Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Tiếng khóc đêm Noel

Từng dòng người, từng đoàn xe hối hả đua chen trên các đường phố Sài Gòn trong những ngày Noel, đặc biệt là từ sáng ngày 24/12 cho đến hết nửa đêm. Bộ mặt phố phường rộn rã hẳn lên bởi những bài hát Noel phát ra từ các loa mở rất lớn, và những hang đá, những ông già Noel, những chú tuần lộc xinh xinh được trang trí trên khắp các đường phố, đặc biệt là nơi các cửa hiệu lớn, các nhà hàng, các khu vui chơi hầu để thu hút khách. Noel giờ đây không phải chỉ còn là ngày lễ dành riêng cho người Công giáo mà đã trở thành lễ chung của mọi dân tộc trên thế giới, và từ đó các giới kinh doanh khắp nơi cũng nhảy vào để chộp thời cơ làm giàu trong những ngày này, đã thương mại hóa bầu khí Noel, và ở Việt Nam một đất nước XHCN chủ trương vô thần cũng đã nhập cuộc với Noel bằng những bài phóng sự những hình ảnh được phát trên các truyền thông đại chúng, về việc khắp nơi trên đất nước này vui mừng háo hức đón mừng Noel, để khắp nơi trên thế giới biết rằng ở Việt Nam rất tôn trọng nhân quyền và tự do tôn giáo.

Có thật thế không hay chỉ là những chiếc bánh vẽ? Khi mà ở đây đó vẫn còn những tiếng nức nở, oán than, nghẹn ngào khi quyền tự do tín ngưỡng không được tôn trọng như ở Sơn La không được tổ chức Thánh lễ trong đêm Giáng Sinh.

Cha phụ trách Sơn La, từ thị xã Sơn Tây, Hà Nội, cách Sơn La 350 km, vừa lên đến Sơn La đã có mấy chục công an bao vây địa điểm làm lễ, không cho ngài vào và buộc ngài phải về lại Hà Nội. Giáo dân ở các nơi khi tụ tập lại thì bị công an cô lập và đe doạ và ở tỉnh Đak Lak, quận Krong Bong, xã Cu Dram, sáng sớm hôm 18 tháng 12 chính quyền đã dùng vũ lực để đập phá nhà thờ mới xây, một lực lượng gồm các viên chức cấp quận, cảnh sát và công nhân đã kéo tới san bằng nhà thờ giữa lúc lực lượng bảo vệ an ninh trật tự dùng gậy đánh đuổi hàng trăm giáo dân đang trong trạng thái tuyệt vọng. (nguồn vietcatholic)

Đêm Noel tại Sài gòn, mọi người đón mừng sự kiện Con Thiên Chúa giáng trần trong thân phận của một hài nhi bé nhỏ, chúng ta tô điểm cho đêm Noel thật hoành tráng bằng tất cả những gì tốt đẹp nhất và nhiều tốn kém như các hang đá cầu kỳ được giăng đầy các bóng đèn điện đủ màu sắc, các buổi Réveillion thật đặc biệt đủ mọi món ăn và các loại rượu bia mắc tiền. Chính quyền cũng cổ động và chúc mừng và cũng nói đến niềm an lành, hạnh phúc của đêm thánh mà Hài Nhi Giêsu đã đem lại.

Nhưng thật trớ trêu thay, chúng ta đón mừng sinh nhật Hài Nhi Giêsu đã hạ sinh cách đây hơn hai ngàn năm trong một tâm trạng rộn ràng phấn khởi, mà ngay hôm nay đây tại thành phố Sài Gòn này có biết bao nhiêu thai nhi bị tước mất quyền sống làm người???.

Tại một bệnh viện nhỏ thuộc vùng ngoại ô, chỉ trong ngày Noel, tôi đã nhận được 16 thai nhi đã bị giết chết một cách oan uổng đau thương, đem về để lo hậu sự, lo cho các bé một nơi an nghỉ cuối cùng, nhìn những phần thân thể của các bé bị nghiền nát, gắp lựa từng phần thịt nhỏ nhoi của các bé bị bỏ chung với các băng, bông, bao tay, rồi đem cho vào hũ nhỏ, mà lòng cảm thấy quặn thắt đớn đau. Nếu tính cả toàn thành phố, hay cả nước thì hôm nay bao nhiêu thai nhi đã bị giết bởi sự dã tâm của các Hêrôđê thời đại???

Ôi! Đêm nhiệm mầu, đêm hạnh phúc mà sao không thấy Hài Nhi Giêsu mỉm cười, mà lại nằm úp mặt xuống đống rơm khóc nức nở, tiếng khóc của Hài Nhi Giêsu thật nhỏ, thật âm thầm, thật lặng lẽ để cùng hòa vào tiếng khóc đau lòng, nát ruột, xé trời của các thai nhi khi mà các bé đang bị móc, bị moi, bị cắt, bị xé từng phần thân thể và bị lôi ra khỏi lòng mẹ.

Ai muốn nghe được tiếng khóc ấy phải cần có một con tim thật rộng mở, một tấm lòng khao khát thật thẳm sâu, một tâm hồn thiện chí yêu thương Hài Nhi Giêsu và các thai nhi mới có thể nghiêng tai lắng nghe được những tiếng khóc than âm thầm, nhẹ nhàng ấy nhưng lại xé nát cả các tầng trời.

Hài Nhi Giêsu đã khóc vì sự tàn nhẫn của con người.

Hài Nhi Giêsu cũng đã khóc vì sự vô cảm, hờ hững của mỗi người chúng ta.

Hài Nhi Giêsu cũng đã khóc vì sự hèn nhát của một số các mục tử đã không dám nói lên sự thật, đã không dám mạnh dạn đấu tranh vì công lý, mà trong các bài giảng không dám đề cập đến vấn đề nạo phá thai, vì sợ áp lực của thế gian. Chính vì thế đã để cho các con chiên của mình mù mờ trong nhận thức về giáo huấn của giáo hội, đã sử dụng các biện pháp tránh thai nhân tạo và vẫn vô tư phá thai.

Trong năm 2008 vừa qua sự kiện Tòa Khâm Sứ và Thái Hà đã lôi kéo được cả nước và trên thế giới cùng nhau đốt nến nguyện cầu cho công lý và hòa bình vì các khiếu kiện liên quan đến đất đai.

Còn vấn đề nạo phá thai thì sao? Việt Nam là một trong ba nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới, là thành tích mà các quan chức đang tự hào. Đây có phải là một sự kiện mà đòi hỏi mọi người công giáo trên khắp đất nước cần phải đấu tranh, lên tiếng để bảo vệ quyền sống, quyền làm người của các thai nhi không?

Có cần phải mạnh mẽ đốt nến cầu nguyện khắp nơi đòi quyền sống cho các thai nhi không? Các linh mục có cần dũng cảm rao giảng về vấn đề này trong các buổi lễ chúa nhật không?

Có người trong đó có cả các linh mục sẽ lo sợ rằng: Nói đến vấn đề chống nạo phá thai là đi ngược lại chính sách đường lối của đảng và nhà nước là chống lại đảng và nhà nước. Nhưng đúng ra phải nói ngược lại là: Chính sách cho phép nạo phá thai hợp pháp của đảng và nhà nước Việt Nam đã và đang đi ngược lại giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo và đang chống lại Giáo Hội.

Là người Kitô hữu Việt Nam mỗi người hãy chọn cho mình một thái độ dứt khoát chứ không thể làm tôi hai chủ.

Thiên Chúa và thế gian hãy chọn đi. Đừng để đến ngày chung thẩm Hài Nhi Giêsu và các thai nhi sẽ đứng lên xét xử chúng ta vì sự vô cảm và hững hờ của chúng ta.

Ước gì những mùa Noel năm sau Hài Nhi Giêsu sẽ mỉm cười và đưa tay chúc phúc cho dân tộc Việt Nam.

(Sài Gòn, Noel 2008)
Nắng Sai Gòn

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

Lá Thư của Tổng Thống Lincoln
Gởi Thầy Giáo Dạy Con Trai Ông
Con tôi sẽ phải học tất cả những điều này, rằng không phải tất cả mọi người đều công bằng, tất cả mọi người đều chân thật. Nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết cứ mỗi kẻ vô lại ta gặp trên đường phố thì ở đâu đó sẽ có một người chính trực, cứ mỗi một chính trị gia ích kỷ, ta sẽ gặp một nhà lãnh đạo tận tâm.

Bài học này sẽ mất nhiều thời gian tôi biết, nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết rằng mỗi một đồng đô la kiếm được do công sức lao động của mình bỏ ra còn quý giá hơn nhiều so với 5 đô la nhặt được trên hè phố.

Xin hãy dạy cho cháu biết cách chấp nhận thất bại và cách tận hưởng niềm vui chiến thắng. Xin hãy dạy cho cháu tránh xa sự đố kị. Xin hãy dạy cho cháu biết được bí quyết của niềm vui chiến thắng thầm lặng. Dạy cho cháu biết được rằng những kẻ hay bắt nạt người khác nhất lại là những kẻ dễ đánh bại nhất.

Xin hãy giúp cháu nhìn thấy thế giới kỳ diệu của sách, nhưng cũng hãy cho cháu có đủ thời gian để lặng lẽ suy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống: đàn chim tung cánh trên bầu trời, đàn ong bay lượn trong ánh nắng và những bông hoa nở ngát bên đồi xanh.

Ở trường xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi trượt còn vinh dự hơn gian lận trong khi thi. Xin giúp cháu có niềm tin vào ý kiến riêng của bản thân, dù tất cả mọi người đều cho rằng ý kiến đó hoàn toàn sai lầm.

Xin hãy dạy cho cháu biết cách đối xử dịu dàng đối với những người hoà nhã và cứng rắn đối với những kẻ thô bạo. Xin tạo cho cháu sức mạnh để không chạy theo đám đông khi tất cả mọi người đều chỉ biết chạy theo thời thế.

Xin dạy cho cháu biết phải lắng nghe tất cả mọi người nhưng cũng cần phải sàng lọc những gì nghe được qua một tấm lưới chân lý để cháu chỉ đón nhận những gì tốt đẹp.

Xin hãy dạy cho cháu biết cách mỉm cười khi buồn bã. Xin hãy dạy cho cháu biết rằng không có sự xấu hổ trong những giọt nước mắt. Xin hãy dạy cho cháu biết chế giễu những kẻ yếm thế và cẩn thận trước sự ngọt ngào đầy cạm bẫy.

Xin hãy dạy cho cháu biết rằng có thể bán cơ bắp và trí tuệ cho người ra giá cao nhất, nhưng không bao giờ cho phép ai ra giá mua trái tim và tâm hồn mình.

Xin hãy dạy cho cháu ngoảnh tai làm ngơ trước một đám đông gào thét và đứng thẳng người bảo vệ những gì cháu cho là đúng Xin hãy đối xử dịu dàng với cháu nhưng đừng vuốt ve nuông chiều cháu bởi vì chỉ có sự thử thách của lửa mới tôi luyện được những thanh sắt cứng rắn.

Xin hãy cho cháu biết rằng cháu phải luôn có niềm tin tuyệt đối vào bản thân bởi vì khi đó cháu sẽ có niềm tin tuyệt đối vào nhân loại.

Đây quả là một yêu cầu quá lớn, thưa thầy, nhưng xin thầy cố gắng hết mình. Nếu được như vậy thật là điều tuyệt vời đối với con trai tôi.

Abraham Lincoln

Phần Quảng Diễn và Thêm Ý

1.- Cuộc đời không phải chỉ toàn những cái xấu nhưng xấu tốt lẫn lộn, sống ở đời ta phải chấp nhận nó và cho những kẻ dữ, kẻ xấu biết rằng còn rất nhiều người tốt đang giữ gìn và phát triển công lý, công đạo. Những người này được sự kính phục của mọi người dù họ không có quyền cao chức trọng hay giầu có. Ngược lại kẻ phá bỏ công lý, công đạo (lẽ phải ở đời) bị khinh khi, đàm tiếu và bị xử theo pháp luật nghiêm chỉnh.

2. - Tiền mình kiếm ra mình tiêu mới đáng hãnh diện. Tiền nhặt được ở ngoài đường, dù không có tội nhưng không hãnh diện. Tiền do đè nén, hà hiếp hay xách nhiễu người ta mà có là điều nhục nhã. Kẻ không biết nhục với những hành động đó thì chẳng còn gì để nói nữa.

3- Biết chấp nhận thất bại để sau đó tu chí đứng lên làm lại mới được kính phục. Luôn giữ trên môi một nụ cười dù đời “không thuận thảo” với mình. Không ganh tị, đố kị nhưng hoà ái, trung dung. Biết tận hưởng niềm vui chiến thắng thầm lặng, không ồn ào, không khoe khoang. Những kẻ hay khoe khoang là những kẻ có nhiều nhược điểm nhất. Chấp nhận thi trượt còn hơn là đậu mà gian lận. Bằng cấp chỉ đo được kiến thức một cách tương đối. Không có bằng cho đạo đức, nhân ái, bao dung mà mỗi người cần, lãnh đạo cũng như thường dân. Những kẻ thất bại mà yếm thế, chán đời là những kẻ hèn yếu, nhu nhược không đáng được trọng.

4. - Tôn trọng tuyệt đối Lẽ phải và Sự Thật, những giá trị cao quý nhất của đời sống. Bỏ Lẽ Phải và Sự Thật, mớ sự việc của nhân sinh chỉ còn lại một đống phế liệu. Khi đã nắm vững sự thật và công lý, không gì có thể lay chuyển nổi ta nữa dù ta chỉ có một mình và bên kia là số đông.

5. - Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy. Hoà dịu với người tử tế, thẳng thắn với kẻ hung bạo chỉ biết dùng sức mạnh của võ lực. Biết lắng nghe mọi người rồi rút ra những điều quý giá mà ta không có trước khi nghe.

6. - Dùng tay chân và trí óc để mưu sinh nhưng không bán đạo đức và lương tâm của mình cho bất cứ thế lực nào muốn lợi dụng mình làm tay sai cho họ trong những việc bất chính nhất là những việc có phương hại đến những người đang cùng sống với ta trong xã hội.

7. - Thẳng thắn nói lên công lý và công đạo dù chỉ có đơb độc một mình. Bậc cha mẹ, thầy cô xin đừng nuông chiều trẻ em vì tạo cho chúng những tính xấu: ỷ lại, lười biếng, chính hai tính xấu này giết chúng sau này.

8. - Thiết lập và xây đắp niềm tin vào bản thân (tự tin) để làm mọi việc. Người có niềm tự tin ắt sẽ có tự trọng. Có tự trọng sẽ giữ liêm sỉ, không làm điều tà khuất. Người không còn liêm sỉ (không biết xấu hổ vì những điều xấu mình làm) sẽ chẳng còn gì để nói nữa.

9. - Đào tạo con người cần đến một kỹ thuật cao. Học làm người học suốt đời không hết.“Dạy con từ thuở lên ba” trẻ thơ được học cái gì nó sẽ thể hiện ra đời sống sau này khi trưởng thành. Ấu học (cái học khi còn thơ) là điều tối quan trọng.

