Góc nhỏ của anh 3 Giang
Moderator: CNN
Hoài nghi lịch sử
“Đối với Cộng Sản thì phải thay thế,
chứ không thể nào thay đổi được”
Boris Yelsin
LTG: ‘Học lịch sử để làm lịch sử”. Nhiều người nhắn nhủ các Thế Hệ Trẻ như thế. Chúng tôi xin thêm vào: Lịch sử gắn liền với SỰ THẬT. Thế nhưng CSVN lại có sở trường rất xảo quyệt về việc tuyên truyền bịp bợm. Trong đó, ‘xuyên tạc lịch sử’ là dịch vụ hàng đầu. Nên các bạn Thanh Niên cần đề cao cảnh giác. Nói theo Ðức Phật là ‘cần vận dụng trí tuệ để hiểu đúng, sai’.
Ðiển hình như ‘vấn đề Hồ Chí Minh’. Có khá đông Thanh Niên --- nhất là các bạn ở trong nước, bị ảnh hưởng do VC tuyên truyền, hay bị nhồi sọ ở học đường và các bạn ở hải ngoại, chưa có cơ hội tìm hiểu sự thật --- có thể hoài nghi trước ‘trận đồ bát quái’ do Cộng Sản tung ra.
Tuy nhiên, nhờ có hai SỰ THẬT HIỂN NHIÊN --- nắm giữ vai trò then chốt trong lịch sử hiện kim --- nên phía Cộng Sản, dù xảo quyệt thế nào chăng nữa, cũng không thể nào ‘lấy thúng úp voi’:
1- Sau 70 năm Ðệ Tam Quốc Tế Cộng Sản (Mác-Lênin) tung hoành từ Âu sang Á, KINH NGHIỆM lịch sử ở tất cả các nước CS --- dẫn đầu là khối CS Ðông Âu và Ðế Quốc Ðỏ Sô-Viết --- đã chứng minh: Cộng Sản là thảm họa chống nhân loại và đã hoàn toàn bị phá sản.
2-“Văn Kiện Đảng” CSVN --- kể cả thư của Hồ Chí Minh --- đã cho thấy, Hồ là “ĐẠI BIỂU” của Quốc Tế Cộng Sản, lãnh lương của QTCS, thi hành chỉ thị của QTCS thành lập đảng CSVN để áp đặt ách nộ lệ Mác-Lênin trên đất nước VN.
Vậy thì chúng ta tiến tới kết luận vững chắc: Hồ Chí Minh là quốc tặc ‘vĩ đại’ trong lịch sử VN. Chính hắn đã mang Mác-Lênin từ bên Sô-Viết về VN, giày xéo quê cha đất tổ.
Quý vị nào còn hoài nghi, hãy dùng lời nói của Lênin --- “thực tiễn là thước đo chân lý” --- để tìm hiểu SỰ THẬT ở VN qua ba ‘tiêu chuẩn’ ‘Ðộc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc’ mà Hồ và đồng đảng đã nêu lên từ năm 1945 đến nay.
Sau khi nhận định chính xác, chắc hẳn quý vị sẽ cảm thấy ghê tởm trước luận điệu gỡ tội ác cho ‘bác Hồ quốc tặc’ của bọn ‘phản tỉnh cuội’ --- dẫn đầu là Bùi Tín và Dương Thu Hương. Cuốn tiểu thuyết “Ðỉnh Cao Chói Lọi” của ‘nữ vẹm’ họ Dương viết về Hồ Chí Minh là thí dụ cụ thể.
Thưa vâng, cổ nhân nói không sai “ôn cố tri tân”. Mời quý vị và các bạn Thanh Niên tiến sâu vào chi tiết của chủ đề --- “Thời Ðại Hồ Chí Minh: Bần Cùng Sinh Đạo Tặc? Hay Đạo Tặc Sinh Bần Cùng”?
* * *
Nhiều người bảo rằng: “Thanh Niên là rường cột của quốc gia”. Ðúng là như vậy. Nên mỗi khi thấy các bạn Thanh Niên hăng say tranh đấu, chúng tôi cảm thấy vui mừng. Nếu đa số Thanh Niên đi đúng đường, tham gia các tổ chức đấu tranh, có chủ đích giành lại quyền Dân Chủ Tự Do cho đất nước, đó là điều diễm phước cho Dân Tộc chúng ta.
Ngược lại, nếu chẳng may có nhiều người lầm đường, hoạt động cho các tổ thức CUỘI, “diện” bên ngoài tưởng là giúp dân giúp nước, nhưng thật sự “điểm” bên trong là giúp CSVN gia tăng “tuổi thọ” thì hiển nhiên, đó là điều bất hạnh cho quê nhà.
Chúng tôi thiết tưởng, muốn tranh đấu cho đất nước -- hay giải quyết bất cứ vấn đề nào -- chúng ta nên tìm hiểu kỹ càng và giải quyết tận cội nguồn thì mới đạt được giá trị lâu bền. Nói cách khác là “nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”.
Nhìn lại quá trình lịch sử 61 năm trước đây, chắc hẳn các bạn Thanh Niên đều biết, sau khi Mặt Trận Việt Minh cướp chính quyền, ép buộc vua Bảo Đại thoái vị, Hồ Chí Minh lên làm “Chủ Tịch Nhà Nước”? Ngày 2-9-1945, trong buổi lễ ở Quảng Trường Ba Đình, họ Hồ đọc tuyên ngôn, phía Cộng Sản gọi là “Tuyên Ngôn Độc Lập” và ngày 2-9 là “Tết Độc Lập”, hay ngày “Quốc Khánh”.
Thế nhưng, “Văn Kiện Đảng” Cộng Sản --- kể cả thư của Hồ Chí Minh viết --- đã cho thấy, Hồ là “ĐẠI BIỂU” của Quốc Tế Cộng Sản, lãnh lương của QTCS, thi hành chỉ thị của QTCS. Nên hai chữ ‘Ðộc Lập” và “Quốc Khánh” không thể nào đứng vững.
• Chứng cớ là trong bài “Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và cương lĩnh đầu tiên của đảng”, do CSVN soạn thảo và phổ biến [website www.cpv.org.vn], có mấy đoạn đã viết nguyên văn:
“…..Quốc tế cộng sản đã chỉ thị cho đồng chí Nguyễn ái Quốc chịu trách nhiệm "hợp nhất các phần tử cộng sản chân chính lại, để thành lập một đảng duy nhất". Nhận chỉ thị này, mùa thu năm 1929, đồng chí Nguyễn ái Quốc từ Thái Lan trở lại Hương Cảng chuẩn bị kế hoạch thực hiện nhiệm vụ lịch sử trọng đại nói trên…..
...… Hội nghị tiến hành dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn ái Quốc, đại biểu của Quốc tế cộng sản. Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, các đại biểu đã hoàn toàn nhất trí tán thành ý kiến của đồng chí Nguyễn ái Quốc và thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam..….
..…. Hội nghị còn thông qua Lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn ái Quốc thay mặt Quốc tế cộng sản và đảng cộng sản Việt Nam gửi đến quần chúng công, nông, binh, đồng bào và đồng chí trong cả nước nhân dịp thành lập đảng”.….
• Thứ đến là trong bài “Hồ Chí Minh Tự Thú” trên diễn đàng Vietnamexodus [www.vietnamexodus.org] ngày 27-6-06 đã dẫn chứng lá thư của Hồ Chí Minh gởi cho “Ban Chấp Hành QTCS” xin tăng lương hàng tháng lên 100 US Đô-La. Có đoạn Hồ đã viết nguyên văn:
“....Tôi hành động thế nào để hoàn thành nhiệm vụ này? Số tiền cần thiết cho sự ăn ở của tôi sẽ là bao nhiêu?
Hẳn là tôi sẽ phải đổi chỗ luôn, duy trì những mối liên hệ với các giới khác nhau, trả tiền thư tín, mua những ấn phẩm nói về Đông Dương, tiền ăn và tiền trọ, v.v... Tôi tính rằng, sau khi tham khảo ý kiến các đồng chí người Trung Quốc phải có một ngân sách xấp xỉ 100 đôla Mỹ mỗi tháng, không kể hành trình Nga - Trung Quốc (vì tôi không biết giá vé)Ngày 11-4-1924”
(Hồ Chí Minh Toàn Tập - tập 2)
Như vậy, chứng cớ đã quá rõ ràng: Hồ lãnh lương của QTCS, thi hành chỉ thị của QTCS thì hiển nhiên 2 chữ “ĐẠI BIỂU” nêu trên có nghĩa là “TAY SAI” không hơn không kém. Chính vì thế, Hồ và đồng đảng mới ép buộc dân chúng VN phải cúi đầu “thờ Mao Chủ Tịch, thờ Stalin bất diệt” --- đúng như lời của Tố Hữu, “Trưởng Ban Văn Hoá và Tư Tưởng Trung Uơng Đảng” CSVN. Ai hớ hênh khi nói chuyện, mà tỏ ra “thất lễ” với mấy hai “vị Thánh Tổ” của CSVN là bị công an đến nhà “làm việc”.
Vả lại, đất nước chỉ ĐỘC LẬP khi nào, đại khối dân chúng có CHỦ QUYỀN trên đất nước. Nói theo tinh thần dân chủ của người Mỹ thì các cơ quan công quyền đều là “của dân, vì dân, do dân”. Ngược lại ở VN hiện thời, tất cả các cơ quan công quyền --- kể cả “Quốc Hội” --- cùng các đoàn thể và các cơ quan ngôn luận v.v đều là “của đảng, vì đảng, do đảng”. Mà cội nguồn của đảng này, lại do Hồ Chí Minh --- TAY SAI Quốc Tế CS --- thành lập theo chỉ thị của QTCS.
Như vậy thì hiển nhiên, KHÔNG thể nào gọi ngày 2 tháng 9 là “Tết Độc Lập” được. Đúng nghĩa, đó là ngày “ĐẠI QUỐC HẬN”, khởi đầu cho thời kỳ đen tối nhất của dân tộc chúng ta: Suốt 30 chiến tranh máu lửa (1945-1975) do CSVN khởi xướng -– “diện” bên ngoài là “đánh Pháp chống Mỹ cứu nước”, nhưng “điểm” bên trong là thi hành chỉ thị của Nga-Tàu “nối vòng tay lớn”, xiết chặt ách nô lệ Mác-Lênin trên hai miền Nam Bắc VN.
Vì dã tâm ấy của họ Hồ mà trong 30 năm chiến tranh, hàng triệu người gục ngã trên chiến trường; hàng triệu người bị tàn phế; hàng triệu gia đình tan nát; hàng triệu người đã phải bỏ nước, đi tỵ nạn --- sau khi CSVN đánh chiếm miền Nam năm 1975. Có hàng trăm ngàn thuyền nhân bị vùi thây dưới lòng đại dương. Có hàng trăm ngàn thiếu nữ bị sa vào tay hải tặc Thái Lan. Hiện thời, cũng vì ách nô lệ Mác-Lênin mà quê hương chúng ta trở thành nơi nghèo khổ và nhiều tệ đoan xã hội nhất thế giới.
Qua những sự kiện lịch sử nêu trên, mong các bạn Thanh Niên phán xét công minh: Nếu không phải là Hồ Chí Minh và đồng đảng thì tập đoàn đạo tặc nào đã đem Mác-Lênin từ bên Sô-Viết về VN giày xéo quê cha đất tổ?
Thế mà suốt 61 năm nay, đảng CSVN thường xuyên “đánh trống khua chiêng” om xòm:
“Vinh quang thời đại Hồ Chí Minh”!
“Chủ nghĩa Cộng Sản, đỉnh cao trí tuệ, thắng lợi huy hoàng”!
“Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Xã Hội Chủ Nghĩa”!
Sự thực thì ai cũng thấy, chuyện xẩy ra hoàn toàn trái ngược với những lời lẽ mỹ miều của CS tung ra. Hiện thời trên đất nước chúng ta, ĐẠO TẶC hoành hành khắp nơi. Dẫn đầu là QUỐC NẠN tham nhũng: Cán bộ CS ăn cắp công quỹ, hối mại quyền thế, ức hiếp dân lành, đuổi nhà chiếm đất của dân, tước đoạt tất cả các quyền Tự Do căn bản của người dân. Thứ đến là QUỐC NẠN mãi dâm song hành với tội ác buôn bán phụ nữ và trẻ em.
Trong thời XHCN, chỉ có “giai cấp Cộng Sản” là “tiền rừng bạc biển”, còn đại khối dân chúng --- nhất là đồng bào ở vùng quê --- thì quá nghèo khổ. Cuộc sống cơ cực, “làm ngày chưa đủ, tranh thủ làm đêm”, nhưng cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, tất cả các quyền tự do căn bản đều bị tước đoạt.
• Chuyện Đạo Tặc trong “Thời Đại Hồ Chí Minh”
Chúng tôi xin nêu lên mấy trường hợp điển hình, “lừng danh” về chuyện đạo tặc hiện nay:
1- Quốc Nạn Tham Nhũng: Hầu như toàn thể hệ thống cai trị của “Quan Quyền Mác-Lênin” tham nhũng từ trên xuống dưới. Nhìn lại mấy chục năm qua, ai cũng thấy, tệ trạng này “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” --- từ mức độ QUỐC NẠN sang mức độ “lừng danh” trên thế giới. Điển hình là vụ “PMU-18” (Project Management Unit-18, có nghĩa là Đơn Vị Quản Trị Dự Aùn-18) bùng nổ khoảng đầu tháng 4–2006. Nếu Tổng Giám Đốc “PMU-18” – là VC Bùi Tiến Dũng -- không ăn cắp công quỹ thì làm sao đương sự có “tiền rừng bạc biển” để chơi “cá độ” cả triệu Đô-La một lúc. Tệ trạng này đã làm cho các cơ quan tài trợ quốc tế phải lo ngại về ngân khoản ODA giúp VN phát triển, bị lọt vào túi tham của bọn cán bộ VC. Bà đại sứ Thụy Điển và Quốc Hội Nhật Bản cũng phải đặt lại vấn đề về tiền viện trợ cho CSVN. Đồng thời, Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) phải cử phái đoàn đến Hà Nội điều tra về những khoản tiền giúp CSVN -– đã bị cán bộ Cộng Sản ăn cắp, tương tự như vụ PMU-18.
Mong các bạn Thanh Niên phán xét công minh, đó là những điều “vinh quang” hay Ô NHỤC -- đã vượt qua mức QUỐC SỈ --- trong “thời đại Hồ Chí Minh”?
2- Quốc Nạn Mãi Dâm --- bao gồm cả chyện buôn bán phụ nữ và trẻ em --- liên tục hàng chục năm qua, đã “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” từ mức độ QUỐC NẠN sang mức độ, “lừng danh” trên thế giới: Từ Bắc vào Nam, rồi lan tràn sang Cao Miên, Đài Loan, Singapore, Đại Hàn và Tàu Cộng, tổng cộng hiện thời có hàng trăm ngàn, hay cả triệu thiếu nữ và trẻ em VN, vì quá nghèo khổ mà phải chấp nhận “hành nghề bán trôn nuôi miệng”, hay sa vào cạm bẫy của bọn buôn bán nô lệ tình dục – nguỵ trang dưới nhiều hình thức khác nhau. Chắc hẳn các bạn Thanh Niên còn nhớ, vụ “193 Cô Dâu VN Bị Ép Buộc Phải Cởi Truồng” đứng xếp hàng trong khách sạn, chờ các chàng rể người Đại Hàn “xem xét cơ thể”, để được họ tuyển lựa, mua về nước “làm vợ” – sự thực là làm “nô lệ tình dục và đầy tớ”. Trong khi đó, ở bên Hàn Quốc, tờ Chosun hồi tháng 4–2006, đăng bài “Các Trinh Nữ VN Đến Hàn Quốc” với hậu ý quảng cáo “sản phẩm thiếu nữ made in VN” của bọn buôn bán nô lệ tình dục – trá hình là dịch dụ “mai mối hôn nhân”:
“Trên màn hình lần lượt xuất hiện 150 cô gái (VN) đeo số báo danh trên ngực. Ống kính quay từ gương mặt rồi đến toàn thân và cứ lặp lại nhiều lần”.
Đồng thời, nhiều cơ quan truyền thông bên Đài Bắc, rầm rộ quảng cáo “trinh nữ VN” --- còn tồi tệ hơn chuyện bán nô lệ thời xa xưa. Trong bản tin của tờ Việt Báo ngày 15-3-06, có đoạn đã viết:
“Chỉ cần 200 nghìn (tiền Đài Loan), lấy về trong vòng 3 tháng. Đảm bảo 4 điều: Còn trinh nguyên; lấy (vốn) về trong vòng 3 tháng; không tăng giá; trong 1 năm, nếu bỏ trốn sẽ đền 1 người (1 cô gái khác)”.
“Cũng có những kẻ lấy vợ để vừa thỏa mãn sinh lý vừa có thêm 1 người ở đợ phục vụ cho cả gia đình. Truyền hình Đài Loan đã có lần đưa ra trường hợp: cả làng hơn 30 người đàn ông lấy 1 cô. Đây là 1 dịch vụ đang được khai thác bởi những gia đình trung lưu có người thân bị tật nguyền: Tại Đài Loan, mướn 1 người đến chăm sóc kẻ bị tật nguyền tốn khoảng 2000 đô 1 tháng. Chỉ cần bỏ ra 6000, họ có thể huề vốn trong 3 tháng và sau đó vừa có người hầu hạ suốt đời vừa có người thỏa mãn nhu cầu sinh lý”.
Mong các bạn Thanh Niên phán xét công minh, đó là những điều “vinh quang” hay Ô NHỤC --- đã vượt qua mức QUỐC SỈ --- trong “thời đại Hồ Chí Minh”?
3- Ô Nhục Trong Ngành Hàng Không: Trung tuần tháng 6-2006, trong công ty Hàng Không CSVN, ít ra đã có 3 vụ tham nhũng “đồng khởi”:
Thứ nhất là việc sử dụng quỹ của công ty Hàng Không, bao bọc con cháu “quan quyền đỏ” cấp cao hơn, đi ngoại quốc du học.
Thứ hai là chuyện hối mại quyền thế, cố ý mua động cơ tầm trung để trang bị cho 4 phi cơ Boeing 777 tầm xa, gây lãng phí trầm trọng.
Thứ ba là án lệnh bên Italia, bắt công ty Hàng Không CSVN phải bồi thường 5 triệu Euro cho phía khởi tố – hệ quả vì tham nhũng và dốt nát về Quốc Tế Công Pháp, xuất phát từ chủ trương “hồng hơn chuyên” của CSVN.
Mong các bạn Thanh Niên phán xét công minh, đó là những điều “vinh quang” hay Ô NHỤC của ngành Hàng Không trong “thời đại Hồ Chí Minh”?
4- Ô Nhục Trong Ngành Giáo Dục.
Trong thời gian gần đây, nhiều cơ quan ngôn luận đã loan tin về tệ trạng thi cử –- trực thuộc ngành giáo dục --- ở VN hiện nay. Bản tin của Đài Á Châu Tự Do cho biết:
“Gian lận thi cử ở VN giống như một căn bệnh trầm kha thường tái phát mỗi mùa thi cử với thủ đoạn càng lúc càng tinh vi như sử dụng điện thoại di động, hoặc đội tóc giả rồi gắn máy nghe cực nhậy vào tai để được nhắc bài từ bên ngoài”.
Đấy là chưa kể những tổ chức thi mướn. Chưa kể tệ trạng mua điểm, mua bằng cấp, càng ngày càng nhiều. Chưa kể tệ trạng cán bộ VC cao cấp, ra lệnh cho cán bộ thuộc cấp, nâng điểm cho con mình trong kỳ thi v.v.
Vì thế, giới báo chí mới gọi tệ trạng thi cử ở VN là “nhất thế nhì tiền”. Điển hình là ở Đà-Lạt, bản tin của Đài Á Châu Tự Do có phần đã viết:
“Hồi tháng Năm vừa qua, trưởng phòng Giáo dục thành phố Đà Lạt, ông Phạm Đình Cầu, bị phát hiện tổ chức nâng điểm cho con trai ông Giám đốc Công ty Xây dựng Cầu đường 7 tháng Năm, để cậu ấm được tốt nghiệp cấp Trung học Cơ sở.
Kế tiếp là chuyện buôn bán “bài giải đáp đề thi”:
“Chưa biết thu được đến đâu, nhưng một sinh viên có khiếu "kinh doanh" đã mua và in ra bán với giá chỉ 5 ngàn đồng một bản đáp án môn Anh văn B2 và Trung văn B 2”.
Đồng thời, báo chí trong nước còn thuật lại, các em học sinh muốn trúng tuyển vào học trường công lập, đều phải nộp tiền hối lộ cho “thầy giáo VC”. Làm sao các phụ huynh --- thuộc đại khối dân nghèo --- có đủ tiền cho con em “làm thủ tục đầu tiên” (tiền đâu) và đóng lệ phí hàng tháng? Hậu quả là chỉ có con em VC mới được đi học.
Làm như vậy, liệu CSVN có thể che dấu được dã tâm qua chính sánh “Ngu Dân Dễ Trị” hay không? Đấy là chưa kể, nhiều chuyện đốn mạt của các “thầy giáo thuộc đảng ta”. Kẻ thì dẫn nữ sinh đi bán trinh! Người thì cậy quyền cậy thế, ép buộc nữ sinh, phải cho hắn làm tình thì mới được điểm cao.
Mong các bạn Thanh Niên phán xét công minh, đó là những điều “vinh quang” hay Ô NHỤC của ngành Giáo Dục trong “thời đại Hồ Chí Minh”?
5- “Nhục Quốc Thể”
Phải chăng, vì ‘phong tục tập quán XHCN’? Nên cán bộ VC đi đến đâu, làm xấu hổ người VN đến đó. Chúng tôi xin tóm lược 3 trường hợp tiêu biểu sau đây:
A- Khi làm Ðại Sứ ở Mỹ, Lê Văn Bàng đã bị cảnh sát Mỹ bắt quả tang về tội ắn cắp sò huyết ở bãi biển. Mới đầu, Bàng gian dối, làm dấu tay tỏ ý ‘không biết đọc tiếng Anh’ trên bảng ‘cấm bắt sò’ để cảnh sát Mỹ tha tội. Nhưng không xong, Bàng bèn trưng giấy tờ là “Đại Sứ VN” để được miễn tố.
B- Lãnh Sự Nguyễn Tâm Chiến ở Hồng Kông, bị bắt quả tang phạm tội ‘sờ mông phụ nữ’ giữa nơi công cộng.
C- Gần đây nhất, giới truyền thông Nam Phi cho phát hình đoạn phim, bắt quả tang ‘nữ vẹm’ Vũ Mộc Anh --- ‘bí thư thứ nhất’ của Đại Sứ CSVN tại Nam Phi --- đang ‘bầy mưu tính kế’ với bọn buôn lậu sừng tê giác ngay trước cổng Tòa Ðại Sứ.
Chắc hẳn, vì vậy mà Cộng Hòa Czech bèn quyết định, ngưng cấp visa cho công dân VN. Lý do rất đơn giản: Nhân cách Ðại Sứ VC tại Nam Phi thì như vậy. Còn khối ‘Việt kiều yêu nước” tại Czech, càng ngày càng gia tăng buôn lậu trong xứ này.
Mong các bạn Thanh Niên phán xét công minh, đó là những điều “vinh quang” hay NHỤC QUỐC THỂ trong “thời đại Hồ Chí Minh”?
Dù sao, những trường hợp đạo tặc “lừng danh” nêu trên chỉ là chuyện tiêu biểu cho hàng ngàn trường hợp khác nhau trong “thời đại Hồ Chí Minh”.
• Bần Cùng Sinh Đạo Tặc?Hay Đạo Tặc Sinh Bần Cùng?
Nhiều người cho rằng, vì sa vào thảm cảnh nghèo khổ quá mức, nên kẻ khốn cùng đành phải chịu cảnh “đói ăn vụng, túng làm càn” --- trộm cướp, mãi dâm, buôn lậu v.v--- để kiếm tiền sinh sống. Từ đó, tệ đoan xã hội lan tràn. Nói cách khác là “bần cùng sinh đạo tặc”.
Thế nhưng, các đảng viên Cộng Sản, nhất là giới lãnh đạo, đã có “tiền rừng bạc biển” trong tay, mà tại sao vẫn tiếp tục ăn cắp công quỹ, vẫn tiếp tục hối mại quyền thế? Phải chăng, chính chúng là tập đoàn ĐẠO TẶC --- cội nguồn sinh ra thảm cảnh bần cùng trên đất nước chúng ta?
Lẽ dễ hiểu là đại đa số đảng viên Cộng Sản --- nhất là thành phần kỳ cựu – đều xuất thân từ giới vô sản, ít học hay vô học, nhiều kẻ thuộc thành phần vô luân. Chúng lại được ‘Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc’ huấn luyện phương pháp “bá đạo”, sử dụng “cứu cánh biện minh cho phương tiện”, bao gồm những thủ đoạn lừa bịp, trí trá, xảo quyệt, lưu manh, bất nhân, bất nghĩa miễn là đạt được thắng lợi cho “đảng ta”. Tự bản thân chúng là kẻ vô liêm sỉ thì làm sao chúng nhìn thấy những điều quốc sỉ nêu trên? Nên khi có “quyền cao chức trọng” thì chúng ăn cắp công quỹ, hối mại quyền thế, bán rẻ tài nguyên của đất nước cho ngoại bang. Nếu bị bại lộ thì thông thường, chúng được phe này, phe nọ bao che. Và chính “Ðảng ta” cũng muốn giữ kín, cho các tội phạm “hạ cánh an toàn” để giữ “uy tín” của “Ðảng”. Vì vậy nên quốc nạn tham nhũng càng ngày càng “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” đến mức độ “danh tiếng lẫy lừng” trên thế giới!
Nói theo ngôn từ “triết học Mác-Lênin” thì “bần cùng sinh đạo tặc” là tệ trạng chỉ xẩy ra ở “cơ sở hạ tầng”, tức là đời sống kinh tế èo uột của giới dân nghèo thời XHCN. Còn tìm hiểu cội nguồn ở “kiến trúc thượng tầng”, tức là chủ Nghĩa Mác-Lênin và đảng Cộng Sản thì ngược lại: “ĐẠO TẶC sinh bần cùng”. Nói cách khác là Chủ Nghĩa Mác-Lênin cùng tập đoàn đạo tặc CSVN là cội nguồn, gây nên thảm cảnh bần cùng trong xã hội.
Trong tập thơ Vô Đề, thi sĩ Khuyết Danh đã nêu lên tệ trạng “bần cùng sinh đạo tặc” và “đạo tặc sinh bần cùng” trong “thời đại Hồ Chí Minh”:
Cậu kia con cụ đồ Nho
Mà sao móc túi, mặt tro trát vào?
Cô kia như dải lụa đào
Mà sao bát phở vài hào cũng trao?
Hỏi ra chẳng tại sâu đào
Biết ngay thủ phạm VÀNG SAO LÁ CỜ
Sáng tỏ như ban ngày, “Vàng Sao Lá Cờ” là tập đoàn đạo tặc CSVN. Đó là cội nguồn ở “thượng tầng kiến trúc” chính trị Mác-Lênin, đã gây ra thảm cảnh bần cùng trên đất nước chúng ta.
• Tập Đoàn Đạo Tặc Mác-Lênin
Chắc hẳn, đa số các bạn Thanh Niên có thể đã biết, Nghị Viện Âu Châu là cơ quan Lập Pháp cao nhất của 46 quốc gia ở châu Âu --- kể cả nước Nga Sô và các nước Cộng Sản Đông Âu cũ --- đặt trụ sở tại thành phố Strasburg, miền đông bắc nước Pháp. Vào ngày 25-1-2006, Nghị Viện Âu Châu đã ban hành Nghị Quyết 1481, cực lực lên án chủ nghĩa Cộng Sản cùng chế độ toàn trị Mác-Lênin là THẢM HỌA chống nhân loại. Nội dung của Nghị Quyết, đã minh định, tội ác của các đảng Cộng Sản cầm quyền trong quá khứ cũng như hiện tại, còn dã man, tàn ác hơn cả Đức Quốc Xã hồi Đệ Nhị Thế Chiến. Cần phải đem bọn lãnh tụ Cộng Sản ra Toà Án Quốc Tế xét xử.
Như vậy thì mặc nhiên, ai cũng hiểu, Đệ Tam Quốc Tế – trong đó Hồ Chí Minh và đồng đảng – là tập đoàn ĐẠO TẶC Mác-Lênin, không hơn không kém.
Làm sao mà CSVN và bọn bồi bút ngụy biện được nữa? Hiển hiện, Nghị Viện Âu Châu là cơ quan đại diện cho hàng trăm triệu người dân, yêu chuộng Dân Chủ Tự Do ở châu Âu. Kẻ tôn trọng sự thật, không thể nào “nói như vẹm” bảo rằng, “Nghị Viện Âu Châu” là phe phái của “VN Cộng Hòa nối dài”, hay “phe nhóm chống cộng quá khích”.
Nhìn lại quá trình lịch sử tội ác Cộng Sản trong 70 năm, ai cũng thấy, Quốc Tế Cộng Sản do Sô-Viết cầm đầu, đã gây ra quá nhiều thảm cảnh chiến tranh máu lửa ở nhiều nơi trên thế giới --- dưới chiêu bài “Giải Phóng Dân Tộc” --- khiến hàng trăm triệu người bị thiệt mạng. Để bây giờ, chính “Mẫu Quốc Sô-Viết” – cùng các nước Cộng Sản Đông Âu --- đã phải trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia, tôn trọng quyền tư hữu của dân, chọn lựa thể chế Dân Chủ Tự Do nhằm cứu nguy nền kinh tế bị kiệt quệ.
Qua bài học lịch sử “núi xương sông máu” này của Nhân Loại: Nghị Quyết 1481 ra đời. Đó là chứng cớ hùng hồn nhất, khách quan nhất, cụ thể nhất đã cho thấy Cộng Sản là THẢM HỌA chống Nhân Loại mà quốc tặc Hồ Chí Minh cùng đồng đảng, đã mang từ bên Sô-Viết về VN, giày xéo quê cha đất tổ.
Nếu ai còn hoài nghi, xin quý vị hãy phối kiểm với những sự kiện lịch sử khác – kể cả đời sống của đại khối dân nghèo trong thời XHCN --- rồi “vận dụng trí tuệ để hiểu đúng, sai”.
Thử áp dụng lời nói của Lê-Nin, “thực tiễn là thước đo chân lý”. Chúng tôi xin nêu lên 3 trường hợp thực tiễn của 3 đảng viên Cộng Sản kỳ cựu, đã nêu lên kinh nghiệm của họ về Cộng Sản:
Thứ Nhất là nhận định của ông Gorbachev cựu Chủ Tịch Liên Bang Sô-Viết, trong buổi thuyết trình tại trường Columbia University Hoa Kỳ về đề tài “Nước Nga: Hiện Tại Và Tương Lai”. Qua bản tin của ký giả Verena Dobnik ngày 11/3/2002 và bài “Gorbachev: Communism Was Pure Propaganda" của ông Brian Carnell ngày 18-3-2002, chúng tôi được biết, ông Gorbachev đã can đảm thú nhận:
…… “Chủ nghĩa Cộng Sản mà tôi [Gorbachev] phục vụ gần cả đời người, toàn là tuyên truyền lừa bịp. Người Cộng Sản chúng tôi tin dùng những điều gian dối để che dấu sự thật (relied on lies to hide the fact)….
……“Trong khi Liên Bang Sô-Viết, càng ngày càng tụt hậu, ở phía sau các nước Tư Bản Tây Phương rất xa thì người Cộng Sản rao rêu là “Chú nghĩa Tư Bản đang sa vào thảm trạng phá sản, còn Chủ nghĩa Cộng Sản đang phát triển tốt đẹp”. Điều ấy, hoàn toàn là luận điệu tuyên truyền lừa bịp quần chúng”.
Trong buổi thuyết trình hôm ấy, cựu “Hoàng Đế Đỏ”, tức là ông Gorbachev, còn cho biết Liên Bang Sô-Viết trong thập niên 1980, sa vào tình trạng khủng hoảng toàn diện:
“Khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng xã hội, khủng hoảng liên bang, khủng hoảng quân sự, nơi nào cũng bị khủng hoảng (Chaos in the economy, chaos in the social sphere, chaos in the federation, chaos in the army, chaos everywhere)”.
Qua sự kiện lịch sử nêu trên, mong các bạn Thanh Niên phán xét công minh:
Đảng Cộng Sản Sô Viết – Sư Phụ của họ Hồ và đồng đảng --- hàng chục năm liên tiếp, đã làm cho kinh tế kiệt quệ, gây nên thảm cảnh bần cùng, mà lại còn chủ trương “tin dùng những điều gian dối để che dấu sự thật” nhằm lừa bịp dân chúng thì tổ chức ấy là tập đoàn ĐẠO TẶC, hay đảng phái chính trị chân chính?
Thứ Nhì là nhận định của ông Hoàng Minh Chính, Viện Trưởng Viện Triết Học Mác-Lênin. Qua làn sóng của đài Á Châu Tự Do ngày 23-1-2004, đương sự đã lên án Cộng Sản mãnh liệt:
"Nhà nước Sô-Viết, dưới thời Stalin đã sát hại khoảng từ 22 đến 23 triệu người. Ở Trung Quốc dưới thời Mao Trạch Đông đã tàn sát khoảng từ 60 đến 70 triệu người... Thì những chính quyền CS ấy, độc đảng ấy, đem lại quyền lợi sống còn cho nhân dân hay tàn sát nhân dân. Thế còn ở VN này, cái chính quyền độc đảng của CS, đã làm cho trên 3 triệu người phải hy sinh trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn”....
Bỏ qua tất cả việc làm khác của VC Hoàng Minh Chính để cô động trong phần nhận định nêu trên, mong các bạn Thanh Niên hãy phán xét công minh:
Quốc Tế Cộng Sản – trong đó có CSVN --- sau khi gây ra thảm cảnh chiến tranh máu lửa và tàn sát tổng cộng hàng trăm triệu người, để rồi lại phải xoay chiều 180 độ, cúi đầu đi theo “kinh tế thị trường” của chủ nghĩa Tư Bản thì tất cả bọn chúng, có phải là tập đoàn ĐẠO TẶC Mác-Lênin hay không?
Thứ Ba là “Thư Góp Ý Xây Dựng Đảng” của cựu Trung Tá VC Trần Anh Kim đề ngày 03-02-06. Có đoạn, tác giả đã viết nguyên văn:
“Những đặc điểm nổi bật của đảng CSVN trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam là: Bịp bợm, lừa đảo, ăn cướp, yêu ai nên tốt, ghét ai nên xấu, bịa đặt vu cáo, trả thù, trù dập, cướp cả quyền làm người của nhân dân, cướp cả quyền công dân của những đảng viên chân chính! Tự cho mình đứng trên pháp luật, đứng ngoài pháp luật, chỉ thích khen, thích nịnh bợ, không thích chê bai, dốt nát, phá hoại, có nhiều việc làm vô văn hoá, giả dối, ham thành tích, che dấu khuyết điểm v.v và v.v.… Trên thế giới này chưa có đảng nào vô liêm sỉ, ăn cháo, đá bát như đảng CSVN”!
Bỏ qua tất cả việc làm khác của VC Trần Kim Anh để cô động trong phần nhận định của đương sự, mong các bạn Thanh Niên phán xét công minh: “Những đặc điểm nổi bật của đảng CSVN là bịp bợm, lừa đảo, ăn cướp” thì đảng ấy là đảng giặc, là bọn ‘hồ quần cẩu đảng”, hay là đảng chính trị chân chính?
Nhiều nguồn tin khả tín cho biết, hiện thời có khoảng 300 đảng viên VC cao cấp là triệu phú hay tỷ phú US Đô-La (USĐ) --- gởi tiền ở ngân hàng ngoại quốc. Chẳng hạn như Lê Đức Anh có trên 2 tỷ USĐ và 7 tấn vàng; Đỗ Mười có khoảng 2 tỷ USĐ; Trần Đức Lương có trên 2 tỷ USĐ; Phan Văn Khải có 2 tỷ USĐ; Phạm Văn Trà 2 tỷ USĐ và 3 tấn vàng ….”
Thế mà đại đa số đảng viên CS đều xuất thân từ thành phần vô sản, nếu không ăn cắp công quỹ, nếu không ăn cướp của dân, nếu không hối mại quyền thế, nếu không bán rẻ tài nguyên của đất nước thì chúng lấy tiền ở đâu ra mà trở thành tỷ phú USĐ?
Trần Quốc Kháng
Quốc Hận 2-9-2006
Rev 21-12-2008 -----------------------------------------------
Tài Liệu Tham Khảo
(1)- “Việt Nam Sử Lược”, Trần Trọng Kim.
(2)- “Thư góp ý xây dựng đảng” CSVN, cựu Tr/Tá VC Trần Anh Kim, đề ngày 03-02- 2006.
(3)- Bản tin và cuộc phỏng vấn Hoàng Minh Chính của Đài Á Châu Tự Do ngày 23-1-2004.
(4) - Tài Liệu PMU 18 của Bộ Ngoại Giao Mỹ (Department Of State, Oversea Security Advisory Council).
(5)- “Lê Xuân Khoa Với Hòa Giải Dân Tộc”, bài viết của nhà báo Đại Dương.
(6)- Bản tin của Việt Báo online ngày 13-3-06.
(7)- Bản tin của ký giả Verena Dobnik ngày 11/3/2002 và bài “Gorbachev: Communism Was Pure Propaganda" của ông Brian Carnell ngày 18-3-2002.
(8)- “Văn kiện đảng” CSVN, tựa đề là “Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và cương lĩnh đầu tiên của đảng” do CSVN phổ biến trên website www.cpv.org.vn.
(9)- Tài liệu về Hồ Chí Minh trên website www.vietnamexodus.org.
(10)- “Cộng Sản Trên Đất Việt”, giáo sư Nguyễn Văn Canh.
(11)- “Lột Trần Huyền Thoại Hồ Chí Minh”, sử gia Trần Gia Phụng.
(12)- “VN Cuộc Chiến Tranh Quốc Gia / Cộng Sản” Tập I, của Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Hải Ngoại”, NXB Nhân Chứng.
“Đối với Cộng Sản thì phải thay thế,
chứ không thể nào thay đổi được”
Boris Yelsin
LTG: ‘Học lịch sử để làm lịch sử”. Nhiều người nhắn nhủ các Thế Hệ Trẻ như thế. Chúng tôi xin thêm vào: Lịch sử gắn liền với SỰ THẬT. Thế nhưng CSVN lại có sở trường rất xảo quyệt về việc tuyên truyền bịp bợm. Trong đó, ‘xuyên tạc lịch sử’ là dịch vụ hàng đầu. Nên các bạn Thanh Niên cần đề cao cảnh giác. Nói theo Ðức Phật là ‘cần vận dụng trí tuệ để hiểu đúng, sai’.
Ðiển hình như ‘vấn đề Hồ Chí Minh’. Có khá đông Thanh Niên --- nhất là các bạn ở trong nước, bị ảnh hưởng do VC tuyên truyền, hay bị nhồi sọ ở học đường và các bạn ở hải ngoại, chưa có cơ hội tìm hiểu sự thật --- có thể hoài nghi trước ‘trận đồ bát quái’ do Cộng Sản tung ra.
Tuy nhiên, nhờ có hai SỰ THẬT HIỂN NHIÊN --- nắm giữ vai trò then chốt trong lịch sử hiện kim --- nên phía Cộng Sản, dù xảo quyệt thế nào chăng nữa, cũng không thể nào ‘lấy thúng úp voi’:
1- Sau 70 năm Ðệ Tam Quốc Tế Cộng Sản (Mác-Lênin) tung hoành từ Âu sang Á, KINH NGHIỆM lịch sử ở tất cả các nước CS --- dẫn đầu là khối CS Ðông Âu và Ðế Quốc Ðỏ Sô-Viết --- đã chứng minh: Cộng Sản là thảm họa chống nhân loại và đã hoàn toàn bị phá sản.
2-“Văn Kiện Đảng” CSVN --- kể cả thư của Hồ Chí Minh --- đã cho thấy, Hồ là “ĐẠI BIỂU” của Quốc Tế Cộng Sản, lãnh lương của QTCS, thi hành chỉ thị của QTCS thành lập đảng CSVN để áp đặt ách nộ lệ Mác-Lênin trên đất nước VN.
Vậy thì chúng ta tiến tới kết luận vững chắc: Hồ Chí Minh là quốc tặc ‘vĩ đại’ trong lịch sử VN. Chính hắn đã mang Mác-Lênin từ bên Sô-Viết về VN, giày xéo quê cha đất tổ.
Quý vị nào còn hoài nghi, hãy dùng lời nói của Lênin --- “thực tiễn là thước đo chân lý” --- để tìm hiểu SỰ THẬT ở VN qua ba ‘tiêu chuẩn’ ‘Ðộc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc’ mà Hồ và đồng đảng đã nêu lên từ năm 1945 đến nay.
Sau khi nhận định chính xác, chắc hẳn quý vị sẽ cảm thấy ghê tởm trước luận điệu gỡ tội ác cho ‘bác Hồ quốc tặc’ của bọn ‘phản tỉnh cuội’ --- dẫn đầu là Bùi Tín và Dương Thu Hương. Cuốn tiểu thuyết “Ðỉnh Cao Chói Lọi” của ‘nữ vẹm’ họ Dương viết về Hồ Chí Minh là thí dụ cụ thể.
Thưa vâng, cổ nhân nói không sai “ôn cố tri tân”. Mời quý vị và các bạn Thanh Niên tiến sâu vào chi tiết của chủ đề --- “Thời Ðại Hồ Chí Minh: Bần Cùng Sinh Đạo Tặc? Hay Đạo Tặc Sinh Bần Cùng”?
* * *
Nhiều người bảo rằng: “Thanh Niên là rường cột của quốc gia”. Ðúng là như vậy. Nên mỗi khi thấy các bạn Thanh Niên hăng say tranh đấu, chúng tôi cảm thấy vui mừng. Nếu đa số Thanh Niên đi đúng đường, tham gia các tổ chức đấu tranh, có chủ đích giành lại quyền Dân Chủ Tự Do cho đất nước, đó là điều diễm phước cho Dân Tộc chúng ta.
Ngược lại, nếu chẳng may có nhiều người lầm đường, hoạt động cho các tổ thức CUỘI, “diện” bên ngoài tưởng là giúp dân giúp nước, nhưng thật sự “điểm” bên trong là giúp CSVN gia tăng “tuổi thọ” thì hiển nhiên, đó là điều bất hạnh cho quê nhà.
Chúng tôi thiết tưởng, muốn tranh đấu cho đất nước -- hay giải quyết bất cứ vấn đề nào -- chúng ta nên tìm hiểu kỹ càng và giải quyết tận cội nguồn thì mới đạt được giá trị lâu bền. Nói cách khác là “nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”.
Nhìn lại quá trình lịch sử 61 năm trước đây, chắc hẳn các bạn Thanh Niên đều biết, sau khi Mặt Trận Việt Minh cướp chính quyền, ép buộc vua Bảo Đại thoái vị, Hồ Chí Minh lên làm “Chủ Tịch Nhà Nước”? Ngày 2-9-1945, trong buổi lễ ở Quảng Trường Ba Đình, họ Hồ đọc tuyên ngôn, phía Cộng Sản gọi là “Tuyên Ngôn Độc Lập” và ngày 2-9 là “Tết Độc Lập”, hay ngày “Quốc Khánh”.
Thế nhưng, “Văn Kiện Đảng” Cộng Sản --- kể cả thư của Hồ Chí Minh viết --- đã cho thấy, Hồ là “ĐẠI BIỂU” của Quốc Tế Cộng Sản, lãnh lương của QTCS, thi hành chỉ thị của QTCS. Nên hai chữ ‘Ðộc Lập” và “Quốc Khánh” không thể nào đứng vững.
