Tin Trong Nước

Xin nhớ: tin cần có "nguồn", trích từ đâu ra!!!
User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Công trình bê bối nhất Sài Gòn liên quan đến Lê Thanh Hải, Hùynh Ngọc Sĩ,
2 quan chức vẫn bình an vô sự

Wednesday, December 24, 2008

Image
Ông Lê Thanh Hải, cựu chủ tịch TP Sài Gòn, nay là ủy viên Bộ Chính Trị kiêm bí thư Thành Ủy Sài Gòn,
được xem là “đạo diễn” các dự án tai tiếng ở Sài Gòn.
Sài Gòn (NV) - Thanh tra thành phố Sài Gòn vừa công bố kết luận thanh tra “Dự án cầu-đường Nguyễn Hữu Cảnh”. Lúc đầu, tổng vốn đầu tư cho dự án này là 278 tỷ đồng, sau đó được “điều chỉnh” thành 419 tỷ đồng. Năm năm sau khi hoàn thành (2002), hồi giữa năm 2007, UBND thành phố Sài Gòn phải chi 141 tỷ để sửa chữa cầu Văn Thánh 2 (nằm trong dự án) và hai đầu đường dẫn vào cầu. Chưa kể phải chi khoảng 4 tỷ đồng cho 57 căn nhà bị nứt.

Thanh tra thành phố Sài Gòn đã xác định “Dự án cầu đường Nguyễn Hữu Cảnh” là “bê bối nhất Sài Gòn” và “lập kỷ lục về các sai phạm”.

Hồi cuối thập niên 1990, “Dự án cầu đường Nguyễn Hữu Cảnh” từng được xác định là một trong những công trình quan trọng nhất để phát triển Sài Gòn. Dự án này nối dài đường Lê Thánh Tôn (chỗ tiếp giáp với đường Tôn Ðức Thắng, tên cũ là Cường Ðể), chạy cặp hông Thảo Cầm viên (Sở Thú), qua hai cây cầu dẫn ra Tân Cảng (khu vực chân cầu Sài Gòn). Tuy nhiên, sau khi hoàn tất, toàn bộ con đường cũng như hai cây cầu (cầu Nguyễn Hữu Cảnh, cầu Văn Thánh 2) đều lún, sụt, biến dạng. Ðường Nguyễn Hữu Cảnh trở thành con đường ngập nặng nhất Sài Gòn.

Theo thanh tra thành phố Sài Gòn, công ty Thanh Niên Xung Phong, chủ đầu tư “Dự án cầu-đường Nguyễn Hữu Cảnh” phải chịu trách nhiệm về việc lún nứt đường, lún nứt đường dẫn lên cầu và lún vỡ cầu Văn Thánh 2 vì không tuân thủ quy định quản lý chất lượng xây dựng.

Tư vấn thiết kế là công ty Tư Vấn Thiết Kế Giao Thông Vận Tải phía Nam, tư vấn giám sát là phân viện Khoa Học Công Nghệ Giao Thông Vận Tải cùng thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải, phải chịu trách nhiệm chính về việc lún nứt đường dẫn lên cầu Văn Thánh 2 lần thứ hai (sau khi sửa) và nứt nhà dân...

Ðáng lưu ý là không thấy thanh tra thành phố Sài Gòn đề cập đến trách nhiệm của ông Huỳnh Ngọc Sỹ và ông Lê Thanh Hải.

Hồi đầu thập niên 2000, nhiều tờ báo ở Sài Gòn đã bắt đầu hệ thống và công bố hàng loạt sai phạm của công ty Thanh Niên Xung Phong, thuộc lực lượng Thanh Niên Xung Phong do ông Huỳnh Ngọc Sỹ làm giám đốc. Tuy thiếu cả nhân lực, kinh nghiệm, tài chánh, thiết bị nhưng công ty Thanh Niên Xung Phong vẫn được ông Lê Thanh Hải (cựu chỉ huy trưởng lực lượng Thanh Niên Xung Phong), lúc đó là chủ tịch UBND thành phố Sài Gòn giao làm chủ đầu tư nhiều công trình hạ tầng giao thông như: Dự án cầu-đường Nguyễn Hữu Cảnh, Dự án nâng cấp-mở rộng đường Ðiện Biên Phủ, Dự án xây dựng trạm thu phí xa lộ Hà Nội, Dự án nâng cấp-mở rộng đường liên tỉnh lộ 25... và cuối cùng tất cả những dự án này đều kém chất lượng (đường lún, hầm lún, cầu lún, bị thủng mặt,...), đến nay vẫn chưa khắc phục xong hậu quả.

Dù tạo ra vô số điều tiếng như vừa kể song ông Huỳnh Ngọc Sỹ vẫn được bổ nhiệm làm phó giám đốc Sở Giao Thông Công Chánh Sài Gòn kiêm giám đốc Ban Quản Lý Dự Án Ðại Lộ Ðông Tây và Môi Trường Nước. Từ tháng 6 vừa qua đến nay, ông Huỳnh Ngọc Sỹ trở thành nhân vật chính trong vụ nhận 820 ngàn USD do tập đoàn PCI của Nhật hối lộ. Bởi chính quyền CSVN thiếu thiện chí hợp tác điều tra về vụ nhận hối lộ này, chính phủ Nhật đã quyết định tạm ngưng giải ngân các khoản vay ưu đãi dành cho Việt Nam. Chính quyền CSVN chỉ mới tạm đình chỉ chức vụ của ông Huỳnh Ngọc Sỹ, chuyển ông Sỹ từ Ban Quản Lý Dự Án Ðại Lộ Ðông Tây và Môi Trường Nước về “sinh hoạt Ðảng” tại Sở Giao Thông Vận Tải. Công an CSVN chỉ mới khởi tố vụ án nhận hối lộ chứ chưa khởi tố ông Huỳnh Ngọc Sỹ.

Theo một số nguồn thạo tin, sau khi vụ PCI đổ bể, hồi tháng 7, đám cưới giữa con ông Huỳnh Ngọc Sỹ và ông Lê Thanh Hải đã bị tạm hoãn.

Hồi cuối năm ngoái, tờ Ðại Ðoàn Kết từng công bố một loạt bài điều tra về việc UBND thành phố Sài Gòn tự động đem bán toàn bộ đất dành cho việc tái định cư những gia đình bị thu hồi đất, giải tỏa nhà để thực hiện dự án đại lộ Ðông Tây, đồng thời chỉ đích danh người phải chịu trách nhiệm về sai phạm đó là ông Lê Thanh Hải (nay là ủy viên Bộ Chính Trị, kiêm bí thư Thành Ủy Sài Gòn). Những diễn biến mới nhất liên quan đến vụ PCI cho thấy, việc “thiết kế chi tiết đại lộ Ðông Tây và giám sát xây dựng cơ sở hạ tầng sáu khu tái định cư” thuộc một trong ba gói thầu có liên quan đến PCI. (G.Ð)

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

THẬT XẤU HỔ và NHỤC NHÃ

Image

Hình trên là những món Đồ đã được Ăn Cắp trong Các Siêu Thị Nhật bản mang về bỏ vào Kho của các Văn phòng đại diện cho Việt nam Airline ở các Thành phố Nhật Bản - sau đó sẽ giao cho Các Phi Công Việt nam Airline mang về Việt Nam để bán .
Đặng xuân Hợp 33 tuổi phi công phụ của Việt Nam Airline đã bị bắt trong tuần qua khi vừa từ Việt Nam đến Nhật bản.
Đặng xuân Hợp đã khai mỗi lần chuyên chở Hàng Ăn Cắp về VN sẽ được tiền công là 100 Dollars USA ,Vì Phi Công được Miễn Khám Xét Hành lý

Hiện giờ cảnh sát Nhật bản đang Câu lưu tất cả 78 Người VN có dính đến đường dây Buôn lậu Hàng Ăn cắp trong các Siêu Thị Nhật bản

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Hà Nội, Kiên Giang nóng hổi những vụ chống chính quyền cưỡng đoạt đất,
dùng công an, quân đội đàn áp dân

Saturday, December 27, 2008

Image
Cuối năm ngoái, hàng ngàn nông dân từ nhiều nơi đã kéo về Sài Gòn,
chiếm văn phòng tiếp dân ở khu vực phía Nam của quốc hội.

Hà Nội (NV) - Lại thêm một vụ phản kháng chống cưỡng đoạt đất song lần này, dân chúng không chống trả và vì vậy, họ trở nên bất lực trong việc ngăn chặn công an, quân đội CSVN cưỡng đoạt tài sản của mình.

Một nông dân tên Nguyễn Anh Kim, ngụ tại xã Yên Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội xác nhận, hôm 25 tháng 12, hàng trăm công an và quân nhân của huyện Quốc Oai đã đổ đến thôn Sơn Trung, xã Yên Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội để hỗ trợ xe ủi đất, cày xới đất canh tác trong vùng.

