Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Chiếc Giày Xin Giữ Lại
Tuấn Khanh Thật là hi hữu khi thế giới chứng kiến những chiếc giày “ thái độ” được ném về phía trước, nhằm vào hai chính khách của hai cường quốc lớn nhất thế giới.
Cảm giác thật lạ lùng khi giày lại trở thành một phương tiện biểu cảm sau hàng thế kỷ văn minh của loài người.
Mặc dù đích đến của những chiếc giày đó khác nhau nhưng rõ ràng, cách phản ứng của những người “nhận giày” cũng khác nhau.
Ông Bush, tổng thống Hoa Kỳ đã cười còn ông Ôn Gia Bảo, thủ tướng Trung Hoa thì lại giận dữ ra mặt.
Điều này cũng nhanh chóng cho thấy thái độ chấp nhận điều mình đã làm ra trên một tinh thần dân chủ và tính cách thượng tôn mang tính cách triều đình, không chấp nhận nổi những sự khác biệt.
Chiếc giày được ném đi
Việt Nam là quốc gia đã từng có những cuộc chiến với nước Mỹ và Trung Quốc. Những kỷ niệm về các cuộc chiến đó còn khốc liệt và bi thảm hơn bất kỳ ai trong quốc gia của những người từng ném giày.
Tôi tự hỏi sẽ có bao nhiêu người trong đất nước tôi sẽ chọn ném giày vào chính phủ Mỹ hay chọn ném giày vào chính quyền Trung Quốc ?
Tháng 11 năm 2000, khi ông Clinton cùng vợ và con gái đến thăm Việt Nam đã được hàng hàng người dân, kể cả những cựu binh quân đội chào đón và chờ được bắt tay.
Ông Clinton có lẽ cũng là lãnh tụ duy nhất của một quốc gia từng có ân oán với Việt Nam không lo sợ chuyện mình sẽ bị ném giày. Trong khi đó, dù được ca ngợi với tình hữu nghị lâu bền, nhưng chưa có một lãnh tụ nào của Trung Quốc được người Việt Nam chào đón như vậy.
Ở một phía khác được bộc lộ rất rõ trong các vụ biểu tình chống Bắc Kinh xâm lược đảo và đất Việt Nam vào tháng 12 năm 2007, đến mức Nhà nước Việt Nam phải huy động các lực lượng trấn áp hùng hậu để làm yên lòng chính quyền Trung Quốc.
Người Việt Nam không có thói quen ném giày, nên người ta phản ứng bằng cách ném các khẩu hiệu về phía các Tòa Tổng lãnh sự và Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam và mọi nơi trên thế giới với những hàng chữ bằng cả tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Hoa, đại loại như “đồ xâm lược”.
Ném giày vào ai ?
Trong một bài viết của tác giả Quách Tường Uy, người Trung Quốc đang du học tại London, có viết rằng thế hệ của cô được người lớn dạy rằng Việt Nam là bọn xấu và hết sức vô ơn, tàn nhẫn.
Trong ký ức của tôi thì người Việt Nam lại luôn thấy những người Hoa là những người chân chất và hiền lành, dễ làm bạn.
Trong lời dạy của người lớn mà trẻ con miền Nam học được, những người Hoa này là những người yêu nước lưu lạc và mong chờ một ngày đất nước có thể phản Thanh phục Minh thành công mà quay về cố hương.
Từ tinh thần yêu nước cảm động này khiến tôi có rất nhiều bạn người Hoa ở tuổi học trò.
Với tôi và nhiều người khác, kể cả những người đã từng xuống đường vào ngày 9 tháng 12 năm 2007 để phản đối Trung Quốc xâm lược đảo và đất Việt Nam, không có người Trung Hoa xấu, mà chỉ có chính xác chính quyền Cộng sản Trung Quốc là rất xấu.
Không chỉ xấu với đất nước Việt Nam của chúng tôi, mà xấu với cả thế giới bằng cả chiều dài lịch sử hành động và ngụy biện của họ.
Thật là khó giải thích vì sao máu của những người dân Trung Hoa và thanh niên Việt Nam phải đổ xuống dọc đường biên giới hai nước trong cuộc chiến năm 1979. Điều làm rất nhiều người bạn Việt và Hoa tại Chợ Lớn, Saigon, chỉ mới buổi sáng uống ly cafe và tán gẫu vui vẻ với nhau, buổi chiều đã nhìn nhau ngại ngần im lặng.
Tác giả Quách Tường Uy có viết rằng thế hệ trẻ của cả hai nước đã dần quên đi cuộc chiến 1979 và không mang nặng mặc cảm về nó. Nhưng đó có lẽ là cảm giác riêng của thanh niên Trung Quốc.
Chiếc giày xin được giữ lại
Lý do của ý thức chống chính quyền Trung Quốc, là bởi người Việt Nam không bao giờ có thể an tâm với sự kiêu ngạo và tính bá quyền của những lãnh tụ như Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình... vẫn được nối dài đến thời kỳ của Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo... và có thể sẽ còn nối dài nữa trong tinh thần Đại Trung Hoa.
Nhắc lại chuyện chiếc giày, khi còn nhỏ, tôi được đưa đi xem triển lãm tội ác của “Bọn bành trướng Bắc Kinh” từ cuộc chiến 1979.
Một trong những ký ức đau đớn nhất mà tôi còn nhớ, đó là một chiếc giày lính bằng vải dính máu của một chiến binh Việt Nam nào đó đã chết. Có thể đó là một công nhân ở Hải Phòng hay một người nông dân nào đó ở Cần Thơ.
Khi Việt Nam tái lập tình hữu nghị với Nhà nước Trung Quốc, một phần lịch sử trên đã biến mất để không làm “tổn thương tình hữu nghị của hai quốc gia”.
Tôi cũng không còn thấy chiếc giày đó nữa, cũng như không được biết rõ đất nước tôi đã mất hay giữ được bao nhiêu đất đai của tổ tiên sau cuộc chiến đó.
Nếu tôi được hỏi là sẽ chọn ném giày vào ai trong mối quan hệ Việt - Mỹ - Trung Quốc này, có lẽ tôi sẽ chọn xin và giữ lại chiếc giày đó - chính chiếc giày đẫm máu của tuổi thanh niên Việt Nam và đặt vào một không gian trân trọng nhất của Tổ quốc tôi hôm nay.
Thế hệ chúng tôi cũng như những người Hoa mà chúng tôi đã được biết, đã sống chung trên đất nước tôi không muốn thù hận nhưng thật lòng không bao giờ có thể lãng quên.
Đây là ý kiến riêng của tác giả, nhạc sỹ Tuấn Khanh.
Đánh dấu một chiến thuật mới trong cuộc tranh đấu của người Công Giáo kể từ khi hàng ngàn giáo dân khởi sự thực hiện các buổi cầu nguyện tập thể cuối năm 2007 để đòi lại những tài sản bị nhà nước tịch thâu.
Tuấn Khanh (Theo BBC)
Tuấn Khanh Thật là hi hữu khi thế giới chứng kiến những chiếc giày “ thái độ” được ném về phía trước, nhằm vào hai chính khách của hai cường quốc lớn nhất thế giới.
Cảm giác thật lạ lùng khi giày lại trở thành một phương tiện biểu cảm sau hàng thế kỷ văn minh của loài người.
Mặc dù đích đến của những chiếc giày đó khác nhau nhưng rõ ràng, cách phản ứng của những người “nhận giày” cũng khác nhau.
Ông Bush, tổng thống Hoa Kỳ đã cười còn ông Ôn Gia Bảo, thủ tướng Trung Hoa thì lại giận dữ ra mặt.
Điều này cũng nhanh chóng cho thấy thái độ chấp nhận điều mình đã làm ra trên một tinh thần dân chủ và tính cách thượng tôn mang tính cách triều đình, không chấp nhận nổi những sự khác biệt.
Chiếc giày được ném đi
Việt Nam là quốc gia đã từng có những cuộc chiến với nước Mỹ và Trung Quốc. Những kỷ niệm về các cuộc chiến đó còn khốc liệt và bi thảm hơn bất kỳ ai trong quốc gia của những người từng ném giày.
Tôi tự hỏi sẽ có bao nhiêu người trong đất nước tôi sẽ chọn ném giày vào chính phủ Mỹ hay chọn ném giày vào chính quyền Trung Quốc ?
Tháng 11 năm 2000, khi ông Clinton cùng vợ và con gái đến thăm Việt Nam đã được hàng hàng người dân, kể cả những cựu binh quân đội chào đón và chờ được bắt tay.
Ông Clinton có lẽ cũng là lãnh tụ duy nhất của một quốc gia từng có ân oán với Việt Nam không lo sợ chuyện mình sẽ bị ném giày. Trong khi đó, dù được ca ngợi với tình hữu nghị lâu bền, nhưng chưa có một lãnh tụ nào của Trung Quốc được người Việt Nam chào đón như vậy.
Ở một phía khác được bộc lộ rất rõ trong các vụ biểu tình chống Bắc Kinh xâm lược đảo và đất Việt Nam vào tháng 12 năm 2007, đến mức Nhà nước Việt Nam phải huy động các lực lượng trấn áp hùng hậu để làm yên lòng chính quyền Trung Quốc.
Người Việt Nam không có thói quen ném giày, nên người ta phản ứng bằng cách ném các khẩu hiệu về phía các Tòa Tổng lãnh sự và Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam và mọi nơi trên thế giới với những hàng chữ bằng cả tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Hoa, đại loại như “đồ xâm lược”.
Ném giày vào ai ?
Trong một bài viết của tác giả Quách Tường Uy, người Trung Quốc đang du học tại London, có viết rằng thế hệ của cô được người lớn dạy rằng Việt Nam là bọn xấu và hết sức vô ơn, tàn nhẫn.
Trong ký ức của tôi thì người Việt Nam lại luôn thấy những người Hoa là những người chân chất và hiền lành, dễ làm bạn.
Trong lời dạy của người lớn mà trẻ con miền Nam học được, những người Hoa này là những người yêu nước lưu lạc và mong chờ một ngày đất nước có thể phản Thanh phục Minh thành công mà quay về cố hương.
Từ tinh thần yêu nước cảm động này khiến tôi có rất nhiều bạn người Hoa ở tuổi học trò.
Với tôi và nhiều người khác, kể cả những người đã từng xuống đường vào ngày 9 tháng 12 năm 2007 để phản đối Trung Quốc xâm lược đảo và đất Việt Nam, không có người Trung Hoa xấu, mà chỉ có chính xác chính quyền Cộng sản Trung Quốc là rất xấu.
Không chỉ xấu với đất nước Việt Nam của chúng tôi, mà xấu với cả thế giới bằng cả chiều dài lịch sử hành động và ngụy biện của họ.
Thật là khó giải thích vì sao máu của những người dân Trung Hoa và thanh niên Việt Nam phải đổ xuống dọc đường biên giới hai nước trong cuộc chiến năm 1979. Điều làm rất nhiều người bạn Việt và Hoa tại Chợ Lớn, Saigon, chỉ mới buổi sáng uống ly cafe và tán gẫu vui vẻ với nhau, buổi chiều đã nhìn nhau ngại ngần im lặng.
Tác giả Quách Tường Uy có viết rằng thế hệ trẻ của cả hai nước đã dần quên đi cuộc chiến 1979 và không mang nặng mặc cảm về nó. Nhưng đó có lẽ là cảm giác riêng của thanh niên Trung Quốc.
Chiếc giày xin được giữ lại
Lý do của ý thức chống chính quyền Trung Quốc, là bởi người Việt Nam không bao giờ có thể an tâm với sự kiêu ngạo và tính bá quyền của những lãnh tụ như Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình... vẫn được nối dài đến thời kỳ của Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo... và có thể sẽ còn nối dài nữa trong tinh thần Đại Trung Hoa.
Nhắc lại chuyện chiếc giày, khi còn nhỏ, tôi được đưa đi xem triển lãm tội ác của “Bọn bành trướng Bắc Kinh” từ cuộc chiến 1979.
Một trong những ký ức đau đớn nhất mà tôi còn nhớ, đó là một chiếc giày lính bằng vải dính máu của một chiến binh Việt Nam nào đó đã chết. Có thể đó là một công nhân ở Hải Phòng hay một người nông dân nào đó ở Cần Thơ.