• Chứng cớ là trong bài “Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và cương lĩnh đầu tiên của đảng”, do CSVN soạn thảo và phổ biến [website www.cpv.org.vn], có mấy đoạn đã viết nguyên văn:
“…..Quốc tế cộng sản đã chỉ thị cho đồng chí Nguyễn ái Quốc chịu trách nhiệm "hợp nhất các phần tử cộng sản chân chính lại, để thành lập một đảng duy nhất". Nhận chỉ thị này, mùa thu năm 1929, đồng chí Nguyễn ái Quốc từ Thái Lan trở lại Hương Cảng chuẩn bị kế hoạch thực hiện nhiệm vụ lịch sử trọng đại nói trên…..
...… Hội nghị tiến hành dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn ái Quốc, đại biểu của Quốc tế cộng sản. Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, các đại biểu đã hoàn toàn nhất trí tán thành ý kiến của đồng chí Nguyễn ái Quốc và thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam..….
..…. Hội nghị còn thông qua Lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn ái Quốc thay mặt Quốc tế cộng sản và đảng cộng sản Việt Nam gửi đến quần chúng công, nông, binh, đồng bào và đồng chí trong cả nước nhân dịp thành lập đảng”.….
• Thứ đến là trong bài “Hồ Chí Minh Tự Thú” trên diễn đàng Vietnamexodus [www.vietnamexodus.org] ngày 27-6-06 đã dẫn chứng lá thư của Hồ Chí Minh gởi cho “Ban Chấp Hành QTCS” xin tăng lương hàng tháng lên 100 US Đô-La. Có đoạn Hồ đã viết nguyên văn:
“....Tôi hành động thế nào để hoàn thành nhiệm vụ này? Số tiền cần thiết cho sự ăn ở của tôi sẽ là bao nhiêu?
Hẳn là tôi sẽ phải đổi chỗ luôn, duy trì những mối liên hệ với các giới khác nhau, trả tiền thư tín, mua những ấn phẩm nói về Đông Dương, tiền ăn và tiền trọ, v.v... Tôi tính rằng, sau khi tham khảo ý kiến các đồng chí người Trung Quốc phải có một ngân sách xấp xỉ 100 đôla Mỹ mỗi tháng, không kể hành trình Nga - Trung Quốc (vì tôi không biết giá vé)Ngày 11-4-1924”
(Hồ Chí Minh Toàn Tập - tập 2)
Như vậy, chứng cớ đã quá rõ ràng: Hồ lãnh lương của QTCS, thi hành chỉ thị của QTCS thì hiển nhiên 2 chữ “ĐẠI BIỂU” nêu trên có nghĩa là “TAY SAI” không hơn không kém. Chính vì thế, Hồ và đồng đảng mới ép buộc dân chúng VN phải cúi đầu “thờ Mao Chủ Tịch, thờ Stalin bất diệt” --- đúng như lời của Tố Hữu, “Trưởng Ban Văn Hoá và Tư Tưởng Trung Uơng Đảng” CSVN. Ai hớ hênh khi nói chuyện, mà tỏ ra “thất lễ” với mấy hai “vị Thánh Tổ” của CSVN là bị công an đến nhà “làm việc”.
Vả lại, đất nước chỉ ĐỘC LẬP khi nào, đại khối dân chúng có CHỦ QUYỀN trên đất nước. Nói theo tinh thần dân chủ của người Mỹ thì các cơ quan công quyền đều là “của dân, vì dân, do dân”. Ngược lại ở VN hiện thời, tất cả các cơ quan công quyền --- kể cả “Quốc Hội” --- cùng các đoàn thể và các cơ quan ngôn luận v.v đều là “của đảng, vì đảng, do đảng”. Mà cội nguồn của đảng này, lại do Hồ Chí Minh --- TAY SAI Quốc Tế CS --- thành lập theo chỉ thị của QTCS.
Như vậy thì hiển nhiên, KHÔNG thể nào gọi ngày 2 tháng 9 là “Tết Độc Lập” được. Đúng nghĩa, đó là ngày “ĐẠI QUỐC HẬN”, khởi đầu cho thời kỳ đen tối nhất của dân tộc chúng ta: Suốt 30 chiến tranh máu lửa (1945-1975) do CSVN khởi xướng -– “diện” bên ngoài là “đánh Pháp chống Mỹ cứu nước”, nhưng “điểm” bên trong là thi hành chỉ thị của Nga-Tàu “nối vòng tay lớn”, xiết chặt ách nô lệ Mác-Lênin trên hai miền Nam Bắc VN.
Vì dã tâm ấy của họ Hồ mà trong 30 năm chiến tranh, hàng triệu người gục ngã trên chiến trường; hàng triệu người bị tàn phế; hàng triệu gia đình tan nát; hàng triệu người đã phải bỏ nước, đi tỵ nạn --- sau khi CSVN đánh chiếm miền Nam năm 1975. Có hàng trăm ngàn thuyền nhân bị vùi thây dưới lòng đại dương. Có hàng trăm ngàn thiếu nữ bị sa vào tay hải tặc Thái Lan. Hiện thời, cũng vì ách nô lệ Mác-Lênin mà quê hương chúng ta trở thành nơi nghèo khổ và nhiều tệ đoan xã hội nhất thế giới.
Qua những sự kiện lịch sử nêu trên, mong các bạn Thanh Niên phán xét công minh: Nếu không phải là Hồ Chí Minh và đồng đảng thì tập đoàn đạo tặc nào đã đem Mác-Lênin từ bên Sô-Viết về VN giày xéo quê cha đất tổ?
Thế mà suốt 61 năm nay, đảng CSVN thường xuyên “đánh trống khua chiêng” om xòm:
“Vinh quang thời đại Hồ Chí Minh”!
“Chủ nghĩa Cộng Sản, đỉnh cao trí tuệ, thắng lợi huy hoàng”!
“Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Xã Hội Chủ Nghĩa”!
Sự thực thì ai cũng thấy, chuyện xẩy ra hoàn toàn trái ngược với những lời lẽ mỹ miều của CS tung ra. Hiện thời trên đất nước chúng ta, ĐẠO TẶC hoành hành khắp nơi. Dẫn đầu là QUỐC NẠN tham nhũng: Cán bộ CS ăn cắp công quỹ, hối mại quyền thế, ức hiếp dân lành, đuổi nhà chiếm đất của dân, tước đoạt tất cả các quyền Tự Do căn bản của người dân. Thứ đến là QUỐC NẠN mãi dâm song hành với tội ác buôn bán phụ nữ và trẻ em.
Trong thời XHCN, chỉ có “giai cấp Cộng Sản” là “tiền rừng bạc biển”, còn đại khối dân chúng --- nhất là đồng bào ở vùng quê --- thì quá nghèo khổ. Cuộc sống cơ cực, “làm ngày chưa đủ, tranh thủ làm đêm”, nhưng cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, tất cả các quyền tự do căn bản đều bị tước đoạt.
• Chuyện Đạo Tặc trong “Thời Đại Hồ Chí Minh”
Chúng tôi xin nêu lên mấy trường hợp điển hình, “lừng danh” về chuyện đạo tặc hiện nay:
1- Quốc Nạn Tham Nhũng: Hầu như toàn thể hệ thống cai trị của “Quan Quyền Mác-Lênin” tham nhũng từ trên xuống dưới. Nhìn lại mấy chục năm qua, ai cũng thấy, tệ trạng này “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” --- từ mức độ QUỐC NẠN sang mức độ “lừng danh” trên thế giới. Điển hình là vụ “PMU-18” (Project Management Unit-18, có nghĩa là Đơn Vị Quản Trị Dự Aùn-18) bùng nổ khoảng đầu tháng 4–2006. Nếu Tổng Giám Đốc “PMU-18” – là VC Bùi Tiến Dũng -- không ăn cắp công quỹ thì làm sao đương sự có “tiền rừng bạc biển” để chơi “cá độ” cả triệu Đô-La một lúc. Tệ trạng này đã làm cho các cơ quan tài trợ quốc tế phải lo ngại về ngân khoản ODA giúp VN phát triển, bị lọt vào túi tham của bọn cán bộ VC. Bà đại sứ Thụy Điển và Quốc Hội Nhật Bản cũng phải đặt lại vấn đề về tiền viện trợ cho CSVN. Đồng thời, Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) phải cử phái đoàn đến Hà Nội điều tra về những khoản tiền giúp CSVN -– đã bị cán bộ Cộng Sản ăn cắp, tương tự như vụ PMU-18.
Mong các bạn Thanh Niên phán xét công minh, đó là những điều “vinh quang” hay Ô NHỤC -- đã vượt qua mức QUỐC SỈ --- trong “thời đại Hồ Chí Minh”?
2- Quốc Nạn Mãi Dâm --- bao gồm cả chyện buôn bán phụ nữ và trẻ em --- liên tục hàng chục năm qua, đã “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” từ mức độ QUỐC NẠN sang mức độ, “lừng danh” trên thế giới: Từ Bắc vào Nam, rồi lan tràn sang Cao Miên, Đài Loan, Singapore, Đại Hàn và Tàu Cộng, tổng cộng hiện thời có hàng trăm ngàn, hay cả triệu thiếu nữ và trẻ em VN, vì quá nghèo khổ mà phải chấp nhận “hành nghề bán trôn nuôi miệng”, hay sa vào cạm bẫy của bọn buôn bán nô lệ tình dục – nguỵ trang dưới nhiều hình thức khác nhau. Chắc hẳn các bạn Thanh Niên còn nhớ, vụ “193 Cô Dâu VN Bị Ép Buộc Phải Cởi Truồng” đứng xếp hàng trong khách sạn, chờ các chàng rể người Đại Hàn “xem xét cơ thể”, để được họ tuyển lựa, mua về nước “làm vợ” – sự thực là làm “nô lệ tình dục và đầy tớ”. Trong khi đó, ở bên Hàn Quốc, tờ Chosun hồi tháng 4–2006, đăng bài “Các Trinh Nữ VN Đến Hàn Quốc” với hậu ý quảng cáo “sản phẩm thiếu nữ made in VN” của bọn buôn bán nô lệ tình dục – trá hình là dịch dụ “mai mối hôn nhân”:
“Trên màn hình lần lượt xuất hiện 150 cô gái (VN) đeo số báo danh trên ngực. Ống kính quay từ gương mặt rồi đến toàn thân và cứ lặp lại nhiều lần”.
Đồng thời, nhiều cơ quan truyền thông bên Đài Bắc, rầm rộ quảng cáo “trinh nữ VN” --- còn tồi tệ hơn chuyện bán nô lệ thời xa xưa. Trong bản tin của tờ Việt Báo ngày 15-3-06, có đoạn đã viết:
“Chỉ cần 200 nghìn (tiền Đài Loan), lấy về trong vòng 3 tháng. Đảm bảo 4 điều: Còn trinh nguyên; lấy (vốn) về trong vòng 3 tháng; không tăng giá; trong 1 năm, nếu bỏ trốn sẽ đền 1 người (1 cô gái khác)”.
“Cũng có những kẻ lấy vợ để vừa thỏa mãn sinh lý vừa có thêm 1 người ở đợ phục vụ cho cả gia đình. Truyền hình Đài Loan đã có lần đưa ra trường hợp: cả làng hơn 30 người đàn ông lấy 1 cô. Đây là 1 dịch vụ đang được khai thác bởi những gia đình trung lưu có người thân bị tật nguyền: Tại Đài Loan, mướn 1 người đến chăm sóc kẻ bị tật nguyền tốn khoảng 2000 đô 1 tháng. Chỉ cần bỏ ra 6000, họ có thể huề vốn trong 3 tháng và sau đó vừa có người hầu hạ suốt đời vừa có người thỏa mãn nhu cầu sinh lý”.
Mong các bạn Thanh Niên phán xét công minh, đó là những điều “vinh quang” hay Ô NHỤC --- đã vượt qua mức QUỐC SỈ --- trong “thời đại Hồ Chí Minh”?
3- Ô Nhục Trong Ngành Hàng Không: Trung tuần tháng 6-2006, trong công ty Hàng Không CSVN, ít ra đã có 3 vụ tham nhũng “đồng khởi”:
Thứ nhất là việc sử dụng quỹ của công ty Hàng Không, bao bọc con cháu “quan quyền đỏ” cấp cao hơn, đi ngoại quốc du học.
Thứ hai là chuyện hối mại quyền thế, cố ý mua động cơ tầm trung để trang bị cho 4 phi cơ Boeing 777 tầm xa, gây lãng phí trầm trọng.
Thứ ba là án lệnh bên Italia, bắt công ty Hàng Không CSVN phải bồi thường 5 triệu Euro cho phía khởi tố – hệ quả vì tham nhũng và dốt nát về Quốc Tế Công Pháp, xuất phát từ chủ trương “hồng hơn chuyên” của CSVN.
Mong các bạn Thanh Niên phán xét công minh, đó là những điều “vinh quang” hay Ô NHỤC của ngành Hàng Không trong “thời đại Hồ Chí Minh”?
4- Ô Nhục Trong Ngành Giáo Dục.
Trong thời gian gần đây, nhiều cơ quan ngôn luận đã loan tin về tệ trạng thi cử –- trực thuộc ngành giáo dục --- ở VN hiện nay. Bản tin của Đài Á Châu Tự Do cho biết:
“Gian lận thi cử ở VN giống như một căn bệnh trầm kha thường tái phát mỗi mùa thi cử với thủ đoạn càng lúc càng tinh vi như sử dụng điện thoại di động, hoặc đội tóc giả rồi gắn máy nghe cực nhậy vào tai để được nhắc bài từ bên ngoài”.
Đấy là chưa kể những tổ chức thi mướn. Chưa kể tệ trạng mua điểm, mua bằng cấp, càng ngày càng nhiều. Chưa kể tệ trạng cán bộ VC cao cấp, ra lệnh cho cán bộ thuộc cấp, nâng điểm cho con mình trong kỳ thi v.v.
Vì thế, giới báo chí mới gọi tệ trạng thi cử ở VN là “nhất thế nhì tiền”. Điển hình là ở Đà-Lạt, bản tin của Đài Á Châu Tự Do có phần đã viết:
“Hồi tháng Năm vừa qua, trưởng phòng Giáo dục thành phố Đà Lạt, ông Phạm Đình Cầu, bị phát hiện tổ chức nâng điểm cho con trai ông Giám đốc Công ty Xây dựng Cầu đường 7 tháng Năm, để cậu ấm được tốt nghiệp cấp Trung học Cơ sở.
Kế tiếp là chuyện buôn bán “bài giải đáp đề thi”:
“Chưa biết thu được đến đâu, nhưng một sinh viên có khiếu "kinh doanh" đã mua và in ra bán với giá chỉ 5 ngàn đồng một bản đáp án môn Anh văn B2 và Trung văn B 2”.
Đồng thời, báo chí trong nước còn thuật lại, các em học sinh muốn trúng tuyển vào học trường công lập, đều phải nộp tiền hối lộ cho “thầy giáo VC”. Làm sao các phụ huynh --- thuộc đại khối dân nghèo --- có đủ tiền cho con em “làm thủ tục đầu tiên” (tiền đâu) và đóng lệ phí hàng tháng? Hậu quả là chỉ có con em VC mới được đi học.
Làm như vậy, liệu CSVN có thể che dấu được dã tâm qua chính sánh “Ngu Dân Dễ Trị” hay không? Đấy là chưa kể, nhiều chuyện đốn mạt của các “thầy giáo thuộc đảng ta”. Kẻ thì dẫn nữ sinh đi bán trinh! Người thì cậy quyền cậy thế, ép buộc nữ sinh, phải cho hắn làm tình thì mới được điểm cao.
Mong các bạn Thanh Niên phán xét công minh, đó là những điều “vinh quang” hay Ô NHỤC của ngành Giáo Dục trong “thời đại Hồ Chí Minh”?
5- “Nhục Quốc Thể”
Phải chăng, vì ‘phong tục tập quán XHCN’? Nên cán bộ VC đi đến đâu, làm xấu hổ người VN đến đó. Chúng tôi xin tóm lược 3 trường hợp tiêu biểu sau đây:
A- Khi làm Ðại Sứ ở Mỹ, Lê Văn Bàng đã bị cảnh sát Mỹ bắt quả tang về tội ắn cắp sò huyết ở bãi biển. Mới đầu, Bàng gian dối, làm dấu tay tỏ ý ‘không biết đọc tiếng Anh’ trên bảng ‘cấm bắt sò’ để cảnh sát Mỹ tha tội. Nhưng không xong, Bàng bèn trưng giấy tờ là “Đại Sứ VN” để được miễn tố.
B- Lãnh Sự Nguyễn Tâm Chiến ở Hồng Kông, bị bắt quả tang phạm tội ‘sờ mông phụ nữ’ giữa nơi công cộng.
C- Gần đây nhất, giới truyền thông Nam Phi cho phát hình đoạn phim, bắt quả tang ‘nữ vẹm’ Vũ Mộc Anh --- ‘bí thư thứ nhất’ của Đại Sứ CSVN tại Nam Phi --- đang ‘bầy mưu tính kế’ với bọn buôn lậu sừng tê giác ngay trước cổng Tòa Ðại Sứ.
Chắc hẳn, vì vậy mà Cộng Hòa Czech bèn quyết định, ngưng cấp visa cho công dân VN. Lý do rất đơn giản: Nhân cách Ðại Sứ VC tại Nam Phi thì như vậy. Còn khối ‘Việt kiều yêu nước” tại Czech, càng ngày càng gia tăng buôn lậu trong xứ này.
Mong các bạn Thanh Niên phán xét công minh, đó là những điều “vinh quang” hay NHỤC QUỐC THỂ trong “thời đại Hồ Chí Minh”?
Dù sao, những trường hợp đạo tặc “lừng danh” nêu trên chỉ là chuyện tiêu biểu cho hàng ngàn trường hợp khác nhau trong “thời đại Hồ Chí Minh”.
• Bần Cùng Sinh Đạo Tặc?Hay Đạo Tặc Sinh Bần Cùng?
Nhiều người cho rằng, vì sa vào thảm cảnh nghèo khổ quá mức, nên kẻ khốn cùng đành phải chịu cảnh “đói ăn vụng, túng làm càn” --- trộm cướp, mãi dâm, buôn lậu v.v--- để kiếm tiền sinh sống. Từ đó, tệ đoan xã hội lan tràn. Nói cách khác là “bần cùng sinh đạo tặc”.
Thế nhưng, các đảng viên Cộng Sản, nhất là giới lãnh đạo, đã có “tiền rừng bạc biển” trong tay, mà tại sao vẫn tiếp tục ăn cắp công quỹ, vẫn tiếp tục hối mại quyền thế? Phải chăng, chính chúng là tập đoàn ĐẠO TẶC --- cội nguồn sinh ra thảm cảnh bần cùng trên đất nước chúng ta?
Lẽ dễ hiểu là đại đa số đảng viên Cộng Sản --- nhất là thành phần kỳ cựu – đều xuất thân từ giới vô sản, ít học hay vô học, nhiều kẻ thuộc thành phần vô luân. Chúng lại được ‘Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc’ huấn luyện phương pháp “bá đạo”, sử dụng “cứu cánh biện minh cho phương tiện”, bao gồm những thủ đoạn lừa bịp, trí trá, xảo quyệt, lưu manh, bất nhân, bất nghĩa miễn là đạt được thắng lợi cho “đảng ta”. Tự bản thân chúng là kẻ vô liêm sỉ thì làm sao chúng nhìn thấy những điều quốc sỉ nêu trên? Nên khi có “quyền cao chức trọng” thì chúng ăn cắp công quỹ, hối mại quyền thế, bán rẻ tài nguyên của đất nước cho ngoại bang. Nếu bị bại lộ thì thông thường, chúng được phe này, phe nọ bao che. Và chính “Ðảng ta” cũng muốn giữ kín, cho các tội phạm “hạ cánh an toàn” để giữ “uy tín” của “Ðảng”. Vì vậy nên quốc nạn tham nhũng càng ngày càng “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” đến mức độ “danh tiếng lẫy lừng” trên thế giới!
Nói theo ngôn từ “triết học Mác-Lênin” thì “bần cùng sinh đạo tặc” là tệ trạng chỉ xẩy ra ở “cơ sở hạ tầng”, tức là đời sống kinh tế èo uột của giới dân nghèo thời XHCN. Còn tìm hiểu cội nguồn ở “kiến trúc thượng tầng”, tức là chủ Nghĩa Mác-Lênin và đảng Cộng Sản thì ngược lại: “ĐẠO TẶC sinh bần cùng”. Nói cách khác là Chủ Nghĩa Mác-Lênin cùng tập đoàn đạo tặc CSVN là cội nguồn, gây nên thảm cảnh bần cùng trong xã hội.
Trong tập thơ Vô Đề, thi sĩ Khuyết Danh đã nêu lên tệ trạng “bần cùng sinh đạo tặc” và “đạo tặc sinh bần cùng” trong “thời đại Hồ Chí Minh”:
Cậu kia con cụ đồ Nho
Mà sao móc túi, mặt tro trát vào?
Cô kia như dải lụa đào
Mà sao bát phở vài hào cũng trao?
Hỏi ra chẳng tại sâu đào
Biết ngay thủ phạm VÀNG SAO LÁ CỜ
Sáng tỏ như ban ngày, “Vàng Sao Lá Cờ” là tập đoàn đạo tặc CSVN. Đó là cội nguồn ở “thượng tầng kiến trúc” chính trị Mác-Lênin, đã gây ra thảm cảnh bần cùng trên đất nước chúng ta.
• Tập Đoàn Đạo Tặc Mác-Lênin
Chắc hẳn, đa số các bạn Thanh Niên có thể đã biết, Nghị Viện Âu Châu là cơ quan Lập Pháp cao nhất của 46 quốc gia ở châu Âu --- kể cả nước Nga Sô và các nước Cộng Sản Đông Âu cũ --- đặt trụ sở tại thành phố Strasburg, miền đông bắc nước Pháp. Vào ngày 25-1-2006, Nghị Viện Âu Châu đã ban hành Nghị Quyết 1481, cực lực lên án chủ nghĩa Cộng Sản cùng chế độ toàn trị Mác-Lênin là THẢM HỌA chống nhân loại. Nội dung của Nghị Quyết, đã minh định, tội ác của các đảng Cộng Sản cầm quyền trong quá khứ cũng như hiện tại, còn dã man, tàn ác hơn cả Đức Quốc Xã hồi Đệ Nhị Thế Chiến. Cần phải đem bọn lãnh tụ Cộng Sản ra Toà Án Quốc Tế xét xử.
Như vậy thì mặc nhiên, ai cũng hiểu, Đệ Tam Quốc Tế – trong đó Hồ Chí Minh và đồng đảng – là tập đoàn ĐẠO TẶC Mác-Lênin, không hơn không kém.
Làm sao mà CSVN và bọn bồi bút ngụy biện được nữa? Hiển hiện, Nghị Viện Âu Châu là cơ quan đại diện cho hàng trăm triệu người dân, yêu chuộng Dân Chủ Tự Do ở châu Âu. Kẻ tôn trọng sự thật, không thể nào “nói như vẹm” bảo rằng, “Nghị Viện Âu Châu” là phe phái của “VN Cộng Hòa nối dài”, hay “phe nhóm chống cộng quá khích”.
Nhìn lại quá trình lịch sử tội ác Cộng Sản trong 70 năm, ai cũng thấy, Quốc Tế Cộng Sản do Sô-Viết cầm đầu, đã gây ra quá nhiều thảm cảnh chiến tranh máu lửa ở nhiều nơi trên thế giới --- dưới chiêu bài “Giải Phóng Dân Tộc” --- khiến hàng trăm triệu người bị thiệt mạng. Để bây giờ, chính “Mẫu Quốc Sô-Viết” – cùng các nước Cộng Sản Đông Âu --- đã phải trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia, tôn trọng quyền tư hữu của dân, chọn lựa thể chế Dân Chủ Tự Do nhằm cứu nguy nền kinh tế bị kiệt quệ.
Qua bài học lịch sử “núi xương sông máu” này của Nhân Loại: Nghị Quyết 1481 ra đời. Đó là chứng cớ hùng hồn nhất, khách quan nhất, cụ thể nhất đã cho thấy Cộng Sản là THẢM HỌA chống Nhân Loại mà quốc tặc Hồ Chí Minh cùng đồng đảng, đã mang từ bên Sô-Viết về VN, giày xéo quê cha đất tổ.
Nếu ai còn hoài nghi, xin quý vị hãy phối kiểm với những sự kiện lịch sử khác – kể cả đời sống của đại khối dân nghèo trong thời XHCN --- rồi “vận dụng trí tuệ để hiểu đúng, sai”.
Thử áp dụng lời nói của Lê-Nin, “thực tiễn là thước đo chân lý”. Chúng tôi xin nêu lên 3 trường hợp thực tiễn của 3 đảng viên Cộng Sản kỳ cựu, đã nêu lên kinh nghiệm của họ về Cộng Sản:
Thứ Nhất là nhận định của ông Gorbachev cựu Chủ Tịch Liên Bang Sô-Viết, trong buổi thuyết trình tại trường Columbia University Hoa Kỳ về đề tài “Nước Nga: Hiện Tại Và Tương Lai”. Qua bản tin của ký giả Verena Dobnik ngày 11/3/2002 và bài “Gorbachev: Communism Was Pure Propaganda" của ông Brian Carnell ngày 18-3-2002, chúng tôi được biết, ông Gorbachev đã can đảm thú nhận:
…… “Chủ nghĩa Cộng Sản mà tôi [Gorbachev] phục vụ gần cả đời người, toàn là tuyên truyền lừa bịp. Người Cộng Sản chúng tôi tin dùng những điều gian dối để che dấu sự thật (relied on lies to hide the fact)….
……“Trong khi Liên Bang Sô-Viết, càng ngày càng tụt hậu, ở phía sau các nước Tư Bản Tây Phương rất xa thì người Cộng Sản rao rêu là “Chú nghĩa Tư Bản đang sa vào thảm trạng phá sản, còn Chủ nghĩa Cộng Sản đang phát triển tốt đẹp”. Điều ấy, hoàn toàn là luận điệu tuyên truyền lừa bịp quần chúng”.
Trong buổi thuyết trình hôm ấy, cựu “Hoàng Đế Đỏ”, tức là ông Gorbachev, còn cho biết Liên Bang Sô-Viết trong thập niên 1980, sa vào tình trạng khủng hoảng toàn diện:
“Khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng xã hội, khủng hoảng liên bang, khủng hoảng quân sự, nơi nào cũng bị khủng hoảng (Chaos in the economy, chaos in the social sphere, chaos in the federation, chaos in the army, chaos everywhere)”.
Qua sự kiện lịch sử nêu trên, mong các bạn Thanh Niên phán xét công minh:
Đảng Cộng Sản Sô Viết – Sư Phụ của họ Hồ và đồng đảng --- hàng chục năm liên tiếp, đã làm cho kinh tế kiệt quệ, gây nên thảm cảnh bần cùng, mà lại còn chủ trương “tin dùng những điều gian dối để che dấu sự thật” nhằm lừa bịp dân chúng thì tổ chức ấy là tập đoàn ĐẠO TẶC, hay đảng phái chính trị chân chính?
Thứ Nhì là nhận định của ông Hoàng Minh Chính, Viện Trưởng Viện Triết Học Mác-Lênin. Qua làn sóng của đài Á Châu Tự Do ngày 23-1-2004, đương sự đã lên án Cộng Sản mãnh liệt:
"Nhà nước Sô-Viết, dưới thời Stalin đã sát hại khoảng từ 22 đến 23 triệu người. Ở Trung Quốc dưới thời Mao Trạch Đông đã tàn sát khoảng từ 60 đến 70 triệu người... Thì những chính quyền CS ấy, độc đảng ấy, đem lại quyền lợi sống còn cho nhân dân hay tàn sát nhân dân. Thế còn ở VN này, cái chính quyền độc đảng của CS, đã làm cho trên 3 triệu người phải hy sinh trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn”....
Bỏ qua tất cả việc làm khác của VC Hoàng Minh Chính để cô động trong phần nhận định nêu trên, mong các bạn Thanh Niên hãy phán xét công minh:
Quốc Tế Cộng Sản – trong đó có CSVN --- sau khi gây ra thảm cảnh chiến tranh máu lửa và tàn sát tổng cộng hàng trăm triệu người, để rồi lại phải xoay chiều 180 độ, cúi đầu đi theo “kinh tế thị trường” của chủ nghĩa Tư Bản thì tất cả bọn chúng, có phải là tập đoàn ĐẠO TẶC Mác-Lênin hay không?
Thứ Ba là “Thư Góp Ý Xây Dựng Đảng” của cựu Trung Tá VC Trần Anh Kim đề ngày 03-02-06. Có đoạn, tác giả đã viết nguyên văn:
“Những đặc điểm nổi bật của đảng CSVN trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam là: Bịp bợm, lừa đảo, ăn cướp, yêu ai nên tốt, ghét ai nên xấu, bịa đặt vu cáo, trả thù, trù dập, cướp cả quyền làm người của nhân dân, cướp cả quyền công dân của những đảng viên chân chính! Tự cho mình đứng trên pháp luật, đứng ngoài pháp luật, chỉ thích khen, thích nịnh bợ, không thích chê bai, dốt nát, phá hoại, có nhiều việc làm vô văn hoá, giả dối, ham thành tích, che dấu khuyết điểm v.v và v.v.… Trên thế giới này chưa có đảng nào vô liêm sỉ, ăn cháo, đá bát như đảng CSVN”!
Bỏ qua tất cả việc làm khác của VC Trần Kim Anh để cô động trong phần nhận định của đương sự, mong các bạn Thanh Niên phán xét công minh: “Những đặc điểm nổi bật của đảng CSVN là bịp bợm, lừa đảo, ăn cướp” thì đảng ấy là đảng giặc, là bọn ‘hồ quần cẩu đảng”, hay là đảng chính trị chân chính?
Nhiều nguồn tin khả tín cho biết, hiện thời có khoảng 300 đảng viên VC cao cấp là triệu phú hay tỷ phú US Đô-La (USĐ) --- gởi tiền ở ngân hàng ngoại quốc. Chẳng hạn như Lê Đức Anh có trên 2 tỷ USĐ và 7 tấn vàng; Đỗ Mười có khoảng 2 tỷ USĐ; Trần Đức Lương có trên 2 tỷ USĐ; Phan Văn Khải có 2 tỷ USĐ; Phạm Văn Trà 2 tỷ USĐ và 3 tấn vàng ….”
Thế mà đại đa số đảng viên CS đều xuất thân từ thành phần vô sản, nếu không ăn cắp công quỹ, nếu không ăn cướp của dân, nếu không hối mại quyền thế, nếu không bán rẻ tài nguyên của đất nước thì chúng lấy tiền ở đâu ra mà trở thành tỷ phú USĐ?
Trần Quốc Kháng
Quốc Hận 2-9-2006
Rev 21-12-2008 -----------------------------------------------
Tài Liệu Tham Khảo
(1)- “Việt Nam Sử Lược”, Trần Trọng Kim.
(2)- “Thư góp ý xây dựng đảng” CSVN, cựu Tr/Tá VC Trần Anh Kim, đề ngày 03-02- 2006.
(3)- Bản tin và cuộc phỏng vấn Hoàng Minh Chính của Đài Á Châu Tự Do ngày 23-1-2004.
(4) - Tài Liệu PMU 18 của Bộ Ngoại Giao Mỹ (Department Of State, Oversea Security Advisory Council).
(5)- “Lê Xuân Khoa Với Hòa Giải Dân Tộc”, bài viết của nhà báo Đại Dương.
(6)- Bản tin của Việt Báo online ngày 13-3-06.
(7)- Bản tin của ký giả Verena Dobnik ngày 11/3/2002 và bài “Gorbachev: Communism Was Pure Propaganda" của ông Brian Carnell ngày 18-3-2002.
(8)- “Văn kiện đảng” CSVN, tựa đề là “Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và cương lĩnh đầu tiên của đảng” do CSVN phổ biến trên website www.cpv.org.vn.
(9)- Tài liệu về Hồ Chí Minh trên website www.vietnamexodus.org.
(10)- “Cộng Sản Trên Đất Việt”, giáo sư Nguyễn Văn Canh.
(11)- “Lột Trần Huyền Thoại Hồ Chí Minh”, sử gia Trần Gia Phụng.
(12)- “VN Cuộc Chiến Tranh Quốc Gia / Cộng Sản” Tập I, của Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Hải Ngoại”, NXB Nhân Chứng.
LÀ ĐÀN ÔNG!
Là đàn ông tức là mê rửa chén
Mơ lau nhà và háo hức lau xe
Làm đàn ông là tựa cửa đợi vợ về
Nhanh nhảu chạy ra đỡ làn, đỡ nón
Dịu dàng ngồi xuống bằng cánh tay năm ngón
Hỏi nàng xem có uống nước cam không ?
Rồi bưng lên trên khay nhỏ màu hồng
Nước giải khát , khăn lau tay , xí muội .
Rồi trong khi nàng chân co chân duỗi
Vừa nhấp môi , vừa đọc báo thời trang
Ta tung tăng vào bếp mở làn
Lấy các thứ bày ra bàn chuẩn bị
Nước tương này xếp vào ngăn gia vị
Hành tím này xếp vào giỏ đồ khô
Đậu hủ đây thì thả vào tô
Còn rau sống bỏ vào thau rửa sạch
Cá chép tươi còn đang phành phạch
Đánh vẩy rồi ta lấy thớt ra
Tay cắt vây , mồm lại hát ca
Làm việc nhà , đó là hạnh phúc .
Bắc nồi lên tiện nay ta múc
Nước từ trong máy lọc lưng lưng
Bỏ cà chua , bỏ hành lá tưng bừng
Ta sẽ nấu một nồi canh lịch sử
Trong khi đó vợ ta đang mặc thử
Chiếc áo mới mua về , coi có đẹp chưa
Ta vừa khen , vừa nạo cùi dừa
Để rắc sẵn lên chén chè trôi nước
Ăn cơm xong cho nàng dùng mát ruột
Và kèm thêm lát dưa hấu đẹp da
Nồi canh sôi trong tiếng reo òa
Ta thả cá , rồi làm luôn món mặn
Mở tủ lạnh ra , nhớ lời vợ dặn
Rằng hôm nay nàng muốn ăn cua
Rang với me , thêm dăn quả trứng rùa
Ta nhanh nhảu cho vào trong nồi hấp
Nhớ khi rang phải vặn cho lửa thấp
Cua mới ngon và mới vàng đều
Đang say sưa thì nghe tiếng nàng kêu
" Nước tắm của em , anh yêu ơi , đâu nhỉ ?"
Vớ chai dầu thơm trên tràng kỷ
Ta vội vàng chuẩn bị khăn bông
Dầu gội đầu , kèm theo cái lược hồng
Mời nàng vào , không quên mở nhạc
Nàng bước vô , không hề kinh ngạc
Vì chuyện này đã quá thân quen
Ta nhanh tay mở khóa vòi sen
Rồi sung sướng chay ngay ra bếp
Và vui mừng nhanh chóng xếp mâm
Còn không quên mở lọ khế dầm
Cùng pha sẵn ly trà sâm thơm phức
Nàng bước ra , khăn bông quấn ngực
Như thiên thần sáng rực vẻ thanh cao
Kéo ghế nhanh , nàng yểu điệu ngồi vào
Khen ta là chồng ngoan , chồng tốt
Ta ngây ngất không thốt được lời nào
Ta gắp cho nàng thêm món đồ xào
Ngắm nàng ăn , lòng dạt dào cảm mến
Chính giữa bàn hai ngọn nến lung linh
Tỏa hào quang xuống góc nhà xinh
Hai tâm hồn trắng tinh hòa nhịp
Ta nhai vội để còn nhanh kịp
Vào trải giường và mở tivi
Chờ nàng ăn xong, ta gọi thầm thì
Mời nàng vô đúng kỳ phim nhiều tập
Nàng thong thả chiêu ly trà chống mập
Trước khi xem trai Hàn Quốc ung thư
Dưới chân nàng con mèo nhỏ gừ gừ
Còn xa xa ta hăng say rửa chén
Vừa rửa kỹ ta vừa nhìn lén
Thấy nàng đang khép mắt mơ màng
Với lấy chăn hoa ta đắp nhẹ nhàng
Bàn tay ta dịu dàng khe khẽ
Rắc vào chăn một chút dầu thơm
Đặt cạnh nàng gấu bông nhỏ bờm xờm
Vặn bé ngọn đèn rồi ta lui bước
Ta kiểm soát cửa sau, cửa trước
Dắt xe vô và cho chú mèo ăn
Đậy kỹ thức ăn để tránh thằn lằn
Kiểm soát lọ đường, đề phòng bọn kiến
Rồi vươn vai ta hùng dũng tiến
Vô phòng nàng, kéo nhẹ tấm rèm ra
Cho ánh trăng xanh biếc ngọc ngà
Phủ lên bóng nàng đang ngon giấc
Ta dịu dàng ngồi nhẹ như ngọn bấc
Nói thì thầm ba tiếng "vợ yêu ơi "
Nàng vừa yêu vừa đẹp nhất trên đời
Ta thiếp đi nơi chân giường mát dịu .... ***
Khuyết danh
Là đàn ông tức là mê rửa chén
Mơ lau nhà và háo hức lau xe
Làm đàn ông là tựa cửa đợi vợ về
Nhanh nhảu chạy ra đỡ làn, đỡ nón
Dịu dàng ngồi xuống bằng cánh tay năm ngón
Hỏi nàng xem có uống nước cam không ?
Rồi bưng lên trên khay nhỏ màu hồng
Nước giải khát , khăn lau tay , xí muội .
Rồi trong khi nàng chân co chân duỗi
Vừa nhấp môi , vừa đọc báo thời trang
Ta tung tăng vào bếp mở làn
Lấy các thứ bày ra bàn chuẩn bị
Nước tương này xếp vào ngăn gia vị
Hành tím này xếp vào giỏ đồ khô
Đậu hủ đây thì thả vào tô
Còn rau sống bỏ vào thau rửa sạch
Cá chép tươi còn đang phành phạch
Đánh vẩy rồi ta lấy thớt ra
Tay cắt vây , mồm lại hát ca
Làm việc nhà , đó là hạnh phúc .
Bắc nồi lên tiện nay ta múc
Nước từ trong máy lọc lưng lưng
Bỏ cà chua , bỏ hành lá tưng bừng
Ta sẽ nấu một nồi canh lịch sử
Trong khi đó vợ ta đang mặc thử
Chiếc áo mới mua về , coi có đẹp chưa
Ta vừa khen , vừa nạo cùi dừa
Để rắc sẵn lên chén chè trôi nước
Ăn cơm xong cho nàng dùng mát ruột
Và kèm thêm lát dưa hấu đẹp da
Nồi canh sôi trong tiếng reo òa
Ta thả cá , rồi làm luôn món mặn
Mở tủ lạnh ra , nhớ lời vợ dặn
Rằng hôm nay nàng muốn ăn cua
Rang với me , thêm dăn quả trứng rùa
Ta nhanh nhảu cho vào trong nồi hấp
Nhớ khi rang phải vặn cho lửa thấp
Cua mới ngon và mới vàng đều
Đang say sưa thì nghe tiếng nàng kêu
" Nước tắm của em , anh yêu ơi , đâu nhỉ ?"
Vớ chai dầu thơm trên tràng kỷ
Ta vội vàng chuẩn bị khăn bông
Dầu gội đầu , kèm theo cái lược hồng
Mời nàng vào , không quên mở nhạc
Nàng bước vô , không hề kinh ngạc
Vì chuyện này đã quá thân quen
Ta nhanh tay mở khóa vòi sen
Rồi sung sướng chay ngay ra bếp
Và vui mừng nhanh chóng xếp mâm
Còn không quên mở lọ khế dầm
Cùng pha sẵn ly trà sâm thơm phức
Nàng bước ra , khăn bông quấn ngực
Như thiên thần sáng rực vẻ thanh cao
Kéo ghế nhanh , nàng yểu điệu ngồi vào
Khen ta là chồng ngoan , chồng tốt
Ta ngây ngất không thốt được lời nào
Ta gắp cho nàng thêm món đồ xào
Ngắm nàng ăn , lòng dạt dào cảm mến
Chính giữa bàn hai ngọn nến lung linh
Tỏa hào quang xuống góc nhà xinh
Hai tâm hồn trắng tinh hòa nhịp
Ta nhai vội để còn nhanh kịp
Vào trải giường và mở tivi
Chờ nàng ăn xong, ta gọi thầm thì
Mời nàng vô đúng kỳ phim nhiều tập
Nàng thong thả chiêu ly trà chống mập
Trước khi xem trai Hàn Quốc ung thư
Dưới chân nàng con mèo nhỏ gừ gừ
Còn xa xa ta hăng say rửa chén
Vừa rửa kỹ ta vừa nhìn lén
Thấy nàng đang khép mắt mơ màng
Với lấy chăn hoa ta đắp nhẹ nhàng
Bàn tay ta dịu dàng khe khẽ
Rắc vào chăn một chút dầu thơm
Đặt cạnh nàng gấu bông nhỏ bờm xờm
Vặn bé ngọn đèn rồi ta lui bước
Ta kiểm soát cửa sau, cửa trước
Dắt xe vô và cho chú mèo ăn
Đậy kỹ thức ăn để tránh thằn lằn
Kiểm soát lọ đường, đề phòng bọn kiến
Rồi vươn vai ta hùng dũng tiến
Vô phòng nàng, kéo nhẹ tấm rèm ra
Cho ánh trăng xanh biếc ngọc ngà
Phủ lên bóng nàng đang ngon giấc
Ta dịu dàng ngồi nhẹ như ngọn bấc
Nói thì thầm ba tiếng "vợ yêu ơi "
Nàng vừa yêu vừa đẹp nhất trên đời
Ta thiếp đi nơi chân giường mát dịu .... ***
Khuyết danh
Học làm người
Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệpđại học, liền học Thạc sĩ, rồi lại học Tiến sĩ. Sau nhiềunăm, cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùngmừng vui. Một hôm người đồ đệ này trở về, thưa với ngài Tinh Vân:"Bạch Sư Phụ nay con đã có học vị Tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa?"
Ngài Tinh Vân bảo: "Học làmngười",
Học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được. Ngài Tinh Vân cho rằng, bất luận là sĩ nông công thương, người ở tầng lớp nào có học tập là có tiến bộ, nay cùng chia sẻ với mọi người về những điều cần phải học.
Thứ nhất, "học nhận lỗi". Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn. Đối tượng mà mình nhận lỗi có thể là cha mẹ, bạn bè, mọi người trong xã hội, thậm chí nhận lỗi với con cái hay là người không tốt đối với mình, nhận lỗi như vậy bản thân chẳng mất mát gì, ngược lại còn thể hiện được sự độ lượng của bản thân. Học nhận lỗi là một điều rất tốt,là sự tu tập lớn.
Thứ hai "học nhu hòa". Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta lại mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại dài lâu được, chứ cứng làm chi cho chịu thiệt thòi. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập. Người ta thường hình dung những người cố chấp, thì tấm lòng của họ, tính cách của họ rất lạnh, rất cứng y như một miếng sắt vậy. Nếu chúng ta có thể điều hòa hơi thở, điều hòa thân tâm, dần dần điều phục tâm như vượn chuyền cành này khiến cho nó nhu hòa mềm mại, thì cuộc sống mới vui tươi hơn, mới lâu dài được.
Thứ ba "học nhẫn nhục". Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên biển lặng, lùi một bước thì biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không. Các vị muốn sống, muốn sinh tồn, thì cần phải biết nhẫn, có thể hiểu rõ những đúng sai,thiện ác, tốt xấu của thế gian, thậm chí chấp nhận nó.
Thứ tư "học thấu hiểu". Thiếu thấu hiểu lẫn nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn
nhau làm sao có thể hòa bình được?
Thứ năm, "học buông bỏ". Cuộc đời như một chiếc va li,lúc cần dùng thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống lại không đặt xuống, cũng như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới có thể tự tại được.
