Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Quốc thể

Huy Phương
Hôm Thứ Tư, 5 Tháng Mười Một, 2008, William J. Kole, một người Mỹ hiện là văn phòng trưởng hãng thông tấn AP tại thành phố Vienne, Áo, nhận được một cái hôn trên xe bus của một thiếu nữ không quen biết, khi người này nhận ra ông là người Mỹ. Ðó là ngày, tại Hoa Kỳ, ông Barack Obama, một người Mỹ gốc Phi Châu vừa đắc cử tổng thống. Hình ảnh của nước Mỹ đã làm xúc động thế giới và người Mỹ được thương yêu tôn trọng và thời điểm ấy. Một vài đồng nghiệp của ông Kole ở Ai Cập và Jordan cũng được chào đón như thế vì Hoa Kỳ trong giây phút ấy là một quốc gia dân chủ, không có kỳ thị chủng tộc, và ai là người Mỹ cũng được thơm lây.

Sau những phút huy hoàng ấy, ông William J. Kole cũng không dấu giếm kể lại, vì ông là người Mỹ, có những ngày ông bị chất vấn, khinh bỉ, xa lánh như thế nào khi thế giới biết về vụ Mỹ hành hạ tù nhân ở Guantanamo, khi Mỹ công nhận độc lập của Kosovo làm bất bình những người Serbia hay về những chính sách của nước Mỹ làm phật lòng quốc gia này hay dân tộc khác trên thế giới. Ông Kole đã dạy con đừng nói tiếng Anh quá lớn khi xuống tàu điện, đừng đội mũ lưỡi trai, mặc quần jean hay đi giày tennis, nhất là tránh chuyện đi một mình vì có thể gặp một nhóm người bài Mỹ nào đó trên một con đường vắng. Không như quan niệm rằng người Mỹ lúc nào cũng ngon lành được đón tiếp vì đồng đô la, ông Kole tiết lộ ở Serbia ông nhận ông là người Ðức, ở Thổ Nhĩ Kợ ông nói ông là người Pháp và ở Áo, ai hỏi thì ông nói ông là người Hòa Lan, “khi dơi, khi chuột,” vì ông nói được ba ngoại ngữ trôi chảy. Như vậy, người Mỹ cũng đôi khi cảm thấy xấu hổ vì hình ảnh của nước Mỹ, nếu không, ông đã nói: “Ok! Tôi là người Mỹ đây, có sao không?”

Vào Tháng Tư, 2008, tại Hà Nội, hàng nghìn người đổ về khu triển lãm Giảng Võ trong ngày lễ hội hoa anh đào Nhật. Nước Nhật đã chở sang ba cây hoa anh đào lớn và trình diễn các tiết mục văn hóa truyền thống của Nhật, nhưng người Hà Nội đã đáp lễ với phong cách “văn hóa Việt Nam” bằng cách chen lấn nhau vặt lá, ngắt hoa, bẻ cành, tàn sát ba cây hoa anh đào không thương tiếc khiến người Nhật ngẩn ngơ mà người Việt có lương tri cũng phải xấu hổ. Nếu “người Hà Nội” biết rằng người Mỹ đã cư xử như thế nào với 3,750 cây hoa anh đào đã hiện diện trên bờ hồ Tidal Basin, Washington D.C., gần 100 năm nay hẳn phải hổ thẹn về hai chữ “văn hóa” mà họ thường nói ở đầu môi.

Sau vụ này, nếu là người Việt Nam, bây giờ nếu bạn đang ở Nhật, nơi người Nhật đã tỏ sự khinh bỉ các giới chức trong chính phủ Việt Nam ăn hối lộ ngay trên công trình Nhật đang giúp, hay hết thẩy nhân viên Vietnam Airlines bay đến Nhật đều buôn lậu, bạn sẽ nói mình là người Thái lan? Nếu ở Nam Phi, nơi có nhân viên Tòa Ðại Sứ Việt Nam buôn lậu sừng tê giác, bạn sẽ nhận mình là người Hoa. Nếu bạn đang ở Indonesia, nơi có các cô gái đứng trong chậu cá, bạn sẽ nhận mình là người Miên. Hy vọng là bạn sẽ thành thạo vài thứ tiếng Ðông Nam Á để “tránh miểng” trong những trường hợp như thế, mà không phải ú ớ khi có người hỏi dồn bạn một vài câu bằng tiếng Thái, Hoa hoặc Indonesia.

Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt của Tổng Giáo Phận Hà Nội, trong bài phát biểu ngày 20 Tháng Chín, 2008, đã nói rằng: “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét...” Ðây là lời tố cáo sắc bén nhắm vào chế độ Cộng Sản. Người nước ngoài đã nhìn ông như thế nào để ông cảm thấy “nhột nhạt” khi người ta biết ông là người Việt Nam. Lời nói này đã bị chính quyền Cộng Sản lên án, nhưng phải chăng lúc nào chúng ta cũng phải hãnh diện về đất nước của mình. Dân Biểu Joseph Cao Quang Ánh, dù là một người Việt Nam, vẫn có quyền lên án những điều xấu xa đang xảy ra trên quê hương của ông. Thật là lố bịch và kém hiểu biết khi Ðại Sứ Việt Cộng tại Hoa Kỳ, ông Lê Công Phụng, đã chỉ trích dân biểu này, qua đài BBC, bằng lối nói ví von: “Ðến ông Obama làm đến tổng thống thì ông ấy vẫn là người gốc Kenya.” Nghĩa là vì là người Việt ông dân biểu họ Cao không có quyền nói đụng chạm đến Việt Nam, cũng như Tổng Thống Barack Obama, đã là gốc Kenya thì cái gì thuộc về Kenya đều tốt đẹp cả.

Thật ra bạn không có trách nhiệm gì về đường lối ngoại giao của một quốc gia hay cái xấu của nhà cầm quyền, thậm chí là những điều sai trái đáng lên án của một số người cùng chung một quốc gia với bạn, nhưng thán phục hay khinh bỉ, kỳ thị một đất nước nào, đó là quyền của tất cả mọi người. Ðiều này chỉ cần thể hiện qua ánh mắt hay cử chỉ của người đối diện, cũng đủ làm đau lòng chúng ta. Cái nhìn của quan thuế Nhật vào thời điểm này cũng dành cho người Việt đến Nhật như thế.

Người Cộng Sản thường hay nhầm lẫn hay cố ý “đánh lận con đen” khi cứ một mực lên án những người phê bình chính thể Cộng Sản tại Việt Nam là “chống lại tổ quốc, chống lại đồng bào.” Họ đã gian lận khi bán món hàng kèm Cộng Sản theo với chuyện giành độc lập, nay lại nhập nhằng chế độ Cộng Sản đồng nghĩa với tổ quốc Việt Nam.

Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, Dân Biểu Joseph Cao Quang Ánh hay cả với chúng ta đều có thể phê phán đất nước của mình, đó không phải là “chống lại tổ quốc” mà vì mối nhục quốc thể. Và nếu ai cũng vì quốc thể, ai cũng muốn làm điều tốt để không ai có thể phê phán hay làm nhục đất nước mình, hay đánh giá đất nước sau lưng mình thì đất nước ấy hẳn phải tốt đẹp nghìn lần.

Không có quốc sỉ thì làm sao giữ được quốc thể!

Phần tôi, là người Việt tị nạn trên đất Mỹ, tôi phải làm sao đây khi có bao nhiêu người bản xứ và người ngoại quốc nhìn vào, từ trên đường phố, trong tiệm ăn, lối lái xe trên đường, cách ăn nói, cư xử, y phục, vì thật tình tôi không bao giờ muốn nhận vơ tôi là người Triều Tiên, Thái, hay Miên.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Đầu Năm Trâu Nói Chuyện Cá
Tác giả: Tưởng Năng Tiến


“Thuyền nhân, cái danh từ có một âm tượng mà mỗi khi chính quyền Hà Nội nghe đến nó thì họ nghĩ ngay đến từ đồng ‘đô la’. Thế nhưng cho đến bao giờ người ta mới biết hết được những bất hạnh xẩy ra cho danh từ đó.” Michelle Tauriac (Viet Nam Le Dossier Noir Du Communism).

Trước hết, để tránh mọi ngộ nhận, xin nói ngay rằng đây là chuyện của cá hồi, và chỉ riêng có cá hồi mà thôi. Nói theo tiếng Mỹ là cá hồi only. Chớ còn cá chim, cá chuồn, cá chép, cá lóc, cá lạt, cá lìm kìm, cá mập, cá mú, cá măng, cá cơm, cá cam, cá cờ, cá trê, cá trích, cá trẻm, cá heo, cá hương, cá hố, cá lù đù, cá ìm kìm, cá lia thia, cá đổng, cá đối, cá đèn cầy, cá bè, cá bẹ, cá bống – bất kể là bống kèo hay bống đá – hoặc bất cứ một loại cá thổ tả nào khác đều hoàn toàn (và tuyệt đối) không có dính dáng gì tới vụ này.

Cá hồi sinh ở sông nhưng sống phần lớn thời gian sống ở biển. Ðặc điểm của loài cá này là dù có rong chơi phiêu du ở chân trời góc biển nào chăng nữa, thế nào cũng tìm về nơi chôn nhau cắt rốn để sinh nở. Cá hồi Thái Bình Dương (Pacific salmon), sau khi từ giã nếp sống hải hồ, sẽ không bao giờ trở lại biển cả nữa.

Lý do giản dị chỉ vì chúng sẽ chết sau khi đẻ và cho thụ tinh lứa trứng đầu tiên.

Cá hồi Dại Tây Dương (Atlantic salmon) thì khác. Chúng có thể đi đi về về từ sông ra biển và ngược lại nhiều lần mà không hề do dự hay nao núng, dù khoảng cách phải vượt qua có thể dài đến hàng ngàn dặm, với vô số khó khăn và chướng ngại.

Bản năng về nguồn của cá hồi, tất nhiên, đã được loài người ghi nhận và khai thác từ lâu. Riêng người Nhật, dân tộc đứng thứ nhì về kỹ nghệ cá hồi, vẫn đều đặn sản xuất ra thị trường mỗi năm cỡ một trăm ba mươi ngàn tấn.

Xét về số lượng, mức sản xuất của người Nhật không hơn người Nga bao nhiêu và thua xa người Mỹ. Tuy nhiên, cách thức mà dân Nhật bắt cá hồi mới là điều cần cần phải được lưu tâm và học hỏi.

