Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
CỬA THIỀN
Tâm Không Vĩnh Hữu Đầu xuân, Chùa Ông Định (Đảo Đào Hoa)nghi ngút hương trầm, thiện nam tín nữ chen chúc nhau vào chánh điện dâng hương bái Phật. Người ra kẻ vào ngược xuôi như bất tận, mặt ai nấy đều vui tươi phấn chấn, y rằng cuộc đời này không hề có đau khổ lo toan.. Nhưng rồi, mọi người phải cau mày nhíu mặt khi trông thấy một cô gái lạ lùng đang lảng vảng ngoài sân chùa, hệt như người từ hành tinh xa lạ mới xuống thăm trái đất.
Cô gái lạ lùng vì nổi bật giữa đám đông do có một sắc đẹp mê hồn, phải công nhận là tuyệt thế giai nhân. Dáng cao hơn một thước bảy. Tóc đen óng ả phủ dài xuống lưng. Những vòng đo lý tưởng. Đầy đặn và trắng trẻo. Gương mặt khả ái, sáng sủa. Nếu không là hoa hậu hoa khôi, thì cũng là người mẫu tầm cỡ ngôi sao.
Không ai có thể nhăn mặt bực mình trước cái Đẹp bao giờ. Có điều, chỉ vì cô gái đã tự chọn cho mình bộ trang phục quá độc đáo, quá quái gở.. Chiếc váy ngắn cũn cỡn, tưởng như không còn kiểu nào ngắn hơn, khoe cặp giò dài khêu gợi. Chiếc áo thun bó sát ôm lấy thân trên bốc lửa, thân áo trước và thân áo sau được liền lạc với nhau chỉ bằng hai sợi dây mỏng mảnh vắt qua hai bên bờ vai tròn trịa và đầy đặn. Đẹp không chê vào đâu được, nhưng nếu cô ta đang đứng trên sàn diễn, hoặc đi trên phố cờ hoa rực rỡ ngoài kia.
Đằng này, cô ta lại xuất hiện ngay chốn già lam tôn nghiêm thanh tịnh mới gây nên những nỗi bất bình từ những người chung quanh. Sự phẩn nộ, ghê sợ hiện rõ trên gương mặt những ai nhìn thấy cô gái, nhưng chưa ai lên tiếng thẳng thắn góp ý với con người lạ lùng, chỉ mới nghe những lời chê trách đàm tiếu nho nhỏ phía sau lưng người đẹp.
Một anh Huynh trưởng gia đình Phật tử là VH bước lại bên cô gái bằng sự nổ lực phi thường, can đảm tột bực, đưa cho cô ta một chiếc áo tràng màu lam, giọng nhã nhặn:
- Chào chị, chị vui lòng mặc chiếc áo này vào, nếu cần thì chị có thể mặc luôn về nhà, tôi rất lấy làm hân hạnh khi được tặng chị nhân ngày đầu năm mới!
Cô gái tròn xoe đôi mắt, nhìn anh huynh trưởng, rồi nhìn chiếc áo tràng với vẻ kinh ngạc, thản nhiên lắc đầu..
Anh huynh trưởng bực bội, giứ chiếc áo tràng tới, nói:
- Chị làm ơn mặc vào giùm cho. Đừng để mọi người khó chịu, và đừng để chư tăng nhìn thấy được mà tổn đức đó!
Cô gái nhíu cặp chân mày lá liễu, hỏi cộc lốc:
- Vì sao?
Anh huynh trưởng không còn tự chủ được, cáu gắt:
- Chị còn chưa hiểu vì sao ư? Nơi đây là chốn tôn nghiêm, không phải chỗ chợ búa hay sân khấu kịch trường, cho nên trang phục trên người chị không phù hợp chút nào, rất chướng mắt mọi người. Chị thật tình không biết, hay giả bộ không biết?
Cô gái phì cười, một nụ cười tươi tắn tuyệt đẹp, lắc đầu:
- Biết làm gì để vướng? Ai thấy chướng thì đừng nhìn. Mấy người đi chùa lễ Phật bái tăng, hay là đến đây để nhìn ngắm nhau? Ai tu nấy chứng, hãy để cho tôi yên!
Anh huynh trưởng cứng họng, không biết phải xử sao, trong lúc nhất thời đành đứng đực ra đó với chiếc áo tràng trên tay. Thời may, có một vị sư trẻ bước lại đứng trước cô gái, xá dài một cái, cất giọng từ tốn:
-A Di Đà Phật! Cửa Từ Bi luôn rộng mở để phổ độ chúng sanh, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, trẻ già nữ nam… Nhưng, đừng vì vậy mà xem thường chốn thanh tịnh, tạo nên phiền toái. Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy, chị ăn mặc như vậy mà vào chùa, có khác nào báng bổ đạo giáo, xúc phạm Tam Bảo? Mong chị hoan hỷ mặc áo tràng vào cho…
Cô gái cười duyên dáng, hỏi:
- Thầy thấy tôi ăn mặc thế nào?
Vị tăng trẻ lúng túng:
- Ờ… thì… rất hở hang … không nghiêm túc kín đáo…và…
Cô gái đưa tay vuốt mái tóc, ưỡn bộ ngực đầy sức sống, thản nhiên nói:
- Thầy tu hành mà còn chấp quá! Tâm của thầy còn động lắm. Lục căn của thầy chưa được tinh tấn, vẫn còn vướng điều phàm tục. Tốt hơn hết, thầy nên đóng cửa nhập thất để khỏi nhìn thấy những điều bất thanh bất tịnh ở phụ nữ đàn bà!
Vị tăng trẻ xanh mặt, cúi đầu, mắt nhìn chăm chăm xuống đất, bước đi lẫn vào đám đông Phật tử ngược xuôi ngoài sân… Cô gái cười nửa miệng, quay sang hỏi anh huynh trưởng:
- Anh có vui lòng chỉ cho tôi tịnh thất của sư trụ trì không? Tôi đang rất muốn được vào vấn an ngài, và thỉnh giáo đôi điều…
Anh huynh trưởng nhíu mày nghĩ ngợi, tặt lưỡi:
- Dẫn chị vào tịnh thất của thầy trụ trì thì thật là không nên chút nào.. Nhưng, có lẽ phải làm điều dại dột này, vì chắc tình huống oái oăm khó xử như bây giờ, chỉ có thầy mới đủ đạo lực khai tâm điểm đạo cho chị thấy được phải trái!
Nói rồi, anh ta mời cô gái đi theo mình, băng qua đám đông, vào phía dãy nhà sau chánh điện. Anh ta dừng lại trước cửa một căn phòng, quay sang nói với cô gái:
- Chị vui lòng đứng chờ ở đây một lát, để tôi vào cáo bạch với thầy trước, khi nào thầy đồng ý tiếp khách, tôi sẽ ra mời chị vào. Được chứ?
- Ô-kê!
Anh huynh trưởng nhún vai ngán ngẫm, đưa tay gõ cửa ba cái. Bên trong có tiếng vọng ra: "Ai? Cần gì?". Anh huynh trưởng cao giọng:
- Bạch thầy, con là Tâm Tịnh, huynh trưởng gia đình Phật tử, có việc rất hệ trọng cần cáo bạch với thầy ạ!
Bên trong phòng vang lên giọng sang sảng:
- Tâm Tịnh đó ư? Vào đi, cửa không khoá!
Anh huynh trưởng mở cửa, bước nhanh vào trong và đóng lẹ cánh cửa lại. Cô gái đứng tủm tỉm cười, chờ đợi với vẻ háo hức.. Chừng mười phút sau, cửa mở, anh huynh trưởng bước ra, nói:
- Chị được phép vào. Nhớ giữ ý giữ tứ một chút nhé!
Cô gái cười khẩy, bước vào phòng. Một vị tăng tuổi độ 7 bó, đang ngồi trên chiếc phản mun đen bóng trong tư thế kiết già, ánh mắt sáng rực rọi chiếu thẳng vào mặt vị khách mới vào. Cô gái chấp tay xá ba cái, thưa:
- Bạch thầy, con có thắc mắc xin thầy điểm giáo…
- Cứ hỏi. Đây nghe.
- Bạch thầy, con ăn mặc như thế này, vào chùa lễ Phật bái tăng, lại bị mọi người chê trách chỉ trích, bị tăng phê bình bắt lỗi, xin hỏi thầy ai đúng ai sai?
- Ai cũng đúng. Ai cũng sai.
- Bạch thầy, người phàm cố chấp đã đành, nhưng người đã xuất gia tu hành mà vướng mắc những chuyện lễ nghi giáo điều để đi bắt bẻ con, xin hỏi thầy là đúng hay sai?
- Vừa sai, vừa đúng!
- Sao là sai? Sao là đúng?
- Sai, vì tu hành mà chấp nhặt những điều nhỏ nhặt. Đúng, vì giữ gìn thanh tịnh cho chốn già lam tôn nghiêm, đó là bổn phận, là nhiệm vụ phụng sự Tam Bảo, hoằng dương Chánh Pháp!
- Con từng nghe rằng, ngọn cờ phấp phới bay, thậït ra cờ không bay mà gió bay, nhưng thật ra gió chẳng động mà do Tâm của con người đang động. Phải vậy chăng?
- Thật hay! Thật hay!
- Vậy, theo thầy thì con ăn mặc ra sao?
- Bình thường.
- Đáng trách hay đáng khen ạ?
- Hợp thời trang. Hiện đại. Gọn gàng. Tiết kiệm. Nếu người mặc không hề thấy ngượng nghịu, không chút gượng gạo, không phải âu lo, thong dong khứ đáo xuất nhập như rồng đạp mây, thì thật là đáng khen ngợi. Nếu mặc vào mà luôn thấy bị gò bó, thấy như bị mang của nợ, mang xích xiềng, không thoải mái đi đứng nằm ngồi thì thật là đáng thương, tội nghiệp, chứ không đáng trách!
Cô gái cười khanh khách ra điều thích thú. Sư trụ trì bật cười ha hả, tiếng cười tự tại vang động như đã rung chuyển cả giàn ngói rong rêu của tịnh thất. Rồi im lặng như tờ. Cô gái cất tiếng:
- Thầy thật cao thâm, vững như bàn thạch!
- Có phải đó là mục đích chính của cô khi ghé thăm bổn tự?
- Im lặng, tức đã thú nhận.
- …
- Cô mang một chút am hiểu giáo lý nhà Phật, một chút kiến thức cơ bản về sự Tĩnh Động, cố tâm cố ý vào chùa để thử thách cái Tâm Đạo của tăng ni giáo đồ. Sự cố ý làm cho người khác chao đảo tâm ý chính là ác tâm, chính là động rồi đó!
- Bạch thầy, quả đúng là con động. Nhưng đâu phải thấy người động mà mình phải động theo, phải vậy không thầy?
- Phải nhớ quanh cô đều là những chúng sanh đang tu, còn tu, chứ chưa có ai đắc đạo, chưa ai giải thoát được mình!
- Chỉ có thầy là tĩnh thôi sao?
- Vì đây là tịnh thất. Tâm người phải tĩnh, phải tịnh.
- Thầy không trách con về chuyện ăn mặc này thật sao?
- Không trách, mà còn khen. Áo quần chỉ là ngoại vật. Chúng vô tri vô giác, không tội tình gì. Chúng là vật ngoại thân, không là một bộ phận của thân thể con người…
- Và thân thể con người cũng chỉ là giả tạm…
- Chỉ là đất, nước, gió, lửa hội tụ tạo nên. Thân xác này còn là thứ bên ngoài, huống chi là quần với áo, xiêm với y?
- Chỉ cái Tâm bên trong mới là quan trọng?
- Tính động đều từ nơi ấy. Cho nên, nếu cô đã có gan ăn mặc hở hang thiếu thốn vải vóc để vào cửa thiền, thì hãy phát huy thêm bản lĩnh mà trút bỏ hết xiêm y giả tạm ra khỏi tấm thân giả tạm ngay nơi đây đi!
Anh huynh đứng chờ ngoài hành lang với ruột nóng gan sôi, cứ như đang đứng trên tổ kiến bồ nhọt.. Và rồi, cánh cửa tịnh thất đã mở toang.
Cô gái lạ lùng đã bước ra ngoài với vẻ mặt rạng rỡ tươi vui. Lạ lùng hơn, trên người cô ta đang mặc một chiếc áo nhật bình của tăng chúng. Cô gái cười chào anh huynh trưởng, bước thoăn thoắt hướng về phía chánh điện. Anh huynh trưởng lè lưỡi, bước nhón chân lại khép cánh cửa tịnh thất thật nhẹ nhàng. Rồi anh chấp tay xa ba cái về phía bên trong cánh cửa vô tri, nói:
- Quả đúng là chỉ có thầy mới trị được quỷ sứ ma vương
Tâm Không Vĩnh Hữu Đầu xuân, Chùa Ông Định (Đảo Đào Hoa)nghi ngút hương trầm, thiện nam tín nữ chen chúc nhau vào chánh điện dâng hương bái Phật. Người ra kẻ vào ngược xuôi như bất tận, mặt ai nấy đều vui tươi phấn chấn, y rằng cuộc đời này không hề có đau khổ lo toan.. Nhưng rồi, mọi người phải cau mày nhíu mặt khi trông thấy một cô gái lạ lùng đang lảng vảng ngoài sân chùa, hệt như người từ hành tinh xa lạ mới xuống thăm trái đất.
Cô gái lạ lùng vì nổi bật giữa đám đông do có một sắc đẹp mê hồn, phải công nhận là tuyệt thế giai nhân. Dáng cao hơn một thước bảy. Tóc đen óng ả phủ dài xuống lưng. Những vòng đo lý tưởng. Đầy đặn và trắng trẻo. Gương mặt khả ái, sáng sủa. Nếu không là hoa hậu hoa khôi, thì cũng là người mẫu tầm cỡ ngôi sao.
Không ai có thể nhăn mặt bực mình trước cái Đẹp bao giờ. Có điều, chỉ vì cô gái đã tự chọn cho mình bộ trang phục quá độc đáo, quá quái gở.. Chiếc váy ngắn cũn cỡn, tưởng như không còn kiểu nào ngắn hơn, khoe cặp giò dài khêu gợi. Chiếc áo thun bó sát ôm lấy thân trên bốc lửa, thân áo trước và thân áo sau được liền lạc với nhau chỉ bằng hai sợi dây mỏng mảnh vắt qua hai bên bờ vai tròn trịa và đầy đặn. Đẹp không chê vào đâu được, nhưng nếu cô ta đang đứng trên sàn diễn, hoặc đi trên phố cờ hoa rực rỡ ngoài kia.
Đằng này, cô ta lại xuất hiện ngay chốn già lam tôn nghiêm thanh tịnh mới gây nên những nỗi bất bình từ những người chung quanh. Sự phẩn nộ, ghê sợ hiện rõ trên gương mặt những ai nhìn thấy cô gái, nhưng chưa ai lên tiếng thẳng thắn góp ý với con người lạ lùng, chỉ mới nghe những lời chê trách đàm tiếu nho nhỏ phía sau lưng người đẹp.
Một anh Huynh trưởng gia đình Phật tử là VH bước lại bên cô gái bằng sự nổ lực phi thường, can đảm tột bực, đưa cho cô ta một chiếc áo tràng màu lam, giọng nhã nhặn:
- Chào chị, chị vui lòng mặc chiếc áo này vào, nếu cần thì chị có thể mặc luôn về nhà, tôi rất lấy làm hân hạnh khi được tặng chị nhân ngày đầu năm mới!
Cô gái tròn xoe đôi mắt, nhìn anh huynh trưởng, rồi nhìn chiếc áo tràng với vẻ kinh ngạc, thản nhiên lắc đầu..
Anh huynh trưởng bực bội, giứ chiếc áo tràng tới, nói:
- Chị làm ơn mặc vào giùm cho. Đừng để mọi người khó chịu, và đừng để chư tăng nhìn thấy được mà tổn đức đó!
Cô gái nhíu cặp chân mày lá liễu, hỏi cộc lốc:
- Vì sao?
Anh huynh trưởng không còn tự chủ được, cáu gắt:
- Chị còn chưa hiểu vì sao ư? Nơi đây là chốn tôn nghiêm, không phải chỗ chợ búa hay sân khấu kịch trường, cho nên trang phục trên người chị không phù hợp chút nào, rất chướng mắt mọi người. Chị thật tình không biết, hay giả bộ không biết?
Cô gái phì cười, một nụ cười tươi tắn tuyệt đẹp, lắc đầu:
- Biết làm gì để vướng? Ai thấy chướng thì đừng nhìn. Mấy người đi chùa lễ Phật bái tăng, hay là đến đây để nhìn ngắm nhau? Ai tu nấy chứng, hãy để cho tôi yên!
Anh huynh trưởng cứng họng, không biết phải xử sao, trong lúc nhất thời đành đứng đực ra đó với chiếc áo tràng trên tay. Thời may, có một vị sư trẻ bước lại đứng trước cô gái, xá dài một cái, cất giọng từ tốn:
-A Di Đà Phật! Cửa Từ Bi luôn rộng mở để phổ độ chúng sanh, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, trẻ già nữ nam… Nhưng, đừng vì vậy mà xem thường chốn thanh tịnh, tạo nên phiền toái. Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy, chị ăn mặc như vậy mà vào chùa, có khác nào báng bổ đạo giáo, xúc phạm Tam Bảo? Mong chị hoan hỷ mặc áo tràng vào cho…
Cô gái cười duyên dáng, hỏi:
- Thầy thấy tôi ăn mặc thế nào?
Vị tăng trẻ lúng túng:
- Ờ… thì… rất hở hang … không nghiêm túc kín đáo…và…
Cô gái đưa tay vuốt mái tóc, ưỡn bộ ngực đầy sức sống, thản nhiên nói:
- Thầy tu hành mà còn chấp quá! Tâm của thầy còn động lắm. Lục căn của thầy chưa được tinh tấn, vẫn còn vướng điều phàm tục. Tốt hơn hết, thầy nên đóng cửa nhập thất để khỏi nhìn thấy những điều bất thanh bất tịnh ở phụ nữ đàn bà!
Vị tăng trẻ xanh mặt, cúi đầu, mắt nhìn chăm chăm xuống đất, bước đi lẫn vào đám đông Phật tử ngược xuôi ngoài sân… Cô gái cười nửa miệng, quay sang hỏi anh huynh trưởng:
- Anh có vui lòng chỉ cho tôi tịnh thất của sư trụ trì không? Tôi đang rất muốn được vào vấn an ngài, và thỉnh giáo đôi điều…
Anh huynh trưởng nhíu mày nghĩ ngợi, tặt lưỡi:
- Dẫn chị vào tịnh thất của thầy trụ trì thì thật là không nên chút nào.. Nhưng, có lẽ phải làm điều dại dột này, vì chắc tình huống oái oăm khó xử như bây giờ, chỉ có thầy mới đủ đạo lực khai tâm điểm đạo cho chị thấy được phải trái!
Nói rồi, anh ta mời cô gái đi theo mình, băng qua đám đông, vào phía dãy nhà sau chánh điện. Anh ta dừng lại trước cửa một căn phòng, quay sang nói với cô gái:
- Chị vui lòng đứng chờ ở đây một lát, để tôi vào cáo bạch với thầy trước, khi nào thầy đồng ý tiếp khách, tôi sẽ ra mời chị vào. Được chứ?
- Ô-kê!
Anh huynh trưởng nhún vai ngán ngẫm, đưa tay gõ cửa ba cái. Bên trong có tiếng vọng ra: "Ai? Cần gì?". Anh huynh trưởng cao giọng:
- Bạch thầy, con là Tâm Tịnh, huynh trưởng gia đình Phật tử, có việc rất hệ trọng cần cáo bạch với thầy ạ!
Bên trong phòng vang lên giọng sang sảng:
- Tâm Tịnh đó ư? Vào đi, cửa không khoá!
Anh huynh trưởng mở cửa, bước nhanh vào trong và đóng lẹ cánh cửa lại. Cô gái đứng tủm tỉm cười, chờ đợi với vẻ háo hức.. Chừng mười phút sau, cửa mở, anh huynh trưởng bước ra, nói:
- Chị được phép vào. Nhớ giữ ý giữ tứ một chút nhé!
Cô gái cười khẩy, bước vào phòng. Một vị tăng tuổi độ 7 bó, đang ngồi trên chiếc phản mun đen bóng trong tư thế kiết già, ánh mắt sáng rực rọi chiếu thẳng vào mặt vị khách mới vào. Cô gái chấp tay xá ba cái, thưa:
- Bạch thầy, con có thắc mắc xin thầy điểm giáo…
- Cứ hỏi. Đây nghe.
- Bạch thầy, con ăn mặc như thế này, vào chùa lễ Phật bái tăng, lại bị mọi người chê trách chỉ trích, bị tăng phê bình bắt lỗi, xin hỏi thầy ai đúng ai sai?
- Ai cũng đúng. Ai cũng sai.
- Bạch thầy, người phàm cố chấp đã đành, nhưng người đã xuất gia tu hành mà vướng mắc những chuyện lễ nghi giáo điều để đi bắt bẻ con, xin hỏi thầy là đúng hay sai?
- Vừa sai, vừa đúng!
- Sao là sai? Sao là đúng?
- Sai, vì tu hành mà chấp nhặt những điều nhỏ nhặt. Đúng, vì giữ gìn thanh tịnh cho chốn già lam tôn nghiêm, đó là bổn phận, là nhiệm vụ phụng sự Tam Bảo, hoằng dương Chánh Pháp!
- Con từng nghe rằng, ngọn cờ phấp phới bay, thậït ra cờ không bay mà gió bay, nhưng thật ra gió chẳng động mà do Tâm của con người đang động. Phải vậy chăng?
- Thật hay! Thật hay!
- Vậy, theo thầy thì con ăn mặc ra sao?
- Bình thường.
- Đáng trách hay đáng khen ạ?
- Hợp thời trang. Hiện đại. Gọn gàng. Tiết kiệm. Nếu người mặc không hề thấy ngượng nghịu, không chút gượng gạo, không phải âu lo, thong dong khứ đáo xuất nhập như rồng đạp mây, thì thật là đáng khen ngợi. Nếu mặc vào mà luôn thấy bị gò bó, thấy như bị mang của nợ, mang xích xiềng, không thoải mái đi đứng nằm ngồi thì thật là đáng thương, tội nghiệp, chứ không đáng trách!
Cô gái cười khanh khách ra điều thích thú. Sư trụ trì bật cười ha hả, tiếng cười tự tại vang động như đã rung chuyển cả giàn ngói rong rêu của tịnh thất. Rồi im lặng như tờ. Cô gái cất tiếng:
- Thầy thật cao thâm, vững như bàn thạch!
- Có phải đó là mục đích chính của cô khi ghé thăm bổn tự?
- Im lặng, tức đã thú nhận.
- …
- Cô mang một chút am hiểu giáo lý nhà Phật, một chút kiến thức cơ bản về sự Tĩnh Động, cố tâm cố ý vào chùa để thử thách cái Tâm Đạo của tăng ni giáo đồ. Sự cố ý làm cho người khác chao đảo tâm ý chính là ác tâm, chính là động rồi đó!
- Bạch thầy, quả đúng là con động. Nhưng đâu phải thấy người động mà mình phải động theo, phải vậy không thầy?
- Phải nhớ quanh cô đều là những chúng sanh đang tu, còn tu, chứ chưa có ai đắc đạo, chưa ai giải thoát được mình!
- Chỉ có thầy là tĩnh thôi sao?
- Vì đây là tịnh thất. Tâm người phải tĩnh, phải tịnh.
- Thầy không trách con về chuyện ăn mặc này thật sao?
- Không trách, mà còn khen. Áo quần chỉ là ngoại vật. Chúng vô tri vô giác, không tội tình gì. Chúng là vật ngoại thân, không là một bộ phận của thân thể con người…
- Và thân thể con người cũng chỉ là giả tạm…
- Chỉ là đất, nước, gió, lửa hội tụ tạo nên. Thân xác này còn là thứ bên ngoài, huống chi là quần với áo, xiêm với y?
- Chỉ cái Tâm bên trong mới là quan trọng?
- Tính động đều từ nơi ấy. Cho nên, nếu cô đã có gan ăn mặc hở hang thiếu thốn vải vóc để vào cửa thiền, thì hãy phát huy thêm bản lĩnh mà trút bỏ hết xiêm y giả tạm ra khỏi tấm thân giả tạm ngay nơi đây đi!
Anh huynh đứng chờ ngoài hành lang với ruột nóng gan sôi, cứ như đang đứng trên tổ kiến bồ nhọt.. Và rồi, cánh cửa tịnh thất đã mở toang.
Cô gái lạ lùng đã bước ra ngoài với vẻ mặt rạng rỡ tươi vui. Lạ lùng hơn, trên người cô ta đang mặc một chiếc áo nhật bình của tăng chúng. Cô gái cười chào anh huynh trưởng, bước thoăn thoắt hướng về phía chánh điện. Anh huynh trưởng lè lưỡi, bước nhón chân lại khép cánh cửa tịnh thất thật nhẹ nhàng. Rồi anh chấp tay xa ba cái về phía bên trong cánh cửa vô tri, nói:
- Quả đúng là chỉ có thầy mới trị được quỷ sứ ma vương
Xin gởi đến những ai còn chút tình với quê hương và đất nước
Hương Trà
Đã là con người thì ai cũng phải trải qua thời niên thiếu, cái thời của những ngày là học sinh cấp I, II và III chỉ biết tiếp thu những bài học một chiều từ những lời giảng dạy của thầy cô.
Chúng tôi cũng tin chắc rằng tất cả các bạn trẻ sinh viên và những nhà trí thức tha thiết với quê hương cũng có cái nhìn không đẹp với đường lối cai trị độc tài, độc đoán do ĐCSVN lãnh đạo hiện nay đối với đất nước. Những hành động dứt khoát và những tiếng nói chân thành của các bác, các chú lão thành đã từng là đảng viên ưu tú của đảng, từng giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy của đảng, cùng với sự dấng thân tranh đấu ôn hòa của các nhà trí thức dân chủ yêu nước chấp nhận mọi gian nguy trước sự đàn áp thô bạo của cường quyền trong thời gian qua và vẫn còn tiếp tục, là cái phúc rất lớn cho dân tộc VN. Chính nhờ những chứng nhân thực tế của các bác, các chú trong hàng ngũ của đảng đã thức thời kể lại trên hệ thống Internet toàn cầu, cùng các tài liệu bí mật đã được các nhà nghiên cứu lịch sử tìm thấy, khiến cho chúng tôi tự cảm thấy đang bị lừa trong một nền giáo dục chỉ biết tuyên truyền theo hướng có lợi cho ĐCSVN, mà ngay chính chủ nghĩa xã hội của nó đã bị cộng đồng thế giới phế bỏ từ lâu.
Sở dĩ chúng tôi dám khẳng định như thế là bởi vì trong thực tế CNXH chỉ còn tồn tại ở một vài nước trên thế giới trong đó có VN, nhưng nó chỉ tồn tại về mặt độc quyền chính trị, còn về mặt kinh tế thì đang nhờ vào sự giúp đỡ của các nước phát triển dân chủ đa nguyên. Đường lối giáo dục của VN do đảng lãnh đạo đã đưa môn triết học Marx-Lênin vào chương trình học, bắt buộc chúng tôi cũng như toàn thể sinh viên, học sinh trong nước phải tin tưởng vào những điều không tưởng xa rời thực tế, phải học những điều vô bổ để đối phó tình thế, mà ngay chính thầy cô dạy chúng tôi cũng đều công nhận như thế. Đây là một điều tai hại cho thế hệ tuổi trẻ VN và tương lai của đất nước. Chúng tôi xin dẫn chứng ra đây một vài sự thật, hy vọng sẽ thức tỉnh được phần nào lương tâm của những người có thiên kiến hẹp hòi chỉ biết đặt quyền lợi riêng cá nhân và của đảng lên trên quyền lợi của quốc gia, dân tộc.
Cũng vì mục đích độc tôn quyền hành chính trị cho nên ĐCSVN mới tạo ra cuộc cải cách ruộng đất ở miền bắc và thanh trừng các nhà trí thức trong nhân văn giai phẩm vào những năm 1954-1957 để đảng khẳng định rằng: tư tưởng văn hóa của VN phải tuyệt đối theo hệ thống XHCN và chỉ có CNXH mà thôi. Hai bài thơ nổi tiếng "đời đời nhớ ông" để tôn vinh Lênin và bài thơ cổ súy cho cải cách ruộng đất của ông Tố Hữu đã nói lên điều đó mà bất cứ ai có dịp đọc qua cũng cảm thấy rùng mình.
Những bài học sặc mùi hận thù Mỹ dành cho học sinh mầm non và tiểu học thời bao cấp, cho đến những nhân vật anh hùng kiểu Lê văn Tám và vô vàn những câu chuyện gương mẫu về cuộc đời thần thánh của bác Hồ mà Đảng đã nặn ra để bắt buộc học sinh phải thấm nhuần trong đầu óc. Môn học GDCD lớp 7 do nhà xuất bản giáo dục năm 1997 có bài đọc thêm "tinh hoa dân tộc VN góp phần vào tinh hoa của thế giới" khẳng định tổ chức Unesco của LHQ đã ra quyết định công nhận chủ tịch HCM là danh nhân thế giới nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh chủ tịch HCM (năm 1990). Nhưng sau khi đối chiếu các thông tin có được trên internet thì mới biết được sự thật phủ phàng:
- Anh hùng Lê Văn Tám không có thật mà được đảng tự đặt ra để phục vụ cho mưu đồ chính trị (điều này đã được sử gia Trần huy Liệu xác nhận trước khi chết).