Thứ sáu "học cảm động". Nhìn thấy ưu điểm của ngườikhác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm bồ tát,tâm bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
Thứ bảy "học sinh tồn". Để sinh tồn chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh, thân thể khỏe mạnh không nhữngcó lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu để với người thân.
Chúc bạn bè thân hữu cùng cố gắng!
---
Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệpđại học, liền học Thạc sĩ, rồi lại học Tiến sĩ. Sau nhiềunăm, cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùngmừng vui. Một hôm người đồ đệ này trở về, thưa với ngài Tinh Vân:"Bạch Sư Phụ nay con đã có học vị Tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa?"
Ngài Tinh Vân bảo: "Học làmngười",
Học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được. Ngài Tinh Vân cho rằng, bất luận là sĩ nông công thương, người ở tầng lớp nào có học tập là có tiến bộ, nay cùng chia sẻ với mọi người về những điều cần phải học.
Thứ nhất, "học nhận lỗi". Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn. Đối tượng mà mình nhận lỗi có thể là cha mẹ, bạn bè, mọi người trong xã hội, thậm chí nhận lỗi với con cái hay là người không tốt đối với mình, nhận lỗi như vậy bản thân chẳng mất mát gì, ngược lại còn thể hiện được sự độ lượng của bản thân. Học nhận lỗi là một điều rất tốt,là sự tu tập lớn.
Thứ hai "học nhu hòa". Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta lại mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại dài lâu được, chứ cứng làm chi cho chịu thiệt thòi. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập. Người ta thường hình dung những người cố chấp, thì tấm lòng của họ, tính cách của họ rất lạnh, rất cứng y như một miếng sắt vậy. Nếu chúng ta có thể điều hòa hơi thở, điều hòa thân tâm, dần dần điều phục tâm như vượn chuyền cành này khiến cho nó nhu hòa mềm mại, thì cuộc sống mới vui tươi hơn, mới lâu dài được.
Thứ ba "học nhẫn nhục". Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên biển lặng, lùi một bước thì biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không. Các vị muốn sống, muốn sinh tồn, thì cần phải biết nhẫn, có thể hiểu rõ những đúng sai,thiện ác, tốt xấu của thế gian, thậm chí chấp nhận nó.
Thứ tư "học thấu hiểu". Thiếu thấu hiểu lẫn nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn
nhau làm sao có thể hòa bình được?
Thứ năm, "học buông bỏ". Cuộc đời như một chiếc va li,lúc cần dùng thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống lại không đặt xuống, cũng như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới có thể tự tại được.
Thứ sáu "học cảm động". Nhìn thấy ưu điểm của ngườikhác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm bồ tát,tâm bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
Thứ bảy "học sinh tồn". Để sinh tồn chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh, thân thể khỏe mạnh không nhữngcó lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu để với người thân.
Chúc bạn bè thân hữu cùng cố gắng!
---
Về Việt Nam Ăn Gì?
Cách đây không lâu báo chí VN có đưa tin. Tại Tân Phú quận Tân Bình có một thanh niên tuổi khoảng 33 chết đột ngột, gia đình làm lễ an táng cho anh ta. Nhưng công an huyện nghi ngờ có chuyện mờ ám nên ra lệnh khai quật kể giảo nghiệm xác chết. Lạ thay khi mở áo quan xác chết vẫn nguyên vẹn, không có dấu hiệu thối rữa mặc dù đã chôn dưới đất cả 2 tuần lễ. Sau giảo nghiệm gia đinh xin phép giữ xác chết trong nhà. Chính quyền đia phương thấy xác không có hiện tượng thối rữa làm mất vệ sinh nên chấp thuận. Hiện xác anh thanh niên được gia đình lưu trữ trên gác. Rất nhiều người tin dị đoan tới cúng kiếng.
Nhiều người lý giải tại sao xác anh thanh niên này không thối rữa. Trước nhất anh thanh niên này chết đột ngột. Nghĩa là không chết vì bệnh lý. Công an không kết luận anh ta bị giết hại, có nghĩa anh ta không phải bị giết. Công an không nói anh ta bị chết vì độc tố, có nghĩa anh ta có thể chết vì trúng độc. Anh ta không bị người khác đầu độc, nhưng anh ta có thể tự đầu độc chính mình. Anh ta không tự tử bằng cách uống thuốc độc. Nhưng anh ta chết bằng độc tố qua thực phẩm hàng ngày mà anh tiêu thụ. Ðộc tố đó chính là những hóa chất giữ cho thực phẩm không bị hư thối, không bị lên men, không đổi màu. Và những hóa chất sát trùng có khả năng tiêu diệt những hoại tử. Nên khi anh ta chết, xác anh không có hoại tử nên xác không bị thư hoại, cộng với những hóa chất như Formol, Sodium Benzoate, 2,4-D, Borax ,vv… trong thực phẩm tồn đọng trong cơ thể anh, nên xác anh không hư thối được.Vâng những thi thể mà các nhà khoa học và khảo cổ thế kỷ thứ 31 khám phá ra chính là các loại thi thể như anh chàng vừa kể trên.
Tôi có người bạn mua cá Khoai về nấu canh củ. Cá Khoai thường khi nấu thịt sẽ mềm và tan cùng với khoai. Sau khi nấu người ta chỉ cần gắp nguyên bộ xương ra, nồi canh có thể ăn được. Nhưng hôm đó vợ anh bạn nấu rất lâu mà cá Khoai vẫn nguyên vẹn, vợ anh dùng đũa đâm vào cá thấy cá cứng chắc như khúc Lươn luộc. Cô vợ gọi chồng ra hỏi, anh chồng dùng đũa thử thấy cá vẫn cứng chắc, cười rồi nói với vợ “em có bỏ lộn viên Viagra vào không ?”… Sau đó vợ anh đổ nồi canh cá Khoai đi, sợ anh ăn phải ảnh hưởng như cá khoai.
Một người khác kể rằng anh thèm cá trê quê hương, khi thấy tiệm thực phẩm Á Châu có bán cá Trê Vàng, anh mua ngay một ký mục đích để chiên và kho ăn. Nhưng công việc làm ăn cần gấp anh phải có mặt tại tiểu bang khác trong ngày tới. Anh ra đi và quên khuấy ký cá trê trong cốp xe. Cả tuần lễ sau có dịp mở cốp xe anh rất ngạc nhiên khi thấy mấy con cá trê trong túi vẫn còn tươi nguyên. Trong khi chiếc xe nóng hổi và nhiệt độ bên ngoài theo đài thông báo lên đến 40oC.
Vợ tôi đi shopping về nói: “Hôm nay em thấy tại tiệm thực phẩm Á Châu bày bán tôm còn rất tươi, con nào con ấy xanh trong như mới bắt lên, em hỏi họ nói tôm VN. Thấy ngon nhưng em không dám mua.” Nghe vợ nói không mua tôi mừng quá. Tôi nói: “Tôm đó được tẩm hóa chất nên giữ lâu không hư thối, đặc biệt màu sắc không thay đổi nhìn tươi như mới đánh bắt. Nếu ăn vào rất nguy hiểm cho sức khỏe.”
Vấn đề xử dụng hóa chất trong công nghiệp thực phẩm là chuyện bình thường, nhưng việc xử dụng hóa chất phải được kiểm soát và cho phép, thông thường mỗi hóa chất đều có quy định về mức độ xử dụng an toàn. Nếu chúng ta ăn những thực phẩm chứa nồng độ hóa chất quá cao có thể gây ngộ độc, có nhiều trường hợp đi đến tử vong, hay gây nên ung thư. Từ ngày VN mở cửa, chính quyền VN kêu gọi Việt Kiều về du lịch, mục đích móc túi “khúc ruột ngàn dậm”. Việt kiều về VN để “ăn chơi”. Về VN, Việt kiều phải ăn để đi chơi hay đi chơi cũng phải ăn. Như vậy ăn uống tại VN là chuyện vô cùng quan trọng. Nhưng vấn đề đặt ra là về VN ăn gì, uống gì để bảo đảm an toàn?.
Nếu nói về VN để “ăn Ngon và Rẻ” thì câu này cần xét lại. Ở đây tôi chỉ nói đến về VN ăn gì để an toàn thực phẩm và bảo dảm cho sức khỏe. Ða số Việt Kiều về thích hải sản: “ăn cho đã”. Lý do vì ở nước ngoài hải sản giá rất mắc. Hải sản được bán ở VN thường là tôm, cá. Những loại này được nuôi để xuất khẩu chứ không phải do đánh bắt trong sông biển. Chúng ta hãy đọc những tài liệu nói về hóa chất dùng trong thục phẫm ở VN của Ts Mai Thanh Truyết:
“.. cá Basa xuất khẩu bị trả về vì trong cá chứa lượng Fluoro- Quinolones quá cao. Tháng 7 năm rồi, tiểu bang Georgia khám phá thêm chất kháng sinh Enrofloxacine trong cá. Tôm xuất khẩu cũng bị trả vể vì chứa chất Chloramphenicol, Nitrofuran-3- amino-2-oxazole vàSemicarbazide. Người ta còn tìm thấy độc chất Rhotenane trong tôm, đây là độc chất trong cây Thuốc Cá”. Những hóa chất trên đây đều được xếp vào danh sách các hóa chất bị cấm xử dụng trong kỹ nghệ biến chế thực phẩm. Ðể giải quyết số cá và tôm bị trả về, người ta quyết định bằng cách tung chúng ra bán tại thị trường trong nước.
Còn cua, sò, ốc, hến thì sao? Ngành trồng lúa VN chuyển đổi từ một vụ sang 2 vụ hay 3 vu, mức sản xuất lúa gạo tăng từ thiếu ăn sang có dư để xuất khẩu. Sự tăng trưởng đi kèm theo các điều kiện như xử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu rầy, thuốc trị ốc Bươu Vàng… Những hóa chất này được rải hay xịt vào ruộng lúa sẽ tan vào trong nước hay đi vào chính cây lúa. Nếu dùng các loại hóa chất không theo đúng phương pháp và số lượng, hóa chất có thể tích tụ vào hạt gạo. Hiện thời chưa có một nghiên cứu chính thức nào cho biết nồng độ những hóa chất trong gạo sản xuất tại VN. Những hóa chất độc hại ấy theo nước chảy vào sông hồ. Các sinh vật sống trong môi trường nước ấy chắc chắn mang theo những độc tố. Khi người ta dùng hóa chất Methadehyde để trị ốc Bươu Vàng, thì các loại ốc Bươu thường, ốc Gạo, ốc Hương, các loại cua, sò hến vv.. cũng đều bị ảnh hưởng. Những năm gần đây số lượng tôm, cá sông giảm tới mức báo động. Sự giảm sút này nguyên nhân chúng bi tiêu diệt bởi các hóa chất dùng trong nông nghiệp. Ở dây ta không bàn đến tình hình sức khỏe cùa người dân sống trong vùng, trực tiếp ăn uống, tắm rửa trong các ao hồ, sông rạch chứa đầy các độc tố.
Vấn đề thịt bò, heo gà, vịt … Các loại lông vũ nói chung và gà vịt nói riêng đang bị nguy hiểm bởi dịch H5N1. Cơ quan WHO tiên đoán sẽ có trận đại dịch xảy ra khi siêu vi H5N1 chụyển dạng lây từ người qua người. Hiện thời nhiều nơi báo cáo heo, cá cũng bị lây nhiễm. Như vậy vấn đề ăn thịt gà, vịt, heo rất nguy hiểm. Người ta nói nên ăn heo, gà, vịt vì đã được kiểm dịch. Nhưng làm cách nào đễ biết chắc chắn gà
vịt đã được kiểm dịch. Căn cứ vào giấy tờ chứng minh, về dấu đã kiểm dịch trên gà vịt. Bạn có thể tin được tờ giấy và con dấu ở VN không? Cách tốt nhất là không nên ăn heo, gà hay vịt ở VN. Riêng về chăn nuôi Heo, người ta xử dụng một hóa chất cho Heo ăn gọi là thuốc “Siêu tăng trọng”. Heo ăn vào chỉ cần một hai ngày sau có thể tăng tới 3-4 kg. gà mái ăn vào đẻ hoài không nghỉ. Nếu chúng ta ăn nhằm thịt heo này thì chuyện gì sẽ sảy ra sau đó. Chỉ có nhà thương biết.
Không ăn được hải sản, heo, gà, vịt. Vậy chúng ta ăn rau. Chuyện trồng trọt rau cải. Hoa trái ở VN cũng không tin được. Người ta dùng 2,4-D để thúc cho cây mau phát triển. 2,4-D là loại thuốc diệt cỏ mà Mỹ đã dùng trong chiến tranh VN. Chất độc da cam chính là chất 2,4-D này.
Trong lúc chính quyền VN kiện Mỹ xử dụng chất diệt cỏ này, thì trong nước việc xử dụng 2,4-D trong ngành trồng trọt rất ư là vô tư. Những cây rau muốn xanh tốt để bán có giá, người ta cũng dùng đến hóa chất này để thúc cây phát triển vài ngày trước khi thu hoạch. Trong quá trình trồng trọt người ta còn phải dùng đến hóa chất trị côn trùng, sâu bọ. Rau trái mang về nếu rửa không sạch, chuyện trúng độc là chuyện chắc chắn xẩy ra.
Cũng theo Ts Mai thanh Truyết tại Sàigòn “riêng tháng 6/2005 có 1800 người trúng độc. Gây chết 39 người”. Những trái cây nhập từ Trung Quốc vào VN như táo. nho, cam, nhãn,đều được dùng hóa chất để bảo quản như 2,4-D, 2,45-T, nhất là Sodium Benzoate (NaO-C6H) chúng có tác dụng giữ cho trái cây tươi, không bị hư thối, không đổi màu và giữ được mùi vị nguyên thủy. Nồng độ cho phép là 0.1mg/kg. nồng độ gây chết là 2mg/kg.
Vể VN thèm ăn canh cua rau đay, cà pháo nén. Món ăn đậm tình quê hương ấy chứa đựng những hóa chất với nồng độ chết người. Muốn cho cà pháo, củ kiệu, bánh tráng có màu trắng, người ta xử dụng hóa chất làm trắng có tên Chloride sodium hydrosufite. Chất này làm cho chế phẩm có màu trắng tươi trông bắt mắt, đây cũng là chất dùng trong công nghiệp sản xuất xà bông, bột giặt. Khi chất này qua thực quản gây tình trạng trúng độc, làm ngạt thở. Giảm huyết áp, nếu nặng có thể gây tử vong.
Những thành phẩm như Chả Lụa, chả Quế, người ta dùng Hàn The (Borax) đây là chất khử trùng và sâu rầy trong nông nghiệp. Nó còn được xử dụng trong kỹ nghệ sản xuất kem đánh răng và xà bông. Ðối với thực phẩm trên nó có tác dụng diệt trùng, chống sự lên men, nấm mốc. Giữ cho thực phẩm không bị hư thối. Trong việc sản xuất giò chả tại VN người ta thường dùng thịt hạng xấu để có lợi nhuận cao. Chính vì vậy người ta dùng lượng Borax cao để khử mùi hôi, làm cho thịt dai. Những thịt để lâu ngày khi xử lý bằng Hàn The sẽ mất mùi hôi, làm thịt tươi lại trông như thịt tươi. Ðặc biệt bánh tráng, bánh phở, bún, hủ tiếu có để Hàn The sẽ không bị mốc meo. Làm dai và dòn sợi bún, hủ tiếu. Bánh phở và bánh tráng dễ cuốn không bị gẫy. Chất này vào cơ thể gây nên đau quặn bụng, không đi cầu được, tim đập mạnh, người ra mồ hôi. Có khả năng làm loét bao tử. Nội soi thấy bao tử có đốm trắng nhiều hay từng mảng. Trường hợp nặng phải cắt bỏ phần bao tử loét.
Chuyện nước tương hay xi dầu. Ts Truyết cho chúng ta biết tháng “7/05 Bỉ trả về VN toàn bộ xì dầu hiệu Chin Su, vì họ tìm ra trong xì dầu nhập cảng từ VN có nồng độ 3-MCPD (3-monochloropane- 1,2diol) lên tới 86mg/kg trong khi mức cho phép là 0.02mg/kg tại Anh và 0.5mg/kg tại Bỉ”. Như vậy hàm lượng 3-MCPD cao gấp 172 lần mức cho phép.
Sở thí nghiệm thành phố HCM ( KHCN-MT HCM) xét nghiệm qua 42 mẫu, kết quả toàn bộ dều có hàm lượng hóa chất cao hơn tiêu chuẩn cho phép là 8000 (tám ngàn) lần nghĩa là 8000mg/kg. bạn thử nghĩ xem với hàm lượng hóa chất này, bạn sẽ đi về đâu sau khi nuốt vào bụng..
Bạn có biết hiện ở VN người ta sản xuất xì dầu bằng gì không? Tôi thưa ngay bằng xương trâu, bò, heo.. nói chung các loại xương phế thải lượm được ở bất kỳ nơi nào. Tất cả đem về nấu trong acid sau dó dùng Sut Caustic để trung hòa. Sản phẩm này được vô bao bì bán ra thị trường dưới dạng “nước cốt làm xì dầu”. Từ đó người sản xuất cứ việc mua về pha với nước lạnh, muối, đường, thêm một số hóa chất giữ lâu như Borax chẳng hạn. Muốn tăng độ đạm người ta thêm vào Urê thế là sản phẩm được vô chai, tung ra thị trường. Acid dùng để nấu xương là acid Chlohydric (HCL) trong quá trình phân giải tạo ra chất 3-MPCD nguy hiểm. Muốn bảo quản các loại như tôm cá, bánh phở bánh tráng hủ tíu lâu dài, không bị hư thối , ngưới ta dùng đến Formol (Formaldehyde =HCHO). Thường Formol có mùi khó chịu nên người ta pha formol trong rượu Methanol 37-50o/o cho mất mùi. Formol là hóa chất dùng trong việc giữ xác chết không bị hư thối.
Trong sản xuất rượu trắng có kẻ còn dùng Mitox (thuốc trị rầy) thuôc này có tác dụng làm rượu trong và gây say nhanh cho người uống. Nếu pha với lượng cao, người uống bị trúng độc và chết nhanh chóng. Ðể có một tấm bánh tráng. Ngưới ta phải thực hiện qua nhiều giai đoạn. Những giai đoạn ấy rất là công phu. Hầu như trong các giai đoạn ấy người ta đều xử dụng hóa chất. Có những hóa chất có thể được đào thải, ngược lại cũng có những hóa chất không tan biến và tích tụ qua nhiều thế hệ như DDT chẳng hạn, đây là chất diệt trùng. Khi xử dụng cho cây, chất này đi vào cây, vào trái. Súc vật ăn rau, trái ấy, DDT thấm vào máu súc vật và nằm ở đó. Nếu chúng ta ăn thịt súc vật. DDT lại đi vào cơ thể chúng ta lưu trữ ở đó, với số lượng nhỏ thì không sao, nhưng DDT không bị đào thải, như vây DDT có cơ hội tăng mỗi lần chúng ta ăn thịt. Tới lúc nồng độ DDT đủ cao sẽ gây tác động nguy hiểm.
Trở lại bánh tráng. Bánh tráng làm bằng gạo, gạo từ lúa. Quá trình trồng lúa chúng ta dùng hóa chất, phân bón, những hóa chất một số lưu lại trong gạo.. Ðến quá trình biến chế. Người ta dùng Hàn the để làm cho bột dai và không mốc. Ngưới ta thêm thuốc tẩy trắng để bột gạo trắng đẹp. Ngườí ta thêm formol để giử bánh không bị lên mốc vv… nói chung cái bánh chúng ta ăn có biết bao hóa chất nguy hiểm trong đó. Sở dĩ chúng ta không thấy chuyện gì. Thứ nhất nồng độ hóa chất trong bánh tráng chưa tới mức nguy hiểm. Thứ hai ảnh hưởng của hóa chất lên cơ thể con người có tính cách chậm, và lâu dài. Có khi ảnh hưởng qua thế hệ con cháu. Ví dụ chất Borax có tác dụng trụy thai, 2,4-D từ mẹ có thể làm cho thai nhi trở thành khuyết tật vv…
Nếu nhìn những phân tích trên đây, chúng ta thấy về VN ăn gì cũng nguy hiểm. Theo báo cáo của bộ y tế từ 1997 đến 2004 có 6.467.448 trường hợp trúng độc, như vậy cứ 14 người thì có một người bị trúng độc. Ðây là con số được báo cáo, còn con số không được báo cáo thì không biết là bao nhiêu. Cho đến bây giờ chính quyền VN vẫn không có một phương pháp nào khả thi để kiểm soát an toàn thực phẩm. Những báo cáo có tính cách giấy tờ và bỏ lơ. “Nước đến chân mới nhảy” và “đổ thừa qua lại” là phương hướng mà chính quyền nhà nước theo đuổi. Con chung không ai khóc, làm sao vơ cho đầy túi là được.
Ðến đây tôi mạn phép để nghị bạn cách giải quyết rất ư là hữu hiệu.
Trước khi về VN bạn phải học cách nhịn ăn “Nhập Thất” để về VN không cẩn ăn gì hết, vừa không bị ngộ độc, lại làm giảm cân mau chóng. Theo phái Tiên Thiên Khí Công, khi bạn nhịn ăn, cơ thể bạn sẽ có cơ hội thanh tẩy những tồn đọng xấu trong bạn. Và sau đó có thể bạn sẽ đổi mới từng tế bào. Thế quân bình năng lượng sẽ được sắp xếp lại. Nhịn ăn kết hợp với hít thở đúng cách, các huyệt đạo sẽ khai thông, huyết áp
bình thường lại, cân bằng lượng đường trong máu. Tiêu thụ những mỡ dư thừa, tống xuất những độc tố. Theo đó một số bệnh tật sẽ tan biến theo, bạn sẽ cảm thấy khỏe mạnh hơn và yêu đời hơn.
Ngoài ra một phương pháp cụ thể nhất, không nguy hiểm, không tốn kém, không sợ nhiễm độc, không bị bịnh cúm gà, nhất là không bị bịnh “Cúm bà”
---
Cách đây không lâu báo chí VN có đưa tin. Tại Tân Phú quận Tân Bình có một thanh niên tuổi khoảng 33 chết đột ngột, gia đình làm lễ an táng cho anh ta. Nhưng công an huyện nghi ngờ có chuyện mờ ám nên ra lệnh khai quật kể giảo nghiệm xác chết. Lạ thay khi mở áo quan xác chết vẫn nguyên vẹn, không có dấu hiệu thối rữa mặc dù đã chôn dưới đất cả 2 tuần lễ. Sau giảo nghiệm gia đinh xin phép giữ xác chết trong nhà. Chính quyền đia phương thấy xác không có hiện tượng thối rữa làm mất vệ sinh nên chấp thuận. Hiện xác anh thanh niên được gia đình lưu trữ trên gác. Rất nhiều người tin dị đoan tới cúng kiếng.
Nhiều người lý giải tại sao xác anh thanh niên này không thối rữa. Trước nhất anh thanh niên này chết đột ngột. Nghĩa là không chết vì bệnh lý. Công an không kết luận anh ta bị giết hại, có nghĩa anh ta không phải bị giết. Công an không nói anh ta bị chết vì độc tố, có nghĩa anh ta có thể chết vì trúng độc. Anh ta không bị người khác đầu độc, nhưng anh ta có thể tự đầu độc chính mình. Anh ta không tự tử bằng cách uống thuốc độc. Nhưng anh ta chết bằng độc tố qua thực phẩm hàng ngày mà anh tiêu thụ. Ðộc tố đó chính là những hóa chất giữ cho thực phẩm không bị hư thối, không bị lên men, không đổi màu. Và những hóa chất sát trùng có khả năng tiêu diệt những hoại tử. Nên khi anh ta chết, xác anh không có hoại tử nên xác không bị thư hoại, cộng với những hóa chất như Formol, Sodium Benzoate, 2,4-D, Borax ,vv… trong thực phẩm tồn đọng trong cơ thể anh, nên xác anh không hư thối được.Vâng những thi thể mà các nhà khoa học và khảo cổ thế kỷ thứ 31 khám phá ra chính là các loại thi thể như anh chàng vừa kể trên.
Tôi có người bạn mua cá Khoai về nấu canh củ. Cá Khoai thường khi nấu thịt sẽ mềm và tan cùng với khoai. Sau khi nấu người ta chỉ cần gắp nguyên bộ xương ra, nồi canh có thể ăn được. Nhưng hôm đó vợ anh bạn nấu rất lâu mà cá Khoai vẫn nguyên vẹn, vợ anh dùng đũa đâm vào cá thấy cá cứng chắc như khúc Lươn luộc. Cô vợ gọi chồng ra hỏi, anh chồng dùng đũa thử thấy cá vẫn cứng chắc, cười rồi nói với vợ “em có bỏ lộn viên Viagra vào không ?”… Sau đó vợ anh đổ nồi canh cá Khoai đi, sợ anh ăn phải ảnh hưởng như cá khoai.
Một người khác kể rằng anh thèm cá trê quê hương, khi thấy tiệm thực phẩm Á Châu có bán cá Trê Vàng, anh mua ngay một ký mục đích để chiên và kho ăn. Nhưng công việc làm ăn cần gấp anh phải có mặt tại tiểu bang khác trong ngày tới. Anh ra đi và quên khuấy ký cá trê trong cốp xe. Cả tuần lễ sau có dịp mở cốp xe anh rất ngạc nhiên khi thấy mấy con cá trê trong túi vẫn còn tươi nguyên. Trong khi chiếc xe nóng hổi và nhiệt độ bên ngoài theo đài thông báo lên đến 40oC.
Vợ tôi đi shopping về nói: “Hôm nay em thấy tại tiệm thực phẩm Á Châu bày bán tôm còn rất tươi, con nào con ấy xanh trong như mới bắt lên, em hỏi họ nói tôm VN. Thấy ngon nhưng em không dám mua.” Nghe vợ nói không mua tôi mừng quá. Tôi nói: “Tôm đó được tẩm hóa chất nên giữ lâu không hư thối, đặc biệt màu sắc không thay đổi nhìn tươi như mới đánh bắt. Nếu ăn vào rất nguy hiểm cho sức khỏe.”
Vấn đề xử dụng hóa chất trong công nghiệp thực phẩm là chuyện bình thường, nhưng việc xử dụng hóa chất phải được kiểm soát và cho phép, thông thường mỗi hóa chất đều có quy định về mức độ xử dụng an toàn. Nếu chúng ta ăn những thực phẩm chứa nồng độ hóa chất quá cao có thể gây ngộ độc, có nhiều trường hợp đi đến tử vong, hay gây nên ung thư. Từ ngày VN mở cửa, chính quyền VN kêu gọi Việt Kiều về du lịch, mục đích móc túi “khúc ruột ngàn dậm”. Việt kiều về VN để “ăn chơi”. Về VN, Việt kiều phải ăn để đi chơi hay đi chơi cũng phải ăn. Như vậy ăn uống tại VN là chuyện vô cùng quan trọng. Nhưng vấn đề đặt ra là về VN ăn gì, uống gì để bảo đảm an toàn?.
Nếu nói về VN để “ăn Ngon và Rẻ” thì câu này cần xét lại. Ở đây tôi chỉ nói đến về VN ăn gì để an toàn thực phẩm và bảo dảm cho sức khỏe. Ða số Việt Kiều về thích hải sản: “ăn cho đã”. Lý do vì ở nước ngoài hải sản giá rất mắc. Hải sản được bán ở VN thường là tôm, cá. Những loại này được nuôi để xuất khẩu chứ không phải do đánh bắt trong sông biển. Chúng ta hãy đọc những tài liệu nói về hóa chất dùng trong thục phẫm ở VN của Ts Mai Thanh Truyết:
“.. cá Basa xuất khẩu bị trả về vì trong cá chứa lượng Fluoro- Quinolones quá cao. Tháng 7 năm rồi, tiểu bang Georgia khám phá thêm chất kháng sinh Enrofloxacine trong cá. Tôm xuất khẩu cũng bị trả vể vì chứa chất Chloramphenicol, Nitrofuran-3- amino-2-oxazole vàSemicarbazide. Người ta còn tìm thấy độc chất Rhotenane trong tôm, đây là độc chất trong cây Thuốc Cá”. Những hóa chất trên đây đều được xếp vào danh sách các hóa chất bị cấm xử dụng trong kỹ nghệ biến chế thực phẩm. Ðể giải quyết số cá và tôm bị trả về, người ta quyết định bằng cách tung chúng ra bán tại thị trường trong nước.
Còn cua, sò, ốc, hến thì sao? Ngành trồng lúa VN chuyển đổi từ một vụ sang 2 vụ hay 3 vu, mức sản xuất lúa gạo tăng từ thiếu ăn sang có dư để xuất khẩu. Sự tăng trưởng đi kèm theo các điều kiện như xử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu rầy, thuốc trị ốc Bươu Vàng… Những hóa chất này được rải hay xịt vào ruộng lúa sẽ tan vào trong nước hay đi vào chính cây lúa. Nếu dùng các loại hóa chất không theo đúng phương pháp và số lượng, hóa chất có thể tích tụ vào hạt gạo. Hiện thời chưa có một nghiên cứu chính thức nào cho biết nồng độ những hóa chất trong gạo sản xuất tại VN. Những hóa chất độc hại ấy theo nước chảy vào sông hồ. Các sinh vật sống trong môi trường nước ấy chắc chắn mang theo những độc tố. Khi người ta dùng hóa chất Methadehyde để trị ốc Bươu Vàng, thì các loại ốc Bươu thường, ốc Gạo, ốc Hương, các loại cua, sò hến vv.. cũng đều bị ảnh hưởng. Những năm gần đây số lượng tôm, cá sông giảm tới mức báo động. Sự giảm sút này nguyên nhân chúng bi tiêu diệt bởi các hóa chất dùng trong nông nghiệp. Ở dây ta không bàn đến tình hình sức khỏe cùa người dân sống trong vùng, trực tiếp ăn uống, tắm rửa trong các ao hồ, sông rạch chứa đầy các độc tố.
Vấn đề thịt bò, heo gà, vịt … Các loại lông vũ nói chung và gà vịt nói riêng đang bị nguy hiểm bởi dịch H5N1. Cơ quan WHO tiên đoán sẽ có trận đại dịch xảy ra khi siêu vi H5N1 chụyển dạng lây từ người qua người. Hiện thời nhiều nơi báo cáo heo, cá cũng bị lây nhiễm. Như vậy vấn đề ăn thịt gà, vịt, heo rất nguy hiểm. Người ta nói nên ăn heo, gà, vịt vì đã được kiểm dịch. Nhưng làm cách nào đễ biết chắc chắn gà
vịt đã được kiểm dịch. Căn cứ vào giấy tờ chứng minh, về dấu đã kiểm dịch trên gà vịt. Bạn có thể tin được tờ giấy và con dấu ở VN không? Cách tốt nhất là không nên ăn heo, gà hay vịt ở VN. Riêng về chăn nuôi Heo, người ta xử dụng một hóa chất cho Heo ăn gọi là thuốc “Siêu tăng trọng”. Heo ăn vào chỉ cần một hai ngày sau có thể tăng tới 3-4 kg. gà mái ăn vào đẻ hoài không nghỉ. Nếu chúng ta ăn nhằm thịt heo này thì chuyện gì sẽ sảy ra sau đó. Chỉ có nhà thương biết.
Không ăn được hải sản, heo, gà, vịt. Vậy chúng ta ăn rau. Chuyện trồng trọt rau cải. Hoa trái ở VN cũng không tin được. Người ta dùng 2,4-D để thúc cho cây mau phát triển. 2,4-D là loại thuốc diệt cỏ mà Mỹ đã dùng trong chiến tranh VN. Chất độc da cam chính là chất 2,4-D này.
Trong lúc chính quyền VN kiện Mỹ xử dụng chất diệt cỏ này, thì trong nước việc xử dụng 2,4-D trong ngành trồng trọt rất ư là vô tư. Những cây rau muốn xanh tốt để bán có giá, người ta cũng dùng đến hóa chất này để thúc cây phát triển vài ngày trước khi thu hoạch. Trong quá trình trồng trọt người ta còn phải dùng đến hóa chất trị côn trùng, sâu bọ. Rau trái mang về nếu rửa không sạch, chuyện trúng độc là chuyện chắc chắn xẩy ra.
Cũng theo Ts Mai thanh Truyết tại Sàigòn “riêng tháng 6/2005 có 1800 người trúng độc. Gây chết 39 người”. Những trái cây nhập từ Trung Quốc vào VN như táo. nho, cam, nhãn,đều được dùng hóa chất để bảo quản như 2,4-D, 2,45-T, nhất là Sodium Benzoate (NaO-C6H) chúng có tác dụng giữ cho trái cây tươi, không bị hư thối, không đổi màu và giữ được mùi vị nguyên thủy. Nồng độ cho phép là 0.1mg/kg. nồng độ gây chết là 2mg/kg.
Vể VN thèm ăn canh cua rau đay, cà pháo nén. Món ăn đậm tình quê hương ấy chứa đựng những hóa chất với nồng độ chết người. Muốn cho cà pháo, củ kiệu, bánh tráng có màu trắng, người ta xử dụng hóa chất làm trắng có tên Chloride sodium hydrosufite. Chất này làm cho chế phẩm có màu trắng tươi trông bắt mắt, đây cũng là chất dùng trong công nghiệp sản xuất xà bông, bột giặt. Khi chất này qua thực quản gây tình trạng trúng độc, làm ngạt thở. Giảm huyết áp, nếu nặng có thể gây tử vong.
Những thành phẩm như Chả Lụa, chả Quế, người ta dùng Hàn The (Borax) đây là chất khử trùng và sâu rầy trong nông nghiệp. Nó còn được xử dụng trong kỹ nghệ sản xuất kem đánh răng và xà bông. Ðối với thực phẩm trên nó có tác dụng diệt trùng, chống sự lên men, nấm mốc. Giữ cho thực phẩm không bị hư thối. Trong việc sản xuất giò chả tại VN người ta thường dùng thịt hạng xấu để có lợi nhuận cao. Chính vì vậy người ta dùng lượng Borax cao để khử mùi hôi, làm cho thịt dai. Những thịt để lâu ngày khi xử lý bằng Hàn The sẽ mất mùi hôi, làm thịt tươi lại trông như thịt tươi. Ðặc biệt bánh tráng, bánh phở, bún, hủ tiếu có để Hàn The sẽ không bị mốc meo. Làm dai và dòn sợi bún, hủ tiếu. Bánh phở và bánh tráng dễ cuốn không bị gẫy. Chất này vào cơ thể gây nên đau quặn bụng, không đi cầu được, tim đập mạnh, người ra mồ hôi. Có khả năng làm loét bao tử. Nội soi thấy bao tử có đốm trắng nhiều hay từng mảng. Trường hợp nặng phải cắt bỏ phần bao tử loét.
Chuyện nước tương hay xi dầu. Ts Truyết cho chúng ta biết tháng “7/05 Bỉ trả về VN toàn bộ xì dầu hiệu Chin Su, vì họ tìm ra trong xì dầu nhập cảng từ VN có nồng độ 3-MCPD (3-monochloropane- 1,2diol) lên tới 86mg/kg trong khi mức cho phép là 0.02mg/kg tại Anh và 0.5mg/kg tại Bỉ”. Như vậy hàm lượng 3-MCPD cao gấp 172 lần mức cho phép.
Sở thí nghiệm thành phố HCM ( KHCN-MT HCM) xét nghiệm qua 42 mẫu, kết quả toàn bộ dều có hàm lượng hóa chất cao hơn tiêu chuẩn cho phép là 8000 (tám ngàn) lần nghĩa là 8000mg/kg. bạn thử nghĩ xem với hàm lượng hóa chất này, bạn sẽ đi về đâu sau khi nuốt vào bụng..
Bạn có biết hiện ở VN người ta sản xuất xì dầu bằng gì không? Tôi thưa ngay bằng xương trâu, bò, heo.. nói chung các loại xương phế thải lượm được ở bất kỳ nơi nào. Tất cả đem về nấu trong acid sau dó dùng Sut Caustic để trung hòa. Sản phẩm này được vô bao bì bán ra thị trường dưới dạng “nước cốt làm xì dầu”. Từ đó người sản xuất cứ việc mua về pha với nước lạnh, muối, đường, thêm một số hóa chất giữ lâu như Borax chẳng hạn. Muốn tăng độ đạm người ta thêm vào Urê thế là sản phẩm được vô chai, tung ra thị trường. Acid dùng để nấu xương là acid Chlohydric (HCL) trong quá trình phân giải tạo ra chất 3-MPCD nguy hiểm. Muốn bảo quản các loại như tôm cá, bánh phở bánh tráng hủ tíu lâu dài, không bị hư thối , ngưới ta dùng đến Formol (Formaldehyde =HCHO). Thường Formol có mùi khó chịu nên người ta pha formol trong rượu Methanol 37-50o/o cho mất mùi. Formol là hóa chất dùng trong việc giữ xác chết không bị hư thối.
Trong sản xuất rượu trắng có kẻ còn dùng Mitox (thuốc trị rầy) thuôc này có tác dụng làm rượu trong và gây say nhanh cho người uống. Nếu pha với lượng cao, người uống bị trúng độc và chết nhanh chóng. Ðể có một tấm bánh tráng. Ngưới ta phải thực hiện qua nhiều giai đoạn. Những giai đoạn ấy rất là công phu. Hầu như trong các giai đoạn ấy người ta đều xử dụng hóa chất. Có những hóa chất có thể được đào thải, ngược lại cũng có những hóa chất không tan biến và tích tụ qua nhiều thế hệ như DDT chẳng hạn, đây là chất diệt trùng. Khi xử dụng cho cây, chất này đi vào cây, vào trái. Súc vật ăn rau, trái ấy, DDT thấm vào máu súc vật và nằm ở đó. Nếu chúng ta ăn thịt súc vật. DDT lại đi vào cơ thể chúng ta lưu trữ ở đó, với số lượng nhỏ thì không sao, nhưng DDT không bị đào thải, như vây DDT có cơ hội tăng mỗi lần chúng ta ăn thịt. Tới lúc nồng độ DDT đủ cao sẽ gây tác động nguy hiểm.
Trở lại bánh tráng. Bánh tráng làm bằng gạo, gạo từ lúa. Quá trình trồng lúa chúng ta dùng hóa chất, phân bón, những hóa chất một số lưu lại trong gạo.. Ðến quá trình biến chế. Người ta dùng Hàn the để làm cho bột dai và không mốc. Ngưới ta thêm thuốc tẩy trắng để bột gạo trắng đẹp. Ngườí ta thêm formol để giử bánh không bị lên mốc vv… nói chung cái bánh chúng ta ăn có biết bao hóa chất nguy hiểm trong đó. Sở dĩ chúng ta không thấy chuyện gì. Thứ nhất nồng độ hóa chất trong bánh tráng chưa tới mức nguy hiểm. Thứ hai ảnh hưởng của hóa chất lên cơ thể con người có tính cách chậm, và lâu dài. Có khi ảnh hưởng qua thế hệ con cháu. Ví dụ chất Borax có tác dụng trụy thai, 2,4-D từ mẹ có thể làm cho thai nhi trở thành khuyết tật vv…
Nếu nhìn những phân tích trên đây, chúng ta thấy về VN ăn gì cũng nguy hiểm. Theo báo cáo của bộ y tế từ 1997 đến 2004 có 6.467.448 trường hợp trúng độc, như vậy cứ 14 người thì có một người bị trúng độc. Ðây là con số được báo cáo, còn con số không được báo cáo thì không biết là bao nhiêu. Cho đến bây giờ chính quyền VN vẫn không có một phương pháp nào khả thi để kiểm soát an toàn thực phẩm. Những báo cáo có tính cách giấy tờ và bỏ lơ. “Nước đến chân mới nhảy” và “đổ thừa qua lại” là phương hướng mà chính quyền nhà nước theo đuổi. Con chung không ai khóc, làm sao vơ cho đầy túi là được.
Ðến đây tôi mạn phép để nghị bạn cách giải quyết rất ư là hữu hiệu.
Trước khi về VN bạn phải học cách nhịn ăn “Nhập Thất” để về VN không cẩn ăn gì hết, vừa không bị ngộ độc, lại làm giảm cân mau chóng. Theo phái Tiên Thiên Khí Công, khi bạn nhịn ăn, cơ thể bạn sẽ có cơ hội thanh tẩy những tồn đọng xấu trong bạn. Và sau đó có thể bạn sẽ đổi mới từng tế bào. Thế quân bình năng lượng sẽ được sắp xếp lại. Nhịn ăn kết hợp với hít thở đúng cách, các huyệt đạo sẽ khai thông, huyết áp
bình thường lại, cân bằng lượng đường trong máu. Tiêu thụ những mỡ dư thừa, tống xuất những độc tố. Theo đó một số bệnh tật sẽ tan biến theo, bạn sẽ cảm thấy khỏe mạnh hơn và yêu đời hơn.
Ngoài ra một phương pháp cụ thể nhất, không nguy hiểm, không tốn kém, không sợ nhiễm độc, không bị bịnh cúm gà, nhất là không bị bịnh “Cúm bà”
---
Đoàn kết
Thạch Đạt Lang
Cứ mỗi lần đi dự những buổi hội thảo hay sinh hoạt cộng đồng, nghe ai đó kêu gọi, nhắc đến chữ đoàn kết là Đạt Lang tui nhớ đến bản nhạc “Kết Đoàn! Chúng ta là sức mạnh, đoàn kết ta bền vững...”bị sửa lời như trên và rồi không khỏi tủm tỉm cười.
Cười vì lời nhạc sửa đổi và cười vì dường như càng kêu gọi đoàn kết thì dân Việt nam lại...càng chia rẽ hơn.Có đúng như vậy hay không? Nếu đúng(tức là không trật) thì tại sao lại có “sự cố” như dzậy?
Tui có đọc trong một cuốn sách ở đâu đó nhận xét (rỉ) của một người Nhật về người Việt Nam như sau:
Mỗi người Việt Nam là một viên kim cương (Thứ thìệt nghe, khai thác từ hầm mỏ bên Sierra Leon đem về hải cảng Antwerpen bên Bỉ, cắt gọt đàng hoàng, không phải loại kim cương nhân tạo), mỗi người Nhật là một cục đất sét (cũng thứ thiệt luôn).
Kim cương thì rất quý giá, lúc nào cũng sáng chói, lấp lánh dưới ánh sáng, còn đất sét thì dơ bẩn, giá trị rất ít, nếu không muốn nói rằng chẳng có gì ngoài việc dùng làm vật liệu sản xuất bình, lọ... sành, sứ và ở đâu cũng có. Tuy nhiên kim cương không bao giờ dính lại được với nhau, đất sét ngược lại, chỉ cần chút nước là 3, 4 cục riêng rẽ sẽ trở thành một.
Mama Mia! Tên Nhật viết quyển sách ba điều bốn chuyện này coi bộ cũng ba que, xỏ lá tợn. Hắn làm bộ khen, bơm dân Việt Nam mình cạch cạch, thổi lên tuốt ngọn cây, ngon lành quá cỡ thợ mộc(dĩ nhiên từng người một thôi); rồi đùng một cái, rút kiếm Samurai chặt... bụp một phát, chửi xéo dân mình là không biết đoàn kết để tạo thành sức mạnh của tập thể.
Đat Lang tui đọc mà tức... quá sức lẽ mình, định xé nát quyển sách đang cầm trên tay, nhưng chợt nhớ ra là sách mượn, không có tiền mua cuốn khác đền, nên kịp ngừng lại. Tiền lương bà xã kiểm soát từng Euro, Konto online check hàng ngày, mất một đồng là bã “phát hiện” được ngay, làm sao dám nhiếm ra một ít mà mua, mà nếu có nhiếm được thì... mua thứ khác đáng giá hơn... sách, báo chứ? Đúng hông? Không đúng là bà...bắn tui đi.
Thôi! xin trở lại vấn đề. Ngẫm nghĩ, thấy anh Nhật nói đúng chứ không sai, hay có sai thì cũng... chút chút thôi.