Bà Nguyễn Thị Mùi, một nông dân khác kể thêm: Khi xe ủi đến, dân đổ ra chặn xe không cho vào làng. Những người lái xe đã gọi điện thoại rồi công an, quân đội tràn đến. Một số người sợ, giãn ra hai bên nhưng chúng tôi thì lăn vào giữ xe.

Khu vực bị “cưỡng chế thu hồi” vốn đã từng được chính quyền CSVN giao cho dân chúng địa phương canh tác khoảng 50 năm nay. Ông Nguyễn Anh Kim giải thích: “Họ giao đất này cho chúng tôi từ năm 1960. Ngày xưa, tất cả ruộng đất, trâu, bò đều bị sung vào hợp tác xã nông nghiệp. Sau đó, hợp tác xã chừa ra 5% diện tích gần nhà để chia cho dân, mỗi khẩu khoảng hai thước để tự túc lương thực, hoa màu và đất đó được gọi là đất 5%”. Bây giờ chính quyền địa phương tuyên bố thu hồi.

Về nguyên tắc, muốn thu hồi đất, chính quyền địa phương phải có dự án, dự án phải được cấp trên duyệt, phải thông báo cho người đang sử dụng đất biết lý do thu hồi và công bố mức bồi thường, thảo luận, rồi thỏa thuận mức bồi thường với người bị thu hồi đất, sau đó, phải ban hành quyết định thu hồi đất. Thế nhưng vụ thu hồi đất ở xã Yên Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội không theo đúng quy trình này.

Ông Nguyễn Anh Kim cho biết: “Họ chưa làm gì cả mà đòi cưỡng chế”. Một số nhân chứng tường thuật, công an và quân đội đã đấm đá, dùng dùi cui điện đánh mọi người, kể cả người già, trẻ con, nhiều người bị ngất, phải mang đi cấp cứu.

Bà Nguyễn Thị Mùi mô tả: “Họ xách người quăng đi như người ta xách lợn. Một cụ già 80 tuổi đứng chặn xe ủi và phân trần - 'Tôi chỉ có hai thước đất trồng rau, tôi già như thế này không làm được gì nữa, đừng lấy đất để tôi trồng rau tôi ăn' - thì bị công an xô té. Cháu ông cụ là Nguyễn Thế Ðồng nhào vào đỡ ông mình cũng bị công an đánh vào bụng rồi quất thêm bằng roi điện.”

Cuối cùng, dân chúng chịu thua, bà Nguyễn Thị Mùi nghẹn ngào: “Họ đập tường nhà tôi, chặt cây nhà tôi. Năm công an, hai người nhấc hai tay, hai người nhấc hai chân, người con lại nhấc đầu, vứt từng người ra khỏi nhà. Chúng tôi sức yếu, chẳng làm được gì, đành chấp nhận mất đất. Họ san lấp cả đêm hôm qua, cả ngày hôm nay...”

Hồi giữa tháng này, vào ngày 17 tháng 12, hàng trăm nông dân ấp T4, xã Vĩnh Phú, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang cũng đã từng đứng dậy phản kháng việc “cưỡng chế thi hành án” của chính quyền. Một số nông dân kể với đài RFA rằng số người phản kháng khoảng 500. Báo chí CSVN thì giới hạn số này ở mức 200.

Về nguyên nhân dẫn tới phản kháng, một số nông dân kể với đài RFA rằng, đất trong khu vực xã Vĩnh Phú từng thuộc Nông Trường 42, do chính quyền CSVN giao cho Trung Ðoàn 34 của Quân Khu 9 khai thác, song trên thực tế, Trung Ðoàn 34 không làm gì. Cách nay 12 năm, Trung Ðoàn 34 đã bán hết số đất được giao cho nông dân. Khoảng 1,064 gia đình mua đất đã từng được chính quyền khuyến khích dốc vốn liếng, đổ mồ hôi để biến khu vực hoang vu đó thành ruộng, với năng suất từ 40-50 giạ/công. Tuy nhiên bất chấp việc nông dân đang sinh sống ổn định trên mảnh đất của họ, chính quyền địa phương đã ngang nhiên lấy đất “cấp” cho người khác. Người được “cấp” đất đã kiện người từng bỏ tiền mua đất và khai hoang ra tòa để đòi đất. Tòa án CSVN đã buộc người bỏ tiền mua đất và khai hoang phải giao đất cho người không làm gì mà vẫn được cấp đất. Vào ngày 17 tháng 12, cán bộ địa phương, công an, chấp hành viên của lực lượng thi hành án, cảnh khuyển đã đổ đến để “cưỡng chế” một số gia đình “thi hành” những “bản án” ấy. Bởi bất bình trước lối hành xử y hệt kẻ cướp và thấy rõ đó cũng sẽ là điều xảy đến với mình, khoảng 500 nông dân đại diện cho 1064 gia đình trong vùng đã biểu tình phản đối việc “cưỡng chế thi hành án” mà thực chất là “cưỡng đoạt tài sản”.

Tờ Tiền Phong thì dẫn lời một cán bộ của phòng thi hành án tỉnh Kiên Giang cho biết: “Chúng tôi tổ chức cưỡng chế để thực hiện theo sáu bản án của Tòa Án Nhân Dân tỉnh Kiên Giang tuyên từ năm 2006. Nội dung các bản án buộc 7 gia đình trả lại 30 héc ta đất nông nghiệp cho các đơn vị và cá nhân ở Rạch Giá và huyện Châu Thành mà nông dân đã thuê để trồng lúa từ năm 2003.”

Diễn biến cuộc phản kháng được những người phản kháng tường thuật với đài RFA: “Họ dùng súng bắn vào chúng tôi, rồi quăng trái cay, roi điện, chó bẹc giê tấn công chúng tôi”. Có 9 nông dân bị trọng thương, ba người bị bắt. Thế nhưng dân chúng không lui bước, một nông dân tên Huỳnh Thị Ba kể tiếp: “Chúng tôi dùng xăng phun lửa vào họ. Công an bỏ chạy, vứt lại lá chắn. Bỏ ba người bị bắt lại và chúng tôi đã tháo còng cho cả ba. Ông đội phó thi hành án cởi áo, nhảy xuống sông nhưng chúng tôi vẫn bắt được. Rất nhiều cán bộ đầu hàng nói rằng, họ làm như vậy là do cấp trên chỉ đạo, thành ra tụi tôi không đánh họ. Còn ông đội phó thi hành án thì đã làm giấy cam kết không cưỡng chế lấy đất của chúng tôi nữa, nên chúng tôi đã cho họ về và trả lại con chó”.

Không có tờ báo nào tại Việt Nam tường thuật rằng, các lực lượng tham gia “cưỡng chế thi hành án” đã bắn, liệng lựu đạn cay, rồi dùng roi điện, chó, tấn công và làm bị thương 9 nông dân. Tờ Tiền Phong chỉ xác nhận: “Ba chiến sĩ công an trọng thương, một số cán bộ bị một số người chống đối vây bắt. Hai chiếc ghe chở lực lượng cưỡng chế bị nhấn chìm, nhiều người trong đoàn cưỡng chế bị ném đá, bị đánh. Ðội phó đội thi hành án huyện Kiên Lương là ông Phan Thanh Cường bị buộc cởi hết quần áo dài và ký vào một bản cam kết”. Ðây là lý do khiến: “Lãnh đạo tỉnh Kiên Giang phải chỉ đạo dừng ngay việc thi hành án”.

Theo tờ Tuổi Trẻ, chiều ngày 19 tháng 12, công an huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang đã khởi tố vụ án “chống người thi hành công vụ” xảy ra tại ấp T4, xã Vĩnh Phú, huyện Kiên Lương song đến nay công an CSVN vẫn chưa khởi tố bị can nào.

Ðiều đáng chú ý là khi thông tin về vụ bạo động chống “cưỡng chế thi hành án”, báo chí CSVN tuyệt nhiên không phê phán nông dân và dùng những từ ngữ có tính miệt thị họ như thông lệ. Việc nông dân chống “cưỡng chế thi hành án” được báo chí CSVN gọi là “phản kháng” hoặc “quyết liệt chống lại”. Người ta không thấy những cụm từ như “kẻ xấu kích động, lôi kéo” mà báo chí CSVN thường dùng khi thông tin về những sự kiện có tính chất tương tự. Thậm chí, tờ Tiền Phong còn nhận định: “Tình hình quản lý và sử dụng đất đai ở huyện Kiên Lương diễn biến phức tạp trong nhiều năm qua do đất được giao, cấp cho nhiều đơn vị, cá nhân không làm nông nghiệp và nhiều nông dân không đất phải thuê lại để sản xuất sinh sống. Tỉnh Kiên Giang lại lúng túng, thiếu kiên quyết trong việc xử lý các sai phạm về giao, cấp, thu hồi đất tại khu vực nóng bỏng này”. Những chỉ dấu vừa dẫn cho thấy ngay cả báo chí CSVN cũng bất bình về cách đối xử với nông dân của hệ thống chính quyền.

