Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

 Image

Con cầu Phật .....
" ... phù hộ những người thân cùng bạn hữu của con măi măi được khỏe mạnh và hạnh phúc."

Phật nói: "Chỉ cho 4 ngày thôi".

Chú Tiểu: "Thế th́i` xin Phật cho họ được khỏe mạnh và hạnh phúc trong những ngày mùa xuân, những ngày mùa hè, những ngày mùa thu và những ngày mùa đông".

Phật nói: "Chỉ cho 3 ngày thôi".

Chú Tiểu: " Nếu chỉ được 3 ngày th́i` con xin họ được khỏe mạnh và hạnh phúc trong ngày hôm qua, ngày hôm nay và ngày mai".

Phật nói: "Chỉ cho 2 ngày thôi".

Chú Tiểu: "Như vậy con xin cho họ được khỏe mạnh và hạnh phúc trọn ngày hôm nay và ngày mai".

Phật nói: "Chỉ cho 1 ngày thôi".

Chú Tiểu: "Vâng, cũng được".

Phật thắc mắc hỏi: "như vậy là ngày nào?".

Chú Tiểu đáp : "con xin cho họ được mạnh khỏe và hạnh phúc từng ngày".

Phật mỉm cười nói: "Tốt lắm. Những người thân và bạn hữu của con bao gồm những người nào nhận được điện thư này sẽ được khỏe mạnh và hạnh phúc mỗi ngày".
Last edited by khieulong on Sat Jan 24, 2009 3:55 am, edited 1 time in total.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Cuối năm nói chuyện với hồn thiêng sông núi
Tác giả: Tưởng Năng Tiến



"Đời vẫn vốn không nương người thất thế."

Nguyễn Tất Nhiên


Người Việt sính thơ, và hay sáng tác những bài thơ (rất) … vụng. Ngoài cái tật hay làm thơ ra, dân Việt còn có một cái thói xấu (lớn) khác nữa là thích bắt người khác phải nghe hay đọc những thơ ngô nghê của mình. Nếu bạn không tin như vậy, cứ thử vào xem nhiều website sẽ thấy. Trên nhũng diễn đàn này, trong phần góp ý, bên dưới những bài chủ, bao giờ cũng xuất hiện năm bẩy bài thơ lảng xẹt.


Tôi cũng là người Việt, nên cũng thích làm thơ, cũng chuyên môn sản xuất ra loại thơ … (rất) vụng, và cũng không từ bỏ một cơ hội nào để gởi thơ lên net. Bài thơ đỡ dở nhất – tôi viết vào mùa Hè năm 1980, tên “Chiều Vọng Các,” sau khi leo rào từ một trại tị nạn ở Thái Lan ra Bankok chơi – có những đoạn (hơi) sến, như sau:


Chiều về trên xứ lạ
Cười nụ cười Anglais
Buồn qua hơi thuốc Thái
Thèm một phin cà phê
(Chị ơi thôi đừng đợi
Chiều nay em chưa về)


Thơ thẩn cỡ đó, nếu đem dự thi chắc rớt (rớt chắc) nhưng mang gửi về Việt Nam cho gia đình cho ông bà già chơi thì họ … phê hết biết luôn. Má tui đọc xong, khóc ròng cả tháng. Bả lu loa, mếu máo kể lể với mọi người:


Coi: thằng út tui là dân nhậu. Trên tay nếu không cầm ly thì cũng cầm chai. Nó sinh ra để uống. Bỏ uống là... chết mẹ. Nó rất thích cảnh cơm hàng – cháo chợ, và thấy rượu thịt là vui mừng như lân thấy pháo. Vậy mà (Trời ơi) bây giờ thằng nhỏ bước vô quán như cái xác không hồn, thẫn thờ nhớ mẹ nhớ cha, nhớ bạn nhớ bè … tới đắng miệng, ruợu uống không vô! Sao mà khổ thân dữ vậy con ơi? Vì ai mà con tui phải lìa xa gia đình, quê hương và … lưu lạc nơi xứ lạ quê người như vậy, hả mấy ông cách mạng?
Ở thời điểm này, không riêng chi má tui đâu nha, ít nhứt cũng nửa nước Việt Nam đã ngộ nhận về thiện chí của nhà cầm quyền như thế. Người dân tưởng rằng chế độ bao cấp, chính sách hộ khẩu, tem phiếu, kinh tế mới, cải tạo công thương nghiệp, đổi tiền … đều chỉ là những phương thức cào bằng, bần cùng hoá cả xã hội, và tha hoá con người nên hè nhau bỏ chạy.


Còn về phiá nhà nước, khi thấy thiện chí xây dựng một xã hội công bằng, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc … bị người dân cương quyết khước từ – bằng cách liều mạng bỏ phiếu bằng chân – nên nổi giận, và đã (có) nặng lời chút đỉnh: “đồ cặn bã, ma cô, đĩ điếm …”


Tất cả chỉ là những ngộ nhận nhất thời, và thời đó đã qua. Bây giờ là một thời khác hẳn. Những kẻ (lỡ) bỏ đi, vẫn thường được phép trở về. Và khi về, đều được Đảng và Nhà Nước hân hoan chào đón.


Năm 2004, có 19 người Việt ở hải ngoại được vinh danh tại Văn Miếu, Hà Nội (1). Năm 2005, thêm 19 người khác tiếp tục được nhận lãnh cái vinh dự (to lớn) tương tự (2).


“Nhận xét về tổ chức Lễ Vinh danh nước Việt, ông Nguyễn Chơn Trung – Chủ nhiệm Uỷ ban Người Việt Nam ở nước ngoài TP.HCM đánh giá cao chương trình mà Báo Điện tử Vietnamnet đã thực hiện và thành công như mong đợi. Ông Trung cho rằng, Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị với nhiều chính sách đổi mới ngày càng thông thoáng hơn và tạo điều kiện cho bà con kiều bào ngày càng gần với quê hương, đất nước.”
“Thật vô cùng xúc động khi những người con Việt ở xa Tổ quốc hội tụ về đây, cùng lắng nghe tiếng gọi của non sông hào hùng từ ngàn xưa vọng về. Họ đại diện cho gần 3 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, mang trong người dòng máu Lạc Hồng đã có những đóng góp trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Họ xứng đáng là ‘Những sứ giả Lạc Hồng’, là chiếc cầu nối giữa người Việt trong nước và ngoài nước, giữa Việt Nam và cộng đồng Quốc tế.”
Nhà báo Nguyệt Quế đã viết những dòng chữ (vô cùng) thắm thiết như trên, trong bài báo có tựa là Khi Hồn Thiêng Sông Núi Gọi Về tại chuyên san Người Viễn Xứ, ngày 6 tháng 2 năm 2006
Tui in bài báo này, gửi dìa nhà cho ông bà già coi chơi. Ba má tui sẽ hãnh diện và sung sướng (muốn chết) khi biết rằng nhờ sự thông thoáng của NQ 36, thằng con đã được chuyển từ diện “cặn bã xã hội, chạy theo bơ thừa sữa cặn” qua thành … “những sứ giả Lạc Hồng” rồi! (Tui viết rõ ràng là “Lạc Hồng”, đừng có đánh máy hay đọc lộn thành “Lạc Hồn” nha, mấy cha). Hậu vận của tui, rõ ràng, quá tốt. Tui quả là người (cực kỳ) may mắn.
Không phải ai tha phương cầu thực cũng đều có cái may mắn đó đâu. Bà Tạ Thị Giám là một người, không may, như thế.
Trong một bài bào có tên Taiwan Shelter Helps Abused Vietnamese Workers,” đọc được trên nhật báo Mercury News – số ra ngày 12 tháng 12 năm 2006 – ký giả K. Oanh Ha đã mô tả hiện cảnh của bà Giám, như sau:
“Tạ Thị Giám, một người phụ nữ Việt Nam, đã bị hấp dẫn bởi lời hứa hẹn về số tiền luơng 500 Mỹ Kim mỗi tháng. Bà rời nhà nơi làng quê nghèo nàn ở ngoại thành Hà Nội để lao động cật lực trong một viện dưỡng lão tại Đài Loan, với hi vọng có tiền cho con đi học.”
“Ngược lại, bà Giám cho biết, bà đã bị biến thành nô lệ cho người chủ Đài Loan, bị chủ đánh đập, không cho ăn, và buộc phải làm việc cho đến khi gục ngã. ‘Họ đối xử với chúng tôi như một con vật, chứ không phải là một con người… vì biết rằng chúng tôi đã lâm đến bước đường cùng, không còn nương tựa vào ai được nữa’. Bà Giám, 36 tuổi, đã nói như thế”
Tưởng “như thế” đã đủ nát lòng, vậy mà nhiều cảnh đời lưu lạc còn truân chuyên hơn thế nữa. Những nạn nhân trong cuộc – theo tường thuật của Tuần báo Viet Tide, qua bài phóng sự “Người Việt Trên Đất Đài: Lời Kêu Cứu Của Những Phận Người Bị Chà Đạp,” phát hành từ California ngày 20/05/2005 – đều xin được giấu tên:
– N. nói: “Quê tôi ở Việt Trì... Làng tôi nghèo lắm khó kiếm được công ăn việc làm … Tôi sang Đài Loan ngày 18 tháng Giêng năm 2005. Theo hợp đồng với công ty môi giới tại Việt Nam, tôi sẽ chăm sóc một ông già bị liệt toàn thân. Khi đi tôi đã vay gần 20 triệu tiền Việt Nam để giao cho công ty môi giới… Tôi bị cưỡng hiếp nhiều lần trong suốt thời gian bị cầm giữ trong nhà tay chủ môi giới này”.
– M. nói: “Làng quê của em ở Tây Ninh, nghèo lắm. Bọn em chưa hề biết Sài Gòn là gì, vậy mà bay giờ luân lạc sang tận Đài Loan. Lúc ra đi, bọn em chỉ mong lấy được tấm chồng, rồi kiếm việc làm để gửi tiền về giúp cha mẹ cất mái nhà ở. Không ngờ thân bọn em bị ô nhục đến thế.”
– T. khóc: “Vừa đặt chân đến phi trường Đài Bắc, tên môi giới hôn nhân cùng đồng bọn giữ hết giấy tờ hộ chiếu rồi đưa chị em em lên xe chở thẳng đến một căn nhà 16 tầng. Ở đó, bọn em bị canh giữ ngày đêm. Bọn em bị cưỡng bức phải tiếp khách. Suốt 21 ngày, thân xác bọn em bị khách chơi hành hạ ... Tương lai ra sao, về nước hay ở lại, bọn em cũng không biết, mà cũng không dám nghĩ tới … Cứu bọn em các anh chị ơi.”
Không hiểu con đường khổ nạn của những người lưu lạc (như bà Giám, bà M., bà N., bà T…) ở Đài Loan còn bao xa nữa nhưng đối với một số phụ nữ Việt Nam khác – vừa có mặt ở Mã Lai – thì họ mới chỉ bắt đầu cuộc hành trình (không may) tương tự. Theo nhật báo International Herald Tribune – số ra ngày 19 tháng 12 năm 2006 – hiện có hàng chục thiếu nữ VN đang được trưng bầy tại các quán cà phê ở Mã Lai, để chờ được mua về làm vợ. Sự kiện này khiến cho người dân bản xứ cảm thấy bất an. Họ mô tả đó là một việc làm “bệnh hoạn và vô luân” (The pratice has been described as “sickening and immoral”…)