Người Việt chúng ta đứng riêng rẽ thì rất thành công, những tấm gương như kỹ sư Dương Nguyệt Ánh chế tạo bom áp nhiệt (Thermobaric) , giáo sư Nguyễn Xuân Vinh làm việc cho NASA, Trịnh Tuệ với 7 bằng kỹ sư (về Việt Nam thành... 7 bằng tiến sĩ) và mới nhất đây ở Orleans, Joseph Cao đắc cử vào Hạ viện Hoa Kỳ,... là những bằng chứng rõ rệt nhất. Tuy nhiên, đến ngày hôm nay người viết vẫn chưa được thấy một công ty, một tổ hợp, một nhóm nhà khoa học nghiên cứu... mang tên Việt Nam có được một thành công rực rỡ đáng kể. Việc kết hợp khối người Việt hải ngoại thành một lực lượng đồng nhất (đồng nhất chứ không phải duy nhất) để có thể tạo được những thành quả to lớn mang tầm vóc quốc tế, dường như là một việc bất khả thi.
Có nhiều yếu tố ngăn chận sự đoàn kết của người Việt, thử điểm qua vài yếu tố chính.
Theo sự nhận xét của tui, yếu tố quan trọng thứ nhất khiến người Việt ít đoàn kết là tính ích kỷ, không biết hi sinh quyền lợi nhỏ của bản thân để đạt được một điều lợi chung lớn hơn, mà bản thân mình cũng (sẽ) được nhiều hơn.
Một thí dụ điển hình tui được biết, do một anh bạn là kỹ sư thiết kế (design), đồng thời làm việc trong Betriebsrat (công đoàn IG Metall Industriegewerkscha ft Metall, “Industrial Union of Metalworkers”) của một hãng chế tạo xe hơi ở Đức kể lại. Anh cho biết chưa đến 5% tổng số người Việt trong hãng tham gia thành đoàn viên công đoàn, trong khi so với các dân tộc khác(không kể Đức) như Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), Nam Tư (Yugoslavia) hay Tây Ban Nha (Spain), số đoàn viên bao giờ cũng là 50-70%, thậm chí có nhà máy lên tới 80% công nhân viên là đoàn viên công đoàn.
Tui hỏi lý do, anh cho biết người Việt trong hãng anh làm không sốt sắng tham gia công đoàn vì phải đóng nguyệt liễm 1% tiền lương Brutto (Gross income). Nhiều người không gia nhập thì thôi, lại còn lý luận rằng không là đoàn viên nhưng khi công đoàn tranh đấu cho công nhân viên được lên lương, họ vẫn được hưởng, vậy thì dại gì mà mỗi tháng phải mất vài chục Euro? Vậy thì những người đoàn viên công đoàn đều ngu dại hết hay sao?
Sau khi nghe chuyện đó, tui tò mò đọc sách, tìm hiểu về sự hình thành và quá trình tranh đấu của công đoàn IG Metall Đức. Qua đó mới biết rằng, để đạt được thành quả ngày hôm nay cho công nhân viên ngành sắt thép Đức mỗi năm được hưởng 6 tuần lễ nghỉ Urlaub (Vacation), tuần làm việc 35 tiếng (hiện nay vì tình hình kinh tế, nhiều hãng đã tăng trở lại 37,5 hay 40 tiếng/tuần), được tiếp tục trả lương trong 6 tuần lễ bệnh đầu tiên trong năm (sau đó qũy bảo hiểm sức khỏe sẽ trả tiếp) công đoàn đã phải tranh đấu trường kỳ trong nhiều năm,khi đàm phán với giới chủ nhân, khi đình công làm áp lực...mỗi năm từng bước một. Tiền đâu họ hoạt động nếu không có nguyệt liễm của đoàn viên?
Yếu tố thứ hai là lòng ganh tị, hám danh, tranh giành, hơn thua nhau những chuyện không đáng. Sự ganh tị thường ngấm ngầm, không bộc lộ ra ngoài nhưng âm ỉ, kéo dài và sẽ bùng nổ khi có dịp. Người ta dễ dàng bôi bẩn, vu khống, chụp mũ, nói xấu sau lưng nhau... chỉ vì những điều nhỏ nhặt như cảm thấy thua kém người khác hay không đạt được những gì mình muốn, nhất là khi có được phương tiện truyền thông trong tay. Việc tranh nhau chức vụ chủ tịch Văn bút VNHN giữa các ông Viên Linh, Sơn Tùng, Đặng Văn Nhâm... cuối thập niên 90 là một bằng chứng rõ rệt.
Người Việt hải ngoại hầu như chỉ kết hợp được với nhau khi có những biến động lớn, như vụ Trần Trường, vào năm 1999, treo cờ đỏ sao vàng và hình ông Hồ Chí Minh trong tiệm bán và cho thuê phim video, đĩa nhạc... mà ông Trường sở hữu, hay là vụ biểu tình phản đối báo Người Việt in hình chậu rửa chân cho mấy người làm nail có hình cờ vàng ba sọc đỏ hoặc những cuộc biểu tình chống mấy ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết qua Mỹ...khoe “Duyên Dáng Việt Nam”, vận động hội nhập vào WTO hoặc vụ phản đối nghị viên Madison Nguyễn định đổi tên Little Sàigòn và mới nhất là cuộc biểu tình phản đối cuộc triển lãm tranh và văn học nghệ thuật VAALA...
Khi những sự việc đó trôi qua hoặc chìm xuống rồi, thì... ai về nhà nấy. Còn lo cơm áo, bill, mortgage, xe, điện, nước, telephone... Ôi chao, đủ thứ, tối tăm mặt mũi chứ bộ chơi sao?
Dĩ nhiên! Đi biểu tình vậy là... may rồi, muốn gì nữa? Bỏ ăn chơi, bỏ việc nhà cuối tuần, bỏ shopping... tham gia đóng góp vậy là quá sức rồi. Thêm nữa ai chịu cho thấu?
Nhưng nếu có ai đó tò mò, lấy một tờ báo tiếng Việt hay thông cáo kêu gọi các cuộc biểu tình đọc, sẽ thấy danh sách các hội đoàn, tổ chức... tham dự dài... ngoằn ngoèo, dài thậm thượt, dài... lê thê, dài... mút chỉ cà tha. Đọc không cách chi mà nhớ hết được, nhưng nếu chịu khó suy nghĩ hay hồi tưởng...chút chút, thì chắc chắn sẽ nhận ra rằng nhiều hội đoàn, tổ chức trong cái danh sách đó mỗi năm hoạt động chừng....một lần là tối đa, hay chỉ có tên không có thực, hoặc số thành viên chỉ lèo tèo năm ba người (kể cả vợ chồng, con cái, anh chị em...). Vậy thì thành lập cho nhiều để làm gì? Nếu không là để lấy...danh, để '' Nổ '' cho lớn, cho mọi người biết rằng.....ta đây cũng (ngon lành) như ai.
Nhớ có lần nói chuyện với một anh đồng nghiệp người Đông Đức cũ, nhờ đi ăn trưa trong Kanteen thường ngồi chung bàn, riết rồi thành quen, anh là kỹ sư cơ khí bên miền Đông, khi bức tường Bá Linh sụp đổ, trôi dạt qua chỗ tui ở mần Techniker (Technician) . Một lần lại nhà ảnh chơi, ảnh cho tui coi cái bằng tốt nghiệp rồi vui vẻ nói:
Gut! Hauptsache habe ich eine Arbeit und verdienne gut genug fuer meine Familie. Ingenieur oder nicht ist nicht zu wichtig.
(Tốt! Chuyện chính là tôi có một việc làm và kiếm đủ tiền cho gia đình. Kỹ sư hay không, không quan trọng lắm).
Anh bạn Đức này đúng là thật thà quá, chưa học được cách làm pháo của dân Việt Nam. Nghĩ lại tui cũng thấy ngượng với ảnh, vì xét ra mình cũng thuộc loại “nổ” chẳng kém ai. Đi làm lao động, lương chỉ cao hơn lương mấy người làm ở trong Mc Donald không tới một Euro/giờ mà ai hỏi tới cũng làm bộ (khiêm nhường) bỏ nhỏ, “Tui làm việc lãnh lương AT (Ausser Tarif) anh/chị ạ. Năm 70.000 Euro, chưa kể tiền thưởng cuối năm.”
Dĩ nhiên Đạt Lang tui sức mấy mà dám “bẹc cà na” với anh đồng nghiệp Đức kia, ảnh chỉ nghe vài câu tiếng Đức (học mà không cần đến trường từ hồi còn... ở Việt Nam) là biết tỏng mình thuộc loại nào rồi.
Nhưng từ nguyên nhân sâu xa nào mà người Việt chúng ta thích “nổ”? Vì tự ti hay tự tôn mặc cảm? Để che dấu sự thuakém của mình hay để cảm thấy tự “sướng” khi có cảm giác người khác nể phục mình?
Nhớ lại thời gian sau ngày 30/04/75, khi những người lính QĐND miền Bắc mới vào Sàigòn, người dân miền Nam đã có nhiều chuyện cười về những quả pháo điện quang toàn hồng như: Ti vi chạy đầy đường, trữ lượng mỏ dầu hỏa của ta lớn như con voi trong khi trữ lượng tất cả các mỏ dầu trên thế giới cộng lại chỉ bằng con tem dán trên lưng con voi, Nhật Bản đang định mua khói nhà máy của ta, cứ một tàu khói đổi một tàu máy cày Kubota...
Sang đến thập niên 90, khi khúc ruột (non) ngoài ngàn dặm bắt đầu... chuyển động thì bệnh nổ... “lây lan” sang một số người một thời là... “ma cô, đĩ điếm” về thăm quê hương (là chùm khế ngọt). Rất nhiều Việt kiều về VN lúc đó, không bác sĩ, kỹ sư... thì chí ít cũng là... chủ hãng, chủ tiệm..., ít thấy ai nói qua Mỹ đi cắt cỏ, rửa chén, phục vụ trong nhà hàng, làm nail, làm tóc hay là assembler hãng điện tử...
Thế mới biết Việt Nam ta (trong nước) toàn anh hùng và (hải ngoại) toàn trí thức. Tuy nhiên lần này bệnh “nổ” không làm cho người nghe cười mà làm cho họ thấy nể nang, kính phục...mấy cây “pháo đại” vô cùng.
Gần nhất là bệnh nổ trên DCVOnline, ở đây cũng không thiếu gì những cây pháo đại hay điện quang toàn hồng. Nhiều nickname làm thơ, góp ý kiến chửi bới cộng sản tàn tệ, khoe khoang tầu ngầm với đầu đạn nguyên tử... sẵn sàng đem thả xuống đầu cộng sản Hà Nội, hay hàng ngày than khóc, kêu gào tự do, dân chủ, đa nguyên cho hơn 84 triệu dân Việt Nam trong nước nghe muốn điếc con ráy, tưởng chừng như cộng sản Việt Nam sắp sụp đổ hay bị đánh tan tành tới nơi. Nhiều khi Đạt Lang tui đọc thấy hồ hởi, phấn khởi, nằm tưởng tượng đến ngày tàn của CSVN mà sướng lịm cả người, nhưng chỉ trong vài giây đã bàng hoàng tỉnh mộng nhận ra rằng:
“Trương đậu hũ, Lý đậu hũ!
Đêm kề gối mộng, nghìn mơ...
Sáng ra nấu đậu như xưa, khác gì?”
Cho dù là vì lý do nào đi chăng nữa thì máu thích nổ ngay từ đầu đã là chướng ngại cho sự đoàn kết. Mang tâm lý bất phục kẻ khác khiến cho ta khó có sự thông cảm khi đối thoại, ta sẽ không lắng nghe, sẽ dễ chê bai, dè bỉu, bôi bác... những ý kiến hay việc làm của người khác ngay từ đầu, cho dù những ý kiến hoặc việc làm đó sẽ đem đến những kết quả thực tiễn, đáng khen, có lợi cho tập thể.
Khi đã không lắng nghe, không thông cảm, không tôn trọng nhau, người ta khó có thể kết hợp với nhau, đặt mục tiêu, quyền lợi của tập thể lên trên mục đích, quyền lợi cá nhân. Đi xa hơn phải biết đặt quyền lợi đất nước, dân tộc lên trên quyền lợi tổ chức, đảng phái, tôn giáo...
Yếu tố thứ ba làm cản trở sự đoàn kết là tôn giáo. Việt Nam có hai tôn giáo chính là Phật giáo và Thiên chúa giáo. Phật giáo (không kể những người chỉ thờ cúng ông bà) có con số tín đồ lớn hơn nhưng là một tôn giáo với tổ chức lỏng lẻo, trong lúc Thiên chúa giáo ít tín hữu hơn, chưa đến 10% tổng số dân nhưng tổ chức rất chặt chẽ, hoạt động hầu như luôn có sự chỉ đạo của tòa thánh Vatican. Trong suốt cuộc chiến Quốc Cộng, những biến động chính trị ở miền Nam hầu hết đều có sự tham gia của hai tôn giáo lớn này. Ngoại trừ một số ít cao tăng, thật sự vì đạo, đời, đất nước, dân tộc... những người lãnh đạo tinh thần hai tôn giáo lớn này chỉ nhằm mục đích tranh dành ảnh hưởng, quyền lực cho tôn giáo mình. Họ quên đi một điều: trước khi là Phật tử hay con chiên của Chúa, họ là người Việt Nam.
Nếu mục đích thay đổi chế độ cộng sản Hà Nội không phải vì tự do, dân chủ, đa nguyên cho toàn dân Việt Nam mà chỉ để phục vụ cho quyền lợi hay sự bành trướng tôn giáo, chắc chắn những người lãnh đạo tinh thần của hai tôn giáo trên khó bắt tay được với nhau và sẽ không bao giờ nhận được sự ủng hộ của toàn dân.
Lẽ tất nhiên còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến sự đoàn kết, nhưng xin ngừng ở đây vì bài viết tương đối đã dài.
Ngày hôm nay đất nước đang đứng bên bờ vực thẳm với sự xâm lăng trắng trợn của Tầu cộng qua những chuyện Hoàng Sa-Trường Sa, việc cắm lại cột mốc biên giới, dựng lại Ải Nam quan, và mới đây nhất là việc khai thác quặng Bô-xít (Bauxite) để sản xuất nhôm ở Tây Nguyên. Sau việc khai thác Bô-xít này, chắc chắn sẽ còn nhiều sự việc khác diễn tiến bất lợi hơn cho Việt Nam.
Chúng ta phải làm gì khi đảng cộng sản Việt Nam với thái độ ươn hèn, khiếp nhược của 15 người trong Bộ Chính Trị và 3 triệu đảng viên, xem quyền lợi bản thân, gia đình, đảng phái quan trọng hơn tiền đồ dân tộc, đất nước?
Hãy suy nghĩ tích cực hơn, mạnh dạn truyền bá thông tin (khai thác Bô-xít) này đến từng người mỗi khi có dịp trò chuyện, tâm tình. Hãy gác bỏ những tị hiềm cá nhân, những khác biệt về chính kiến. Các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo hãy đặt quyền lợi đất nước, dân tộc lên trên sự gia tăng tín đồ, bành trướng đạo pháp...
Những người nắm phương tiện truyền thông, media... hãy ngừng chửi bới, nhục mạ, chỉ trích nhau mà nên tìm cách phổ biến những tin tức nguy hại đến dân tộc, đất nước bị chính quyền bưng bít, che dấu, hãy đánh động quần chúng lên tiếng. Các bạn trẻ sinh viên, học sinh trong các trường trung, đại học trong cũng như ngoài nước hãy bàn luận, tham khảo ý kiến nhau cần phải làm gì trong thời điểm này?
Riêng đối với các hội đoàn, tổ chức, những bạn trẻ ở hải ngoại, hãy tìm đánh địch bất cứ khi nào có dịp (proactive), đừng chờ khi bị tấn công mới trả đòn (reactive). Hãy tổ chức những buổi trình diễn nghệ thuật, văn hoá trưng bày tội ác CS, những chuyện tham nhũng, hối lộ, hèn nhát... của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, hãy dùng ngay chiêu thức của VAALA mà đánh trả hoặc tấn công một cách ôn hòa nhưng hiệu quả.
Thạch Đạt Lang
Thạch Đạt Lang
Cứ mỗi lần đi dự những buổi hội thảo hay sinh hoạt cộng đồng, nghe ai đó kêu gọi, nhắc đến chữ đoàn kết là Đạt Lang tui nhớ đến bản nhạc “Kết Đoàn! Chúng ta là sức mạnh, đoàn kết ta bền vững...”bị sửa lời như trên và rồi không khỏi tủm tỉm cười.
Cười vì lời nhạc sửa đổi và cười vì dường như càng kêu gọi đoàn kết thì dân Việt nam lại...càng chia rẽ hơn.Có đúng như vậy hay không? Nếu đúng(tức là không trật) thì tại sao lại có “sự cố” như dzậy?
Tui có đọc trong một cuốn sách ở đâu đó nhận xét (rỉ) của một người Nhật về người Việt Nam như sau:
Mỗi người Việt Nam là một viên kim cương (Thứ thìệt nghe, khai thác từ hầm mỏ bên Sierra Leon đem về hải cảng Antwerpen bên Bỉ, cắt gọt đàng hoàng, không phải loại kim cương nhân tạo), mỗi người Nhật là một cục đất sét (cũng thứ thiệt luôn).
Kim cương thì rất quý giá, lúc nào cũng sáng chói, lấp lánh dưới ánh sáng, còn đất sét thì dơ bẩn, giá trị rất ít, nếu không muốn nói rằng chẳng có gì ngoài việc dùng làm vật liệu sản xuất bình, lọ... sành, sứ và ở đâu cũng có. Tuy nhiên kim cương không bao giờ dính lại được với nhau, đất sét ngược lại, chỉ cần chút nước là 3, 4 cục riêng rẽ sẽ trở thành một.
Mama Mia! Tên Nhật viết quyển sách ba điều bốn chuyện này coi bộ cũng ba que, xỏ lá tợn. Hắn làm bộ khen, bơm dân Việt Nam mình cạch cạch, thổi lên tuốt ngọn cây, ngon lành quá cỡ thợ mộc(dĩ nhiên từng người một thôi); rồi đùng một cái, rút kiếm Samurai chặt... bụp một phát, chửi xéo dân mình là không biết đoàn kết để tạo thành sức mạnh của tập thể.
Đat Lang tui đọc mà tức... quá sức lẽ mình, định xé nát quyển sách đang cầm trên tay, nhưng chợt nhớ ra là sách mượn, không có tiền mua cuốn khác đền, nên kịp ngừng lại. Tiền lương bà xã kiểm soát từng Euro, Konto online check hàng ngày, mất một đồng là bã “phát hiện” được ngay, làm sao dám nhiếm ra một ít mà mua, mà nếu có nhiếm được thì... mua thứ khác đáng giá hơn... sách, báo chứ? Đúng hông? Không đúng là bà...bắn tui đi.
Thôi! xin trở lại vấn đề. Ngẫm nghĩ, thấy anh Nhật nói đúng chứ không sai, hay có sai thì cũng... chút chút thôi.
Người Việt chúng ta đứng riêng rẽ thì rất thành công, những tấm gương như kỹ sư Dương Nguyệt Ánh chế tạo bom áp nhiệt (Thermobaric) , giáo sư Nguyễn Xuân Vinh làm việc cho NASA, Trịnh Tuệ với 7 bằng kỹ sư (về Việt Nam thành... 7 bằng tiến sĩ) và mới nhất đây ở Orleans, Joseph Cao đắc cử vào Hạ viện Hoa Kỳ,... là những bằng chứng rõ rệt nhất. Tuy nhiên, đến ngày hôm nay người viết vẫn chưa được thấy một công ty, một tổ hợp, một nhóm nhà khoa học nghiên cứu... mang tên Việt Nam có được một thành công rực rỡ đáng kể. Việc kết hợp khối người Việt hải ngoại thành một lực lượng đồng nhất (đồng nhất chứ không phải duy nhất) để có thể tạo được những thành quả to lớn mang tầm vóc quốc tế, dường như là một việc bất khả thi.
Có nhiều yếu tố ngăn chận sự đoàn kết của người Việt, thử điểm qua vài yếu tố chính.
Theo sự nhận xét của tui, yếu tố quan trọng thứ nhất khiến người Việt ít đoàn kết là tính ích kỷ, không biết hi sinh quyền lợi nhỏ của bản thân để đạt được một điều lợi chung lớn hơn, mà bản thân mình cũng (sẽ) được nhiều hơn.
Một thí dụ điển hình tui được biết, do một anh bạn là kỹ sư thiết kế (design), đồng thời làm việc trong Betriebsrat (công đoàn IG Metall Industriegewerkscha ft Metall, “Industrial Union of Metalworkers”) của một hãng chế tạo xe hơi ở Đức kể lại. Anh cho biết chưa đến 5% tổng số người Việt trong hãng tham gia thành đoàn viên công đoàn, trong khi so với các dân tộc khác(không kể Đức) như Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), Nam Tư (Yugoslavia) hay Tây Ban Nha (Spain), số đoàn viên bao giờ cũng là 50-70%, thậm chí có nhà máy lên tới 80% công nhân viên là đoàn viên công đoàn.
Tui hỏi lý do, anh cho biết người Việt trong hãng anh làm không sốt sắng tham gia công đoàn vì phải đóng nguyệt liễm 1% tiền lương Brutto (Gross income). Nhiều người không gia nhập thì thôi, lại còn lý luận rằng không là đoàn viên nhưng khi công đoàn tranh đấu cho công nhân viên được lên lương, họ vẫn được hưởng, vậy thì dại gì mà mỗi tháng phải mất vài chục Euro? Vậy thì những người đoàn viên công đoàn đều ngu dại hết hay sao?
Sau khi nghe chuyện đó, tui tò mò đọc sách, tìm hiểu về sự hình thành và quá trình tranh đấu của công đoàn IG Metall Đức. Qua đó mới biết rằng, để đạt được thành quả ngày hôm nay cho công nhân viên ngành sắt thép Đức mỗi năm được hưởng 6 tuần lễ nghỉ Urlaub (Vacation), tuần làm việc 35 tiếng (hiện nay vì tình hình kinh tế, nhiều hãng đã tăng trở lại 37,5 hay 40 tiếng/tuần), được tiếp tục trả lương trong 6 tuần lễ bệnh đầu tiên trong năm (sau đó qũy bảo hiểm sức khỏe sẽ trả tiếp) công đoàn đã phải tranh đấu trường kỳ trong nhiều năm,khi đàm phán với giới chủ nhân, khi đình công làm áp lực...mỗi năm từng bước một. Tiền đâu họ hoạt động nếu không có nguyệt liễm của đoàn viên?
Yếu tố thứ hai là lòng ganh tị, hám danh, tranh giành, hơn thua nhau những chuyện không đáng. Sự ganh tị thường ngấm ngầm, không bộc lộ ra ngoài nhưng âm ỉ, kéo dài và sẽ bùng nổ khi có dịp. Người ta dễ dàng bôi bẩn, vu khống, chụp mũ, nói xấu sau lưng nhau... chỉ vì những điều nhỏ nhặt như cảm thấy thua kém người khác hay không đạt được những gì mình muốn, nhất là khi có được phương tiện truyền thông trong tay. Việc tranh nhau chức vụ chủ tịch Văn bút VNHN giữa các ông Viên Linh, Sơn Tùng, Đặng Văn Nhâm... cuối thập niên 90 là một bằng chứng rõ rệt.
Người Việt hải ngoại hầu như chỉ kết hợp được với nhau khi có những biến động lớn, như vụ Trần Trường, vào năm 1999, treo cờ đỏ sao vàng và hình ông Hồ Chí Minh trong tiệm bán và cho thuê phim video, đĩa nhạc... mà ông Trường sở hữu, hay là vụ biểu tình phản đối báo Người Việt in hình chậu rửa chân cho mấy người làm nail có hình cờ vàng ba sọc đỏ hoặc những cuộc biểu tình chống mấy ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết qua Mỹ...khoe “Duyên Dáng Việt Nam”, vận động hội nhập vào WTO hoặc vụ phản đối nghị viên Madison Nguyễn định đổi tên Little Sàigòn và mới nhất là cuộc biểu tình phản đối cuộc triển lãm tranh và văn học nghệ thuật VAALA...
Khi những sự việc đó trôi qua hoặc chìm xuống rồi, thì... ai về nhà nấy. Còn lo cơm áo, bill, mortgage, xe, điện, nước, telephone... Ôi chao, đủ thứ, tối tăm mặt mũi chứ bộ chơi sao?
Dĩ nhiên! Đi biểu tình vậy là... may rồi, muốn gì nữa? Bỏ ăn chơi, bỏ việc nhà cuối tuần, bỏ shopping... tham gia đóng góp vậy là quá sức rồi. Thêm nữa ai chịu cho thấu?
Nhưng nếu có ai đó tò mò, lấy một tờ báo tiếng Việt hay thông cáo kêu gọi các cuộc biểu tình đọc, sẽ thấy danh sách các hội đoàn, tổ chức... tham dự dài... ngoằn ngoèo, dài thậm thượt, dài... lê thê, dài... mút chỉ cà tha. Đọc không cách chi mà nhớ hết được, nhưng nếu chịu khó suy nghĩ hay hồi tưởng...chút chút, thì chắc chắn sẽ nhận ra rằng nhiều hội đoàn, tổ chức trong cái danh sách đó mỗi năm hoạt động chừng....một lần là tối đa, hay chỉ có tên không có thực, hoặc số thành viên chỉ lèo tèo năm ba người (kể cả vợ chồng, con cái, anh chị em...). Vậy thì thành lập cho nhiều để làm gì? Nếu không là để lấy...danh, để '' Nổ '' cho lớn, cho mọi người biết rằng.....ta đây cũng (ngon lành) như ai.
Nhớ có lần nói chuyện với một anh đồng nghiệp người Đông Đức cũ, nhờ đi ăn trưa trong Kanteen thường ngồi chung bàn, riết rồi thành quen, anh là kỹ sư cơ khí bên miền Đông, khi bức tường Bá Linh sụp đổ, trôi dạt qua chỗ tui ở mần Techniker (Technician) . Một lần lại nhà ảnh chơi, ảnh cho tui coi cái bằng tốt nghiệp rồi vui vẻ nói:
Gut! Hauptsache habe ich eine Arbeit und verdienne gut genug fuer meine Familie. Ingenieur oder nicht ist nicht zu wichtig.
(Tốt! Chuyện chính là tôi có một việc làm và kiếm đủ tiền cho gia đình. Kỹ sư hay không, không quan trọng lắm).
Anh bạn Đức này đúng là thật thà quá, chưa học được cách làm pháo của dân Việt Nam. Nghĩ lại tui cũng thấy ngượng với ảnh, vì xét ra mình cũng thuộc loại “nổ” chẳng kém ai. Đi làm lao động, lương chỉ cao hơn lương mấy người làm ở trong Mc Donald không tới một Euro/giờ mà ai hỏi tới cũng làm bộ (khiêm nhường) bỏ nhỏ, “Tui làm việc lãnh lương AT (Ausser Tarif) anh/chị ạ. Năm 70.000 Euro, chưa kể tiền thưởng cuối năm.”
Dĩ nhiên Đạt Lang tui sức mấy mà dám “bẹc cà na” với anh đồng nghiệp Đức kia, ảnh chỉ nghe vài câu tiếng Đức (học mà không cần đến trường từ hồi còn... ở Việt Nam) là biết tỏng mình thuộc loại nào rồi.
Nhưng từ nguyên nhân sâu xa nào mà người Việt chúng ta thích “nổ”? Vì tự ti hay tự tôn mặc cảm? Để che dấu sự thuakém của mình hay để cảm thấy tự “sướng” khi có cảm giác người khác nể phục mình?
Nhớ lại thời gian sau ngày 30/04/75, khi những người lính QĐND miền Bắc mới vào Sàigòn, người dân miền Nam đã có nhiều chuyện cười về những quả pháo điện quang toàn hồng như: Ti vi chạy đầy đường, trữ lượng mỏ dầu hỏa của ta lớn như con voi trong khi trữ lượng tất cả các mỏ dầu trên thế giới cộng lại chỉ bằng con tem dán trên lưng con voi, Nhật Bản đang định mua khói nhà máy của ta, cứ một tàu khói đổi một tàu máy cày Kubota...
Sang đến thập niên 90, khi khúc ruột (non) ngoài ngàn dặm bắt đầu... chuyển động thì bệnh nổ... “lây lan” sang một số người một thời là... “ma cô, đĩ điếm” về thăm quê hương (là chùm khế ngọt). Rất nhiều Việt kiều về VN lúc đó, không bác sĩ, kỹ sư... thì chí ít cũng là... chủ hãng, chủ tiệm..., ít thấy ai nói qua Mỹ đi cắt cỏ, rửa chén, phục vụ trong nhà hàng, làm nail, làm tóc hay là assembler hãng điện tử...
Thế mới biết Việt Nam ta (trong nước) toàn anh hùng và (hải ngoại) toàn trí thức. Tuy nhiên lần này bệnh “nổ” không làm cho người nghe cười mà làm cho họ thấy nể nang, kính phục...mấy cây “pháo đại” vô cùng.
Gần nhất là bệnh nổ trên DCVOnline, ở đây cũng không thiếu gì những cây pháo đại hay điện quang toàn hồng. Nhiều nickname làm thơ, góp ý kiến chửi bới cộng sản tàn tệ, khoe khoang tầu ngầm với đầu đạn nguyên tử... sẵn sàng đem thả xuống đầu cộng sản Hà Nội, hay hàng ngày than khóc, kêu gào tự do, dân chủ, đa nguyên cho hơn 84 triệu dân Việt Nam trong nước nghe muốn điếc con ráy, tưởng chừng như cộng sản Việt Nam sắp sụp đổ hay bị đánh tan tành tới nơi. Nhiều khi Đạt Lang tui đọc thấy hồ hởi, phấn khởi, nằm tưởng tượng đến ngày tàn của CSVN mà sướng lịm cả người, nhưng chỉ trong vài giây đã bàng hoàng tỉnh mộng nhận ra rằng:
“Trương đậu hũ, Lý đậu hũ!
Đêm kề gối mộng, nghìn mơ...
Sáng ra nấu đậu như xưa, khác gì?”
Cho dù là vì lý do nào đi chăng nữa thì máu thích nổ ngay từ đầu đã là chướng ngại cho sự đoàn kết. Mang tâm lý bất phục kẻ khác khiến cho ta khó có sự thông cảm khi đối thoại, ta sẽ không lắng nghe, sẽ dễ chê bai, dè bỉu, bôi bác... những ý kiến hay việc làm của người khác ngay từ đầu, cho dù những ý kiến hoặc việc làm đó sẽ đem đến những kết quả thực tiễn, đáng khen, có lợi cho tập thể.
Khi đã không lắng nghe, không thông cảm, không tôn trọng nhau, người ta khó có thể kết hợp với nhau, đặt mục tiêu, quyền lợi của tập thể lên trên mục đích, quyền lợi cá nhân. Đi xa hơn phải biết đặt quyền lợi đất nước, dân tộc lên trên quyền lợi tổ chức, đảng phái, tôn giáo...
Yếu tố thứ ba làm cản trở sự đoàn kết là tôn giáo. Việt Nam có hai tôn giáo chính là Phật giáo và Thiên chúa giáo. Phật giáo (không kể những người chỉ thờ cúng ông bà) có con số tín đồ lớn hơn nhưng là một tôn giáo với tổ chức lỏng lẻo, trong lúc Thiên chúa giáo ít tín hữu hơn, chưa đến 10% tổng số dân nhưng tổ chức rất chặt chẽ, hoạt động hầu như luôn có sự chỉ đạo của tòa thánh Vatican. Trong suốt cuộc chiến Quốc Cộng, những biến động chính trị ở miền Nam hầu hết đều có sự tham gia của hai tôn giáo lớn này. Ngoại trừ một số ít cao tăng, thật sự vì đạo, đời, đất nước, dân tộc... những người lãnh đạo tinh thần hai tôn giáo lớn này chỉ nhằm mục đích tranh dành ảnh hưởng, quyền lực cho tôn giáo mình. Họ quên đi một điều: trước khi là Phật tử hay con chiên của Chúa, họ là người Việt Nam.
Nếu mục đích thay đổi chế độ cộng sản Hà Nội không phải vì tự do, dân chủ, đa nguyên cho toàn dân Việt Nam mà chỉ để phục vụ cho quyền lợi hay sự bành trướng tôn giáo, chắc chắn những người lãnh đạo tinh thần của hai tôn giáo trên khó bắt tay được với nhau và sẽ không bao giờ nhận được sự ủng hộ của toàn dân.
Lẽ tất nhiên còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến sự đoàn kết, nhưng xin ngừng ở đây vì bài viết tương đối đã dài.
Ngày hôm nay đất nước đang đứng bên bờ vực thẳm với sự xâm lăng trắng trợn của Tầu cộng qua những chuyện Hoàng Sa-Trường Sa, việc cắm lại cột mốc biên giới, dựng lại Ải Nam quan, và mới đây nhất là việc khai thác quặng Bô-xít (Bauxite) để sản xuất nhôm ở Tây Nguyên. Sau việc khai thác Bô-xít này, chắc chắn sẽ còn nhiều sự việc khác diễn tiến bất lợi hơn cho Việt Nam.
Chúng ta phải làm gì khi đảng cộng sản Việt Nam với thái độ ươn hèn, khiếp nhược của 15 người trong Bộ Chính Trị và 3 triệu đảng viên, xem quyền lợi bản thân, gia đình, đảng phái quan trọng hơn tiền đồ dân tộc, đất nước?
Hãy suy nghĩ tích cực hơn, mạnh dạn truyền bá thông tin (khai thác Bô-xít) này đến từng người mỗi khi có dịp trò chuyện, tâm tình. Hãy gác bỏ những tị hiềm cá nhân, những khác biệt về chính kiến. Các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo hãy đặt quyền lợi đất nước, dân tộc lên trên sự gia tăng tín đồ, bành trướng đạo pháp...
Những người nắm phương tiện truyền thông, media... hãy ngừng chửi bới, nhục mạ, chỉ trích nhau mà nên tìm cách phổ biến những tin tức nguy hại đến dân tộc, đất nước bị chính quyền bưng bít, che dấu, hãy đánh động quần chúng lên tiếng. Các bạn trẻ sinh viên, học sinh trong các trường trung, đại học trong cũng như ngoài nước hãy bàn luận, tham khảo ý kiến nhau cần phải làm gì trong thời điểm này?
Riêng đối với các hội đoàn, tổ chức, những bạn trẻ ở hải ngoại, hãy tìm đánh địch bất cứ khi nào có dịp (proactive), đừng chờ khi bị tấn công mới trả đòn (reactive). Hãy tổ chức những buổi trình diễn nghệ thuật, văn hoá trưng bày tội ác CS, những chuyện tham nhũng, hối lộ, hèn nhát... của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, hãy dùng ngay chiêu thức của VAALA mà đánh trả hoặc tấn công một cách ôn hòa nhưng hiệu quả.
Thạch Đạt Lang
Sau một lần về Việt Nam
Gió mùa đông bắc làm em khóc
Hà Nội, anh ơi phố rất gầy! (tmt)
Tôi trở về nhà sau một chuyến bay dài đỏ mắt. Không biết ai là người đầu tiên đặt tên cho những chuyến bay đêm là 'đỏ mắt' thật là hay. Chập chờn giữa thức và ngủ cả mười ba, mười bốn tiếng thì chắc chắn mắt xanh như cô Kiều của cụ Nguyễn Du cũng thành mắt đỏ. Chữ nghĩa mang ảnh hưởng đến đời sống tình cảm của ta rất nhiều, có những chữ mình không thể nào thay bằng chữ khác được. Mỗi lần đi, về giữa Việt Nam và Mỹ tôi vẫn lúng túng giữa về Mỹ, hay về Việt Nam . Việt Nam là quê hương của mình thì mình về là đúng rồi, nhưng ở Mỹ có một mái nhà, mảnh vườn, cái bếp của mình thì mình nói là về đâu có sai. Nhưng sao lúc từ giã Việt Nam, chào những người thân quen, nói tiếng trở về Mỹ lòng vừa ấm áp vừa thấy buồn buồn.
Ba mươi năm sống ở Mỹ mà vẫn chưa mờ nỗi nhớ quê hương, vẫn bất chợt một hôm nào đó, không cần phải là có nắng thu hay có mưa đông, chỉ là một buổi chiều như tất cả mọi buổi chiều, đang ngồi uốạng ly trà bỗng khựng lại nhớ về một buổi chiều nào rất xa xôi ở quê nhà thăm thẳm, về cái xóm cũ, về cái ngõ vào nhà, về cái vũng nước đọng ở cái ổ gà đâu đó, về cây trứng cá, về cái bể nước mưa. Rồi lan man nhớ về trường cũ, về buổi hẹn hò đầu tiên, người yêu thứ nhất, người tình thứ hai. Chao ôi, nhớ ơi là nhớ! Nước mắt ứa ra, bỗng thèm được về quê ngay lập tức. Thế mà về Việt Nam đến tuần lễ thứ ba là bắt đầu nhớ về cái nhà ở Mỹ. Không biết mấy chậu cây có ai tưới hộ không? Mùa Ðông này tuyết có rơi không? Nhớ về mấy người thân, mấy người bạn đang mong mình về, rồi lại nhớ về cái sạch sẽ, cái tiện nghi và chỉ ước gì được về ngay để ngủ trên cái giường của mình thay vì phải ngủ ở khách sạn.
Chao ôi! chỉ một chữ về mà có trăm điều muốn nói.
Anh Sơn, ông anh họ của tôi, du học từ thập niên 60. Bây giờ ngoài 60 tuổi, anh đã đi du lịch khắp nơi trên thế giới, anh nói:
- Bao giờ về Việt Nam tôi vẫn thích nhất.
Tôi nói :
- Tại vì Việt Nam là quê hương của mình, nên tự nhiên mình yêu. Thế thôi!
Anh bảo:
-Ðúng vậy!
Chúng ta chắc ai cũng yêu quê hương của mình, tự nhiên như yêu cha mẹ, con, cháu hay yêu chính bàn tay, bàn chân mình. Thế thôi! Thật là dản dị. Thế là anh em rủ nhau thu xếp về Việt Nam . Về Việt Nam vào dịp cuối năm, vào dịp thiên hạ kéo nhau 'về quê ăn tết' rất là đông nên phải mua vé từ tháng sáu.
Tôi cứ tính tới tính lui xem phải đem những gì? Vì lần này đem theo cả chồng con, sẽ dự tính đi nhiều nơi nên không thể đem theo những thùng quần áo lạnh về Bắc cho họ hàng ở quê được. Thôi đành giữ lại chờ dịp sau. Cứ cách hai, ba năm tôi về thăm Việt Nam một lần. Mỗi lần về lại thấy một Việt Nam đổi khác, nghe những câu chuyện khác về Việt Nam . Hai cậu con trai của tôi mới về lần thứ nhất, đã thấy xôn xao rủ nhau cuối năm trở lại không có bố mẹ đi theo. Chắc trong máu hai cậu, những giọt nào thuộc về mẹỳ cho mình đang dành chỗ đứng.
Chúng tôi đi trong một Hà Nội đầy gió, người Hà Nội đặt tên cho gió này là Gió Mùa Ðông Bắc. Có không biết bao nhiêu thi sĩ, bao nhiêu nhạc sĩ đã xúc động về những cơn gió này và viết ra bao nhiêu tác phẩm làm thăng hoa đời sống con người để ngay cả khi đang sống trong một hoàn cảnh khó khăn nhất, con người vẫn tìm ra cái đẹp của nơi mình đang sống. Khí hậu của tháng Mười Một và tháng Chạp âm lịch là khí hậu lạnh và đẹp nhất trong năm của miền Bắc. Gió hay trở lạnh đột ngột như một người đi xa bỗng trở về không báo trước. Có thể mới buổi sáng trời còn rất ấm không có gì báo hiệu là một ngày lạnh, nhưng đến trưa gió ở đâu bỗng kéo về chật phố. Gió chen chúc vào đám đông đang đi trên đường, gõ cửa những ngôi nhà, hàng quán, ngồi sát vào những người buôn bán hai bên vỉa hè rất là hồn nhiên. Chẳng cần nói năng gì cả. Chỉ cần có mặt, tôi đến, tôi ngồi xuống và tôi ở lại. Giống như Caesar ngày trước I came, I saw, I conquered. Thế là mọi người chạy ùa đi mua áo ấm để ngồi chung với gió.
Chúng tôi đã được đi, được ngồi chung với Gió Mùa Ðông Bắc trong suốt mười ngày ở Hà Nội.
Bây giờ ngồi đây nhớ Gió Mùa Ðông Bắc, muốn khóc.
Suốt từ Sài Gòn, đi xe ca theo tour Tiền Giang, Hậu Giang, Phan Thiết, Nha Trang, Hà Nội rồi bay ra Phú Quốc, ta nhìn thấy sự phồn thịnh luôn luôn đi bên cạnh nghèo đói một cách rất rõ ràng.
Miền Bắc, miền Trung ở quê vẫn còn khổ và nhiều người rất nghèo trong khi ở thành phố Sài Gòn, Hà Nội, hàng đêm người ta đổ xô ra phố tiêu tiền (không biết tiền ở đâu ra mà nhiều thế!) Ở những nhà hàng, những quán ăn thì người trong nước tiêu phung phí hơn Việt Kiều. Thử vào một chỗ ăn chơi như vào bar chẳng hạn, thì có thể chỉ nhìn chai rượu gọi sẽ nhận ngay ra ai là Việt Kiều ai là Việt Việt (chữ một cậu cháu tôi dùng để gọi người trong nước). Việt Kiều xài sang gọi chai rượu 150 mỹ kim, trong khi đó Việt Việt gọi chai rượu 1.500 mỹ kim. Tôi quê mùa, hỏi cháu:
- Chai rượu gì mà đắt vậy?
- Con không biết, nhưng thấy họ trả 1.500 mỹ kim cho chai rượu; họ đi năm, sáu người tiêu một buổi tối năm ngàn đô là chuyện nhỏ.
Nghe nói một tối tiêu năm ngàn đô là chuyện nhỏ thì chắc ai cũng biết cái xuất xứ của những số tiền nhỏ đó thật là mù mịt.
Ăn uống ở các tiệm bây giờ cũng đắt hơn gấp năm sáu lần của ba năm trước và không ngon. Trung bình chúng tôi ăn một bữa cho một người là từ ba cho đến bẩy mỹ kim. So với ở Mỹ thì rẻ, nhưng với tiền lương của một người trung bình là 700.000 đồngViệt- khoảng hơn 40.00 mỹ kim một tháng- thì làm sao trả được.
Tôi tự hỏi, Sài Gòn bây giờ hình như không ai nấu ăn trong nhà hay sao mà tối nào các tiệm, các quán cũng tấp nập khách ăn? Bao giờ nhìn chung quanh các bàn cũng rất nhiều người địa phương ngồi ăn, phần đông là giới trẻ, và trung niên. Trên bàn đầy ắp thức ăn và bia, nước ngọt.
Lương của một công chức không biết con số thật là bao nhiêu?
Tôi có một người em họ xa ở Hà Nội, làm phó giám đốc một công ty nhà nước gì không rõ mà anh đi xe BMW, khi chúng tôi tới thì vợ đang du lịch ở Singapore, con thì đi du học ở Mỹ, một năm hết ba mươi ngàn Mỹ Kim tiền học, chưa kể chi phí ăn ở. Nghe mà giật mình.
Theo cách anh nói chuyện thì ở Việt Nam bây giờ du học tự túc ở Pháp và Ðức như một phong trào cho các con ông lớn. Học giỏi hay không thì chưa rõ, nhưng mà đã là con của những ông lớn thì phải xuất ngoại, phải du học. Sang bên đó không học được thì ở chơi một thời gian, may mắn kiếm được người lấy thì ở lại, không thì về.
