Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Việt Nam có thể cứ tiếp tục lơ lửng
giữa trời Trung Quốc và đất Hoa Kỳ được không?

Phong Uyên
“…Nhà cầm quyền ĐCSVN không thể cứ tiếp tục lơ lửng giữa bầu trời Trung Quốc và đất Hoa Kỳ được nếu không muốn như một trái khí cầu, càng bay cao gần trời Trung Quốc, càng dễ bị nổ tung. Đã đến lúc phải có một sự chọn lựa rõ ràng…”

Ngày 16-1 vừa rồi, nhân dịp tổng thống Obama nhậm chức, ban Việt ngữ Đài BBC có phỏng vấn ông Lê Công Phụng, đại sứ tại Mỹ. Ông Phụng là người được giới truyền thông nước ngoài biết đến nhiều vì ông đã làm trưởng phái đoàn đàm phán về biên giới với Trung Quốc và được coi là đã gặt hái được kết quả trong cuộc đàm phán nên được thăng chức thứ trưởng Ngoại giao. Có thể BBC nghĩ việc đưa ông Phụng làm đại sứ tại Mỹ là nằm trong ý định của chính quyền CSVN đang muốn tăng cường quan hệ với Mỹ để đối lại và làm cân bằng quan hệ với Trung Quốc trước nay vẫn bị thua thiệt, nên đã phỏng vấn ông để qua những câu trả lời có thể đoán biết được một phần nào ý định đó.

Phân tích những câu trả lời của ông Phụng tôi thấy không thể không đưa ra những nhận xét sau đây:

1. Không có dấu hiệu gì chứng tỏ chính quyền cộng sản Việt Nam có ý thay đổi lập trường của mình, vẫn tưởng có thể tiếp tục bám lấy Tàu để giữ vững chế độ mà vẫn tiếp tục moi tiền của Mỹ như đưới thời Bush và như trước khi có khủng hoảng kinh tế toàn cầu:

Câu hỏi của BBC: "Việt Nam có bao giờ đặt vấn đề sẽ là đồng minh với Mỹ hay không" là có ý thăm dò Việt Nam có hay không ý muốn dựa vào Mỹ để thoát khỏi sự khống chế của Trung Quốc. Ông Phụng trả lời: "quan hệ 2 nước đi nhanh hơn không có nghĩa là Việt Nam đang chuẩn bị thành đồng minh của Hoa Kỳ".

" Đi nhanh hơn " chả có nghĩa gì cả và để đi tới đâu? Lẽ ra ông Phụng nên dùng từ ngữ "thắt chặt hơn" nếu sợ từ ngữ "Đồng minh" có thể làm phật lòng Trung Quốc. Vả lại muốn được thành Đồng minh của Hoa Kỳ không phải dễ: Trong lịch sử Hoa kỳ chỉ có 2 nước đồng minh là Anh và Pháp. Thật ra là từ sau Thế chiến thứ 2 chỉ có Anh là đồng minh thật sự của Mỹ.

Câu hỏi tiếp theo: "Quan hệ tay ba của Việt Nam với Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ như thế nào?"

Ông Phụng trả lời: "Với Trung Quốc Việt Nam phải học cách sống chung, còn với Mỹ Việt Nam sẽ.... thúc đẩy quan hệ hợp tác trên mọi lãnh vực."

Xin hỏi ông Phụng, một người đã có nhiều kinh nghiệm với Trung Quốc, Việt Nam phải học ai để sống chung với Tàu? Không có lẽ học Tây Tạng? Còn học Đại Hàn hay Đài Loan thì quan hệ hợp tác không đủ: Mỹ không rút quân khỏi Đại Hàn, Hạm đội 7 Mỹ canh chừng eo biển Đài Loan là vì Đại Hàn và Đài Loan có quan hê đặc biệt với Mỹ. Muốn "sống chung" với Tàu mà không bị bóp chết lần lần thì tất nhiên Việt Nam phải có một quan hệ với Mỹ gần như Đại Hàn và Đài Loan.

Vả lại, hợp tác theo nghĩa từ điển là “chung sức để làm một sự việc gì”. Cho tới nay có việc nào Hoa Kỳ cần phải chung sức với Việt Nam ngoài việc kiếm xương lính Mỹ chết và Mỹ đã phải trả với giá nào? CSVN chỉ hiểu "hợp tác" theo nghĩa "viện trợ" một chiều có lợi cho mình.

Câu hỏi: “còn 2 cường quốc kia (Trung Quốc và Mỹ) có lôi kéo Việt Nam không?”

Trả lời: “Việt Nam nằm ở vị trí địa chính trị rất nhạy cảm, sát cạnh Trung Quốc nên cả 2 đều có nhu cầu tranh thủ Việt Nam.”
Image
Trò láu cá: bắt cá hai tay


Ông Phụng hơi lạc quan. Cứ tưởng Việt Nam "quí giá đậu đen", hai cường quốc này đang tranh thủ Việt Nam về phe mình. Ông phải biết rõ hơn ai hết là cũng vì Việt Nam "nằm ở vị trí địa chính trị sát cạnh Trung Quốc" nên mới mang hoạ. Về chính trị Trung Quốc không cần tranh thủ với ai vì các nhà cầm quyền cộng sản đã tự "bó thân về với Triều đình" rồi. Từ thượng cổ Trung Quốc luôn luôn nuôi ý định chinh phục Việt Nam và lần này có nhiều hi vọng thành công vì đã biết tính giai đoạn để kết hợp quân sự với kinh tế: Giai đoạn 1, dùng sức mạnh quân sự để chiếm đoạt biên giới, chiếm đoạt các hải đảo của Việt Nam. Giai đoạn 2, dùng sức mạnh kinh tế bóp cho chết Việt Nam. Con đại xà Trung Quốc đang quẫy phá làm tan nát nền kinh tế bằng tràn ngập Việt Nam qua ngả nhũng lạm và buôn lậu, hàng hoá nhiễm độc rẻ tiền, sẽ tiếp tục phun nọc độc bùn đỏ bôxít phá hoại môi trường miền Nam Việt Nam để triệt tiêu sản xuất nông nghiệp Việt Nam, biến Việt Nam thành một bãi xả rác. Còn Hoa Kỳ với Obama "tranh thủ" Việt Nam để làm gì? Có một thời chính quyền Bush bị giới tài phiệt hám lợi chi phối, đã lơ là nhân quyền chỉ nghĩ tranh thủ thị trường kiếm lợi ở Việt Nam. Tham nhũng, lừa đảo, dối trá, đã làm những tay kinh doanh tài phiệt này vỡ mộng.

2. Những bất đồng về đối ngoại trong nội bộ không hề có mà chỉ có những phản ứng yếu ớt của một vài người còn chút lương tri khi thấy phải nhượng bộ Trung Quốc quá nhiều. Những "quyết sách" vẫn chỉ là những quyết định của phe Bảo Thủ:

BBC nhắc lại nhận xét của cựu thứ trưởng ngọai giao Trần Quang Cơ ".... trong chiến lược đối ngoại, nội bộ lãnh đạo cấp cao của Việt Nam có bất đồng".

Ông Phụng trả lời: "Ý kiến khác nhau đó là lúc bàn thảo. Còn khi đã quyết sách rồi mọi người quyết tâm thực hiện... bằng không sẽ không làm được gì... người ngoài sẽ thấy mình không ổn... không hiệu quả".

Ông Phụng tự thú nhận là ĐCSVN vẫn trung thành với nguyên tắc "Tập trung dân chủ" của Staline: bàn cãi cho lấy lệ chứ "quyết sách" đã được "ai đó" quyết định từ trước rồi, mọi người chỉ quyết tâm thực hiện. Ông Phụng không biết là trong một đảng dân chủ mọi bàn cãi đều công khai. Và trước một vấn đề, có thể có nhiều giải pháp khác nhau, đối lập nhau. Nhưng giải pháp chiếm được đa số (nghĩa là chỉ cần hơn một phiếu chứ không cần phải 99%) sẽ được chọn. Chính cái 99% mới là cái "người ngoài thấy mình không ổn" vì thấy ngay cái tính chất độc đoán của nó. Thử hỏi ở Việt Nam có cái "bỏ phiếu" nào bị dưới 90%? Ông Phụng cũng không lấy làm lạ là mọi quyết sách đều được quyết định trong nội bộ lãnh đạo cấp cao chứ không cần phải được Quốc Hội chuẩn y?

ĐCSVN còn bảo thủ hơn đàn anh Trung Quốc là không dám bắt chước ĐCSTQ thay "Tập trung dân chủ" bằng cái gọi là "Dân chủ nội bộ đảng": các phái trong ĐCSTQ có quyền đưa ra những ý kiến đối chọi nhau, những đường lối hoàn toàn khác nhau. Phái nào thắng sẽ áp dụng thẳng cánh đường lối của mình và sẵn sàng thanh trừng phe có ý chống lại. Vì vậy mà có thể thay đổi chính sách, cải tiến chế độ. Thí dụ như hiện nay "lãnh đạo" và "quản lí" đều nằm trong tay Hồ Cẩm Đào vừa là Bí thư Đảng vừa là Chủ tịch nước, nên không có sự chồng chéo. Còn trong ĐCSVN, cái gọi là "quyết sách" chỉ là kết quả của một sự mặc cả chia nhau giữa phe "Lãnh đạo" và phe "Quản lý" để đi đến "Đồng thuận" và để các phe phái cứ tiếp tục "dậm chân tại chỗ".

3. Người Việt hải ngoại vẫn bị coi là thù địch với chế độ mà điển hình là ông Joseph Cao:

BBC nhắc lại: "Ông Joseph Cao vừa trở thành dân biểu gốc Việt đầu tiên trong QH Mỹ. Một trong những việc làm đầu tiên của ông là đề nghị đưa Viêt Nam trở lại danh sách các nước đàn áp tôn giáo" và hỏi: “Đại sứ có đồng ý là những vấn đề chính trị, nhân quyền sẽ luôn là khúc mắc giữa chính phủ trong nước và Việt kiều tại đây?”

Ông Phụng trả lời: “ Giữa Việt Nam và Mỹ đang có cách nhìn khác nhau về dân chủ và nhân quyền

... Nhưng tôi nghĩ...ông Obama làm tổng thống thì ông vẫn là người gốc Kenya. Bà con người người Việt ở đây muốn làm đến thủ tướng, tổng thống thì vẫn là người Việt. Mà nếu đi nói xấu Việt Nam, người nghe cũng cảm thấy mình không đứng đắn lắm... Không nên chống lại đồng bào mình.”

Tôi hơi lạ là một vị đại sứ ở một nước lớn nhất hoàn cầu, học rộng biết nhiều, lại có cái lí luận sơ đẳng y hệt như các vị "tiến sĩ" trong Ban Tư duy của Đảng:

1. BBC hỏi một đường ông Phụng trả lời một nẻo: Ông Phụng tự nhiên so sánh "cách nhìn” Nhân quyền của Việt Nam với Mỹ. Ông không biết là cả thế giới (trừ mấy nước XHCN cha truyền con nối) chỉ có một cách nhìn Nhân quyền. Muốn biết định nghĩa Nhân quyền chỉ cần truy Wikipédia: "Nhân quyền là những quyền gắn liền với nhân vị của mỗi con người trong nhân loại, bất di bất dịch, không thể biến đổi được trong bất cứ trường hợp nào và chống lại mọi áp chế đến từ mọi xã hội, mọi quyền uy, mọi hệ thống, mọi chế độ đặt trên nền tảng một đẳng cấp, một chủng tộc, một dân tộc, một giai cấp, một tập đoàn xã hội”. Ý tưởng Nhân quyền đã phát sinh ra từ khi loài người biết suy nghĩ. Nghĩa là đã từ 3000 năm nay với Thánh Kinh, với các tư tưởng Ba Tư và Hi Lạp chứ không phải là sản phẩm của Tây phương đặt ra để khuynh đảo các nước "Xã hội Chủ nghĩa" còn lại như lí luận của ban Tư duy. Cũng vì coi trọng nhân quyền hơn cả quyền của dân tộc mình, của đất nước mình, mà các tổ chức bảo vệ nhân quyền ở Mỹ như Amnesty International, Human Rights Watch... đã luôn luôn đả kích chính quyền Bush về nhà tù Guantánamo. Chính quyền Bush cũng chả bao giờ dám quy tội các tổ chức này là bênh khủng bố chống lại nước Mỹ cả. Thử hỏi ở Việt Nam số trại Cải tạo gấp bao nhiêu lần Guantánamo? Chắc chắn là số phận người tù Guantánamo không đến nỗi hẩm hiu bằng những "ngụy quân", "ngụy quyền", "ngụy văn nghệ sĩ, bác sĩ" Nam Việt Nam.

2. Làm đại sứ ở một nước mang tên là Hợp Chúng Quốc gồm cả trăm chủng tộc khác nhau, tới từ trăm nước khác nhau, mà ông Phụng không biết là mỗi người Mỹ xử sự như một công dân Mỹ chứ không theo gốc gác của mình. Ông còn sai lầm và trong tiềm thức chắc vẫn chưa bỏ được óc kỳ thị chủng tộc, óc theo phụ hệ nên ông nghĩ ông Obama gốc Kenya vì cha ông Obama là người Kenya. Và dẫu 100% gốc Kenya đi nữa, ông Obama cũng sẵn sàng với tư cách một chức trách Mỹ chỉ trích chính quyền Kenya nếu chính quyền này có chính sách đàn áp dân chủ nhân quyền.

3. Ông Phụng cũng vẫn coi Đảng với nước là một và mọi người phải tuân theo khẩu hiệu "Trung với Đảng là trung với nước". Ông Cao đã dám đề nghị đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước đàn áp tôn giáo thì ông Cao là người "không đứng đắn lắm... nói xấu Việt Nam.... chống lại đồng bào mình". Ông Cao đã phạm tội nói xấu nước vì cho là Đảng đàn áp tôn giáo. Thử hỏi nếu còn ở Việt Nam mà bị qui tội như vậy thì ông Cao sẽ bị nằm trong trại Cải tạo bao nhiêu năm? Chính sách đàn áp tôn giáo là của Đảng chứ đâu phải của người dân Việt Nam, nạn nhân của chính sách đó? Nếu Đảng nghĩ đến thanh danh của nước, nghĩ đến nhiều người dân Việt chỉ còn chút hi vọng là bám vào tôn giáo mà cũng bị áp chế, thì chỉ cần thay đổi chính sách không chiếm đất, không bỏ tù, không quản thúc các linh mục, các mục sư, các nhà sư, các chức sắc Hoà Hảo, Cao Đài thì ông Cao sẽ không có lí do gì mà không rút lại đề nghị của mình.

Tôi xin trở lại câu hỏi của BBC mà tôi cho là cốt lõi: "Đại sứ có đồng ý là những vấn đề chính trị, nhân quyền sẽ luôn là khúc mắc giữa chính phủ trong nước và Việt kiều tại đây?":

Tôi thông cảm với ông Phụng là ông rất khó trả lời vì vẫn phải nói theo tư cách một người đại diện cho Đảng. Ông đành phải đánh trống lảng và đưa ra những cái "ưu ái" mà Đảng dành cho Việt kiều như được “miễn visa", cho hưởng "song tịch", cho "mua nhà”... Tôi xin nói thẳng là "cho hưởng song tịch" là cái làm nhiều người gốc Việt, nhất là những người đã phải bỏ nước ra đi, không dám về Việt Nam. Còn miễn visa, mua nhà... chỉ là chính sách thương mại mà nhiều nước đã thực thi để khuyến khích du lịch, phát triển ngành địa ốc, tạo công ăn việc làm cho người dân.

Nhưng nếu ông Phụng chịu khó để Đảng qua một bên, tự đặt mình vào đúng cương vị một đại sứ Việt Nam phải nghĩ đến quyền lợi đất nước và tiền đồ dân tộc, thì sẽ không thể không đồng ý là chính quyền cộng sản phải giải quyết những vấn đề chính trị, nhân quyền nếu thật sự muốn bớt đi những khúc mắc với người Việt nước ngoài:

Phải thoả mãn những đòi hỏi tối thiểu về chính trị và nhân quyền:

Không cần phải giải quyết toàn bộ những vấn đề chính trị mà chỉ cần bắt đầu ban bố cho người dân một vài tối thiểu dân chủ như tự do ngôn luận. Báo chí không mở miệng được, truyền thông trên mạng bị tường lửa ngăn chặn thì làm thế nào phanh phui diệt trừ được tham nhũng? Đất nước sẽ rơi vào tay Trung Quốc vì tham nhũng là vũ khí sắc bén nhất mà Trung Quốc đang dùng để chặt phá kinh tế Việt Nam.

Vấn đề nhân quyền cũng vậy. Người thường dân chỉ đòi hỏi quyền tối thiểu được làm người: có tự do tín ngưỡng, có một chút của riêng mình, một mảnh đất, một căn nhà mà không bị cướp đoạt. Quyền tự do đi lại muốn ở đâu thì ở không cần phải có hộ khẩu. Quyền không phải kê khai trên tờ giấy tùy thân mình thuộc sắc tộc nào, Kinh hay Thượng, theo tôn giáo nào ... Vì tất cả những qui định, những xác định thành phần, sắc tộc, đều chỉ có mục đích kiểm sát, khống chế mỗi con người.

Nếu những đòi hỏi tối thiểu mà còn không được thoả mãn thì khó mà có thể có hoà giải với người Việt nước ngoài và chỉ nuôi dưỡng những hận thù đưa đến những hành động quá khích, tuy đơn lẻ, như vụ phá hoại vài bức tranh của triển lãm "Nghệ thuật cất tiếng" vừa rồi.

Thoả mãn những đòi hỏi này cũng là điều kiện tất yếu để cứu vãn nền kinh tế tài chính nước nhà:

Như tôi đã nói trên, âm mưu thôn tính Việt Nam của Trung Quốc đã đi tới giai đoạn 2 là phá hoại kinh tế, môi trường Việt Nam, làm cán cân xuất nhập với Trung Quốc mỗi ngày lại thêm mất thăng bằng để làm kiệt quệ tài chính Việt Nam vì nguồn tiền đến từ thặng dư xuất khẩu với Âu Mỹ và kiều hối sẽ chui vào túi Trung Quốc hết. Giai đoạn này còn nguy hiểm gấp 10 lần giai đoạn 1 dùng áp lực quân sự chiếm đất chiếm đảo.

Để đối phó lại, nhất là trong hiện tình kinh tế toàn cầu suy thoái, chỉ có cách là:

- Tăng cường xuất khẩu, tăng cường kinh doanh với các nước phương Tây.

- Nới rộng tự do cho người dân trong nước để Việt kiều các nước Tây phương có lí do tiếp tục gửi tiền về.

Cho tới nay nguồn ngoại tệ chảy vào nước đều đến từ Tây phương theo 2 nguồn là thặng dư xuất nhập và kiều hối. Lượng tiền này tương đương bằng 1/3 tổng sản lượng của cả nước. Nhưng có điều cần phải biết:

Trong hiện tình suy thoái kinh tế toàn cầu, rất khó mà cạnh tranh được với dumping của Trung Quốc. Ngoài ra những loại hàng đến từ các nước kém mở mang phần nhiều là giống nhau nên người tiêu thụ Âu Mỹ có nhiều lựa chọn, thường dành ưu tiên cho những đồ đến từ những nước biết kính trọng nhân quyền. Nếu nhà cầm quyền CSVN vẫn cứ coi "Đòi hỏi Nhân quyền Dân quyền" là chống lại mình thì khó mà bán đồ cho các nước dân chủ Tây phương được.

