấp. Không còn đường chối cãi, bà cố thuyết phục ông vì cho rằng đây là “tình phí” suốt 10 năm ăn ở với nhau.

Tuy nhiên, người đàn ông khẳng định đó là số tiền “cho vay” và chưng ra một mớ giấy tờ bà này đã ký trong những lần nhận tiền từ ông kèm một câu chắc nịch: “không trả sẽ kiện ra tòa”. Đến lúc này, bà Nga mới té ngửa vì có ngờ đâu những lần đứa cháu của ông kêu đến lấy tiền đều bắt bà ký nhận với lời giải thích: “Để cháu còn thanh toán với chú Mạnh”, nay lại là bằng chứng kết tội bà.

Đang quay quắt với nỗi lo không tiền tiêu xài và có nguy cơ hầu tòa, bà Nga lại cuống cuồng khi thấy anh nhân tình trẻ cũng đang có những "biểu hiện khác lạ". Trước viễn cảnh không tiền, không tình, bà Nga liền lên kế hoạch “làm cú chót” với ông Việt kiều nhằm cứu vãn tình thế. Do vậy, bà đánh tiếng với ông Mạnh mình có một căn nhà đã mua (thực tế chỉ thuê để ở) nhưng chưa sang tên được vì còn thiếu lại một ít tiền. Vì vậy, bà sẽ “cấn nợ” bằng ngôi nhà đó với điều kiện ông phải đưa thêm một số tiền để làm thủ tục sang tên. Để tạo lòng tin, bà Nga làm giả hẳn một số giấy tờ.

Tưởng thật, hai chú cháu ông Mạnh đưa thêm cho bà Nga gần 50.000 USD nữa và chờ ngày nhận nhà. Có tiền trong tay, bà Nga lại tiếp tục những cuộc vui phía bên kia biên giới bên anh tài xế trẻ. Mọi việc bại lộ khi chú cháu ông Việt kiều làm đơn tố cáo với công an.
Image
Ông chồng Việt kiều đang đổi với vị công tố về một số nhận định trong vụ án. Ảnh: Vũ Mai.

Tại cơ quan điều tra, bà Nga khai nhận số tiền đó đã “chi” cho bồ nhí hơn 800 triệu đồng, “hùn vốn” mở nhà hàng với chồng cũ 100 triệu đồng, còn bao nhiêu đã tiêu xài hết. Tuy nhiên, Thành chỉ nhận có “vay” của Nga hơn 7.000 USD và xin được trả lại ngay để không dính dáng gì đến vụ án. Còn ông chồng cũ cũng vội chối phăng vì bà Nga chẳng có giấy tờ gì chứng minh điều đó.

“Ông Mạnh nói sẽ sống suốt đời với bị cáo và đưa tiền để lo chi phí sinh hoạt gia đình thế mà nay ông ấy buộc tôi nợ chỉ vì tôi đã ký nhận tiền từ cháu gái ổng. Tôi chỉ là ‘nạn nhân” trong việc tính toán này, do bị đòi tiền dữ quá nên mới phải làm giả giấy tờ căn nhà đang thuê để gán cho ổng…”, người đàn bà vẫn cúi gằm mặt, run rẩy trình bày với Hội đồng xét xử.

“Bị cáo cho mình là nạn nhân, vậy bị cáo thiệt hại gì trong thời gian chung sống với ông Mạnh? Vừa được tiền, vừa được tình nhưng bị cáo lại đi lo cho bồ trẻ và ăn chơi, du hí khắp nơi. Thế là nạn nhân à?”, nữ thẩm phán bức xúc cắt ngang lời bà Nga.

Dưới khán phòng, ông Mạnh vẫn giữ nguyên vẻ mặt lạnh lùng, khẽ mím chặt môi. Còn Thành thì cúi gằm mặt xuống tránh né ánh nhìn của mọi người. Lọt thỏm giữa hai người, chồng cũ của Nga ngồi bất động, đôi mắt không rời bị cáo.

Giờ nghị án, một phụ nữ cố năn nỉ đội cảnh sát tư pháp gửi giúp cho bị cáo vài món đồ nhưng đã bị từ chối. Lủi thủi xách chai nước suối quay trở ra, khuôn mặt của bà này nhòe nước mắt: “Tôi làm bạn với Nga bao nhiêu năm trời, biết việc nó làm đã cố ngăn cản nhưng nó có chịu nghe lời đâu. Đành rằng nó có sai nhưng cái giá phải trả là quá đắt bằng những tháng ngày đằng đẵng trong tù và bị các con xa lánh”, người phụ nữ buông lời chua xót.

Ngày 25/11, tòa án TP HCM đã tuyên phạt Lâm Thị Phương Nga mức án 20 năm tù về các tội "lạm dụng tín nhiệm chiến đoạt tài sản" và "lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Cho tay vào còng, bị cáo Nga quay người nức nở với bà bạn già: “Hãy thay tôi lo lắng cho các con và nói chúng tha thứ cho mẹ…” rồi nhanh chóng bị dẫn giải đi. Dưới sân tòa, bóng ba người đàn ông chia ba ngả.

Vũ Mai

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Hạnh Phúc Ở Đâu ?
Ngày xưa, có một bầy yêu tinh tập hợp nhau lại để lên kế hoạch làm hại con người.
Một con yêu tinh lên tiếng: "Chúng ta nên giấu cái gì quý giá của con người.
Nhưng mà cái đó là cái gì?"
Một con yêu tinh khác lên tiếng: "Chúng ta nên giấu hạnh phúc của con người. Không có nó, ngày đêm con người sẽ phải khổ sở. Nhưng vấn đề là chúng ta sẽ giấu hạnh phúc nơi nào mà con người không thể tìm thấy được."
Một con yêu tinh cho ý kiến: "Chúng ta sẽ quẳng hạnh phúc lên đỉnh núi cao nhất thế giới."
Con yêu tinh khác phản đối: "Con người rất khoẻ mạnh, chuyện trèo lên đỉnh núi đối với họ không có gì là khó khăn."
"Vậy thì chúng ta sẽ đem hạnh phúc ném xuống đáy biển sâu."
"Không được, con người rất tò mò. Họ sẽ chế tạo ra những con tàu hiện đại để đi xuống tận đáy biển. Rồi tất cả mọi người sẽ biết."
Một con yêu tinh trẻ có ý kiến: "Hay là chúng ta đem giấu hạnh phúc ở một hành tinh khác."
Con yêu tinh già phản đối: "Không được, con người rất thông minh. Càng ngày họ càng thám hiểm nhiều hành tinh khác đấy thôi."
Suy nghĩ hồi lâu, có một con yêu tinh già lụ khụ lên tiếng: "Tôi biết phải giấu hạnh phúc của con người ở đâu rồi. Hãy giấu nó ở chính bên trong con người. Đa số con người đi tìm hạnh phúc ở khắp chốn, khắp nơi, và bao giờ họ cũng thấy người khác hạnh phúc hơn mình; còn bản thân họ thì họ chẳng bao giờ quan tâm. Giấu nó ở đó thì con người không bao giờ tìm thấy hạnh phúc cả!!!"




--
Aloha from Hawaii

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

NGHỀ ĂN XIN
Đinh Lâm Thanh
'Ăn xin' thường bị xếp vào vị trí thấp kém nhất trong xã hội vì nghề nầy chỉ dành cho những kẻ đáng thương như trẻ nhỏ, người già cô đơn, nghèo khó hay tật nguyền không đủ khả năng làm việc. Tuy nhiên, thời gian và không gian đã thay đổi khá nhiều về chuyện 'chẳng đặng đừng' nầy, có nơi hoàn toàn đảo ngược vị thế trong xã hội và xem 'bị gậy' là một nghề cao quý chỉ dành riêng cho một tập đoàn hay vài giới chức nào đó. Chuyện như thần thoại, nói ra chẳng một ai tin, nhưng nghề nầy đang phát triển mạnh dưới thiên đường cọng sản Việt Nam hiện nay !