Những người phụ nữ đã sa chân lỡ bước này, nếu (cũng) được “hồn thiêng sông núi” gọi về thì thiệt là đỡ khổ cho họ (và cũng đỡ tủi cho toàn dân Việt Nam) biết mấy. Những đưá bé thơ tên Xuân, tên Yến – đang bán thân nuôi miệng – ở Cao Miên cũng vậy. Hoàn cảnh của các em khiến mọi người đều phải xót xa, mà sao “hồn thiêng sông núi” (cứ) tỉnh queo như vậy cà?
Cách gọi của “hồn thiêng sông núi”, dường như, có cái gì không ổn. Tui “rà xoát” lại chuyện này chút đỉnh và biết thêm rằng chuyện “vinh danh” hàng năm là do báo điện tử Vietnamnet tổ chức, còn gọi ai về để vinh danh lại là chuyện (riêng) của … Mặt Trận Tổ Quốc!
Nói cách khác, giản dị và dễ hiểu hơn, là thông qua Mặt Trận Tổ Quốc, Đảng đang lãnh đạo và chỉ đạo luôn cả … “hồn thiêng sông núi” nữa. Thiệt là quá đã (và quá đáng)!
Mà Đảng (ta) thì làm gì mà không có tính toán. Và toàn là những toan tính bẩn thỉu, ti tiện, và đểu cáng. Chỗ nào thấy không có lợi, và ai không có tiền thì Đảng làm lơ, chớ gọi (về) làm chi – cho chật chỗ?
Toàn thể nhân loại đều biết chuyện phụ nữ VN bị bầy bán trong những quán cà phê ở Mã Lai nhưng cả toà đại sứ VN ở Mã Lai thì không một ai biết là có chuyện (đáng tiếc) này – theo như tường thuật của phái viên AP, vào ngày 19 tháng 12 năm 2006: “Vietnam’s ambassador to Malaysia, Nguyen Quoc Dung, said officials were not aware of such incidents…Đại sứ Việt Nam ở Mã Lai, Nguyễn Quốc Dũng, nói rằng giới chức có thẩm quyền không hề biết có những sự cố như vậy … ”
Và như vậy – trong những đợt vinh danh tới – những người như bà Tạ Thị Giám, cũng như những cô gái Việt đang ngồi phơi mặt trong những quán cà phê ở Mã Lai (chắc chắn) sẽ không được “hồn thiêng sông núi gọi về” đâu. Ủa, sao kỳ vậy, cùng là “Việt Kiều” hết trơn mà?
Coi: ông đại sứ Việt Nam ở Mã Lai mà còn không biết là họ có mặt bên xứ đó thì “hồn thiêng sông núi” làm sao có danh sách (để) gọi về chớ. Hơn nữa Văn Miếu – Quốc Tử Giám (ở Hà Nội) là chỗ linh thiêng, chỉ có loại ma cô đĩ điếm đã được chuyển diện thành “sứ giả Lạc Hồng” mới xứng đáng được mời về để vinh danh thôi. Chớ còn cái thứ đang bán thân nuôi miệng, và bán với cái rất bèo, ở mấy xứ Á Châu thì … khỏi!
Đời vẫn vốn không nương người thất thế. Đảng cũng vậy thôi à. Nhưng nói vậy, e chưa hết lẽ. Cũng có lúc Đảng nương (vào) người thất thế đó chớ. Nếu không, lấy đâu ra lý do để làm cách mạng và cướp chính quyền.

Chiều về trên xứ lạ
Execuse me
I’m sorry nói mãi
Thương một câu chửi thề

Chiều về trên xứ lạ
Ngỡ ngàng Chinatown.
Ðây rượu nồng thịt béo
Mà bạn bè nơi nao

Dừng chân nơi quán lạ
Thèm cơm chiều hương quê
Mẹ cha ơi đừng đợi
Chiều nay con không về



Ghi chú: (1) Ông Vũ Gỉan, Thụy Sĩ ; tiến sĩ Nguyễn Đăng Hưng, Vương quốc Bỉ; tiến sĩ Lương Văn Hy, Canada; tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê, Việt Nam; viện sĩ Trần Văn Khê, Paris; tiến sĩ Đặng Lương Mô , Việt Nam; ông Nguyễn Ngọc Mỹ, Việt Nam; tiến sĩ Ngô Thanh Nhàn, Hoa Kỳ; ông Lê Phi Phi, Việt Nam; tiến sĩ Nguyễn Thuyết Phong, Hoa Kỳ; tiến sĩ Nguyễn Công Phú, Pháp; tiến sĩ Nguyễn Quang Riệu, Pháp; nghệ sĩ Đăng Thái Sơn, Canada; ông Bùi Kiến Thành, Hoa Kỳ; tiến sĩ Trần Văn Thọ, Nhật; tiến sĩ Trịnh Xuân Thuận, Hoa Kỳ ; tiến sĩ Võ Văn Tới, Hoa Kỳ; kiến trúc sư Hồ Thiệu Trị, Pháp; tiến sĩ Trần Thanh Vân, Pháp Nguồn: Người Viễn Xứ.

(2) TS. Nguyễn Quốc Bình (VK Canada); TS. Nguyễn Trọng Bình (VK Mỹ); PGS, TS. Nguyễn Lương Dũng (VK Đức); TS. Nguyễn Trí Dũng (VK Nhật); Họa sĩ Lê Bá Đảng (VK Pháp); GS,TS. Nguyễn Quý Đạo (VK Pháp); Nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo (VK Pháp); Bác sĩ Bùi Minh Đức (VK Mỹ); TS. Lê Phước Hùng (VK Mỹ); ThS. Phạm Đức Trung Kiên (VK Mỹ); GS,TS. Đoàn Kim Sơn (VK Pháp); GS Toán học Lê Tự Quốc Thắng (VK Mỹ); Ông Phan Thành – Chủ tịch HĐQT HHNVNONN TPHCM (VK Canada); GS,TS Nguyễn Văn Tuấn (VK Úc) và GS,TS Nguyễn Lân Tuất, VK Nga Nguồn: Người Viễn Xứ

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Lễ nhậm chức khơi dậy niềm hy vọng

Lê Quỳnh
BBCVietnamese.com, Washington DC

Image
Tổng thống Barack Obama đọc diễn văn nhậm chức, báo hiệu thời kỳ mới



Cuối cùng thì ông Barack Obama đã chính thức trở thành vị tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ, trong một buổi lễ nhấn mạnh niềm hy vọng, sự đoàn kết dân tộc và rằng Hoa Kỳ vẫn sẽ là lãnh đạo của thế giới.
Dẫu đã biết rằng ngày 20.01.2009 là ngày lịch sử không chỉ của nước Mỹ mà cả thế giới, đã được thông báo sẽ có từ 1.5 - 2 triệu người đổ về trung tâm dự lễ, thì khi viết những dòng này, tôi vẫn còn trong cảm giác ngất ngây vì chưa bao giờ trải qua một ngày hội chính trị như vậy.

Ngày hội

Buổi sáng sớm, tôi đến ga Metro để đón tàu điện vào trung tâm. Tại ga, số lượng người đông tới mức theo sự sắp xếp của cảnh sát, chúng tôi phải chầm chậm đi bộ khoảng 40 chục mét, rồi...đi vòng trở lại thêm 40 mét nữa trước khi vào được ga.

Toàn bộ thời gian từ lúc có mặt ở ga cho đến khi bước qua được cổng soát vé là 56 phút.

Có vài người "nhanh tay, lẹ chân", lợi dụng khi cảnh sát không để ý, đã tách hàng, lẻn vào dòng người đi trước. Nhưng hầu hết đều ngoan ngoãn đi từng bước, vui vẻ nói cười và chụp hình kỷ niệm.

Đến lúc tôi ra được khu vực ngoài trời National Mall, nơi dân chúng đổ về để chứng kiến giây phút Obama tuyên thệ, các đường phố chật cứng người. Nhiệt độ thì dưới âm, và thực ra ta chẳng nhìn thấy gì khi dõi mắt về phía khu vực lễ đài Capitol.
Image
Ông Obama tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 44 của Mỹ
Chả thế mà bài xã luận trên Washington Post sáng nay nói đứng ngoài trời thì không thấy gì, không nghe được gì; sướng nhất là xem tivi.

Nhưng tờ báo vẫn thúc giục tất cả hãy Đi vì đây là "khoảnh khắc lịch sử phi thường".

Một gia đình gồm hai vợ chồng, hai con 8 và 15 tuổi, đã đi từ bang Oklahoma tới đây. Người chồng nói với tôi rằng lần cuối ông dự một lễ nhậm chức tổng thống là năm 1977 khi Jimmy Carter bước vào Tòa Bạch Ốc.

Hơn 30 năm sau, gia đình lên thủ đô vì giống như bao nhiêu người khác, họ nói chưa khi nào họ lại tưởng tượng sẽ có một tổng thống Mỹ da đen.

Khi buổi lễ chưa bắt đầu, tôi đã thấy quanh mình có người khóc, giọt nước mắt của hạnh phúc và hy vọng.

Khủng hoảng và hy vọng

Sau khi đã đặt tay lên cuốn Kinh thánh đọc lời thề nhậm chức, vào khoảng 12h10 giờ địa phương, Tổng thống Obama bắt đầu bài diễn văn nhậm chức.

Ông cảm ơn người tiền nhiệm Bush vì "về những cống hiến của Ngài cho đất nước, về sự hào phóng và tinh thần cộng tác của Ngài trong quá trình chuyển giao này."

Một lời cảm ơn khá lạnh nhạt, và liền lập tức, tân tổng thống chỉ trích đống bề bộn mà chính quyền Cộng hòa để lại.

Ông nói có những tổng thống tuyên thệ trong giai đoạn phồn vinh và hòa bình, nhưng "những lời tuyên thệ cũng thường vang lên trong lúc dông bão".

Tân tổng thống liệt kê những ví dụ của khủng hoảng mà Hoa Kỳ đang hứng chịu: chiến tranh, kinh tế suy yếu ("hậu quả của lòng tham và vô trách nhiệm của vài kẻ, nhưng cũng là sự thất bại tập thể khi không dám có lựa chọn khó khăn và chuẩn bị cho đất nước trước thời kỳ mới"), người dân mất nhà mất việc, hệ thống y tế tốn kém, trường học yếu kém...
Image
Cả triệu người tề tựu ở National Mall để theo dõi
Không kém phần nghiêm trọng là "tâm trạng mất niềm tin trên toàn đất nước - một tâm trạng sợ hãi đeo đẳng rằng sự đi xuống của nước Mỹ là không thể tránh khỏi, và rằng thế hệ kế tiếp sẽ phải hạ bớt tầm nhìn".

Bài diễn văn là sự cân bằng giữa thực tế đầy thách thức và niềm hy vọng mà tân tổng thống hứa hẹn đem lại.

Người xem vỗ tay khi ông nói "chúng ta tụ hội về đây bởi chúng ta đã lựa chọn hy vọng thay vì sợ hãi, cùng hướng tới một mục tiêu chung thay vì có xung đột và bất hòa".

Trách nhiệm người dân

Một thông điệp quan trọng, không chỉ trong bài diễn văn mà đã được ông Obama đề cập trong mấy ngày gần đây, đó là người dân Mỹ phải nâng cao tinh thần cộng đồng, trách nhiệm tập thể để phục hồi Giấc mơ Mỹ.

Phát biểu hôm thứ Hai ở một trường trung học, ông nói: "Chính phủ chỉ có thể làm đến mức nào thôi. Nếu chúng ta chờ đợi ai đó làm giúp, việc sẽ chẳng bao giờ xong".

Trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống, chữ "tôi" chỉ dùng ba lần, trong lúc đại từ "chúng ta" xuất hiện hơn 60 lần, vừa để hứa hẹn một chính quyền "của nhân dân" mà cũng là lời kêu gọi nhân dân góp sức.

Ông kêu gọi người Mỹ trở lại với những giá trị "cũ" mà cha ông đã dựa vào để dựng xây nước Mỹ: "sự chăm chỉ và trung thực, dũng cảm và công bằng, rộng lượng và tò mò, trung thành và yêu nước".

Cái người Mỹ phải có là "một thời kỳ mới của tinh thần trách nhiệm, sự nhận diện của từng người Mỹ rằng chúng ta có nhiệm vụ với bản thân, quốc gia và thế giới".

Bác bỏ sự hồ nghi của những người "có trí nhớ quá ngắn", ông Obama nhắc lại nước Mỹ đã luôn có thể vượt qua thách thức "khi trí tưởng tượng của mọi người được hòa trong một mục đích chung, điều cần thiết cho sự can đảm".


Những bậc cha ông khai quốc của chúng ta...đã soạn thảo ra một bản hiến chương đảm bảo việc việc pháp trị và các quyền con người, một bản hiến chương đóng góp bằng máu của nhiều thế hệ


Barack Obama, diễn văn nhậm chức

Ông khẳng định nước Mỹ vẫn giữ vị trí lãnh đạo thế giới, nhưng trong cử chỉ phê phán ngầm "cuộc chiến chống khủng bố" của ông Bush, ông nói Hoa Kỳ sẽ không lựa chọn một trong hai, "giữa an toàn và các lý tưởng của chúng ta".

Làm như thế, nước Mỹ sẽ xứng đáng với "bản hiến chương đảm bảo pháp trị và các quyền con người, một bản hiến chương đóng góp bằng máu của nhiều thế hệ".

Ông cũng ngầm hứa Hoa Kỳ sẽ dùng vũ lực có trách nhiệm khi nói "sức mạnh của chúng ta lớn mạnh dần là nhờ chúng ta đã sử dụng nó một cách cẩn trọng".