8 tỷ Đô la kiều hối (không kể tiền chui) phần nhiều là tiền của người Việt di tản gửi về giúp gia đình trong nước và nhờ vậy cả chục triệu người sống được. Những người gởi tiền đã luống tuổi, người thân trong nước cũng mỗi ngày một ít; nguồn kiều hối sẽ cạn dần nếu con cháu những người này thấy không có lí do gì tiếp tục gửi tiền về để nuôi dưỡng bộ máy đàn áp dân quyền nhân quyền của Đảng.

Tôi xin kết luận: Nhà cầm quyền ĐCSVN không thể cứ tiếp tục lơ lửng giữa bầu trời Trung Quốc và đất Hoa Kỳ được nếu không muốn như một trái khí cầu, càng bay cao gần trời Trung Quốc, càng dễ bị nổ tung. Đã đến lúc phải có một sự chọn lựa rõ ràng.

Phong Uyên

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image


TC Giận Dữ vì Thủ Tướng "Ăn Giày"
Vụ việc xảy ra khi ông Ôn Gia Bảo có bài diễn văn tại đại học Cambridge.

Trung Quốc đã phản ứng một cách giận dữ sau vụ một người ném một chiếc giày vào Thủ tướng Ôn Gia Bảo khi ông đang có bài diễn văn tại đại học Cambridge ở Anh.

Người phát ngôn bộ Ngoại giao nước này, bà Khương Du, nói người đàn ông làm gián đoạn bài phát biểu của Thủ tướng TQ đã có “hành vi đáng khinh bỉ”.

Phản ứng của Trung Quốc mạnh mẽ hơn nhiều so với khi cựu Tổng thống Mỹ George W Bush bị ném hai chiếc giày tại Iraq.

Một thanh niên 27 tuổi đã bị buộc tội gây rối trật tự công cộng sau khi vụ việc này xảy ra tại Anh.

Chiếc giày bị ném vào Thủ tướng Ôn Gia Bảo trong khi ông đang có bài diễn văn về kinh tế toàn cầu tại đại học Cambridge.

Chiếc giày không ném trúng mục tiêu và cũng không hẳn làm gián đoạn bài diễn văn của ông Ôn. Tuy nhiên Trung Quốc đã đưa ra một tuyên bố đầy giận dữ.

Người phát ngôn Khương Du nói: “Phía Trung Quốc đã bày tỏ thái độ mạnh đối với việc để xảy ra sự cố này”.

Bà Khương Du cho biết chính phủ Anh đã xin lỗi về “hành vi đáng khinh bỉ” của người phản đối, và hành động này sẽ không ảnh hưởng tới quan hệ song phương.

Những người dùng internet Trung Quốc thì tỏ ra không ngoại giao lắm khi bày tỏ sự giận dữ của họ.

Một người có vẻ có vé vào dự sự kiện đã viết: “Tôi nghĩ rằng tay này rất ngu. Hắn cáo buộc Thủ tướng là nhà độc tài. Điều này chẳng có logic gì cả”.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Obama và McCain

Ngô Nhân Dụng

Tháng 11 năm ngoái, khi Nghị Sĩ John McCain gọi điện thoại chúc mừng Nghị Sĩ Barack Obama trong đêm ông đắc cử tổng thống, Obama nói với McCain: “Tôi sẽ cần ông giúp tôi.” Và John MacCain trả lời: “Mặc dù khác nhau rất nhiều, chúng ta đều là người Mỹ cả.”

Ngay trong tuần này, Tổng thống Barack Obama có thể nhờ Nghị Sĩ John McCain giúp. Có những chuyện cần giúp gấp và những chuyện lâu dài, có chuyện lớn và chuyện nhỏ. Chuyện gấp bây giờ là làm sao quốc hội Mỹ thông qua nhanh chóng số tiền cho kế hoạch kích thích kinh tế. Hạ Viện đã thông qua dễ dàng vì đảng Dân Chủ chiếm đa số. Nhưng tại Thượng Viện thì đảng Dân Chủ còn thiếu một phiếu mới đủ 60 phiếu để vượt qua được rào cản filibuster. Hơn nữa, đảng Dân Chủ cũng không muốn một mình chịu trách nhiệm về kế hoạch kinh tế này.

Một tuần sau khi nhậm chức, Tổng Thống Obama đã đích thân sang trụ sở Quốc Hội gặp các nghị sĩ và dân biểu Cộng Hòa để xin họ giúp Hành Pháp sớm có tiền kích thích kinh tế. Nhưng khi Hạ Viện bỏ phiếu, tất cả các dân biểu Cộng Hòa đã chống, cho thấy cố gắng của ông Obama chưa thành công. Ngay sau đó, Nghị Sĩ John McCain đã đánh tiếng nói rằng ông Obama cần cố gắng hơn nữa. Cố hơn nữa có nghĩa là phía đảng Dân Chủ phải chịu chấp nhận một số sửa đổi mà bên Cộng Hòa đề nghị trong dự luật gần 900 tỷ này.

Nghị Sĩ McCain có thể giúp Tổng Thống Obama trong những cuộc mặc cả chính trị ở Thượng Viện, sao cho kế hoạch kích thích kinh tế được thông qua sớm với đa số lớn chứng tỏ tinh thần hai đảng hợp tác có thật, như ông Obama vẫn hô hào. Nhưng trên đường dài ông Obama có thể nhờ ông McCain những chuyện lớn hơn nữa.

Một chuyện lớn, đáng công nhờ nhỏi, là thực hiện khẩu hiệu mà ông Obama đã nhấn mạnh trong thời gian tranh cử: Thay đổi nước Mỹ.

Khi dân Mỹ bỏ phiếu giúp ông Obama đạt được số phiếu của dân và phiếu cử tri đoàn cao kỷ lục, họ nói lên niềm mong mỏi và hy vọng nước Mỹ sẽ có nhiều điều thay đổi. Ông Obama sẽ có ít nhất 4 năm để làm được một vài điều, đáp ứng niềm hy vọng đó. Ông sẽ phải chọn một vài vấn đề lớn để thực hiện lời hứa của mình. Mà ông sẽ chỉ thực hiện được nếu có sự hợp tác giữa hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ. Nghị Sĩ John McCain có thể giúp Tổng Thống Obama trong cố gắng hợp tác đó.

Trước ngày Tổng Thống Obama nhậm chức, nhật báo New York Times và đài truyền hình CBS đã phỏng vấn 1,100 người Mỹ. Có gần 80% đặt nhiều hy vọng vào ông Obama, nhưng đa số dân Mỹ cho rằng trong hai năm đầu tiên của nhiệm kỳ, vị tổng thống thứ 44 của nước Mỹ sẽ không thể nào làm được hai điều ông đã hứa. Ðó là hứa chấm dứt xong cuộc chiến tranh ở Iraq, và lời hứa cải tổ hệ thống y tế. Hai phần ba dân Mỹ nghĩ rằng trong hai năm tới kinh tế Mỹ sẽ chưa thể phục hồi, dù ông Obama và quốc hội sẽ đưa ra những ngân sách chi tiêu hàng ngàn tỷ mỹ kim để kích thích các hoạt động tiêu thụ và sản xuất.

Nhưng sau này khi lịch sử xét đoán thành tích của Tổng Thống Obama, những vấn đề như chiến tranh Iraq hay kinh tế suy thoái sẽ chỉ là những vấn đề ngắn hạn thôi. Nếu ông Obama muốn được ghi trong sử sách là một vị tổng thống đã “thay đổi nước Mỹ,” ông sẽ phải tấn công vào những chuyện lớn. Ðó là các vấn đề tồn tại từ lâu mà nếu thay đổi sẽ để lại hậu quả lâu dài hơn. Nhưng đó cũng là những vấn đề khó thay đổi hơn. Muốn thay đổi được phải có sự hợp tác giữa hai đảng, cho nên ông Obama cần nhờ ông McCain giúp sức.

Nghị Sĩ John McCain sẽ chỉ là một trong số 100 nghị sĩ, lại ngồi trong đảng đối lập thiểu số trong Thượng Viện. Ông đã là một ứng cử viên tổng thống, nhưng như vậy cũng không đủ gây ảnh hưởng. Ðã có biết bao nhiêu nghị sĩ từng làm ứng cử viên tổng thống rồi sau đó vẫn đóng những vai trò mờ nhạt, như các cố Nghị Sĩ George McGovern, Bob Dole, hay đương kim Nghị Sĩ John Kerry.

Tuy vậy, Nghị Sĩ John McCain có thể vận động tinh thần hợp tác giữa hai đảng để làm nên lịch sử. Vì ông trong quốc hội ông được tiếng là một người “ôn hòa.” Chắc chắn ông không phải là một người có đầu óc “giáo điều,” cố chấp, cho nên dễ đối thoại. Và ông cũng được tiếng là người không chịu hùa theo áp lức của những quyền lợi riêng biệt, bè phái, cực đoan. Ông là người dám đi ngược dư luận để bảo vệ các nguyên tắc. Với uy tín đó ông có thể giúp ông Obama thuyết phục các nghĩ sĩ Cộng Hòa khác, với điều kiện ông Obama cũng tỏ ra ôn hòa và thực tế, không để cho khuynh hướng cực đoan trong đảng Dân Chủ làm áp lực.

Hệ thống quốc hội với hai viện tạo cơ hội cho hai ông Obama và McCain hợp tác thay đổi nước Mỹ. Thượng Viện là nơi quyết định nhiều chính sách quốc gia quan trọng. Trong quá khứ, những đạo luật thay đổi nước Mỹ quan trọng nhất, giải quyết những vấn đề nhức nhối lâu đời nhất, đều do sự hợp tác giữa các nghị sĩ thuộc hai đảng ở Thượng Viện. Thí dụ, những đạo luật về dân quyền, bảo vệ quyền bỏ phiếu của người da đen trong thời Tổng Thống Johnson; và các đạo luật cải tạo hệ thống an sinh xã hội để giảm bớt số người sống ỷ lại nhờ trợ cấp, trong thời Tổng Thống Clinton. Ðạo luật thứ nhất nằm trong chủ trương của đảng Dân Chủ, đạo luật thứ hai vẫn là điều đảng Cộng Hòa thúc đẩy nhiều năm. Cả hai điều đó chỉ được quốc hội thông qua khi hai đảng chính trị cộng tác với nhau.

Thượng Viện trong Quốc Hội Mỹ đóng vai trò đặc biệt. Ðó là nơi các nhà chính trị có nhiều thời giờ để suy nghĩ chín chắn hơn, cưỡng lại những áp lực của dư luận nhất thời. Các đại biểu Hạ Viện cứ 2 năm phải được bầu lại, cho nên họ dễ bỏ phiếu theo ý muốn nhất thời của các cử tri trong đơn vị của mình. Các nghị sĩ 6 năm mới phải ứng cử lại, họ có thể chờ cho dư luận nguội đi bớt trước khi bỏ phiếu. Nhiều dự luật được đa số các đại biểu thông qua rồi lên Thượng Viện bị ngâm lại, chính vì các nghị sĩ muốn suy nghĩ chín chắn coi đó có phải là một vấn đề thiết yếu đối với chính sách quốc gia hay không. Có những vấn đề quan trọng bị Thượng Viện ngâm lại không biểu quyết, cũng có lý do để các nghị sĩ lắng nghe thêm nhiều ý kiến đối lập. Thủ tục lập pháp sẽ mất nhiều thời giờ hơn, nhưng bù lại sẽ nhiều lúc tránh được những quyết định hấp tấp.

Thượng Viện Mỹ là nơi ngăn cản các vị tổng thống không cho họ thí nghiệm những đường lối cực đoan do nhu cầu nhất thời; do đó, cũng giúp họ giữ thái độ ôn hòa và trung dung hơn.

Sau khi Tổng Thống Gorges W. Bush đắc cử lần thứ hai, áp lực của các nhóm bảo thủ về xã hội muốn ông thi hành những lời hứa với họ. Thí dụ, tu chính hiến pháp để cấm hôn nhân đồng tính. Nhưng ông Bush biết rằng việc tu chính hiến pháp rất khó khăn, ý kiến đó thế nào cũng không qua được cửa Thượng Viện; cho nên ông có thể bỏ qua không làm, mà không bị coi là thất hứa. Ðối với Tổng Thống Obama, Thượng Viện Mỹ sẽ là nơi giúp ông tránh không phải làm theo áp lực của những áp lực phe phái do quyền lợi đặt biệt, thí dụ như áp lực của các công đoàn. Các công đoàn đã làm áp lực rất mạnh với quốc hội để thông qua dự luật buộc các xí nghiệp phải cho lập nghiệp đoàn mà chỉ cần đa số công nhân ký tên yêu cầu, mà không cần bỏ phiếu kín. Với một đạo luật như vậy, các công đoàn sẽ rất dễ bành trướng và lạm dụng uy thế. Nhưng nếu dự luật này được chuyển lên Thượng Viện, người ta biết rằng các nghị sĩ sẽ không thông qua; ít nhất các nghị sĩ Cộng Hòa sẽ đủ trên 40 phiếu để dùng thủ tục filibuster để ngăn lại, vì họ sẽ được nhiều nghĩ sĩ Dân Chủ hợp tác.

Nhưng trong số các nghị sĩ Cộng Hòa cũng có nhiều người “ôn hòa” như Nghị Sĩ John McCain. Nếu ông Obama có thể cưỡng lại sức ép phe phái trong đảng Dân Chủ, ông có thể nhờ ông McCain bắt tay với nhiều nghị sĩ Cộng Hòa như hai bà Olympia Snowe và Susan Collins ở tiểu bang Maine, để qua được cánh cửa filibster ở Thượng Viện trong một số dự luật gây tranh luận gay go.

Chính phủ Obama sẽ có cơ hội thực hiện nhiều thay đổi lớn: Cải tổ hệ thống y tế; lo cứu quỹ hưu bổng xã hội cho khỏi cạn tiền; tiến tới độc lập,tự chủ về năng lượng; và nhất là vẽ lại cả cơ cấu giám sát tài chánh của nước Mỹ, một nhu cầu vừa cấp thiết vừa có tính chất lâu dài.

Ông McCain có thể giúp ông Obama trong những nỗ lực này: Thể hiện sự hợp tác giữa hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ để thay đổi một số vấn đề đè nặng trên xã hội Mỹ. Với những vấn đề quá lớn đó, một đảng chính trị, dù cầm quyền trong cả Tòa Bạch Ốc và quốc hội cũng không thể một mình thay đổi được. Hy vọng rằng những gì hai ông Obama và McCain nói với nhau trong đêm mùng 4 tháng 11 năm 2008, họ sẽ thực hiện được.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Khi dân Mỹ chọn một đảng chính trị

Ngô Nhân Dụng

Những người theo dõi chính trị nước Mỹ đều biết trong những tuần lễ đầu kể từ khi nhậm chức, Tổng Thống Barack Obama đã ký nhiều quyết định đảo ngược lại các chính sách của ông Gorges W. Bush, vị tổng thống tiền nhiệm.

Ông Obama ra lệnh đóng của trại tù Guantanamo trong vòng một năm; mà năm 2003 chính Tổng Thống Bush đã quyết định dùng nhà giam đó. Ông Obama cho phép cơ quan viện trợ USAID được giúp tiền cho những chương trình kế hoạch hóa gia đình của nước khác, dù những chương trình này có thể dùng phương pháp phá thai.

Nhân viên chính phủ Obama cũng cho thấy nhiều chính sách của chính phủ cũ sắp thay đổi. Ông giám đốc trung ương tình báo CIA xác định với các đại biểu quốc hội rằng ông coi việc giội nước dọa làm người ta chết ngạt là một hình thức tra tấn, một quan điểm khác ông giám đốc cũ. Ông bộ trưởng tài chánh mới nói với quốc hội rằng ông thấy chính phủ Trung Quốc đã “cố ý dìm giá” đồng nhân dân tệ để tạo hối suất quá thấp, cho các nhà xuất cảng Trung Quốc được lợi. Lời kết tội đó không chắc đã đưa tới những hành động cụ thể trong những ngày tháng sắp tới, nhưng đã thay đổi không khí cuộc bang giao ngay lập tức. Các viên chức về kinh tế, thương mại hai nước sắp gặp nhau sẽ không mang nụ cười thân thiện như thời ông Bush còn làm tổng thống.

Một quyết định của ông Obama liên can đến tiểu bang California. Năm 2002 California đã làm luật buộc các hãng xe hơi phải giảm 30% số khí thải làm nóng khí quyển, tăng hiệu quả dùng xăng nhanh gấp đôi so với đòi hỏi của luật liên bang. Cơ quan Bảo Vệ Môi Trường (EPA) dưới thời Tổng Thống Bush đã bác bỏ điều luật này của tiểu bang, mặc dù tòa án tối cao đã phán California làm đúng. Ông Obama đã ra lệnh EPA phải chấp nhận đạo luật của tiểu bang, đi ngược lại với người tiền nhiệm.

Những thay đổi trên đây được nhiều người khen và cũng bị nhiều người chỉ trích. Ở đây chúng tôi không có ý bàn về nội dung các chính sách này. Ðiều chúng tôi quan tâm là chính quyền mới đã thay đổi ngay những chính sách cũ, ngay trong những ngày đầu tiên lên cầm quyền. Và đó là một đặc tính của quốc gia có hai đảng lớn này. Mỗi lần nước Mỹ thay đổi đảng nắm quyền tổng thống chúng ta đều chứng kiến cảnh đó.

Ông Obama muốn chứng tỏ ông làm đúng những lời đã hứa với những người đã đi vận động bầu ông làm tổng thống. Về trại giam Guantanamo thì hai ứng cử viên tổng thống năm ngoái đều chủ trương phải đóng cửa. Cả hai ông Obama và McCain đều không chấp nhận phương pháp đe dọa nhấn nước khi hỏi cung. Nhưng ông Obama vẫn muốn thi hành lời đã hứa bằng những hành động nhanh chóng và quyết liệt, nếu không những người đã ủng hộ ông sẽ thất vọng.

Nhiều người ủng hộ ông Obama khi tranh cử đã tỏ ý thất vọng. Những tổ chức người đồng tính nói họ “cực kỳ thất vọng” khi ông Obama mời một vị mục sư ra đọc những lời cầu nguyện và chúc phúc trước lễ tuyên thệ của ông, mà vị mục sư này nổi tiếng về hoạt động chống hôn nhân đồng tính ở California.

Khi đảo ngược chính sách viện trợ liên can tới việc “phá thai” thì ông Obama cố ý cho thấy ông khác với ông Bush trên một vấn đề rất quan trọng. Từ lâu, đây vẫn là một điểm phân biệt giữa hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa. Ngay khi mới nhậm chức năm 2001, Tổng Thống Bush đã ra lệnh USAID không được trợ cấp những chương trình hạn chế sinh đẻ ở nước khác, nếu các chương trình này chấp nhận hành động phá thai. Lúc đó ông Bush đã đảo ngược một chính sách của cựu Tổng Thống Clinton. Trước đó 8 năm, Tổng Thống Clinton cũng hành động tương tự: đảo ngược một quyết định cũ của Tổng Thống Reagan.

Vấn đề chống phá thai trong các chương trình viện trợ có tính chất quan trọng đối với 300 triệu dân Mỹ như thế nào?

Thực ra, đối với an ninh quốc gia hoặc quyền lợi kinh tế của nước Mỹ; chuyện một cô gái ở Uganda hay ở Indonesia có phương tiện phá thai hay không không hệ trọng bao nhiêu. Nhưng trong dân chúng Mỹ có những nhóm cử tri đông đảo thuộc cả hai đảng rất quan tâm đến vấn đề phá thai, mà họ coi là giết các sinh mạng đang thành hình. Nhiều người quyết liệt chống phá thai vì lý do tôn giáo, đạo đức. Ngược lại nhiều người Mỹ coi phá thai là một thứ quyền tự do của phụ nữ mà nam giới không coi trọng.