Trừ một vài quốc gia ở Bắc Âu, tôi không thấy hành khất ăn xin ngoài đường, còn lại không nhiều thì ít xứ nào cũng có, mỗi nơi mang một hình thức, một sắc thái khác nhau. Để mở đầu bài viết, xin đề cập đến hai nơi có hình thức ăn xin hơi khác thường :

Ở Pháp, trước kia thành phần đi xin đa số là các ông các bà làm biếng, lúc nào người cũng nồng nặc mùi rượu, suốt ngày lang thang trong các trạm xe điện ngầm. Thỉnh thoảng người ta cũng bắt gặp vài ông già dẫn chó đi xin, ngồi nơi công cộng với chiếc mũ, cái thau nhựa và miếng giấy cứng ghi hàng chữ : Một euros cho chó và một euros cho …tôi ! Không ai ngạc nhiên khi cái thau trước mặt con chó được nhiều tiền của khách qua đường trong lúc chiếc mũ của ông già chẳng có một cắc bạc nào ! Kể từ ngày cọng sản Đông Âu sụp đổ thì một số dân nghèo ở đây chọn nghề cái bang tìm cách tiến về hướng Tây và nước Pháp, là nơi hành nghề hữu hiệu và thích hợp nhất. Từ đó Paris trở thành trung tâm của hai bang 'hát dạo' và 'thông điệp' hành nghề trên các chuyến xe điện ngầm. 'Cái bang văn hóa' thì có vẻ lịch sự (lên métro vừa đàn vừa hát những bài khá quen thuộc, đúng giọng, đúng điệu…ai cho tiền thì cám ơn mà không cho cũng cám ơn !) hơn 'cái bang thông điệp', gồm đa số người trẻ, vào các toa xe điện ngầm với một xấp 'thông điệp'trong tay. Họ đến trước măt mỗi người, chẳng nói chẳng rằng, lẳng lặng để trước mặt một tờ giấy. Sau khi đi hết vòng rồi quay trở lại thu hồi thông điệp và chuyển qua toa xe khác. Vì không nói được tiếng Pháp nên để thông điệp trong đó ghi vỏn vẹn mấy chữ : Vui lòng cho xin ít Euros...để ăn !

Không biết Paris có phải vùng đất béo bở hay không mà còn quyến rũ thêm nhiều đạo quân ăn xin đến từ các xứ 'rệp' Bắc Phi. Đặc biệt đạo quân ăn xin nầy toàn đàn bà và con nít, họ tụ tập ở những nơi công cọng, trước các tiệm ăn và dưới hầm xe điện ngầm. Mỗi bà đều bày hàng vài ba đứa trẻ làm cảnh, ăn mặc bẩn thỉu hôi hám để khơi động từ tâm của khách qua đường. Ngoài ra cũng còn những trường hợp ăn xin lạ lùng ở thủ đô nước Pháp, người đi ăn xin che kín mặt mình bằng cách nằm sấp út mặt sát đất, dùng hai tay ôm lấy đầu và bất động suốt ngày, phía trước là chiếc mũ với hai chữ 'Tôi đói'! Dù có ai để tiền vào mũ cũng ít khi nghe được một tiếng cám ơn ! Cách đây vài năm, tôi gặp trường hợp ăn xin của một đồng bào mình ngay trước cửa chợ Tăng Frère, anh còn trẻ, chận tôi lại với một giọng nói rất chân tình : Thưa bác, bác giúp con một ít tiền để mua vé máy bay trở về Mỹ. Không đợi phản ứng của tôi, người bạn trẻ tiếp : Con là dân Mỹ, đi du lịch bị móc túi mất hết tiền bạc, bây giờ không biết làm sao…Tôi bấm bụng giúp anh một ít với lời hướng dẫn, anh nên đến ban xã hội tòa thị chính nơi tạm trú, trình bày hoàn cảnh với họ, tôi tin rằng nơi đây sẽ lo cho anh phương tiện trở lại Mỹ ( Những trường hợp đặc biệt như thế nầy chắc chắn phòng xã hội của bất cứ thành phố nào cũng giúp phương tiện sống và vé may bay cho nạn nhân). Tưởng câu chuyện đã được giải quyết tốt đẹp, không ngờ khoảng gần một năm sau, tôi gặp lại người thanh niên nầy với bài bản y như ngày trước !!!

Ở Rio De Janeiro và São Paulo (Brésil), số trẻ em ăn xin đông gấp mười lần người lớn, họ được các tay trùm tập trung và huấn luyện thành những đạo quân chuyên nghiệp, chia vùng, phân công tác và tổ chức như quân đội : Có lính, có quan và có tướng ! Lính, hành nghề suốt ngày đêm kiếm cho đủ tiền đem nộp để được…ăn và được đi xin một cách yên ổn ! Quan, trực tiếp chỉ huy, đứng trung gian hưởng lợi và tướng thì sống nhà lầu, đi xe hơi !!!

Trở lại với Việt Nam, trước năm 1975 thành phần ăn xin ở miền Nam thật ra cũng ít, người ta chỉ bắt gặp tại nhà gare, bến xe đò hay trong các khu vực ăn uống của thủ đô Sàigòn cũng như tại các thành phố lớn. Phần nhiều là trẻ nhỏ, các ông bà làm biếng và những người tật nguyền. Cũng có những trường hợp lưu manh trong nghề như giả vờ bệnh tật, đi khập khểnh, chống gậy, cột vào tay chân những miếng thịt có mùi thúi ….Nghề ăn xin thời đó có thể nói là khá giả, nhưng từ ngày 'được giải phóng', cách mạng đã ưu ái tập trung và đẩy toàn bộ đi lao động ở các vùng kinh tế mới. Nhưng đừng lầm và đừng vội mừng cho rằng nhờ cách mạng mà miền Nam hết người ăn xin ! Các bạn trẻ sinh sau năm 1975 chắc không biết chuyện nầy. Thời đó không còn cá nhân hay băng nhóm ăn xin nữa mà có cả chục triệu người phải chấp nhận cái nghề 'chẳng đặng đừng' để sống lây lất qua ngày ! Cách mạng là bọn đói rách kinh niên, suốt đời rau khoai, gia tài chỉ có cái nón cối và đôi dép râu đang hăm hở vào 'ăn xin của nhân dân' thì chúng đâu chịu để cho cả triệu người của miền Nam hành nghề cạnh tranh! Thế là chính sách đẩy toàn thể 'cái bang thật', 'cái bang chẳng đặng đừng' lên núi hay xuống biển để cách mạng độc quyền hành nghề. Và khi đã là vua uy quyền một cõi thì các đạo quân cái bang mặc áo vàng, áo màu xanh cứt ngựa, đầu đội nón cối…vứt ngay 'bị gậy'vào thùng rác, mặt vênh váo, vai mang AK và biến 'nghề ăn xin' thành 'nghề ăn cướp'. Để khỏi mất công mất thời giờ, chúng vào nhà ai không cần phải van xin mà tự nhiên như người Hà Nội, thấy cái gì thì cứ việc vác về cho tiện sổ sách, xem như quà chiến thắng !