Lần đầu tiên trong một diễn văn nhậm chức tổng thống Mỹ, ông Obama có thông điệp cho thế giới Hồi giáo: "Chúng ta tìm hướng đi tới mới, dựa trên lợi ích chung và sự tôn trọng lẫn nhau".

Trong tiếng vỗ tay của triệu người có mặt, tân tổng thống cũng nhắn gửi: "Đối với những kẻ muốn đạt mục tiêu bằng cách khủng bố và giết người vô tội,...các người không thể tồn tại lâu hơn chúng ta, và chúng ta sẽ đánh bại các người."

Đây không phải là diễn văn xuất sắc nhất mà Barack Obama từng đọc; nó không đạt tới gần mức tuyệt hảo như bài nói tại đại hội đảng Dân chủ 2004 hay diễn văn chiến thắng hồi tháng 11 năm ngoái.

Điều này không có gì lạ, vì theo cố sử gia Arthur Schlesinger Jr, diễn văn nhậm chức tổng thống "là hình thức nghệ thuật tầm tầm. Nó ít khi là dịp cho tư tưởng độc đáo hoặc kích thích suy tư".

Có thể xét theo chiều dài lịch sử, diễn văn ngày hôm nay của vị tổng thống thứ 44 không độc đáo, nhưng chắc chắn nó "kích thích suy tư", không chỉ cho người Mỹ mà cả công dân từ các quốc gia khác.

Cho đến ngày 20.01, người ta xét đoán Barack Obama hầu như dựa trên ngôn từ của ông.

Sau diễn văn ngày hôm nay, tổng thống phải bắt tay vào hành động.

Thách thức trước mặt ông và nước Mỹ là vô cùng lớn, nhưng ngày hôm nay, bài diễn văn đem lại hy vọng rằng từ đây, tình hình sẽ khác.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

"Lạy ông tôi ở bụi này!"

Ngô Nhân Dụng
Người Trung Hoa ở lục địa phiên âm tên Tổng Thống Obama sang tiếng nước họ, khi viết ra và đọc theo lối Hán Việt thì người mình đọc là “Áo Ba Mã.” Cũng giống như tên cựu Tổng Thống Bush đọc là “Bố Thập” - họ thêm chữ “tiểu” để khỏi lầm với cụ Bush già. Những chữ Áo Ba Mã chỉ dùng để phiên âm, không có ý nghĩa nào cả. Riêng chữ Áo ngụ ý là sâu xa, kín đáo, hơi khó hiểu. Chắc lời lẽ của Tổng Thống Obama có phần “áo nghĩa” hoặc “uyên áo” quá, nhà nước Cộng Sản Bắc Kinh sợ dân chúng không hiểu nổi, cho nên bữa rồi họ đã cắt bớt bài diễn văn của ông, cho dễ hiểu hơn.

Ðiều đáng khen ngợi là chính quyền Bắc Kinh đã cho phép dân được coi cả buổi lễ tuyên thệ của ông Obama trên đài truyền hình CCTV. Ít nhất, các thanh niên thiếu nữ Trung Hoa hiểu tiếng Anh sẽ được nghe những ý kiến ít khi họ được nghe trên ti vi của họ. Quan trọng hơn, họ được chứng kiến cảnh thay đổi chính quyền, thay đổi đảng cầm quyền, thay đổi người lãnh đạo, mọi chuyện diễn ra một cách hòa bình, hai trăm năm rồi vẫn diễn ra như vậy. Không ai phải ca tụng một chủ nghĩa, một lãnh tụ, một lý thuyết vẩn vơ nào cả, người dân một nước tự lo được việc nước của họ. Ðây là một bài học cụ thể về lối sống tự do dân chủ.

Nhưng khi ông Obama nhắc đến sự kiện chủ nghĩa Cộng Sản đã thất bại trước niềm tin vào tự do dân chủ của dân Mỹ thì ông bị kiểm duyệt ngay. Ðó là câu ông Obama nói, “Hãy nhớ rằng các thế hệ trước chúng ta đã đánh ngã chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa Cộng Sản không phải bằng hỏa tiễn và xe tăng, mà bằng... niềm tin tưởng bền bỉ.” Ðài truyền hình mới phát câu ông Obama nói tên “Cộng Sản” thì âm thanh bị cúp ngay, người ta thấy miệng ông tổng thống Mỹ tiếp tục mấp máy nhưng không có tiếng nói. Một xướng ngôn viên ngồi cười rồi lúng túng mấy giây đồng hồ rồi quay ra phỏng vấn một phóng viên của đài về các vấn đề kinh tế của tân tổng thống Mỹ, khiến anh bạn phóng viên cũng không hiểu tại sao mình bị chặn lại giữa đường như thế. Ngay lập tức các báo đài, mạng lưới ở Trung Quốc cũng kiểm duyệt như đài truyền hình trung ương! Họ là như vậy là khôn hay dại!

Lễ tuyên thệ của ông Obama diễn ra vào lúc quá nửa đêm ở Trung Quốc, thành ra chắc chỉ có những bạn trẻ giỏi thức khuya hay các cụ già bị bệnh mất ngủ mới đón coi (mà các cụ thì không mấy người biết tiếng Anh). Nếu bộ máy kiểm duyệt của Cộng Sản Trung Quốc khôn hơn một tý thì họ cứ để yên cho ông Obama nói. Người nghe sẽ chẳng mấy ai nhớ hết các chi tiết; còn người nào nhớ thì cũng coi lời nói của ông tổng thống Mỹ là bình thường. Ðã là chuyện bình thường thì chẳng ai muốn đem ra kể cho người khác nghe. Có người dân Trung Quốc nào lại đi lén lút thì thào kể với bạn bè rằng: “Này, cái anh tổng thống mới bên Mỹ nó bảo nước Mỹ nó thắng Cộng Sản đấy nhé!” Nói một điều ai cũng biết rồi sẽ chỉ bị cười, chê là ngớ ngẩn! Ai chẳng biết nước Mỹ đã đứng đầu khối tư bản còn Nga đứng đầu khối Cộng Sản? Ai chẳng biết nước Mỹ không đánh đổ được chế độ Cộng Sản ở Nga bằng quân sự; mà dân Nga họ tự xóa bỏ chủ nghĩa Cộng Sản sau khi thấy nó tào lao quá.

Nếu đài CCTV không kiểm duyệt, chắc chắn mấy câu ông Obama nói sẽ ít người Trung Hoa chú ý. Nhưng sau khi nghe nói đài CCTV cắt xén bài diễn văn của ông Obama, tự dưng bản tin gây ồn ào trong giới vào Internet ở Trung Quốc. Người nọ kháo người kia, ai cũng tò mò muốn tìm đọc nguyên bản của bài diễn văn đó. Số người chú ý đến bài diễn văn của ông Obama cao hơn gấp bội. Rõ ràng là các đồng chí Cộng Sản đã quảng cáo cho ông tổng thống Mỹ. Mặc dù bản dịch bài diễn văn bị cắt xén khi đăng trên mạng lưới Sina.com, mạng tin tức lớn nhất ở Trung Quốc, rất nhiều người vẫn vào coi, và trong một cuộc thăm dò dư luận nhiều người khen là “tuyệt tác.” Người Trung Hoa tò mò vẫn có thể đọc bản dịch tiếng Hoa đầy đủ, không bị kiểm duyệt, trên các mạng lưới của Hồng Kông. Một độc giả của mạng lưới Netease đã đưa lên bản dịch đầy đủ bài diễn văn của ông Obama trước khi bị xóa.

Một đoạn khác cũng bị Cộng Sản Trung Quốc kiểm duyệt chỉ chứng tỏ họ “có tật giật mình.” Ông Obama nói: “Ðối với những kẻ bám lấy quyền lực bằng tham nhũng và dối trá và bịt miệng người đối lập, (chúng ta) nói cho họ biết rằng họ đi ngược dòng lịch sử...” Ðoạn văn này không hề nhắc đến tên quốc gia nào cả, nhưng nghe đến những chữ “tham nhũng, dối trá” rõ ràng là các đồng chí ở Bắc Kinh và Hà Nội đều giật mình! Nghe đến chữ “bịt miệng người đối lập” thì họ coi ông Obama rõ ràng đã nói đến đích danh cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh, dù không nêu rõ tên, cho nên phải phản ứng tức khắc! Vì họ đang đàn áp trong cùng lúc đó!

Trước khi ông Obama tuyên thệ, công an Trung Cộng đã bắt một nhà trí thức đối lập ở Vũ Hán. Ông Diêu Lập Pháp (Yao Lifa) là một trong số hàng ngàn nhà trí thức đã ký tên trong bản Hiến Chương 08 đòi các quyền tự do dân chủ cho dân Trung Quốc. Theo lời con trai ông kể, ông Diêu đã “biến mất” trong khi đi tới dự cuộc tiếp tân của tòa lãnh sự Mỹ tại Vũ Hán để coi truyền hình cảnh tân tổng thống Mỹ nhậm chức. Trong quá khứ đã nhiều lần ông biến mất như vậy!

Như quý vị đọc tin trên báo này, các tờ báo ở Việt Nam cũng được lệnh cắt bỏ những đoạn mà các đồng chí Bắc Kinh đã cắt. Có những mạng lưới sơ suất để lọt, nhất là để lọt hai chữ Khe Sanh, bèn bị cạo sửa ngay.

Tại sao Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam lo kiểm duyệt kỹ như vậy? Có thứ chúng ta hiểu được. Ông Obama nói nước Mỹ đánh bại chủ nghĩa Cộng Sản bằng niềm tin bất biến vào tự do dân chủ, điều này chạm nọc các đồng chí. Họ phải cắt vì nghe thấy ngượng ngùng. Cộng Sản Việt Nam có lý do để kiểm duyệt hai chữ Khe San. Vì ông Obama đã vinh danh các chiến binh Mỹ chiến đấu ở Khe Sanh. Trong khi đó thì nhiều gia đình cán binh Cộng Sản đến giờ cũng vẫn không biết cha, anh họ đã bỏ mình ở Khe Sanh hay ở nơi nào khác. Và nếu những anh bộ đội đó đã chết ở Khe Sanh thì những hy sinh của họ đưa đất nước về đâu? Họ chết để cho trẻ em ở nông thôn đi học tiểu học cũng phải đóng tiền? Ðể đảng và nhà nước được xuất cảng phụ nữ Việt Nam sang Ðài Loan hay Ðại Hàn? Hay để các ông Huỳnh Ngọc Sỹ, Bùi Tiến Dũng, và Nguyễn Việt Tiến nhiều cơ hội làm giầu hơn? Ðó là những câu hỏi nhức nhối.

Nhưng tại sao hai chính quyền Cộng Sản ở Á Châu lại kiểm duyệt khi ông Obama nói chung chung đến những chế độ “tham nhũng, lừa dối và đàn áp đối lập?” Người dân Việt Nam và Trung Hoa dù có nghe cũng có thể không để ý đến câu hỏi đó. Vì trên thế giới còn nhiều dân tộc khác cũng bị chính quyền tham nhũng bóc lột, bị lừa dối và bị đàn áp. Nhưng khi cả hai chế độ Cộng Sản còn lại trên trái đất “nhất trí” cắt bỏ lời ông Obama trong đoạn này thì dân chúng hai nước sẽ phản ứng cách khác. Họ sẽ nghĩ ra ngay là câu nói của ông tổng thống mới ở Mỹ nhắm đặc biệt vào chính bọn tham nhũng, dối trá và đàn áp đối lập đang ngồi ở Hà Nội và Bắc Kinh! Người dân bình thường suy nghĩ giản dị sẽ hỏi: Nếu không “có tật giật mình” thì tại sao các cụ ấy phải cắt bỏ? Người ta sẽ tìm đọc bài diễn văn của ông Obama để tìm thêm những dấu hiệu khác, những dấu hiệu của hy vọng! Hành động kiểm duyệt là một lối tự thú nhận chính họ là một bọn tham nhũng và dối trá! Ðúng là “lạy ông tôi ở bụi này!”

Cuối cùng, hành động kiểm duyệt của hai nhà nước Cộng Sản đều tạo ra tác dụng ngược lại với ý muốn của họ. Họ muốn bịt miệng ông tổng thống Mỹ nhưng lại khiến người ta tò mò muốn nghe ông ta hơn. Họ không muốn dân biết chính phủ mới ở Mỹ vẫn tiếp tục lên án các chế độ độc tài tham nhũng, nhưng bằng hành động kiểm duyệt họ lại tự thú nhận chính họ là những chế độ độc tài tham nhũng bị ông ta vạch mặt! Ngay trong việc kiểm duyệt lời nói của người ta, đó cũng là một hành động của những kẻ quen dối trá! Chính những anh gian dối, cứ gian dối mãi thế nào cũng có lúc tự lột mặt nạ của mình!