- Cuộc đời thần thánh của chủ tịch HCM như Đảng tuyên truyền cũng không có thật, vì bác Hồ đã có vợ chính thức bên Trung quốc vào năm 1926 là bà Tăng tuyết Minh. Còn tại VN thì bác đã có con với cô Nguyễn thị Xuân vào năm 1957 và đặt tên là Nguyễn tất Trung, hiện nay vẫn còn sống và trở thành tư bản đỏ tại thủ đô Hà Nội. Cái chết mờ ám của Nguyễn thị Xuân là kết quả của một sự đòi hỏi muốn làm một người vợ chính thức với bác (theo tiết lộ của nhà văn Vũ Thư Hiên trong cuốn hồi ký "Đêm giữa ban ngày", và của ông Nguyễn Minh Cần nguyên Phó chủ tịch Ủy Ban Hành chánh Hà Nội lúc bấy giờ và hiện nay đang sống bên Nga). Đối với một nhà lãnh đạo cho dù tài ba xuất chúng đến đâu đi nữa, thì chuyện có gia đình, có vợ con là chuyện bình thường. Việc đảng thêu dệt và thần thánh hóa cuộc đời của bác Hồ để phục vụ cho mưu đồ chính trị là không thể chấp nhận bởi vì, nó đã đi ngược lịch sử, đi ngược sự thật. Tác giả Trần Dân Tiên và T-Lan trong các cuốn sách ca ngợi bác cũng do chính bác viết và tự đặt tên. Bác cũng chưa từng được tổ chức Unesco của LHQ công nhận là danh nhân của thế giới, vì buổi lễ tuyên dương bác Hồ là danh nhân thế giới tại Pháp năm 1990 là do tòa đại sứ VN tự tổ chức, tự chi trả không có sự yểm trợ và tham dự của đại diện Unesco LHQ.
Bác Hồ thường nói "các vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta phải phải cùng nhau giữ nước" nhưng đây là câu nói không thật bởi vì chính bác đã đồng ý cho thủ tướng Phạm văn Đồng ký công hàm ngày 14/9/1958 công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hiện nay tuy bề ngoài chính quyền VN vẫn tuyên bố về chủ quyền của HS và TS, nhưng công an lại đàn áp bắt giam những ai dám nói lên tiếng nói và biểu tình chống TQ xâm lăng, trong khi cho phép những du khách Trung Quốc biểu tình xác định Hoàng Sa và Trường Sa là của bọn chúng ngay trên đất nước mình?. Tại sao chính quyền lại dập tắt cuộc biểu tình của sinh viên ngày 14/9/2008 là ngày mà tòa đại sứ TQ họp báo tại thủ đô Hà nội để công bố bức công hàm của ông Phạm văn Đồng? Tại sao chính quyền lại không dám đưa việc xâm lăng HS, TS của TQ ra trước HĐBA Liên hiệp quốc và tòa án quốc tế xét xử? Tại sao đất nước là sở hữu tối thượng của toàn dân mà chính quyền không dám công khai cho nhân dân biết các hiệp ước về lãnh thổ, lãnh hải ký kết với TQ năm 1999 và 2000? Với những điều xảy ra như vậy, chúng tôi có quyền nghi ngờ lòng yêu nước của các nhà lãnh đạo ĐCSVN.
Sau hơn 60 năm kể từ ngày Đảng lãnh đạo miền Bắc và hơn 30 năm giải phóng miền Nam. Đất nước VN đã thua xa những nước khác trong khu vực mà trước 1975 nền kinh tế của miền Nam VN vẫn được công nhận là con rồng của Đông Nam Châu Á. Nhìn qua các nước chung quanh chúng tôi hiểu rằng nếu không có ĐCSVN thì đất nước vẫn giành được độc lập từ tay người Pháp vì đây là xu hướng chung bắt buộc Pháp phải trao trả độc lập cho VN cũng như các nước thuộc địa của Pháp trên thế giới. Nếu không có ĐCSVN thì chắc chắn nền độc lập của VN sẽ là nền độc lập dân chủ đa nguyên, ngày hôm nay đất nước VN sẽ không phải là một trong những nước nghèo của thế giới, nhân dân VN sẽ không hổ thẹn khi phải hy sinh những đứa con thân yêu đi làm tôi mọi cho các nước tư bản qua hình thức hợp tác lao động và lấy chồng nước ngoài. Tổ quốc VN cũng không phải mất đi hàng triệu đứa con thân yêu qua các cuộc chiến phi lý, cũng sẽ không có chuyện hàng triệu con người phải bỏ nước ra đi. Đặc biệt Hoàng sa và Trường sa sẽ không bao giờ rơi vào tay của bọn bành trướng TQ. Nếu không có ĐCSVN thì hàng ngày sẽ không bao giờ có cảnh từng đoàn người dân oan đi khiếu kiện vì đất đai đã bị các cán bộ, đảng viên có quyền thế ngang nhiên chiếm dụng. Nhân tài VN sẽ không đứng ngoài để nhìn những con người kém trí tuệ của đảng tự do tham nhũng nhưng vẫn hô hào là chống tham nhũng, tự do đứng trên luật pháp nhưng vẫn chủ trương sống và làm việc theo pháp luật, tự do ăn chơi và tự do làm giàu bằng tiền đóng thuế của dân và tiền vay mượn của các ngân hàng nước ngoài để trở thành những tư bản đỏ của thời đại. Sẽ không có chuyện nhân tài VN bắt buộc phải đem chất xám của mình để phục vụ và làm giàu cho các công ty nước ngoài, sẽ không có những khối lượng chất độc khổng lồ của các công ty, xí nghiệp tự do thải xuống những dòng sông mạch sống của nhân dân trước sự vô cảm của các quan chức chính quyền (điển hình là Cty Vedan trên dòng sông Thị Vải).
Chúng tôi đã đọc bản tuyên ngôn độc lập mà chủ tịch Hồ chí Minh đã tuyên thệ trước toàn dân miền Bắc ngày 2/9/1945, cũng như bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của LHQ và các công ước quốc tế mà VN đã ký kết. Chúng tôi cũng nghiên cứu rất kỹ bản hiến pháp của VN hiện hành trong đó điều 69HP có ghi: công dân có mọi quyền tự do về ngôn luận, tín ngưỡng, cư trú, thông tin, báo chí, biểu tình và lập hội". Rồi lời tuyên bố của chủ tịch nước Nguyễn minh Triết tại Mỹ: "Bất đồng chính kiến là chuyện bình thường", và của thủ tướng Nguyễn tấn Dũng: "Yêu nhất, thích nhất là trung thực, ghét nhất, giận nhất là giả dối". Nhưng trên thực tế đây là những câu nói giả dối mỵ dân. Việc đàn áp bắt bớ những thành phần bất đồng chính kiến tranh đấu cho một nền dân chủ phù hợp với hiến pháp và ý nguyện của toàn dân, trù dập những người yêu nước chống sự bành trướng của TQ là không thể chấp nhận được.
Chúng tôi đã từng đọc toàn văn các luận cứ của luật sư Lê Công Định trong vụ án chính trị bào chữa cho anh thư LS Lê thị Công-Nhân và LS Nguyễn văn Đài; Luận cứ của LS Lê Trần Luật bào chữa cho nhà dân chủ Trần Minh Đức, Phạm Bá Hải và dân oan cũng là thành viên khối 8406 Lương Văn Sinh. Riêng vụ xử anh Nguyễn Hoàng Hải (blogger Điếu Cầy) tội trốn thuế (một tội danh không có thật) được chính quyền bịa đặt dựng lên nhằm mục đích bỏ tù anh, để anh không còn cơ hội thực hiện lòng yêu nước của mình trước sự xâm lăng của Trung quốc. Chúng tôi cũng biết đầy đủ về việc công an đã dùng luật rừng để bắt chị Phạm Thanh Nghiên, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng, SV Tiến Nam, SV Ngô Quỳnh, nhà thơ Trần Đức Thạch, chị Lê thị Kim Thu và một số nhà dân chủ khác. Thật đúng như lời bà Ngô bá Thành (cựu chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Quốc hội) nói "VN có cả một rừng luật, nhưng toàn là luật … rừng".
Việc chính quyền Hà nội đơn phương giải tỏa 2 khu đất tòa Khâm sứ cũ và Linh địa Thái Hà vào ban đêm trong khi sự việc đang trong vòng tranh cải, cũng như cố tình cắt xén bài phát biểu của TGM Ngô Quang Kiệt để tìm cách vu khống bài phát biểu đầy tinh thần dân tộc của ngài. Việc nhà nước huy động tất cả hệ thống truyền thanh-truyền hình và báo chí để bôi xấu TGM Kiệt và các giáo dân cầu nguyện ôn hòa, là hành động bỉ ổi. Việc làm này chứng tỏ tầm hiểu biết của các nhà lãnh đạo ĐCSVN là dưới mức trung bình. Còn nhớ vào tháng 9/2007 khi HT Thích Quảng Độ cứu trợ và phát biểu trước hàng ngàn dân oan khiếu kiện tại VP2QH tại Sài gòn, lúc đó cả hệ thống truyền thanh-truyền hình và báo chí độc diễn hạ nhục HT Quảng Độ cũng giống như TGM Kiệt bây giờ. Hình như tội vu khống trong bộ luật hình sự chỉ dành cho người dân, còn những con người có chức quyền thì cứ tự do vu khống. Chính quyền Hà Nội lại còn gởi bản đề nghị cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam kỷ luật và thuyên chuyển TGM Kiệt. Khi HĐGMVN từ chối vì TGM Kiệt không sai phạm giáo luật thì ngày 15/10/2008 ông Nguyễn thế Thảo Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP. Hà Nội công khai phát biểu trước đại diện ngoại giao các nước tại Hà Nội rằng sẽ đề nghị thuyên chuyển cho bằng được TGM Kiệt ra khỏi Hà Nội. Thật tình, tuổi trẻ chúng tôi không biết phải nghĩ sao cho phù hợp với chính quyền này?, phải chi chính quyền CSVN biết được cái nhục mất đất, mất hải đảo và mất biển qua công hàm của ông Phạm văn Đồng, qua các hiệp định biên giới và vùng biển năm 1999 và 2000 mà VN đã nhường cho TQ thì hay biết mấy. Bây giờ bằng tất cả chân tình chúng tôi xin bày tỏ:
1/- Xin đồng bào VN hải ngoại, xin quý vị xuất gia tu hành trong các tôn giáo có tư tưởng về nguồn ở hải ngoại (nhất là Phật giáo). Kính mong quý vị nên suy nghĩ kỹ hành động của mình để khỏi bị lừa bởi các chính sách mà chính quyền VN đang nhắm vào quý vị một cách rất tinh vi, họ đã dùng những cụm từ: "Việt kiều yêu nước", "khúc ruột ngàn dậm" không thể tách rời, hoặc các đặc tình tôn giáo là để mê hoặc quý vị nhằm cũng cố cho địa vị độc tôn của họ và moi tiền của quý vị mà thôi, cũng như họ thường xuyên dùng các hiệp ước, hiệp định thương mại và kinh tế để moi tiền cộng đồng quốc tế. Nhân dân VN rất cám ơn các vị nghị sĩ và dân biểu Quốc hội Hoa kỳ cũng như các Ủy ban nhân quyền trên thế giới đã nhìn hiện tình của VN một cách đúng đắn và có những hành động kịp thời bênh vực cho lẽ phải. Chúng tôi cũng rất bất bình trước sự hiểu biết không đúng sự thật của Quốc hội Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ và các viên chức cấp cao BNG trong chính quyền của tổng thống Bush khi công nhận VN có tiến bộ về chính trị và tôn giáo để đưa VN ra khỏi danh sách "Các nuớc cần quan tâm" (CPC). Nước Mỹ sở dĩ được như ngày hôm nay là cũng nhờ có sự cống hiến của các cộng đồng sắc tộc khác nhau, trong đó có cộng đồng người VN tỵ nạn cộng sãn mà điển hình có khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, nữ anh hùng phi công Elizabeth Phạm…v.v…. Nhưng chắc có lẽ cũng vì quyền lợi kinh tế riêng do chính quyền CSVN dành cho Hoa Kỳ, khiến cho TT Bush đã không thực hiện đúng như những gì ông đã nói: "Hoa Kỳ luôn luôn đứng bên cạnh những người dám đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền trên thế giới". Chúng tôi cũng rất mong sự lên tiếng của các nhân tài VN làm việc trong đất nước Hoa Kỳ và các nước khác, giúp họ có cái nhìn khách quan và chính xác hơn cho hiện tình đất nước VN. Chúng tôi cũng xin các đoàn thể đấu tranh hải ngoại hãy dẹp bỏ những thiên kiến tỵ hiềm để cùng nhau hướng về đại cuộc, nhất là đừng nghi ngờ quá đáng đối với các nhà đấu tranh dân chủ trong nước mà trước đây các bác, các chú này là những đảng viên, những cán bộ cao cấp của ĐCSVN, vì chính những người này mới là những chứng nhân thực tế không thể thiếu trên con đường tranh đấu cho lẽ phải mà toàn dân đang mong đợi, cũng như cho sự phán xét của lịch sử sau này. Tục ngữ VN có câu: "Một cây làm chẳng nên non, ba cây dụm lại nên hòn núi cao".
2/- Chúng tôi xin có đôi lời gởi tới các anh các chú trong lực lượng công an và quân đội, đồng lương của quý vị là tiền thuế của nhân dân, nhiệm vụ của quý vị là bảo vệ đất nước và cuộc sống yên lành cho người dân, bổn phận của quý vị là TRUNG VỚI NƯỚC, HIẾU VỚI DÂN (đây là lời nói của chủ tịch Hồ chí Minh khi còn sống). Nhưng nếu bây giờ mà quý vị chỉ phục vụ duy nhất cho đường lối của đảng là quý vị đã không làm tròn trách nhiệm và bổn phận của mình đối với tổ quốc và nhân dân. Trong vai trò làm ruộng người nông dân có toàn quyền tự do chọn lựa phương cách canh tác riêng, sau thu hoạch nếu anh nông dân nào có kỹ thuật canh tác tốt để có thu hoạch cao thì sẽ được mọi người học hỏi và tuyên dương, anh nông dân đó không cần phải dùng quyền lực bắt buộc người khác phải theo mình. Trong một xã hội và đất nước cũng thế, ĐCSVN không thể bắt mọi người dân phải tuân phục theo mọi đường lối cai trị của đảng, kể cả việc dâng 2 quần đảo HS và TS và những nhượng bộ đất đai, bờ biển cho TQ qua hiệp định biên giới năm 1999 và hải phận năm 2000. Những lời phát biểu của ông Lê Dũng (phát ngôn viên BNG VN) về chủ quyền HS và TS cũng như ông Lê công Phụng (đại sứ VN tại Mỹ) về ranh giới đó chỉ là những lời nói suông nhằm để xoa dịu sự công phẩn của nhân dân mà thôi. ĐCSVN cũng không thể tự mình đứng trên luật pháp khi tự do dùng các cơ quan truyền thông và báo chí để hạ nhục, vu cáo và chửi bới người dân không cùng quan điểm với đảng khi chưa có phán quyết cùa tòa án. Nếu thực sự ĐCSVN được nhân dân đồng tình ủng hộ thì tại sao không chấp nhận thành phần đối lập. Nếu ĐCSVN tự nhận mình là một chính quyền tôn trọng luật pháp thì tại sao không thực thi đúng điều 69HP do đảng đề ra: nghĩa là người dân có quyền tự do ngôn luận, có quyền lập hội, có quyền ra báo chí tư nhân, có quyền tự do biểu tình theo luật định, có quyền tự do ứng cử không qua sự lựa chọn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc đảng, có quyền tự do bầu bất cứ người nào mà dân thích chớ không phải chỉ bầu trong danh sách đã được đảng chọn lựa như hiện nay. Còn biết bao nhiêu những vấn đề tồi tệ khác do đảng gây ra cho đất nước và nhân dân. Trong quá khứ và hiện tại Đảng lãnh đạo đất nước đã đi từ sai lầm này đến sai lầm khác, chẳng lẽ lực lượng quân đội và công an các anh, các chú lại trung thành với sự sai lầm triền miên của đảng hoài hay sao?. Một sự thật hiển nhiên là hầu hết những nước tiến bộ phồn vinh trên thế giới không lấy CNXH làm cứu cánh duy nhất như VN.
Là thành phần trẻ tha thiết với với quê hương đất nước và qua thời gian tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy các phong trào và các nhà đấu tranh dân chủ không bao giờ chủ trương loại bỏ ĐCSVN, họ chỉ muốn đảng lãnh đạo đất nước phải thay đổi tư duy theo trào lưu tiến bộ của thế giới, như những gì mà đảng thường tuyên bố và cam kết với LHQ và cộng đồng quốc tế cũng như với nhân dân. Trong nền dân chủ đa nguyên, nếu ĐCSVN là chính nghĩa thì vẫn được nhân dân ủng hộ qua cuộc bầu cử tự do và công bằng chớ không cần thiết phải dùng lực lượng công an khống chế, đàn áp như hiện nay. Chúng tôi mạnh dạng viết lên những dòng chữ này vì sự hiểu biết về luật pháp mà chúng tôi đã học và lịch sử mà chúng tôi đã nghiên cứu. Chúng tôi cũng tin rằng vì cuộc sống và địa vị cá nhân, vì miếng cơm manh áo cho nên các anh, các chú công an phải tuân hành theo mệnh lệnh của đảng để thẳng tay đàn áp các thành phần bất đồng chánh kiến với đảng dù biết rằng những việc làm đó là không đúng, nhất là thầy Nguyễn Tử Quảng, một tác nhân nguy hiểm cho các nhà bất đồng chính kiến trong nước. Nhưng nếu cứ tiếp tục như thế thì tương lai của đất nước sẽ ra sao?. Sự thật bao giờ cũng là sự thật, lịch sử sau này sẽ không tha thứ cho sự vô trách nhiệm của chúng ta. Hãy nhìn ra các nước cùng khu vực để suy nghĩ cho chính đất nước của mình: Singapore độc lập năm 1963 ngày nay kinh tế và chỉ số GDP hơn VN 197 lần. Nhật bản không còn gì sau đệ nhị thế chiến ngày nay là cường quốc kinh tế của thế giới. Đảo quốc nhỏ Đài Loan vượt xa anh khổng lồ hung hăng TQ, sự phồn vinh của Nam Hàn trước sự nghèo đói của Bắc Hàn, và Đông đức cuối cùng rồi cũng phải thống nhất với Tây đức. Ngay cả sự bất ổn chính trị của Thái lan bên cạnh chúng ta trong thời gian qua, quân đội chỉ phục vụ đất nước chớ không bảo vệ một cá nhân hoặc đảng phái nào dù đang cầm quyền đã đứng ngoài cuộc và cuối cùng phần thắng vẫn nghiêng về nhân dân. Kinh tế và cuộc sống của người dân Thái lan vẫn hơn VN hàng chục lần.
Đại hội ĐCS Nhật năm 2005 (có sự tham dự của ông Phan Diễn, đại diện ĐCSVN) đã tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin. Cựu TBT Gorbachev Liên sô trong lần phát biều tại trường đại học Columbia: "Tôi đã bỏ hơn nữa đời người để chiến đấu cho lý tưởng CS. Nhưng hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng CS chỉ biết tuyên truyền và nói láo". Cựu thủ tướng Võ văn Kiệt VN khi về hưu có nói rằng: "Trước kia tôi nghĩ yêu nước là yêu CNXH, nhưng nay nghĩ lại tôi thấy rằng yêu nước cũng còn có nhiều đường". Thiết tưởng đây là những bằng chứng cho những ai còn có tư tưởng coi CNCS là con đường phát triển duy nhất cho VN, cần phải suy nghĩ lại. Đất nước VN không bao giờ thiếu người tài đức, một cộng đồng dân tộc đa nguyên trong một khối đoàn kết quyết tâm xây dựng quê hương giàu đẹp. Chúng tôi tin tưởng đó không phải là hy vọng riêng của chúng tôi mà còn là niềm hy vọng chung cho tất cả toàn dân Việt Nam. Chúng tôi rất tâm đắc khi trong kỳ họp QH vừa qua đã có những đại biểu mạnh dạn nói lên những hiện tình tồi tệ và đau thương của đất nước và cuộc sống của nhân dân trước các nhà lãnh đạo của các bộ ngành trong chính quyền. Mặc dù sự lên tiếng này chưa mạnh mẽ lắm, nhưng đây cũng là một tín hiệu đáng mừng. Chúng tôi rất đau buồn khi vì sự độc tài, độc đoán mà các nhà lãnh đạo VN đã gây ra quốc nạn tham nhũng vô phương cứu chữa khiến cho Nhật bản (quốc gia viện trợ ODA lớn nhất) phải tuyên bố ngưng viện trợ cho VN. Chúng tôi cũng rất đau buồn khi hầu hết các nước viện trợ cho VN đều than phiền về hiệu quả chống tham nhũng của chính quyền trước cộng đồng quốc tế. Món nợ mà chính quyền VN hiện nay đang vay mượn của các ngân hàng trên thế giới, nhân dân phải trả đến bao giờ mới hết.
Là người VN chúng ta có đau buồn không khi Hoàng sa cùng các hòn đảo chiến lược của Trường sa, Ải nam quan, thác Bản giốc và hàng chục ngàn km2 đường biển, những phần đất thiêng liêng của đất nước đang bị TQ chiếm giữ trước sự đồng tình của một chính quyền luôn tự hào là vì dân vì nước?, và chúng ta sẽ nghĩ sao khi tất cả những người lên tiếng chống lại sự xâm lăng của TQ đều bị chính quyền thẳng tay đàn áp hoặc bỏ tù? Chúng ta có cảm thấy xấu hổ không khi TQ đã ngang nhiên không cho các công ty khai thác dầu hỏa của Anh và Exxon Mobil của Mỹ hoạt động trên vùng biển của ta theo hợp đồng mà VN đã ký kết. Trong khi đó các nhà lãnh đạo VN chẳng những không phản đối mà ngược lại còn đồng ý cho TQ khai thác dầu hỏa trên biển Đông trong vùng biển của ta, và luôn miệng nói lúc nào cũng trung thành với "16 chữ vàng" và 4 tốt đối với TQ.
Ngày 8/12/2008 vừa qua chính quyền đã dựng lên phiên tòa để xử 8 giáo dân Thái Hà về tội hủy hoại tài sản nhà nước và gây rối trật tự công cộng. Các giáo dân này đã "can tội" dẹp bỏ một bức tường do công ty may Chiến Thắng xây trái phép trên phần đất của nhà thờ giáo xứ Thái Hà. Phiên tòa tuy được thông báo là xử công khai nhưng chỉ những người có giấy mời mới được vào và phòng xử là ở lầu 4, trong khi bên ngoài thì có hàng trăm cảnh sát cơ động và công an được trang bị súng ống đầy đủ phong tỏa các ngã đường. Với luận cứ bào chữa sắc bén của LS Lê Trần Luật, cuối cùng công lý đã chiến thắng với bản án tù treo cao nhất là 17 tháng.
Còn nhiều và còn nhiều lắm,... không thể dùng giấy mực viết hết ra đây được. Chỉ mong rằng tuổi trẻ và những ai còn chút tình với quê hương và đất nước phải làm sao để khỏi hổ thẹn với truyền thống hào hùng của dân tộc.
Viết vào những ngày đầu năm Kỷ Sửu 2009
Hương Trà cùng nhóm bạn trẻ (Email: huongtra13@gmail. com)
Hương Trà
Đã là con người thì ai cũng phải trải qua thời niên thiếu, cái thời của những ngày là học sinh cấp I, II và III chỉ biết tiếp thu những bài học một chiều từ những lời giảng dạy của thầy cô.
Chúng tôi cũng tin chắc rằng tất cả các bạn trẻ sinh viên và những nhà trí thức tha thiết với quê hương cũng có cái nhìn không đẹp với đường lối cai trị độc tài, độc đoán do ĐCSVN lãnh đạo hiện nay đối với đất nước. Những hành động dứt khoát và những tiếng nói chân thành của các bác, các chú lão thành đã từng là đảng viên ưu tú của đảng, từng giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy của đảng, cùng với sự dấng thân tranh đấu ôn hòa của các nhà trí thức dân chủ yêu nước chấp nhận mọi gian nguy trước sự đàn áp thô bạo của cường quyền trong thời gian qua và vẫn còn tiếp tục, là cái phúc rất lớn cho dân tộc VN. Chính nhờ những chứng nhân thực tế của các bác, các chú trong hàng ngũ của đảng đã thức thời kể lại trên hệ thống Internet toàn cầu, cùng các tài liệu bí mật đã được các nhà nghiên cứu lịch sử tìm thấy, khiến cho chúng tôi tự cảm thấy đang bị lừa trong một nền giáo dục chỉ biết tuyên truyền theo hướng có lợi cho ĐCSVN, mà ngay chính chủ nghĩa xã hội của nó đã bị cộng đồng thế giới phế bỏ từ lâu.
Sở dĩ chúng tôi dám khẳng định như thế là bởi vì trong thực tế CNXH chỉ còn tồn tại ở một vài nước trên thế giới trong đó có VN, nhưng nó chỉ tồn tại về mặt độc quyền chính trị, còn về mặt kinh tế thì đang nhờ vào sự giúp đỡ của các nước phát triển dân chủ đa nguyên. Đường lối giáo dục của VN do đảng lãnh đạo đã đưa môn triết học Marx-Lênin vào chương trình học, bắt buộc chúng tôi cũng như toàn thể sinh viên, học sinh trong nước phải tin tưởng vào những điều không tưởng xa rời thực tế, phải học những điều vô bổ để đối phó tình thế, mà ngay chính thầy cô dạy chúng tôi cũng đều công nhận như thế. Đây là một điều tai hại cho thế hệ tuổi trẻ VN và tương lai của đất nước. Chúng tôi xin dẫn chứng ra đây một vài sự thật, hy vọng sẽ thức tỉnh được phần nào lương tâm của những người có thiên kiến hẹp hòi chỉ biết đặt quyền lợi riêng cá nhân và của đảng lên trên quyền lợi của quốc gia, dân tộc.
Cũng vì mục đích độc tôn quyền hành chính trị cho nên ĐCSVN mới tạo ra cuộc cải cách ruộng đất ở miền bắc và thanh trừng các nhà trí thức trong nhân văn giai phẩm vào những năm 1954-1957 để đảng khẳng định rằng: tư tưởng văn hóa của VN phải tuyệt đối theo hệ thống XHCN và chỉ có CNXH mà thôi. Hai bài thơ nổi tiếng "đời đời nhớ ông" để tôn vinh Lênin và bài thơ cổ súy cho cải cách ruộng đất của ông Tố Hữu đã nói lên điều đó mà bất cứ ai có dịp đọc qua cũng cảm thấy rùng mình.
Những bài học sặc mùi hận thù Mỹ dành cho học sinh mầm non và tiểu học thời bao cấp, cho đến những nhân vật anh hùng kiểu Lê văn Tám và vô vàn những câu chuyện gương mẫu về cuộc đời thần thánh của bác Hồ mà Đảng đã nặn ra để bắt buộc học sinh phải thấm nhuần trong đầu óc. Môn học GDCD lớp 7 do nhà xuất bản giáo dục năm 1997 có bài đọc thêm "tinh hoa dân tộc VN góp phần vào tinh hoa của thế giới" khẳng định tổ chức Unesco của LHQ đã ra quyết định công nhận chủ tịch HCM là danh nhân thế giới nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh chủ tịch HCM (năm 1990). Nhưng sau khi đối chiếu các thông tin có được trên internet thì mới biết được sự thật phủ phàng:
- Anh hùng Lê Văn Tám không có thật mà được đảng tự đặt ra để phục vụ cho mưu đồ chính trị (điều này đã được sử gia Trần huy Liệu xác nhận trước khi chết).
- Cuộc đời thần thánh của chủ tịch HCM như Đảng tuyên truyền cũng không có thật, vì bác Hồ đã có vợ chính thức bên Trung quốc vào năm 1926 là bà Tăng tuyết Minh. Còn tại VN thì bác đã có con với cô Nguyễn thị Xuân vào năm 1957 và đặt tên là Nguyễn tất Trung, hiện nay vẫn còn sống và trở thành tư bản đỏ tại thủ đô Hà Nội. Cái chết mờ ám của Nguyễn thị Xuân là kết quả của một sự đòi hỏi muốn làm một người vợ chính thức với bác (theo tiết lộ của nhà văn Vũ Thư Hiên trong cuốn hồi ký "Đêm giữa ban ngày", và của ông Nguyễn Minh Cần nguyên Phó chủ tịch Ủy Ban Hành chánh Hà Nội lúc bấy giờ và hiện nay đang sống bên Nga). Đối với một nhà lãnh đạo cho dù tài ba xuất chúng đến đâu đi nữa, thì chuyện có gia đình, có vợ con là chuyện bình thường. Việc đảng thêu dệt và thần thánh hóa cuộc đời của bác Hồ để phục vụ cho mưu đồ chính trị là không thể chấp nhận bởi vì, nó đã đi ngược lịch sử, đi ngược sự thật. Tác giả Trần Dân Tiên và T-Lan trong các cuốn sách ca ngợi bác cũng do chính bác viết và tự đặt tên. Bác cũng chưa từng được tổ chức Unesco của LHQ công nhận là danh nhân của thế giới, vì buổi lễ tuyên dương bác Hồ là danh nhân thế giới tại Pháp năm 1990 là do tòa đại sứ VN tự tổ chức, tự chi trả không có sự yểm trợ và tham dự của đại diện Unesco LHQ.