Viết đến đây tôi nhớ lại chuyện cũ trước năm 1975, cái loa Hà Nội tuyên truyền rằng, dân miền Nam nghèo đói đến nỗi con trai không có tiền cắt tóc, con gái không đủ vải che thân, trên người chỉ mặc một chiếc váy nhỏ xíu đưa ngay cái 'bẹn' ra ngoài, rồi chúng kêu gọi người dân dù có đói rách đến đâu cũng phải cắn hạt gạo ra làm hai gởi vào nuôi miền Nam ruột thịt ! Thế rồi khi Việt Nam Cọng Hòa vừa rơi vào tay cọng sản, thật đáng thương và tội nghiệp cho các cụ già lặn lội từ miền Bắc vào tìm kiếm thân nhân, tay ôm tay xách gồm gói muối vừng, vài củ khoai và mấy ký đậu phộng để cứu đói người thân. Nhưng rồi các cụ lại ngoan ngoãn trở thành người ăn xin lương thiện, nghĩa là ai cho cái gì cũng hoan hỷ nhận…rồi bế, xách, lê lết cỏng đem về Bắc làm quà cho bà con cháu chắt. Tiếp sau đó từng đạo 'quân ăn xin không lương thiện', đi dép râu đội nón cối mang AK hùng hổ xuôi Nam, vừa thấy cái gì là vơ ngay cái đó. Chúng vào nhà dân, để súng lên bàn giở trò hăm dọa, khổ chủ đành phải bấm bụng bố thí xem như cúng cô hồn để xin hai chữ bình an. Những ai lớn tuổi chắc vẫn còn nhớ, trong những năm đầu mất nước, người ta thấy từ chiếc bàn, cái ghế, cái đài (radio), cái đổng (đồng hồ), cái TV, cái máy chém (quạt máy), cái tủ lạnh cho đến những thứ lỉnh kỉnh như nồi niêu soong chảo, chén bát…được đạo quân 'ăn xin có môn bài' tay ôm, tay xách, đội lên đầu, đeo vào cổ, chen lấn nhau trong các ngỏ hẻm, trên đường phố rồi giành giật nhau từng cái vé xe đò cũng như tàu hỏa để chở chiến lợi phẩm ra Bắc.

Trên đây tôi chỉ trình bày sơ qua chuyện ăn xin của người ít lương thiện và đạo quân có môn bài dưới thiên đường xã hội chủ nghĩa. Tuy những chuyện nầy có viết ra cả ngàn trang giấy cũng không bao giờ hết, nhưng cũng cần ghi ra đây để đưa vào lịch sử : Một đám ăn mày đói rách từ rừng chui ra và lập một kỷ nguyên mới được người đời xem là khuôn vàng thước ngọc của xã hội chủ nghĩa, 'cướp giật là vinh quang ! '. Trước tiên chúng biến hàng chục triệu người miền Nam từ triệu phú ra bị gậy và đuổi đi nơi khác chơi : Lên vùng kinh tế ăn xin với cọp beo hay vác bị gậy ra biển ăn mày với cá mập. Từ đó Việt Nam chỉ còn một băng đảng bị gậy duy nhất và vĩ đại nhất của địa cầu để ăn xin với quốc tế và móc túi 'khúc ruột ngàn dặm'.

Mỗi khi thiên tai lụt lội đổ xuống đầu người dân vô tội thì chính là cơ hội ngàn vàng của bọn cái bang nhà nước. Chẳng thấy tên nào ló mặt ra giúp chén cơm, cái mền, viên thuốc hay vài đồng bạc cho dân mà tranh nhau hăm hở kêu gọi quốc tế giúp đở, van xin khúc ruột ngàn dặn mở hồ bao. Tập đoàn cọng sản ăn xin nầy đã nhân danh thiên tại lụt lội để hành động đúng theo đường lối tốt đẹp của xã hội chủ nghĩa và đỉnh cao trí tuệ loài người. Nếu có ông sư, ông cha nào quyên được tiền từ nước ngoài hay các tổ chức nhân đạo quốc tế trích quỹ cứu trợ để cấp cứu thì chúng yêu cầu đừng trao phẩm vật tiền bạc cho nạn nhân, cứ đưa cho chúng nó là xong chuyện !

Nhờ thiên tai hàng năm các tập đoàn ăn xin đều làm ăn phát đạt. Biết rằng người nước ngoài cũng như các tổ chức quốc tế sẵn sàng giúp đở nạn nhân Việt Nam, do đó từ trung ương đến địa phương chúng tranh nhau dựng thêm những hội từ thiện, nhà may mắn, làng tình thương…một mặt làm mẫu trình diễn với quốc tế, chụp hình quảng cáo đồng thời đào tạo một số cán bộ từ trong nước ra đến hải ngoại với mục đích móc túi người Việt Tự Do và phá rối cộng đồng. Chúng giở trò láu cá bằng cách lợi dụng lòng nhân đạo, tình đồng hương để xin tiền mà còn tạo cơ hội quấy rối cộng đồng nước ngoài và cờ Quốc Gia Vàng Ba Sọc Đỏ. Mới đây không lâu, một số cố đạo áo đen, sư thích đỏ ruột được phép ra nước ngoài moi tiền con chiên Phật tử, nhưng cái trò ma giáo vẫn không quên là yêu cầu những nơi chúng đến không được treo cờ Quốc Gia… Thế thì đi ăn xin mà lại chưởi cha người ta nữa thì chỉ có loài thú vô học mới đem cái ngu ngốc của chúng ra áp dụng tại các quốc gia tự do ở Âu Mỹ. Nhưng trò khốn nạn nầy vẫn được vài nhóm cò mồi sống bám đáy quần cọng sản dụ được một số người nhẹ dạ ở hải ngoại. Thế mới lạ !

Tiến thêm một bước nữa là chính bọn cầm quyền đích thân ra nước ngoài ăn xin, các chuyến đi đều do những tên số một số hai trong cái gọi là nhà cầm quyền dẫn đầu. Thay thế bị gậy bằng áo veste, cà vạt, cặp da…ngồi chật cả chuyến bay rồi tiền hô hậu ủng ra ngoại quốc không ngoài mục đích van lạy quốc tế vào Việt Nam đầu tư cứu đói. Đặc biệt tên cầm đầu còn xử đụng một chiêu bài có một không hai trong lịch sữ quảng cáo của nhân loại. Vì lo sợ không ai thèm đem tiền của đến cho bọn chơi trò bài ba lá, tên trưởng đoàn cũng là vua hiện giờ của Việt Nam, đóng vai ma cô đem gái ra dụ những tên già hảo ngọt thích của lạ. Nó mời gọi mọi người nên đến Việt Nam đầu tư vì tại đây có nhiều gái đẹp, tha hồ mà…! Mấy trường đại học chuyên về quảng cáo, kinh tế, tài chánh và đầu tư trên thế giới nên cấp ngay cho tên ma cô nầy bằng 'tiến sĩ cò mồi' để thay cái bằng 'tiến sĩ cầu muối' mà nó đã chôm chĩa được.

Vừa bước vào thế kỷ 21 mà những bộ óc của 'đỉnh cao trí tuệ loài người' cọng sản Việt Nam đã phát minh ra được nguyên tắc câu khách thần sầu quỷ khóc nầy thì trong vài năm nữa không biết chúng còn bao nhiêu chiêu để đem ra phô trương ở nước ngoài nữa đây !

Màn 'vua' đem gái ra kêu gọi mọi người đến Việt Nam thưởng thức xem chừng như các đại thần trong ổ chính trị không vừa ý nên chúng lại cho thi hành một trò mới : Dùng gái đẹp (lại cũng gái nữa !) đi xin thay cho bọn chúng : Cô Tim tóc vàng da trắng, sau một thời gian huấn luyện được các bang chủ đỏ cho ra ngoài với chiếc áo dài và vài giọt nước mắt. Thế là cả đám cò mồi bu vào tổ chức ăn có. Đồng bào hải ngoại nghe nói đến một cô gái ngoại quốc da trắng tóc vàng, hy sinh cuộc đời cá nhân để dấn thân cho các trẻ em nghèo khó tật nguyền tại Việt Nam thì ai cũng động lòng trắc ẩn. Có người cho rằng cô Tim chỉ cần nhỏ vai giọt nước mắt và ngậm miệng là đủ ăn tiền, ít ra cũng kiếm được vài triệu để đưa về cho quan thầy. Tại sao lại ngu ngơ tuyên bố hách xì xằng làm gì, đòi hạ cờ Quốc Gia xuống khi có mặt cô ta để bị cộng đồng xem như hủi và đuổi như đuổi tà ! Theo tôi cô Tim đâu ngu, có tuyên bố như vậy thì ít ra cũng hưởng mười phần trăm tiền thưởng của bang chủ. Nếu cô sinh viên balô ngày nào trở lại Thụy sĩ thì cuộc đời của cô cũng vắt giò lên đầu chạy ăn kiếm từng bữa súp bữa bánh mì, chứ đâu được như bây giờ, có tiền đầy túi, lên xe xuống ngựa ra nước ngoài du lịch như đi chợ !