10. - Người muốn mở mang trí tuệ cần phải có sách nhưng không thể là con “mọt sách” mà phải nhìn xa trông rộng ra thế giới bên ngoài để chiêm nghiệm nhiều điều khó tìm hoặc không có trong sách vở. Cổ nhân nói:”Tận tín ư thư bất như vô thư” cũng là điều hữu lý vậy.

Trần Đình Ngọc

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Thơ Ngũ Vị: Bí quyết lấy vợ


Lấy vợ nên kiêng lấy vợ non.
Ra đường ai biết cháu hay con.
Nhí nha nhí nhảnh đòi vàng bạc.
Bán cả bàn thờ sắm phấn son.

Lấy vợ xin anh lấy vợ non.
Tóc thề mườn mượt xõa eo thon.
Mắt sáng, môi hồng, da tươi thắm.
Đỡ tiền mua sắm những phấn son.

Lấy vợ nên kiêng lấy vợ già.
Ra đường ai biết chị hay bà.
Sanh hai ba lượt mình teo nhếch.
Má hóp, xương lòi, ốm như ma.

Lấy vợ xin anh lấy vợ già.
Ra đường em biết chuyện gần xa.
Lỡ anh đi lạc thì em nhắc.
Cũng tốt cho anh đó thôi mà.

Lấy vợ nên kiêng lấy vợ lùn.
Chồng cao vợ thấp khó đi chung.
Giữa đường vợ muốn bàn câu chuyện.
Chồng phải quỳ bên tiếp chuyện cùng.

Lấy vợ xin anh lấy vợ lùn.
Áo quần em mặc, vải hay thun.
Người cao một bộ, em hai bộ.
Tiết kiệm cho anh gấp bội phần.

Lấy vợ nên kiêng lấy vợ cao.
Tay chân lẵng khoẵng, tướng quều quào.
Rủi khi đau bụng đi cầu cá.
Lớ ngớ quều quào, lọt xuống ao.

Lấy vợ xin anh lấy vợ cao.
Chúng mình đùm bọc lẫn cho nhau.
Cây trái anh thèm, em tay với.
Đỡ mất công anh bắc thang trèo.

Lấy vợ nên kiêng lấy vợ ù.
Đêm nằm ôm vợ, ngỡ ôm lu.
Rủi khi bà mớ đè lên bụng.
Dẹp xác ông chồng khóc hu hu.

Lấy vợ xin anh lấy vợ ù
Tay em đầy đặn, tối em ru.
Kê đầu anh ngủ “êm hơn gối”.
Mộng đẹp, hiên ngoài gió vi vu.

Lấy vợ nên kiêng lấy vợ ròm,
Người toàn xương xẩu, làm sao ôm?
Thuốc tàu, thuốc bắc, cao hổ cốt.
Uống cả trăm ly vẫn ốm nhom.

Lấy vợ xin anh lấy vợ ròm.
Bỡi vì vừa đủ “một người” ôm.
Đỡ tiền ăn vặt, đỡ tiền cơm.
Nuôi em còn dễ hơn nuôi kiến.

Lấy vợ nên kiêng lấy vợ ghen.
Áo quần khi xé rách teng beng.
Rủi hôm cao hứng chồng về trễ.
Bể chén, bể ly, bể cái đèn.

Lấy vợ xin anh lấy vợ ghen.
Vì anh, em gác cửa cài then.
Vì anh, em mới làm như thế.
Nên đành phải thức trắng đêm đen.

Lấy vợ nên kiêng vợ sún răng.
Giận con lè lưỡi tựa bà chằn.
Tiệc tùng rủi gặp bò xào giấm.
Mắc nghẹn có ngày té ngã lăn.

Lấy vợ xin lấy vợ sún răng.
Đỡ tiền nha sĩ, ngại sâu ăn.
Sáng, trưa, chiều, tối em ăn cháo.
Khỏi phải mua bàn chải đánh răng.

Lấy vợ nên kiêng lấy vợ hô.
Hàm răng lởm chởm nói bô bô.
Rủi khi bả giận ôm chồng cắn.
Đổ máu phu quân chạy thấy mồ.

Lấy vợ xin anh lấy vợ hô.
Lỡ sau mà có gặp côn đồ.
Em cười, chúng tưởng Chung Vô Diệm.
Hồn xiêu phách lạc cõi hư vô
.


Khuyết Danh

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Thế giới tưng bừng đón năm mới

Trên khắp thế giới, người dân các nước đã đổ ra đường, tận hưởng những màn bắn pháo hoa rực rỡ và nhảy múa, ca hát chào đón năm mới 2009.

Image
Những người tham dự một bữa tiệc đếm ngược tới thời khắc năm mới đang đứng
phía dưới một tấm bảng điện tử đề năm 2009 tại Thượng Hải, Trung Quốc hôm 31/12/2008.

Image
Ảnh AFP

Đám đông tụ tập ngắm pháo hoa và chờ đón thời khắc chuyển giao giữa năm cũ 2008 và năm mới 2009
tại trung tâm thủ đô Seoul, Hàn Quốc.

Image
Ảnh AFP

Mọi người đổ ra đường ngắm pháo hoa được bắn từ các toà nhà chọc trời ở Hong Kong.

ImageImage
Ảnh Reuters

Màn trình diễn pháo hoa tưng bừng trên Vịnh Marina, nhà hát Esplanade ở Singapore (trái) và màn thả bóng mừng năm mới tại chùa Zojo-ji ở Tokyo, Nhật hôm 1/1.

Image
Ảnh THX

Pháo hoa mừng năm mới rực sáng gần Tháp đôi Petronas ở Kuala Lumpur, Malaysia.

Image
Ảnh Reuters

Pháo hoa làm nổi bật công trình điêu khắc Quadriga trên đỉnh Cổng Brandenburg ở Berlin, Đức hôm 1/1/2009.

Image
Ảnh Reuters

Trẻ em đeo mặt nạ sặc sỡ, thổi kèn trumpet trong lúc chờ đợi lễ hội đón mừng năm mới bắt đầu ở Budapest, Hungary.

Image
Ảnh Reuters

Pháo hoa chiếu sáng Đồi Acropolis ở Athens, Hy Lạp.

Image
Ảnh Reuters

Hàng ngàn người nhảy mua, ca hát ở đại lộ Champs Elysees, Paris (Pháp) mừng năm mới 2009.

Image
Ảnh Reuters

Không khí đón năm mới tưng bừng ở quảng trường chính tại thủ đô Sofia, Bulgaria.

Image
Ảnh Reuters

Cuộc trình diễn ánh sáng đặc sắc phía trên Cầu Cảng Sydney và Nhà hát Opera ở Sydney, Australia.

Image
Ảnh Reuters

Quảng trường Skopje ở Macedonia lung linh sắc màu trong lễ đón năm mới 2009.

Image
Ảnh Reuters

Pháo hoa rực sáng phía trên toà nhà quốc hội Anh, gần tháp đồng hồ Big Ben ở London.

Image
Ảnh AP

Hàng ngàn người đã cùng nhau trải qua thời khắc chuyển giao năm cũ - năm mới tại quảng trường Đỏ ở thủ đô Moscow, Nga.

Image

Ảnh AP, Reuters

Đám đông tụ tập chờ được chứng kiến lễ thả cầu thuỷ tinh và hoa giấy đón năm mới tại quảng trường Thời đại ở New York, Mỹ.

Thanh Bình (Theo THX, AFP, Reuters, AP)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Thảm kịch đêm giao thừa tại Bangkok

Đám cháy bùng lên do đốt pháo tại hộp đêm Santika ở Bangkok vào thời khắc chuyển sang năm mới 2009
làm chết tới 59 người và hơn 200 người bị thương, gồm nhiều người trong tình trạng nguy kịch.


Image
Lính cứu hỏa phun nước dập tắt tàn lửa cuối cùng.
Khi xảy ra hỏa hoạn hộp đêm này đang có tới một nghìn người ăn mừng năm mới. Ảnh: AP.

Image
Tìm thi thể nạn nhân trong đống đổ nát. Ảnh: Reuters.

Image
Khiêng thi thể người xấu số ra khỏi hiện trường. Ảnh: AP.

Nhân viên cứu hỏa Thái Lan chụp ảnh thi thể các nạn nhân bên ngoài vũ trường Santika. Ảnh: Reuters.

Image
Nhân viên pháp y làm việc tại hiện trường vụ cháy bên tấm áp phích Tạm biệt Santika,
tên đêm nhạc mừng năm mới và chuẩn bị để hộp đêm này dời sang địa điểm khác. Ảnh: AP.

Image
Cảnh sát đứng nhìn những hàng thi thể trong vụ cháy. Ảnh: Reuters.

Image
Nhân viên cứu hỏa kiểm tra hiện trường thảm kịch. Ảnh: AP.

Image
Cảnh sát Thái phong tỏa bên ngoài vũ trường Santika. Ảnh: AFP.

Image
Giày dép của các nạn nhân trong hộp đêm, một tụ điểm giải trí cao cấp ở Bangkok. Ảnh: AFP.

Image
Santika có hai tầng nhưng chỉ có lối thoát là cửa ra vào nên đám đông đã hoảng loạn giẫm đạp nhau khi lửa bùng lên. Ảnh: AP.

Image
Giọt nước mắt bàng hoàng vì thảm kịch xảy ra đúng vào thời khắc đón chào năm mới. Ảnh: Reuters.

Image
Toàn bộ bên trong hộp đêm Santika bị thiêu rụi. Ảnh: AP.

Đình Chính

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Tuổi Già Là Thời Sung Sướng Nhất


Bài của Tràm Cà Mau

Ông cụ Lê đã tám mươi lăm tuổi, vẫn còn khỏe mạnh. Cụ bà cũng tám mươi ba tuổi. Họ sống trong một căn nhà tiền chế có ba phòng ngủ và hai nhàtắm, rộng rãi.. Hai vợ chồng ngủ riêng, mỗi người một phòng, cái phòng còn trống dành cho con cháu, bạn bè ở xa về chơi. Cụ bà nhất định ngủ riêng. Cụ ông nói với bà con rằng, cụ hay thức khuya đọc sách, báo,và nghe nhạc, nên cụ bà không chịu được, phải ngủ riêng. Cụ bà thì nói thẳng "Ông già, nhưng phá lắm, làm tôi mất ngủ". Cụ bà lãng tai, nên thường nói lớn tiếng như thét gào.

Tôi từ San Francisco về, ghé thăm hai ông bà cụ Lê. Thấy ông đang xem tờ báo Mỹ, trong đó nhiều trang quảng cáo in hình những thiếu nữ da thịt hồng hào, lồ lộ, ăn mặc ít vải, bụng ngực hở hang, chân tay dong ra hớ hênh.. Trong tình thân mật, tôi hỏi cụ:

- Bác cũng còn thích xem các thứ nầy nữa? Có còn "làm ăn" chi được nữa không? Bác "chay tịnh" đã bao nhiêu năm rồi?

cCụ Lê nhướng mắt, cười toét miệng, để lộ hai hàm răng giả trắng nuốt, đều đặn, nhưng hơi móm, trả lời:

- Có chứ! Làm ăn đều đều chứ! Gì chứ cái đó đâu có nhịn được!

- Thật không bác? Hay chỉ nói đùa cho vui thôi? Có cần thuốc Viagra trợ lực không?

- Thuốc với thang, đâu cần! Tôi cũng đã thử cái thuốc đó mấy lần mà thấy công hiệu của thuốc quá chậm. Mình đã xong rồi, chiến trường đã tan, thuốc mới công hiệu. Thêm bực mình, khi đó thì dù còn sức, bà ấy cũng gạt đi. Phải hơn nửa giờ sau khi uống, thuốc mới công hiệu. Thế là quá chậm. Chuyện đó, phải tức thì, cơm nóng canh sốt mới ngon. Đâu phải đi câu mà thả cần chờ cá đớp mồi. Còn khi không có hứng thì uốngthuốc đó vô làm chi?

- Bác dám thử thuốc đó, không sợ đứng tim bất thần chăng? Tôi cười và hỏi.

- Sợ gì! Tuổi nầy có đứng tim mà chết mau lẹ, thì cũng mừng, khỏi phải sợ bệnh hoạn lâu ngày.

- Thuốc đó có sinh ra phản ứng phụ gì không?

- Có! Uống vào, cái mặt mình nó câng câng làm sao ấy.. Giống như khi mình nói láo, ngượng quá, mặt câng lên. Cứ thế cả giờ không hết. Tôi quẳng vào thùng rác cả ống thuốc từ lâu.

Cụ Lê vốn vui tính, ưa nói đùa. Tôi nghĩ là cụ nói chuyện cho vui thôi. Đêm đó, vợ chồng tôi ngủ lại nhà cụ. Buổi khuya tôi thức dậy, đi xả nước thừa trong cơ thể, phải đi qua phòng ngủ của bà cụ Lê mới vào được phòng tắm. Tôi thấy tấm chăn bà đắp lệch ra, gần rơi xuống đất.Bà vẫn ngáy đều. Mùa đông lạnh, nếu chăn rơi ra, bà có thể cảm lạnh.Tôi nhẹ nhàng đến kéo tấm chăn lên, đắp lại cho bà. Bỗng bà nói thật lớn, hai tay chắp lại mà xá tôi lia lịa:

- Thôi, thôi ông ơi, tôi lạy ông, tôi lạy ông, nhà có khách, không được đâu!

Tôi khiếp hãi, lạnh cả người. Chưa kịp đi tiểu, mà tôi vội vã chạy về giường mình nằm yên, tim đập thình thịch mãi chưa hết sợ. Tuy không ai dám hiểu lầm là nửa đêm tôi đi mò mẫm bà cụ già, nhưng cứ sợ. Tôi nhịn đi tiểu, mất ngủ cho đến gần sáng. Bây giờ thì tôi tin những gì ông cụ Lê nói không phải là chuyện đùa chơi. Sáng hôm sau, tôi kể lại chuyện sửa mền cho vợ tôi nghe, vợ tôi ôm bụng cười mà không tin.

Buổi sáng, cụ Lê tập thể dục theo lối cử động chậm và phất tay cùng hít thở. Thấy tôi ngồi đọc báo, cụ nói:

- Anh thường không tập thể dục? Thể dục làm tan biến hết mệt mỏi của một đêm dài nằm trên giường. Không cần tập nhiều, tập cho khí huyết lưu thông, thấy mình sảng khoái hơn. Anh có tin rằng tuổi già là giai đoạn sung sướng nhất trong một đời người không? Nhiều người không tin đấy. Lạ quá!

Vợ tôi đang đứng trong bếp, chỉ tấm hình có đứa bé nằm trong nôi và nói vọng ra :

- Cháu nghĩ trẻ con nằm trong nôi, vô tư, ngây thơ sung sướng nhất.Bác có nghĩ vậy không?

