Chiến Sĩ QLVNCH

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Hãy Cứu Lấy Nghĩa Trang Biên Hòa

Giao Chỉ - San Jose

Nghĩa tử là nghĩa tận. Nghĩa nào là nghĩa trang.
Từ muôn trùng xa cách. Nhắn ai về cố hương.
Ðốt nén nhang viễn xứ. Gửi người dưới mộ sâu.
Bao nhiêu năm quên lãng. Chợt xót thương một lần...
Thăm nghĩa trang xưa

Năm nay mới bước vào mùa Lễ Tạ Ơn Hoa Kỳ, vé máy bay về Việt Nam ăn Tết đã bán hết. Kinh tế lên, người ta có tiền, vui vẻ về quê ăn Tết. Kinh tế xuống, thất nghiệp, buồn tình cũng về quê ăn Tết!

Thôi bạn đã về,
xin nhắn bạn về thăm một chỗ,
Các cháu đã về,
xin nhắn cháu về thăm một nơi:
Nghĩa trang Biên Hòa


Ngày xưa, lúc mới chạy đi, ông Kỳ viết cuốn sách tựa đề là 20 năm, 20 ngày. Ý ông nói là miền Nam chiến đấu trong 20 năm, nhưng mất trong 20 ngày. Ông hô hào chiến đấu, nhưng ông lại bỏ đi. Hụt hẫng cả đạo quân. Hai mươi năm sau, ông lại ra sách, tự xưng là con của Phật. Rồi ông trở về, cũng thăm lại nghĩa trang. Ngông nghênh, áo xanh, quần xọoc. Ông làm nhục anh em. Ông làm buồn lòng người sống, và ông làm tủi vong linh người chết. Sau khi đóng vai hàng thần lơ láo, ông làm hoen ố hình ảnh nghĩa trang xưa đã hoang phế lại còn thêm ảm đạm.

Không,

Tôi không muốn các bạn về thăm như ông Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ.

Ngày xưa, ông Trung tướng Thiệu có tuyên bố một câu khá ngậm ngùi:

"Mất nước, là mất tất cả".

Thật đúng như thế. Chúng tôi và các bạn sĩ quan cao niên, chẳng những mất nước, mất cả binh đoàn, đành mất cả thể diện. Ðám chạy đi mang mối tủi nhục lưu vong, người ở lại gánh nỗi buồn 'cải tạo'. Nhưng Trung tướng Nguyễn văn Thiệu đã qua đời, ông không biết rằng cho đến ngày nay, ba mươi ba năm sau cuộc chiến, chúng ta chưa mất hết. Chúng ta vẫn còn lại nghĩa trang Biên Hòa.

Khi cuộc chiến miền Nam đứt phim vào tháng tư phiền muộn, Bắc quân vào tiếp quản miền Nam. Bộ đội ăn cướp theo binh đoàn. Cơ sở ăn cướp theo chính quyền. Nhà, nhà bị chiếm. Ngành, ngành tiếp quản. Trại lính, nhà thương, phòng sở và doanh trại. Tất cả đều bị chiếm đóng. "Giặc từ miền Bắc vô Nam, bàn tay dính máu đồng bào". Bài ca tiên tri của cục chính huấn như còn vang vọng nơi đây. Nhưng thực ra, có một nơi, giặc chỉ phá phách mà không chiếm đóng. Ðó là nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Nơi chúng ta đã bỏ lại 16 ngàn tử sĩ dưới mộ sâu, trong lòng đất nơi quê mẹ. Nơi có đại diện quân dân chính. Có đầy đủ quân binh chủng. Nơi thể hiện thực sự tình huynh đệ chi binh.

Với tư cách là người biết về nghĩa trang này trước năm 1975 và đã có dịp nghiên cứu suốt 15 năm qua sau cuộc chiến, tôi xin gởi đến các chiến hữu bản tường trình đầu đuôi và các đề nghị cần thiết để cứu lấy nghĩa trang Biên Hòa.

Nghĩa trang ngày gẫy súng

Khi miền Nam gẫy súng ngày 30 tháng 4 năm 1975, nghĩa trang Biên Hòa là phòng tuyến rộng 125 mẫu đang trải qua những giây phút sau cùng. 16 ngàn tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa nằm dưới mộ sâu, chung quanh 'Nghĩa dũng đài' chiếm ngụ hơn 50 mẫu. Từ trung tâm chia ra làm 8 lô theo hình nan quạt. Các cấp chỉ huy nằm trong vòng chính giữa, rồi đến vòng cung mai táng các sĩ quan. Mộ chôn từ năm 68 Mậu thân đến mùa hè Ðỏ lửa 72 đã có bệ ciment. Mộ chiến sĩ tử trận sau này còn đắp đất nằm vòng ngoài. Sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975, những người còn lại quanh nghĩa trang đã chôn cất lần chót tất cả di hài quân dân lẫn lộn vào những mộ tập thể. Từ đó đến nay không có ai được chôn cất thêm tại khu nghĩa trang lịch sử nữa. Sau 1975 nghĩa trang quân đội Biên Hòa chỉ có những ngôi mộ cải táng đem đi, không có chôn cất mới.

Bức tượng 'Thương tiếc' ngoài đầu xa lộ bị địch phá bỏ, kéo đi. Nhà máy nước Bình An chiếm đóng giữa con đường từ Ðền Tử Sĩ đến Nghĩa Dũng Ðài. Chung quanh khu nghĩa trang, bộ đội, dân chúng và chính quyền chiếm dụng làm doanh trại và nhà cửa.

Vì lý do muốn xâm lấn thêm đất vòng ngoài, có lần chính quyền Cộng sản ra lệnh một số ngôi mộ phải cải táng. Ai có thân nhân nằm tại vùng bị giải tỏa phải dọn đi, nếu không, thì chính quyền sẽ giải quyết. Cho đến nay, không ai biết rõ Cộng sản đã giải quyết ra sao, nhưng cụ thể là phía Nam và phía Bắc của vòng tròn chôn cất chung quanh Nghĩa dũng đài đã bị xâm chiếm. Rồi chính quyền cho xây một bức tường theo con đường vòng phía Nam nghĩa trang, chỉ dành lối vào bên hông. Ðường vào cổng chính đã bị nhà máy nước Bình An chắn ngang. Doanh trại bộ đội xây cất thêm phía Bắc. Trồng cây xanh khắp nơi trong nghĩa trang để huấn luyện tân binh. Toàn thể khu vực trở thành vùng quân sự cấm quay phim, chụp hình. Lúc dễ, lúc khó, thân nhân vẫn được vào thăm mộ nhưng phải đi theo bức tường phía Nam và đi ngả sau. Ðó là tình trạng đã xảy ra cho đến tháng 4-1993

Tảo mộ chui

Từ khi biết được Nghĩa trang quân đội tại Biên Hòa vẫn còn đó, chúng tôi bắt đầu liên lạc với các gia đình có mộ tử sĩ. Xin hình ảnh tảo mộ, xin copy của cuốn phim quay việc cải táng. Bắt đầu gởi người về thăm viếng từ 1993 đến 1996. Từ năm 1997, tổ chức các toán thương phế binh Saigon, Gia định đi công tác. Nhiều toán nhận nhiệm vụ vừa tảo mộ vừa vẽ bản đồ. Chúng tôi cần tài liệu để làm mô hình nghĩa trang cho Viện Bảo Tàng. Các anh em thương phế binh thăm mộ ngày Tết, thanh minh tháng ba, tháng năm xá tội vong linh, ngày Quân lực tháng sáu, lễ Giáng sinh, rồi tiếp đó lại chào mừng năm mới. Thực sự cũng chẳng tốn kém nhiều. Một chút tiền gởi thêm là đủ cho các chiến binh quê nhà vận động bà con công tác. Hình chụp được rất nhiều. "Before and After". Cùng một chỗ. Trước là cỏ mọc um tùm, sau là mộ phần quang đãng. Trước là đám đất xác xơ, sau đã vun lên thành ngôi mả mới. Rồi bia được gắn lại với tên kẻ sơn rõ ràng. Người thương binh còn sống vui mừng, anh tử sĩ đã chết cũng ngậm cười nơi chín suối. Công việc diễn tiến đến nay, trước sau đã 15 năm. Những năm sau này có các đoàn thể và gia đình trong nước hay hải ngoại về tảo mộ. Có gia đình sửa sang phần mộ. Có gia đình cải táng. Bà con hai xã Bình An và Bình Thắng có thêm dịch vụ. Hiện có cả danh thiếp phát ra ghi tên bà Hai, ông Ba chuyên nghề trông nom mộ phần lâu dài, hay chỉ dọn dẹp một lần cho tươm tất.

Cho đến nay, việc tảo mộ tại nghĩa trang Biên Hòa không còn là một công tác tưởng như là điệp vụ khó khăn. Cũng không phải là độc quyền của một cơ quan từ thiện, hay một cá nhân, đoàn thể. Hơn 10 ngàn mộ còn đó, ai cũng có thể tình nguyện vào dọn dẹp. Những người chiến sĩ của chúng ta vẫn mãi mãi nằm chờ dưới đất lạnh nơi quê hương, Anh là bà con thân thuộc của chính chúng ta. Mồ mả đắp xong, cỏ dọn sạch, nén hương viễn xứ đốt lên cho không khí đượm mùi nhang khói. Ðặc biệt mở bao thuốc lá Hoa Kỳ, châm cho mỗi anh một điếu. Một bao là hai mươi điếu. Ðốt cháy đỏ rồi cắm xuống cạnh hai mươi tấm bia ciment đã tàn tạ. Nếu nghe được tiếng động dưới mộ sâu, cũng không phải là chuyện lạ.

Các bạn lên nghĩa trang buổi sáng, cùng người dân quê, ta dọn dẹp chừng vài chục mộ phần. Tìm khu nào um tùm, hoang vắng nhất mà công tác. Buổi trưa làm một lễ nhỏ đạm bạc. Chọn một chiến sĩ nằm chính giữa làm bà con, chung quanh mộ của anh là xóm giềng. Làm đến đâu quay phim chụp hình đến đó. Buổi chiều, là giây phút thắp hương và hút chung điếu thuốc giã từ. Mặt trời đã lặn sau Nghĩa dũng Ðài. Cảnh nghĩa trang quân đội tuy hoang vắng thê lương nhưng vẫn có vẻ đẹp trang nghiêm và huyền bí. Mỗi người nằm dưới đất đều có một câu chuyện và chính người viếng mộ cũng có một câu chuyện. Câu chuyện tử sinh đôi ngả. Chuyện chinh chiến, tù đầy, vượt biên và cuộc sống còn lại.

Trong suốt 15 năm tổ chức tảo mộ, chúng tôi có 10 đoạn phim quay từ năm 1997 đến năm 2008, và chúng tôi có hàng ngàn tấm hình. Hình các bia mộ, hình cảnh nghĩa trang trước và sau 75, và hình các công trình kiến tạo.

Một trong các trưởng toán công tác danh tiếng của chúng tôi là ông Trần Văn Tảo, người đã tổ chức lễ tưởng niệm các chiến sĩ VNCH nhiều lần, có làm lễ truy điệu và có quay phim. Một hôm ông gọi điện cho chúng tôi, báo cáo tấm mộ bia chiến sĩ vô danh trước đây vẫn còn, sau biến mất, nay mới tìm thấy lại. Nếu không cất đi, sẽ bị phá hoại hay đánh cắp. Ông Tảo nói thời gian gần đây, ông bị đau nặng, không biết sẽ ra đi lúc nào. Vậy xin niên trưởng bên Mỹ lo cho cháu nó ra đi. Cháu đây là tấm mộ bia. Ðó là anh chiến sĩ vô danh, không có tên, nhưng có ghi ngày mai táng.

Chúng tôi cho tin về để bác Tảo cất dấu. Sau đó anh em chúng tôi tìm đường cho bia đá vượt biên. Ðây là mộ bia chiến sĩ vô danh duy nhất và nguyên thủy của nghĩa trang quân đội Biên Hòa từ trước năm 75. Cháu qua Hoa Kỳ vào đầu năm 2004. Ðến tháng 4 năm 2004, trưởng toán công tác Trần Văn Tảo qua đời. Công việc giao cho người khác tiếp tục. Tại nghĩa trang quân đội Biên Hòa ngày nay có một tấm bia chiến sĩ vô danh mới làm lại. Ðây chỉ là phó bản. Bản chính đã đặt tại Viện Bảo Tàng ở San Jose.

Ngày Quân Lực 1975

Nếu năm 1975 không phải là năm Cộng sản tổng tấn công. Nếu không có trận dò dẫm mở đường đánh Phước long. Nếu không có trận dứt điểm Ban Mê Thuột. Không có cuộc triệt thoái 2 quân đoàn từ hỏa tuyến cho đến cao nguyên. Chúng ta đã tổ chức ngày Quân lực tại Nghĩa trang quân đội Biên Hòa vào 19 tháng 6 năm 1975.

Ngày đó toàn thể quân đội vẫn còn căng ra khắp bốn vùng đất nước để dành dân giữ đất nên không thể tập trung về Sài Gòn tổ chức diễn hành. Phủ tổng thống và Bộ Tổng tham mưu QLVNCH dồn nỗ lực cho ngày quân lực vinh danh các chiến sĩ đã hy sinh. Tất cả các tiểu khu đều tổ chức lễ chiến sĩ trận vong tại nghĩa trang quân đội riêng của mỗi tỉnh.
Trung ương có Bộ Tổng tham mưu phối hợp công tác giữa ba Tổng cục: Tiếp vận, Quân huấn, và Chính trị. 16 ngàn ngôi mộ được hoàn chỉnh với 100% các tấm ciment phải đúc xong, Nghĩa dũng đài với vành khăn tang hoàn tất.

Một ngàn sáu trăm sinh viên sĩ quan từ các quân trường Hải,Lục, Không quân về tham dự.

Ngay từ buổi chiều hôm trước, các sinh viên đã chia vùng và lên phiên. Mỗi người phụ trách 10 ngôi mộ. Khi hoàng hôn phủ xuống là hương nến thắp lên. Lễ truy điệu lúc 10 giờ đêm, cũng được gọi là đêm Canh Thức.

Từ trên Nghĩa dũng đài nhìn xuống hay từ Ðền tử sĩ ngó lên, 16 ngàn ngôi mộ thắp nến một lượt, một ngàn sáu trăm sinh viên sĩ quan cầm đuốc đi lại giữa hàng mộ chí. Ðoàn trực thăng của Phái đoàn Chính phủ, Quốc hội, Tổng thống và các tướng lãnh Tổng tham mưu chiếu đèn đáp xuống. Ðội quân nhạc của Hải, Lục, Không quân cùng rền rĩ tiếng kèn chiêu hồn tử sĩ. Từ phía sau doanh trại của Liên đội chung sự, tiếng nổ vang trời do Công binh đốt mìn và tiếp theo là ngọn lửa bốc cao với các thung dầu thô lấy từ giếng dầu Bạch hổ ngoài khơi biển Ðông. Trên nền trời xám, khói đen bay lên cuồn cuộn như ngọn nấm của bom nguyên tử.

Ðó là biểu hiện giấc mơ của Tổng thống Thiệu muốn lấy kho dầu biển Ðông thay cho viện trợ Mỹ mà chống giữ miền Nam. Cầu nguyện cho linh hồn 16 ngàn tử sĩ nằm tại nghĩa trang quân đội Biên hòa phù hộ cho miền Nam đang rã rời vì Mỹ bỏ rơi. Nhưng đây chỉ là giấc mơ không bao giờ thành sự thực. Những tháng đầu của năm 1975 là ngày giờ của thảm họa kinh hoàng nối tiếp. Chúng ta không bao giờ có ngày tưởng niệm 19 tháng 6 năm 1975 tại nghĩa trang Biên Hòa. Ngay sau 30 tháng 4-75, tại nghĩa trang với 16 ngàn ngôi mộ, không một ngôi mộ nào được toàn vẹn, không một tử sĩ nào còn được viếng thăm nhang khói. Hàng trăm ngàn quân, dân, chính Việt Nam Cộng Hòa xếp hàng vào trại 'cải tạo'.

Dân sự hóa

Tháng 7 năm 2007, chính quyền Cộng sản Hà nội ra lệnh dân sự hóa nghĩa trang Biên hòa. Từ 16 ngàn ngôi mộ đã cải táng, đến nay còn hơn 10 ngàn ngôi mộ. Từ 125 mẫu năm 1975 nay bị chiếm hết đất trống nên chỉ còn 52 mẫu. Bức tường phía Nam được xây vào thời kỳ 80. Nay bàn giao xong, bộ đội rút đi. Bức tường phía Bắc xây thêm để ngăn nghĩa trang với khu giao cho Trung tâm giáo dục. Khu phần mộ được gọi là Nghĩa trang nhân dân xã Bình An. Bảng cấm chụp quay phim đã được gỡ bỏ. Việc quản trị chưa có lệnh chi tiết. Cho phép cải táng đem đi nhưng không được phép chôn cất mới, dù rằng tại đây vẫn còn chỗ cho gần 5000 ngôi mộ bỏ trống.

Cộng sản vào chiếm nhà của dân Saigon vượt biên. Cộng sản vào chiếm ngụ nhà của HO ra đi. Những ngôi mộ tử sĩ miền Nam cải táng về quê. Không có chiến binh Cộng sản qua đời vào nằm thay thế.

Ngay sau khi lệnh dân sự hóa ban hành, chúng tôi có dịp đặt vấn đề với ông Thủ tướng Việt Nam, qua hình thức đặt câu hỏi trực tuyến bằng Internet. Qua đài BBC chuyển tiếp.
Câu hỏi được ghi nhận nhưng không có câu trả lời.

Tiếp theo, gởi hồ sơ đặt vấn đề đến văn phòng Thủ tướng tại Hà Nội, gởi qua Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, qua đại sứ Mỹ tại Việt Nam, qua các dân biểu. Kết quả cho biết tài liệu đã nhận được nhưng cũng chưa có câu trả lời.

Hỏi thăm Thủ tướng

Với tư cách là một công dân Hoa Kỳ, có chiến hữu nằm tại nghĩa trang, chúng tôi đã xin Thủ tướng chính phủ Việt Nam các điều chính sau đây:

1) Ban hành quyết định dành nghĩa trang quân đội Biên Hòa là khu di sản lịch sử của quốc gia, cần bảo vệ và duy trì nguyên trạng. Tuyệt đối không được lấn chiếm, phá hoại hay làm hư hỏng các công trình kiến trúc lịch sử và các phần mộ.

2) Cho điều tra và quy định trách nhiệm cho giới chức nào đã phá hoại 10 thước chiều cao của Nghĩa dũng đài vào năm 2004. Ðây là một công trình có giá trị lịch sử rất quan trọng. Nếu không được bảo vệ sẽ mở đường cho việc phá hoại toàn diện về sau.

Lời yêu cầu kể trên dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống Việt Nam, phản ảnh tính văn minh của nhân loại, được bảo vệ bởi các công ước quốc tế về việc tôn trọng di hài tử sĩ, mồ mả chiến binh. Chính phủ Việt Nam đã ký kết từ Geneve 54 đến Paris 73 cũng như các luật lệ theo công pháp quốc tế mà Việt Nam phải tuân thủ với tư cách là thành viên của Liên hiệp quốc.

Nghĩa trang vẫn còn đó, tại sao?

Sau 33 năm cuộc chiến, ngày nay nghĩa trang Biên Hòa vẫn còn đó . Lý do chính là vì có sự tới lui thăm viếng của gia đình tử sĩ. Mặc dù bị phá hoại và quên lãng nhưng thực sự vẫn có thể coi như tồn tại. Tuy nhiên không có gì bảo đảm tất cả sẽ bền vững muôn đời. Thời gian, thiên nhiên và chính con người sẽ làm các di tích lịch sử tàn lụi hay được bảo vệ. Vì vậy nhờ sự chia xẻ thông tin, thường xuyên thăm viếng, chúng ta sẽ có nhiều nỗ lực và sáng kiến thích hợp. Nghĩa trang quốc gia Hoa Kỳ tại Arlington là một thí dụ cụ thể.