Thành thật mà nói thì cọng sản đã thành công về trò ma giáo, bịp được một số người nước ngoài nhịn thuốc lá, nhịn ăn phở và vui vẻ trút hồ bao góp tiền cho bọn cái bang đỏ qua Pháp trên bốn chuyến bay để tổ chức một đêm dạ vũ, khoe khoang bằng cách đãi tiệc trên hai ngàn người tại Palais des Congrès (Porte Maillot- Paris 17) trong tháng vừa qua với phí tổn gần 20 triệu dollars ! Đồng bào hải ngoại hãy mở mắt ra mà xem, tiền mồ hôi của mỗi đồng hương đóng góp chưa mua được một điếu xìgà cho chúng !

Qua những sự việc trên, bây giờ thì cả thế giới mới ngã ngửa ra nghề ăn xin của cái xứ gọi là 'đỉnh cao trí tuệ loài người' và 'chiếc nôi của nhân loại' đúng thật là siêu việt !

Đinh Lâm Thanh

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Vạch mặt kẻ thích đô la !
Tác giả: Vũ Quốc Uy



Ngày 6 tháng 12-2008, báo chí của Đảng giật tít “Chân dung các "nhà dân chủ" thích... USD”. (Xem: VietNamNet, ngày 06/12/2008), để gọi là “bóc trần bộ mặt” của Ts Nguyễn Thanh Giang và một số người liên quan đến hoạt động đòi dân chủ hoá xã hội.

Đọc bài báo ấy chúng tôi phá lên cười: Ồ thế ra thích đô la là một thói xấu, đáng chê cười chứ lại? Giả sử bây giờ Hoa Kỳ ra thông báo với Việt nam: “Ai thích đô la thì ghi tên ngay, chúng tôi chỉ có 3 triệu phiếu!”, thì xin thưa, chẳng đến lượt mấy bác dân chủ đâu, mà tác giả bài báo nói trên nếu có chậm chân thì cũng chỉ chịu thua các đồng chí trong Bộ Chính trị là cùng! (Mà “chơi” đô la bây giờ Đảng ta chơi con số hàng triệu, hàng tỉ chứ lại “chơi” số một trăm thì quê mùa quá!).

Đáng lẽ muốn vạch mặt phản động của các “đối tượng” một cách thuyết phục thì báo Đảng phải trích dẫn nội dung các bài viết, nội dung các biểu ngữ… ra cho mọi người “phỉ nhổ”. Ví dụ:

Chúng cứ xoáy vào quốc nạn tham nhũng (bảo tham nhũng là hút máu của dân), thế là chúng chống Đảng!

Chúng nói các cấp Đảng và chính quyền là chỗ dựa cho tham nhũng là chúng muốn chống đối nhà nước! (Thực ra luận điểm “chống đối” này ông Võ Nguyên Giáp cũng nói trước rồi!).

Chúng lên tiếng phản đối bọn bành trướng Đại Hán xâm chiếm biên cương tổ quốc Việt Nam là chúng can tội phản quốc!

Chúng cứ chứng minh chủ nghĩa Mác là ảo tưởng phi khoa học, thế là chúng vô học, vô văn hoá, phí cơm gạo của nhân dân.

Chúng phê phán những thói xấu của người Việt mình đã vô tình nuôi dưỡng những tiêu cực khiến mọi tệ nạn cứ ngang nhiên tồn tại và lan rộng, thế là chúng chống lại dân tộc!

Vân vân.

Báo chí cứ mở trận đấu công khai, trích dẫn đầy đủ, cho đối phương công khai tranh luận (vì kẻ xấu càng tranh luận càng tự lộ cái xấu ra !) Thế có cao tay không nào?

Nhưng ở đây các nhà báo ăn lương hậu, lại rất có tay nghề, thế mà lại quên mất điều sơ đẳng ấy! Các “đồng chí” chỉ làm được mỗi một việc là lên giọng đấu tố, quy kết chung chung, dựa trên những cái gọi là lời khai mà các “đồng chí” công an tự sáng tác theo mô thức sáng tạo kiểu các “đồng chí” Hữu Ước hay Nguyễn Như Phong của lò báo Công An.

Ắt hẳn là khi cho lên khuôn bài báo nói trên, “đồng chí” nhà báo quốc doanh hỉ hả với sự sáng tạo thần thánh về cái gọi là sự “thích… USD”. Quả thế, trên đời này, cứ vu vạ cho kẻ nào thích hơi đồng hoặc mê gái là nhất định cái bùa ấy linh nghiêm không thua gì bôi nhọ nồi lên mặt người ta! Trò mồm loa mép giải, vu vạ kiểu Chí Phèo ngày xưa ấy mà!

Chỉ tiếc rằng bây giờ là đầu thế kỉ XXI mất rồi. Những trò chơi ném bẩn của thời Cải Cách Ruộng Đất hay Nhân Văn Giai Phẩm (ôi chao, cứ nhắc đến những chuyện này sao lòng tôi bỗng nhói đau!) thì ăn ai? Chẳng lẽ các “đồng chí” vẫn xem khinh trí tuệ nhân dân ta đến thế?

Tôi chỉ muốn nói nhỏ với các bác dân chủ rằng: Các bác còn dại lắm! Các đại gia và các quan to họ đút cho nhau hàng chục nghìn đô, gửi ngân hàng Thụy sĩ hàng tỉ đô mà tuyệt đối không để lại dấu vết gì, nay các bác mới đưa cho nhau vài đồng nhãi nhép, sao phải để lại bằng chứng? (1) Chẳng lẽ cứ thật thà như đếm đến thế sao? Lại nữa, gửi chút tiền cứu trợ hoặc nhuận bút cho bài báo thì đừng động chạm gì đến đồng đô la ! Đồng tiền tư bản xấu xa này Đảng ta đã “xí” hết rồi, không đến phần các bác. Hãy gửi cho nhau bằng đồng tiền Cách mạng có ảnh đồng chí Mao, hay đồng chí Hồ Tập Chương… chẳng hạn, thì thử xem báo chí Đảng ta sẽ chửi kiểu gì?


Vũ Quốc Uy

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Vinh Quang của Người Sợ Vợ

Đào Hiếu
Ý niệm “vinh quang” thường sánh đôi với những mỹ từ như “dũng cảm”, “hào hùng” “kiên cường” “bất khuất” v.v… và hầu như không bao giờ chịu cặp kè với từ “SỢ”. Cho nên khi đặt nhan đề cho bài viết là “VINH QUANG CỦA NGƯỜI SỢ VỢ” tôi cảm thấy hồi hộp, ngại ngùng, không biết rủi như bà xã tôi mà đọc được thì nàng có hiểu thấu cho lòng ngưỡng mộ sâu sắc của tôi khi nghĩ đến nàng, viết về nàng không, hay nàng lại tưởng tôi có ý chơi chữ để chế diễu nàng.

Sợ, cho dù là sợ ai thì cũng là “sợ”. Mà sợ thì chẳng những không có gì vinh quang mà còn hèn lắm các bố ạ.

Khi tưởng tượng đến một người đang sợ, trong trí ta hiện lên hình ảnh một kẻ đang co ro, khép nép, mặt mũi xanh lè, tay chân run lẩy bẩy, giọng nói ấp a ấp úng… Nói chung hình ảnh một người đàn ông như vậy không có gì là vinh quang cả.

Người đàn ông vinh quang là người làm chủ bà vợ của mình. Thậm chí không cần ra lệnh mà chỉ trừng mắt một cái là bà vợ đã phải ngoan ngoãn vâng lời hoặc dẹp ngay ý định phản đối. Ngồi vào bàn ăn mà không có chai bia hả? Ném đũa xuống bàn rồi đứng dậy là bà vợ khiếp vía. Một anh chồng thường khoe: Tiền bạc tớ quản lý. Mọi việc trong nhà tớ quyết định. Muốn đi đâu, mua sắm gì, phải xin phép tớ. Tớ bảo gì, nghe nấy. Người xưa gọi cái đạo lý ấy là “phu xướng phụ tùy.”