Các Tổng Thống Ronald Reagan và Gorges W. Bush được đảng Cộng Hòa đưa ra tranh cử, khi cầm quyền họ thi hành chính sách của đảng. Khi dân Mỹ bỏ phiếu, những người quyết tâm chống phá thai biết nên bầu cho các ứng cử viên Cộng Hòa, tin tưởng đó là những người đồng ý với lập trường đó. Các cử tri bầu cho đảng Dân Chủ nghĩ ngược lại, và bầu ngược lại.

Trong đời sống chính trị nước Mỹ, mỗi đảng chính trị là tập hợp của nhiều nhóm cử tri. Mỗi nhóm cử tri có những mối quan tâm riêng và cũng chia sẻ chung một số quyền lợi kinh tế và giá trị đạo đức. Họ có thể tụ họp dưới mái lều một đảng vì chia sẻ những quyền lợi, những khát vọng lớn với nhau.

Lòng ái quốc, lòng yêu tự do, tôn trọng quyền của mỗi công dân, ý muốn nước Mỹ hùng cường nhất thế giới; đó là những khát vọng lớn. Cả hai đảng có thể đều đề cao những giá trị, những khát vọng đó. Vậy làm cách nào để các cử tri thấy hai đảng khác nhau? Mỗi đảng phải tự chứng tỏ họ khác đảng kia, để các cử tri phân biệt. Thí dụ: Ai cũng yêu tự do, nhưng quyền tự do nào được coi là quan trọng hơn quyền nào? Tự do chọn hợp đồng bảo hiểm y tế tư, hoặc tự do phá thai theo ý muốn, quyền tự do nào coi là quan trọng hơn? Ai cũng muốn quốc gia hùng mạnh, nhưng thế nào mới gọi là hùng mạnh? Ðó là những câu hỏi mà mỗi đảng chính trị có thể đưa ra những câu trả lời khác nhau trong mỗi mùa tranh cử. Ðiều quan trọng là các cử tri được quyền tự do chọn, khi họ bỏ phiếu. Và quyết định của đa số cử tri sẽ được người khác tôn trọng. Ðó là “luật chơi dân chủ tự do.”

Những nhóm người Mỹ muốn bảo vệ quyền tự do mang súng, phần lớn ở miền núi hoặc nông thôn, ủng hộ đảng Cộng Hòa. Những người nhiệt tín về tôn giáo, và muốn cả xã hội chia sẻ lối sống theo đạo lý như của tôn giáo họ dậy, họ cũng thích đảng Cộng Hòa hơn. Những người chủ trương nên cho khai thác thêm nhiều mỏ dầu ở Mỹ, thay vì ngăn cản với những lý do như bảo vệ thiên nhiên và môi trường sống, những người đó cũng thích đảng Cộng Hòa. Và còn nhiều nhóm khác, với những mối quan tâm hoặc quyền lợi đặc biệt, họ đã tụ họp chung dưới cùng một mái lều của đảng Cộng Hòa.

Ở phía bên kia, các công đoàn hoặc các nhóm di dân mới thường ủng hộ đảng Dân Chủ, theo một truyền thống đã có từ nhiều thế kỷ. Các thầy,cô giáo hay đứng về phía đảng Dân Chủ, đảng thường bảo vệ quyền lợi nghiệp đoàn giáo chức. Những người thiết tha bảo vệ khí quyển thấy đảng Dân Chủ là đồng minh của họ; cũng như những công nhân ngành may quần áo muốn bảo vệ công việc làm trước cuộc tấn công của hàng dệt may rẻ tiền từ các nước mới lên, họ coi là đảng Dân Chủ bảo vệ họ mạnh mẽ hơn.

Những thí dụ nêu trên chứng tỏ mỗi đảng chính trị ở Mỹ quy tụ nhiều nhóm dân chúng với các quyền lợi dị biệt. Họ không giống nhau hoàn toàn nhưng cùng bỏ phiếu cho một đảng vì tìm thấy trong đó những ứng cử viên chia sẻ một mối quan tâm như mình. Có những mối quan tâm lớn, có thứ nhỏ. Nhưng lớn hay nhỏ đều tương đối; vì có vấn đề đối với người này được coi là nhỏ nhưng đối với người khác lại là rất lớn.

Các nhà chính trị Mỹ thường thay đổi ý kiến tùy theo cử tri của họ, chứ không phải chỉ tùy theo lập trường của đảng họ. Ðối với đảng Dân Chủ chẳng hạn, quyền công dân được mang súng không bao giờ được ghi vào cương lĩnh của đảng. Nhưng bà Kirsten Gillibrand, mới được đề cử tạm giữ chức nghị sĩ tiểu bang New York trong 2 năm thay thế bà Hillary Clinton, lại là người cổ động mạnh mẽ cho quyền mang súng. Bà đã là dân biểu một vùng miền núi và miền quê ở tiểu bang New York, với rất nhiều cử tri coi việc xách súng đi săn và tự vệ là một thứ quyền thiêng liêng. Có cử tri sẵn sàng bỏ qua nhiều thứ quyền lợi khác, nhưng phải bảo vệ một quyền tự do mà họ thiết tha nhất. Nhiều người trong đảng Dân Chủ không thích bà Gillibrand, nhưng ông thống đốc New York cũng thuộc đảng Dân Chủ lại ủng hộ bà, vì ông mong các cử tri của bà sẽ bỏ phiếu cho ông trong hai năm nữa!

Có lúc mỗi đảng chính trị ở Mỹ trình bày một số triết lý chính trị lớn, khác với đảng kia, để thu hút các cử tri. Lập trường của một đảng không thể chỉ nêu lên các vấn đề nho nhỏ của địa phương. Thí du trong vấn đề chính phủ và doanh nghiệp, đảng Cộng Hòa thường vẫn đề cao vai trò của tư nhân, đề cao thị trường tự do; còn đảng Dân Chủ quan tâm đến các trách nhiệm lớn mà chính phủ phải gánh vác khi tư nhân không đảm trách được. Về đối ngoại, đảng Cộng Hòa thường tỏ ra cứng rắn, chủ trương phải sử dụng sức mạnh quân sự của nước Mỹ; còn đảng Dân Chủ thường tìm cách chinh phục các nước khác bằng viện trợ và hợp tác. Rõ ràng lập trường họ khác nhau trong những vấn đề lớn.

Tuy hai đảng thường công bố những tư tưởng nền tảng khác nhau như vậy, nhưng trong thực tế họ không phải lúc nào cũng gắn bó, ôm chặt lấy các lý thuyết đại cương này. Những triết lý căn bản trên khi đem thực hành sẽ thay đổi tùy theo hoàn cảnh. Có thật đảng Cộng Hòa chủ chiến, Dân Chủ hiếu hòa hay không? Chúng ta nhớ chính Tổng Thống Kennedy Ðảng Dân Chủ đã bắt đầu đưa các cố vấn Mỹ vào Việt Nam, cho tới khi Tổng Thống Nixon thuộc đảng Cộng Hòa chấm dứt cuộc chiến và rút quân về nước. Ông Bush khi tranh cử năm 2000 đã chỉ trích ông Clinton đem quân can thiệp vào chiến tranh Kosovo, mà ông thề sẽ không bao giờ dùng quân Mỹ giúp xây dựng chế độ mới cho những quốc gia khác. Nhưng sau đó chính Tổng Thống Bush bắt đầu cuộc chiến Iraq, để thay đổi chế độ chính trị của nước này; còn ông Obama thuộc đảng Dân Chủ lại hứa sẽ rút quân chiến đấu về Mỹ.

Về chính sách đối nội cũng vậy. Chính các vị Tổng Thống Reagan và Bush đã gia tăng số người và số cơ quan trong guồng máy nhà nước cũng như tăng ngân sách chính phủ liên bang; trong khi ông Clinton cắt giảm trợ cấp xã hội. Tổng Thống Bush luôn luôn đề cao tự do mậu dịch, nhưng khi cầm quyền ông lại tăng thuế nhập cảng thép, để chiều lòng các cử tri ở các tiểu bang sản xuất thép; ông chỉ bãi bỏ các sắc thuế đó sau khi tái đắc cử năm 2004. Ông Bush cũng chủ trương phải cắt giảm ngân sách chi tiêu của nhà nước như mọi vị tổng thống Cộng Hòa. Nhưng chính phủ của ông Bush đã tăng chi rất nhiều; đến mức biến ngân sách thặng dư (trên 200 tỷ Mỹ kim) khi ông nhậm chức đã trở thành khiếm hụt (hàng ngàn tỷ) trong vòng tám năm. Hai đảng chính trị ở Mỹ có những lúc phải chứng tỏ họ khác nhau, để cho các cử tri bỏ phiếu lựa chọn. Nhưng cũng có lúc họ đồng ý với nhau, vì có những nhu cầu chung của cả nước, hiển nhiên không ai cãi được.

Khi kinh tế Mỹ lâm vào khủng hoảng thì cả ông Bush và ông Obama cùng chủ trương phải bành trướng vai trò của nhà nước, trong đó có việc tăng ngân sách chi tiêu hàng ngàn tỷ Mỹ kim mới.

Người ta dễ tưởng lầm rằng các vị tổng thống của hai đảng sẽ dễ thỏa hiệp với nhau trong những vấn đề nho nhỏ nhưng cương quyết bảo vệ lập trường của đảng trong những vấn đề lớn, những “quốc gia đại sự.” Thực ra không phải như vậy. Hai vị Tổng Thống Bush và Obama đồng ý với nhau trong kế hoạch lớn cần 700 tỷ Mỹ kim để cứu nguy tài chánh; ông Obama chưa nhậm chức đã giúp ông Bush thúc đẩy quốc hội chấp thuận món tiền này. Nhưng hai vị tổng thống này lại cương quyết bảo vệ những lập trường riêng trong những vấn đề nho nhỏ, không thỏa hiệp được. Thí dụ, quyết định phương pháp hỏi cung các tù nhân bắt được ở Afghanistan, họ khác nhau. Họ bất đồng ý kiến trong quyết định chi hay không chi mấy triệu Mỹ kim viện trợ cho một chương trình kế hoạch hóa gia đình ở một nước Á Châu hoặc Phi Châu, nếu chương trình đó chấp nhận việc phá thai. Trong chuyện này thì ông Bush chắc chắn nói không, ông Clinton và ông Obama thì cả hai đều nói có. Một vị tổng thống Cộng Hòa trong tương lai lên thay ông Obama sẽ cũng hành động giống ông Bush.

Cho nên khi người Mỹ nghe một vị tổng thống hô lên một khẩu hiệu, họ biết mỗi ông tổng thống hiểu nghĩa khẩu hiệu đó một cách. Khi một vị tổng thống hô hào tinh thần “Trách nhiệm” thì quý vị hiểu là gì? Một vị tổng thống Cộng Hòa chắc đang nhấn mạnh tới trách nhiệm của mỗi cá nhân phải tự lo cho mình, không nên chờ nhà nước giúp một tay hay một đồng đô la! Cho nên ông Bush muốn giảm bớt thuế, để mỗi công dân tự đóng tiền vào quỹ hưu bổng hay quỹ y tế họ lựa chọn lấy. Ngược lại, khi ông Obama đề cao khẩu hiệu “Thời đại của trách nhiệm” thì ông lại muốn nói đã tới lúc mọi người phải quên mình bớt đi mà nghĩ đến trách nhiệm đối với người khác, đối với quốc gia, với tập thể.

Phải công nhận rằng làm người dân một nước tự do rất vất vả. Mọi quyết định lựa chọn đều khiến người ta phải suy nghĩ, phân biệt, tức là vất vả.

Như đã trình bày trong bài trên, một người Mỹ khi bỏ phiếu bầu có thể lựa chọn theo quyền lợi chung, theo quyền lợi lớn của cả quốc gia; nhưng cũng có thể họ bỏ phiếu theo nhu cầu hoặc quyền lợi rất chuyên biệt, rất riêng tư của họ.

Như vậy thì một đảng chính trị nên đóng vai đại diện cho tất cả mọi người dân trong nước, hay chỉ có tham vọng làm đại biểu cho từng nhóm cử tri thôi? Ðây là một câu hỏi lý thú nên suy nghĩ. Câu hỏi này càng quan trọng khi có những đảng chính trị cứ nhân danh “đại diện cho toàn dân” để ép tất cả mọi người phải vâng lệnh mình. Chúng ta nên chọn lối chỉ có một đảng chung thôi, theo lối bán buôn, bán sỉ; hay là cứ để cho nhiều đảng bán lẻ rồi chọn trong nhiều đảng khác nhau? Chúng tôi sẽ chia sẻ ý kiến cùng quý vị trong một bài sau.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

HOA KỲ CỦA THẾ KỶ 21
Nguyễn Xuân Nghĩa
Động như Thủy, Tĩnh như Sơn...
Đệ nhất siêu cường cổ kim và bài toán của thế giới.

Mãi hai tuần sau khi nhậm chức, Tổng thống Barack Obama mới bắt đầu cho thế giới biết quan điểm lập trường về đối ngoại của Chính quyền mới của Hoa Kỳ.

Tại Thượng đỉnh Kinh tế World Economic Forum vào cuối tháng Giêng năm 2009 ở thị trấn du lịch Davos của Thụy Sỹ, Hoa Kỳ không gửi tới một nhân vật có trọng lượng, vì đang bận chuyện kinh tế ở nhà với cuộc tranh luận về kế hoạch kích thích tại Quốc hội. Thứ Sáu mùng sáu tháng Hai, khi Tổng thống Obama giới thiệu dàn cố vấn kinh tế trước báo chí ở thủ đô thì một phái đoàn Mỹ xuất hiện tại Munich của Đức nhân hội luận về an ninh Munich Security Conference.

Đấy là lúc Hoa Kỳ có cơ hội thông báo đối sách mới của Chính quyền Barack Obama.

Do sáng kiến của nhà xuất bản Đức, Ewald-Heinrich von Kleist-Schmenzin, Hội luận Munich được tổ chức lần đầu vào năm 1962. Năm nay là kỳ thứ 45 và quy tụ hơn 300 nhân vật trong yếu về an ninh, quân sự và ngoại giao của các nước, cùng thảo luận với các học giả và truyền thông về các vấn đề lớn của địa cầu. Tham dự ba ngày Hội nghị kỳ này có Tổng thống Pháp, Thủ tướng Đức, Thủ tướng Ba Lan, Tổng thống A Phú Hãn, Phó Thủ tướng Nga, Tổng thư ký Minh ước NATO, Ủy viên Ngoại giao của Hội đồng Âu Châu và hơn 50 tổng bộ trưởng...

Nhưng mọi người đều chờ đợi phái đoàn của Hoa Kỳ, do Phó Tổng thống Joe Biden cầm đầu.
Sự kiện Hoa Kỳ đưa Phó Tổng thống vào hội nghị được các nước đánh giá là Chính quyền mới rất quan tâm đến các vấn đề quốc tế và được dư luận Mỹ kết luận là vai trò thế giá của Phó Tổng thống Biden trong nội các, không kém gì Phó Tổng thống Dick Cheney của Chính quyền Bush vừa mãn nhiệm.

Nhưng người ta cũng chú ý đến sự kiện phái đoàn Mỹ không có Ngoại trưởng Hillary Clinton và Tổng trưởng Quốc phòng Robert Gates. Tháp tùng Phó Tổng thống Biden lại có Cố vấn An ninh Quốc gia là Tướng James Jones và Đặc sứ của Tổng thống về A Phú Hãn và Pakistan là Đại sứ Richard Holbrooks. Mọi người đều chờ đợi một cuộc gặp gỡ song phương - chưa thể có - giữa Ngoại trưởng Iran và Phái đoàn Mỹ. Chưa thể có vì chính Tehran tuyên bố như trên theo kiểu nói thách.

Ngược lại, hội đàm giữa Phó Tổng thống Joe Biden với Phó Thủ tướng Nga Sergei Ivanov mới là có ý nghĩa vì Ivanov là người thân tín của lãnh tụ thực tế, Thủ tướng Vladinir Putin, của Nga, và vì đề tài của hội luận năm nay là "NATO, Liên bang Nga, Khí đốt và Trung Đông: Tương lai của An ninh Âu Châu".

Các hội nghị quốc tế khác về an ninh thường có tầm quan trọng giới hạn. Hội nghị của NATO chỉ quy tụ hai nước hội viên Bắc Mỹ và các hội viên Âu Châu mà không có Liên bang Nga, Trung Quốc hay Nhật Bản. Diễn đàn An ninh ARF của ASEAN là nơi các nước Á châu Thái bình dương nói chuyện về an ninh quốc tế mà không có sự tham dự của Âu Châu. Các hội nghị của Liên ninh Á Rập thì không quy tụ đủ ngần ấy quốc gia của khối Á Rập hay Hồi giáo, và tất nhiên cũng chẳng có các nước Tây phương hay Âu Châu.
Vì vậy, hội luận Munich mới là cơ hội gặp gỡ của nhiều quốc gia "trong cuộc" và là diễn đàn xuất hiện của Chính quyền Obama mà nhiều người chờ đợi.

Nhưng thật ra, chuyện ấy cũng... không quan trọng!
Một tuần nữa, hết còn ai nói tới Munich sau khi hội nghị kết thúc ngày mùng tám tháng Hai....

Trên đại thể, ban tham mưu về đối ngoại của Chính quyền Obama có nhiều khuôn mặt tiêu biểu cho chánh sách ngoại giao của đảng Dân Chủ: giới trí thức khoa bảng có nhiều quan hệ với Âu Châu do quá trình đào tạo và phục vụ. Họ đã từng cộng tác với các "lò trí tuệ" think tanks gần đảng Dân Chủ hoặc viết sách và giảng dạy trong các đại học ưu tú như Harvard, Princeton và Stanford.

Đó là Daniel Benjamin, Carlos Pascual hay Philip Gordon của Viện Brookings, Giáo sư Joseph Nye hay Samantha Powers của Harvard, Anne-Marie Slaughter của Princeton, Micheal McFaul của Standford. Họ có thể sinh trưởng tại Âu Châu như Ivo Daalder hoặc Samantha Powers, đã tốt nghiệp Oxford của Anh với học bổng Rhodes scholar như Suzan Rice hay Micheal McFaul, họ thông thạo Pháp ngữ như Philip Gordon hoặc Anne-Marie Slaughter (mẹ người Bỉ), kể cả Tướng James Jones là người đã học trung học tại Pháp...

Với hệ thống nhân sự và tư tưởng đó, Hoa Kỳ đang nối lại nếp cũ của các Chính quyền Dân Chủ là tăng cường mối quan hệ chiến lược với Âu Châu, chủ trương can thiệp kết hợp cả cương lẫn nhu theo kiểu thực tế, nhưng vẫn là can thiệp để giải quyết các bất công hay ách tắc trong thiên hạ sự. Hoa Kỳ sẽ triệt để theo đuổi ba mục tiêu đối ngoại là quốc phòng - cương - là ngoại giao - nhu - và phát triển kinh tế, nhưng sẽ lặng lẽ cho rơi một chủ điểm của phe "tân bảo thu" dưới thời Bush là phát huy dân chủ toàn cầu. Ngần ấy chuyện đều sẽ được giới bình luận nhắc tới. Qua lời phát biểu của Biden tại Munich, Hoa Kỳ của Barack Obama sẽ mở rộng đối thoại và hợp tác với các nước khác - chứ không đơn phương quyết định và bất chấp thiên hạ như thời Bush-Cheney. Tinh thần chính yếu là sự linh động, "động như thủy", chảy xuôi nhẹ nhàng như nước.