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Bước đi thời gian
Tác giả: Phạm Đình Lân

Image
Hồi còn nhỏ, cứ đến những ngày giáp Tết, tôi lại theo ông tôi sang nhà thờ tổ của dòng họ để dọn dẹp, sửa soạn chuẩn bị cho cúng lễ, hương khói đón xuân. Nhà thờ tổ cạnh nhà tôi trong một khu đất khoảng vài ngàn mét vuông dựa lưng vào sườn đồi.

Hồi đó, đời sống khó khăn, cha tôi xin hợp tác xã khu đất đồi này để có điều kiện cải thiện đời sống, vợi bớt khó khăn. Vì ông tôi là trưởng họ cho nên cha tôi chuyển cả nhà thờ họ để dễ bề trông coi.
Image
Chiều sâu năm tháng lắng đọng trong không gian nhỏ hẹp của lòng ấm,
đáy chén và vương vất qua những vết rạn chân chim...

Công việc đầu tiên ông tôi làm là lấy từ trong chiếc hộp gỗ đã ngả màu quá khứ một bộ ấm trà và sáu cái chén bằng sứ với những đường hoa văn uốn lượn tinh xảo.

Chẳng biết bộ ấm trà này có tự bao giờ ông tôi cũng không biết được, vì theo ông nói khi ông bằng tuổi tôi nó đã hiện diện trên bàn thờ trong những ngày rằm tháng Tết.

Chiều sâu năm tháng lắng đọng trong không gian nhỏ hẹp của lòng ấm, đáy chén và vương vất qua những vết rạn chân chim, do ảnh hưởng của thời tiết nóng lạnh, hanh khô, ẩm ướt thổi vào.

Ông tôi cẩn thận dùng nước ấm rửa từng cái một rồi dùng khăn bông lau khô. Bàn tay thô ráp in hằn những tháng năm khó nhọc quen với đào đất phát rẫy, cấy cày, vậy mà giờ đây thật nhẹ nhàng, mềm mại.

Ông nói với tôi đây là một trong những bảo vật ít ỏi còn sót lại của dòng họ, cho nên phải có trách nhiệm giữ gìn. Biết bao thế hệ tổ tiên, ông bà đã nối tiếp nhau gây dựng, trải qua binh đao chiến tranh, hiểm họa thiên nhiên biến cố qua đời này đến đời khác để trường tồn.

Ông vừa làm vừa kể chuyện, mái tóc cước trắng, chòm râu rung rung trong gió se lạnh. Ông nhẹ tâm cả trong chuyện kể và trong từng động tác của mình.

Khi đồng hồ điểm chín giờ sáng, ông từ từ đứng dậy đi đến chiếc tủ chè, mang ra một lọ độc bình độ chừng hai lít nước, rồi từ từ nghiêng bình cho nước chảy vào lòng ấm. Tiếp theo ông lại từ từ chiên nước ra từng chén một.

Chọn thời điểm chín giờ sáng, cũng chỉ là quy ước của dòng họ từ trước tới nay. Cũng có người cho rằng thời điểm này là lúc con người thoáng đạt và thanh tịnh nhất, nên làm những việc có giá trị tâm linh. Ông tôi bảo, đây là nước cúng tổ tiên trong những ngày Tết.
Image
Ngày Tết truyền thống



Nước cúng là nước mưa được ông tích trữ từ lâu. Để có được chừng ấy nước mưa cho những ngày cúng Tết là cả một kì công. Ông chọn những ngày bầu trời xanh trong, gió nhẹ, thoáng đạt mà vẫn có mưa mới tốt.

Chờ mưa một lúc, gột sạch những bụi bẩn trên mái hiên, trong không gian, để hạt mưa như những hạt ngọc, rơi lâm râm đều hạt. Trước lúc hứng nước ông tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo, thắp một nén nhang trước hiên nhà xin trời đất.

Công việc này ông tôi thực hiện một cách tỷ mỷ thuần thục hết Tết này qua Tết khác. Tôi lon ton theo ông cả một thời thơ ấu và cùng với thời gian lớn lên tôi mới lờ mờ nhận ra những giá trị tâm linh, sự thành kính của ông tôi cứ nhiều lên, dày thêm, tự thuở nào mà nên mà thành.

Mấy ngày Tết đối với ông tôi thật có ý nghĩa. Sáng ba mươi Tết, mồng một đầu xuân và ngày mồng hai chuẩn bị tắt nến nhà thờ là những lúc ông tôi thay nước.

Vẫn dáng vóc ấy, vẫn những động tác thuần thục nhẹ nhàng ấy, tưởng đơn giản, nhưng là cả tấm lòng đã trải bao năm ông tôi làm, ông tôi neo giữ.

Image
Dẫu bước đi thời gian ta không thể nào níu giữ được,
nhưng những gì để lại phía sau, cái gì mang theo lại do chính ta, tự con người quyết định


Bây giờ ông tôi đã trở thành người thiên cổ. Công việc này cha tôi tiếp tục duy trì. Tuy nhiên, cuộc sống hiện tại bộn bề lo toan, thời gian như trôi đi nhanh hơn, nên cha tôi chẳng thể tỉ mẩn như ông tôi ngày trước được.

Tôi nhón người vượt khỏi lũy tre làng ra chốn thị thành học tập và mưu sinh, nhưng những kí ức về ông tôi vẫn còn nguyên vẹn.

Những bài học đầu tiên về xã hội nhân văn, về văn hóa tộc Việt, tôi chợt hiểu ra rằng, việc làm của ông tôi, dù chỉ là quy ước của dòng họ, dù chỉ là một thói quen nhưng là một bài học không lời thật cao cả trước tổ tiên mà con cháu như tôi cần níu giữ.

Dẫu bước đi thời gian ta không thể nào níu giữ được, nhưng những gì để lại phía sau, cái gì mang theo lại do chính ta, tự con người quyết định.

Phạm Đình Lân

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Không khí đón Tết âm lịch khắp thế giới

Cùng với Việt Nam, người dân tại nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Singapore, Malaysia...
và cộng đồng người châu Á tại các nước phương tây đang đón chào ngày đầu tiên của năm theo lịch âm.


Image
Bức tượng trâu khổng lồ tại Jenjarom, Malaysia, đón chào năm con trâu 2009. Ảnh: AP.

Image
Bé trai người gốc Hoa cầm 3 nén hương đi lễ tại một ngôi chùa ở thành phố Richmond,
tỉnh British Columbia của Canada. Ảnh: AP.

Image
Pháo hoa đón chào năm mới âm lịch tại thành phố Thượng Hải, Trung Quốc. Ảnh: AP.

Image
Một phụ nữ cầu nguyện trong đêm giao thừa tại đền Khổng Tử ở Bắc Kinh.
Nhiều người chọn cách lên chùa cầu nguyện vào thời khắc đầu tiên của năm mới. Ảnh: AFP.

Image
Đám đông chen lấn nhau để cắm những que hương khổng lồ tại một ngôi chùa ở Singapore,
quốc đảo có đa số dân là người gốc Hoa. Ảnh: AP.

Image
Múa lân cầu năm mới làm ăn phát tài tại Sở giao dịch chứng khoán Philippine ở thủ đô Manila. Ảnh: AFP.

Image
Các nghệ sĩ Trung Quốc chụp ảnh dưới những chiếc đèn lồng rực rỡ tại một ngôi chùa ở Bắc Kinh,
sau suất biểu diễn mừng năm mới. Ảnh: Getty Images.


Image
Người dân địa phương đổ về chùa Lung Shan ở thành phố Đài Bắc, thuộc đảo Đài Loan Trung Quốc trong ngày đầu năm mới. Ảnh: AFP.

Image
Người dân Trung Quốc đốt pháo hoa trong đêm giao thừa tại Bắc Kinh,
hòa chung không khí đón năm mới âm lịch cùng hàng triệu người khắp châu Á đêm 26/1. Ảnh: AFP.

Image
Một người đàn ông lọt thỏm giữa rừng nến khổng lồ trong một ngôi chùa
ở Jakarta, Indonesia, trong đêm giao thừa. Ảnh: Reuters.

Image
Người đi lễ chùa đang cắm thanh hương loại cực lớn ở thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia. Ảnh: Reuters.

Image
Ngôi chùa Thean Hou ở Kuala Lumpur rực sáng nhờ hàng nghìn chiếc đèn lồng
trong đêm chuyển giao giữa năm con chuột sang năm con trâu. Ảnh: AFP.

Image
Hàng nghìn người đổ về một ngôi chùa ở Singapore trong đêm giao thừa. Ảnh: AP.

Đình Chính

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

CƠM VÀ PHỞ

Trong một số báo gần đây, gã đã phân tích lời các cụ ta ngày xưa đã bảo :
- Ông ăn chả, bà ăn nem. Ðại khái có nghĩa là :
- Nếu ông có bồ nhí, thì bà cũng phải có kép nhỏ. Nói như vậy, thì hơi bị oan cho quí bà quí cô một tí, bởi vì người phụ nữ thường sống bằng cả trái tim của mình và tình yêu đối với họ bao giờ cũng chiếm địa vị số một. Do đó, họ thường chung thủy và ít khi đi hoang trong tình yêu. Còn đờn ông con giai thì khác. Tục ngữ cũng đã bảo :

Ðờn ông những tám lá gan.
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.


Vì thế, chuyện ăn nem của các ông chồng xem chừng có vẻ chẳng đặng đừng, ai mà muốn thế, chẳng qua là bị ép uổng Giời bắt thế. Thực vậy, khung cửa đầu tiên để cho tình yêu đi vào người đờn ông thường là con mắt. Người đờn ông dễ bị hớp hồn bởi vẻ đẹp bên ngoài. Chẳng thế mà "ranh ngôn thời nay" đã bảo : - Lập gia đình giống như đi ăn nhà hàng với bạn bè. Bạn gọi món bạn muốn, nhưng khi nhìn thấy những gì người khác gọi, bạn lại ước chi mình đã gọi giống như vậy. Câu ranh ngôn này thực đúng với kinh nghiệm, với qui luật của muôn đời: - Vợ người thì đẹp, văn mình thì hay. Trong những năm gần đây, báo chí tại Việt Nam không còn dùng cái phạm trù "chả và nem" nữa, bởi vì nó đã xưa rồi Diễm ơi, nhưng lại thích dùng cái phạm trù "cơm và phở". Cơm ám chỉ bà xã, còn phở ám chỉ bồ nhí. Gã xin ghi lại nơi đây những lời phát biểu thật hăng tiết vịt trong cuộc đấu láo vung vít tại một câu lạc bộ "bồ nhí". Mấy ông to gan lại bạo phổi, muốn thiết lập phòng nhì, đã vuốt chòm râu dê của mình mà xuất khẩu thành thơ. Ông thì ngâm nga :

Vợ là địch,
Bồ bịch mới là ta.
Khi chiến sự xảy ra,
Ta buộc về với địch,
Nằm trong lòng địch,
Rục rịch ta nhớ ta.


Có ông lại cười khà khà mà ví ví von von :

Sáng đèo cơm đi ăn phở.
Trưa hăm hở rước phở đi ăn cơm.
Chiều cơm về nhà cơm, phở về nhà phở.
Tối nằm với cơm, nghe thơm thơm mùi phở.


Nói thế thì nói, nhưng vẫn phải luôn luôn đề cao cảnh giác:

Vợ là…"cơm nguội" của ta,
Nhưng là…"phở tái" của cha láng giềng!!!