Cũng trong tháng này, tại Kiên Giang, không chỉ có nông dân huyện Kiên Lương mà dân chúng ở Rạch Giá cũng đã đứng dậy phản kháng việc cưỡng đoạt đất, để thực hiện cái gọi là “Dự án lấn biển ở Kiên Giang”.

Tin từ trong nước cho biết, 46 gia đình ngụ ở các phường Vĩnh Bảo, Vĩnh Lạc, An Hòa, thành phố Rạch Giá, đang chống lại việc cưỡng đoạt tài sản của họ. Trả lời đài RFA, ông Lê Mỹ Ðức, một trong những nạn nhân kể: “Dự án lấn biển Kiên Giang” (đổ đất xuống biển để lấy thêm mặt bằng, mở rộng thành phố Rạch Giá) đã khiến dân chúng khốn khổ suốt 10 năm nay. Do nước ứ đọng, chúng tôi không thể trồng cấy, đành bỏ hoang ruộng vườn. Ông cha chúng tôi và chúng tôi đã cư ngụ, canh tác tại đây từ 60 năm đến 100 năm, thế rồi chính quyền tuyên bố thu hồi đất mà không ban hành bất kỳ quyết định thu hồi nào. Tiền bồi thường thì rẻ mạt. Lúc đầu họ ấn định chỉ có 8,000 đồng (khoảng 40 cents)/m2, sau đó, do bị khiếu nại, họ tăng lên 13,200 đồng (khoảng 70 cents)/m2 song sau đó rao bán lại với giá từ 500,000 đồng/m2 đến 2 triệu đồng/m2. Chúng tôi không đồng ý và đang chờ giải quyết khiếu nại thì họ điều động người đến chặt phá cây cối, không lập biên bản. Chúng tôi ngăn chặn thì công an cưỡng chế. Họ dùng roi điện đánh ngất ba phụ nữ, trong đó có một bà cụ 77. Ðây là hành động đàn áp quá đáng vì chúng tôi chỉ yêu cầu chính quyền thực hiện mọi việc đúng pháp luật. Công an đã từng đem xe tới “xúc” người nhưng vì chúng tôi không làm gì sai nên họ phải thả. Bây giờ, họ đang tìm cách cáo buộc chúng tôi chống người thi hành công vụ.

Cũng theo ông Lê Mỹ Ðức, dân chúng chính thức phản kháng việc cưỡng đoạt đất suốt một tháng nay: “Chúng tôi đã cử người ra Hà Nội khiếu nại với thủ tướng, gửi đơn cho thanh tra và các cơ quan báo chí nhưng ông này đùn đẩy cho ông kia”. Ông Ðức khẳng định: “Chẳng có dự án nào lấn biển hết, công ty kinh doanh và phát triển nhà lợi dụng dự án này để lấn đất của dân”. (G.Ð.)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tám “bị cáo” vụ Thái Hà cùng đòi truyền thông CSVN “nhận tội” vu cáo
Monday, December 29, 2008

Image
Hình 1: Từ trái, các bị cáo Phạm Trí Năng, Lê Thị Hợi, Nguyễn Thị Việt,... ăn mặc trang trọng,
cổ mang thánh giá, tay cầm lá thiên tuế, cùng với hàng ngàn giáo dân, tu sĩ, giáo sĩ Công giáo
xếp hàng một hiên ngang tiến tới phòng xử. (Hình: Blog Công Lý và Sự Thật)

Image
Hình 2: Bất kể công an, cảnh sát dày đặc, hàng ngàn giáo dân vẫn vây chặt khu vực có phòng xử án,
chờ tuyên án trước khi bày tỏ thái độ của họ. (Hình: VietCatholic News)
Hà Nội (NV) - Hôm 22 tháng 12, tám giáo dân Thái Hà là “bị cáo” trong phiên xử vụ án “gây rối trật tự công cộng” và “hủy hoại tải sản”, diễn ra ngày 8 tháng 12, đã cùng ký tên vào một lá thư, yêu cầu VTV1 (Ðài Truyền hình Việt Nam) và báo Hà Nội Mới đính chính về việc đã đưa tin sai sự thật.

Tuy trong phiên xử, cả tám “bị cáo” cùng khẳng định với hội đồng xét xử rằng họ không sai khi tham gia đọc kinh cầu nguyện, đòi lại tài sản của nhà thờ Thái Hà nhưng khi đưa tin, cả VTV1 lẫn Hà Nội Mới cùng cho rằng họ đã “cúi đầu nhận tội để được khoan hồng”.

Trả lời đài RFA, một trong tám “bị cáo” là ông Nguyễn Ðắc Hùng, tái khẳng định: “Hôm đó, tất cả chúng tôi không ai cúi đầu nhưng đài truyền hình và báo chí lại bịa đặt chúng tôi 'cúi đầu nhận tội và xin hưởng sự khoan hồng'. Chúng tôi đã yêu cầu đính chính nhưng không biết nhà nước có chấp nhận sự thật hay không”.

Một “bị cáo” khác, bà Nguyễn Thị Việt cho biết thêm: “Chúng tôi có quyền bắt họ cải chính. Nếu họ không cải chính thì chúng tôi kiện họ. Chúng tôi không cúi đầu nhận tội vì chúng tôi không có tội.”

Ông Phạm Chí Năng cả quyết: “Báo, đài là của nhà nước nên họ có quyền thông tin không đúng sự thật nhưng chúng tôi nhất định đòi cho được sự thật. Tôi mong những cơ quan truyền thông hãy nói sự thật và công bằng. Ðó là chuyện không đáng nhưng chính quyền xé cho to”.

Luật Sư Lê Trần Luật, người đã biện hộ cho tám giáo dân là “bị cáo” trong vụ Thái Hà giải thích: “Các giáo dân cho rằng, việc báo Hà Nội Mới, VTV1 bảo họ cúi đầu nhận tội là xúc phạm đến danh dự của họ, họ yêu cầu cải chính. Không cải chính họ sẽ kiện. Tôi cho rằng hành động như thế là rất lịch sự và rất tôn trọng pháp luật.”

Luật sư này nhận định rằng: Việc đưa tin sai sự thật, trước hết có thể vì chính quyền muốn biện minh với dư luận. Họ muốn dư luận thấy rằng, các giáo dân đã cúi đầu nhận tội thì có nghĩa là tiến trình xử lý vụ Thái Hà của nhà nước hoàn toàn chính xác. Chính quyền muốn tranh thủ dư luận, muốn tranh thủ niềm tin trong một cuộc khủng hoảng niềm tin mà chính quyền đã bị mất. Họ đã hành xử quá sai trái. Ðể biện minh cho hành động sai trái này, chính quyền chỉ có một mục tiêu là làm sao cho giáo dân nhận họ có tôi nhưng không đạt được mục đích này.”

Trong thực tế, có khá nhiều cơ quan truyền thông đưa tin các “bị cáo” trong vụ Thái Hà “cúi đầu nhận tội và xin hưởng sự khoan hồng” nhưng tám “bị cáo” chỉ yêu cầu VTV1 và báo Hà Nội Mới cải chính vì hai cơ quan này có trụ sở chính tại Hà Nội. Theo các nạn nhân, trong vòng một tuần, hai cơ quan truyền thông này không đính chính, họ sẽ khởi kiện cả hai để đòi bồi thường danh dự...

Bản án của vụ án “gây rối trật tự công cộng” và “hủy hoại tải sản” Tòa án CSVN đã tuyên đối với tám giáo dân trong vụ Thái Hà cho thấy, chính quyền CSVN đã buộc phải thoái bộ để diễn biến không xấu hơn. Có nhiều dấu hiệu cho thấy, nếu xử phạt tám giáo dân có liên quan đến vụ cầu nguyện đòi lại đất ở Thái Hà theo hướng “răn đe” sẽ khiến tình hình vượt khỏi khả năng kiểm soát của chính quyền CSVN.

Từ sáng sớm ngày 8 tháng 12, hàng ngàn giáo dân đã đổ về trụ sở UBND phường Ô Chợ Dừa, quận Ðống Ða để phản đối vụ xét xử đồng đạo của họ. Những giáo dân này đeo ảnh “Nữ Vương Công Lý” trên ngực, tay cầm lá thiên tuế (biểu tượng tôn vinh những tiền nhân tử đạo), giương cao các khẩu hiệu: “Chúa ở cùng anh chị em”, “Chúng tôi yêu mến anh chị em”, “Anh chị em vô tội”, “Mẹ tôi vô tội”, “Chồng tôi vô tội”, thậm chí “Chúng tôi muốn đi tù thay anh chị em”,... đã vây kín khu vực có phòng xử. Tuy không thể tiếp cận khu vực có phòng xử song hàng ngàn giáo dân cùng với các tu sĩ, giáo sĩ Công Giáo đã kiên nhẫn chờ suốt từ sáng sớm đến hết giờ làm việc buổi chiều để chờ kết quả xét xử. Trong thời gian chờ đợi, họ đồng thanh đọc kinh, cầu nguyện, hát thánh ca, giương cao lá thiên tuế và khẩu hiệu trong vòng vây của đủ loại cảnh sát, an ninh. Chính quyền CSVN đã kéo hàng rào kẽm gai, hàng rào sắt, dùng cảnh sát giao thông, cảnh sát cơ động, cảnh sát phòng cháy-chữa cháy, cảnh khuyển, an ninh,... kèm theo các phương tiện như: máy dò vũ khí, xe chuyên dụng chống bạo động, xe vòi rồng,... phong toả toàn bộ khu vực, dù trước đó đã từng tuyên bố sẽ “xét xử công khai”.