Bậc vua chúa còn danh giá hơn vạn lần. Các ngài có rất nhiều vợ. Chẳng cần yêu đương, tán tỉnh, cũng đếch thèm viết thư tình, cứ phát hiện ra chỗ nào có gái đẹp là a-lê “tiến cung”, ba mươi giây là thảy lên giường. Nhưng cũng có khi đến ba mươi năm chưa chắc đã được hưởng ơn mưa móc.

Thời Tần Thủy Hoàng mỗi tối các bà vợ được tắm rửa, điểm phấn tô son, khử mùi lông nách… rồi cứ để trần truồng như thế, bọc trong cái chăn lớn. Hai tên quân hầu khỏe mạnh vác cả người lẫn chăn đem đến tận long sàng dâng vua, giống như đầu bếp dâng khoanh giò lụa. Vua hé chăn ra coi, thích thì “ngự” không thích thì bảo đổi người khác. Hai tên quân hầu lại vác một khoanh giò lụa khác. Cứ thế, chạy rầng rậc cả đêm. Về sau này các ông con Trời ở bên Tàu đổi mốt khác. Buổi tối các ngài ngự trên chiếc xe dê, tà tà đi dọc các hành lang của tam cung lục viện. Ơn mưa móc của các ngài tưới vào đâu tùy thuộc vào sự ngẫu hứng của chú dê kéo xe. Rõ ràng là các bậc đế vương coi chuyện chăn gối với những bà vợ mình như một trò chơi ru-lét: Trái banh dừng ở chỗ nào là trúng thưởng ở chỗ đó.

Tóm lại, ngày xưa cũng như ngày nay, trong dân gian hay trong cung cấm cánh đàn ông thường tự hào về quyền lực của mình đối với đàn bà và coi khinh những người sợ vợ.

Nhưng làm một đấng nam nhi đứng trong trời đất mà không biết sợ vợ thì uổng cả một đời trai!

Bạn tưởng tôi nói đùa? Bạn không hiểu? Thế bạn thích có một chiếc Dream mới tinh hay một chiếc xe mô-bi-lét cà rịch cà tàng? Lái một chiếc Dream bạn phải nâng niu, cẩn trọng, sợ bị va quẹt, bị trầy xướt… nói chung là bạn phải làm nô lệ cho nó nhưng phải công nhận là nó chạy êm ru. Sướng lắm! Còn đi chiếc mô-bi-lét muốn vứt đâu thì vứt, không sợ trầy xước không ngại va quẹt, không sợ bị kẻ gian cuỗm mất… nhưng thường hay nghẹt cái bu-gi lắm các bố ạ!

Như vậy bạn đã hiểu tại sao người ta sợ vợ rồi chứ? Một người đàn ông hay bắt nạt vợ bằng la hét hay trừng mắt, tưởng là ngon, thực ra đó là người chồng bất hạnh nhất trên đời. Bởi vì hắn đã coi vợ mình như một chiếc mô-bi-lét cà tàng, chẳng có gì thú vị, chẳng cần phải nâng niu trân trọng.
*
Một người sợ vợ trước hết vì vợ anh ta đẹp. Đắc Kỷ vợ Trụ Vương, Bao Tự vợ U Vương … là những tuyệt sắc giai nhân mà hai ông vua đầy uy quyền của lịch sử Trung Quốc kia phải sợ hãi vâng lời răm rắp. Trụ là một người có tài về quân sự, có sức mạnh hơn người, ông đánh thắng bộ tộc Di, nhưng thua cái vòng số một nõn nà của Đắc Kỷ. Ông là kẻ bạo ngược, mọi người đều sợ ông nhưng ông thì sợ Đắc Kỷ.

Nhan sắc của Bao Tự cũng lừng danh trong thiên hạ, nàng đã khéo dùng cái “vốn tự có” của mình để làm mê mẩn U Vương và quay ông ta như quay dế. Bữa nọ nàng làm bộ buồn và bảo: Ta bị stress. U Vương bèn cho massage thư giãn, cũng vẫn buồn, gọi các danh hài vô quậy, cũng chẳng vui được chút nào. Hỏi làm sao hết buồn thì đáp: Thiếp chỉ thích nghe tiếng xé lụa. Bao Tự vốn xuất thân là cô bé quê mùa do nhặt được trên nương rẫy đem về, nhưng kiểu giải trí này thì quả nhiên quá cầu kỳ và tốn kém. Bởi vì lụa Tô Châu, Hàng Châu ngày nay mua một mét cũng mất 50 đô la Mỹ, thời đó chắc cũng không rẻ gì, thế mà cứ đem cả ngàn mét lụa ra xé để mua lấy một cái nhếch môi cười. Chiều vợ mà như U Vương quả trên đời chỉ có một. Cho nên người Trung Quốc đã hoảng hốt mà thốt lên rằng: “Sắc bất ba đào dị nịch nhân.” Có nghĩa là Vẻ đẹp của người nữ tuy không có sóng gió bão bùng nhưng rất dễ làm chìm đắm con người.

Vào khoảng đầu thế kỷ 20 ở Paris có chàng văn sĩ tài ba gốc người Áo tên là Rilke, tuy cách xa Trung Quốc ngàn dặm nhưng chắc vì cũng có kinh nghiệm mê gái đầy mình và có lẽ cũng đã từng bị các nương tử tóc vàng đì cho sói trán nên bèn nắm mấy cái sừng trên đầu mình mà khóc rằng: “Đẹp là một cái gì đáng sợ.”
*
Người sợ vợ, dĩ nhiên rất yêu vợ, cưng và quý như một báu vật trên đời. Người vợ muốn được chồng cưng và quý như thế phải là một người như thế nào chứ! Ngoài nhan sắc, tính tình phải dịu dàng, phải có tri thức, phải có đời sống tình dục và đời sống tinh thần hòa hợp với chồng. Nói chung là một người không thể thiếu trong đời sống của anh chồng. Có như thế anh chồng mới sợ mất, sợ sứt mẻ tình cảm, sợ không làm vợ mình hài lòng, sợ nàng buồn bã, nhan sắc sẽ tàn phai.

Tôi biết có anh chồng cưng vợ đến nỗi có lần ghen mà không dám nói nặng, tất nhiên cũng không dám đánh, nhưng vì tức quá nên anh ta rút một cây nhang trên bàn thờ đập vào vai nàng một cái. Sách thánh hiền thường dạy: Chớ bao giờ đánh người đẹp dù là đánh bằng một đóa hoa. Anh bạn của chúng ta chắc cũng hiểu cái đạo lý ấy nên mới dùng một cọng nhang. Bởi vì đó là thứ dùng để thờ lạy, để tỏ lòng tôn kính. Đánh vợ mà đánh bằng một cọng nhang thì có khác gì quỳ trước mặt nàng mà hành lễ?

Nghĩ cho cùng, sợ vợ mà kiểu như U Vương, Trụ Vương thì chỉ đem lại tai họa. Nhưng sợ vợ mà biết nâng niu chiều chuộng nàng thì đúng là cái phước lớn của thiên hạ. Và nói theo triết học Thiền tông thì: Biết sợ vợ là đã NGỘ rồi vậy.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Tài Tử Đơn Dương Quay Clip Sex
Tống Tiền Một Người Tình Cũ (?)


Image
Theo nguồn tin chính thức, có ít nhất hai vụ kiện liên quan đến tài tử Đơn Dương đang được thụ lý. Qua đó, Đơn Dương bị tố cáo:

- Gian dối về tình trạng sức khoẻ trong khi đã nhiễm vi khuẫn "giết người" Hepatitis B hoặc C có thể lây lan qua người chung chăn gối.

- Dùng phim ảnh, thu thanh, hình nude để tống tiền một người đàn bà lên đến nhiều trăm ngàn đô la.