Khi Việt Nam tái lập tình hữu nghị với Nhà nước Trung Quốc, một phần lịch sử trên đã biến mất để không làm “tổn thương tình hữu nghị của hai quốc gia”.
Tôi cũng không còn thấy chiếc giày đó nữa, cũng như không được biết rõ đất nước tôi đã mất hay giữ được bao nhiêu đất đai của tổ tiên sau cuộc chiến đó.
Nếu tôi được hỏi là sẽ chọn ném giày vào ai trong mối quan hệ Việt - Mỹ - Trung Quốc này, có lẽ tôi sẽ chọn xin và giữ lại chiếc giày đó - chính chiếc giày đẫm máu của tuổi thanh niên Việt Nam và đặt vào một không gian trân trọng nhất của Tổ quốc tôi hôm nay.
Thế hệ chúng tôi cũng như những người Hoa mà chúng tôi đã được biết, đã sống chung trên đất nước tôi không muốn thù hận nhưng thật lòng không bao giờ có thể lãng quên.
Đây là ý kiến riêng của tác giả, nhạc sỹ Tuấn Khanh.
Đánh dấu một chiến thuật mới trong cuộc tranh đấu của người Công Giáo kể từ khi hàng ngàn giáo dân khởi sự thực hiện các buổi cầu nguyện tập thể cuối năm 2007 để đòi lại những tài sản bị nhà nước tịch thâu.
Tuấn Khanh (Theo BBC)

Nhật Trường, tiếng hát của một mùa kỷ niệm
lê hữu
Nơi cuối trời em thắp vì sao,
phiên gác buồn anh vẫn lẻ loi
“Lời cho người yêu nhỏ”
Trần Thiện Thanh Hầu như mỗi người trong chúng ta đều giữ riêng cho mình những khúc hát, những bài nhạc mình yêu thích nhất. Một bài nhạc cũ đôi lúc không có ý nghĩa gì nhiều lắm đối với người này thế nhưng đối với người khác, mỗi lần nghe lại, như khơi dậy cả “một trời kỷ niệm”. Khi nói về bài nhạc mình yêu thích, người ta cũng thường nói về giọng hát gắn liền với bài nhạc ấy. Không chỉ yêu bài nhạc ấy thôi, có khi người ta còn “yêu” cả giọng hát ấy nữa và chỉ muốn được nghe bài ấy với giọng ấy chứ không phải giọng nào khác. “Bài này là phải nghe Thái Thanh hát” hoặc “bài này không ai hát qua được Thái Thanh”, ta vẫn nghe như vậy. “Bài này” có thể là tên một nhạc phẩm của Phạm Duy, hay của Văn Cao, hay của Phạm Đình Chương…
Người ta có thể thay tên Thái Thanh trong những câu ấy bằng tên một ca sĩ nào khác, và “bài này” có thể là tên một nhạc phẩm của nhạc sĩ nào khác. Một trường hợp khá đặc biệt: khi bài nhạc được yêu thích là của Trần Thiện Thanh thì người ca sĩ hay giọng hát gắn liền với bài ấy nhiều phần lại là… tác giả của bài nhạc: ca sĩ Nhật Trường.
Từ “tiếng hát đôi mươi” đến “đêm giã từ sân khấu”
Bao giờ cũng vậy, nghe câu hát ấy và nghe giọng hát ấy cất lên đâu đó, cho dù có đang làm gì, tôi cũng lặng yên một lúc, lắng nghe cho đến hết bài nhạc. Câu hát như đánh thức trong tôi những nhớ thương dịu dàng và, nói như ở trên, cũng đã khơi dậy trong tôi cả “một trời kỷ niệm”.
Rồi đến một chiều phai nắng
và khi gió heo may sang,
tôi cúi đầu trên sân vắng…
Bài hát, thực ra cũng chẳng có gì đặc biệt lắm, chỉ là nói về nỗi niềm của chàng trai vừa “xếp áo thư sinh”, giã từ trường lớp, giã biệt tình đầu, vai mang hành trang bước vào đời quân ngũ.
Tôi lặng ngước trông cao vời,
nghe đâu nghìn mưa bão sắp xô lên đời mình…
Chữ “xô” ấy nghe hay quá, và phải là giọng hát ấy mới nghe ra được cái ý dập vùi của giông tố phũ phàng.
Xin chớ hỏi lòng nhau nữa,
vì biết nói sao cho vừa…
Chữ “hỏi” nghe chùng xuống như tiếng đàn chùng dây. Chữ “vì” khựng lại như một thoáng ngập ngừng. Chữ “nói” rướn lên, và nốt láy mỏng ở “cho… vừa” nghe sao mà tha thiết quá chừng!
Tôi vội bước ra sân trường
không quay nhìn đôi mắt thoáng… rưng rưng lệ buồn.
Cái xuống giọng ở những nốt nhạc “rưng rưng” ấy nghe sao mà… rưng rưng!
Giọng hát ấy là giọng Nhật Trường. Bài hát ấy là một bài của Trần Thiện Thanh, “Giây phút tạ từ” (1967).
Thường thì nhạc sĩ không phải là ca sĩ, và nếu kiêm nhiệm hai vai một lúc thì cũng… ít được tán thưởng. Muốn những ca khúc của mình tới được người yêu nhạc, cần đến một giọng hát; hơn thế nữa, một giọng hát phù hợp, thể hiện được tình cảm của bài nhạc. Trường hợp Trần Thiện Thanh có hơi khác một chút, ông được giới yêu nhạc biết đến qua sự giới thiệu của… ca sĩ Nhật Trường; hay nói cách khác, người ta yêu tiếng hát Nhật Trường từ khi chưa quen biết nhiều tên tuổi nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Tiếng hát Nhật Trường nghe được trên các làn sóng phát thanh ở miền Nam Việt Nam từ đầu thập niên 60’s, và đã sớm chinh phục trái tim thính giả yêu nhạc. Giọng hát ấy cũng cất lên trên các sân khấu ca nhạc, đại nhạc hội, và cả trong những màn “phụ diễn văn nghệ” cho các chương trình “tuyển lựa ca sĩ” của đài phát thanh Saigon tại rạp Quốc Thanh (nơi ông và ca sĩ Duy Khánh, mỗi lần dứt tiếng hát là mỗi lần nhận được những tràng pháo tay vang dội lẫn trong tiếng hò hét “bis, bis” từ phía khán giả cuồng nhiệt để yêu cầu hát tiếp, hát thêm, hát nữa…). Giọng hát ấy cũng nghe được qua các dĩa nhạc, băng nhạc và các chương trình ca nhạc của đài truyền hình, đài phát thanh Saigon, đài phát thanh Quân Đội, đặc biệt là chương trình Tiếng Hát Đôi Mươi (từ năm 1965) vào mỗi chiều thứ Hai trên làn sóng phát thanh đài Tiếng Nói Quân Đội. Giọng hát ấy cũng từng góp tiếng trong các ban nhạc truyền thanh, truyền hình được yêu chuộng thuở ấy như Tiếng Nhạc Tâm Tình (ca sĩ Anh Ngọc phụ trách), Tiếng Tơ Đồng (nhạc sĩ Hoàng Trọng), Hoa Xuân (nhạc sĩ Phạm Duy), Tiếng Thời Gian (nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông)…
Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, trong khi ấy, tuy đã có những sáng tác từ trước đó, chỉ được biết đến nhiều qua nhạc phẩm “Không bao giờ ngăn cách” (1963), ra đời ít lâu sau nhạc phẩm “Ngăn cách” khá nổi tiếng của nhạc sĩ Y Vân. “Không bao giờ ngăn cách” được nhiều ca sĩ tên tuổi thuở ấy trình bày (gồm cả những giọng ca gắn liền với “Ngăn cách” như Thanh Thúy, Minh Hiếu và cả… Nhật Trường, tất nhiên), được yêu chuộng và phổ biến rộng rãi, trở thành… nổi tiếng không kém gì “Ngăn cách” và làm nên tên tuổi Trần Thiện Thanh. (Có lẽ vì câu hát “chúng mình cách xa mà vẫn gần nhau”–gói trọn tình ý của bài nhạc–đáp ứng được tâm tư tình cảm của những lứa đôi thời chinh chiến).
Một ca sĩ tên tuổi thường có ít nhất một, hai bài nhạc nào đó gắn liền với tên mình. Khi nhắc đến tên bài nhạc ấy, người ta nghĩ ngay đến tên ca sĩ ấy. Một bài nhạc khi đã gắn liền với tên tuổi ca sĩ nào rồi thì ca sĩ khác tốt hơn nên… hát bài khác, nếu không muốn người nghe làm một sự so sánh và thêm nhớ… một giọng hát khác. Có khi chỉ một bài nhạc thôi cũng đủ làm nên tên tuổi ca sĩ (bây giờ gọi là “thành danh”). Nhiều ca sĩ một “đời ca hát” chỉ mong được “ký tên, đóng dấu” vào một bài nào đó để tên tuổi không chìm vào quên lãng. Nhưng đâu có phải muốn là được. Việc thẩm định và đưa ra phán quyết bài hát nào thuộc về ca sĩ nào là… thuộc về thính giả. Nhiều ca sĩ từng hát nhiều bài và bài nào… nghe cũng hay, nhưng vẫn không “đóng dấu” nổi tên mình vào một bài nhất định. Trong lúc ấy, Nhật Trường lại có khá nhiều bài hát gắn liền với tên mình, hầu hết là những bài của… Trần Thiện Thanh. “Nhạc Trần Thiện Thanh không ai hát hay hơn Nhật Trường,” nhiều người dễ dàng chia sẻ nhận xét này của nhà văn Nguyễn Đình Toàn. Hát “hay hơn” thì chưa thấy có ai thật, nhưng hát hay… không kém, theo tôi, có thể kể ra được một vài, chẳng hạn Lệ Thanh với “Anh nhớ về thăm em”, Minh Hiếu với “Không bao giờ ngăn cách”, Trúc Mai với “Hàn Mạc Tử”, Sĩ Phú với “Khi người yêu tôi khóc”… Khi nhắc đến tên các bài nhạc ấy, người ta vẫn hay nhắc đến tên các ca sĩ này.
Đúng là “nhạc Trần Thiện Thanh không ai hát hay hơn Nhật Trường”, kể cả những bài… không dành cho Nhật Trường. “Bảy ngày đợi mong” chẳng hạn, bài hát tưởng chỉ dành cho giọng nữ (nói về nỗi hờn trách của cô gái vì người yêu lỗi hẹn), vậy mà đến nay vẫn chưa thấy ai hát hay hơn Nhật Trường.
Tôi có anh bạn rất “chịu” giọng Nhật Trường, lạ một điều là trong số những bài anh ta thích nghe ca sĩ này hát lại chẳng có bài nào của… Trần Thiện Thanh cả. “Bài tango ấy là chỉ có nghe Nhật Trường thôi,” anh ta nói thế khi nhắc đến bài “Ngỡ ngàng” của Hoàng Trọng. Anh cũng chịu Nhật Trường hát “Bến giang đầu” của Lê Trọng Nguyễn, “Khi em nhìn anh” của Y Vân và “Tình yêu đến trong giã từ” của Phạm Mạnh Cương (không phải bài nhạc cùng tên của Nguyễn Ánh 9). Tôi không rõ vì sao anh ta không “chấm” được bài nào của Trần Thiện Thanh (hoặc vì Nhật Trường hát nhạc Trần Thiện Thanh thì… bắt buộc phải hay rồi nên không cần phải bàn tới).