Hôm nay, gã xin dựa vào một tài liệu bất ngờ chộp được ở đâu đó để phân tích về những cái lợi và những cái hại của cơm và của phở. 1/ Nhận định thứ nhất, đó là cơm thường được ăn khi đói, còn phở thường được ăn khi…thích. Thực vậy, thiên hạ thường bảo: - Con người ăn để mà sống, chứ không sống để mà ăn. Như một chiếc máy, muốn chạy tốt thì cần phải nạp đủ nhiên liệu, con người cũng vậy, chính khi ta ăn là lúc ta nạp nhiên liệu vào cho cơ thể, nhờ đó cơ thể mới có thể lao động. Như thế, ăn trở thành một sinh hoạt chính yếu nơi con người. Ta phải vất vả, bới đất nhặt cỏ, đổ mồ hôi sôi nước mắt mới tìm được chén cơm manh áo cho bản thân và gia đình. Tuy nhiên, nếu nghĩ rằng: sống để mà ăn, thì chuyện đời lại mang một ý nghĩa khác. Lúc bấy giờ, người ta sẽ ăn cho khoái khẩu. Thánh Phaolô cũng đã than rằng:
- Họ lấy cái bụng của mình làm chúa. Bình thường, nếu đói thì phải ăn, bẵng không, tay chân sẽ bủn rủn, thậm chí con ruồi đậu vào mép cũng chẳng buồn xua. Lúc ấy, bỗng cảm thấy mình là "người Việt mắt hoa" chính hiệu con nai vàng ngơ ngác, hay lại cảm thấy như có cả một sư đoàn kiến đang lổm ngổm bò trong bụng. Ðối với người Việt Nam, thực phẩm được nhồi nhét vào cái bao tử rỗng tuếch lúc bấy giờ thường là cơm. Chín hột gạo mới được một hột cơm:

- Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hột, đắng cay muôn phần.


(híc, Chính xác. Lỡ dại nếm có 1 miếng dẻo thơm, bây giờ cay đắng khôn nguôi) Tóm lại, cơm thường được ăn khi đói, còn phở thường được ăn khi…thích. Cũng vậy, khi hứng tình nổi lên, nhất là trong túi lại rủng rỉnh có một nắm tiền, anh chồng chán cơm bèn đi tìm…phở ở khách sạn, quán bia ôm hay cà phê đèn mờ để xơi cho đã thèm. 2/ Nhận định thứ hai, cơm - đơn giản, phở - đa dạng. Thực vậy, chỉ việc vo gạo và cho vào nồi, rồi đổ nước và đun lên, thế là xong ngay một nồi cơm. Ðơn giản chỉ có vậy.

Hơn thế nữa, ngày nào ta cũng xơi cơm, ít là hai lần, thành thử cơm trở thành một thứ thực phẩm quá quen thuộc. Thậm chí, đôi lúc vì quá quen thuộc mà hóa ra nhàm chán. Trong lúc nhàm chán, "ngấy đến tận cần cổ", thấy cơm mà nuốt chẳng vô, đi qua một tiệm phở, chỉ cần ngửi thấy cái hương vị thơm tho bốc lên từ thùng nước lèo, là nước miếng đã đầy tràn cả miệng. Phở thật tuyệt vời và đa dạng. Trước hết, phở đa dạng về chủng loại.

Ở miền Nam gã thấy có phở gà, phở bò. Riêng về phở bò, thì có phở tái và phở chín. Nhưng ở miền Bắc, có lần đi chơi vịnh Hạ Long, bất ngờ ghé vô một quán bên đường để ăn sáng, gã còn thấy có cả phở vịt và phở ngan nữa. Có lẽ vì sợ bị lây nhiễm bệnh cúm gà, mà thiên hạ đã chế biến thành những thứ phở "tương cận" chăng ? Trước năm 1975, tại Saigon có những tiệm phở thật nổi tiếng, đã từng…chui vào văn học sử, vì được ngòi bút của mấy ông văn thi sĩ đá động tới. Thậm chí báo Văn Học còn phát hành cả một số đặc biệt, để chỉ nói về phở mà thôi. Ðiểm qua những tiệm nổi tiếng, gã thấy người ta ca tụng phở gà ở đường Hiền Vương, phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ, phở Quyền và phở 94 hình như ở đường Võ Tánh, Phú Nhuận…Tại những tiệm nổi tiếng này, người ta phải xếp hàng và chờ đợi tới phiên của mình, mới có được một tô phở nóng. Tiếp đến, phở còn đa dạng về khẩu vị.

Bước vào một tiệm phở, ta có thể gọi tái hay chín. Mà tái thì còn có thể là tái nạm gầu gân, rồi cộng thêm với nước béo. Trước một tô phở nóng hổi như đang bốc khói, tùy sở thích ta có thể nêm tương đậu và tương ớt, vắt thêm một vài miếng chanh, rồi lại còn ngắt mấy cọng rau thơm mà bỏ vô. Ực. Quả thực là đậm đà khó quên. Chẳng thế mà phở đã trở thành một món ăn đặc sắc của người Việt Nam ở trong nước cũng như ở ngòai nước. Ngay cả ông Clinton, tổng thống nước Mỹ, khi sang thăm Việt Nam, đã đi bát phố và cũng đã xơi tái một tô phở còn gì. Hơn thế nữa phở lúc nào cũng Hot- nóng hổi. Hồi đó tới giờ, chỉ nghe nói có cơm nguội, chứ chưa nghe phở nguội bao giờ. Chính vì những lý do trên, phở thường thơm tho và hấp dẫn hơn cơm, ấy là gã chưa nói tới những trường hợp gặp sự cố, nồi cơm bị trên sống, dưới khê, tứ bề nhão nhoét…thật là chán mớ đời.

Cũng thế, bà xã suốt ngày ở với ta, sáng tối đụng đầu nhau theo kiểu: Ði ra chỉ mình với ta,
Ði vào thì cũng chỉ ta mới mình. Miết rồi hóa nhàm hóa chán. Ấy là gã chưa nói tới trường hợp có những bà vợ, một khi đã "đưa chàng về dinh" thì không còn lo lắng tới ngoại hình của mình nữa. Trước kia chải chuốt bao nhiêu, thì bây giờ lại lôi thôi lếch thếch bấy nhiêu. Mặt mũi thì lem luốc chẳng còn hình tượng người ta. Áo quần thì xốc xếch ống cao ống thấp.

Suốt ngày ta tắm ao ta,
Tắm hòai tắm mãi hóa ra đen sì.
Hỏi ra mới biết là vì
Ba năm nước vẫn kiên trì không thay.


Trong khi đó, bồ nhí thì lại đa dạng về cách thức ăn mặc và chiều chuộng, thành thử "cuốn hút" hơn, khiến ông chồng cứ chết mê chết mệt, chứ chẳng phải bùa mê thuốc lú nào cả. 3/ Nhận định thứ ba, cơm ăn ở nhà, phở la cà ngòai quán, Quán thường thì vui hơn ở nhà. Bầu không khí ở nhà thường tẻ nhạt, nhất là khi bà vợ mắc phải chứng bệnh…than. Ông chồng suốt ngày vất vả làm việc để kiếm tí tiền còm, như cánh chim tha mồi về tổ. Về tới tổ, chỉ muốn được nghỉ ngơi, được chiều chuộng cho bõ công lao động vất vã. Vừa thò đầu vào nhà là đã ướt đẫm những điệp khúc mùa mưa. Nào là thời buổi gạo châu củi quế, vật giá leo thang. Nào là con cái ngang bướng ngỗ nghịch. Nào là bệnh tật đau yếu…Thôi thì trăm thứ bà giằng. Tẻ nhạt đã đành, mà nhiều khi còn trở nên căng thẳng và ngột ngạt. Chẳng hạn như khi bất đồng ý kiến với nhau về chuyện mua sắm hay về chuyện dạy bảo con cái. Như khi bà xã bị bể hụi, vay mượn tùm lum nên nợ nần cứ giáng xuống trên đôi vai gầy guộc.

Ở quán người ta được tự do ăn to nói lớn, tự do cười đùa thỏa thích, nhất là khi gặp được mấy tên bạn chí cốt nữa, tha hồ mà "xả sú bắp", cộng thêm vào đó mấy cô chiêu đãi viên cứ lượn qua lượn lại trong bộ áo quần quá hòan cảnh thì cứ như là lạc chốn thiên thai. Từ gắp mồi để bỏ vào miệng ta, nâng hộ cốc để đổ bia vào mồm ta, cho vay bờ vai tựa đầu, cho mượn đùi nguyên cặp để gếch chân, rồi lại còn khăn nóng khăn lạnh… các cô cứ sẳn sàng chìu chuộng tất tã. Thảo nào mấy ông cứ vắt óc ra một ngàn lẻ một lý do để dối gạt các bà, nào hội nào họp, nào chiêu đãi, nào tiếp khách đón sếp…tha hồ mà ghé quán. Cho tới lúc này thì phở đang chiếm phần ưu thế, dầu vậy cuộc đời bao giờ cũng có những chữ "nhưng" chết tiệt của nó. Chính vì những chữ Nhưng "chết tiệt" này mà cơm dần dần lấy lại được vị trí canh tranh số một của mình. 4/ Nhận định thứ tư, cơm thường được bảo quản kỹ và không phụ gia bảo quản nên nguy cơ gây ngộ độc thấp, còn phở thường không được bảo quản kỹ và đầy các chất phụ gia nên nguy cơ bị ngộ độc cao. Thực vậy, cơm được nấu chín và để trên bếp, tới khi ăn mới bắc xuống, nên bữa ăn trong gia đình bao giờ cơm cũng nóng và canh cũng sốt, cho nên rất an toàn và bảo đảm cho sức khỏe.

Trong khi đó phở thì... Cách đây không lâu, báo chí tại Việt Nam đã phanh phui hầu hết những cơ sở làm bánh phở, tại Hà Nội và Saigon, vì muốn cho bánh phở được dẻo, dai và dòn, người ta đã dùng hàn the và thậm chí còn dùng cả "phoọc môn" ướp xác chít, mà cho vào bột gạo. Í ẹ. Tất cả đều là những chất độc hại cho cơ thể. Thêm vào đó, thịt dư từ ngày hôm qua, bây giờ được tái phối trí bằng cách nấu lại cho thực khách xơi. Hay thịt được thái ra, để khơi khơi giữa trời và đất, mặc cho bụi bậm từ xe cộ và những người qua lại trên đường cuốn theo chiều gió mà bám vào. Rồi ngay trong tiệm phở, ngổn ngang trên sàn những giấy lau bát, chùi miệng, những cọng rau không còn lá và cả những đờm rãi người ta khạc nhổ mà tương xuống. Ặc Ặc. Có lần gã quan sát thấy vì đông khách, nên ông đầu bếp mồ hôi mồ kê nhễ nhại vô tư rót vào thùng nước lèo cùng đống thịt thái sẵn. Sống trong gia đình với bà xã, ta không sợ bị lây nhiễm bệnh tật, mà hơn thế nữa, còn được o bế về sức khỏe một cách tận tình và chu đáo:

Dù không sinh đẻ ra ta,
Nhưng công nuôi dưỡng thật là lớn lao.
Khi ta đau ốm xanh xao,
Vợ lo chăm sóc hồng hào khỏe ngay.


Chẳng thế mà để chống lại với những chứng bệnh do tệ đoan xã hội gây nên, người ta đang hô hào trở về nếp sống chung thủy, một vợ một chồng. Chứ còn lang bang hết cô này tới cô kia, không sớm thì muộn cũng sẽ rơi vào tình trạng liệt kháng nặng nề và trầm trọng. Ngày xưa người ta thường nói đến những chứng bệnh nguy hiểm như phong tình, hoa liễu, giang mai…Vi trùng "gồ nô" được phe chị em ta trao ban cho ta, để ta lại đem về tặng cho bà xã ta, gây nên hệ lụy đớn đau cho con cháu mai hậu. Tuy nhiên, những chứng bệnh đã từng vang bóng một thời, đã từng làm mưa làm gió ấy, dường như đã chìm vào dĩ vãng, bởi vì hiện nay người ta đang ngán ngẩm trước cơn bệnh thế kỷ, cơn bệnh Sida vốn chưa có thuốc chữa.

Nhận định thứ năm, ăn cơm ăn bao nhiêu cũng được và lại đỡ tốn tiền. Còn khi ăn phở, ta chỉ được ăn theo một chế độ nào đó và luôn phải…xùy tiền ra. Ðúng thế, cuối tháng lĩnh lương, ta chỉ việc hân hoan đem về giao nộp cho bà xã, còn mọi sự lỉnh kỉnh khác như tính toán cộng trừ nhân chia…bà xã sẽ phải lo tất tật. Lúc bấy giờ ta có thể vểnh chòm râu cá chốt lên mà phán: Thế sự thăng trầm quân mặc vấn. (Chuyện đời lên xuống anh hỏi làm giề)

Hay rít một điếu thuốc lào rồi "quắc mắt khinh đời cái bộ anh". Ðến bữa, ta chỉ việc xơi, xơi bao nhiêu cũng được. Thậm chí xơi cho đến độ căng rốn cũng chẳng ai bảo sao. Có khi còn được khuyến mãi thêm vài chén. Trong khi đó, lỡ đèo bòng bồ nhí ta phải lo toan mọi sự từ A tới Z, từ nơi ăn chốn ở, những nhu cầu chính yếu của kiếp người cho tới cả những phụ tùng lỉnh kỉnh của đờn bà con gái. Tất cả đều lệ thuộc vào cái vấn đề "đầu tiên".