- Lừa gạt sở di trú và chính quyền Hoa Kỳ để đem người vợ đã li dị (bà Vũ Thị Sanh) đi theo qua Mỹ để lấy 10 ngàn đô la. Sau đó li dị thêm một lần nữa tại San Jose để lừa gạt nhiều người đàn bà nhẹ dạ khác.

Hồ sơ vụ kiện lên đến hàng trăm trang.

Đơn Dương là một tài tử khá nổi tiếng từ Việt Nam tị nạn sang Hoa Kỳ vì chính trị.

Anh là một lãng tử đa tình, nổi tiếng "đập nát con tim" nhiều người đàn bà lừng danh.

Một bài báo trong nước đã có đoạn nói về Đơn Dương như sau:
Đơn Dương gặp rắc rối với phim "Rồng Xanh"
Sau bộ phim "Chúng ta là những người lính" bị dư luận lên án là xuyên tạc lịch sử Việt Nam, giờ đây, tác phẩm "Rồng xanh" mà Đơn Dương thủ vai chính lại bị đưa ra mổ xẻ. Các nhà quản lý văn hóa lên án diễn viên này vì phim có nội dung bôi bác Việt Nam.

Rồng xanh mở đầu bằng cảnh máy bay B-52 của Mỹ ném bom rải thảm ở miền Nam Việt Nam. Tiếp theo là hình ảnh từng đoàn trực thăng Mỹ bốc lính Sài Gòn di tản và họ được đón tiếp nồng hậu trên đất Mỹ trong những căn lều dã chiến. Sự kiện này được ghi trên màn hình là tháng 5/1975.

Đơn Dương vào vai trưởng trại di tản và là trợ lý đắc lực cho sĩ quan Mỹ (diễn viên Patrick Swayer thủ vai). Trước những người di tản muốn trở về Việt Nam, trưởng trại nói: “Cậu là quân nhân, họ không cho cậu trở lại cuộc sống bình thường, không có cơ hội đâu”... Có cả một trường đoạn nhân vật Đơn Dương đóng thuyết phục mọi người đến Mỹ, vì ở đó là thiên đường tự do với “siêu thị có nhiều hàng hóa, nhà cửa to bự, ngang hàng thẳng lối...”. Kết thúc phim là cảnh nhân vật này cùng vợ nhập quốc tịch Mỹ.
Image
Đơn Dương trong phim Rồng xanh.
Ở bộ phim Chúng ta là những người lính, Đơn Dương cho rằng anh không nắm rõ kịch bản, bị các nhà làm phim Mỹ lừa vì ở khâu hậu kỳ họ đã cắt xén cảnh, thì ở vai này, nhiều nhà quản lý khẳng định, anh không thể nói bị lừa thêm lần nữa. Ông Nguyễn Ngọc Quang, Giám đốc Hãng phim Giải Phóng, nhận xét: "Dù không được chiếu công khai, nhưng phim Rồng xanh đã có ở Việt Nam qua thị trường đĩa lậu. Việc Đơn Dương tham gia đóng phim này thể hiện sự thiếu trách nhiệm của một nghệ sĩ điện ảnh Việt Nam đối với đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật vì đã tự ý ra nước ngoài tham gia đóng phim mà không xin phép các cơ quan quản lý văn hóa".

Ông Lê Văn Duy, Ủy viên Ban Thư ký Hội Điện ảnh, nói: "Đơn Dương không thể biện minh gì được qua bộ phim Rồng xanh mà anh tham gia vai chính. Hơn 90% lời thoại của các nhân vật trong phim là bằng tiếng Việt thì anh ta không thể nào nói: Tôi bị lừa hoặc Tôi không hay biết... Chưa kể, chính Đơn Dương lồng tiếng cho các vai diễn của mình và anh đã ôm đàn hát bài Sài Gòn ơi vĩnh biệt, có nội dung phản động".

Ông Nguyễn Phúc Thảnh, Cục trưởng Điện ảnh, phát biểu: "Đơn Dương ra nước ngoài bằng đường du lịch, rồi tự ý tham gia đóng hai phim Chúng ta là những người lính và Rồng xanh với nước ngoài, hoàn toàn không xin phép các cơ quan chức năng thuộc Bộ Văn hóa Thông tin".

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Tâm sự cái quần... din

Quỳnh Giao

Mỗi năm, cứ đến ngày lễ Hai Bà, người viết mục tạp ghi này lại thấy... bức xúc.

Lâu lâu mượn lại chữ của người Hà Nội sau khi họ mượn quá nhiều của chúng ta thì chắc cũng là công bằng thôi! Bức xúc vì thấy hai bà lộng lẫy quá nên chẳng rõ là Nhị Trưng trận mạc ra sao, vào thời xa xưa cũ. Chắc chắn là Hai Bà không thể ăn bận như một tiểu thư vừa chạy ra khỏi Hồng Lâu Mộng của Tầu. Nhiều phần là Hai Bà Trưng đi chân đất quấn xà cạp trên bắp chân vạm vỡ bùn lầy để xua cho binh lính của Tô Ðịnh chạy tới bán sống bán chết.

Nghĩ vậy, mình bỗng tự hỏi, rằng tà áo dài của phụ nữ Việt Nam có từ y phục Trung Quốc cải biên ra chăng. Nhiều phần là không, trăm lần là không! Có khi chúng ta mượn lại của dân Chiêm Thành, của người Chàm, mà không ghi nhận tác quyền - như mọi khi.

Chuyện lịch sử và mỹ thuật ấy, xin nhường cho quý vị có thẩm quyền, để một ngày nào đó dân ta có thể trả lại từng việc cho từng người, từng thời, cho nó công bằng. Trong khi chờ đợi, sao ta không nhìn vào nước Mỹ, hay nhìn qua miền Nam nước Ðức... vào đất Bavaria.

Khu vực Bavaria này không chỉ có hãng xe BMW nổi tiếng trên thế giới (tên Ðức của hãng này là “Bayersirche Motoren Werke” hay Bavarian Motor Works). Nó là vùng đất thiêng, có những người cứng đầu cứng cổ nhất, chả thua kém gì dân Bình Ðịnh của ta hay Texas của Mỹ!

Ngoài những cơ sở kinh doanh khét tiếng, như BMW, Siemens, Audi hay Allianza, họ còn có một báu vật khác, đó là cái quần!

Thời ấy rồi, trước khi chủ nghĩa thực dụng của Hoa Kỳ xuất hiện thì dân Bavarian đã có một tinh thần thực dụng rất bướng, như bà con Bình Ðịnh hay Texas sau này. Sống bên triền núi Alp, họ thấy cái quần của dân miền núi quả là tiện lợi. Từ thế kỳ 18, chính là thành phần quý tộc nơi đó đã... phục chế chiếc quần dân giả thành một vật trang sức. May quần bằng da bê non hay da hoẵng (cho mềm) họ lấy kiểu mẫu của chiếc quần ngắn Lederhosen hay quần dài Kniebundhose. Họ coi đó là hòa mình vào quần chúng, nhưng cải biên thêm bằng những đường thêu rất đẹp trên dải ngang của chiếc quần.

Lần đầu tiên, họ cũng vạch một xẻ dọc ở giữa, bấm bằng hai khuy để các ông dễ giải quyết chuyện thiên nhiên giữa thiên nhiên. Rồi đơm thêm túi ngoài để cài dao hay những vật lỉnh kỉnh khác của các ông. Lỉnh kỉnh không là một độc quyền của phụ nữ đâu.

Nhưng, vật gì thì cũng phải xứng kỳ đức.

Vào đầu thế kỷ 19, khi loại quần ấy trở thành phổ thông và xuất hiện trên các mục... “thời trang nhạc tuyển” - lại xin mượn một chữ vô nghĩa khác - cùng với tấm áo Dirndl khá hở hang của thiếu nữ, các bậc đạo cao đức trọng đã chau mày. Giáo hội lập tức lên tiếng than phiền cái tội công xúc tu sĩ. Diễn giải theo tiếng ta cho dễ hiểu là xâm phạm thuần phong mỹ tục!