Đó là giai điệu êm tai cho Âu Châu, nhưng vẫn chỉ là khẩu hiệu ngoại giao...
"Tĩnh như sơn" mới là thực tế vững bền trường cửu của Hoa Kỳ, đệ nhất siêu cường của lịch sử cổ kim.

Trước hết, chạy đâu hay chảy đâu, và nói gì, thì nước Mỹ của thời Obama vẫn phải ứng phó với di sản của Clinton và Bush 43.
Khi Tổng thống Obama lên truyền hình Á Rập nói chuyện theo lối phân bua và... nhận lỗi là nước Mỹ đã có thái độ thiếu hữu nghị với khối Hồi giáo, ông tự chứng tỏ là người không hiểu lịch sử... Mỹ. Từ 10 năm nay, ngần ấy lần Mỹ ra quân đều là để bảo vệ các sắc dân Hồi giáo, từ chuyện Bosnia hay Kosovo trong vùng Balkan thời Clinton đến A Phú Hãn hay Iraq thời Bush. Không những bảo vệ dân Hồi giáo da màu, Mỹ còn tấn công vào các lực lượng da trắng như Croatia, hay chư hầu của Nga như Serbia. Đó là một chuyện mà dư luận đã quên.

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc với sự tan rã của Liên bang Xô viết cuối năm 1991, Hoa Kỳ từ thời Clinton đến Bush đều đẩy lá chắn an ninh của Minh ước NATO về hướng Đông, ngày càng sát với thành lũy của Liên bang Nga. Thậm chí mũi xung kích của Mỹ còn lăn tới Trung Á và bao vây nước Nga ở cả ba mặt: hướng Bắc tại vùng biển Baltic, hướng Đông tại khu vực Balkan của Liên bang Nam Tư cũ, vào tới tận Georgia và Ukraine, và hướng Nam là các nước Cộng hoà Trung Á quanh A Phú Hãn. Chính quyền Bush còn bắt cá hai tay, vừa kéo Cộng hoà Hồi quốc Pakistan vào cuộc chiến chống khủng bố tại A Phú Hãn vừa xây dựng quan hệ chiến lược với tử thù của Pakistan là Ấn Độ, đồng minh truyền thống của Liên bang Xô viết - Liên bang Nga thời nay.

Đáng ngại nhất cho nước Nga của Vladimir Putin là Minh ước NATO - nghĩa là Hoa Kỳ - còn dự tính thiết lập hệ thống phòng thủ chiến lược (balllistic missile defense BMD) tại tâm điểm của Đông Âu là Cộng hoà Tiệp và Ba Lan. Hãy nhớ tới Ba Lan của liên minh quân sự Warsaw thời Liên Xô thì ta hiểu nỗi lo của Putin. Một hệ thống tự vệ có khả năng phòng vệ tuyệt đối thì cũng là hệ thống quân sự có sự uy hiếp tuyệt đối: Hoa Kỳ và các nước Đông Âu hết sợ Liên bang Nga nữa và muốn làm gì thì làm thì Putin phải rét. Nếu nước Mỹ lại đòi dân chủ hoá như đã góp phần thực hiện tại Georgia, Ukraine hay Serbia, hoặc đòi quyền độc lập cho một địa phương theo Hồi giáo như tại Kosovo - thành tích tập thể của Clinton và Bush - thì còn gì là khả năng liên bang của Đế quốc Nga với rất nhiều xứ Hồi giáo bên trong lãnh thổ?

Trái núi Hoa Kỳ đã lừng lững xê dịch như vậy và đây là hiện tượng "địa cầu chuyển trục".
Vì vậy, đương khi Hoa Kỳ mắc bận tại Iraq và nhờ dầu thô lên giá, Liên bang Nga của Putin đã mở cuộc phản công, và chuyển lại cái trục an ninh trên đại lục địa Âu-Á.

Chuyện Georgia bị tấn công và Ukraine bị Nga uy hiếp là điều tất yếu. Kế tiếp, Putin sẽ bẻ đũa từng chiếc để phá vỡ thế liên kết của Liên hiệp Âu Châu, bằng cách vừa hăm dọa các nước Âu Châu mới là Đông Âu xưa kia nằm trong quỹ đạo Xô viết, vừa dụ dỗ các nước Âu Châu cũ là Tây Âu. Khí đốt là một võ khí vừa công vừa thủ, vừa dọa vừa dụ.

Trong hiện tại, Liên bang Nga đang mấp mé khủng hoảng vì dầu thô sụt giá, dự trữ ngoại tệ hơn 750 tỷ nay chỉ còn chừng 400. Nhưng Putin vẫn còn chừng một năm giữ trớn và có thế mạnh nhất là nhờ sự nóng lòng sốt ruột của Obama về chiến trường A Phú Hãn.

Từ khi tranh cử cho đến khi nhậm chức, Barack Obama đã đưa hồ sơ A Phú Hãn lên hàng ưu tiên chiến lược. Nay ông đang gặp bài toán là làm sao tiếp vận cho chiến trường này mà không phải lệ thuộc vào Pakistan. Nếu không muốn đưa chiến cụ và xăng dầu từ hải cảng Karachi của Pakistan vào lãnh thổ A Phú Hãn, liên quân Hoa Kỳ và NATO chỉ còn hai ngả khả dụng là các nước Cộng hoà Trung Á phía Bắc A Phú Hãn hay một chế độ hung đồ phía Tây A Phú Hãn là Iran.

Bước qua Trung Á là phải trả giá với Liên bang Nga, vào bằng cửa Tây thì phải hòa giải với Iran, với khả năng xúi bẩy và đẩy cây của Putin!
Hoa Kỳ của Obama không thể giải quyết nổi cuộc chiến được coi là "sạch" và "có chính nghĩa quốc tế" là A Phú Hãn nếu không tranh thủ được sự hợp tác của Liên bang Nga. Và Putin biết rõ là mình còn chừng một năm nắm dao đằng chuôi trước khi xứ sở bị suy yếu vì khủng hoảng kinh tế xã hội, nên sẽ biết nói thách. Đòi giá thật cao....

Phó Thủ tướng Sergei Ivanov sẽ đòi gì với Phó Tổng thống Joe Biden? Chấm dứt kế hoạch phòng thủ BMD để buông trôi Ba Lan và Cộng hoà Tiệp? Lăn ngược lá chắn NATO về hướng Tây, hoặc ít ra cam kết không bành trướng NATO vào vùng phiên trấn của Nga? Hứa hẹn rút quân sau này khỏi Trung Á, vùng Caucasus, Hắc hải? Sẽ không triệt để bảo vệ ba nước Cộng hoà Baltic ở phía Bắc? Viết lại hiệp định tải giảm binh bị START sẽ mãn hạn năm nay và hợp đồng với Nga để quyết định lại về số phận hay tương lai Âu Châu, từ Đông về Tây?

Hay là... tháo chạy khỏi A Phú Hãn?
Tổng thống Bush bị cả thế giới lên án về vụ Iraq, nhưng vũng lầy Iraq đã chớm nở hoa dân chủ. Tổng thống Obama được cả thế giới ngợi khen về tinh thần hoà dịu, nhưng ông tồn tại được bao lâu nếu không thể giải quyết nổi chiến trường A Phú Hãn lý tưởng về ngoại giao mà vô vọng về quân sự và chính trị? Muốn đạt một giải pháp dù tạm bợ cho A Phú Hãn theo kiểu dồn quân đánh tới mà Bush đã từng áp dụng tại Iraq trước sự đả kích của Obama và đảng Dân Chủ (Nghị sĩ Trưởng khối Dân Chủ Harry Reid gọi đó là một vụ thất trận mà ông đã quên rồi!) Obama sẽ phải thỏa hiệp với Putin.

Ai, các quốc gia nào, sẽ trả giá cho sự thỏa hiệp ấy? Nhiều phần sẽ là Âu Châu!
Đôi khi "động như thủy" cũng dẫn tới hiện tượng lạ là vây một dòng sông vào một ao tù. Âu Châu sẽ nghĩ sao khi được biết về sự ngã giá ấy? Và tình nghĩa Mỹ-Âu khắng khít của ban tham mưu đối ngoại của Obama sẽ tìm đâu ra phép lạ? Trong hoàn cảnh đó, Phó Tổng thống Joe Biden phải ăn nói ra sao tại Munich?

Nhiều phần thì ông sẽ gây thất vọng vì không nói được gì thiết thực ngoài lời hùng biện ngoại giao vô bổ. Những gì thiết thực nhất thì lại không được công khai nói ra.

Nhưng nhìn về dài, mà chuyện an ninh là chuyện trường kỳ, Hoa Kỳ vẫn có thế mạnh để là siêu cường độc bá cả trăm năm. Đủ mạnh để vượt qua mọi kết quả tranh cử vài năm lại có một lần. Khi người ta nhìn từ Âu Châu, đấy mới là điều đáng sợ - và đáng ghét nhất - của nước Mỹ, kể cả dưới thời Obama...

Vào các kỳ tới, cột báo này sẽ giải thích vì sao trong một loạt bài về "Hoa Kỳ của Thế kỷ 21".


NGUYỄN XUÂN NGHĨA

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Bắn Cho Trúng , Đánh Cho Đúng
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh


Nếu có người thợ săn trên ba chục năm liền không mang về được một con thú hay một võ sĩ lên đài thi đấu 34 năm không đoạt được trận thắng nào thì chúng ta, người bàng quan, nghĩ sao? Theo đời thường thì hai kẻ đó thực đã chọn lầm nghề. Nhưng trong “nghĩa vụ cứu nước”, con đường đi phải tiếp tục, không thể nản chí, thoái lui.

Cứu nước quả là công trình gian khổ, lênh đênh, ngắn dài theo vận nước. Nhưng khi đối phương cũng đã thật nhiều phen lên thác xuống ghềnh, thất điên bát đảo và phía ta trầy trật, loay hoay chẳng có khả năng lật ngược thế cờ thì trong cuộc đấu, suy cho thấu, ta chẳng thể nhận là cao cường, kẻ đấu tranh chính trị chẳng thể tự cho là cao thủ. Có nhiều điều phải xem xét và tính toán lại. Tình trạng kéo dài đã quá lâu bắt tìm một lối thoát, đòi hỏi một cách giải quyết.

CHUYỆN XƯA VÀ CHUYỆN NAY

Truyện xưa kể rằng khi Đức Trần Hưng Đạo bệnh nặng, nhà vua trẻ Trần Anh Tôn đến thăm rồi hỏi Ngài về phương lược giữ nước. Sau ba lần quân Nguyên xâm lăng, vua và dân đời Trần luôn luôn bị ám ảnh về hiểm họa từ phương Bắc. Hưng Đạo Vương trình bày một số trường hợp dụng binh rồi ngỏ lời khuyên nhủ : “Ta nhiều lần bị vây bốn mặt nhưng chúng ta, vua tôi đồng tâm, một nhà hòa thuận, cả nước hợp lực, ta đã thắng. Kẻ địch cậy có trường trận, ta có đoản binh, ta đều cả thắng. Quân địch đến ầm ầm như lửa, như bão, thế ấy dễ trị. Nếu như nó thủng thẳng như tằm ăn lá, không cần thắng mau, không hà hiếp dân thì ta khó chống hơn. Cần binh hùng, cần lương tướng và biết quyền biến như đánh cờ vậy. Cốt binh và tướng như con với cha, nên phải biết “nới lỏng sức dân” và thực hành kế sách “rễ sâu, gốc vững”. “Nới lỏng sức dân “là nuôi dân, dưỡng dân, thu phục nhân tâm. Thực hiện được thì có “rễ sâu, gốc vững”. Đó là lý do triều Trần trị vì được 188 năm trong khi nhà Hồ chỉ đứng có 7 năm, Trần Thủ Độ và Hồ Quí Ly đều làm chuyện thoán nghịch và đã giết hại hàng trăm nội ngoại tôn thất triều trước. Các vua Trần đều là bậc đạo hạnh, tu học cao thâm trong khi Hồ Quí Ly tuy có tài cải cách nhưng làm nhiều điều tàn ác, thất nhân tâm.

Nhìn vào thời nay, các tổ chức quân chính như Hezbollah, Hamas nhỏ bé, yếu ớt mà đứng vững được trước sức mạnh của Do Thái đều là nhờ vào thế dân, sức dân, núp trong dân mà sống, ẩn trong dân mà chống giữ.

Chúng ta có nhận định thứ nhất : “VẤN ĐỀ NỀN TẢNG LÀ LÒNG NGƯỜI. PHẢI BIẾT GÂY THẾ DÂN VÀ DÙNG SỨC DÂN ”.

TRỞ LẠI CHUYỆN NƯỚC MÌNH

Phương Đông chúng ta có lời dạy cho các quân vương : “ý dân là ý trời”. Trong các vận động xã hội quan trọng như chiến tranh và cách mạng, động lực chính yếu là “ý dân” mà ta còn gọi là “lòng người”. Hiểu rõ, nắm vững, vận dụng được ý dân là yếu tố tạo ra sức mạnh.

Có bí kíp đó, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) đã đè bẹp các đảng phái quốc gia, đánh thắng đoàn quân Viễn Chinh Pháp, chiếm được nửa nước năm 1954 để rồi sau này đẩy lui lực lượng Hoa Kỳ và Đồng Minh. Đà thắng lợi của CSVN lên tới cao điểm vào 30 – 4 – 1975, làm chủ cả nước. Đó là đỉnh cao chót vót !

Thế rồi, không tránh được biến thiên là một qui luật của vạn vật, đảng CSVN với lòng kiêu ngạo toàn thắng lấn át lý trí, đánh mất khôn ngoan, xa rời quần chúng. Chính nghĩa dân tộc mà Đảng huênh hoang đại diện đã vượt biển đi theo dân Tị Nạn và các Thuyền Nhân (từ cả Nam rồi đến Bắc). Những khuyết tật của tổ chức, những lầm lẫn về chính sách cộng với sự hư hỏng của cán bộ phối hợp với ảnh hưởng của Quốc tế CS sụp đổ đã khiến cho con đường xuống giốc của Đảng thành một định mệnh không thể cưỡng lại.

Nếu 30 tháng tư 1975 là một ngày bi thảm cho Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) thì đó cũng là một thời điểm chuyển hướng của “mong đợi ngày mai không cộng sản trên Quê Hương ”. Thực hiện “chủ nghĩa xã hội” đưa “cả nước xuống hố” với khoai, sắn, bo bo và biết bao hành động thất nhân tâm, tàn độc khác khiến “lòng người” chuyển đổi, đi tìm hướng “quốc gia” và “dân chủ”.

Nhưng nếu nói là lòng người đã chuyển hướng không có nghĩa là hoàn cảnh sẵn sàng để tự nhiên đưa tới một sự thay đổi trật tự đất nước. Tình trạng có thể ví như sự mong mỏi tạo được một vài nguồn năng lượng thay thế cho dầu lửa. Nguyên liệu cơ bản thì đầy rẫy trong thiên nhiên, nhưng sự sản xuất năng lượng mới đòi hỏi nhiều điều kiện về hiểu biết và trình độ kỹ thuật chưa sẵn sàng. “Lòng người VN ngày nay” đã có biến đổi thuận lợi nhưng chưa có nghĩa là toàn khối nhân dân đã sẵn sàng cho thay đổi và vẫn còn cần nhiều nỗ lực tôi luyện để có thể thật sự thành khả dụng.

Chúng ta có nhận định thứ nhì : “NGƯỜI VIỆT NAM NGÀY NAY, NÓI CHUNG, NGÓNG TRÔNG VỀ HƯỚNG “TỰ DO – DÂN CHỦ”, NHƯNG THỰC TẾ CÒN ĐÒI HỎI NHIỀU SỬA SOẠN, ĐÀO LUYỆN, TỔ CHỨC VÀ LỰC ĐÂY ĐỂ CÓ THỂ GÂY THÀNH SỨC MẠNH ĐƯA ĐẾN ĐỔI THAY.”

CÓ ĐÀN ÁP THÌ CÓ ĐẤU TRANH

Trong vật lý học có một qui luật là “đối lại mỗi áp lực đều có một phản lực”. Áp dụng vào đời sống xã hội thì luật ấy đổi thành luật đấu tranh : “ở đâu có đàn áp thì có đấu tranh”.

Một nhà nước CS độc tài, toàn trị, khống chế mọi mặt đời sống nhân dân trên sáu chục năm nay đã gây ra biết bao điều tàn ác, xấu xa. Nó không còn là chính đáng để trị dân, nó phản dân chủ, áp bức, bất công và đã phản lại quyền lợi quốc gia. Nó ung thối, bịp bợm. Luật pháp của chúng là để bảo vệ chế độ, che trở tập đoàn cán bộ lạm quyền, hư hỏng, làm giầu trên đầu, trên cổ người dân. Tình trạng đã tạo ra một xã hội băng hoại về cả vật chất và tinh thần, đầy rẫy nghèo khổ, đàn áp, bất công.

Ở đâu có áp bức thì có chống đối. Sự chống trọi cường quyền nảy mầm và diễn ra thật tự nhiên. Dân mất đất thì dân phản kháng, tự động,vô thức. Chống đối không có kết quả lại bị bắt bớ, đàn áp trở thành quyết liệt, có ý thức, từ sợ hãi, ngần ngại tiến đến liều lĩnh, hết sợ. Phản kháng lẻ loi biến thành tập hợp lớn hơn, từ địa phương đến thành từng tỉnh, từng miền.

Dân khiếu kiện, chống đối gồm mọi thành phần : dân thành phố mất nhà, nông dân mất đất, mất ruộng, thợ thuyền không đủ sống, đồng bào tôn giáo bị cấm cản, hành hung, sắc tộc bị đàn áp. Bất mãn âm ỉ trong lòng dân nghèo thành phố, dân quê túng đói, ý tưởng cách mạng tự nảy sinh và phát triển, tất cả diễn biến tự nhiên như là theo một qui luật xã hội.

Ít năm gần đây, ta thấy sự tham gia đấu tranh của nhiều luật sư, bác sĩ, giáo sư, văn sĩ, ký giả dủ hạng tuổi, nam và nữ và cả cựu tướng lãnh, cựu sĩ quan cùng nhiều bậc tu hành cao trọng. Người thức giả thường cẩn trọng, tính toán nay như đã cảm được niềm đau của đồng bào, xã hội và của chính mình, đã can đảm dấn thân. Tới giai đoạn này thì sóng ngầm cách mạng có cơ khai triển nhiều hơn vì người chiến sĩ ở tầng lớp hiểu biết cao hơn mang đến cho đấu tranh một số lợi khí mà quần chúng không có : óc tổ chức, sự lãnh đạo, tư tưởng hướng dẫn, phương lược tiến hành và nhất là cán bộ. Nhưng đồng thời, chính quyền CS phản động gia tăng đàn áp, bắt bớ, giam cầm, bưng bít.

Từ khoảng Giáng sinh 2007, đồng bào Giáo dân VN đã bất ngờ gia nhập đấu tranh chống ngụy quyền CS bằng các cuộc “xuống đường cầu nguyện” đòi nhà và đất, khởi đầu từ Tổng Giáo phận Hà Nội rồi lan rộng tới nhiều nơi khác trong toàn quốc. Cầu nguyện đấu tranh nhiều lúc đã thật căng thẳng. Nhưng một năm sau, sự quỉ quyệt của CSVN đã khiến cho tình hình Giáo dân có vẻ tạm êm đi. Các tôn giáo khác và đồng bào các giới không cùng đồng loạt đứng lên hưởng ứng. Cuộc tranh đấu chung chưa tiến lên cao hơn nữa. CSVN có vẻ đã tạm thời lập lại được ổn định bằng mưu mô và đàn áp và sự sợ hãi mà chúng đã gây ra nhờ bàn tay mạnh của công an, cảnh sát, tòa án cùng với sự bưng bít thông tin.