Họ thiết lập nhà máy đóng hộp cá hồi ngay ở ven sông. Cũng chính nơi đây cá được nuôi nấng, đẻ trứng, thụ tinh để mỗi cặp sẽ cho từ hai đến mười ngàn chú cá hồi con ra đời. Sau đó, chúng sẽ được cho phiêu lưu vào đại dương, để bắt đầu cuộc đời “tha phương cầu thực.”

Tùy theo từng loại, cá hồi sẽ sống ở biển từ sáu tháng đến năm năm. Nhờ vào khả năng “cảm” đuợc từ trường của lòng đất và sự chuyển động của hải lưu, nó sẽ tìm được về chốn cũ. Khi vào gần đến bờ, giác quan đặc biệt của loài cá này giúp chúng nhớ được đúng hương vị quê nhà – tức sông xưa bến cũ – và cứ theo đó mà lần về nguồn cội, đến tận nơi sinh nở.

Người ta đặt sẵn nhiều dụng cụ từ cửa sông để giúp cho cá hồi dễ dàng và mau chóng vào đến nhà máy. Tại đây, họ sẽ tạo ra một loại chướng ngại vật giả khiến chúng phải phóng lên cao và khi rơi xuống thì rớt ngay vào một mạng lưới di động. Màng luới này chuyển động không ngừng, qua nhiều khâu chế biến, để đưa cá từ sông vào…hộp !

Nói tóm lại là người Nhật thả cá hồi con ra biển, theo kiểu “đem con bỏ chợ,” để biển cả nuôi nấng. Rồi khi chúng theo bản năng trở về, họ dụ cho cá vào nhà máy để đóng hộp, và mang bán.

Cách họ kiếm tiền ngó bộ dễ và (chắc) là nhiều. Bởi vậy, có kẻ bắt chiếc. Chính phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (tên kêu gọn thường dùng là Việt Cộng) cũng học theo cách làm ăn không vốn gần như vậy. Chỉ khác có chút xíu xiu là họ dùng người để kinh doanh, thay cá.

Từ năm 1978 cho đế năm 1990, bằng hình thức này hay hình thức khác, Việt Cộng đã “thả” ít nhất là hai triệu người dân ra biển. Người ta ước tính rằng trên bước
đường lưu lạc cứ ba con cá hồi rời bến sông ra đi thì ít nhất cũng có một con bỏ mạng. Nó trở thành mồi săn cho loài người, cho loài chim, hoặc những loài cá khác. Tương tự, trong số hai triệu người Việt phiêu lưu vào biển cả – tối thiểu – cũng phải một phần ba đã vong mạng.

Họ chết vì bão tố, vì hải tặc, hay vì bị xô đuổi một cách lạnh lùng tàn nhẫn tại bến bờ của những quốc gia lân cận. Nơi đây thuyền bè của họ thường bị lôi kéo trở ngược ra khơi. Họ sẽ lênh đênh giữa trời nước bao la cho đến chết vì không còn tìm được nơi để đến, và cũng không còn đủ lương thực (cũng như nhiên liệu) để tiếp tục đi.

Những kẻ may mắn thoát nạn đều sẽ biến thành cá hồi (theo tinh thần của Nghị Quyết 36) của nhà đương cuộc Hà Nội. Đám dân “trôi sông lạc chợ” này sẽ bị tận tình khai thác, và khai thác dài dài, cho đến khi tắt thở , bằng nhiều cách.

Nếu cá hồi Thái Bình Dương chỉ hồi hương một lần rồi chết thì những thuyền nhân rời khỏi Việt Nam sau ngày 19 tháng 6 năm 1988 – đã có thời gian dài sống tạm trú ở những quốc gia Ðông Nam Á – cũng mang số phận y như vậy. Họ bị cưỡng bách hồi hương và không bao giờ còn có dịp ra đi nữa. Riêng với những thuyền nhân ở Hồng Kông – khi phần đất này còn thuộc Anh – Anh Quốc đã thoả thuận trả sáu trăm hai chục Mỹ Kim mỗi đầu nguời để Hà Nội chịu nhận họ trở về, cùng với lời hứa hẹn là họ sẽ không bị hành hạ hay ngược đãi !

Số người Việt may mắn hơn, hiện đang phiêu bạt tứ tán khắp bốn phương trời, có thể được coi như là cá hồi Ðại Tây Dương – giống cá có khả năng đi đi về về nhiều lần từ sông ra biển và ngược lại. Những kẻ này vẫn tiếp tục kiếp sống tha phương cầu thực, chăm chỉ cặm cụi kiếm và để dành tiền, rồi hàng năm làm đơn “xin phép” được hồi hương. Mỗi Việt Kiều về thăm quê nhà chắc chắn đều chi trải

một số tiền không phải chỉ là sáu trăm Mỹ Kim mà có thể là đến sáu ngàn Ðô La, hay nhiều hơn nữa.

“Ngân hàng Nhà nước VN dự báo lượng kiều hối từ nước ngoài gửi về

nước năm nay có thể lên tới 8 tỷ đôla, tăng 2,5 tỷ so với 2007” – theo như nguồn tin của BBC, nghe được vào ngày 3 tháng 12 năm 2008.

Hà Nội có lý do để hãnh diện về thành quả này – thành quả kinh tế duy nhất (thực sự) vượt chỉ tiêu – về kỹ nghệ xuất và nhập cảng người, sau hơn nửa thế

kỷ mà họ đã nắm được quyền bính ở Việt Nam. Họ đẩy ra khỏi nuớc những con nguời cùng quẫn và sôi xục bất mãn, rồi “thu về” những Việt kiều yêu nuớc và giàu

sang.

Thiệt khoẻ !

Tưởng Năng Tiến

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Hey Brian Đoàn

Huy Phương

“Tôi không chống hoặc ủng hộ Cộng Sản. Tôi chỉ là một nghệ sĩ.”

(Brian Ðoàn)

Tôi gặp Brian Ðoàn cách đây mấy năm khi Ðoàn mở cuộc triển lãm “The Unforgotten Ones” gồm 30 bức ảnh về Làng Việt Nam tại Palawan, Phi Luật Tân ở phòng hội Lê Ðình Ðiểu mà tôi gọi là “Ngôi Làng Buồn Thảm” khi đặt bút viết về những cảm xúc của mình khi xem cuộc triển lãm này. Sự thành công của Ðoàn, dù chỉ vỏn vẹn trong ba mươi bức ảnh, đã làm cho người ta cảm nhận được những gì Ðoàn muốn chuyển đạt đến người xem, khi niềm tuyệt vọng, u uẩn thể hiện lên từng bức ảnh. Ðể có được bộ ảnh này, Brian Ðoàn đã phải đi Palawan hai lần, lần thứ nhất có nhà tài trợ, lần thứ hai phải nợ tiền thẻ tín dụng. Ðoàn cũng biết chuyến đi này không nhắm chuyện thương mãi, những bức ảnh trong cuộc triển lãm không thể bán được cho ai: “Ai lại treo hình một người điên đang trần truồng tắm trong nhà?”

Ðối với tôi, Brian Ðoàn cách đây mấy năm là một người trẻ tuổi, có học, có chuyên môn, biết dấn thân, có tâm huyết với đất nước, khởi đầu là dự án “Người Việt Lưu Vong” mà Ðoàn đã thực hiện trong mấy năm qua do Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt-Mỹ bảo trợ. Mặc dù kinh phí rất hạn chế nhưng Ðoàn đã cố gắng đi thật nhiều, gặp gỡ đồng bào ở khắp mọi nơi trên thế giới, Châu Mỹ, Châu Âu, Ðông Âu... để chụp hình và lấy tư liệu.” Brian Ðoàn cũng đã cho rằng “lịch sử của một dân tộc không chỉ là những trận đánh oanh liệt, những chiến tích oai hùng. Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam vẫn còn một mảng tối mà chúng ta cần soi sáng để con cháu chúng ta hãnh diện hơn về dân tộc mình. Mảng tối đó là máu xương của hơn nửa triệu người bỏ xác nơi biển Ðông hoặc nơi rừng thiêng nước độc, một mảng tối đầy nước mắt của những người đang sống một đời sống đầy cơ cực và tủi nhục”. Brian Ðoàn muốn thể hiện bằng hình ảnh một cuộc “thập tự chinh đầy máu và nước mắt” của dân tộc mình mà trong đó anh đã mất hai người anh ruột thịt. (NV 2-25-05).

Dù cuộc gặp gỡ rất ngắn ngủi bên trong và ngoài phòng triển lãm “The Unforgotten One”, tôi cũng đã ghi nhận ở Ðoàn là một người trẻ muốn phụng sự, không hề vụ lợi khi Ðoàn ngỏ ý muốn hợp tác với tôi trong loạt bài “Chân Dung Một H.O.” về phần hình ảnh. Lúc đó cũng như bây giờ tôi thấy hình ảnh chân dung của những người cựu tù nhân không cần đến phần nghệ thuật nhiều, các anh em lại ở rải rác nhiều tiểu bang, một phần cuốn sách không có kinh phí, nên không dám làm phiền đến thiện chí của Ðoàn.

Trong vòng ba năm ngắn ngủi, tôi thất vọng khi thấy Brian Ðoàn đã phản bội lại chính anh và phản bội lại những người đã yêu mến anh. Thật tình, lâu lắm, đây là lần tôi nghe lại tên Brian Ðoàn trong cuộc triển lãm mang tên “F.O.B.II: Nghệ Thuật Lên Tiếng” đã diễn ra tại trụ sở VAALA từ ngày 9 Tháng Giêng 2009 của hơn 40 nghệ sĩ mới và cũ, mà Ðoàn đã dẫn đầu bằng một mũi xung kích hay được gọi là người mang một trái bộc phá nổ tung giữa cộng đồng người Việt tỵ nạn. Những tác phẩm hội họa của Nguyên Khai, Ann Phong, Nguyễn Trọng Khôi mà chúng ta đã được thưởng ngoạn nhiều lần, lần này tôi có cảm tưởng như cái vỏ bọc cho những gì mà ban tổ chức hay người chọn tác phẩm Trâm Lê hay Y Sa muốn mở ra cho người khác thấy qua những tác phẩm mệnh danh là “Nghệ Thuật Lên Tiếng”.

Cuộc triển lãm được dự trù trước và ban tổ chức đã mời nhiều nghệ sĩ cùng triển lãm dưới một chủ đề chung hay đây chỉ là một cuộc triển lãm “tạp lục” quơ góp nhiều tác phẩm lại trong một thời gian nào đó để gây ra những điều sóng gió tệ hại như thế.