Nghe anh nói, tôi nhớ đến một ca làm việc của mình ở Mỹ. Khi tôi đến thăm tại gia cho một sản phụ được hưởng Phiếu Y Tế (Medical Coupon) tôi mới biết đó là một sinh viên Việt Nam du học tự túc, có bầu và ở lại. Cô là sinh viên du học mà không nói được một câu Anh Ngữ nào. Căn nhà cô ở thuê là một apartment water front. Tôi hỏi tiền đâu mà cô trả tiền nhà thì được cô ạ cho biết căn apt. này cha mẹ cô chuyển tiền sang mua, trả bằng tiền mặt, cho một người bà con có quốc tịch Mỹ đứng tên. Nghe mà giật mình, vì tôi biết căn apartermen đó ở Seattle ít nhất là 400.000 Mỹ kim, bởi gần sát mặt hồ.
Khi có những người giầu không rõ xuất xứ lợi tức như thế thì người nghèo có xuất xứ rất rõ ràng. Họ sống bằng những món tiền kiếm được hàng ngày rất khiêm tốn. Nếu đi dọc theo bờ hồ Hoàn Kiếm ta sẽ luôn luôn bắt gặp những người (một cụ già, hay một đứa trẻ đang tuổi đi học) bán vé số, hoặc nước trà. Bán vé số thì lấy vé của nhà nước đi bán lại mỗi vé số giá có hai ngàn, không biết lời được bao nhiêu? Trong khi đó giá một gói xôi khoảng bốn ngàn đồng- một Mỹ kim bằng 15.900 đồng-
Vốn liếng của người bán nước trà tất cả chắc chưa đến ba Mỹ kim: Một cái ấm ủ trong cái khăn cũ kỹ, vài cái ly thủy tinh nhỏ, năm ba cái kẹo lạc, kẹo vừng. Họ ôm cái gia sản bán buôn đó trong vòng tay gầy guộc, mời khách bên hồ. Hy vọng họ kiếm đủ cơm ăn cho một ngày hôm đó.
Ngay ở trong khu phố có tấp nập khách du lịch, thỉnh thoảng ta vẫn thấy một người gánh hai cái thúng hầu như chẳng có gì trong đó, chỉ có vài ba mớ hành, mấy củ su-hào, mấy quả chanh đem đi bán. Chắc đây là những thứ kiếm được trong vườn nhà. Tiền thu về may ra đủ cho một gói xôi, hay hai chiếc bánh mì không nhân.
Có cô bé lên năm cầm từng chiếc kẹo cao su lẻ bán cho du khách, cô bé nhỏ xíu, đen thui, ốm nhách mà cái mặt tươi như một bông hoa Mười Giờ chạy theo con gái tôi, đưa cái kẹo ra mặc cả bằng thứ tiếng Mỹ ngô ngọng, thấy vừa buồn cười, vừa tội nghiệp. Cô con gái tôi trêu cho em cười bằng cách nói tiếng Việt cũng ngô ngọng với em và gần như muốn bế em lên, vì em bé xinh quá!
Ôi tuổi thơ Việt Nam ! Khi em lớn lên, em sẽ có ước vọng gì?
Ði càng về miền quê càng thấy những người nghèo. Ở những nơi ruộng nước như lối vào Tam Cốc, Bích Ðộng ở Ninh Bình hay Suối Trong, Suối Ðục ở Chùa Hương thì những người dân quê vẫn ngâm một nửa người trong nước nguyên ngày mò ốc, lưới tép kiếm ăn.. Một kí tép khoảng hai chục ngàn, ngâm nước nguyên ngày được khoảng ba đến năm kí, kiếm được 60.000 -100.000 đồng cho nguyên một gia đình bốn năm người, trong đó có cả tiền học cho con.
Trẻ con đi học cho biết đọc, biết viết rồi nghỉ vì không có tiền trả tiếp, lại đi ngâm mình dưới nước giống cha mẹ thôi. Suốt một đời họ ngâm dưới nước. Người chèo thuyền chỉ cho chúng tôi xem một vài nấm mộ chôn một nửa chìm dưới nước, nói là mộ của những ông bà cụ già suốt đời mò cua, xúc tép ở đây, họ muốn con cháu họ chôn mình như thế, vì họ đã có câu: 'Sống ngâm da, chết ngâm xương' để chỉ đời sống gắn liền với nỗi vất vả này.
Du khách Âu Châu đổ vào Việt Nam một ngày một đông hơn, sau sau vụ khủng bố11/9/2001. Cả nước sống về nguồn lợi thu nhập được của du khách. Du khách nước ngoài vào, mang theo bao sự thay đổi. Việt Kiều đóng một vai trò không nhỏ trong môi trường này.
Mỗi người đem một ít về cho thân nhân, giúp vốn buôn bán, xây lại nhà cửa, mai mối cho lấy chồng nước ngoài. Cho nên ta thấy có những con hẻm lầy lội, nghèo nàn tự nhiên mọc lên một cái nhà hai ba, thậm chí bốn từng. Cửa kính, cửa sắt đứng cô đơn như một anh hề sau khi vãn hát. Những cô gái được tân trang từ đầu đến chân để lấy chồng nước ngoài, trông như những con búp bế vô hồn. Ðã có một số cô bằng lòng lấy bất cứ ai, dù đó là anh cắt cỏ hay rửa chén bên Mỹ, bên Úc. Ngay cả một anh ăn tiền tàn tật cũng vẫn lấy. Cứ lấy để đi đã, sang đó không ở được thì bỏ. Những câu chuyện đó bây giờ không có gì là mới lạ nữa, chỉ có sang bên đó mà sau năm năm không bỏ chồng thì mới gọi là 'Lạ'. Người không có thân nhân lo cho thì sẽ rơi vào bất cứ một bàn tay không lương thiện nào đó, và đã xẩy ra bao nhiêu thảm kịch. Ban đầu thì còn là chuyện thương tâm, sau đi đến nỗi quốc nhục.
Nhiều cô gái quê lớn lên trong cảnh nghèo sẽ làm bất cứ điều gì, không đắn đo để được thoát ra cảnh mò ốc, bắt cua, làm ruộng. Cô ở tỉnh thì chạy theo những nhu cầu vật chất và cũng một phần muốn có một cuộc sống nhàn nhã, không phải vật lộn với đời sống xã hội khó khăn hiện tại, nên họ không ngần ngại làm gái bao cho những người nước ngoài.
Chúng tôi đã gặp trên con đường từ Bắc vào Trung, ra Nam một vài cô rất trẻ, khoảng 17 đến 22 đi cặp đôi với những người đàn ông luống tuổi nước ngoài như Thụy Sĩ, Ðức, Pháp, Ðại Hàn, Ðài Loan.v.v. Trên bãi biển Phú Quốc nơi chúng tôi tắm, một lúc chúng tôi gặp ba người Ðức độ ngoài sáu mươi tuổi cùng tắm với ba cô gái Việt rất trẻ. Họ ngồi ngay ở mấy cái võng, và bàn ăn dưới gốc dừa cạnh chúng tôi. Họ nói tiếng Anh với mấy cô, mấy cô nói rất ít, ngoài lắc, gật và cười ròn rã. Một lúc sau có thêm một người nữa dắt một cô đến, họ làm quen và nhập bọn với nhau. Họ ngồi ngay cạnh chúng tôi, nên dù không chú ý cũng nghe rõ tiếng những người đàn ông nói với nhau:
- Gái ở đây hiền và dễ bảo hơn gái Sàigòn.
- Sống ở đây, cần bao nhiêu một tháng, kể cả tiền trả cho mấy cô này?
- Rẻ lắm, chỉ độ năm trăm mỹ kim thôi.
Hình ảnh mấy ông già da nhăn nheo đó đùa rỡn dưới biển với mấy cô má hồng còn lấm tấm mấy cái mụn dậy thì, trông chẳng khác gì cảnh ông nội, ông ngoại ra bơi với cháu. Thật đáng buồn!
Tôi nhìn sang con gái tôi, cô đang nằm phơi nắng trong bộ áo tắm, cuốn tiểu thuyết The memoirs of a Geisha úp trên mặt, tôi thấy cô thật là may mắn biết bao! Cô được đi học, côạ có việc làm tử tế, cô kiếm sống được bằng kiến thức và lòng tự trọng. Nếu cô chẳng may sinh ra và lớn lên trong một cái làng, cái tỉnh nghèo nàn nào đó Việt Nam, không được đi học đến nơi, đến chốn, thì có gì bảo đảm cô sẽ không là một trong những cô gái đang bơi lội dưới kia? Cái nghèo khó luôn luôn kéo theo cái bất hạnh.
Giữa mênh mông sóng biển, nhìn những cô gái trẻ đang bơi trong nước, bỗng những cành đào Nhật Tân hiện ra trong trí tôi. Những cành đào hiếm hoi còn sót lại năm nay ở làng này vì người ta đang cào xới đất để xây những cao ốc trên đó. Rồi những cô gái làng này không còn hoa đào để bán, không còn đất để trồng cúc, trồng lay-ơn, trồng hoa hồng nữa. Họ sẽ đi đâu và sẽ làm gì để sống? Họ sẽ lại ra những bãi biển với những người đàn ông già như ông nội hay sao?
Khu đất cổ truyền trồng hoa, nổi tiếng về hoa đào Nhật Tân còn không cứu được, còn bị san bằng để xây cao ốc thì những cô gái Nhật Tân có ai cần để ý tới là họ sẽ trôi ra biển hay đi về đâu!
Người thanh niên hai mươi tám hướng dẫn tour cho chúng tôi than:
- Tụi con bây giờ, những người lợi tức thấp, khó kiếm vợ và kiếm bồ lắm. Họ cặp với người nước ngoài hết rồi côạ ơi!'
Tôi hỏi.:
- Nhưng các cô ở miền quê như Phú Quốc này, thì làm sao gặp được những người du khác ở xa đến, trong khi họ lại không biết ngoại ngữ?
- Dễ lắm cô ạ. Cứ cô nào đi trước kiếm được một người thì lại chỉ dẫn giới thiệu cho cô sau. Mấy ông du khách đó lại giới thiệu cho nhau. Cứ cái đà này thì con gái Phú Quốc chẳng còn ai cho tụi thanh niên chúng con ở đây nữa. Mấy tỉnh miền Tây bây giờ cũng thế hết, con gái họ bỏ đi Sàigòn kiếm sống bằng cách làm gái bao cả
Anh ta nói như một tiếng than. Tôi ngồi im nghe không biết nên an ủi thế nào.
Ở Sàigòn thì gặp mấy người chạy taxi kể lể:
- Cô ơi! Mấy thằng cha Ðại Hàn bây giờ nó khôn lắm. Nó sang đây giành giật của Việt Nam vừa đàn bà vừa tiền. Nó không cần biết tiếngViệt, nó bỏ tiền ra thuê một cái mặt bằng, thuê bao luôn một cô vợ ở đây đứng trông tiệm (bán đồ cho khách du lịch) làm người ở và làm vợ tạm thời cho nó.. Cô ta được trả vài ba trăm đô một tháng là mừng lắm rồi. Làm ăn một thời gian vài ba năm thôi, hết hạn, nó trả tiệm lại, trả cô nhà quê ra đường, ôm tiền về nước. Mấy thằng Ðài Loan cũng vậy.
- Còn mấy ông già Việt Kiều nữa cô ơi! Ðến tuổi hưu trí rồi, về Việt Nam kiếm một cô bồ chỉ bằng tuổi con gái, con dâu mình. Giữ đấy, như một thứ vợ nhỏ, cho một tháng hai ba trăm đô la. Mỗi năm đi, về hai, ba lần hưởng thụ.. Cơm bưng, tình bưng đến tận miệng. Trong khi ổng không có ở đây thì các cô muốn làm gì thì làm, khi ổng qua thì các cô phải hoàn toàn phụng sự ổng là được rồi.
Anh nói thêm:
- Chuyện này đều đều từ nhiều năm nay rồi. Các cô rủ nhau, dắt mối cho nhau, Ðại Hàn giới thiệu cho Ðại Hàn, Ðài Loan giới thiệu cho Ðài Loan,Việt Kiều giới thiệu cho Việt Kiều. Mỗi người một tiêu chuẩn, một dịch vụ khác nhau. Ai cũng vui vẻ hài lòng cả.
Tôi nghe, mà lòng buồn ruời ruợi. Có lẽ những phụ nữ chọn cuộc sống này họ thấy còn hơn là phải sang Ðài Loan làm nô lệ cho cả một gia đình, hay bị bán vào những nơi họ không hề lựa chọn. Tôi nhớ đến một bản tin đọc được ở báo trong nước về một người đàn bà Việt Nam muốn sang Ðài Loan kiếm tiền giúp gia đình. Hai vợ chồng vay mượn một số tiền mười ngàn mỹ kim để được sang bên đó làm công nhân, hay ở mướn gì đó qua trung gian môi giới. Không biết vì một lý do đau thương, tủi nhục nào, người vợ đã không cho chồng biết, âm thầm chịu đựng rồi đi đến chỗ tự tử chết. Người chồng vừa đau đớn vừa bị món nợ mười ngàn mỹ kim hối thúc, tự tử chết theo vợ, để lại mấy đứa con thơ.
Thử hỏi có bản tin nào đau thương hơn bản tin này!
Trong khi đó thì ở một mặt khác của xã hội, những cô gái của cả Sài Gòn, Hà Nội bây giờ sống rất là thời thượng. Họ đi làm những công việc văn phòng chỉ để lấy danh nghĩa đi làm, họ có một nguồn lợi tức ở đâu đó cung cấp chuyện tiêu pha ăn, mặc hàng ngày cho họ mình không biết. Họ rất giỏi về lãnh vực tìm bạn Việt Kiều trên mạng. Mỗi tối ngồi hàng giờ để chat với một ai đó, rồi đưa đến hò hẹn. Một cậu Việt Kiều ở Mỹ hay Úc, trước khi về Việt Nam, có thể tìm trên mạng cho mình một cô bồ ra tận phi trường đón. Cô ta nói tiếng Anh tương đối, hướng dẫn các dịch vụ ăn chơi, cô chỉ bảo tận tình và cho cậu cái cảm tưởng là cô không đến vì tiền của cậu (cô có tiền rồi!) cô sẵn sàng mời cậu về nơi cô ở thay vì ở khách sạn (tình cho không, biếu không), cô hiền lành, chiều chuông hết mình, rồi cô cho cậu biết cha mẹ cô là những người có địa vị trong xã hội, cô mời cậu ra Bắc hay lên Ðà Lạt, hoặc Nha Trang gặp họ. Trong khi chuyện trò, cô thường nói là 'Em không thích sống ở Mỹ', cô cho cậu cái cảm tưởng cậu là người may mắn, gặp được một cô không giống những cô mà trước đây cậu thường nghe tả. Có thể cậu Việt Kiều này sẽ gặp ông bố của cô bồ là một Kỹ Sư nhà nước hay một ông bác sĩ thật (Một bác sĩ xuất thân là y tá và được thăng bác sĩ nhờ tuổi đảng thâm niên). Và cô 'không thích sống ở Mỹ đâu' chỉ có nghĩa là cậu lấy cô rồi cậu sẽ ở lại Việt Nam , và cô có cơ hội vào quốc tịch Mỹ. Có trời mà biết những gì sẽ sẩy ra sau tấm màn sân khấu này.
Những vở kịch này hiện nay đang diễn ra thường xuyên ở Việt Nam . Những người thân quen ở Việt Nam chỉ biết dặn dò:
- Cháu coi chừng đấy, gái Việt bây giờ có cả ngàn chiêu, không biết đường nào mà đỡ đâu.
Tôi được nghe kể, còn một phương cách kiếm chồng nước ngoài cao hơn thế nữa là các cô con ông lớn thứ thiệt, có đăng ký tên trong những cái bar sang trọng. Khi chủ nhân thấy có một đám khách Việt Kiều trẻ nào, thuộc loại mặt mũi sáng sủa, lịch sự, học thức, ăn xài sang vào bar là lập tức họ thu dọn chiến trường, dẹp hết những cô tầm thường đang làm việc ở đó, gọi những cô gái con các ông lớn trong danh sách đến. Các cô ăn nói lịch sự, có học đến làm quen chuyện trò với khách, và sau một buổi tối, nhiều cậu đã được mời về nhà, giới thiệu với gia đình. Nhà sang trọng, có xe hơi, và tài xế riêng, cha mẹ niềm nở đón tiếp. Hỏi ra thì được biết cha mẹ các cô toàn là những nhân viên cao cấp của chính quyền cả. Những cậu được mời này, chắc chắn sẽ quay lại và kết thân cùng cô gái. Mọi việc kế tiếp thì chỉ có Trời mới biết là sẽ được xếp đặt như thế nào.
Ôi! Những chuyện quê nhà thì nói sao cho hết. Chuyện vui thì qua mau, chuyện buồn thì ở lại. Mỗi lần về là một lần xót xa. Cứ nhủ lòng thôi không về nữa. Thế mà một hai năm sau, nguôi ngoai một chút lại thu xếp quay về.
Hà Nội bỗng dung nhan đổi khác nhờ những cơn Gió Mùa Ðông Bắc. Thanh niên, thiếu nữ giấu trong chiếc áo len, áo dạ, những mơ ước lãng mạn của mình. Họ khoác tay nhau ngồi xuống những quán ăn đơn sơ ngay ở vỉa hè. Chuyền tay nhau những chén lục tào xá, bánh trôi, bánh chay. Họ ăn bằng mơ mộng của tuổi trẻ, ăn bằng hoang mang của những ngày cuối năm, ăn bằng nôn nao của mùa xuân đang tới. Gió lãng mạn, gió phiêu du, gió làm gầy những con phố, làm trái tim đập dịu dàng và làm những bài thơ bỗng nghiêng xuống, nằm sát vào những chiếc lá cuối đông.
Bây giờ ngồi đây nhớ Gió Mùa Ðông Bắc, muốn khóc.
Về Sài Gòn để được chen lách giữa những đám xe cộ, nhất là xe gắn máy. Ðể nhìn khói bụi mù đường, nghe những tiếng gọi nhau ơi ới, những tiếng rao hàng, hòa vào giữa tiếng xe nổ, tiếng còi xe inh ỏi. Ðể trong lúc chen lấn giữa dòng người, dòng xe, thỉnh thoảng lại nhìn cái bảng tên đường lạ hoắc, cố đoán ra trước đây là đường gì? Rồi chợt nghe đau nhói trong ngực về một kỷ niệạm thân yêu cũ ở con đường mình đang đi. Nước mắt ứa ra, hình dung lại một buổi chiều êm ả đã xa lắm rồi.
Tình đã quan san từ đáy mắt (Ðinh Hùng)
Về để lại đi xuồng máy nguyên ngày trên Tiền Giang, ghé vào những rạch, chỗ người dân làm bánh tráng, làm kẹo dừa, đan võng, đan giỏ, để được ngắm những người dân miềm Nam giản dị, chất phác, nhìn những vất vả của người mẹ, người cha:
Quê hương là cây cầu khỉ
khẳng khiu như cánh tay cha
quê hương gánh hàng nặng trĩu
mẹ về tất tả chợ xa
quê hương áo bà ba trắng
khăn lau lệ mẹ vắt vai
quê hương mồ hôi cha đổ
cho con miếng ngọt miếng bùi. (tmt)
Về để đi ra Bắc, lên tận Yên Bái, đến ngôi nhà sát bên sông Hồng của người anh họ, được soi mặt trong thau nước múc lên ở lòng sông, có phù sa lắng hồng đáy chậu. Ðược ngồi trong một cái bếp còn đun củi, bám đầy bồ hóng, được dùng gáo múc nước, được ăn măng trúc, măng mai. Nhớ về câu thơ cũ trong bài Trấn Thủ Lưu Ðồn:
Chém tre đẵn gỗ trên ngàn
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai
Miệng ăn măng trúc, măng mai
Những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng
Về để được chen chân đi trong phố cổ Hà Nội nhỏ hẹp, có rác và cống trên từng bước đi, được đi trong nắng, trong gió Hà Nội nhớ lại thủa ấu thơ, ngơ ngác đi qua nhà thờ xưa như đứa bé tan Lễ ra, lạc mẹ:
Lâu lắm em mới về Hà Nội
đi trên viên gạch tuổi thơ ngây
gió mùa đông bắc làm em khóc
Hà Nội, anh ơi phố rất gầy! (tmt)
Mấy ngày hôm nay Hà Nội lạnh, Hà Nội vào Tết, Hà Nội chạy ùa ra phố mua áo ấm, gió mùa đông bắc thổi vạt áo bay tung, hai mẹ con đi sát vào nhau, chen chân trong khu chợ đêm trong phố cổ. Cảm tưởng hương vị của một ngày cuối đông đang tan trong cổ mình như những câu thơ:
Hà Nội rủ nhau mua áo ấm
gió mùa đông bắc thổi qua len
khăn san quàng vội vào cổ gió
trên vai một chiếc lá rơi nghiêng (tmt)
Người, xe, hàng quà hai bên vệ đường cùng đan vào nhau, gần như dẫm lên chân nhau. Hàng Ðào với những cửa tiệm sang trọng bán quần áo tơ lụa cho du khách, Hàng Bạc lấp lánh những vòng vàng những xuyến bạc, và kiềng trạm, Hàng Mã một mầu đỏ đến căng từng mạch máu của đèn lồng, giây pháo giả, vàng mã. Người ta đổ xô đi mua về để đốt cho ông Táo lên trời. Cứ thế đi theo dòng người, hai mẹ con bập bềnh trôi.
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau
(Bùi Giáng)
Ðúng là mùa xuân đang về trước mặt cho con gái và sau lưng là cả một giấc miên trường của đời sống mà người mẹ đã đi qua.
TRẦN MỘNG TÚ
Gió mùa đông bắc làm em khóc
Hà Nội, anh ơi phố rất gầy! (tmt)
Tôi trở về nhà sau một chuyến bay dài đỏ mắt. Không biết ai là người đầu tiên đặt tên cho những chuyến bay đêm là 'đỏ mắt' thật là hay. Chập chờn giữa thức và ngủ cả mười ba, mười bốn tiếng thì chắc chắn mắt xanh như cô Kiều của cụ Nguyễn Du cũng thành mắt đỏ. Chữ nghĩa mang ảnh hưởng đến đời sống tình cảm của ta rất nhiều, có những chữ mình không thể nào thay bằng chữ khác được. Mỗi lần đi, về giữa Việt Nam và Mỹ tôi vẫn lúng túng giữa về Mỹ, hay về Việt Nam . Việt Nam là quê hương của mình thì mình về là đúng rồi, nhưng ở Mỹ có một mái nhà, mảnh vườn, cái bếp của mình thì mình nói là về đâu có sai. Nhưng sao lúc từ giã Việt Nam, chào những người thân quen, nói tiếng trở về Mỹ lòng vừa ấm áp vừa thấy buồn buồn.
Ba mươi năm sống ở Mỹ mà vẫn chưa mờ nỗi nhớ quê hương, vẫn bất chợt một hôm nào đó, không cần phải là có nắng thu hay có mưa đông, chỉ là một buổi chiều như tất cả mọi buổi chiều, đang ngồi uốạng ly trà bỗng khựng lại nhớ về một buổi chiều nào rất xa xôi ở quê nhà thăm thẳm, về cái xóm cũ, về cái ngõ vào nhà, về cái vũng nước đọng ở cái ổ gà đâu đó, về cây trứng cá, về cái bể nước mưa. Rồi lan man nhớ về trường cũ, về buổi hẹn hò đầu tiên, người yêu thứ nhất, người tình thứ hai. Chao ôi, nhớ ơi là nhớ! Nước mắt ứa ra, bỗng thèm được về quê ngay lập tức. Thế mà về Việt Nam đến tuần lễ thứ ba là bắt đầu nhớ về cái nhà ở Mỹ. Không biết mấy chậu cây có ai tưới hộ không? Mùa Ðông này tuyết có rơi không? Nhớ về mấy người thân, mấy người bạn đang mong mình về, rồi lại nhớ về cái sạch sẽ, cái tiện nghi và chỉ ước gì được về ngay để ngủ trên cái giường của mình thay vì phải ngủ ở khách sạn.
Chao ôi! chỉ một chữ về mà có trăm điều muốn nói.
Anh Sơn, ông anh họ của tôi, du học từ thập niên 60. Bây giờ ngoài 60 tuổi, anh đã đi du lịch khắp nơi trên thế giới, anh nói:
- Bao giờ về Việt Nam tôi vẫn thích nhất.
Tôi nói :
- Tại vì Việt Nam là quê hương của mình, nên tự nhiên mình yêu. Thế thôi!
Anh bảo:
-Ðúng vậy!
Chúng ta chắc ai cũng yêu quê hương của mình, tự nhiên như yêu cha mẹ, con, cháu hay yêu chính bàn tay, bàn chân mình. Thế thôi! Thật là dản dị. Thế là anh em rủ nhau thu xếp về Việt Nam . Về Việt Nam vào dịp cuối năm, vào dịp thiên hạ kéo nhau 'về quê ăn tết' rất là đông nên phải mua vé từ tháng sáu.
Tôi cứ tính tới tính lui xem phải đem những gì? Vì lần này đem theo cả chồng con, sẽ dự tính đi nhiều nơi nên không thể đem theo những thùng quần áo lạnh về Bắc cho họ hàng ở quê được. Thôi đành giữ lại chờ dịp sau. Cứ cách hai, ba năm tôi về thăm Việt Nam một lần. Mỗi lần về lại thấy một Việt Nam đổi khác, nghe những câu chuyện khác về Việt Nam . Hai cậu con trai của tôi mới về lần thứ nhất, đã thấy xôn xao rủ nhau cuối năm trở lại không có bố mẹ đi theo. Chắc trong máu hai cậu, những giọt nào thuộc về mẹỳ cho mình đang dành chỗ đứng.
Chúng tôi đi trong một Hà Nội đầy gió, người Hà Nội đặt tên cho gió này là Gió Mùa Ðông Bắc. Có không biết bao nhiêu thi sĩ, bao nhiêu nhạc sĩ đã xúc động về những cơn gió này và viết ra bao nhiêu tác phẩm làm thăng hoa đời sống con người để ngay cả khi đang sống trong một hoàn cảnh khó khăn nhất, con người vẫn tìm ra cái đẹp của nơi mình đang sống. Khí hậu của tháng Mười Một và tháng Chạp âm lịch là khí hậu lạnh và đẹp nhất trong năm của miền Bắc. Gió hay trở lạnh đột ngột như một người đi xa bỗng trở về không báo trước. Có thể mới buổi sáng trời còn rất ấm không có gì báo hiệu là một ngày lạnh, nhưng đến trưa gió ở đâu bỗng kéo về chật phố. Gió chen chúc vào đám đông đang đi trên đường, gõ cửa những ngôi nhà, hàng quán, ngồi sát vào những người buôn bán hai bên vỉa hè rất là hồn nhiên. Chẳng cần nói năng gì cả. Chỉ cần có mặt, tôi đến, tôi ngồi xuống và tôi ở lại. Giống như Caesar ngày trước I came, I saw, I conquered. Thế là mọi người chạy ùa đi mua áo ấm để ngồi chung với gió.
Chúng tôi đã được đi, được ngồi chung với Gió Mùa Ðông Bắc trong suốt mười ngày ở Hà Nội.
Bây giờ ngồi đây nhớ Gió Mùa Ðông Bắc, muốn khóc.
Suốt từ Sài Gòn, đi xe ca theo tour Tiền Giang, Hậu Giang, Phan Thiết, Nha Trang, Hà Nội rồi bay ra Phú Quốc, ta nhìn thấy sự phồn thịnh luôn luôn đi bên cạnh nghèo đói một cách rất rõ ràng.
Miền Bắc, miền Trung ở quê vẫn còn khổ và nhiều người rất nghèo trong khi ở thành phố Sài Gòn, Hà Nội, hàng đêm người ta đổ xô ra phố tiêu tiền (không biết tiền ở đâu ra mà nhiều thế!) Ở những nhà hàng, những quán ăn thì người trong nước tiêu phung phí hơn Việt Kiều. Thử vào một chỗ ăn chơi như vào bar chẳng hạn, thì có thể chỉ nhìn chai rượu gọi sẽ nhận ngay ra ai là Việt Kiều ai là Việt Việt (chữ một cậu cháu tôi dùng để gọi người trong nước). Việt Kiều xài sang gọi chai rượu 150 mỹ kim, trong khi đó Việt Việt gọi chai rượu 1.500 mỹ kim. Tôi quê mùa, hỏi cháu:
- Chai rượu gì mà đắt vậy?
- Con không biết, nhưng thấy họ trả 1.500 mỹ kim cho chai rượu; họ đi năm, sáu người tiêu một buổi tối năm ngàn đô là chuyện nhỏ.
Nghe nói một tối tiêu năm ngàn đô là chuyện nhỏ thì chắc ai cũng biết cái xuất xứ của những số tiền nhỏ đó thật là mù mịt.
Ăn uống ở các tiệm bây giờ cũng đắt hơn gấp năm sáu lần của ba năm trước và không ngon. Trung bình chúng tôi ăn một bữa cho một người là từ ba cho đến bẩy mỹ kim. So với ở Mỹ thì rẻ, nhưng với tiền lương của một người trung bình là 700.000 đồngViệt- khoảng hơn 40.00 mỹ kim một tháng- thì làm sao trả được.
Tôi tự hỏi, Sài Gòn bây giờ hình như không ai nấu ăn trong nhà hay sao mà tối nào các tiệm, các quán cũng tấp nập khách ăn? Bao giờ nhìn chung quanh các bàn cũng rất nhiều người địa phương ngồi ăn, phần đông là giới trẻ, và trung niên. Trên bàn đầy ắp thức ăn và bia, nước ngọt.
Lương của một công chức không biết con số thật là bao nhiêu?
Tôi có một người em họ xa ở Hà Nội, làm phó giám đốc một công ty nhà nước gì không rõ mà anh đi xe BMW, khi chúng tôi tới thì vợ đang du lịch ở Singapore, con thì đi du học ở Mỹ, một năm hết ba mươi ngàn Mỹ Kim tiền học, chưa kể chi phí ăn ở. Nghe mà giật mình.
Theo cách anh nói chuyện thì ở Việt Nam bây giờ du học tự túc ở Pháp và Ðức như một phong trào cho các con ông lớn. Học giỏi hay không thì chưa rõ, nhưng mà đã là con của những ông lớn thì phải xuất ngoại, phải du học. Sang bên đó không học được thì ở chơi một thời gian, may mắn kiếm được người lấy thì ở lại, không thì về.
Nghe anh nói, tôi nhớ đến một ca làm việc của mình ở Mỹ. Khi tôi đến thăm tại gia cho một sản phụ được hưởng Phiếu Y Tế (Medical Coupon) tôi mới biết đó là một sinh viên Việt Nam du học tự túc, có bầu và ở lại. Cô là sinh viên du học mà không nói được một câu Anh Ngữ nào. Căn nhà cô ở thuê là một apartment water front. Tôi hỏi tiền đâu mà cô trả tiền nhà thì được cô ạ cho biết căn apt. này cha mẹ cô chuyển tiền sang mua, trả bằng tiền mặt, cho một người bà con có quốc tịch Mỹ đứng tên. Nghe mà giật mình, vì tôi biết căn apartermen đó ở Seattle ít nhất là 400.000 Mỹ kim, bởi gần sát mặt hồ.
Khi có những người giầu không rõ xuất xứ lợi tức như thế thì người nghèo có xuất xứ rất rõ ràng. Họ sống bằng những món tiền kiếm được hàng ngày rất khiêm tốn. Nếu đi dọc theo bờ hồ Hoàn Kiếm ta sẽ luôn luôn bắt gặp những người (một cụ già, hay một đứa trẻ đang tuổi đi học) bán vé số, hoặc nước trà. Bán vé số thì lấy vé của nhà nước đi bán lại mỗi vé số giá có hai ngàn, không biết lời được bao nhiêu? Trong khi đó giá một gói xôi khoảng bốn ngàn đồng- một Mỹ kim bằng 15.900 đồng-
Vốn liếng của người bán nước trà tất cả chắc chưa đến ba Mỹ kim: Một cái ấm ủ trong cái khăn cũ kỹ, vài cái ly thủy tinh nhỏ, năm ba cái kẹo lạc, kẹo vừng. Họ ôm cái gia sản bán buôn đó trong vòng tay gầy guộc, mời khách bên hồ. Hy vọng họ kiếm đủ cơm ăn cho một ngày hôm đó.
Ngay ở trong khu phố có tấp nập khách du lịch, thỉnh thoảng ta vẫn thấy một người gánh hai cái thúng hầu như chẳng có gì trong đó, chỉ có vài ba mớ hành, mấy củ su-hào, mấy quả chanh đem đi bán. Chắc đây là những thứ kiếm được trong vườn nhà. Tiền thu về may ra đủ cho một gói xôi, hay hai chiếc bánh mì không nhân.
Có cô bé lên năm cầm từng chiếc kẹo cao su lẻ bán cho du khách, cô bé nhỏ xíu, đen thui, ốm nhách mà cái mặt tươi như một bông hoa Mười Giờ chạy theo con gái tôi, đưa cái kẹo ra mặc cả bằng thứ tiếng Mỹ ngô ngọng, thấy vừa buồn cười, vừa tội nghiệp. Cô con gái tôi trêu cho em cười bằng cách nói tiếng Việt cũng ngô ngọng với em và gần như muốn bế em lên, vì em bé xinh quá!
Ôi tuổi thơ Việt Nam ! Khi em lớn lên, em sẽ có ước vọng gì?
Ði càng về miền quê càng thấy những người nghèo. Ở những nơi ruộng nước như lối vào Tam Cốc, Bích Ðộng ở Ninh Bình hay Suối Trong, Suối Ðục ở Chùa Hương thì những người dân quê vẫn ngâm một nửa người trong nước nguyên ngày mò ốc, lưới tép kiếm ăn.. Một kí tép khoảng hai chục ngàn, ngâm nước nguyên ngày được khoảng ba đến năm kí, kiếm được 60.000 -100.000 đồng cho nguyên một gia đình bốn năm người, trong đó có cả tiền học cho con.
Trẻ con đi học cho biết đọc, biết viết rồi nghỉ vì không có tiền trả tiếp, lại đi ngâm mình dưới nước giống cha mẹ thôi. Suốt một đời họ ngâm dưới nước. Người chèo thuyền chỉ cho chúng tôi xem một vài nấm mộ chôn một nửa chìm dưới nước, nói là mộ của những ông bà cụ già suốt đời mò cua, xúc tép ở đây, họ muốn con cháu họ chôn mình như thế, vì họ đã có câu: 'Sống ngâm da, chết ngâm xương' để chỉ đời sống gắn liền với nỗi vất vả này.
Du khách Âu Châu đổ vào Việt Nam một ngày một đông hơn, sau sau vụ khủng bố11/9/2001. Cả nước sống về nguồn lợi thu nhập được của du khách. Du khách nước ngoài vào, mang theo bao sự thay đổi. Việt Kiều đóng một vai trò không nhỏ trong môi trường này.
Mỗi người đem một ít về cho thân nhân, giúp vốn buôn bán, xây lại nhà cửa, mai mối cho lấy chồng nước ngoài. Cho nên ta thấy có những con hẻm lầy lội, nghèo nàn tự nhiên mọc lên một cái nhà hai ba, thậm chí bốn từng. Cửa kính, cửa sắt đứng cô đơn như một anh hề sau khi vãn hát. Những cô gái được tân trang từ đầu đến chân để lấy chồng nước ngoài, trông như những con búp bế vô hồn. Ðã có một số cô bằng lòng lấy bất cứ ai, dù đó là anh cắt cỏ hay rửa chén bên Mỹ, bên Úc. Ngay cả một anh ăn tiền tàn tật cũng vẫn lấy. Cứ lấy để đi đã, sang đó không ở được thì bỏ. Những câu chuyện đó bây giờ không có gì là mới lạ nữa, chỉ có sang bên đó mà sau năm năm không bỏ chồng thì mới gọi là 'Lạ'. Người không có thân nhân lo cho thì sẽ rơi vào bất cứ một bàn tay không lương thiện nào đó, và đã xẩy ra bao nhiêu thảm kịch. Ban đầu thì còn là chuyện thương tâm, sau đi đến nỗi quốc nhục.
Nhiều cô gái quê lớn lên trong cảnh nghèo sẽ làm bất cứ điều gì, không đắn đo để được thoát ra cảnh mò ốc, bắt cua, làm ruộng. Cô ở tỉnh thì chạy theo những nhu cầu vật chất và cũng một phần muốn có một cuộc sống nhàn nhã, không phải vật lộn với đời sống xã hội khó khăn hiện tại, nên họ không ngần ngại làm gái bao cho những người nước ngoài.
Chúng tôi đã gặp trên con đường từ Bắc vào Trung, ra Nam một vài cô rất trẻ, khoảng 17 đến 22 đi cặp đôi với những người đàn ông luống tuổi nước ngoài như Thụy Sĩ, Ðức, Pháp, Ðại Hàn, Ðài Loan.v.v. Trên bãi biển Phú Quốc nơi chúng tôi tắm, một lúc chúng tôi gặp ba người Ðức độ ngoài sáu mươi tuổi cùng tắm với ba cô gái Việt rất trẻ. Họ ngồi ngay ở mấy cái võng, và bàn ăn dưới gốc dừa cạnh chúng tôi. Họ nói tiếng Anh với mấy cô, mấy cô nói rất ít, ngoài lắc, gật và cười ròn rã. Một lúc sau có thêm một người nữa dắt một cô đến, họ làm quen và nhập bọn với nhau. Họ ngồi ngay cạnh chúng tôi, nên dù không chú ý cũng nghe rõ tiếng những người đàn ông nói với nhau:
- Gái ở đây hiền và dễ bảo hơn gái Sàigòn.
- Sống ở đây, cần bao nhiêu một tháng, kể cả tiền trả cho mấy cô này?
- Rẻ lắm, chỉ độ năm trăm mỹ kim thôi.
Hình ảnh mấy ông già da nhăn nheo đó đùa rỡn dưới biển với mấy cô má hồng còn lấm tấm mấy cái mụn dậy thì, trông chẳng khác gì cảnh ông nội, ông ngoại ra bơi với cháu. Thật đáng buồn!
Tôi nhìn sang con gái tôi, cô đang nằm phơi nắng trong bộ áo tắm, cuốn tiểu thuyết The memoirs of a Geisha úp trên mặt, tôi thấy cô thật là may mắn biết bao! Cô được đi học, côạ có việc làm tử tế, cô kiếm sống được bằng kiến thức và lòng tự trọng. Nếu cô chẳng may sinh ra và lớn lên trong một cái làng, cái tỉnh nghèo nàn nào đó Việt Nam, không được đi học đến nơi, đến chốn, thì có gì bảo đảm cô sẽ không là một trong những cô gái đang bơi lội dưới kia? Cái nghèo khó luôn luôn kéo theo cái bất hạnh.
Giữa mênh mông sóng biển, nhìn những cô gái trẻ đang bơi trong nước, bỗng những cành đào Nhật Tân hiện ra trong trí tôi. Những cành đào hiếm hoi còn sót lại năm nay ở làng này vì người ta đang cào xới đất để xây những cao ốc trên đó. Rồi những cô gái làng này không còn hoa đào để bán, không còn đất để trồng cúc, trồng lay-ơn, trồng hoa hồng nữa. Họ sẽ đi đâu và sẽ làm gì để sống? Họ sẽ lại ra những bãi biển với những người đàn ông già như ông nội hay sao?
Khu đất cổ truyền trồng hoa, nổi tiếng về hoa đào Nhật Tân còn không cứu được, còn bị san bằng để xây cao ốc thì những cô gái Nhật Tân có ai cần để ý tới là họ sẽ trôi ra biển hay đi về đâu!
Người thanh niên hai mươi tám hướng dẫn tour cho chúng tôi than:
- Tụi con bây giờ, những người lợi tức thấp, khó kiếm vợ và kiếm bồ lắm. Họ cặp với người nước ngoài hết rồi côạ ơi!'
Tôi hỏi.:
- Nhưng các cô ở miền quê như Phú Quốc này, thì làm sao gặp được những người du khác ở xa đến, trong khi họ lại không biết ngoại ngữ?
- Dễ lắm cô ạ. Cứ cô nào đi trước kiếm được một người thì lại chỉ dẫn giới thiệu cho cô sau. Mấy ông du khách đó lại giới thiệu cho nhau. Cứ cái đà này thì con gái Phú Quốc chẳng còn ai cho tụi thanh niên chúng con ở đây nữa. Mấy tỉnh miền Tây bây giờ cũng thế hết, con gái họ bỏ đi Sàigòn kiếm sống bằng cách làm gái bao cả
Anh ta nói như một tiếng than. Tôi ngồi im nghe không biết nên an ủi thế nào.
Ở Sàigòn thì gặp mấy người chạy taxi kể lể:
- Cô ơi! Mấy thằng cha Ðại Hàn bây giờ nó khôn lắm. Nó sang đây giành giật của Việt Nam vừa đàn bà vừa tiền. Nó không cần biết tiếngViệt, nó bỏ tiền ra thuê một cái mặt bằng, thuê bao luôn một cô vợ ở đây đứng trông tiệm (bán đồ cho khách du lịch) làm người ở và làm vợ tạm thời cho nó.. Cô ta được trả vài ba trăm đô một tháng là mừng lắm rồi. Làm ăn một thời gian vài ba năm thôi, hết hạn, nó trả tiệm lại, trả cô nhà quê ra đường, ôm tiền về nước. Mấy thằng Ðài Loan cũng vậy.
- Còn mấy ông già Việt Kiều nữa cô ơi! Ðến tuổi hưu trí rồi, về Việt Nam kiếm một cô bồ chỉ bằng tuổi con gái, con dâu mình. Giữ đấy, như một thứ vợ nhỏ, cho một tháng hai ba trăm đô la. Mỗi năm đi, về hai, ba lần hưởng thụ.. Cơm bưng, tình bưng đến tận miệng. Trong khi ổng không có ở đây thì các cô muốn làm gì thì làm, khi ổng qua thì các cô phải hoàn toàn phụng sự ổng là được rồi.
Anh nói thêm:
- Chuyện này đều đều từ nhiều năm nay rồi. Các cô rủ nhau, dắt mối cho nhau, Ðại Hàn giới thiệu cho Ðại Hàn, Ðài Loan giới thiệu cho Ðài Loan,Việt Kiều giới thiệu cho Việt Kiều. Mỗi người một tiêu chuẩn, một dịch vụ khác nhau. Ai cũng vui vẻ hài lòng cả.
Tôi nghe, mà lòng buồn ruời ruợi. Có lẽ những phụ nữ chọn cuộc sống này họ thấy còn hơn là phải sang Ðài Loan làm nô lệ cho cả một gia đình, hay bị bán vào những nơi họ không hề lựa chọn. Tôi nhớ đến một bản tin đọc được ở báo trong nước về một người đàn bà Việt Nam muốn sang Ðài Loan kiếm tiền giúp gia đình. Hai vợ chồng vay mượn một số tiền mười ngàn mỹ kim để được sang bên đó làm công nhân, hay ở mướn gì đó qua trung gian môi giới. Không biết vì một lý do đau thương, tủi nhục nào, người vợ đã không cho chồng biết, âm thầm chịu đựng rồi đi đến chỗ tự tử chết. Người chồng vừa đau đớn vừa bị món nợ mười ngàn mỹ kim hối thúc, tự tử chết theo vợ, để lại mấy đứa con thơ.
Thử hỏi có bản tin nào đau thương hơn bản tin này!