Tôi cũng đồng ý với anh bạn là Nhật Trường hát những bài ấy thì… không chê vào đâu được, và cũng muốn kể thêm một ít bài, tuy không phải là nhạc Trần Thiện Thanh nhưng “không ai hát hay hơn Nhật Trường” (tất nhiên chỉ là ý kiến cá nhân), chẳng hạn “Em tôi” của Lê Trạch Lựu, “Tấm ảnh ngày xưa” của Lê Dinh, “Chuyến đi về sáng” của Mạnh Phát, “Tôi sẽ về thăm em” của Hoàng Nguyên, “Mưa chiều kỷ niệm” của Duy Yên & Quốc Kỳ, “Kể chuyện trong đêm” của Hoàng Trang, “Hành trang giã từ” của Trường Sa, “Tình khúc mùa đông” của Thanh Trang, “Bây giờ tháng mấy” của Từ Công Phụng, “Biết nói gì đây” của Huỳnh Anh & Huyền Thanh, “Hoa biển” của Anh Thy, “Qua cơn mê” của Trịnh Lâm Ngân, “Tám điệp khúc”, “Hai vì sao lạc” của Anh Việt Thu…
Những nhận xét nêu trên là hoàn toàn chủ quan, không hẳn đã phù hợp với nhiều người. Có điều, dường như ai cũng có thể tìm thấy, qua tiếng hát Nhật Trường, bài hát nào đó mình yêu thích. Có thể nói thêm một hai điều: thứ nhất, trong số những bài trên, không ít bài, qua tiếng hát Nhật Trường, được phổ biến, được yêu chuộng và làm nên tên tuổi tác giả (như chính các nhạc sĩ ấy cũng thừa nhận), chẳng hạn “Tấm ảnh ngày xưa” của Lê Dinh, “Bây giờ tháng mấy” của Từ Công Phụng, “Hoa biển” của Anh Thy... Thứ hai, nhiều người dễ nhầm tưởng một đôi bài trong số những bài trên là “nhạc Trần Thiện Thanh” (như “Hoa biển”, “Hành trang giã từ”…) cũng chỉ vì những bài ấy “không ai hát hay hơn Nhật Trường”.
Những điểm nêu trên cũng cho thấy, không thể nào nói tới Nhật Trường mà không nói tới Trần Thiện Thanh, không thể nào tách rời hai con người ấy được, như một diễn viên đóng một lúc hai vai, như “mình với ta tuy hai mà một”. Có lẽ vì vậy mà sau này người ta thống nhất với nhau gọi ông là “ca-nhạc-sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh” cho… tiện (tuy có hơi… dài). Tuy vậy, có những lúc không nhất thiết sử dụng danh hiệu ấy, chẳng hạn khi giới thiệu ca khúc nào đó được “ca-nhạc-sĩ” này trình bày thì nên trả ông về với “ca sĩ Nhật Trường”. Hoặc, khi giới thiệu ca sĩ trình diễn nhạc phẩm nào đó của ông thì không cần nói, “Xin giới thiệu ca sĩ X. trong một nhạc phẩm của ca-nhạc-sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh”, mà chỉ nên nói “… của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh”.
Chuyện một nghệ sĩ trình diễn vừa là ca sĩ vừa là người soạn nhạc (singer-songwriter) không phải là chuyện lạ lùng gì, nhất là ở nước ngoài. Thực ra, không riêng gì Nhật Trường, trong số các nhạc sĩ của chúng ta vẫn có những người từng… kiêm nhiệm ca sĩ, hiểu theo nghĩa từng trình bày, trình diễn các nhạc phẩm của mình (và của nhạc sĩ khác, đôi lúc), thế nhưng người ta vẫn chỉ gọi là “nhạc sĩ”. Điều này có thể giải thích được: thứ nhất, vai trò nhạc sĩ trội hơn và được biết đến nhiều hơn là ca sĩ (chỉ “thường thường bậc trung”); thứ hai, để có thể gọi là “ca-nhạc-sĩ”, các nhạc sĩ này cần chứng tỏ rằng khó ai hát các nhạc phẩm ấy hay hơn… mình.
Trong vai trò “ca sĩ” (không phải ca-nhạc-sĩ), nhiều nhạc phẩm của nhiều nhạc sĩ, với nhiều thể loại, thể điệu khác nhau từng được thể hiện qua tiếng hát Nhật Trường (không hẳn là ông chỉ “chuyên trị” các thể điệu Bolero, Rhumba hoặc Slow, Slow Rock… như nhiều người tưởng). Người yêu nhạc hẳn vẫn còn nhớ từng được nghe giọng hát đầy cảm xúc của Nhật Trường qua rất nhiều bài, từ những bài xưa cũ như “Bến đò xưa” của Đào Thừa Liệt & Nguyễn Kim (ban nhạc Tiếng Tơ Đồng), “Sơn nữ ca” của Trần Hoàn (ban Tứ ca Nhật Trường), “Lá thư”, “Gửi gió cho mây ngàn bay” của Đoàn Chuẩn-Từ Linh, “Ông lái đò” của Hiếu Nghĩa…, đến những bài “Hòn vọng phu 1&3” của Lê Thương (với Thái Thanh), “Lối về xóm nhỏ” của Trịnh Hưng (với Như Thủy), “Hoài cảm” của Cung Tiến, “Tiễn bước sang ngang” của Hoàng Trọng & Hồ Đình Phương, “Tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi” của Lam Phương (ban Tứ ca Nhật Trường), “Khúc nhạc ly hương” của Lâm Tuyền, “Mộng dưới hoa” của Phạm Đình Chương & Đinh Hùng, “Vợ chồng quê”, “Ngày trở về”, “Trả lại em yêu” của Phạm Duy (với Thanh Lan), “Ghen” của Trọng Khương & Nguyễn Bính, “Hồn bướm mơ tiên” của Mai Trường & Tô Vân, “Đường xưa lối cũ” của Hoàng Thi Thơ, “Lệ đá” của Trần Trịnh & Hà Huyền Chi, “Hai vì sao lạc” của Anh Việt Thu, “Bài không tên số 2” của Vũ Thành An (với Như Thủy), “Bông hồng cài áo”, “Tóc mây” của Phạm Thế Mỹ...
Trong lúc mỗi ca sĩ tên tuổi có một đối tượng thính giả nhất định thì tiếng hát Nhật Trường lại như có vẻ đáp ứng được các đối tượng thính giả khác nhau. Riêng đối với những ca khúc là sáng tác của chính ông, những ý kiến đại loại “nhạc Trần Thiện Thanh là ‘nhạc đại chúng’” có thể được hiểu là một lời khen hoặc ngược lại. Những bình phẩm cách ấy không nói được điều gì. Nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng, như những món ăn tinh thần, thực khách tự ý chọn lựa cho mình những món hợp khẩu vị, thanh đạm hoặc cầu kỳ, quý hồ thưởng thức thấy ngon miệng. Không có sự hơn kém trong những khác biệt về quan niệm thẩm mỹ, về thưởng ngoạn nghệ thuật khi xem một bức tranh, nghe một bản đàn, đọc một bài thơ hay ngắm một bông hoa… Nhật Trường, trước sau ông vẫn muốn tìm kiếm những lối đi để lời ca tiếng hát mình đến được với trái tim của quần chúng. Ít nhiều ông cũng đã đạt được điều ước muốn ấy.
Đối với Nhật Trường, người ca sĩ có “tuổi nghề” trên dưới 40 năm, có tiếng hát khá quen thuộc và gần gũi với công chúng, ngày Chủ Nhật 3/11/2002 đánh dấu sự kiện có ý nghĩa đặc biệt trong “đời ca hát” của ông: “Nhật Trường và Bạn Hữu, Đêm Giã Từ Sân Khấu”, một chương trình ca nhạc, nói đúng hơn, một buổi họp mặt văn nghệ được ông tổ chức trong vòng thân hữu, là cơ hội để ông được chính thức thông báo về quyết định “giã từ sân khấu” và cũng để mọi người có dịp nói lời chia tay với “tiếng hát Nhật Trường”.
Có giọng hát nào đứng mãi được với thời gian đâu. Sau bao mùa tang thương dâu bể, sau bao nhiêu giông tố dập vùi, khi mà những “vết hằn năm tháng” đã hiện rõ trên khuôn mặt chàng ca sĩ điển trai ấy thì giọng hát ấy cũng không còn “trẻ” nữa. “Giã từ sân khấu” hay “chia tay tiếng hát”, những cách gọi ấy mang ý nghĩa gì nếu không phải là “giây phút tạ từ” (tên một bài nhạc của ông) để giữ cho tên tuổi ấy, giữ cho tiếng hát ấy còn đẹp mãi, còn ở lại mãi trong lòng người.
Tuy không còn chính thức xuất hiện trên các sân khấu ca nhạc, ông vẫn không từ chối mang lời ca tiếng hát tới những nơi nào cần đến sự góp mặt góp tiếng của ông, cho đến ngày ông thực sự nhắm mắt xuôi tay “giã từ cuộc sống” (gần ba năm sau ngày “giã từ sân khấu”) mà ông từng sống sôi nổi, từng yêu thiết tha và luôn muốn làm đẹp cuộc sống ấy.
Từ “Tiếng hát đôi mươi” đến “Đêm giã từ sân khấu” là cuộc hành trình thật là dài của người nghệ sĩ ấy, của tiếng hát ấy. Trong suốt cuộc hành trình ấy đã có những năm dài tiếng hát phải im hơi, là những năm mây đen phủ trùm lên đất nước, lên số phận cả một dân tộc, thế nhưng chưa có lúc nào tiếng hát ấy bị lãng quên. Như những khúc hát của Trần Thiện Thanh vẫn nghe thấy cất lên đâu đó, những tình cảm thương yêu dành cho tiếng hát ấy vẫn còn nguyên vẹn.
Nhạc tình, “một trời trăng sao”
Giọng Nhật Trường không vang lộng, không được kể là “làn hơi phong phú”. Kỹ thuật ngân, rung không được kể là điêu luyện. Giọng ông cũng không “ấm” hơn những giọng nam trầm khác cùng thời với ông, nhưng nghe “mềm” hơn và “ngọt” hơn. Ông biết tận dụng cái giọng tốt trời cho ấy và biết cách “make-up” để làm đẹp thêm giọng hát mình. Nhiều người cho là giọng hát ấy có hơi… điệu. Nói thế không phải là không đúng, và cũng… không có gì lạ. Cái “điệu” ấy cũng là… tự nhiên thôi, vì ngay từ cử chỉ, điệu bộ cho đến cung cách nói chuyện của ông cũng đã có một vẻ gì… điều điệu. Và khi ông hát, cái “điệu” rất… Nhật Trường ấy thể hiện qua kiểu cách nhấn nhá và luyến láy mềm mại, qua chất giọng nồng nàn, tình tứ như những vuốt ve, mơn trớn. Quả là ông có “điệu” một chút thật, nhưng cũng chỉ là làm duyên làm dáng vậy thôi chứ không thái quá như những kiểu rên xiết, nấc nghẹn… hoặc “phô diễn kỹ thuật” như ít ca sĩ về sau này (rằng hay thì có hay nhưng… vô hồn, vô cảm). “Giọng hát truyền cảm”, nhiều người đã gọi tiếng hát Nhật Trường như thế, có nghĩa giọng hát ấy truyền được những rung cảm tới người nghe, hoặc nói cách văn vẻ, chạm được tới trái tim người nghe. Sức “truyền cảm” của giọng hát ấy không phải chỉ do ở “kỹ thuật” của riêng ông mà còn ở cách ông phả hơi thở đầy cảm xúc vào từng lời, từng chữ, từng nốt nhạc.

Nhật Trường (bên trái, ngoài cùng) và các ca sĩ trong ban Tiếng Nhạc Tâm Tình (ca sĩ Anh Ngọc phụ trách) đầu thập niên 60’s. Qua tiếng hát Nhật Trường, có những bài hát đã trở thành kỷ niệm khó phai của “một thời để yêu, một thời để nhớ”. Không ít những cặp tình nhân cùng yêu thích một bài hát, một giọng hát. Khi gắn bó với một bài hát, một giọng hát, người ta càng cảm thấy gắn bó với nhau hơn. Giọng hát ấy không rơi vào quên lãng vì đã làm lay động những trái tim, làm đẹp thêm những mối tình.
Ta vẫn nghe được trong những câu hát của Nhật Trường–những năm đầu và giữa thập niên 60’s–những khung trời đầy trăng và sao, những khung trời tự tình của lứa đôi, và chất giọng nồng nàn, quyến rũ như lời tình tự ngọt ngào ấy đã làm xao xuyến, rung động không ít trái tim vừa chớm biết yêu của các cô nữ sinh, sinh viên hay mơ hay mộng.