Nếu không có những thủ tục đầu tiên này, thì e rằng ta sẽ bị bồ nhí đá văng cái rụp. Và nếu ví ta yếu, thì đường ai người ấy đi, bởi vì tình nghĩa đôi ta chỉ có thế mà thôi. Nói cách khác, phở tốn tiền hơn cơm, nên ta chỉ có thể ăn phở khi ví ta đã căng phồng mà thôi. Tóm lại, khi không có tiền ta vẫn có thể về nhà ăn cơm, chứ đừng dại dột vác cái bản mặt tới tiệm phở. Ăn phở thiếu? Làm gì có. Phở làm cho ta tốn tiền hao bạc đã đành, mà nhiều lúc phở còn làm cho ta thân bại danh liệt.

Không thiếu gì những ông tai to mặt lớn, chỉ vì nghe theo những lời đường mật của bồ nhí, hay chỉ vì không đủ khả năng cung phụng cho những nhu cầu của bồ nhí, nên đã can đảm ăn hối lộ, anh dũng biển thủ công quĩ, để rồi bây giờ âm thầm nằm trong nhà đá bóc lịch, "vắt chân lên trán" mà ngẫm nghĩ chuyện đời. 6/ Và sau cùng, nhận định thứ sáu đó là cơm thì ta phải ăn thường xuyên, còn phở thì không nhất thiết phải là như thế. Như trên gã đã xác quyết: Cơm chính là thức ăn thường xuyên, mỗi ngày ta đều phải dùng tới hai ba lần ở nhà. Còn phở thì khác, xuân thu nhị kỳ ta mới đến tiệm. Thậm chí có người cả đời vẫn chưa biết mùi phở là như thế nào mà vẫn sống to sống khỏe. Chứ nếu thử ăn phở dăm bữa liền, thế nào ta cũng cảm thấy xót ruột và nóng cả người, nóng âm ỉ từ trong lục phủ ngũ tạng, để rồi tìm về với cơm là món ăn truyền thống. Chính vì thế, ta có thể kết luận một cách mạnh mẽ như sau :

Dù phở hấp dẫn hơn cơm, nhưng chỉ có thể ăn cơm trừ phở, chứ chẳng thể nào sực phở thay cơm. Sau những bước chân hoang, cặp kè với bồ nhí, thế nào cũng có lúc bản năng cơm thức giấc. Ấy là chưa nói tới tình huống ta bất đắc dĩ phải ở ngoài vòng phở phủ sóng vì hết tiền, vì ốm đau hay vì thân bại danh liệt…Không sớm thì muộn, những ông chồng bạc bẽo ấy cũng sẽ ca bản "Tung cánh chim tìm về tổ ấm...".

Chả biết lúc bấy giờ bà xã có còn đủ khoan dung mà tha thứ cho hay không mà thôi. Ý thức được những tình huống não nùng và bi đát do phở gây nên, không chi bằng bây giờ, hỡi những ông chồng "yêu vấu", ta hãy quyết tâm trở thành những ông xã….ngoan:

Chồng em không thích ăn quà,
Ði đâu cũng thích về nhà ăn cơm.
Con bò trọn kiếp nhai rơm,
Chồng em trọn kiếp "nhai" cơm…ở nhà.


Tới đây gã xin mượn mấy dòng thơ… thẩn của một tác giả tên là Linh Cơ, như một kết luận :

Hạnh phúc thay đời ta có "cơm",
Những người chồng tốt được danh thơm,
Ðều nhờ "cơm" cả, yêu "cơm" lắm,
Ði đâu xa rồi cũng nhớ "cơm".

Mấy ông hư chẳng thiết gì "cơm",
Ăn bánh trả tiền", "phở" ngọt thơm,
Ðã "quen mui thấy mùi ăn mãi",
Ðầy bụng về nhà chán bỏ "cơm".

Mong ai cũng một dạ cùng "cơm",
Ăn mãi ngon lành, mãi ngọt thơm,
"Cơm" tẻ no, "phở" cho chả thiết,
Ði đâu xa cũng nhớ về "cơm".

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Giấc ngủ và thi sĩ

Trần Mộng Tú
Ðêm qua tôi mất ngủ, ngủ một giấc ngắn lắm, ngủ chập chờn giữa mơ mơ tỉnh tỉnh.

Chưa sáng hẳn đã thức dậy, thấy người như thiếu thiếu một cái gì, bước xuống giường như hụt hẫng. Nhìn ra ngoài cửa sổ, mặt trời chưa thức, chắc bà Trời đang ngủ ngon lành. Tôi bỗng nhớ đến câu các cụ ngày trước thường nói:

“Ăn được ngủ được là Tiên
Không ăn không ngủ mất tiền thêm lo.”

Không biết là Tiên sướng như thế nào, nhưng các Cụ mình đã nói ít khi sai lắm. Không có gì sung sướng bằng sau một giấc ngủ ngon trở dậy, dù buổi sáng hôm đó có là Mùa Ðông lạnh giá chăng nữa, ta vẫn thấy thể xác khỏe mạnh, ấm áp, lòng an vui, yêu người, yêu đời, dễ dàng với thế giới chung quanh mình.

Theo thống kê năm 2005 của Viện Y Tế Quốc Gia (National Institute of Health), người Mỹ (adult) có từ 10%-15% bị bệnh mất ngủ.

Giấc ngủ không trăn trở, không mơ những giấc mơ làm ta giật mình, toát mồ hôi, hay nói mê trong giấc ngủ, được coi là một giấc ngủ an bình.

Những bà mẹ ban ngày bận trăm việc quên đi một mối lo nào mình đang có trong lòng, nhưng khi ngả lưng xuống giường thì mối lo đó hiện ra ngay, và nó kéo lan man thêm bao nhiêu mối lo khác nữa, làm cho bà không thể nào ngủ được. Cứ thế, mặt trời mọc ngoài cửa sổ, giấc ngủ vừa chợt đến, đúng lúc bà cần ra khỏi giường cho một ngày mới.

Hoặc có bà mẹ cứ nằm đó, nhưng không ngủ, mở mắt trong đêm tối, canh thức nghe tiếng xe con lái vào garage hay tiếng con mở cửa vào nhà, rồi bà mới thở ra một hơi dài, ngủ được.

Bà mẹ trẻ thời nay có cả trăm lý do làm bà mất ngủ: Con bé mọc răng, ấm đầu; con lớn xao nhãng học hành, nhà giữ trẻ không được tốt; công việc làm ở sở, nhiều quá, làm không hết. Hay công việc không vững chắc, không thích hợp, phải nghĩ đến tìm việc khác; bữa ăn chiều trong bếp hôm nay sao cho vừa miệng cả chồng, con; nhan sắc mình héo úa khi nhìn vào gương sau một ngày mệt nhọc.

Những ông bố phải lo chiếc xe đã cũ, cái mái nhà cần lợp lại; món nợ chưa kịp trả, tiền để dành bắt đầu hao hụt v.v...

Tất cả những linh tinh của một đời thường ban ngày, ảnh hưởng rất nhiều vào giấc ngủ ban đêm. Có thể những bận rộn đó đưa ta tới một giấc ngủ nặng nề hay một đêm thức trắng.

Trong khi đó các cụ già mất ngủ vì: Ði ngủ không đúng giờ mỗi tối, cũng làm cho giấc ngủ không được dài. Có những bệnh đánh thức giấc ngủ của mình như: Nhức mỏi, bệnh bao tử, bệnh xốp xương, bệnh quên lãng (Alzheimer)... Nói chung bệnh tật làm mất ngủ. Uống thuốc về ban đêm để chữa những bệnh trên cũng làm ta mất ngủ.

Một người bạn, hay một người trong gia đình qua đời, hoặc phải dọn nhà đi đến nơi mình không thích, bị căng thẳng tinh thần, xuống tinh thần cũng khó mà có được giấc ngủ ngon. Rồi còn nỗi “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc” cũng làm cho các cụ mất ngủ triền miên.

Ngoài ra còn có những người bị bệnh mất ngủ kinh niên vì bất cứ lý do gì.

Dưới đây là những lời của các vị hướng dẫn y tế khuyên những người hay mất ngủ:

- Nên đi ngủ đúng giờ. Cố gắng đi ngủ và thức dậy mỗi ngày cùng giờ giống nhau.

- Chỗ ngủ cần phải thoải mái, tối và yên tĩnh.

- Tạo môi trường ngủ tốt như mở nhạc êm dịu, uống loại trà hoa cỏ (Herbal) nào giúp ngủ ngon (người Việt hay ăn chè hạt sen, uống trà tâm sen). Nên tự nói với mình là bây giờ ngủ đây, không để ý đến gì khác nữa.

- Ngâm mình trong nước ấm, ngồi thiền hay tập thở, hoặc đi bộ. Như vậy sẽ giúp thân thể thư giãn trước khi vào giường.

- Một bữa ăn no quá và nhiều dầu mỡ cũng dễ làm ta mất ngủ. Nên đi ngủ sau bữa ăn ít nhất là ba tiếng. Nếu phải đi ngủ ngay thì nên ăn rất nhẹ thôi.

- Uống một ly sữa ấm trước khi ngủ cũng có khả năng giúp cho giấc ngủ đến nhanh hơn.

- Có cái gì cần nghĩ đến thì nghĩ trước khi leo lên giường đi ngủ, hoặc ngồi xuống viết ra một cái danh sách những điều mình sẽ phải làm trong ngày mai hay cuối tuần. Ðể nó đấy, coi như mình đã nghĩ đến nó rồi “Ði Ngủ”.

- Ðọc sách cho thật mỏi mắt, hay mở băng nghe nhạc, nghe đọc truyện cũng giúp mang ta vào giấc ngủ dễ dàng hơn.

Nếu làm tất cả các biện phát trên rồi mà ban đêm vẫn thường xuyên mất ngủ, ban ngày mệt mỏi thì bạn nên đến gặp bác sĩ của mình để được hướng dẫn và chăm sóc.

Mất ngủ có hại cho sức khỏe thật đấy, nhưng các thi sĩ, văn sĩ không mất ngủ thì làm sao thiên hạ có những bài thơ, những truyện dài, truyện ngắn để đọc. Chính những người viết này đã mất ngủ, thức dậy giữa đêm để viết ra những áng văn chương, giúp cho người mất ngủ khác đi tìm vào giấc ngủ. Ðó mới là một điều nghịch lý.

Các thi sĩ, văn sĩ thức với đêm rằm hay những đêm đổi gió sang mùa. Cơ thể của họ tự đánh thức họ dậy hay môi trường chung quanh đánh thức họ. Trăng sáng quá, hay gió thổi hiên ngoài, làm sao ngủ! Thi sĩ thức dậy, đứng sau song cửa, ngắm trăng:

“Trăng lên, quả bóng xanh lồng lộng
Lơ lửng treo trên mấy xóm nhà
Ta đứng bồi hồi sau song cửa
Nhìn trăng, ai thức hãy cùng ta.”

(Nguyễn Xuân Thiệp)

Có ông thi sĩ luôn luôn đi về nhà vào lúc một, hai giờ sáng, rồi thức suốt đêm uống rượu như ông Mai Thảo. Chắc không phải ông có bệnh Insomnia.

“Sớm ra đi sớm hoa không biết
Ðêm trở về đêm cành không hay
Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu
Nơi góc tường in cái bóng gầy”

(Mai Thảo)

Ông thi sĩ này nữa, không biết ông đang mất ngủ hay đang ngủ mớ với người tình tưởng tượng:

“Ðêm nay em ngủ một mình
Còn ta vẫn ngủ với hình bóng em
Quờ tay ôm cái gối mềm
Mê man hôn cánh tay mình mê man”

(Luân Hoán)

Ðọc câu thơ khật khờ trên, người miền Nam gọi là “Hết thuốc chữa”.

Thi sĩ đôi khi không muốn mất ngủ một mình, còn muốn kéo thêm người khác thức trắng đêm với mình. Chàng muốn nàng thành vì sao để đi với chàng suốt một đêm trăng:

“Em là một ngôi sao mới băng
Xuống đây, đi với anh đêm trăng”

(Xuân Diệu)

Chắc cô thiếu nữ nào cũng muốn được người tình rủ rê mình đi dạo trong đêm trăng bằng một câu thơ nồng nàn như thế!