Chúng ta có nhận xét thứ ba : “PHONG TRÀO NHÂN DÂN ĐẤU TRANH CHƯA TIẾN LÊN CAO ĐỘ ĐƯỢC VÌ HAI YẾU TỐ : SỰ HIỆN DIỆN CỦA MỘT BẬC THỀM SỢ HÃI VÀ SỰ THIẾU VẮNG HỢP ĐỒNG ĐẤU TRANH ”.

PHẢI TÌM CÁCH BỨT PHÁ

Nhận xét thứ ba vừa nêu ra dựa trên một nguyên tắc : “Thi hành nhiệm vụ dân chủ hóa đất nước, đóng vai trò chính là người trong nước, người haỉ ngoại chỉ có thể yểm trợ”. Các tổ chức đấu tranh nơi quốc nội chắc hẳn tự biết tìm cách thỏa mãn cho đòi hỏi nhu cầu của mình. Người viết không có tham vọng đi vào phạm vi đó và chỉ mong trình bày một đề nghị về một phương thế yểm trợ có hi vọng giúp cho phong trào có thể đi lên ở quốc nội.

Trước hết, ta cần xác định mục tiêu : phải làm gì ? Nói theo binh gia thì là tấn công mục tiêu nào, bằng cách gì, nặng nhẹ ra sao ? Hãy nghe vài lời nhắn nhủ của người xưa :

____Trước hết, Carl Von Clausewitz, một chiến lược gia người Đức khuyên rằng muốn chiến thắng mau lẹ và chắc chắn, phải đập tan trọng tâm sức mạnh của địch. Nó có thể là hữu hình như quân lực, hay thủ đô, hay lãnh thổ quan trọng của đối phương. Nó có thể là vô hình như ý chí, như dân tâm địch. ( Xin nhớ lại trận Mậu Thân 1968 ở VN, CSVN thua và thiệt hại đậm ở trận địa VN nhưng đã làm nản lòng dân chúng Hoa Kỳ, một thu hoạch quá lớn, ngoài lề mà chính những kẻ làm kế hoạch Tổng công kích – Tổng khởi nghĩa ấy cũng đã không dự liệu. )

_____Tiếp đến, Liddell Hart, một tư tưởng gia quân sự Anh, đã cổ động chiến lược gián tiếp. Đánh trực tiếp, chính diện thường là khó khăn, cần lực lượng lớn và nhiều thiệt hại mà kết quả không mấy bảo đảm. Đánh gián tiếp là đánh vào sườn, vào phía sau, vào chỗ ít ngờ tới, địch thường lơ là. Gián tiếp cũng có nghĩa là dùng các phương tiện khác với đường lối quân sự.

_____Trước đây trên cả hai thiên kỷ, chính Tôn Tử cũng đã đề cập đến chiến lược gián tiếp khi nhà quân sư bậc thày của phương Đông này dạy rằng thắng lợi đẹp đẽ nhất là thắng mà không phải đánh. Không dụng lực thì chắc là ít thiệt hại rồi, đó là khuyến dụ dùng mưu lược, dùng ngoại giao, dùng tâm lý chiến vậy.

Phối hợp ba lời khuyên trên đây, chúng ta chọn mục tiêu “trọng tâm sức mạnh của địch”. Trọng tâm này có vẻ như khá phức tạp. Trước hết nó phải là quân đội CSVN, nó cũng có thể là chính đảng CSVN, hai đích này dường như khó cho ta đụng tới một cách trực tiếp, nhưng nó có thể là lòng người Việt Nam là điều mà bài này đã đề cập tới thật nhiều và hướng đánh đó là thuận, hợp với khả năng của Hải Ngoại.

Đánh vào nhân tâm VN là trận đánh tâm lý chiến. CSVN sẽ khó bịt miệng Hải Ngoại. Chúng ta nhằm chuyển đổi tâm trạng và ý thức toàn bộ nhân dân VN kể cả những thành phần chưa cùng hướng với ta và cả các đảng viên CS với thân nhân của họ. Phổ biến hiểu biết về Dân Chủ, đưa từ ý thức tới hành động, tới quyết tâm vượt qua bậc thềm sợ hãi. Người Việt phải tự lo lấy số phận mình, không thể nhờ người, không thể chờ người. Đó là mục đích của TRẬN ĐÁNH TRUYỀN THÔNG TÂM LÝ CHIẾN.

Có người sẽ bảo là Chống Cộng kiểu này, ta vẫn làm rồi. Đúng ! Ta có làm và làm cả 34 năm nay rồi, nhưng có lẽ cố gắng vẫn là rời rạc, nỗ lực còn tan loãng, chưa tập trung, dầu có ý thức nhưng kết quả là đánh chưa tới và đi chưa thấu.

Cách đánh theo đề nghị này có khác : ---- thứ nhất, nó đặt mục tiêu ở tầm quan trọng cao nhất, nó có ưu tiên trên hết và phải được chú ý một cách đặc biệt, kiên trì, liên tục với cường độ không sút giảm, dồn dập, không ngưng nghỉ cho tới đạt mục đích; ---- thứ nhì, nó tập trung mọi phương thức hoạt động, mọi lãnh vực và khả năng truyền thông; trong giai đoạn đầu, nó có thể chú trọng nhiều vào xử dụng mạng lưới vì nhiều điều thuận tiện; ---- thứ ba, nó phải được tham mưu nghiên cứu và kế hoạch cho kỹ càng; ---- thứ tư, nó cần có tổ chức để phối hợp hoạt động các mặt trong và ngoài, nhất là các đợt và loại tấn công; ngoài ban nghiên cứu nên có thêm ban biên tập (thí dụ : nên soạn sẵn một số tài liệu truyền bá về Dân Chủ ….), ban thông tin (phụ trách các thông tin về sinh hoạt và đấu tranh dân chủ trên thế giới kể cả nhiệm vụ vạch mặt chế độ CSVN,…) và các toán chuyên viên truyền thông (đây là các toán biệt kích của trận đánh này); ---- thứ năm, nó có triển vọng đi xa hơn nhu cầu cho mục tiêu quốc nội vì mong sau này nó sẽ được sự hưởng ứng, tham gia của thêm nhiều nhân vật có khả năng đa diện và trước tác uyên thâm nữa (sẽ cần cả sự tẩy độc quốc tế).

Đây là trận đánh ở tầm chiến lược, ý định của ta, kẻ thù rồi sẽ biết dễ dàng, điều đó không quan trọng lắm đâu vì trong cuộc chơi này, ta là chủ động và chúng sẽ bất lực khi ta đánh vào các khuyết tật, các khe hở, yếu kém mà chúng sẽ không làm sao che giấu hay sửa chữa được nữa. Mọi sự kêu gọi, tham dự, thiết kế kể cả sinh hoạt của ta đều có thể thi hành trên mạng lưới, không gây tốn kém. Người tham dự chỉ cần xử dụng (đóng góp) một cách có ích lợi thì giờ dư rảnh của mình, tại nhà mình như vẫn thường chơi internet. Sự tốn kém của ban chủ xướng sẽ chẳng là bao. Tổ chức lớn ra có thể lấy tên là một hội thiện nguyện dân sự (NGO, non-governmental organization) phổ biến và phát triển Dân Chủ và có khả năng đi tìm trợ cấp từ các nguồn hảo tâm.


THAY CHO LỜI KẾT

Người viết, trong tâm lý của một binh gia có ý nghĩ rằng chúng ta như một người đi tìm săn một con thú dữ và từ nhiều chục năm nay, chúng ta toàn bắn chệch, chưa bao giờ trúng vào tâm, vào não của con thú để hạ gục nó. Thấm thoắt đã 34 năm rồi và giờ đây rõ ràng hiểm họa đã kề bên. Xin trưng một điều chứng rất tầm thường : CSVN là những kẻ rất khôn ngoan, tâm lý và lo tính xa thật xa, chúng không ngu dại gì khi chọn lựa làm một điều cấm kỵ : nhượng đất và biển cho Tầu. Chúng đã cam tâm, nhắm mắt bán nước để giữ đảng. Con đường này sẽ biến Việt Nam thành một tỉnh nhỏ của kẻ thù phương Bắc trong vài thế hệ nữa một cách thật êm đềm. Không hạ mau con thú dữ kia, chúng ta sẽ mất nước !

Vì lý do đó, người viết đã mạnh bạo đề nghị giải pháp trình trên, mong thỉnh giáo Quí Hữu già và trẻ, bốn phương góp thêm xây dựng. Những ai cảm thấy khả năng mình có thể kêu gọi và lập được một đoàn truyền thông mạng lưới thì xin tập hợp các bạn hữu xa gần khởi sự tạo lấy một đội ngũ. Đừng ngần ngại ! Cộng đồng VN có một đại vấn nạn : không ngồi lại được với nhau ! Tôi tha thiết đề nghị những ai có khả năng họp bạn, xin cứ tự động lập thành các đoàn truyền thông xung kích riêng rẽ, không sao, càng nhiều, càng đông càng tốt. Miễn là chúng ta cùng nhắm một đích mà đi tới, cùng tổng tấn công, cùng giúp quốc nội vượt tường lửa. Tất cả sẽ như nhiều đoàn quân cùng hợp đồng tấn công một mục tiêu. Sau này ta sẽ có cơ hội hợp đoàn.

Cộng Sản Việt Nam đã ngự trị quá lâu và ngày nay chúng đã hiện nguyên hình là một đảng cướp cầm quyền. Tội phản quốc của chúng đã quá rõ ràng và lòng người đã chán ghét, nguyền rủa chúng. Tình thế thích hợp cho một sự chuyển hướng và thay đổi. Tạo được nhân tâm thuận lợi thì các tổ chức chính trị, các đoàn thể đấu tranh sẽ có cơ hội đi lên dễ dàng. Đó là phần mà ai còn để tâm tới QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM nên đóng góp. Chúng ta mong chờ một ngày mai TOÀN DÂN VIỆT VÙNG DẬY !

Tết KỶ SỬU , cuối 1 - 2009
Nguyễn Duy Hinh

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Nếu dân Việt chọn một đảng chính trị

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua mục này bàn về sự lựa chọn một trong hai đảng chính trị ở Mỹ. Người dân Mỹ chọn bầu cho một ứng cử viên, hoặc một đảng, vì đồng ý với những chủ trương lớn của đảng đó. Thí dụ đảng Cộng Hòa thường chủ trương guồng máy chính quyền phải càng nhỏ càng tốt, cho nên phải giảm thuế; những ai đồng ý với họ thì bỏ phiếu. Ðó là một triết lý chính trị và kinh tế, có tính cách căn bản. Nhưng dân có thể bầu cho một đảng không phải vì những vấn đề lớn mà có khi chỉ vì đồng ý trong một vấn đề nhỏ cũng đủ. Thí dụ dân Mỹ biết đảng Cộng Hòa vẫn bênh vực quyền làm chủ súng và mang súng; còn đảng Dân Chủ thường quan tâm đến việc kiểm soát súng ống trong tay tư nhân. Trước vấn đề này ai tha thiết đến quyền mang súng hay không, thích đường lối nào chọn đảng đó.

Cho nên, mỗi đảng chính trị ở Mỹ, và ở hầu hết các nước dân chủ tự do, vẫn tìm cách trình bày những tư tưởng và chính sách lớn của họ để tự phân biệt với đảng khác; nhưng đồng thời vẫn cổ động cho từng chủ trương lẻ tẻ trên các vấn đề được nhiều cử tri quan tâm, để thu hút lá phiếu của các nhóm cử tri này. Ðó là đời sống chính trị tự do dân chủ. Có người dân quan tâm đến tư tưởng chính trị lớn, nhiều người khác chỉ cần chú ý đến những gì thiết thực đối với mình. Người dân thường quan tâm đến những vấn đề thiết thực, mỗi kỳ bầu cử đảng nào nêu lên được những chuyện thiết thực nhất thường thắng lợi.

Những ai đã quen nếp sống đó rồi, khi nghe những lời lẽ cổ động cho “một đảng của toàn dân” sẽ cảm thấy đó là một tham vọng có tính chất không tưởng; và hơn thế nữa, ý định đó có thể trở thành nguy hiểm. Nhiều người có thiện chí xây dựng dân chủ ở Việt Nam không hiểu điều đó.

Như thi sĩ Bùi Minh Quốc, hiện đang sống ở Ðà Lạt, Việt Nam. Trong một bài viết gần đây đã được nêu lên trong mục này, ông Bùi Minh Quốc tố cáo âm mưu lũng đoạn chính trị nước Việt Nam của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Từ năm 1950 họ đã tính gây ảnh hưởng trên nước ta bằng cách thao túng đảng Cộng Sản Việt Nam. Khi một đảng chiếm độc quyền cai trị một quốc gia trên khắp mọi mặt, thì nếu “chiếm” được đảng đó tức là nắm được vận mạng của cả quốc gia. Bùi Minh Quốc đưa ra các bằng chứng cho thấy Trung Quốc đã nuôi âm mưu này và đã thành công nhiều lần. Ông yêu cầu “...cơ quan lãnh đạo đảng phải tiến hành ngay việc xem xét lại một cách căn bản mối quan hệ giữa đảng ta và đảng Cộng Sản Trung Quốc.”

Theo Bùi Minh Quốc, thực tế lịch sử đã cho thấy đó là trong mối quan hệ đó Trung Quốc “giúp một” nhưng làm “hại mười” lần nặng hơn. Ðồng thời Bùi Minh Quốc kêu gọi phải giáo dục trẻ em Việt Nam mối nguy hiểm bị lệ thuộc vào Trung Quốc, phải dậy các em về chủ quyền của nước ta trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như lịch sử những cuộc xâm lăng của nước lớn từ phương Bắc.

Nhưng cũng trong bài viết trên, Bùi Minh Quốc cũng đưa ra nhiều đề nghị khác với đảng Cộng Sản Việt Nam. Trong số đó, trong đề nghị thứ tư, ông viết: “Vận động toàn đảng toàn dân yêu cầu cơ quan lãnh đạo đảng tiến hành xác định lại tính chất của đảng...” Ðây là chỗ Bùi Minh Quốc bắt đầu lầm lẫn về tính chất của một đảng chính trị. Một đảng chính trị là của những đảng viên họ đồng ý với nhau về mục tiêu giành lấy quyền hành để cai trị theo chủ trương của họ. Nếu cần xác định hoặc thay đổi “tính chất của đảng,” đó là công việc các đảng viên phải vận động, yêu cầu các cơ quan lãnh đạo của đảng. Ðó không phải là việc của toàn dân. Ðảng Cộng Sản Việt Nam là cái đảng thế nào, các đảng viên trong đảng đó quyết định, còn “toàn dân” không cần và không nên dính vào. Bởi vì trong “toàn dân” có nhiều người không đồng ý với đảng đó trên nguyên tắc. Cũng có những người không quan tâm đến chính trị, đảng nào muốn mang tính chất nào, điều đó dân không cần biết. Nếu dân có quyền sống tự do dân chủ thì đến kỳ bầu cử các đảng chính trị hãy nói ra chương trình của mình, lúc đó dân sẽ lựa chọn.

Ðiều sung sướng của người dân sống trong các nước tự do dân chủ là họ chỉ phải lo việc chính trị hai năm hoặc bốn năm năm một lần. Những lúc khác họ còn lo những chuyện quan trọng đối với bản thân họ hơn. Cho nên khi Bùi Minh Quốc đề nghị “toàn dân” cũng yêu cầu đảng Cộng Sản bàn lại về bản chất của họ, nhà thơ này đã không hiểu gì về đời sống chính trị trong các xã hội dân chủ.

Về tính chất của đảng Cộng Sản mà ông muốn họ xác định lại, Bùi Minh Quốc đề nghị đảng này hãy “chuyển từ đảng của giai cấp thành đảng của dân tộc.” Muốn văn hoa, ông mô tả thêm: “Ðảng là tập hợp tinh hoa trí tuệ và đạo đức từ mọi giai cấp và tầng lớp của dân tộc...”

Ðây chính là điều cho thấy thi sĩ Bùi Minh Quốc không có kinh nghiệm và không đủ hiểu biết về đời sống chính trị bình thường của một nước dân chủ tự do.

Trong mọi quốc gia, mọi xã hội, bá nhân bá tính không ai giống ai cả. Người này lập hội để cùng chơi đá bóng hay nuôi hoa lan; hoặc người khác lập hội nuôi nấng trẻ cô nhi hay là khuyến khích trẻ em chăm học, có rất nhiều hội vì họ có những nhu cầu và khát vọng khác nhau. Cũng vậy, người ta họp thành đảng chính trị vì khi bàn đến việc xếp đặt việc nước, họ có nhiều ý kiến giống nhau. Nhưng vì đối với đề tài đó, dân trong một nước có nhiều ý kiến dị biệt lắm. Cho nên những ai giống ý nhau thì lập thành một đảng, nhiều đảng sẽ cùng nhau ganh đua để được dân tín nhiệm, xin dân trao việc nước cho mình trông nom. Ðó là lối sống chính trị dân chủ.

Cho nên trong một xã hội dân chủ người dân có quyền lập đảng chính trị để cùng theo đuổi những chủ trương xếp đặt việc chung. Và khi có nhiều đảng thì dân chúng mới có cơ hội so sánh rồi lựa chọn khi đi bỏ phiếu. Một quốc gia chỉ thực sự tự do dân chủ khi nào người dân có quyền lựa chọn như vậy.

Khi các đảng phái ganh đua để được dân tín nhiệm, mọi người phải theo luật giao đấu dân chủ, chứ không ai được phép đàn áp, tiêu diệt những người khác ý kiến với mình. Ðảng nào được đa số dân tin thì được nắm quyền; không đảng nào có hy vọng được 100% dân chúng bỏ phiếu tín nhiệm. Một đảng có thể được đa số tín nhiệm năm nay, bốn năm sau lại thua, đó là điều bình thường. Mỗi lần dân thay đổi đảng cầm quyền, đó là người dân muốn thử xem một chủ trương, một chương trình mới, với những con người mới, có tốt hơn hay không. Trong xã hội dân chủ tự do người ta rất khiêm tốn, không ai hy vọng sẽ có nhóm người nào tìm được những chủ trương tốt nhất, hay với những người lãnh đạo chính trị hoàn hảo không ai bằng được! Cho nên, dân phải được phép thay đổi, thí nghiệm, không bị ràng buộc vào một đảng nhất định nào cả.

Việc cai trị một nước được trao cho một đảng không có nghĩa là đảng đó muốn làm gì thì làm, theo quyền lợi, sở thích, hay ý kiến của những người ủng hộ họ. Làm sao để tránh không cho tệ hại đó xẩy ra? Phải có sự phân quyền trong guồng máy cai trị quốc gia; không thể nào chấp nhận một đảng cầm tất cả ba ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp. Nhất là không thể nào để cho một đảng nắm luôn cả “quyền thứ tư” là báo chí, truyền thông. Muốn bảo đảm cho những người thuộc đa số lấn át những người thiểu số, hiến pháp phải ghi rõ những quyền làm người, nhân quyền, mà không một chính quyền nào được phép xâm phạm. Ðó là phương pháp để sống chung trong một quốc gia theo lối tự do dân chủ, nhiều nước đã thử và đã thành công mấy thế kỷ nay.