Cũng nên nói qua “tác phẩm” Vô Ðề (Untitle) của Steven Toly với lối giải thích ngu ngơ rằng đó là tượng trưng cho dân tộc đang bị giam hãm và trấn áp (vì sao lại dùng hình ảnh cờ vàng VNCH với ba sợi dây kẽm gai màu đỏ?) hay bức “Super Fab Beauty Queen” của Long T. Bui chỉ là đơn giản một bích chương cổ động (hay đả kích) tầm thường với dụng ý ghép ba hình ảnh cờ vàng, hoa hậu và chai thuốc viagara, dù giải thích thế nào thì đó là một ác ý không thể tha thứ. Ðiều này nói lên điều gì: văn hóa hải ngoại đọa lạc, ghê tởm? Một đứa trẻ cũng biết rằng cộng đồng hải ngoại, trên phương diện đạo đức, tốt đẹp hơn nền văn hóa hóa XHCH hằng nghìn lần.

Hai bức tranh trên và cả “Thủ Ðức, Việt Nam” của Brian Ðoàn không thể gọi là “tác phẩm nghệ thuật”. Tôi không thấy hay chưa hiểu nổi những gì gọi là nghệ thuật hay sự sáng tạo nào trong này, tất cả đều được sắp đặt cố ý với những hình ảnh mà tác gỉa muốn trình bày, đó là chiếc áo cờ đỏ sao vàng và bức tượng bán thân của Hồ Chí Minh trên một chiếc bàn nhỏ có chưng một bình hoa. Ðành rằng một nhà nhiếp ảnh có thể dàn dựng hay sắp đặt để chọn một hình ảnh được ghi nhận vào cái phút bắt chụp ưng ý nhất. Nguyễn Ngọc Hạnh luôn luôn dàn dựng trong những tác phẩm của ông, nhưng bức ảnh luôn luôn cho ta thấy “thật” và gây xúc động. Brian Ðoàn đã dàn dựng, nhưng những vật thể mà Ðoàn muốn đưa ra không có gì là trừu tượng, khó hiểu mà trái lại rất lộ liễu, thiếu chất mỹ thuật có thể đem lại cho người xem một cảm xúc nào, nếu không nói là rất khô cứng với một lá cờ đỏ và một bức tượng bán thân của Hồ Chí Minh, chỉ với một chủ đích nào đó.

Lan Dương trong ban tuyển chọn tác phẩm nói rằng: “bức ảnh có lá cờ Cộng Sản nhưng đó không phải là để xiển dương chế độ Cộng Sản mà như một kiểu thời trang của giới trẻ Việt Nam ngày nay”. Qua những cuộc tiếp xúc với báo chí, Brian Ðoàn cũng đã khẳng định đây không phải là một bức ảnh nói tốt cho chế độ Cộng Sản vì “lá cờ dùng để treo chứ không phải dùng để may áo mặc, tượng Hồ Chí Minh phải để chỗ trang trọng chứ không phải trên bàn ăn”, là để nói ngày nay ở Việt Nam không ai coi trọng những thứ này nữa. Lời ngụy biện này nghe chừng không ổn. “Một bức ảnh không nói tốt cho chế độ Cộng Sản”! Nếu lá cờ đỏ sao vàng này được in lên một manh áo rách của một em bé đang lê la trong những đống rác vĩ đại để kiếm ăn ở Việt Nam, hay hiện diện trên thân mình một em bé bảy, tám tuổi đang phải phục vụ khách làng chơi bằng khẩu dâm ở Kampuchea thì may ra lập luận của Brian Ðoàn còn nghe được.

Brian Ðoàn cũng đã khẳng định là “không” khi được hỏi anh có muốn gởi một thông điệp gì đến cho đồng hương qua bức ảnh này không? Vậy vấn đề còn lại là gì, một bức ảnh không mang tính chất nghệ thuật, không gói ghém một thông điệp gì gởi cho người thưởng ngoạn thì nó chỉ là một vật thể hay hình ảnh được cấu tạo một cách vô hồn.

Chắc chắn ban tổ chức cuộc triển lãm và tác giả đã đoán biết được những gì sẽ xẩy ra khi phòng triển lãm mở cửa với một bức ảnh như thế. Mười năm về trước, VAALA và Brian Ðoàn cũng không quá nhỏ để biết đến vụ Trần Trường với cũng một lá cờ và bức ảnh Hồ Chí Minh được trưng bày trong một cửa tiệm tư nhân, ở đây bây giờ nó lại được lập lại dưới một hình thức khác trong một cuộc triển lãm mở cửa mời công chúng vào xem. Cái giá đó không rẻ, để ban tổ chức có thể đánh đổi được một điều gì có lợi trong đó. Rõ ràng đây là một cuộc khiêu khích đầy dụng ý, thô bỉ, bất công và hàm hồ, như cố tình tạo nên một thời điểm bất ổn trong một cộng đồng ly hương đang chuẩn bị để đón Tết Nguyên Ðán năm nay. Ai là kẻ thủ lợi trong “biến cố” này, tôi tưởng đây là một điều dễ hiểu...

“Chúng tôi làm nghệ thuật và đây là chỗ nghệ thuật lên tiếng”, đã nhiều lần ban tổ chức khẳng định như vậy, xem như đám đông này đầu óc ngu muội, bị ám ảnh về chính trị và không đủ trình độ để thưởng thức nghệ thuật, nhưng liệu những tác phẩm như bức ảnh của Brian Ðoàn qua thời gian sống được bao nhiêu ngày, nói được điều gì để trở thành một bức ảnh đủ tiêu chuẩn nghệ thuật.

Chỉ còn lại là tuổi trẻ háo thắng, sử dụng cái quyền tự do phát biểu để đập thẳng vào mặt người khác mà không kiêng dè gì đến vết thương của cộng đồng mà họ lớn lên và thành người trong đó. Vấn đề còn lại là lương tâm của những người nhân danh tuổi trẻ, nhân danh nghệ thuật, nhân danh tự do ở xứ được tự do che chở này, bằng không đây là một cuộc khiêu khích có sắp đặt và có chủ đích nhắm đến cộng đồng tỵ nạn hải ngoại, làm lại một cuộc trắc nghiệm lấn chiếm khác, của những thế lực chính trị đang muốn phá nát sự đoàn kết và ý chí chống Cộng của người Việt lưu vong hải ngoại.

Bảy vị dân cử địa phương đã ra thông báo xin VAALA ngưng cuộc triển lãm này, Hàm Nguyễn, Ðông Xuyến trong ban tổ chức đã lên tiếng, cuộc biểu tình của đồng hương tỵ nạn Cộng Sản đang diễn ra vào sáng ngày 17 Tháng Giêng 2009, thân phụ của Brian Ðoàn, một người cựu tù “cải tạo” hơn 10 năm trong nhà tù Cộng Sản, đã xuất hiện trước công chúng, tỏ ý buồn phiền và ngỏ ý muốn Brian Ðoàn rút lại “tác phẩm” của anh. Ly nước tràn thêm với chuyện rắc rối về giấy phép của thành phố Santa Ana, VAALA đã tuyên bố đóng cửa phòng triển lãm.

Hai tuần sau phòng triển lãm “FOB II: Art Speaks” đóng cửa tại Santa Ana, báo The Orange County Register ngày 2 Tháng Hai 2009 loan tin nhiếp ảnh gia Brian Ðoàn lại tiếp tục triển lãm bức ảnh “cờ đỏ, tượng Hồ” này trong một cuộc triển lãm khác tại trường đại học cộng đồng Cypress College. Brian Ðoàn hoàn toàn phản bác lại tất cả ý kiến chống lại tác phẩm của anh. Ðiều tệ hại nhất là Brian Ðoàn đã nói với báo The Orange County Register rằng: “Tôi không chống hoặc ủng hộ Cộng Sản. Tôi chỉ là một nghệ sĩ.”

Tôi chưa nghe Brian Ðoàn định nghĩa thế nào là nghệ sĩ. Nghệ sĩ không phải là một người có đôi chân đi hỏng mặt đất, đứng ngoài lề xã hội, đứng trên nỗi đau đớn hay hạnh phúc của người khác. Người nghệ sĩ chọn những con đường khác nhau nhưng vẫn có tư cách, cương vị của một người công dân của một xã hội, con dân của một đất nước, phải có cái tâm và biết chống lại cái ác. Tôi tiếc là Brian Ðoàn đã phủ nhận chính con người của anh của những ngày “The Unforgotten Ones”. Válav Hazel chính là người nghệ sĩ lớn của nhân loại khi biết đau cùng cái đau của dân tộc, không sợ cường quyền, đã tình nguyện ở lại cùng với ngục tù của đất nước để làm cuộc “Cách Mạng Nhung”, đem Tiệp Khắc ra khỏi nạn Cộng Sản, có ai chê ông không phải là người nghệ sĩ? Trần Dần, Phùng Quán, Phùng Cung đã bị đày đọa suốt 30 năm, nhưng ai tước đoạt được danh xưng nghệ sĩ của họ. Ngày trước dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nhiều người mang danh nghệ sĩ đã cho mình là người trung lập, đứng ngoài cuộc chiến, chống chiến tranh, nhưng khi Cộng Sản vào miền Nam mới thấy cái nhục nhã, quỵ lụy của chúng. Chỉ trong chế độ tự do, được bảo vệ tự do và nhân phẩm, và nhân danh tự do, những người này mới được la hét, phá quậy, biểu diễn lập trường, nhưng trong chế độ độc tài, áp bức, họ chỉ là những con chiên ngoan ngoãn, thúc thủ, hèn nhát đi theo con đường đã được vạch sẵn.

Phạm Duy đổi màu “tắc kè”, Trịnh Công Sơn yếu đuối phản bội, đành rằng họ là nghệ sĩ, nhưng những người như Trầm Tử Thiêng nói đến nỗi đau của dân tộc, ghét Cộng Sản đến xương tủy, có ai nói Trầm Tử Thiêng không phải là nghệ sĩ?

Có thể nhiều nghệ sĩ cho rằng mình không làm chính trị, nhưng đã là con người phải có thái độ chính trị. Ðó là sự ghét bỏ điều ác, biết đi cùng nỗi khổ của con người và biết tranh đấu cho sự toàn thiện. Nếu không, đây chỉ là những người lửng lơ, thủ lợi như cô ca sĩ có thể kiếm tiền bằng cách lê giọng hát ở cả hai nơi, với hai chữ quê hương ngọt ngào như giọng cáo của La Fontaine.