Tuy hệ thống truyền thông của CSVN dẫn nhận định của công an, viện kiểm sát, tòa án cho rằng “hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, nghiêm trọng, ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc” vì “tụ tập, cầu nguyện không đúng nơi quy định, cùng nhiều người đánh cồng chiêng, dùng loa phóng thanh cầu kinh, gây thiệt hại nghiêm trọng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến đời sống của khu dân cư; trật tự giao thông, gây bất bình cho dư luận, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của các giáo dân thực hiện nghiêm túc 'tốt đời, đẹp đạo'. Việc làm của các bị cáo là nhằm gây áp lực đối với chính quyền” nhưng cuối cùng tòa án CSVN chỉ tuyên phạt: Bà Nguyễn Thị Nhi, 46 tuổi, 15 tháng tù vì “gây rối trật tự công cộng” nhưng “cho hưởng án treo”. Bà Ngô Thị Dung, 54 tuổi bị phạt 7 tháng tù vì tội “hủy hoại tài sản”, 6 tháng tù vì tội “gây rối trật tự công cộng”, tổng hợp hình phạt là 13 tháng tù nhưng cũng “được hưởng án treo”. Do cả hai bà không được tại ngoại nên họ được trả tự do ngay tại tòa.

Sáu bị cáo còn lại, bà Nguyễn Thị Việt, 59 tuổi, bị phạt 6 tháng tù vì tội “hủy hoại tài sản”, 6 tháng tù vì tội “gây rối trật tự công cộng”, tổng hợp hình phạt là 12 tháng tù nhưng “được hưởng án treo”. Ông Lê Quang Kiện, 63 tuổi, bị phạt 7 tháng tù vì tội “hủy hoại tài sản”, 6 tháng tù vì tội “gây rối trật tự công cộng”, tổng hợp hình phạt là 13 tháng tù và cũng “được hưởng án treo”.

Các ông bà: Lê Thị Hợi, 62 tuổi; Phạm Chí Năng, 50 tuổi; Nguyễn Ðắc Hùng, 31 tuổi cùng bị phạt “cải tạo không giam giữ” trong 12 tháng. Anh Thái Thanh Hải, 20 tuổi, chỉ bị “cảnh cáo”.

Chiều 8 tháng 12, chuông nhà thờ Thái Hà đã ngân dài, hàng ngàn người đã đổ về đó, miệng hô vang những từ như: “Công lý”, “Trắng án”, “Vô tội”,... một thánh lễ tạ ơn đã diễn ra ngay sau đó và rất nhiều người đã khóc.

Dù chỉ bị phạt có tính chất tượng trưng song cả tám đều đã nộp đơn kháng cáo. Họ yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm tuyên bố họ vô tội. (G.Ð)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Hàng trăm giảng viên đại học dẫn nhau đi đòi lương
Monday, December 29, 2008

Image

Hình 1: Ðại học Quy Nhơn, một ngôi trường nổi tiếng nhờ hiệu trưởng có đủ thứ tai tiếng. (Hình: myopera.com/vank16)

Image
Hình 2: Giảng viên Châu Minh Hùng phải mặc áo mưa, đội mũ bảo hiểm khi đứng giảng trên giảng đường.
Hình do một sinh viên chụp và post lên Internet khi kể về ngôi trường mình đang học.
Bình Ðịnh (NV) - Chiều 29 tháng 12, hàng trăm giảng viên của Ðại Học Quy Nhơn đã cùng với đại diện công đoàn của các khoa kéo đến phòng làm việc của ông Trần Tín Kiệt, hiệu trưởng Ðại Học Quy Nhơn để đòi trả thù lao mà trường này đang nợ họ.

Báo điện tử VnExpress kể rằng, theo công văn của các khoa, Ðại Học Quy Nhơn đang nợ đội ngũ giảng viên khoản thù lao khoảng... 20 tỷ đồng. Ðây là thù lao giảng dạy thêm giờ, thù lao giảng dạy hệ không chính quy trong niên khóa 2007-2008, trợ cấp cho những giảng viên đã hoàn thành chương trình thạc sĩ, tiến sĩ, kèm với các khoản hỗ trợ cho cả giảng viên lẫn nhân phục vụ công việc đào tạo từ niên khóa 2006 đến nay. Chưa kể tiền bảo hiểm xã hội mà Ðại Học Quy Nhơn không nộp.

VnExpress cho biết ông Trần Tấn Kiệt đã hứa là sẽ thanh toán nợ trong thời gian ngắn nhất.

Ông Trần Tín Kiệt, hiệu trưởng Ðại Học Quy Nhơn là một trong những nhân vật “nổi tiếng” tại Việt Nam.

Hồi đầu tháng 4 năm nay, hàng chục tờ báo đã cùng có bài giới thiệu về “thành tích” của ông Trần Tín Kiệt.

Vào lúc đó, có rất nhiều thư do giảng viên, sinh viên của Ðại Học Quy Nhơn gửi đi khắp nơi tố cáo ông Trần Tín Kiệt vì ông này có nhiều “sáng kiến” không ai chấp nhận được.

Ông Châu Minh Hùng, giảng viên khoa giáo dục tiểu học, kể với tờ Tiền Phong: “Trước đây, do sợ bị trả thù, các giảng viên chỉ viết đơn nặc danh. Bởi không có ai đứng ra giải quyết và mọi thứ đã quá sức chịu đựng nên lần này, chúng tôi đồng ký tên trong đơn, hy vọng các cơ quan có thẩm quyền và báo chí quan tâm”.

Ông Hùng khẳng định: “Vào mùa mưa, chuyện các giảng viên phải mặc áo mưa khi đến giảng đường giảng bài là chuyện phổ biến ở Ðại Học Quy Nhơn. Ðặc biệt là tại các khu giảng đường A2, A3”. Ông Hùng giải thích: “Những giảng đường này đã được xây dựng cách nay hơn 30 năm, không được tu sửa nên xuống cấp trầm trọng. Mỗi khi trời mưa, cả thầy lẫn trò vừa học, vừa sợ, vì nước tuôn ào ào. Ðó là chưa kể nhiều phòng học thiếu ánh sáng, nhếch nhác, ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học.”

Một tiến sĩ tên Nguyễn Quốc Khánh, giảng viên khoa Ngữ văn, kể thêm: “Ngay cả khu giảng đường A5, dù mới xây dựng xong nhưng cả giảng viên lẫn sinh viên rất sợ phải dạy và học ở đây, nhất là vào Mùa Hè. Dù địa thế sát biển, rất đẹp nhưng nhà thầu lại cho lắp kính chắn hết gió, trong khi phòng học vừa nhỏ vừa dài, khiến sinh viên rất khó nghe giảng. Tôi không hiểu sao ông Kiệt lại chỉ đạo xây dựng những khu giảng đường như vậy.”

Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Khánh còn cho biết, ông Kiệt có một “sáng kiến” hy hữu là cho nuôi 5 con bò trong khuôn viên trường. Mỗi năm Ðại Học Quy Nhơn phải chi 80 triệu để trả công chăn bò chỉ để khỏi phí... cỏ. Ông Khánh thở dài: “Nhiều khi, tôi đang đọc thơ thì ngoài sân, đàn bò rống lên phụ họa. Thật là bi hài!”

Trong khi các khu giảng đường xập xệ, xuống cấp thì ông Trần Tín Kiệt lại dồn tiền xây những ký túc xá lớn để cho thuê. Ðại Học Quy Nhơn hiện có một ký túc xá với 4,500 phòng có điện thoại, tivi, Internet, máy giặt... và mỗi sinh viên phải trả 140,000/người/tháng. Khoản thu này không rõ là bao nhiêu bởi ông Kiệt tự cho in phiếu thu và tự kiểm soát hoạt động tài chính. Tuy khi có khoản thu khổng lồ từ ký túc xá, Ðại Học Quy Nhơn không khai thuế và cũng không báo cáo tài chánh cho bất kỳ cơ quan nào.

Theo tờ Tiền Phong, chiều 2 tháng 4, ông Trần Tín Kiệt đã tổ chức một buổi “đối thoại” về những nội dung mà nhiều giảng viên, sinh viên tố cáo.

Trước hàng ngàn người, ông Kiệt cho biết: Trường dẹp chuyện tổ chức giữ xe là vì có hàng ngàn sinh viên, việc ghi phiếu giữ xe cho hàng ngàn người/ngày sẽ làm mất thời gian và mất trật tự. Cách tốt nhất là mọi người tự mua khóa để bảo vệ tài sản của mình.