Một ngày gần đây,
những đêm dài vô tận hôm nay
sẽ thay bằng một trời trăng sao
Sao rơi trong mắt này
trăng vương vai áo này
một trời trăng sao đó riêng đôi mình
(“Một ngày gần đây”, Trần Thiện Thanh)
Xin không thiếu trăng vàng trên tóc em
khi ánh sao rơi đầy mắt người yêu
(“Chân trời tím”, Trần Thiện Thanh)
Tôi sẽ về thăm em
khi trời lấp lánh sao đêm
và gió trăng theo từng bước chân êm
(“Tôi sẽ về thăm em”, Hoàng Nguyên)
Giọng hát Nhật Trường, giọng hát đánh thức những trái tim, đánh thức tình yêu dậy. Tình yêu, trong tiếng hát Nhật Trường, như được ướp bằng chất men lãng mạn, luôn có một vẻ gì đắm say, thiết tha và đầy thi vị.
Anh sẽ vì em làm thơ tình ái
(“Lâu đài tình ái”, Trần Thiện Thanh & Mai Trung Tĩnh)
Anh sẽ đưa em về nơi chân trời tím
(“Chân trời tím”, Trần Thiện Thanh & Nguyễn Văn Hạnh)
Câu hát mà nghe tựa câu thơ, giọng hát mà nghe như giọng đọc thơ.
Mây từ đâu trôi tới, mờ dấu chân trời
Em, tại sao em tới, cho anh yêu vội
(“Người yêu tôi khóc”, Trần Thiện Thanh)
“Người yêu tôi khóc”, một trong những “tình khúc Trần Thiện Thanh” được nhiều người yêu thích, là bài hát đẹp cả về giai điệu lẫn ca từ.
Khi người yêu tôi khóc, xin rất im lìm
như từ lâu tôi dấu những cơn muộn phiền
Khi người yêu tôi khóc thành phố buồn thiu…
Phải là “buồn thiu” chứ… buồn tênh (như một vài ca sĩ đổi lời) hay buồn teo, hay buồn xo, hay buồn… gì khác thì lại kém hay. Phải nghe Nhật Trường hát “buồn thiu” mới hình dung được con phố ấy… “buồn thỉu buồn thiu” như thế nào.
Trong những câu hát của Nhật Trường ta vẫn nhặt ra được những “câu thơ” như thế.
Chiều mù sương hay mù khói thuốc anh?
Áo ai xanh hờ hững đi vào đêm…
Em mới yêu lần đầu / Anh đã yêu lần sau
(“Chuyện hẹn hò”, Trần Thiện Thanh)
Dường như bài hát nào, câu hát nào cũng được ông phả vào hơi thở đầy cảm xúc (như phả hương vị nồng nàn vào cuộc sống), cũng được ông nắn nót từng chữ từng lời (như người nắn nót, gọt dũa từng chữ từng câu trong lá thư tình viết gửi người mình yêu). Không riêng gì nhạc Trần Thiện Thanh, nghe một bài nhạc tình của ai khác, qua giọng Nhật Trường, cũng dễ nhận ra điều này. “Ngày đó chúng mình” của Phạm Duy chẳng hạn (từng được các ca sĩ tên tuổi thuở ấy như Anh Ngọc, Duy Trác, Thái Thanh… trình bày, mỗi giọng đều có cái hay riêng trong cách thể hiện).
Ngày đó có em đi nhẹ vào đời…
Nghe ông hát “đi… nhẹ vào đời” ta tưởng nghe được tiếng bước chân ai khe khẽ, chầm chậm…
Ngày đôi môi thương môi đã xé nát nụ cười
ôi những cánh tay ngỡ ngàng, tả tơi…
Tìm trong đêm rách rưới cơn mơ nào lẻ loi…
Nghe ông hát “xé nát nụ cười”, “ngỡ ngàng, tả tơi” và “rách rưới… lẻ loi” mới thấy cái cách ông thể hiện tình cảm “nồng nàn và đau đớn” mà người nhạc sĩ ghi ở đầu bài nhạc ấy như thế nào!
Có khi chỉ nghe câu hát đầu tiên của một bài hát, người ta nhận ra ngay ra… giọng Nhật Trường.
Nhớ chiều nào… (ngưng một chút) tôi đến thăm em
(“Mưa chiều kỷ niệm”, Duy Yên & Quốc Kỳ)
Mai tầu xa bến (…) xin em đừng buồn
(“Tâm tình người lính thủy”, Anh Thy & Thanh Viên)
Anh sẽ vì em (…) làm thơ tình ái
(“Lâu đài tình ái”, Trần Thiện Thanh & Mai Trung Tĩnh)
Những chỗ ngưng nghỉ như là… dấu lặng ấy, những chỗ ông hát thật thong thả, thật chậm rãi ấy nghe rất… Nhật Trường. Có lắm lúc ta tưởng như là ông “nói” chứ không phải là “hát” nữa. Có lắm lúc ta nghe ông hát như nghe những chuyện trò nhỏ to hay những lời thủ thỉ tâm tình. Khi ông hát một bài tình ca, những thủ thỉ tâm tình ấy có khi là những xao xuyến, bâng khuâng của trái tim vừa chớm biết yêu.
Ngắt nụ hoa vàng (…) biết rằng mình yêu
(“Yêu”, Trần Thiện Thanh)
Có khi là vẻ đẹp thật mong manh của tình yêu.
Tình yêu như nụ hoa
chỉ nở một lần thôi
chỉ đẹp một lần thôi…
(“Chuyến đi về sáng”, Mạnh Phát)
Có khi là lời tỏ tình thầm kín hoặc đắm say mà những người yêu nhau vẫn thường nói với nhau.
Anh hứa yêu em trọn một đời
yêu như ngày đầu đôi ta chung lối…
Yêu em như trời xanh yêu mây trắng
(“Một đời yêu em”, Trần Thiện Thanh)
Có khi là những lời tình tự nồng nàn, đắm đuối và chan chứa những tình ý yêu đương.
Ta tìm lên núi Tình
ta đến suối Yêu Đương
rồi đi thăm bến Mộng
sẽ qua đồi Ái Ân
(“Khi em nhìn anh”, Y Vân)
Có khi là nỗi đợi chờ và nhớ nhung da diết, như nỗi nhớ trong thơ Hồ Dzếnh.
Thôi em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
để anh buồn như anh chàng làm thơ
Em có hay trời buồn, trời chuyển mưa đó không?
Biết yêu em là biết nghe chờ mong
(“Chuyện hẹn hò”, Trần Thiện Thanh)
Có khi là những lời tình cay đắng nhiều hơn ngọt ngào, những lời tình đẹp và buồn như một nỗi tiếc thương của những lứa đôi yêu nhau mà không đến được với nhau.
Xưa hôn em một lần, rồi đau thương tràn lấp…
Anh xa em thật rồi mà chưa quên mùi tóc…
(“Mùa đông của anh”, Trần Thiện Thanh)
Anh lãng du đêm dài vùng khói mây
hôn tóc em nghe hồn mình đắng cay
(“Tình khúc mùa đông”, Thanh Trang)
Khi biết yêu thì chia phôi
như đóa hoa tàn ban mai
tình yêu đến trong giã từ…
(“Tình yêu đến trong giã từ”, Phạm Mạnh Cương)
Đôi lúc ta ngỡ như ông “nói” chứ không phải là hát, cho đến khi ta nghe được giọng nói của ông trên nền nhạc dạo của bài hát thì đúng là ông… nói thật. Nhật Trường cũng là một trong những ca sĩ đầu tiên sử dụng lối “độc thoại” trên nền nhạc, khiến bài hát nghe “lạ” hơn và cuốn hút hơn. Giọng ông khá diễn cảm, ngọt ngào như rót mật vào tai và ấm áp, dịu dàng như lời… thì thầm bên gối.
“Anh yêu những chân trời tím, mầu tím thắm thiết của yêu đương, của hai đứa chúng mình đi vào tình yêu, đi vào kỷ niệm. Anh sẽ đưa em tới đó, anh sẽ sống bên em như mầu tím và chân trời. Nhưng anh biết, không bao giờ… chúng mình tới đó.”
Lời “độc thoại” ấy ghi ở trang đầu cuốn tiểu thuyết Chân trời tím của Văn Quang và cũng ghi trên đầu bản nhạc cùng tên của Trần Thiện Thanh (1966), lấy ý và nguồn cảm hứng từ tiểu thuyết ấy. “Chân trời tím” là nhạc phẩm hợp soạn giữa Anh Chương (một tên khác của Trần Thiện Thanh) và nhạc sĩ Nguyễn Văn Hạnh. Chi tiết này ít người còn nhớ, có lẽ vì cái tên thứ hai ít được nhắc đến.
Giọng nói ấm áp và diễn cảm trên nền nhạc ấy, những lời hát thật thong thả, chậm rãi ấy, những “dấu lặng” giữa câu hát ấy, những lối nhấn nhá và luyến láy mềm mại ấy, cùng với chất giọng nồng nàn, trữ tình và cách phả hơi thở đầy cảm xúc vào từng lời từng chữ ấy, tất cả, đã làm nên giọng hát đầy “kịch tính” và… “lãng mạn Nhật Trường”.
Nhạc lính, những “bản tình ca thời chiến”
Anh bảo em đừng buồn
bao nhiêu ngày hôm nay cho ngày mai…
Bài hát đầu tiên tôi nghe được của Trần Thiện Thanh có những lời như thế. Tôi đã yêu câu hát ấy và yêu giọng hát ấy.
Bài hát có giai điệu tha thiết quá, và giọng hát cũng tha thiết quá, nghe như lời dỗ dành, vỗ về.
Anh nhớ đừng thăm em một ngày chưa yên vui
Mây nước còn chia phôi, thì đừng mơ lứa đôi…
Bài hát ấy là “Anh nhớ về thăm em” (1961), giọng hát ấy là giọng Lệ Thanh, có chút gì nũng nịu và vẻ gì cam chịu nghe đến… tội nghiệp.
Bài hát ấy cũng là bài “nhạc lính” đầu tiên tôi nghe được của Trần Thiện Thanh, và không phải là nghe với giọng Nhật Trường.
Những năm về sau này, Nhật Trường vẫn được nhắc đến như một ca sĩ chuyên hát “nhạc lính” (làm như là từ xưa tới nay ông chỉ có… hát nhạc lính), có lẽ vì tên ông gắn liền với tên Trần Thiện Thanh (Nhật Trường-Trần Thiện Thanh), mà nhạc Trần Thiện Thanh hầu hết đều có “chất” lính tráng. Hầu như trong bất kỳ chương trình văn nghệ lớn nhỏ nào có ít nhiều liên quan tới “lính”, ta thấy các ca sĩ vẫn tìm đến những bài quen thuộc của Trần Thiện Thanh (trong lúc không thiếu những bài “nhạc lính” khá hay của các nhạc sĩ tên tuổi khác). Thậm chí, sau ngày ông qua đời, đôi lúc ta vẫn nghe người dẫn chương trình văn nghệ giới thiệu “ca sĩ X. trong một nhạc phẩm của cố ca nhạc sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh”, trong lúc các nhạc sĩ khác đã “quá cố”, trước hoặc sau ông, lại không nghe gọi là “cố”, “cựu” chi cả. Nói điều này cũng để thấy rằng, ông nhận được sự “chiếu cố” đặc biệt từ những tình cảm quý mến và thương tiếc dành cho ông.
Thế nhưng, như thế nào gọi là “nhạc lính”? Chắc phải là những ca khúc viết về đời lính và người lính, về tinh thần chiến đấu anh dũng, về sự hy sinh cao cả, thầm lặng, và về tình yêu của người lính dành cho quê hương đất nước. Những bài nhạc lính ấy có thể được viết nên từ cảm xúc của những người yêu lính, yêu đời lính hoặc từ những nỗi niềm, tâm tình của người lính.