Có người cho một đêm mưa nhỏ hạt sẽ giúp cho một giấc ngủ êm ả, nhưng thi sĩ, họ không ngủ ngon trong những đêm mưa như người bình thường, họ thức nguyên đêm, nằm nghiêng, thưởng thức từng giọt mưa, rồi than thở:

“Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng nghe ta buồn buồn”.

(Huy Cận)

Mất ngủ để viết xuống một câu thơ đài các và trữ tình như thế này cũng xứng đáng:

“Tuyết phủ đêm nay một góc giường
Nằm nghe quanh chiếu rộn tang thương
Ta say gọi ngã vầng trăng khuyết
Khanh của Hoàng ơi! Lửa bốn phương”

(Vũ Hoàng Chương)

Như vậy, mất ngủ của thi sĩ, chính là nguyên nhân để những câu thơ được viết xuống. Bóng đêm như chiếc nôi cho họ ru những đứa con “Thơ” của họ. Câu nói “Ăn được, ngủ được là tiên” có một thể nói một cách khac “Ăn không được, ngủ không được là thi sĩ” chắc nghe cũng không sai lắm.

Chẳng có vị bác sĩ nào chữa bệnh mất ngủ được cho những người này. Toa thuốc của thi sĩ là những trang thơ. Họ bỏ vào siêu, sắc nhỏ lửa, rót ra và uống từ từ, một mình.

Họ uống để thức bằng những Giấc Ngủ Thơ của họ.

“Trăng kim nhũ tràn vào cửa sổ
Trải lên giường một tấm chăn vàng
Cởi áo ra đắp trăng đi ngủ
Không dám cựa mình
Chỉ sợ trăng tan”

(tmt)

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Nguyễn Ðình Toàn - Dẫn Em Vào Nhạc

Quỳnh Giao
Ngày còn bé, Nguyễn Ðình Toàn không biết đánh đáo.

Ông đánh mạt chược thuộc loại đáo để và ăn nói còn đáo để hơn trên bàn mạt chược, nhưng Quỳnh Giao nghi là ông không biết đánh đáo. Hoặc có lẽ không thèm đánh đáo. Ở tuổi ấu thơ, Nguyễn Ðình Toàn ham mê chuyện khác, để ý đến chuyện khác, chuyện thi ca chẳng hạn, thơ và nhạc.

Người ta có thể kết luận như trên khi đọc tập bút ký của ông viết về 190 tác giả, có tựa đề là “Bông Hồng Tạ Ơn” vừa được ra mắt tại báo quán Người Việt chiều 28 Tháng Mười vừa qua. Quỳnh Giao không viết về ông trước ngày đó như để giới thiệu sinh hoạt này.

Nguyễn Ðình Toàn là nghệ sĩ không cần được giới thiệu.

Nguyễn Ðình Toàn có lẽ không đánh đáo với chúng bạn đồng tuổi vì ông mải nhìn mây, nghe nhạc, đọc văn và tìm hiểu về thơ. Không vậy, ông đã chẳng có một ký ức đầy ắp về những nghệ sĩ đã nổi danh từ thập niên 1950. Ông biết về họ rất tường tận, trước khi chính mình bước vào thế giới đó.

Giới yêu văn học thì biết Nguyễn Ðình Toàn qua các tác phẩm văn chương. Ông là một nhà văn nổi tiếng, có độc giả và từng được Giải Thưởng Văn Chương với Áo Mơ Phai, tác phẩm làm ông bị khổ sở không ít sau năm 1975.

Ông còn khổ sở hơn vì không chịu cúi đầu, vẫn cứ ngang ngạnh khi gặp cảnh tù đày.

Sau khi được thả ra, ông còn ngang ngạnh (dùng chữ hiên ngang tất sẽ làm ông khó chịu!) và khi chế độ trong nước thay đổi, xin tái bản lại Áo Mơ Phai, ông vẫn ngang ngạnh: “Các anh muốn làm gì chẳng được, nhưng đã hỏi tôi khi muốn tái bản thì tôi chỉ xin các anh ghi vào lời tựa lý do vì sao đã kết án tác phẩm và bỏ tù tác giả!”

Ðược tái bản sách, nhiều người rất thích và đành nhịn. Nguyễn Ðình Toàn lại có cách từ chối đáo để như vậy thì... ai mà nhịn được!

Giới yêu thơ cũng từng mê thơ Nguyễn Ðình Toàn, đã được đọc lại còn được nghe.

Quỳnh Giao xin nói về chuyện nghe thơ này.

Thời ấy, vào thập niên 1960 trở về sau, các ban tân nhạc trên đài phát thanh đều có xướng ngôn viên của đài hoặc chính các ca sĩ tự giới thiệu lấy trước khi trình bày.

Và người ta không có lời giới thiệu (tiền thân của giới EmXi MC thời nay) để cho tác phẩm một cái mũ, một cái “châpeau” dẫn vào tác phẩm và nghệ sĩ trình bày.Ngoại lệ có tính chất tiên phong là chương trình “Tiếng Nhạc Tâm Tình” của Anh Ngọc, do Mai Thảo viết châpeau dẫn thính giả vào nhạc. Ông có cách hành văn rất tây, với lối dùng chữ mới lạ, dễ “bắt tai” thính giả. Hàng tuần, thính giả chờ đón để được nghe các ca khúc nghệ thuật mà người hát, hòa âm, và cả lời giới thiệu đều trau chuốt bóng bảy. Người đọc những dòng giới thiệu thường là Anh Ngọc, Mai Thảo, đôi khi Thái Thanh, Kim Tước, Mai Hương và cả Quỳnh Giao.

Người không đội mũ nhưng gắn hoa và thổi mây lên từng ca khúc nghệ thuật là Nguyễn Ðình Toàn, với chương trình gọi là “Nhạc chủ đề”.

Ông viết lời giới thiệu như người ta làm thơ. Văn phong của ông cổ điển hơn, khác với lối viết của Mai Thảo hay lời nhạc Trịnh Công Sơn, nhưng là một loại thơ dẫn vào nhạc.

Chương trình ăn khách và thực sự tạo ra một trào lưu chính là nhờ giọng nói truyền cảm, như lời thủ thỉ, của Nguyễn Ðình Toàn. Ông dẫn thính giả vào nhạc bằng câu “Hỡi em yêu dấu” như chỉ nói với một người. Qua làn sóng điện người nghe thấy ông thầm thì với riêng mình về những cảm xúc do ca khúc gợi lên. Ông tạo ra một không khí tình cảm dịu dàng điệu nghệ để người nghe chuẩn bị đón nhận...

Lời thủ thỉ ấy đẹp như thơ làm thính giả phái nữ thấy lòng mình chùng xuống.

Ðáng lẽ, chương trình ấy phải được gọi là “Dẫn em vào nhạc” mới phải, nhưng thời ấy chúng ta chưa dám táo bạo như thế! Qua cách nói... “hỡi em yêu dấu”, rõ là Nguyễn Ðình Toàn chỉ nói với phái đẹp. Vào quãng thời gian ấy, ông còn quá trẻ để gọi thính giả nam phái là “em”!

Mà ông không cao ngạo như Ðinh Hùng khi xưng là “ta” với người đẹp, ông mộc mạc nhũn nhặn xưng là “tôi”.

Thế mới chết... chị Thu Hồng!

Nhớ lại thì nếu Tiếng Nhạc Tâm Tình của Anh Ngọc gồm những giọng hát thượng thặng của thời đó trình bày, được chính ông chọn lọc và bầy bán giới hạn tại cửa hàng Au Printemps gần thương xá Tax, đã dẫn tới một ngành sinh hoạt mới là các trung tâm thực hiện băng nhạc, thì chương trình Nhạc Chủ Ðề của Nguyễn Ðình Toàn đã là nơi báo hiệu hào quang lên những ca sĩ sau này là tên tuổi lẫy lừng, như Sĩ Phú, Khánh Ly, Lệ Thu...

Phải nói rằng nhiều ca sĩ thường xuyên cộng tác với đài phát thanh hoặc xuất thân từ các gia đình nghệ sĩ thì đã được... “lăng xê” từ trước và họ thực sự là những người chuyên nghiệp vì sự đòi hỏi của các đài phát thanh. Chương trình của Nguyễn Ðình Toàn lại khác.

Ông mời những giọng hát tài tử trong tinh thần “hát cho vui”, hát vì nghệ thuật.

Luật gia Khuất Duy Trác thuộc thành phần ấy và đóng góp rất nhiều cho chương trình này. Một thí dụ khác là kỹ sư địa chất Võ Anh Tuấn - người tham dự việc tìm ra mỏ dầu đầu tiên - được mời hát Dạ Khúc của Nguyễn Mỹ Ca với giọng Nam như Trần Văn Trạch. Theo Quỳnh Giao, bài thành công nhất của Võ Anh Tuấn là Giọt Mưa Thu của Ðặng Thế Phong. Miền Nam không có mưa Thu Hà Nội, Nguyễn Ðình Toàn khơi dậy Mùa Thu ấy trong tâm cảnh của chúng ta ở miền Nam qua cách trình bày của Võ Anh Tuấn.

Không có cái tai thẩm âm, ai lại dám làm điều ngược ngạo ấy vì thời đó và sau này, hát theo giọng Bắc mới được coi là hay!

Cũng qua chương trình Nguyễn Ðình Toàn, mà Khánh Ly, Lệ Thu, Duy Trác hay Sĩ Phú, v.v... đã là những tiếng hát vượt không gian. Ra khỏi các sân khấu thành phố mà vang vọng khắp bốn vùng chiến thuật và tạo ra một làn sóng ngưỡng mộ từ đó không nguôi.

Ngay cả những ca khúc đầu tiên của Trịnh Công Sơn cũng đã như cánh vạc bay, và bay mãi, là từ chương trình Nhạc Chủ Ðề, qua tiếng hát Khánh Ly và lời thủ thỉ của Nguyễn Ðình Toàn.

“Những bản tình ca không có hạnh phúc” qua tiếng hát của “nàng góa phụ của cuộc chiến này” là cách Nguyễn Ðình Toàn giới thiệu ca khúc Trịnh Công Sơn và Khánh Ly.

Có MC nào của đời nay làm chúng ta xúc động như vậy không?

Nguyễn Ðình Toàn là nhà văn, là thi sĩ và ông giới thiệu nhạc bằng cảm nhận của nhà thơ.

Ông cũng là nhạc sĩ đã sáng tác rất nhiều trong những năm về sau nhưng tác phẩm bị trùm lấp trong biến cố 1975. Khi ông ra đến ngoài này, sự thẩm âm của thiên hạ đã thay đổi. Người ta “hát giọng răng” (nói theo lối ví von của Phạm Duy, vì cô ca sĩ có hàm răng khấp khểnh) và giới thiệu ca khúc bằng vũ khúc...

Có lẽ vì vậy mà Nguyễn Ðình Toàn chưa cho ra mắt một tác phẩm đáng lẽ phải có tên là “Dẫn em vào nhạc Nguyễn Ðình Toàn”, mà lại viết về những người nghệ sĩ ông sợ là chúng ta sẽ quên.

Ông gửi tới họ những bông hồng tạ ơn qua tài năng cố hữu của ông, là dùng thơ dẫn người đọc vào ngôi vườn hoa của người khác.

Khi viết bài này, trong dư âm của một chương trình nhạc chủ đề của Nguyễn Ðình Toàn, (chủ đề cuốn băng là “tình ca”) Quỳnh Giao bồi hồi nghĩ là áo mơ chưa hề phai trong tâm khảm ông.

Nguyễn Ðình Toàn chỉ sợ những kỷ niệm cần trân quý của chúng ta bị phai lạt dần...

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Ông Đồ và Hoa Đào

Ngô Nhân Dụng

Mỗi năm hoa đào nở,
Lại thấy ông đồ già
Bày mực Tầu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua


Các học sinh ở Sài Gòn trước năm 1975, không ai không biết mấy câu thơ cổ của Vũ Ðình Liên. Hầu như thầy giáo, cô giáo dạy văn nào cũng dạy bài thơ đó, một bài thơ chân phương mộc mạc, với những nét chấm phá đẹp và buồn. Ông Ðồ, hai chữ đó hàm ý kính trọng. Vì chỉ các nhà Nho, có thể làm thầy dạy người ta chữ nghĩa Thánh Hiền mới mang danh hiệu đó. Bài thơ này Vũ Ðình Liên viết năm 1936, thời văn hóa Nho giáo tuy đã mất địa vị xã hội nhưng vẫn còn ảnh hưởng mạnh trong luân lý, đạo đức trên lối sống hàng ngày của dân Việt Nam. Nhưng đời sống, tín ngưỡng, và quan niệm thẩm mỹ đã đổi nhiều; người ta không còn thưởng thức được nét chữ đẹp của các ông Ðồ như xưa nữa. Ít người treo câu đối, ít người muốn treo những bức đại tự trên tường để đón Xuân, người ta cũng không còn chuộng mầu giấy đỏ thẫm và mầu mực đen. Cho nên trước đây hơn 70 năm Vũ Ðình Liên đã nhìn thấy cảnh tiêu điều:

Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay.