Bác Hồ thường nói "các vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta phải phải cùng nhau giữ nước" nhưng đây là câu nói không thật bởi vì chính bác đã đồng ý cho thủ tướng Phạm văn Đồng ký công hàm ngày 14/9/1958 công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hiện nay tuy bề ngoài chính quyền VN vẫn tuyên bố về chủ quyền của HS và TS, nhưng công an lại đàn áp bắt giam những ai dám nói lên tiếng nói và biểu tình chống TQ xâm lăng, trong khi cho phép những du khách Trung Quốc biểu tình xác định Hoàng Sa và Trường Sa là của bọn chúng ngay trên đất nước mình?. Tại sao chính quyền lại dập tắt cuộc biểu tình của sinh viên ngày 14/9/2008 là ngày mà tòa đại sứ TQ họp báo tại thủ đô Hà nội để công bố bức công hàm của ông Phạm văn Đồng? Tại sao chính quyền lại không dám đưa việc xâm lăng HS, TS của TQ ra trước HĐBA Liên hiệp quốc và tòa án quốc tế xét xử? Tại sao đất nước là sở hữu tối thượng của toàn dân mà chính quyền không dám công khai cho nhân dân biết các hiệp ước về lãnh thổ, lãnh hải ký kết với TQ năm 1999 và 2000? Với những điều xảy ra như vậy, chúng tôi có quyền nghi ngờ lòng yêu nước của các nhà lãnh đạo ĐCSVN.
Sau hơn 60 năm kể từ ngày Đảng lãnh đạo miền Bắc và hơn 30 năm giải phóng miền Nam. Đất nước VN đã thua xa những nước khác trong khu vực mà trước 1975 nền kinh tế của miền Nam VN vẫn được công nhận là con rồng của Đông Nam Châu Á. Nhìn qua các nước chung quanh chúng tôi hiểu rằng nếu không có ĐCSVN thì đất nước vẫn giành được độc lập từ tay người Pháp vì đây là xu hướng chung bắt buộc Pháp phải trao trả độc lập cho VN cũng như các nước thuộc địa của Pháp trên thế giới. Nếu không có ĐCSVN thì chắc chắn nền độc lập của VN sẽ là nền độc lập dân chủ đa nguyên, ngày hôm nay đất nước VN sẽ không phải là một trong những nước nghèo của thế giới, nhân dân VN sẽ không hổ thẹn khi phải hy sinh những đứa con thân yêu đi làm tôi mọi cho các nước tư bản qua hình thức hợp tác lao động và lấy chồng nước ngoài. Tổ quốc VN cũng không phải mất đi hàng triệu đứa con thân yêu qua các cuộc chiến phi lý, cũng sẽ không có chuyện hàng triệu con người phải bỏ nước ra đi. Đặc biệt Hoàng sa và Trường sa sẽ không bao giờ rơi vào tay của bọn bành trướng TQ. Nếu không có ĐCSVN thì hàng ngày sẽ không bao giờ có cảnh từng đoàn người dân oan đi khiếu kiện vì đất đai đã bị các cán bộ, đảng viên có quyền thế ngang nhiên chiếm dụng. Nhân tài VN sẽ không đứng ngoài để nhìn những con người kém trí tuệ của đảng tự do tham nhũng nhưng vẫn hô hào là chống tham nhũng, tự do đứng trên luật pháp nhưng vẫn chủ trương sống và làm việc theo pháp luật, tự do ăn chơi và tự do làm giàu bằng tiền đóng thuế của dân và tiền vay mượn của các ngân hàng nước ngoài để trở thành những tư bản đỏ của thời đại. Sẽ không có chuyện nhân tài VN bắt buộc phải đem chất xám của mình để phục vụ và làm giàu cho các công ty nước ngoài, sẽ không có những khối lượng chất độc khổng lồ của các công ty, xí nghiệp tự do thải xuống những dòng sông mạch sống của nhân dân trước sự vô cảm của các quan chức chính quyền (điển hình là Cty Vedan trên dòng sông Thị Vải).
Chúng tôi đã đọc bản tuyên ngôn độc lập mà chủ tịch Hồ chí Minh đã tuyên thệ trước toàn dân miền Bắc ngày 2/9/1945, cũng như bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của LHQ và các công ước quốc tế mà VN đã ký kết. Chúng tôi cũng nghiên cứu rất kỹ bản hiến pháp của VN hiện hành trong đó điều 69HP có ghi: công dân có mọi quyền tự do về ngôn luận, tín ngưỡng, cư trú, thông tin, báo chí, biểu tình và lập hội". Rồi lời tuyên bố của chủ tịch nước Nguyễn minh Triết tại Mỹ: "Bất đồng chính kiến là chuyện bình thường", và của thủ tướng Nguyễn tấn Dũng: "Yêu nhất, thích nhất là trung thực, ghét nhất, giận nhất là giả dối". Nhưng trên thực tế đây là những câu nói giả dối mỵ dân. Việc đàn áp bắt bớ những thành phần bất đồng chính kiến tranh đấu cho một nền dân chủ phù hợp với hiến pháp và ý nguyện của toàn dân, trù dập những người yêu nước chống sự bành trướng của TQ là không thể chấp nhận được.
Chúng tôi đã từng đọc toàn văn các luận cứ của luật sư Lê Công Định trong vụ án chính trị bào chữa cho anh thư LS Lê thị Công-Nhân và LS Nguyễn văn Đài; Luận cứ của LS Lê Trần Luật bào chữa cho nhà dân chủ Trần Minh Đức, Phạm Bá Hải và dân oan cũng là thành viên khối 8406 Lương Văn Sinh. Riêng vụ xử anh Nguyễn Hoàng Hải (blogger Điếu Cầy) tội trốn thuế (một tội danh không có thật) được chính quyền bịa đặt dựng lên nhằm mục đích bỏ tù anh, để anh không còn cơ hội thực hiện lòng yêu nước của mình trước sự xâm lăng của Trung quốc. Chúng tôi cũng biết đầy đủ về việc công an đã dùng luật rừng để bắt chị Phạm Thanh Nghiên, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng, SV Tiến Nam, SV Ngô Quỳnh, nhà thơ Trần Đức Thạch, chị Lê thị Kim Thu và một số nhà dân chủ khác. Thật đúng như lời bà Ngô bá Thành (cựu chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Quốc hội) nói "VN có cả một rừng luật, nhưng toàn là luật … rừng".
Việc chính quyền Hà nội đơn phương giải tỏa 2 khu đất tòa Khâm sứ cũ và Linh địa Thái Hà vào ban đêm trong khi sự việc đang trong vòng tranh cải, cũng như cố tình cắt xén bài phát biểu của TGM Ngô Quang Kiệt để tìm cách vu khống bài phát biểu đầy tinh thần dân tộc của ngài. Việc nhà nước huy động tất cả hệ thống truyền thanh-truyền hình và báo chí để bôi xấu TGM Kiệt và các giáo dân cầu nguyện ôn hòa, là hành động bỉ ổi. Việc làm này chứng tỏ tầm hiểu biết của các nhà lãnh đạo ĐCSVN là dưới mức trung bình. Còn nhớ vào tháng 9/2007 khi HT Thích Quảng Độ cứu trợ và phát biểu trước hàng ngàn dân oan khiếu kiện tại VP2QH tại Sài gòn, lúc đó cả hệ thống truyền thanh-truyền hình và báo chí độc diễn hạ nhục HT Quảng Độ cũng giống như TGM Kiệt bây giờ. Hình như tội vu khống trong bộ luật hình sự chỉ dành cho người dân, còn những con người có chức quyền thì cứ tự do vu khống. Chính quyền Hà Nội lại còn gởi bản đề nghị cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam kỷ luật và thuyên chuyển TGM Kiệt. Khi HĐGMVN từ chối vì TGM Kiệt không sai phạm giáo luật thì ngày 15/10/2008 ông Nguyễn thế Thảo Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP. Hà Nội công khai phát biểu trước đại diện ngoại giao các nước tại Hà Nội rằng sẽ đề nghị thuyên chuyển cho bằng được TGM Kiệt ra khỏi Hà Nội. Thật tình, tuổi trẻ chúng tôi không biết phải nghĩ sao cho phù hợp với chính quyền này?, phải chi chính quyền CSVN biết được cái nhục mất đất, mất hải đảo và mất biển qua công hàm của ông Phạm văn Đồng, qua các hiệp định biên giới và vùng biển năm 1999 và 2000 mà VN đã nhường cho TQ thì hay biết mấy. Bây giờ bằng tất cả chân tình chúng tôi xin bày tỏ:
1/- Xin đồng bào VN hải ngoại, xin quý vị xuất gia tu hành trong các tôn giáo có tư tưởng về nguồn ở hải ngoại (nhất là Phật giáo). Kính mong quý vị nên suy nghĩ kỹ hành động của mình để khỏi bị lừa bởi các chính sách mà chính quyền VN đang nhắm vào quý vị một cách rất tinh vi, họ đã dùng những cụm từ: "Việt kiều yêu nước", "khúc ruột ngàn dậm" không thể tách rời, hoặc các đặc tình tôn giáo là để mê hoặc quý vị nhằm cũng cố cho địa vị độc tôn của họ và moi tiền của quý vị mà thôi, cũng như họ thường xuyên dùng các hiệp ước, hiệp định thương mại và kinh tế để moi tiền cộng đồng quốc tế. Nhân dân VN rất cám ơn các vị nghị sĩ và dân biểu Quốc hội Hoa kỳ cũng như các Ủy ban nhân quyền trên thế giới đã nhìn hiện tình của VN một cách đúng đắn và có những hành động kịp thời bênh vực cho lẽ phải. Chúng tôi cũng rất bất bình trước sự hiểu biết không đúng sự thật của Quốc hội Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ và các viên chức cấp cao BNG trong chính quyền của tổng thống Bush khi công nhận VN có tiến bộ về chính trị và tôn giáo để đưa VN ra khỏi danh sách "Các nuớc cần quan tâm" (CPC). Nước Mỹ sở dĩ được như ngày hôm nay là cũng nhờ có sự cống hiến của các cộng đồng sắc tộc khác nhau, trong đó có cộng đồng người VN tỵ nạn cộng sãn mà điển hình có khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, nữ anh hùng phi công Elizabeth Phạm…v.v…. Nhưng chắc có lẽ cũng vì quyền lợi kinh tế riêng do chính quyền CSVN dành cho Hoa Kỳ, khiến cho TT Bush đã không thực hiện đúng như những gì ông đã nói: "Hoa Kỳ luôn luôn đứng bên cạnh những người dám đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền trên thế giới". Chúng tôi cũng rất mong sự lên tiếng của các nhân tài VN làm việc trong đất nước Hoa Kỳ và các nước khác, giúp họ có cái nhìn khách quan và chính xác hơn cho hiện tình đất nước VN. Chúng tôi cũng xin các đoàn thể đấu tranh hải ngoại hãy dẹp bỏ những thiên kiến tỵ hiềm để cùng nhau hướng về đại cuộc, nhất là đừng nghi ngờ quá đáng đối với các nhà đấu tranh dân chủ trong nước mà trước đây các bác, các chú này là những đảng viên, những cán bộ cao cấp của ĐCSVN, vì chính những người này mới là những chứng nhân thực tế không thể thiếu trên con đường tranh đấu cho lẽ phải mà toàn dân đang mong đợi, cũng như cho sự phán xét của lịch sử sau này. Tục ngữ VN có câu: "Một cây làm chẳng nên non, ba cây dụm lại nên hòn núi cao".
2/- Chúng tôi xin có đôi lời gởi tới các anh các chú trong lực lượng công an và quân đội, đồng lương của quý vị là tiền thuế của nhân dân, nhiệm vụ của quý vị là bảo vệ đất nước và cuộc sống yên lành cho người dân, bổn phận của quý vị là TRUNG VỚI NƯỚC, HIẾU VỚI DÂN (đây là lời nói của chủ tịch Hồ chí Minh khi còn sống). Nhưng nếu bây giờ mà quý vị chỉ phục vụ duy nhất cho đường lối của đảng là quý vị đã không làm tròn trách nhiệm và bổn phận của mình đối với tổ quốc và nhân dân. Trong vai trò làm ruộng người nông dân có toàn quyền tự do chọn lựa phương cách canh tác riêng, sau thu hoạch nếu anh nông dân nào có kỹ thuật canh tác tốt để có thu hoạch cao thì sẽ được mọi người học hỏi và tuyên dương, anh nông dân đó không cần phải dùng quyền lực bắt buộc người khác phải theo mình. Trong một xã hội và đất nước cũng thế, ĐCSVN không thể bắt mọi người dân phải tuân phục theo mọi đường lối cai trị của đảng, kể cả việc dâng 2 quần đảo HS và TS và những nhượng bộ đất đai, bờ biển cho TQ qua hiệp định biên giới năm 1999 và hải phận năm 2000. Những lời phát biểu của ông Lê Dũng (phát ngôn viên BNG VN) về chủ quyền HS và TS cũng như ông Lê công Phụng (đại sứ VN tại Mỹ) về ranh giới đó chỉ là những lời nói suông nhằm để xoa dịu sự công phẩn của nhân dân mà thôi. ĐCSVN cũng không thể tự mình đứng trên luật pháp khi tự do dùng các cơ quan truyền thông và báo chí để hạ nhục, vu cáo và chửi bới người dân không cùng quan điểm với đảng khi chưa có phán quyết cùa tòa án. Nếu thực sự ĐCSVN được nhân dân đồng tình ủng hộ thì tại sao không chấp nhận thành phần đối lập. Nếu ĐCSVN tự nhận mình là một chính quyền tôn trọng luật pháp thì tại sao không thực thi đúng điều 69HP do đảng đề ra: nghĩa là người dân có quyền tự do ngôn luận, có quyền lập hội, có quyền ra báo chí tư nhân, có quyền tự do biểu tình theo luật định, có quyền tự do ứng cử không qua sự lựa chọn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc đảng, có quyền tự do bầu bất cứ người nào mà dân thích chớ không phải chỉ bầu trong danh sách đã được đảng chọn lựa như hiện nay. Còn biết bao nhiêu những vấn đề tồi tệ khác do đảng gây ra cho đất nước và nhân dân. Trong quá khứ và hiện tại Đảng lãnh đạo đất nước đã đi từ sai lầm này đến sai lầm khác, chẳng lẽ lực lượng quân đội và công an các anh, các chú lại trung thành với sự sai lầm triền miên của đảng hoài hay sao?. Một sự thật hiển nhiên là hầu hết những nước tiến bộ phồn vinh trên thế giới không lấy CNXH làm cứu cánh duy nhất như VN.
Là thành phần trẻ tha thiết với với quê hương đất nước và qua thời gian tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy các phong trào và các nhà đấu tranh dân chủ không bao giờ chủ trương loại bỏ ĐCSVN, họ chỉ muốn đảng lãnh đạo đất nước phải thay đổi tư duy theo trào lưu tiến bộ của thế giới, như những gì mà đảng thường tuyên bố và cam kết với LHQ và cộng đồng quốc tế cũng như với nhân dân. Trong nền dân chủ đa nguyên, nếu ĐCSVN là chính nghĩa thì vẫn được nhân dân ủng hộ qua cuộc bầu cử tự do và công bằng chớ không cần thiết phải dùng lực lượng công an khống chế, đàn áp như hiện nay. Chúng tôi mạnh dạng viết lên những dòng chữ này vì sự hiểu biết về luật pháp mà chúng tôi đã học và lịch sử mà chúng tôi đã nghiên cứu. Chúng tôi cũng tin rằng vì cuộc sống và địa vị cá nhân, vì miếng cơm manh áo cho nên các anh, các chú công an phải tuân hành theo mệnh lệnh của đảng để thẳng tay đàn áp các thành phần bất đồng chánh kiến với đảng dù biết rằng những việc làm đó là không đúng, nhất là thầy Nguyễn Tử Quảng, một tác nhân nguy hiểm cho các nhà bất đồng chính kiến trong nước. Nhưng nếu cứ tiếp tục như thế thì tương lai của đất nước sẽ ra sao?. Sự thật bao giờ cũng là sự thật, lịch sử sau này sẽ không tha thứ cho sự vô trách nhiệm của chúng ta. Hãy nhìn ra các nước cùng khu vực để suy nghĩ cho chính đất nước của mình: Singapore độc lập năm 1963 ngày nay kinh tế và chỉ số GDP hơn VN 197 lần. Nhật bản không còn gì sau đệ nhị thế chiến ngày nay là cường quốc kinh tế của thế giới. Đảo quốc nhỏ Đài Loan vượt xa anh khổng lồ hung hăng TQ, sự phồn vinh của Nam Hàn trước sự nghèo đói của Bắc Hàn, và Đông đức cuối cùng rồi cũng phải thống nhất với Tây đức. Ngay cả sự bất ổn chính trị của Thái lan bên cạnh chúng ta trong thời gian qua, quân đội chỉ phục vụ đất nước chớ không bảo vệ một cá nhân hoặc đảng phái nào dù đang cầm quyền đã đứng ngoài cuộc và cuối cùng phần thắng vẫn nghiêng về nhân dân. Kinh tế và cuộc sống của người dân Thái lan vẫn hơn VN hàng chục lần.
Đại hội ĐCS Nhật năm 2005 (có sự tham dự của ông Phan Diễn, đại diện ĐCSVN) đã tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin. Cựu TBT Gorbachev Liên sô trong lần phát biều tại trường đại học Columbia: "Tôi đã bỏ hơn nữa đời người để chiến đấu cho lý tưởng CS. Nhưng hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng CS chỉ biết tuyên truyền và nói láo". Cựu thủ tướng Võ văn Kiệt VN khi về hưu có nói rằng: "Trước kia tôi nghĩ yêu nước là yêu CNXH, nhưng nay nghĩ lại tôi thấy rằng yêu nước cũng còn có nhiều đường". Thiết tưởng đây là những bằng chứng cho những ai còn có tư tưởng coi CNCS là con đường phát triển duy nhất cho VN, cần phải suy nghĩ lại. Đất nước VN không bao giờ thiếu người tài đức, một cộng đồng dân tộc đa nguyên trong một khối đoàn kết quyết tâm xây dựng quê hương giàu đẹp. Chúng tôi tin tưởng đó không phải là hy vọng riêng của chúng tôi mà còn là niềm hy vọng chung cho tất cả toàn dân Việt Nam. Chúng tôi rất tâm đắc khi trong kỳ họp QH vừa qua đã có những đại biểu mạnh dạn nói lên những hiện tình tồi tệ và đau thương của đất nước và cuộc sống của nhân dân trước các nhà lãnh đạo của các bộ ngành trong chính quyền. Mặc dù sự lên tiếng này chưa mạnh mẽ lắm, nhưng đây cũng là một tín hiệu đáng mừng. Chúng tôi rất đau buồn khi vì sự độc tài, độc đoán mà các nhà lãnh đạo VN đã gây ra quốc nạn tham nhũng vô phương cứu chữa khiến cho Nhật bản (quốc gia viện trợ ODA lớn nhất) phải tuyên bố ngưng viện trợ cho VN. Chúng tôi cũng rất đau buồn khi hầu hết các nước viện trợ cho VN đều than phiền về hiệu quả chống tham nhũng của chính quyền trước cộng đồng quốc tế. Món nợ mà chính quyền VN hiện nay đang vay mượn của các ngân hàng trên thế giới, nhân dân phải trả đến bao giờ mới hết.
Là người VN chúng ta có đau buồn không khi Hoàng sa cùng các hòn đảo chiến lược của Trường sa, Ải nam quan, thác Bản giốc và hàng chục ngàn km2 đường biển, những phần đất thiêng liêng của đất nước đang bị TQ chiếm giữ trước sự đồng tình của một chính quyền luôn tự hào là vì dân vì nước?, và chúng ta sẽ nghĩ sao khi tất cả những người lên tiếng chống lại sự xâm lăng của TQ đều bị chính quyền thẳng tay đàn áp hoặc bỏ tù? Chúng ta có cảm thấy xấu hổ không khi TQ đã ngang nhiên không cho các công ty khai thác dầu hỏa của Anh và Exxon Mobil của Mỹ hoạt động trên vùng biển của ta theo hợp đồng mà VN đã ký kết. Trong khi đó các nhà lãnh đạo VN chẳng những không phản đối mà ngược lại còn đồng ý cho TQ khai thác dầu hỏa trên biển Đông trong vùng biển của ta, và luôn miệng nói lúc nào cũng trung thành với "16 chữ vàng" và 4 tốt đối với TQ.
Ngày 8/12/2008 vừa qua chính quyền đã dựng lên phiên tòa để xử 8 giáo dân Thái Hà về tội hủy hoại tài sản nhà nước và gây rối trật tự công cộng. Các giáo dân này đã "can tội" dẹp bỏ một bức tường do công ty may Chiến Thắng xây trái phép trên phần đất của nhà thờ giáo xứ Thái Hà. Phiên tòa tuy được thông báo là xử công khai nhưng chỉ những người có giấy mời mới được vào và phòng xử là ở lầu 4, trong khi bên ngoài thì có hàng trăm cảnh sát cơ động và công an được trang bị súng ống đầy đủ phong tỏa các ngã đường. Với luận cứ bào chữa sắc bén của LS Lê Trần Luật, cuối cùng công lý đã chiến thắng với bản án tù treo cao nhất là 17 tháng.
Còn nhiều và còn nhiều lắm,... không thể dùng giấy mực viết hết ra đây được. Chỉ mong rằng tuổi trẻ và những ai còn chút tình với quê hương và đất nước phải làm sao để khỏi hổ thẹn với truyền thống hào hùng của dân tộc.
Viết vào những ngày đầu năm Kỷ Sửu 2009
Hương Trà cùng nhóm bạn trẻ (Email: huongtra13@gmail. com)

Xin một đóa hồng cho ngày VALENTINE
Tình yêu là cái quái gì mà nhân loại xưa nay, từ các bậc đế vương, phi tần, quan quyền cao sang quý phái, cho tới những anh hùng liệt nữ ngất ngưởng hiên ngang và ngay cả hàng thứ dân bình thường… hầu như ai cũng bị tiếng sét con tim, làm cho lận đận lao đao, dở sống dở chết, thân bại danh liệt, khi đã lở vướng lụy vào lưới tình. Bao nhiêu bi kịch não lòng, buồn rầu tới độ phải chảy máu mắt đêm ngày, cũng chỉ vì yêu, ghen, thương, hận. Nói chung không ai có thể ngăn nổi ‘tình yêu trai gái’, khi họ đã quyết lòng gắn bó keo sơn, mặc kệ ‘ngày mai sẽ ra sao‘ khi đã đam mê vướng lụy vào lưới tình. Do trên mới có câu ‘khi đã yêu rồi, trời gầm cũng không nhả‘ là vậy đó.
Nên đã có không biết bao nhiêu trang sử tình bi thiết cổ kim, làm đau lòng hâu thế, như chuyện của Juliet-Roméo, Cléopatra-Antone, Dương Quý Phi-An lôc Sơn, Trương Chi-Mỵ Nương, Mỹ Châu-Trọng Thủy, Trần Huyền Trân-Khắc Chung và ngàn muôn câu chuyện diễm tình khác, cũng không kém thương đau máu lệ.
Như vậy tình yêu là gì? đố ai trả lời được, dù ai cũng đã ít nhất một lần là người trong cuộc. Ðã có nhiều người bảo: Ðó là thứ thần dược, chữa trị được nhiều thứ bệnh. Là mầm bệnh yếu đuối, do trái tim gây ra, là sự khôn ngoan của kẻ khờ, là mù quáng, là thuốc phiện cũng như vị ngọt của trái cấm trong vườn địa đàng. Nhiều người đã chịu khó góp nhặt những tình huống, kinh nghiệm trong tình sử, rồi phân hạng thành sáu loại tình yêu :
1- Tình yêu của “chàng-nàng” hay “Eros“, một kiểu tình lãng mạn .
2- “Leudus”, chỉ thứ tình đổi thay như ta thay quần áo hằng ngày.
3- “Storge“ là thứ tình yêu chân thật, phát xuất từ mối tình thơ theo kiểu “nhà nàng ở cạnh nhà tôi“ hay đã nhun nhén tình cảm lúc còn học chung dưới một mái trường.
4- “Mania“ là loại tình yêu cuồng mê si dại, vì thế một trong hai khi quá đam mê, có thể giết người như Orhello đối với Deodemona.
5- “Pragma” kiểu tình yêu môn đăng hộ đối.
6- “Agape” kiểu tình yêu cao thượng của các bậc anh hùng-anh thư, vì kẻ khác mà quên tình mình.
Buổi trước các khoa học gia đã lẩn trốn sự phân tích tình yêu, vì cho rằng nó thuộc phạm trù của những văn nghệ sỹ, vốn là thành phần rất ướt át, ủy mị, thích thương mây khóc gió, nên hay lo chuyện nhân thế tàng tàng, một trái ngược với bản chất khô cằn của các nhà khoa học. Nhưng giờ này, con người đã phải nương tựa vào nhau mà sinh tồn, nên không còn phải chia vùng, phân biện các bộ môn y tế, xã hội, nhân chủng học… Tất cả không nhiều thì ít, đều có liên hệ tới chuyện yêu đương trai gái… vì vậy thành kiến ngoại cuộc trên, đã bị đánh đổ. Do trên hiện có rất nhiều khoa học gia, trong số này có những nữ bác học, đã khai quật được từ trong sâu thẳm của nấm mộ thời gian, nhiều bí mật lạ lùng về tình cảm con người về nụ hôn, tình dục, sửa sang sắc đẹp… mục đích cũng vẫn là để giữ gìn lứa đôi hạnh phúc. Năm 1997, nhân VALENTIME’S DAY, các khoa học gia Hoa Kỳ trong tổ chức “American Association for the Advancement of Science“ đã nhóm họp tại thành phố Seatle, tiểu bang Washington, để tuyên bố : “Tình yêu lãng mạn của nhân sinh kim-cổ, động-tây, chẳng qua chỉ là những chuỗi phản ứng hóa học mà thôi“. Ðúng hay sai chỉ có trời biết, trong khi nhân loại cứ vẫn đút đầu vào cái thòng lọng của thần tình ái, để chịu khổ, chịu chết vì tình yêu:
‘…gió hiu hắt mà hồn đơn cũng lạnh
mưa phất phơ sao vẫn buốt thịt da
môi chưa chạm, tình đã vội chia xa
tay chực nắm, người cay chua từ chối…’
1- VÌ CHÀNG THIẾP PHẢI TÔ HỒNG, CHUỐC LỤC:
Muôn đời sắc đẹp của người phụ nữ, cũng vẫn là chìa khóa để nắm bắt tình yêu, mở đường cho hôn nhân và duy trì lứa đôi hạnh phúc. Thực tế không có gã đàn ông khùng điên nào, lại chọn cho mình người yêu, người vợ cỡ cô bé lọ lem, Thị Nở hay bà chằng Chung Vô Diệm. Nên những câu chuyện tình lý tưởng, chỉ có trong tiểu thuyết hoặc họa hoằn lắm mới có trong đời thường.
Do quan niệm trên, để kiếm cho mình một tấm chồng xứng đáng hầu nở mày nở mặt với thiên hạ. Nên người con gái nào khi đến tuổi cặp kê, cũng đều biết tự làm đẹp. Bởi vậy khoa thẩm mỹ học đã ra đời từ khuya, chứ không mới mẻ gì. Ngày nay con người chỉ phát minh thêm, kỹ thuật xóa vết nhăn, trồng tóc, hút mỡ, độn ngực và cấy, ghép da, mỡ, các bộ phận trong thế kỷ XX. Tất cả chỉ là sự tiếp nối những công trình làm đẹp phái nữ tự ngàn xưa, của các thầy thuốc cổ Ai Cập, Hy Lạp, Âu Châu vào thời phục hưng.
Nhờ các công trình khảo cổ, ta mới biết con người đã tự làm dáng vào năm 3000 trước tây lịch (TrTL) tại Ai Cập nhưng chỉ thu hẹp trong chốn cung đình, với các thành phần vua chúa, hoàng hậu, phi tần và triều thần. Theo tài liệu cho biết, bộ phận đầu tiên được sữa, đó là chiếc mũi trên khuôn mặt. Vào thế kỷ XIX, một khoa học gia Mỹ tên Edwin Smith, đã phát hiện được một cuộn giấy, gọi là Papyrus dài 5m, trên đó có vẽ hình một chiếc mũi vẹo, được giải phẫu và phục hồi, bởi một thầy thuốc kiêm kiến trúc sư tên Imhotep. Chính ông đã giúp vua Ai Cập Zoser, xây kim tự tháp lừng danh Saqqarab và là người thầy thuốc đầu tiên, nghĩ ra cách lấy những cục huyết đọng trong mũi, khi giải phẫu. Nhưng chính vị thầy thuốc ngưòi Ấn Ðộ tên Sushruta, sống trong thế kỷ VII trước TL, mới là cha đẻ của ngành Thẩm Mỹ Học và Khoa Giải Phẫu Tạo Hình. Tại Ấn Ðộ thời đó, ông là vị thầy thuốc duy nhất, phục hồi Mũi lại cho các phụ nữ bị xẽo, vì mang tội ngoại tình.