Cụ Lê xì một tiếng và nói:

- Con nít trong nôi biết khỉ gì mà sung sướng? Ai dám bảo là chúng nó vô tư? Có chắc không? Có chắc là chúng nó không lo nghĩ, không có mối khổ tâm riêng khi không biết nói, không biết tự làm cho mình những việc tối cần thiết. Được cho món gì thì ăn món đó, không có quyền lựa chọn. Dở ngon chi cũng phải nuốt, ưa hay không cũng phải ăn. Chỉ biết khóc, khóc và khóc . Đói cũng khóc, mà đau cũng khóc. Khi bị con kiến,con trùng tấn công, cũng không biết làm sao mà tự vệ, hất nó đi. Cha mẹ nghe khóc, cũng không biết là nó đói hay đau, hay ngứa.. Tiêu tiểucũng nằm trên nôi, phóng uế ra cả chiếu giường, hôi hám, sung sướng cái nỗi gì. Nóng lạnh cũng không biết làm sao cho dễ chịu hơn. Người lớn không biết thì tưởng đâu nó vô tư sung sướng. Thử cho anh chị nằm liệt ra đó, có người mớm cơm ăn uống, chăm sóc, và moi phân từ quần ra, thay tã cho khi tiểu tiện, thì thấy khổ hay sướng mà dám bảo là trẻ con vô tư sung sướng? Sướng và khổ là phải cảm nhận được mới có giá trị. Có ai còn nhớ và nghĩ là thời nằm trong nôi sướng đâu. Nầy,nếu tôi có phép, cho chị lưạ chọn, cứ bé bỏng và được nằm trong nôi mãi, chị có chịu hay không? Hay là trông mau lớn, để khỏi nằm nôi?

Vợ tôi tiếp:

- Thế thì, trẻ con lớn hơn chút nữa, biết đi biết chạy, biết chơi, ở nhà chưa đi học, vui vẻ với gia đình, không lo nghĩ, không bận rộn,không ưu tư gì cả, và chưa biết cái khổ của cuộc đời, thì có phải là sướng không?

Cụ Lê cười khà khà, và nói lớn, vọng vào bếp cho vợ tôi nghe rõ hơn:

- Trẻ con, sướng chứ, nhưng làm sao sướng bằng người già được. Trẻ con cũng có những nỗi khổ tâm riêng của chúng mà mình không chịu nghĩ đến. Khoảng nầy là tuổi chơi, mà bị cấm đoán nhiều nhất, cha mẹ anh chị chăm nom canh chừng từng phút một. Cấm chơi cấm nghịch, cấm thức khuya, bắt phải ăn món nầy, ăn món kia, dù thích hay không. Bị canh chừng, kềm kẹp ngày đêm. Câu chuyện khôi hài kể rằng, một em bé đi chơi với bố, thấy một vũng nước mưa bên đường, hỏi bố rằng "Có phải Bố có quyền muốn làm gì thì làm chẳng ai cấm đoán, la mắng bố cả, phải không ?" Ông bố trả lời là phải. Em bé mở tròn mắt hỏi: "Thế thì tại sao Bố không nhào xuống vũng nước mà lăn lộn cho sướng?" Đó, còn trẻ con, là không được làm điều gì mình muốn cả. Không có một xu dính túi, mà có tiền, cũng không có quyền mua những thứ mình thích."

Vợ tôi cười, và hỏi tiếp:

- Thế thì trẻ con lớn hơn chút nữa thì sao? Có sướng hơn người già không?

- Làm sao mà sướng bằng tuổi già được. Anh chị cứ nghĩ và nhớ lại mà xem. Tuổi đó thì làm biếng và ưa chơi hơn là học. Trẻ nào cũng vậy.Thế mà cha mẹ, thầy giáo bắt học hành. Ban ngày thì học ở trường, ban đêm về nhà phải học bài, làm bài. Truyền hình và nhạc có chương trình hay đến mấy, cũng không được xem, nghe, phải học bài xong, làm bài xong đã. Mà học xong, thì đâu còn những chương trình đó cho chúng xem nữa. Khi đó thì khuya rồi, bố mẹ bắt đi ngủ để sáng hôm sau đi học.Chưa kể những đứa con nhà khá giả, cha mẹ thường bắt phải đi học đàn,học nhạc, học múa. Và có khi phải đi học thêm những lớp đêm, lớp ngày,cho giỏi hơn. Bị kềm chặt trong cái thời khóa biểu của cha mẹ. Em bé không thể tự quyết định riêng cho nó điều gì theo sở thích cả. Bởi vì nếu để cho em tự quyết định hành động từ tuổi thơ, thì mai sau lớn lên chỉ có nước đi ăn mày hay ngồi tù sớm mà thôi.

- Thế thì bác cho rằng tuổi trẻ khổ nhọc và tù túng lắm phải không? Vợ tôi cắt lời.

- Không hẳn như thế, nhưng cũng gần thế. Không phải lo cơm áo, tiền bạc, công việc làm ăn, là sướng, khỏe, nhưng trẻ con đâu ý thức được cái khỏe, cái sướng đó. Chỉ thấy cái khổ của việc học hành. Đôi khi đi học, còn mệt hơn đi làm nữa, đó là sự thực. Khi lớn hơn nữa, ý thức được là phải học hành, để mai sau có nghề nghiêp may ra đời sống khá hơn, tương lai vững chắc hơn, thì lại khổ hơn nữa. Phải lo âu, chăm chỉ, hy sinh các sở thích khác để mà trau dồi tương lai. Học hành đôi khi cũng có cái thú, nhưng chắc chắn ai cũng thích chơi, thích giải trí hơn là cắm cúi cần mẫn học hành. Bằng chứng là có nhiều người phải đóng bạc trăm bạc ngàn đi học các khóa đặc biệt, mà khi giáo sư cho nghỉ sớm vài phút cũng mừng húm, sung sướng thấy rõ ra mặt.. Đi học,mà học cho đàng hoàng thì không phải chuyện dễ, không phải nhẹ nhàng,mà học qua loa thì sợ thi rớt, sợ học xong mà không biết gì. Có kẻ hỏi một anh tuổi gần ba mươi rằng: "Anh có muốn trẻ lại như thời mười lăm mười sáu không?" Anh rùng mình mà trả lời : "Không bao giờ, phải đi học lại trung học, đại học, cực quá, thà chết còn hơn." Khi lớn hơn nữa, thì thêm nỗi lo, nỗi khổ vì tình yêu. Không có người yêu thì cô đơn, buồn khổ. Có người yêu thì lo sợ cuộc tình tan vỡ, lo ghen bóng gió, lo người yêu không trung thành, và buồn khổ vu vơ, lãng nhách.Trong thời trẻ trung, thì tình yêu là đẹp đẽ nhất, vui thú nhất, nhưng cũng làm con tim đau đớn nhất và còn có nhiều kẻ đã chết vì tình yêu.Chết mà không hối tiếc chi cả. Không lấy được nhau thì đau khổ đến như trời sập núi tan, mà lấy nhau được thì cũng chiến tranh cãi vã triền miên không ngớt, và chán nản bực bội nhau.

Vợ tôi từ bếp ra ngồi trong phòng khách, để nghe cụ Lê luận về nỗi sướng khổ cuộc đời. Vợ tôi hỏi thêm :

- Vậy khi học xong, có gia đình, có nghề nghiệp, có sức khỏe, là giai đoạn sướng nhất trong đời chứ, thưa bác?

- Ừ, thì giai đoạn đó cũng có sướng, có khổ, chứ không phải sướng nhất như khi vào tuổi già. Anh chị thấy đó, sau khi có gia đình, thì phải làm lụng vất vả nuôi con cái, sống vì đàn con, không còn lý gì đến cái thân mình nữa. Lo dạy dỗ con cái, lo đưa đón, lo bệnh hoạn, lo cho nó ăn học, lo cho nó đừng hư hỏng. Có hạnh phúc, nhưng cũng có nhiều lo lắng. Chưa kể có người vì tình, tiền, danh vọng, mà khổ. Khi còn trẻ,hăng hái, thì ai cũng nuôi tham vọng, muốn giàu sang, muốn nổi tiếng,muốn xa hoa, nên cứ tự dìm mình vào những sinh hoạt khó khăn, làm mất đi những an bình của cuộc sống. Xưa nay đã có nhiều người vì tham vọng mà bỏ vợ, bỏ con, bỏ gia đình, dấn thân vào những nơi xương rơi máu đổ, có khi chết bên chân trời góc bể chẳng ai biết, có khi tù tội rục xương. Không tham vọng nhiều thì ít, ít nhất cũng làm tiền, cất tiền,lo cho bất trắc trong tương lai, lo cho tuổi già. Lo, lo đủ thứ. Có khi vì lo mà phát điên, có khi vì quá lo mà vợ chồng bỏ nhau. Lo nuôi nấng con cái, lo chạy theo danh vọng hão, mà khổ, mà mất di cái sinh thú ở đời.

- Thế thì theo bác giai đoạn nào trong đời cũng không sướng bằng tuổi già. Làm sao mà sướng được? Bác nói cho cháu nghe với. Tuổi già yếu đuối, bệnh hoạn cô đơn, sướng ở chỗ nào? Vợ tôi hỏi.

Cụ Lê thong thả tiếp:

- Khi đã lớn tuổi, thì con người được nhiều tự do hơn, được thong thả hơn để sống. Không còn phải như em bé bị cha mẹ ép buộc, bây giờ thì muốn làm chi thì làm, muốn thức khuya dậy sớm gì, cũng chẳng còn ai la mắng dọa nạt, rầy la. Nếu vợ vì thương, sợ mất sức khỏe, thì cũng cằn nhằn chút chút thôi, mình không nghe thì cũng chẳng bị roi đòn gì. Không còn phải khổ công học tập, lo lắng cho tương lai mai sau, chẳng phải học thêm chi cho mệt trí, biết quá nhiều, biết quá đủ rồi. Nếu đã nghỉ hưu, thì học thêm làm chi. Nếu còn đi làm, thì cũng đã rành nghề, quen tay quen việc, làm việc dễ dàng. Khi già tình yêu cũng không còn là mối bận tâm, không quan trọng quá, chưa nghe báo đăng các cụ già trên dưới sáu mươi tự vẫn chết vì thất tình. Tội chi mà chết vì tình trong tuổi già, vì cũng sắp thấy Diêm Vương rồi, việc chi mà đi sớm hơn.. Khôn quá rồi, chết vì tình yêu là nông nỗi. Đời sống tình cảm của tuổi già êm đềm hơn, ít đau đớn ít sôi động, và bình lặng. Tuổi già rồi, các ông không còn tính chuyện mèo mỡ lăng nhăng,khỏi phải lo lắng sợ vợ khám phá ra chuyện dấu diếm mà nhà tan cửa nát. Đỡ tốn tiền quà cáp, đỡ tốn thì giờ lui tới các nơi bí mật. Hồi hộp, đau tim. Các bà khỏi phải lo chuyện đi đánh ghen, không còn cần phải chăm chút nhan sắc làm chi nữa, vì như chiếc xe cũ rệu, có sơn phết lại cũng xộc xệch, cũng méo mó. An tâm và chấp nhận, thì khỏi băn khoăn mà vui..Cũng có một số ít những cặp vợ chồng già đem nhau ra tòa chia tay, vì khi già cả hai đều trở thành khó tính. Hậu quả của li dị trong tuổi già không trầm trọng như khi còn trẻ, vì con cái đã lớn, đã tự lập,không còn ảnh hưởng nhiều đến tương lai chúng và tương lai của chính mình. Vì còn sống bao lâu nữa mà lo lắng chi cho nhiều. Xa được ông chồng khó tính, độc tài là mừng. Dứt được bà vợ đanh đá, bạc ác là phải sung sướng.. Khỏe trí. Tuổi già, cố giữ cho còn có nhau, khi đã đến nước li dị, thì hai bên đều đúng, đều có lý. Đây là hành động tự cứu mình, và cứu người ra khỏi cảnh khổ lúc cuối đời, khi mà mộ bia đã thấp thoáng trước mắt, không còn bao nhiêu ngày nữa. Có điều ít ai nghĩ đến, là càng già, thì càng dễ tìm một người bạn đời để nối lại,để an ủi nhau trong tuổi xế chiều. Vì chung quanh họ, có thiếu chi người đứt gánh nửa đường. Chồng chết, vợ chết, li dị. Vấn đề là không sao tìm được một người có chung nhiều kỷ niệm, nhiều tình nghĩa, nhiều chia xẻ như người phối ngẫu cũ. Tình già cũng nhẹ nhàng, thong thả, ít khổ đau, ít sôi nổi hơn tình khi còn trẻ trung. Sức lực cũng có còn bao nhiêu mà ghen tương nhau chi, mà lo lắng chi cho thêm mệt, những người lớn tuổi kinh nghiệm và biết rõ như vậy. Nhiều người trẻ, sau khi gia đình tan vỡ thì xuống tinh thần, uống ruợu đánh bài tìm quên,đôi khi không phải vì họ quá thương yêu người cũ mà tự hủy hoại đời mình, mà chính vì họ tự thương thân, tự ái bị xúc phạm, và rồi sa lầy vào ruợu chè cờ bạc. Người lớn tuổi thì suy nghĩ khác. Họ nghĩ rằng ta cũng đã gần đất xa trời rồi, có sống thêm bao lâu nữa mà sầu khổ cho mệt. Mất củ khoai lang, thì kiếm củ khoai mì bù vào. Tuổi già biết giá trị tương đối của tình yêu nên không tìm tuyệt hão, không tìm lý tưởng, và nhờ vậy không bị thực tế phũ phàng làm vỡ mộng, đau khổ. Khi già rồi, có ai hỏi tuổi, thì cũng không cần dấu diếm, không cần sụt đi năm bảy tuổi làm chi. Sướng lắm. Vì có sụt tuổi, cũng không dấu được những nếp nhăn, mà chẳng có ích lợi gì. Nếu tự cọng thêm cho mình chừng chục tuổi, thì không chừng được thiên hạ nức nở khen là còn trẻ,trẻ quá, và họ mơ ước được như mình.Các ông có vợ đẹp, khi lớn tuổi cũng đỡ lo bọn dê xồm dòm ngó, lăm le dụ dỗ vợ mình. Con người, ai mà không nhẹ dạ, ai mà không ưa lời nói ngon ngọt êm tai, ai mà không có khi thiếu sáng suốt. Vợ chồng cũng có khi bất hòa, buồn giận nhau, và những khi nầy, lòng người dễ chao đảo lắm. Bởi vậy, các ông đỡ nghe các bà hăm he li dị, hăm he bỏ nhau.Tuổi nầy các bà cũng thừa khôn ngoan để biết những tên ngon ngọt, hứa hẹn nhiều, thường chỉ là những tên phá đám, chứ không thể tin tưởng được. Đàn bà có chồng hào hoa, đẹp trai, khi lớn tuổi cũng bớt lo, vì các ông cũng bớt máu nóng, bớt chộn rộn và khôn ngoan hơn thời trẻ trung. Biết kềm chế hơn, và biết rõ giá trị hạnh phúc gia đình cần gìn giữ hơn là chơi ngông. Tuổi già, vợ chồng sống chung với nhau lâu rồi, chịu dựng nhau giỏi hơn, quen với cái thói hư tật xấu của nhau. Không còn thấy khó chịu nhiều nữa. Dễ dung thứ cho nhau, chấp nhận nhau, vì họ biết rõ bên cạnh cái chưa tốt của người bạn đời, còn có rất nhiều cái tốt khác. Vợ chồng, khi đó biết bao nhiêu là tình nghĩa, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu thân thiết, cho nên hạnh phúc hơn, vui hơn. Tình yêu trong tuổi già thâm trầm, có thì giờ bên nhau nhiều hơn, chia sẻ nhiều hơn. Cũng có nhiều ông bà già ưa cãi vã nhau, cũng dễ hiểu, khi đó tai của cả hai ông bà đều lãng, người nầy nói một đường, người kia hiểu nẻo khác, cho nên buồn nhau giận nhau, không gây gổ sao được?