Ðiều cuối cùng, phải nói là rất xót xa khi phải nói ra đây. Brian còn nợ những nỗi nhọc nhằn của thân phụ anh với mười năm tù để đưa anh sang đây, với mẹ anh trong những ngày gồng gánh thăm chồng, nuôi con, vất vả nuôi anh nên người, để rồi muốn làm một người nghệ sĩ “vẻ vang”, phản bội quá khứ, “không chống Cộng mà cũng không theo Cộng”, như con bọ hung dưới đất chui lên. Cái háo thắng của tuổi trẻ, cái bất cần khinh bỉ ý kiến đám đông, trong đó có cả các bậc sinh thành, cái hào quang của người nghệ sĩ chẳng có nghĩa gì khi con người không có cái tâm lành, mà có cái độc ác cào xới lên vết thương còn đau đớn của người khác, mắng mỏ vào cái cộng đồng từ đó mình đã lớn lên.

Ở đây là xứ tự do, Brian Ðoàn có quyền làm những gì anh muốn, được cổ võ bao bọc bởi một đám nhỏ đồng dạng, hãnh tiến mình là người nghệ sĩ lớn của nước Mỹ tự do, Brian Ðoàn bắt đầu say mê quyền lực, quyền lực phát biểu. Nhưng trước mắt tôi, hey! Brian Ðoàn, đối với gia đình, anh chỉ là một thằng con bất hiếu, đối với cộng đồng anh là một kẻ bất nghĩa.

Con diều bị bứt sợi dây mà từ đó nó mới có thể bay lên, sẽ không bay cao được đâu?

(3 Tháng Hai 2009)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tiếng Việt Dễ Thương Nam, Bắc

Bắc bảo Kỳ, Nam kêu Cọ (gọi là Kỳ Cọ)
Bắc gọi lọ, Nam kêu chai
Bắc mang thai, Nam có chửa
Nam xẻ nửa, Bắc bổ đôi

Ôi! Bắc quở Gầy, Nam than Ốm
Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh
Bắc định đến muộn, Nam liền la trễ
Nam mần Sơ Sơ, Bắc nàm Nấy Nệ

Bắc lệ tuôn trào, Nam chảy nước mắt
Nam bắc Vạc tre, Bắc kê Lều chõng
Bắc nói trổng Thế Thôi, Nam bâng quơ Vậy Đó
Bắc đan cái Rọ, Nam làm giỏ Tre,

Nam không nghe Nói Dai, Bắc chẳng mê Lải Nhải
Nam Cãi bai bãi, Bắc Lý Sự ào ào
Bắc vào Ô tô, Nam vô Xế hộp
Hồi hộp Bắc hãm phanh, trợn tròng Nam đạp thắng

Khi nắng Nam mở Dù, Bắc lại xoè Ô
Điên rồ Nam Đi trốn, nguy khốn Bắc Lánh mặt
Chưa chắc Nam nhắc Từ từ, Bắc khuyên Gượm lại
Bắc là Quá dại, Nam thì Ngu ghê

Nam Sợ Ghê, Bắc Hãi Quá
Nam thưa Tía Má, Bắc bẩm Thầy U
Nam nhủ Ưng Ghê, Bắc mê Hài Lòng
Nam chối Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh

Nhanh nhanh Nam bẻ Bắp, hấp tấp Bắc vặt Ngô
Bắc thích cứ vồ, Nam ưng là chụp
Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi
Nam nói: mày đi! Bắc hô: cút xéo.

Bắc bảo: cứ véo! Nam : ngắt nó đi.
Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói
Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn !
Bắc gọi tiền đồn, Nam kêu chòi gác

Bắc hay khoác lác , Nam bảo xạo ke
Mưa đến Nam che , gió ngang Bắc chắn
Bắc khen giỏi mắng , Nam nói chửi hay.
Bắc nấu thịt cầy, Nam thui thịt chó.

Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên
Anh Cả Bắc quên, anh Hai Nam lú
Nam : ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi!
Bắc mới tập bơi, Nam thời đi lội

Bắc đi phó hội, Nam tới chia vui
Thui thủi Bắc kéo xe lôi, một mình xích lô Nam đạp
Nam thời mập mạp, Bắc cho là béo
Khi Nam khen béo, Bắc bảo là ngậy

Bắc quậy Sướng Phê, Năm rên Đã Quá !
Bắc khoái đi phà, Nam thường qua bắc
Bắc nhắc môi giới, Nam liền giới thiệu
Nam ít khi điệu, Bắc hay làm dáng

Tán mà không thật, Bắc bảo là điêu
Giỡn hớt hơi nhiều, Nam kêu là xạo
Bắc nạo bằng gươm, Nam thọt bằng kiếm
Nam mê phiếm, Bắc thích đùa

Bắc vua Bia Bọt, Nam chúa La-De
Bắc khoe Bùi Bùi lạc rang, Nam : Thơm Thơm đậu phọng
Bắc xơi na vướng họng, Nam ăn mãng cầu mắc cổ
Khi khổ Nam tròm trèm ăn vụng, Bắc len lén ăn vèn

Nam toe toét «hổng chịu đèn», Bắc vặn mình «em chả»
Bắc giấm chua «cái ả», Nam bặm trợn «con kia»
Nam mỉa «tên cà chua», Bắc rủa «đồ phải gió»
Nam nhậu nhẹt thịt chó, Bắc đánh chén cầy tơ

Bắc vờ vịt lá mơ, Nam thẳng thừng lá thúi địt
Khi thấm, Nam xách thùng thì Bắc bê sô
Nam bỏ trong rương, Bắc tuôn vào hòm
Nam lết vô hòm, Bắc mặc áo quan

Bắc xuýt xoa "Cái Lan xinh cực!",
Nam trầm trồ "Con Lan đẹp hết chê!"
Phủ phê Bắc trùm chăn, no đủ Nam đắp mền
Tình Nam duyên Bắc có thế mới bền mới lâu…

Sưu Tầm

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image
Đàn Ông Chỉ Có " Ăn "Là Giỏi


Người ta đã thống kê được rằng, cuộc đời một người đàn ông hầu hết gắn bó với chữ "ăn".
Khi còn bé thì "ăn học", lớn thêm chút nữa thì "ăn chơi", lúc có bạn gái thì chăm chăm tìm cách "ăn thịt".
Ăn thịt xong thì phải "ăn hỏi" rồi "ăn cưới", cưới về phải tiến hành "ăn nằm".
Khi vợ đến kỳ nguyệt san đành phải "ăn chay" hoặc "ăn vụng",
sau khi vợ sinh em bé thì phải "ăn kiêng", về già rụng răng phải "ăn cháo",
xa thêm tí nữa thì theo các cụ mà "ăn xôi"…

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Về Quê Ăn Tết

Lê Phan
Bất cứ một người Việt nào hiện đang sống ở hải ngoại khi nói đến về quê ăn Tết hẳn lại nghĩ ngay đến quê nhà ở Việt Nam. Hình ảnh ngày Tết quê hương là hình ảnh của ký ức, vô cùng đầm ấm và đẹp đẽ. Nhưng nhiều khi chúng ta bị ký ức đánh lừa.

Thật khó quên những ngày Tết của thời xa xưa cũ. Chỉ những màu sắc cũng đủ làm chúng ta ngây ngất. Tết ở Sài Gòn có thể thiếu cái lạnh nhưng được thay thế bằng những bông mai vàng chen lẫn dưa hấu đỏ. Chợ hoa Nguyễn Huệ xinh đẹp nhưng hiền hòa không hào nhoáng và những hàng bánh mứt của chợ Sài Gòn được bày biện như những tác phẩm nghệ thuật.

Và chính những hình ảnh đó đã khiến nhiều người Việt tìm về quê ăn Tết.

Tôi đã gặp nhiều người tìm về quê ăn Tết và mỗi người đều trở ra với một niềm thất vọng.

Một ông bạn kể lại là mỗi năm đi xem chợ hoa Phước Lộc Thọ lại nhớ đến chợ hoa Nguyễn Huệ. Ông bạn tôi bảo là ở chợ hoa Phước Lộc Thọ những loại cây hoa thật đẹp nhưng vẫn làm cho ông nhớ chợ hoa năm nào vì hoa Cali khác hoa Sài Gòn. Ông thèm cành mai vàng thật sự. Hoa Lan đẹp thật nhưng hoa Lan không thay được cho những chậu cúc đủ loại. Ngay cả đến chậu quất Cali cũng không giống chậu quất quê hương.

Sau nhiều năm ao ước, năm ngoái ông tìm về Sài Gòn ăn Tết và vỡ mộng. Chợ hoa Nguyễn Huệ nay đã trở thành Ðường hoa Nguyễn Huệ. Lòe loẹt, quê mùa, nửa tây nửa ta, phần trưng bày cây cảnh được mệnh danh là đường hoa Nguyễn Huệ làm ông sững sờ. Còn đâu chợ hoa ngày xưa mà ông thèm muốn. Dĩ nhiên Sài Gòn vẫn có chợ hoa, nhưng chợ hoa Nguyễn Huệ mà ông yêu mến đã không còn nữa.

Bà chị chồng tôi kể lại là năm trước cũng đem con cái về ăn Tết ở Việt Nam. Bà đã cố lập chương trình để sao cho đến ngày 30 Tết về đến Hà Nội. Tối Giao Thừa, bà cùng mấy cô con gái và gia đình tìm ra đường tính theo dân Hà Nội đi lễ. Vừa ra đến đường, cảnh rối loạn của một thành phố không biết đến kỷ luật giao thông đã làm bà hoảng sợ. Mấy mẹ con đứng tần ngần mãi không dám qua đường. Sau cùng, một ông đứng tuổi, giọng nói thanh tao của người Hà Nội cũ, thấy thương tình chỉ bảo "Các bà cứ đi, họ sẽ tránh. Còn cứ chờ thì chẳng bao giờ sang đường được đâu."

Ðánh bạo, mấy mẹ con dắt díu nhau qua đường, chờ chực mãi mới đón được một cái taxi để đến chùa Trấn Quốc. Ngôi chùa cổ kính nằm bên hồ Tây không đông khách bằng Phủ Tây Hồ nhưng cũng chật người. Mặc dầu lúc đó vừa quá nửa đêm sang năm mới, vườn cây cảnh của chùa đã bị vặt sạch, trông tiêu điều như mới trải qua một cơn bão. Hỏi ra mới biết khách thập phương đã "hái lộc" trụi hết. Buồn rầu mẹ con trở về khách sạn. Sáng mồng một, đường sá vắng hoe, không người đi lại. Thành phố bẩn thỉu dơ dáy nhưng trống trơn, chỉ có những người phu vệ sinh đang thâu dọn bãi chiến trường. Ði quanh quẩn không tìm được đến một tiệm phở, mẹ con bà chị chồng tôi đành trở về khách sạn. Cái Tết quê hương trở thành một cơn ác mộng. Và ngày Tết lại càng làm cho họ cảm thấy mình chỉ là người khách lạ chứ không phải trở về quê hương.