Xin hãy ghi lại những năm lịch sử của một đất nước trẻ trung và hùng cường nhất thế giới. Chiến tranh dành độc lập 1775-1783, tử sĩ chôn khắp mọi nơi. Năm 1864, tử sĩ đầu tiên của cuộc nội chiến Nam Bắc chôn tại Arlington. Khi chiến tranh chấm dứt, miền Bắc chôn tổng cộng 16 ngàn tử sĩ của liên bang tại nghĩa trang quốc gia. Ðồng thời có khu mộ tập thể chôn cất chung binh sĩ của cả hai miền. Trên toàn lãnh thổ của các tiểu bang miền Nam đã có hàng trăm nghĩa trang lớn nhỏ mai táng chiến binh của phe bại trận nhưng đã được xây dựng và bảo toàn bởi luật lệ của liên bang từ phe chiến thắng. Nhưng thực sự phải chờ đến bốn mươi năm sau, mới đến ngày hòa giải dân tộc. Gần 500 ngôi mộ tử sĩ miền Nam được cải táng đem vào chôn tại Arlington, chung quanh tượng đài với hình ảnh bà mẹ chiến sĩ dân quân của phe Liên hiệp thua trận. Tiếp theo, nhiều mộ phần của các chiến sĩ anh hùng hy sinh từ cuộc chiến tranh cách mạng chống Anh Quốc cũng được cải táng đưa vào Arlington. Ðó là phương cách của người Mỹ đối xử với phe thù nghịch sau chiến tranh, dựa trên nền văn hóa trẻ trung của hơn 200 năm lập quốc. Dân tộc Việt Nam chúng ta, với 4,000 năm văn hiến, tiền nhân đã dậy rằng, nghĩa tử là nghĩa tận. Ðến bao giờ nghĩa trang Biên Hòa mới có thể trở thành di sản lịch sử của quốc gia. Ðến bao giờ những di hài các chiến binh miền Nam chết trên chiến trường, trong các trại tù mới được tìm kiếm và đem về cải táng tại Biên Hòa. Lúc đó Nghĩa trang Biên Hòa có còn không?

Cứu lấy nghĩa trang

Trên đây là toàn bộ bản tường trình về Nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Chúng tôi cũng có một bản tóm lược về lịch sử nghĩa trang đính kèm. Ðể có thể cứu lấy nghĩa trang Biên Hòa một cách cụ thể, xin đề nghị các điểm sau đây:

Thứ nhất: Không khuyến khích quý vị về thăm quê hương, nhưng hàng triệu người đã về. Chúng tôi xin các bạn, có về Việt Nam, xin một lần đến thăm nghĩa trang Biên Hòa.

Thứ hai: Viết thơ cho dân biểu địa phương để xin quí vị quan tâm đến vấn đề này. Không cần đặt ra những đề nghị phù phiếm, không tưởng. Không đòi hỏi phải xây cất, trùng tu qui mô lớn lao. Không cần phải tổ chức lễ hội giải oan hay hòa hợp. Chỉ cần xin bảo vệ cho toàn thể 52 mẫu còn lại không bị xâm phạm. Các kiến trúc hiện hữu sẽ không bị hư hỏng thêm. Nhiên hậu những bước kế tiếp sẽ được thời gian giải quyết.

Cho tôi xin một mộ phần

Cá nhân chúng tôi có một câu chuyện. Năm 1968, chiến tranh khốc liệt, khói lửa lan đến cả Saigon, Chợ lớn. Một lần, tôi và Ðại tá Ðỗ Tùng lên thăm nghĩa trang, gặp Ðại tá Nguyễn tử Ðóa, cục trưởng Quân Nhu. Nửa đùa nửa thiệt, bác Ðỗ Tùng và tôi, xin đặt mỗi người một lô. Bây giờ ông Ðóa qua đời, chôn ở miền Trung Mỹ. Ông Ðỗ Tùng đi trước, chôn ở nghĩa trang Hollywood.

Trong số ba anh Bắc kỳ ngày xưa lẩm cẩm dành đất nghĩa trang Biên Hòa, chỉ còn một người, có ngày sẽ về nằm lại ở nơi hẹn ước. Nếu có sớm nằm chơi dưới cội hoa trên miền đất tạm dung thì thế hệ tương lai sẽ thi hành di chúc. Ðứa cháu ba đời đem hũ tro tàn leo 65 bậc thang sắt đặt trên đỉnh ngọn Tháp của Nghĩa dũng Ðài. Ngọn gió đông bắc tháng tư sẽ thổi di hài cát bụi của người giao chỉ bay khắp cánh đồng mộ chí. Sống đã chẳng trọn tình chiến hữu, đành tìm con đường chung sự lãng mạn để trả nợ binh đoàn.

16 ngàn ngôi mộ bỏ lại năm 1975, trên 5,000 tử sĩ đã cải táng về quê khắp 4 vùng chiến thuật. Ðể lại 8 khu nghĩa trang, khu nào cũng còn đất trống. Nếu nghĩa trang được bảo vệ, quý vị thử nghĩ coi, đâu có anh cán bộ cộng sản nào dám vào nằm cạnh nhẩy dù hay thủy quân lục chiến!. Dân chúng cũng không muốn vào đấy nằm. Có chăng là các cựu chiến sĩ VNCH, các thương binh liệt sĩ còn tại Việt Nam. Hay là những người lính tha hương muốn về gởi nắm xương tàn nơi quê hương. Nếu là cựu chiến sĩ, thì vào đó chứ còn đi đâu? Lịch sử nghĩa trang quốc gia Hoa Kỳ cho thấy cả trăm năm sau mà người ta vẫn còn cải táng đem di hài tử sĩ vào Arlington.

Ðó là lý do tại sao chúng ta phải cứu lấy nghĩa trang Biên Hòa...



Giao Chỉ, San Jose

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Cựu Tướng Vĩnh Lộc Từ Trần, Hưởng Thọ 86 Tuổi


Cựu Trung Tướng Vĩnh Lộc, nguyên Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã từ trần tại Houston, Texas, thọ 86 tuổi, theo bản Cáo Phó từ gia đình cựu tướng phổ biến.

Bản văn cho biết rằng ông Nguyễn Phước Vĩnh Lộc, pháp danh Minh Tâm, Nguyên Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Nguyên Chỉ Huy Trưởng Trường Cao Đẳng Quốc Phòng, Nguyên Tư Lệnh Quân Đoàn II, Quân Khu 2, vừa mệnh chung lúc 4 giờ 30 sáng ngày 8 tháng 01 năm 2009,”

Bản văn cho biết linh cửu hiện được quàn tại Forest Park Funeral Home - 12800 Westheimer Rd., Houston, TX .


Chương trình Tang Lễ:

Thứ Sáu 9-1-2009 - 3:00 PM Lễ Phát Tang
Thứ Bảy 10-1-2009 - 2:00 PM đến 6:00 PM
- Lễ Phủ kỳ VNCH - Lễ Cầu Siêu và Thăm viếng
Chủ Nhật 11-1-2009 - 2:00 PM đến 4:00 PM
- Thăm Viếng - Lễ Cầu Siêu và Lễ Di Quan.


Theo nhà quân sử Vương Hồng Anh, lược sử cuộc đời của cựu tướng Vĩnh Lộc như sau.

Tiểu sử của cựu trung tướng Vĩnh Lộc

Cựu trung tướng Vĩnh Lộc sinh năm 1926 tại Huế, tốt nghiệp khóa đào tạo sĩ quan Quân đội Quốc gia Việt Nam tại Huế năm 1949, tốt nghiệp trường Thiết giáo Saint Saumur (Pháp) năm 1950.

Từ 1950 đến năm 1952, sĩ quan tùy viên của Quốc trưởng Bảo Đại.

Từ năm 1952 đến năm 1954: cấp bậc đại úy, liên đội trưởng Thiết giáp thuộc lực lượng đặc nhiệm .

Từ năm 1954 đến năm 1955, cấp bậc thiếu tá, giữ chức trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Thiết giáp, sau đó, , theo học khóa Chỉ huy Tham mưu tại Hoa Kỳ.

Từ năm 1956 đến 1960, giảng viên trường Đại học Quân sự .

Từ năm 1960-1963, trung tá, chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Vạn Kiếp. Thăng cấp đại tá ngày 1/11/1963, và giữ chức vụ tham mưu phó Hành quân Bộ Tổng tham mưu.

Từ tháng 3/1964 đến tháng 5/1965: Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ Binh (thăng chuẩn tướng vào tháng 8/1964) .

Từ tháng 5 đến tháng 6/1965: Tư lệnh Biệt khu Thủ Đô.

Từ tháng 6/1965 đến tháng 3/ 1968: Tư lệnh Quân đoàn 2/Vùng 2 chiến thuật (thăng Thiếu tướng vào tháng 10 năm 1965. trung tướng tháng 10 năm 1966).

Từ tháng 3/1968 đến năm 1974: lần lượt giữ chức vụ Phụ tá Quân huấn Tổng tham mưu trưởng, kiêm Tổng cục trưởng Quân huấn, Chỉ huy trưởng trường Cao đẳng quốc phòng.

Ngày 29/4/1975: Tổng tham mưu trưởng Quân lực VNCH.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Tưởng niệm 35 năm trận đánh Hoàng Sa

Post by phu_de »

GIỖ TRẬN HOÀNG SA


Image

Sơ đồ diễn biến trận hải chiến


Ba mươi lăm năm đã trôi qua, nhưng trận hải chiến oanh liệt kéo dài từ ngày 17 đến ngày 19/01/1974 giữa Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa và quân xâm lăng Trung Cộng để bảo vệ quần đảo Hoàng Sa của Tổ Quốc vẫn khắc ghi trong tâm khảm người dân Việt Nam. Những hình ảnh hào hùng của các chiến hạm quân ta nã pháo vào tầu xâm lăng Trung Cộng khác nào các trận đánh của tướng sĩ Nhà Trần hay của vua Quang Trung Nguyễn Huệ phá tan thủy quân xâm lăng Nguyên Mông và Xiêm La năm nào. Tinh thần chiến đấu anh dũng của các sĩ quan và thủy thủ ta để giữ vững bờ cõi, dù là tận nơi hải đảo xa xôi, thật đáng là tấm gương sáng cho hậu thế noi theo. Gần 60 chiến sĩ hải quân của 4 chiến hạm và lực lượng Người Nhái đã ngã xuống, đem máu xương ngăn quân xâm lược. Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ10 cùng hạm trưởng và 45 thủy thủ đã ở lại với tầu, mãi mãi nằm dưới làn nước bạc trong vùng biển Hoàng Sa.

Image

Hộ tống hạm HQ-10 Nhựt Tảo


Nay là ngày giỗ lần thứ 34 các anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình vì bảo vệ hải đảo thân yêu của Tổ Quốc Việt Nam. Tuy không giữ được quần đảo Hoàng Sa, nhưng sự hy sinh anh dũng của các anh không bao giờ uổng phí và hằng nhắc nhở các thế hệ Việt Nam sau này phải nhớ mối hận mất đất đất, mất đảo, mất vùng lãnh hải. Hận quân xâm lăng Trung Cộng tiếp nối chủ trương bành trướng, bá quyền đối với nước ta từ 4 ngàn năm nay. Hận tập đoàn CSVN cam tâm chấp nhận mất đất, mất biển để đổi lấy viện trợ quân sự của kẻ thù truyền kiếp. Sau khi Trung Cộng xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa, trong khi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa phản đối và lên án trên trường quốc tế thì tên lãnh đạo tối cao của đảng CSVN lúc đó là Lê Duẩn đã có lời cảm ơn Mao Trạch Đông "đã giúp giải phóng Hoàng Sa". Sự kiện hiện nay Trung Cộng tuyên bố các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của họ, sự kiện Hà Nội dâng đất, dâng biển cho Tàu trong những cuộc hội nghị bán nước hồi đầu thế kỷ này càng chứng tỏ có sự xuyên suốt trong lập trường từ thời Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn và những kẻ kế vị cho đến ngày hôm nay sẵn sàng phản quốc để lấy lòng quan thầy Trung Cộng

Image

Tuần dương hạm HQ-16 Lý Thường Kiệt

Từ khi chiếm được Miền Nam, CSVN cố ý che dấu những gì đã xảy ra trong những ngày 17 đến 19/01/1974 tại quần đảo Hoàng Sa. Chúng che dấu không phải vì không muốn đề cập đến Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Chúng che dấu vì không muốn nhân dân ta khám phá hành động bán nước bỉ ổi của chúng. Từ đó đến nay, thỉnh thoảng CSVN cũng đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và tuyên bố thuộc Việt Nam cũng như phản đối yếu ớt mỗi khi Trung Cộng có những hoạt động trong vùng. Những vụ Trung Cộng cho tầu chiến bắn giết ngư dân Việt Nam xẩy ra thường xuyên cũng chỉ khiến cộng sản Hà Nội phản đối bằng mồm. Điều nhục nhã nhất là báo chí CSVN loan tin "tầu công an biên phòng" của Trung Quốc tấn công ngư thuyền Việt Nam. Nếu vậy thì CSVN đã chấp nhận biên giới của Tàu cộng là sát bờ biển Việt Nam. Thử hỏi CSVN đang quản lý bộ máy Nhà Nước bao gồm quân đội với hải lục không quân. Tại sao lúc tầu bọc thép của Trung Cộng xâm phạm lãnh hải Việt Nam, bắn giết ngư dân Việt Nam không thấy bóng giáng một chiếc tầu hải quân hay lực lượng bảo vệ duyên hải ra nghênh chiến ? Phải chăng CSVN biết trước là với những gì "lãnh đạo tối cao" đôi bên thỏa thuận, tức là biên giới Trung Quốc nằm sát bờ biển Việt Nam, ngư dân ra khơi đánh cá là vi phạm lãnh hải của Trung Cộng và sẽ bị bắn giết ? Vì thế các lực lượng hải quân của CSVN không bao giờ dám xuất hiện mỗi khi có chiến hạm của Trung Cộng hiện diện.

Image

Khu trục hạm HQ-4 Trần Khánh Dư

Ở thời đại tân tiến ngày hôm nay, CSVN không thể nào bưng bít thông tin để lừa bịp dân chúng được. Vì thế , ngay sau khi Trung Cộng tuyên bố thành lập huyện Tam Sa trong đó họ sát nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ta vào của họ, toàn dân ta, đặc biệt là giới sinh viên, thanh niên đã rất căm phẫn. Lòng yêu nước và ý chí bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải của Tổ Quốc dâng trào. Họ đã tự động xuống đường tới ngay trước đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội và lãnh sự quán của họ tại Sài Gòn để phản đối thẳng vào mặt bọn xâm lược, chứ không đứng trong một văn phòng đọc một bản phản đối yếu hèn như chính quyền vẫn thường làm. Nhưng, CSVN vì đã cúi đầu thần phục các quan thày Trung Cộng, nên đã ra lệnh cấm cản.

Image

Soái hạm HQ-5 Trần Bình Trọng

Ngày kỷ niệm trận hải chiến oanh liệt Hoàng Sa 19/01/1974 cũng là ngày tưởng niệm 58 chiến sĩ Hải Quân VNCH đã anh dũng hy sinh để bảo vệ hải đảo. Đúng là ngày Giỗ Trận Hải Chiến Hoàng Sa và cũng là ngày Giỗ các anh hùng liệt sĩ trong trận này. Xin mọi người cùng thắp nén hương lòng và kính cẩn nghiêng mình trước gương hy sinh anh dũng của các chiến sĩ hải quân. Nguyện thề cùng anh linh các chiến sĩ sẽ giành lại đất đai, hải đảo mà các anh đã đổ máu và bỏ cả mạng sống của mình để gìn giữ.

Trần Đức Tường

Image







Tưởng niệm 35 năm trận đánh Hoàng Sa


[flash width=425 height=344][/flash]

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Những nén hương cho tử sĩ Hoàng Sa...
Hằng năm, cứ mỗi độ Ðông tàn Xuân đến là chúng ta ngậm ngùi tưởng-niệm những chiến-sĩ HQ/VNCH đã hy-sinh trong trận hải-chiến Hoàng Sa ngày 19/1/1974.

Họ đã đi vào lòng biển mẹ theo chiến-hạm hay kiệt sức trên những chiếc bè đào thoát. Hình ảnh những người thủy-thủ can trường,cương-quyết chiến đấu đến cùng trước một kẻ thù Trung-Cộng đông và mạnh gấp nhiều lần để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh-hải cho dù chỉ là một quần-đảo xa xôi,nhỏ bé... đã nói lên được tinh thần bất khuất, truyền thống của dân tộc Việt-Nam.

Trong khi những chiến-sĩ Hải Quân đại diện cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa quyết liều chết chống ngoại xâm thì bọn cầm quyền cộng-sản Bắc-Việt đã im hơi lặng tiếng một cách thật nhục nhã, để lộ nguyên hình bộ mặt đê hèn, phản dân hại nước của chúng.

Ngày nay, tuy gần 35 năm nỗi căm hờn vì mất đất, mất biển vẫn không suy-giảm trong lòng mỗi người dân Việt thì Việt-cộng lại ký thêm những hiệp ước cắt đất nhượng biền mà tổ-tiên chúng ta đã dày công gây dựng và bồi đắp.

Chính-nghĩa bảo-vệ tổ-quốc của Quân-Lực VNCH càng rõ nét hơn qua cuộc hải-chiến Hoàng-Sa 19 tháng I năm 1974.

Chắc chắn bọn xâm lược Trung-cộng đến bây giờ vẫn chưa hết kinh ngạc bàng-hoàng và ngầm bái-phục tinh-thần yêu nước của quân-dân miền Nam Việt-Nam khi nghĩ đến cuộc thư hùng kỳ lạ giữa hai lực lượng quá chênh-lệch.

Một bên là lực lượng hùng-hậu của Trung-cộng với hạm-đội tối-tân trang bị những vũ-khí hiện đại nhất gồm 2 hộ tống hạm, 2 trục lôi hạm, 4 phi tiễn đỉnh trang bị hỏa tiễn STYX, 6 hải vận hạm và một lực lượng trừ bị gồm 2 tuần dương hạm, 4 pháo hạm, 4 khu trục hạm trang bị hỏa tiễn KIANJIANG và 2 phi đội MIG 19 cộng với 2 phi đội MIG 21...

Về phía Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4 có vẻ còn mới và trang-bị khá nhất, còn lại tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ 5, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16 và Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ 10 đều cũ kỹ của đệ nhất và đệ nhị thế chiến của Hải Quân Hoa Kỳ tân trang, sửa chữa để viện trợ cho HQ/VNCH.

Riêng HQ 10 chỉ còn sử-dụng được một máy để vận-chuyển chưa được đua về hải-quân công-xưởng Saigòn sửa chữa thì phải lâm chiến...

Rõ ràng Trung-cộng đem lực lượng hùng-hậu nêu trên là để chiếm đóng luôn quần đảo Hoàng-Sa thân-thương của Việt-Nam chúng ta trong ngày đó.

Hiệp-định Paris đã bức tử Quân-Lực VNCH từ năm 1973. Chắc chắn Trung Cộng đã được thỏa thuận nào đó của Hoa Kỳ như chúng ta đã thấy qua sự im-lặng và làm ngơ khó hiểu của đồng-minh Hoa Kỳ trước sự cầu cứu của Hải Quân VNCH lúc lâm-nguy (vớt người rơi xuống biển): hoàn-toàn trái luật hàng-hải quốc tế!