Nói đến đây, cụ Lê xuống giọng nho nhỏ, chỉ đủ cho tôi nghe thôi, và cụ nói với nụ cười trên môi:

- Tôi biết chắc nhiều phần, những vợ chồng già hay gây gỗ nhau, vì thiếu ăn nằm với nhau, thiếu tình dục. Không phải tôi nói đùa đâu. Có tình dục đều đặn, cơ thể sinh sản ra kích thích tố, làm cân bằng tình cảm. Làm con người thấy dễ tính, cởi mở hơn, và ít bực bội hơn. Những vợ chồng trẻ dễ tha thứ dễ bỏ qua cho nhau, vì họ có chuyện đó đều đều. Anh cứ nghiệm mà xem, sau khi ra khỏi giường, các bà vợ thường dịu dàng hơn, tử tế hơn, cho mình ăn ngon hơn. Đừng bảo khi về già các bà hết ham muốn. Sai toét. Các bà sợ chuyện đó, sợ chứ không phải hết ham muốn đâu. Sợ là phải, đau quá mà. Xe chạy lâu ngày khô nhớt máy,làm sao mà chạy được. Mấy ông già thiếu hiểu biết, phải hỏi bác sĩ, có gì mà xấu hổ, ngượng ngùng. Ai mà chẳng làm chuyện đó, che dấu làm chi. Một ống thuốc nước trơn, chỉ có mấy đồng bạc mà mua được vạn cái hạnh phúc gia đình. Chuyện nầy mà nói ra, có người cho là thiếu thanh lịch. Tôi ghét bọn đạo đức giả, vừa ngu xuẩn, vừa ích kỷ. Đừng quá lộ liễu, đừng quá lố lăng thì thôi. Tại sao chuyện tốt, hiểu biết ích lợi cho cuộc sống con người, mà phải dấu diếm? Tôi tin rằng, người Mỹ thì mười người, có đến tám, biết chuyện thuốc thang nầy, còn người mình,thì mười người, may ra chỉ có hai ba người biết mà thôi.

Vợ tôi không nghe được lời cụ Lê, quay qua hỏi:

- Bác nói gì lầm thầm nhỏ quá, cháu không nghe được.

Cụ Lê cười khà khà đáp:

- Chuyện tào lao ấy mà. Đàn ông nói riêng cho nhau nghe thôi.

Cụ cười, nháy mắt với tôi, rồi đổi giọng lớn hơn, nói tiếp:

- Tuổi già, thì tất cả mộng ước điên cuồng của thời trẻ trung đã tan vỡ, đã lắng xuống, không còn khích động trong lòng, không còn thao thức nhức nhối. Họ biết sức mình đến đâu, và không tội chi mà ôm cao vọng cho khổ thân. Họ còn biết thêm rằng, nếu những cao vọng điên cuồng ngày xưa mà có thành đi nữa, thì e cũng chỉ là hư không, chẳng đáng gì.. Khi tuổi già, thì biết khôn ngoan mà an phận, biết vui với bình thường.. Biết đâu là hạnh phúc chân chính. Nhiều người già rồi mới tiếc suốt một thời son trẻ không biết sống, phí phạm thời gian theo đuổi những huyễn mộng, làm đau khổ mình, làm điêu đứng người khác. Tuổi già, vui khi thấy mình hết nông nỗi, nhìn đời bằng cái tâm tĩnh lặng hơn. Ai khen không hớn hở mừng, ai chê không vội vã hờn giận. Vì biết rõ mình không có gì xuất chúng để thiên hạ khen nịnh. Và biết mình cũng có nhiều cố tật không chừa được, đáng chê. Chê thì chê,khen thì khen. Khen cũng thế, mà chê cũng thế, thì ta vẫn là ta, là một kẻ già, đáng được khoan thứ hơn là trách móc.Lúc nầy, không còn muốn làm giàu, không bị con ma tham lam thúc bách để kiếm và tích trữ cho nhiều tiền nhiều bạc. Con cái cũng đã lớn,không phải chi tiêu nhiều thứ , thì tiền bạc, chỉ cần đủ sống thôi,cũng là thỏa nguyện. Họ cũng không cần se sua, tranh hơn thua với ai,tinh thần họ vui vẻ, dễ chịu và khỏe khoắn hơn.. Mối lo âu về tài chánh cũng nghẹ gánh. Bởi khi đó, nhiều người đã tích trữ được một số tiền nhỏ. Nhà cửa cũng đã có.. Nợ nhà, nợ xe cũng ít đi, hoặc không còn nữa. Con cái cũng đã lớn, không còn là gánh nặng cho mình. Chúng nó đã có nghề nghiệp, đã làm ăn được. Chắc chắn tương lai chúng khá hơn mình nhiều. Người già không chi tiêu nhiều, ăn cũng ít đi rồi,chơi cũng không còn phung phí dại dột như tuổi trẻ.Khi già, thời gian mới là thực sự của mình, vì không còn phải chạy ngược chạy xuôi kiếm sống nữa. Không còn bị bó buộc bởi trách nhiệm bổn phận. Có thể ngồi mơ mộng hàng giờ trên ghế đá công viên, thưởng thức thiên nhiên tuyệt thú, có thể tìm được an bình tuyệt đối, không như thời còn trẻ, đi nghỉ mát, mà thỉnh thoảng cũng bị công việc nhà ám ảnh, nhắc nhở.Tuổi già về hưu, là một mong ước của gần như của tất cả mọi người.Nhiều người gắng làm sao kiếm cho nhiều tiền để dược về hưu sớm hơn.Nhiều thanh niên, ngày về hưu còn xa lắc, xa lơ mà vẫn mơ ước. Người Mỹ, trẻ già chi cũng ngĩ đến hưu trí. Hưu trí trong tuổi già là một phần thưởng của tạo hóa, của xã hội. Cho sung sướng, nghỉ ngơi. Già là nghỉ ngơi, là khỏe khoắn. Mỗi buổi sáng nằm dài trên giường, sáng nào cũng là chủ nhật trong tuần, muốn dậy lúc mấy giờ cũng được, muốn nằm cho đến trưa đến chiều cũng không sao. Nằm thoải mái, không ai chờ, ai đợi, không có việc gì gấp gáp phải làm, ngoại trừ cái bọng tiểu nó thúc dục, không cho mình nhịn lâu thêm được nữa. Thế thì sao mà không sung sướng. Nếu chưa về hưu, còn đi làm việc, thì cái tâm của người lớn tuổi cũng nhẹ nhàng, ít bị những sức căng, bị áp lực đè nén. Vì tài chánh cũng quan trọng, nhưng không quá quan trọng đến nỗi khi thất nghiệp thì mất xe, mất nhà, mất vợ mất con như những người còn trẻ.Khi này, nhiều thứ trong cuộc sống đã ổn định, nhu cầu tiền bạc cũng không quá nhiều. Vã lại, già rồi, kinh nghiệm công việc nhiều, cho nên giải quyết mọi sự trong dễ dàng, thong thả. Bạn đồng sự cũng có chút nể nang, phần vì tuổi tác, phần vì kinh nghiệm. Có trường hợp, còn có việc thì tốt, mất việc thì mừng hơn, vì có lý do chính đáng để về hưu cho khỏe. Vì nếu việc có hoài, việc lại dễ dàng, thì tiếc, không muốn về hưu. Tuổi lớn, không cần thăng tiến, không cần đua chen với ai, cho nên tinh thần thoải mái, được bạn bè chung quanh thương mến hơn. Những người về hưu rồi, trở lại làm việc, thì đi làm, như đi chơi, chứ không phải "đi cày" như nhiều người khác quan niệm. Vui thì làm tiếp,chán thì về nhà nghỉ ngơi. Người lớn tuổi, thì sức khỏe xuống, bệnh hoạn ồ ạt đến tấn công, không ai thoát khỏi bệnh hoạn. Nhưng họ lại cảm được cái sung sướng của một ngày khi bệnh thuyên giảm. Một ngày khi cảm thấy gân cốt ít nhức mỏi hơn, dễ chịu trong từng khớp xương hơn. Ngưới trẻ đâu có thấy được những nỗi sung sướng nầy? Vì họ chưa kinh nghiệm, chưa trải qua, nên chưa biết. Họ có sức khỏe, nhưng họ không biết đó là sung sướng, cho nên, xem như chẳng có giá trị gì. Anh chị xem, nếu anh chị có một tảng ngọc to bằng cái bàn nằm trong vườn, mà anh chị không biết đó là chất ngọc, thì không biết quý, không biết mình sung sướng có tảng ngọc, mà chỉ quý và sướng vì viên ngọc nhỏ xíu nằm trên chiếc nhẫn mà thôi. Có người viết sách rằng, tuổi già, buổi sáng ngủ dậy, nghe xương cốt đau nhức mà mừng, vì biết mình chưa chết. Tôi thêm rằng, biết mình còn sống là mừng, biết mình đã chết nhẹ nhàng, càng mừng hơn.... Nầy anh chị có nhớ câu chuyện Thượng Đế khi đuổi tổ phụ loài người là ông Adam và bà Eva xuống trần gian, có chỉ mặt mà phán : "Từ nay chúng mi phải đổ mồ hôi trán mới có hạt cơm vào mồm". Đó là câu nguyền rủa độc địa nhất, là lời phán ý nghĩa nhất, là con người phải sống trong nhọc nhằn. Sách Phật cũng có viết đời là đau khổ, và tu để tránh khổ. Đó,đời nầy đáng sống lắm, nhưng cũng nhiều khổ đau lắm. Bởi vậy nên tôi nói, được sống là mừng, mà được chết, cũng mừng. Tôi đi đám ma ông bạn già, thấy gia đình khóc lóc, rên rỉ thảm thương, con cháu mếu máo kể lể. Tôi cười trong bụng, nghĩ rằng bọn nầy không biết luật của tạo hóa. Có sinh thì có diệt. Chúng nó muốn thân nhân của chúng sống đời đời sao? Biết đâu chỉù là khởi điểm của một cuôc rong chơi. Nầy, tôi đọc cho anh chị nghe một đoạn thơ của anh bạn tôi:

Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó

Ai thay da mãi mãi sống muôn đời ?

Kẻ trước, người sau xếp hàng xuống mộ,

Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi ....

Khi tuổi già, thì xem cái chết như về.. Ai không phải chết mà sợ. Sống qua khỏi tuổi năm mươi, là đã lời lắm. Tuổi trung bình của con người trên thế giới nầy chưa được con số năm mươi. Thì mình nên tự xem như được sống thêm đời thứ hai. Đời trước đã hoàn tất, có cả khổ đau lẫn hạnh phúc. Đời sau nầy, thì chắc chắn là sung sướng hơn hạnh phúc hơn đời trước. Vì đã từng trải, đã gom được kinh nghiệm của đời trước, để thấy đâu là hạnh phúc chân thật, đâu là phù du huyễn hão. Chết là về..Nhưng chỉ sợ không về được đến nơi đến chốn, mà như chiếc xe hư máy dọc đường. Làm khổ chủ xe, bắt nằm liệt mê man, không sống mà cũng không chết, đó mới là cái đáng sợ. Tôi biết vậy, nên đã làm di chúc,khi nào tôi bị mê ba ngày, thì xin rút ống cho tôi đi. Đi về bình an.Nầy, anh chị nghĩ sao về ông bác sĩ mà người ta đặt cho tên là bác sĩ tử thần? Già rồi tôi không nhớ rõ tên, hình như ông ta tên là "Ki-Vô-kiên" phải không? Cái tên gần gần như vậy. Theo tôi, thì ông nầy là một vị Bồ Tát, cứu độ cho chúng sinh mau qua khỏi khổ đau, để bị ra tòa, bị tù tội. Chỉ có cái tâm Bồ Tát thật lớn mới làm được việc đó. Tôi cố tìm một cái ảnh ông ta để thờ sống, mà không có. Tôi nghĩ,trong tương lai, luật pháp sẽ không ngăn cấm việc cho người đau đớn ra đi sớm hơn, vì đàng nào cũng chết, tại sao phải kéo cái đau đớn ra dài hơn mới được chết. Trừng phạt người ta hay sao? Trong tuổi giàø,người ta biết ơn sự nhiệm mầu của tạo hóa. Có bộ máy nào, không phải là gang thép, bạch kim, mà chạy một mạch sáu bảy chục năm không ngưng nghỉ, mà vẫn còn hoạt động như quả tim, buồng phổi, trái thận, cái bao tử, não bộ. Có hệ thống ống dẫn nào hoạt động sáu bảy chục năm mà chưa thay thế như các mạch máu của hệ thống tuần hoàn. Thì dù có rò rỉ van tim, chất mỡ đọng nghẹt trong vài ba mạch máu, thì cũng là sự thường tình, và mừng là còn sống, còn sinh hoạt được. Dù có phải liền liền đi vào cầu tiểu mỗi ngày nhiều lần, thì họ vẫn sung sướng là cái vòi xài mấy chục năm mà vẫn chỉ mới rò rỉ sơ sơ. Mấy cái vòi nước trong nhà,bằng kim khí cứng, không rỉ sét, thế mà năm bảy năm đã phải thay rồi.

Buổi trưa, tôi lái xe mời ông bà cụ Lê đi ăn tiệm. Đi qua khu phố có nhiều tiệm Việt Nam , khách bộ hành đông đúc tấp nập. Tôi để ý thấy cụ cứ ngắm nhìn những người đàn bà con gái trên đường. Tôi hỏi nhỏ cụ:

- Bác cũng còn thích nhìn đàn bà đẹp? Thế là trái tim bác còn trẻ lắm đó. Bác nhìn họ, với tâm trạng nào?

Cụ Lê cười và nói tự nhiên:

- Mình nhìn họ, như ngắm một bức tranh nghệ thuật. Thưởng thức một vẻ đẹp thiên nhiên của trời ban cho thế gian. Ngắm nhìn cái đẹp, không có gì là sai trái cả. Chỉ khi nào nhìn, rồi trong lòng mình nẩy sinh ra tư tưởng gian tà, đen tối, ham muốn, thì khi đó mới đáng trách. Có ai kết án một người thưởng thức bức tranh Vệ Nữ không? Chắc là không.

Tôi nói nhỏ :

- Nhưng nếu có điều kiện cho phép, bác có muốn "gần gũi" với những người đẹp đó hay không? Có còn đủ sức không?


- Nầy, tôi nói cho anh biết, có ai cho tôi lái chiếc xe đời mới, tân tiến, tôi cũng không khoái bằng khi lái chiếc xe cũ, cổ lổ sĩ của tôi. Vì đã quen tay lái, quen nhịp máy, quen tốc độ, quen sử dụng, thì mình thấy thoải mái và dễ dàng hơn chứ. Lái chiếc xe lạ đâu thích bằng lái chiếc xe quen thuộc của mình. Anh có đồng ý không? Tắm ao ta vẫn khoái hơn tắm ao người chứ !