Việc tự ý nâng cấp giảng đường, không trình thiết kế cho ai, không xin giấy phép xây dựng được giải thích là: “Tôi không hiểu việc nâng cấp giảng đường có cần phải xin phép hay không (?)”

Ðối với những ý kiến cho rằng các khu giảng đường thiếu an toàn cho việc dạy và học. Ông Kiệt phản bác: “Thiếu an toàn chỉ là cảm giác, chưa có bằng chứng”.

Cuối cùng, ông Kiệt khẳng định: “Chúng tôi không kinh doanh nên đương nhiên là không nộp thuế. Từ trước đến nay, chưa có ai nhắc nhở chúng tôi phải nộp thuế cả.”

Sau khi “độc thoại” suốt hai tiếng, phản bác các thắc mắc đang gây bất bình trong sinh viên và giảng viên của Ðại Học Quy Nhơn, ông Trần Tín Kiệt, tuyên bố kết thúc buổi “đối thoại”, quay lưng đi thẳng, không nghe và cũng không cho ai góp ý.

Nhiều giảng viên của Ðại Học Quy Nhơn cho biết: Ông Trần Tín Kiệt còn rất nhiều sai phạm và chúng tôi sẽ tiếp tục tố cáo. Mong báo chí tiếp tục lên tiếng để Bộ Giáo Dục-Ðào Tạo và các cơ quan hữu trách quan tâm.

Báo chí CSVN đã tốn khá nhiều giấy mực để “giới thiệu” ông Trần Tín Kiệt song cũng như nhiều quan chức “nổi tiếng” khác trong chính quyền CSVN, ông Kiệt vẫn tại vị và vừa lập thêm “thành tích” như đã kể ở đầu tin này. (G.Ð)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Doanh nghiệp phá sản, thất nghiệp tràn lan
Tuesday, December 30, 2008

Image
Hình chụp một xưởng may tại Sài Gòn. Nếu so với năm ngoái, đến nay, lạm phát đã tăng khoảng 30%.
Hà Nội (NV) - Trong vài ngày nay, nhiều tờ báo ở Việt Nam liên tục thông tin về tình trạng doanh nghiệp phá sản hàng loạt, công nhân thất nghiệp và sự lo âu, căng thẳng về tương lai đang dâng cao.

Báo điện tử VietNamNet cho biết: “Sự lo âu, căng thẳng về tương lai bao trùm người lao động khi ‘năm hết, Tết đến’ phải đối mặt với nguy cơ mất việc, đồng nghĩa với việc không có Tết. Hàng chục ngàn lao động đã mất việc vào cuối năm 2008. Nhiều doanh nghiệp tuy chưa thu hẹp sản xuất nhưng đã bắt đầu cho lao động nghỉ tạm thời, hay luân phiên nghỉ, giảm ngày làm”.

Trong một báo cáo gửi Bộ Lao Ðộng-Thương Binh-Xã Hội CSVN, Sở Lao Ðộng-Thương Binh-Xã Hội báo động “về tình hình doanh nghiệp ngừng sản xuất, thu hẹp hoạt động dẫn đến số người lao động mất việc làm, phải nghỉ việc gia tăng”. Tại Ðà Nẵng vừa có thêm ba doanh nghiệp nước ngoài cho biết mới sa thải 899 người. Cả ba doanh nghiệp này cùng cho biết, nguyên nhân chính của việc phải đóng cửa ngưng hoạt động hoặc sa thải hàng loạt để cầm cự là vì: Kinh tế thế giới suy thoái, không có đơn đặt hàng, không có việc để làm nên thua lỗ trầm trọng”. Một viên chức tên Lê Minh Hùng, trưởng phòng Lao Ðộng-Tiền Lương và Bảo Hiểm Xã Hội, của Sở Lao Ðộng-Thương Binh-Xã Hội Ðà Nẵng, lo âu: “Thanh niên mới lớn, chưa tìm được việc làm thì có thể sống nhờ cha mẹ, anh em, tác động về xã hội sẽ không quá lớn. Còn một người lao động đang làm việc nhiều năm mà thất nghiệp thì tác động xã hội sẽ tăng lên năm, sáu lần, vì khi đó bên cạnh họ còn có vợ con, cha mẹ già... Nhiều nhu cầu thiết thân như: ăn ở, học hành, chữa bệnh... của những người phụ thuộc sẽ không được đáp ứng”. Ông Hùng cho rằng: “Cần ưu tiên ‘giữ việc làm’ cho những người đang có việc và đang đứng trước nguy cơ thất nghiệp bằng những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn, duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh để bảo đảm sự ổn định cho người lao động!” Tuy nhiên chính nhân vật này thú nhận: “Cứu doanh nghiệp vào thời điểm này không phải là việc có thể làm ngay, bởi còn không ít doanh nghiệp khác cũng đang bên bờ vực phá sản”.

Giống như nhiều nơi khác, tại Ðà Nẵng đã xuất hiện tình trạng chủ doanh nghiệp bỏ trốn, giựt lương của công nhân. Báo điện tử VietNamNet kể rằng, trong vài ngày qua, rất nhiều công nhân của công ty Tuấn Công đã vây trụ sở của công ty này để đòi lương và đòi lại khoản tiền đặt cọc mà họ đã từng phải đóng khi xin vào đây làm việc nhưng cả vợ lẫn chồng là chủ của doanh nghiệp này đã... biến mất! Một công nhân tên Hồ Chí Lưu, quê ở huyện Ðại Lộc, tỉnh Quảng Nam kể: “Trong bốn tháng vừa qua, tài xế, bốc xếp, bảo vệ của công ty Tuấn Công không được trả lương. Ða số chúng tôi ở quê ra, phải vay mượn nhiều nơi mới đủ tiền đặt cọc (năm triệu đồng) để được nhận vào làm việc. Bây giờ thì trắng tay!” Cũng giống như nhiều nơi khác, các cơ quan hữu trách ở Ðà Nẵng như: Sở Lao Ðộng-Thương Binh-Xã Hội, Liên Ðoàn Lao Ðộng thành phố Ðà Nẵng đã không làm bất kỳ việc nào để giúp công nhân.

Theo báo điện tử VietNamNet, đến thời điểm này, dù ở Ðà Nẵng chưa xảy ra nhiều vụ việc tương tự như công ty Tuấn Công, song tình hình chung của nhiều doanh nghiệp ở đây rất bi đát, “hứa hẹn” sẽ còn nhiều bất ổn hơn nữa đối với đời sống người lao động trong dịp cuối năm.

Báo điện tử VietNamNet còn dẫn nhiều trường hợp khác để “minh họa” tình trạng tương tự đang diễn ra tại Quảng Nam, Hà Nội, Hải Phòng,... Mới đây, ban quản lý các khu công nghiệp-khu chế xuất ở Hà Nội, vừa chính thức xác nhận: “Rất nhiều doanh nghiệp (do nước ngoài đầu tư) đã thông báo cắt giảm lao động vì sản xuất kinh doanh gặp khó khăn. Có doanh nghiệp đã phá sản như công ty đèn hình Orion-Hanel ở khu công nghiệp Sài Ðồng B...”

Bộ trưởng Bộ Lao Ðộng-Thương Binh-Xã Hội CSVN cũng vừa mới chính thức xác nhận: “Khủng hoảng kinh tế khiến nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất do không nhận được đơn đặt hàng. Ðã có hàng chục ngàn lao động mất việc, gây sức ép nặng nề lên nông thôn vì đa số lao động từ quê ra thành phố”.

Cũng trong ngày hôm qua, tờ Tiền Phong cho biết, các nhà máy chế biến tôm xuất khẩu ở miền Tây Nam bộ chỉ còn hoạt động cầm chừng. Hàng ngàn lao động đang đối diện nguy cơ thất nghiệp. Một công nhân của công ty chế biến thủy sản Stapimex ở Sóc Trăng, kể với phóng viên tờ Tiền Phong: “Mấy năm trước, gần Tết, lương có tệ cũng được 1.1 triệu đồng/tháng. Còn mấy tháng nay, lương chỉ còn 314,000 đồng/tháng, chỉ đủ trả tiền cơm, không đủ tiền trả nhà trọ”.

Chủ tịch Hiệp Hội Chế Biến Thủy Sản Cà Mau tiết lộ: “Giá thủy sản xuất khẩu giảm nên giá mua tôm giảm. Người nuôi tôm lỗ, không nuôi tiếp nên thiếu tôm nguyên liệu để sản xuất. Khó khăn chồng chất từ nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu sẽ còn kéo dài”.

Hồi cuối Tháng Tám, ông Cao Sĩ Kiêm, cựu thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước, hiện là chủ tịch Hiệp Hội Doanh Nghiệp Vừa và Nhỏ từng tiết lộ với báo điện tử VietNamNet rằng, từ khi chính quyền CSVN, thực hiện chính sách “siết chặt tín dụng”, nhằm ngăn chặn lạm phát, đã có khoảng 20% doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản, 60% khác đang thoi thóp.