Tương quan lực lượng của đôi bên quá chênh lệch nhưng thiệt hại của Hải Quân VNCH về nhân mạng và quân dụng lại có phần ít hơn sự tổn thất của Hải Quân Trung cộng thì quả thật gương anh-dũng quyết chiến đấu của chiến-sĩ VNCH trong trận hải-chiến Hoàng-Sa 19/1/1974 đã tô điểm thêm nét hào-hùng cho trang-sử Việt.

Chúng ta hãy thắp những nén hương, chân thành tưởng-niệm những người con yêu của đại-dương, của tổ-quốc đã hy-sinh để bảo-vệ giang-san gấm vóc Việt-Nam trong trận hải-chiến Hoàng-Sa 1974.

Tình Ðại-Dương đã viết để tưởng-niệm Hải Quân Thiếu-Tá Nguyễn Thành Trí, một người bạn đồng khóa 17/SQ/HQ/NT:

...“ cũng may cho bạn... (nếu có thể còn gọi được là may) thân xác bạn được thuỷ táng theo truyền thống hải-quân. Nếu thân xác bạn được đem về an-táng tại nghĩa trang quân-đội thì chắc rằng kẻ nội thù đã đào xới và gán cho linh hồn Bạn danh-từ Hải Quân Ngụy.

Thật là mỉa mai và chua xót! Người xả thân bảo vệ tồ quốc thì bị gọi là Ngụy còn những kẻ bán đứng quê hương thì được tôn xưng là (anh-hùng)!

Những nấm mồ của các chiến-hữu VNCH trong nghĩa trang quân-đội đã bị họ san bằng.

Nếu nơi an-nghĩ của bạn cũng ở đó thì chắc chắn cùng chung một số phận nghiệt ngã!...”

California tháng 1/2009

Trần Trọng An Sơn
Trung Tâm Tây-Nam/Tập Thể Chiến-Sĩ VNCH/HN

(Xin đính kèm danh-sách 74 anh-hùng liệt-sĩ Hoàng-Sa, và xin gởi lời cám ơn đến Hải-sử, đặc san Lướt Sóng và Tình Ðại Dương)

Danh sách tử-sĩ Hoàng-Sa

- Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ 10:

1/ HQ trung tá Ngụy Văn Thà, HT/ HQ 10

2/ HQ thiếu-tá Nguyễn Thành Trí, HP/ HQ 10

3/ HQ đại-úy Vũ Văn Bang

4/ HQ đại-úy HH/TT Huỳnh Duy Thạch

5/ HQ trung-úy CK Vũ Ðình Huân

6/ HQ tr/úy Phạm Văn Ðồng

7/ HQ tr/úy Ngô Chí Thành

8/ Th/sĩ nhất TP Châu quản nội trưởng

9/ Th/sĩ nhất CK Phan Tấn Liêng

10/ Th/sĩ nhất ÐK Võ Thế Kiệt

11/ Th/sĩ vận-chuyển Hoàng Ngọc Lễ (nhiều tuổi nhất)

12/ Tr/sĩ nhất VT Phan Tiến Chung

13/ Tr/sĩ QK Nguyễn Văn Tuân

14/ Tr/sĩ GL Vương Thương

15/ Tr/sĩ TP Nam

16/ Tr/sĩ TP Ðức

17/ Tr/sĩ TP Huỳnh Kim Sang

18/ Tr/sĩ TX Lê Anh Dũng

19/ Tr/sĩ ÐK Lai Viết Luận

20/ Tr/sĩ Vận chuyển Ngô Tấn Sơn

21/ Tr/sĩ GL Nguyễn Văn On

22/ Tr/sĩ TP Nguyễn Thành Trọng

23/ Tr/sĩ TP Nguyễn Vĩnh Xuân

24/ Tr/sĩ CK Phạm Văn Quý

25/ Tr/sĩ CK Nguyễn Tấn Sĩ

26/ Tr/sĩ CK Trần Văn Ba

27/ Tr/sĩ ÐT Nguyễn Quang Xuân

28/ Tr/sĩ BT Trần Văn Ðàm

29/ HS1/Vận-chuyển Lê Văn Tây

30/ HS1/vận-chuyển Lương Thanh Thu

31/ HS1/TP Nguyễn Quang Mến

32/ HS1/vận chuyển Ngô Sáu

33/ HS1/CK Ðinh Hoàng Mai

34/ HS1/CK Trần Văn Mộng

35/ HS1/DV Trần Văn Ðịnh

36/ HS vận-chuyển Trương Hồng Ðào

37/ HS vận-chuyển Huỳnh Công Trứ

38/ HS/GL Nguyễn Xuân Cường

39/ HS/GL Nguyễn Văn Hoàng (nhỏ tuổi nhất)

40/ HS/TP Phan Văn Hùng

41/ HS/TP Nguyễn Văn Thân

42/ TT/DT THANH

43/ TT/TP Thi Văn Sinh

44/ Th/sĩ DT Thọ

45/ HS/TP Nguyễn Văn Lợi

46/ HS/CK Trần Văn Bảy


- Khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4:


47/ HQ trung-úy Nguyễn Phúc Xá

48/ HS1 vận chuyển Nguyễn Thành Danh

49/ Biệt hài Nguyễn Văn Vượng


- Tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ 5:

50/ HQ trung-úy Nguyễn Văn Ðồng

51/ Th/sĩ ÐT Nguyễn Phú Hào

52/ TS1/TP Nguyễn Ðình Quang


- Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16:

53/ TS/ÐK Xuân

54/ HS/QK Nguyễn Văn Duyên


- Lực Lượng Người Nhái:

55/Trung-úy NN Lê Văn Ðơn

56/HS/NN Ðỗ Văn Long

57/TS/NN Ðinh Hữu Từ

58/TT/NN Nguyễn Văn Tiến


- Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ 10 (bổ-túc):

59/ HS/CK Nguyễn Văn Ðông

60/ HS/PT Trần Văn Thêm

61/ HS/CK Phạm Văn Ba

62/ HS/ÐK Nguyễn Ngọc Hòa

63/ HS/ÐK Trần Văn Cường

64/ HS/PT Nguyễn Văn Phương

65/ HS/PT Phan Văn Thép

66/ TT1/TP Nguyễn Văn Nghĩa

67/ TT1/TP Nguyễn Văn Ðức

68/ TT1/TP Lý Phùng Quy

69/ TT1/VT Phạm Văn Thu

70/ TT1/PT Nguyễn Hữu Phương

71/ TT1/TX Phạm Văn Lèo

72/ TT1/CK Dương Văn Lợi

73/ TT1/CK Châu Túy Tuấn

74/ TT1/DT Ðinh Văn Thục

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Yểm Trợ Trận Chiến Hoàng Sa
Hồi Ký : Nguyễn Văn Sáng


Image

Ngày 17 tháng 4 năm 1974, chiến hạm Vĩnh Long HQ-802 (LST) của chúng tôi bỗng sôi động hẳn lên với lệnh rời vùng trách nhiệm Trường Sa để tiến về quần đảo Hoàng Sa. Có tin đồn Trung Cộng sắp tấn công tấn chiếm quần đảo Hoàng Sa, và Hải Ðội III Ðặc Nhiệm trực thuộc Hạm Ðội chuẩn bị nghênh chiến. Chiến hạm chúng tôi được điều động đi yểm trợ tiếp vận vì đã được thực tập trong lực lượng đặc nhiệm Hải Ðội III năm 1973, vừa là 1 tàu với nhiều máy móc kỹ thuật. Phản ảnh sự sôi động của tình hình bây giờ, người ta còn nghe mọi thủy thủ trên tàu trong câu chuyện thường nhật lại nói chêm thêm dăm ba câu tiếng tàu vào các câu đùa cợt trong suốt hải trình ra vùng Hoàng Sa. Ðời quân đội là thế, thằm chút khôi hài trong cái cực nhọc để tìm chút vui tươi. Cá nhân tôi, vừa được đi du tập qua các quốc gia Á Châu trong vùng trách nhiệm của Ðệ Thất Hạm Ðội Hoa Kỳ về lại Hạm Ðội VN, nhận thấy quá rõ ràng thái độ mới của chính trường Hoa Kỳ và sự bấp bênh của chính quyền Nixon, lòng tôi âu lo về sự xuất hiện của loài cá mập này càng làm gia tăng gánh nặng cho HQVN. Như vậy, thật bất ngờ, trận hải chiến Hoàng Sa sắp thành sự thật.

Nhiệm vụ của Hải Ðội đặc nhiệm được thành lập từ năm 1973 nhằm đối phó với vấn đề đặt quân trú phòng trên lãnh hải Hoàng Sa và Trường Sa, song song với việc thăm dò tài nguyên thiên nhiên dầu hỏa thuộc về chủ quyền VN. Hải Ðội đặc nhiệm được chỉ huy bởi HQ Ðại Tá Hà Văn Ngạc (Khóa 5), cũng là Chỉ Huy Trưởng Hải Ðội 3 (Hải Ðội Tuần Dương), thuộc BTL Hạm Ðội. Thành phần của Hải Ðội đặc nhiệm cùng thao dượt mùa hè 1973 gồm có: CXH HQ-802 (Hạm Trưởng HQ Trung Tá Vũ Quốc Công) là soái hạm, CXH HQ-801 (có chở theo các Sinh Viên Sĩ Quan thuộc Trung Tâm Huấn Luyện HQ Nha Trang), Khu Trục Hạm HQ-4 (DER) và 3 Tuần Dương Hạm (WHEC). Ngoài ra còn được tăng phái 1 số hạm trưởng thâm niên để thực tập các công tác tiếp vận quy mô ngoài khơi.

Trước đó khoảng 3 tháng, bỗng dưng Bắc Kinh lên tiếng tuyên bố chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa. Ngoại trưởng VNCH ông Vũ Văn Bắc liền lên tiếng bác bỏ và cực lực lên án ý đồ xâm lăng này của Trung Cộng. Ngày 16-1-1974 Trung Cộng mang 2 chiến hạm số 402 và 407 cùng nhiều ngư thuyền vũ trang đổ bộ lên đảo Cam Tuyền, một đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa. Ngày 17-1-1974, Khu Trục Hạm HQ-4 đến Hoàng Sa gây áp lực buộc lức lượng Trung Cộng rút khỏi 2 đảo Cam Tuyền và Vĩnh Lạc. Tuy nhiên, chiến hạm của Trung Cộng vẫn lảng vảng trong vùng. Chiều lại, tin báo cáo cho biết có thêm 2 chiến hạm săn tàu ngầm loại Kronstad của Trung Cộng được tăng cường. Nhận thấy tình hình nghiêm trọng, Bộ Tư Lệnh HQ Vùng 1 Duyên Hải ban hành lệnh hành quân Hoàng Sa 1 nhằm chiếm lại các đảo Cam Tuyền, Quang Hòa, Duy Mộng và Vĩnh Lạc. Ðồng thời, tăng cường thêm Tuần Duyên Hạm HQ-5 (Cruiser) và Hộ Tống Hạm HQ-10 (Escort) vào vùng chiến cùng với Khu Trục Hạm HQ-4 (Destroyer) và Tuần Duyên Hạm HQ-16 (Cruiser). Tăng cường thêm có Toán Hải Kích SEAL điều động bởi HQ Ðại Úy Nguyễn Minh Cảnh (Khóa 20), và toán Biệt Hải điều động bởi HQ Trung Úy Lê Văn Dũng (Khóa 20), 1 Trung Ðội Ðịa Phương Quân đang trú phòng tại đảo chính, đảo Hoàng Sa, và 1 phái đoàn công binh của Quân Ðoàn 1 (do Thiếu Tá Hồng chỉ huy) tăng viện để xây cất một phi đạo trên đảo Hoàng Sa. Lực lượng HQ Trung Cộng có 11 chiến hạm và ghe thuyền (gồm các tàu Khinh Tốc Ðỉnh Komar với hỏa tiễn hải-hải, Vớt Mìn, Trục Lôi Hạm và Hộ Tống Hạm), tổng số binh sĩ Trung Cộng hiện diện không rõ.

Image

Chiến hạm chúng tôi, HQ-802, hai máy tiến full vận chuyển với tốc độ nhanh đến vùng 1 Duyên Hải ngày 18-1-1974 để nhận lệnh. Trên đường đi Hạm Trưởng HQ Trung Tá Vũ Quốc Công ra lệnh hạm phó, Thiếu Tá Thái, chỉ huy bắn thử các trọng pháo để thao dượt tác xạ. Mỗi phát đại bác bắn đi, tàu chúng tôi rung chuyển khắp thân của khối sắt nỗi, hầu hết thủy thủ đoàn đều lên boong tàu lúc thao dượt tác xạ. Chúng tôi chỉ biết HQ-5 đã tiến ra Hoàng Sa với toán SEAL, HQ-4 mang theo toán Biệt Hải, và HQ-16 đang có mặt ngoài khơi Hoàng Sa. Dĩ nhiên là mọi thủy thủ đều quan tâm đến những diễn tiến đầy kinh ngạc này. Ðang bận đương đầu với chiến cuộc với CSVN mà HQVN tham dự bằng yểm trợ hỏa pháo từ mặt biển, nay nghe tin HQ Trung Cộng sử dụng chiến hạm với tốc độ nhanh trang bị hỏa tiễn vượt trội hơn hỏa lực HQVN, ai cũng lo ngại về sự bất cân bằng của trận hải chiến. Trước đó khoảng 1 năm, CXH Vĩnh Long HQ-802 được lệnh đi thao dượt tập đội tại ngoài khơi Trường Sa, theo các tin tức là 2 quần đảo Trường và Hoàng Sa có thể có các mỏ dầu quan trọng. Từ đó chúng tôi rời đất liền với những công tác dài hạn kéo dài vài ba tháng lênh đênh chỉ thấy những nước và sóng biển, thèm khát mặt đất, cây cối, nhà cửa và những tà áo dài. Hải đảo Trường Sa buổi chiều các hải âu bay về hòn đảo nhỏ với số lượng đông đảo làm đen cả bầu trời và tiếng kêu chíu chít nhộn nhịp của bầy chim có thể nói kinh khủng như phim "Birds" của vua kinh dị Hitchkok. Ai muốn bắt bao nhiêu chim và lấy bao nhiêu trứng chim hải âu này đều được cả. Chỉ cần lấy xoong, giỏ ra mà xúc bắt vì chúng nhiều vô số. Các sinh vật dưới biển nhiều con thật lạ lùng, các anh Ðịa Phương Quân ăn phải cá biển độc bị sưng phù và nhiễm bệnh nhiều đến nỗi chúng tôi phải chở thêm y sĩ ra trị bệnh. Có buổi chiều tàu bỏ neo, tôi đứng gần anh hạ sĩ Ðương đang thả mồi câu cá. Mồi nhấp nhấp rung dưới nước, hạ sĩ Ðương giật lên 1 con cá khá lớn. Anh vừa kéo cá lên khỏi mặt nước khoảng 1 mét, bỗng từ dưới nước nổi lên 1 con cá mập phóng ngang qua táp mất con cá của hạ sĩ Ðương, cắn đứt luôn cả dây câu, và biến vào lòng biển. Mọi người chúng tôi đều nhìn nhau kêu "Ồ" một tiếng. Từ hôm ấy, chúng tôi không rủ nhau nhảy xuống biển vùng ấy để bơi lội khi trời nóng bức, điều mà chúng tôi vẫn thường làm mấy hôm trước. Cả hai vùng biển Trường và Hoàng Sa đều nổi tiếng là có nhiều đá ngầm tức là các đỉnh núi của những núi chìm với chân núi sâu một hai ngàn thước, ví như các bãi chông dễ thọc lũng các tàu bè. Các tàu khi mắc đá ngầm bị bể nát cả thân, chỉ nỗi lềnh bềnh phần trên trở thành xác khô phơi thân cùng sương gió. Ngày còn phục vụ trên HQ-800 tàu chúng tôi cũng đã trợ giúp kéo tàu Trường Xuân của Vishipcoline khi tàu này bị mắc cạn ở Trường Sa. Có trải qua cái khổ tâm đó thì mới hiểu cái kinh dị của hai vùng biển này.

Sáng sớm ngày 19-1-74, trong khi tàu chúng tôi được lệnh bỏ neo ngoài khơi, quá Ðà Nẵng ngang hòn Tri Tôn, Hạm trưởng Công ra lệnh 2 toán đặc biệt trang bị vũ khí và áo phao có cả 2 binh sĩ người nhái trực thuộc HQ-802 hạ xuồng chuẩn bị ứng chiến. Tuy nhiên, lệnh từ Bộ Tư Lệnh Vùng 1 vẫn giữ chúng tôi trong tình trạng chờ để yểm trợ. Cùng lúc ấy, tại quần đảo Hoàng Sa, toán Hải Kích SEAL (Người Nhái) của HQVN được lênh đổ quân lên đảo Quang Hòa do Trung Cộng chiếm cứ. Quân Trung Cộng nổ súng khiến cho 2 người nhái VN chết (Hạ Sĩ Long "sandwich", và HQ Trung Úy Ðơn). Toán Hải Kích rút về chiến hạm HQ-5 lúc 9:30 sáng. Trận hải chiến ngay sau đó bắt đầu lúc 10:00 sáng. Tôi được biết chiến hạm 2 phía dàn hình đối mặt, HQ Việt Nam ở vòng ngoài tiến về hướng Ðông Nam vào, Trung Cộng vây quanh đảo Quang Hòa, hướng về phía Ðông Bắc nghênh chiến. Sĩ quan chỉ huy chiến thuật (HQ Ðại Tá Ngạc) ra lịnh khai hỏa, tác xạ trực tiếp vào tàu địch. HQ Trung Cộng phản công. Trận hải chiến diễn ra với tổn thất hai bên như sau:

- VNCH: HQ-10 bị chìm tại trận. HQ-16 bị hư hại nặng, (phòng máy bị trúng đạn nhưng còn hải hành được). HQ-5 và HQ-4 bị hư hại nhẹ. Gần 50 binh sĩ bị tử thương, kể cả hạm trưởng HQ Thiếu Tá Ngụy Văn Thà của HQ-10 cùng chết theo tàu.

- Trung Cộng: Chiếc Kronstad 271 (soái hạm ) bị chìm. Ba chiến hạm tham chiến còn lại bi hư hại nặng và trung bình. Con số tử vong và bị thương không rõ.

Chúng tôi nóng lòng theo dõi các diễn tiến của trận hải chiến và rất đau lòng trước cái chết của một số đàn anh và các chiến hữu mà chúng tôi đã gặp từ Hải Ðội 3 Duyên Phòng (Vũng Tàu). . . Một lần nữa cái đau xót xưa lại trở về, kẻ thù Phương Bắc lại dày xéo mãnh giang sơn mà cha ông chúng ta đã lập nên. Sau trận Hoàng Sa, Trung Cộng lập tức huy động một lực lượng hùng hậu kết hợp Hải-Lục-Không Quân với gồm cả 42 chiến hạm và 2 tiềm thủy đĩnh tấn công đổ bộ bao vây tấn chiếm đảo chánh Hoàng Sa và các đảo kế cận, bắt giữ tất cả binh sĩ VN trên các đảo giải về Trung Cộng.

Sáng ngày 20-1-74, hai chiến hạm HQ-4 và HQ-5 về lại Ðà Nẵng cập bến an toàn gặp lại HQ-16 đã về đó trước, tất cả các chiến hạm đều bị trúng đạn. Chiến hạm chúng tôi sau đó được lệnh trở về Vũng Tàu. Sau này khi tàu về đến Vũng Tàu, tôi thấp thỏm mong tin về các bạn SQ cùng khóa tham dự trong trận đánh đó là HQ Ðại Úy Nguyễn Minh Cảnh (Người Nhái) và nhất là HQ Trung Úy Lê Văn Dũng (Biệt Hải) bị HQ Trung Cộng tiến chiếm đảo Hoàng Sa bắt mang về Trung Cộng, cùng với các Ðịa Phương Quân và toán Công Binh. Khi thoáng thấy HQ-471 do HQ Ð/Úy Hoàng Thế Dân (Khóa 20) làm Hạm Phó lù lù xuất hiện về lại cửa biển Vũng Tàu từ vùng chiến Hoàng Sa, chúng tôi đã lên máy truyền tin và vì quá mong đợi tin an nguy lẫn nhau đã liên lạc trực tiếp bằng bạch văn về tin tức của trận hải chiến, bất chấp các lệnh mã hóa truyền tin.