Một người bạn khác cũng thèm nhớ hàng năm vẫn theo mẹ đi lễ lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt. Năm vừa qua bà bạn đã tìm về Sài Gòn để viếng Lăng Ông đêm Giao Thừa. Hồi xưa, người đi lễ 1ã đông, bây giờ người đi lễ còn đông hơn nữa. Hương khói nghi ngút ngập trời, đoàn người như nước lôi cuốn người ta không sao cưỡng được. Ngoài nhang đèn, số người làm ăn kinh doanh còn mang theo nhiều lễ vật hậu hĩnh để cầu tài lộc. Con heo quay nằm trên mâm xung quanh đầy tiền giấy cúng sao khó coi quá. Chen chúc một hồi, bạn tôi cũng bị đoàn người đẩy vào đến cửa lăng. Ngạc nhiên nhìn cánh cổng sơn phết lại sao màu mè hơn ngày xưa. Vào đến bên trong, đoàn người đi vào nhập vào đoàn người đi ra, mạnh tay mỗi người tha hồ bẻ cây cối. Bên trong lăng, nơi xin xăm người ta đứng vòng trong vòng ngoài, người nọ lạy người kia vái, tiếng xúc xăm ồn ào nhức óc. Xăm xin xong lại phải ra ngoài nhờ thầy giải đoán. Hàng loạt các ông thầy chực sẵn, lăm le chỉ bảo. Sợ quá, bà bạn tôi bỏ ra sau để thắp nén hương trên phần mộ của Tả Quân và Phu nhân rồi vội vã bỏ về.

Một người bạn nữa lại thèm những món ăn ngày Tết ở quê nhà. Ông ta cứ cả quyết là miếng mứt mãng cầu ở Sài Gòn ngon hơn, không ngọt lự như mứt ở Cali. Ông còn khẳng định dưa đỏ thì chỉ có dưa đỏ ở Việt Nam mới ngọt và mát rượi. Ông nhớ đến đòn bánh tét, đĩa dưa lỗ tai heo, miếng củ kiệu và những con tôm ngọt lịm để nhâm nhi ba xị ngày Tết. Ông chê những thứ này ở Cali không ngon bằng. Năm nay ông tìm về Việt Nam ăn Tết. Khám phá đầu tiên của ông là dưa đỏ Việt Nam bây giờ thua dưa đỏ Cali vì bón phân hóa học quá nên xốp mà không ngọt. Dưa tai heo không giòn, củ kiệu có vẻ như có mùi hóa chất còn con tôm khô cho đĩa đồ nhắm giờ đây trông cũng đỏ đẹp như xưa nhưng cắn vào thì lạt nhách.

Trong khi đó hồi năm 2005 tôi có dịp ghé Cali ăn Tết. Bầu không khí nhộn nhịp không thua gì ngày Tết quê hương. Tiếng pháo nổ giòn khác hẳn với sự im lặng của cái Tết Việt Nam vì ngày nay pháo bị cấm. Chợ hoa Phước Lộc Thọ vui vẻ, ồn ào, không khác gì chợ hoa Nguyễn Huệ. Trong khi đang đi ở chợ hoa, tôi gặp một gia đình từ Âu Châu sang Cali ăn Tết. Ông bà này kể lại là sau khi về Việt Nam vỡ mộng quá, bây giờ cứ vài năm lại tìm sang Little Saigon để hưởng cái Tết quê hương. Ông tâm sự "Ðây mới thực là quê hương của chúng mình. Bên đó bây giờ đã trở thành xứ lạ. Từ thức ăn, tiếng nói, đến phong tục tập quán, ngay cả cách chưng diện, lối đối xử, họ khác mình quá rồi, về bển chỉ thêm buồn. Ấy là chưa kể cứ mỗi lần thấy lá cờ đỏ vẫn còn đứng tim."

Quả dúng là vậy.

Lê Phan

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Thịt Chó ở Đại Hàn: Cấm Vẫn Xơi

Muốn xếp chó vào hàng gia súc cũng không dễ. Năm 1997, một người bán thịt chó sỉ bị truy tố về tội bán thịt chó bất hợp pháp.
Tòa đã tha bổng với lý do thịt chó được xã hội chấp nhận rộng rãi.

Image
Biểu tình phản đối ăn thịt chó ở thủ đô Seoul.
Người Hàn Quốc quan niệm thịt chó giúp bù đắp năng lượng nhanh chóng nhất trong mùa hè oi bức, do đó đây là món ăn khoái khẩu của người dân. Thành phố Seoul đã quy định cấm giết mổ chó và buôn bán thịt chó nhưng rồi đâu cũng vào đấy.

Thoải mái giết chó
Tại Seoul, năm 1983 chính quyền đã ra chỉ thị cấm bán các loại thực phẩm ghê tởm như thịt chó, thịt rắn. Tuy nhiên, hiện có khoảng 500-600 cửa hàng bán thịt chó công khai ở Seoul. Từ lâu chính quyền cũng không kiểm tra, xử phạt.

Đến chợ Gyeongdong ở quận Dongdaemun (trung tâm thủ đô Seoul), khách hàng có thể lựa chó và nhờ chủ cửa hàng xả thịt mang về chỉ trong 30 phút. Khách được dẫn vào chuồng chó để chọn. Ông chủ cầm roi quất từng con để nghe tiếng kêu mà biết thịt ít hay nhiều. Chọn được một con, ông chủ dùng thòng lọng lôi cổ chó ra. Dụng cụ giết chó là cây gậy có đầu nhọn dẫn điện.

Ông chủ đem xác chó để vào thùng nước sôi khoảng 70 độ để làm mềm thịt và dễ làm lông. Làm lông xong, chó được chuyển sang lò thui. Sau đó, ông chủ dùng cây đuốc đốt sạch lông còn sót. Giá một con làm xong trung bình 150.000 won (khoảng trên 100 đô la).

Chợ Moran ở tỉnh Gyeonggi cũng nổi tiếng là chợ bán thịt chó. Khoảng 25% thịt chó ở Hàn Quốc bán ở chợ này. Số còn lại đến từ các nông trại chuyên nuôi chó lấy thịt. Chuồng nuôi chó thường bẩn thỉu. Năm 2007, Viện Nghiên cứu sức khỏe cộng đồng và môi trường ở Hàn Quốc đã thực hiện một nghiên cứu về thịt chó và phát hiện có nhiều vi khuẩn trong thịt chó.

Chó có phải gia súc?

Mặc dù nhiều người dân Hàn Quốc khoái món thịt chó nhưng ý thức bảo vệ động vật nuôi thân thuộc như chó, mèo cũng phát triển nhanh chóng.

Tháng 3-2008, chính quyền thành phố Seoul tuyên bố sẽ cân nhắc xếp chó vào hạng mục gia súc để dễ bề kiểm tra, giám sát quy trình giết mổ, mua bán. Tuy nhiên, các tổ chức bảo vệ quyền lợi động vật và những người yêu động vật ở Hàn Quốc đã kịch liệt phản đối. Họ tổ chức biểu tình kêu gọi không được xếp chó vào hàng gia súc nuôi lấy thịt như heo, bò.

Hiệp hội Bảo vệ động vật Hàn Quốc cho rằng nếu liệt chó vào hạng mục gia súc, mọi người sẽ xem thịt chó như thực phẩm bình thường như thịt heo, thịt gà trong khi điều này đã đi ngược lại tiêu chuẩn của toàn cầu (thịt chó không được tiêu thụ phổ biến ở nhiều nước trên thế giới). Hiện chó là loài động vật được xếp chung với nhóm khỉ, thỏ, ngựa, hươu...

Không thể liệt chó vào hạng mục gia súc, chính quyền thành phố Seoul buộc phải áp dụng các biện pháp khác để bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm như thanh tra vệ sinh các cửa hàng bán thịt chó.
Image
Và nhà hàng vẫn bán thịt chó.
Năm ngoái, chính quyền dự định sẽ lấy mẫu thịt chó từ 530 cửa hàng để kiểm tra các chất độc hại như kim loại nặng, vi khuẩn, thuốc kháng sinh. Kế hoạch phải hoãn lại vì các tổ chức bảo vệ quyền lợi động vật trong và ngoài nước xem đây là hành vi hợp thức hóa thực phẩm thịt chó.

Năm 2001, các nghị sĩ Quốc hội đã đề xuất dự luật với quy định giết mổ chó như các loài gia súc khác. Sau đó, dự luật chết yểu vì các tổ chức bảo vệ quyền lợi động vật và những người yêu động vật phản đối.

- Luật Bảo vệ động vật của Hàn Quốc có từ năm 1991 nhưng luật chỉ xử phạt hành vi hành hạ động vật. Đến năm 2008, luật mới sửa đổi đã quy định cấm bán hoặc giết các thú vật bị bỏ rơi bao gồm chó.

- Luật về chất thải gia súc sửa đổi áp dụng từ cuối tháng 9-2008 yêu cầu chủ trang trại nuôi chó từ 60 m2 trở lên phải xây dựng công trình xử lý chất thải của chó đúng quy cách. Người vi phạm có thể bị xử phạt một năm tù hoặc 10 triệu won. Quy định này nhằm hạn chế thải phân chó ra đất đai và nguồn nước gây ô nhiễm môi trường. Hiện ở Hàn Quốc có 720.000 nông trại nuôi 2,3 triệu con chó.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Màu Tím Mồng Tơi

Hồ Trường An
Trên đất Pháp, tôi đã từng ăn canh rau mồng-tơi xanh nấu với tôm he . Đôi khi lười biếng, tôi đi ăn self-service, món légume ăn kèm với thịt vẫn là rau mồng tơi xanh nghiền trộn bơ lạt và kem tươi . Khó mà tìm được mồng tươi tím. Mồng tơi xanh to lá hơn, cọng bụ bẫm hơn, nấu canh tôm he cũng ngọt không kém mồng tơi tím. Vậy mà trong tâm hồn tôi, lá mồng tơi tím đã mọc rễ từ lâu lắm rồi, trải qua bao khúc quanh éo le của lịch sử và đã tỏa một màu tím thật lãng mạn và thật thi vị trong suốt thời thơ ấu của tôi.