Trong khi đó thì ở một mặt khác của xã hội, những cô gái của cả Sài Gòn, Hà Nội bây giờ sống rất là thời thượng. Họ đi làm những công việc văn phòng chỉ để lấy danh nghĩa đi làm, họ có một nguồn lợi tức ở đâu đó cung cấp chuyện tiêu pha ăn, mặc hàng ngày cho họ mình không biết. Họ rất giỏi về lãnh vực tìm bạn Việt Kiều trên mạng. Mỗi tối ngồi hàng giờ để chat với một ai đó, rồi đưa đến hò hẹn. Một cậu Việt Kiều ở Mỹ hay Úc, trước khi về Việt Nam, có thể tìm trên mạng cho mình một cô bồ ra tận phi trường đón. Cô ta nói tiếng Anh tương đối, hướng dẫn các dịch vụ ăn chơi, cô chỉ bảo tận tình và cho cậu cái cảm tưởng là cô không đến vì tiền của cậu (cô có tiền rồi!) cô sẵn sàng mời cậu về nơi cô ở thay vì ở khách sạn (tình cho không, biếu không), cô hiền lành, chiều chuông hết mình, rồi cô cho cậu biết cha mẹ cô là những người có địa vị trong xã hội, cô mời cậu ra Bắc hay lên Ðà Lạt, hoặc Nha Trang gặp họ. Trong khi chuyện trò, cô thường nói là 'Em không thích sống ở Mỹ', cô cho cậu cái cảm tưởng cậu là người may mắn, gặp được một cô không giống những cô mà trước đây cậu thường nghe tả. Có thể cậu Việt Kiều này sẽ gặp ông bố của cô bồ là một Kỹ Sư nhà nước hay một ông bác sĩ thật (Một bác sĩ xuất thân là y tá và được thăng bác sĩ nhờ tuổi đảng thâm niên). Và cô 'không thích sống ở Mỹ đâu' chỉ có nghĩa là cậu lấy cô rồi cậu sẽ ở lại Việt Nam , và cô có cơ hội vào quốc tịch Mỹ. Có trời mà biết những gì sẽ sẩy ra sau tấm màn sân khấu này.
Những vở kịch này hiện nay đang diễn ra thường xuyên ở Việt Nam . Những người thân quen ở Việt Nam chỉ biết dặn dò:
- Cháu coi chừng đấy, gái Việt bây giờ có cả ngàn chiêu, không biết đường nào mà đỡ đâu.
Tôi được nghe kể, còn một phương cách kiếm chồng nước ngoài cao hơn thế nữa là các cô con ông lớn thứ thiệt, có đăng ký tên trong những cái bar sang trọng. Khi chủ nhân thấy có một đám khách Việt Kiều trẻ nào, thuộc loại mặt mũi sáng sủa, lịch sự, học thức, ăn xài sang vào bar là lập tức họ thu dọn chiến trường, dẹp hết những cô tầm thường đang làm việc ở đó, gọi những cô gái con các ông lớn trong danh sách đến. Các cô ăn nói lịch sự, có học đến làm quen chuyện trò với khách, và sau một buổi tối, nhiều cậu đã được mời về nhà, giới thiệu với gia đình. Nhà sang trọng, có xe hơi, và tài xế riêng, cha mẹ niềm nở đón tiếp. Hỏi ra thì được biết cha mẹ các cô toàn là những nhân viên cao cấp của chính quyền cả. Những cậu được mời này, chắc chắn sẽ quay lại và kết thân cùng cô gái. Mọi việc kế tiếp thì chỉ có Trời mới biết là sẽ được xếp đặt như thế nào.
Ôi! Những chuyện quê nhà thì nói sao cho hết. Chuyện vui thì qua mau, chuyện buồn thì ở lại. Mỗi lần về là một lần xót xa. Cứ nhủ lòng thôi không về nữa. Thế mà một hai năm sau, nguôi ngoai một chút lại thu xếp quay về.
Hà Nội bỗng dung nhan đổi khác nhờ những cơn Gió Mùa Ðông Bắc. Thanh niên, thiếu nữ giấu trong chiếc áo len, áo dạ, những mơ ước lãng mạn của mình. Họ khoác tay nhau ngồi xuống những quán ăn đơn sơ ngay ở vỉa hè. Chuyền tay nhau những chén lục tào xá, bánh trôi, bánh chay. Họ ăn bằng mơ mộng của tuổi trẻ, ăn bằng hoang mang của những ngày cuối năm, ăn bằng nôn nao của mùa xuân đang tới. Gió lãng mạn, gió phiêu du, gió làm gầy những con phố, làm trái tim đập dịu dàng và làm những bài thơ bỗng nghiêng xuống, nằm sát vào những chiếc lá cuối đông.
Bây giờ ngồi đây nhớ Gió Mùa Ðông Bắc, muốn khóc.
Về Sài Gòn để được chen lách giữa những đám xe cộ, nhất là xe gắn máy. Ðể nhìn khói bụi mù đường, nghe những tiếng gọi nhau ơi ới, những tiếng rao hàng, hòa vào giữa tiếng xe nổ, tiếng còi xe inh ỏi. Ðể trong lúc chen lấn giữa dòng người, dòng xe, thỉnh thoảng lại nhìn cái bảng tên đường lạ hoắc, cố đoán ra trước đây là đường gì? Rồi chợt nghe đau nhói trong ngực về một kỷ niệạm thân yêu cũ ở con đường mình đang đi. Nước mắt ứa ra, hình dung lại một buổi chiều êm ả đã xa lắm rồi.
Tình đã quan san từ đáy mắt (Ðinh Hùng)
Về để lại đi xuồng máy nguyên ngày trên Tiền Giang, ghé vào những rạch, chỗ người dân làm bánh tráng, làm kẹo dừa, đan võng, đan giỏ, để được ngắm những người dân miềm Nam giản dị, chất phác, nhìn những vất vả của người mẹ, người cha:
Quê hương là cây cầu khỉ
khẳng khiu như cánh tay cha
quê hương gánh hàng nặng trĩu
mẹ về tất tả chợ xa
quê hương áo bà ba trắng
khăn lau lệ mẹ vắt vai
quê hương mồ hôi cha đổ
cho con miếng ngọt miếng bùi. (tmt)
Về để đi ra Bắc, lên tận Yên Bái, đến ngôi nhà sát bên sông Hồng của người anh họ, được soi mặt trong thau nước múc lên ở lòng sông, có phù sa lắng hồng đáy chậu. Ðược ngồi trong một cái bếp còn đun củi, bám đầy bồ hóng, được dùng gáo múc nước, được ăn măng trúc, măng mai. Nhớ về câu thơ cũ trong bài Trấn Thủ Lưu Ðồn:
Chém tre đẵn gỗ trên ngàn
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai
Miệng ăn măng trúc, măng mai
Những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng
Về để được chen chân đi trong phố cổ Hà Nội nhỏ hẹp, có rác và cống trên từng bước đi, được đi trong nắng, trong gió Hà Nội nhớ lại thủa ấu thơ, ngơ ngác đi qua nhà thờ xưa như đứa bé tan Lễ ra, lạc mẹ:
Lâu lắm em mới về Hà Nội
đi trên viên gạch tuổi thơ ngây
gió mùa đông bắc làm em khóc
Hà Nội, anh ơi phố rất gầy! (tmt)
Mấy ngày hôm nay Hà Nội lạnh, Hà Nội vào Tết, Hà Nội chạy ùa ra phố mua áo ấm, gió mùa đông bắc thổi vạt áo bay tung, hai mẹ con đi sát vào nhau, chen chân trong khu chợ đêm trong phố cổ. Cảm tưởng hương vị của một ngày cuối đông đang tan trong cổ mình như những câu thơ:
Hà Nội rủ nhau mua áo ấm
gió mùa đông bắc thổi qua len
khăn san quàng vội vào cổ gió
trên vai một chiếc lá rơi nghiêng (tmt)
Người, xe, hàng quà hai bên vệ đường cùng đan vào nhau, gần như dẫm lên chân nhau. Hàng Ðào với những cửa tiệm sang trọng bán quần áo tơ lụa cho du khách, Hàng Bạc lấp lánh những vòng vàng những xuyến bạc, và kiềng trạm, Hàng Mã một mầu đỏ đến căng từng mạch máu của đèn lồng, giây pháo giả, vàng mã. Người ta đổ xô đi mua về để đốt cho ông Táo lên trời. Cứ thế đi theo dòng người, hai mẹ con bập bềnh trôi.
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau
(Bùi Giáng)
Ðúng là mùa xuân đang về trước mặt cho con gái và sau lưng là cả một giấc miên trường của đời sống mà người mẹ đã đi qua.
TRẦN MỘNG TÚ
Những Anh Hùng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Phạm Phong Dinh
Đất nước Việt Nam anh hùng hào kiệt đời nào cũng có. Những đấng tiền nhân tiên liệt đã chiến đấu và viết nên những trang sử chống xâm lược chói lọi nhất trong lịch sử nhân loại.
Giở lại những trang sử chiến đấu dũng mãnh và hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhân tưởng niệm ngày 30-04, là ngày nước Việt Nam Cộng Hòa thôi tồn tại, chúng tôi muốn kể lại cho các bạn trẻ Việt Nam công nghiệp chiến đấu và những giây phút chói chang cuối cùng của những vị thần tướng làm rạng danh nước Nam trên trường quốc tế: Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ.
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là hậu duệ của dòng họ Nguyễn Khoa danh tiếng ở đất Thần Kinh Huế mà các cụ tổ từ đời này sang đời nối tiếp đều có công trạng giúp Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi về phương Nam, mà điểm dừng là mũi Cà Mau.
Ðược hun đúc từ truyền thống ấy, Thiếu Tướng Nam thuở còn ở tuổi học sinh siêng năng chăm học, rất hiếu thảo với cha mẹ, ông thường nghiền ngẫm kinh Phật, sách triết học và Nho học. Người cũng rất say mê hội họa, âm nhạc và giỏi về nhạc lý. Sau này khi đã trở thành vị tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh và rồi lên Tư Lệnh Quân Đoàn IV Quân Khu IV người nổi tiếng là vị tướng từ ái, thương lính yêu dân, rất được quân và dân Miền Tây kính trọng và yêu thương.
Mỗi lần Thiếu Tướng Nam bay đến các tiểu khu (tỉnh) hay các đơn vị chiến trường nào, ông cũng đều không muốn làm phiền thuộc cấp vì chuyện ăn uống. Lắm lúc ông chỉ cần vài trái bắp luộc là đã xong cho một bữa trưa. Nếu ở Bộ Tư Lệnh thì người luôn luôn xuống Câu Lạc Bộ cùng dùng cơm với các Sĩ Quan, có gì ăn nấy.
Là một Phật tử thuần thành, Thiếu Tướng Nam ăn chay 15 ngày mỗi tháng, cố gắng tôn trọng những giới cấm, tránh sát giới nhưng vẫn chu toàn bổn phận của một người lính chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Bà con thân hữu đến thăm ông thì được, nhưng để xin ân huệ hay nhờ vả đều nhận được sự từ chối thẳng thắn. Cuộc sống của người quá giản dị, không vợ con, không nhu cầu vật chất xa hoa, không gì hết, đơn giản đến mức trở thành huyền thoại.
Tướng Dương Văn Minh, người được Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa bỏ phiếu đa số chấp thuận lên nắm quyến Tổng Thống vỏn vẹn mới có ba ngày đã vội vã ra lệnh toàn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng thôi chiến đấu từ 10 giờ sáng ngày 30.04.1975.
Dưới Quân Khu IV (Miền Tây) các tướng lãnh của quân ta nào đâu chịu đầu hàng một cách nhục nhã như vậy. Đại cuộc không thành, thành mất thì tướng phải tuẫn tiết theo thành. Thiếu Tướng Nam lên xe đi vào Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ thăm những chiến hữu thương binh của người lần cuối cùng. Mối thương cảm vận nước đến hồi đen tối, chiến hữu gãy súng và thương phế binh chắc chắn sẽ bị quân địch tàn nhẫn đuổi ra nằm lê la trên hè phố bụi đất với những vết thương còn lở lói và rướm máu, đã làm cho đôi mắt của người sưng húp lên. Đến tối Thiếu Tướng Nam quay trở về dinh Tư Lệnh nằm bên bờ con sông Cái Khế và nhận được tin Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó quân Khu IV đã nổ súng tuẫn tiết trong văn phòng tại trại Lê Lợi. Đến nửa đêm, Thiếu Tướng Nam trân trọng vận bộ lễ phục trắng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với ngù vai, dây biểu chương, huy chương các loại gắn trên ngực áo, nghiêm chỉnh ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế sau bàn Tư Lệnh. Rồi người đưa khẩu Browning lên bắn vào màng tang, đầu người gục xuống về phía trái. Ngày hôm sau, các Sĩ Quan còn ở lại Bộ Tư Lệnh đã đứng nghiêm chào người anh hùng rồi an táng thi thể người trong Nghĩa Trang Quân Đội Cần Thơ.
Trong đầu năm 1994, thân nhân của Thiếu Tướng Nam đã xuống Cần Thơ bốc mộ, hỏa thiêu và mang tro cốt đem về thờ trong chùa Gia Lâm trên đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, Sài Gòn.
Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV; Quân Khu IV đã tự sát trong văn phòng Tư Lệnh Phó tại Trại Lê Lợi nằm trên đường Hòa Bỉnh, Cần Thơ, trước Thiếu Tướng Nam vài tiếng đồng hồ.
Tên tuổi của Chuẩn Tướng Hưng được biết đến từ khi ông còn là một Sĩ Quan chiến đấu trên chiến trường Miền Tây và được xưng tụng là một trong những con mãnh hổ dũng cảm nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Từ chức vụ Đại Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 31 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh, ông được điều động lên Quân Khu III làm Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh và được vinh thăng Chuẩn Tướng chỉ vài tháng trước khi chiến trận Mùa Hè Đỏ Lửa nổ lớn tại An Lộc trong năm 1972.
Định mệnh đã chọn Chuẩn Tướng Hưng làm người tử thủ An Lộc và đánh thắng đến bốn Sư Đoàn địch, vang danh quân sử Việt Nam và chiến sử thế giới. Hình ảnh dũng cảm và quen thuộc mà chiến sĩ tử thủ An Lộc ngưỡng mộ người Tư Lệnh của họ, là chiến sĩ Lê Văn Hưng đầu đội nón sắt, quần lính, áo thun màu ô liu, tay xách cây M16 như bất cứ một người lính khinh binh nào, làm việc 24/24 giờ một ngày bên chiếc đèn vàng mù mờ ánh sáng, hay ra chiến hào khích lệ tinh thần binh sĩ và tỉ mỉ giảng giải cách sử dụng súng chống chiến xa M72 để bắn xe tăng địch.
Dưới sự chăm sóc và chỉ huy của Thiếu Tướng Nam và Chuẩn Tướng Hưng, Quân Đoàn IV gồm các Sư Đoàn 7, 9 và 21 Bộ Binh đã đem lại những ngày an bình cho người dân Miền Tây. Hai vị Tướng đã là một cặp chiến binh kiệt xuất tạo nên bức tường thành vững chắc cho Quân Khu IV. Cho đến cái ngày oan nghiệt 30.04.1975, hai vị Tướng nhiều lần nhận được lời đề nghị khẩn thiết của người Mỹ muốn giúp hai vị và gia đình di tản sang Hoa Kỳ, nhưng cả hai vị Tướng đã khẳng khái từ chối. Cho đến 4 giờ chiều cùng ngày, hai vị Thiếu Tướng còn cố liên lạc với các đơn vị hỏi xem có nhận được lệnh hành quân và phóng đồ bố trí chiến đấu chưa. Tất cả đều trả lời không. Hóa ra viên Đại Tá được giao trọng trách chuyển lệnh đã bỏ trốn mất. Hai vị Tướng tức uất thở than cho vận nước. Danh từ đầu hàng từ đầu cho đến tàn cuộc chiến rất xa lạ với người chiến sĩ QLVNCH.
Chuẩn Tướng Hưng vẫn với bộ quân phục tác chiến Bộ Binh màu ô liu trở lại văn phòng Tư Lệnh Phó gặp lại vợ con nói lời vĩnh biệt và ân cần khuyên nhủ Chuẩn Tướng phu nhân gắng cắn răng sống nuôi con, dạy dỗ con nên người, nói cho chúng biết về người cha đã chết như thế nào cho tổ quốc. Người cũng trân trọng từ biệt các chiến hữu:
“Tôi không bỏ các anh để đưa vợ con ra ngoại quốc. Tôi cũng không thể chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi tôi có rầy la. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm nếu có.”
Những người lính ôm lấy lá cờ vàng và cây súng thân thương vào lòng khóc nức nở. Họ biết giây phút vĩnh biệt người chủ tướng đã điểm. Chuẩn Tướng Hưng cố xô đẩy đuổi mọi người ra ngoài, bình thản đóng kín cửa văn phòng lại. Có tiếng súng nổ chát chúa từ bên trong vọng ra. Bà Hưng và các chiến hữu phá cửa xông vào. Chuẩn Tướng Hưng nằm ngã người tựa vào giường nửa trên nửa dưới, hai cánh tay dang ra và giật mạnh, toàn thân run rẩy từng cơn, đôi mắt còn mở to uất hờn. Người đã bắn vào tim để tỏ rõ tiết tháo một người Tướng lãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Máu từ trong tim người thấm ướt mảng áo ngực và loang ra đỏ thắm tấm drap trắng. Thời điểm người anh hùng thăng thiên đúng 8 giờ 45 tối ngày 30.04.1975.
Khoảng 11 giờ khuya, Thiếu Tướng Nam gọi điện qua chia buồn. Bà Thiếu Tướng Hưng nghe rõ tiếng thở dài của người Tư Lệnh phía bên kia đầu dây.
Trong cái ngày đau buồn ấy, tại bệnh viện Grall (Đồn Đất) Sài Gòn, người ta đưa vào thi hài của Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu II, một chiến binh mà các cấp bậc đi lên đều được trao gắn vinh thăng tại mặt trận. Thiếu Tướng Phú đã uống thuốc độc chết cùng với vận nước.
Từ cái ngày người bị trọng thương và sa vào tay giặc ở Điện Biên Phủ tháng 05.1954, rồi được trả về cho Việt Nam Cộng Hòa sau ngày ký Hiệp Định Geneva 20.07.1954, Thiếu Tướng Phú đã thề với lòng là người thà chết chứ không chịu nhục nhã lọt vào tay giặc một lần nữa. Lời thề ấy người đã giữ trọn, người chết đi mang theo một nỗi hận mất nước và một nỗi oan khuất về cuộc triệt thoái Quân Khu II không mong muốn. Còn nhớ tại trận Điện Biên Phủ, toàn Tiểu Đoàn của Đại Úy Phú chỉ còn có 100 tay súng mà phải ngăn chống một số lượng quân địch đông gấp hai mươi lần, ông dẫn quân lên đánh cận chiến với địch và giành lại được hơn 100 thước chiến hào. Đại Úy Phú và một số các Sĩ Quan chỉ huy Tiểu Đoàn đều bị đạn địch quật ngã và một vài giờ sau đó bị sa vào tay giặc. Trong thời gian bị giặc bắt làm tù binh, bệnh phổi của Đại Úy Phú tái phát và ông mang bệnh lao. định mệnh vẫn còn muốn cho người anh hùng được sống, để tiếp tục chiến đấu cống hiến nhiều hơn nữa cho nền tự do của tổ quốc, sau tháng 07.1954 Đại Úy Phú được trả về cho Việt Nam Cộng Hòa. Vị Tướng mảnh khảnh người, khuôn mặt xương nhưng có cái bắt tay mềm mại ấm áp ấy đã nhanh chóng trở thành một trong những vị Tướng xuất sắc nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lần lượt đảm nhiệm những chức vụ quan trọng: Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, Tư Lệnh Biệt Khu 44 thuộc Miền Tây, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, và sau hết Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu II. Chính là ở vị thế cực kỳ khó khăn này, Thiếu Tướng Phú phải đương đầu với nhiều vấn đề sinh tử có tầm vóc quốc gia, mà đã vượt ra khỏi quyền hạn nhỏ bé của ông. Người ta cho rằng việc thất thủ Ban Mê Thuột là do lỗi thiếu phán đoán của Thiếu Tướng Phú. Người ta chỉ có thể dùng quân luật và quân lệnh để bắt buộc Thiếu Tướng Phú thi hành lệnh rút quân, thậm chí đặt ông vào tình trạng bất khiển dụng vì lý do sức khỏe ngay trong ngày 14.03.1975, hai ngày trước khi Quân Đoàn II rút quân ra khỏi cao nguyên. Thiếu Tướng Phú đau lòng theo dõi các mũi tiến quân của địch, như những vết dầu loang nhanh chóng thấm đỏ hết hai phần ba lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Người biết cái sinh mạng nhỏ bé của mình cũng co ngắn lại cùng với số mệnh của đất nước. Rồi khi những chiếc khăn rằn và những chiếc áo màu xanh rêu mốc đã tràn ngập khắp phố phường Sài Gòn trong ngày 30.04.1975, người chọn cái chết lưu danh thanh sử bằng cách uống độc dược, để tỏ rõ ý chí bất khuất của người làm Tướng và chứng tỏ cho đối phương biết rằng họ có thể chiếm được đất nhưng không có thể quy phục được tiết tháo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Một trong những hồi ức rất đẹp và rất hào hùng mà Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ còn để lại trong chiến sử Việt Nam, là lúc ông cầm khẩu súng chống chiến xa M72 nhoài người lên khỏi hầm chỉ huy của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tại An Lộc bắn cháy một chiếc T54 chạy lần quầng sát một bên, trong lúc Chuẩn Tướng Hưng đã thủ sẵn một trái lựu đạn trong tay để cùng chết với quân địch. Đại Tá Vỹ đích thực là một khuôn mặt lừng lẫy của Miền Đông khi ông về phục vụ dưới cờ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh từ năm 1968. Đại Tá Vỹ nổi danh là một chiến binh quả cảm, một Sĩ Quan mẫn cán, năng nổ, có tài tham mưu và chỉ huy. Sau chiến thắng An Lộc, Đại Tá Vỹ được đề bạt lên làm Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 21 Bộ Binh, cho đến gần cuối năm 1974, sau một khóa học Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp bên Hoa Kỳ về, cái ghế và văn phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh đang chờ đợi ông, cùng với chiếc lon mới Chuẩn Tướng. Chuẩn Tướng Vỹ dưới con mắt nể trọng của chiến sĩ Sư Đoàn 5 Bộ Binh, là một vị chỉ huy siêng năng và đáng kính. Người nổi tiếng thanh liêm và chống tham nhũng, bản tính của người bộc trực và dễ nổi nóng trước cái ác và cái xấu. Một số Sĩ Quan trong Sư Đoàn làm chuyện càn quấy, ăn chận trên xương máu của chiến sĩ đều bị người trừng trị thẳng cánh. Chuẩn Tướng Vỹ là một trong những vị Tướng hiếm hoi có tinh thần tự trọng cao độ, không bao giờ ỷ lại vào mọi sự trợ giúp từ phía Hoa Kỳ. Người ta nhìn thấy ở ông một tinh thần tự lực cánh sinh và có nhiều sáng kiến khi phải đương đầu với những vấn đề khó khăn. Về mặt quân sự, người có một tầm nhìn chiến lược rất bao quát và thường hay bày tỏ với các Sĩ Quan tham mưu:
“Tôi nghi ngờ chúng nó không đánh mình ngoài này mà sẽ tìm cách len lỏi đi thẳng về Sài Gòn”.
Sự phán đoán đó về sau đã hoàn toàn đúng. Một Quân Đoàn Bắc Việt không giao chiến với Sư Đoàn 5 Bộ Binh, mà tìm cách len lỏi xuyên qua những điểm bố trí của Sư Đoàn, hối hả tiến về Sài Gòn để dứt điểm Tướng Dương Văn Minh.
Sáng ngày 30.4.1975 họp tham mưu Sư Đoàn xong, Chuẩn Tướng Vỹ và toàn ban Sĩ Quan ngồi bên chiếc máy thu thanh chờ nghe Tướng Minh đọc nhật lệnh quan trọng.
Trong thâm tâm Chuẩn Tướng Vỹ, người cứ tưởng là Tướng Minh sẽ kêu gọi toàn quân chiến đấu đến cùng, hoặc di tản về Miền Tây tiếp tục đánh. Thực chất chỉ là một bản nhật lệnh ngắn ngủi, khô khan, kêu gọi chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa các cấp buông súng, ai ở đâu thì ở đó và chờ binh đội cộng quân đến bàn giao. Chuẩn Tướng Vỹ nghiến răng miễn cưỡng ra lệnh cho binh sĩ treo cờ trắng trước cổng căn cứ và cho thuộc cấp giải tán.
Trước khi chia tay, Chuẩn Tướng Vỹ đã mời các Sĩ Quan cùng ăn một bữa cơm cuối cùng với ông. Nhìn khuôn mặt trầm buồn và ánh mắt u uất của vị Tư Lệnh, các Sĩ Quan đoán chắc thế nào ông cũng tử tiết để bảo toàn danh dự người làm Tướng, nên họ đã khéo léo giấu hết súng. Bữa cơm vĩnh biệt được dọn ra, những hạt cơm trắng ngần trong khoảnh khắc đó dường như có vị mặn của máu và cứng ngắc như những hạt sỏi. Mọi người còn đang dùng cơm thì Chuẩn Tướng Vỹ bỗng bỏ ra ngoài đi nhanh về hướng chiếc trailer dùng làm văn phòng tạm cho Tư Lệnh. Các Sĩ Quan kinh hoàng nghe hai tiếng nổ đanh gọn phát ra từ chiếc trailer. Mọi người hối hả chạy ùa tới mở cửa thì thấy Chuẩn Tướng Vỹ nằm trên vũng máu và người đã thực sự ra đi, trên tay còn cầm khẩu Beretta 6.35 mà mọi người không nhớ là nó còn nằm trong chiếc trailer. Chuẩn Tướng Vỹ đã bắn vào phía dưới cằm, đạn đi trổ lên đầu.
Khi các Sĩ Quan và binh đội cộng sản vào tiếp quản doanh trại. Sĩ Quan Sư Đoàn cao cấp của địch đã nghiêng mình kính phục khí tiết của Chuẩn Tướng Vỹ và nói: “Đây mới xứng đáng là con nhà Tướng.”
Các chiến sĩ Sư Đoàn chuyển thi thể vị chủ tướng ra an táng trong rừng cao su gần doanh trại Bộ Tư Lệnh. Ít lâu sau, thi thể Chuẩn Tướng Vỹ lại được thân nhân bốc lên đem về cải táng ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, Sài Gòn. Năm 1987, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Vỹ lặn lội vào Nam hỏa thiêu hài cốt của người anh hùng và đem về thờ ở từ đường họ Lê Nguyên tại quê nhà ở tỉnh Sơn Tây.
Cũng với tấm lòng của những người mẹ thương con bao la mênh mông như đại dương, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Trần Văn Hai tuổi già tấm lưng còng còm cõi với thời gian, đã mưu trí gạt được quân cộng đang tràn ngập trong căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh đem được thi thể vị Tư Lệnh về Gò Vấp mai táng. Bà rưng rưng nước mắt nghẹn ngào nhận gói di vật của con bà từ tay một vị Trung U¨y thuộc cấp, trong đó có một vài vật dụng cá nhân và số tiền hai tháng lương khiêm nhường của Chuẩn Tướng là 70.000 đồng. Là một người con hiếu thảo, trước khi ra đi người còn cố gửi về cho mẹ số tiền nhỏ bé đó.
Lúc còn sống Chuẩn Tướng Hai nổi tiếng là vị Tướng thanh liêm, cuộc đời thanh đạm không có của cải vật chất gì đáng kể, ngoài chiếc xe Jeep của quân đội cấp cho, thì khi người ra đi, người chỉ để lại cho hậu thế thanh danh thần tướng cùng tấm lòng sắt son đối với dân tộc và tổ quốc.
Tài năng của Chuẩn Tướng Hai được xác định bằng những chức vụ quan trọng trong hệ thống quốc gia như Tỉnh Trưởng Phú Yên, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn II; Quân Khu II, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia và sau cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Đảm nhiệm những chức vụ cao tột như vậy mà người vẫn sống một cuộc sống bình dị, nghiền ngẫm kinh Phật, trên tay lúc nào cũng thấy những loại sách học hỏi khác nhau. Chuẩn Tướng Hai cũng nổi tiếng là vị Tướng thương yêu và chăm lo cho đời sống chiến binh các cấp dưới quyền hết mực, thậm chí coi thường cả mạng sống. Như câu chuyện đã trở thành huyền thoại về Đại Tá Hai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, đầu năm 1968 đã cùng vài Sĩ Quan đáp phi cơ C123 ra tận chiến trường Khe Sanh và nhảy xuống, lặn lội ra tận từng chiến hào tiền tuyến thăm hỏi khích lệ chiến sĩ Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân, dưới những cơn mưa pháo rền trời của địch.
Năm 1974 định mệnh đã đưa Chuẩn Tướng Hai về làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh để tên tuổi của người lưu tại nghìn thu trong sử sách, bằng cái chết hào hùng mà đã làm địch quân kinh hoàng.
Trước ngày 30.04.1975 chừng hơn một tuần, đích thân Tổng Thống Thiệu cho máy bay riêng xuống rước Chuẩn Tướng Hai di tản, mặc dù Chuẩn Tướng Hai không phải là người thân cận hay thuộc phe phái của ông Thiệu, điều đó cho thấy uy tín của người rất lớn. Chuẩn Tướng Hai thẳng thắn từ chối và cương quyết ở lại sống chết với chiến hữu của ông. Chuẩn Tướng Hai trong ngày cuối cùng vẫn tươm tất uy nghi trong bộ quân phục tác chiến ngồi trong văn phòng Tư Lệnh chờ quân địch đến. Người ôn tồn khuyên bảo Sĩ Quan và chiến binh thuộc cấp trở về với gia đình, nhưng có một số vẫn nhất quyết ở lại bảo vệ vị chủ tướng của họ. Vì họ biết Chuẩn Tướng Hai sẽ không bàn giao căn cứ Đồng Tâm, hoặc nếu có bàn giao thì cái phương thức ông làm sẽ không phải là phương thức kiểu đầu hàng. Một con người đã từng chiến đấu bảo vệ đất nước hơn hai mươi năm, không lý do gì người giao lại cho địch một cách dễ dàng. Khoảng xế trưa, một đơn vị cộng quân thận trọng tiến vào Đồng Tâm và nhỏ nhẹ đề nghị xin được tiếp quản căn cứ. Chuẩn Tướng Hai ngồi ngay ngắn sau chiếc bàn, bên trên có hai cái đế nhỏ gắn lá Cờ Vàng Việt Nam và lá cờ Tướng một sao, nghiêm nghị đòi hỏi một viên Sĩ Quan Sư Đoàn trưởng đến gặp ông. Ngoài điều kiện đó, ông không muốn bàn chuyện nào khác. Tình hình rất căng thẳng, hai bên giương súng ghìm nhau. Mãi lâu sau mới có một người gõ của xin vào rụt rè tự nhận là Sư Đoàn trưởng. Chuẩn Tướng Hai bất ngờ rút súng lục ra nổ mấy phát vào viên Sĩ Quan địch. Với khoảng cách rất gần đó, ông có thể giết chết đối phương dễ dàng, nhưng ông chỉ bắn ông này bị thương nhẹ phải bỏ chạy ra ngoài. Để cho địch biết, rằng muốn chiếm được nước Nam thì họ phải trả một cái giá nào đó. Chiều tối cùng ngày, Chuẩn Tướng Hai đã uống thuốc độc tự sát trong văn phòng Tư Lệnh.
Những người anh hùng của dân tộc Việt Nam, những chiến sĩ dũng mãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, suốt đời tận tụy với nước non, đã hiến dâng cho tổ quốc những giọt máu đỏ thắm tinh khôi cuối cùng của mình.
Tên tuổi và tấm gương chiến đấu của những vị thần tướng ấy mãi mãi lưu lại trong sử sách Việt Nam và được dân tộc Việt Nam ngàn đời phụng thờ hương khói.
Phạm Phong Dinh
Phạm Phong Dinh
Đất nước Việt Nam anh hùng hào kiệt đời nào cũng có. Những đấng tiền nhân tiên liệt đã chiến đấu và viết nên những trang sử chống xâm lược chói lọi nhất trong lịch sử nhân loại.
Giở lại những trang sử chiến đấu dũng mãnh và hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhân tưởng niệm ngày 30-04, là ngày nước Việt Nam Cộng Hòa thôi tồn tại, chúng tôi muốn kể lại cho các bạn trẻ Việt Nam công nghiệp chiến đấu và những giây phút chói chang cuối cùng của những vị thần tướng làm rạng danh nước Nam trên trường quốc tế: Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ.
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là hậu duệ của dòng họ Nguyễn Khoa danh tiếng ở đất Thần Kinh Huế mà các cụ tổ từ đời này sang đời nối tiếp đều có công trạng giúp Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi về phương Nam, mà điểm dừng là mũi Cà Mau.
Ðược hun đúc từ truyền thống ấy, Thiếu Tướng Nam thuở còn ở tuổi học sinh siêng năng chăm học, rất hiếu thảo với cha mẹ, ông thường nghiền ngẫm kinh Phật, sách triết học và Nho học. Người cũng rất say mê hội họa, âm nhạc và giỏi về nhạc lý. Sau này khi đã trở thành vị tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh và rồi lên Tư Lệnh Quân Đoàn IV Quân Khu IV người nổi tiếng là vị tướng từ ái, thương lính yêu dân, rất được quân và dân Miền Tây kính trọng và yêu thương.
Mỗi lần Thiếu Tướng Nam bay đến các tiểu khu (tỉnh) hay các đơn vị chiến trường nào, ông cũng đều không muốn làm phiền thuộc cấp vì chuyện ăn uống. Lắm lúc ông chỉ cần vài trái bắp luộc là đã xong cho một bữa trưa. Nếu ở Bộ Tư Lệnh thì người luôn luôn xuống Câu Lạc Bộ cùng dùng cơm với các Sĩ Quan, có gì ăn nấy.
Là một Phật tử thuần thành, Thiếu Tướng Nam ăn chay 15 ngày mỗi tháng, cố gắng tôn trọng những giới cấm, tránh sát giới nhưng vẫn chu toàn bổn phận của một người lính chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Bà con thân hữu đến thăm ông thì được, nhưng để xin ân huệ hay nhờ vả đều nhận được sự từ chối thẳng thắn. Cuộc sống của người quá giản dị, không vợ con, không nhu cầu vật chất xa hoa, không gì hết, đơn giản đến mức trở thành huyền thoại.
Tướng Dương Văn Minh, người được Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa bỏ phiếu đa số chấp thuận lên nắm quyến Tổng Thống vỏn vẹn mới có ba ngày đã vội vã ra lệnh toàn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng thôi chiến đấu từ 10 giờ sáng ngày 30.04.1975.
Dưới Quân Khu IV (Miền Tây) các tướng lãnh của quân ta nào đâu chịu đầu hàng một cách nhục nhã như vậy. Đại cuộc không thành, thành mất thì tướng phải tuẫn tiết theo thành. Thiếu Tướng Nam lên xe đi vào Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ thăm những chiến hữu thương binh của người lần cuối cùng. Mối thương cảm vận nước đến hồi đen tối, chiến hữu gãy súng và thương phế binh chắc chắn sẽ bị quân địch tàn nhẫn đuổi ra nằm lê la trên hè phố bụi đất với những vết thương còn lở lói và rướm máu, đã làm cho đôi mắt của người sưng húp lên. Đến tối Thiếu Tướng Nam quay trở về dinh Tư Lệnh nằm bên bờ con sông Cái Khế và nhận được tin Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó quân Khu IV đã nổ súng tuẫn tiết trong văn phòng tại trại Lê Lợi. Đến nửa đêm, Thiếu Tướng Nam trân trọng vận bộ lễ phục trắng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với ngù vai, dây biểu chương, huy chương các loại gắn trên ngực áo, nghiêm chỉnh ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế sau bàn Tư Lệnh. Rồi người đưa khẩu Browning lên bắn vào màng tang, đầu người gục xuống về phía trái. Ngày hôm sau, các Sĩ Quan còn ở lại Bộ Tư Lệnh đã đứng nghiêm chào người anh hùng rồi an táng thi thể người trong Nghĩa Trang Quân Đội Cần Thơ.
Trong đầu năm 1994, thân nhân của Thiếu Tướng Nam đã xuống Cần Thơ bốc mộ, hỏa thiêu và mang tro cốt đem về thờ trong chùa Gia Lâm trên đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, Sài Gòn.
Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV; Quân Khu IV đã tự sát trong văn phòng Tư Lệnh Phó tại Trại Lê Lợi nằm trên đường Hòa Bỉnh, Cần Thơ, trước Thiếu Tướng Nam vài tiếng đồng hồ.
Tên tuổi của Chuẩn Tướng Hưng được biết đến từ khi ông còn là một Sĩ Quan chiến đấu trên chiến trường Miền Tây và được xưng tụng là một trong những con mãnh hổ dũng cảm nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Từ chức vụ Đại Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 31 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh, ông được điều động lên Quân Khu III làm Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh và được vinh thăng Chuẩn Tướng chỉ vài tháng trước khi chiến trận Mùa Hè Đỏ Lửa nổ lớn tại An Lộc trong năm 1972.
Định mệnh đã chọn Chuẩn Tướng Hưng làm người tử thủ An Lộc và đánh thắng đến bốn Sư Đoàn địch, vang danh quân sử Việt Nam và chiến sử thế giới. Hình ảnh dũng cảm và quen thuộc mà chiến sĩ tử thủ An Lộc ngưỡng mộ người Tư Lệnh của họ, là chiến sĩ Lê Văn Hưng đầu đội nón sắt, quần lính, áo thun màu ô liu, tay xách cây M16 như bất cứ một người lính khinh binh nào, làm việc 24/24 giờ một ngày bên chiếc đèn vàng mù mờ ánh sáng, hay ra chiến hào khích lệ tinh thần binh sĩ và tỉ mỉ giảng giải cách sử dụng súng chống chiến xa M72 để bắn xe tăng địch.
Dưới sự chăm sóc và chỉ huy của Thiếu Tướng Nam và Chuẩn Tướng Hưng, Quân Đoàn IV gồm các Sư Đoàn 7, 9 và 21 Bộ Binh đã đem lại những ngày an bình cho người dân Miền Tây. Hai vị Tướng đã là một cặp chiến binh kiệt xuất tạo nên bức tường thành vững chắc cho Quân Khu IV. Cho đến cái ngày oan nghiệt 30.04.1975, hai vị Tướng nhiều lần nhận được lời đề nghị khẩn thiết của người Mỹ muốn giúp hai vị và gia đình di tản sang Hoa Kỳ, nhưng cả hai vị Tướng đã khẳng khái từ chối. Cho đến 4 giờ chiều cùng ngày, hai vị Thiếu Tướng còn cố liên lạc với các đơn vị hỏi xem có nhận được lệnh hành quân và phóng đồ bố trí chiến đấu chưa. Tất cả đều trả lời không. Hóa ra viên Đại Tá được giao trọng trách chuyển lệnh đã bỏ trốn mất. Hai vị Tướng tức uất thở than cho vận nước. Danh từ đầu hàng từ đầu cho đến tàn cuộc chiến rất xa lạ với người chiến sĩ QLVNCH.
Chuẩn Tướng Hưng vẫn với bộ quân phục tác chiến Bộ Binh màu ô liu trở lại văn phòng Tư Lệnh Phó gặp lại vợ con nói lời vĩnh biệt và ân cần khuyên nhủ Chuẩn Tướng phu nhân gắng cắn răng sống nuôi con, dạy dỗ con nên người, nói cho chúng biết về người cha đã chết như thế nào cho tổ quốc. Người cũng trân trọng từ biệt các chiến hữu:
“Tôi không bỏ các anh để đưa vợ con ra ngoại quốc. Tôi cũng không thể chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi tôi có rầy la. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm nếu có.”
Những người lính ôm lấy lá cờ vàng và cây súng thân thương vào lòng khóc nức nở. Họ biết giây phút vĩnh biệt người chủ tướng đã điểm. Chuẩn Tướng Hưng cố xô đẩy đuổi mọi người ra ngoài, bình thản đóng kín cửa văn phòng lại. Có tiếng súng nổ chát chúa từ bên trong vọng ra. Bà Hưng và các chiến hữu phá cửa xông vào. Chuẩn Tướng Hưng nằm ngã người tựa vào giường nửa trên nửa dưới, hai cánh tay dang ra và giật mạnh, toàn thân run rẩy từng cơn, đôi mắt còn mở to uất hờn. Người đã bắn vào tim để tỏ rõ tiết tháo một người Tướng lãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Máu từ trong tim người thấm ướt mảng áo ngực và loang ra đỏ thắm tấm drap trắng. Thời điểm người anh hùng thăng thiên đúng 8 giờ 45 tối ngày 30.04.1975.
Khoảng 11 giờ khuya, Thiếu Tướng Nam gọi điện qua chia buồn. Bà Thiếu Tướng Hưng nghe rõ tiếng thở dài của người Tư Lệnh phía bên kia đầu dây.
Trong cái ngày đau buồn ấy, tại bệnh viện Grall (Đồn Đất) Sài Gòn, người ta đưa vào thi hài của Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu II, một chiến binh mà các cấp bậc đi lên đều được trao gắn vinh thăng tại mặt trận. Thiếu Tướng Phú đã uống thuốc độc chết cùng với vận nước.
Từ cái ngày người bị trọng thương và sa vào tay giặc ở Điện Biên Phủ tháng 05.1954, rồi được trả về cho Việt Nam Cộng Hòa sau ngày ký Hiệp Định Geneva 20.07.1954, Thiếu Tướng Phú đã thề với lòng là người thà chết chứ không chịu nhục nhã lọt vào tay giặc một lần nữa. Lời thề ấy người đã giữ trọn, người chết đi mang theo một nỗi hận mất nước và một nỗi oan khuất về cuộc triệt thoái Quân Khu II không mong muốn. Còn nhớ tại trận Điện Biên Phủ, toàn Tiểu Đoàn của Đại Úy Phú chỉ còn có 100 tay súng mà phải ngăn chống một số lượng quân địch đông gấp hai mươi lần, ông dẫn quân lên đánh cận chiến với địch và giành lại được hơn 100 thước chiến hào. Đại Úy Phú và một số các Sĩ Quan chỉ huy Tiểu Đoàn đều bị đạn địch quật ngã và một vài giờ sau đó bị sa vào tay giặc. Trong thời gian bị giặc bắt làm tù binh, bệnh phổi của Đại Úy Phú tái phát và ông mang bệnh lao. định mệnh vẫn còn muốn cho người anh hùng được sống, để tiếp tục chiến đấu cống hiến nhiều hơn nữa cho nền tự do của tổ quốc, sau tháng 07.1954 Đại Úy Phú được trả về cho Việt Nam Cộng Hòa. Vị Tướng mảnh khảnh người, khuôn mặt xương nhưng có cái bắt tay mềm mại ấm áp ấy đã nhanh chóng trở thành một trong những vị Tướng xuất sắc nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lần lượt đảm nhiệm những chức vụ quan trọng: Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, Tư Lệnh Biệt Khu 44 thuộc Miền Tây, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, và sau hết Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu II. Chính là ở vị thế cực kỳ khó khăn này, Thiếu Tướng Phú phải đương đầu với nhiều vấn đề sinh tử có tầm vóc quốc gia, mà đã vượt ra khỏi quyền hạn nhỏ bé của ông. Người ta cho rằng việc thất thủ Ban Mê Thuột là do lỗi thiếu phán đoán của Thiếu Tướng Phú. Người ta chỉ có thể dùng quân luật và quân lệnh để bắt buộc Thiếu Tướng Phú thi hành lệnh rút quân, thậm chí đặt ông vào tình trạng bất khiển dụng vì lý do sức khỏe ngay trong ngày 14.03.1975, hai ngày trước khi Quân Đoàn II rút quân ra khỏi cao nguyên. Thiếu Tướng Phú đau lòng theo dõi các mũi tiến quân của địch, như những vết dầu loang nhanh chóng thấm đỏ hết hai phần ba lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Người biết cái sinh mạng nhỏ bé của mình cũng co ngắn lại cùng với số mệnh của đất nước. Rồi khi những chiếc khăn rằn và những chiếc áo màu xanh rêu mốc đã tràn ngập khắp phố phường Sài Gòn trong ngày 30.04.1975, người chọn cái chết lưu danh thanh sử bằng cách uống độc dược, để tỏ rõ ý chí bất khuất của người làm Tướng và chứng tỏ cho đối phương biết rằng họ có thể chiếm được đất nhưng không có thể quy phục được tiết tháo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Một trong những hồi ức rất đẹp và rất hào hùng mà Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ còn để lại trong chiến sử Việt Nam, là lúc ông cầm khẩu súng chống chiến xa M72 nhoài người lên khỏi hầm chỉ huy của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tại An Lộc bắn cháy một chiếc T54 chạy lần quầng sát một bên, trong lúc Chuẩn Tướng Hưng đã thủ sẵn một trái lựu đạn trong tay để cùng chết với quân địch. Đại Tá Vỹ đích thực là một khuôn mặt lừng lẫy của Miền Đông khi ông về phục vụ dưới cờ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh từ năm 1968. Đại Tá Vỹ nổi danh là một chiến binh quả cảm, một Sĩ Quan mẫn cán, năng nổ, có tài tham mưu và chỉ huy. Sau chiến thắng An Lộc, Đại Tá Vỹ được đề bạt lên làm Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 21 Bộ Binh, cho đến gần cuối năm 1974, sau một khóa học Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp bên Hoa Kỳ về, cái ghế và văn phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh đang chờ đợi ông, cùng với chiếc lon mới Chuẩn Tướng. Chuẩn Tướng Vỹ dưới con mắt nể trọng của chiến sĩ Sư Đoàn 5 Bộ Binh, là một vị chỉ huy siêng năng và đáng kính. Người nổi tiếng thanh liêm và chống tham nhũng, bản tính của người bộc trực và dễ nổi nóng trước cái ác và cái xấu. Một số Sĩ Quan trong Sư Đoàn làm chuyện càn quấy, ăn chận trên xương máu của chiến sĩ đều bị người trừng trị thẳng cánh. Chuẩn Tướng Vỹ là một trong những vị Tướng hiếm hoi có tinh thần tự trọng cao độ, không bao giờ ỷ lại vào mọi sự trợ giúp từ phía Hoa Kỳ. Người ta nhìn thấy ở ông một tinh thần tự lực cánh sinh và có nhiều sáng kiến khi phải đương đầu với những vấn đề khó khăn. Về mặt quân sự, người có một tầm nhìn chiến lược rất bao quát và thường hay bày tỏ với các Sĩ Quan tham mưu:
“Tôi nghi ngờ chúng nó không đánh mình ngoài này mà sẽ tìm cách len lỏi đi thẳng về Sài Gòn”.