Riêng về bộ ngực, thì do thầy thuốc người Hy Lạp là Paul D.Eginee, sống vào khoảng thế kỷ thứ VI sau TL, chuyên sửa lại các bộ ngực quá to của nam giới. Riêng phụ nữ, phải đợi tới năm 1897, thầy thuốc tên Michel Pouson, là người đầu tiên làm đẹp bộ ngực nữ phái. Trong thời phục hưng, đã có nhiều thầy thuốc tuy xuất thân từ giới giang hồ lãng tử như Ambroise Paré (thợ hớt tóc), Pièrre Franco (bán thuốc dạo), nhưng lại là những kẻ tiền phong, mở đường cho khoa giải phẫu thẩm mỹ, trong việc chữa trị các vết bỏng trên làn da, đồng thời kiêm nghề vá môi, mắt.
Tại phương đông, người Trung Hoa là dân tộc đầu tiên đã biết tới thuật mỹ dung. Thời Xuân Thu Chiến Quốc vào khoảng thế kỷ 6-5 trước TL, người phụ nữ đã biết trang điểm bằng phấn sáp. Bộ sách ‘Thần Nông Bản Thảo Kinh‘ xuất hiện đời Tần-Hán, phổ biến các dược thảo như ‘Bạch chỉ‘ để giữ da, ‘Bạch cương‘ trừ tàn nhang. Riêng các loại dược chất ‘Can tùy hương, Bạch đàn, Bạch truật, Thanh mộc hương… ’ có tác dụng giữ làn da mặt phụ nữ, luôn luôn trắng trẻo xinh đẹp. Ngoài ra còn nhiều bộ sách quý khác như Cát Hồng Thần Dược (đời Tấn), Bí Cấp Thiên-Kim Yến-Phượng (đời Ðường), Thái Bình Thánh Huệ Thời Trần (đời Minh)… chứa một nội dung phong phú, nhằm hướng dẫn phụ nữ, cách giữ gìn và kéo dài nét đẹp của mình, bất luận tuổi tác, thời gian. Về phương pháp kẽ lông mày, bới tóc, tô mắt môi… người phụ nữ Tàu, cũng đã biết từ thời Hậu Hán. Thuở đó, người phụ nữ đất Trường An, có khuynh hướng vẽ nửa vòng mắt dưới chỗ lệ rơi, gọi là ‘Ðề Trang‘. Ðồng thời lại tô thêm một lớp phấn sáp mỏng dưới con mắt. Ðây là lối trang điểm kiểu ‘mày buồn diểm lệ’, rất được ưa thích, nên đã có bài phong dao ca tụng:
‘Thành trung hảo cao kế
Tứ phương cao nhất xích
Thành trung hảo quang mi
Tứ phương thẻ bán ngạch‘
Có nghĩa là, búi tóc của người Trường An mới hơi cao một chút, thì cả nước đã nâng cao lên cả thước (đơn vị đo đạc cổ của Tàu). Còn lông mày của người Trường An vừa nới rộng , thì cả nước đã vẽ dài ra tới nửa trán. Ý tứ của bài phong dao trên, phần nào cho ta hiểu cách làm đẹp của người phụ nữ buổi đó. Ðời Ðường, Chu Khánh Dư đã viết một bài thơ nổi tiếng, ca tụng nghệ thuật tô vẽ lông mày của ‘chàng-nàng’ trong chốn phòng the:
‘Ðộng phòng tác dạ, đình hồng chúc
Ðái hiến đường tiền bái cữu cô
Trang bài đề thanh văn phu tế
Họa my thâm thiểm, nhập thời vô…’
Bài thơ có nghĩa là, đêm động phòng hoa chúc, sáng dậy trang điểm để ra hầu cha mẹ chồng, nàng hỏi chàng ‘em kẻ lông mày như thế này có được không?’. Cũng từ các tài liệu cổ còn sót lại, cho biết người phụ nữ Trung Hoa thời xưa đã biết chế tạo ‘phấn xoa mặt‘ bằng gạo. Ngoài ra còn biết xỏ lỗ tai để đeo các đồ trang sức làm bằng vàng ngọc hay búi tóc giả. Ðộc đáo nhất là ‘Lạc Mai Trang Sức‘, một nghệ thuật cắt lụa ngũ sắc, lá cây hay giấy màu, làm thành những cánh hoa mai để dán trên khuôn mặt. Song song người ta còn uống thêm các loại thuốc giữ sắc đẹp, gọi chung là ‘Trà Mỹ Dung’, đặc chế bằng hạt Hoàng Hoa, còn gọi là ‘Ðồng Tích Lợi‘. Riêng Từ Hy Thái Hậu đời nhà Thanh, có một thang mật, được ghi trong Tuyển tập Từ Hy. Nhờ dược liệu này, mà khuôn mặt của bà hoàng luôn luôn tươi mát, như đang độ thanh xuân.
Nhưng độc đáo hơn hết trong nghệ thuật làm đẹp của người đàn bà Trung Hoa thời xưa, là ‘Tục Bó Chân‘. Tục này đã kéo dài từ thời thượng cổ cho tới năm đầu của Dân quốc 1911 mới chấm dứt trên giấy tờ. Về xuất xứ của tục bó chân, hiện có rất nhiều giả thuyết như thuyết cho rằng bó chân do Hồ Hỷ Mị, bạn của Ðắc Kỷ nghĩ ra đầu tiên. Vì cả hai đều là phi tần được Trụ Vương đời Thương sủng ái nhưng lại xuất thân từ thú cầm: Ðắc Kỷ gốc chồn, còn Hỷ Mị là hạc, vì muốn dấu đôi chân thú nên phải bó kín lại. Thuyết khác cho rằng bó chân có từ thời Triệu Phi Yến, cung phi của vua Hán Thành Ðế. Nhưng dù có nguồn gốc từ đâu chăng nửa, đối với quan niệm thẩm mỹ xưa của người Trung Hoa, đều thừa nhận rằng, bất cứ người con gái nào, càng có bàn chân mềm nhỏ, thì càng đi đứng uyển chuyển trang đài, gợi tình quý phái, khiến cho ai thấy cũng đem lòng ái mộ. Những thành ngữ “tam thốn Kim Liên‘ hay mỹ danh ‘Kim Liên’, được rút ra từ điển tích thời Nam-Bắc triều (907-960), kể chuyện hôn quân Tiền Bảo Quyền, vì đam mê đắm đuối gót chân nhỏ của nàng Phan Giáng Phi, nên ra lệnh tịch thu hết vàng bạc của dân chúng trong nước, rồi đem đúc thành những đoá hoa sen lót trên thảm, cho người đẹp bước đi. Ðời sau gọi đó là bộ ‘Sinh Liên Hoa’ có nghĩa là gót sen nở rộ. Có lẽ căn cứ vào điển tích trên, nên nhà văn Lâm ngữ Ðường,cho rằng tục bó chân phát xuất từ thời Nam Bắc Triều. Về sau các nhà khoa học tây phương khi nghiên cứu về tục bó chân của cổ Trung Hoa, cho rằng tục này có liên hệ tới vấn đề tình dục. Quan điểm này cũng rất phù hợp với nhận xét của Lý Lạp Ông thuở trước. Theo ông, dụng ý của đôi bàn chân nhỏ, chỉ là để được cưng chiều ban ngày, ve vuốt ban đêm, mà điển hình là nhân vật Phan Kim Liên trong Thủy Hử truyện, chỉ vì có đôi bàn chân nhỏ đẹp, nên đã khiến cho gả Tây Môn Khách phải đắm đuối chết người. Trong tác phẩm ‘Hương Liên Phẩm Tảo’, tác giả có nói tới phong trào nam giới thời Minh-Thanh, rất say mê gót sen của những ả ca kỹ, đến độ nhiều người đã dùng chiếc hài của người đẹp để uống rượu, gọi là ‘Kim Liên Bôi’. Sự say mê thích thú đó, tạo nên quan niệm cho rằng, đôi bàn chân của phụ nữ, mới chính là nơi gợi tình nhất của phái đẹp.
Tuy nhiên muốn có một đôi bàn chân xinh xắn lý tưởng, người con gái Trung Hoa phải sống trong địa ngục trần gian, vì tự mình hành hạ thân xác mình, trong ba năm dài, khi vừa mới lên 3-4 tuổi. Tục bó chân gồm có 4 giai đoạn như Thí triển, Thí khẩu, Khẩu triển và Lý loan. Tóm lại dù thuộc giai đoạn nào chăng nửa, thì người con gái trong thời gian bó chân, cũng đều chịu nỗi đau đớn tột cùng, mà không bút mực nào diễn tả cho hết được. Cũng vì đôi bàn chân phải bó thường xuyên, làm mồ hôi ứ đọng bên trong, tạo nên mùi hôi thúi không chịu được (xú như lý cước hổ). Do trên các người đẹp bó chân ngày xưa, luôn dùng một loại phấn có tên ‘Hương Liên Táo’ cho vào giầy, để gót sen luôn luôn thơm tho quyến rũ.
Vào thế kỷ XIX tại Châu Âu, xuất hiện phong trào phụ nữ làm đẹp với châm ngôn ‘MÃNH MAI, CHÂN DÀI và CHIẾC LƯNG ONG‘ Do đó các cô các bà, nhất là giới mệnh phụ phu nhân, quý tộc… đều tìm đủ mọi cách làm cho bụng nhỏ lại. Họ nhịn ăn, kiêng cử, tập thể dục và dùng một chiếc nịt, có tên ‘Chiếc Thắt Lưng CORSET‘ bó chiếc bụng lại, để đạt được vòng eo lý tưởng lúc đó là Bốn Mươi Phân. Nhờ sự bó sát phần giữa, khiến cho ngực và mông, bị dồn nén tối đa làm tăng thêm nét hấp dẫn, khi vận chiếc váy phồng hay váy ngắn. Cũng vì muốn đạt vòng eo, nên tự mình dồn ép quá mức, năm 1859 một mệnh phụ người Pháp, sau khi dự tiệc tùng, khiêu vũ liên tục trong 2 ngày đêm, bổng lăng đùng ra chết. Nguyên do lưng bị chiếc Corset bó chặt quá, làm gãy 3 chiếc xương sườn và chính những chiếc xương gãy này, đã đâm bể gan. Thảm kịch trên được báo chí cảnh cáo nhưng không ai muốn nghe và chiếc lưng ong của các mệnh phụ cứ nhởn nhơ xuất hiện, cho tới đầu thế kỷ XX, quan niệm thời trang thay đổi, nó mới chịu vứt vào quá khứ.
Thật ra chiếc lưng ong của phụ nữ đâu có gì là mới mẻ, vì nó đã xuất hiện tại Trung Hoa từ đời Sở trước tây lịch. Có vậy nên thi hào Ðổ Phủ đời Ðường đã viết ‘Khiển Hoài‘ để ca tụng những chiêc lưng ong nho nhỏ, thon thon nhưng vô cùng xinh đẹp: ‘Lạc phách giang hồ, tái tửu hành ố Sở yêu tiệm tế chưởng trung khinh‘ ý nói đeo đẳng giang hồ rượu nách lưng, trong tay ôm nhẹ gái lưng ong, Cũng theo tài liệu cũ, thời xưa đàn ông Ðông phương, có quan niệm xem nhẹ bộ ngực phụ nữ, trái ngược với thời trang thẩm mỹ ngày nay. Cho nên chỉ thấy nói tới: Hồng diện, đa dâm thủy, Thanh mi, hậu hộ mao, Tế yêu (lưng ong), âm huyệt đại và Trường Túc (chân dài) mà thôi. Tóm lại hoàn toàn khác với ngày nay ‘NAM TU, NỮ NHŨ‘.
2- Ý NGHĨA CỦA NGÀY TÌNH YÊU :
Tháng 10-1996, GS Timotly Thylar, một chuyên viên về khảo cổ và nhân chủng học tại Ðại Học Cambridge Anh Quốc, đã phát hành tác phẩm ‘Tình Dục Thời Tiền Sử’, từ khảo nghiệm của một xác ướp vừa tìm thấy tại vùng biên giới Áo-Ý, xác này sống cách đây khoảng 5000 năm. Qua tài liệu, tác giả đưa ra các chứng minh về sinh hoạt tình dục của người tiền sử. Theo đó, họ chẳng những biết được chuyện trai gái phòng the, mà còn nghĩ được nhiều phương cách làm thỏa mãn tình dục. Quyển sách trên còn chứng minh người tình sử, đã biết phân biệt thế nào là Ái ân tình tự, Sự truyền giống, Sinh đẻ. Tất cả xảy ra trước, mở đường để cho các dân tộc Cổ Ai Cập, Hy Lạp, La Mã… biết sử dụng thuốc ngừa thai. Ngoài ra, các nhà khảo cổ còn phát hiện được nhiều tài liệu cũng như hiện vật, cách đây mấy ngàn năm, họ đã biết sử dụng cây cỏ để làm chất kích dục, như cây mồ hôi có tác dụng trị bệnh thông thường của phụ nữ trước ngày có kinh, đồng thời còn là loại thuốc kích dục rất hiệu nghiệm. Các nhà khảo cổ cũng đã tìm thấy nhiều tượng phụ nữ khỏa thân thời tiền sử, được nghệ nhân tạc rất linh động và khiêu gợi, nổi bậc ở phần bộ phận sinh dục. Tại Pháp, các nhà khoa học còn tìm được một cây gậy, hai đầu có tạc hình cơ quan sinh dục đàn ông, trong tư thế Dordongac, dài từ 10-18cm, mà Timothy cho rằng, đây là dụng cụ để các phụ nữ tiền sử tự thỏa mãn tình dục. Ðây cũng là vật dụng mà các bộ lạc, dùng để phá trinh các thiếu nữ trong các cuộc tế lễ. Tại Varna-Bảo Gia Lợi, cũng tìm thấy một chiếc bao bằng vàng đã lũng đầu, nằm giữa hai đùi một bức tượng nam, mà các nhà khoa học cho rằng, đây chính là hình thức chiếc bao cao su ngừa thai thời nay, phù hợp với sinh hoạt của phụ nữ lúc đó, phải làm việc để sinh tồn, nên cần ngừa thai cai đẻ.
Trong ngày lễ Valentine’s năm ngoái, lúc nam nữ trên thế giới đang tưng bừng ăn mừng vui chơi, để kỷ niệm cuộc tình của mình, thì các nhà khoa học Mỹ trong tổ chức ‘American Association for the Advancement of science‘ lại tuyên bố rằng ‘chuyện tình lảng mạng xưa nay cuả trai gái, chẳng là cái quái gì cả, vì đó chỉ là phản ứng hóa học của cơ thể, không hơn không kém‘.
Lời tuyên bố trên đã làm các vị thức giả bất bình, vì với họ thì tình yêu là một biểu tượng thiêng liêng nhất của con người, mà chưa ai định nghĩa nổi. Ðó là sự phát sinh nảy nở, do rung động của trái tim sâu thẳm, tạo nên các trạng thái yêu, ghen, hờn, hận và đam mê. Bởi vậy tình yêu làm sao có thể phát sinh từ ống nghiệm? Rồi thì càng ngày càng có nhiều nhà khoa học nhập cuộc, đưa thêm các minh chứng làm nền tảng cho lời tuyên bố trên, như bác sỹ người Úc Tony Furmar khi cho rằng :’trong tiềm thức của con người luôn luôn bị chỉ huy bởi một mệnh lệnh sinh học’. Xúc cảm và tình yêu cũng vậy, cả hai lĩnh vực này đều do não bộ và con tim phụ trách chung, qua sự luân lưu của hóa chất. Riêng kích thích tố ‘Hormone’ cũng là một vấn đề được đem ra bàn cãi và được tạp chí US New and World Report, dựa vào cuộc thử nghiệm chuột, để chứng minh tác dụng hửu hiệu của Hormone, mà khoa học gọi là ‘Dược Chất Tình Yêu’, khiến chuột cái và đực khắng khít hơn lúc bình thường.
Vì đây là sự phát hiện gây cấn nhất của thập niên cuối thế kỷ XX, nên càng ngày càng sôi nổi. Với tiến sĩ Helen Fisher của trường đại học New York, tác giả sách ‘Giải Phẫu Tình Yêu’, đã trưng ra các chất hóa học trong cơ thể con người, có tác dụng kích thích và gây mê nơi hai tâm hồn đang yêu thích. Ðó là các chất Adrénaline, Dopamine, Norepine, Phrine và đặc biệt là chất Phelylethylamine, thường được viết tắt là PEA. Riêng tiến sĩ Marta Frid của Úc, thì diễn tả trạng thái hóa học của con người, bị tiếng sét ái tình, sẽ có các phản ứng như hai bàn tay bịn rịn mồ hôi, mặt mày đỏ hồng nóng hổi, hơi thở dồn dập đứt đoạn. Tất cả đều là phản ứng của cơ thể, khi trung khu thần kinh, tiết ra các chất kích thích tố tới hệ thần kinh. Nhưng các hóa chất PEA cũng không tồn tại lâu dài trong cơ thể, giống như người bệnh quen thuốc. Ðó là trường hợp của các cuộc tình chết yểu, khi một trong hai kẻ yêu nhau đã lạnh nhạt qua tác dụng của chất PEA. Ngoài ra não bộ thường xuyên sản xuất chất giảm đau Endrophine, có khả năng làm phai nhạt bớt sự nồng cháy của đam mê. Thật ra từ năm 1906, các bác sỹ đã tìm được hóa chất Oxytocin tạo nên sữa mẹ của loài có vú (người cũng như vật) và các kích thích tố sinh dục Testosterone, Oestrogen… Tuy nhiên cuối cùng khoa học cũng khựng điếng, không trả lời được, vì sao các hoá chất trên, chỉ có tác dụng gây nên cảm xúc, yêu thương và đam mê giữa người vói người được chọn làm ý trung nhân hay bạn đời. Trái lại không có tác dụng gì hết đối với những người ngoại cuộc?
Nhưng dù có tuyên bố gì gì chăng nửa, thì tình yêu vĩnh cửu vẫn là nguồn hạnh phúc nhất trần gian, đối với con người. Từ đó qua thời gian nhân loại đã phát sinh ra nhiều tập tục, mang đầy ý nghĩa của Ngày Tình Yêu, lưu truyền cho tới hôm nay:
+ TUYÊN BỐ KẾT HÔN:
Tục này phát xuất từ thời Hoàng đế Charlemagne của Pháp (742-814). Lúc đó nước Pháp thường xảy ra các cuộc hôn nhân có tính cách loạn luân, do các người cùng huyết thống lấy lẫn nhau, làm băng hoại xã hội, khiến con cháu mang nhiều chứng bệnh di truyền. Ðể chấn chỉnh thuần phong mỹ tục, triều đình ra lệnh tất cả thần dân trong nước, phải ‘Thông Báo Kết Hôn‘, thời hạn bảy ngày trước khi làm lễ cưới. Mỹ tục này tới nay vẫn được liên tục và chấp nhận.
+ NHẪN KẾT HÔN:
Phát sinh từ đầu thế kỷ thứ V sau TL, trong xã hội của các dân tộc thuộc nhóm Anglo-Saxon. Thời đó, theo phong tục bó buộc chú rể tương lai, phải bẻ một vật gì để trao cho cô dâu một nửa và mình giữ phần còn lại. Năm 860 sau TL, Giáo Hoàng Nicolas đệ I, ban lệnh xuống các tín đồ Thiên Chúa Giáo, phải làm Nhẫn Ðính Hôn bằng vàng, để tỏ sự tín nhiệm của chú rể tương lai, đối với nhà gái.
Về nguồn gốc của chiếc nhẫn cưới cũng rất phức tạp. Với người Goths, thì đó là biểu tượng để cô dâu bị bắt cóc, phải ràng buộc với người chồng. Riêng cổ Ai Cập vào khoảng năm 1800 trước TL, thì việc hai bên trao đổi nhẫn cưới, để biểu lộ sự vĩnh cửu của tình yêu, vì với họ, vòng tròn là hình ảnh bất phân ly không bao giờ chia cắt. Tại Ấn Ðộ, người ta đeo nhẫn cưới vào ngón tay cái trái, còn dân Hébreux lại thích đeo ở ngón trỏ. Tuy nhiên theo sử liệu, thì chính người Hy Lạp mới là tác giả của tục đeo nhẫn cưới vào ngón áp út được phổ biến cho tới ngày nay. Chính các bác sỹ cũng xác nhận rằng, ngón áp út có thể gọi là ngón tay ‘tình yếu’, vì tại đây có một tĩnh mạch thông tới tận trái tim. Riêng đạo Thiên Chúa thì giải thích việc đeo nhẫn cưới vào ngón tay áp út như sau: ’khi đeo nhẫn vào ngón tay cô dâu, đầu tiên chú rể chạm chiếc nhẫn vào ngón tay trỏ rồi niệm nhân danh Cha, kế tới là ngón giữa nhân danh Con và cuối cùng đeo nhẫn vào ngón áp út, khi niệm Thánh Thần và Amen.
+ PHÙ RỄ:
Vào thế kỷ thứ I trước TL, các dân tộc Goths (tổ tiên người Ðức), có tục lấy vợ cùng làng, nên đã xảy ra nhiều trường hợp ngang trái vì không vừa bụng. Do trên nhiều ngươi đã phải bắt cóc các cô gái khác làng để đem về làm vợ. Phong tục này phải nhờ một người bạn giúp đỡ, gọi là phù rễ. Buổi đó, người phù rể vừa là đại diện của đàng trai cũng như người bảo vệ chú rể chống lại các hành động của bên vợ. Ngày nay, người rễ phụ có nhiệm vụ giữ nhẫn cưới của hai họ.
+ TỤC CÔ DÂU ÐỨNG BÊN TRÁI CHÚ RỂ:
Tục này cũng phát xuất từ dân tộc Goths. Do sự bắt cóc gái về làm vợ, nên chú rể lúc nào cũng sợ bị trả thù. Do đó trong ngày cưới, đã có sự sắp xếp cô dâu đứng bên trái chàng rễ, để anh ta dùng tay trái ôm giữ nàng, còn tay mặt được tự do để ứng phó kịp thời với bất trắc do đàn gái gây ra.
+ ÁO CƯỚI MÀU TRẮNG:
Phong tục này chỉ xuất hiện sau năm 1830. Trước kia cô dâu mặc áo cưới màu vàng theo cổ tục của toà thánh La Mã.
+ TUẦN TRĂNG MẬT:
Phong tục này cũng phát xuất từ người Goths. Vì hành vi bắt cóc người đẹp về làm vợ, nên sau khi đám cưới xong, chàng phải dắt nàng đi trốn, để tránh sự phiền phức từ bên vợ. Trong thời gian này, cô dâu chú rể phải uống mỗi người một cốc rượu vang làm bằng mật ong.
+ NHỮNG CHUYỆN LẠ TRÊN THẾ GIỚI VỀ HÔN NHÂN:
Người Nhật ngày nay tổ chức hôn lễ theo phong tục tây phương, cô dâu mặc áo cưới màu trắng đeo nhẫn cưới. Song song với lễ cưới mới, người Nhật vẫn giữ phong tục tập quán cổ truyền của tổ tiên. Ðó là trong ngày cưới, vợ chồng cùng uống chung một ly rượu Sake. Cô dâu không mang khăn voan nhưng lại đội một cái mũ lớn để che cặp sừng của mình. Ðây cũng là quan niệm của người Nhật, vì chỉ có hạng đàn bà hung dữ ghen tương hiếp chồng, đầu mới có sừng.
Với các dân tộc Âu Mỹ, trước một ngày tân hôn gọi là ‘Wedding Shower‘, cô dâu và chú rể có quyền quậy phá, để rồi ngày mai vĩnh viễn giã từ cuộc sống độc thân tự do. Nhưng đề tài để cô dâu quậy phá, cũng vẫn là chuyện bếp núc và chuẩn bị cuộc đời làm vợ làm mẹ. Trong dịp này, cô dâu được cha mẹ cũng như gia đình cho của hồi môn để theo chồng. Nhiều phong tục cổ xưa nay vẫn còn thịnh hành tại Mỹ, như trong ngày cưới cô dâu phải mang trong mình bốn món đồ bắt buộc gồm có: Món đồ cũ của gia đình mình (thông thường là khăn tay của mẹ ruột), món đồ mới của nhà chồng (chiếc áo cưới), một món có màu xanh lơ (sợi dây nịt) và một món mượn của bạn (nữ trang).
Với người Ðức, họ tin rằng con số 8 là biểu tượng của sự may mắn trong tình yêu, nên vào ngày 8/8/1988 thanh niên nam nữ cả hai miền Ðông và Tây Ðức, đổ xô nhau đi làm đám cưới. Ngoài ra người Ðức đeo nhẫn cưới bên tay phải. Tại Áo, phong tục cô dâu khi bước vào nhà chồng, phải liệng vào lò sưởi hay bếp lò, một sợi tóc mai, tục này nay vẫn còn tồn tại ở miền quê.
Tại Anh, khi cô dâu chú rể ra khỏi nhà thờ, được mọi người ném gạo vào mình, mục đích chúc phúc và có con cháu đầy nhà. Người Trung Hoa, khi cô dâu lên xe hoa về nhà chồng phải khóc sướt mướt. Ðây là quan niệm có từ ngàn xưa, vì với người Tàu, hôn nhân là cuộc phân ly tử biệt. Người con gái khi bước lên xe hoa về nhà chồng, coi như cũng kết thúc cuộc sống chung với gia đình mình (xuất giá tòng phu). Theo các tài liệu cổ xưa, người Tàu đã biết giáo dục con cái về chuyện phòng the rất sớm. Trong tác phẩm ‘Bạch Hổ Thông‘ có ghi rằng, năm 79 sau TL, vua nhà Ðông Hán đã cho triệu tập, một cuộc họp toàn quốc, gồm các nhà học thuật, sử gia, thầy thuốc tên tuổi, để nghiên cứu về vấn đề giáo dục dân chúng trong lãnh vực tình dục. Cũng theo tác phẩm trên cho biết, con cháu nhà quí tộc, quan quyền từ 15-20 tuổi, phải nhập trường để học hỏi về tình dục, hôn nhân. Nói chung cha mẹ chỉ dạy dỗ con cái qua lối ám thị, một hình thức nhắc khéo mà thôi. Do đó, con gái trước khi về nhà chồng, người mẹ lén bỏ vào rương hồi môn của con gái, gọi là ‘Áp Rương Ðầy‘. Thật ra đây chỉ là một pho tượng làm bằng đất nung, tạc hình đôi nam nữ trong tư thế đang giao hoan. Ngoài ra còn thêm một vật khác gọi là ‘Giá Trang Họa‘. Ðây là một bức tranh vẽ đủ kiểu ân ái của nam nữ. Mục đích của người mẹ muốn truyền lại cho con gái mình kinh nghiệm, thực hành trong đêm tân hôn.
3- NHỮNG NGHỆ THUẬT GỢI TÌNH:
HÔN là một trong những cử chỉ để biểu lộ sự yêu thích nồng cháy, là khúc dạo đầu của lạc thú ái ân, là sự quyến rũ mê ly hứa hẹn mật đường, là nét gợi tình trên khuôn mặt. Bởi vì khi yêu nhau, con người phải vận dụng đủ năm giác quan như nhìn, sờ, nếm, ngửi và lịm hồn để lắng nghe sự rung động hòa nhịp của hai trái tim nam nữ. Khi hôn nhau, cơ thể của hai người đã phát tiết ra những kích thích tố gợi tình như Hormone Testosterone, làm cho nước bọt trở thành ngọt dịu, khiến cho đôi nam nữ thêm chao đảo, như vừa hớp xong một ly rượu mạnh. Nụ hôn đã làm cho Thần Pan, phải đảo điên si mê cuồng dại nữ thần Syrimt, đến độ khi nàng biến thành khóm trúc để lẩn trốn tình yêu, thì chàng lại dùng thân trúc để chế thành ống tiêu. Rồi ngày ngày chàng ngây ngất, lướt môi trên thân trúc, để tưởng tượng như mình đang hôn hít người yêu, một đời thầm thương trộm nhớ. Paul Bandecroux, một nhà chế tạo chất hóa học người Pháp, vào khoảng thập niên 30 của thế kỷ XX, đã phát minh được loại son môi Rouge Baiser. Ðặc điểm của loại son này, làm cho làn môi luôn luôn hồng thắm với viền môi tuyệt hảo, dù chàng-nàng có đắm đuối hôn hít loạn cuồng. Nụ hôn theo chân con người trong mọi sinh hoạt. Năm 1896 lần đầu tiên nhà đạo diễn đựng cảnh hôn hít trên màn ảnh tại Las Vegas, gây sự sửng sốt thích thú của giới trẻ, đồng thời cũng tạo nên làn sóng chống đối của những nhà đạo đức thời đó. Nhưng rồi theo thời gian, càng lúc càng có nhiều người ưa thích hoạt cảnh trên, đưa màn hôn hít lên ngai hoàng đế, trong nghệ thuật thứ bảy tại Hồ Ly Vọng.