Cho nên tất cả những người tự nhận mình là một “đảng của toàn dân” đều là những người nói xạo. Thi sĩ Bùi Minh Quốc đã bị đảng Cộng Sản khai trừ, nhưng ông vẫn chưa vượt được ra ngoài khuôn khổ, lề lối suy nghĩ cũ. Ông vẫn coi tình trạng một đảng duy nhất nắm quyền, là một điều tự nhiên. Các đảng viên Cộng Sản khác, một số ít người đã tỉnh giấc mơ đó. Những người tranh đấu cho dân chủ ở nước ta càng cần phải tỉnh.

Chúng ta không thể nào chấp nhận tình trạng một đảng độc quyền cai trị, độc quyền quyết định tất cả mọi chính sách quốc gia. Ðó là một tình trạng lạc hậu, loài người đã tiến vượt lên trên từ lâu rồi! Cần phải đốt cháy ngay cái tư tưởng một đảng chính trị duy nhất quy tụ toàn thể dân một nước. Ðó là một ảo tưởng, và một ảo tưởng nguy hiểm!

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Việt Nam đang lâm nguy !

Vũ-Hoài-Nam.
Mới đây, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng họp báo nói việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là “chủ trương lớn của Ðảng và Nhà nước”, phải tiến hành tới cùng, cho dù dự án này gặp phản đối từ nhiều phía.

Bauxite là gì ?

Bauxite là khoáng thạch quan trọng dùng để làm thành nhôm (aluminium) bao gồm 3 khoáng chất: Al(OH)3, boehmite γ-AlO(OH), and diaspore α-AlO(OH), gộp chung với chất sắt và một phần nhỏ anatase TiO2. Nhôm đầu tiên do công khám phá của nhà địa chất học người Pháp là ông Pierre Berthier năm 1821 tại một ngôi làng nhỏ có tên là Les Baux-de-Provence thuộc miền Nam nước Pháp.
Image
Suối Tịnh Tây ở Quảng Tây, sau khi khai thácBauxite, nước suối đỏ như máu

Trung quốc qua mặt VNCS với lý do là cần nhiều nhôm để làm máy bay và phi thuyền không gian.

Vì muốn xâm nhập và để thi hành kế hoạch cho dễ dàng nên Trung quốc giả vờ lấy tên những hãng dân sự khai thác nhôm xin với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chấp thuận cho vào cao nguyên Trung bộ Việt Nam để khai thác Bauxite.

Thực dân mới Trung quốc đang giành quyền làm chủ vùng Cao nguyên Trung bộ Việt Nam.

Chúng tôi còn nhớ rõ trước đây, đại tướng Pháp Delattre de Tassigni khi được chính phủ Pháp phái sang Ðông Dương, ông ta đã đi quan sát nhiều nơi ở Bắc Việt, Trung Việt Và Nam Viêt cùng Cao Miên và Lào. Ông cũng đọc rất nhiều báo cáo về tình hình hoạt động của Việt Minh lúc bấy giờ. Sau 2 tháng nhận chức Toàn quyền ở Ðông Dương, ông đã trả lời câu hỏi của một nhà báo Pháp về quyền làm chủ Ðông-Dương: “Bên nào giành quyền làm chủ được giải Cao Nguyên Trung phần và Hạ Lào thì người đó làm chủ chiến trường Ðông Dương”;(Cao nguyên Trung phần Việt Nam gồm: Pleiku, Kontum và Bạn Mê Thuột); cao nguyên Hạ Lào là Boloven (gồm hai tỉnh Attopeu và Saravane). Hai giải cao nguyên nầy nôi tiếp với nhau làm thành một hành lang thiên tạo và một căn cứ địa vũng chắc ít nơi nào bằng.

Trong một số đặc san của Bộ Tham Mưu QÐNDVN phát hành năm 1949, tôi cũng được đọc một bài viết mà lâu ngày tôi quên mất tên tác giả. Bài viết có nhắc đến điểm chíến lược quân sự tối quan trọng là vùng Cao nguyên Trung bộ. Tác giả bài viết còn nhấn mạnh: “Nếu một mai đất nước thống nhất, độc lập thì thủ đô tương lai của Việt Nam sẽ phải là Cam-Ranh vì ở đây có địa hình và địa vật phải kể vào hàng độc nhất trên thế giới”.

Chúng tôi biết chắc rằng cố tổng thống Nguyễn Văn Thiệu khi còn trẻ ông rất ít khi đọc sách và cũng không được theo học lớp tham mưu cao cấp nào nên ông không biết cao nguyên Trung bộ là vùng chiến lược rất quan trọng của Việt Nam. Vì thế cho nên, đầu tháng 2 năm 1975, ông đã ra lệnh cho lực lượng quân sự (Quân Ðoàn 2) bỏ ngỏ và rút lui khỏi Cao Nguyên. Khi đó, các nhà nghiên cứu quốc tế về Ðông Dương tiên đoán thể nào miền Nam cũng rơi vào tay CS. Và quả nhiên như thế thật. Và vì thế, cho nên chúng ta mới phải bỏ nước ra đi.

Theo chúng tôi được biết, gần đây chính phủ CSVN đã ký giấy, cho phép một hãng Trung Quốc; điễn hình là hãng Xina Pu Diên, hãng này bề ngoài là một hãng khai thác quặng đá “Bauxite” để nấu thành nhôm của Trung quốc. Nhưng kỳ thật, bên trong gồm có bộ phận đầu não là những sĩ quan Tham Mưu cao cấp, Tình Báo, Nghiên Cứu Tác Chiến, Trinh Sát, Ðội Vẽ Bản Ðồ….

Theo nguồn tin riêng từ Hoa Lục cho biết là hiên tại, chung quanh vùng khai thác quặng đá Bauxite để nấu thành “nhôm” (aluminium) có chu vi 25km vuông tại vùng Tây nguyên đã có một đại đội đặc nhiệm của Quân Ðội Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa với đầy đủ vũ khí, máy truyền tin tối tân cùng những xe Jeep quân sự dựng tạm lều bạt dùng làm nơi đóng quân. Bề ngoài là lực lượng bảo vệ công trường. Nhưng bên trong không phải vậy. Ðại đội “đặc nhiệm” nầy gồm có một thiếu tướng và bốn đại tá cùng nhiều sĩ quan cấp úy chuyên ngành như: Tình báo, Trinh sát, Tác chiến, Dân Vận, Bản Ðồ, Công binh …. Ðể giữ bí mật, bọn họ không đeo phù hiệu và cấp bậc. Chúng đã cắm bảng cấm không cho một ai lai vãng đến gần căn cứ của chúng, kể cả nhân viên chính quyền Việt Nam. Hiện nay chúng tạm dựng lều để ở, nghe nói chúng đang cho chở gạch cát và xi-măng để xây căn cứ vững chắc.

Ngoài số Bộ Ðội, Trung Cộng mang cả non một vạn dân người gốc Hán đến vùng Tây Nguyên lập nghiệp và làm cơ sở ngoại vi.

Nhân dân ta phản đối việc chính quyền VNCS đồng ý cho Trung quốc khai thác mỏ Bauxite tại Tây nguyên.

Người đầu tiên phản đối lại là cựu đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông đã vì quyền lợi của đất nước mà hạ mình viết thư đề, kính gửi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng vì đã nhận được chỉ thị của Bắc Kinh nên thủ tướng Dũng phải quyết tâm thi hành theo lệnh của những người ở Bắc-Kinh.

Bức thư của Tướng Giáp, đăng trên báo điện tử VietnamNet, nêu lý do là vì quan ngại về “nguy cơ nghiêm trọng đối với môi trường tự nhiên và xã hội” của các dự án này.

Ðược biết, bức thư đề ngày 5/1 nhưng tới 14/1 mới được đăng trên duy nhất một tờ báo mạng của Việt Nam.

Thư đề kính gửi “đồng chí Nguyễn Tấn Dũng” viết cho dù đầu tháng 11/2008 một số nhà khoa học và quản lý có tên tuổi đã gửi kiến nghị để nghiên cứu, xem xét một cách toàn diện, “ nhưng các dự án này vẫn đang được triển khai”.

Gây tranh cãi

Thư của đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc lại thời kỳ đầu những năm 1980 khi Chính phủ VN đưa chương trình khảo sát khai thác bauxite Tây Nguyên vào chương trình hợp tác đa biên với khối COMECON của các nước xã hội chủ nghĩa lúc đó.

Bản thân Tướng Giáp được phân công trực tiếp theo dõi chỉ đạo chương trình này.

Khối COMECON đã khuyến nghị Việt Nam không nên khai thác bauxite vì nguy cơ sinh thái.

“Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bauxite mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè...) trên Tây Nguyên.

Bức thư nhấn mạnh: “Về quy mô, quy hoạch khai thác bauxite Tây Nguyên từ nay đến 2025 là một kế hoạch lớn, giá trị ước tới gần 20 tỷ đôla Mỹ, sẽ tác động sâu sắc nhiều mặt còn hơn cả các công trình kinh tế lớn đã có ở nước ta”.

Tướng Giáp cho rằng việc nghiên cứu thẩm định cần được tiến hành và báo cáo Bộ Chính trị và Quốc hội chứ “không thể chỉ đưa vào đề xuất của các Bộ hay tập đoàn kinh tế”.

“Tôi đề nghị Thủ tướng cho dừng triển khai các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên và báo cáo Bộ chính trị chỉ đạo tiến hành các nghiên cứu vĩ mô cần thiết làm căn cứ cho mọi quyết định.”.

Bản tính không tử tế của phần đông đảng viên, cán bộ CSVN.

Phần đông, những đảng viên CSVN, nhất là những cán bộ cao cấp thiếu nhân cách và không biết đạo đức là gì nên có bản tính xấu, hay tráo trở, lật lọng, vô thủy, vô chung…. Họ thường tự đề cao mình là giai cấp vô sản chuyên chính, là giai cấp công nông; tiền phong của giai cấp vô sản. Nhưng sự thật không phải vậy, một danh từ sau đây thích đáng với bản tính xấu xa của họ. Ðích thực họ là: “vô sản lưu manh”.

Ðiển hình họ đã lừa thầy, phản bạn, như ông Lê Duẫn đã phản bội cả chủ tịch yêu quý Hồ Chí Minh. Ra lệnh giết cả gia đình Lưu Quang Vũ bằng thủ đoạn ném đá giấu tay; cho xe tông chết Lưu Quang Vũ lúc đó đang đèo vợ con trên xe gắn máy cũng chỉ vì TW Ðảng muốn thần thánh hóa ông Hồ. (Các bạn có thể tìm đọc “Ðĩnh Cao Chói Lọi” của nhà văn nữ Dương Thu Hương thì biết lúc cuối đời ông Hồ bị bọn đàn em bỏ rơi và có đời sống ra sao?).

Nhiều người có nhận xét rằng cựu đại tướng Võ Nguyên Giáp đã vì sơn hà xã tắc mà dẹp tự ái, bỏ công viết thư can ngăn Nguyễn Tấn Dũng về việc khai thác Bauxite ở Tây Nguyên của Trung Cộng. Ðáng lý ra, ông Giáp không nên viết thư cho Nguyễn Tấn Dũng mà chỉ nên viết một bài gửi cho nhà báo phản đối về việc chính phủ đã cho khai thác Bauxite có hại cho môi sinh và nói thẳng là không nên cho người Trung Hoa đặt chân vào vùng đất chiến lược Tây Nguyên.

Vã chăng, Nguyễn Tấn Dũng là người bất tài, thuộc vào hàng con cháu. Nếu Nguyễn Tấn Dũng đi lính thì phúc đức lắm chỉ lên đến cấp bậc thiếu tá là tột cùng. Không xứng để một cựu đai tướng phải đề chữ “Kính gửi” trong thư. Và sự thật cho chúng ta thấy, thủ tướng Dũng không đếm xỉa gì đến thư đó. Hơn nữa, Nguyễn Tấn Dũng có biết “Kính lão đắc thọ” là gì đâu? Thật ra, Dũng bây giờ cũng xem thường đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng như Lê Duẫn ngày nào?

Kết luận.

Thực ra, không phải hoàn toàn vì nhu cầu nhôm để sản xuất máy bay và phi thuyền mà Trung Cộng đến khai thác Bauxite tại Tây Nguyên. Mục đích chính của Trung Cộng là rồi ra sẽ xâm chiếm Việt Nam. Biến Việt Nam thành một tỉnh của TC nên bây giờ phải tìm cách nắm giữ yết hầu Việt Nam là vùng “Chiến lược Tây Nguyên” nên Trung Cộng phải chuẩn bị và dự liệu cái gì phải làm trước.

1- Hiểu tường tận và nắm rõ địa hình, địa vật vùng chiến lược Tây Nguyên bằng cách cho sĩ quan đến quan sát trực tiếp tại chỗ.

2- Vẽ bản đồ Tây Nguyên theo ý muốn.

3- Tổ chức cơ sở tình báo.

4- Tổ chức cơ sở nhân dân nhắm vào đồng bào người thiểu số địa phương.

5- Rồi đây, Trung Cộng sẽ đề nghị làm đường giúp Việt Nam để có đường sẵn để dùng cho chiến tranh sau này như bọn chúng đã dùng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979 ở các tỉnh biên giới Trung-Việt.

Hiện nay Trung Cộng đang âm mưu biến những vùng đất mầu mỡ ở Tây Nguyên thành những “Tô giới Trung Hoa”. Vì những vùng đất mà Trung Cộng lập thành căn cứ địa đã trở thành “bất khả xâm phạm”. Chúng cắm bảng cấm cả nhà cầm quyền VNCS và dân chúng Việt Nam không ai được lại gần. Như vậy thử hỏi còn gì là chủ quyền Việt Nam?

Ðó chỉ là bước đầu của âm mưu xâm lăng Việt Nam trong kế hoạch ”tằm ăn dâu” hay “vết dầu loang” của bá quyền, thực dân mới Trung Quốc.

Trung Quốc đang muốn làm suy yếu Việt Nam trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, làm bất ổn xã hội, kích thích sự đấu tranh ly khai của các dân tộc thuộc khu vực Tây Nguyện Trung Phần Việt Nam, làm suy yếu Việt Nam, chia cắt Việt Nam để cưỡng chiếm khu vực Biển Ðông của Việt Nam.

Ðể chuẩn bị cho việc xâm lăng Việt Nam sau này, Bắc Kinh đã đề ra chiến lược hai nước Trung hoa và Việt Nam sẽ trở thành “đối tác chiến lược toàn diện” nên năm vừa qua hết Nông Ðức Mạnh, Tổng Bí Thư Ðảng rồi đến Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội và sau cùng là Nguyễn Tấn Dũng

thủ tướng chính phủ qua gặp giới lãnh đạo Bắc Kinh để nhận chỉ thị cũng như ký kết các văn kiện để hợp thức hóa âm mưu thôn tính Việt Nam của Bắc Kinh.

Rút cuộc, những văn kiện mà VNCS đã ký kết với TC là một hình thức công khai và là bằng chứng công nhận chủ quyền về đất đai trước kia của Việt Nam, nay thuộc về Trung Hoa như Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Hoàng Sa, Trường Sa … Vẫn chưa hết, Trung Cộng còn buộc CSVN phải kỳ nhượng Biển Ðông để Trung Cộng công khai khai thác dầu hỏa.

Cũng vì đã có những văn kiện về chủ quyền đất và biển trong tay nên Bắc Kinh đã hứa hẹn bảo đảm việc ủng hộ chế độ hiện hữu của CSVN. Cũng vì muốn giữ địa vị để dễ bề áp bức, bóc lột dân nghèo, làm giàu bất chính nên TW Ðảng CSVN đã nhắm mắt tuân hành theo những áp đặt của Bắc Kinh. Cũng vì vậy mà chính quyền VNCS đã ra sức ngăn cản thanh niên, sinh viên Việt Nam biểu tình chống Trung Cộng. Bịt miệng báo chí không cho đả động gì đến việc làm của Bắc Kinh. Và cúi đầu chấp nhận để cho Trung Cộng được tự do vào Tây Nguyên với danh nghĩa là vào để khai thác Bauxite. Nhưng sự thật khác hẳn.

Ðiều đặc biệt chúng ta phải lưu ý đến vấn đề an ninh quốc gia như nhiều nhà quân sự và người dân đã bày tỏ quan ngại. Nguyên nhân 1000 năm Bắc thuôc trong lịch sử Việt Nam là do ông cha ta cả tin, vô tình rước giặc vào nhà mà mất nước vào tay ngọai bang. Hàng nghìn người Trung Quốc (công nhân hay quân nhân mặc thường phục??) theo dự án này vào làm việc và sinh sống lâu dài tại Tây Nguyên Việt Nam, một trong những vị trí chiến lược trọng yếu của quốc gia, sẽ là một hiểm họa khôn lường.

Chính quyền VNCS không thể nào che đậy được dã tâm phản bội Dân Tộc. Nhờ núp bóng bá quyền Trung quốc để sống vinh thân phì da. Dù cho thực dân mới Trung Hoa có lớn mạnh đến đâu thì với tinh thần tranh đấu anh dũng của người Việt Nam, không nhụt chí can cường trước sự đàn áp của bộ máy Công An CSVN.

Chúng tôi tin rằng rồi đây, đồng bào trong nước sẽ đứng lên ngăn chận âm mưu xâm lược của bá quyền Trung quốc. Những trang sử oai hùng đã viết lên chiến thắng vẽ vang chói lọi của Chi Lăng, Bạch Ðằng, Ðống Ða …. trong chiến tranh giữ nước, toát lên một tư tưởng hùng mạnh, một ý chí sắt đá như Nguyễn Trãi đã viết :

Ðem đại nghĩa thắng hung tàn,

Lấy chí nhân để thay cường bạo

Ðất nước ta và nhân dân ta có thể liên tục hiên ngang giữ vững độc lập mãi mãi không ? Cái đó tùy thuộc vào ý chí của nhân dân có lòng yêu nước như lịch sử đã viết: “Một dân tộc tuy không lớn, đất không rộng, người không đông, trình độ phát triển xã hội không cao, không đồng đều vẫn có thể đánh bại những đế quốc lớn nhất”. Tối hậu của việc đánh thắng là nhờ vào yếu tố dân Việt Nam có ý chí dũng cảm tột bậc; toàn dân đoàn kết, biết hy sinh tranh đấu, biết tự lực tự cường; và nhờ vào người lãnh đạo giỏi, mưu trí hơn người, biết lấy dân làm gốc.

Việt Nam tất thắng, quyết đánh tan âm mưu thôn tính Việt Nam của bá quyền Trung quốc, kẻ thù xâm lược.

Kính chào đoàn kết,

California, ngày 06 tháng 02 năm 2009.

Vũ Hoài Nam.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Đồng Minh lại tháo chạy?
Lữ Giang

Trong một bài dưới dầu đề “Dưới mặt trời này, không có cái gì cho không cả” (Nothing under the sun for free) được đăng trên tờ The Christian Science Monitor, ký giả Ron Scherer cho biết Mỹ sẽ tốn tới 2.000 tỷ USD trong cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan.

Báo cáo của Trung Tâm Thẩm Định Chiến Lược và Tài Chính (CSBA) của Mỹ cho biết, tính từ năm 2001 đến nay Mỹ đã đổ vào cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan tổng cộng 904 tỷ USD. Tính riêng chi phí bỏ ra cho cuộc chiến Iraq là 687 tỷ USD.

Báo cáo của Trung Tâm cũng nói rằng mặc dù đến năm 2011 Mỹ sẽ rút quân ra khỏi Iraq với số lượng lớn nhưng tính đến năm 2018, tổng số tiền mà Mỹ phải chi cho hai cuộc chiến này sẽ lên tới từ 1.300 đến 1.700 tỷ USD.