Trong hải sử cận đại mà các cuộc hải chiến xảy ra rất hiếm hoi, biến cố Hoàng Sa là trận hải chiến đã hâm nóng lại mối thù sâu xa với kẻ thù Phương Bắc, mà liên tục qua nhiều thế kỷ đã tìm cách xâm chiếm và xâm phạm chủ quyền nước Việt Nam, như một anh láng giềng ngoan cố tệ hại nhất. Trận hải chiến Hoàng Sa đã để lại tâm khảm tôi một số ưu tư dằn vặt mà qua thời gian tôi vẫn không thể nào khuây. Chúng ta không thể nào quên được ý đồ xâm chiếm của kẻ thù Phương Bắc. Kém may mắn thay, đi kèm với hành động xâm lăng ấy là một thái độ trở cờ của chính trường HK, hậu quả của lỗi lầm về chánh trị của Tổng Thống Nixon trong vụ Watergate. Nước VN đã bị cô lập và bị từ khước các chọn lựa bằng giải pháp ngoại giao, để rồi phải chọn hình thức hi sinh, chiến đấu trong vô vọng, liều chết để bảo tồn danh dự trước kẻ thù mạnh hơn mình về quân sự. Tuy nhiên có lẽ niềm đau day dứt nhất vẫn là cái chết đáng thương của các chiến sĩ Hải Kích kiêu hùng mà quân chủng Hải Quân đã phải tốn bao nhiêu công sức để đào tạo. Họ được lệnh đổ bộ lên đảo trước các mũi súng địch đang gờm chờ sẵn trong hàng phòng thủ, mà không hề được hải pháo dọn bãi yểm trợ. Rồi nghĩ lại hoàn cảnh HQ-10 trong tình trạng bán khiển dụng (tàu có 2 máy chánh nhưng một đã bị hư), mà vẫn được lệnh tham chiến để rồi bị trúng đạn chìm vào lòng biển cả. Người lính VN đã phải trực diện với bao phi lý của thời cuộc như thế chỉ để nối tiếp các thế hệ đàn anh viết lên những trang sử đỏ thẳm bằng máu của chính họ. Xin đốt một nén hương lòng cho các anh hùng Hoàng Sa và mượn lời thơ của Nguyệt Trinh để ghi khắc công trạng ấy và cầu mong cái chết của họ không trở thành vô nghĩa:

Sóng biển chiều nay cuồn cuộn quá
Còn đây uy dũng pháo Hoàng Sa
Vành khăn tang trắng đầu con trẻ
Kinh buồn vĩnh biệt tiếng cười cha



--------------------------------------------------------------------------------

Nguyễn Văn Sáng

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Viếng Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa:
Những anh linh Việt Nam tuyệt đối


Image
Một người đàn ông lặng lẽ cầu nguyện cho thân nhân của mình.

Image
Hai bình hoa giả bên một bát nhang nguội lạnh trong lòng Ðài Tử Sĩ.

Image
Còn khá nhiều mộ chưa được xây hoặc không có bia mộ.

Image
Thắp nhang trên mồ một anh hùng bị xem như “vô danh”.

Image
Một trong số những ngôi mộ đã được thân nhân xây lại.

Image
Thân nhân bày nhang đèn, trái cây, cúng cho một tử sĩ.

Image
Một cựu quân nhân của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, nay trở thành một trong những người chăm sóc phần mộ cho các chiến hữu của mình.


Image
Ðường lên Ðài Tử Sĩ của Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, tuy hoang tàn nhưng không vắng lặng.
Bài và hình: Trần Tiến Dũng


Trong ngày đưa ông Táo về Trời, chúng tôi tách khỏi dòng người Sài Gòn bận rộn chuẩn bị đón Tết Kỷ Sửu để đi thăm Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa.

Từ ngoài nhìn vào, dù nghĩa trang này không còn thuộc quyền quản lý của bộ đội nhưng vẫn còn nguyên các xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh lớn nằm choán mặt tiền nghĩa trang. Sau hơn 30 năm mới chấm dứt thời kỳ được người dân gọi là: quân quản nghĩa trang, có lẽ điều này phần nào giúp bà con, thân nhân của gần hai mươi ngàn người lính VNCH nằm lại nơi đây và dư luận bớt đi nỗi u uất.

Chúng tôi tấp vào một cái quán xập xệ, gần chỗ đặt bức tượng “Thương tiếc” trước kia để mua ít đồ cúng. Sau nhiều năm, thời tiết buổi sáng ở Sài Gòn lại trở lạnh.

Ði qua chân ngọn đồi nơi đặt đài tử sĩ, chúng tôi không còn thấy những tấm biển đỏ cấm chụp hình, cấm tham quan... cái cảm giác bị đe dọa cũng vì thế mà vơi đi. Chúng tôi quẹo trái, đi về phía khu chôn cất tập trung những người lính VNCH hy sinh trước đây. Xưa kia, từ ngoài xa lộ nhìn vào, vẫn thấy những hàng mộ nằm uy nghi trên đồi, còn hôm nay, đến tận nơi thì hình ảnh đầu tiên mà người ta bắt gặp là bức tường xây bằng gạch lốc màu xanh, mốc meo, bên trên có thêm rào kẽm gai vây kín toàn bộ khu mộ.

Ðể đến được với từng phần mộ, người ta phải đi qua một cái cổng. Phía trước văn phòng ban quản lý nghĩa trang, chúng tôi thấy có những tấm bảng, ghi những qui định dành cho người thăm viếng nghĩa trang và trên mỗi tấm bảng như vậy đều có hàng chữ trắng đề là: Nghĩa Trang - Nhân Dân Bình An. Ðây là tên gọi mới của Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa.





Câu chuyện bên mồ tử sĩ Phan L. Giang


Vào khu vực nghĩa trang, trước mắt chúng tôi là đài tưởng niệm uy nghi và hoang phế. Theo cách nhìn thông thường, những cảnh giống như phế tích này có thể làm nhiều người đau lòng nhưng có lẽ chính sự đau lòng xuyên năm tháng đó, cũng là điều mà hàng chục ngàn vong linh nơi này muốn nhắc nhở những người Việt đang sống và con cháu họ rằng, dù phiêu giạt nơi nào, sự bình an mà họ được hưởng cũng là nỗi đứt đoạn của những hy vọng từ chính mỗi mạch đất của nghĩa trang này.

Chúng tôi đi theo con đường trải nhựa nhỏ, có đoạn cỏ dại phủ kín nhưng vẫn còn nguyên lớp nhựa đường xưa kia. Chu vi của những con đường này ôm hết cả ngọn đồi và phân chia nghĩa trang thành từng khu mộ thẳng hàng, ở mỗi khu mộ, tuy năm chôn cất có khác nhau nhưng những phần mộ vẫn cứ như một đoàn quân có quân kỷ, uy nghiêm giữa một không gian lẻ loi, đơn độc.

Trong lúc xúc cảm, D. - người bạn đi cùng tôi nói: “Mình tìm ngôi mộ nào cúng đi”. Cả hai chúng tôi đều không có thân nhân nằm lại nơi này. Trước mắt chúng tôi là những hàng mộ có cái vừa được sửa sang, quét vôi, xây mới, làm cỏ... có cái vẫn là những núm xi măng đen thẫm, tróc lở, có cái chỉ còn là nấm đất, trơ trơ màu cỏ héo... Chúng tôi thật không biết chọn ngôi mộ nào để cúng vì đất ở đây, sỏi đá ở đây, tất cả chừng như đang nén chặt lại trong hơi lạnh hiu quạnh.

Một ít tia sáng yếu ớt của buổi sớm Tháng Chạp giống như những bàn tay dịu dàng và mở rộng lòng chăm sóc cho từng gò đất và những mảng xi măng của những ngôi mộ bị bỏ quên ở đây.

Một phần các ngôi mộ chỗ chúng tôi đứng đều được quét mới cùng một màu vôi trắng. Màu vôi mới nổi bật dưới những tán cây bàng, những tán cây bàng như những tấm bạt quân trang của người lính đã khuất đang tỏa bóng mát cho đất, cho cỏ và cho cả những côn trùng bé nhỏ đang theo mùa về sống cận kề bên những ngôi mộ.

D. cầm đồ cúng đi theo tôi, chúng tôi đi về phía một người đàn ông trung niên đang cúng mộ anh trai của mình. Người lính có tên trên mộ bia là hạ sĩ Phan L. Giang, tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến, hy sinh năm 1969. Người đàn ông này cho biết ông là con trai duy nhất còn lại trong gia đình. Vài năm nay ông thay cha mẹ đến cúng mộ người anh. Ông nói: “Nếu còn sống, năm nay anh tôi cũng đứng tuổi rồi. Tôi còn một người anh, lính sư đoàn 5, chết trận, mất xác 1965”. Ông không nói gì thêm, chỉ lấy chai nước uống tưới đều quanh phần mộ người anh. D. - người bạn đi cùng tôi nói với ông: “Tôi cũng có người anh chết trận, mất xác ở Long Khánh năm 1972. Anh tôi chết khi mới hai mươi tuổi. Anh còn được một nấm mồ mà cúng mỗi năm cũng an ủi hơn tôi rồi”. Người đàn ông quay lại nói: “...Thì biết vậy nhưng mỗi lần đến đây nặng nề, u uất lắm ông ơi”.

D. quay sang chỉ cho tôi thấy ngôi mộ sát chỗ tôi đứng, trên mộ bia có ghi dòng chữ vô danh. Không chần chừ, D. lặng lẽ mở gói đồ cúng ra. Khi mùi nhang trầm bốc lên, tôi có cảm giác thật lạ trong người. Có rất nhiều ngôi mộ vô danh. Vì sao những ngôi mộ ở đây lại trở nên vô danh? Khó tin là những người lính chôn cất ở đây lại không có danh tánh! Sự ác liệt của chiến tranh là nguyên nhân, thời gian làm phai mờ bia mộ, hay vì có người muốn xóa đi? Có khi chính sự sợ hãi của cả hai phe thắng và thua đã tạo ra sự vong ân với những người lính đã hiến dâng sự sống làm minh chứng cho tình yêu và nghĩa vụ đối với quốc gia và dân tộc, một bổn phận cao cả của mọi công dân dưới mọi chế độ xã hội...





Một người giữ mộ


Lúc cúi xuống thắp nhang cho nấm mồ vô danh, chúng tôi thấy bên góc bia mộ có một chữ Út. Chữ Út ghi bằng sơn đỏ này cũng thấy ở các ngôi mộ khác quanh đó đã khiến chúng tôi thoáng có thắc mắc.

Trước khi rời đi, tôi nghe D. nói với ngôi mộ vô danh: “Tôi cũng có một người anh đi lính chết không tìm được xác, nay có dịp ghé thăm anh, coi như anh là anh tôi. Mong anh phù hộ cho tôi nghen!” Chúng tôi đi khỏi hàng mộ chôn những người lính hy sinh năm 1968 và 1969 mà đa phần là lính Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Ðộng Quân. Chúng tôi dự định đi một vòng cho biết hết nghĩa trang. Khi đi về phía một gia đình khoảng gần mười người đang quây quần sum họp bên mộ thân nhân thì chúng tôi nghe tiếng gọi từ phía xa... Một người đàn ông đội nón vải đi nhanh về phía chúng tôi, gặp chúng tôi, ông ta hỏi ngay là chúng tôi tìm mộ thân nhân tên gì, chết năm nào. Chúng tôi trả lời ông là chúng tôi tìm thấy thân nhân mình rồi và cám ơn ông. Ông chưa chịu đi, còn chúng tôi thì nghĩ chắc ông là người trong ban quản lý nên không muốn để chúng tôi quanh quẩn lâu trong nghĩa trang này.

Người đàn ông nói: “Tôi thấy mấy anh đi lòng vòng, tôi tưởng các anh tìm không được mộ. Tôi tên là Út, người giữ mộ ở khu này”. Trong một thoáng tôi nhớ đến chữ Út trên những bia mộ, tôi hỏi phải ông là người ghi tên Út trên bia mộ không. Ông gật đầu. Chúng tôi bỗng nhiên cũng gật đầu với ông. Khi chúng tôi hỏi thăm, ông kể ông tên là Nguyễn Ngọc Ẩn, còn gọi là Út Ẩn. Trước đây ông là lính sư đoàn 18, tiểu đoàn 234, bị thương nặng rồi giải ngũ năm 1971. Sau năm 1977 ông xin vào giữ mộ ở nghĩa trang này. Ông nói với giọng xúc động: “Tới giờ tôi vẫn còn giữ gần hai ngàn ngôi mộ. Có mộ có thân nhân đến viếng mỗi năm, có mộ thì đôi ba năm nhưng tội nhất là có mộ ba mươi mấy năm nay chưa từng có ai đến. Thời cuộc ly tán kinh khủng quá mấy chú ơi. Với tụi tôi, dù có tự hứa, mộ nào cũng chăm sóc như nhau nhưng mà tránh sao được chuyện người ngoài nhìn vào, có mộ thì tươm tất, có mộ thì bỏ bê. Tụi tôi chỉ cố sao mỗi năm dọn dẹp cỏ rác sạch sẽ là yên lòng rồi. Nếu mộ có thân nhân cho ít tiền công thì coi như lấy đó bù qua công làm mả cho những mộ không thân nhân khác”.

Ông thành thật cho biết, mỗi năm, vào dịp Tết, ông cũng kiếm được bốn, năm triệu đồng. Chúng tôi không lạ gì chuyện những người kiếm thêm thu nhập bằng việc giữ mộ ở các nghĩa trang Việt Nam nhưng ở nghĩa trang đặc biệt này, trường họp ông Út Ẩn, một cựu quân nhân VNCH tình nguyện giữ mộ cũng có ý nghĩa nào đó. Dù sao cũng cảm phục cái nghĩa tình của một cựu quân nhân như ông, dành trọn phần đời còn lại để chăm sóc mộ phần đồng đội.

Lúc chia tay ông, nhìn cái dáng rắn rỏi nhưng đã già của ông, có gì đó hối thúc khiến tôi phải nói: “Ông tin không, chính người lính vô danh mà chúng tôi cúng mả lúc nãy đã khiến cho gặp ông, chứ giữa cái nghĩa trang mênh mông này, biết ông là ai mà kiếm. Cầu cho ông khỏe để chăm sóc cho mấy ông ấy”. Ông gật đầu nói: “Cỡ tuổi này còn đi đâu được, hơn nữa đã có lời hứa với mấy ổng rồi. Mấy ổng linh lắm mấy chú còn trẻ không hiểu hết được đâu...”





Chuyện từ quán bên nghĩa trang


Trời gần về trưa, chúng tôi tìm vào một cái quán bên đường, đối diện với tường nghĩa trang. Dù có vẻ mới mở nhưng quán vẫn là kiểu quán thôn quê. Toàn bộ khu vực quanh nghĩa trang này có nhiều cơ sở sản xuất và kinh doanh nhưng những hàng quán ở đây đều chỉ đắt hàng vào dịp tảo mộ và thanh minh. Ðây là câu chuyện mà ông chủ quán có tên là Bùi Văn Tư, sinh năm 1956, tên thường gọi là Tư xe xúc.

Ông Tư kể: “Nhà tôi là cố cựu ở ấp Trung Thắng này. Tôi làm nghề lái xe, thường vắng nhà, vợ tôi cũng là người giữ mộ trong nghĩa trang, bả giữ hơn sáu trăm ngôi mộ. Cách đây chừng hai mươi năm, đúng vào dịp tảo mộ, vợ tôi bị bệnh, nằm nhà thương, tôi xin nghỉ chạy xe, vừa chăm sóc vợ, vừa thay vợ giẫy mả mấy ổng. Vợ tôi dặn đừng lo cho bả mà bỏ mấy ổng tội lắm. Lúc giẫy mả tôi có vái, 'Mấy ông linh thiêng thì phù hộ cho tôi mạnh khỏe làm đủ ăn, mỗi năm cứ Tháng Chạp, dù ở xa tôi cũng về giẫy mả các ông'. Tôi vái như vậy mà đâu ngờ là mấy chục năm nay mấy ổng khiến y như vậy. Nói mấy chú không tin, chứ mỗi năm cứ tới cuối Tháng Mười Một, đầu Tháng Chạp là xe tôi bị hư. Chủ xe nghi tôi phá. Tôi nói với chủ xe, ‘Cái cục sắt của ông cũng là cái nồi cơm của tôi, tôi có muốn phá cũng không được’. Rồi tôi kể cho chủ xe nghe chuyện tôi hứa với mấy ổng. Không ngờ chủ xe tin, có năm, chưa tới Tháng Chạp chủ xe biểu tôi nghỉ sớm để về giẫy mả. Có khi còn gởi tôi tiền cúng mấy ổng. Tôi cũng có chuyện này, kể thêm cho mấy chú nghe để biết mấy ổng linh dễ sợ. Hồi thanh niên, bị truy bắt nghĩa vụ quân sự, có đợt công an lùng rát quá, ban ngày đi làm chui, tối về trốn vào nghĩa địa cầu liền miệng xin mấy ổng phù hộ che chở, tôi sợ đi Miên chết hơn sợ ma. Nhờ vậy mà được yên thân tới giờ”.

Hiện tại ông Tư không còn làm nghề lái xe nữa, ngoài khoản tiền kiếm được từ quán cà phê mới mở, mỗi năm, vào dịp tảo mộ, gia đình cũng có một khoản thu nhập nhất định.


***


Chúng tôi rời khỏi khu nghĩa trang và đi đến đài tử sĩ. Ngọn đồi này dù không còn treo bảng là khu vực quân sự nhưng vẻ hoang tàn ở đây lạnh rợn người. Ðâu ai biết chắc là bao lâu nữa, nơi đây có bị những người đang phát cuồng vì chạy theo lợi nhuận làm ô nhiễm tất cả.

Chúng tôi ghi lại vài tấm hình và tin rằng dù đài tử sĩ này không có khói hương, không tiếng kinh, không câu kệ, tứ bề tràn ngập xác lá vàng, cỏ dại và tiếng rền của gió, dù ngày qua và hôm nay, đời có vô tâm đến mấy đi nữa thì nơi đây vẫn ngự vẹn nguyên ánh sáng. Ánh sáng từ những anh linh uy nghiêm.

Sự chia rẽ của dân tộc từ cuộc chiến khốc liệt hơn ba mươi năm trước vẫn không thể khỏa lấp. Nhưng trên hết và cũng là sau cùng, những người lính chôn cất ở đây cũng như tất cả những người lính tử trận khác. Họ mãi mãi vẫn là những anh linh Việt Nam tuyệt đối.

Trên đường về, gần tới cầu Sài Gòn, tôi thấy một cô bé ngồi sau một chiếc xe hai bánh gắn máy do một người đàn bà cầm lái, hai tay cô bé giữ một bịch nylon, trong đó có một con cá chép lớn. Cô cố sức giữ cho nước đứng sóng sánh trong khi miệng bịch mở để con cá chép có một khoảng không gian nhỏ mà thở. Tôi đoán họ là hai mẹ con đang trên đường đến sông Sài Gòn để thả cá chép trong ngày đưa ông Táo về Trời...