Như thế, liệu nhạc lính (như nhạc Trần Thiện Thanh, đặc biệt là những bài thể điệu bolero, rhumba…) có thể xếp vào loại “nhạc đại chúng” hay “nhạc bình dân” như cách gọi (ngụ ý xem thường, hạ thấp giá trị) của một số người, chỉ vì những bài nhạc hát giữa tiền đồn hay những sân khấu ngoài trời ấy không thể đưa vào được những hí viện, những khán phòng ấm cúng, thanh lịch với những giàn nhạc “tầm cỡ” và với một đối tượng khán thính giả chọn lọc của những “nhạc thính phòng”, những “bán cổ điển”… này nọ, như là những kiểu cách thời thượng. Điều thực sự có ý nghĩa, không phải là bài nhạc được trình diễn ở nơi nào, mà là bài nhạc nào còn ở lại trong lòng người về lâu về dài.
Dù sao thì nhạc lính Trần Thiện Thanh cũng đã được khối “quảng đại quần chúng” ấy thực sự yêu thích, và Nhật Trường, khi hát những bài nhạc lính ấy, ông cũng đã nhắm vào đối tượng chính ấy, như tên gọi một album nhạc của ông trước năm 1975, Hát Cho Lính và Những Người Yêu Lính.
Phân biệt nhạc lính với nhạc tình Trần Thiện Thanh có vẻ không dễ dàng chút nào, cho dù có những bài nhạc chỉ nói về tình yêu mà không hề nhắc nhở, đả động gì tới lính tráng. Dường như người ta ngầm hiểu rằng tình yêu trong bài nhạc ấy là tình yêu của “người lính”, chàng trai trong bài hát ấy là chàng lính chiến, và cô gái là “người yêu của lính”. Và ngược lại, gần như bài nhạc nào viết về lính của ông cũng ít nhiều pha lẫn chút tình riêng.
Làm sao biết được nhạc lính hay nhạc tình? “Không bao giờ ngăn cách” có vẻ là “tình khúc Trần Thiện Thanh”, nhưng lại có “viết tên người yêu lên ba-lô nặng trĩu”. “Chân trời tím” chắc phải là “nhạc tình”, nhưng vẫn có “anh vì lửa khói quê hương, đường hun hút biên cương…” Nhạc tình hay nhạc lính, “Chiều trên phá Tam Giang”, bài phổ thơ Mai Trung Tĩnh? Thơ ấy là thơ tình hay thơ… lính? (Hay thơ tình của người lính?). Nếu là thơ lính thì nhạc ấy phải là… nhạc lính.
Làm sao biết được nhạc tình hay nhạc lính? Những ca khúc ấy, tôi nghĩ, có thể gọi chung là “những bản tình ca thời chiến”.
Những đêm mười sáu trăng tròn
vượt con đường mòn đi giữ làng thôn,
bỗng thấy lòng mình thương quá
thương thuở học trò đi tìm vần thơ…
(“Mười sáu trăng tròn”, Trần Thiện Thanh)
Đấy không phải là bài nhạc lính đầu tiên tôi nghe được, và cũng không phải là bài nhạc lính đầu tiên tôi yêu thích, thế nhưng không hiểu sao tôi rất “chịu” Nhật Trường hát bài ấy. “Mười sáu trăng tròn” (1964) là nỗi niềm của chàng trai thời loạn “xếp bút nghiên theo việc đao cung”, lên đường theo tiếng gọi của non sông, bỏ lại sau lưng những mộng ước chưa tròn... Bài hát có một vẻ gì lãng mạn của những đêm “trăng treo đầu súng”, của “xếp áo thư sinh, vui bước đăng trình…” Hình ảnh người lính chiến “lênh đênh tám hướng, bạc mầu vai sương áo kết bụi đường” với lời thề sắt son ghi trên báng súng đã gieo vào lòng tôi thuở ấy những cảm xúc dạt dào.
Một người đi, một người ở lại với năm chờ tháng đợi ngày nào người chiến binh trở về khi đất nước yên vui để tay trong tay đi xây lại chuyện tình giữa mùa trăng thanh bình.
Em ơi, khi non nước đang còn
mịt mờ bên phương nớ
thì chuyện đó đừng mơ…
(“Mười sáu trăng tròn”, Trần Thiện Thanh)
“Mịt mờ bên phương nớ”, câu hát nghe là lạ, ngồ ngộ. Tôi thích chữ “phương nớ”, và tôi cũng nhận ra một điều là Nhật Trường hát nhạc lính rất hay, nhạc lính của bất cứ ai chứ không riêng gì của Trần Thiện Thanh (chẳng hạn “Tình anh lính chiến” của Lam Phương, “Tôi đã gặp” của Lê Dinh & Minh Kỳ”, “Biệt kinh kỳ” của Minh Kỳ & Hoài Linh, “Tôi sẽ về thăm em” của Hoàng Nguyên, “Kỷ vật cho em” của Phạm Duy & Linh Phương, “Kể chuyện trong đêm” của Hoàng Trang, “Hành trang giã từ”, “Một lần xa bến” của Trường Sa, “Chim trời chưa mỏi cánh” của Đào Duy, “Hoa biển”, “Tâm tình người lính thủy” của Anh Thy…). Nghe lại giọng hát ấy, nghe lại những khúc hát quen thuộc của một mùa chinh chiến ấy, vẫn thấy lòng dậy lên những cảm xúc rất “lính”.
Trong khói lửa chiến tranh, bên cạnh những nỗi bất trắc, tình yêu vẫn nở hoa như những đóa hồng vẫn nở bên những hầm hố và hàng rào kẽm gai. Trong những lời nhạc Trần Thiện Thanh ta nghe được qua tiếng hát Nhật Trường luôn có những “người yêu nhỏ” đợi chờ và dõi theo bước đường hành quân của người lính chiến.
Nơi cuối trời em thắp vì sao,
phiên gác buồn anh vẫn lẻ loi…
(“Lời cho người yêu nhỏ”)
Xa xôi đêm nào xuôi quân dừng chân,
khi trăng rơi bên lều, anh chợt thấy nhớ em yêu...
Như chim trời anh đi xa vắng,
em có thành sao sáng yêu đương
xuyên lá rừng khép nép vai anh…
(“Một đời yêu em”)
Người lính chiến, ngoài ba-lô, súng đạn, còn mang theo bên mình một hình bóng không quên, một nỗi nhớ không rời.
Tình yêu thường xen lẫn thân phận người lính xa nhà, xa người mình thương yêu. Những tâm tình của người lính ta nghe được qua tiếng hát Nhật Trường, là những chuyến về thăm, là những lần về phép, người lính chiến dừng chân trong chốc lát, rồi lại lên đường, lại miệt mài đi khi quê hương còn tiếng súng, khi máu xương còn rơi.
Nụ cười đầu môi anh khẽ nói,
“Về thăm em chiều nay thôi,
sông hồ mai sớm lại đi...”
(“Chiều mưa anh về”)
Nếu ta nghe Nhật Trường hát nhạc tình như hát những lời tình tự của những kẻ yêu nhau thì ông hát nhạc lính như hát những lời tình tự với quê hương của ông.
Tôi thức từng đêm thơ ấu mà nghe muối phả trong lòng…
Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi
nên năm hăm mốt tuổi
tôi đi vào quân đội mà lòng thì chưa hề yêu ai…
(“Biển mặn”)
“Biển mặn” là tình yêu của người lính dành cho quê hương mình. Tôi vẫn cho “Biển mặn” là một trong những bài nhạc lính hay nhất của Trần Thiện Thanh. Nghe “Biển mặn” là nghe lời tình tự dân tộc từ một trái tim nặng trĩu tình yêu quê hương. Quê hương ở đây là biển cả, là “mẹ trùng dương”, là vị mặn mà của muối biển, là vị mặn nồng của gió biển, là màu xanh của ruộng đồng, của biển rộng sông dài. Và tiếng hát Nhật Trường, và giai điệu dìu dặt ấy, như tiếng sóng vỗ rì rào, như tiếng suối nguồn róc rách, như tiếng sông hiền hòa xuôi chảy qua từng miền đất nước, thấm vào từng mạch đất quê hương.
Người yêu tôi hay khóc trong chiều mưa
lúc mầu xanh biển mặn đục sắc mây
Trong bao lần quân hành, tôi qua vùng khô cằn
mồ hôi thành biển mặn trên môi
Những giọt mồ hôi rịn trên môi người lính trong cái nóng cháy da vùng hành quân như có vị mặn của muối biển quê mình. Có hình ảnh nào đẹp hơn, ý nghĩa hơn? Nghe “Biển mặn”, ta nghe tình lính, tình riêng, tình quê hương đất nước quyện lẫn vào nhau.
Nhạc lính, không chỉ ngợi ca những chiến tích làm vẻ vang màu cờ sắc áo, còn ngợi ca những người lính can trường, những người lính đã hy sinh cả máu xương mình cho tình yêu đất nước, những người lính “nhẹ xem tính mệnh như mầu cỏ cây”. Bài đầu tiên Nhật Trường hát ngợi ca người hùng trong cuộc chiến là một bài của Phạm Duy, “Huyền sử ca một người mang tên Quốc”. Giọng hát ông và cách ông thể hiện tình cảm của bài hát đã truyền tới người nghe những cảm xúc rưng rưng.
đặt tên cho anh, anh là Quốc
đặt tên cho anh, anh là nước
đặt tên cho người, đặt tình yêu nước vào nôi
Tôi tin rằng bài ấy ít nhiều đã gợi hứng cho những sáng tác về sau này của ông nhằm vinh danh tên tuổi những người hùng đã hy sinh trong chiến trận. Hai bài được nói đến nhiều nhất trong số ấy là “Anh không chết đâu em” và “Người ở lại Charlie”, và giọng hát Nhật Trường quả tình đã gieo vào lòng người sự ngưỡng phục và mối xúc cảm đến rơi nước mắt về những thiên anh hùng ca của dân tộc.
“Không, chiến sĩ không bao giờ chết,” câu nói bình dị của Nhật Trường trong vở nhạc kịch ông diễn chung với Thanh Lan (“Anh không chết đâu em”) như nói với ta rằng ngọn lửa bất khuất và ý chí đấu tranh kiên cường không bao giờ tắt trong tim những người lính.
Pho tượng lính và “anh chiến sĩ của mộng mơ”.
Hình tượng người lính chiến, qua tiếng hát Nhật Trường, qua những ca khúc Trần Thiện Thanh, như trở nên gần gũi hơn, thân thiết hơn với quần chúng. Lý tưởng của những chàng trai thời loạn hiến thân vì tổ quốc như được tô đậm hơn, sắc nét hơn. Người đời, qua đó, thấy yêu mến, thấy cảm kích những hy sinh cao cả và thầm lặng của người chiến binh vì nước quên mình.
“Nhạc lính” mà ta nghe được trong những lời ca tiếng hát Nhật Trường không sắt máu, không hận thù mà chỉ có những…
Nếu anh có về khi tàn chinh chiến
xin em cúi mặt dấu lệ mừng nghe em…
(“Tạ từ trong đêm”)
và những…
Nếu một mai khi hòa bình
anh sẽ trở về như giấc mơ
cho từng ngón tay đan lại ái ân ngọt mềm
mình yêu nhau như khi vừa mới biết nghe em…
Từng đêm không còn tiếng súng
ngủ đi em, ngủ cho yên…
(“Lời cho người yêu nhỏ”)
“Lời cho người yêu nhỏ” là bài hát nói về những giấc mơ, những nỗi khát khao của những người lính, những người tình. Người nhạc sĩ ấy, người ca sĩ ấy, ông có mơ mộng lắm không?...
Nhật Trường, ông từng có những giấc mơ như vậy, ông từng hát về những giấc mơ như vậy. Hạnh phúc, trong những câu hát của Nhật Trường, vẫn luôn là những nỗi đợi chờ, những niềm khát khao. Hạnh phúc ấy, tiếc thay, như những giấc mơ không đến bao giờ... Tất cả vụt biến mất. Cơn bão của lịch sử năm 1975 đã vùi dập phũ phàng, đã nhận chìm và cuốn phăng đi tất cả. Hạnh phúc ấy mãi mãi chỉ là những giấc mơ. Những giấc mơ rạn vỡ, những giấc mơ ngậm ngùi.
Nhật Trường, ông đã sống cùng những giấc mơ đó, đã chết cùng những giấc mơ đó. Cho đến những phút cuối của cuộc đời ông vẫn chưa hề từ bỏ những giấc mơ đó.