Nhưng cũng tùy theo phong tục và tập quán của mọi miền đất trên thế giới, nụ hôn được chấp nhận hay bị cấm đối. Âu Châu đến nay có nhiều vùng, hôn hít nơi công cộng bị kết tội là công xúc tu sĩ. Ðặc biệt hầu hết gái buôn hương bán phấn, không thích hôn khách mua hoa. Phương Ðông, người Trung Hoa cho rằng hôn hít là hành động sỗ sàng khiếm nhã, còn Nhật thì gọi đó là thú tánh man rợ, dù họ đã chấp nhận Âu hóa từ thế kỷ XIX.
Có điều lạ là hầu hết các tài liệu xưa còn sót lại, cho thấy người Tàu đã biết chuyện hôn hít từ năm 2000 trước TL. Nhiều tranh vẽ cảnh trai gái hôn nhau, cũng được tìm thấy trong các quan tài bằng đá ở Sơn Ðông, Tứ Xuyên. Bức tranh ‘Bi Hi Ðồ’, được xem cổ nhất của Trung Hoa, vừa được sưu tập trong quan tài, tại Huyện Vĩnh Kinh (Sơn Ðông). Tranh cở 7cm x 232 cm, vẽ cảnh âu yếm của một cặp trai gái, người đàn ông dùng tay nâng cằm của người đàn bà và cả hai đang hôn hít đắm đuối mê ly. Một Bi Hi Ðồ khác cũng vừa tìm thấy trong một ngôi mộ cổ thời Ðông Hán, tại Doanh Huyện (Sơn Ðông), có cỡ 38cm x 88cm, vẽ cảnh một nam hai nữ đang tình tự hôn hít. Trong Hán Tự ngày nay, người Tàu dùng chữ ‘Tiếp Vận‘ để chỉ Nụ Hôn. Nhưng ngày xưa văn tự chưa được phong phú, nên phải dùng thành ngữ để chỉ hành động. Trong Tố Nữ Kinh viết từ thời Hán, tác già dùng thành ngữ ‘Hàn Khẩu-Ðoản Nhiệt‘, có nghĩa là ngậm môi, nút lưỡi, để diễn tả sự yêu đương bằng miệng. Ðến đời Nguỵ-Tấn, lại thấy xuất hiện thêm động từ ‘Ô-Dù‘, trong hai tác phẩm ‘Thế Thuyết Tân Ngữ và Tứ Phân Luật Tạng‘, để chỉ nụ hôn, thay thế các thành ngữ cũ. Ðời Ðuờng, thêm nhiều từ ngữ như ‘Lưỡng Thần Ðối Khẩu, Thiệt Nhập Kỳ Khẩu‘, làm cho nụ hôn càng ngày càng thêm phong phú. Qua đời Tống-Nguyên, Phật Giáo Mật Tông của Tây Tạng, theo gót quân Mông vào Trung Nguyên, du nhập thêm những hình tượng ‘Hoan Hí Phân‘ miêu tả hành động trai gái yêu đương hôn hít. Từ đó đã mở đường cho sự phát triển các tranh ảnh dân gian, về nụ hôn nơi công cộng. Hiện tượng này càng ngày càng trăm hoa đua nở, mà nổi bật nhất là tác phẩm ‘Kim Bình Mai Từ Thoại‘ của Lan Lăng Tiến tiên sinh, đã diễn tả hơn 100 kiểu hôn đầy hấp dẫn sôi động. Song song với tác phẩm gơi tình này, còn có nhiều Bi Hí Tự Ðồ, đời Minh với 24 trang khắc bản đính kèm trong sách ‘Hoa Doanh Cẩu Trận‘, diễn tả cảnh nam nữ khoả thân, đang ngồi trong bồn tắm hôn hít. Nhiều danh từ mới xuất hiện trong Hán Tự, chỉ nụ hôn như ‘Thâm Chủng, Tế Chủng, Tố Liễu Cá Lữ Tự …’
Tóm lại Nụ Hôn là một nghệ thuật yêu đương độc đáo của con người, tạo được một khóai cảm nồng cháy, khi môi chạm môi, mặt đối mặt, làm tăng thêm hương vị ngọt ngào quyến rủ, như người xưa đã viết
‘chàng đuổi thiếp về
thiếp hướng về chàng
trò chuyện thỏa thê
còn sung sướng hơn cả động phòng
chàng ôm thiếp
thiếp ôm chàng
gót sen nhón lên
môi chạm môi ngọt hơn đường…’
Trong khi đó người Ý lại tự nhận mình là dân tộc đầu tiên, đã phát minh ra nụ hôn, vì thời thượng cổ, chỉ có đàn ông Ý mới được quyền uống rượu. Do trên mỗi khi vắng nhà, khi trở về, việc đầu tiên là chồng phải ngửi môi vợ, xem nàng thừa lúc chàng đi vắng, có uống rượu trộm không. Ðó là nguyên nhân phát sinh ra nụ hôn. Từ đó mọi người bắt chước hôn hít, sử viết vua Louis III của Pháp, đã ban tặng nhiều châu ngọc, vàng bạc, kim cương cho phi tần khi họ đến hôn ông ta. Thế kỷ XIV-XV, tại Âu Châu có nạn dịch truyền nhiễm qua đường miệng, nên thời gian đó nụ hôn bị gián đoạn và cấm chỉ. Nhưng sau đó khi bệnh dịch đả dứt, nụ hôn lại được thịnh hành và ngày nay, hôn được coi như một nghi thức xã giao tự nhiên của con người, nhất là tại các nước Âu-Mỹ.
Tóm lại ngày nay có hằng kiểu hôn nhưng chung qui vẫn gồm ba loại: Hôn để xã giao, Hôn để biểu lộ tình cảm và Hôn lứa đôi. Theo tổng kết của tờ Madame Figaro Magazine, thì các nước Anh, Mỹ, Tàu, Pháp, Ý, Ấn Ðộ… rất thích hôn môi, để biểu lộ tình yêu. Ðúng như sự nhận xét của các văn nhân nghệ sỹ: ‘Nụ hôn là mùa xuân đẹp nhất của tình yêu, là tinh hoa của trời đất vũ trụ …’
Ngoài nụ hôn, để giữ hạnh phúc tình yêu, con người còn phải biết TRÁNG DƯƠNG BỔ THẬN để thắp sáng ngọn lửa tình. Ðây là phong cách của các đấng mày râu nhằm bảo đảm tình yêu vĩnh cửu. Ngày nay có nhiều liệu pháp trị liệu như Testosterone, DHEA, Hormone.. chỉ là sự nối tiếp theo bước chân của tổ tiên thời xưa, trên đường đi tìm dược thảo, dược liệu để mong trường sinh bất lảo, bồi bổ sinh lực, duy trì tuổi thanh xuân.
Con người không ai không ham muốn, ngoại trừ các bậc thánh nhân đã đạt tới trình độ thiền tâm thiện ý thượng thừa. Do đó từ các nguồn sử liệu còn sót lại, ta biết Hoàng đế cổ Ai Cập là Tutankhamun ăn rể cam thảo mỗi khi gần Hoàng hậu. Với các Hoàng đế Gincomo, Catanova thì cho rằng sò và kẹo chocolat làm tăng cường khả năng tình dục. Ngay cả Shakespeare viết trong tác phẩm ‘Lái Buôn Thành Vienne‘ cũng ca tụng các loại dược thảo thần diệu, thắp sáng được ngọn lửa tình nơi những kẻ cao niên, cải lão hoàn đồng.
Tại Ấn Ðộ có bộ kinh Kama Sutra viết về chuyện phòng the với nhiều chi tiết thật mới mẽ, nếu so với ngày nay.
NƯỚC HOA hay hương thơm của tình yêu, cũng là một sự quyến rũ kỳ diệu. Thật vậy, chỉ cần có một vài giọt nhỏ nước hoa trên cổ, trên da của một người đàn bà, cũng đủ làm khựng điếng các đấng nam nhi, gọi mời cả hai bước vào con đường thênh thang của tình ái, sau đó chuyện gì sẽ xảy ra, nào ai biết được. Ðây cũng là chuyện củ rích, vì ngay từ năm 4600 trước TL, phụ nữ cổ Ai Cập đã biết dùng nước hoa, để làm lợi khí trong tình yêu. Trong lúc gần như nhân loại trên trái đất còn ăn lông ở lỗ, thì tại xứ Kim Tự Tháp, thì người Ai Cập đã đắm chìm trong lạc thú ăn chơi xa hoa trụy lạc. Nhiều bằng chứng thời đó, được các nhà khảo cổ tìm thấy trong các ngôi mộ, điển hình là các bó hoa khô (Pulicaria o Inducata), được dùng để phũ trên quan tài đá ở Héluoan (Le Caire). Tại mộ vua Toutan Khamon, có nhiều hoa và những lọ nhỏ đựng một loại rễ cây, có tác dụng xông mùi hương. Nhiều bức họa tường vẽ cảnh các phụ nữ đang dự tiệc, người nào cũng trang điểm bằng hoa sen và đội vòng hoa trên đầu. Nhiều bức họa còn hướng dẫn cách nấu dầu thơm. Tại thành phố sa mạc Héliopolis, người ta đốt nhựa hương buổi sáng, nhựa thông buổi trưa và hương liệu hỗn hợp Kumphi vào ban đêm, để không khí luôn luôn thơm tho thanh thoắt. Nói chung, hầu như các thành phố của cổ Ai Cập, nhà nào cũng có vườn hoa. Ngoài phố, dọc theo đường có các trụ đèn thiết kế hình cánh tay, cầm một cốc nhỏ đựng các hương liệu, dùng để đốt ban đêm. Theo sử liệu, thì dân tộc Ai Cập đã phát minh đầu tiên các loại dầu thơm, để chà xát cơ thể khi tắm gội. Phương thức này, về sau được hai đế quốc Hy Lạp-La Mã bắt chước, khi họ chiếm Ai Cập. Những loại thuốc bôi da, giữ gìn nhan sắc cho người phụ nữ, cũng đước chế tạo sớm nhất ở Ai cập và vẫn được lưu trữ trưng bày tại các viện bảo tàng Ba Lê, Luân Ðôn… Ðây là các sản phẩm có từ 4000 trước TL, gồm dầu thơm, thuốc bôi da làm bằng hợp chất cây Kinh Giới Ô (Origan), quả hạnh, nhựa trầm hương, nhựa Ả Rập…
Sử dụng hương liệu để chế biến dầu thơm cũng như dùng hoa lá làm vật trang điểm, là ước lệ muôn đời của phụ nữ Châu Phi. Tại Turisia, người đàn bà dùng bột cây Dier để chế một loại thuốc bôi da, có mùi thơm chất ngất gợi dục. Phụ nữ Ai Cập thích tô mặt bằng phấn trắng-đỏ, trộn chung với bột vàng mua tại các tiệm kim hoàn. Ngoài ra cây lá móng tay cũng là dược liệu quan trọng, để chế tạo các hương liệu tình yêu, vì hoa của nó có mùi hương rất nồng nàn, được người La Mã dùng chế tạo thuốc nhuộm tóc. Nhưng phụ nữ Ai Cập thì lại dùng nó để bôi vào gan bàn tay hay sơn móng tay chân và bôi trên tóc trong các bửa tiệc, để tạo thêm sự quyến rũ đối với nam giới.
Ngày nay nuớc hoa được sản xuất khắp thế giới. Tuy nhiên Ai Cập cũng vẫn là nước được ưa chuộng trong ngành chế tạo các hương liệu cổ truyền. Các sản phẩm này lúc nào cũng được trưng bày tại các Hội chợ quốc tế Kham Khalil và bán với giá thật cắt cổ vì phương thức cất nước hoa của người Ai Cập bí truyền. Sáu mươi năm về trước, Grasse là kinh đô nước hoa của Pháp và cả thế giới. Nhưng nay thời đã biến đổi, địa điểm trên đã bị đô thị hóa, ảnh hưởng đến các cánh đồng hoa. Tình trạng trên cũng đã xảy ra tại Ai Cập là cái nôi sản xuất hương liệu. Do trên các nhà sản xuất nước hoa ngày nay, đã phải lặn lội đi tìm nguyên liệu mới. Ðó là cánh đồng Hoa Chanh trên đảo Sicile ở Ý, rừng Hoa Nhài trên khắp các cánh đồng hoa Ấn Ðộ, Hoa Hồng tại Ðông Phi.. tất cả đều được chọn giống chính từ các cánh đồng hoa ở Grasse . Tuy nhiên phương pháp chế tạo nước hoa ngày nay đã được kỹ thuật hóa, làm tăng thêm sự quyến rũ kỳ diệu của nước hoa, giúp cho con người gợi lại bao kỷ niệm hương xa.
Trong lúc các người đẹp khắp hoàn cầu, tận dụng mùi hương để tạo thêm sự quyến rũ của phụ nữ, thì cũng là lúc có không biết bao nhiêu người phải đổ mồ hôi vất vả, để chăm sóc, vun xới các cánh đồng hoa cho chúng luôn luôn nở rộ. Họ làm việc thật là khổ nhọc từ Midi của Pháp, qua tới Ispainta (Thổ Nhĩ Kỳ). Từ Cap Bon ( Tunisia ), Madagascar cho tới Tamil Nadu và Karuataka (Ấn Ðộ). Tất cả các cánh đồng hoa trăm hương ngàn tía, thi nhau khoe sắc nõn nường, với đủ các loại Hoa Hồng Damascena, Hoa Công Chúa Ylang-Ylang, Hoa Chanh, Hoa Quít, Hoa Nhài… Riêng công ty nước hoa lừng danh nhất thế giới hiện nay là CHANNEL vẫn giữ đúng truyền thống của nữ chủ nhân sáng lập Coco Channel, cũng là nữ điệp viên ngoại hạng của Pháp, chuyên dùng loại HOA LÀI, để chế tạo loại nước hoa số 5. Công ty này hiện có rất nhiều cánh đồng hoa lài, trên rặng núi Alpes và Ấn Ðộ.
Nhưng không phải hoa nào cũng đều có mùi hương giống nhau, dù là đồng loại. Tất cả đều phải lệ thuộc vào giống chính, đất đai, khí hậu… cho nên chỉ có các chuyên viên mới có đủ tư cách phân loại hoa, giống khi quyết định chế tạo nước hoa. Ngày nay các công ty đã chế tạo được máy Ðo Mùi Vị (Olifactomètre) , để phân biệt các lọai hoa nhưng tựu trung cũng không làm sao sánh nối với cái mũi kỳ diệu của các chuyên viên, trong đó nhiều người đã phân biệt được tới 200 loại mùi hoa. Nhờ vậy các bà các cô mới có đủ các loại nước hoa như Antaeus, Coco Channel, Égoiste, Jacghes… để cho tình yêu chấp cánh.
Tóm lại tan vở và hạnh phúc đều là khía cạnh tâm lý thường trực của con người. Bởi vậy đã có nhiều cặp vợ chồng sống chung nhau tới trọn đời, trái lại cũng không ít đôi uyên ương phải ngậm ngùi chia ly ngăn cách vì bao nhiêu ngang trái trùng hằng. Cho nên muôn đời Tình Yêu vẫn là sự bí mật vĩnh cửu, vì vậy không trách Xuân Diệu đã viết:
‘Yêu là chết trong lòng một ít,
Vì mấy ai yêu mà chắc được yêu
Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu
Người ta phụ hay thờ ơ chẳng biết…’
Bởi thế làm sao định nghĩa nổi tình yêu ?
Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 2-2009
Hồ Đinh
Đảo Tình nhân
Một hòn đảo nhỏ có hình trái tim trong biển Adriatic bỗng nhiên nổi tiếng và trở thành điểm đến hấp dẫn vào Ngày tình nhân (14-2) sau khi được khám phá trên Google Earth.
Thậm chí chủ nhân hòn đảo không có người ở này không biết hòn đảo có hình trái tim hoàn hảo ngoài khơi Croatia cho đến khi ông được nhiều người đang yêu xin được ghé thăm đảo. “Thật không thể tin được. Chúng tôi nghĩ đây là hòn đảo hình trái tim hoàn hảo nhất thế giới” - chủ nhân Vlado Juresko nói. Gia đình ông hiện sở hữu hòn đảo rộng 155,6km2 tên Galesnjak, đã nhanh chóng đặt tên lại là đảo Tình nhân.
“Không ai sống ở đó nên nếu cặp tình nhân nào thật sự thích bỏ thời giờ lưu lại trên đó thì đúng là một hòn đảo vắng vẻ hoàn toàn. Chúng tôi từng nghĩ hòn đảo này trông hơi giống trái tim nhưng kể từ khi nó được nhìn thấy trên Google Earth thì ai cũng muốn lưu lại trên đó” - Juresko tự hào.

Hòn đảo có hình trái tim hoàn hảo - Ảnh: AFP
Thậm chí chủ nhân hòn đảo không có người ở này không biết hòn đảo có hình trái tim hoàn hảo ngoài khơi Croatia cho đến khi ông được nhiều người đang yêu xin được ghé thăm đảo. “Thật không thể tin được. Chúng tôi nghĩ đây là hòn đảo hình trái tim hoàn hảo nhất thế giới” - chủ nhân Vlado Juresko nói. Gia đình ông hiện sở hữu hòn đảo rộng 155,6km2 tên Galesnjak, đã nhanh chóng đặt tên lại là đảo Tình nhân.
“Không ai sống ở đó nên nếu cặp tình nhân nào thật sự thích bỏ thời giờ lưu lại trên đó thì đúng là một hòn đảo vắng vẻ hoàn toàn. Chúng tôi từng nghĩ hòn đảo này trông hơi giống trái tim nhưng kể từ khi nó được nhìn thấy trên Google Earth thì ai cũng muốn lưu lại trên đó” - Juresko tự hào.

Hòn đảo có hình trái tim hoàn hảo - Ảnh: AFP

Những Vết Chùng
Hoàng Thao Ca hát là một hình thức bộc lộ cảm xúc hoang sơ và dữ dội nhất nếu người hát trút hết hồn mình trong thanh âm. Và vì thế, lắng nghe tiếng hát cảm xúc của ai đôi khi lại giống như việc nhìn trộm qua lỗ khóa tâm hồn của một người rồi hốt hoảng nhận ra chính mình cũng đang hiện diện trong chính cái nơi khuất lấp đó. Ðó chính là sự đồng cảm và giao hòa.
Em vẫn đó tôi một đời hối tội / Em hiền lành, tôi quỷ dữ trần gian / Trong tiếng nấc, em nghẹn ngào không nói / Tôi cúi đầu day dứt cuộc tình đau -- (Em vẫn đó)
Sự giao hòa đáng sợ! Bạn có nhận ra mình trong ký ức vừa vụt hiện kia? Cái còn lại sau một chặng đời đã đi qua dường như chỉ là một nỗi trống vắng mênh mông rót tràn miệng cốc cô đơn. Bao nhiêu rượu cũng không pha loãng được khối chán chường đặc quánh. Nỗi chán chường không tan trong giai điệu u uất của tiếng hát.
Cố níu bức tranh cuộc đời / Vung tay vẽ đôi vòng cuồng / Vụng về bao vết loang điên / Mệt nhoài thân xác miên man -- (Chán)
Ca khúc bộc lộ chính những trải nghiệm của đời riêng là thứ âm nhạc áp đảo. Tiếng hát phóng thích những tâm sự ra khỏi lồng ngực thành những sinh vật có nanh vuốt, bay nhảy, cào cấu vào tiềm thức người nghe, buộc họ phải nhớ những điều muốn quên, phải bày tỏ những điều muốn che giấu.
Có một chặng đời cuồng điên lầm lỡ / Rao bán yêu thương, đốt cháy linh hồn / Con thiêu thân mù quáng / Nhóm lửa cuộc tình, Ta đốt đời ta -- (Những vết chùng)
Những lời hát gần như lời tự thú ấy rốt cuộc lại càng khiến người nghe thêm đau nỗi khát khao thú tội của chính mình. Tác giả tâm sự nhưng không hề giãi bày, nêu câu hỏi nhưng chẳng trả lời, buộc ta tự vấn bằng chính những hồi ức vụn vỡ, mờ nhạt, xa xăm, ẩn hiện. Những mảnh lập thể hồi vọng giữa âm nhạc và cảm xúc ấy là ấn tượng đọng lại của "Những Vết Chùng" - CD đầu tay của một tác giả nữ mang tên Thụy Mi mới xuất hiện trong làng nhạc hải ngoại.
Có một chặng đời, chờ nhau vật vã / Ai đứng bên kia, vướng mắc nợ người / Ta bên này rệu rã, trĩu nặng gánh đời / Câu hứa phai phôi -- (Những vết chùng)
Một tác giả nữ mà đau đời đến vậy? Những tâm sự này đâu phải chỉ mình cô riêng mang? Mười tự khúc trong CD của Thụy Mi, qua các giọng ca Tuấn Ngọc, Thanh Hà, Nguyên Khang, Diễm Liên, và tác giả dường như là tâm tình của tất cả chúng ta, là "những vết chùng" giăng mắc trong mỗi tâm hồn. Hãy nghe "Những vết chùng" để thấy mình được chia sẻ cùng Thụy Mi và được Thụy Mi chia sẻ với chính mình.
Hoàng Thao (Source: Vim-Online)
Thụy Mi: Những Vết Chùng Tôi thích nhất bản Những vết chùng trong album này của Thụy Mi. Tiếng hát của chị trong bài hát này thật mênh mông và day dứt. Giọng hát trầm ấm của chị thể lột tả hết được điều ẩn giấu rất sâu trong bài hát. Nhiều câu hát trải dài tạo cảm giác mênh mang như đang bềnh bồng trôi giữa những con sóng nhưng cũng có những câu hát là những điểm nhấn mà người ca sĩ hát như rút ruột :
... '' Ôi, những vết chùng của nguời
Tim xanh chợt úa
Ôi, những hố rộng cuộc đời
sa chân nghiệt ngã
Những ngõ hẹp lòng người
bao dung cạn rồi
Còn ta ngỡ ngàng hỏi đời, vết chùng nào vơi ?''
Tôi cảm nhận được chất Thụy Mi trong bài hát này. Vẫn là một Thụy Mi với không gian và thời gian lẫn lộn giữa thực tại và quá khứ, Thụy Mi với nỗi khát khao quắt quay thoát khỏi những ám ảnh để về với bến bờ của bình yên.
Câu hỏi không có lời giải đáp như tình yêu mãi luôn là ẩn số nhưng nỗi đam mê luôn là nguồn sống lấp lánh trong các ca khúc của Thụy Mi.
Những ca khúc của Thụy Mi cũng giống như " Chiều đông" trong câu hát của chị vậy, không có cái vinh quang của sự ồn ào , không phải những màu sắc khiến ta choáng ngợp. Chúng mang màu sắc của hoài niệm, chúng là tiếng nói của ký ức được gột rửa qua thời gian. Nhưng đằng sau sự hoài niệm là tiếng reo thầm kín của một tâm hồn, của thời gian.
Và như thế sau những nỗi buồn tuyệt vọng ta lại thiết tha yêu cuộc sống này hơn bao giờ hết.
Và như thế Thụy Mi, Những Vết Chùng.....
Hoa Sua (source: Vim-Online).
Về Thụy Mi... Sự lang thang đôi lúc vẫn dẫn đến mối kỳ ngộ. Tôi vào website của Thụy Mi, gặp những dòng tâm sự của chị và... bị giữ "tai" vì dòng nhạc với cái tên "Tự khúc Thụy Mi - Những vết chùng". Có lẽ sẽ rất vô cớ nếu lôi tất tật những người có giọng hát được nhiều người đánh giá là "nghe được", từng phát hành CD để mà giới thiệu. Nhưng với Thụy Mi - một giọng ca trình bày những ca khúc do chính mình sáng tác lại là một trường hợp đáng được ghi nhận.
Thực ra “Những vết chùng” - album đầu tay của nữ ca sĩ - nhạc sĩ Thụy Mi đã phát hành từ năm 2004. CD gồm 10 ca khúc với 5 ca khúc pop, 5 bản theo thể blue-jazz qua giọng hát của các ca sĩ Thụy Mi, Tuấn Ngọc, Thanh Hà, Nguyên Khang và Diễm Liên. Tuy nhiên, nghe chính tác giả trình bày, thính giả lại cảm thấu âm nhạc dưới một góc cạnh khác. Bởi CD "Những vết chùng" là những tâm tình của Thụy Mi dành cho bản thân, cho gia đình.
Thụy Mi bắt đầu học đàn guitar khi lên 8. Kiến thức nhạc lý của chị được "bồi dưỡng" từ quá trình sinh hoạt ca đoàn nhà thờ. Đến Mỹ năm 1990. Trong thời gian học đại học, chị cũng theo học vài khóa về blue jazz, và world music tại trường Mesa Community College và San Diego State University. Nghề chính của chị là kỹ sư về software, thiết kế web.
"Em vẫn đó" là ca khúc đầu tay của Thụy Mi được chị sáng tác vào năm 2000. Thích những bản nhạc êm đềm, trữ tình, Thụy Mi mang sự sâu lắng, có tính chất triết lý vào trong những tác phẩm của chị. Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên nghe CD "Những vết chùng" đã nhận xét: "... Rất thích thú vì những ý nhạc mới, những lời ca buồn, sâu lắng đã đến từ Thụy Mi, một người nữ nhạc sĩ trẻ. Từ lâu, tôi vẫn nghĩ một ngày nào đó sẽ có dịp thưởng thức những dòng nhạc mới như thế này, và hôm nay đã được nghe từ những tự khúc của Thụy Mi, thật jazzy, và độc đáo... Cám ơn những đóng góp mới mẻ của Thụy Mi vào vườn hoa âm nhạc Việt Nam ở hải ngoại".
Nhạc của Thụy Mi thích hợp trong một không gian nhỏ, ấm. Lời ca mang tính giãi bày dạng như "Níu lấy đời nhau" :
Bản nhạc "Chiều đông" (sáng tác: Thụy Mi)
"Em thôi ngồi đan mộng dài, anh thôi ôm cánh vai gầy
Bên gương em dáng u hoài, anh bên rượu tìm lãng quên
Yêu đương, cuộc vui của người, tan theo cơn lốc tháng ngày
Xoay thêm chiều sâu vực tình, tâm hồn rách nát, hư hao
Níu lấy đời nhau, người ơi!
Tuy mang bao vết nhọc nhằn
Cây xanh, nay hóa cội cằn
Vẫn còn nụ chồi mong manh".
Chất giọng hơi khàn, có đôi chút bất cần của Thụy Mi rải từng chữ gọn ghẽ, đầy đủ nghĩa mà chị muốn tỏ bày. Bản nhạc "Hóa thân" của Thụy Mi đủ sức kéo người yêu nhạc tua lại nghe thêm vài lần:
"Rũ yêu thương
Bỏ ta nơi ấy Em đi
Vội!
Để rồi từ đó Ta về
Làm loài sâu nhấm lá sầu
Nhánh Ta cạn, kiếp sâu khô
Thay thân giữa đời
Mặc Ta là Bướm
Đời Ta mệt ngã
Em quay lưng với thờ ơ
Ngoảnh mặt khi Ta suy tàn sắc
Trơ thân khô về xác sâu
Úa phai mau,
Một màu hương phấn Ta vay
Tàn!
Cuộc đời lẩn trốn Ta về
Cuộn vào vỏ kén Ta nằm
Nhớ một thời, hóa thân Ta
Chiêm bao giữa đời
Lẽ yêu thương
Bởi là sâu, Bướm Ta mơ
Là tình, Em chối bao dung
Chẳng ngại, Ta hóa thân thêm
Lẽ yêu thương, mãi không cùng".
"Xin một lần về với cội nguồn. Một lần xoa dấu muộn phiền. Tìm làn hơi ấm, vỗ giấc ru êm. Cho dấu yêu, thấm ướt môi mềm".
"Lẽ yêu thương" của Thụy Mi phải chăng là mở trái tim ôm tất cả vào lòng như lời tự sự của chị: "Tôi đến bên đời cảm nhận yêu thương, khắc khoải, suy tư, chán nản, nuối tiếc. Tất cả cô đọng, gói gọn, chất chứa... gửi đến Người "Tự khúc Thụy Mi". Một trong những mong ước để thành danh của ca - nhạc sĩ Thụy Mi chính là để "làm một điều gì đó giúp đỡ những nạn nhân do thiên tai bão lụt và những trẻ em mồ côi khuyết tật nơi quê nhà".
Không gian trong nhạc của chị vừa tạo vẻ bao la vô định, vừa mang sự háo hức, bồi hồi. Một chiều đông. Người lữ khách thả từng bước chân buồn tênh trên mặt đường vắng. Bước chân liêu xiêu, hay nỗi nhớ cố hương đang liêu xiêu trong niềm bâng khuâng của không gian biệt ly với những "cây trơ cành côi"? Sầu về theo từng bước chân để người tha phương phải thốt lên: "Xin một lần về với cội nguồn. Một lần xoa dấu muộn phiền. Tìm làn hơi ấm, vỗ giấc ru êm. Cho dấu yêu, thấm ướt môi mềm".
Mang trái tim mong manh của một người nữ chị hóa thân vào vai nam để "gần hóa" những ước mơ rất nữ tính, lãng mạn của một người phụ nữ. "Tôi sẽ mang thơ dệt mộng lành. Đan làn sương hạt với non xanh. Cho em khoác ấm mùa đông giá", "Tôi sẽ đưa em dạo vườn hồng", "Mang đến cho em vườn địa đàng", "Tôi sẽ theo em trọn cuộc tình. Cho đời thôi chợt những điêu linh", "Tôi sẽ yêu em cả một đời. Núi mòn sông cạn vẫn không vơi"...