Ðó là một con cá may mắn trong những ngày cuối năm này, đó cũng là con cá mà khi về lại với tự do, chắc chắn nó sẽ mang theo những ước nguyện về một cuộc sống no đủ và bình an cho người thả nó, một ước muốn đơn giản mà con người luôn lặp đi, lặp lại khi Tết đến, Xuân về. Dù những ước nguyện ấy luôn lập đi, lập lại nhưng không có nghĩa là ai cũng đạt được. Trong bối cảnh suy thoái của xã hội hiện nay, số phận của mỗi công dân đều bấp bênh như nhau. Tôi dừng xe cùng hai mẹ con cô bé trên cầu Sài Gòn và nghe người mẹ vừa thả cá chép, vừa nói. “Ði đi ông. Ði đi ông!” Khi con cá rơi từ trên cầu xuống nước, bà lập lại: “Ði đi ông”... Sau hình ảnh con cá từ lúc chới với trong khoảng không, rồi chạm mặt nước, đến lúc con cá con cá cựa quẫy rồi bơi đi, tôi nghe bà la lớn với giọng vui khôn tả: “Ði đi ông, ông đi rồi, ông đi được rồi...” Lời bà gởi theo con cá chép lặp đi lặp lại như một câu kinh. Câu kinh không còn mang ý nghĩa xin điều gì đó cho riêng bà và gia đình bà. Nó mang một mong muốn mãnh liệt, bên dưới dòng sông Sài Gòn ô nhiễm và đầy rác kia: Con cá sẽ về với bến bờ tự do.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »


User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Thiếu Tá Võ Đằng Phương
Image

Thiếu Tá Võ Đằng Phương: Biểu Tượng Bất Khuất Kiêu Hùng Của 1 Sĩ Quan Vnch

- Nói đến cuộc bạo-động trong tù, chúng ta không thể quên được "vụ 20 tháng 04 năm 1979" xảy ra tại phân trại 04 thuộc trung-tâm trại "cải-tạo" Bình-Điền tại tỉnh Thừa-Thiên. Vụ này do một ban tham-mưu gồm 9 Sĩ-quan của QLVNCH chỉ-huy toàn thể 500 tù-nhân trong trại vùng dậy đòi cải-tổ chế-độ lao-tù.
9 sĩ-quan trong ban-tham-mưu đó là:
-Trung-tá Nguyễn tri Tấn: Trung-đoàn phó trung đoàn 2/SĐ3BB
-Thiếu-tá Vũ ngọc Tụng: Quân-Trấn Đà-lạt
-Thiếu-tá Phạm-Cang: Tiểu đoàn trưởng TQLC
-Thiếu-tá Lê quang Liển: Sĩ-quan TQLC
-Thiếu-tá Hoàng Hưng: Sĩ-quan Bộ- Binh
-Thiếu-tá Phan văn Lập: Chi-đoàn trưởng Thiết-giáp.
-Đại-uý Trần-Biên: Sĩ-quan truyền-tin SĐ5/BB
-Đại-uý Nguyễn thuận Cát: Sĩ- quan Biệt-động quân
-Đại-uý Nguyễn đình Khương: Tiểu đoàn phóTĐ120 Địa pương quân, tiểu-khu Quảng-trị..
Sau vụ này nhiều anh em tù nhân đã bị bọn công an đánh đập một cách bạo-tàn đến gãy xương, trào máu, bầm gan tím ruột. Nhiều sĩ-quan đã bị chết trong tù sau những trận đòn dã-man vô nhân đạo như Đại-uý Nguyễn văn Báu, Đại-uý Nguyễn thuận Cát, Thiếu-uý Trần hữu Sơn. Còn tất cả 9 sĩ-quan trong ban tham-mưu nói trên đều bị cùm tay, cùm chân gần năm năm trời trong nhà biệt giam.
Nếu ai có ở tù tại phân trại 4 thuộc trung -tâm trại "cải - tạo" Bình-Điền lúc bấy giờ (20 tháng 04 năm 1979) mới chứng kiến được cảnh công-an từ dưới ty công an thuộc tỉnh Bình trị Thiên lên tàn sát tù-nhân bất chấp cả bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Chúng đã dã-man, bạo-tàn đánh đấm liên-tục không biết mệt. Sau khi hành nghề đánh, đấm, đá, đạp 3 tiếng đồng hồ, bọn công-an "thợ đấm" bắt đầu rút khỏi trại để lại trong trại 50 tù nhân nằm la-liệt, rên la quằn-quại trên những vũng máu như anh Nguyễn văn Thiện, anh Nguyễn văn Vy, anh Nguyễn hữu Ai, anh Đôn, anh Nguyễn trung-Việt, anh Nguyễn hữu Tứ v.v…giống như cảnh ở ngoài chiến-địa hoang tàn chờ trực-thăng đến bốc xác chết và những người bị thương vậy.
Chứng kiến cảnh đánh đập một cách man rợ như vậy tất cả tù-nhân trong trại đều căm thù đến uất-nghẹn. Có một sĩ-quan trong phân trại 4 lúc bấy giờ cảm thấy hận thù thêm chất ngất. Mang sẵn trong người giòng máu bất-khuất và anh-hùng của Lê-Lợi, Quang-Trung, giòng máu kiên-cường và dũng-cảm của Trần hưng Đạo, Trần bình Trọng cũng như ý-thức được Trách-nhiệm, Danh-dự vàTổ-quốc, anh nguyện dấn thân lao vào cuộc chiến mới ngay trong ngục-tù Cộng-sản; Tiếp-tục nuôi-dưỡng ý-chí đấu-tranh đến giọt máu cuối cùng, ngõ hầu mang vinh-quang về bồi-đắp cho quê mẹ, tô-thắm cho non sông.
Bởi vì anh ta biết rằng, chân-lý dù có bị đè bẹp xuống dưới bùn lầy nước đọng rồi cũng sẽ ngóc đầu dậy mĩm cười với trời xanh bất chấp cả thời-gian lẫn không gian. Cho dù anh có thể bị đoạ-đày trong kiếp tù tội thêm 10 hay 20 năm nữa, cho dù anh có thể bị xử bắn theo luật rừng, anh vẫn hiên-ngang bảo-vệ chân-lý đến cùng không một chút nao-núng trong lòng: đó là Thiếu-tá VÕ ĐẰNG PHƯƠNG thuộc Lữ-đoàn 258 TQLC/QLVNCH.
Nhận thấy Cộng-sản đã đối xử quá tàn-nhẫn vơí tù-nhân qua chế-độ lao-tù trong các trại "cải-tạo", nhận thấy Cộng-sản đối xử tàn-tệ với vợ con của tất cả các sĩ-quan cũng như cuả các viên chức thuộc chính-phủ Việt nam Cọng hoà trước đây, nhận thấy Cộng-sản sau khi chiếm được miền Nam vẫn cổ-xuý chiến-tranh gây hấn Kampuchia làm con dân nước Việt chết thêm hàng chục nghìn người, nhận thấy Cộng- sản không chịu thực thi những lời cam-kết mà vẫn làm cho nhân-dân Việt-nam đói khổ sau hơn 10 năm chiếm được miền Nam, Thiếu-tá VÕ ĐẰNG PHƯƠNG mặc dầu đang ở trong ngục tù Cọng-sản, quyết-định viết một bức thư gởi cho tên thủ-tướng Phạm văn Đồng để yêu-cầu tên thủ-tướng nầy giải-toả những vấn đề nêu trên.
Anh VÕ ĐẰNG PHƯƠNG ở tù lúc bấy giờ đã hơn 10 năm rồi, nhưng anh vẫn dứt-khoát viết một bức thư gởi tên thủ-tướng Phạm văn Đồng để đại diện cho nhân-dân Việt-nam yêu-cầu chính-phủ Hà-nội xét lại chính-sách cai trị nhân-dân cuả đảng Cộng-sản Việt-nam. Chính Đại-uý Nguyễn đình Khương, Tiểu-đòan phó TĐ 120 Điạ-phương quân, người đã tham gia vụ 20 tháng 04, bị Cộng-sản cùm gần 5 năm mới được thả ra, đã được anh Phương móc nối để cùng nhau thảo nên bức thư đó. Lúc anh Khương được đưa từ phân trại 2 về phân trại 1 thuộc trung tâm trại Bình-Điền, anh Khuơng ngủ sát chỗ nằm với anh VÕ ĐẰNG PHƯƠNG. Lúc bấy giờ, mỗi người chỉ được 45cm chiều ngang để nằm và phải nằm nghiêng mới đủ chỗ nên theo lời thuật lại của anh Khương, hai người đã cùng nhau nằm ngủ trong mền để thảo ra bức thư đó. Nội dung bức thư mà anh VÕ ĐẰNG PHƯƠNG gởi lên tên thủ tướng Phạm văn Đồng như sau: Xét rằng:
1-Sau khi Cộng-sản chiếm miền Nam Việt-nam vào ngày 30 tháng 04 năm 1975, tất cả sĩ-quan QLVNCH đều bị bắt giam trong các trại "cải-tạo" mà không xét xử, không tuyên án. Đây là một hành-động vi-phạm trắng trợn hiệp-định Paris năm 1973 mà chính các ông đã ký kết.
2-Tất cả sĩ-quan QLVNCH trong những trại "cải-tạo" trên khắp lảnh thổ Việt-nam đều bị đối xử quá tồi-tệ, vô nhân-đạo. Đó là một sự trả thù hèn-hạ, thấp kém, điên-cuồng, mất cả tình người, không đếm xỉa gì đến bản tuyên- ngôn quốc tế nhân -quyền.
3-Gia-đình vợ con của tất cả sĩ-quan QLVNCH cũng bị đối xử quá tồi-tệ:
-Họ bị đày lên rừng thiêng nước độc để sống trong các vùng mệnh danh là kinh-tế mới.
-Tất cả những nhà cửa, tài-sản của nhân- dân miền Nam bị tứơc đoạt một cách công khai, trắng trợn.
-Con cái của các sĩ-quan trong chế-độ cũ đều bị cấm vào học ở tất cả các trường vì bị coi là con của Nguỵ. Lý-lịch 3 đời bị gán cho những thành phần này khiến con cháu họ không thể làm bất cứ việc gì để sinh-sống được.
4-Sau hơn 10 năm đất nước Việt-nam đã thống nhất, nhân-dân Việt-nam vẫn còn đói rách, cơm không đủ ăn áo không đủ mặc. Chiến-tranh vẫn chưa chấm dứt, hoà-bình vẫn chưa xuất hiện trên đất nước Việt-nam. Sự tự-do dân chủ vẫn chưa được thực-thi. Nhân-dân Việt-nam vẫn sống trong lo-âu sợ-hãi. Điều này chứng tỏ Đảng và nhà nước đang thi-hành một chính sách sai lầm hoàn-toàn. Nay yêu cầu Đảng và Nhà nước:
-Thả ngay lập-tức tất cả sĩ-quan và những nhân-viên của chế-độ cũ đang bị giam cầm trái phép và phải đối xử nhân-đạo theo bản tuyên- ngôn nhân-quyền quốc-tế.
-Hãy đối xử nhân-đạo và bình-đẳng với vợ con, gia-đình của tất cả sĩ-quan và những viên-chức trong chế-độ cũ trước đây.
-Xét lại toàn bộ đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước để toàn dân được no cơm ấm áo và được sống trong một nước hoà-bình, độc-lập, tự-do, dân-chủ thực sự :
-Thực thi hoà-giải hoà- hợp dân-tộc.
-Phục hồi lại nền kinh-tế
-Chấm dứt chiến-tranh
-Giải toả lệnh bế-quan toả- cảng để thông thương với nước ngoài.
Làm tại Bình-Điền ngày 19 tháng 6 năm 1985
Ký tên VÕ ĐẰNG PHƯƠNG, Chủ-Tịch Lâm-Thời Phong-Trào Thiết-Lập Nền Đệ-Tam Cọng-Hoà.
Sau khi viết xong bức thư, anh VÕ ĐẰNG PHƯƠNG có mời một số sĩ-quan đã tham-gia vụ 20 tháng 04 cùng ký vào bức thư trên. Nhưng sau đó anh nghĩ rằng các anh nầy vừa tham-dự một trận chiến trong ngục-tù quá khốc-liệt nên để cho các anh ấy nghỉ dưỡng quân một thời gian đã.
Thế rồi anh VÕ ĐẰNG PHƯƠNG quyết định ký tên một mình. Sau đó anh ghi lại thành 3 bản, một bản anh gởi cho tên thủ-tướng Phạm văn Đồng nhờ trưởng trại chuyển giao, một bản gởi cho tên trưởng trại cải-tạo Bình-Điền nhờ cán bộ trực trại chuyển giao, và một bản lưu.
Sau khi tên trại trưởng trung-tâm trại cải-tạo Bình-Điền là trung-tá Trần văn Truyền nhận được bức thư nói trên, anh VÕ ĐẰNG PHƯƠNG liền bị cùm ngay rồi bị đưa vào ở trong nhà kỷ-luật khoảng 3 tháng trước khi đưa ra toà xét xử. Dĩ-nhiên bức thư của anh PHƯƠNG là một bản án chống lại chế-độ Cộng-sản Hà-nội một cách rõ-rệt nên ban tham mưu cán-bộ trại "cải- tạo" sau nhiều ngày họp với ty công-an Bình trị Thiên đã quyết định đưa anh ra toà án nhân-dân để xét-xử .
Đứng trước vành móng ngưạ, thiếu- tá TQLC VÕ ĐẰNG PHƯƠNG đã trả lời một cách khẳng-khái và hùng hồn khiến ai nấy đều cảm phục. Một số nhân- viên làm việc trong toà án đã bỏ dở công việc để chạy vào xem vì thấy "bị-cáo" là một mẫu người thật khí-khái. Cứ mỗi lần quan toà hỏi câu nào, anh VÕ ĐẰNG PHƯƠNG không trả lời trực-tiếp, anh giả-bộ nói loanh-quanh để chưởi chế- độ độc-tài đang tác-oai tác quái trên đất nước Việt-nam. Có đoạn anh PHƯƠNG đã nói:
- Tôi nói đây với tư-cách của người dân thường, nói lên tiếng nói mà những người chung quanh tôi, bạn bè tôi, nhân-dân Việt- nam, không dám nói. Tôi nói có tình có lý, chứ không phải sử-dụng biện-pháp quân sự để đàn-áp.
Nghe anh PHƯƠNG nói vậy, tên quan tòa nói ngay:
- Anh là một thằng sĩ-quan nguỵ không hơn không kém, anh là cái thá gì? Một triệu nguỵ-quân và chư hầu còn thất- bại nói gì một mình anh.
Nhưng rồi qua một đoạn khác anh PHƯƠNG vẫn hiên-ngang:
- Các ông làm gì có luật-pháp. Luật-pháp của các ông là luật rừng. Tôi đã ở trong tay các ông thì do các ông quyết-định. Thấy những lời nói hùng-hồn của "bị-cáo" bất lợi cho phiên-toà, tên quan-toà liền chỉ-thị cho "bị-cáo" nói câu cuối cùng. Biết chúng cố-ý không cho nói nhiều, anh VÕ ĐẰNG PHƯƠNG quyết-định cô-đọng lại những tư-tưởng quan-trọng rồi tiếp-tục ngẩng đầu cao và dõng-dạc trước toà:
- Ai là kẻ vi-phạm hiệp-định Paris 1973?
- Ai là kẻ đã gây ra chiến-tranh và nghèo đói ?
- Phạm văn Đồng phải chịu trách -nhiệm hoàn-toàn về việc xé bỏ hiệp-định Paris. Rồi đây nhân-dân Việt-nam cũng như nhân-dân thế-giới đều được biết lời nói của tôi trước toà-án này.
Anh VÕ ĐẰNG PHƯƠNG đang nói thao-thao bất-tuyệt thì tên quan toà đứng lên tuyên-bố chấm dứt phiên-toà để vào nghị-án. Sau khi nghị án, toà tuyên-án anh PHƯƠNG 10 năm tù ở sau khi thi-hành xong án tù "cải-tạo" vì phạm tội "âm-mưu lật đổ chính-qyuền dân-chủ nhân-dân." Theo anh Nguyễn kim Chung (đại-uý TQLC, cũng đã xuất-hiện trong phiên-toà này như một "bị-cáo" vì bị nghi-ngờ có liên-hệ đến vụ này), khi nghe đọc bản án, anh Chung nghĩ rằng đây là một bài luận văn viết đâu sẵn từ trước vì nó giống như một bài luận văn trong Quốc văn giáo-khoa thư của chương trình Bộ giáo-dục cho học-sinh học. Còn việc đưa anh VÕ ĐẰNG PHƯƠNG ra toà xét xử chẳng qua chỉ là một việc làm có tính cách hình-thức để đánh lừa quần chúng mà thôi. Như vậy từ năm 1975 đến năm bị đưa ra toà, anh PHƯƠNG đã ở tù được 10 năm. Bây giờ theo lệnh toà-án anh PHƯƠNG tiếp-tục ở tù thêm 10 năm nữa là 20 năm .
Sau khi rời toà-án và bị còng tay đưa lên lại trại "cải-tạo" Bình- Điền để ở tù tiếp, tên trại trưởng trung-tá Trần văn Truyền lúc bấy giờ có khuyên anh PHƯƠNG nên nhún-nhường và phải biết điều hơn, anh PHƯƠNG đã quát vào mặt tên trại trưởng:
- Ông đừng có dạy đời tôi nữa, ông biết Trần bình Trọng trong lịch-sử Việt-nam chứ! Tôi muốn sống như Trần bình Trọng!
Dĩ-nhiên sau đó thiếu-tá VÕ ĐẰNG PHƯƠNG tiếp-tục ở tù thêm 10 năm nữa trong sự uất-ức và hận thù triền-miên.
Mãi đến năm 1995, anh VÕ ĐẰNH PHƯƠNG mới được Cộng-sản trả tự do khỏi trại cải-tạo Hàm-tân. Lúc trở lại quê nhà, anh bị bạo bệnh kéo dài và hành-hạ do những trận đòn tra tấn dã-man và ác-độc qua những năm tháng quằn-quại trong ngục-tù Cộng-sản để rồi sau đó, anh đã vĩnh-biệt cõi đời trong tức-tưởi và uất- nghẹn vì thù nhà chưa trả, nợ nước chưa đền .
Qua những hành-động đầy kiên-cường và bất-khuất của Thiếu-tá VÕ ĐẰNG PHƯƠNG nói trên, ta thấy rằng Sĩ-quan của QLVNCH là thành phần ưu-tú của dân-tộc Việt-nam. Ngay trong ngục-tù Cộng-sản, họ vẫn luôn luôn biểu-lộ tinh-thần Danh-dự, Tổ-quốc, Trách-nhiệm. Anh VÕ ĐẰNG PHƯƠNG đúng là một Sĩ-quan gương -mẫu đã vị quốc vong thân
Tổ-quốc và Quân-Lực Việt-Nam Cọng-Hoà vinh-danh anh.
DƯƠNG VIẾT ĐIỀN

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Tấn Thảm Kịch 1975

TRỌNG ĐẠT
-

Melvin R.Laird, cựu bộ trưởng Quốc phòng Mỹ dưới thời Nixon, sau mấy chục năm im lặng mới lên tiếng gần đây. Ông nói rằng chiến tranh Việt Nam không thể kết luận là một sự sai lầm, theo ông Hoa Kỳ đã chuốc lấy thất bại và bỏ lỡ nhiều cơ hội chiến thắng. Mục tiêu cuộc chiến tranh Việt Nam hồi ấy là để ngăn chặn sự bành trướng của Cộng Sản tại Á Châu. Cựu bộ trưởng Laird chỉ trích Hoa Kỳ năm 1975 đã bỏ rơi đồng minh Việt Nam, ông nói rằng điều xấu hổ không phải là Hoa kỳ có mặt từ lúc đầu mà là sự phản bội vào giờ phút chót, Quốc hội Hoa kỳ đã ngoảnh mặt làm ngơ trước những lời cam kết với Việt Nam của chính phủ Nixon trước đó. Cựu bộ trưởng nói rằng Tổng thống Ford, bộ trưởng ngoại giao Kissingger, bộ trưởng quốc phòng Schlesinger phải chia xẻ nỗi nhục này, cũng theo ông Quốc Hội là thủ phạm chính trong sự bỏ rơi Đồng minh qua một số quyết định như :

1- Chấm dứt can thiệp quân sự (8/1973).
2- Cấm can thiệp trở lại Việt Nam.
3- Cấm trả đũa nếu Hiệp định Paris bị vi phạm.
4- Giảm quân viện từ 1 tỉ 4 xuống còn 700 triệu vào năm 1974.
5- Từ chối yêu cầu của Tổng thống Ford xin viện trợ khẩn cấp cho Việt Nam đầu tháng 4/75. .