Ông Kiêm ước đoán: “Hiện nay, chỉ có một phần năm doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng thích ứng với tình hình và có thể tiếp tục phát triển nhờ nhiều vốn, áp dụng kỹ thuật

Theo Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam, Việt Nam hiện có khoảng 350,000 doanh nghiệp tư nhân có qui mô vừa và nhỏ (có vốn dưới 10 tỷ đồng và sử dụng từ 300 nhân công trở xuống). Nếu dựa trên nhận định của ông Cao Sĩ Kiêm thì số doanh nghiệp đã “đột tử” khoảng 70,000. Số doanh nghiệp thoi thóp khoảng 200,000 doanh nghiệp và số doanh nghiệp còn “khỏe mạnh” chỉ chừng 70,000.

Sản lượng công nghiệp của cả tư nhân trong nước lẫn tư nhân nước ngoài - nghĩa là khu vực đầu tư có vốn nước ngoài - chiếm 75% tổng sản lượng. Các chuyên gia kinh tế từng dự đoán, nếu khu vực tư nhân đổ vỡ hàng loạt thì đấy sẽ là một tai họa. Vào thời điểm kể trên, trả lời đài RFA, Tiến Sĩ Lê Ðăng Doanh, một chuyên gia kinh tế, cho rằng: “Trong những năm gần đây, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam tạo ra 92% việc làm mới. Tuy nhiên, việc hạn chế tín dụng khiến nhiều doanh nghiệp cạn vốn và khó duy trì hoạt động. Lạm phát, chi phí đầu vào cao đã gây khó khăn lớn cho họ, chưa kể các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa thể tiếp cận nguồn ngoại tệ để thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu”. Tiến Sĩ Lê Ðăng Doanh bảo rằng: “Các doanh nghiệp đang cố gắng duy trì hoạt động, đặc biệt họ có ý thức là phải duy trì công ăn việc làm cho người lao động. Tuy nhiên một số chuyên gia cho rằng, có thể vào cuối năm 2008, đầu năm 2009, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ kiệt sức. Tôi nghĩ là tình huống đó có thể xảy ra. Vì vậy tôi rất mong chính quyền nên đặc biệt lưu ý đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa”.

Ðáng chú ý là những dự báo đó không được quan tâm đúng mức và tai họa này đang trở thành thảm họa. (G.Ð)

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

CÁCH CHỨC 4 nhà báo ở Sàigon

Tin Sàigon nhân dịp đầu năm mới 2009 -Bí thứ thứ nhất Thành Đoàn Sàigon đã ra quyết định cách chức Lê Hòang Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ và Nguyễn công Khế Tổng biên tập báo Thanh Niên kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2009.

Ngoài ra 2 Tổng biên tập báo Pháp luật Thành phố và Doanh Nhân Sàigon cũng bị Cách chức

Lê Hoàng cựu Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ đã nói "Không cảm thấy điều gì khó khăn khi nhận quyết định vì cũng hiểu sự việc nguyên nhân của nó ".

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Sản xuất, kinh doanh khó khăn nhưng vẫn bị hành hạ
Wednesday, December 31, 2008

Image
Một góc cảng Sài Gòn. Lúc này, xuất cảng khó khăn nên phu khuân vác thiếu việc.
Sài Gòn (NV) - Ðại diện các doanh nghiệp vẫn tiếp tục phàn nàn về tình trạng chính sách cũng như nhân viên ngành thuế, ngành hải quan làm phiền họ quá nhiều.

Trong một cuộc đối thoại giữa Bộ Tài Chính CSVN và đại diện 400 doanh nghiệp về thuế và hải quan vừa diễn ra tại Sài Gòn hôm 30 tháng 12, đại diện Bộ Tài Chính CSVN, thú nhận: “hiện có 6,500 thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên chủ tịch Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam, cho rằng, sự thú nhận đó chưa thỏa đáng. Cần phải có thống kê để xác định thủ tục nào trong số 6,500 thủ tục này kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp.

Tờ Sài Gòn Tiếp Thị kể rằng, ở cuộc đối thoại kể trên, rất nhiều doanh nhân kêu “Trời”. Ông Vũ Văn Ðảo, giám đốc công ty thiết kế DK ở Bà Rịa-Vũng Tàu, kể: “Năm 2005, chúng tôi nhập cảng máy móc thuộc diện không phải đóng thuế nhưng vẫn bị Cục Thuế tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu buộc nộp hai tỉ đồng thuế nhập khẩu. Sau một thời gian dài khiếu nại, mức thuế phải đóng được giảm xuống còn 200 triệu đồng. Gần đây, Cục Thuế Bà Rịa-Vũng Tàu mới gửi công văn cho biết, chúng tôi sẽ được hoàn thuế”. Ông Ðảo than: “Luật Thuế chỉ có một bộ nhưng mỗi nơi, mỗi thời điểm áp dụng một kiểu, gây đủ thứ phiền hà. Trong trường hợp của chúng tôi, nếu quy mô nhỏ mà bị ép đóng những khoản vô lý như vậy thì chúng tôi phá sản rồi!”

Ông Huỳnh Khắc Nhu, tổng giám đốc công ty Trà Bắc, tỉnh Trà Vinh, tố thêm: “Chúng tôi làm cơm dừa sấy khô, cục thuế tỉnh Bến Tre tính thuế 5% nhưng tỉnh Bến Tre buộc nộp thuế... 10%”.

Ông Vũ Tiến Lộc, chủ tịch Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam, cho rằng: “Có ba nút thắt, kìm hãm sự tăng trưởng của Việt Nam là, cơ sở hạ tầng yếu kém, thủ tục hành chính rườm rà và bất cập trong chính sách thuế. Trong đó, cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt trong lĩnh vực thuế được nhiều chuyên gia khẳng định là 'chìa khóa' để tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển. Tuy nhiên các khảo sát do Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam thực hiện cho thấy, đa số doanh nghiệp chưa hài lòng về thủ tục hành chính, trong năm 2008 đã giảm còn 36%. Nhiều doanh nghiệp khẳng định, ngành thuế chỉ nhanh khi thu, còn hoàn trả thuế thì rườm rà và còn quá nhiều cán bộ thích nhũng nhiễu...”

Trước cuộc đối thoại giữa Bộ Tài Chính CSVN và đại diện 400 doanh nghiệp về thuế và hải quan một ngày, ở hội nghị tổng kết công tác thanh tra năm 2008, diễn ra hôm 29 tháng 12, tờ Tuổi Trẻ tường thuật, Thanh Tra Chính Phủ CSVN nhận xét, ngành thuế có đủ thứ sai phạm trong việc thu các loại thuế thu nhập doanh nghiệp (như miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp không đúng) gây thiệt hại khoảng 97 tỉ đồng, thuế giá trị gia tăng (tính toán sai dẫn đến hoàn trả thuế sai) gây thiệt hại khoảng 88 tỉ đồng, thu các khoản liên quan đến đất đai (tính thiếu diện tích đất, xác định sai vị trí đất, định giá đất không đúng quy định, miễn giảm tiền thuê đất hoặc tính thuế chuyển quyền sử dụng đất không đúng quy định) gây thiệt hại khoảng 461 tỉ đồng. (G.Ð)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Thời tiết bất thường ngay từ đầu năm:
Miền Bắc lạnh, miền Trung lũ muộn, miền Nam mưa muộn

Friday, January 02, 2009

Image

Hình bên: Lụt không lạ nhưng lụt xảy ra ngay vào đầu năm thì nằm ngoài suy nghĩ của nhiều người.
Trong khi kinh tế Việt Nam đang hết sức bi đát những diễn biến bất thường trong tự nhiên
khiến không khí xã hội ảm đạm hơn. (Hình: AFP)

Hà Nội (NV) - Miền Bắc Việt Nam gồm cả khu vực phía Bắc miền Trung đang rét đậm (cách gọi nhiệt độ rất thấp, trời rất lạnh) và đợt rét đậm này sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến miền Bắc Việt Nam trong các ngày từ 6 đến 8 tháng 1.