Cụ Lê cười, tôi cười theo. Cụ bắt lại câu chuyện cũ:

- Bây giờ anh đã đồng ý với tôi rằng tuổi già là thời gian sung sướng nhất chưa? Nếu ai già, mà không biết tuổi già là sung sướng, thì lỗi tại họ. Họ có cái sướng, cái quý, mà họ không biết hưởng.
band4 3G McKeno

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Cá tính khẳng định di sản của tổng thống Bush

Image
Tổng thống Bush ôm trong tay chú chó Barney năm 2006 ở phi trường Waco, Texas. (Hình:AP)
WASHINGTON (AP) – Sau này, tổng thống George W. Bush sẽ được xét đoán bởi những gì ông đã làm. Ông cũng sẽ được nhớ đến bởi cá tính của ông: một người lanh lẹn, một người gốc Texas sử dụng từ ngữ lộn xộn nhưng lúc nào cũng lạc quan, ngay trong lúc cả nước chẳng được như vậy.

Trong tám năm, đất nước Hoa Kỳ đã được lãnh đạo bởi một người thích ra sân dọn dẹp bờ bụi trong cái nắng nóng chói chang gay gắt và đạp xe ào ào qua cánh rừng. Ông thích đặt tên hiệu cho các nhà lãnh đạo thế giới, và dành cho vị nữ thủ tướng Đức một cuộc xoa bóp bất ngờ, có lẽ chỉ được đón nhận miễn cưỡng, trên cổ của bà ta. Ông khó chịu khi phải chờ đợi và luôn theo đúng chương trình của mình. Ông luôn giữ thái độ lạc quan ngay cả trong tình huống khó khăn nhất, nhưng cũng sẵn sàng nhỏ lệ dù trước công chúng. Ông cũng chẳng dành thời giờ để tìm hiểu về chính mình, và mãi đến thời gian gần đây mới khởi sự nhìn lại chặng đường đã đi qua.

Cách thức điều hành và tính khí của ông đã ảnh hưởng nhiều đến di sản không thua gì các quyết định của ông trong thời gian qua.

Chính sách ảnh hưởng đến đời sống con người, nhưng cá tính để lại những hình ảnh không quên, cả tích cực lẫn tiêu cực.
Dù thế nào chăng nữa, đó là những hình ảnh đặc thù về ông Bush.

Không được trễ.

Tổng thống Bush đòi hỏi sự đúng giờ và ghét sự không hiệu quả. Mỗi cuộc họp phải có một mục đích rõ ràng. Và không nên lập lại những gì mà ông đã biết.

Ông dậy sớm và thường bắt đầu làm việc ở Văn Phòng Bầu Dục (Oval Office) vào lúc 6 giờ 45 sáng. Đến 9 giờ 30 hay 10 giờ tối là ông đi ngủ. Ông muốn tỉnh táo khi thức dậy và không muốn bị mất giấc ngủ của mình.

Trong các cuộc họp với các chuyên gia về chính sách, tổng thống Bush thường hỏi những câu hỏi về ngay điểm chính yếu của một vấn đề phức tạp. Các phụ tá của ông đã lấy làm tiếc là người dân trong nước không bao giờ biết được sự sáng suốt đó của ông, ngay cả sau tám năm cầm quyền. Họ miêu tả ông là một người luôn tìm hiểu kỹ càng sự việc chứ không có cái nhìn hời hợt như phần lớn thế giới nghĩ về ông.

Khi tổng thống Bush muốn có câu trả lời, người được hỏi không nên phỏng đoán.

“Ông có thể nhìn ra điều này ngay lập tức, nếu bạn không nắm vững vấn đề,” theo giám đốc thông tin Tòa Bạch Ốc Kevin Sullivan.

Những người khác có thể viết diễn văn cho tổng thống Bush đọc, nhưng ông sẽ loại bỏ những câu mà ông nghĩ rằng đi ra ngoài một tiến trình hợp lý. Đó là sự kỷ luật của tổng thống Bush.

Bạn có thể nhận ra những vấn đề tổng thống Bush quan tâm, vì ông nói về những điều này một cách khác hơn, nhiệt thành hơn: đó là giáo dục, giúp ngăn ngừa bệnh AIDS, tự do. Đây là những vấn đề có thể nhìn thấy rõ ràng hơn qua lăng kính của đạo lý. Đó là cách tổng thống Bush nhìn thế giới quanh mình.

Tổng thống Bush đọc Kinh Thánh thường xuyên. Thêm một điều ông cũng thường xuyên làm: thể dục thể thao. Ông dành thời giờ để luyện tập ít nhất sáu ngày trong tuần, dù là ở nơi nào. Và ông tập rất hăng hái, đặc biệt là khi ông leo lên chiếc xe đạp leo đồi vào mỗi cuối tuần, khi ông khiến các nhân viên mật vụ theo bảo vệ phải cố gắng hết sức mới theo kịp ông. Ông là người có tinh thần tranh đua và muốn ở trong vị thế chỉ huy.

Ngay cả việc ăn uống cũng được nhìn với một mục tiêu rõ ràng.

Tổng thống Bush muốn thức ăn trưa của ông sẵn sàng khi ông sẵn sàng để ăn, và ăn nhồm nhoàm thật nhanh. Sự ưa thích của ông cũng rất rõ ràng: có thể là lát bánh mì có mật ong trét đậu phọng (peanut butter and honey sandwich) hay bánh mì kẹp thịt (burger). Cựu đầu bếp chánh Tòa Bạch Ốc Walter Scheib học được một điều là không bao giờ sửa soạn bánh mì cho ông Bush mà không có một chút mù tạc của Pháp.

Người đến từ vùng đất của dân cao bồi với giầy ủng này lại ra lệnh cho mọi người phải ăn mặc đàng hoàng khi vào Tòa Bạch Ốc. Không có chuyện mặc quần jean khi vào khu vực cánh Tây (West Wing) của tòa nhà. Và vào trong Văn Phòng Bầu Dục là phải có cà vạt và áo vest bên ngoài.

“Sự thứ tự trong tiến trình làm việc cho ông sự mạnh dạn,” theo lời Peter Wehner, một cựu phụ tá của tổng thống Bush và hiện là một viên chức cao cấp tại trung tâm nghiên cứu về Đạo Đức và Chính Sách Công Chúng (Ethics & Public Policy Center).

Và khi đứng trước mặt tổng thống Bush, bạn nên tắt máy điện thoại của mình. Thật đáng tội cho người nào phải chịu đựng cái nhìn gườm gườm của tổng thống Bush khi chiếc máy Blackberry của họ reng lên không đúng lúc.

Văn phạm trong ngôn từ tổng thống Bush sử dụng đôi khi cứ rối tung lên. Thí dụ như khi muốn nói là đã nói chuyện với các gia đình có người thiệt mạng trong cuộc chiến, ông lại nói rằng “I talk to families who die”—có nghĩa là “tôi nói với các gia đình đã chết”. Ông thỉnh thoảng cũng thêm chữ ‘s” vào các danh từ số nhiều như “childrens do learn when standards are high.” Những điều này đã tạo ra những hình ảnh không hay về vị tổng thống tốt nghiệp từ trường đại học danh tiếng Yale ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, những người đã nói chuyện riêng tư với ông: các nhà báo, sử gia, những người tranh đấu....lại có một hình ảnh rất khác biệt về một người mà họ coi là có sự suy nghĩ rất tỉ mỉ.

Tổng thống Bush thích gọi người khác bằng tên hiệu mà chính ông chọn cho họ. Các ký giả, thành viên nội các, các nhà lãnh đạo thế giới—ông đặt tên hiệu (nick name) cho tất cả mọi người. Điều này thường tạo ra một sự thân thiện giữa tổng thống và người chung quanh và tổng thống Bush thích như vậy.

Tổng thống Bush có thể cho thấy sự nóng nảy và không kiên nhẫn. Nhưng nếu ông là người không chịu bị chỉ trích—và ông thường xuyên bị chỉ trích—ông đã không cho thấy điều đó.

Khi cựu tùy viên báo chí Tòa Bạch Ốc Scott McClellan víêt một cuốn sách chỉ trích thậm tệ sự lãnh đạo của tổng thống Bush, ông đã nói với các cố vấn cao cấp là hãy bỏ qua điều này.

“Hãy kiếm một cách nào đó để tha thứ, vì đó là cách bạn sống trong đời,” tùy viên báo chí Tòa Bạch Ốc hiện nay là Dana Perino đã kể lại lời khuyên tổng thống Bush dành cho bà.

Tổng thống Bush nhất định giữ sự lạc quan, cho dù số phần trăm người dân Mỹ ủng hộ ông xúông thấp đến đâu.

“Mỗi ngày đều là một ngày vui vẻ,” ông cho hay mới đây, diễn tả một trong những thời đại tổng thống khó khăn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Những lúc đau lòng nhất cho ông là những khi ông gặp gia đình của các binh sĩ tử trận trong cuộc chiến mà ông đã gửi họ đi. Hay khi ông gặp các thương binh. Nhiều người nói với ông là họ muốn được quay trở lại chiến trường. Ông đã rất cảm động về những hy sinh này.

“Tôi nhiều lần khóc khi ở trong nhiệm vụ này,” tổng thống Bush đã có lần cho hay.

Tổng thống Bush không phải là người thích tiệc tùng, hội hè. Ông và bà vợ cũng đến nhà các bạn nhưng không lui tới nhà hàng hay những nơi nhộn nhịp khác ở Washington. Các phụ tá của ông nói rằng ông không muốn những hoạt động bảo vệ an ninh cho mình làm phiền công chúng.

Đó cũng là lý do tại sao ông thường có các chương trình làm việc nhanh chóng ở ngoại quốc. Ngay cả ở những nơi có phong cảnh đẹp đẽ nhất, tổng thống Bush cũng không dành thời giờ du ngoạn mà đi thẳng vào công việc, tạo thêm sự hiểu lầm là ông chẵng muốn tìm hiểu gì về thế giới bên ngoài.

“Tôi là người thích ở trong ổ,” ông Bush nói.

Thật là không nơi nào bằng trang trại thân thương của ông Crawford, tiểu bang Texas. Trong tám năm cầm quyền, ông đã dành khoảng một năm ở trang trại này.

Ông chặt cây, làm sạch bờ bụi, làm đường đạp xe đạp. Sức nóng của mùa hè không làm ông mệt mỏi mà lại tạo sự hứng khởi. Ông giải trí bằng cách đọc sách, thường là sách lịch sử Hoa Kỳ và thế giới. Ông cũng thích xem các phim diễu trinh thám như loạt phim “Austin Powers”. Ông dành thời giờ nghỉ ngơi với vợ.

Chẳng bao lâu nữa ông sẽ có nhiều thời giờ riêng cho mình.

“Tôi rời khỏi chức vụ tổng thống ngẩng cao đầu với sự hãnh diện,” ông Bush nói.

Và ông cũng sẽ để lại nhiều điều để mọi người nhớ tới. (V.Giang)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Chúng ta đang bỏ quên những giấc mơ?
Như một người lạc lõng và hão huyền giữa thời đại mình đang sống, trong ngày đầu của năm mới, tôi cất tiếng hỏi: Có ai chuẩn bị những hạt giống của giấc mơ không?

Câu hỏi này không phải bây giờ mới có trong tôi mà đã có từ lâu. Tôi và không ít người đã cất tiếng nhưng đáp lại là sự hờ hững như là không ai nghe thấy. Hay nói chính xác hơn là quá ít người nghe thấy hoặc nghe thấy nhưng họ đã bỏ đi.

Bởi hai từ giấc mơ vang lên như chẳng có ý nghĩa gì, chẳng làm ai thấy rung động. Giấc mơ là gì mà sao tôi lại phải nói đến như một nỗi dày vò khôn nguôi trong khi hầu hết chúng ta bị cuốn vào sự mê đắm của những lợi ích cụ thể nhìn được trong mắt và cầm được trong tay?

Tôi chỉ muốn chúng ta chỉ dừng lại một khắc của một năm để nhìn vào chính mỗi ngôi nhà của chính chúng ta và tự hỏi: Có bao giờ chúng ta nói với nhau trong một buổi tối nào đó về những giấc mơ của mình. Và chúng ta, những người thấu hiểu đời sống này, sẽ giật mình nhận ra rằng: đã từ lâu, từ lâu lắm rồi, chúng ta không còn nói về những giấc mơ của mỗi chúng ta nữa.

Sẽ không ít người lên tiếng nói với tôi bằng một cử chỉ khó chịu hoặc bằng một âm giọng mỉa mai rằng: Ngươi cứ tiếp tục gieo cái thứ hạt giống đó của ngươi. Còn ta, ta chẳng cần thứ hạt giống đó để làm gì. Đúng vậy. Quá nhiều người không bao giờ hình dung ra thứ hạt giống đó và không hề tin thứ hạt giống đó có chút ý nghĩa gì đó với cuộc sống của họ. Nhưng đấy chính là sự lầm lạc. Và sự lầm lạc này hình như cũng không bao giờ hiện rõ để nói về chính nó với những người bị nó làm cho u uẩn và hoảng loạn.

Có một sự kiện trong năm 2008 diễn ra trên thế giới làm tôi suy nghĩ mãi. Đó chính là cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Một người đàn ông da màu còn rất trẻ và ít danh tiếng đã trở thành tổng thống Mỹ, ngài Barack Obama. Không ít người nhầm tưởng rằng ông được bầu làm tổng thống Mỹ là do sự thăng hoa của chủ nghĩa bình đẳng sắc tộc.
Image
Obama gieo trong lòng người Mỹ
giấc mơ về sự thay đổi của những người đang hoảng sợ và vô vọng (Ảnh: TIME)


Nhưng thực tế, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở Mỹ, theo những nhà hoạt động và nghiên cứu xã hội, vẫn là một cơn ác mộng đối với những người da màu. Vậy điều gì đã làm cho một dân tộc được coi là thực dụng nhất đã bỏ phiếu lựa chọn Obama? Đó là bởi trong một ngày khi Obama đi qua họ thì họ bỗng nhận ra những cái cây của giấc mơ mọc lên lộng lẫy trong tâm hồn họ.

Bản chất và hiện thực của nước Mỹ vẫn không có một chút gì thay đổi khi Obama trở thành tổng thống. Chỉ có một thứ đổi thay. Đó là giấc mơ của người Mỹ về một tương lai đẹp đẽ ngập tràn chủ nghĩa nhân văn. Và họ đã đi theo kẻ gieo những hạt giống của giấc mơ vào con người đang hoảng sợ và vô vọng của họ.

Nếu chúng ta có thời gian, chúng ta sẽ hồi tưởng lại trong một năm chúng ta đã sống như thế nào trong chính ngôi nhà của mình. Tôi chỉ nói về ngôi nhà của mỗi chúng ta mà không nói đến những không gian rộng lớn hơn.

Tôi chỉ chọn lựa một không gian mà ở đó chứa đựng nhiều lý do nhất để mỗi chúng ta gieo những hạt giống của giấc mơ vào chính mảnh đất của tâm hồn mình và của những người thân bên cạnh chúng ta. Một việc rất nhỏ đã mất đi trong những ngôi nhà chúng ta làm tôi buồn bã và nuối tiếc. Đó là những buổi tối những người già kể cho những đứa trẻ nghe những câu chuyện cổ tích.

. Trên một bức tường đã cũ ở làng Chùa của tôi có một câu nói của những người nông dân: Người yêu thơ và ta yêu người.