Sau ngày ông mất, trong lúc xếp dọn lại đồ đạc trong kho, tình cờ tôi đọc được một mẩu tin trong chồng báo cũ, thật cũ. Mẩu tin ngắn, tôi chắc ít người để ý:

“Nhật Trường Hát Rong Gây Quỹ Xây Tượng Đài. Quận Cam: Trưa Chủ Nhật 27/2/2000 vừa qua, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, tức ca sĩ Nhật Trường đã tự thực hiện một chương trình văn nghệ ‘hát rong’ trên đường phố Bolsa để gây quỹ xây dựng Tượng Đài Kỷ Niệm Chiến Sĩ. Cùng tham dự chương trình văn nghệ thiện nguyện này có nhạc sĩ Xuân Điềm và ca sĩ Mỹ Lan.
Đội chiếc nón rừng có in cờ Việt Nam Cộng Hòa và với quân phục tác chiến, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, cựu quân nhân Quân Lực VNCH, đã ôm tây ban cầm đi giữa đám đông và hát một số nhạc phẩm nổi tiếng của ông.
Có khoảng một ngàn đồng hương đã cùng tham gia với nhạc sĩ, ca sĩ tên tuổi này. Buổi hát xuống đường gây quỹ của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh kéo dài đến 5 giờ 30 chiều, tổng số tiền thu được là 15,418.000 mỹ kim.”
“Buổi hát xuống đường” hay “chương trình văn nghệ ‘hát rong’” của Nhật Trường đã thu hút khoảng 1,000 khán giả đồng hương người Việt và quyên góp được trên 15,000 mỹ kim. Những con số không lớn không nhỏ. Chỉ là những con số, nhưng ít nhiều cũng đã thể hiện ý nghĩa công trình mà ông và những bạn đồng hành của ông muốn thực hiện cho bằng được: chiến tranh đã đi qua, nhưng hình tượng hào hùng của người lính chiến vẫn còn sống mãi, vẫn không bao giờ nhạt phai trong tâm tưởng người đời.
Mẩu tin ấy cũng làm tôi nhớ một chuyện nhỏ, chuyện nhỏ thôi nhưng có làm tôi và nhiều người xúc động: Nhật Trường, trong những phút cuối đời, những phút chạm tay vào lằn ranh sống, chết, đã dặn dò người thân trong gia đình cho ông được một lần cuối ngắm nhìn “Tượng đài chiến sĩ Việt-Mỹ”, được một lần cuối trông thấy tận mắt ước mơ cuối đời của ông–của chàng nghệ sĩ khoác cây đàn lên vai làm người hát rong trên đường phố để thu nhặt từng đồng bạc nhỏ cho công trình ấy–sau cùng đã thành tựu.
Gần ba mươi năm sau ngày chiến tranh kết thúc, trên mảnh đất của người Việt tỵ nạn này, tượng đài chiến sĩ ấy đã mọc lên, ngọn lửa vĩnh cửu ấy đã cháy lên, để vinh danh những người lính từng có một thời chiến đấu bên nhau cho những lý tưởng cao đẹp mà họ thực sự tin tưởng.
Tượng đài hai người lính Việt và Mỹ lặng yên đứng bên nhau, lặng yên dõi mắt nhìn về phương xa như trông đợi, như tìm kiếm những đồng đội của mình… đi mãi không về.
Tượng đài hai người lính lặng câm ấy là tượng đài của những hy sinh thầm lặng, là tượng đài của lòng ngưỡng phục, của niềm tự hào và nỗi tiếc thương.
Những thế hệ hôm nay và mai sau, những đứa bé sinh ra sau chiến tranh, những đứa bé sinh ra trên quê hương thứ hai này, như đứa bé con trai ông, mai kia lớn lên, những lần về qua nơi ấy, đứng dưới chân tượng đài ấy, ngước mắt nhìn pho tượng hai người lính lặng câm ấy, sẽ hiểu được vì sao người cha thân yêu của mình, trong “giây phút tạ từ” cuộc sống tươi đẹp, vẫn ước ao được ghé thăm một lần cuối, được đưa tay chào một lần cuối pho tượng hai người lính ấy.
Sau ngày Nhật Trường lìa đời, người ta nhắc nhiều đến ông, nói nhiều về ông (hơn cả lúc ông còn sinh thời). Nhiều bài báo, nhiều chương trình phát thanh, phát hình, văn nghệ, ca nhạc… ngợi ca và tôn vinh ông, như một việc làm, một thái độ trân trọng của quần chúng dành cho người từng có những cống hiến lớn lao và ý nghĩa cho cộng đồng, cho xã hội đương thời. Có điều, nhiều phần người ta nói về ca khúc này, ca khúc kia của Trần Thiện Thanh hơn là nói về tiếng hát của người ca sĩ đã làm cho những ca khúc ấy được người đời biết đến và yêu thích.
Trong một chương trình ca nhạc DVD tôi được xem qua (Asia 50 – Anh Không Chết Đâu Anh / Nhật Trường-Trần Thiện Thanh, Tình Yêu, Cuộc Đời và Sự Nghiệp), tiết mục tôi “chịu” nhất là phần trình diễn của nhóm ca sĩ trẻ, những ca sĩ sinh ra hoặc lớn lên ở hải ngoại, nghĩa là ra đời sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc. “Tình thư của lính”, ca khúc được các em trình diễn là một bài “nhạc lính” của Trần Thiện Thanh mà ngày xưa Nhật Trường vẫn hay “khoác áo treillis” trình diễn trên các sân khấu, và rất được tán thưởng. Các ca sĩ mới mẻ, trẻ trung này có thể không hiểu gì nhiều lắm về cuộc chiến mà máu xương của thế hệ cha anh các em đã đổ xuống, và cũng chưa hề trải qua một ngày nào đời sống quân ngũ; thế nhưng, các em đã “cảm” được bài nhạc ấy cách nào đó, đã hát thật say sưa bài nhạc ấy bằng nhịp điệu vui tươi, bằng tiết tấu sôi động trong hoạt cảnh các chàng lính trẻ “vui đời quân ngũ”. Các “chàng lính trẻ” ấy đã hát hay… không thua gì Nhật Trường.
Nhiều tên trong đơn vị gọi đùa “anh chiến sĩ của mộng mơ”…
Trong một thoáng, tôi “bắt” được câu hát ấy, và trong một thoáng tôi đã nhận ra anh, nhận ra Nhật Trường, nhận ra Trần Thiện Thanh. Anh phải là “anh chiến sĩ của mộng mơ” trong câu hát ấy. Các ca sĩ trẻ trung ấy, thế hệ tiếp nối ấy, đã gọi tên anh như vậy.
Tiết tấu nhộn nhịp của bài hát ấy, những khuôn mặt rạng rỡ ấy, những ánh mắt tươi vui ấy và những bước nhảy sinh động ấy tựa hồ những bàn chân tiếp bước những bàn chân, những thế hệ tiếp nối những thế hệ, rộn ràng theo nhau lên đường đi xây lại những ước mơ chưa thành tựu của những người đã nằm xuống cho một ngày mai tươi sáng về trên quê hương.
Nỗi mất mát, thiệt thòi lớn nhất sau cái chết của Nhật Trường-Trần Thiện Thanh là chúng ta mất đi một lúc đến hai con người nghệ sĩ, một ca sĩ và một nhạc sĩ, rất gần gũi với quần chúng và rất được quần chúng yêu mến. Những mất mát, thiệt thòi ấy làm sao có thể bù đắp được!
Nhật Trường, hay Trần Thiện Thanh, ông không dễ gì chết được, không hẳn là theo cách mà người ta vẫn gọi ông, “Anh không chết đâu anh”, mà bởi vì ông vẫn sống cùng với những bài hát của ông, cùng với tiếng hát của ông. Những bài hát vẫn còn ở lại cho dù người nhạc sĩ ấy, người ca sĩấy đã đi xa. Những bài hát mỗi lần nghe cất lên từ giọng hát nào là mỗi lần người ta lại nhớ đến ông, lại nhớ đến tiếng hát ông, và lại nói với vẻ tiếc nhớ, ngậm ngùi, “Bài này không ai hát qua được Nhật Trường”. Và cứ mỗi lần nghe nhắc đến tên ông như thế, ta cứ ngỡ như ông vẫn còn quanh quẩn đâu đây, ngỡ như ông vẫn còn ở với chúng ta, như là một câu hát của ông vẫn được nhiều người nghe, nhiều người hát, “Anh vẫn sống thênh thang trong lòng muôn người biết thương đời lính”.
Cám ơn Nhật Trường, cám ơn tiếng hát đã gợi nhớ trong ta những kỷ niệm ấm áp về những ngày vui mơ hồ và những tháng năm tươi đẹp.
Đối với những người từng có một thời yêu thích những khúc hát Trần Thiện Thanh, từng có một thời rung cảm vì giọng hát Nhật Trường, có lúc nào bất chợt nghe lại giọng hát nồng nàn, tha thiết ấy cất lên đâu đó, ngỡ như bất chợt lật lại những trang sách cũ, lòng bồi hồi gặp lại những bông hoa ép khô của một mùa kỷ niệm. Những khúc hát êm đềm và quen thuộc ấy luôn đánh thức trong ta những giấc mơ ngọt ngào, luôn gợi lại trong ta nỗi tiếc nhớ xa xôi về tiếng hát của một mùa nào lãng mạn.
Rồi đến một chiều phai nắng…
lê hữu
VÒNG QUANH CÁC RẠP CINÉ SÀIGÒN NGÀY XƯA
Nhắc đến các thú vui của dân tộc ta trong 3 ngày Tết mà không có mục xem ciné thì quả là một điều thiếu sót giống như cầu thủ bóng tròn ra sân cỏ mà trái banh… bị bà xã ôm ở nhà vậy đó. Tôi nhớ hồi còn nhỏ, tiền lì- sì Tết được bao nhiêu là tôi cúng hết cho mấy ông chủ rạp hát bóng và mấy cha bầu cua cá cọp ráo trơn. Thú thật là tôi mê ciné từ lâu lắm rồi, khoảng một ngàn chín trăm…hồi đó. Mấy công thức toán học, vật lý thì tôi ù ù cạc cạc chứ còn phim ảnh thì tôi rành 6 câu. Phim gì? Hãng nào? Ai đóng? Ai đạo diễn sản xuất? là tôi thuộc vanh vách. Thậm chí đến cả ngày giờ sanh của tài tử điện ảnh tôi cũng nằm lòng luôn mặc dù đôi lúc tôi quên sinh nh ật của ba má tôi và của cả …chính tôi nữa. Mấy tấm vách ở nhà tôi dán đầy những posters của Gary Cooper, John Wayne, Burt Lancaster, Robert Mitchum, Kirk Douglas…, Ava Gardner, Yvonne de Carlo, Susan Hayward, Jane Russell, Rita Hayworth…
Thỉnh thoảng tôi "dợt le" với đám con nít lối xóm:
- Liz Taylor mới ly dị với Mike Todd.
- Nathalie Wood vừa làm đám cưới với Robert Wagner
- Tuần rồi, James Dean bị tử nạn xe hơi.
- Phim Quo Vadis tổn phí tới 5 triệu mỹ kim
Nghe tôi thuyết trình, tụi nhỏ chỉ có há mồm trố mắt thán phục. Tụi nó cứ tưởng như tôi vừa đi Mỹ…tho mới về. (mà thực sự tôi là người Mỹ…tho chứ bộ) Dần dà, tôi được coi như là kim chỉ nam "hát bóng" của cả xóm. Hể có tranh cải nhau về điện ảnh là mọi người kéo đến gặp tôi để nh ờ phân xử. Lẽ dĩ nhiên tôi tuyên bố vung vít (nghề của chàng mà lị), còn nếu có chỗ nào bí, tôi tự động phịa luôn thì cũng chẳng chết thằng Tây nào và cũng chẳng ma nào mà biết được. Tụi nhỏ có lúc mượn tên tôi để bảo đảm cho câu chuyện của chúng: "Anh Lộc, anh ấy nói dzậy đó". Giá mà có cuộc thi kiến thức điện ảnh lúc bấy giờ thì… "chưa chắc thằng này hơn thằng nào đó nghe".