Một trong những yếu tố làm cho nền kinh tế Mỹ suy sụp hiện nay là sự sa lầy của hai cuộc chiến Iraq và Afghanistan. Năm 2008, ngân sách quốc phòng Mỹ đã lên đến 620 tỷ USD. Do đó, muốn giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế, Tổng Thống Obama phải tìm giải pháp cho hai cuộc chiến này. Hiện nay Mỹ đang có kế hoạch Iraq hoá (Iraqization) cuộc chiến, tức giao cuộc chiến Iraq lại cho người Iraq, như đã Việt Nam hoá cuộc trước đây. Còn số phận của Afghanistan sẽ như thế nào?

Nhìn qua diễn biến của tình hình, chúng ta sẽ thấy lịch sử cũng đang tái diễn ở Afghanistan.

NHÌN LẠI LỊCH SỬ

Afghanistan có diện tích 647.500 cây số vuông, tức chỉ bằng tiểu bang Texas của Hoa Kỳ, nhưng rừng núi chiếm đa số. Dân số hiện nay khoảng 27.800.000 người, hầu hết theo Hồi Giáo: 84% theo giáo phái Sunni, 15% theo giáo phái Shiite, và 1% các tôn giáo khác. Chỉ có 29% dân số biết chữ, nhưng đến 88% chưa hề được đi học. Có đến 80% dân chúng làm nghề nông, nhưng đất đai khai thác chỉ mới 13%. Tỷ lệ lạm phát 240%. Trong tiến trình lịch sử, đất nước Afghanistan đã chịu nhiều biến động đau thương và nhiều đoàn quân ngoại quốc đã bị chôn vùi tại đó.

Vua Darius I và Alexander Đại Đế của Nga là người đầu tiên khai phá Afghanistan làm con đường đi qua Ấn Độ. Hồi Giáo được truyền vào Afghanistan vào thế kỷ thứ 7. Afghanistan bị Thành Cát Tư Hản và Mông Cổ chiếm vào thế kỷ 13. Đến thế kỷ 19, Afghanistan trở thành trận địa chiến giữa Anh và Nga Hoàng Czar để giành quyền kiểm soát Trung Á. Dân Afghanistan đã mở các cuộc chiến giàng độc lập từ 1838 đến 1842 và từ 1878 đến 1881 dưới sự lãnh đạo của Dost Mohammed và con của ông, nhưng đều bị thất bại. Hiệp ước Anh - Nga 1907 dành cho Afghanistan quyền tự trị và đến năm 1919, sau Đại Chiến thứ I, Anh và Nga trao trả độc lập cho Emir Amanulla. Chế độc quân chủ được thiết lập tại đây từ 1926. Năm 1978 Noor Taraki làm đảo chánh, lật đổ chế độ quân chủ và thành lập một chế độ thân Cộng Sản. Babrak Karmal kế vị Taraki ký hiệp ước liên minh phòng thủ với Liên Sô. Các tổ chức Hồi Giáo nổi lên chống lại. Các tổ chức này được Hoa Kỳ, Pakistan và các quốc gia Hồi giáo khác ủng hộ.

TRAO CUỘC CHIẾN VN CHO LIÊN SÔ!

Quân đoàn 40 Liên Sô bắt đầu triển khai tại Afghanistan ngày 25.12.1979, để bảo vệ chế độ Karmal.
Quân đoàn 40, dưới sự chỉ huy của Nguyên soái Sergei Leonidovich Sokolov, gồm 3 sư đoàn pháo cơ giới, 1 sư đoàn không quân, 1 lữ đoàn tấn công, 2 lữ đoàn pháo độc lập và 5 trung đoàn pháo cơ giới riêng biệt. Tổng cộng, lực lượng Liên Sô gồm khoảng 1.800 chiếc xe tăng T-62, 2.000 thiết giáp chiến đấu (AFV) và 80.000 quân.
Ngày 27.12.1979, 700 lính Liên Sô trong trang phục lính Afghanistan, gồm cả các lực lượng đặc biệt OSNAZ của KGB và GRU SPETSNAZ từ Alpha Group và Zenit Group, đã chiếm các cơ sở chính phủ, quân đội và thông tin trọng yếu tại Kabul, kể cả dinh Tổng thống Tajbeg. Nhiệm vụ đầu tiên của quân đội Liên Sô là bảo vệ các thành phố và các cơ sở chiến lược, được mở rộng sang cả chiến đấu với các lực lượng Mujahideen. Tuy nhiên, quân đội Liên Sô không thể thành lập chính quyền bên ngoài Kabul. Tới 80% vùng nông thôn vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của chính phủ.
Zbigniew Brzezinski, Cố vấn của Tổng thống Hoa Kỳ Carter đã viết: "Theo lịch sử chính thức, CIA đã bắt đầu giúp Mujahadeen từ năm 1980, có nghĩa sau khi quân đội Liên Sô tiến vào Afghanistan ngày 24.12.1979.. . Hiện chúng ta đã có cơ hội để trao cho Liên Sô cuộc Chiến tranh Việt Nam của họ."

Tới giữa thập niên 1980, với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, Anh Quốc, Trung Quốc, Saudi Arabia, Pakistan và nhiều nước khác, du kích quân Afghanistan được huấn luyện chủ yếu do Hoa Kỳ và Pakistan đã nổi lên khắp nơi khiến Liên Sô phải chịu nhiều tổn thất về quân sự cũng như bị đặt vào tình trạng căng thẳng trong quan hệ quốc tế.

Năm 1982, Osama bin Laden đã vào sâu trong lãnh thổ Afghanistan để thăm dò tình hình và có khi đã tham gia vào các trận đánh. Năm 1984, Osama bin Laden thành lập một trạm giao liên tại Peshawar để dưỡng quân. Thấy Bin Laden là người có khả năng và có quyết tâm, cơ quan CIA đã huấn luyện Bin Laden thành một người biết tổ chức tình báo và chiến đấu có kỷ thuật cao để chống lại Liên Sô. Năm 1986, với sự giúp đỡ của CIA, Bin Laden thành lập những trại huấn luyện riêng của mình và trong 2 năm đã xây dựng được 6 trại. Hoa Kỳ đã viện trợ vũ khí và phương tiện cho Bin Laden, nhờ vậy ông đã trực tiếp điều khiển các binh sĩ mở 5 trận đánh lớn với quân Liên Sô và hàng trăm trận giao tranh lẻ tẻ, làm quân Liên Sô điêu đứng.

Các lãnh đạo Mujahideen rất chú trọng tới các chiến dịch phá hoại. Hành động thường thấy nhất là tấn công các đường dẫn năng lượng, ống dẫn dầu, các đài phát thanh, các trụ sở cơ quan chính phủ, sân bay, khách sạn, rạp chiếu bóng, v.v. Từ năm 1985 tới năm 1987, hơn 1.800 hành động khủng bố đã được ghi nhận. Tại vùng biên giới với Pakistan, quân Mujahideen thường phóng 800 quả rocket mỗi ngày. Giữa tháng 4 năm 1985 và tháng 1 năm 1987, họ đã tiến hành hơn 23.500 lần bắn pháo vào các mục tiêu của chính phủ.

Những cuộc đàm phán không chính thức về việc rút quân đội Liên Sô ra khỏi Afghanistan đã được tiến hành từ năm 1982. Tháng 4 năm 1988, Liên Sô đã phải ký Hiệp định Genève với chính phủ Pakistan, Afghanistan và Hoa Kỳ, thoả thuận về các vấn đề chủ chốt, chấm dứt chiến tranh và quân Liên Sô phải rút khỏi Afghanistan năm 1989. Liên Hiệp Quốc thành lập một phái đoàn đặc biệt để giám sát quá trình rút quân của Liên Sô.
Tổng cộng số thiệt hại nhân mạng của các lực lượng vũ trang Liên Sô, quân biên phòng và các lực lượng bộ nội vụ là 14.453 người. Các đơn vị thuộc tổng hành dinh mất 13.833 người, Có 469.685 người bị thương và đau ốm, trong số đó có 53.753 người (11,44%) bị thương tật hay chấn động tâm lý và 415.932 người (88,56%) bị đau ốm.

NỒI DA XÁO THỊT

Sau khi Liên Sô rút khỏi Afghanistan, năm 1992 lực lượng kháng chiến đã kiểm soát gần hết toàn lãnh thổ Afghanistan. Các thành phần kháng chiến cố gắng lôi kéo các phe phái vào một chính phủ đoàn kết, nhưng vì có sự can thiệp của Pakistan và Iran nên không thành: Pakistan muốn Taliban nắm chủ quyền, nên các phe vũ trang lại bắn giết lẫn nhau. Thủ lãnh những lực lượng mạnh nhất chia nhau chiếm đóng các vùng trong nước. Tình trạng vô chính phủ và sứ quân lại tiếp diễn ở Afghanistan.

Tháng 4/1994 Tổng Thống cộng sản Najibullah bị lật đổ, phe kháng chiến Afghanistan vào thủ đô Kabul và tuyên bố thành lập chế độ Cộng Hòa Hồi Giáo. Rabbabi trở thành Tổng Thống. Nhưng liền sau đó cuộc nội chiến bắt đầu. Có khoảng 3 triệu người phải chạy qua Pakistan lánh nạn.

Năm 1995 phe Hồi Giáo Taliban chiếm được hầu hết lãnh thổ Afghanistan. Ngày 27.9.1996 Tổng Thống Rabbabi chạy về phí Bắc cùng với các binh sĩ của ông tiếp tục chiến đấu. Phe Taliban vào trụ sở quốc tế ở Kabul bắt anh em cựu Tổng Thống Najibullah đem treo cổ giữa chợ.

Đến năm 1998, phe Taliban dưới sự lãnh đạo của Giáo chủ Mullah Mohammad Omar, thường được gọi là Emir al-Momineen, đã kiểm soát được phần lớn lãnh thổ, cho áp dụng luật lệ Hồi Giáo một cách khắt khe, bao gồm các quy định giới hạn quyền lợi và sinh hoạt của phụ nữ trong xã hội.
Vì Hoa Kỳ chỉ giúp kháng chiến quân Afghanistan đánh Liên Sô, nhưng không giúp họ xây dựng lại đất nước, nên hậu quả rất nghiêm trọng.

HOA KỲ TRỞ THÀNH KẺ THÙ

Khi Liên Sô rút chạy khỏi Afghanistan vào năm 1989, Bin Laden trở về Saudi Arabia. Ngày 2.8.1990 Saddam Hussein đã đem quân xâm lược Kuwait. Bin Laden hô hào khối A-rập giúp Kuwait đẩy lui sự xâm lược của Iraq. Ông đề nghị đưa 4.000 quân Mujahedin của ông từ Afghanistan về bảo vệ Saudi Arabia, nhưng bị bác bỏ.

Chỉ vài tuần sau, Hoa Kỳ tiến vào Saudi Arabia để giải phóng Kuwait khiến Bin Laden bất mãn vô cùng. Ông cho rằng vấn đề của người A-rập phải để người A-rập giải quyết với nhau, Hoa Kỳ không được can thiệp vào. Từ đó, Bin Laden bắt đầu chống Mỹ. Ông xúi giục các giáo sĩ Hồi Giáo chống Mỹ và chính quyền Saudi Arabia. Ông thành lập trại huấn luyện để huấn luyện kháng chiến quân. Cảnh sát Saudi Arabia khám phá ra trại này và bắt ông phá hủy. Ông tức giận, đem khoảng 4000 người ông chiêu một được chạy qua Afghanistan vào tháng 4 năm 1991. Do sự thúc đẩy của Mỹ, tình báo Saudi Arabia và Pakistan đã nhiều lần tổ chức bắt cóc hay giết Bin Laden, nhưng không thành công.

Tháng 5 năm 1998 Bin Laden thành lập tổ chức “International Islamic Front for Jihad against America and Israel” (Mặt Trận Hồi Giáo Quốc Tế ủng hộ Jihad chống Mỹ và Israel) và hô hào chống người Mỹ bất cứ nơi đâu. Ông còn lập một tổ chức khác lấy tên là Al-Qaida có nhiệm vụ thực hiện các vụ khủng bố quốc tế.

TRẢ CUỘC CHIẾN VN LẠI CHO MỸ!
Khi quân khủng bố tấn công Trung Tâm Thương Mại Thế Giới tại New York ngày 11.9.2001, Bin Laden được coi như là nghi can đầu tiên trong biến cố này.
Ngày 7.10.2001, sau khi Taliban nhiều lần từ chối giao nộp Bin Laden cho Hoa Kỳ và lên tiếng thách thức, Hoa Kỳ và các đồng minh bắt đầu oanh kích các cơ sở quân sự và các doanh trại huấn luyện của quân Afghanistan, sau đó đổ quân vào.

Vì thiếu kinh nghiệm, thay vì lợi dụng những đồi núi và hang động hiểm trở của Afghanistan để dùng du kích chiến chống lại liên quân, Taliban và Al-Qaida lại thiết lập các căn cứ quân sự để chống đỡ. Chỉ 5 tuần sau, với sự yểm trợ của không quân Mỹ, liên quân đã chiếm thành phố nòng cốt Mazar-i-Sharif và thủ đô Kabul. Ngày 7.12.2001, chế độ Taliban sụp đổ hoàn toàn khi quân sĩ bỏ trốn khỏi pháo lũy phòng thủ cuối cùng.

Tháng 12/2001, Hamid Karzai, một người Pastun thuộc nhóm sắc tộc chiếm đa số ở Afghanistan, đã từng du học ở Mỹ, được Mỹ đưa ra lãnh đạo chính quyền lâm thời của Afghanistan. Sau một cuộc bầu cử, tháng 12/2002 ông chính thức trở thành Tổng thống Afghanistan.
Tháng 8/2003, theo nghị quyết của Hội Dồng Bảo An LHQ, khối NATO thành lập Lực Lượng Yểm Trợ An Ninh Quốc Tế (International Security Assistance Force - ISAF) để bảo vệ an ninh ở Afghanistan dưới sự ủy nhiệm của Liên Hiệp Quốc. Nhiệm vụ của ISAF lúc đầu là bảo vệ an ninh cho Kabul và vùng phụ cận.

Nhưng mọi sự đã không êm xuôi như vậy. Osama Bin Laden và lãnh tụ Taliban Mullah Muhammad Omar vẫn chưa bị bắt. Các thành viên Al-Qaida và Mujahideen từ các bộ phận khác nhau của thế giới Hồi Giáo, từng chiến đấu trong hàng ngũ Taliban còn sống sót, đã chỉnh đốn lại hàng ngũ và phản công bằng chiến thuật du kích chiến. Tháng 5/2005, kháng chiến quân bắt đầu mở những cuộc tấn công liên tục vào liên quân. Năm 2006 là năm cuộc chiến trở nên dữ dội nhất. Quận đội Hoa Kỳ từ 10.000 phải tăng lên 18.000. Kháng chiến quân đã xâm nhập vào Nam Afghanistan, khủng bố dân làng địa phương và tấn công cả quân Afghanistan lẫn Hoa Kỳ.
Tháng 8/2006, quân NATO phải tổ chức nhiều cuộc hành quân ở Nam Afghanistan với liên minh do Hoa Kỳ cầm đầu. Đây là những cuộc hành quân rất căm go, được coi là những cuộc hành quân nguy hiểm nhất mà NATO đã đảm nhận trong lịch sử 57 năm của tổ chức này.

Để đối phó với tình hình, Quân Đội Afghanistan (Afghan National Army - ANA) được thành lập. NATO hy vọng sẽ huấn luyện và trang bị cho khoảng 120.000 quân Afghanistan trong 5 năm với chi phí khoảng 17 tỷ USD để họ tự bảo vệ lấy xứ sở của họ. Một nguồn tin cho biết Mỹ và NATO đã huấn luyện được khoảng 80.000 quân Afghanistan. Nhưng khả năng và kinh nghiệm chiến đấu của quân đội Afghanistan hiện nay chỉ ngang với địa phương quân và nhân dân tự vệ của VNCH mà thôi.

NATO và liên quân đã cố gắng kết hợp giữa các chiến dịch quân sự và sự phát triển dân sự với hy vọng rằng trong một thời gia, chính phủ Afghanistan sẽ đủ mạnh để "tự lực cánh sinh". Nhưng thực tế lại không đúng như điều NATO mong muốn: Tình hình an ninh ở Afghanistan đang ngày càng xấu đi.

Hiện nay tại Pakistan có khoảng 7 triệu người thuộc sắc tộc Taliban, cộng thêm khoảng 3 triệu người Taliban tỵ nạn ở biên giới Pakistan và Afghanistan. Do đó, Taliban và Al-Qaida đã biến vùng biên giới đầy núi non hiểm trở này thành hậu cứ và khu an toàn của kháng chiến quân. Hoa Kỳ đã yiểm trợ Tướng Pervez Musharrat lên làm Tổng Thống Pakistan với hy vọng ông sẽ hợp tác với liên quân trong việc tảo thanh kháng chiến quân, nhưng Tướng Musharrat đã không thể thực hiện được điều Hoa Kỳ mong muốn vì ba lý do chính sau đây: (1) Các nhóm Hồi Giáo ủng hộ kháng chiến quân cương quyến phản đối sự xâm nhập của liên quân vào Pakistan. (2) Taliban và Al-Qaida dọa nếu chính quyền Pakistan để cho liên quân xâm nhập vào biên giới Pakistan, họ sẽ biến Pakistan thành biển máu như ở Iraq. (3) Pakistan không bao giờ muốn diệt Taliban vì Taliban vốn là cánh tay mặt của Pakistan. Nếu liên quân thất bại, Pakistan sẽ lại yểm trợ Taliban lãnh đạo đất nước Afghanistan.

Liên quân còn gặp một khó khăn khác là sự yểm trợ của Iran cho kháng chiến quân cả về vũ khí lẫn tiếp liệu. Tài liệu của Tây phương cho biết trong năm 2007, Iran đã gởi nhiều võ khí cho Taliban. Đại Tá Rahmatullah Safi, chỉ huy cảnh sát Afghanistan, cho biết đã bắt được nhiều võ khí từ Iran sang gồm có chất nổ C-4. mìn chống tăng, súng cối 107 ly, AK47, v.v.

Tại sao Taliban có thể phục hồi một cách nhanh chóng như vậy? Ông Christophe Jaffrelot, Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Quan Hệ Quốc Tế Pháp CERI đã đưa ra một số lý do như sau:
Trước tiên, không thể phủ nhận tài năng tổ chức của hai nhân vật lãnh đạo kháng chiến quân. Giáo sĩ Omar, thủ lãnh Taliban, và trùm khủng bố Ben Laden, thủ lãnh Al Qaida, có lẽ đang ẩn náu ở vùng biên giới Pakistan-Afghanista n và lãnh đạo cuộc kháng chiến. Omar thiết lập một mạng lưới cơ sở và thận trọng không để một cán bộ chỉ huy nào trụ lâu ở một chỗ để tạo uy tín cá nhân.

Về phần Ben Laden, một trong những cái hay của ông là trao bớt quyền cho những thuộc hạ có khả năng thích nghi với tình hình và điều kiện hoạt động tại địa phương. Điển hình là có khá nhiều người được gọi là “thủ lãnh số ba” bị bắt tại Pakistan.
Thứ hai là các cán bộ của kháng chiến quân được lệnh phải hết sức giúp đỡ dân chúng để được dân che chở. Hiện nay, chiến dịch trồng thuốc phiện đang giúp dân có cuộc sống khá hơn (sẽ nói sau)
Thứ ba, không phải tất cả các đồng minh trong NATO đều hào hứng chiến đấu. Các nhà lập kế hoạch của NATO giờ đây phải chấp nhận một thực tế là người Hà Lan và người Canada sẽ rút khỏi các hoạt động chiến đấu ở Afghanistan vào tháng 11/2010 và chỉ tập trung vào công tác đào tạo, huấn luyện quân đội nước chủ nhà. Điều này sẽ đẩy áp lực về phía Anh, buộc nước này phải xem xét lại mức độ tận tuỵ của mình.
Thứ tư, Giáo sĩ Omar đã khôn lanh từ bỏ chủ trương chống trồng cây á phiện do ônh đưa ra lúc còn nắm quyền.