Nhưng người không yêu thơ, ta phải yêu người hơn. Thơ ca ở đây không phải là những bài thơ cụ thể. Đó chính là những giấc mơ về cuộc sống này. Bởi thế chúng vừa thương vừa lo sợ cho những kẻ không mang trong mình những giấc mơ đẹp ấy.
Image
Và những câu chuyện cổ tích không chỉ là những câu chuyện cổ tích. Ở đó chứa đựng những giấc mơ đẹp đẽ và nhân ái về thế giới quá nhiều bệnh tật, nhiều đói rét, nhiều thù hận, nhiều bất trắc và nhiều máu chảy của chúng ta. Một nhà thơ Hàn Quốc, xứ sở của những văn minh và một đời sống giàu có về vật chất, đã viết: Ngày ngày chúng ta từ công sở trở về/ Giống loài bò sát trở về đầm lầy của chúng.

Khi tâm hồn chúng ta đã vắng những giấc mơ, khi đôi cánh của tâm hồn chúng ta không còn da diết đập, thì chúng ta bắt đầu trở về thế giới của hoang thú ngay trên chính những con đường hiện đại siêu tốc của chúng ta. Chúng ta tưởng chúng ta đang bay lên về phía ánh sáng nhưng thực tế chúng ta đang mỗi ngày chìm vào bóng tối của dục vọng.

Hàng triệu đứa trẻ đang lớn lên từ những ngôi nhà mệt mỏi của chúng ta. Nhiều lúc, chúng ta trở về và nhìn thật sâu vào ngôi nhà của chính mình. Chúng ta mới giật mình kinh hãi vì sự hoang vắng của ngôi nhà. Hoang vắng bởi ở đó chỉ là một cánh rừng của những vô cảm: tủ lạnh, tivi, đồ gỗ, máy rửa rau quả, lò vi sóng, máy giảm béo, hàng thời trang…cùng với những tham vọng và mưu mô làm chúng mắc chứng mất ngủ và bệnh hoang tưởng.

Tất cả những thứ đó sẽ chỉ là một thế giới chết nếu không có những con người mang trong họ những giấc mơ đẹp về thế gian này. Có lẽ vì thế mà nhiều lúc chúng ta nổi giận, chúng ta u uất, chúng ta hoảng loạn, chúng ta tức tối, chúng ta điên rồ…nhưng chúng ta không hiểu vì đâu.

Những công dân tương lai của chúng ta sẽ ra sao khi lớn lên từ những ngôi nhà mệt mỏi và hoang vắng ấy. Chúng ta đã và đang mắc một sai lầm hệ trọng khi nghĩ rằng chúng ta đã mang lại cho những đứa trẻ tất cả những gì chúng cần. Chúng ta đổ vào những đứa trẻ mọi thứ vật chất tốt nhất như quần áo, thực phẩm, đồ chơi và cả các thầy cô.

Tại sao tôi lại gọi thầy cô là một thứ vật chất? Bởi có không ít những thầy cô chỉ coi những đứa trẻ như một cái ổ cứng computer hay một cái USB để nạp tất cả những gì từ giáo án giáo trình của họ. Họ chỉ truyền vào những đứa trẻ những công thức và những định nghĩa vô cảm giống như người ta cài đặt một chương trình cho một cái máy. Và những đứa trẻ chỉ là những công cụ để thoả mãn dục vọng của chính những người làm cha làm mẹ, làm thầy làm cô mà thôi.

Nhưng chúng ta, những bậc cha mẹ, những bậc thầy cô vẫn luôn luôn tự tin rằng: những đứa trẻ đang ngoan ngoãn nghe lời chúng ta ở nhà, ở lớp là những con ngoan trò giỏi. Thực ra, chỉ có thân xác chúng đang ở trước chúng ta. Còn tâm hồn chúng đã rời bỏ chúng ta đi về thế giới riêng của chúng. Chúng chỉ là những cái bóng in trên bức tường thời gian mà những đôi mắt chúng ta không làm sao nhận biết được điều ấy.

Có bao nhiêu người mẹ, người cha hay thầy hay cô nói cho chúng nghe về những điều kỳ diệu ở ngay bên ngoài ô cửa phòng ngủ và phòng học của chúng. Không. Chúng ta đã đã quên lãng điều ấy từ lâu rồi. Và chính thế mà khi những đứa trẻ xa vào những hành động hoang thú thì chúng ta không hiểu vì sao lại như vậy.

Image Không chỉ trong những ngôi nhà của chúng ta mà trong từng lớp học và nhiều nơi chốn khác, chúng ta không được nhìn thấy bóng dáng và giọng nói của những người gieo những hạt giống của giấc mơ vào những đứa trẻ và vào chính chúng ta. Nếu bạn để ý, bạn sẽ thấy không ít những đứa trẻ khi bắt đầu tập nói đã ngày ngày phải phát âm hoặc phải nghe những lời từ vựng chỉ vật chất, chỉ tính sở hữu và của chủ nghĩa thực dụng.

Chúng ta mới chỉ lo sợ đến sự đau ốm sinh học của những đứa trẻ và bỏ ra tất cả tiền của để chữa chạy sự đau ốm này trong khi đó lại quá ít lo sợ những cơn đau ốm tâm hồn của chúng. Và nếu chúng ta có lờ mờ nhận ra những cơn đau ốm tâm hồn của những đứa trẻ thì chúng ta cũng không biết phải chữa chạy như thế nào.

Bởi chúng ta đã lãng quên những giấc mơ của chính mình. Và khi chúng ta xoè bàn tay của tâm hồn chúng ta ra, chúng ta chẳng thấy một hạt giống nào của giấc mơ trong cả hai lòng bàn tay ấy. Chúng ta không biết lấy gì để chữa chạy cơn đau ốm ấy tâm hồn của chính chúng ta và của những đứa trẻ, những chủ nhân tương lai của thế gian này. Cho đến lúc đó, chúng ta mới nhận ra rằng: chúng ta thực sự là những kẻ vô cùng nghèo đói.

Nguyễn Quang Thiều

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Thềm nắng sau lưng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tư


Ngày đầu tiên tới trường, Bằng lếch thếch quay về nhà với mớ sách vở ướt mèm, bộ đồ bê bết sình đất, bà ngoại kêu trời, nói, “tại thằng cha mầy không nên thân…”. Bằng nói không phải, do đường trơn, bữa qua mưa lớn quá.

Bằng mười tuổi, đi đào bắt chuột với mấy đứa nhỏ trong xóm, bị tụi nó vô tình xắn lưỡi dá vào cổ tay, máu chảy tràn, bà ngoại kêu trời, nói, “thằng cha mầy thiệt là bất nhân…”. Bằng nói, tại thằng Kẹo tưởng đâu tay con là con chuột…

Bằng mười sáu tuổi, đi đốn so đũa làm củi chụm, búa trật vào bàn chân làm đứt phăng một ngón, ngoại đấm ngực kêu trời, “ông trời ngó xuống coi, thằng cha bây có phải là người không ?”. Bằng nói, tại con mài cây búa bén quá.

Giờ thì Bằng đã hai mươi hai tuổi, trên người thẹo vết không đếm hết. Ngoại Bằng nói cha cậu phải chịu trách nhiệm về tất cả nỗi đau này. Nhưng không có vết nào là do chính tay cha Bằng gây ra, nên cậu vẫn chưa thể oán hận ông như bà ngoại và má mong muốn. Đôi lúc cậu thấy buồn, vì mình đã làm họ thất vọng, đôi lần.

Hôm Bằng ra đời, má đã thất vọng rã người, khi phải đẻ rớt cậu trên xuồng, giữa đường tới trạm xá. Xanh xao và mất máu, má cũng kịp thở dài, “nhà đã có một người đẻ trôi nổi rồi, chưa đủ sao?”. Người “đẻ trôi nổi” là ba cậu, lúc đó đang đi theo máy cày bên Đồng Ông Lớn. Ba Bằng về thì con trai gần đầy tháng, ba rón rén nhìn đứa trẻ được gói ngo ngoe trong chiếu, phì cười, “trời, ngộ quá hen, dài ngoằng vầy mà sao nằm khoanh trong bụng con người ta được vậy?”. Bằng chỉ nghe kể lại, ngay cả vụ ba bồng cậu đi chơi bên xóm, về tới nhà trên tay chỉ còn mấy tấm khăn áo bọc ngoài, cậu thì rơi tuột xuống đống rơm bên đường… Mới bốn tháng tuổi, Bằng chưa có ký ức, nên cũng không nhớ là đã đau và đã khóc ra sao, nên cũng không thể giận ông vì cái lỗi lơ đễnh đó.

Người lớn thì giận. Có lần đi mượn gạo về, má Bằng vấp chân vô cái rễ cây, ngay lập tức má rút chiếc dép ra đập cái cây điên dại, mếu máo “anh khốn nạn, khốn nạn lắm…”. Bữa sau ba cậu mới cặp xuồng vô bến, mặt mũi, áo tóc nhàu nhò. Ông chở mười mấy giạ lúa ra tới nhà máy chà, gặp thằng bạn đi qua, bạn rủ đi chợ nhậu chơi, ông gật đầu. Ở chợ ông gặp vài người bạn nữa, họ rủ ở lại mai về, ông lại gật đầu. Lúc về chiếc xuồng trống không, ba cậu bán lúa đi chơi hết tiền. Má Bằng nằm day mặt vô vách, mắt mở trừng trừng mà nước mắt cứ tuôn ra. Ông nhón chân trên nền nhà ướt bọp bẹp, kéo tay thằng con, thôi, hai ba con mình ra vườn chơi.

Vườn nhỏ, nhưng rất dài, liếp nối liếp tiếp giáp với cánh đồng mênh mông đằng xa. Ba Bằng thường trốn ra đây mỗi khi làm vợ giận. Gác sẵn mấy cây cần câu ngoài vườn, ông ngồi câu cá trong khi chờ má Bằng nguôi ngoai. Ông sợ nước mắt. Bằng tha thủi chơi gần đó. Có lúc ông gọi giật giọng, “Bằng, tàu đò Rạng Đông lên tới đầu doi kìa…”. Chuyện tàu qua làm ông dợm đứng lên, xao xuyến, dù ông chẳng định đi đâu hết. Có lúc chờ cá cắn câu, thì con chim tu hú kêu, ông cũng cất tiếng kêu. Tu hú tưởng tiếng đồng loại bèn đáp lời, vậy là hai bên cứ rượt đuổi, quấn quýt, buộc vào nhau không rời, không dứt. Cho tới mệt ngất ngư, cho tới chạng vạng, con tu hú chắc cũng thở dốc ở đâu đó trong lùm tre, ba Bằng mới chịu xách mấy con cá vô nhà, với vẻ mặt hớn hở và ngây ngất, quên mất mình đã gây ra chuyện tày đình gì.

Sau này, khi ba Bằng đi rồi, cậu vẫn nhớ những buổi chiều tiếng tu hú vờn nhau, đuổi bắt, mơn trớn, dìu dặt trong vườn. Có bữa bơi xuồng qua nhà ngoại chở nước mưa, trên đường về nghe bìm bịp kêu thâm u trong bờ dừa nước, cậu cũng bắc chước kêu bịp bịp. Cả khúc sông nhói ran. Bà mẹ đợi lâu quá lội bộ đi kiếm, thấy thằng con đang thả xuồng trôi dập dềnh bên những chùm gọng, đang nói tiếng chim giữa chơi vơi nước lớn. Bữa đó Bằng bị trận đòn tơi tả, má vừa đánh vừa khóc, “thằng cha đã không nên thân rồi, giờ tới thằng con, chừng nào mầy bỏ má mà đi, hả?”.

Không, Bằng kêu trong lòng, con không bỏ má. Ba Bằng nói, nhà có một người giang hồ là đủ khổ rồi. Hôm đó ông vừa nói vừa vò đầu cậu. Hai ba con ngồi ở bên hè, má cậu đã lạnh lùng bơi xuồng qua nhà ngoại, chắc là qua đó nằm khóc. Bữa đó ba cậu mới về, sau chuyến vắng nhà ngót nửa năm. Ba ngó nghiêng vô bồ lúa, hỏi :

- Nhà mình lúc này sao?

- Cũng vậy. Lúa đủ ăn.

- Má con sao?

- Cũng vậy. Có mấy người tới, má lấy chổi quét dạt ra đường. Má nói thấy đàn ông mắc chán.

- Trời, giờ nói vậy, mai mốt kiếm không ra à.

- Thì đó… con cũng nói vậy.

Bằng nói với ba như với ông khách mới tới nhà, như người quen lâu lâu mới gặp. Cậu ta lẻo đẻo đi đằng sau bước chân bỡ ngỡ của khách, lâu lâu lại nhắc “ba, coi chừng đụng đầu. Cái chái này con mới lợp lại…”. Cuối ngày thì ba cậu đón tàu đi. Bằng hỏi, lúc này nhà ba ở đâu. Ông cười nhỏ, vò đầu cậu:

- Nhà ba ở chỗ có người ba thương.

Bằng lại hỏi :

- Cái người tên Hường ca hay ba kể hôm trước hả?

Ba cậu cười, nửa ngượng ngiụ nửa sung sướng, cánh mũi phập phồng, thôi rồi, ba đang thương cô Năm Phượng trồng khóm bên Xóm Rẫy. Cô này lớn hơn ba năm tuổi, mà trẻ măng. Bằng ờ ờ, ngó chiếc tàu đò vừa ló cái mũi qua doi trâm bầu, nói vội :

- Chừng nào rảnh ba dẫn con đi theo chơi ít bữa.

Ba vò đầu cậu lần nữa, và nói cái câu chìm sâu trong vũng ngậm ngùi, rằng nhà mình chỉ nên có một người giang hồ thôi. Bằng nén thở dài, thấy trùng trình nhìn tàu đi.

Hai mươi hai tuổi Bằng vẫn hay bợ cột nhà, mỗi khi tàu đò qua. Như thể cậu đang níu, đang vịn chính mình ở lại. Những chiếc tàu nối đầu ghềnh cuối bãi, đi tới những chân trời xa xôi, tươi mới. Cậu muốn vẫy tay, để cùng chiếc tàu xé đôi cái viền sông xanh rợp những lùm cây hoang dại, chui ra khỏi cái chốn quê này. Nhưng chút nữa Bằng phải qua nhà má đốn cây, chẻ lá để vài ngày tới lợp rạp. Hiên, con gái của dượng sắp lấy chồng.

Hiên bằng nhỏ hơn Bằng một tuổi, đó là đứa con gái hay mủi lòng. Có lần ngoại chiên bánh xèo, sai Bằng đem qua nhà má, gặp Hiên, Bằng nói, ngoại tao cho ba mày bánh. Con Hiên tự nhiên khóc mướt, nó mếu máo nói sao mà anh Hai nói chuyện nghe xa lạ quá chừng. Nó cũng cho rằng việc học hành dang dở, hay những thương tích trên người Bằng là do Bằng không có người cha tử tế. Bằng chỉ cười, gãi gãi cái đầu gối.

Có đôi lúc Bằng thấy đời mình hơi buồn. Bằng cố gắng giận ba về cái việc ông giang hồ ham chơi. Nó cố gắng giận má việc bà đi bước nữa với dượng Tư Thuần. Nhưng giận dữ và day dứt lại làm Bằng thấy buồn hơn. Quên bỏ thì thấy nhẹ nhỏm, hớn hở. Cảm thấy nhiều chuyện hồi nhỏ trong lòng mình vẫn nhớ, nên không gọi là mất. Và nhiều thứ mình chưa kịp có, càng không thể gọi là mất.