Bạn ơi, chắc bạn chưa quên lá mồng tơi tím ngoài bờ giậu khi bạn còn ở bên quê nhà? Dường như chỉ ở xứ miền nhiệt đới như xứ sở mình mới có mồng tơi tím mà thôi . Tôi còn nhớ vào thuở ba tôi về Ngã Ba Trung Lương (tỉnh Mỹ Tho) lập nghiệp, bà ngoại tôi bảo tôi và chị tôi nên gầy dây một giậu mồng tơi tím chung quanh khu trồng rau thơm. Chị em tôi chẻ nứa thành những thanh hơi mỏng để đan giậu . Chỉ chừng hai ngày thôi, bờ giậu thành hình với những thanh nứa đan nhặt với những ô hình mắt cáo . Chị tôi lôi từ gian bếp đen óng vì mồ hóng và khói bếp, lấy một cái gói nhỏ đựng trong mo cau . Mở gói giấy ra, tôi chỉ thấy những hột đen đen ngoài bọc một lớp vỏ nhăn nheo . Chúng tôi đào những lỗ nhỏ cỡ đồng xu và sâu ba phân, mỗi lỗ cách nhau nửa thước, rồi bỏ một hột mồng tơi trong đó. Ngoại tôi nói:

- Bây giờ là vào giữa mùa mưa, các cháu không cần tưới làm gì. Mồng tơi tím dễ trồng lắm.

Chúng tôi chỉ chăm bón những loại rau khác, hầu như quên lãng những hột mồng tơi gây giống đi.

Mùa mưa tháng bảy kéo về. Những trận mưa kéo dài có khi suốt ngày, suốt đêm. Mưa ngập ở dãy cây đu đủ và làm cho mấy gốc đu đủ úng thủy chết đi . Rồi vào một ngày nắng đẹp, tôi bắt gặp trên lớp đất ướt mịn, những mầm cây lá non mơn mởn nhú lên. Những cơn nắng lũ đã làm cho hột mồng tơi nứt vỏ, những trận mưa rào ấp ủ cho mầm sống nhú lên. Rồi thì cùng với mưa nắng, sương buổi sáng làm cho mầm cây trưởng thành mau chóng; chỉ độ hai tuần thôi, nó đã thành một sợi dây leo bò dọc theo một thanh nứa, lá vẫn xanh mơn mởn để rồi cùng với cọng dây ửng lên màu tím và rồi tím sẫm dần. Lá mồng tơi có hai mặt: mặt dương quay về ánh sáng mặt trời nên có màu xanh của diệp lục tố, còn mặt dưới ẩn trong bóng râm thì có màu tím.

Từ dây chính, len qua những nách lá, những vòi dây mồng tơi mọc dài ra thành những dây phụ bám ngang, bám dọc theo những thanh nứa đan hình mắt cáo, chỉ trong vòng một tháng thôi, bốn mặt giậu chung quanh khu trồng rau đã được lá mồng tơi mặt xanh mặt tím che kín rợp.

Dù mùa mưa trôi qua, dù dầu giãi dưới những cơn nắng trong tiết trời khô ráo, dây mồng tơi vẫn mượt mà, tươi mát, thấm nhuần nhựa sống dồi dào.

Thế là khu trồng rau của chúng tôi, nhờ giậu mồng tơi đã có một chỗ riêng biệt giữa những cây cỏ hoang dại mọc hỗn tạp. Ngoại tôi giậm thêm những cây bồ ngót để nấu canh tôm, giậm thêm những khóm cao kỷ để nấu canh thịt. Rồi thì cải ngọt, rau tần ô, rau diếp, rau thơm, ngò gai, rau cần tàu được trồng theo từng luống. Những loại rau này cần phải tưới nước và chăm bón cẩn thận. Riêng những dây mồng tơi thì không cần săn sóc, vẫn đâm tược nẩy vòi.

Tôi đã từng say ngắm sự tăng trưởng của những dây mồng tơi ngoài giậu . Những ngày nắng ráo, lá mồng tơi trông thật mướt, mặt lá bóng láng rung rinh dưới những cơn gió nhẹ hiu hiu, lóe lên những chấm sao nhấp nháy . Tôi hái một vài lá vò sát trong lòng bàn tay, khoan khoái cảm nhận chất nhựa trĩn ướt của lá. Và có những đêm rằm, trời trong mây tạnh, tôi cũng đến thăm giậu, mê mải nhìn ánh trăng giát bạc và trắng thủy tinh trên những phiến lá lung linh, hư ảo.

Ngoại tôi không nấu canh mồng tơi suông đâu . Bà cũng hái rất nhiều lá mồng tơi, rồi cùng với rau tập tàng, rau bồ ngót, rau cải trời, rau dịu để nấu canh tôm. Những con tôm he được ngắt đầu, bóc vỏ, bỏ đuôi, rút gân máu, đem quyết nhuyễn và tra thêm tiêu, hành lá, nước mắm... rồi vo từng cục tròn tròn, dẹp dẹp thả vào nồi nước sôi, trước khi bỏ rau mồng tơi và rau khác vào. Canh rau do đó, thật ngọt, được múc vào những chiếc tô sành sản xuất từ Lái Thiêu, với một nét họa phóng bút bằng tay.

Mâm cơm thuở tôi còn thơ ấu chẳng mấy thịnh soạn. Cùng với canh rau, ngoại tôi kho cá bống trứng, hoặc cá rô mề, kho bằng tộ để cho cá được thấm tháp, mặn mòi hơn. Đôi khi trên mâm cơm có thêm món xào, nhưng độn rất nhiều giá hoặc rau càng cua hay rau cần ta . Mâm đựng thức ăn thì bằng thứ gỗ tầm thường, đũa vót bằng tre; chén dĩa và muỗng cũng bằng sành, cùng do các lò gốm Lái Thiêu sản xuất. Những thuở đó, ba má tôi rất yêu thương nhau, cùng chấp nhận cảnh nghèo để tách ra khỏi đại gia đình dưới sự quản trị nghiêm khắc của ông nội tôi . Má tôi tự hào là chồng mình đã bắt đầu sống cuộc đời tự lập. Rồi đó, công cuộc làm ăn của ba má tôi dễ dàng hơn, cảnh nhà được sung túc hơn. Bàn ăn phủ khăn trắng, chén dĩa sành được thay thế bằng đồ sứ mỏng tanh và bóng hơn, đũa tre được đổi thành đũa mun có đầu bịt bạc hoặc đũa sơn son. Vậy mà, canh rau mồng tơi vẫn được dọn thường xuyên. Bà ngoại tôi nói:

- Sắp nhỏ hay nổi rôm sảy và đổ ghèn con mắt, phải cho tụi nó ăn canh mồng tơi hay ăn canh bồ ngót để cho tụi nó giải nhiệt.

Bồ ngót nẩy lá không kịp theo nhu cầu những nồi canh rau trong gia đình tôi thuở đó. Chỉ có giậu mồng tơi mới cung cấp đủ món canh rau thường xuyên mà thôi . Mặc kệ nắng cháy hay tiết trời khô hạn, những giây mồng tơi vẫn thản nhiên hiến dâng lá và mầm sống phong phú. Chúng tươi mát, mềm mại như cô gái đẹp dậy thì. Chỉ cần trải qua một đêm sương là lá và đọt đã thấm nhuần chất nước trong mát rồi.

Và thú vị hơn nữa, những trái mồng tơi tím thẳm, to cỡ đầu mút đũa, bóp dẹp trái mồng tơi giữa hai ngón tay, chất nước màu tím tươi tiết ra . Chị tôi hái rất nhiều trái mồng tơi để làm mực tím, viết một lá thư kể tội tràng giang đại hải cô bạn trong xóm mà nhờ tôi chuyển giao.

Tôi còn nhớ rõ thuở đó, chị tôi cỡ bảy tám tuổi, để tóc và ăn mặc nam trang, theo lũ con trai chơi những trò chơi con trai . Lối xóm hầu như quên chị tôi là gái . Lúc nào cũng liếng thoắng nghịch ngợm, lấy mực mồng tơi vẽ lên mặt rồi đi dọa con nít. Những đêm rằm, chị thủ sẵn những bông nấm sáng (nấm lân tinh) đợi những bà hàng xóm đem bánh và trái cây ra sân cúng rằm, chị rên hừ hừ, rồi núp vào lùm bụi đối diện với sân, tay cầm nấm sáng quơ lên. Các bà tưởng là ma, la bài hải, rồi lết vào nhà, bỏ bánh trái lại . Chị chui ra lấy hết bánh trái và không quên bỏ lại vỏ trái cây và giấy phong bao bánh cho khổ chủ.

Ba má tôi vì mãi lo làm ăn nên ít khi săn sóc và giáo dục chúng tôi . Như rau mồng tơi, chúng tôi tăng trưởng tươi mát khỏe mạnh. Những người ở xa mới tới xóm thường nhìn chúng tôi khen:

- Hai đứa nhỏ coi " ngộ" quá chớ. Nhứt là cái thằng anh, vừa cao ráo, trắng trẻo, mắt sáng như sao.

Bà lối xóm ở gần nhà chúng tôi nhất, nhún trề:

- Đứa lớn là con gái đó đa . Con gái gì mà như quỉ sống, ma vương. Khạp nước trong của tui để dành nấu nước pha trà mà nó dám thọc chân dơ vô để rửa chớ.

Tuy ghét chị tôi như vậy mà mỗi khi chị tôi mang qua tô canh mồng tơi do ngoại tôi nấu, bà không quên thưởng cho chị khi thì trái ổi, khi thì khúc mía, phong bánh in.

Năm 1946, ba má tôi đem chị em chúng tôi đi chạy giặc. Với chiếc xuồng ba lá, ba má tôi vượt từ Cai Lậy (Mỹ Tho) qua Cái Tàu Thượng, Cái Tàu Hạ (Sa Đéc), vượt qua sông Bassac (Cần Thơ) rồi theo kinh Bảy Ngàn xuống tới Hỏa Lựu, Hóc Hỏa . Ở Hóc Hỏa ba tháng, gia đình tôi trôi xuống Chắc Băng, và ở tại xóm Cây Đa cách chợ Chắc Băng sáu cây số. Ở đây đất phèn, chẳng có rau cỏ chi cả. Chung quanh là đồng hoang, nắng cháy . Nhưng con kinh đào, chạy qua xóm có rất nhiều cá sặc rằn lẫn cá rô mề. Chị em tôi thường vào rừng tràm hái đọt choại về nấu canh hoặc luộc. Thèm canh rau mồng tơi và quê nhà ở Ngã Ba Trung Lương (Mỹ Tho) biết chừng nào!