Ở miền Trung, mưa lớn kéo dài suốt vài qua đã làm nhiều khu vực bị lụt nặng. Mực nước của tất cả các con sông đang dâng rất cao. Tại Quảng Nam, vũ lượng dao động trong khoảng từ 200mm đến 300mm khiến nhiều khu vực bị lụt nặng. Tờ Tuổi Trẻ cho biết, nhiều khu vực thuộc thành phố Tam Kỳ ngập sâu từ 0.5m đến 0.8m. Ở Hội An, mưa lớn, sóng to đã khiến một tàu đánh cá bị lật, một tàu bị mất tích, một phụ nữ tử nạn. Chưa kể một nông dân ở huyện Núi Thành bị nước lũ cuốn trôi. Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Nam cho biết, đến chiều ngày 1 tháng 1, tại tỉnh này có khoảng 5,000 héc ta lúa Ðông Xuân bị úng, các huyện Quế Sơn, Duy Xuyên, Ðiện Bàn, Thăng Bình, Ðại Lộc... đều bị thiệt hại nặng

Tại Quảng Ngãi, mưa lũ kéo dài trong vài ngày qua làm bốn người chết và mất tích. Khoảng 10,000 héc ta lúa ở Quảng Ngãi bị ngập úng. Nước ồ ạt tràn về đã buộc công ty khai thác công trình thủy lợi Quảng Ngãi xả lũ khẩn cấp cho hồ Núi Ngang nhằm tránh vỡ hồ. Việc xả lũ khẩn cấp có thể cứu được hồ Núi Ngang nhưng đang gây thêm thiệt hại cho huyện Ðức Phổ, huyện Ba Tơ. Thông thường, đầu năm Dương lịch là dịp thanh niên Quảng Ngãi đến Thác Trắng (huyện Minh Long), Sa Ðèn (huyện Bình Sơn), bãi biển Mỹ Khê (huyện Sơn Tịnh), Khe Hai (huyện Bình Sơn)... để du lịch, song năm nay, những nơi này không có ai léo hánh vì mưa quá to, lũ quá lớn.

Tại miền Nam, dù mùa mưa đã chấm dứt hồi cuối tháng 11 nhưng ngay trong những ngày đầu năm, thời điểm vẫn được xem là khô hạn nhất trong năm, lại xuất hiện các cơn mưa trái mùa, kèm giông, sấm sét.

Mưa lớn trong vài ngày qua đã khiến nhiều khu vực ở quận 1, quận 6, quận 8, huyện Bình Chánh... của Sài Gòn ngập nặng.

Mưa trái mùa cũng đang đe dọa vụ Ðông Xuân tại miền Tây Nam bộ. Mưa, thủy triều dâng cao không chỉ gây ngập úng mà còn phát tán ốc bươu vàng, phá lúa. Ðiều chưa bao giờ xảy ra.

Khu vực Ðông Nam bộ (gồm các tỉnh: Ðồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh) cũng có mưa rất lớn suốt vài ngày qua.

Trước hiện tượng hết sức bất thường như thế, bà Lê Thị Xuân Lan, phó phòng dự báo của Ðài Khí Tượng Thủy Văn khu vực Nam bộ, cho biết thêm: “Ðợt mưa trái mùa này sẽ kéo dài khoảng năm ngày” và thừa nhận: “Mưa, giông lớn như vậy rõ ràng hết sức bất thường”. (G.Ð.)

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Nguyễn Tấn Dũng theo gót Phạm Văn Ðồng?
Friday, January 02, 2009

Ngô Nhân Dụng

Trong mấy ngày đầu năm 2009, các mạng lưới ở Việt Nam trao đổi tin tức và bàn tán rất nhiều về vấn đề biên giới Hoa-Việt. Người Việt ở nước ngoài cũng thắc mắc không kém. Một câu hỏi chưa ai giải đáp được là: “Tại sao Bắc Kinh thúc đẩy Hà Nội phải hoàn tất việc ‘cắm mốc biên giới’ trước ngày cuối cùng năm 2008?” Một câu hỏi khó trả lời hơn là: “Tại sao chính quyền Hà Nội cũng muốn làm cho xong việc cắm mốc trước khi năm 2009 bắt đầu?”

Trên thế giới có hàng trăm quốc gia đang tranh chấp về biên giới với nhau. Nhiều cuộc tranh chấp kéo dài hàng mấy trăm năm người ta vẫn đành chịu, không giải quyết được. Vì ở các nước đó không chính quyền nào muốn kết thúc cuộc tranh cãi với nước kia, sợ mang tiếng với con cháu sau này là mình cam tâm bán nước. Thí dụ giữa hai nước Canada và Mỹ, với 5,000 cây số biên thùy, hiện có 4 vùng tranh chấp “nổi cộm” kéo từ miền Ðông (tiểu bang Maine và New Brunswich) qua miền Tây (Alaska và B.C.). Có những cuộc tranh chấp bắt đầu từ năm 1783, khi nước Mỹ mới ra đời, cho tới những vấn đề gay go nổi bật lên mới ba chục năm gần đây, khi Canada xác định đường biển xuyên Bắc Cực là lãnh hải nước họ, còn Mỹ thì coi đó là hải phận quốc tế! Chính phủ hai nước Mỹ và Canada vẫn tiếp tục cãi nhau không ai chịu nhường ai, suốt hai trăm năm rồi chưa nghỉ. Nhưng hai nước vẫn thân thiện không bao giờ phải gây chiến với nhau (họ đánh nhau lần lần chót vào năm 1812, gần với bây giờ hơn cuộc chiến giữa quân Việt Nam và nhà quân Thanh vào năm 1789). Ngoài các cuộc tranh chấp với Mỹ ra, Canada còn tranh chấp biên giới với cả Ðan Mạch nữa, nếu quý vị tò mò muốn biết thêm!

Nếu trên thế giới các nước láng giềng gần hoặc xa có thể cãi cọ nhau về biên giới hàng trăm năm mà lúc nào cũng có thể giao thương thân thiện, thì tại sao đảng Cộng Sản Việt Nam lại phải vội vàng làm công việc phân định biên giới với Trung Quốc cho lẹ như vậy? Chắc hẳn hai đảng Cộng Sản họ phải có những “ý đồ” mà người dân thường không hiểu được!

Bản tin chính thức của nhà nước Việt Nam nói rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đã gặp ông Thứ Trưởng Ngoại Giao Trung Cộng Vũ Ðại Vỹ vào ngày 29 Tháng Mười Hai, 2008. Trước mặt ông Vũ Ðại Vỹ, ông Dũng bảo phái đoàn phía Việt Nam phải “tích cực đẩy mạnh tiến độ để kết thúc phần việc còn lại trong tiến trình phân biên giới và cắm mốc.”

Ngày 29 tức là chỉ có hai ngày là hết năm 2008, như vậy thì khi ông Nguyễn Tấn Dũng ra lệnh cho nhân viên trong chính phủ của ông phải “tích cực đẩy mạnh tiến độ” có nghĩa là họ phải làm gì? Trong 2 ngày còn lại đó các chuyên viên Việt Nam không thể nào duyệt lại được 2000 biên bản ghi về các vụ cắm mốc, với 2000 cái mốc. Cũng không thể đi coi lại bất cứ một cái mốc nào còn bị nghi ngờ không đích xác. Cho nên, nói “tích cực đẩy mạnh tiến độ” chỉ có nghĩa là thúc giục “ký cái gì thì ký luôn cho nó rồi!”

Vì thế ngày hôm qua, mùng 2 Tháng Giêng năm 2009, hai bên chính phủ mới “thông báo đã hoàn tất quá trình phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền trong năm 2008 như hạn định.”

Bản thông báo này sẽ đi vào lịch sử. Giống như lá thư ngày 14 Tháng Chín năm 1958 của ông Phạm Văn Ðồng. Trong lá thư đó, ông “Thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” đã ngỏ ý tán “thành bản tuyên bố về hải phận” của Trung Quốc ra trước đó mười ngày. Tuy ông Ðồng không nói rõ là ông tán thành những cái gì, nhưng phía Trung Quốc họ ghim ngay lấy lời nói đó để giải thích rằng một ông thủ tướng chính phủ Cộng Sản Việt Nam nhân danh cả nước Việt Nam, đã công nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc hải phận Trung Quốc! Tên ông Phạm Văn Ðồng đã được gắn liền với quyết định của Cộng Sản Việt Nam nhắm mắt cho nước bạn xã hội chủ nghĩa phương Bắc thâu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào hải phận - vì lợi ích của mặt trận vô sản toàn thế giới chống đế quốc Mỹ!

Bản thông báo chung ngày đầu năm 2009 cũng có thể được Bắc Kinh giải thích theo lối tương tự. Bởi vì nội dung nó cũng lập lờ như lá thư của Phạm Văn Ðồng. Họ nói rằng “đã hoàn tất quá trình phân giới cắm mốc biên giới” nhưng không ai được trông thấy cái quá trình đó nó diễn ra và nó kết thúc như thế nào. Không ai được thấy một cái bản đồ nào, nhất là bản địa đồ những nơi mà người dân Việt Nam nghi ngờ Trung Quốc vẫn muốn cưỡng đoạt - kể từ khi họ bắt đầu gửi chí nguyện quân vượt biên sang giúp Cộng Sản Việt Nam vào năm 1950, rồi được thúc đẩy mạnh lần nữa trong cuộc xâm lăng năm 1979.

Không người Việt Nam nào biết đích xác hai đảng Cộng Sản “đồng chí, anh em” này đã thỏa thuận gì với nhau theo lời lẽ bản thông báo chung trên đây. Ngoài một lời thông báo mơ hồ rằng họ đã “làm xong việc cắm mốc rồi” thì không ai biết họ đã cắm cái gì ở đâu, cắm ra sao!