Chị là "lính mới" trong làng âm nhạc hải ngoại. Tuy trẻ nhưng ca từ lại chất ngất những từng trải. Lời nhạc của chị rất đẹp! Với nhạc sĩ Thụy Mi: "cảm hứng, hồn nhạc chỉ có thể biểu hiện sâu sắc được với ngôn từ mẹ đẻ của mình mà thôi".
Việt Hải - Los Angeles

Những Lý Do Để... Ghét Việt Nam Tất nhiên là không phải tớ, tớ chả có lý do gì để ghét quê hương của tớ cả. Bài viết này tớ vô tình đọc được ở bài "My Vietnam, our Vietnam" trên Tin nhanh Blog. Đây là một bài viết của một du khách nước ngoài từng đến thăm Việt Nam và ... ghét nước mình.
Tất nhiên là bị ai đó ghét là cảm giác không hề dễ chịu, nhưng tớ thấy mình chẳng nên làm ngơ. Và tớ tin, không chỉ có một người như vậy nói ra nhiều bức xúc như thế.
Mình có thể thay đổi được những cái xấu mà họ nêu ở đây không nhỉ? Đáng tiếc, tớ lại thấy những gì họ bực mình lại là sự thật. Không biết mọi người thấy sao nhỉ?
Tớ dịch lại từ bài viết này và mọi người hãy cũng đọc nhé.
Nguồn: http://travelvice.com/archive/2007/10/r ... ietnam.php
Những lý do để ghét Việt Nam
Ôi, Việt Nam, sao tôi ghét đất nước này như thế... Để tôi liệt kê vậy...
1. Tôi ghét sự gian dối ở Việt Nam
Tôi thật mệt mỏi bởi bị lừa lọc. Nó giống như trở thành một thói quen lừa lọc của người dân xứ này.
Tôi bị lừa khi tôi hướng dẫn cho người lái xe bus đưa chúng tôi từ sân bay tới một khách sạn cụ thể (nơi mà người ta phải giật mình bởi tòa nhà tôi muốn tới tại địa chỉ đó, lại được khẳng định là đã hết chỗ, nhưng họ sẽ đưa chúng tôi đến một nơi khác ở một cái góc loanh quanh nào đó). Tôi bị lừa khi nhận lại một chiếc ba lô thừa bị bỏ quên ở khách sạn Hà Nội, cùng với việc một nhân viên cứ cố moi ở tôi 30$ cho việc giữ đồ trong vài ngày đó. Chúng tôi bỏ đi và không chi trả gì hết.
Tôi thường bị lừa như một kẻ ngốc, thật đơn giản bởi những ngón nghề vớ vẩn tầm thường. Như là lúc tôi mua mấy tấm thiệp hay hay ở một cửa tiệm nhỏ ngoài khu dành cho du lịch. Tatiana có hỏi cách làm những tấm thiệp đó, và người phụ nữ bán hàng đã ra hiệu rằng do chị ta tự làm bằng một con dao. Hoàn toàn bịa đặt, bởi tôi thấy được hầu như cả những vạch in còn lại từ máy laser khi thiệp được sản xuất với số lượng tương đối. Có vẻ cô ta cũng làm những mã vạch đằng sau tấm thiệp khá đấy chứ?
Lừa đảo. Thật quá nhiều người lừa đảo.
2. Tôi ghét kiểu nói thách giá ở Việt Nam
Mặc dù ở nhiều nước khác cũng phổ biến, nhưng giá cả dành cho người nước ngoài thay đổi xoành xoạch thể hiện rõ nhất ở Việt Nam. Cùng một chuyến đi, khách du lịch phải trả 100 ngàn đồng, hãy hỏi một người Việt Nam ngồi cạnh thì họ trả có 80 ngàn đồng. Tôi có mặc cả khi mua hoa quả, nhưng cái giá cuối cùng tôi trả vẫn cứ cao gấp đôi so với gánh hàng bán bên cạnh, bởi người bán đã thổi phồng giá gốc lên 400%
Hầu hết người nước ngoài được coi là mục tiêu cho họ cơ hội. Theo lời ông Nguyễn Hữu Việt, trưởng phòng bộ phận du lịch Hà Nội, bán thách giá cho du khách nước ngoài không hẳn là một kiểu lừa lọc, nhưng nó là một phần "văn hóa".
Đây là một trích dẫn về bài báo "Giá cả không hề ổn định"
"Khách du lịch người Mỹ và người Nga rất hào phóng, nhưng hào phóng nhất vẫn là khách hành từ Nhật Bản, họ hầu như không mặc cả gì hết" Thu Hương người làm việc trong một sạp lưu niệm nhỏ ở phố cổ nói. "Thậm chí với cái giá tăng gấp 10 lần, khách hàng người Nhật vẫn coi vậy là rẻ. Nhưng người Ý hay Đức họ chỉ xem và cười."
Vô tư hơn nữa với khách du lịch được coi là "gà béo", đây là một từ lóng dành cho những người mua phải cái giá 100$ cho một chiếc đồng hồ nhái Rolex của Trung Quốc trị giá chỉ 10$ hoặc 40$ cho một chuỗi hạt ngọc trai nhân tạo chỉ với giá 15$.
"Thành thật mà nói tôi không quan tâm lắm tới những tiệm lưu niệm hay là hoa quả khi họ cố lấy thêm chút tiền từ khách nước ngoài, việc mặc cả hàng hóa giống như một phần của trò chơi vậy" - Daniel Lewenstein luật sư người Mỹ thường qua lại và sống ở Việt Nam suốt 10 năm qua đã nói vậy. "Nhưng thực sự là rất phiền khi giá cả đã được ấn định, và người ta cứ cố tìm cách thay đổi nó, như lần trước tối tới sân bay Nội Bài, người lái taxi cứ cố đòi ở tôi 280 ngàn VND cho chuyến đi vào thành phố trong khi giá đề rõ trên biển là 150 ngàn đồng".
3. Tôi ghét sự ồn ào ở Việt Nam...
Có vẻ như đất nước này phát huy hay gia tăng hết sức mọi kiểu cách để hủy hoại môi trường bằng tiếng ồn. Cấp độ âm thanh đạt đến đỉnh điểm trên đường phố, nơi tôi phải bịt lỗ tai lại chỉ vì tai tôi ong ong những tiếng "eeeeeeeeeeeeing" trong suốt quãng thời gian tôi trở về khách sạn.
Hàng trăm hàng ngàn thứ âm thanh xe cộ ầm ầm như tiếng súng trên mọi con đường. Còi xe máy thì kêu liên tục, trung bình cứ 5 đến 7 giây như vậy. Họ bấm còi khi vượt qua người khác, bấm còi khi quay xe, bấm còi khi say, bấm còi khi vui vẻ, bấm còi khi người ta không kịp đi nhanh, họ bấm còi ngay cả lúc họ đi ngược chiều, họ bấm còi chỉ để khoe cái còi của họ, và họ bấm còi chỉ vì người ta cũng bấm còi. Tôi nhìn và lắng nghe khi họ giảm tiếng còi là khi họ rẽ vào đại lộ. Ở Hà Nội, lúc nào trong ngày bạn cũng nghe thấy tiếng còi xe, không cần biết là ở đâu hay ngay trong phòng khách sạn.
Ở Hà Nội loa phường được đặt khắp mọi nơi, cứ nhồi vào tai người du lịch và dân cư cho tới khi cái tai phải chảy máu. Những bản phát thanh cả giờ đồng hồ về tin tức, thời tiết và thông tin quảng cáo thật sự quá lớn, nó át cả tiếng còi xe. Thật là ồn lắm.
Điều cuối cùng bạn thực lòng muốn có ở đất nước này chính là một căn phòng khách sạn ở mặt đường, đặc biệt là khi bạn có một chiếc microphone chĩa thẳng vào tòa nhà, làm bạn tỉnh giấc vì chói tai vào 7 giờ sáng với một thứ âm thanh ồn ào bởi một thứ ngôn ngữ khó chịu (Lời người dịch: Dịch đến đây thì tớ bắt đầu tức rồi đó. Thói quen, nếp sống nhà người ta mắc mớ gì mà phải ghét, 7 giờ sáng dậy được rồi. Đến đất nước người ta mà còn ghét ngôn ngữ của người ta. Thiệt tình... chả lẽ hông biết đến câu ở bầu thì tròn, ở ống thì dài... hừ hừ!)
Giữa sự ồn ào của xe cộ, công trình xây dựng liên miên, ngôn ngữ và những quán Karaoker, tôi cảm thấy thật ghen tỵ với những người khiếm thính.
4. Tôi ghét tiếng Việt
Đoạn này em xin phép bỏ qua. Ngôn ngữ của một dân tộc không thích thì thôi, cũng không thể vì bản thân không thích mà bôi nhọ nó. Đoạn này em cảm thấy người viết bài này rất ngu ngốc và hổng biết điều. Bản thân em cảm thấy như bị xúc phạm. Có nhiều thứ tiếng cá nhân em thấy nó cũng ngộ ngộ, nhưng mà chưa bao giờ em nghĩ có một ngôn ngữ mà cần phải dùng những lời tệ hại như thế để diễn tả về nó. Bài này em dịch với mục đích tích cực, là cái gì ta thấy sai ta sửa, ta khắc phục. Chứ còn nói một câu "Tôi ghét tiếng Việt" kiểu vô lý như thế thì... kệ nó, nó hông cần phải học tiếng Việt làm gì, nó thiệt!
5. Tôi ghét giao thông ở Việt Nam và sự khốn khổ khi đi bộ
Hơn một triệu rưỡi xe mô tô ở Hà Nội và hơn bốn trăm ngàn xe ở các vùng phụ cận – là chỉ số tăng trưởng 14% hàng năm. Số lượng xe cộ đông đúc như thế như một minh chứng cho tình trạng nguy hiểm của người đi bộ.
Những lối đi cho người đi bộ bị nêm cứng bởi những người bán lẻ và các hộ gia đình ở đây khi họ cố cơi nới diện tích sử dụng ở tầng trệt với mục đích kinh doanh. Điều đó đồng nghĩa với việc người đi bộ phải đi trong lòng đường. Lúc nào họ cũng có thể cảm nhận được gió tạt ngang khi bị những chiếc xe gắn máy hoặc ô tô vượt qua.
Ở đây thực sự có rất ít lối băng qua đường dành cho người đi bộ. Kể cả khi có, nó cũng chẳng giúp giảm thiểu nguy cơ tai nạn cho người đi bộ gây ra bởi phương tiện giao thông, và ngay cả khi tín hiệu qua đường cho người đi bộ bật xanh, họ vẫn phải lưu ý những phương tiện giao thông rẽ vào hoặc từ hướng trái, hoặc từ hướng phải.
Việc băng sang đường, dù có hoặc không có kiểm tra giao thông, cũng có thể ví von như cảm giác phó thác hoàn toàn vào Đức tin của anh chàng Indiana John khi nhảy xuống vực từ miệng hang Đầu Sư Tử . Nếu ví luồng phương tiện giao thông như một dòng sông chảy xiết, thì khi đó bạn chỉ như một hòn đá chuyển động chậm chạp, luồng phương tiện giao thông sẽ tẽ ra khi bạn di chuyển.
Việc này đã gây ra mối bất an cho Tatiana, khi em lo sợ cho sự an toàn của đứa trẻ đang nằm trong bụng mỗi khi em phải liều lĩnh ra khỏi khách sạn. Đối với Tatiana, việc đi lại ở đây là một thử thách lớn. Em cảm thấy hoang mang khi phải nghĩ đến việc bị đâm bởi một xe máy chạy ẩu và những hậu quả xảy đến sau đó cho đứa con trai chưa sinh của mình.
Tôi lúc nào cũng phải giữ chặt tay em, đứng giữa em và luồng xe đang chạy đến, giống như kỹ thuật che chắn bằng hình nộm người. Tôi không thể trách cứ em, khi em lúc nào cũng có thói quen như muốn chặn phương tiện đó lại vì Tatiana có cảm giác như nó sắp đâm em, làm kiểu gì cũng sai. Chúng luôn làm ta cảm thấy hoàn toàn choáng váng. Không được dừng lại. Không được chạy. Điều đó đãthành luật. Bạn phải thoát khỏi nỗi sợ hãi như thể bạn sắp phải nhảy ra khỏi máy bay và tin rằng mọi thứ vẫn tốt đẹp.
Tôi ghét cái giá đắt đỏ để được đặt chân đến đây và về phương diện kinh tế, nó như những cái nhọt ở mông vậy.
7. Tôi ghét những tòa nhà lêu nghêu ở Việt NamPhải trèo không biết bao nhiêu tầng cầu thang vì người Việt Nam thích xây khách sạn mà bề ngang chỉ vừa cho một phòng đơn làm tôi đẫm mồ hôi. Tôi phải bỏ một căn phòng tiện nghi bởi nó ở tận tầng thứ 8 và người vợ mang thai gần 7 tháng Tatiana của tôi không thể nào leo qua đến tầng thứ 3 mà không tránh khỏi hụt hơi.
8. Tôi ghét kiểu người Việt Nam gây trở ngại mặt phố
Thói quen cố hữu bởi việc đậu xe máy đúng là một kiểu bị kín từng centimet vuông vào khoảng trống trước một nhà hàng tôi muốn vào. Việc thiếu hiểu biết và lịch sự đối với người khác được thể hiện một cách hiển nhiên trên đường phố theo phương thức mà họ đậu xe. Xô đẩy và luồn lách theo cách riêng của bạn vào bất kì chỗ trống nào và vậy là đủ.
Tôi nhận ra, không còn chỗ cho bất kỳ ai hay bất kỳ cái gì tại cái nơi kinh khủng với đủ sự khốn khổ về giao thông như vậy, trừ phi là những Ninja nặng 43 ký dáng như que củi mới có thể lách qua những thứ như vậy - chỉ cần nhìn cái bụng thai nghén nặng nề của Tatiana mà hiểu rằng làm sao tôi phải cản không để em đi lại nhiều ở đây.
9. Tôi ghét những con tôm hùm bị biến đổi gen ở Việt Nam
Tôi chẳng ngốc đến nỗi đi tin là mình thực sự được thưởng thức một thứ gì giống như cái loại tôm hùm chỉ có 3$ kia, nhưng chúng tôi đã từng ở vinh Tokin, và đồ biển ở đó quá phổ biến trên thực đơn. "Chính ra mình có thể tung ra con át chủ lắm", tôi nghĩ bụng.
Thực ra đây không phải tôm hùm mà là tôm tích và ăn với giá 3USD là bị... chém.
Những thứ được quẳng lên trên đĩa là một trong những loại động vật gây ác cảm nhất mà tôi từng thấy tận mắt. Vị ngọt và chua phủ đầy lên mấy thứ đồ biển kỳ dị trông cứ như lũ tôm quỷ quái ấy. Tôi chẳng dám nhìn khi Tatiana moi có chút xíu thịt dính bên trong thứ giáp xác ấy.
(Lời người dịch: Tên này đúng là kẻ quê mùa, hông thích thì đừng ăn. Đòi ăn cho được rồi lại ghét. Có ai nhét vào miệng nó ép nó ăn đâu. Nhìn tôm nhà người ta khác khác chút hắn kiu là đồ biến đổi gen. Vớ vẩn. Nhưng mà tớ cũng xin ghi chú một điều, nước ngoài họ giờ sợ chết lắm, sợ ung thư, cấy ghép phát triển cho lắm vào rùi giờ sợ đồ bị biến đổi gen. Ngoài ra có một số người đặc biệt sợ ăn tôm, vì họ thấy nó giống như con sâu biển. Phải nói vậy để các bác hiểu cái sự ghét ngớ ngẩn thế này của kẻ nhà quê ấy.)
VINH DANH TÌNH YÊU
Nhân ngày Lễ Tình Yêu, hậu sinh xin đốt nén hương
lòng tưởng nhớ Nhà Ái Quốc NGUYỄN THỊ GIANG
Thân không giúp ích cho đời
Thù không trả được cho người tình chung
Dẫu rằng đương độ trẻ trung
Quyết vì dân nước thề lòng hy sinh
Quốc kỳ phất phới trên thành
Tủi thân không được chết vinh dưới cờ *
1
Bi hùng thay, những lời thơ
Can trường thay, phút giã từ thế gian
Mộng đời ai đập vỡ tan
Con đường lý tưởng ai làm máu rơi ?
Đã không được sống thành đôi
Thì xin thác để trọn đời thủy chung !
Lấy thân trả nợ núi sông
Lấy lòng để tạ tấm lòng với ai
Một người lên đoạn đầu đài
Một người vào cõi u hoài thiên thu !
Khối tình gởi lại lời thơ
Đau lòng hậu thế, mấy bờ lệ rưng
Một thiên tình sử bi hùng
Sống cùng chiến đấu, chết cùng thăng hoa
Tình yêu lồng bóng sơn hà
Trái tim nhi nữ chói loà ngàn sau
Ngô Minh Hằng
* Dòng thơ Tuyệt Mệnh của nhà ái quốc Nguyễn Thị Giang
Nhân ngày Lễ Tình Yêu, hậu sinh xin đốt nén hương
lòng tưởng nhớ Nhà Ái Quốc NGUYỄN THỊ GIANG
Thân không giúp ích cho đời
Thù không trả được cho người tình chung
Dẫu rằng đương độ trẻ trung
Quyết vì dân nước thề lòng hy sinh
Quốc kỳ phất phới trên thành
Tủi thân không được chết vinh dưới cờ *
1
Bi hùng thay, những lời thơ
Can trường thay, phút giã từ thế gian
Mộng đời ai đập vỡ tan
Con đường lý tưởng ai làm máu rơi ?
Đã không được sống thành đôi
Thì xin thác để trọn đời thủy chung !
Lấy thân trả nợ núi sông
Lấy lòng để tạ tấm lòng với ai
Một người lên đoạn đầu đài
Một người vào cõi u hoài thiên thu !
Khối tình gởi lại lời thơ
Đau lòng hậu thế, mấy bờ lệ rưng
Một thiên tình sử bi hùng
Sống cùng chiến đấu, chết cùng thăng hoa
Tình yêu lồng bóng sơn hà
Trái tim nhi nữ chói loà ngàn sau
Ngô Minh Hằng
* Dòng thơ Tuyệt Mệnh của nhà ái quốc Nguyễn Thị Giang
Last edited by macco on Sun Feb 15, 2009 7:59 pm, edited 1 time in total.

Thái Lan , Cha Tôi và Chùa Phật
Chuyến Ði Vượt Biển với Quá Khứ và Hiện Tại
Trịnh Hội
Tôi lấy tựa đề này vì tôi thích ý tưởng của Nam Lê khi anh đặt tên cho chương đầu tiên trong quyển sách của anh có tên là 'The Boat' (Chiếc Thuyền), một quyển sách đang được dịch ra nhiều thứ tiếng và đoạt được nhiều giải thưởng văn học cao quý ở Anh, ở Úc và ở Mỹ trong năm vừa qua. Chương sách đầu tiên đó được tác giả đặt một cái tên khá dài: 'Love and Honor and Pity and Pride and Compassion and Sacrifice' (Tình Yêu và Danh Dự và Thương Hại và Kiêu Hãnh và Tình Thương và Hy Sinh). Ðây là một chương sách khá hiếm được tác giả viết rất chân thành và sâu lắng về sự xung đột mãnh liệt giữa anh và cha anh, một người lính trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa và những khó khăn to lớn mà cả hai đều phải trải qua trong những năm tháng đầu tiên đặt chân đến Úc. Giữa một người con trai được nuôi nấng theo tinh thần và giá trị của Á Châu nhưng lại được dạy bảo theo văn hóa của Tây Âu ở trường học lẫn cả trường đời. Cái hay của những quyển sách cực hay là ở chỗ đó. Nó nói lên được những gì mình muốn nói. Và nó ghi nhận lại những kỷ niệm, những chặng đường mà mình đã đi qua chính xác còn hơn là người trong cuộc. Cứ y như là chuyện của mình đã tìm ra được một người viết hộ.
Lúc tôi đọc chương sách này của Nam Lê vào những ngày cuối năm, đến những đoạn anh và cha anh cãi vã to tiếng, anh phải bỏ nhà ra đi trong tiếng khóc nghẹn ngào của người mẹ thì chính tôi cũng đã bị những kỷ niệm riêng tư của mình gần 2 thập niên về trước tấp nập quay về làm cho tôi không thể nào chú trọng đọc tiếp được. Cha tôi và tôi cũng có những xung đột mãnh liệt như thế. Là con trai độc nhất trong một gia đình được cho là ‘gia giáo’ (tôi rất ghét hai chữ này lúc mới lớn!), cả hai ba mẹ tôi đều là thầy cô giáo có trên 20 năm trong nghề, vì vậy các anh chị em tôi từ nhỏ và đặc biệt là tôi, đã được tôi luyện rất ư là kỹ lưỡng. Và điều đó có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là hình như từ nhỏ tôi đã luôn luôn được cây roi mây của ba mẹ chiếu cố một cách rất thắm thiết. Chiếu cố vì tội đi chơi không xin phép, về nhà muộn, đi chân không... thả diều. Cho đến tội trốn học đánh bài. Hoặc bực mình chửi bậy. Có lẽ vì vậy mà cho đến giờ phút này ngay những lúc nóng giận nhất tôi vẫn không thể nào dùng từ ngữ Việt Nam để... ÐM!
Tôi vẫn còn nhớ mang máng kỷ niệm cuối cùng tôi bị ba tôi đánh ở Việt Nam. Ðó là vào khoảng năm 78, 79 trước khi ba tôi vượt biên sang Thái Lan. Sau năm 75, ba tôi đã bị bắt đi “học tập cải tạo” và sau khi ông được thả ra, cả gia đình của tôi đã không được tiếp tục cho ở Sài Gòn mà phải dọn về kinh tế mới. Lúc đó bên ngoại tôi ở Phú Quốc vẫn còn một khu đất trống ở gần rừng. Thế là ba mẹ tôi đã xin về ở đó. Cũng may là họ cho.
Dĩ nhiên là với số tuổi đời 7, 8 của tôi vào thời điểm đó, tôi đã không thể nào cảm nhận được những gì mà ba mẹ tôi đã vừa phải trải qua. Lúc ấy tôi chỉ không thể hiểu là tại sao ba mẹ tôi lại có thể từ bỏ một ngôi nhà to có đầy đủ tiện nghi ở Gia Ðịnh để dọn về một nơi đồng không hiu quạnh dựng nhà, lấy tranh làm nóc, lấy đất làm nền. Cứ mỗi khi mưa to về là cả nhà lại đầy nhũng ra nước. Ðã vậy lại không có điện, mà nước cũng không luôn. Mảnh đất trống khá to nhưng lại không được tốt cho lắm. Ðào lên ở đâu thì cứ y như rằng chỉ thấy toàn là nước đục đầy phèn. Vì vậy cứ mỗi chiều nhiệm vụ của tôi là phải sang nhà hàng xóm bên cạnh gánh nước về cho cả nhà xài. Và sẵn tiện tưới luôn cây trái trồng quanh, nhất là giàn bầu trước nhà. Chỉ có 4, 5 gốc gì đó nhưng nó rất được thích ngốn nhiều nước, ít nhất cũng phải là 5, 7 đôi nước của tôi mỗi ngày. Cộng thêm khoản nước xài, tắm rửa cho cả nhà, mỗi chiều tôi nghĩ tôi gánh ít nhất cũng phải là 10, 15 đôi nước. Ðã bảo tôi là con trai một trong nhà mà lị!
Lúc ấy tôi chưa cao như bây giờ nên việc gánh nước có phần hơi khó khăn. Nếu tôi không cẩn thận thì đít của hai thùng nước có thể chạm mặt đất rất dễ dàng và không cần phải nói, nếu nó va vào đá (vì tôi lười nhón chân lên) thì coi như hỏng toét. Không những nước sẽ đổ vơi đi mà đít thùng sẽ lủng và khi về đến nhà thì trong thùng sẽ chẳng còn gì. Trong một lần xui xẻo như vậy, ghi vừa gánh thùng không về đến nhà thì tôi đã gặp ba tôi. Có lẽ hôm ấy ông mệt vì vừa đi làm cu li ở bến cảng về - từ hôm được thả ra khỏi trại cải tạo ông không được cho phép đi dạy lại. Cũng có thể ông đang bực mình vì bị gạt mất tiền một lần nữa sau bao nhiêu lần tổ chức vượt biên nhưng không thành của gia đình. Tôi thật không nhớ rõ là ông đã nói gì với tôi khi thấy thùng nước một lần nữa đã bị tôi làm cho thủng đáy. Hình ảnh duy nhất mà tôi vẫn còn ghi nhận lại trong ký ức của tôi vào thời điểm đó là cảnh tôi chạy vòng vòng chiếc võng mà mẹ tôi đang ngồi để tránh những đòn đánh của ba tôi, miệng la oai oải: ‘Con xin lỗi ba. Con xin lỗi ba. Con không dám vậy nữa đâu. Mẹ ơi. Mẹ ơi. Cứu con’.
Không ít lâu sau đó là bao thì ba tôi đã thành công trong chuyến vượt biển cuối cùng của ông. Tuy không còn tiền bạc để lo cho cả gia đình được đi chung như ý nguyện nhưng ông đã may mắn có một người bạn hảo tâm cho ông đi nhờ mà không cần phải trả một đồng nào cho chuyến đi không hẹn ngày trở lại. Trên chiếc thuyền mỏng manh không dài quá 10 mét, ba tôi và hai người bạn cùng hai người con nhỏ của họ đã vượt đại dương cố đi tìm đến một bến bờ tự do tươi sáng hơn. Nhưng sau 10 ngày lênh đênh trên biển vì máy tàu bị hỏng, chỉ cần có một bến bờ, bất kỳ là ở đâu, để tấp họ cũng không tìm thấy. Không nước, hết lương thực, cả tàu vỏn vẹn 5 người chỉ biết nằm chờ chết. Mắt hai đứa bé đã đứng tròng. Hàng chục tàu buôn, chiến hạm của thế giới đi ngang qua. Nhưng chẳng ai để tâm dừng lại cứu giúp.
Ngoại trừ duy nhất một chiếc tàu đánh cá người Thái. Họ cứu sống 5 mạng người mặc cho lúc ấy có lệnh của chính phủ là không được cứu vớt tỵ nạn Việt Nam. Và sẽ bị phạt rất nặng nếu như bị phát hiện.
Vì thế sau khi được chăm sóc tận tình, được cho ăn uống và nghĩ dưỡng để lấy lại sức, chiếc tàu nhỏ của họ đã được kéo vào gần đất liền trước khi được thả trôi để cập bến. Bước chân lên bờ, ba tôi và gia đình người bạn của ông đã lập tức được dân làng giúp đỡ và đem về một ngôi chùa gần cạnh lưu trú. Không ít lâu sau, họ được chuyển về trại tỵ nạn và chỉ sau 3 tháng, ba tôi đã được cho đi định cư ở Úc nhờ vào khả năng tiếng Anh lưu loát của một thầy giáo dạy ngoại ngữ từ lúc còn ở quê nhà.
Năm năm sau ngày ra ông bỏ nước ra đi thì gia đình tôi mới được đoàn tụ ở Úc. Vì thế có thể nói tuổi ấu thơ của anh chị em tôi lúc còn ở Việt Nam hầu như không có hình bóng của người cha nhà giáo. Là một người cha, ông luôn chu toàn đầy đủ cho cuộc sống của chúng tôi lúc còn ở Việt Nam cũng như cho đến khi chúng tôi vào trung học, lên đại học và ra trường ở Úc. Nhưng nếu bảo tôi kể lại một kỷ niệm vui, đẹp giữa tôi và cha tôi thời tôi còn thơ ấu thì tôi chịu. Kỷ niệm đầu tiên mà tôi nhớ về cha tôi là lần tôi được đi theo mẹ để thăm ông trong một trại cải tạo ở tận Năm Căn, Cà Mau lúc tôi lên 5, 6 tuổi. Ðó là một chuyến đi rất xa, rất lâu, rất mệt và đối với riêng tôi thì có quá là... nhiều muỗi. Lần sau đó là lúc ông dắt tôi đi vào một vùng kinh tế mới cũng ở đâu đó rất xa, rất nắng, rất nóng và tôi phải đi bộ cả ngày cùng ông mà không có nước uống. Sau này về Phú Quốc thì tôi chỉ nhớ những lần ông dắt tôi đi vượt biên, lội suối, trèo núi, ăn cơm thiu, đi suốt đêm trong sợ hãi, sợ bị bắt nhưng để rồi cuối cùng cũng bị bắt và vào ngồi tù ăn bo bo như mọi người.
Và dĩ nhiên là tôi luôn nhớ trận đòn cuối cùng của ông dành cho tôi.