Hiên, Bằng không tính là mình đã có. Đứa em này từ trên trời rơi xuống, chưa sống chung nhà một ngày, vài ba bữa gặp nhau một lần, nói vài ba câu. Hiên hay khóc quá, Bằng cũng sợ, vì không biết trước được con nhỏ sẽ sụt sùi lúc nào. Hỏi má tao đâu Hiên cũng khóc. Hỏi bên nhà mầy ăn cơm chiều chưa, Hiên cũng khóc. Hôm nghe tin đám gã sẽ tổ chức vào rằm tháng chín này, Bằng ngồi tra cái cán dao, nói, “mừng quá, bữa đó tao được ăn ngon…”. Con Hiên khóc tức khóc tưởi như Bằng vừa mới đánh nó. Bằng sợ nước mắt như ngày xưa ba nó sợ nước mắt má nó, nên bỏ ra vườn, chọc ghẹo con tu hú, chim vừa kêu vừa bay, Bằng vừa kêu vừa đi, theo hết chín mảnh vườn, băng qua chín hào ranh, mệt đứt hơi. Lúc quay vô nhà con Hiên vẫn còn thút thít. Từ bữa đó, nó không nhìn Bằng nữa.

Bằng cũng không lấy đó làm chuyện buồn lòng, cậu bận tối mắt mũi. Lúc thì kéo cá dưới ao, lúc thì chạy xuồng đi mua nước đá, lúc chở má đi chợ… Đôi khi bỗng nghĩ, khi nào mình cưới, chắc ba sẽ về. Ông sẽ xớ rớ ngồi bên mép ghế, tay mân mê mép bàn, sượng sùng nhìn quanh. Bằng sẽ ra cầm khách, mời ba ăn bánh, hay ba ăn thêm chén cơm nữa, đừng có ngại. Bằng hình dung, má cậu sẽ giả vờ lạnh lẽo lướt qua người đàn ông năm xưa là chồng mình, bà không thể lấy chổi chà quét đuổi vì đó là ngày cưới. Bằng cưới, thí dụ vậy. Có điều, lúc đó Bằng sẽ không biết ông ở đâu mà nhắn tin. Năm ngoái chạy chiếc ghe chở than đước qua khúc sông Láng Cháo này, ông thập thò ghé thăm Bằng. Bà ngoại mắt đã mờ, cũng không biết ai ghé nhà, nhưng nghe cất tiếng hỏi “má khỏe không ?” là cằn nhằn ở đâu lổn nhổn bò ra. Ba Bằng cười hề hề, kéo tay thằng con ra sông ngồi nói chuyện chơi. Bằng không còn hỏi lúc này ba ở chỗ nào, tự thấy chiếc ghe mui vuông đậu đằng kia là nhà ông, nơi thấp thoáng một tà áo đỏ lúi húi vào ra.

Hôm đó, ba rờ nắn dái Bằng, hỏi :

- Ê, muốn vợ chưa mậy?

- Muốn hồi mười lăm mười sáu tuổi rồi, ông ơi! – Cậu nghe cái đó nhộn nhạo chạo chực trong bàn tay mềm mại của ông.

- Trễ vậy? Hồi đó tao mười hai tuổi là thấy gái biết ham - Ông cười vang. Rồi rất cố gắng, vừa sửa cái bâu áo lại, ông vừa nói với giọng nghiêm túc - - Chừng nào cưới vợ ba lo cho một cây vàng.

Bằng cười, tự biết lời hứa này không nên chờ đợi. Người cha cũng tẽn tò, bẻ nhánh cây xoi xoi trên mặt đất. Bằng biết ông nghèo bộng ruột. Nghèo mà không áy náy hay lo lắng chuyện mình nghèo. Hồi đi theo máy cày, nửa tháng ăn sương ngủ gió trên đồng, lúc về nhà chỉ có nhúm tiền con con, má Bằng thở dài, “trên đời dưới thế chỉ có mình anh, gặp bạn bè là quên phứt vợ con…”. Ba Bằng gãi đầu, cười hệch, ừa, sao kỳ quá, anh tính ghé tiệm tạp hóa mua cho con lon sữa với mấy ký đường, gặp thằng bạn cũ, nó rủ ngồi lai rai chơi. Bữa sau tính về, bạn kéo đi đám cưới cháu vợ nó, đờn ca vui quá…” Và trong đám người vui chơi ca hát đó có người đàn bà tên Hường, chuyện đó thì ba cậu không kể.

Khi nhớ về người cha trôi giạt, Bằng luôn trong vai một người đứng bên lề, nghiêng ngó. Dù khi ông rượt theo con tu hú, cậu cũng ở đó, nhưng lại thấy mình rời ra. Chỉ mình người cha với cuộc chơi tùy hứng và bất tận của ông. Bằng nhận ra điều đó khi thả chiếc xuồng chở đầy nước mưa trôi theo tiếng kêu buồn trĩu của con bìm bịp, trong Bằng không còn thời gian, bờ bến, thế giới không còn người, đến chính Bằng cũng không còn. Sau đó má Bằng xuất hiện, cái nón lá chấp chới trong tay, đứng réo Bằng ơi Bằng, mới xua tan được khoảng sương mù mịt.

Sau lần đó má càng ân hận hơn vì đã đẻ Bằng trên xuồng. Bằng thấy áy náy, nên cố gắng làm cho má tin trận đòn dữ dội kia đã làm cậu thay đổi. Biết má luôn dõi theo mình với tất cả hy vọng và thất vọng, giữa bữa cơm Bằng không bao giờ ngừng đũa dù khi ấy tàu đò qua, Bằng không ngó xa về phía chân trời, không lang thang ngoài vườn vắng, không nhìn theo những cánh chim, không tụ tập với bạn bè… Má Bằng cũng thấy yên lòng đôi chút, nhưng bà không hề biết, cái khúc sông tối om, con bìm bịp làm cậu nhớ dai dẳng, dù nhiều năm qua rồi. Dù lúc này cậu hai mươi hai tuổi, đang chở một xuồng cây về bắc cái cầu ra sông, phòng hờ mai rước dâu vào giờ nước ròng, xuồng đàng trai có thể dễ dàng cập bến.

Sau này Bằng cứ tiếc, phải biết có cô trong đoàn người đó, cậu đã đóng thêm tay vịn cho cây cầu. Cậu sẽ tìm ván lót sàn chứ không phải ghép vội những thân cây còn ướt nhựa, làm cho cái gót giày nhỏ xíu của cô kẹt lại, gãy lìa. Đám rước dâu hơi nhốn nháo. Cô loay hoay đứng chôn chân một chỗ, chẳng biết nên bỏ giày đi chân không hay cứ bước thấp bước cao, cho tới khi Bằng không nói không rằng bẻ luôn cái gót giày bên kia. Lúc cúi xuống, vạt áo dài vàng chanh cứ mơn trớn hững hờ đắp lên mặt cậu.

Từ đó thì mắt Bằng không thấy gì ngoài cái màu vàng chanh chấp chới. Không có đám cưới nào, sáng nay. Không có bà mẹ ngượng ngập mặc áo dài lén lau nước mắt. Không có Tuyết Hiên mặt mũi như đào hát, cổ đeo dây chuyền vàng đang đứng ngơ ngác, dè dặt bên cạnh chồng. Không có đám đông ăn uống chúc tụng nói cười. Không ai cả. Vắng rợn như khúc sông chiều với tiếng bìm bịp kêu, như mảnh vườn thâm u tiếng con tu hú. Bằng nhìn những ngón tay nhỏ nhắn và khẽ khàng của cô, lúc nhón cái bánh, lúc chậm mồ hôi, lúc vén mớ tóc lòa xòa, lúc cắn hột dưa, cảm giác lâng lâng như khi bắt đầu cất tiếng chim gọi nước. Thỉnh thoảng cô nhìn Bằng, thẳng thắn và dạn dĩ, có chút dò hỏi, chút ngạo nghễ, rồi môi đỏ nhuộm nụ cười cũng đỏ, thả lửng lơ về phía thằng con trai đang đứng lơ ngơ.

Cô đi khi nước vẫn chưa lớn, vịn Bằng để bước xuống chiếc đò máy, cô cười, “chà, không biết chừng nào mới gặp lại…”. Bằng vẫn không biết tên tuổi, không biết nhà cô ở đâu, cô đã có chồng hay chưa. Bằng càng không biết được cô có còn nhớ cậu không, khi quay lưng lại. Nhưng điều đó chẳng làm cậu buồn, hay mất mát. Bằng đã kịp nắm bàn tay của cô, chạm vào từng ngón, từng ngón. Chúng mềm và mỏng manh như những cọng bông súng chớm héo đi dưới nắng.



Không một chút oán giận nào cái dòng sông đưa cô đi, như đã từng đưa ba, má cậu đi. Lúc rảnh rỗi, Bằng ngồi bên dòng chảy, nhìn tàu qua, nhìn tàu qua. Mỗi ngày năm bảy lượt. Bằng nhớ cô, nhớ nụ cười, cái nhìn, bàn tay ấm nắng. Bằng hay giơ bàn tay mình ra, dưới ánh sáng mặt trời, như không tin vào điều kỳ diệu, bàn tay chai sạn sứt sẹo này đã từng nắm lấy một bàn tay.



Một sáng, bỗng dưng có chiếc tàu ghé lại, họ tưởng Bằng đã vẫy tay gọi. Sự hiểu lầm làm cậu ngẩn ngơ giây lát, ông chủ tàu hối “lẹ lên, mậy…”. Vậy là Bằng nhảy xuống tàu. Cái thềm nắng lấp ló sau hàng bông bụp, nơi bà ngoại cậu đang treo võng ăn trầu, nơi cậu từng ngồi vót cần câu thả… đã khép lại, như gánh hát khép màn.



Lúc thu tiền, ông chủ tàu đò hỏi Bằng đi đâu, cậu cười, tàu chú đi tới đâu tôi theo tới đó. Ông chưng hửng, trời, vậy nhà cửa chú mầy chỗ nào mới được chớ... Cậu lại cười, lòng nghĩ, nơi nào có người tôi thương nhớ, thì nhà tôi ở đó. Nhưng giờ thì tôi chưa biết nhà cô ấy ở đâu.



Khi đi, Bằng mặc cái quần lỡ màu xám, áo sơmi xanh dương ngã màu đã đứt hai cái nút phía trên, chân không, đầu trần với ít chục ngàn trong túi./.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Thềm nắng sau lưng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tư


Ngày đầu tiên tới trường, Bằng lếch thếch quay về nhà với mớ sách vở ướt mèm, bộ đồ bê bết sình đất, bà ngoại kêu trời, nói, “tại thằng cha mầy không nên thân…”. Bằng nói không phải, do đường trơn, bữa qua mưa lớn quá.

Bằng mười tuổi, đi đào bắt chuột với mấy đứa nhỏ trong xóm, bị tụi nó vô tình xắn lưỡi dá vào cổ tay, máu chảy tràn, bà ngoại kêu trời, nói, “thằng cha mầy thiệt là bất nhân…”. Bằng nói, tại thằng Kẹo tưởng đâu tay con là con chuột…

Bằng mười sáu tuổi, đi đốn so đũa làm củi chụm, búa trật vào bàn chân làm đứt phăng một ngón, ngoại đấm ngực kêu trời, “ông trời ngó xuống coi, thằng cha bây có phải là người không ?”. Bằng nói, tại con mài cây búa bén quá.

Giờ thì Bằng đã hai mươi hai tuổi, trên người thẹo vết không đếm hết. Ngoại Bằng nói cha cậu phải chịu trách nhiệm về tất cả nỗi đau này. Nhưng không có vết nào là do chính tay cha Bằng gây ra, nên cậu vẫn chưa thể oán hận ông như bà ngoại và má mong muốn. Đôi lúc cậu thấy buồn, vì mình đã làm họ thất vọng, đôi lần.

Hôm Bằng ra đời, má đã thất vọng rã người, khi phải đẻ rớt cậu trên xuồng, giữa đường tới trạm xá. Xanh xao và mất máu, má cũng kịp thở dài, “nhà đã có một người đẻ trôi nổi rồi, chưa đủ sao?”. Người “đẻ trôi nổi” là ba cậu, lúc đó đang đi theo máy cày bên Đồng Ông Lớn. Ba Bằng về thì con trai gần đầy tháng, ba rón rén nhìn đứa trẻ được gói ngo ngoe trong chiếu, phì cười, “trời, ngộ quá hen, dài ngoằng vầy mà sao nằm khoanh trong bụng con người ta được vậy?”. Bằng chỉ nghe kể lại, ngay cả vụ ba bồng cậu đi chơi bên xóm, về tới nhà trên tay chỉ còn mấy tấm khăn áo bọc ngoài, cậu thì rơi tuột xuống đống rơm bên đường… Mới bốn tháng tuổi, Bằng chưa có ký ức, nên cũng không nhớ là đã đau và đã khóc ra sao, nên cũng không thể giận ông vì cái lỗi lơ đễnh đó.

Người lớn thì giận. Có lần đi mượn gạo về, má Bằng vấp chân vô cái rễ cây, ngay lập tức má rút chiếc dép ra đập cái cây điên dại, mếu máo “anh khốn nạn, khốn nạn lắm…”. Bữa sau ba cậu mới cặp xuồng vô bến, mặt mũi, áo tóc nhàu nhò. Ông chở mười mấy giạ lúa ra tới nhà máy chà, gặp thằng bạn đi qua, bạn rủ đi chợ nhậu chơi, ông gật đầu. Ở chợ ông gặp vài người bạn nữa, họ rủ ở lại mai về, ông lại gật đầu. Lúc về chiếc xuồng trống không, ba cậu bán lúa đi chơi hết tiền. Má Bằng nằm day mặt vô vách, mắt mở trừng trừng mà nước mắt cứ tuôn ra. Ông nhón chân trên nền nhà ướt bọp bẹp, kéo tay thằng con, thôi, hai ba con mình ra vườn chơi.

Vườn nhỏ, nhưng rất dài, liếp nối liếp tiếp giáp với cánh đồng mênh mông đằng xa. Ba Bằng thường trốn ra đây mỗi khi làm vợ giận. Gác sẵn mấy cây cần câu ngoài vườn, ông ngồi câu cá trong khi chờ má Bằng nguôi ngoai. Ông sợ nước mắt. Bằng tha thủi chơi gần đó. Có lúc ông gọi giật giọng, “Bằng, tàu đò Rạng Đông lên tới đầu doi kìa…”. Chuyện tàu qua làm ông dợm đứng lên, xao xuyến, dù ông chẳng định đi đâu hết. Có lúc chờ cá cắn câu, thì con chim tu hú kêu, ông cũng cất tiếng kêu. Tu hú tưởng tiếng đồng loại bèn đáp lời, vậy là hai bên cứ rượt đuổi, quấn quýt, buộc vào nhau không rời, không dứt. Cho tới mệt ngất ngư, cho tới chạng vạng, con tu hú chắc cũng thở dốc ở đâu đó trong lùm tre, ba Bằng mới chịu xách mấy con cá vô nhà, với vẻ mặt hớn hở và ngây ngất, quên mất mình đã gây ra chuyện tày đình gì.