Năm 1982 thi sĩ Vũ Ðình Liên đã 70 tuổi, ông viết thêm một bài “Bóng Ông Ðồ.” Trong thành phố Hà Nội cũ kỹ, không ngờ ông còn thấy những ông đồ về ngồi ngay chỗ cũ trên hè phố, tuy khăn áo đã bạc mầu:

Ông đồ vẫn ngồi đấy
Khăn áo bạc màu dưa
Nhắc cho người qua thấy
Lẽ Nhân đạo, Thiên cơ

Năm 1982 là năm đói và rét ở miền Bắc Việt Nam dưới chế độ kinh tế bao cấp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chắc bài thơ Xuân này cũng giúp cho tác giả được một số tiền nhuận bút để vui Xuân, 14 năm trước khi cụ qua đời. Việc làm thơ của mình, cũng giống công việc viết chữ của các ông đồ đã trở lại, tác giả nhìn thấy như một món nợ từ kiếp trước:

Người chết nghiệp không chết
Nợ tiền kiếp luân hồi

Trong thời cực thịnh của chủ nghĩa cộng sản giáo điều ở Việt Nam, luân lý Nho Giáo đã bị ông Mao Trạch Ðông đả phá, ông Hồ Chí Minh bắt toàn dân học khẩu hiệu “Trung với Ðảng,” lấy Ðảng thay cho Vua, lấy chính trị thay cho đạo đức học. Các ông đồ lúc đó còn được bầy giấy bút viết trên lề đường mà không bị quốc doanh hóa, không bị “đánh tư sản;” phải coi đó là một ân huệ của đảng và nhà nước cộng sản. Cho nên, dưới “sự chỉ đạo văn nghệ” của đảng, thi sĩ kết thúc bài thơ rất đúng lập trường như sau:

Cách mạng là nhân nghĩa
Ông đồ là thi thư
Chữ tuôn dòng Thiện Mỹ
Từ ngón tay ông đồ

(1982)

Làm bổn phận với các cán bộ chi tiền nhuận bút của đảng bằng lời suy tôn coi “Cách Mạng (viết hoa) chính là nhân nghĩa (viết chữ thường); xong rồi Ông Ðồ Vũ Ðình Liên chỉ khiêm tốn nhận vai trò của mình là “thi thư.” Không biết hai chữ “thi thư” đó nghĩa là gì, đó là danh từ hay động từ, nghe thì thấy nó ngô nghê, rõ ràng ghép vào lấy lệ cho đủ 4 câu 5 chữ.

Những lời ca tụng đảng và nhà nước cố ý viết một cách ngây ngô này là một kiểu “xỏ lá” của giới sĩ phu Bắc Hà khi phải uốn mình viết theo lệnh cán bộ, mà trong tay không còn thứ vũ khí nào ngoài tài trào phúng. Bài thơ năm 1982 này khác hẳn phong thái thong dong với những âm thanh và ý tứ bay bổng, đã chấm dứt bài thơ năm cũ khi để lại một dư vị mang mang nhớ tiếc:

Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?

(1936)

Vũ Ðình Liên may mắn đã qua đời năm 1996, cho nên cụ không phải trông thấy cảnh các ông đồ dưới chế độ Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng năm 2008, 09 này!

Như quý vị đã đọc và coi hình ảnh trên Người Việt hoặc các mạng lưới khác, các ông đồ Hà Nội đã bị đảng và nhà nước cộng sản đè ra, áp dụng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi các ông không chịu vào “công xã viết” của nhà nước thì công an sẵn sàng đem dùi cui đánh chữ nghĩa!

Từ khi đảng cộng sản thả cho dân làm ăn để tham nhũng trục lợi, người Việt nào có đồng ra đồng vào cũng bắt đầu tìm lại nếp sống xưa. Người ta dám trưng bầy cảnh sung túc mới của mình. Ngày xưa dân muốn ăn thịt con gà cũng không dám chặt thịt bằng dao, bằng thớt, sợ hàng xóm nghe thấy sẽ bị “kiểm điểm.” (Dân Hà Nội là thủy tổ khai sáng món thịt gà xé bằng tay). Nhưng bây giờ những tay tư bản đỏ sẵn sàng khoe mình có tiền mua xe sang, ở nhà sang; thì người dân nghèo nhất cũng cố đi “thỉnh” mấy chữ Nhân, chữ Nghĩa, chữ Hòa, chữ Nhẫn (chữ này cần nhất, nếu không sống không nổi) đem về treo trên vách, trên cửa trong ba ngày Tết.

Nhưng cái cảnh các cụ “bầy mực Tầu giấy đỏ - bên phố đông người qua” giống như các cụ đồ hàng ngàn năm ở đất Thăng Long cũ như vậy, là “làm ăn theo lối cá thể,” không còn thích hợp với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của thời đại Nông Ðức Mạnh, với những tổng công ty và tập đoàn kinh tế theo kiểu Nguyễn Tấn Dũng.

Cho nên mới có anh cán bộ ma lanh nó nhìn thấy cảnh Phố Ông Ðồ là một cơ hội để đảng viên không phải làm mà vẫn được ăn chia! Cái đó các đồng chí gọi là kinh tế thị trường.

Làm cách nào để mình có thể ăn chia tứ lục trên công phu gò lưng ngồi viết của các ông đồ? Muốn vậy phải trông cậy vào ủy ban nhân dân của thành phố Hà Nội! Lê Nin đã viết “nhà nước và cách mạng” làm kim chỉ nam. Khi nhà nước ghé vào ăn ké mấy miếng, sẽ không ai dám cãi lại nền chuyên chính vô sản. Cái đó các đồng chí gọi là định hướng xã hội chủ nghĩa!

Thế là những cái lều được dựng lên, các ông đồ được “tập trung cải tạo” dưới sự chỉ đạo của các cô gái thu tiền. Công viết được tính đồng đẳng theo lối cộng sản hóa. Ngày xưa còn làm ăn cá thể, các cụ chẳng thèm ra giá bao giờ. Ai thích chữ đẹp thì biếu nhiều, ai không có mắt tinh đời đưa ít thì cụ cười khà, nháy một cái ra cái điều ở đời “Biết lòng ai đỏ mắt ai xanh?” (Thơ Vũ Hoàng Chương, sau 1975). Nhưng người sành điệu “thỉnh chữ” mà không đi “mua chữ;” các cụ đồ “cho chữ” chứ không ai “bán chữ.” Bây giờ, nhà nước cộng sản đã tập trung cải tạo các ông đồ, lại còn “siêu thị hóa” việc viết lách. Các cán bộ định giá nhiều chữ nhiều tiền ít chữ ít tiền, giấy lớn chữ lớn thì giá đắt, giấy nhỏ chữ nhỏ giá rẻ, vân vân, văn minh không khác gì Wal-Mart hay Cotsco bên Mỹ! Ðó là kinh tế thị trường! Và nhà nước đứng làm chủ hồ, lấy sâu! Có người nói ngày xưa Năm Cam mở sòng bài còn chia tứ lục cho tay em, bây giờ đảng làm ăn chính thức nên cứa đôi, lấy béng 50%. Ðó gọi là định hướng xã hội chủ nghĩa!

Nhưng các ông đồ đất Thăng Long ngày nay không còn nhút nhát như thời 1982 nữa. Nhiều ông đã từ chối không chịu vào “hợp tác xã” cho đảng lãnh đạo! Cho nên mới có cảnh dùi cui đối phó với chữ nghĩa! Nó cũng chứng tỏ câu “Con giun xéo lắm cũng quằn” đời nào cũng đúng.

Tết năm nay dân Hà Nội được coi màn kịch Dùi Cui Ðại Náo Phố Ông Ðồ, đủ đem kể với nhau làm chuyện cười vui trong ba ngày Tết.

Ðể bù lại với một cảnh buồn. Ðó là cảnh Hội Phố Hoa Hà Nội, ở phố Ðinh Tiên Hoàng bên bờ Hồ Hoàn Kiếm.

Tháng trước một tờ báo trong nước loan tin “Rộn rã lễ hội phố hoa Hà Nội”: Ngày 31 Tháng Mười Hai năm 2008 hàng ngàn du khách đã kéo nhau về Hội Phố Hoa để thưởng thức nghệ thuật cắm hoa của thủ đô Hà Nội.

Ba ngày sau, vẫn trên mạng lưới tờ báo này, là bản tin cho biết phố hoa đã tan hoang rồi! Dân đi coi hoa vì yêu hoa quá nên có người bẻ, có người nhổ, “thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hoa!”

Ðọc tin trên, chúng tôi nhớ đã nhận được một đoạn video của bạn bè, nhiều người cùng gửi một đoạn trong youtube hồi cách đây mấy tháng.

(http://www.youtube.com/watch
v=3IdolO05M9I&eurl=http://video.rfvn.com/?p=5767).

Mở địa chỉ ra, sẽ thấy cảnh thanh niên, thiếu nữ Hà Nội đi dự lễ hội hoa anh đào Nhật Bản tại Việt Nam, Sukura Festival in Vietnam, tổ chức vào đầu Tháng Tư năm 2008. Họ dự lễ như thế nào?

Thế này: Mạnh ai nấy chôm: hái, ngắt, vặt, bẻ, giật, có dao dùng dao, có kéo dùng kéo, vừa bẻ trộm hoa công khai giữa ban ngày, vừa hò hét, kêu gọi nhau ơi ới (Mày ơi, sao nó bẻ được cành to tướng kia kìa!) Trong chốc lát, những cây hoa anh đào Nhật Bản đã biến thành những cành cây trơ trụi đứng trên một bãi rác. Tác phẩm của nền văn hóa chụp giật của Chủ Nghĩa Cộng Hòa Xã Hội Việt Nam (tôi không biết mình có nhớ đúng tên gọi như thế hay không).

Tại sao tư cách con người lại xuống thấp đến như vậy?

Chỉ vì có những trẻ em lớn lên chỉ thấy những tấm gương Bùi Tiến Dũng, Mai Văn Dâu, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Ðức Mạnh, Huỳnh Ngọc Sỹ, Hồ Chí Minh, Lương Quốc Dũng, Nguyễn Việt Tiến. Các em không được học tấm gương những “Ông Ðồ” như Nguyễn Khuyến, như Nguyễn Văn Giai, như Nguyễn Tri Phương hay Hoàng Diệu; vì những người đó chưa giác ngộ chủ nghĩa Mác Lê Nin.

Lớp thanh niên được đào tạo với “tư tưởng” đặt lòng trung với đảng lên cao nhất của Hồ Chí Minh, cho nên mới có cảnh hai xe vận tải đụng nhau trên Quốc Lộ 1 ở Huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh, các tài xế bị thương nhưng người ta xúm tới mà không ai cứu hết. Vì toàn dân còn lo hôi của, lo cướp những trái cây từ chiếc xe đổ lăn ra đường! Trong cảnh hồ hởi thi đua hôi của đó, có anh lơ đễnh để mất 2 chiếc xe gắn máy nữa! Trên đầu những thằng ăn cướp có những thằng ăn cướp, trên đầu nó lại có những thằng ăn cướp khác. Và trên cùng là ai? Hà Sĩ Phu gọi là Phường Ðịa Tặc (khác hải tặc!)

Cả một chế độ đã giết chết ý thức về công ích trong mấy thế hệ thiếu nhi. Khi bọn lãnh đạo đảng chỉ biết dùng tiền để mua chuộc lẫn nhau và dùng dùi cui, còng số tám để đối phó với dân, nhìn đâu cũng thấy cơ hội kiếm tiền bất nghĩa; thử hỏi làm sao các em không bắt chước thói sử dụng bạo lực, gian trá và trò ăn cướp?

Cho nên Hà Sĩ Phu, một ông đồ thời đại mới, đã viết mấy dòng thơ Tết khi nhớ về quê hương Hà Nội như sau:

Ðất đã nảy trăm phường địa tặc
Trời lại hành một trận thiên tai
Chuột dẫu rút, lưu manh còn đó
Trâu đang về vẫn ách trên vai?

(Tết con Trâu nhớ về Hà Nội)

Post Reply