Vào năm 1946, vừa thấy tình hình yên ổn, má tôi đem chị em tôi hồi cư . Về quê cũ, gia đình tôi trở lại nếp sống đạm bạc như xưa . Má tôi bán bớt tư trang và những món đồ sứ. Canh rau mồng tơi được nấu thường xuyên, nhưng không còn nấu với tôm thịt, mà chỉ nấu suông và nêm thêm một chút mắm ruốc cho ngọt. Chiến tranh càng lúc càng khốc liệt. Con lộ băng qua trước ngõ nhà tôi thường xảy ra những cuộc chạm súng kinh hồn.

Chúng tôi nghỉ học. Tìm được tập giấy trắng và ngòi viết lá tre cũ, tôi hái trái mồng tơi pha chế thành mực tím chép những bài hát nổi tiếng đương thời . Trên nền giấy ố vàng, những hàng chữ gò gẫm, sắc nét và lối trình bày sạch sẽ cũng làm cho tập giấy có vẻ ngoạn mục riêng.

Trong cuộc chạm súng ở trước nhà, tôi bị một vết đạn trên đầu . Sau hai tuần hôn mê ở bệnh viện Mỹ Tho, tôi được giải phẫu . Vừa khi tôi lành mạnh ăn giả bữa, chị tôi đem một " gà-men" đựng canh rau vào để tôi ăn cho ngon miệng hơn. Lúc đó, tôi ngạc nhiên quá đỗi, chị để bôm-bê và mặc quần sa-teng đen, áo bà ba lụa tím, đi guốc sơn đen. Áo lụa tím vẫn là màu mực mồng tơi mà tôi ưa chuộng.

Rồi chúng tôi bỏ Ngã Ba Trung Lương, về Vĩnh Long sống nhờ ông nội chúng tôi . Chung quanh nhà, chúng tôi rào giậu mồng tơi, trồng bồ ngót, cao kỷ, bạc hà, cây lá giấm. Mâm cơm quê nội có bát dĩa sang trọng, nhưng thức ăn rất đạm bạc. Việt Minh đã sung công hết ruộng đất của ông nội tôi . Sản nghiệp của ông dần dần khánh kiệt. Với tài chế biến khéo léo, má tôi làm những món đạm bạc nhưng ngon lành và tinh khiết: canh rau nấu bột ngọt, cá cơm kho tương ăn với dưa leo và rau thơm, cá linh, cá rô kho sả ớt, con ruốc chấy tóp mỡ... Giậu mồng tơi quê nội đã giúp cho mẹ con tôi chịu đựng cái nghèo trong cuộc chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh suốt chín năm.

Gia đình tôi lại bắt đầu sung túc khi ba tôi đi kháng Pháp trở về. Mâm cơm đã có những món xúp nấu với bột mì hoặc xúp nấu với cải bắp, khoai tây, hành tây và thịt bò, nhưng chúng tôi vẫn thích ăn canh mồng tơi, nhứt là để tưởng niệm bà ngoại tôi chết vào năm 1948.

Từ năm 1967, chị tôi thực sự bước vào làng văn do sự giúp đỡ của ông bà Võ Phiến. Vừa viết văn, làm báo, vừa đi dạy Anh văn, chị tôi có nhiều tiền. Vậy mà chị vẫn ở trong căn nhà hẹp té ở gần tòa đại sứ Cam- bốt. Chị cho rằng chỉ ở trong cái nhà đó, chị mới làm ăn khấm khá. Tôi cứ ăn chực, sống nhờ chị để đi học, mà rồi cứ lận đận ở bực đại học hoài. Mâm cơm ở nhà thật thịnh soạn. Vậy mà vào những buổi xế nóng nực, uống nước cốt trái cây, uống bia và coca mà không đã khát, chị tôi dặn cô giúp việc:

- Em nấu canh mồng tơi và kho cá bống trứng cho chị đi.

Rồi tôi vào trường Bộ Binh Thủ Đức, khóa 26, bắt đầu từ khoảng đầu thu 1967. Vào Tết Mậu Thân, Việt cộng mở một cuộc tổng tấn công, trường hoãn việc huấn luyện. Các sinh viên sĩ quan phải ở trong tình trạng ứng chiến. Nhà bàn dọn cơm ăn toàn là thịt trâu nấu với khoai lang hoặc các thực phẩm đóng hộp. Không có chất rau cỏ trong người, chúng tôi (các bạn đồng khóa và tôi) cảm thấy táo bón, bực bội . Nhiều đêm, tôi nằm ngủ trong căn liều cắm bên giao thông hào, mơ thấy mình lạc vào những khu rừng xanh mát, có những bồn nước mưa trong vắt, có những rẫy trồng rau mơn mởn và tươi hơn hớn, nhứt là giậu mồng tơi với những phiến lá mặt tím, mặt xanh, lung linh hư ảo dưới ánh trăng huyền hoặc. Trong thời gian đó, chị tôi kẹt ở Lộc Ninh. Khi về được Sài gòn, có đến Thủ Đức thăm tôi, đem theo rất nhiều trái cây và rau . Tôi và các bạn bắc ba cục gạch, chất củi khô nhúm lửa rồi dùng nón sắt đun nước sôi, thả rau vào luộc hoặc nấu canh với bột ngọt. Bữa cơm rau mồng tơi đầu tiên trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân mới ngon lành làm sao! Anh bạn Q. đem cơm và nước tương ở nhà bàn về, cả bọn bốn đứa ngồi xúm xít bên nón sắt, chan canh vào cơm, rồi chấm rau vào nước tương, nhai rau ngau ngáu, húp nước canh xì xụp, cảm thấy gan ruột mình mát mẻ, mình được chút sinh tố tươi mát, mình được nhuận trường.

Mãn khóa 26, tôi thực sự bước vào đời lính suốt bảy năm ròng, lê gót giầy saut khắp Quân Khu 3. Này Bến Cát, Lai Khê với bản doanh bộ Tư lệnh Sư Đoàn 5. Này Trị Tâm nằm trong đồn điền cao su Michelin. Này Tây Ninh có chợ trời Hiếu Thiện băng qua biên giới . Này Phú Giáo với thị trấn mới có những căn cứ Mỹ đóng. Này Củ Chi, nơi ổ giặc núp kín đang làm bàn đạp để tấn công Quân Khu 3, đêm đêm tôi có thể nghe tiếng chày giã lá bàng trong các xóm xa . Này Tống Lê Chân, căn cứ được mệnh danh là " con mắt hồng ngoại tuyến" đã từng dọ dẫm và ngăn chận sự xâm nhập của địch quân vào lãnh thổ Quân Khu 3. Này Phước Long, ải địa đầu cực bắc đã chịu nhiều cuộc pháo kinh hồn cuối năm 1974 và lẫn trong rừng chồi có những sào huyệt của địch với những tên Chiến Khu D, mật khu Dương Minh Châu, vùng Tam Giác Sắt với chiến dịch mùa mưa, cao điểm Đông Xuân... Sau hết tôi về bộ Tư lệnh Quân Đoàn III và Quân Khu 3 ở Biên Hòa, làm việc trong ban Báo Chí.

Tôi đã đi nhiều địa danh, đã theo những toán Dân Sự Vụ đưa đồng bào ở các vùng xôi đậu về khu định cư lánh nạn Cộng sản. Bước chân tôi đi trải qua những vùng rừng chồi rậm rạp, những cánh đồng nhiều hố bom, những ruộng dưa hấu bỏ hoang, những khu vườn đất còn khét pháo và cây cối loang lổ vết đạn. Vậy mà rau hoang dại vẫn sinh sôi nẩy nở. Nhiều nền nhà còn sót lại giàn mồng tơi tím. Dù không ai săn sóc, dù không khí nồng thuốc khai quang, dây mồng tơi vẫn mượt mà bám vào những nhánh cây khô, trườn mình lên nền đất để phơi bày những phiến lá mọng nước, rung lấp loáng dưới cơn nắng đổ lửa.

Cuối xuân năm Ất Mão, sau khi Việt cộng xâm lăng toàn thể miền Nam, tôi bỏ xóm ở Phú Nhuận, về nhà chị tôi ở gần hồ tắm Thiên Nga tá túc. Anh rể tôi, nhà thơ Tô Thùy Yên đã đi học tập cải tạo. Chị tôi bị cấm hành nghề viết lách, bán dần từng món trong nhà. Giàn mồng tơi ngoài bờ rào và bên cửa sổ mọc xum xuê. Nồi canh mồng tơi thời kháng Pháp ở tại Ngã Ba Trung Lương có dịp nấu lại, và chẳng có tôm thịt mà chỉ mêm bằng vài thìa mắm ruốc, thêm một chút ớt bột và tiêu. Tôi cùng với chị tôi và các cháu cứ ăn canh mồng tơi, rau muống luộc, trứng luộc dầm với nước mắm từ bữa ăn này sang bữa ăn khác. Vậy mà chị tôi vẫn vui vẻ, hồn nhiên, nói khôi hài, kể chuyện tiếu lâm không ngớt. Trong khi đó, tôi lo sợ bị bắt vì không đăng ký học tập. Tóc tôi bạc đi nhiều mà quái lạ thay, tuy chị tôi lộ vẻ vui tưoi, nhưng tóc của chị bạc mau chóng. Nhưng khuôn mặt hai chị em tôi không già héo, dáng dấp vẫn dẻo dai . Nội lực, tiềm lực của chị em tôi làm sao cạn với trong tình thương đùm bọc của một số bạn bè? Dù qua biết bao nhiêu vận nước bi thảm, dù trải qua những tai ương, chúng tôi còn niềm tin yêu cuộc đời . Chúng tôi là những dây mồng tơi tím, mượt mà bò trên mặt đất mấp mô, lăn xả vào gai góc để trổ lá, đâm tược, tha thiết quấn vòi vào.

Chúng tôi giờ đây dù kẻ ở bên quê nhà, người sống nơi tha hương vẫn bền lòng đợi anh Yên trở về trong một ngày nước nhà được thoát khỏi ách thống trị của Việt cộng. Anh Yên còn ở nhà, rất dở chịu đựng. Thế mà anh đã chịu đựng trong ngục tù lao động của Cộng sản suốt bảy năm ròng. Tin mới nhứt từ quê nhà đưa sang là anh vẫn khỏe mạnh. Có chạm trán và thử thách gian nan, tôi mới rõ phần tiềm lực sâu sắc nhứt của từng cá nhân. Tôi đã đương đầu với sinh kế gian nan trên cái xứ nổi tiếng về nạn thất nghiệp là xứ Pháp. Nếu anh Yên trong vòng kềm kẹp khắt khe của Cộng sản, vẫn là dây mồng tơi tím, trườn mình vào chông gai, thì trên đất Pháp, tôi cũng bò lên những nhiêu khê phiền toái của sinh kế, kiếm chút ít tiền để mua quà và thuốc men gởi về cho mẹ tôi, chị tôi và các cháu tôi.