Sự phán đoán đó về sau đã hoàn toàn đúng. Một Quân Đoàn Bắc Việt không giao chiến với Sư Đoàn 5 Bộ Binh, mà tìm cách len lỏi xuyên qua những điểm bố trí của Sư Đoàn, hối hả tiến về Sài Gòn để dứt điểm Tướng Dương Văn Minh.
Sáng ngày 30.4.1975 họp tham mưu Sư Đoàn xong, Chuẩn Tướng Vỹ và toàn ban Sĩ Quan ngồi bên chiếc máy thu thanh chờ nghe Tướng Minh đọc nhật lệnh quan trọng.
Trong thâm tâm Chuẩn Tướng Vỹ, người cứ tưởng là Tướng Minh sẽ kêu gọi toàn quân chiến đấu đến cùng, hoặc di tản về Miền Tây tiếp tục đánh. Thực chất chỉ là một bản nhật lệnh ngắn ngủi, khô khan, kêu gọi chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa các cấp buông súng, ai ở đâu thì ở đó và chờ binh đội cộng quân đến bàn giao. Chuẩn Tướng Vỹ nghiến răng miễn cưỡng ra lệnh cho binh sĩ treo cờ trắng trước cổng căn cứ và cho thuộc cấp giải tán.
Trước khi chia tay, Chuẩn Tướng Vỹ đã mời các Sĩ Quan cùng ăn một bữa cơm cuối cùng với ông. Nhìn khuôn mặt trầm buồn và ánh mắt u uất của vị Tư Lệnh, các Sĩ Quan đoán chắc thế nào ông cũng tử tiết để bảo toàn danh dự người làm Tướng, nên họ đã khéo léo giấu hết súng. Bữa cơm vĩnh biệt được dọn ra, những hạt cơm trắng ngần trong khoảnh khắc đó dường như có vị mặn của máu và cứng ngắc như những hạt sỏi. Mọi người còn đang dùng cơm thì Chuẩn Tướng Vỹ bỗng bỏ ra ngoài đi nhanh về hướng chiếc trailer dùng làm văn phòng tạm cho Tư Lệnh. Các Sĩ Quan kinh hoàng nghe hai tiếng nổ đanh gọn phát ra từ chiếc trailer. Mọi người hối hả chạy ùa tới mở cửa thì thấy Chuẩn Tướng Vỹ nằm trên vũng máu và người đã thực sự ra đi, trên tay còn cầm khẩu Beretta 6.35 mà mọi người không nhớ là nó còn nằm trong chiếc trailer. Chuẩn Tướng Vỹ đã bắn vào phía dưới cằm, đạn đi trổ lên đầu.
Khi các Sĩ Quan và binh đội cộng sản vào tiếp quản doanh trại. Sĩ Quan Sư Đoàn cao cấp của địch đã nghiêng mình kính phục khí tiết của Chuẩn Tướng Vỹ và nói: “Đây mới xứng đáng là con nhà Tướng.”
Các chiến sĩ Sư Đoàn chuyển thi thể vị chủ tướng ra an táng trong rừng cao su gần doanh trại Bộ Tư Lệnh. Ít lâu sau, thi thể Chuẩn Tướng Vỹ lại được thân nhân bốc lên đem về cải táng ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, Sài Gòn. Năm 1987, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Vỹ lặn lội vào Nam hỏa thiêu hài cốt của người anh hùng và đem về thờ ở từ đường họ Lê Nguyên tại quê nhà ở tỉnh Sơn Tây.
Cũng với tấm lòng của những người mẹ thương con bao la mênh mông như đại dương, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Trần Văn Hai tuổi già tấm lưng còng còm cõi với thời gian, đã mưu trí gạt được quân cộng đang tràn ngập trong căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh đem được thi thể vị Tư Lệnh về Gò Vấp mai táng. Bà rưng rưng nước mắt nghẹn ngào nhận gói di vật của con bà từ tay một vị Trung U¨y thuộc cấp, trong đó có một vài vật dụng cá nhân và số tiền hai tháng lương khiêm nhường của Chuẩn Tướng là 70.000 đồng. Là một người con hiếu thảo, trước khi ra đi người còn cố gửi về cho mẹ số tiền nhỏ bé đó.
Lúc còn sống Chuẩn Tướng Hai nổi tiếng là vị Tướng thanh liêm, cuộc đời thanh đạm không có của cải vật chất gì đáng kể, ngoài chiếc xe Jeep của quân đội cấp cho, thì khi người ra đi, người chỉ để lại cho hậu thế thanh danh thần tướng cùng tấm lòng sắt son đối với dân tộc và tổ quốc.
Tài năng của Chuẩn Tướng Hai được xác định bằng những chức vụ quan trọng trong hệ thống quốc gia như Tỉnh Trưởng Phú Yên, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn II; Quân Khu II, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia và sau cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Đảm nhiệm những chức vụ cao tột như vậy mà người vẫn sống một cuộc sống bình dị, nghiền ngẫm kinh Phật, trên tay lúc nào cũng thấy những loại sách học hỏi khác nhau. Chuẩn Tướng Hai cũng nổi tiếng là vị Tướng thương yêu và chăm lo cho đời sống chiến binh các cấp dưới quyền hết mực, thậm chí coi thường cả mạng sống. Như câu chuyện đã trở thành huyền thoại về Đại Tá Hai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, đầu năm 1968 đã cùng vài Sĩ Quan đáp phi cơ C123 ra tận chiến trường Khe Sanh và nhảy xuống, lặn lội ra tận từng chiến hào tiền tuyến thăm hỏi khích lệ chiến sĩ Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân, dưới những cơn mưa pháo rền trời của địch.
Năm 1974 định mệnh đã đưa Chuẩn Tướng Hai về làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh để tên tuổi của người lưu tại nghìn thu trong sử sách, bằng cái chết hào hùng mà đã làm địch quân kinh hoàng.
Trước ngày 30.04.1975 chừng hơn một tuần, đích thân Tổng Thống Thiệu cho máy bay riêng xuống rước Chuẩn Tướng Hai di tản, mặc dù Chuẩn Tướng Hai không phải là người thân cận hay thuộc phe phái của ông Thiệu, điều đó cho thấy uy tín của người rất lớn. Chuẩn Tướng Hai thẳng thắn từ chối và cương quyết ở lại sống chết với chiến hữu của ông. Chuẩn Tướng Hai trong ngày cuối cùng vẫn tươm tất uy nghi trong bộ quân phục tác chiến ngồi trong văn phòng Tư Lệnh chờ quân địch đến. Người ôn tồn khuyên bảo Sĩ Quan và chiến binh thuộc cấp trở về với gia đình, nhưng có một số vẫn nhất quyết ở lại bảo vệ vị chủ tướng của họ. Vì họ biết Chuẩn Tướng Hai sẽ không bàn giao căn cứ Đồng Tâm, hoặc nếu có bàn giao thì cái phương thức ông làm sẽ không phải là phương thức kiểu đầu hàng. Một con người đã từng chiến đấu bảo vệ đất nước hơn hai mươi năm, không lý do gì người giao lại cho địch một cách dễ dàng. Khoảng xế trưa, một đơn vị cộng quân thận trọng tiến vào Đồng Tâm và nhỏ nhẹ đề nghị xin được tiếp quản căn cứ. Chuẩn Tướng Hai ngồi ngay ngắn sau chiếc bàn, bên trên có hai cái đế nhỏ gắn lá Cờ Vàng Việt Nam và lá cờ Tướng một sao, nghiêm nghị đòi hỏi một viên Sĩ Quan Sư Đoàn trưởng đến gặp ông. Ngoài điều kiện đó, ông không muốn bàn chuyện nào khác. Tình hình rất căng thẳng, hai bên giương súng ghìm nhau. Mãi lâu sau mới có một người gõ của xin vào rụt rè tự nhận là Sư Đoàn trưởng. Chuẩn Tướng Hai bất ngờ rút súng lục ra nổ mấy phát vào viên Sĩ Quan địch. Với khoảng cách rất gần đó, ông có thể giết chết đối phương dễ dàng, nhưng ông chỉ bắn ông này bị thương nhẹ phải bỏ chạy ra ngoài. Để cho địch biết, rằng muốn chiếm được nước Nam thì họ phải trả một cái giá nào đó. Chiều tối cùng ngày, Chuẩn Tướng Hai đã uống thuốc độc tự sát trong văn phòng Tư Lệnh.
Những người anh hùng của dân tộc Việt Nam, những chiến sĩ dũng mãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, suốt đời tận tụy với nước non, đã hiến dâng cho tổ quốc những giọt máu đỏ thắm tinh khôi cuối cùng của mình.
Tên tuổi và tấm gương chiến đấu của những vị thần tướng ấy mãi mãi lưu lại trong sử sách Việt Nam và được dân tộc Việt Nam ngàn đời phụng thờ hương khói.
Phạm Phong Dinh
ĐỘNG CỬA THIỀN
Tâm Không Vĩnh Hữu
Đầu xuân, chùa làng nghi ngút hương trầm, thiện nam tín nữ chen chúc nhau vào chánh điện dâng hương bái Phật.
Người ra kẻ vào ngược xuôi như bất tận, mặt ai nấy đều vui tươi phấn chấn, y rằng cuộc đời này không hề đau khổ lo toan.. Nhưng rồi, mọi người phải cau mày nhíu mặt khi trông thấy một cô gái lạ lùng đang lảng vảng ngoài sân chùa, hệt như người từ hành tinh xa lạ mới xuống thăm trái đất.
Cô gái lạ lùng vì nổi bật giữa đám đông do có một sắc đẹp mê hồn, phải công nhận là tuyệt thế giai nhân. Dáng cao hơn một thước bảy. Tóc đen óng ả phủ dài xuống lưng. Những vòng đo lý tưởng. Đầy đặn và trắng trẻo. Gương mặt khả ái, sáng sủa. Nếu không là hoa hậu hoa khôi, thì cũng là người mẫu tầm cỡ ngôi sao. Không ai có thể nhăn mặt bực mình trước cái Đẹp bao giờ. Có điều, chỉ vì cô gái đã tự chọn cho mình bộ trang phục quá độc đáo, quá quái gở.. Chiếc váy ngắn cũn cỡn, tưởng như không còn kiểu nào ngắn hơn, khoe cặp giò dài khêu gợi. Chiếc áo thun bó sát ôm lấy thân trên bốc lửa, thân áo trước và thân áo sau được liền lạc với nhau chỉ bằng hai sợi dây mỏng mảnh vắt qua hai bên bờ vai tròn trịa và đầy đặn. Đẹp không chê vào đâu được, nhưng nếu cô ta đang đứng trên sàn diễn, hoặc đi trên phố cờ hoa rực rỡ ngoài kia. Đằng này, cô ta lại xuất hiện ngay chốn già lam tôn nghiêm thanh tịnh mới gây nên những nỗi bất bình từ những người chung quanh. Sự phẩn nộ, ghê sợ hiện rõ trên gương mặt những ai nhìn thấy cô gái, nhưng chưa ai lên tiếng thẳng thắn góp ý với con người lạ lùng, chỉ mới nghe những lời chê trách đàm tiếu nho nhỏ phía sau lưng người đẹp.
Một anh huynh trưởng gia đình Phật tử bước lại bên cô gái bằng sự nổ lực phi thường, can đảm tột bực, đưa cho cô ta một chiếc áo tràng màu lam, giọng nhã nhặn:
- Chào chị, chị vui lòng mặc chiếc áo này vào, nếu cần thì chị có thể mặc luôn về nhà, tôi rất lấy làm hân hạnh khi được tặng chị nhân ngày đầu năm mới!
Cô gái tròn xoe đôi mắt, nhìn anh huynh trưởng, rồi nhìn chiếc áo tràng với vẻ kinh ngạc, thản nhiên lắc đầu..
Anh huynh trưởng bực bội, giứ chiếc áo tràng tới, nói:
- Chị làm ơn mặc vào giùm cho. Đừng để mọi người khó chịu, và đừng để chư tăng nhìn thấy được mà tổn đức
đó!
Cô gái nhíu cặp chân mày lá liễu, hỏi cộc lốc:
- Vì sao?
Anh huynh trưởng không còn tự chủ được, cáu gắt:
- Chị còn chưa hiểu vì sao ư? Nơi đây là chốn tôn nghiêm, không phải chỗ chợ búa hay sân khấu kịch trường, cho nên trang phục trên người chị không phù hợp chút nào,rất chướng mắt mọi người. Chị thật tình không biết, hay giả bộ không biết?
Cô gái phì cười, một nụ cười tươi tắn tuyệt đẹp, lắc đầu:
- Biết làm gì để vướng? Ai thấy chướng thì đừng nhìn.
Mấy người đi chùa lễ Phật bái tăng, hay là đến đây để nhìn ngắm nhau? Ai tu nấy chứng, hãy để cho tôi yên!
Anh huynh trưởng cứng họng, không biết phải xử sao, trong lúc nhất thời đành đứng đực ra đó với chiếc áo tràng trên tay.
Thời may, có một vị sư trẻ bước lại đứng trước cô gái, xá dài một cái, cất giọng từ tốn:
-A Di Đà Phật! Cửa Từ Bi luôn rộng mở để phổ độ chúng sanh, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, trẻ già nữ nam… Nhưng, đừng vì vậy mà xem thường chốn thanh tịnh, tạo nên phiền toái.. Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy, chị ăn mặc như vậy mà vào chùa, có khác nào báng bổ đạo giáo, xúc phạm Tam Bảo? Mong chị hoan hỷ mặc áo tràng vào cho…
Cô gái cười duyên dáng, hỏi:
- Thầy thấy tôi ăn mặc thế nào?
Vị tăng trẻ lúng túng:
- Ờ… thì… rất hở hang … không nghiêm túc kín đáo…và…
Cô gái đưa tay vuốt mái tóc, ưỡn bộ ngực đầy sức sống, thản nhiên nói: - Thầy tu hành mà còn chấp quá! Tâm của thầy còn động lắm. Lục căn của thầy chưa được tinh tấn, vẫn còn vướng điều phàm tục. Tốt hơn hết, thầy nên đóng cửa nhập thất để khỏi nhìn thấy những điều bất thanh bất tịnh ở phụ nữ đàn bà!
Vị tăng trẻ xanh mặt, cúi đầu, mắt nhìn chăm chăm xuống đất, bước đi lẫn vào đám đông Phật tử ngược xuôi ngoài sân… Cô gái cười nửa miệng, quay sang hỏi anh huynh trưởng:
- Anh có vui lòng chỉ cho tôi tịnh thất của sư trụ trì không? Tôi đang rất muốn được vào vấn an ngài, và thỉnh giáo đôi điều…
Anh huynh trưởng nhíu mày nghĩ ngợi, tặt lưỡi:
- Dẫn chị vào tịnh thất của thầy trụ trì thì thật là không nên chút nào.. Nhưng, có lẽ phải làm điều dại dột này, vì chắc tình huống oái oăm khó xử như bây giờ, chỉ có thầy mới đủ đạo lực khai tâm điểm đạo cho chị thấy được phải trái!
Nói rồi, anh ta mời cô gái đi theo mình, băng qua đám đông, vào phía dãy nhà sau chánh điện. Anh ta dừng lại trước cửa một căn phòng, quay sang nói với cô gái:
- Chị vui lòng đứng chờ ở đây một lát, để tôi vào cáo bạch với thầy trước, khi nào thầy đồng ý tiếp khách, tôi sẽ ra mời chị vào. Được chứ?
- Ô-kê!
Anh huynh trưởng nhún vai ngán ngẫm, đưa tay gõ cửa ba cái. Bên trong có tiếng vọng ra: "Ai đó? Cần gì vậy?".
Anh huynh trưởng cao giọng:
- Bạch thầy, con là Tâm Tịnh, huynh trưởng gia đình Phật tử, có việc rất hệ trọng cần cáo bạch với thầy ạ!
Bên trong phòng vang lên giọng sang sảng:
- Tâm Tịnh đó ư? Vào đi, cửa không khoá!
Anh huynh trưởng mở cửa, bước nhanh vào trong và đóng lẹ cánh cửa lại. Cô gái đứng tủm tỉm cười, chờ đợi với vẻ háo hức... Chừng mười phút sau, cửa mở, anh huynh trưởng bước ra, nói:
- Chị được phép vào. Nhớ giữ ý giữ tứ một chút nhé!
Cô gái cười khẩy, bước vào phòng. Một vị tăng tuổi độ lục tuần đang ngồi trên chiếc phản mun đen bóng trong tư thế kiết già, ánh mắt sáng rực rọi chiếu thẳng vào mặt vị khách mới vào. Cô gái chấp tay xá ba cái, thưa:
- Bạch thầy, con có thắc mắc xin thầy điểm giáo…
- Cứ hỏi. Tôi nghe.
- Bạch thầy, con ăn mặc như thế này, vào chùa lễ Phật bái tăng, lại bị mọi người chê trách chỉ trích, bị tăng phê bình bắt lỗi, xin hỏi thầy ai đúng ai sai?
- Ai cũng đúng. Ai cũng sai.
- Bạch thầy, người phàm cố chấp đã đành, nhưng người đã xuất gia tu hành mà vướng mắc những chuyện lễ nghi giáo điều để đi bắt bẻ con, xin hỏi thầy là đúng hay sai?
- Vừa sai, vừa đúng!
- Sao là sai? Sao là đúng?
- Sai, vì tu hành mà chấp nhặt những điều nhỏ nhặt. Đúng, vì giữ gìn thanh tịnh cho chốn già lam tôn nghiêm, đó là bổn phận, là nhiệm vụ phụng sự Tam Bảo, hoằng dương Chánh Pháp!
- Con từng nghe rằng, ngọn cờ phấp phới bay, thật ra cờ không bay mà gió bay, thật ra gió chẳng động mà do Tâm của con người đang động. Phải vậy chăng?
- Thật hay! Thật hay! - Vậy, theo thầy thì con ăn mặc ra sao?
- Bình thường.
- Đáng trách hay đáng khen ạ?
- Hợp thời trang. Hiện đại. Gọn gàng. Tiết kiệm. Nếu người mặc không hề thấy ngượng nghịu, không chút gượng gạo, không phải âu lo, thong dong, khứ đáo, xuất nhập như rồng đạp mây, thì thật là đáng khen ngợi. Nếu mặc vào mà luôn thấy bị gò bó, thấy như bị mang của nợ, mang xích xiềng, không thoải mái đi đứng nằm ngồi thì thật là đáng thương, tội nghiệp, chứ không đáng trách!
Cô gái cười khanh khách ra điều thích thú. Sư trụ trì bật cười ha hả, tiếng cười tự tại vang động như đã rung chuyển cả giàn ngói rong rêu của tịnh thất. Rồi im lặng như tờ. Cô gái cất tiếng:
- Thầy thật cao thâm, vững như bàn thạch!
- Có phải đó là mục đích chính của cô khi ghé thăm bổn tự?
- …
- Im lặng, tức đã thú nhận.
- …
- Cô mang một chút am hiểu giáo lý nhà Phật, một chút kiến thức cơ bản về sự Tĩnh Động, cố tâm cố ý vào chùa để thử thách cái Tâm Đạo của tăng ni giáo đồ.. Sự cố ý làm cho người khác chao đảo tâm ý chính là ác tâm, chính là động rồi đó!
- Bạch thầy, quả đúng là con động. Nhưng đâu phải thấy người động mà mình phải động theo, phải vậy không thầy?
- Phải nhớ quanh cô đều là những chúng sanh đang tu, còn tu, chứ chưa có ai đắc đạo, chưa ai giải thoát được mình!
- Chỉ có thầy là tĩnh thôi sao?
- Vì đây là tịnh thất. Tâm người phải tĩnh, phải tịnh.
- Thầy không trách con về chuyện ăn mặc này thật sao?
- Không trách, mà còn khen. Áo quần chỉ là ngoại vật. Chúng vô tri vô giác, không tội tình gì. Chúng là vật ngoại thân, không là một bộ phận của thân thể con người…
- Và thân thể con người cũng chỉ là giả tạm…
- Chỉ là đất, nước, gió, lửa hội tụ tạo nên. Thân xác này còn là thứ bên ngoài, huống chi là quần với áo, xiêm với y?
- Chỉ cái Tâm bên trong mới là quan trọng?
- Tính động đều từ nơi ấy. Cho nên, nếu cô đã có gan ăn mặc hở hang thiếu thốn vải vóc để vào cửa thiền, thì hãy phát huy thêm bản lĩnh mà trút bỏ hết xiêm y giả tạm ra khỏi tấm thân giả tạm ngay nơi đây đi!
- …
- Trút bỏ hết đi!
Sư trụ trì quát lên. Cô gái giật bắn mình, vội quỳ mọp xuống, đầu dập đất mấy cái.
Sư lại quát:
- Trút hết. Rồi đi ra ngoài, dạo một vòng vãn cảnh mau đi!
- Bạch thầy… con không dám. Con không dám .Con xin dập đầu tạ tội. Đội ơn thầy đã khai tâm điểm đạo!
… Anh huynh trưởng đứng chờ ngoài hành lang với ruột nóng gan sôi, cứ như đang đứng trên tổ kiến bồ nhọt.. Và rồi, cánh cửa tịnh thất đã mở toang. Cô gái lạ lùng đã bước ra ngoài với vẻ mặt rạng rỡ tươi vui. Lạ lùng hơn, trên người cô ta đang mặc một chiếc áo nhật bình của tăng chúng. Cô gái cười chào anh huynh trưởng, bước thoăn thoắt hướng về phía chánh điện.
Anh huynh trưởng lè lưỡi, bước nhón hân lại khép cánh cửa tịnh thất thật nhẹ nhàng. Rồi anh chấp tay xa ba cái về phía bên trong cánh cửa vô tri, nói:
- Quả đúng là chỉ có thầy mới trị được quỷ sứ ma vương! Anh ta thở phào nhẹ nhõm. Đầu năm vui thật. Thật là vui.
---
Tâm Không Vĩnh Hữu
Đầu xuân, chùa làng nghi ngút hương trầm, thiện nam tín nữ chen chúc nhau vào chánh điện dâng hương bái Phật.
Người ra kẻ vào ngược xuôi như bất tận, mặt ai nấy đều vui tươi phấn chấn, y rằng cuộc đời này không hề đau khổ lo toan.. Nhưng rồi, mọi người phải cau mày nhíu mặt khi trông thấy một cô gái lạ lùng đang lảng vảng ngoài sân chùa, hệt như người từ hành tinh xa lạ mới xuống thăm trái đất.
Cô gái lạ lùng vì nổi bật giữa đám đông do có một sắc đẹp mê hồn, phải công nhận là tuyệt thế giai nhân. Dáng cao hơn một thước bảy. Tóc đen óng ả phủ dài xuống lưng. Những vòng đo lý tưởng. Đầy đặn và trắng trẻo. Gương mặt khả ái, sáng sủa. Nếu không là hoa hậu hoa khôi, thì cũng là người mẫu tầm cỡ ngôi sao. Không ai có thể nhăn mặt bực mình trước cái Đẹp bao giờ. Có điều, chỉ vì cô gái đã tự chọn cho mình bộ trang phục quá độc đáo, quá quái gở.. Chiếc váy ngắn cũn cỡn, tưởng như không còn kiểu nào ngắn hơn, khoe cặp giò dài khêu gợi. Chiếc áo thun bó sát ôm lấy thân trên bốc lửa, thân áo trước và thân áo sau được liền lạc với nhau chỉ bằng hai sợi dây mỏng mảnh vắt qua hai bên bờ vai tròn trịa và đầy đặn. Đẹp không chê vào đâu được, nhưng nếu cô ta đang đứng trên sàn diễn, hoặc đi trên phố cờ hoa rực rỡ ngoài kia. Đằng này, cô ta lại xuất hiện ngay chốn già lam tôn nghiêm thanh tịnh mới gây nên những nỗi bất bình từ những người chung quanh. Sự phẩn nộ, ghê sợ hiện rõ trên gương mặt những ai nhìn thấy cô gái, nhưng chưa ai lên tiếng thẳng thắn góp ý với con người lạ lùng, chỉ mới nghe những lời chê trách đàm tiếu nho nhỏ phía sau lưng người đẹp.
Một anh huynh trưởng gia đình Phật tử bước lại bên cô gái bằng sự nổ lực phi thường, can đảm tột bực, đưa cho cô ta một chiếc áo tràng màu lam, giọng nhã nhặn:
- Chào chị, chị vui lòng mặc chiếc áo này vào, nếu cần thì chị có thể mặc luôn về nhà, tôi rất lấy làm hân hạnh khi được tặng chị nhân ngày đầu năm mới!
Cô gái tròn xoe đôi mắt, nhìn anh huynh trưởng, rồi nhìn chiếc áo tràng với vẻ kinh ngạc, thản nhiên lắc đầu..
Anh huynh trưởng bực bội, giứ chiếc áo tràng tới, nói:
- Chị làm ơn mặc vào giùm cho. Đừng để mọi người khó chịu, và đừng để chư tăng nhìn thấy được mà tổn đức
đó!
Cô gái nhíu cặp chân mày lá liễu, hỏi cộc lốc:
- Vì sao?
Anh huynh trưởng không còn tự chủ được, cáu gắt:
- Chị còn chưa hiểu vì sao ư? Nơi đây là chốn tôn nghiêm, không phải chỗ chợ búa hay sân khấu kịch trường, cho nên trang phục trên người chị không phù hợp chút nào,rất chướng mắt mọi người. Chị thật tình không biết, hay giả bộ không biết?
Cô gái phì cười, một nụ cười tươi tắn tuyệt đẹp, lắc đầu:
- Biết làm gì để vướng? Ai thấy chướng thì đừng nhìn.
Mấy người đi chùa lễ Phật bái tăng, hay là đến đây để nhìn ngắm nhau? Ai tu nấy chứng, hãy để cho tôi yên!
Anh huynh trưởng cứng họng, không biết phải xử sao, trong lúc nhất thời đành đứng đực ra đó với chiếc áo tràng trên tay.
Thời may, có một vị sư trẻ bước lại đứng trước cô gái, xá dài một cái, cất giọng từ tốn:
-A Di Đà Phật! Cửa Từ Bi luôn rộng mở để phổ độ chúng sanh, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, trẻ già nữ nam… Nhưng, đừng vì vậy mà xem thường chốn thanh tịnh, tạo nên phiền toái.. Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy, chị ăn mặc như vậy mà vào chùa, có khác nào báng bổ đạo giáo, xúc phạm Tam Bảo? Mong chị hoan hỷ mặc áo tràng vào cho…
Cô gái cười duyên dáng, hỏi:
- Thầy thấy tôi ăn mặc thế nào?
Vị tăng trẻ lúng túng:
- Ờ… thì… rất hở hang … không nghiêm túc kín đáo…và…
Cô gái đưa tay vuốt mái tóc, ưỡn bộ ngực đầy sức sống, thản nhiên nói: - Thầy tu hành mà còn chấp quá! Tâm của thầy còn động lắm. Lục căn của thầy chưa được tinh tấn, vẫn còn vướng điều phàm tục. Tốt hơn hết, thầy nên đóng cửa nhập thất để khỏi nhìn thấy những điều bất thanh bất tịnh ở phụ nữ đàn bà!
Vị tăng trẻ xanh mặt, cúi đầu, mắt nhìn chăm chăm xuống đất, bước đi lẫn vào đám đông Phật tử ngược xuôi ngoài sân… Cô gái cười nửa miệng, quay sang hỏi anh huynh trưởng:
- Anh có vui lòng chỉ cho tôi tịnh thất của sư trụ trì không? Tôi đang rất muốn được vào vấn an ngài, và thỉnh giáo đôi điều…
Anh huynh trưởng nhíu mày nghĩ ngợi, tặt lưỡi:
- Dẫn chị vào tịnh thất của thầy trụ trì thì thật là không nên chút nào.. Nhưng, có lẽ phải làm điều dại dột này, vì chắc tình huống oái oăm khó xử như bây giờ, chỉ có thầy mới đủ đạo lực khai tâm điểm đạo cho chị thấy được phải trái!
Nói rồi, anh ta mời cô gái đi theo mình, băng qua đám đông, vào phía dãy nhà sau chánh điện. Anh ta dừng lại trước cửa một căn phòng, quay sang nói với cô gái:
- Chị vui lòng đứng chờ ở đây một lát, để tôi vào cáo bạch với thầy trước, khi nào thầy đồng ý tiếp khách, tôi sẽ ra mời chị vào. Được chứ?
- Ô-kê!
Anh huynh trưởng nhún vai ngán ngẫm, đưa tay gõ cửa ba cái. Bên trong có tiếng vọng ra: "Ai đó? Cần gì vậy?".
Anh huynh trưởng cao giọng:
- Bạch thầy, con là Tâm Tịnh, huynh trưởng gia đình Phật tử, có việc rất hệ trọng cần cáo bạch với thầy ạ!
Bên trong phòng vang lên giọng sang sảng:
- Tâm Tịnh đó ư? Vào đi, cửa không khoá!
Anh huynh trưởng mở cửa, bước nhanh vào trong và đóng lẹ cánh cửa lại. Cô gái đứng tủm tỉm cười, chờ đợi với vẻ háo hức... Chừng mười phút sau, cửa mở, anh huynh trưởng bước ra, nói:
- Chị được phép vào. Nhớ giữ ý giữ tứ một chút nhé!
Cô gái cười khẩy, bước vào phòng. Một vị tăng tuổi độ lục tuần đang ngồi trên chiếc phản mun đen bóng trong tư thế kiết già, ánh mắt sáng rực rọi chiếu thẳng vào mặt vị khách mới vào. Cô gái chấp tay xá ba cái, thưa:
- Bạch thầy, con có thắc mắc xin thầy điểm giáo…
- Cứ hỏi. Tôi nghe.
- Bạch thầy, con ăn mặc như thế này, vào chùa lễ Phật bái tăng, lại bị mọi người chê trách chỉ trích, bị tăng phê bình bắt lỗi, xin hỏi thầy ai đúng ai sai?
- Ai cũng đúng. Ai cũng sai.
- Bạch thầy, người phàm cố chấp đã đành, nhưng người đã xuất gia tu hành mà vướng mắc những chuyện lễ nghi giáo điều để đi bắt bẻ con, xin hỏi thầy là đúng hay sai?
- Vừa sai, vừa đúng!
- Sao là sai? Sao là đúng?
- Sai, vì tu hành mà chấp nhặt những điều nhỏ nhặt. Đúng, vì giữ gìn thanh tịnh cho chốn già lam tôn nghiêm, đó là bổn phận, là nhiệm vụ phụng sự Tam Bảo, hoằng dương Chánh Pháp!
- Con từng nghe rằng, ngọn cờ phấp phới bay, thật ra cờ không bay mà gió bay, thật ra gió chẳng động mà do Tâm của con người đang động. Phải vậy chăng?
- Thật hay! Thật hay! - Vậy, theo thầy thì con ăn mặc ra sao?
- Bình thường.
- Đáng trách hay đáng khen ạ?
- Hợp thời trang. Hiện đại. Gọn gàng. Tiết kiệm. Nếu người mặc không hề thấy ngượng nghịu, không chút gượng gạo, không phải âu lo, thong dong, khứ đáo, xuất nhập như rồng đạp mây, thì thật là đáng khen ngợi. Nếu mặc vào mà luôn thấy bị gò bó, thấy như bị mang của nợ, mang xích xiềng, không thoải mái đi đứng nằm ngồi thì thật là đáng thương, tội nghiệp, chứ không đáng trách!
Cô gái cười khanh khách ra điều thích thú. Sư trụ trì bật cười ha hả, tiếng cười tự tại vang động như đã rung chuyển cả giàn ngói rong rêu của tịnh thất. Rồi im lặng như tờ. Cô gái cất tiếng:
- Thầy thật cao thâm, vững như bàn thạch!
- Có phải đó là mục đích chính của cô khi ghé thăm bổn tự?
- …
- Im lặng, tức đã thú nhận.
- …
- Cô mang một chút am hiểu giáo lý nhà Phật, một chút kiến thức cơ bản về sự Tĩnh Động, cố tâm cố ý vào chùa để thử thách cái Tâm Đạo của tăng ni giáo đồ.. Sự cố ý làm cho người khác chao đảo tâm ý chính là ác tâm, chính là động rồi đó!
- Bạch thầy, quả đúng là con động. Nhưng đâu phải thấy người động mà mình phải động theo, phải vậy không thầy?
- Phải nhớ quanh cô đều là những chúng sanh đang tu, còn tu, chứ chưa có ai đắc đạo, chưa ai giải thoát được mình!
- Chỉ có thầy là tĩnh thôi sao?
- Vì đây là tịnh thất. Tâm người phải tĩnh, phải tịnh.
- Thầy không trách con về chuyện ăn mặc này thật sao?
- Không trách, mà còn khen. Áo quần chỉ là ngoại vật. Chúng vô tri vô giác, không tội tình gì. Chúng là vật ngoại thân, không là một bộ phận của thân thể con người…
- Và thân thể con người cũng chỉ là giả tạm…
- Chỉ là đất, nước, gió, lửa hội tụ tạo nên. Thân xác này còn là thứ bên ngoài, huống chi là quần với áo, xiêm với y?
- Chỉ cái Tâm bên trong mới là quan trọng?
- Tính động đều từ nơi ấy. Cho nên, nếu cô đã có gan ăn mặc hở hang thiếu thốn vải vóc để vào cửa thiền, thì hãy phát huy thêm bản lĩnh mà trút bỏ hết xiêm y giả tạm ra khỏi tấm thân giả tạm ngay nơi đây đi!
- …
- Trút bỏ hết đi!
Sư trụ trì quát lên. Cô gái giật bắn mình, vội quỳ mọp xuống, đầu dập đất mấy cái.
Sư lại quát:
- Trút hết. Rồi đi ra ngoài, dạo một vòng vãn cảnh mau đi!
- Bạch thầy… con không dám. Con không dám .Con xin dập đầu tạ tội. Đội ơn thầy đã khai tâm điểm đạo!
… Anh huynh trưởng đứng chờ ngoài hành lang với ruột nóng gan sôi, cứ như đang đứng trên tổ kiến bồ nhọt.. Và rồi, cánh cửa tịnh thất đã mở toang. Cô gái lạ lùng đã bước ra ngoài với vẻ mặt rạng rỡ tươi vui. Lạ lùng hơn, trên người cô ta đang mặc một chiếc áo nhật bình của tăng chúng. Cô gái cười chào anh huynh trưởng, bước thoăn thoắt hướng về phía chánh điện.
Anh huynh trưởng lè lưỡi, bước nhón hân lại khép cánh cửa tịnh thất thật nhẹ nhàng. Rồi anh chấp tay xa ba cái về phía bên trong cánh cửa vô tri, nói:
- Quả đúng là chỉ có thầy mới trị được quỷ sứ ma vương! Anh ta thở phào nhẹ nhõm. Đầu năm vui thật. Thật là vui.
---
Hạnh Phúc Hiện Tại
Tuyết Mai
Có không biết bao nhiêu cặp vợ chồng, từ bao nhiêu năm cứ để mặc tình trạng “khắc khẩu”, tình trạng “xung khắc” bất hòa giữa hai vợ chồng kéo dài năm này tháng nọ. Họ không buồn bỏ một chút thì giờ để tìm hiểu lý do của sự khắc khẩu, sự nghịch ý và tìm cách khắc phục để gia đình có một đời sống hạnh phúc, an vui. Họ không ý thức được rằng, hạnh phúc có sẳn trong hiện tại, trên con đường chúng ta đang đi…
Chỉ một việc chúng ta được sống độc lập, nghĩa là có thể thấy, nghe, đi, đứng, ăn uống, không bệnh hoạn, có cơm ăn, có áo mặc, có nhà ở và được bình yên đã là một hạnh phúc vô cùng trong đời, mà ít người ý thức, vì người ta cứ mãi mê theo đuổi những mộng tưởng xa xôi, thả hình bắt bóng.
Nếu tuần nào không bận rộn với những sinh hoạt cộng đồng, hai vợ chồng tôi đi ăn nhậu tiệc tùng ở nhà bạn bè, sẽ có dịp nghe các bà, sau khi ăn no kéo nhau ra phòng khách, đem ông chồng yêu quý của mình ra tố khổ.
Câu chuyện của chị Hồng làm tôi suy nghĩ rất nhiều, từ câu chuyện đó tôi suy ra một triết lý… sống hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây.
Chị Hồng kể, chị vượt biên trước với hai con, qua Mỹ mấy mẹ con vất vả lúc đầu nhưng dần dần đã tạo được cuộc sống tốt đẹp. Chị mua được một cái nhà hàng nho nhỏ và các con đã ăn học nên người. Hơn mười năm sau ông chồng ra tù cải tạo mới được bảo lãnh sang Mỹ. Trong thời gian xa cách hơn một chục năm đó hai người đã hoàn toàn thay đổi. Chị Hồng đã quen đời sống Tây phương, tháo vát, lanh lợi, còn ông chồng sau một thời gian lâu dài bị tù đày, sức khỏe yếu kém, tinh thần bị khủng hoãng, ông rất chậm chạp, có thể nói là cù lần so với bà vợ.
Tinh thần chị Hồng luôn bị căng thẳng, lo âu vì việc làm ăn buôn bán, cạnh tranh, lại thêm thân xác quá mệt mõi vì làm việc nhiều giờ ở nhà hàng nên lúc nào chị cũng cau có, gắt gỏng như bệnh thần kinh hay xì nẹt vô lý, càng làm cho ông chồng thêm buồn tũi thân phận sống bám vào vợ.
Một hôm ông chồng bệnh, bảo chị Hồng rót cho một ly sữa. Chị càu nhàu: - Thì ông đi lấy đi, còn đi được, chưa bệnh nặng mà.
Ông chồng đổ quạo: " tôi bệnh bà biết không?
Chị Tâm với tay lấy ly nước trà chị đang uống, đổ sửa vô rồi đem lại cho ông chồng. Chị dằn mạnh cái ly lên bàn nói “uống đi”, rồi quay lưng đi.
Ông chồng nổi giận bắt đầu to tiếng: - Bà đã đi quá mức của một người vợ, không coi chồng ra gì!.
Chị Hồng trả lời lại: - “Bên Mỹ này bình quyền, không có chuyện chồng chúa vợ tôi. Ai cũng phải làm việc cực thấy cha để kiếm sống, không ai hầu ai như bên nhà”.
Chị lằn nhằn không dứt lời.
Ông chồng thấy cái gì màu đen giống con ruồi trong ly sửa, ông la lên: - Bà cho tôi uống sửa với ruồi, bà biết không?
Chị Hồng bình thản đáp: - Thì vớt nó ra. Ở bên Việt Nam, đang ăn phở con ruồi bay rớt vô tô phở mình vớt bỏ đi, rồi ăn tiếp có sao đâu.
Ông chồng nổi cơn, nhắc lại đủ thứ chuyện buồn phiền chất chứa trong lòng bấy lâu nay. Ông chồng chưa dứt lời thì bà vợ phản pháo ngay bằng những lời lẽ thật đanh đá. Cả hai trao đổi nhau những câu nói chanh chua, độc ác cho hả giận. Trong cơn nóng giận đó, họ không có thì giờ suy nghĩ, cân nhắc từng lời nói, nên những lời lẽ thật tàn nhẫn, độc địa được bắn thẳng vào tai, vào tim hai người và đã để lại nhiều vết thương không hàn gắn được.
Không dằn được cơn giận, anh chồng nói: ”Không thể tiếp tục được nữa, phải ly dị”.
Bà vợ trả lời ngay: - Càng sớm càng tốt, bỏ ông ra tôi dư sức lấy một chục thằng hơn ông.
Ông chồng không chịu thua nói: - Phen này ông về Việt Nam ông lấy gái còn trinh chứ không lấy bà già ó đâm như bà .
Chị Hồng chạy vội ra xe : - Tôi đi tới văn phòng luật sư ký giấy ly dị ngay bây giờ đây.
Tại văn phòng luật sư, chị Hồng gọi điện thoại về cho hay luật sư đòi phải đặt trước hai ngàn đô và không trả lại nếu sau này họ đổi ý không muốn ly dị. Ông chồng đồng ý ngay, rồi buồn bã đứng dậy bước lại bồn rửa chén, đổ ly sữa. Bên cửa sổ có ánh sáng, anh chồng mới thấy miếng đen trong ly sữa là lá trà trong ly chị Hồng đã uống. Thì ra cả hai vợ chồng cải nhau rùm beng, làm mất đi một buổi sáng đẹp trời chỉ vì xớn xác thấy lá trà mà tưởng là con ruồi. Anh chồng ân hận cho sự nóng nảy của mình. Không phải hai vợ chồng chỉ mất đi một buổi sáng đẹp trời mà mất luôn hai ngàn đô, đấy là may nếu không thấy lá trà thì họ đã ly dị, gia đình ly tan, con cái buồn khổ, chỉ vì nóng nảy, lầm lẫn. Lúc nóng giận đầu óc người ta không sáng suốt, nói nặng không tiếc lời.
Hai vợ chồng tiếp tục sống chung, ăn chung, ngủ chung nhưng không hạnh phúc, không ai nhường nhịn ai. Ai cũng có cái “ngã” quá to, tự cho mình đúng rồi rống họng cải, mạc xác lẫn nhau. Họ để mặc cho tình trạng khắc khẩu kéo dài vì tin là tuổi của họ xung khắc, số con chuột, con mèo, con rắn, con heo gì đó… tứ hành xung, vì tình nghĩa không ly dị, nhưng không thể sống thuận hòa, hạnh phúc với nhau được.