Ấy chết, từ nãy giờ tôi đã đi lạc đề hơi xa, xin mời các bạn trở lại câu chuyện đầu năm rạp hát. Hôm nay nhân ngày Xuân nơi xứ lạnh quê người, chúng ta hồi tưởng lại "nước thanh bình 30 năm cũ" vào khoảng thập niên 5, 60, lúc mà lũ con cháu Hồ tặc chưa lê "đôi dép râu dẩm nát đời son trẻ" vào thủ đô Saigon để chúng ta cùng du xuân một vòng quanh các rạp của hòn ngọc Viễn Đông. Cũng xin thưa trước cùng các bạn là những sự việc được ghi ra đây theo trí nhớ có hơi hẹp bề khổ của tôi nên nếu có gì sai sót thì xin các bạn đánh cho hai chữ đại xá. Thiện tai! Thiện tai!
Saigon thân yêu của chúng ta lúc bấy giờ có 2 hệ thống rạp trình chiếu khác nhau.
1- Rạp thường lệ: có giờ xuất hẳn hoi giống như các rạp ở Canada.
2- Rạp thường trực: chiếu liên tu bất tận, ai vô ra bất cứ lúc nào cũng được
Rạp thường trực có cái dở là có khi ta vừa vào rạp thì thấy thằng kép chính bị bắn gục rồi một lúc sau lại thấy nó hung hăng đấm=2 0đá tưng bừng thì thật là mất sướng. Nhưng nó có ưu điểm là khán giả không phải sắp hàng chờ đợi giờ, xuất lôi thôi.
Để bắt đầu cho chuyến du xuân tưởng tượng, mời các bạn đi từ Chợ Lớn trước nhé.
Rạp hát đầu tiên chúng ta ghé thăm là rạp Hồng Liên ở đường Minh Phụng (dưới dốc cầu Bình Tiên). Rạp này chuyên chiếu phim Tàu chuyển âm tiếng Việt và đặc biệt là con nít ở đâu mà tàu chở hổng hết. Lớp khóc đòi bú, lớp khóc vì nóng nực, lại có đám la hét cưDi giởn om sòm khiến ta có cảm tưởng đi lạc vào nhà trẻ. Thôi thì phải "dĩ đào vi thượng" để tới rạp Victory Lê Ngọc ở đường Tổng Đốc Phương (góc Nguyễn Trải). Rạp này cũng thường chiếu phim Tàu (ngay trung tâm Chinatown mà lị) nhưng được cái tương đối sạch sẽ và có chút trật tự.
Quẹo xuống đường Đồng Khánh về hướng Saigon có một lô rạp Lido, Oscar, Hào Huê cũng thuộc loại khá. Vì ở lằn ranh giới giữa Saigon Chợ Lớn nên những rạp này chiếu phim Tây Tàu lẫn lộn.
Rẽ qua Xóm Củi có rạp Huỳnh Long thuộc loại bình dân học vụ. Tuy nhiên tôi thích nhất cái màn xe ngựa uýnh trống tùng xình quảng cáo, 2 bên thành xe gắn 2 tấm paneau bành ky vẽ những cảnh action của phim20đang trình chiếu. Xe chạy khắp phố phường, ngựa phi nhịp nhàng theo tiếng trống trong khi đám con nít rượt theo 2 bên xe hò hét vang trời để xin cho được tờ giò-ram (programme) đủ màu xanh đỏ trắng vàng.
Đến vùng chợ Thái Bình thì có 3 rạp:
- RạpQuốc Thanh ở đường Nguyễn Trải, bên hông Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia. Rạp khá khang trang, sau trở thành sân khấu cải lương mà đoàn Dạ Lý Hương đóng đô thường trực.
- Rạp Khải Hoàn ngay góc Cống Quỳnh và Phạm Ngũ Lão thường chiếu phim Tây. Coi được nhưng kẹt c ái thiếu máy lạnh nên ai vào xem cũng cứ muốn "yêu nhau cởi áo cho nhau" hết.
- Trên đường Phạm Ngũ Lão cạnh chợ Thái Bình có rạp Thanh Bình sau này sửa sang lại thật lịch sự thì… giặc đến.
- Rẽ ra đường Trần hưng Đạo có rạp Đại Nam của ông Ưng Thi nổi tiếng sang trọng. Vào coi rạp này thì nên ăn mặc cho đàng hoàng một chút. Chứ áo thun quần cụt, còn chơi thêm đôi dép Nhật lủng la lủng lẳng như "Phánh ký Hủ tiếu" thì người ta cười…cha mẹ mình.
Đầu đường Nguyễn Thái Học (ngã ba Phạm ngũ Lão) đỗ xuống tận Cầu Ông Lảnh là nơi tọa lạc 2 rạp: Đình Tân Kiểng và Nam Tiến, dành cho những khán giả dể tính, sau này chỉ để c ho các đoàn cải lương, hát bộ, hồ quảng. Xuống ngay downtown Saigon có rạp Vĩnh Lợi ở đường Lê Lợi gần bệnh viện đô thành. Vào xem phim ở đây có cái tiện lợi là nếu "thả dê" bậy bạ lỡ bị ăn guốc "phun máu đầu" thì chỉ cần mấy bước là tới nhà thương ngay. Rạp thuộc loại trung bình. Coi phim xong rồi tạt vô quán Thanh Bạch đá một dĩa cơm rang "bổn tiệm" hay một ổ bánh mì gà thì thiệt là mát trời ông địa.
Xích lại đường Nguyễn Huệ, các=2 0bạn sẽ thấy ngay rạp Rex, rạp hát đầu tiên có thang cuốn (escalator) cũng của ông Ưng Thi (Đại Nam). Đây là rạp de luxe nhất của thủ đô. Khán giả rất thanh lịch, ai lạng quạng thì ngài đô trưởng ở kế bên sẽ bước qua hỏi thăm sức khỏe liền. Giá vé mắc hơn các rạp khác nhưng money's worth. Nghe tụi bạn nói trong ngày khai trương (chiếu phim Ben Hur với Charton Heston), có một người đẹp nọ đi thang cuốn lúc lên gần tới tầng lầu không hiểu quýnh quáng thế nào mà để cái thang "mắc dịch" nó cuốn luôn cái quần, chỉ còn độc cái quần lót nhỏ xíu. Thế là nhiều khán giả may mắn hôm đó được no con mắt với màn striptease 50%. Tôi chắc kiếp trước vụng đường tu nên không có diểm phúc địa được hình ảnh "kêu gọi" này. Mà thèm thì nói vậy chứ nếu tôi có mặt ở đó trong giờ phút nghiêm trọng như vậy thì chắc bị tẩu hỏa nhập ma đến chết mất thôi.
Đối điện rạp Rex là rạp Eden mà cho tới bây giờ nhắc đến là tôi vẫn còn "Ô Mê ly đời ta". Số là trên lầu 3 của rạp này có chia từng ô riêng rẻ, rất ư là riêng biệt kín đáo để "bàn tay đưa anh vào cuộc đời" và "bú mồm" thả giàn. (danh từ bú mồm là do các đồng chí ta sáng tạo) Kế tiếp, ta đi trên con đường Tự Do xuống tận bến Bạch ĐAng để vào xem phim ở rạp Majestic mà tây đầm coi cũng rất nhiều.
Tưởng cũng nói thêm là hầu hết các phim chiếu tại Saigon lúc bấy giờ đều nói tiếng Pháp hoặc chuyển âm tiếng Pháp, phụ đề Việt ngữ. Phim nói tiếng Anh thì chỉ Xuân Thu nhị kỳ. Có lẽ các hảng phim nghĩ rằng Việt Nam là cựu thuộc địa của Pháp nên cứ phạng cho cái Francophonie là tiện việc sổ sách. Hướng về chợ cũ, đi ngang qua các hàng bánh mì nổi tiếng để đến đường Tôn thất Đạm, bạn có thể vào xem phim bình dân ở rạp Nam Việt. Rạp nhỏ và nóng nực lắm. Cách đó không xa là rạp Kim Châu trên đường Nguyễn văn Sâm, (góc Hàm Nghi) tương đối còn mới và chiếu phim cũng "xịn" lắm.
Băng qua 9 1ường Pasteur gần ngã tư Lê Lợi có rạp Casino Saigon thuộc loại trung bình. Tuy nhiên sau khi xem phim xong, dẫn đào tấp qua bên kia đường làm một dĩa bò bía đính kèm ly nước mía Viễn Đông thì cũng có điểm với em lắm chứ bộ. Đi một đoạn ngắn tới đường Công Lý (cũng góc Lê Lợi) ta thấy rạp Asam mà dân Saigon thường gọi là "Á sẩm". Sau đó có lẽ chủ rạp thấy tên "Á sẩm" mất gốc quá nên đổi lại là Hồng Bàng cho nó đúng điệu Giao chỉ. Ném về phương diện phim ảnh và cơ sở thì rạp này "ngang cơ" với Casino Saigon. Còn về tiết mục phụ diễn ăn uống, nếu Casino Saigon có nước mía Viễn Đông thì Hồng Bàng có tuyệt chiêu suông Thanh Thế rất nổi tiếng trong giới có tâm hồn ă n uống.
Nếu muốn thưởng thức văn hóa cari, mời bạn bước chân tới rạp Long Phụng ở đường Gia Long, nơi chuyên chiếu phim của hậu duệ ông Gandhi như Công Chúa Thủy Tề, Sữa Rừng Thay Sữa Mẹ với các than hầm minh tinh: Ganeshan, Savitri…
Để xem nữ sinh Saigon hấp dẫn cở nào, mời các bạn đến rạp Lê Lợi đường Lê thánh Tôn. Ở đó bạn sẽ thấy rất nhiều nữ sinh với chiếc áo dài hoa xuân thướt tha, thân liễu dịu dàng trông bắt con mắt lắm. Chính vì thế mà dê thA vào rạp đông nghẹt đến đổi không còn chỗ ngồi. Tội nghiệp nhiều em đứng xem phim mà bỗng cảm thấy như có ai cầm ổ bánh mì nóng hổi vừa thổi vừa ăn kê sát phía sau mình thì đích thị là nó đó! Các cô phải di tản đi chỗ khác gấp gấp chứ không thì bị ô nhiểm môi trường rán chịu à.
Tôi cá với các bạn vào coi phim ở rạp Long Thuận (ngang ga xe lửa Saigon phía đường Lê Lai) mà dám ngồi ghế đàng hoàng. Tại sao lọa vậy? Thưa vì đó là mật khu của rệp. Hổng biết chúng theo con đường nào mà tràn ngập rạp. Từ chân ghế, mặt ghế, thành ghế đến lưng ghế, chỗ nào tụi nó cũng đóng chốt hết. Muốn an toàn thì phải ngồi chồm hổm kiểu cán ngố vào restaurant, mà bố ai ngồi chồm hổm trong suốt 2 tiế ng đồng hồ cho nổi. Thôi thì tránh rệp không xấu mặt nào vậy.
Đi dài theo đường Cao Thắng, bạn có thể vào coi rạp Việt Long (ngay ngã ba Trần quý Cáp) cũng thuộc loại khá. Vào đầu thập niên 70, rạp được tân trang và đổi tên là Thăng Long. Tôi còn nhớ (vì chính tôi đi coi chứ ai) phim cuối cùng được chiếu trước khi bọn cướp ngày từ rừng rú về thành là phim "The French Connection" do tài tử Michael Caines đóng vai chính.
Gần cuối đường Cao Thắng (ngã tư Phan thanh Giản xéo chợ 20), có rạp Đại Đồng Saigon rất ư là bình dân, chiếu toàn phim cũ, giá vé chỉ bằng giá một tô phở xe lửa. Nhưng được cái xe bò viên ngay ngay trước rạp thì tuyệt cú mèo. Quẹo qua đường Phan thanh Giản về hư ng ngã bảy, nơi tọa lạc rạp Long Vân thuộc loại kha khá. Rạp lúc nào cũng đông khán giả, chắc nhờ ở ngay trung tâm nhân mãn của Saigon: cư xá Bàn Cờ, cư xá Đô Thành, chung cư Minh Mạng... Phía bên kia ngã bảy, đường Vĩnh Viễn là rạp Thành Chung (Vườn Lài) mà khán giả vào xem có cái "thú đau thương" là nếu trời nóng thì tắm hơi, còn trời mưa thì tắm nước từ nóc rạp dột xuống.