Có lẽ vì vậy mà khi tôi sang Úc năm 14 tuổi, tuổi bắt đầu của sự nổi loạn, thiếu hiểu biết nhưng lại hơi thừa nam khí (ý tôi muốn dùng chữ 'testosterone' ở đây), thì tôi đã hoàn toàn không cảm thấy gần gũi với ông. Việc ông khó khăn từ cử chỉ cho đến lời nói, từ việc học cho đến cách dùng điện thoại tán dóc của tôi càng làm cho tôi có cảm giác như ông quá khắt khe, quá câu nệ, và nhất là có quá nhiều kiểm soát trong cuộc sống của tôi mà tôi lúc ấy rất thành tâm nghĩ rằng hoàn toàn không cần thiết. Cứ mỗi khi đụng chuyện thì y như rằng ông sẽ bắt đầu bằng câu 'Ở Việt Nam thì mày blah blah blah... ' Lúc ấy tôi nghĩ rất đơn giản: 'Well, you are not in Vietnam anymore!' Ba đâu có còn ở Việt Nam nữa đâu mà ‘tại’ ‘thì’ với ‘bị’. Tôi thật không thể nhớ rõ bao nhiêu lần tôi đã to tiếng với ba tôi, đã cãi vã, tức giận đến độ không thể nào khóc được. Và cũng như Nam Lê, tôi cũng đã từng phải bỏ nhà ra đi trong nước mắt ngậm ngùi của mẹ tôi, bị dằn xé giữa hai bên, chồng và con. Tôi thấy hình như điều này xảy ra trong khá nhiều gia đình Việt Nam. Người mẹ luôn là người phải im lặng và nhịn nhục, nhẫn nại làm đầu cầu cho 2 bên chồng con được yên thắm và thông cảm cho nhau.
Nhưng rồi thì ngày qua ngày, tháng lại tháng và mọi chuyện cũng trở thành dĩ vãng. Vừa tốt nghiệp đại học xong thì tôi cũng khăn gói lên đường đi theo tiếng gọi của giang hồ cho mãi đến ngày hôm nay. Những khi có dịp về thăm nhà thì tôi và ba tôi cũng có dịp tâm sự cùng nhau, không sâu đậm lắm như những người bạn thân thiết, nhưng chắc chắn là không còn xung khắc như những ngày tháng cũ. Ông vẫn thường nhắc đến chuyến vượt biển năm nào của ông, vẫn còn trăn trở đôi khi không cần thiết, và luôn tự đánh giá về sự đời, đôi khi có phần tiêu cực, mặc dù sự đời luôn không ngừng biến đổi. Thường thì tôi chỉ nghe và để lại đó, ít khi có dịp để tâm suy ngẫm. Phần vì cuộc sống của tôi quá bận rộn. Phần có lẽ là vì tôi đã nghe quá nhiều và đã bị nhàm chán từ những lúc tôi còn sống chung với ông trước khi ra riêng.
Cho đến khi tôi có dịp đi cùng ông tìm lại ngôi chùa nơi ông đã từng được cưu mang sau chuyến đi vượt biển hãi hùng. Chùa nằm cạnh một làng chài lưới khá nghèo nàn cách thủ đô Bangkok khoảng 4 tiếng nếu không bị kẹt xe.
Theo Phật giáo thì hầu như tất cả mọi chuyện xảy ra trên thế gian này đều do một chữ Duyên. Là một người có thể cho là khá sùng đạo, năm vừa qua ba tôi cho là đã có duyên khi gặp lại người bạn cùng thuyền năm xưa ở Mỹ và được cho biết tên của làng chài lưới mà ông ta vẫn còn nhớ rõ lúc vừa được cứu lên bờ. Càng có duyên hơn nữa là trong thời gian gần đây tôi có dịp ở Thái Lan nhiều hơn là ở những nơi khác. Thế là tôi và ba tôi lần đầu tiên đã gặp nhau trên đất Thái. Ba lần trước đến đây để đi ngược về quá khứ mong tìm ra ngôi chùa từng cưu mang ông đều đã không thành công. Ông đã phải tạm cúng dường những ngôi chùa khác mà ông đặt chân đến. Nhưng lần này thì không. Với cái tên Thái rất đầy đủ cùng hai người bạn thân của tôi nói rành tiếng Thái, sau bốn tiếng lái xe từ Bangkok, chúng tôi đã tìm lại được làng chài lưới và ngôi chùa khá dễ dàng. Sau một lúc dò hỏi những người Thái trong làng, chúng tôi đã có thể xác nhận chắc chắn đây là nơi mà ba tôi đã được cứu sống 3 thập niên về trước.
Bước xuống xe đi ngược về phía biển để đến ngôi chùa, tôi nghe miệng ông lẩm bẩm: 'Ðúng là chỗ này rồi. Ðúng là chỗ này rồi'. Ðây là đồn cảnh sát nơi ông phải đến trình diện lúc tàu vừa mới cập bến. Ðây là cầu tàu bằng gỗ của năm xưa nhưng bây giờ đã được xây bằng bê tông dài hẳn ra. Và đây là ngôi chùa nhỏ nằm bên cạnh một con lạch do một sư ông biết nói tiếng Anh trụ trì.
Nhưng tất cả đều đã thay đổi. Chùa đã được xây lớn và rộng hơn gấp nhiều lần, khá ồn ào vì có nhiều khách đến hành hương. Chỉ còn dãy nhà cũ ở tận phía sau cùng là ông có thể ngờ ngợ nhận ra. Con lạch đã bị lấp đi từ lâu và theo nhà sư già nhất có mặt ở chùa 3 thập niên về trước thì sư ông, người đã tiếp xúc và trực tiếp nuôi dưỡng ba tôi, cũng đã viên tịch cách đây trên 10 năm. Sau khi ông hoàn tục trở về sống với vợ con. Nghe nói đâu ông từng là sĩ quan trong quân đội Thái Lan. Nhờ vậy mà ông biết nói tiếng Anh.
Ngồi nghe người sư già thuật lại câu chuyện của 30 năm về trước, tôi thầm tiếc cho cha tôi. Cuối cùng thì ông cũng đã được toại nguyện, đã tìm lại được một phần hồn của ông. Nhưng nó đã không còn nguyên vẹn như những gì ông tưởng nhớ sau bao nhiêu năm vật đổi, sao dời. Người xưa không còn mà cảnh cũ cũng bằng không. Có còn đâu chỉ là những kỷ niệm của một thời khó nhọc nơi xứ người và tôi nghĩ rằng những gì ông lưu luyến, ôm ấp những lúc ông cô đơn nhất, thiếu thốn nhất cũng đã không còn hiện hữu. Ðời người là thế. Kỷ niệm, vui hay buồn, chỉ đẹp, chỉ có một thời vì ta không tìm lại được nó. Và nếu như ta có đầy phép thần thông để đi ngược dòng thời gian, trở về quá khứ thì ta cũng sẽ không thể nào tìm lại được những cảm xúc của một thời đã qua. Thế gian luôn thay đổi. Vì ngay cả chính chúng ta cũng thay đổi.
Trước khi ra về, tôi theo cha tôi vào chùa lễ Phật, thắp nhang thầm cảm ơn đấng tạo hóa đã cho ông một cơ hội sống để làm lại cuộc đời. Nếu không thì cũng chưa biết tương lai của anh chị em tôi sẽ ra sao. Cũng có thể là tôi vẫn phải lam lũ ở đâu đó bên quê nhà gánh nước tưới cây sống qua ngày, không tương lai, không nhà cửa. Tôi bước ra cổng chùa trong gió chiều lồng lộng nhìn về biển Ðông ở phía xa và chợt nghĩ đến chữ Duyên trong cuộc sống. Ðúng là tất cả đều do một chữ Duyên mà ra. Ít có ai trong chúng ta có thể chủ động, kiểm soát được mọi khía cạnh trong đời. Nhất là đối với thế hệ của cha tôi. Cuộc sống đang sung túc, đầy đủ, bỗng nhiên ông mất tất cả. Mất nhà cửa, mất việc làm và mất cả gia đình yên ấm. Ông không là một tội đồ nhưng vẫn phải vào tù. Ông vào tù nhưng không biết ngày ra. Ðược tha ra nhưng ông lại không được trở lại nghề cũ. Ðể rồi bị hạch hỏi, bị ức chế đến cùng cực. Cuối cùng ông đã phải bỏ nước ra đi và có thể sẽ phải bỏ thây trên biển cả. Nếu không thì cũng chẳng biết khi nào ông mới có dịp sum họp lại cùng gia đình, vợ con. Không may mắn như thế hệ của chúng tôi, cả cuộc đời ông hình như chẳng lúc nào ông đã có thể làm chủ cuộc sống của chính mình, của gia đình mà ông đã mãi mãi mất cơ hội làm gia trưởng. Có lẽ vì thế mà ông đã cố gắng hết sức mình kiểm soát chặt chẽ cuộc sống của những người con ông. Mặc cho những lời phản đối của đám trẻ đang trưởng thành trong một nền văn hóa mới. Mặc cho những xáo trộn trong gia đình vì hoàn cảnh của một thời loạn lạc. Ông phải cố nắm chặt lấy nó. Vì ông không còn một sự chọn lựa nào khác.
‘Con, Hội’. Tôi quay lại và nhìn cha tôi đang chầm chậm bước ra cổng chùa đến đứng gần bên cạnh tôi. Ông xin được một lá xăm cho tôi và bảo tôi cầm lấy. Bỗng nhiên ông giơ cả hai cánh tay của ông và ôm tôi vào lòng. Lúc ấy tôi chỉ biết đứng lặng yên để cho ông ôm thật chặt. Hình như tôi nghe có tiếng khóc thầm của một người cha mà trước đó chưa bao giờ trong đời tôi thấy ông xúc động. Tôi nghe thấy hình như là ông đang cảm ơn tôi.
Nhưng tôi phải cảm ơn ông mới đúng. Tôi phải có duyên mới được chia sẻ, được ở cạnh cha tôi ngày ông tìm lại được quá khứ đau buồn để khép nó lại mãi mãi. Tôi phải có duyên mới nhận thức được ngày hôm nay những mất mát to lớn trong cuộc đời của ông trong quá khứ mà tôi sẽ không thể nào hiểu thấu. Và nhất là tôi cần phải cảm ơn ông vì ông đã dùng mạng sống của chính mình để đi tìm một bến bờ mới cho riêng ông. Và cho cả riêng tôi.
Thế Giới Rung Chuyển Ra Sao
Khi Rồng Trung Hoa Tỉnh Giấc?
Huỳnh Công Luận
Hơn hai trăm năm trước, Hoàng Đế Napoleon Đệ Tam đã từng cảnh báo: "Con 'Rồng' bệnh hoạn Trung Hoa (TH) đang ngủ say.
Hãy để cho nàng ngủ; khi tỉnh giấc, nàng sẽ rung chuyển thế giới." (China is sicky, sleeping giant.
Let China sleeping; when it wakes, she will shake the world.)

Napoleon was crossing the Alps. Năm 1965, vì quyền lợi sinh tử của mình, Hoa Kỳ (HK) phải đưa quân tham chiến ở Việt Nam (VN) để làm lá chắn che chở cho Đông Nam Á khỏi bị Rồng đỏ TH nuốt gọn. Cuộc chiến này đã làm suy yếu nền kinh tế của HK vừa trỗi dậy sau Đệ Nhị Thế Chiến và cuộc chiến Triều Tiên. Trong khi chiến tranh đang xảy ra ác liệt; năm 1966, HK mời Bộ Trưởng Quốc Phòng Moshe Dayan của Do Thái đến thị sát địa hình VN và tham vấn. Tuy chưa được chính thức giải mật, nhưng ai đã từng nếm vị đắng của chén thuốc từ tay Ngài Lương Y độc nhãn này đều biết những xầm xì đàng sau lời khuyên của nhà quân sự lừng danh thời đó như sau: "Hoa kỳ không thể thắng cuộc chiến tranh du kích bằng sức mạnh của một cuộc chiến qui ước. Muốn chiến thắng, hãy để họ thắng trước." Không biết hư thực ra sao, nhưng trong cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân, QLVNCH đã tịch thu nhiều tiền giấy của MTGPMN từ anh em bộ đội miền Bắc, và theo lời khai của các anh em đó, họ được lệnh vào Nam lần này là để tiếp thu và ở luôn.
Thực tế, cuộc tiếp thu này không thành công, nhưng đủ tạo điều kiện cho đoàn ngoại giao bóng bàn Hoa Kỳ và Ngài Bộ Trưởng Ngoại Giao Kissinger (gốc Do Thái) lần lượt đến Bắc Kinh để chuẩn bị cuộc hôn nhân Mỹ-Trung. Rồi năm 1972, TT Richard Nixon trao sính lễ "Kinh Tế Thị Trường"; và nhận của hồi môn "Mèo Đen Mèo Trắng" với chiếc đuôi XHCN, bắt đầu tuần trăng mật với Rồng hơn bốn thập niên qua. Trong bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu xem Rồng TH đã rung chuyển thế giới ra sao từ khi Tổng Thống Nixon đánh thức nàng.
Chắc chúng ta, ai cũng biết rằng người Mỹ là bậc thầy trong nghề thuần hóa dã thú để hái ra tiền. Từ voi, cọp, hùm beo, sư tử, cá voi, hải mã; cho đến cá sấu, tắc kè, kỳ nhông đều răm rắp làm theo họ không sai một động tác nào, để họ thu tiền từ tay du khách, dù có phải đứng xếp hàng cả cây số để mua vé. Rồng TH cũng không vượt ra khỏi qui luật đó. Tuy nhiên, vì là Rồng, có tầm vóc khổng lồ (giant), lại ngủ quá lâu; vừa bệnh vừa đói nên cần được tẩm bổ bằng Kinh Tế Thị Trường. Rồng lại quen sống trong ao mặn Cộng Sản Chủ Nghĩa; nếu bỏ nàng vô ngay ao nước ngọt Tự Do Dân Chủ, rồng sẽ bị sốc. Vì vậy mà "Anh Hai" đã phải mất hơn bốn thập niên tăng ngọt bớt mặn cho ao Rồng bằng KTTT-XHCN; đồng thời cho Rồng ăn thật no bằng ngân khoản thặng dư mậu dịch (surplus) nhờ đổ rác vào Mỹ (được miễn hoặc giảm thuế quan) cho khách thập phương đến mua. Nhờ vậy mà Rồng không còn hiếu chiến như xưa. Thật vậy, trong 1 lớp học về tài chánh quốc tế, vị Giáo Sư đã hỏi chúng tôi như sau: "Các bạn có biết tại sao người ta đem rác đổ vô nhà mình, mà mình phải chịu và chấp nhận mang nợ?" Câu trả lời sau cùng là: "Dù sao thì món nợ đó vẫn nhẹ hơn chi phí chiến tranh rất nhiều."

Mao Trạch Đông "bắt tay" với tổng thống Nixon. Tuy rác được bán rẻ như cho, Anh Hai cũng được hưởng lợi qua 2 lần thuế: thuế tiêu thụ từ người mua và thuế lợi tức từ tiền lời của các nhà bán lẻ lẫn bán sỉ. Anh Hai mở toang cửa mời du khách lấy vé máy bay rẻ nhất toàn cầu, ở khách sạn đúng chuẩn quốc tế mà vẫn rẻ hơn ở Việt Nam, thưởng ngoạn đủ trò giải trí cho mọi lứa tuổi, rồi mua hàng thoải mái mang về; nhờ vậy, tuy là chúa chổm mang nợ, anh hai vẫn có tiền dư để dành khi hữu sự mang ra xài thoải mái. Còn Rồng thì phục hồi sinh lực, phát tướng phát tài, vừa đủ sức làm trò chào mừng Thiên Niên Kỷ thứ 21 ở sân Thế Vận Hội hình tổ Rồng mà thế gian lại tưởng lầm là tổ chim đại bàng. Lỡ bộ; Rồng tự phát họa nền văn minh chim bồ câu; rằng văn minh thế giới sẽ chuyển dịch từ Tây sang Đông với chim bồ câu là biểu tượng; mà Rồng chính là bụng của chim, ẩn chứa Chủ Nghĩa Chủng Tộc Hán cộng thêm chút hương liệu "Hài Hòa", chuẩn bị lên ngôi bá chủ.
Thông minh nhứt nam tử như Anh Hai, lại cùng chăn gối với Rồng ít ra cũng được nửa thế kỷ, lẽ nào không hiểu được lòng nàng. Còn nàng thì cứ sum soe, càng no cơm ấm cật càng trửng mỡ; hết lượn xuống biển Đông lại vòng qua biển Tây. Hết vờn Đông Nam Á, lại bởn với Châu Phi, rồi hò hẹn với xóm giềng ngay sân sau nhà anh chồng hào phóng, chuẩn bị một thời đại chuyển dịch văn minh bằng đường lối "Hài Hòa". Thực chất của chiến lược "Hài Hòa" là một tổng hợp từ học thuyết "Bình Thiên Hạ (nghĩa là gồm thâu thiên hạ)" của Khổng Sư, "Bốn Hiện Đại" của Đại Hán Đặng Tiểu Bình, và "Bồ Câu Trắng" chân đỏ của Hồ Cẩm Đào.
Thế là lời tiên tri của Nã Phá Luân Đại Đế đã ứng nghiệm rõ ràng, không ai còn nghi ngờ gì nữa. Bài diễn văn của TT Obama đã làm cho truyền thông của Rồng ù tai, hoa mắt nên bỏ sót nhiều đoạn không ghi, làm Anh Hai cục hứng. Ngoại Trưởng Hilary Clinton tung thêm vài quả bóng xanh "Hợp Tác Hai Chiều và Có Trách Nhiệm" để thăm dò tiếp; Rồng nguây nguẫy đòi bóng đỏ "Hợp Tác Quốc Phòng" hai bên cùng hưởng lợi.
Trong khi Anh Hai làm ngơ truớc sự kiện Rồng đổi màu từ trắng qua đỏ, thì từ cổng phía Nam của tổ Rồng, ngài Đại Sứ Michael Michalak đã nhờ chiếc loa BBC truyền rao khắp thế giới cho bàng dân thiên hạ biết: "Quan hệ giữa HK và TQ là quan hệ hết sức phức tạp. Chúng tôi có nhiều mối quan hệ về kinh tế và chính trị với TQ. Tôi được biết rằng, một số cố vấn của ông Barrack Obama cho rằng, trong những ngày đầu tiên ông nhậm chức, chính sách đối ngoại của Tân Tổng Thống sẽ là Trung Quốc, Trung Quốc và Trung Quốc."
Từ đó, Rồng cảm nhận được "cơm chẳng lành canh chẳng ngọt" nên gấp rút cử Đặc Sứ Wang Jiarui qua cửa Đông Bắc lên dây cót cho Đồng Chí Kim, hát tiếp bài "con cá chết vì nước"; quyết trừng phạt người anh em phía Nam bằng quân đội nhân dân ưu việt; xé bỏ các hiệp ước chưa ráo mực, vừa ký với người anh em để chuẩn bị cho tiến trình thống nhứt đất nước trong hòa bình. Rồi, nào là tiếp tục chương trình hạt nhân, nào là chuẩn bị phóng thử hỏa tiển tầm xa để dằn mặt "Anh Hai". Không biết Ngài Đặc Sứ họ Wang của Rồng hứa cho bao nhiêu súng đạn phế thải sau thời kỳ "Bốn Hiện Đại", lương khô lẫn dép râu đang lên mốc; chứ đề nghị giữ dùm mấy hòn đảo đang tranh chấp là chắc mẽm. Có thế thì mới bảo đảm được số nợ sau này chứ. Nếu không tin, Kim Chủ Tịch cứ qua hỏi Ngài Tổng Bí Thư của Việt Nam thì rõ.
Dù sao thì âm vang của họ Kim sau 6 tháng vắng bóng để chuẩn bị đổi màu, cũng đã lan toả ra những nơi có cơ duyên in đậm dấu chưn Rồng. Iran đòi HK xin lỗi về cáo buộc hạt nhân; bày hàng mới bằng việc phóng hỏa tiển và vệ tinh thám hiểm không gian, rồi rao to: "Đây là hàng thật, tự chế trong thời gian bị cấm vận", như một thách thức mới với "Anh Hai". Lại nữa, từ đảo quốc Cuba, vị "Cha Già Dân Tộc" mới khen xã giao TT Obama trong ngày nhậm chức, tuần lễ sau lên tiếng đòi lại Guatanamo. Chưa hết đâu, từ núi rừng trùng điệp của Hy Mã Lạp Sơn, bộ hạ của Rồng đang vung tay mở cuộc đàn áp mới nhắm vào phong trào đòi tự trị Tây Tạng, khiến Đức Đạt Lai Lạt Ma phải một lần nữa khua chuông cầu cứu khắp năm châu. Đặc biệt hơn cả, Rồng đang gậm nhấm bằng đường lối hài hòa một mãng lớn Đông Nam Á bằng 16 chữ vàng: "Ổn định lâu dài, láng giềng hữu nghị, tin tưởng lẫn nhau, hợp tác toàn diện", bao gồm Việt Nam, Lào, Miên, và Miến Điện; tạo bất ổn ở Thái Lan và Tích Lan.
Trong lúc chiến dịch chào hàng của Rồng đang nở rộ; từ Sudan, các công tố viên của tòa án quốc tế đang buộc tội TT Bashir, là đã dàn dựng một chiến dịch cưỡng hiếp, sát nhân và trục xuất người dân Darfur, gây nạn chết đói mà thế giới phải bàng hoàng, và yêu cầu các quan tòa ra trát bắt ông Bashir về tội diệt chủng. Chủ Tịch họ Đào đành phải ra mặt cam kết ủng hộ đàn em để trả ơn cho việc cung cấp phần lớn số dầu của Sudan, cho Rồng có đủ số dự trữ ba năm.
Cùng với tín hiệu đỏ đang nhấp nháy trên lưng Rồng, Thủ Tướng họ Ôn đang bận rộn ở Luân Đôn chào hàng "Hài Hòa", ngoài xanh trong đỏ, bị sinh viên Anh lật tẩy sự dối trá bằng cú ném giày "ô nhục". Thủ Tướng Brown đành ký bản ghi nhớ để an ủi họ Ôn; nào ngờ trong giây phút ngắn ngủi ấy, phóng viên BBC trình làng cờ Anh treo ngược, một mật mã cho mọi người biết là quân địch đang có mặt trong phố Downing. Thâm chưa?
Tại Hoa Thịnh Đốn, TT Obama đang thử vài chiêu phục hoạt kinh tế, có phảng phất chút mùi bảo hộ. Chiêu giáo đầu "Buy American" (mua hàng Mỹ) vừa tung được vài hôm, phải thu lại vì chạm mạnh vào anh bạn Đồng Minh Chiến Lược Gia Nả Đại trong tổ chức NAFTA; rồi khẩu hiệu "Không Bảo Hộ (protectionism)" của vị Tổng Thống tiền nhiệm George W. Bush; và quan trọng hơn cả, luật cạnh tranh của WTO. Dù sao cũng nhờ "team work" và tự do dân chủ, Thượng Nghị Viện đã điều chỉnh kịp thời. Chúng ta còn chờ xem hiệu quả của chiêu kế tiếp về bảo hộ lao động, tăng quyền hạn cho công đoàn và hạn chế lương của quản trị viên hàng đầu ngành ngân hàng không quá $500.000 một năm, trộn lẫn trong gói kích thích kinh tế hơn tám trăm tỷ Mỹ Kim từ quỹ dự trữ Liên Bang.
Chiến dịch ngoại giao hạ nhiệt của TT Obama cũng đang được tung ra nhanh chóng; đậm nét hơn cả là chuyến đi Nam Hàn của Bà Ngoại Trưởng Clinton vào trung tuần tháng hai này, như dấu hiệu lên giây cót cho đồng minh, đáp trả sự hà hơi tiếp sức của Đặc Sứ Wang. Đây cũng là lời cảnh báo cho Rồng biết thế nào là "smart power" và thế nào là ngoại giao "hai chiều".
Việt Nam chúng ta, vì ở ngay trước mũi của Rồng, nên thuộc làu chiêu thức của nàng. Khi bình ổn thì Rồng ẩn dưới vực sâu, đủ sự tỉnh mịch để nghĩ ra mưu ma chước quỷ, gồm thâu thiên hạ. Nay Rồng đang vừa bị bội thực vì uống dầu dự trữ ba năm với giá trên trời, đang ngậm đắng nuốt cay chịu lỗ. Gia đình "Anh Hai" thì quá mệt vì rác của Rồng, vừa thâm thủng mậu dịch vừa phải thu dọn, ép thành kiện, bán ve chai cho tắc kè, kỳ nhông mua về tái chế. Dân Mỹ thì sợ kinh tế suy trầm lâu, nên hạ quyết tâm từ bỏ thú vui mua sắm.
Mới không bán được rác có nửa năm mà nước đá trong thùng "surplus" của Rồng đã lưng bộn rồi còn gì. Không khéo, chưa hết năm con cọp, hai ngàn tỷ Mỹ Kim gởi trong tủ sắt của "Anh Hai" sẽ bốc hơi thành mây khói. Con cái của Rồng đang mất nhà, mất việc; mới có nửa năm đã lên tới vài ba chục triệu. Bài toán môi trường đang đè nặng vai Rồng, bước tới thì run, bước lui thì đói. Ăn quen nhịn không quen, nên chị Rồng phải chơi nước đôi: vừa ra lệnh cho đàn em khua thùng thiết bể hù dọa Anh hai, vừa dòm bị bửu bối sau lưng Obama, tùy mức độ phục hoạt kinh tế, tài chánh của chàng ra sao, mà nàng sẽ đổi màu cho phù hợp. Anh Hai rồi ra, chắc sẽ định giá các lô hàng đang bày bán ồn ào của Rồng để bù lỗ đôi chút, gọi là "có đi có lại mới toại lòng nhau". Về phía Rồng, phải từ bỏ nước mặn và phải làm trò đúng bài bản để đổi lại ân sủng của Anh Hai nghen!
Toàn dân Việt Nam, trong và ngoài nước, hãy thật tỉnh táo nhìn cho rõ màu Rồng, để tìm ra ẩn số cho quê hương chúng ta. Và đừng quên rằng: "Họa vô đơn chí, Phúc bất trùng lai." Hay dễ hiểu hơn: "Họa đi có cặp, Phước không đến hai lần."
Florida, ngày 9 tháng 2 năm 2009
Huỳnh Công Luận
Khi Rồng Trung Hoa Tỉnh Giấc?
Huỳnh Công Luận
Hơn hai trăm năm trước, Hoàng Đế Napoleon Đệ Tam đã từng cảnh báo: "Con 'Rồng' bệnh hoạn Trung Hoa (TH) đang ngủ say.
Hãy để cho nàng ngủ; khi tỉnh giấc, nàng sẽ rung chuyển thế giới." (China is sicky, sleeping giant.
Let China sleeping; when it wakes, she will shake the world.)

Napoleon was crossing the Alps. Năm 1965, vì quyền lợi sinh tử của mình, Hoa Kỳ (HK) phải đưa quân tham chiến ở Việt Nam (VN) để làm lá chắn che chở cho Đông Nam Á khỏi bị Rồng đỏ TH nuốt gọn. Cuộc chiến này đã làm suy yếu nền kinh tế của HK vừa trỗi dậy sau Đệ Nhị Thế Chiến và cuộc chiến Triều Tiên. Trong khi chiến tranh đang xảy ra ác liệt; năm 1966, HK mời Bộ Trưởng Quốc Phòng Moshe Dayan của Do Thái đến thị sát địa hình VN và tham vấn. Tuy chưa được chính thức giải mật, nhưng ai đã từng nếm vị đắng của chén thuốc từ tay Ngài Lương Y độc nhãn này đều biết những xầm xì đàng sau lời khuyên của nhà quân sự lừng danh thời đó như sau: "Hoa kỳ không thể thắng cuộc chiến tranh du kích bằng sức mạnh của một cuộc chiến qui ước. Muốn chiến thắng, hãy để họ thắng trước." Không biết hư thực ra sao, nhưng trong cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân, QLVNCH đã tịch thu nhiều tiền giấy của MTGPMN từ anh em bộ đội miền Bắc, và theo lời khai của các anh em đó, họ được lệnh vào Nam lần này là để tiếp thu và ở luôn.
Thực tế, cuộc tiếp thu này không thành công, nhưng đủ tạo điều kiện cho đoàn ngoại giao bóng bàn Hoa Kỳ và Ngài Bộ Trưởng Ngoại Giao Kissinger (gốc Do Thái) lần lượt đến Bắc Kinh để chuẩn bị cuộc hôn nhân Mỹ-Trung. Rồi năm 1972, TT Richard Nixon trao sính lễ "Kinh Tế Thị Trường"; và nhận của hồi môn "Mèo Đen Mèo Trắng" với chiếc đuôi XHCN, bắt đầu tuần trăng mật với Rồng hơn bốn thập niên qua. Trong bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu xem Rồng TH đã rung chuyển thế giới ra sao từ khi Tổng Thống Nixon đánh thức nàng.
Chắc chúng ta, ai cũng biết rằng người Mỹ là bậc thầy trong nghề thuần hóa dã thú để hái ra tiền. Từ voi, cọp, hùm beo, sư tử, cá voi, hải mã; cho đến cá sấu, tắc kè, kỳ nhông đều răm rắp làm theo họ không sai một động tác nào, để họ thu tiền từ tay du khách, dù có phải đứng xếp hàng cả cây số để mua vé. Rồng TH cũng không vượt ra khỏi qui luật đó. Tuy nhiên, vì là Rồng, có tầm vóc khổng lồ (giant), lại ngủ quá lâu; vừa bệnh vừa đói nên cần được tẩm bổ bằng Kinh Tế Thị Trường. Rồng lại quen sống trong ao mặn Cộng Sản Chủ Nghĩa; nếu bỏ nàng vô ngay ao nước ngọt Tự Do Dân Chủ, rồng sẽ bị sốc. Vì vậy mà "Anh Hai" đã phải mất hơn bốn thập niên tăng ngọt bớt mặn cho ao Rồng bằng KTTT-XHCN; đồng thời cho Rồng ăn thật no bằng ngân khoản thặng dư mậu dịch (surplus) nhờ đổ rác vào Mỹ (được miễn hoặc giảm thuế quan) cho khách thập phương đến mua. Nhờ vậy mà Rồng không còn hiếu chiến như xưa. Thật vậy, trong 1 lớp học về tài chánh quốc tế, vị Giáo Sư đã hỏi chúng tôi như sau: "Các bạn có biết tại sao người ta đem rác đổ vô nhà mình, mà mình phải chịu và chấp nhận mang nợ?" Câu trả lời sau cùng là: "Dù sao thì món nợ đó vẫn nhẹ hơn chi phí chiến tranh rất nhiều."