Trong phúc trình hằng năm đưa ra ngày 5.3.2008, Ủy Ban Kiểm Soát Ma Túy của Liên Hiệp Quốc nói rằng trong năm 2007, việc trồng cây thuốc phiện tại Afghanistan đã lên tới cao nhất từ trước tới nay mặc dầu có những nỗ lực của quốc tế để giúp dẹp bỏ tình trạng này.

Ủy Ban cho biết việc trồng cây thuốc phiện đã gia tăng 17% so với năm trước và việc sản xuất thuốc phiện đã đạt tới 8.200 tấn vào năm 2007. Afghanistan đã chiếm khoảng 93% số thuốc phiện trên thị trường thế giới. Trung tâm buôn bán thuốc phiện nhiều nhất là tỉnh Helmand ở miền Nam Afghanistan và việc buôn bán ma túy đã trở nên tinh vi hơn.
Việc trồng cây thuốc phiện dưới sự bảo trợ của kháng chiến quân có thể bảo đảm cuộc sống của người dân nên đã thu hút một số lớn dân chúng đi theo Taliban để có cuộc sống khá hơn. Buôn bán ma túy bất hợp pháp đã trở thành nguồn lợi chính của Taleban.

Ông Antonio Maria Costa, Giám đốc Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của LHQ, cho biết hiện nay các viên chức chính phủ Afghanistan, từ nghị sĩ cho đến cảnh sát, đều có liên quan đến hoạt động buôn bán ma túy.
Theo tướng David Richards, chỉ huy lực lượng NATO tại Afghanistan, cho rằng nước này hiện đang ở ngã rẽ quan trọng: phần lớn dân chúng tại Afghanistan sẽ ngả về phe Taliban nếu họ không thấy cải thiện về mức sống trong vòng 6 tháng tới.
Một nhà báo bị Taliban bắt giữ gần đây cho biết một thủ lĩnh cấp cao của phong trào này đã xác định rõ họ cần 20 năm để đánh đuổi binh sĩ ngoại quốc ra khỏi đất nước chứ không đơn giản chỉ trong vài tháng hay vài năm.

Bây giờ các phe đối ngịch của Hoa Kỳ có thể nói: “Trao lại cho Hoa Kỳ cuộc Chiến tranh Việt Nam của họ."

DECENT INTERVAL?

Nói chuyện với đài BBC, ông Jaap de Hoop Scheffer, Tổng Thư Ký NATO, nói Afghanistan là mặt trận hàng đầu trong cuộc chiến chống khủng bố, và nếu người ta không giải quyết khủng bố tại Afghanistan thì hậu quả sẽ lan tới các nước phương Tây, “tới London, Brussels, Amsterdam”. Ông xác định rằng sứ mạng của liên quân tại Afghanistan không hề thất bại, mặc dù còn nhiều thách thức lớn đặt ra, trong đó có vấn đề huấn luyện và cấp trang thiết bị cho quân đội quốc gia Afghanistan. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng sứ mạng của NATO tại Afghanistan là vấn đề cần thiết chứ không phải một sự lựa chọn.

Nhưng đó không phải là quan điểm của Chuẩn tướng Mark Carleton-Smith, người lãnh đạo Lữ đoàn không kích 16 của quân Anh ở Helmand. Tướng Carleton-Smith nói với tờ Sunday Times rằng không thể mong đợi "chiến thắng quân sự mang tính quyết định" ở Afghanistan. Mục tiêu của các chiến dịch chỉ nhằm bảo đảm quân đội Afghanistan có thể tự kiểm soát tình hình. Ông nói sẽ không thực tế khi mong đợi lực lượng đa quốc gia quét sạch tất cả các nhóm nổi dậy có vũ trang ra khỏi nước này. Theo ông, "Chúng ta sẽ không thắng cuộc chiến này".

Tướng Carleton-Smith nói tiếp: "Nếu Taleban sẵn sàng ngồi phía bên kia của bàn đàm phán và nói chuyện về việc ổn định chính trị, thì đó chính là cái tiến bộ sau những đợt càn quét như thế này.”
Phóng viên Martin Patience của BBC ở Kabul nói bình luận của tướng Carleton-Smith mang âm hưởng của những ý kiến thường gặp ở đây, dù hiếm khi lên báo, trong giới ngoại giao và quân sự Anh ở Afghanistan.
Năm 2006, NATO có 33.000 quân ở Afghanistan, trong đó có 13.250 quân Hoa Kỳ. Năm 2008, NATO có đến 42.000 quân, trong đó có 15.000 quân Hoa Kỳ và 7.800 quân Anh. Tính đến ngày 25.1.2009, cuộc chiến đã gây ra cho 19.529 người bị chết và 51.924 bị thương.

Tổng Thống Obama đã ra lệnh xem xét lại chiến lược của Mỹ ở Afghanistan. Ông muốn tăng quân số Mỹ ở Afghanistan lên khoảng 30.000 quân. Bộ Trưởng Quốc Phòng Gates nói rằng kế hoạch chiến tranh mới sẽ tập trung vào "những việc rất cụ thể", chẳng hạn như thiết lập quyền kiểm soát tại nhiều vùng ở Afghanistan, truy quét al-Qaeda và cung cấp các dịch vụ, an ninh cho người dân Afghanistan.
Hôm 3.11.2007, Tổng Thống Karzai đã kêu gọi cộng đồng quốc tế Afghan hoá (Afghanization) cuộc chiến chống khủng bố. Nhưng không ai tin rằng sau khi Quân Đội Quốc Gia Afghanistan được huấn luyện và cấp trang thiết bị, quân đội này có thể giữ được Afghanistan. Trên 50.000 quân NATO (và sắp tăng cao hơn) với võ khí tối tân nhất mà không bình định được, làm sao đoàn quân thô sơ này có thể bảo vệ được Afghanistan?

Tổng thống Karzai tỏ ý muốn thương thuyết với Taliban-Afghanistan và loại trừ các thành phần Ả rập và Pakistan. Nhưng đây không phải là chuyện dễ dàng, vì không ai biết được cơ cấu tổ chức của Taliban thực sự như thế nào và không chắc gì các thành phần Ả rập và Pakistan chịu đứng bên ngoài.
Qua kinh nghiệm “Đồng Minh tháo chạy” ở Nam Việt Nam, với các kế hoạch mà Tổng Thống Obama và Bộ Quốc Phòng Mỹ đưa ra, chúng ta thấy lịch sử đang tái diễn tại Afghanistan: Trước khi trao quyền lại cho chính quyền Afghanistan và bỏ chạy, Hoa Kỳ đã tăng thêm quân để gây thiệt hại nặng cho phe kháng chiến và đẩy phe này ra xa thủ đô Kabul, đồng thời cũng cố cho chế độ ở Kabul vững mạng hơn lên, để tạo ra một gian đoạn mà Kissinger gọi là “decent interval”, tức một “khoảng cách vừa phải”. Đây là khoảng cách được ước tính từ một đến hai năm, một khoảng cách mà phiếm quân có thể kiện toàn lại lực lượng và tiến chiếm Kabul. Lúc đó, Mỹ và liên quân đã bay xa rồi!

Lữ Giang

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

BÀI HỌC NẶNG KÝ TỪ VIỆT NAM


Tác giả là một trí thức Việt kiều Mỹ từng mang bạc triệu về Việt Nam đầu tư và... chào thua. Xin trân trọng giới thieu những "bài học nặng ký" của ông: "Hai vị anh hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa. Hồ Chí Minh không nhìn nhận cha mẹ cũng như không ngó ngàng gì đến ít nhứt là 12 đứa con . Võ Nguyên Giáp thì có ông con rể Trương Quang Bình là người giàu nhất nước... Tất cả mọi con người, mọi con số đều là giả dối."

Saigon những ngày cận Tết mát lạnh và mang chút không khí của những ngày Giáng Sinh nơi Âu Mỹ. Mọi người chuẩn bị mua sắm cho nhà cửa và quà cáp cho người quen. Đường Nguyễn Huệ và quanh khu du lịch của trung tâm thành phố, hoa đang rộn rịp trang điểm cho mùa xuân, luôn luôn là biểu tượng của niềm hy vọng mới và vào một thay đổi nào đó tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn cho năm tới. Nhung nếu du khách rẽ vào ngõ hẻm từ một con đường lớn, những con chuột to bằng con mèo, những con dán biết bay cùng ruồi muỗi, những ổ rác lộ thiên, những vũng nước ao tù… cho thấy một bộ mặt khác của Saigon. Bộ mặt của nghèo khó, bất hạnh và tù túng đã không hề thay đổi suốt 70 năm qua, mặc cho bao nhiêu mùa xuân của hy vọng trong quá khứ.

* CÁI TÔI ĐÁNG GHÉT

Một chút ít về cái "tôi" để người đọc cảm thông thêm về chủ quan của lá thư này. Tôi đến Mỹ năm 1975 cùng làn sóng người tỵ nạn Cộng Sản sau khi miền Nam sụp đổ. Cha tôi là một đại úy của quân đội miền Nam (ở đây, nay gọi là Mỹ Ngụy), và tôi chỉ mới 5 tuổi, chưa hiểu biết chút gì về lịch sử hay chính trị. Cha mẹ tôi làm đủ mọi nghề, vất vả ngược xuôi, từ lao động chân tay đến mua bán tiểu thương, để nuôi gia đình. Sau 30 năm, ông bà đã lo xong cho con cái, đã về hưu với căn nhà nhỏ và cuộc sống ổn định. Tôi lớn lên như một trẻ Mỹ, đi học, chơi đùa và coi xứ Mỹ như một quê hương chính thức, dù vẫn biết nói tiếng Việt theo thói quen của cha mẹ. Tốt nghiệp Thạc Sĩ về điện tử, tôi có công việc tốt, lấy vợ và sống đời trung lưu như trăm ngàn người khác. Cha tôi và các bạn ông thường tụ họp và bàn luận nhiều về tình hình Việt Nam, về những thù ghét của họ với nhà cầm quyền Cộng Sản, nhưng tất cả đều rất xa lạ với tôi. Khi học lịch sử ở trung học, tôi chỉ thấy có chút hãnh diện về Việt Nam, một quốc gia nhỏ bé đã đánh bại được hai cường quốc là Pháp và Mỹ. Hai ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp là hai anh hùng trong ký ức của tôi.

Cuộc sống bình lặng đó thay đổi hoàn toàn khi vợ tôi qua đời vì tai nạn xe cộ ba năm về trước. Không có con, thừa hưởng một số tiền bảo hiểm hơn 1 triệu đô la, cộng với giá nhà đang tăng cao vụt và một khoản tiền tiết kiệm lớn, tôi không còn thấy nhu cầu phải kéo cầy 11 tiếng mỗi ngày trước máy vi tính. Tôi quyết định trở về lại Việt Nam để làm ăn và tạo dựng một sự nghiệp mới. Tất cả những gì tôi đọc cho thấy một Việt Nam đổi mới với những con số an tượng về đầu tư của nước ngoài, về xuất khẩu, về cơ hội đầy tiềm năng của một "con rồng mới". Cha tôi không phản đối, ông chỉ cho một lời khuyên," Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà coi những gì Cộng Sản làm."

* HƯNG PHẤN VÀ THẤT VỌNG

Tôi dọn về lại Saigon vào tháng Mười năm 2007. Chỉ số VNI của chứng khoán Việt khoảng 1,000 và đề tài thời thượng khắp nơi là cơn sốt địa ốc và số thu nhập của các đại gia. Số tiền 2.5 triệu đô la của tôi thật nhỏ bé khiêm tốn khi bàn chuyện đầu tư. Dường như ai cũng đầy tiền mặt và dự án, nhiều gấp mười lần khả năng của tôi. Dù vậy, tôi cũng rất hưng phấn cảm nhận niềm lạc quan vô bờ bến về sự thịnh vượng của nền kinh tế quốc gia.

Trong khi đó, dựa theo truyền thống khoa học từ đại học Mỹ, tôi nghiên cứu kỹ hơn các con số từ các doanh nhân cũng như từ chánh phủ. Có rất nhiều điều sai trái và nghịch lý từ các con số, cũng như sự kiện thực tế về kết quả hoạt động. Sự nghi ngờ của tôi được xác nhận khi so sánh và định chuẩn theo mức sống thực sự của người dân, giàu cũng như nghèo. Chung đụng với mọi thành phần xã hội giúp tôi nhìn rõ hơn về thực trạng của quê hương. Những lời nói hoa mỹ, cũng như những biểu ngữ dăng kín thành phố, là một lớp son phấn rẻ tiền, che dấu một bộ mặt điêu tàn và thê thảm.

Tôi nhận ra rằng cái cơ chế "kinh tế thị trường" mà nhà cầm quyền hứa hẹn khi ký văn bản gia nhập WTO chỉ là hình thức. Tất cả những miếng moi béo bở đều nằm trong tay quan chức và cán bộ Đảng Cộng Sản, cũng như bà con thân thuộc trong gia đình. Bộ Chánh Trị trung ương thì nắm chặt các công ty quốc doanh va bán quốc doanh, quan chức địa phương thì có những đặc lợi về ruộng đất, giấy phép, dịch vụ nhu yếu. Lãnh vực tư nhân chỉ được phép làm trong địa bàn nhỏ, nhiều rủi ro và những ai có lời đều phải chia xẻ lại cho các quan chức bằng nhiều phong bì lớn nhỏ. Tầng lớp quan chức và gia đình họ, qua hệ thống tham nhũng tinh vi, đã thâu tóm phần lớn lợi tức quốc gia và có quyền hành không kém các quan lại của triều đại phong kiến.

Tôi nhận ra rằng cuộc chiến tranh dành độc lập với bao nhiêu xương máu của người dân chỉ là một cái cớ để Đảng Cộng Sản cướp chánh quyền. Những quốc gia láng giềng như Singapore, Mã Lai, Indonesia, đã dành độc lập không cần hy sinh và giờ đây, dân họ (nhờ một nền dân chủ minh bạch) đã trở nên giàu co Họ đang cấu kết với nhà nước Việt để trở thành những chủ nhân lớn của nhiều đơn vị kinh tế bằng cách dùng đồng tiền để mua lao động rẻ và tài nguyên định giá qua gầm bàn.

Tôi nhận ra rằng chế độ to mồm này thực sự sống nhờ phần lớn vào những khoản viện trợ nhân đạo của các nước tư bản (mà họ từng lên án và đánh duổi); vào khoản tiền kiều hối của các cựu thuyền nhân (mà họ đã từng giam giữ tù đày khi kết tội phản quốc); vào mồ hôi nước mắt của những nô lệ mới qua danh từ xuất khẩu lao động hay qua các cuộc hôn nhân mua bán áp đặt; vào những khoản lệ phí va sưu thuế đầy phi nghĩa, cũng như một con số khổng lồ về hối lộ, đối với những người dân còn kẹt lại trong nước.

Tôi nhận ra rằng hai vị anh hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa mà chế độ đã dùng mọi thủ đoạn để biến họ thành thần thánh, giúp cho chúng giữ vững địa vị và quyền hành. Đọc kỹ tiểu sử của ông Hồ Chí Minh sẽ tìm thấy một chính trị gia quỷ quyệt, nhiều mờ ám, hoàn toàn không có một chút chân thật gì, dù nhìn ở bất cứ góc cạnh nào. Con người của ông có rất nhiều tên gọi; ông tự viết cả tiểu sử để ca tụng mình (Trần Dân Tiên); ông không nhìn nhận cha mẹ cũng như không ngó ngàng gì đến ít nhứt là 12 đứa con sinh rơi rớt từ các cuộc tình khắp thế giới; ông viết đơn cầu xin thực dân Pháp với những lời tâng bốc trơ trẽn (lá thư gởi Quan Toàn Quyền Pháp năm 1912); ông làm mật vụ cho Nga khi Pháp không đáp ứng lời khẩn cầu (chuyện của cựu Giám Đốc KGB Nga Vladimir Kryuchkov ); ông bỏ Nga theo Tàu khi có lợi (hồi ký của Li Zhi Sui); ông khoe là trọn đời độc thân để phục vụ tổ quốc trong khi có ít nhứt ba người vợ và bao nhiêu người tình, kể cả một tình nhân là vợ của một thuộc cấp (bà Nguyễn Thị Minh Khai, vợ ông Lê Hồng Phong). Gần đây, nhiều tài liệu lịch sử kết tội ông ra lệnh giết bà Nông thị Xuân và cô em, vì hai người này muốn tạo xì căng đan về mối tình khi chung sống với ông (cuốn sách 'Ho Chi Minh: A Life' bởi William Duiker và cuốn 'Đỉnh Cao Chói Lọi' cua Ba Dương Thu Hương). Chuyện ông thủ tiêu không biết bao nhiêu là đối thủ chánh trị có thể hiểu được vì ông làm chánh trị kiểu Cộng Sản, chỉ biết theo gương bậc thầy như Mao hay Stalin. Nhưng tôi thật khó chịu khi phải đi khắp Việt Nam và nhìn những biểu ngữ ca tụng "tấm gương đạo đức của Bác Hồ".

Còn đại tướng Võ Nguyên Giáp thì tôi không biết nghĩ sao khi đọc cuốn sách 'China and the Vietnam wars' của Qiang Zhai. Ông cho biết là một tướng Tàu, Wei Gouqing, nguyên cố vấn quân sự của tướng Giáp, khẳng định là chiến thắng Điện Biên thực sự là do ông cố vấn đặt chiến lược và điều khiển; ông Giáp và ông Hồ đã định đánh Pháp tại khu vực sông Hồng. Tướng Wei cũng tiết lộ là năm 1953, H Chí Minh muốn thỏa hiệp với Pháp để đình chiến, nhưng Mao Trạch Đông ra lệnh cho Hồ là phải đánh đến cùng. Cuối cùng, Giáp và Hồ được nhận lãnh công lao ve chuyện xảy ra trên đất Việt, tướng Tàu không thể công khai xuất hiện. Một câu hỏi khác gây bàn tán là tài sản của con rể ông Giáp (Trương Quang Bình, người giàu nhứt nước) có bao phần là của ông tướng?

Sau 1 năm ở Việt Nam, tôi hiểu được một sự thât căn bản của xã hội: tất cả mọi con người, mọi con số đều là giả dối. Quan chức nói dối để giữ quyền hành bổng lộc; doanh nhân nói dối vì quan chức đòi hỏi; người dân nói dối vì nói sự thực sẽ làm mình đau khổ rồi còn bị công an bắt. Nói dối trở thành một hiện tượng tự nhiên, như ăn uống; và không ai suy nghĩ thêm về khía cạnh đạo đức của hiện tượng này.

Trong môi trường đó, tôi đã không làm ăn gì được như dự tính. Suot 14 tháng chạy theo các dự án đầu tư, các cơ hội dài và ngắn hạn, tôi đành chịu thua. Thêm vào đó, những thủ tục hành chánh rươm rà, bất cập và luôn thay đổi, tạo cơ hội cho tham nhũng, đã làm tôi nản lòng. Cũng may, tôi chỉ mất hơn 200 ngàn đô la; một giá quá rẻ cho bài học nặng ký. Tôi không tiếc than gì cho cá nhân; chỉ thấy chua xót và thương hại cho những người kẹt lại.

ANDERSON THAI QUANG

Post Reply