Một hôm có một người khách đến ăn ở nhà hàng đưa cho chị Hồng xem hình họ vừa xây một căn nhà rất khang trang bốn từng lầu tuyệt đẹp ở Saigon mà tốn có bảy chục ngàn mỹ kim. Chị Hồng cầm cái hình ngắm tới ngắm lui thích quá, muốn về VN xây một căn như vậy cho cha mẹ ở bây giờ và một ngày nào đó về hưu hai vợ chồng về VN, thì có căn nhà tiện nghi. Ở đây chắc con cái sẽ bỏ cha mẹ vô viện dưỡng lão, thêm buồn tũi.
Thế là chị Hồng tự ý bay về VN hai tháng để tận mắt trông coi việc xây cất căn nhà theo ý chị muốn. Trước khi đi chị dặn dò mấy đứa con, coi chừng ba, đừng để ổng đi nhậu nhẹt, gặp gỡ bà này bà nọ lúc mẹ vắng nhà. Hai đứa con nghe lời mẹ, để ý canh chừng ông già. Ông chẳng đi đâu cả, buổi tối sau khi đóng cửa nhà hàng về ông ngồi gỏ lóc cóc trên key board computer đến quá nửa đêm, “chat” với mấy cô gái ở VN muốn lấy chồng Việt Kiều. Chỉ trong vòng hai tháng là tình nồng say đắm nẩy nở giữa chồng chị và cô gái tuổi đáng con ở VN. Câu chuyện tình ão trên net đã thúc đẩy anh chồng quyết về VN một chuyến để gặp người tình trong mộng, trên net.
Khi chị Hồng trở về Mỹ, hí hững với mấy cái hình căn nhà khang trang ở VN thì ông chồng chị quyết liệt đòi về VN để xem tận mắt căn nhà. Cố nhiên chị Hồng không cho ông ta về VN một mình, cho chồng về VN một mình rất nguy hiểm, dễ bị các cô gái tơ ở VN quyến rũ. Nhưng nay với tình yêu thúc đẩy ông chồng chị Hồng quyết “quật khởi” , không chịu đựng sự chỉ huy, theo ý kiến của vợ nữa. Chị Hồng giận lẫy, cảnh cáo là khi ông trở về thì ông cuốn quần áo ra khỏi nhà. Ly dị. Ông chồng nghĩ bụng “càng tốt”.
Khi về tới VN thì việc đầu tiên là anh chồng đi tìm gặp người tình trên net. Trời ơi! Hình trên net thì cô ta đẹp và duyên dáng, còn trên thực tế thì xấu ơi là xấu và qua nhiều câu chuyện thì anh chồng thấy rõ là cô này “bắt địa”, moi móc tiền Việt kiều hơn là có tình yêu chân thật. Cô này muốn đi Mỹ với bất cứ giá nào, chuyện sống hạnh phúc hay không thì hạ hồi phân giải, cò ly dị cũng không sao, miễn được đi Mỹ. Ông chồng thất vọng, lo ngại, tiếc công xúc tép nuôi cò, không biết cò ở với ông được bao lâu mà trước mắt là phải hy sinh bà vợ già... Sau vài lần gặp gỡ anh chồng quyết ở lại với vợ “ta về ta tắm ao ta” cho chắc ăn.
Từ đấy ngày nào anh ta cũng o bế đưa ông bà già vợ đi ăn , đi chơi, như một thằng rể có hiếu. Chị Hồng ở nhà lục lạo hết phòng này tới tủ nọ cố tìm một chứng tích để hiểu vì sao ông nhất quyết đòi về VN, phải có một động cơ nào đó thúc đẩy ông ta mới quyết liệt như vậy.
Moi móc hết quần áo ở mọi góc kẹt, chị mới thấy một hộp bánh biscuit được gói kỹ, tim chị đập mạnh, hội hộp mở ra từ từ, trong đó có một cuốn sổ tay nhỏ và một xấp thơ cũ giấy đã bạc màu. Chị mở cuốn sổ nhỏ ra đọc mới biết đó là quyển nhật ký, ông chồng viết rất ngắn gọn những tâm tình thật buồn tũi về cuộc đổi đời, bây giờ không còn uy quyền của một cấp chỉ huy, một người chồng, người cha trong gia đình… Ông ghi lại sự chịu đựng, chấp nhận cuộc sống hiện tại, nhất là nỗi buồn tũi phải sống bám vào vợ, vì tuổi đã lớn không thể làm lại từ đầu…
Đọc tới đây chị Hồng thấy cảm động ứa nước mắt, bây giờ chị mới cảm thông, thương xót, tội nghiệp chồng.. Từ trước tới giờ mỗi lần nổi cơn là chị la cho hả giận, chứ không hề nghĩ tới tinh thần ông chồng đã bị khũng hoãng trước cuộc đổi đời, và chị cũng không biết giọng nói thường nhật vô tình của chị đã làm chạm tự ái ông chồng rất nhiều, đã để lại trong tâm thức ông nhiều đau thương, buồn tũi không tả được.
Chị Hồng bỏ cuốn nhật ký xuống, đọc tiếp xấp thư, thì ra đây là những cái thư chị đã gởi cho anh chồng từ lúc hai người mới yêu nhau. Chị thật xúc động khi thấy anh chồng vẫn còn giữ kỹ những kỷ vật này.
Chị đọc cái thư thứ nhất, có những lời lẽ thật ngọt ngào, nũng nịu dễ thương "anh dễ ghét ghê! Anh biết là xa anh em nhớ anh thấy mồ không? Lần sau hể em gọi điện thoại, dù anh bận đến đâu anh cũng phải gọi lại liền, nếu không em sẽ bắt đền…” Kèm theo thư là cái hình chị lúc 18 tuổi. Trời lúc đó mặt mũi xinh ghê, đã xinh đẹp còn ngọt ngào nữa chẳng trách ông chồng trồng cây si, đòi làm đám cưới sớm. Cái thư có ép hoa pensee nữa, tình thuở ấy thiệt là mơ mộng.
Chị Hồng với tay lấy cái gương trên bàn, soi lại mặt mình bây giờ…hởi ơi, năm tháng đã để lại trên mặt chị nhiều nếp nhăn, đã già nua mà lúc xì nẹt chị còn cau có, chẳng trách sao bây giờ chồng muốn thương mà thương không vô.
Chị Hồng đọc tiếp cái thư thứ hai, cái nào cũng có kèm theo một cái hình rất xinh, hồi đó có bao nhiêu tiền mấy cô gái cũng đem đổ cho máy tiệm chụp hình ăn. Trong thư chị viết: “ Em nhớ buổi chiều mình dạo chơi trong công viên, trời bắt đầu mưa nhẹ hạt, anh ôm, che mưa cho em, trong vòng tay thương yêu của anh, em cảm thấy thật ấm êm, hạnh phúc. Em mong vòng tay thương yêu này che chỡ em mãi suốt cuộc đời…” .
Chị Hồng nhớ lại …mới cách đây mấy hôm, hai vợ chồng lái xe khi trời tuyết. Nhìn những bông tuyết rơi nhẹ càng thú vị hơn mưa rơi nhiều, nhưng bây giờ già hay quạo bậy, đường trơn trợt , ông chồng ghì chặt tay lái, trong lúc chị càu nhàu:
- Ông lái xe kiểu gì kỳ cục vậy, sang “lane” sao không ra signal, hồi nảy bảo đi đường trong ông không chịu, ông đi đường ngoài bây giờ không nhớ đường. Tôi nói với ông hoài, lên xe thì phải coi bản đồ trước, định hướng, bây giờ sắp trễ chuyến bay mà còn lần quần không biết đường, khổ không?.
Ông chồng cự lại: - Bà giỏi bà lái đi!
- Tôi không lái xe được trên xa lộ, trời tuyết.
- Không lái được thì im đi để người ta lái. Đã lạc đường còn nghe cằn nhằn có bực không?
Cái thư thứ ba cũng có lời lẽ nồng nàn tha thiết lắm.
-Em mong khi mình về sống với nhau rồi, mỗi đêm em sẽ đưa anh vào “rose garden” (vườn hồng) thật thơ mộng.
Thực tế bây giờ cứ mỗi lần ông chồng lại gần thì chị nhăn nhó: - Mệt quá đi thôi! làm việc đầu tắt mặt tối cả ngày mà tới giờ này ông còn bắt làm thêm job đêm!
Ông chồng chịu đấm ăn xôi, choàng tay qua ôm vợ.
Chợt nhớ tới mấy cái bills, chị Hồng hỏi :
-Cái bill nước anh trả chưa, nếu để trễ là họ cúp nước cho mà coi.
Nghe cúp nước ông chồng hoãng quá, tuột xuống giường đi tìm cái bill coi đã trả chưa.
Vừa trở lại đặt lưng xuống giường nằm thì chị Hồng nói, đã nhắc anh bỏ vô băng IRA hai ngàn để được trừ thuế, anh bỏ chưa?. Cái máng xối rớt tòn teng cả tháng nay, chừng nào anh mới sửa?
Ông chồng kêu trời: - Trời ơi! sao cứ tới giờ tôi leo lên giường nằm cạnh bà, bà hỏi đủ thứ chuyện như vầy, làm sao hứng nỗi, thôi bỏ mẹ nó qua hết đi, tính sau…
Xếp lại xấp thư cũ, chị Hồng ưu tư nghĩ đến hai chữ “vô thường”, quả thật vạn vật luôn đổi thay. Từ một cô gái xinh đẹp hiền dịu nay trở thành bà già xấu xí, hay gắt gỏng, khó thương. Ngày này qua ngày khác chị đã quá bận rộn chạy đua với cuộc sống đến nỗi không có thì giờ dừng lại để suy nghĩ, tìm hiểu coi mình đã sống như thế nào? Mình đã sống với ý thức hiện hữu và sống hạnh phúc trong từng phút, từng giây hiện tại?
Vì cuộc sống quá bận rộn, bon chen để cung ứng những nhu cầu, tiện nghi vật chất, rõ ràng là chị đã đánh mất quá nhiều hạnh phúc hiện tại của mình cho những vọng tưởng điên đảo, được, mất, hơn , thua, vinh, nhục, buồn, giận, thương, ghét. Khoắc khoải trong âu lo, toan tính, sân hận , thù oán, trong nuối tiếc ký ức, trong ước vọng tương lai và ngay cả giờ phút này chị cũng đang lao chao vọng động…sự bất an có mặt thường trực trong đời sống tinh thần, tâm linh của chị.
Chỉ những giây phút thật lắng đọng tâm tư như thế này chị mới thấy thương chồng và ân hận về cách cư xử tồi tệ với chồng. Ngày hôm sau chị quyết định làm mới lại cuộc tình bằng cách sẽ sửa đổi để được dễ thương như ngày xưa. Chị đi chợ mua cho chồng vài cái cà vạt, vài đôi vớ, quần áo mới, rồi gói lại cẫn thận trong giấy kiến màu thật đẹp, như gói quà Giáng sinh. Chị dự định khi chồng ở VN về chị sẽ bịt mắt anh chồng lại, đem quà ra bày một bàn rồi mở mắt anh ta ra cho xem, chắc chắn là anh ta sẽ rất vui mừng và hạnh phúc trước sự đổi mới này .
Trong lúc chị đang quyết tâm làm mới lại cuộc đời thì có người bạn rũ chị đi dự lớp thiền ở chùa gần nhà, chị nhận lời đi ngay. Ở thiền đường, các thiền sinh ngồi thành một vòng tròn. Bên cạnh thầy, tất cả cùng thư thả uống trà và bàn chuyện đạo (trà đàm) và nghe pháp thoại, có lúc cùng nhau hát những bài thiền ca, để ý thức sự sống nhiệm mầu trong giờ phút hiện tại, vui như trẻ thơ. Trong môi trường trong sáng này, chị cảm thấy như đã thoát vòng tục lụy, bước vào niết bàn ở thế gian. Chưa bao giờ chị có được cảm giác an lạc thanh thản, tâm hồn rộng mở, tha thứ, bao dung, vui tươi, hồn nhiên như vậy.
Thầy giảng về sự “cảm ơn” và “ái ngữ”. Trong lúc lắng nghe chị nhìn xuống như để thấm thấu hết những lời giảng vàng ngọc của thầy. Suy nghĩ kỹ lại thì chị chưa bao giờ nói lời cảm ơn chồng và con cái, mà chính thực chị đã mang ơn họ rất nhiều. Chồng là người đầu gối, tay ấp đã chia sẻ với chị biết bao nhiêu khổ cực, buồn vui của cuộc sống. Chị cũng chẳng có để ý tới hai chữ “ái ngữ” là những lời nói êm đẹp, đem lại hạnh phúc cho nhau. Từ trước tới giờ hể nổi cơn lên là chị nói, chị nói bất cứ cái gì vụt hiện ra trong óc, nói cho hả giận, không cân nhắc, đắn đo hậu quả gì cả.
Càng nghe thầy giảng chị càng ân hận cho những gì mình đã nói, đã làm một cách vô minh từ trước tới giờ. Tối hôm đó, chị gọi điện thoại cho chồng với những lời lẽ rất ngọt ngào, êm dịu, chị dặn dò anh chồng cứ vui chơi bên nhà, khi về thì nhớ mua cho chị mấy thức ăn Việt Nam như khô cá thiều, khô lan phòng, mức me…chị thực sự nôn nóng mong cho mau qua một tuần để đón chồng về. Cuộc đời của hai người từ nay sẽ đổi khác, sẽ không còn khắc khẩu , xung khắc như trước nữa.
Hai ngày sau, đứa cháu bên VN gọi điện thoại qua cho hay chồng chị bị “heart attack” trong lúc tắm biển với mấy cháu và tắt thở trên đường đưa tới bệnh viện cấp cứu. Chị vội vã bay về Saigon , cố nhiên chị đem theo những món quà đã gói trong giấy kiến thật đẹp. Lúc tẩn liệm, chị đã liệm theo quan tài những món quà này với thật nhiều nước mắt…đã muộn rồi!.
Ai cũng biết đời là vô thường, hãy sống trọn vẹn những giờ phút hiện tại, biết là biết vậy nhưng người ta cứ để cho đời trôi lăng, để cho biết bao phiền muộn cứ hòa quyện theo tâm hồn ta trong mỗi phút giây. Có một lúc nào đó dừng lại, thử hỏi, chúng ta đã bỏ biết bao nhiêu sinh lực, công sức để có được một tình yêu như ý, một danh vọng như ý, một tài sản như ý và rằng chúng ta thực sự đã sống với cái “như ý” đó một cách hạnh phúc không? Rõ ràng là chúng ta vẫn còn nhiều phiền muộn và cay đắng mà phần lớn là bởi bám víu, dính mắc với “cái tôi”, “ cái của tôi”, và cái tự ngã của tôi”. Đó là chưa kể cái tâm thức đang bị thiêu đốt bởi những khao khát, ước mơ và lo âu …
Để thoát ly mọi phiền não, để xa lìa mọi mộng tưởng, đảo điên, cuồng si, chúng ta hãy tập sống buông xã , “không phân biệt”. Hãy ý thức mình đang sống, trong từng hơi thở, trong mỗi bước chân, hãy an trú vững chắc trong hiện tại - sống hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây.
Tuyết Mai
Tuyết Mai
Có không biết bao nhiêu cặp vợ chồng, từ bao nhiêu năm cứ để mặc tình trạng “khắc khẩu”, tình trạng “xung khắc” bất hòa giữa hai vợ chồng kéo dài năm này tháng nọ. Họ không buồn bỏ một chút thì giờ để tìm hiểu lý do của sự khắc khẩu, sự nghịch ý và tìm cách khắc phục để gia đình có một đời sống hạnh phúc, an vui. Họ không ý thức được rằng, hạnh phúc có sẳn trong hiện tại, trên con đường chúng ta đang đi…
Chỉ một việc chúng ta được sống độc lập, nghĩa là có thể thấy, nghe, đi, đứng, ăn uống, không bệnh hoạn, có cơm ăn, có áo mặc, có nhà ở và được bình yên đã là một hạnh phúc vô cùng trong đời, mà ít người ý thức, vì người ta cứ mãi mê theo đuổi những mộng tưởng xa xôi, thả hình bắt bóng.
Nếu tuần nào không bận rộn với những sinh hoạt cộng đồng, hai vợ chồng tôi đi ăn nhậu tiệc tùng ở nhà bạn bè, sẽ có dịp nghe các bà, sau khi ăn no kéo nhau ra phòng khách, đem ông chồng yêu quý của mình ra tố khổ.
Câu chuyện của chị Hồng làm tôi suy nghĩ rất nhiều, từ câu chuyện đó tôi suy ra một triết lý… sống hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây.
Chị Hồng kể, chị vượt biên trước với hai con, qua Mỹ mấy mẹ con vất vả lúc đầu nhưng dần dần đã tạo được cuộc sống tốt đẹp. Chị mua được một cái nhà hàng nho nhỏ và các con đã ăn học nên người. Hơn mười năm sau ông chồng ra tù cải tạo mới được bảo lãnh sang Mỹ. Trong thời gian xa cách hơn một chục năm đó hai người đã hoàn toàn thay đổi. Chị Hồng đã quen đời sống Tây phương, tháo vát, lanh lợi, còn ông chồng sau một thời gian lâu dài bị tù đày, sức khỏe yếu kém, tinh thần bị khủng hoãng, ông rất chậm chạp, có thể nói là cù lần so với bà vợ.
Tinh thần chị Hồng luôn bị căng thẳng, lo âu vì việc làm ăn buôn bán, cạnh tranh, lại thêm thân xác quá mệt mõi vì làm việc nhiều giờ ở nhà hàng nên lúc nào chị cũng cau có, gắt gỏng như bệnh thần kinh hay xì nẹt vô lý, càng làm cho ông chồng thêm buồn tũi thân phận sống bám vào vợ.
Một hôm ông chồng bệnh, bảo chị Hồng rót cho một ly sữa. Chị càu nhàu: - Thì ông đi lấy đi, còn đi được, chưa bệnh nặng mà.
Ông chồng đổ quạo: " tôi bệnh bà biết không?
Chị Tâm với tay lấy ly nước trà chị đang uống, đổ sửa vô rồi đem lại cho ông chồng. Chị dằn mạnh cái ly lên bàn nói “uống đi”, rồi quay lưng đi.
Ông chồng nổi giận bắt đầu to tiếng: - Bà đã đi quá mức của một người vợ, không coi chồng ra gì!.
Chị Hồng trả lời lại: - “Bên Mỹ này bình quyền, không có chuyện chồng chúa vợ tôi. Ai cũng phải làm việc cực thấy cha để kiếm sống, không ai hầu ai như bên nhà”.
Chị lằn nhằn không dứt lời.
Ông chồng thấy cái gì màu đen giống con ruồi trong ly sửa, ông la lên: - Bà cho tôi uống sửa với ruồi, bà biết không?
Chị Hồng bình thản đáp: - Thì vớt nó ra. Ở bên Việt Nam, đang ăn phở con ruồi bay rớt vô tô phở mình vớt bỏ đi, rồi ăn tiếp có sao đâu.
Ông chồng nổi cơn, nhắc lại đủ thứ chuyện buồn phiền chất chứa trong lòng bấy lâu nay. Ông chồng chưa dứt lời thì bà vợ phản pháo ngay bằng những lời lẽ thật đanh đá. Cả hai trao đổi nhau những câu nói chanh chua, độc ác cho hả giận. Trong cơn nóng giận đó, họ không có thì giờ suy nghĩ, cân nhắc từng lời nói, nên những lời lẽ thật tàn nhẫn, độc địa được bắn thẳng vào tai, vào tim hai người và đã để lại nhiều vết thương không hàn gắn được.
Không dằn được cơn giận, anh chồng nói: ”Không thể tiếp tục được nữa, phải ly dị”.
Bà vợ trả lời ngay: - Càng sớm càng tốt, bỏ ông ra tôi dư sức lấy một chục thằng hơn ông.
Ông chồng không chịu thua nói: - Phen này ông về Việt Nam ông lấy gái còn trinh chứ không lấy bà già ó đâm như bà .
Chị Hồng chạy vội ra xe : - Tôi đi tới văn phòng luật sư ký giấy ly dị ngay bây giờ đây.
Tại văn phòng luật sư, chị Hồng gọi điện thoại về cho hay luật sư đòi phải đặt trước hai ngàn đô và không trả lại nếu sau này họ đổi ý không muốn ly dị. Ông chồng đồng ý ngay, rồi buồn bã đứng dậy bước lại bồn rửa chén, đổ ly sữa. Bên cửa sổ có ánh sáng, anh chồng mới thấy miếng đen trong ly sữa là lá trà trong ly chị Hồng đã uống. Thì ra cả hai vợ chồng cải nhau rùm beng, làm mất đi một buổi sáng đẹp trời chỉ vì xớn xác thấy lá trà mà tưởng là con ruồi. Anh chồng ân hận cho sự nóng nảy của mình. Không phải hai vợ chồng chỉ mất đi một buổi sáng đẹp trời mà mất luôn hai ngàn đô, đấy là may nếu không thấy lá trà thì họ đã ly dị, gia đình ly tan, con cái buồn khổ, chỉ vì nóng nảy, lầm lẫn. Lúc nóng giận đầu óc người ta không sáng suốt, nói nặng không tiếc lời.
Hai vợ chồng tiếp tục sống chung, ăn chung, ngủ chung nhưng không hạnh phúc, không ai nhường nhịn ai. Ai cũng có cái “ngã” quá to, tự cho mình đúng rồi rống họng cải, mạc xác lẫn nhau. Họ để mặc cho tình trạng khắc khẩu kéo dài vì tin là tuổi của họ xung khắc, số con chuột, con mèo, con rắn, con heo gì đó… tứ hành xung, vì tình nghĩa không ly dị, nhưng không thể sống thuận hòa, hạnh phúc với nhau được.
Một hôm có một người khách đến ăn ở nhà hàng đưa cho chị Hồng xem hình họ vừa xây một căn nhà rất khang trang bốn từng lầu tuyệt đẹp ở Saigon mà tốn có bảy chục ngàn mỹ kim. Chị Hồng cầm cái hình ngắm tới ngắm lui thích quá, muốn về VN xây một căn như vậy cho cha mẹ ở bây giờ và một ngày nào đó về hưu hai vợ chồng về VN, thì có căn nhà tiện nghi. Ở đây chắc con cái sẽ bỏ cha mẹ vô viện dưỡng lão, thêm buồn tũi.
Thế là chị Hồng tự ý bay về VN hai tháng để tận mắt trông coi việc xây cất căn nhà theo ý chị muốn. Trước khi đi chị dặn dò mấy đứa con, coi chừng ba, đừng để ổng đi nhậu nhẹt, gặp gỡ bà này bà nọ lúc mẹ vắng nhà. Hai đứa con nghe lời mẹ, để ý canh chừng ông già. Ông chẳng đi đâu cả, buổi tối sau khi đóng cửa nhà hàng về ông ngồi gỏ lóc cóc trên key board computer đến quá nửa đêm, “chat” với mấy cô gái ở VN muốn lấy chồng Việt Kiều. Chỉ trong vòng hai tháng là tình nồng say đắm nẩy nở giữa chồng chị và cô gái tuổi đáng con ở VN. Câu chuyện tình ão trên net đã thúc đẩy anh chồng quyết về VN một chuyến để gặp người tình trong mộng, trên net.
Khi chị Hồng trở về Mỹ, hí hững với mấy cái hình căn nhà khang trang ở VN thì ông chồng chị quyết liệt đòi về VN để xem tận mắt căn nhà. Cố nhiên chị Hồng không cho ông ta về VN một mình, cho chồng về VN một mình rất nguy hiểm, dễ bị các cô gái tơ ở VN quyến rũ. Nhưng nay với tình yêu thúc đẩy ông chồng chị Hồng quyết “quật khởi” , không chịu đựng sự chỉ huy, theo ý kiến của vợ nữa. Chị Hồng giận lẫy, cảnh cáo là khi ông trở về thì ông cuốn quần áo ra khỏi nhà. Ly dị. Ông chồng nghĩ bụng “càng tốt”.
Khi về tới VN thì việc đầu tiên là anh chồng đi tìm gặp người tình trên net. Trời ơi! Hình trên net thì cô ta đẹp và duyên dáng, còn trên thực tế thì xấu ơi là xấu và qua nhiều câu chuyện thì anh chồng thấy rõ là cô này “bắt địa”, moi móc tiền Việt kiều hơn là có tình yêu chân thật. Cô này muốn đi Mỹ với bất cứ giá nào, chuyện sống hạnh phúc hay không thì hạ hồi phân giải, cò ly dị cũng không sao, miễn được đi Mỹ. Ông chồng thất vọng, lo ngại, tiếc công xúc tép nuôi cò, không biết cò ở với ông được bao lâu mà trước mắt là phải hy sinh bà vợ già... Sau vài lần gặp gỡ anh chồng quyết ở lại với vợ “ta về ta tắm ao ta” cho chắc ăn.
Từ đấy ngày nào anh ta cũng o bế đưa ông bà già vợ đi ăn , đi chơi, như một thằng rể có hiếu. Chị Hồng ở nhà lục lạo hết phòng này tới tủ nọ cố tìm một chứng tích để hiểu vì sao ông nhất quyết đòi về VN, phải có một động cơ nào đó thúc đẩy ông ta mới quyết liệt như vậy.
Moi móc hết quần áo ở mọi góc kẹt, chị mới thấy một hộp bánh biscuit được gói kỹ, tim chị đập mạnh, hội hộp mở ra từ từ, trong đó có một cuốn sổ tay nhỏ và một xấp thơ cũ giấy đã bạc màu. Chị mở cuốn sổ nhỏ ra đọc mới biết đó là quyển nhật ký, ông chồng viết rất ngắn gọn những tâm tình thật buồn tũi về cuộc đổi đời, bây giờ không còn uy quyền của một cấp chỉ huy, một người chồng, người cha trong gia đình… Ông ghi lại sự chịu đựng, chấp nhận cuộc sống hiện tại, nhất là nỗi buồn tũi phải sống bám vào vợ, vì tuổi đã lớn không thể làm lại từ đầu…
Đọc tới đây chị Hồng thấy cảm động ứa nước mắt, bây giờ chị mới cảm thông, thương xót, tội nghiệp chồng.. Từ trước tới giờ mỗi lần nổi cơn là chị la cho hả giận, chứ không hề nghĩ tới tinh thần ông chồng đã bị khũng hoãng trước cuộc đổi đời, và chị cũng không biết giọng nói thường nhật vô tình của chị đã làm chạm tự ái ông chồng rất nhiều, đã để lại trong tâm thức ông nhiều đau thương, buồn tũi không tả được.
Chị Hồng bỏ cuốn nhật ký xuống, đọc tiếp xấp thư, thì ra đây là những cái thư chị đã gởi cho anh chồng từ lúc hai người mới yêu nhau. Chị thật xúc động khi thấy anh chồng vẫn còn giữ kỹ những kỷ vật này.
Chị đọc cái thư thứ nhất, có những lời lẽ thật ngọt ngào, nũng nịu dễ thương "anh dễ ghét ghê! Anh biết là xa anh em nhớ anh thấy mồ không? Lần sau hể em gọi điện thoại, dù anh bận đến đâu anh cũng phải gọi lại liền, nếu không em sẽ bắt đền…” Kèm theo thư là cái hình chị lúc 18 tuổi. Trời lúc đó mặt mũi xinh ghê, đã xinh đẹp còn ngọt ngào nữa chẳng trách ông chồng trồng cây si, đòi làm đám cưới sớm. Cái thư có ép hoa pensee nữa, tình thuở ấy thiệt là mơ mộng.
Chị Hồng với tay lấy cái gương trên bàn, soi lại mặt mình bây giờ…hởi ơi, năm tháng đã để lại trên mặt chị nhiều nếp nhăn, đã già nua mà lúc xì nẹt chị còn cau có, chẳng trách sao bây giờ chồng muốn thương mà thương không vô.
Chị Hồng đọc tiếp cái thư thứ hai, cái nào cũng có kèm theo một cái hình rất xinh, hồi đó có bao nhiêu tiền mấy cô gái cũng đem đổ cho máy tiệm chụp hình ăn. Trong thư chị viết: “ Em nhớ buổi chiều mình dạo chơi trong công viên, trời bắt đầu mưa nhẹ hạt, anh ôm, che mưa cho em, trong vòng tay thương yêu của anh, em cảm thấy thật ấm êm, hạnh phúc. Em mong vòng tay thương yêu này che chỡ em mãi suốt cuộc đời…” .
Chị Hồng nhớ lại …mới cách đây mấy hôm, hai vợ chồng lái xe khi trời tuyết. Nhìn những bông tuyết rơi nhẹ càng thú vị hơn mưa rơi nhiều, nhưng bây giờ già hay quạo bậy, đường trơn trợt , ông chồng ghì chặt tay lái, trong lúc chị càu nhàu:
- Ông lái xe kiểu gì kỳ cục vậy, sang “lane” sao không ra signal, hồi nảy bảo đi đường trong ông không chịu, ông đi đường ngoài bây giờ không nhớ đường. Tôi nói với ông hoài, lên xe thì phải coi bản đồ trước, định hướng, bây giờ sắp trễ chuyến bay mà còn lần quần không biết đường, khổ không?.
Ông chồng cự lại: - Bà giỏi bà lái đi!
- Tôi không lái xe được trên xa lộ, trời tuyết.
- Không lái được thì im đi để người ta lái. Đã lạc đường còn nghe cằn nhằn có bực không?
Cái thư thứ ba cũng có lời lẽ nồng nàn tha thiết lắm.
-Em mong khi mình về sống với nhau rồi, mỗi đêm em sẽ đưa anh vào “rose garden” (vườn hồng) thật thơ mộng.
Thực tế bây giờ cứ mỗi lần ông chồng lại gần thì chị nhăn nhó: - Mệt quá đi thôi! làm việc đầu tắt mặt tối cả ngày mà tới giờ này ông còn bắt làm thêm job đêm!
Ông chồng chịu đấm ăn xôi, choàng tay qua ôm vợ.
Chợt nhớ tới mấy cái bills, chị Hồng hỏi :
-Cái bill nước anh trả chưa, nếu để trễ là họ cúp nước cho mà coi.
Nghe cúp nước ông chồng hoãng quá, tuột xuống giường đi tìm cái bill coi đã trả chưa.
Vừa trở lại đặt lưng xuống giường nằm thì chị Hồng nói, đã nhắc anh bỏ vô băng IRA hai ngàn để được trừ thuế, anh bỏ chưa?. Cái máng xối rớt tòn teng cả tháng nay, chừng nào anh mới sửa?
Ông chồng kêu trời: - Trời ơi! sao cứ tới giờ tôi leo lên giường nằm cạnh bà, bà hỏi đủ thứ chuyện như vầy, làm sao hứng nỗi, thôi bỏ mẹ nó qua hết đi, tính sau…
Xếp lại xấp thư cũ, chị Hồng ưu tư nghĩ đến hai chữ “vô thường”, quả thật vạn vật luôn đổi thay. Từ một cô gái xinh đẹp hiền dịu nay trở thành bà già xấu xí, hay gắt gỏng, khó thương. Ngày này qua ngày khác chị đã quá bận rộn chạy đua với cuộc sống đến nỗi không có thì giờ dừng lại để suy nghĩ, tìm hiểu coi mình đã sống như thế nào? Mình đã sống với ý thức hiện hữu và sống hạnh phúc trong từng phút, từng giây hiện tại?
Vì cuộc sống quá bận rộn, bon chen để cung ứng những nhu cầu, tiện nghi vật chất, rõ ràng là chị đã đánh mất quá nhiều hạnh phúc hiện tại của mình cho những vọng tưởng điên đảo, được, mất, hơn , thua, vinh, nhục, buồn, giận, thương, ghét. Khoắc khoải trong âu lo, toan tính, sân hận , thù oán, trong nuối tiếc ký ức, trong ước vọng tương lai và ngay cả giờ phút này chị cũng đang lao chao vọng động…sự bất an có mặt thường trực trong đời sống tinh thần, tâm linh của chị.
Chỉ những giây phút thật lắng đọng tâm tư như thế này chị mới thấy thương chồng và ân hận về cách cư xử tồi tệ với chồng. Ngày hôm sau chị quyết định làm mới lại cuộc tình bằng cách sẽ sửa đổi để được dễ thương như ngày xưa. Chị đi chợ mua cho chồng vài cái cà vạt, vài đôi vớ, quần áo mới, rồi gói lại cẫn thận trong giấy kiến màu thật đẹp, như gói quà Giáng sinh. Chị dự định khi chồng ở VN về chị sẽ bịt mắt anh chồng lại, đem quà ra bày một bàn rồi mở mắt anh ta ra cho xem, chắc chắn là anh ta sẽ rất vui mừng và hạnh phúc trước sự đổi mới này .
Trong lúc chị đang quyết tâm làm mới lại cuộc đời thì có người bạn rũ chị đi dự lớp thiền ở chùa gần nhà, chị nhận lời đi ngay. Ở thiền đường, các thiền sinh ngồi thành một vòng tròn. Bên cạnh thầy, tất cả cùng thư thả uống trà và bàn chuyện đạo (trà đàm) và nghe pháp thoại, có lúc cùng nhau hát những bài thiền ca, để ý thức sự sống nhiệm mầu trong giờ phút hiện tại, vui như trẻ thơ. Trong môi trường trong sáng này, chị cảm thấy như đã thoát vòng tục lụy, bước vào niết bàn ở thế gian. Chưa bao giờ chị có được cảm giác an lạc thanh thản, tâm hồn rộng mở, tha thứ, bao dung, vui tươi, hồn nhiên như vậy.
Thầy giảng về sự “cảm ơn” và “ái ngữ”. Trong lúc lắng nghe chị nhìn xuống như để thấm thấu hết những lời giảng vàng ngọc của thầy. Suy nghĩ kỹ lại thì chị chưa bao giờ nói lời cảm ơn chồng và con cái, mà chính thực chị đã mang ơn họ rất nhiều. Chồng là người đầu gối, tay ấp đã chia sẻ với chị biết bao nhiêu khổ cực, buồn vui của cuộc sống. Chị cũng chẳng có để ý tới hai chữ “ái ngữ” là những lời nói êm đẹp, đem lại hạnh phúc cho nhau. Từ trước tới giờ hể nổi cơn lên là chị nói, chị nói bất cứ cái gì vụt hiện ra trong óc, nói cho hả giận, không cân nhắc, đắn đo hậu quả gì cả.
Càng nghe thầy giảng chị càng ân hận cho những gì mình đã nói, đã làm một cách vô minh từ trước tới giờ. Tối hôm đó, chị gọi điện thoại cho chồng với những lời lẽ rất ngọt ngào, êm dịu, chị dặn dò anh chồng cứ vui chơi bên nhà, khi về thì nhớ mua cho chị mấy thức ăn Việt Nam như khô cá thiều, khô lan phòng, mức me…chị thực sự nôn nóng mong cho mau qua một tuần để đón chồng về. Cuộc đời của hai người từ nay sẽ đổi khác, sẽ không còn khắc khẩu , xung khắc như trước nữa.
Hai ngày sau, đứa cháu bên VN gọi điện thoại qua cho hay chồng chị bị “heart attack” trong lúc tắm biển với mấy cháu và tắt thở trên đường đưa tới bệnh viện cấp cứu. Chị vội vã bay về Saigon , cố nhiên chị đem theo những món quà đã gói trong giấy kiến thật đẹp. Lúc tẩn liệm, chị đã liệm theo quan tài những món quà này với thật nhiều nước mắt…đã muộn rồi!.
Ai cũng biết đời là vô thường, hãy sống trọn vẹn những giờ phút hiện tại, biết là biết vậy nhưng người ta cứ để cho đời trôi lăng, để cho biết bao phiền muộn cứ hòa quyện theo tâm hồn ta trong mỗi phút giây. Có một lúc nào đó dừng lại, thử hỏi, chúng ta đã bỏ biết bao nhiêu sinh lực, công sức để có được một tình yêu như ý, một danh vọng như ý, một tài sản như ý và rằng chúng ta thực sự đã sống với cái “như ý” đó một cách hạnh phúc không? Rõ ràng là chúng ta vẫn còn nhiều phiền muộn và cay đắng mà phần lớn là bởi bám víu, dính mắc với “cái tôi”, “ cái của tôi”, và cái tự ngã của tôi”. Đó là chưa kể cái tâm thức đang bị thiêu đốt bởi những khao khát, ước mơ và lo âu …
Để thoát ly mọi phiền não, để xa lìa mọi mộng tưởng, đảo điên, cuồng si, chúng ta hãy tập sống buông xã , “không phân biệt”. Hãy ý thức mình đang sống, trong từng hơi thở, trong mỗi bước chân, hãy an trú vững chắc trong hiện tại - sống hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây.
Tuyết Mai
TÀI KHOẢN VÔ GIÁ
Có một ngân hàng, mỗi buổi sáng, cung cấp vào tài khoản của bạn 86.400 USD.
Số dư trong tài khoản không được phép chuyển từ ngày này qua ngày khác.
Mỗi buổi chiều, ngân hàng sẽ hủy bỏ hết số dư còn lại mà bạn đã không dùng hết trong ngày.
Bạn sẽ phải làm gì ?
Sử dụng hết số tiền đó, dĩ nhiên ! Mỗi người trong chúng ta đều có một ngân hàng như vậy.
Tên ngân hàng là THỜI GIAN.
Mỗi buổi sáng, ngân hàng này cung cấp cho bạn 86.400 giây.
Vào mỗi buổi tối, ngân hàng sẽ xóa bỏ, coi như bạn mất, thời gian mà bạn không đầu tư được vào các mục đích tốt. Ngân hàng không cho phép bạn được để lại số dư trong tài khoản.
Cũng không cho phép bạn bội chi.
Mỗi ngày, ngân hàng lại mở một tài khoản mới cho bạn.
Mỗi tối nó lại hủy hết những gì còn lại trong ngày.
Nếu bạn không dùng được hết thời gian mà bạn có trong ngày, người bị mất chính là bạn.
Không có chuyện quay lại ngày hôm qua.
Không có chuyện tiêu trước cho "ngày mai"
Bạn phải sống bằng những gì bạn có trong tài khoản ngày hôm nay.
Hãy đầu tư vào đấy bằng cách nào đó, để bạn có thể nhận được nhiều sức khỏe, hạnh phúc, và thành công nhất !
Đồng hồ vẫn đang chạy.
Hãy cố thực hiện thật nhiều trong ngày hôm nay.
Để biết được giá trị của MỘT NĂM, hãy hỏi một học sinh bị ở lại một lớp.
Để biết được giá trị của MỘT THÁNG, hãy hỏi một người mẹ sinh con thiếu tháng.
Để biết được giá trị của MỘT TUẦN, hãy hỏi biên tập viên của một tuần báo..
Để biết được giá trị của MỘT GIỜ, hãy hỏi những người yêu nhau đang mong chờ được gặp nhau.
Để biết được giá trị của MỘT PHÚT, hãy hỏi một người bị lỡ chuyến tàu.
Để biết được giá trị của MỘT GIÂY, hãy hỏi một người vừa thoát khỏi một tai nạn.
Để biết được giá trị của MỘT PHẦN NGÀN GIÂY, hãy hỏi người vừa nhận được huy chương bạc trong kỳ thi Olympic.
Hãy quý trọng từng giây phút mà bạn có !
Và hãy nên quý thời gian hơn nữa Bởi vì bạn đang chia sẻ thời gian đó với ai đấy thật đặc biệt đối với bạn, đủ đặc biệt để có thể chia sẻ thời gian của bạn. Và hãy nhớ rằng thời gian chẳng chờ đợi ai cả.
Ngày hôm qua dã là lịch sử. Ngày mai là một bí ẩn. Hôm nay là quà tặng. Cũng vì vậy mà nó được gọi là PRESENT ! ( có nghĩa là HIỆN TẠI, mà cũng có nghĩa là QUÀ TẶNG ).
Bạn bè thật sự là một loại nữ trang quý hiếm.
Họ khiến bạn mĩm cười và khuyến khích bạn thành công.
Họ lắng nghe bạn, họ chia sẻ với bạn những lời khen tặng, và họ luôn muốn mở trái tim ra với chúng ta.
Hãy gởi những lời này đến với ai mà bạn xem như BẠN MÌNH,
Và nếu những dòng này lại trở về với bạn, bạn ắt biết rằng bạn đang có một vòng tròn bạn hữu.
---
Có một ngân hàng, mỗi buổi sáng, cung cấp vào tài khoản của bạn 86.400 USD.
Số dư trong tài khoản không được phép chuyển từ ngày này qua ngày khác.
Mỗi buổi chiều, ngân hàng sẽ hủy bỏ hết số dư còn lại mà bạn đã không dùng hết trong ngày.
Bạn sẽ phải làm gì ?
Sử dụng hết số tiền đó, dĩ nhiên ! Mỗi người trong chúng ta đều có một ngân hàng như vậy.
Tên ngân hàng là THỜI GIAN.
Mỗi buổi sáng, ngân hàng này cung cấp cho bạn 86.400 giây.
Vào mỗi buổi tối, ngân hàng sẽ xóa bỏ, coi như bạn mất, thời gian mà bạn không đầu tư được vào các mục đích tốt. Ngân hàng không cho phép bạn được để lại số dư trong tài khoản.
Cũng không cho phép bạn bội chi.
Mỗi ngày, ngân hàng lại mở một tài khoản mới cho bạn.
Mỗi tối nó lại hủy hết những gì còn lại trong ngày.
Nếu bạn không dùng được hết thời gian mà bạn có trong ngày, người bị mất chính là bạn.
Không có chuyện quay lại ngày hôm qua.
Không có chuyện tiêu trước cho "ngày mai"
Bạn phải sống bằng những gì bạn có trong tài khoản ngày hôm nay.
Hãy đầu tư vào đấy bằng cách nào đó, để bạn có thể nhận được nhiều sức khỏe, hạnh phúc, và thành công nhất !
Đồng hồ vẫn đang chạy.
Hãy cố thực hiện thật nhiều trong ngày hôm nay.
Để biết được giá trị của MỘT NĂM, hãy hỏi một học sinh bị ở lại một lớp.
Để biết được giá trị của MỘT THÁNG, hãy hỏi một người mẹ sinh con thiếu tháng.
Để biết được giá trị của MỘT TUẦN, hãy hỏi biên tập viên của một tuần báo..
Để biết được giá trị của MỘT GIỜ, hãy hỏi những người yêu nhau đang mong chờ được gặp nhau.
Để biết được giá trị của MỘT PHÚT, hãy hỏi một người bị lỡ chuyến tàu.
Để biết được giá trị của MỘT GIÂY, hãy hỏi một người vừa thoát khỏi một tai nạn.
Để biết được giá trị của MỘT PHẦN NGÀN GIÂY, hãy hỏi người vừa nhận được huy chương bạc trong kỳ thi Olympic.
Hãy quý trọng từng giây phút mà bạn có !
Và hãy nên quý thời gian hơn nữa Bởi vì bạn đang chia sẻ thời gian đó với ai đấy thật đặc biệt đối với bạn, đủ đặc biệt để có thể chia sẻ thời gian của bạn. Và hãy nhớ rằng thời gian chẳng chờ đợi ai cả.
Ngày hôm qua dã là lịch sử. Ngày mai là một bí ẩn. Hôm nay là quà tặng. Cũng vì vậy mà nó được gọi là PRESENT ! ( có nghĩa là HIỆN TẠI, mà cũng có nghĩa là QUÀ TẶNG ).
Bạn bè thật sự là một loại nữ trang quý hiếm.
Họ khiến bạn mĩm cười và khuyến khích bạn thành công.
Họ lắng nghe bạn, họ chia sẻ với bạn những lời khen tặng, và họ luôn muốn mở trái tim ra với chúng ta.
Hãy gởi những lời này đến với ai mà bạn xem như BẠN MÌNH,
Và nếu những dòng này lại trở về với bạn, bạn ắt biết rằng bạn đang có một vòng tròn bạn hữu.
---