Cũng theo Laird, Tổng thống Ford đã bác bỏ thuyết Domino đã có từ 7/4/1954 dưới thời Tổng thống Eisenhower cho rằng hễ mất một nước sẽ mất luôn nhiều quốc gia khác mà người mình thường nói nôm na môi hở thì răng lạnh.

Vào ngày 10/3/2006 vừa qua hằng trăm chuyên viên, chính trị gia nghiên cứu về sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam đã tề tựu tham gia cuộc hội thảo tại thư viện Kennedy thành phố Boston, họ thảo luận đề tài "Chiến tranh Việt nam và các tổng thống Hoa kỳ". Các chuyên viên cho rằng đó là một cuộc chiến đầy những tai họa. Bà giám đốc thư viện nói các vị Tổng thống Hoa kỳ đã dìm nước Mỹ ngày càng lún sâu vào cuộc chiến tranh Việt Nam, họ tin rằng điều mình đang làm là phải nhưng đó chỉ là một sự liều lĩnh, theo bà một sử gia nói nó chỉ là một sự tính toán sai lầm về chính sách trong lịch sử đối ngoại của Hoa Kỳ. Một diễn giả sử gia trong buổi hội thảo nói có một vài cuộc chiến tranh là chính đáng, theo ông cuộc chiến tranh Việt Nam không chính đáng.

Trên đây là hai ý kiến trái ngược nhau, một bên đại diện là cựu bộ trưởng Laird cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam không thể coi là một sự sai lầm và ngược lại những người tham dự buổi hội thảo tại Boston cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam là sai lầm. Cuộc chiến tranh ấy đã khiến Hoa kỳ phải chi tới mấy trăm tỉ đô la, 58,000 quân nhân thiệt mạng, đất nước bị xáo trộn về chính trị cũng như kinh tế. . chưa kể đất nước phải mang tiếng nhục bại trận. Theo chúng tôi biết thì tâm lý chung con người thường ích kỷ, họ chỉ nghĩ đến những cái "mất" và không để ý tới những cái "được". Tất cả những sự mất mát đó chỉ là cái giá mà họ phải trả để được bắt tay Mao xếnh xáng ngày 21/2/1972, muốn bắt tay xếnh xáng đâu có phải chuyện dễ. Điều mà chính phủ Hoa Kỳ mong ước bao lâu nay đã thành sự thật, họ đã chiêu hồi được Trung Quốc, đảng cướp hung tợn này không còn là mối đe dọa tài sản tính mạng của Hoa Kỳ nữa, nhưng sự chiêu hồi ấy phải trả một giá hơi cao.

Theo chúng tôi nghĩ các ngài chuyên viên, chính trị gia ấy chắc cũng phải thừa biết như vậy và sự giả vờ ngây thơ của họ cho thấy họ không thẳng thắn nhìn nhận sự thật. Chúng tôi nghĩ các vị Tổng thống Hoa Kỳ chắc hẳn không sai lầm chút nào khi dính líu vào cuộc chiến tranh Việt Nam vì các ngài là những nhà chính trị gia lỗi lạc, những bậc thầy chính trị của thế giới chẳng lẽ lại sai lầm như vậy sao? Người ta kêu ca những sự thiệt hại cuộc chiến tranh ấy đã gây ra cho đất nước họ, thế còn đất nước nạn nhân đã là bãi chiến trường của bom đạn, binh đao khói lửa thì sao? Người Mỹ nói rằng số bom ném tại Việt Nam gấp 3 lần số bom ném tại Âu châu trong suốt thời Đệ nhị thế chiến, họ chỉ chú ý tới số tiền chi phí khổng lồ về số lượng bom đã ném xuống nhưng lại không để ý tới những nhân mạng, tài sản do những trái bom ấy gây nên.

Từ Thế chiến thứ hai đến nay ai cũng biết chỉ có thân phận mấy anh nhược tiểu là chịu thiệt thòi, làm món hàng cho các cường quốc mua qua bán lại, còn các siêu cường thì mấy khi chịu thiệt. Nay nhiều người cho rằng cuộc chiến Iraq là một sự sai lầm, nhưng nếu nhìn vào con số thống kê thì thấy Iraq là nước cung cấp dầu cho Hoa Kỳ nhiều nhất (29%), thứ nhì là Ecuator ( 19%). . các nước khác ít lắm chỉ năm, bẩy phần trăm thôi. Nhìn vào cái "sự thật phũ phàng" ấy thì không thể kết luận là chiến tranh Iraq sai lầm!

Sự thật không phải Mỹ can thiệp vào Đông Dương từ những năm 1964, 65 mà thật ra từ tháng 10/1950 khi Trung Cộng chuyển vũ khí ồ ạt giúp Việt Minh, người Mỹ đã vội viện trợ quân sự cho Pháp 300 triệu đô la, hàng không mẫu hạm Mỹ đã chở tới Sài Gòn 40 máy bay Hellcat cho Pháp. Chính phủ và Quân đội Quốc Gia Việt Nam được thành lập từ đó và đã được người Mỹ trả lương. Năm 1950 Viện trợ quân sự của Mỹ cho Pháp mới chỉ là 17% nhưng mấy năm sau tăng lên tới 74%. Năm 1949 Mỹ đã tàn nhẫn bỏ rơi Quốc Dân Đảng Trung Hoa, Mao thừa cơ nuốt trọn nước Tầu và thành lập Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hoà Quốc khiến cho cán cân lực lượng trên thế giới lệch hẳn đi.

Ngay khi vừa chiếm xong toàn cõi lục địa, Mao vội giúp đỡ và xúi dục Bắc Triều Tiên xâm lăng miền Nam năm 1950 khiến cho Mỹ phải hốt hoảng lấy danh nghĩa Liên Hiệp Quốc để nhẩy vào ngăn chặn và đã phải dùng biển lửa để chống lại chiến thuật biển người của Lâm Bưu. Mỹ bắt đầu ghê sợ Trung Cộng từ đấy, một khối 500 triệu người hung hãn, đói khát, hiếu chiến…. lại căm thù Hoa Kỳ và Tây phương ra mặt. Chiếm được toàn cõi Trung Hoa, Mao thừa nhận Hồ, rồi Hồ thừa nhận Mao và được viện trợ vũ khí đạn dược ồ ạt từ đất Tầu chuyển sang, ấy cũng là lúc Hoa Kỳ thấy nguy cơ Cộng Sản đang lan tràn xuống Đông Nam Á theo kiểu tầm ăn dâu và cương quyết ngăn chận đến cùng.

Năm 1954 Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ phải ký hiệp Định Genève chia đôi đất nước Việt Nam. Năm 1955 Mỹ hất cẳng Pháp ra khỏi miền Nam để biến nơi đây thành tiến đồn chống Cộng của Thế Giới Tự do. Mỹ viện trợ quân sự cho miền Nam, huấn luyện cho binh lính miền Nam kỹ thuật tác chiến để ngăn ngừa hiểm hoạ Cộng Sản từ phương Bắc có thể tràn xuống bất cứ lúc nào. Đầu thập niên 60 Trung Cộng cho nổ trái bom nguyên tử đầu tiên, lật đổ được Kruschev khiến cho vai trò của Trung Cộng ngày càng quan trọng, nó đã làm thành cái thế chân vạc trên thế giới hồi ấy. Một thời gian ngắn sau, với đà tiến bộ khá nhanh, Trung Cộng chế tạo được bom kinh khí, rồi chế được hoả tiễn khi ấy Hoa Kỳ lại càng hoảng sợ hơn bao giờ hết, đối với họ, Trung Công còn nguy hiểm và đáng sợ hơn Nga sô rất nhiều vì nó là một khối người đông như kiến, đói rách, tàn ác, hiếu chiến. . chỉ tính chuyện xua quân đi ăn cướp mà tâm lý anh nhà giầu lại hay sợ kẻ cướp.

Mặc dù Trung Cộng ngày càng chống đối Nga Sô nhưng vẫn coi Mỹ là kẻ thù số một và thề quyết tâm đánh Mỹ. Năm 1965 Trung Cộng giật dây đảo chánh bất thành tại Nam Dương khiến cho Hoa Kỳ lại càng lo sợ hơn. Tầu đỏ nay đã trở thành cơn ác mộng đối với Hoa Kỳ. Sau khi hất cẳng Pháp tại miền Nam Việt Nam 1955, người Mỹ dựng lên chính phủ Ngô đình Diệm và yểm trợ hết mình, tình hữu nghị hai bên vô cùng khít nhưng chỉ được chừng bốn năm. Khoảng 1960 trở đi hai bên bắt đầu chia rẽ trầm trọng, Cộng Sản ngày càng gia tăng áp lực tại miền Nam, chúng đã đánh tới cấp trung đoàn, Mỹ sợ miền Nam sắp mất tới nơi bèn đề nghị đưa quân vào bình định nhưng ông Diệm một mực bác bỏ vì muốn giữ chủ quyền. Mỹ thấy chính phủ miền Nam ngày càng ương bướng khó bảo nên đã tính chuyện lật đổ để thay thế bằng một chính phủ khác dễ bảo hơn. Sau mấy lần cho đảo chính, ám sát hụt mãi đến đầu tháng 11/1963 mới thành công.
Mỹ tăng viện trợ quân sự cho miền Nam từ 1964 trở đi, năm 1965 chính thức đổ quân vào Miền Nam khoảng 180,000 người, năm 1966 lên 380,000 người, năm 1967 lên 480,000 người, năm 1968 lên tới 536,000 người đó là đỉnh cao nhất. Các cuộc biểu tình chống chiến tranh lúc ấy đã lan rộng trên đất Mỹ khi số lính Mỹ ủm củ tỉ tại Việt Nam lên tới 31,000 người. Tháng 3/1968 Tổng thống Johnson hăm dọa Bắc Việt để họ phải vào bàn hội nghị, Bắc Việt chấp nhận ngồi họp.

Từ 1965 đến 1968 cuộc chiến tranh cù cưa không dứt khoát, người ta đồn tư bản Mỹ buộc chính phủ của họ kéo dài chiến tranh để bán vũ khí, nhưng cũng có thể họ trì hoãn để mặc cả đi đêm với khối Cộng nhất là Trung Quốc. Tháng 4/1969 tướng Wesmoreland công bố bản phúc trình về Việt Nam cho biết nếu Mỹ không vào Việt Nam 1965 thì đã mất trong 6 tháng, ông chỉ trích chính sách hạn chế chiến tranh của Johnson không cho đánh qua Mên, Lào nên đã bỏ lỡ cơ hội chiến thắng.

Phong trào phản chiến ngày càng lên cao, Nixon nhậm chức Tổng thống đầu 1969 tuyên bố sẽ rút quân trong vòng mấy năm, thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh, hòa bình trong danh dự. Từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1970 Quân đội Việt Nam Cộng Hoà được Mỹ giúp đỡ và khuyến khích hành quân sang Mên đánh Cộng Sản đã thành công vẻ vang, nhưng đầu năm sau hành quân Lam Sơn 719 sang Hạ Lào không thành công, ta bị thiệt hại về nhân mạng và vũ khí. Phong trào phản chiến tại Mỹ càng lên cao dữ dội vì chính phủ mới vẫn tiếp tục leo thang chiến tranh. Tháng 5 /1970 trong một cuộc biểu tình tại trường đại học Kent, Ohio quân đội đã bắn chết 4 sinh viên, làm bị thương 10 người khác khiến cho phong trào chống chiến tranh lên cao gấp bội lần những năm trước.

Nixon bắt đầu cho rút quân từ giữa 1969 cho tới hết năm 1970 rút khoảng 300,000 quân . . đến 1972 chỉ con trên 70,000 người. Chính phủ Mỹ đồng thời thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh, nâng tổng số quân đội miền Nam từ 600,000 và 700,000 trong những năm 1965, 1966 lên tới 940,000 giữa năm 1969. Hoa kỳ rút quân thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh là đã nghĩ tới chuyện bỏ Việt Nam, họ chỉ chờ cơ hội bắt tay được với Trung Quốc là thực hiện kế hoạch "vắt chanh bỏ vỏ" nhưng người dân miền Nam ngây thơ thật thà không ai ngờ tới. Trong khi giúp miền Nam đánh Cộng Sản họ đã ngấm ngầm tìm cách thương lượng với Trung Hoa đỏ.


Năm 1969 chúng tôi có được nghe một anh bộ đội người cùng làng ra hồi chánh , anh ta nói " Mỹ nó muốn chiêu hồi Trung Quốc đấy chứ cái anh Bắc Việt thì nghĩa lý gì". Lời anh ta nói thật là linh ứng, tháng 2/1972 tại Bắc kinh Tổng thống Đế quốc bắt tay được Mao Chủ tịt. Họ mua bán với nhau trên xương máu của nhân dân và binh lính cả hai miền Nam Bắc, Nixon tươi cười mãn nguyện, cơn ác mộng con hổ đói Trung quốc không còn ám ảnh Hoa kỳ nữa. Hồi ấy người dân miền Nam ai nấy vui mừng hớn hở tưởng như "hoà bình sắp tới nơi rồi" nhưng thực ra "sắp chết tới nơi" mà không ai hay biết ngay cả Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Thiệu, tháng 10 năm 1973 ông đã cho sửa Hiến Pháp để ra ứng cử thêm một lần nửa! thật là một truyện diễu.

Cuối tháng 3/1972 Bắc Việt đưa 5 sư đoàn với 200 xe tăng, 3 trung đoàn pháo ồ ạt tấn công vùng giới tuyến chia làm hai mũi: 3 sư đoàn vượt sông Bến Hải đánh vào Quảng Trị, 2 sư đoàn từ phía tây tiến về Huế. Mấy ngày sau ba sư đoàn Cộng Sản 5, 7, 9 cùng 200 chiến xa tiến đánh Bình Long, ngoài ra sư đoàn 320 tiến đánh Kontum và sư đoàn 3 đánh Bình Định. Tổng cộng 10 sư đoàn Bắc Việt đánh lớn trong mùa hè đỏ lửa 1972 để thêm sức mạnh tại bàn hội nghị. Tại quân khu 3 các cuộc tấn công vào thị xã An lộc của Bắc Việt từ 10/5 cho tới cuối tháng 5 bị đẩy lui, hằng trăm xe tăng bị bắn cháy, đến ngày 12/6 An Lộc coi như hoàn toàn được giải toả. Tại vùng giới tuyến tháng 5 tướng Ngô quang Trưởng thay thế Hoàng Xuân Lãm và bắt phản công tái chiếm Quảng Trị từ 28/6. Khoảng một tháng sau đại quân ta cắm cờ trên cổ thành Quảng Trị, giữa tháng 8 dứt điểm cổ thành, ngày 16/9 cuộc chiến đẫm máu coi như chấm dứt, 3 sư đoàn Việt Nam Cộng Hoà đã đẩy lui được 6 sư đoàn Bắc Việt. Trong chiến dịch này Cộng quân thiệt hại khoảng 100,000 người (cũng có tài liệu nói 70,000 người), gấp đôi tổn thất của quân đội miền Nam. Cho đến cuối 1972 có vào khoảng một triệu cán binh Cộng Sản bị tử thương trong khi Bắc Việt vẫn ngoan cố theo đuổi chính sách "cố đấm ăn xôi" đẩy thanh niên vào chỗ chết, chúng hy vọng nhiều vào phong trào phản chiến, chúng cũng chỉ mong có thế.

Người Mỹ cho rằng chiến thắng trong trận mùa hè đỏ lửa một phần do sự yểm trợ hùng hậu của không lực Mỹ, chính ông Cao văn Viên, Tổng tham mưu trưởng cũng đã xác nhận "Cuộc công kích của địch quân năm 1972 đã cho thấy nhược điểm của tiến trình Việt Nam hoá chiến tranh. Nếu không được yểm trợ của Mỹ về Không lực và di động tính, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà khó có thể giữ được An Lộc , bảo vệ được Kontum và chiếm lại được Quảng Trị . Các phần đất này sẽ bị mất vĩnh viễn bởi vì chúng tôi không có đủ khả năng chiếm lại. Tuy nhiên, lúc nào còn Không lực Mỹ thì cán cân lực lượng vẫn có thể duy trì và Việt Nam Cộng Hoà vẫn còn một cơ hội tốt để sống còn"

Như thế năm 1972 lực lượng Việt Nam Cộng Hoà không được cân bằng so với Bắc Việt, nó chỉ cân bằng khi có sự yểm trợ của Không quân Mỹ, tại miền Nam tháng 5, tháng 6/1972 có 18,000 phi vụ do 700 phi cơ và 2,700 phi vụ do 170 B-52 thực hiện. Năm 1968 và 1972 chính phủ Việt Nam đã đề nghị chính phủ Mỹ cho thành lập thêm 2 sư đoàn tổng trừ bị để đối phó với lực lượng địch đã có ưu thế về xe tăng pháo binh, nhưng người Mỹ từ chối lấy lý do tốn kém. Kỳ thực họ không muốn cho quân đội miền Nam mạnh quá vì sợ có thể liều lĩnh đánh ra Bắc hoặc ương bướng khó bảo, họ luôn luôn nắm đằng chuôi. Như thế ta có thể kết luận về chủ lực quân, miền Nam không bằng miền Bắc cũng như năm 1953 chủ lực quân Việt Minh vẫn mạnh hơn Pháp.

Sau ngày ký hiệp định Paris, năm 1973 tình hình tiếp vận của miền Nam vô cùng thiếu hụt , một số lớn săng dầu đạn dược đã được dốc vào mùa hè đỏ lửa năm 1972, quân viện bị cắt giảm dần dần từ 2 tỉ 1 năm 1973 còn 1 tỉ 4 năm 1974 và 700 triệu năm 1975. Theo tiết lộ sau này của Bộ Tổng tham mưu hậu quả của giảm quân viện là không quân đã phải cho hơn 200 phi cơ ngưng bay, giảm số giờ bay yểm trợ huấn luyện 50%, phi vụ trực thăng giảm 70%. Các hoạt động hải quân cũng cắt giảm 50%, 600 tầu chiến các loạinằm ụ. Đạn dược chỉ đủ dùng cho đến tháng 6/1975.
So sánh với tình hình năm 1972 chúng ta sẽ thấy: Trong trận mùa hè đỏ lửa, Bắc Việt đã đưa vào trận đánh tổng cộng 10 sư đoàn, ta có đủ đạn dược săng dầu để chiến đấu lại được không quân Mỹ giúp đỡ về vận chuyển và oanh tạc. Sang năm 1975, săng dầu đạn dược thiếu thốn, không được B52 yểm trợ. Lực lượng địch lúc bắt đầu trận đánh khoảng 17 sư đoàn, chưa kể 3 sư đoàn tổng trừ bị thuộc quân đoàn 1 ở phía trên Bến Hải, khi ta mất vùng 1 và 2 , Bắc việt đưa nốt 3 sư đoàn vào Nam nâng tổng số lên 20 sư đoàn . Vũ khí đạn dược của địch năm 1975 gấp 3 lần 1972 theo tiết lộ của báo Nhân Dân năm 1976 nhân ngày kỷ niệm chiến thắng 30/4.