Mao Trạch Đông "bắt tay" với tổng thống Nixon. Tuy rác được bán rẻ như cho, Anh Hai cũng được hưởng lợi qua 2 lần thuế: thuế tiêu thụ từ người mua và thuế lợi tức từ tiền lời của các nhà bán lẻ lẫn bán sỉ. Anh Hai mở toang cửa mời du khách lấy vé máy bay rẻ nhất toàn cầu, ở khách sạn đúng chuẩn quốc tế mà vẫn rẻ hơn ở Việt Nam, thưởng ngoạn đủ trò giải trí cho mọi lứa tuổi, rồi mua hàng thoải mái mang về; nhờ vậy, tuy là chúa chổm mang nợ, anh hai vẫn có tiền dư để dành khi hữu sự mang ra xài thoải mái. Còn Rồng thì phục hồi sinh lực, phát tướng phát tài, vừa đủ sức làm trò chào mừng Thiên Niên Kỷ thứ 21 ở sân Thế Vận Hội hình tổ Rồng mà thế gian lại tưởng lầm là tổ chim đại bàng. Lỡ bộ; Rồng tự phát họa nền văn minh chim bồ câu; rằng văn minh thế giới sẽ chuyển dịch từ Tây sang Đông với chim bồ câu là biểu tượng; mà Rồng chính là bụng của chim, ẩn chứa Chủ Nghĩa Chủng Tộc Hán cộng thêm chút hương liệu "Hài Hòa", chuẩn bị lên ngôi bá chủ.
Thông minh nhứt nam tử như Anh Hai, lại cùng chăn gối với Rồng ít ra cũng được nửa thế kỷ, lẽ nào không hiểu được lòng nàng. Còn nàng thì cứ sum soe, càng no cơm ấm cật càng trửng mỡ; hết lượn xuống biển Đông lại vòng qua biển Tây. Hết vờn Đông Nam Á, lại bởn với Châu Phi, rồi hò hẹn với xóm giềng ngay sân sau nhà anh chồng hào phóng, chuẩn bị một thời đại chuyển dịch văn minh bằng đường lối "Hài Hòa". Thực chất của chiến lược "Hài Hòa" là một tổng hợp từ học thuyết "Bình Thiên Hạ (nghĩa là gồm thâu thiên hạ)" của Khổng Sư, "Bốn Hiện Đại" của Đại Hán Đặng Tiểu Bình, và "Bồ Câu Trắng" chân đỏ của Hồ Cẩm Đào.
Thế là lời tiên tri của Nã Phá Luân Đại Đế đã ứng nghiệm rõ ràng, không ai còn nghi ngờ gì nữa. Bài diễn văn của TT Obama đã làm cho truyền thông của Rồng ù tai, hoa mắt nên bỏ sót nhiều đoạn không ghi, làm Anh Hai cục hứng. Ngoại Trưởng Hilary Clinton tung thêm vài quả bóng xanh "Hợp Tác Hai Chiều và Có Trách Nhiệm" để thăm dò tiếp; Rồng nguây nguẫy đòi bóng đỏ "Hợp Tác Quốc Phòng" hai bên cùng hưởng lợi.
Trong khi Anh Hai làm ngơ truớc sự kiện Rồng đổi màu từ trắng qua đỏ, thì từ cổng phía Nam của tổ Rồng, ngài Đại Sứ Michael Michalak đã nhờ chiếc loa BBC truyền rao khắp thế giới cho bàng dân thiên hạ biết: "Quan hệ giữa HK và TQ là quan hệ hết sức phức tạp. Chúng tôi có nhiều mối quan hệ về kinh tế và chính trị với TQ. Tôi được biết rằng, một số cố vấn của ông Barrack Obama cho rằng, trong những ngày đầu tiên ông nhậm chức, chính sách đối ngoại của Tân Tổng Thống sẽ là Trung Quốc, Trung Quốc và Trung Quốc."
Từ đó, Rồng cảm nhận được "cơm chẳng lành canh chẳng ngọt" nên gấp rút cử Đặc Sứ Wang Jiarui qua cửa Đông Bắc lên dây cót cho Đồng Chí Kim, hát tiếp bài "con cá chết vì nước"; quyết trừng phạt người anh em phía Nam bằng quân đội nhân dân ưu việt; xé bỏ các hiệp ước chưa ráo mực, vừa ký với người anh em để chuẩn bị cho tiến trình thống nhứt đất nước trong hòa bình. Rồi, nào là tiếp tục chương trình hạt nhân, nào là chuẩn bị phóng thử hỏa tiển tầm xa để dằn mặt "Anh Hai". Không biết Ngài Đặc Sứ họ Wang của Rồng hứa cho bao nhiêu súng đạn phế thải sau thời kỳ "Bốn Hiện Đại", lương khô lẫn dép râu đang lên mốc; chứ đề nghị giữ dùm mấy hòn đảo đang tranh chấp là chắc mẽm. Có thế thì mới bảo đảm được số nợ sau này chứ. Nếu không tin, Kim Chủ Tịch cứ qua hỏi Ngài Tổng Bí Thư của Việt Nam thì rõ.
Dù sao thì âm vang của họ Kim sau 6 tháng vắng bóng để chuẩn bị đổi màu, cũng đã lan toả ra những nơi có cơ duyên in đậm dấu chưn Rồng. Iran đòi HK xin lỗi về cáo buộc hạt nhân; bày hàng mới bằng việc phóng hỏa tiển và vệ tinh thám hiểm không gian, rồi rao to: "Đây là hàng thật, tự chế trong thời gian bị cấm vận", như một thách thức mới với "Anh Hai". Lại nữa, từ đảo quốc Cuba, vị "Cha Già Dân Tộc" mới khen xã giao TT Obama trong ngày nhậm chức, tuần lễ sau lên tiếng đòi lại Guatanamo. Chưa hết đâu, từ núi rừng trùng điệp của Hy Mã Lạp Sơn, bộ hạ của Rồng đang vung tay mở cuộc đàn áp mới nhắm vào phong trào đòi tự trị Tây Tạng, khiến Đức Đạt Lai Lạt Ma phải một lần nữa khua chuông cầu cứu khắp năm châu. Đặc biệt hơn cả, Rồng đang gậm nhấm bằng đường lối hài hòa một mãng lớn Đông Nam Á bằng 16 chữ vàng: "Ổn định lâu dài, láng giềng hữu nghị, tin tưởng lẫn nhau, hợp tác toàn diện", bao gồm Việt Nam, Lào, Miên, và Miến Điện; tạo bất ổn ở Thái Lan và Tích Lan.
Trong lúc chiến dịch chào hàng của Rồng đang nở rộ; từ Sudan, các công tố viên của tòa án quốc tế đang buộc tội TT Bashir, là đã dàn dựng một chiến dịch cưỡng hiếp, sát nhân và trục xuất người dân Darfur, gây nạn chết đói mà thế giới phải bàng hoàng, và yêu cầu các quan tòa ra trát bắt ông Bashir về tội diệt chủng. Chủ Tịch họ Đào đành phải ra mặt cam kết ủng hộ đàn em để trả ơn cho việc cung cấp phần lớn số dầu của Sudan, cho Rồng có đủ số dự trữ ba năm.
Cùng với tín hiệu đỏ đang nhấp nháy trên lưng Rồng, Thủ Tướng họ Ôn đang bận rộn ở Luân Đôn chào hàng "Hài Hòa", ngoài xanh trong đỏ, bị sinh viên Anh lật tẩy sự dối trá bằng cú ném giày "ô nhục". Thủ Tướng Brown đành ký bản ghi nhớ để an ủi họ Ôn; nào ngờ trong giây phút ngắn ngủi ấy, phóng viên BBC trình làng cờ Anh treo ngược, một mật mã cho mọi người biết là quân địch đang có mặt trong phố Downing. Thâm chưa?
Tại Hoa Thịnh Đốn, TT Obama đang thử vài chiêu phục hoạt kinh tế, có phảng phất chút mùi bảo hộ. Chiêu giáo đầu "Buy American" (mua hàng Mỹ) vừa tung được vài hôm, phải thu lại vì chạm mạnh vào anh bạn Đồng Minh Chiến Lược Gia Nả Đại trong tổ chức NAFTA; rồi khẩu hiệu "Không Bảo Hộ (protectionism)" của vị Tổng Thống tiền nhiệm George W. Bush; và quan trọng hơn cả, luật cạnh tranh của WTO. Dù sao cũng nhờ "team work" và tự do dân chủ, Thượng Nghị Viện đã điều chỉnh kịp thời. Chúng ta còn chờ xem hiệu quả của chiêu kế tiếp về bảo hộ lao động, tăng quyền hạn cho công đoàn và hạn chế lương của quản trị viên hàng đầu ngành ngân hàng không quá $500.000 một năm, trộn lẫn trong gói kích thích kinh tế hơn tám trăm tỷ Mỹ Kim từ quỹ dự trữ Liên Bang.
Chiến dịch ngoại giao hạ nhiệt của TT Obama cũng đang được tung ra nhanh chóng; đậm nét hơn cả là chuyến đi Nam Hàn của Bà Ngoại Trưởng Clinton vào trung tuần tháng hai này, như dấu hiệu lên giây cót cho đồng minh, đáp trả sự hà hơi tiếp sức của Đặc Sứ Wang. Đây cũng là lời cảnh báo cho Rồng biết thế nào là "smart power" và thế nào là ngoại giao "hai chiều".
Việt Nam chúng ta, vì ở ngay trước mũi của Rồng, nên thuộc làu chiêu thức của nàng. Khi bình ổn thì Rồng ẩn dưới vực sâu, đủ sự tỉnh mịch để nghĩ ra mưu ma chước quỷ, gồm thâu thiên hạ. Nay Rồng đang vừa bị bội thực vì uống dầu dự trữ ba năm với giá trên trời, đang ngậm đắng nuốt cay chịu lỗ. Gia đình "Anh Hai" thì quá mệt vì rác của Rồng, vừa thâm thủng mậu dịch vừa phải thu dọn, ép thành kiện, bán ve chai cho tắc kè, kỳ nhông mua về tái chế. Dân Mỹ thì sợ kinh tế suy trầm lâu, nên hạ quyết tâm từ bỏ thú vui mua sắm.
Mới không bán được rác có nửa năm mà nước đá trong thùng "surplus" của Rồng đã lưng bộn rồi còn gì. Không khéo, chưa hết năm con cọp, hai ngàn tỷ Mỹ Kim gởi trong tủ sắt của "Anh Hai" sẽ bốc hơi thành mây khói. Con cái của Rồng đang mất nhà, mất việc; mới có nửa năm đã lên tới vài ba chục triệu. Bài toán môi trường đang đè nặng vai Rồng, bước tới thì run, bước lui thì đói. Ăn quen nhịn không quen, nên chị Rồng phải chơi nước đôi: vừa ra lệnh cho đàn em khua thùng thiết bể hù dọa Anh hai, vừa dòm bị bửu bối sau lưng Obama, tùy mức độ phục hoạt kinh tế, tài chánh của chàng ra sao, mà nàng sẽ đổi màu cho phù hợp. Anh Hai rồi ra, chắc sẽ định giá các lô hàng đang bày bán ồn ào của Rồng để bù lỗ đôi chút, gọi là "có đi có lại mới toại lòng nhau". Về phía Rồng, phải từ bỏ nước mặn và phải làm trò đúng bài bản để đổi lại ân sủng của Anh Hai nghen!
Toàn dân Việt Nam, trong và ngoài nước, hãy thật tỉnh táo nhìn cho rõ màu Rồng, để tìm ra ẩn số cho quê hương chúng ta. Và đừng quên rằng: "Họa vô đơn chí, Phúc bất trùng lai." Hay dễ hiểu hơn: "Họa đi có cặp, Phước không đến hai lần."
Florida, ngày 9 tháng 2 năm 2009
Huỳnh Công Luận
Xóm cũ
Nguyễn Ngọc Tư Những gương mặt người. Những nóc nhà thưa. Những cây cầu khỉ. Mỗi khi nhớ về xóm cũ, hiện lên ngay trong đầu cái phác họa giản dị đó, cùng những cánh đồng, mảnh vườn xanh xanh đậm nhạt bọc quanh. Một con đường khấp khểnh băng qua xóm, bên lối đi lau sậy chập chờn.
Và hai cái ti vi trắng đen, niềm vui, nỗi xao xuyến không tan của đám trẻ con nghèo, khi những rạ rơm, ao đìa, những trò nghịch trèo cây hái trái đã tạm khép cùng ánh sáng mặt trời. Chỉ còn đêm dài lắm. Nhiều lúc ngó mưa sụt sùi nhớ cũng mưa vầy, cũng những tối nhão ướt như vầy, mình ngoi ngóp trùm cao su đi coi ti vi. Lội bộ cũng xa, mò mẫm trong màu trời nhập nhoạng mà hớn hở như đi hội. Tối nào tụi trẻ con trong xóm tối nào cũng xúm lại hai nhà giàu sang nhất xóm (vì có… ti vi), dán mặt vào cái ánh sáng trắng lung linh kỳ ảo. Có đứa cứ hết chương trình hoạt họa là ngủ khò, ngáy pho pho mà không đêm nào vắng. Vài đứa khác mơ mộng thật thà, cứ khóc òa khi vở cải lương tới khúc đoạn trường, cô Nguyệt bồng con tới nhà người yêu cũ. Đường về khuya lơ khuya lắc, bạn bè lần lượt tới nhà, cứ qua mỗi ánh đèn là vắng đi đôi bước chân. Rồi chỉ còn lại một mình, đi qua những lùm trâm bầu, lùm tre hình thù kỳ dị bên đường, tưởng tượng bao nhiêu chuyện ma quái, đêm nào cũng quắn đuôi bỏ chạy. Vậy rồi chiều lại, vẫn xao xuyến lặn lội đi hẹn hò với cái… ti vi.
Nên xóm thêm một nóc nhà, trẻ con mừng hơn cả. Đường bớt vắng, thêm một ngọn đèn, thêm bạn, cùng những điều lạ lẫm. Dì Tư sinh tố quảy thùng kem về xóm, với bảy đứa con gái môi đỏ tóc dài, mớ tiếng Huế rặt của nhà dì như mở ra một chân trời mới, cả xóm mừng rơn khi biết o đi mô, có nghĩ cô đi đâu vậy. Trưa nào dì Tư cũng quảy thùng kem ngang qua xóm, dì gầy, đi hai hàng, cảm giác nếu chân dì mà thẳng thớm, thì sức nặng của thùng kem sẽ khiến dì té nghiêng té ngửa. Cứ xà bát hai hàng, dì rung chuông , sau tiếng chuông rung là tiếng chó sủa giòn tan, tiếng người lớn nạt mấy con chó, tiếng trẻ con xin tiền. Nghe như tiếng chuông của dì chọc nguậy vào một cái chảo âm thanh, khuấy nó lên, đảo đều rộn rã cho tới khi dì đi khuất.
Thêm một tiếng cười, lau sậy cũng bớt dày, đi vắng ba ngày đã thấy bên đường cặm một ngôi nhà mới, thấp tủn. Đất ven đường chỉ cỏ hoang mọc chen trong đá, bỗng thành cái rẫy dưa, bắp xanh rì. Ông Sáu Rẫy lại mở ra chân trời khác, làm bọn trẻ xóm nghèo há hốc với Bến Te, con cá zô bỏ vô zổ, nó nhảy nghe zột zẹt. Bà Sáu thì điếc đát, hỏi chiều nay ăn cơm với gì, bà nói zẫy không trồng khoai mì. Hỏi bà ơi bồ ngót bao nhiêu một bó, bà nói ừ, nhà có nuôi bốn con chó. Ông Sáu cuốc đất ngoài hè, nói vọng vô, “cái bà này, điếc mà hay nói…”, bà ngỏn ngoẻn cười, “tối đâu mà tối, còn mặt tời mà…”.
Ngày ông Sáu tới, rồi lại nhổ chòi tha vợ con về xứ, cả xóm vẫn chỉ gọi ông, nhớ ông vận theo nghề rẫy mà gia đình ông gắn bó. Như tên dì Tư gắn với thùng sinh tố, cà rem. Như quên luôn tên thật của bà Tám Bánh Cam, ông Mười Cốm Bắp. Gọi tên một người xóm cũ là gọi cả hình ảnh bàn chân chai, vết sẹo dài, bàn tay khô, màu da sạm… và tên những đứa trẻ đã theo cha mẹ đến đây, kết bạn kết bè. Bỗng một sáng vài đứa đi mất, mù mịt như chưa từng có ở trên đời.
Cuộc đời lại cặm vào mảnh đất bỏ trống một ngôi nhà mới, những đứa trẻ mới, một số phận mới. Người đàn ông đi chân giả lúc nào cũng bước cắm cúi, thằng bé con chú vác cái bụng to vèo đằng trước, chắc là nó ăn đất quá nhiều. Chiều đi ngang qua gặp nó đang gặm mớ rễ tranh - ba má nó đào bật lên để lên giồng gieo cải. Nó chìa tay ra, khoe “ngọt lắm!”, sau này nhớ lại, mắc cười, trẻ con có thể tiệc tùng kết bạn từ mớ… rễ cây.
Người lớn chậm rãi hơn, họ sẽ rề lại hỏi cư dân mới của xóm, anh thứ mấy, quê quán ở đâu mà tới đây, và ngó cái chân giả cứng đờ, hỏi anh bị thương ở trận nào. Phước Long hả ? Tui cũng bị cái thẹo bự này, ngay trận đó. Câu chuyện bỗng trở nên ngượng ngập, họ đã từng cầm súng đối mặt nhau, cùng nhau mang về những vết thương, vết thấy được đã lành, vết lòng vẫn rịn máu.
Nhưng người lớn biết cách chữa lành, bằng những điều đơn giản. Đem cho tô chè đậu xanh, nửa mục măng tre, phụ giúp nhau lợp mái nhà, cất chòi vó, sẻ nhau vài gánh nước mưa uống trong mùa nắng, mớ củi chụm qua mùa mưa. Ba của thằng Rễ Tranh đã thôi giấu mình trong lầm lũi, ánh mắt không còn ủ dột cặm xuống chân. Chiều chiều, ông còn vui vẻ tấp tểnh qua bên xóm uống trà.
Con đường xóm lông chông đá, lổn nhổn những ổ gà, hai mươi năm qua với tôi, vẫn là con đường đẹp nhất. Nó đưa đón những bàn chân tần tảo, nó chứng kiến những tấm lòng thơm thảo. Thỉnh thoảng tôi vẫn để nhớ dắt tay về chỗ ngồi yêu thích, vắt vẻo trên ngọn cây cao, ở đó, tôi thấy cô bé bưng dĩa bánh lá mít chan nước cốt dừa đang đi dưới mưa lất phất, tay nó cầm cái nón nhỏ lóng ngóng che đầu thì sợ bánh ướt, che bánh thì ướt đầu, cuối cùng, nó che nửa này nửa kia. Đi một đỗi đường, cô gặp một thằng bé khác đang đứng chơi, cô sượng sùng nói, “má tao cho má mầy bánh”. Ở đó, tôi nhìn thấy chị hai mình, lúp xúp đội thúng rau muống, ngò gai đi chợ sớm mai, tôi nhận biết từng người quen trong xóm, qua nón, áo, qua cái dáng đi cắm cúi, xấp xãi, hớt hãi, tất tả, hay thong thả…
Họ mới là linh hồn của xóm. Sau này đi đây đó, đôi khi gặp lại vài khung cảnh y hệt như xóm-của-mình, nhưng xúc động chỉ thoáng qua rồi tạnh, bởi không có những gương mặt, dáng đi quen.
Bây giờ, xóm còn nguyên chỗ cũ, nhà tôi vẫn còn chỗ cũ, chỉ láng giềng không còn. Người đã dời đi tản mác. Người vẫn ở đó nhưng không phải là người của những năm xưa. Đôi lúc trên đường về, qua những ngôi nhà cao tầng kín cửa, qua những cãi cọ đôi co từng tấc đất, qua những bon chen háy nguýt, bỗng nghĩ, nơi đây từng có những người đàn bà, lúc xay bột làm bánh, họ không quên đong thêm vùa gạo để thơm thảo với láng giềng.
Bây giờ họ đã về đâu?!
Nguyễn Ngọc Tư Những gương mặt người. Những nóc nhà thưa. Những cây cầu khỉ. Mỗi khi nhớ về xóm cũ, hiện lên ngay trong đầu cái phác họa giản dị đó, cùng những cánh đồng, mảnh vườn xanh xanh đậm nhạt bọc quanh. Một con đường khấp khểnh băng qua xóm, bên lối đi lau sậy chập chờn.
Và hai cái ti vi trắng đen, niềm vui, nỗi xao xuyến không tan của đám trẻ con nghèo, khi những rạ rơm, ao đìa, những trò nghịch trèo cây hái trái đã tạm khép cùng ánh sáng mặt trời. Chỉ còn đêm dài lắm. Nhiều lúc ngó mưa sụt sùi nhớ cũng mưa vầy, cũng những tối nhão ướt như vầy, mình ngoi ngóp trùm cao su đi coi ti vi. Lội bộ cũng xa, mò mẫm trong màu trời nhập nhoạng mà hớn hở như đi hội. Tối nào tụi trẻ con trong xóm tối nào cũng xúm lại hai nhà giàu sang nhất xóm (vì có… ti vi), dán mặt vào cái ánh sáng trắng lung linh kỳ ảo. Có đứa cứ hết chương trình hoạt họa là ngủ khò, ngáy pho pho mà không đêm nào vắng. Vài đứa khác mơ mộng thật thà, cứ khóc òa khi vở cải lương tới khúc đoạn trường, cô Nguyệt bồng con tới nhà người yêu cũ. Đường về khuya lơ khuya lắc, bạn bè lần lượt tới nhà, cứ qua mỗi ánh đèn là vắng đi đôi bước chân. Rồi chỉ còn lại một mình, đi qua những lùm trâm bầu, lùm tre hình thù kỳ dị bên đường, tưởng tượng bao nhiêu chuyện ma quái, đêm nào cũng quắn đuôi bỏ chạy. Vậy rồi chiều lại, vẫn xao xuyến lặn lội đi hẹn hò với cái… ti vi.
Nên xóm thêm một nóc nhà, trẻ con mừng hơn cả. Đường bớt vắng, thêm một ngọn đèn, thêm bạn, cùng những điều lạ lẫm. Dì Tư sinh tố quảy thùng kem về xóm, với bảy đứa con gái môi đỏ tóc dài, mớ tiếng Huế rặt của nhà dì như mở ra một chân trời mới, cả xóm mừng rơn khi biết o đi mô, có nghĩ cô đi đâu vậy. Trưa nào dì Tư cũng quảy thùng kem ngang qua xóm, dì gầy, đi hai hàng, cảm giác nếu chân dì mà thẳng thớm, thì sức nặng của thùng kem sẽ khiến dì té nghiêng té ngửa. Cứ xà bát hai hàng, dì rung chuông , sau tiếng chuông rung là tiếng chó sủa giòn tan, tiếng người lớn nạt mấy con chó, tiếng trẻ con xin tiền. Nghe như tiếng chuông của dì chọc nguậy vào một cái chảo âm thanh, khuấy nó lên, đảo đều rộn rã cho tới khi dì đi khuất.
Thêm một tiếng cười, lau sậy cũng bớt dày, đi vắng ba ngày đã thấy bên đường cặm một ngôi nhà mới, thấp tủn. Đất ven đường chỉ cỏ hoang mọc chen trong đá, bỗng thành cái rẫy dưa, bắp xanh rì. Ông Sáu Rẫy lại mở ra chân trời khác, làm bọn trẻ xóm nghèo há hốc với Bến Te, con cá zô bỏ vô zổ, nó nhảy nghe zột zẹt. Bà Sáu thì điếc đát, hỏi chiều nay ăn cơm với gì, bà nói zẫy không trồng khoai mì. Hỏi bà ơi bồ ngót bao nhiêu một bó, bà nói ừ, nhà có nuôi bốn con chó. Ông Sáu cuốc đất ngoài hè, nói vọng vô, “cái bà này, điếc mà hay nói…”, bà ngỏn ngoẻn cười, “tối đâu mà tối, còn mặt tời mà…”.
Ngày ông Sáu tới, rồi lại nhổ chòi tha vợ con về xứ, cả xóm vẫn chỉ gọi ông, nhớ ông vận theo nghề rẫy mà gia đình ông gắn bó. Như tên dì Tư gắn với thùng sinh tố, cà rem. Như quên luôn tên thật của bà Tám Bánh Cam, ông Mười Cốm Bắp. Gọi tên một người xóm cũ là gọi cả hình ảnh bàn chân chai, vết sẹo dài, bàn tay khô, màu da sạm… và tên những đứa trẻ đã theo cha mẹ đến đây, kết bạn kết bè. Bỗng một sáng vài đứa đi mất, mù mịt như chưa từng có ở trên đời.
Cuộc đời lại cặm vào mảnh đất bỏ trống một ngôi nhà mới, những đứa trẻ mới, một số phận mới. Người đàn ông đi chân giả lúc nào cũng bước cắm cúi, thằng bé con chú vác cái bụng to vèo đằng trước, chắc là nó ăn đất quá nhiều. Chiều đi ngang qua gặp nó đang gặm mớ rễ tranh - ba má nó đào bật lên để lên giồng gieo cải. Nó chìa tay ra, khoe “ngọt lắm!”, sau này nhớ lại, mắc cười, trẻ con có thể tiệc tùng kết bạn từ mớ… rễ cây.
Người lớn chậm rãi hơn, họ sẽ rề lại hỏi cư dân mới của xóm, anh thứ mấy, quê quán ở đâu mà tới đây, và ngó cái chân giả cứng đờ, hỏi anh bị thương ở trận nào. Phước Long hả ? Tui cũng bị cái thẹo bự này, ngay trận đó. Câu chuyện bỗng trở nên ngượng ngập, họ đã từng cầm súng đối mặt nhau, cùng nhau mang về những vết thương, vết thấy được đã lành, vết lòng vẫn rịn máu.
Nhưng người lớn biết cách chữa lành, bằng những điều đơn giản. Đem cho tô chè đậu xanh, nửa mục măng tre, phụ giúp nhau lợp mái nhà, cất chòi vó, sẻ nhau vài gánh nước mưa uống trong mùa nắng, mớ củi chụm qua mùa mưa. Ba của thằng Rễ Tranh đã thôi giấu mình trong lầm lũi, ánh mắt không còn ủ dột cặm xuống chân. Chiều chiều, ông còn vui vẻ tấp tểnh qua bên xóm uống trà.
Con đường xóm lông chông đá, lổn nhổn những ổ gà, hai mươi năm qua với tôi, vẫn là con đường đẹp nhất. Nó đưa đón những bàn chân tần tảo, nó chứng kiến những tấm lòng thơm thảo. Thỉnh thoảng tôi vẫn để nhớ dắt tay về chỗ ngồi yêu thích, vắt vẻo trên ngọn cây cao, ở đó, tôi thấy cô bé bưng dĩa bánh lá mít chan nước cốt dừa đang đi dưới mưa lất phất, tay nó cầm cái nón nhỏ lóng ngóng che đầu thì sợ bánh ướt, che bánh thì ướt đầu, cuối cùng, nó che nửa này nửa kia. Đi một đỗi đường, cô gặp một thằng bé khác đang đứng chơi, cô sượng sùng nói, “má tao cho má mầy bánh”. Ở đó, tôi nhìn thấy chị hai mình, lúp xúp đội thúng rau muống, ngò gai đi chợ sớm mai, tôi nhận biết từng người quen trong xóm, qua nón, áo, qua cái dáng đi cắm cúi, xấp xãi, hớt hãi, tất tả, hay thong thả…
Họ mới là linh hồn của xóm. Sau này đi đây đó, đôi khi gặp lại vài khung cảnh y hệt như xóm-của-mình, nhưng xúc động chỉ thoáng qua rồi tạnh, bởi không có những gương mặt, dáng đi quen.
Bây giờ, xóm còn nguyên chỗ cũ, nhà tôi vẫn còn chỗ cũ, chỉ láng giềng không còn. Người đã dời đi tản mác. Người vẫn ở đó nhưng không phải là người của những năm xưa. Đôi lúc trên đường về, qua những ngôi nhà cao tầng kín cửa, qua những cãi cọ đôi co từng tấc đất, qua những bon chen háy nguýt, bỗng nghĩ, nơi đây từng có những người đàn bà, lúc xay bột làm bánh, họ không quên đong thêm vùa gạo để thơm thảo với láng giềng.
Bây giờ họ đã về đâu?!