Có một thời gian, nằm trong căn phòng tại thành phố Meudon, cách Paris hàng mười cây số, trên ngọn đồi cao, đêm đêm vọng tiếng cú rúc ở bìa rừng, tôi hình dung lại giậu mồng tơi và tô canh mồng tơi tím nấu với vài thứ rau khác cùng tôm he . Tôi đã thấy rồi, qua hồi ức, trên những phiến lá óng mượt dưới ánh trăng, trong đáy bát canh cả một cuộc đời thăng trầm của gia đình tôi, những vận mệnh bi đát của quê hương tôi . Tuy vậy, cùng với mái tóc sớm điểm bạc, tôi đã giữ một chút tươi mát tận trong cõi tiềm lực thâm thúy, để còn hy vọng ngày về, để kể cho con cháu nghe lại một loại rau mát lành của quê hương từng nuôi sống gia đình tôi và gieo cho tôi ý niệm về cái ung dung, tươi mát của một tâm hồn thơ mộng không bao giờ hủy diệt trước nghịch cảnh.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Vợ ngoại tình, bồi thường chồng 250.000 đô

Image
Ảnh chỉ mang tính chất minh họa: Corbis.

Tòa án Tây Ban Nha vừa yêu cầu một phụ nữ ngoại tình phải bồi thường những tổn thương tâm lý mà bà gây ra cho chồng.

Sau nhiều năm nghi ngờ, cuối cùng ông chồng cũng phát hiện ra vợ có người khác. Mối tình vụng trộm này kéo dài suốt 6 trong số 14 năm hai người chung sống.

Kết quả kiểm tra DNA còn cho thấy 3 trong số 4 đứa con chung là của kẻ thứ ba. Người chồng đã đưa vợ ra tòa và đòi bồi thường thiệt hại.

Tòa án tại thành phố Valencia, phía đông nam Tây Ban Nha, yêu cầu bà vợ trả 100.000 euro cho chồng. Tuy nhiên, bà này đệ đơn kháng cáo. Tòa án tối cao nâng mức phạt lên 200.000 euro (hơn 252.000 USD).

Người vợ bị kết tội có những hành vi cẩu thả mà không nghĩ đến con, đồng thời việc bà cố tình che giấu chuyện ngoại tình và thân phận của những đứa trẻ chỉ khiến chồng thêm đau lòng.

Trong khi đó, người phụ nữ buộc tội chồng là người lạnh lùng, không chung thủy và ít quan tâm đến con. Tuy nhiên, tòa án kết luận những cáo buộc trên là không có căn cứ.

Mai Nguyên (theo Telegraph)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Vượt qua nỗi đau

Vũ Ðình Trọng/Người Việt

Chiều Thứ Hai, tôi nhận được một email buồn do một người bạn gởi tới. Tin một người phụ nữ quyên sinh trong thời buổi kinh tế đang ngày càng khó khăn chắc cũng chìm ngập trong hàng trăm tin buồn trong ngày, nhưng sao tôi vẫn không khỏi ngăn tiếng thở dài. Có lẽ do chị là người Việt Nam, anh cũng là người Việt Nam lại đang thất nghiệp, và cũng có lẽ, vì anh chị còn hai đứa con, trong đó một đứa bị bệnh si khờ từ nhỏ.

Mất vợ, người đã cùng mình chia sẻ vui buồn suốt 28 năm là nỗi đau nát lòng.

Mất mẹ dù ở tuổi nào đi nữa, cũng là mất nửa cuộc đời!

...

Hôm qua, dù không quen biết, tôi cũng điện thoại đến anh để chia buồn, nhưng lại được gặp anh Ðông, một trong những hàng xóm tốt bụng đang phụ anh làm lễ liệm cho chị tại nhà quàn Rose Hill, thành phố Alhambra. Buổi lễ đầu tiên dành cho người phụ nữ đáng thương này chỉ có người chồng và đứa con gái 17 tuổi. Chiếc khăn tang còn lại dành cho đứa con trai bệnh tật mà anh Ðức (người chồng) chưa dám báo tin. Anh Ðông cho biết vì sợ con trai bị sốc, quẫn trí khi nghe tin mẹ mất nên anh Ðức chỉ nói với con là mẹ nằm ở bệnh viện.

Một lát sau tôi điện thoại lại thì được gặp anh Ðức. Giọng nói anh trầm tĩnh, nhưng tôi cảm nhận được nỗi đau mà anh đang gánh chịu. Anh nói chiều nay, anh phải cho con mình đối diện với sự thật, “phải cho cháu vào gặp má cháu lần cuối.”

Tôi chợt nhận ra, nỗi đau của anh đang bị nhân đôi!

...

Trước 1975, anh là một người lính VNCH, Trung Úy Nguyễn Văn Ðức, phân chi khu trưởng xã An Long, quận Ðồng Tiến, tỉnh Kiến Phong. Sau ngày miền Nam “gẫy súng”, như bao nhiêu đồng đội khác, anh vào tù sáu năm, sau đó vượt biên và định cư tại Mỹ vào năm 1985 với hai bàn tay trắng.

Năm 1990, anh quen chị, và hai kẻ nghèo khó gặp nhau trên xứ lạ quê người, quyết định cùng nhau xây dựng hạnh phúc với hai bàn tay trắng. Anh làm tại một hãng sản xuất khung hình, chị làm phụ bếp cho nhà hàng Phong Dinh. Năm 1992, đứa con gái, Lucky Nguyễn, ra đời trong niềm vui của anh chị. Ba năm sau, đứa con trai, Tommy Nguyễn, ra đời nhưng lại bị bệnh si khờ, thế là anh chị dồn hết tình thương cho đứa con trai đáng thương.

Cuộc sống của anh chị chắc cũng giống như cuộc sống hàng ngàn gia đình Việt Nam khác tại đây, tuy khổ cực nhưng hạnh phúc, một thứ hạnh phúc đơn giản của những người yêu nhau, lo cho nhau. Và để lo cho gia đình, bảy năm trước chị quyết định ở nhà để chăm sóc cho con cái. Một mình anh bươn chải, tuy khó khăn, nhưng cũng đủ đùm bọc gia đình.

Ðầu năm 2008, anh bị thất nghiệp. Nền kinh tế Hoa Kỳ bị suy thoái đã ảnh hưởng đến chính gia đình anh. Tiền nhà lại mỗi lúc một tăng, nếu trước kia chỉ có $600 một tháng thì nay là $1,100. Tiền dành dụm, chắt bóp bao nhiêu năm phải mang ra dùng vì tiền trợ cấp thất nghiệp không đủ trang trải chi phí hàng tháng. Anh Ðức kể:

“Chúng tôi chỉ thuê được căn nhà một phòng tại thành phố Rosemead. Khi con gái lớn, chúng tôi nhường cho cháu căn phòng ngủ đó, còn lại ngủ ở ngoài. Nhà tôi sống cũng rất đơn giản, có gì ăn nấy, không bon chen ngoài đời. Chúng tôi từ nghèo khổ đi lên nên bà xã tôi cũng quen rồi nên sống được. Bà ấy chỉ nghĩ nhiều tới con cái thôi. Tiền nhà ngày càng mắc, chỉ vì ở đó thuận tiện cho con tôi đón xe bus đi học nên tôi mới ở lại. Nhưng chắc lo cho vợ tôi xong, tôi phải kiếm chỗ khá rẻ hơn thôi, rồi ráng kiếm việc làm lo cho hai con.”

Chị quyên sinh không phải vì bế tắc trong cuộc sống, và có lẽ trong lúc đi tìm cái chết cho mình, chị cũng không biết mình đang làm gì. Anh Ðức cho biết:

“Khi đến tuổi mãn kinh, do kích thích tố lên nhiều quá nên bà xã tôi rất khó chịu trong người. Mấy tháng nay bà ấy không ăn được, không ngủ được, người lúc nào cũng thấy bức rức khó chịu. Thấy vợ ngày càng yếu đi mà không biết làm sao. Bác sĩ nói bà xã tôi bị thâm thần dạng nhẹ. Mặc dù tôi phát hiện vợ mình quyên sinh nhưng cũng không cứu kịp.”

Trong khó khăn mới biết tình đồng hương như thế nào. Ngày chị mất, hàng xóm làng giềng xúm lại giúp đỡ, chỉ tội cho Tommy, ngơ ngác không biết mẹ mình đi đâu.

“Khu tôi ở có một số gia đình người Việt. Làng xóm, anh trong hội đoàn đã giúp tôi rất nhiều về vật chất và tinh thần khi vợ tôi nằm xuống. Nhờ họ mà tôi mới có tiền đóng cho nhà quàn để lo cho vợ tôi. Lúc còn sống, bà xã tôi hiền lắm nên được nhiều người thương. Dù đau đớn vì mất vợ, nhưng tôi cũng thấy an ủi phần nào vì tình thương của hàng xóm láng giềng.”

...

Hôm nay chị đã được hỏa thiêu. Cát bụi trở về với cát bụi. Tôi cứ nghĩ đến cảnh chiều qua, anh dắt Tommy lại viếng chị lần cuối mà thấy xót xa. Bao nhiêu năm nay Tommy chỉ biết bám vào mẹ, từ miếng ăn, giấc ngủ. Bao nhiêu năm nay chị luôn ôm con vào lòng vỗ về, che chở, nên tôi chắc rằng dù bị bệnh, Tommy cũng hiểu được nỗi đau mất mẹ, và điều đó cũng là nỗi đau xót của chúng ta.

“Cái khó khăn nhất mình đã vượt qua được rồi, bây giờ phải tiến tới để lo cho hai con thôi.” Anh Ðức chia sẻ, “Tôi đã mất mát quá nhiều, không gì bù đắp được. Anh em, hàng xóm thương lo cho gia đình tôi vậy là đủ rồi. Bây giờ là lúc tôi phải đứng dậy, đi tiếp.”

Tôi cũng tin rằng anh sẽ vượt qua được nỗi đau này vì anh vẫn là một người lính.

Người lính kiêu hãnh sẽ vượt qua nỗi đau, tiếp tục tiến bước.

Vì anh biết, anh là chỗ dựa cuối cùng của hai đứa con thân yêu.

...

Cầu cho chị được yên nghỉ nơi cõi Vĩnh Hằng!

Post Reply