Chúng ta hãy lập bảng so sánh như sau.
Năm 1972:

- Bắc Việt đưa vào trận địa 10 sư đoàn
- Miền Nam có đầy đủ tiếp liệu đạn dược.
- Có yểm trợ của không lực Mỹ.
Năm 1975:-

Lực lượng Bắc Việt lên tới 20 sư đoàn, gấp đôi năm 1972.
- Vũ khí đạn dược của Bắc Việt gấp 3 lần năm 1972.
- Miền Nam thiếu thốn đạn dược nhiên liệu.
- Không được phi cơ Mỹ yểm trợ oanh tạc và vận chuyển.

Nhìn sơ ta cũng đủ thấy tình hình miền Nam lúc ấy bi đát như thế nào rồi.
Trong khi địch có khá đầy đủ tin tức tình báo về miền Nam, chúng ta lại không có tin tức chính xác về lực lượng địch. Theo Văn Tiến Dũng (trong Đại thắng Mùa Xuân) vào ngày 9 và 10 tháng 12/1974 vài ngày trước khi Bắc Việt đánh Phước Long, trong một phiên họp các tư lệnh quân khu tại dinh Độc Lập, tướng Thiệu cho rằng năm 1975 Bắc Việt có thể đánh lớn hơn năm 1974 nhưng không như năm 1968 và không bằng 1972, chưa có khả năng đánh vào các thị xã lớn mà chỉ đủ đánh các tỉnh nhỏ như Phước Long, Gia Nghĩa, rằng Bắc Việt sẽ đánh quân khu 3 chủ yếu là Tây Ninh. Theo Văn Tiến Dũng do nhận định sai nên tướng Thiệu đã bố trí chiến lược mạnh ở hai đầu (quân khu 1 và 3), chưa tăng cường lực lượng cho quân khu 2 trong đó có Tây Nguyên.

Sư bố trí lực lượng của miền Nam theo Văn tiến Dũng như sau.
Quân khu 1 để 5 sư đoàn (sư đoàn 1, 2, 3, Dù và Thủy quân lục chiến), 4 liên đoàn Biệt động quân, 418 khẩu pháo, 449 xe tăng, 96 máy bay chiến đấu.

Quân khu 2 để 2 sư đoàn (sư đoàn 22 và 23), 7 liên đoàn biệt động quân, 382 khẩu pháo, 477 xe tăng thiết giáp, 138 máy bay chiến đấu.
Quân khu 3 để 3 sư đoàn (sư đoàn 5, 18, 25), 7 liên đoàn biệt động quân, 376 khẩu pháo, 655 xe tăng thiết giáp, 250 máy bay chiến đấu.
Quân khu Bốn để 3 sư đoàn (sư đoàn 7, 9, 21), 380 khẩu pháo, 490 xe tăng, 72 máy bay chiến đấu, 580 tầu xuồng các loại.
Đã suy yếu vì thiếu tiếp liệu, ta lại đánh giá sai lực lượng địch nên đã bố trí các quân khu sai như trên. Cho tới 1975 ta vẫn không thay đổi sự bố trí lực lượng đã có từ trước cho phù hợp với tình hình mới. Lực lượng địch như đã nói ở trên tổng cộng là 20 sư đoàn, với số xe tăng thiết giáp ước lượng không chính xác khoảng 700 chiếc và700 khẩu pháo. Một nhà báo tây phương nói hai bên xem như ngang nhau vào lúc đầu của tấn thảm kịch. Năm 1975 Việt Nam Cộng Hoà có trên một triệu quân, 40% là chủ lực chính qui, 50% là địa phương quân, còn lại hải quân, không quân, cảnh sát. Lính nhà nghề chỉ có 13 sư đoàn và 15 liên đoàn biệt động quân , mỗi liên đoàn khoảng trên 2,000 người. Về mặt số lượng xe tăng và pháo của địch không bằng ta nhưng về mặt phẩm thì có phần hơn, thiết giáp miền Nam gồm M-48, M-41, M-113, trong đó chỉ có M-48 là tương đương với T-54 của Bắc Việt, pháo binh địch loại 130 ly có tầm viễn xạ tối đa là 30 cây số trong khi đại bác 105 ly, 155 ly của ta chỉ được 11 và 15 cây số, sau này được viện trợ thêm 175 ly có tầm bắn xa 25 cây số. Sự thực lực lượng hai bên không cân bằng vì miền Nam lâm vào tình trạng hết đạn.
Quân khu 2 gồm 13 tỉnh mà chỉ có 2 sư đoàn trấn giữ, lực lượng bị phân tán mỏng lại là nơi địch chủ trương tấn công toàn diện, Bắc Việt tung vào trận địa này 5 sư đoàn tổng cộng gần 80,000 người. Bắc Việt bất ngờ đưa ba sư đoàn tấn công Ban mê thuột ngày 11/3, năm ngày sau 16/3/1975, Quốc hội Mỹ cắt viện trợ 300 triệu đô la quân viện bổ túc cho Việt Nam như thế ta chỉ còn đạn đủ đánh trong vòng vài tháng, hôm sau 17/3 Ban Mê Thuột hoàn toàn mất. Từ ngày 11/3 tại dinh Độc Lập tướng Thiệu triệu tập phiên họp gồm các tướng Viên, Khiêm, Quang cho biết phải rút quân bỏ vùng 1 vùng 2 về bảo vệ vùng 3 và vùng 4. Kontum, Pleiku bị áp lực nặng, tướng Phú tư lệnh quân khu 2 bay về Cam ranh họp với các tướng Thiệu, Khiêm, Viên, Quang để bàn kế hoạch rút lui Pleiku theo đường số 7 về Tuy Hoà.

Cuộc triệt thoái bắt đầu từ 16/3 đến 19/3, ngày đầu nhờ yếu tố bất ngờ nên đoàn lữ hành ra đi êm xuôi, hôm sau dân chúng ùa theo, Bắc việt chớp thời cơ chận đánh, pháo kích tơi bời, khoảng 5,000 quân vượt đường máu tới Tuy Hoà, cuộc triệt thoái không có kế hoạch đầy đủ, cấp trên nhiều người bỏ đơn vị chạy trước, kỷ luật hỗn tạp, kẻ xấu lợi dụng bắn phá giết chóc. . Cuộc triệt thoái trên đường số 7 đã đi vào vết xe đổ của trận Cao Bắc Lạng năm 1950 khi quân Pháp triệt thoái khỏi vùng biên giới Việt Hoa đã bị Việt Minh chận đánh tan tành, được coi như một thảm bại lớn nhất trong cuộc chiến tranh tại miền Nam nước Việt từ trước đến nay.
Tướng Cao Văn Viên cho rằng ít nhất 75% các lực lượng chiến đấu của quân đoàn 2 đã bị tiêu diệt, 60,000 chủ lực quân khi về đến Tuy hoà chỉ còn lại khoảng 20,000, năm liên đoàn biệt động quân 7,000 người chỉ còn 900 người, 100 xe tăng các loại chỉ còn 13 cái M-113, trong số 400,000 dân cao nguyên chạy loạn chỉ có 100,000 người tới được Tuy Hoà. Tổng số vũ khí đạn dược trị giá 250 triệu đô la lọt vào tay Cộng quân. Ít ra cũng có tới 50,000 người thiệt mạng, cuộc triệt thoái mang lại hậu quả hết sức tai hại, nó đã kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ miền Nam.

Miền Nam đã đang ở trong tình trạng ngặt nghèo vì thiếu đạn, săng dầu. . tướng Thiệu lại đưa ra những quyết định sai lầm vô cùng tai hại khiến cho đất nước trong chớp nhoáng đã kề bên bờ vực thẳm, ngày 13/3 ông cho lệnh rút sư đoàn dù từ Quảng trị về vùng 3, tướng Trưởng điều động liên đoàn biệt động quân 14 thay thế vào, biệt động quân nghe tiếng xe tăng địch vội rút về phía nam sông Mỹ chánh, Quảng trị coi như bỏ ngỏ đã lọt vào tay Bắc Việt hôm 19/3. Ngày hôm sau tướng Trưởng nhận được lệnh bỏ Huế rút về Đà nẵng, ngày 25/3 Quảng Tín và Quảng Ngãi lọt vào tay Cộng quân, ngày 25/3 Trưởng nhận lệnh đưa sư đoàn Thủy quân lục chiến về Sài Gòn. Cuộc tháo lui của Thuỷ quân lục chiến tại cửa Thuận An vô cùng thê thảm, biết bao người bỏ mạng khi lội ra tầu dưới hoả lực địch. Các cuộc di tản tại vùng 1 đã diễn ra một cách hỗn loạn được coi như tồi tệ hơn tại vùng 2, cấp trên nhiều người bỏ quân sĩ lại để chạy tháo thân, ngày 27/3 Đà nẵng bắt đầu nghiêm trọng, Cộng quân pháo vào thành phố dữ dội, dân quân chết như rạ, tướng Trưởng ra lệnh bỏ Đà Nẵng.
Vùng 1 và 2 bị mất trong chớp mắt khiến cho tinh thần binh sĩ suy sụp nhanh chóng, điều đáng nói là trong khi tinh thần chiến đấu của binh sĩ còn khá cao, thay vì tăng viện thêm tướng Thiệu lại cho lệnh rút bỏ cả hai quân khu khiến cho dân quân vô cùng hoang mang, cuộc di tản diễn ra trong cảnh hỗn loạn, đạp lên đầu nhau mà chạy, bắn giết nhau tìm đường chạy coi như đã dọn cỗ sẵn cho Việt Cộng xơi. Tất cả vũ khí đạn dược, quân trang, xe tăng đại bác . . tại hai vùng hầu như mất hết, một phần lớn đã lọt vào tay Cộng quân, đúng là giáo vào tay giặc. Năm 1976, Cộng Sản tiết lộ trên báo chí chúng đã lấy được rất nhiều chiến lợi phẩm tại vùng 1 và 2 nào xe cộ, đại bác, thiết giáp. . để trang bị thêm, đạo quân của địch bỗng nhiên tăng lên gấp bội. Như đã nói ở trên riêng cuộc lui binh tại quân khu 2 cũng đã có khoảng 50,000 người thiệt mạng, cuộc rút lui hỗn loạn tại quân khu 1 dưới những trận mưa pháo của địch nhất là tại Đà Nẵng còn thiệt hại nhiều hơn nữa, trong toàn bộ cuộc di tản vùng 1 và 2 có tới hằng trăm nghìn người bị chết oan.

Thực hiện xong kế hoạch rút quân tại vùng 1 và 2 coi như tướng Thiệu đã dọn cỗ sẵn cho Việt Cộng xơi. Sau khi vùng 1 và 2 lọt vào tay Cộng quân, phần còn lại của miền Nam coi như sẽ mất trong giây lát, đạn dược đã thiếu nay lại càng thiếu hơn vì các kho đạn miền Trung mất hết. Tại Sài Gòn các ông to bà lớn đã chuẩn bị kế hoạch "tẩu vi thượng sách" y như năm 1949 tại Nam Kinh, Trung Hoa các ông bộ trưởng, tướng tá đã lên máy bay ra đảo Đài Loan.

Sài Gòn sắp chết tới nơi mà chính phủ Thiệu còn khẩn khoản xin Mỹ viện trợ khẩn cấp 300 triệu, theo ông Nguyễn tiến Hưng, vào giờ thứ hai mươi năm tướng Thiệu còn tính việc lấy ngoại tệ trong ngân hàng để đi mua đạn, thật là diễu hết chỗ nói. Ngày 21/4 ông Thiệu từ chức tổng thống, tuyên bố Hoa kỳ bỏ rơi đồng minh, từ đó đến nay nhiều người Việt đổ lỗi cho Mỹ đã bỏ rơi đồng minh năm 1975. Người Mỹ, điển hình là đương kim Tổng thống và bộ trưởng quốc phòng lại chỉ trích quân đội Việt Nam Cộng Hoà trước đây đã không chịu đánh. Nhiều chính khách Hoa kỳ lại đổ lỗi cho miền Nam Việt Nam. Theo ông Nguyễn đức Phương, nhà nghiên cứu quân sự thì nguyên nhân thất bại đã đến từ cả hai phía Việt Nam và Mỹ.
Như chúng tôi đã trình bầy ở trên, Quốc hội Mỹ cắt giảm viện trợ quân sự khiến cho quân đội miền Nam lâm vào tình trạng ngặt nghèo kiệt quệ, một ông tướng Pháp nói đó là bức tử Việt nam. Chính người dân Mỹ, nhóm biểu tình phản chiến đã lên kế hoạch "vắt chanh bỏ vỏ", mặc dù không nói ra nhưng họ cho rằng đã "huề" với Trung Hoa đỏ rồi thì không còn lý do gì để giữ miền Nam. Người dân đã vận động với Quốc hội để bức tử miền Nam như trên, Quốc Hội phải theo ý dân vì sống nhờ vào lá phiếu của họ. Công bằng mà nói hành pháp Hoa Kỳ đã cố gắng cứu giúp sự sống còn của miền Nam nhưng họ đã bị Quốc hội trói tay đành phải chịu. Sau ngày 30/4/1975, một nhóm đông đảo sinh viên thanh niên phản chiến hớn hở tham dự buổi mít tinh để mừng chiến tranh chấm dứt "The war is over".
Cho tới nay ít ra đã có người biết xấu hổ vì cái trò vắt chanh bỏ vỏ.
Bộ trưởng tư pháp Mỹ R Kennedy nói Việt nam phạm vào rất nhiều sai lầm, trước mắt như chúng ta đã thấy ở trên, trong khi đạn dược thiếu hụt, tướng Thiệu lại sai lầm rút bỏ quân khu 1 và 2 đưa miền Trung vào chỗ thảm bại mất hết vũ khí đạn dược, chết bao nhiêu dân, quân, binh lính khiến cho tinh thần suy sụp ghê gớm đưa miền Nam xuống vực thẳm. Những người chạy lọan từ miền Trung vào Nam, một số sĩ quan viết lại hồi ký, họ nói rằng cấp lớn nhiều người thiếu tư cách, bỏ lính tráng lại chạy tháo thân.

Thật vậy, nhiều ông tỉnh trưởng vét tiền trong ngân khố chạy trước, điều đáng tiếc là trong khi tinh thần binh sĩ còn cao, cấp lớn hèn nhát ích kỷ đã giúp cho sự sụp đổ của miền Nam nhanh hơn dự kiến. Trong khi ba quân tướng sĩ còn đang chiến đấu anh dũng bảo vệ vùng 3, nhiều ông to bà lớn đã thu xếp quí kim chuồn ra ngoại quốc. Gần đây có một ông trước là quân nhân công chức mới định cư tại hải ngoại, ông ta nói "nhiều anh trước làm quan lớn bỏ chạy bây giờ còn lên tiếng huênh hoang, mấy anh hèn nên im lặng là hơn."

Ông Nguyễn Đức Phương cho rằng người dân thờ ơ không chịu giúp đỡ chính phủ, nhưng theo chúng tôi nghĩ vì chế độ Thiệu đã thối nát quá xá rồi, hẳn là ai cũng đều biết cả, nên người dân quá chán ngán không còn thiết tha gì đến, họ cũng chỉ lo chạy tháo thân mặc cho nó sụp đổ tan tành. Những người có cảm tình với ông Thiệu cho rằng nguyên do tấn thảm kịch tại tình thế ngặt nghèo như thiếu đạn dược, xăng dầu, nhưng một ông Tổng thống phải là người thao lược, mưu trí cao để có thể chuyển bại thành thắng, còn nếu không thì ai cũng có thể làm Tổng thống được.

Sau 30/4/1975 người ta ước lượng Cộng quân đã chiếm được 1,100 phi cơ các loại, hằng trăm tầu các loại của Hải quân, 300 xe tăng M-41, 250 xe M-48; 1,000 đại bác 105 mm, 300 đại bác 155mm và 175mm; 800,000 súng cá nhân M-16, 15,000 đại liên; 500 trực thăng; 130,000 tấn đạn dược. . tất cả trị giá hằng tỉ Mỹ kim.

Hậu quả của tấn thảm kịch như ta thấy đã khiến cho hằng trăm nghìn người chết oan, hằng trăm nghìn người bị tù đầy giam giữ lâu dài, vài năm sau có tới mấy trăm nghìn người bỏ xác giữa biển khơi trên đường tị nạn. Cuộc chiến tranh 1975 đã chấm dứt từ mấy chục năm qua nhưng nó vẫn in sâu trong tâm khảm người Việt nhất là đám tị nạn lưu vong. Bây giờ không phải lúc chúng ta ngồi oán trách đồng minh bỏ rơi miền Nam, ta phải tự trách mình đã không bảo được nhau, đã biến thành những quân tốt cho người ta xử dụng, đã để cho họ mua bán với nhau trên xương máu của hằng triệu binh lính cả hai miền Nam Bắc, đã biến đất nước thành bãi chiến trường và nơi thử vũ khí của khoa học quốc phòng.
Cuối cùng, những kẻ đã gây lên cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn sẽ đời đời đắc tội trước non sông và lịch sử.

Trọng Đạt

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

Cao Thế Dung : Việt Nam Ba Mươi Năm Máu Lửa (1945-1963).
Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975.
Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975.
Đoàn Thêm: 1965, Việc Từng Ngày.
Đoàn Thêm: 1966, Việc Từng Ngày.
Đoàn Thêm: 1969, Việc Từng Ngày.
Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Nam Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới.
Văn Tiến Dũng : Đại Thắng Mùa Xuân.
Đinh Văn Thiên: Một Số Trận Đánh Trước Cửa Ngõ Sài Gòn.
Dương Đình Lập: Cuộc Tổng Tiến Công Và Nổi Dậy Mùa Xuân 1975.
The World Almanac Of The Viet Nam War, John S.Bowman, General Editor.
Stanley Karnov: Viet Nam, a History.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image


Tôi thấy và nghe được gì ở Sài Gòn / Tháng Tư Đen


Ðây không phải là một phóng sự hay một bài nghiên cứu xã hội với những phương pháp khoa học của nó - mà chỉ là những điều vụn vặt mắt thấy tận nơi, tai nghe tận chỗ - ghi lại một cách trung thực...

Tôi thấy bộ mặt Sàigòn đổi mới với: Những khách sạn 5 sao, 4 sao lộng lẫy. Ðổi mới với những nhà hàng "vĩ đại" trên các tuyến đường du lịch. Với những trung tâm "thư giãn" sang trọng, quý phái cỡ câu lạc bộ Lan Anh. Với những vũ trường cực kỳ tráng lệ như vũ trường New Century Hànội. Với những trường Trung học tư thục mang tên Mỹ, giáo sư Mỹ, chương trình học của Mỹ, giảng dạy bằng tiếng Mỹ - học sinh phải trả học phí bằng tiền Mỹ - 600US$ đến 1000US$ /tháng.. (Giai cấp nào đủ sức trả học phí nầy cho con? )

Tôi cũng hiểu rằng các nơi nầy là nơi ăn chơi của vương tôn công tử "đỏ", các nhà giàu mới - thân nhân các quyền lực đỏ đứng đàng sau, các quan chức đỏ đô la đầy túi. Họ đến đây để "thư giãn", uống rượu, đánh bạc, cá độ và tìm gái. Uống chơi vài chai rượu ngoại VSOP, XO là chuyện thường. Mỗi đêm có thể tiêu hàng ngàn đô la Mỹ cũng không phải là điều lạ. Trong khi lương tháng của một thầy giáo Trung học trường công không đủ để trả một chai rượu XO. Vụ MPU.18 cá độ hàng triệu US $ đã bị phanh phui..là một thí dụ cụ thể.Vũ trường New Century bị Công an đến giải tán vì các công tử và tiểu thư con các quan chức lớn nhảy đã rồi.... " lắc" suốt đêm. Vài hôm sau - đâu cũng vào đó... Tôi cũng thấy Sàigòn- người, xe và phố xá dầy đặc, nghẹt thở - vài tòa cao ốc mọc lên vô trật tự - ở xa xa, có cái trông giống như chiếc hộp quẹt.. nhà cửa mặt tiền hầu hết đều lên lầu nhiều tầng. Kiến trúc hiện đại.Vật liệu nhập cảng đắc tiền. Nhà trong hẻm - phần lớn cũng lên nhiều tầng cao nghệu. Có nhiều khu xây cất bừa bãi, nhô ra thụt vào như những chiếc răng lòi xỉ vô duyên , lấn chiếm ngang ngược đất công hoặc lề đường....