Vốn dĩ cứng đầu từ lâu, dân Bavarian nổi loạn nên càng mặc cho bõ ghét. Ðến độ trở thành cái mốt, một thứ thời trang. Ðâm ra khi mặc quần là một cách khiêu khích về chính trị thì hình như các ông cũng đi trước các bà đang kịch liệt tranh đấu cho nữ quyền, chứ nào có phải đợi bà Hillary Clinton!

Cuối cùng thì sau Ðại chiến Thế giới 1918, cái quần tứ chiếng ấy của dân Bavaria đã chinh phục bốn phương. Từ khu vực Baravia ra khắp nước Ðức, nước Áo, tới Âu Châu và vượt biển qua Hoa Kỳ.

Nếu không hình dung ra trang phục thời thượng ấy thì xin cứ xem lại phim “Sissi” thì sẽ thấy Quận Công Max, thân phụ của nàng Sissi qua tài diễn xuất của Romy Schneider đã vênh váo bận cái quần Lederhosen. Nếu để ý đến lễ tháng 10 Oktoberfest của dân Ðức, ta cũng thấy loại quần “quốc hồn quốc túy” ấy xuất hiện ở rất nhiều nơi, trên cả sân khấu Opera ở New York (vở “The White Horse Inn” tại Broadway...)

Cái quần ấy không chỉ là vang bóng của một thời mà đã trở thành cái mốt của giới thượng lưu có tiền. Ông Thống Ðốc Arnold Schwarzenegger của tiểu bang lắm chuyện này cũng đã phải tự sắm một cái “surmesure”, custom made, thì mới ra người văn minh lịch lãm!

Trên thế giới ngày nay, có hai loại quần đang là biểu tượng của các đấng mày râu thanh lịch. Ðó là cái Lederhose và chiếc quần din.

Như nhiều người chúng ta có khi phật ý khi nghe nói rằng chiếc áo dài của mình có khi lấy kiểu từ áo Chàm chứ không từ cái xườn xám của Tầu, nhiều người Mỹ cũng không chịu rằng cái quần din quốc hồn quốc túy của họ lại lấy... kiểu Ðức, hay Ý!

Có người cho rằng quần jean của Mỹ chỉ là hậu thân của cái quần xanh mà thủy thủ của thành Genoa vẫn mặc. Vì vậy mới có tên là “bleu de Gênes,” rồi bị đọc trại thành “jean.” Nhưng, vì sao quần Ý lại có tên Tây? Vì lấy vải bông của Pháp dệt tại thành phố Nimes, nên sau này mới có tên là “denim cotton?”

Chưa chắc đâu! Xuất xứ của quần jean chỉ có thể là xứ Bavaria...

Vào giữa thế kỷ 19, một người Bavarian gốc Do Thái di cư sang Mỹ và nhớ đến đặc sản quê nhà, ông sáng chế ra cái quần dãi dầu nắng mưa cho dân Mỹ. Ông dùng vải bông rất dày... de Nimes, cách điệu hóa cái quần Lederhose thành một quần dài, rất bền, cho những tay tứ chiếng đào vàng tại miền Tây. Dấu hiệu không lầm được cũng là nút bấm ở ngoài, nhưng theo kiểu Mỹ là bấm bằng nút đồng! Phát minh này có trình tòa đàng hoàng. Ông ta là Levi Strauss. Ông tổ của các quần din. Hỏi nó mà xem, nó sẽ kể lại cho nghe...

Tội lắm, các quần din trị giá mấy trăm bạc của nam thanh nữ tú đời nay là đứa em họ xa của cái quần Lederhose. Ngày xưa, mặc quần rồi may ra mới đào ra vàng, ngày nay, có vàng rồi người ta mới mặc quần, và quần din mà lái xe Beamer - BMW - thì mới là phong cách Bavarian. Cũng quý tộc nhiều đời chứ có tầm thường đâu!

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Chuyện phiền lúc cuối năm
Tưởng Năng Tiến

Khi bạn đứng tần ngần trước một quầy hàng bầy thiệp giáng sinh, và tất cả đều đã “off” từ bốn đến sáu chục phần trăm thì mọi chuyện kể như là đã lỡ. Chúng ta lại trễ tràng mất rồi.
Năm ngoái, cũng vào khoảng thời gian này đây. Lúc mà Noel đã đến sát tận lưng, và cái tết Dương Lịch đang đứng lù lù trước mặt thì (không dưng) bạn nhận được dăm ba cánh thiệp giáng sinh đến muộn. Thiệp có đặc tính chung là thường hay chuyên chở một thứ nội dung làm sẵn và đã nhẵn, đại loại như: “...một mùa giáng sinh tràn đầy ân sủng Chúa và một năm mới tràn đầy hạnh phúc…”

Ân sủng Chúa, nếu có, e cũng khó mà có thể phân phát tùm lum một cách “tràn đầy” cho nhân loại được. (Chúng ta đông qúa và mỗi lúc một thêm đông mà. Sức Chúa, cũng như sức người, có hạn thôi chứ bộ).
Image
Hình minh họa.Photos.com
Còn hạnh phúc thì sợ rằng chưa ai biết nó mùi vị (thực sự) ra sao. Chúng ta chỉ đều mơ hồ hiểu rằng hễ nhắc đến hạnh phúc thì đừng bao giờ mong cho nó “tràn đầy”. Mọi thứ đầy đều dễ đổ. Và hạnh phúc (thì ôi thôi) bạn thử ngó quanh xem: đó là cái thứ cứ đổ bể rầm rầm, ở tất cả mọi nơi và mọi thời.

Bạn có thể không chú ý đến nội dung hàm hồ của những tấm thiệp nói trên nhưng tên người gửi, ghi rành rành ngoài phong bì, vẫn khiến bạn phải lưu tâm chứ. Có nhiều thằng cha lạ hoắc, sao chả lại gửi thiệp cho mình vậy cà?

Có những con mẹ mà bạn tưởng rằng đã hoàn toàn (và vĩnh viễn) ra khỏi cuộc đời mình rồi thì khi khổng khi không, chiều cuối năm – khi mà nắng vàng dịu dàng đang ôm nhẹ những thảm cỏ xanh mênh mông ở California – bạn bỗng nhận được một cánh thiệp muộn màng của cố nhân.
Mà không phải là loại thiệp cà chớn, mua hàng lố đâu nha. Thiệp loại chiến, kích thước dềnh dàng, mắc tiền là cái chắc. Cũng không phải chỉ có một chữ ký vội vàng (lười biếng) bên dưới hàng chữ “Merry Christmas and Happy New Year”, hay vài câu viết thêm vô nghĩa ngớ ngẩn thôi đâu. Người ta tuy chỉ viết vài hàng ngắn ngủi, giản dị nhưng đọc là thấy tình nghĩa nồng nàn, thấm đậm, và … tình tứ hết biết luôn!
(Cố nhân ơi biết chiều nay ta buồn).

Những cánh thiệp bất ngờ, muộn màng và chàng ràng như thế – đôi khi – làm chúng ta bối rối. Nó là bằng chứng hùng hồn về cách cư xử hơi (bị) thiếu văn minh của bạn. Nó khiến chúng ta lấy làm tiếc là tại sao mình lại vô tâm đến thế, sao không nhớ gửi thiệp cho thiên hạ như họ đã gửi cho mình.

Vào một lúc yếu lòng hơn, nó còn “dám” làm cho bạn tự hứa là sang năm sẽ nhớ ghé qua cửa hàng bán thiệp cho phải chuyện; và ghé sơm sớm cho xong chuyện.
Nếu đến cái lúc gọi là “sang năm” đó mà chúng ta thực hiện được lời hứa một cách nghiêm chỉnh, đàng hoàng thì cuộc đời (rõ ràng) ổn thỏa và dễ sống biết chừng nào. Vi nhân nan. Làm người quả khó, và khó lắm. Khi mà bạn có đủ trí nhớ, và đủ can đảm để dừng xe, ghé vào một cửa hàng nào đó thì (than ơi) chuyện gửi thiệp e không còn kịp nữa.