Bản thông báo mơ hồ đó sẽ bị các chính quyền Trung Quốc lợi dụng. Ngay bây giờ hoặc hàng trăm năm sau này, khi không còn chế độ Cộng Sản ở cả hai nước nữa, các người nắm quyền ở Bắc Kinh có thể vin vào câu “hoàn tất quá trình cắm mốc” này để nói rằng trên căn bản, những người cầm quyền ở Hà Nội đã thỏa thuận hoàn toàn với những cột mốc mà người Trung Hoa đã cắm, cho tới ngày 1 Tháng Giêng năm 2009! Bao giờ thì hai bên mới kiểm tra lại được tất cả 2,000 cây cột, so với các bằng chứng lịch sử, để coi mỗi cây cọc có cắm đúng chỗ hay không? Chính quyền Cộng Sản Việt Nam đoán rằng phải mất cả năm mới hoàn tất việc đó. Nhưng nếu khi đi kiểm tra mới nhận ra những điểm sai lầm, cố ý hoặc sơ xuất, ngay trên thực địa, thì còn phải tranh luận cho tới bao giờ? Nếu công việc đó mất một năm trời mới xong, thì tại sao không đợi tới lúc đó hãy thông báo việc hoàn tất? Tại sao phải thông báo chung “đã hoàn tất quá trình phân giới cắm mốc biên giới” ngay từ bây giờ, ngay đầu năm 2009?

Ở trong “thông báo đã hoàn tất” này có một điều gì khuất tất, cho nên họ mới nói việc hoàn tất “trong năm 2008 như hạn định.” Ai ấn định ra cái hạn định phải làm xong trong năm 2008? Chỉ có mấy ông bà trong Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam mới biết vì đâu các đồng chí Trung Quốc lại ra cái hạn định đó. Các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết đều đã gặp các người cầm đầu đảng Cộng Sản và chính phủ Trung Quốc. Không biết rằng khi đi nói chuyện như vậy thì họ nhân danh chính phủ nước này nói với chính phủ nước kia, hay họ mang danh nghĩa các đồng chí Cộng Sản Việt Nam nói chuyện với các đồng chí Cộng Sản Trung Quốc? Nếu là đồng chí Cộng Sản với nhau thì mọi chuyện rất dễ nói. Vì đối với các con người Cộng Sản, biên giới quốc gia là một di sản của thời kỳ tư bản bóc lột, do ý thức hệ tư bản bầy đặt ra. Người Cộng Sản đổ máu đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản toàn thế giới, những con người vô sản thì không có quê hương! Ðúng hơn, đối với các chiến sĩ vô sản thì nơi nào có chế độ Cộng Sản nơi đó chính là quê hương! Ông Lê Duẩn đã nổi tiếng với lời tuyên bố coi Liên Xô là quê hương thứ hai của ông.

Gần đây, một trên báo điện tử ở Việt Nam có phỏng vấn một tác giả ở Quảng Tây chuyên nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Giáo Sư Hoàng Tranh đã in cuốn Hồ Chí Minh với Trung Quốc vào năm 1990, bản tiếng Việt dầy 400 đã được dịch và ấn hành. Nhà báo nghe tác giả Hoàng Thanh kể rằng “trong những tháng cuối cùng cuộc đời Hồ Chí Minh, túc trực bên giường bệnh của ông là một đoàn bác sĩ Trung Quốc, cùng với các bác sĩ Việt Nam.” Chúng ta biết vào những năm cuối đời, năm nào Hồ Chí Minh cũng sang Trung Quốc dưỡng bệnh nhiều tháng để được các y sĩ Trung Hoa điều trị. Trong sách trên, Hoàng Tranh kể, một buổi chiều cuối Tháng Tám, có lúc tỉnh lại, Hồ Chí Minh nói với các bác sĩ người Tầu: “Tôi muốn nghe ai hát một bài ca Trung Quốc.” Một y tá của bệnh viện Bắc Kinh bèn cất giọng hát cho ông nghe, Hoàng Thanh viết, “Hồ Chủ Tịch nghe xong, mỉm cười, và đấy là nụ cười chót của ông trước khi hôn mê cho đến lúc qua đời.” Hồ Chí Minh chết ngày 2 Tháng Chín năm 1969. Những chi tiết trên đây đã được đăng trên báo điện tử ở Việt Nam.

Con người ta lúc sắp chết ai cũng nhớ đến quê hương của mình, ông Hồ Chí Minh khác, ông muốn nghe một bài hát Trung Quốc. Ông đúng là một con người quốc tế, không có đầu óc chật hẹp như đa số chúng ta! Nụ cười sau cùng trên môi ông là cảm xúc về một bài hát tiếng Trung Quốc, chứ không phải là một bài mẹ ru con vùng Nghệ Tĩnh.

Nhưng đại đa số người Việt Nam không chia sẻ chí hướng “cách mạng vô sản toàn thế giới” của ông Hồ và các đồng chí do ông dậy dỗ. Cho nên mọi người Việt bình thường vẫn thắc mắc về những mảnh đất đã mất, những miền biển đã bị cướp. Cho nên trong nấy ngày đầu năm 2009 trên các mạng lưới ở Việt Nam lại xôn xao chuyện biên giới Việt-Trung. Câu hỏi cuối cùng vẫn là: “Tại sao họ phải hoàn tất việc cắm mốc trong năm 2008?”

Rất có thể vì trong năm qua các ông lãnh tụ Cộng Sản ở Việt Nam đã gặp các đồng chí Trung Quốc rồi phải chấp nhận một điều kiện của họ là “hoàn tất việc cắm mốc trong năm 2008” thì mới được họ đáp lại bằng những điều khác. Chúng ta không biết được hai đảng Cộng Sản đã trao đổi những quyền lợi nào với nhau. Nhưng có thể đoán rằng đảng Cộng Sản Trung Quốc rất thiết tha hoàn tất việc cắm mốc biên giới càng sớm càng tốt. Họ có thể muốn ăn chắc. Ai biết được, sang năm các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng còn ngồi đó hay không? Ai biết được bao giờ thì đảng Cộng Sản Việt Nam cũng phải nhả chính quyền ra cho dân tự do bầu cử chọn lấy? Ở đời có cái gì bền mãi đâu?

Muốn ăn chắc, Cộng Sản Trung Quốc ấn định một cái mốc: hoàn tất việc cắm mốc biên giới trong năm 2008! Trước ngày cuối năm, ông Vương Gia Thụy, trưởng ban đối ngoại của trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc đã bay sang Hà Nội. Ðã có một thứ trưởng ngoại giao, lại gửi qua thêm một ủy viên trung ương đảng, chắc hẳn là để nhắc nhở các đồng chí Cộng Sản Việt Nam về tình đoàn kết Cộng Sản toàn thế giới!

Nhưng chắc các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam cũng khôn chứ không ngu dại. Họ đồng ý với các đồng chí Trung Quốc, nhưng suốt năm vẫn trì hoãn. Ðến cuối năm, họ không dám ký một nghị định thư mà chỉ làm một bản thông báo chung thôi. Cũng giống như ông Phạm Văn Ðồng ngày xưa vậy, nghĩ rằng mình cứ nói “tán thành” chung chung, không nói tán cái gì và thành cái gì cả, cũng được. Nhưng áo mặc không qua khỏi đầu, Phạm Văn Ðồng làm sao đánh lừa được Chu Ân Lai! Ký một chữ, ghi tên vào lịch sử!

Bây giờ cũng vậy. Bản thông báo chung loan tin “hoàn tất việc cắm mốc” nhưng không cho biết chi tiết cái mốc nào ở đâu. Sẽ từ từ coi, sẽ bàn cãi thêm. Nhưng trong khi bàn cãi như vậy, bên nào sẽ mạnh miệng? Người ta bảo “mạnh vì gạo, bạo vì tiền!” Bây giờ hàng hóa Trung Quốc đang tràn ngập Việt Nam, đến nỗi quả trứng, mớ rau nhập từ Trung Quốc cũng rẻ hơn hàng sản xuất ở Việt Nam! Nếu ông Vũ Ðại Vỹ đạt được đúng yêu cầu ông nói, là “phát triển sâu rộng quan hệ hợp tác chiến lược song phương” thì không biết công nhân các xí nghiệp Việt Nam, các nhà nông Việt Nam còn có việc gì làm không, ngoài việc đi làm mướn cho Trung Quốc?

Ví thử các cuộc tranh luận về 2000 cột mốc kéo dài hàng trăm năm mới kết thúc, thì trong thời gian đó, dù chưa có bản hiệp định nào được ký kết cả, chính quyền ở Bắc Kinh vẫn có thể vin vào bản thông báo chung ngày đầu năm 2009 để nói với cả thế giới rằng một chính quyền đại diện cho toàn thể nước Việt Nam đã công nhận là việc cắm mốc kết thúc tốt đẹp mĩ mãn rồi! Không còn gì để bàn cãi lại nữa!

Và như vậy thì cái tên ông Nguyễn Tấn Dũng hàng trăm năm sau sử sách sẽ còn ghi cho hậu thế không quên!

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/an ... =88947&z=7

Post Reply