Sau này, khi ba Bằng đi rồi, cậu vẫn nhớ những buổi chiều tiếng tu hú vờn nhau, đuổi bắt, mơn trớn, dìu dặt trong vườn. Có bữa bơi xuồng qua nhà ngoại chở nước mưa, trên đường về nghe bìm bịp kêu thâm u trong bờ dừa nước, cậu cũng bắc chước kêu bịp bịp. Cả khúc sông nhói ran. Bà mẹ đợi lâu quá lội bộ đi kiếm, thấy thằng con đang thả xuồng trôi dập dềnh bên những chùm gọng, đang nói tiếng chim giữa chơi vơi nước lớn. Bữa đó Bằng bị trận đòn tơi tả, má vừa đánh vừa khóc, “thằng cha đã không nên thân rồi, giờ tới thằng con, chừng nào mầy bỏ má mà đi, hả?”.

Không, Bằng kêu trong lòng, con không bỏ má. Ba Bằng nói, nhà có một người giang hồ là đủ khổ rồi. Hôm đó ông vừa nói vừa vò đầu cậu. Hai ba con ngồi ở bên hè, má cậu đã lạnh lùng bơi xuồng qua nhà ngoại, chắc là qua đó nằm khóc. Bữa đó ba cậu mới về, sau chuyến vắng nhà ngót nửa năm. Ba ngó nghiêng vô bồ lúa, hỏi :

- Nhà mình lúc này sao?

- Cũng vậy. Lúa đủ ăn.

- Má con sao?

- Cũng vậy. Có mấy người tới, má lấy chổi quét dạt ra đường. Má nói thấy đàn ông mắc chán.

- Trời, giờ nói vậy, mai mốt kiếm không ra à.

- Thì đó… con cũng nói vậy.

Bằng nói với ba như với ông khách mới tới nhà, như người quen lâu lâu mới gặp. Cậu ta lẻo đẻo đi đằng sau bước chân bỡ ngỡ của khách, lâu lâu lại nhắc “ba, coi chừng đụng đầu. Cái chái này con mới lợp lại…”. Cuối ngày thì ba cậu đón tàu đi. Bằng hỏi, lúc này nhà ba ở đâu. Ông cười nhỏ, vò đầu cậu:

- Nhà ba ở chỗ có người ba thương.

Bằng lại hỏi :

- Cái người tên Hường ca hay ba kể hôm trước hả?

Ba cậu cười, nửa ngượng ngiụ nửa sung sướng, cánh mũi phập phồng, thôi rồi, ba đang thương cô Năm Phượng trồng khóm bên Xóm Rẫy. Cô này lớn hơn ba năm tuổi, mà trẻ măng. Bằng ờ ờ, ngó chiếc tàu đò vừa ló cái mũi qua doi trâm bầu, nói vội :

- Chừng nào rảnh ba dẫn con đi theo chơi ít bữa.

Ba vò đầu cậu lần nữa, và nói cái câu chìm sâu trong vũng ngậm ngùi, rằng nhà mình chỉ nên có một người giang hồ thôi. Bằng nén thở dài, thấy trùng trình nhìn tàu đi.

Hai mươi hai tuổi Bằng vẫn hay bợ cột nhà, mỗi khi tàu đò qua. Như thể cậu đang níu, đang vịn chính mình ở lại. Những chiếc tàu nối đầu ghềnh cuối bãi, đi tới những chân trời xa xôi, tươi mới. Cậu muốn vẫy tay, để cùng chiếc tàu xé đôi cái viền sông xanh rợp những lùm cây hoang dại, chui ra khỏi cái chốn quê này. Nhưng chút nữa Bằng phải qua nhà má đốn cây, chẻ lá để vài ngày tới lợp rạp. Hiên, con gái của dượng sắp lấy chồng.

Hiên bằng nhỏ hơn Bằng một tuổi, đó là đứa con gái hay mủi lòng. Có lần ngoại chiên bánh xèo, sai Bằng đem qua nhà má, gặp Hiên, Bằng nói, ngoại tao cho ba mày bánh. Con Hiên tự nhiên khóc mướt, nó mếu máo nói sao mà anh Hai nói chuyện nghe xa lạ quá chừng. Nó cũng cho rằng việc học hành dang dở, hay những thương tích trên người Bằng là do Bằng không có người cha tử tế. Bằng chỉ cười, gãi gãi cái đầu gối.

Có đôi lúc Bằng thấy đời mình hơi buồn. Bằng cố gắng giận ba về cái việc ông giang hồ ham chơi. Nó cố gắng giận má việc bà đi bước nữa với dượng Tư Thuần. Nhưng giận dữ và day dứt lại làm Bằng thấy buồn hơn. Quên bỏ thì thấy nhẹ nhỏm, hớn hở. Cảm thấy nhiều chuyện hồi nhỏ trong lòng mình vẫn nhớ, nên không gọi là mất. Và nhiều thứ mình chưa kịp có, càng không thể gọi là mất.

Hiên, Bằng không tính là mình đã có. Đứa em này từ trên trời rơi xuống, chưa sống chung nhà một ngày, vài ba bữa gặp nhau một lần, nói vài ba câu. Hiên hay khóc quá, Bằng cũng sợ, vì không biết trước được con nhỏ sẽ sụt sùi lúc nào. Hỏi má tao đâu Hiên cũng khóc. Hỏi bên nhà mầy ăn cơm chiều chưa, Hiên cũng khóc. Hôm nghe tin đám gã sẽ tổ chức vào rằm tháng chín này, Bằng ngồi tra cái cán dao, nói, “mừng quá, bữa đó tao được ăn ngon…”. Con Hiên khóc tức khóc tưởi như Bằng vừa mới đánh nó. Bằng sợ nước mắt như ngày xưa ba nó sợ nước mắt má nó, nên bỏ ra vườn, chọc ghẹo con tu hú, chim vừa kêu vừa bay, Bằng vừa kêu vừa đi, theo hết chín mảnh vườn, băng qua chín hào ranh, mệt đứt hơi. Lúc quay vô nhà con Hiên vẫn còn thút thít. Từ bữa đó, nó không nhìn Bằng nữa.

Bằng cũng không lấy đó làm chuyện buồn lòng, cậu bận tối mắt mũi. Lúc thì kéo cá dưới ao, lúc thì chạy xuồng đi mua nước đá, lúc chở má đi chợ… Đôi khi bỗng nghĩ, khi nào mình cưới, chắc ba sẽ về. Ông sẽ xớ rớ ngồi bên mép ghế, tay mân mê mép bàn, sượng sùng nhìn quanh. Bằng sẽ ra cầm khách, mời ba ăn bánh, hay ba ăn thêm chén cơm nữa, đừng có ngại. Bằng hình dung, má cậu sẽ giả vờ lạnh lẽo lướt qua người đàn ông năm xưa là chồng mình, bà không thể lấy chổi chà quét đuổi vì đó là ngày cưới. Bằng cưới, thí dụ vậy. Có điều, lúc đó Bằng sẽ không biết ông ở đâu mà nhắn tin. Năm ngoái chạy chiếc ghe chở than đước qua khúc sông Láng Cháo này, ông thập thò ghé thăm Bằng. Bà ngoại mắt đã mờ, cũng không biết ai ghé nhà, nhưng nghe cất tiếng hỏi “má khỏe không ?” là cằn nhằn ở đâu lổn nhổn bò ra. Ba Bằng cười hề hề, kéo tay thằng con ra sông ngồi nói chuyện chơi. Bằng không còn hỏi lúc này ba ở chỗ nào, tự thấy chiếc ghe mui vuông đậu đằng kia là nhà ông, nơi thấp thoáng một tà áo đỏ lúi húi vào ra.

Hôm đó, ba rờ nắn dái Bằng, hỏi :

- Ê, muốn vợ chưa mậy?

- Muốn hồi mười lăm mười sáu tuổi rồi, ông ơi! – Cậu nghe cái đó nhộn nhạo chạo chực trong bàn tay mềm mại của ông.

- Trễ vậy? Hồi đó tao mười hai tuổi là thấy gái biết ham - Ông cười vang. Rồi rất cố gắng, vừa sửa cái bâu áo lại, ông vừa nói với giọng nghiêm túc - - Chừng nào cưới vợ ba lo cho một cây vàng.

Bằng cười, tự biết lời hứa này không nên chờ đợi. Người cha cũng tẽn tò, bẻ nhánh cây xoi xoi trên mặt đất. Bằng biết ông nghèo bộng ruột. Nghèo mà không áy náy hay lo lắng chuyện mình nghèo. Hồi đi theo máy cày, nửa tháng ăn sương ngủ gió trên đồng, lúc về nhà chỉ có nhúm tiền con con, má Bằng thở dài, “trên đời dưới thế chỉ có mình anh, gặp bạn bè là quên phứt vợ con…”. Ba Bằng gãi đầu, cười hệch, ừa, sao kỳ quá, anh tính ghé tiệm tạp hóa mua cho con lon sữa với mấy ký đường, gặp thằng bạn cũ, nó rủ ngồi lai rai chơi. Bữa sau tính về, bạn kéo đi đám cưới cháu vợ nó, đờn ca vui quá…” Và trong đám người vui chơi ca hát đó có người đàn bà tên Hường, chuyện đó thì ba cậu không kể.

Khi nhớ về người cha trôi giạt, Bằng luôn trong vai một người đứng bên lề, nghiêng ngó. Dù khi ông rượt theo con tu hú, cậu cũng ở đó, nhưng lại thấy mình rời ra. Chỉ mình người cha với cuộc chơi tùy hứng và bất tận của ông. Bằng nhận ra điều đó khi thả chiếc xuồng chở đầy nước mưa trôi theo tiếng kêu buồn trĩu của con bìm bịp, trong Bằng không còn thời gian, bờ bến, thế giới không còn người, đến chính Bằng cũng không còn. Sau đó má Bằng xuất hiện, cái nón lá chấp chới trong tay, đứng réo Bằng ơi Bằng, mới xua tan được khoảng sương mù mịt.

Sau lần đó má càng ân hận hơn vì đã đẻ Bằng trên xuồng. Bằng thấy áy náy, nên cố gắng làm cho má tin trận đòn dữ dội kia đã làm cậu thay đổi. Biết má luôn dõi theo mình với tất cả hy vọng và thất vọng, giữa bữa cơm Bằng không bao giờ ngừng đũa dù khi ấy tàu đò qua, Bằng không ngó xa về phía chân trời, không lang thang ngoài vườn vắng, không nhìn theo những cánh chim, không tụ tập với bạn bè… Má Bằng cũng thấy yên lòng đôi chút, nhưng bà không hề biết, cái khúc sông tối om, con bìm bịp làm cậu nhớ dai dẳng, dù nhiều năm qua rồi. Dù lúc này cậu hai mươi hai tuổi, đang chở một xuồng cây về bắc cái cầu ra sông, phòng hờ mai rước dâu vào giờ nước ròng, xuồng đàng trai có thể dễ dàng cập bến.

Sau này Bằng cứ tiếc, phải biết có cô trong đoàn người đó, cậu đã đóng thêm tay vịn cho cây cầu. Cậu sẽ tìm ván lót sàn chứ không phải ghép vội những thân cây còn ướt nhựa, làm cho cái gót giày nhỏ xíu của cô kẹt lại, gãy lìa. Đám rước dâu hơi nhốn nháo. Cô loay hoay đứng chôn chân một chỗ, chẳng biết nên bỏ giày đi chân không hay cứ bước thấp bước cao, cho tới khi Bằng không nói không rằng bẻ luôn cái gót giày bên kia. Lúc cúi xuống, vạt áo dài vàng chanh cứ mơn trớn hững hờ đắp lên mặt cậu.

Từ đó thì mắt Bằng không thấy gì ngoài cái màu vàng chanh chấp chới. Không có đám cưới nào, sáng nay. Không có bà mẹ ngượng ngập mặc áo dài lén lau nước mắt. Không có Tuyết Hiên mặt mũi như đào hát, cổ đeo dây chuyền vàng đang đứng ngơ ngác, dè dặt bên cạnh chồng. Không có đám đông ăn uống chúc tụng nói cười. Không ai cả. Vắng rợn như khúc sông chiều với tiếng bìm bịp kêu, như mảnh vườn thâm u tiếng con tu hú. Bằng nhìn những ngón tay nhỏ nhắn và khẽ khàng của cô, lúc nhón cái bánh, lúc chậm mồ hôi, lúc vén mớ tóc lòa xòa, lúc cắn hột dưa, cảm giác lâng lâng như khi bắt đầu cất tiếng chim gọi nước. Thỉnh thoảng cô nhìn Bằng, thẳng thắn và dạn dĩ, có chút dò hỏi, chút ngạo nghễ, rồi môi đỏ nhuộm nụ cười cũng đỏ, thả lửng lơ về phía thằng con trai đang đứng lơ ngơ.

Cô đi khi nước vẫn chưa lớn, vịn Bằng để bước xuống chiếc đò máy, cô cười, “chà, không biết chừng nào mới gặp lại…”. Bằng vẫn không biết tên tuổi, không biết nhà cô ở đâu, cô đã có chồng hay chưa. Bằng càng không biết được cô có còn nhớ cậu không, khi quay lưng lại. Nhưng điều đó chẳng làm cậu buồn, hay mất mát. Bằng đã kịp nắm bàn tay của cô, chạm vào từng ngón, từng ngón. Chúng mềm và mỏng manh như những cọng bông súng chớm héo đi dưới nắng.

Không một chút oán giận nào cái dòng sông đưa cô đi, như đã từng đưa ba, má cậu đi. Lúc rảnh rỗi, Bằng ngồi bên dòng chảy, nhìn tàu qua, nhìn tàu qua. Mỗi ngày năm bảy lượt. Bằng nhớ cô, nhớ nụ cười, cái nhìn, bàn tay ấm nắng. Bằng hay giơ bàn tay mình ra, dưới ánh sáng mặt trời, như không tin vào điều kỳ diệu, bàn tay chai sạn sứt sẹo này đã từng nắm lấy một bàn tay.

Một sáng, bỗng dưng có chiếc tàu ghé lại, họ tưởng Bằng đã vẫy tay gọi. Sự hiểu lầm làm cậu ngẩn ngơ giây lát, ông chủ tàu hối “lẹ lên, mậy…”. Vậy là Bằng nhảy xuống tàu. Cái thềm nắng lấp ló sau hàng bông bụp, nơi bà ngoại cậu đang treo võng ăn trầu, nơi cậu từng ngồi vót cần câu thả… đã khép lại, như gánh hát khép màn.

Lúc thu tiền, ông chủ tàu đò hỏi Bằng đi đâu, cậu cười, tàu chú đi tới đâu tôi theo tới đó. Ông chưng hửng, trời, vậy nhà cửa chú mầy chỗ nào mới được chớ... Cậu lại cười, lòng nghĩ, nơi nào có người tôi thương nhớ, thì nhà tôi ở đó. Nhưng giờ thì tôi chưa biết nhà cô ấy ở đâu.

Khi đi, Bằng mặc cái quần lỡ màu xám, áo sơmi xanh dương ngã màu đã đứt hai cái nút phía trên, chân không, đầu trần với ít chục ngàn trong túi./.

Post Reply