Bạn lại đứng tần ngần trước một quầy hàng bán thiệp, và tất cả đều đã “off” từ bốn đến sáu chục phần trăm. Bạn lại chậm chân y như năm ngoái hoặc năm kia vậy. Và tình trạng này, không chừng, dám đã xẩy ra từ năm kỉa hay năm kìa lận.

Ôi, nếu duyên nợ của bạn đối với chuyện thiệp thiếc này nọ mà nó cứ nhì nhằng, triền miên như thế từ năm này đến năm khác. Hay từ thập niên nọ qua thập niên kia thì xin cũng đừng lấy đó làm phiền. Như thế, không chừng, lại là một điều may đấy. – May sao? – Dạ, đúng!
Nói tình ngay thì bạn cũng không may gì mấy; có điều, chắc chắn, là bạn vẫn may mắn hơn cả đống người Việt tha hương khác. Xin đơn cử một thí dụ, một trường hợp rất không may, bằng cách tiếp tục câu chuyện đang bỏ dở.

Có kẻ ngay sau khi thấy rằng chuyện gửi thiệp giáng sinh không còn kịp nữa thì họ quyết định ngay là mua thiệp xuân để gửi cho kịp Tết. Họ thua keo này (liền) bầy keo khác. Họ suy tính một cái “rẹt”; hành động một cái “rột.” Thấy mà đã mắt, nghe mà sướng tai. Trong sinh hoạt hàng ngày của họ không có những giờ phút vớ vẩn kiểu như “tần ngần,” do dự” hay “nuối tiếc”... bất cứ chuyện gì. Bạn thấy họ sống mà phát thèm, đúng không?

Khoan, gượm một chút đi bạn vàng. Có nhiều chuyện (ngó) tưởng vậy chớ không phải vậy đâu. Tưởng như vậy là tưởng năng thối. Từ từ, bạn sẽ thấy là họ cũng khốn đốn thấy mẹ luôn.
Hãy hình dung ra chính bạn ngồi ngay ngắn ở bàn viết, với một đống thiệp xuân, mua trước Tết cả tháng trời, và với sổ địa chỉ điện thoại của tất cả những người quen trên “toàn thế giới”. Cho nó cẩn thận, để khỏi xót ai – không chừng – bạn còn làm một danh sách chia làm hai phần: A và B. Phần A dành cho những người ở Việt Nam hay còn đang ở trại tị nạn; phần B dành cho những kẻ ở Huê Kỳ, Pháp, Úc, Gia Nã Ðại, Tiệp Khắc…
Rồi sao nữa? Không lẽ ký tên cái ào bên dưới câu “Cung Chúc Tân Xuân” rồi gửi đi sao? Ðâu có được cha nội! Làm như vậy thà đừng làm còn hơn. Mỹ, Tây, Tầu, Ðại Hàn, Ba Lan, Nhật Bổn, Miên, Lèo… thì sao không biết, chớ người Việt mà nhận được một cái thiệp ký tên xuông như vậy là họ mích lòng (dữ lắm) à nha.

Bạn phải viết vô đó vài dòng cho nó đàng hoàng chớ. Câu hỏi đặt ra là chúng ta viết cái gì đây – hả Trời ?
Với bố mẹ, anh chị, cô dì, chú bác… đang (kẹt) ở Việt Nam thì bạn tính làm sao? “Một mùa Xuân “an bình” hay “con cầu chúc bố mẹ, anh chị, và các em luôn được vui tuơi và khỏe mạnh trong năm mới…” ?
Nè (tui nói cho mà hay) dù thân nhân ở quê nhà có thương yêu bạn cách mấy, và có xuề xòa dễ tính đến đâu chăng nữa thì họ cũng không chấp nhận được những lời cầu chúc vô tâm và vô trách nhiệm như vậy đâu. Nếu ở Việt Nam mà có “một mùa xuân an bình” hay một cuộc sống “vui tươi và khỏe mạnh” thì đâu có ai phải bỏ nước ra đi; hoặc đã lỡ đi thì chúng ta cũng đã ùn ùn kéo về không sót một mống nào rồi chớ đâu đến nỗi để xẩy chuyện “hồi hương cưỡng bách.” (Nghe thấy ghe chết mẹ)!

Rồi bạn viết cái gì trên tấm thiệp gửi cho một người đang “nằm chờ” ở trại tị nạn đây? “Một năm mới tràn đầy hy vọng” chắc? Hy vọng, cũng như hạnh phúc, tui đã nói rồi, kị nhứt là cái vụ “tràn đầy” mà. Một xíu xiu mảy may hy vọng họ cũng chưa chắc được, nhất là đối với những kẻ đến trại tị nạn sau ngày 19 tháng 6 năm 1988. Cái khổ của chúng ta là không đủ giả dối để cầu chúc cho họ “sớm được định cư”; và không đủ nhẫn tâm để mong họ “trên đường hồi hương được nhiều may mắn”! Cái gì chớ may mắn thì ở Việt Nam, kể như, miễn có.

Nếu nhờ Trời cứu, nghĩa là nhờ một phép lạ nào đó, bạn giải quyết xuông sẻ hết những người có tên danh sách ở phần A thì bạn vẫn còn bị kẹt ở phần B như thường.
Chúng ta – những kẻ đang sống an bình ở hải ngoại – nói năng làm sao với nhau, nhân dịp xuân về đây? Những lời chúc tụng truyền thống, được ông bà cha mẹ chúng ta sài tới sài lui hồi giờ đâu còn dùng được nữa. “Chúc ông bà, anh chị...làm ăn phát tài gấp năm, gấp mười năm ngoái” chăng? Bạn có tính xúi thiên hạ đi ăn cướp nhà băng hay bán cocaine không vậy?
Cũng chớ có quen miệng mà buông một câu kiểu như “đầu năm sinh con trai cuối năm sinh con gái” nha. Cái gì chớ phá thai là điều không mấy ai ưa. Nói năng lạng quạng gây thù chuốc oán như không.
Hay là bỏ mẹ những chuyện cá nhân lẻ tẻ đó đi. Phang đại một lời cầu chúc cho đại cuộc, không chừng lại ngon lành. Tới luôn bạng vàng, đâu có chết thằng Tây nào mà sợ. “Mai này cùng về Việt Nam” chăng?
Nghe thì vui nhưng nghĩ lại thì hơi khó. Ngó bộ mốt hay ngày kia cũng chưa chắc về được chớ đừng nói chi mai; trừ khi, bạn giả dạng làm du khách “chơi lén” một chuyến thì không kể.

Khó há! Trong hoàn cảnh chúng ta, nghĩ cho cùng, thì chỉ còn có thể gửi vài ba cái thiệp cho những người bạn thật thân thôi. Chỉ đối với những người này, may ra, mình mới có thể cởi bỏ được những hình thức xã giao nhảm nhí và gửi đến nhau đôi lời cầu chúc hay giễu cợt thân tình. Mà đã thân cỡ đó thì cần chi tới thiệp. Sao đêm ba mươi không dùng cell phone đấu láo, đấu lếu một chập cho nó đã miệng.

Tới đây thì hy vọng ít nhiều bạn cũng đồng ý rằng lờ tít chuyện thiệp xuân thiệp tết đi thì thiệt là kỳ, nhưng nhào vô cái vụ này thì phiền quá. Ðời sống, tự nó, đã phiền bỏ mẹ đi rồi. Bầy thêm chuyện để phiền mình và phiền lẫn nhau làm chi, phải không?

Nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò trang nhã, có tính cách truyền thống, rất đáng giữ gìn của những cái thiệp trao đi gửi lại đâu. Ðúng là nó cũng đẹp đấy, cũng được đó, nhưng chỉ e nó không hợp mấy trong lúc này thôi. Cái lúc mà chúng ta vẫn còn đang sống giữa nhũng mùa xuân ly loạn đó mà.

Post Reply