Tôi thấy Sàigòn bị ô nhiễm trầm trọng với hằng triệu tiếng động cơ, ngày đêm đinh tai nhức óc và 3.000.000 chiếc Honda - phun khói mịt mù - chưa kể đến xe hơi..Và hệ thống cống rãnh lạc hậu.. mỗi khi trời mưa lớn - nước rút không kịp, ứ đọng tràn ngập nhà cửa. Hệ thống đổ rác còn lạc hậu.. không đáp ứng nổi nhu cầu thải rác của 8.000.000 dân nhung nhúc như kiến.. Sàigòn đầy dẫy những hàng ngoại do công ty ngoại quốc sản xuất tại chỗ..hàng lậu của Trung quốc tràn vào vô số kể.. Máu kinh tế Việt Nam bị loãng ra. Nhưng chế độ xã nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một lời phản kháng. Một chiếc xe Honda nhãn hiệu Trung quốc giá khoảng chừng 1000 đô la Mỹ..chưa kể hàng Trung quốc lậu thuế, rẻ mạt.. Thuốc lá và bia - bia nội, bia ngoại - có đủ.. Nhậu và hút là 2 cái mốt bình dân thời thượng nhứt ở Sàigòn. Ðảng viên, cán bộ - giai cấp thống trị - nhậu.. Già nhậu, trẻ nhậu... con nít cũng tập tành nhậu. Hút thì khỏi nói.. Giai cấp cán bộ răng đen mã tấu bây giờ là giai cấp nắm thống trị - đã lột xác - không còn quấn thuốc rê, bập bập phà khói mịt mù nữa - mà lúc nào cũng lấp ló một gói 3 con 5, Craven A, trong túi. Lãnh đạo hút, cán bộ hút, dân chúng hút - thậm chí con nít 9, 10 tuổi ở đồng quê cũng phì phà điếu thuốc một cách khoái trá.. Các hãng bia và thuốc lá ngoại quốc đã tìm được một thị trường tiêu thụ béo bở. Cán bộ lớn cũng âu phục cà vạt hẳn hoi, xe hơi bóng loáng.. nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da mốc mốc.. cũng không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê lên Tỉnh.

Tôi còn thấy Sàigòn với hiện tượng "tiếm công vi tư" lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ.... bất thành văn trong chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê.. Chưa thỏa mãn - ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng.. Ông chủ bự nầy chắc chắc không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy.Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu - nơi gặp gỡ của 2 đường Nguyễn Trãi và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ Huyện Sĩ - thì rõ.

Còn nhiều.. rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công, lấn lề đường nhan nhản ở khắp Saigòn. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể : Một công thự tại vườn Tao đàn (có lẽ là nhà cấp cho viên Giám đốc Công viên Tao Đàn) - mặt tiền ngó vào trong - mặt hậu nhìn ra phía đường Nguyễn Du (Taberd cũ ) - bèn có màn trổ cửa mặt sau nhà, xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương mãi mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Du, trị giá mỗi căn, nhiều trăm ngàn mỹ kim - ngon ơ! Tương tự như vậy - ở góc đường Thành Thái và Cộng Hòa cũ... trước sân nhà của ông Hiệu Trưởng trường Quốc gia Sư Phạm trước 75 - phố thương mãi, quán xá la liệt chiếm mất mặt tiền. Ngang ngược và lộng hành nhứt là 2 căn phố thương mãi bên hông trường Trương minh Ký, đường Trần hưng Ðạo, chễm chệ xây lên ngay bên góc phải sân trường như thách đố dân chúng..Còn trên lề đường khá rộng trước câu lạc bộ CSS cũ, bây giờ là câu lạc bộ Lao động - nhiều gian hàng thương mãi bán quần áo, giày vớ thể thao.. buôn bán ầm ĩ, náo nhiệt suốt ngày.

Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của Công An. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà. Không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn.Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với ai?Tất nhiên là phải thưa với công an.Không lẽ công an xử công an? Tướng CS Trần Ðộ phản ảnh còn rõ rệt hơn: "... Xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Ðảng. Không thể nào chống tham nhũng được vì nếu Ðảng chống tham nhũng thì Ðảng chống lại Ðảng sao?"("Nhật ký Rồng rắn" của Trần Ðộ).

Nón cối, nón tai bèo, dép râu, áo chemise xùng xình bỏ ngoài chiếc quần màu *** ngựa của người cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào Sàigòn - đã biến mất.. Cũng không còn thấy những chiếc áo dài tha thướt của những cô gái đi dạo phố ngày cuối tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê thánh Tôn, Tự do những ngày trước 75 nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ - mũi và miệng bịt kín bằng "khẩu trang", găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi Honda chạy như bay.. trên đường phố.


Tôi còn thấy những người nghèo khổ chở trên chiếc xe thồ, những thùng carton và bao túi nylon, chồng chất lên nhau cao ngất như sắp đổ xuống...những bà cụ già, những cậu bé tuổi đáng được ngồi ở ghế nhà trường.. những anh phế binh cụt tay, cụt chưn, lê lết trên một miếng ván gỗ... đi bán vé số (một cách ăn xin trá hình)... những em bé mặt mũi lem luốc đang bươi những đống rác để lượm các bao nylon, lon coca, chai bia đem về bán.. hay những em bé rách rưới lang thang trước những tiệm ăn.. chờ khách ăn xong nhào vô bưng tô súp cặn húp vội đỡ lòng..còn những trẻ khác - mắt láo liên trông chừng công an, tay chìa chiếc hộp, làm dấu mời khách đánh giày -..những em bé gái đang hì hục đẩy khách lên đồi cát bằng miếng ván có gắn bánh xe ở "Ðồi cát bay" Phan Thiết. Hỏi "sao em không đi học"? - trả lời: "Nhà không đủ cơm ăn, con làm cái nầy để kiếm thêm cơm ăn.".. Nhiều bà mẹ nhăn nhó ôm thằng bé mặt mày xanh lét, không còn chút máu, chờ suốt buổi sáng... trước tiếng quát tháo ầm ĩ.. vẫn chưa tới phiên mình vào bệnh viện chữa trị cho con.. Nghe nói mấy năm trước đây có nhiều bà mẹ đứng trước bệnh viện Chợ Rẩy chờ bán máu mình để qua cơn đói khổ ngặt nghèo như nhà văn Trần trung Ðạo đã mô tả..Lại nghe một bệnh nhân dứng cạnh đó, cũng chờ đến lượt mình, than thở : " Ở đây là vậy đó ông ơi! Chửa bệnh phải có tiền - trước nhứt phải qua cửa - lọt qua cửa thì còn nhiều khâu - khâu nào cũng phải chìa tiền. Muốn sống - phải có tiền. Chết cũng phải có tiền.

Bộ mặt Sàigòn "đổi mới" bằng những khách sạn lộng lẫy, những câu lạc bộ thời thượng, những phố xá thương mãi sang trọng, những hiệu kim hoàn lóng lánh kim cương, những nhà hàng ăn vĩ đại, những vũ trường cực kỳ tráng lệ, những biệt thự đồ sộ nguy nga mới xây bằng vật liệu ngoại đắt tiền.. trang trí cây cảnh như một mảng vườn Thượng uyển của vua chúa ngày xưa.. những xe hơi bóng loáng nhởn nhơ trên đường phố - nhiều người chóa mắt.. choáng váng, cho là "Việt Nam bây giờ tiến bộ quá". Riêng Phó thường dân tôi tự nghĩ : Như vậy có phải là tiến bộ không? Sự tiến bộ của một nước cần phải nhìn về nhiều mặt : Mặt y tế và giáo dục, mặt đời sống vật chất và tinh thần của dân chúng.. Lợi tức đầu người của Việt Nam - theo thống kê của báo The Economist - bằng : 555 US $ năm 2007 (Hà Nội bốc lên 730 US $) chỉ hơn Lào và Cambodia chút đỉnh. So với các nước láng giềng: Thái Lan : 2550 US $ - Phi luật Tân : 1040US$ - Nam Dương : 1160US$.Tân gia Ba 24840US$.(The Economist World, năm 2007 - p.158, 176, 238) - Việt Nam còn lẹt đẹt đàng sau rất xa. Và trước bộ mặt thay đổi choáng ngợp nầy - nếu đặt câu hỏi : Ai là chủ nhân của những xe hơi, khách sạn- vũ trường, những thương hiệu lớn, những biệt thự lộng lẫy kia? - thì câu trả lời không sợ sai lầm là của cán bộ đảng viên (tại chức hoặc giải ngũ) hoặc con cháu thân nhân của họ. Và ở thôn quê - giai cấp giàu có bây giờ là ai? giai cấp địa chủ là ai? Có phải do của cải của ông cha để lại hay do sự kinh doanh tự do, mua bán làm ăn mà có ?

Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng "đánh Tây, đuổi Mỹ" - cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa - thì dân miền Nam (gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) vẫn thấy một sự thật. Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mãi trọng yếu của Sàgòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh Sàigòn.. và các khu phố sầm uất nhứt.. vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc Cộng sản - từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong - cũng toàn là người của xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Ðắc, Phạm thị Trước.. hiện nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cất lại..nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán dồ nhập cảng v.v.. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ...

Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sàigòn.. thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN. (Tất nhiên là vợ con, thân nhân cán bộ lớn). Những gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra). Các cô chiêu đãi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ - dĩ nhiên - vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc..Cán bộ, công nhân viên trọng yếu - cũng đều là người Bắc - trừ một số cán bộ gốc miền Nam tập kết - theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam - thì cũng kể họ là người XHCN miền Bắc. Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới - từ Trung ương đến địa phương - từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xã gần - đều do đảng viên người miền Bắc XHCN - nắm giữ.Những công Ty dịch vụ có tầm cỡ, những công Ty thương mãi sản xuất lớn - điển hình là một công Ty vận tải và du lịch có đến 6000 xe hơi đủ loại..chủ nhân cũng là người Bắc XHCN.Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mãi, sản xuất - cũng do người miền Bắc XHCN nắm giữ.

Ðó là sự thật trước mắt ai cũng thấy. Còn những vàng bạc, kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp - nhà cửa của tù cải tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại những lượng vàng thu được từ những người vượt biên bán chánh thức - tài sản những người thuộc diện tư sản - toàn bộ tài sản nầy từ Saigòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam - được đem đi đâu? - Không ai biết.

Thông thường - những của cải nầy phải được sung vào công quỹ - để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẽ.. Thế nhưng - sự thật trước nhứt - là các ông đem chia chác nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN (Ðọc Ðất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang). Ông lớn lấy tài sản lớn. Ông nhỏ - nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết... đem cho công Ty ngoại quốc thuê. Ðiều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy - vì lo sợ cái gì đó - bèn đem " bán non" những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cải tạo đã sang tay đến 3 đời chủ. Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu - không ngoại lệ. Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại - là những biện pháp vá víu. Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN.

Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà người dân thường có nhà cửa phố xá..đều bị "û giải phóng" ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách : Ðuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xả tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung( chủ nhà chịu không nổi.... phải bỏ đi ), đổi tiền để vô sản hóa người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ..để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê... Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào "mua" nhà Saigòn với giá gần như cho không...và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Saigòn.

Mang xe tăng T.54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên "xẻ dọc Trường Sơn" bằng máu, nước mắt và xác chết... vào xâm chiếm miền Nam . Chiêu bài là "giải phóng" nhân dân miền Nam - nhưng sự thật khó chối cãi được - là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai, của cải, đuổi dân Saigòn (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) ra khỏi Thủ Ðô bằng nhiều chánh sách khác nhau - để bây giờ chính các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi - những ông chủ công Ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực.. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc.(Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn tấn Dũng đang du học Mỹ là trường hợp điển hình). Như vậy hành vi nầy gọi là gì?Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh - một mình đối diện với lương tâm thuần lương của mình - các ông tự gọi mình đi.

Ðến thời "mở cửa" - cơ hội hốt tiền còn nhiều hơn..gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương - đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công Ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đường sá, xây cất đại công tác. Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỹ tiền tệ quốc tế - những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt.. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn.. no bóc ké.. Nhiều công trình vừa xây cất xong..đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ diễn hình : Một bệnh viện gần chợ "û cua" Long Hồ - quê hương của Phạm Hùng - nước vôi còn chưa ráo... đã muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được.

Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực, chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mãi ở những khu thương mãi quan trọng nhứt - là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ lớn đã trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực - những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử. Trong khi dân chúng miền quê - nhứt là miền Nam - ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên.. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn - đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt..Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì nghèo cùng cực.

Nhà văn - bác sĩ Hoàng Chính - gọi thời kỳ sau 75 là thời "Bắc thuộc" - "Năm Bắc thuộc thứ 2: Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh.. - Năm Bắc thuộc thứ 6: Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán. - Năm Bắc thuộc thứ 12: Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười.."

Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.

BỘ MẶT THÔN QUÊ MIỀN NAM

Có nhìn tận mắt, nghe tận nơi, mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 32 năm dưới chế độ cọng sản. Ðể được trung thực - người viết ghi những điều thấy và nghe - không bình luận - tại những nơi đã đi qua. Thôn quê miền Nam - những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện. Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối. Ðường sá có tu sửa phần nào..Ðường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái nứa, Cái chuối xã Long Mỹ VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. "Cầu tre lắt lẻo", cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ). Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái Bè, Cái Răng ) nay không còn thấy nữa. Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ - chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn - còn nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy - dọc theo bờ sông Long Hồ - một số nhà gạch nhỏ mới cất..xen kẻ những mái lá bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà cú (Vĩnh Bình), chợ Thầy Phó (Vĩnh Long) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Ðường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi..

Hai bên đường xe chạy từ Mỹ Tho, Cao Lãnh, Châu Ðốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ. Nhìn chung - có một sự thay đổi rõ rệt. Nhà cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc.. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đã biến mất..hoặc thụt sâu vào trong, không còn thấy nữa. Không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai oằn, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu, vườn mận Hồng Ðào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương...


Dưới sông - từ kinh Vĩnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang - hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đỡ sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau. Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế - cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay đổi. Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá.. Basa, cá điêu hồng v.v.. ở dọc bờ sông khá dài... Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh. Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tiền và sông Hậu - người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỹ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa.. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời : "Ði lấy Ðại Hàn, Ðài Loan hết rồi ông ơi!" Tôi hỏi thêm : "Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập.. các cô gái nầy không sợ sao ông? - "Biết hết - mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Ðại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông. Biết đâu gặp may." Câu chuyện gái Việt lấy chồng Ðại Hàn, Ðài Loan hiện không ai là không biết.

Tờ Tuổi trẻ - số ra ngày mùng 1 Tết năm Ðinh Hợi - trong bài: "Nỗi đau từ những con số"- có nói đến số phận của 65000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Ðài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con. Cũng tờ báo nầy: "Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang "bày hàng" để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến lượt mình " Và cũng tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết : "Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Saigòn để dự tuyển.Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái. Dịch vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng.Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện.Thậm chí - những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm".

Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ: Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần lượt vào trong.. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời: "Ðó là những người con gái đi lấy chồng Ðài Loan và Ðại Hàn. Hàng bên trong là những người đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa". Tôi nhìn kỹ các cô gái nầy tuổi rất trẻ.. khoảng chừng 18 đến 20.... đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện - tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Ðây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề.

Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức "môi giới hôn nhân lậu"- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma cau.. để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục.. các cô gái làm điếm.. hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ.. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhản xảy ra hằng tuần-thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11... Sàigòn.

Cho dù chánh thức hay lậu... hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An. Hậu quả gần giống nhau. Nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Ðài Loan, Ðại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn - ban ngày làm nô dịch.. ban đêm phục vụ tình dục.. rồi bán vào động mãi dâm lấy tiền gở vốn lại...(Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Ðài Bắc là một bằng chứng) Còn lậu thì.. bán thẳng vào ổ điếm. Biết bao nhiêu thảm cảnh.. biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại.Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu..lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời! Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập.. nầy khi lấy chồng Ðài Loan, Ðại Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt..?

Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người - những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN. Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để được giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Ðài Loan, Ðại Hàn?

Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau: Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hóa...bừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng... đất đai canh tác bị thu hẹp. Dân số gia tăng... Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào.. Nông dân miền Nam thiếu đất canh tác.. Các cô gái miền Tây.. quẫn bách vì không có việc làm kinh niên - cuộc sống vô vọng mịt mờ - có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến... khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Ðại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ. Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS ( sinh sau 75 ) - những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ.. thang giá trị bị đảo lộn.. nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước.. Do vậy - khi bị dồn vào đường cùng.. họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn.. Nhưng động lực chánh là nghèo..


NGHÈO...

Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Ðại Hàn và Ðài Loan... để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát.. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) - vựa lúa nuôi sống cả nước - sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy - nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ÐBSH)? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê Việt Nam - thì tỷ lệ ÐBSCL năm 1998: ÐBSC: 37%. ÐBSH: 29%. Năm 2002: ÐBSCL: 13 %. ÐBSH: 9%.(Nhà x.b Thống kê - Hànội, trang 13 - LVB trích
dẫn ).

Dù theo tiêu chuẩn nào: tiền tệ (tính bằng tiền hay bằng gạo) - mức sống (bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa) - ÐBSCL vẫn nghèo hơn ÐBSH - bởi lẽ khi nghèo về lương thực - thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hóa.

Ðó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa học. Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nhìn tận mắt, nghe tận nơi của người viết: Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều - cái nghèo của một nông dân, nhà dột nát.. khi trời mưa lúc ban đêm..không có chỗ để nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp.. trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc.... Cái nghèo của một người đi mượn tiền, mượn gạo.. tới ngày hẹn không tiền trả.. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp... cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ..mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân.

Tục ngữ bình dân có câu: Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời.- Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chài lưới.. ở sông Long Hồ. Ðời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy : nghề đi nhủi tép.. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay (2007) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch.. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te. Ðời ông nội - nghèo! Ðời cha nghèo! Ðời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo - không đổi đời cho người nghèo thành giàu.Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo.

Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác - còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền..trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết : "Nông dân đã nghèo, đất đã kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được? "


MIỀN NAM - 32 NĂM DƯỚI CHẾ ÐÔ CỘNG SẢN

Kinh tế Việt Nam - trong đó có miền Nam - có chút tiến bộ - so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Ðối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt.. cầm lồng đèn đỏ... Và điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương trình y tế, giáo dục - các chương trình tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rỗng tuếch? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể.. Và hiện tại - muốn phát triển công nghiệp - nhà cầm quyền địa phương - theo lệnh Ðảng - mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo ngược.. Lòng dân phẫn uất, kêu la than khóc.. Oán hận ngút trời xanh! ( 19 Tỉnh miền Nam biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàgòn ). Như vậy có gọi là phát triển không?


KẾT LUẬN

- 32 năm nhìn lại: Người ta thấy miền Bắc đã "giải phóng" dân Sàigòn ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau. "Giải phóng" miền ÐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đãi từ nhiều thế kỷ."Giải phóng"quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển..."Giải phóng" phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm "vợ nô lệ", đi làm điếm ở Kampuchia, TháiLan...

- 32 năm nhìn lại: Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ. Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website (2003) - bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con súc vật ở Singapour (2005). Chỉ trong năm 2005 - có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc. (Theo UNI CEF - LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam)

- 32 năm nhìn lại: Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L''expresse ngày 29-8-2002: "Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc - người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở đó "

- 32 năm nhìn lại: Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam - khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc.

Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Một đảng viên kỳ cựu của chế độ Cộng sản lên tiếng cảnh cáo: "Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc. Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu".


Nguyễn Văn Trấn

Post Reply