Chiều mồng một Tết, ta kéo vài người bạn cùng tới đường Hồng Thập Tự (ngang tiệm bàn ghế Phan văn Nhị) để đón xuân bằng tô cháo vịt nóng hổi thơm lừng hành hương nước mắm gừng đậm đà rồi đưa cay một ly nước mắt quê hương. Sau đó ta băng qua đường vô rạp Olympic xem phim "Le M irage de la Vie" do Sandra Dee đóng thì thấy đời còn dễ thương lắm chứ. Rạp Olympic sau đó được đoàn Kim Chung từ Aristo, đường Lê Lai, tới bao rạp làm sân khấu thường trực.
Rời đường Hồng Thập Tự, bạn thừa thắng xông lên tới rạp Kinh Đô đường Lê văn Duyệt (ngã ba Huyền Trân công chúa) ngang Tổng Liên Đoàn Lao Công của bố già Trần quốc Bửu. Có lẽ mang tên là Kinh Đô nên rạp rất sạch sẽ thanh lịch. Tiếc là rạp chỉ hoạt động có 4, 5 năm gì đó rồi đi chỗ khác chơi nhường địa điểm lại cho cơ quan USAID của Mỹ.
Bây giờ mời bạn đàng trước - bước - tới ngã tư Trần quý Cáp, Lê văn Duyệt để vào xem rạp Nam Quang (chợ Đủi) thuộc loại Bình dân học vụ. Cũng nằm trên =C 4ường Lê văn Duyệt, qua khỏi trung tâm nghỉ mát dài hạn Chí Hòa có rạp Thanh Vân, cũng đại loại như rạp Nam Quang. Có điều cần lưu ý các bạn là các rạp này có nhiều Bê-Đê lắm đó. Đang ngồi xem phim mà bạn bỗng "giác ngộ" là có bàn tay năm ngón của thằng ngồi bên cạnh vượt biên vào vùng cấm địa của bạn để bấm nốt nhạc thì chính nó đó. Nó định biểu diễn altosax đó. Bạn chỉ còn có đi chỗ khác xem cho khỏi ngất ngư con tàu đi. Đi một chút tới đường Thoại Ngọc Hầu, rẽ vô chợ Ông Tạ bạn sẽ gặp ngay rạp Đại Lợi chiếu đủ thứ phim Âu Á. Sau ngày đứt phim 30-4, bọn VC xử dụng rạp Đại Lợi (cũng như nhiều cơ sở khác) làm nhà tù. Quẹo xuống đường Trương Min h Giảng có rạp Văn Lang không gì đặc biệt.
Và bây giờ mời bạn ghé vào Đakao để xem rạp Casino Đakao (ngã ba ba Hiền Vương - Đinh tiên Hoàng). Rạp này chung một chain với rạp Casino Saigon nhưng kém thanh lịch, sạch sẻ hơn. Tuy nhiên bạn có thể tự yên ủi bằng tô mì Cây Nhãn danh tiếng gần bên rạp. Đi trên đường Hai Bà Trưng qua khỏi Cầu Kiệu tới chợ Phú Nhuận bạn sẽ gặp rạp Văn Cầm Phú Nhuận chung một chủ với rạp Văn Cầm Chợ Quán (Nguyễn Biểu- Bến Hàm Tử) Theo tôi đây là rạp nhỏ nhất Saigon và giá vé rẽ nhất. Tiền nào của nấy đó các bạn ạ. Nếu không muốn vào xem rạp Văn Cầm thì mời bạn quay trở về Tân Định để tới rạp Kinh Thành bên hông chợ Tân Định. Rạp này rất xưa nên dưới mức trung bình trên mọi phương điện.
Cách đó không xa, trên đường Trần Quang Khải có rạp Văn Hoa. Đây là rạp mới nhất của thủ đô Saigon nên màn ảnh, âm thanh tuyệt hảo, ambiance lại rất khang trang lịch sự, chiếu toàn phim mới. Sau đó, ta cùng hướng về Gia Định qua đường Bạch Đằng (bên hông chợ Bà Chiểu) có rạp Cao đồng Hưng, còn đường Nguyễn văn Học (ngã tư Bình Hòa) có rạp Đại 9 0ồng Gia Định. Cả hai rạp dưới xa mức trung bình, nạn đứt phim rất thường xãy ra. Có điều là cạnh rạp Đại Đồng có quán cơm tấm bì ăn cũng phê lắm. Giờ thì bạn hãy đi dọc theo đường Lê quang Định (Gia Định) để đến trạm cuối của cuộc du xuân là rạp Lạc Xuân nằm trên đường Gia Long (cạnh chợ Gò Vấp). Rạp chiếu toàn phim cũ và cái projecteur chắc của Tây để lại nên phim cứ sọc rằn làm nhức mắt người xem.
Thưa các bạn, sau khi đi một vòng các rạp chiếu bóng Saigon, các bAn có thấy bồi hồi nhớ thương quê hương thân yêu của chúng ta hay không? Chắc hẳn là có vì không ai trong chúng ta không giữ trong tâm tư những hình ảnh, những kỉ niệm êm đềm của một thời hoa mộng. Có thể đó là một buổi tối đi bên người yêu giữa trời lất phất mưa dưới hàng me lá xanh rơi nhè nhẹ trên mái tóc em. Hay có thể cũng là một ngày về thăm quê Ngoại, ăn bửa cơm tép kho canh rau dền trong mái tranh nghèo bàng bạc khói lam chiều, bên dòng sông nước lững lờ đẩy đưa đám lục bình tim tím trôi giạt đến một phương trời vô định.
Nhưng cảm động nhất có lẽ là chuyến tháp tùng đoàn học sinh ngày đầu xuân đi thăm tiền đồn Dakto, Ben-Het. Đến thăm để mà cảm thương cho cuộc đời chiến sỹ Việt Nam Cộng Hòa nơi rừng núi A 2m u, áo bạc màu chiến trận, thân dãi dầu phong sương, tay ghì chặt súng để sẳn sàng chiến đấu. Tất cả đã bỏ lại thành phố những người thân yêu mòn mỏi đợi chờ, những cuộc vui tuổi trẻ, những ước vọng thanh xuân.
Đối với lính, Xuân chỉ là:
"Đón giao thừa một phiên gác đêm
Chào Xuân đến súng xa vang rền"
(Phiên Gác Đêm Xuân, Nguyễn văn Đông)
hoặc:
"Đồn anh đóng ven rừng mai
Nếu mai không nở, Anh đâu biết Xuân về hay chưa?"
(Đồn Vắng Chiều Xuân, - Trần Thiện Thanh)
hay chua xót hơn:
"Quà Xuân anh chẳng có, gác giặc từng giờ,
Đời lính chiến lấy gì về tặng em"
(Phút Giao Mùa, Trần Thiện Thanh)
Trở lại chuyện coi phim Tết, ta không thể không nói đến bói tuồng đầu năm, một tập tục rất thú vị của dân tộc. Này nhé! bạn đừng xem trước quảng cáo phim mà cứ đi thẳng tới một rạp nào đó rồi xem phim mà đoán vận mạng trong năm. Nếu gặp phim cao bồi đấm đá chẳng hạn như Gunfight at the O.K.Corral thì bảo đảm trong năm có chuyện thượng cẳng tay hạ cẳng chân. Còn nếu xem nhằm phim bài bạc như Casino thì quanh năm sẽ ngồi sòng hơi nhiều. Nếu coi trúng phim travel như "Around the world in 80 days" thì cứ chuẩn bị mà đi du lịch. Nếu không đi Mỹ…Tho thì cũng đi Tây… Ninh hoặc Đức… Hòa vậy, Còn như ai mà lỡ coi phải phim cấm trẻ em như Nam Nữ Y Học Bửu Giám "thì cầm chắc là phải tới nhà thuốc Võ văn Vân mua một lô 'Tam tinh hải cẩu bổ thận hoàn" nếu là quý ông, còn quý Bà thì sao? Mắc cở gì mà hổng chịu xài "Dưỡng thai nhành mai" cho fetus nó được nhờ.
Cũng trong mục bói tuồng đầu năm, có một điều mà cho tới bây giờ tôi vẫn còn thắc mắc là hồi Tết Ất Mão (1975), không hiểu có rạp nào chiếu phim "Chúng tôi muốn sống" (Lê Quỳnh, Mai Trâm, Thu Trang…) hay "Ánh sáng miền Nam (Lê Quỳnh, Khánh Ngọc) hay không và đa số đồng bào ta có xem không mà suốt năm phe ta ùn ùn xuống tàu, xuống ghe, xuống bè, xuống cả cần xé để vượt biên quá chừng chừng. Dĩ nhiên trong số những người "chân bước xuống thuyền nước mắt như mưa" có cả bần bút nên mới có được ngày hôm nay ngồi viết lếu láo góp vui cùng các bạn trong ngày đầu Xuân Kỉ Mẹo và nhất là để chúng ta cùng hoài niệm về một "Saigon đẹp lắm! Saigon ơi! Saigon ơi!"
Nguyên Trần
(Nguồn:làngchài.com)

Thỉnh thoảng tôi "dợt le" với đám con nít lối xóm:
- Liz Taylor mới ly dị với Mike Todd.
- Nathalie Wood vừa làm đám cưới với Robert Wagner
- Tuần rồi, James Dean bị tử nạn xe hơi.
- Phim Quo Vadis tổn phí tới 5 triệu mỹ kim
Nghe tôi thuyết trình, tụi nhỏ chỉ có há mồm trố mắt thán phục. Tụi nó cứ tưởng như tôi vừa đi Mỹ…tho mới về. (mà thực sự tôi là người Mỹ…tho chứ bộ) Dần dà, tôi được coi như là kim chỉ nam "hát bóng" của cả xóm. Hể có tranh cải nhau về điện ảnh là mọi người kéo đến gặp tôi để nh ờ phân xử. Lẽ dĩ nhiên tôi tuyên bố vung vít (nghề của chàng mà lị), còn nếu có chỗ nào bí, tôi tự động phịa luôn thì cũng chẳng chết thằng Tây nào và cũng chẳng ma nào mà biết được. Tụi nhỏ có lúc mượn tên tôi để bảo đảm cho câu chuyện của chúng: "Anh Lộc, anh ấy nói dzậy đó". Giá mà có cuộc thi kiến thức điện ảnh lúc bấy giờ thì… "chưa chắc thằng này hơn thằng nào đó nghe".
Ấy chết, từ nãy giờ tôi đã đi lạc đề hơi xa, xin mời các bạn trở lại câu chuyện đầu năm rạp hát. Hôm nay nhân ngày Xuân nơi xứ lạnh quê người, chúng ta hồi tưởng lại "nước thanh bình 30 năm cũ" vào khoảng thập niên 5, 60, lúc mà lũ con cháu Hồ tặc chưa lê "đôi dép râu dẩm nát đời son trẻ" vào thủ đô Saigon để chúng ta cùng du xuân một vòng quanh các rạp của hòn ngọc Viễn Đông. Cũng xin thưa trước cùng các bạn là những sự việc được ghi ra đây theo trí nhớ có hơi hẹp bề khổ của tôi nên nếu có gì sai sót thì xin các bạn đánh cho hai chữ đại xá. Thiện tai! Thiện tai!
Saigon thân yêu của chúng ta lúc bấy giờ có 2 hệ thống rạp trình chiếu khác nhau.
1- Rạp thường lệ: có giờ xuất hẳn hoi giống như các rạp ở Canada.
2- Rạp thường trực: chiếu liên tu bất tận, ai vô ra bất cứ lúc nào cũng được
Rạp thường trực có cái dở là có khi ta vừa vào rạp thì thấy thằng kép chính bị bắn gục rồi một lúc sau lại thấy nó hung hăng đấm=2 0đá tưng bừng thì thật là mất sướng. Nhưng nó có ưu điểm là khán giả không phải sắp hàng chờ đợi giờ, xuất lôi thôi.
Để bắt đầu cho chuyến du xuân tưởng tượng, mời các bạn đi từ Chợ Lớn trước nhé.
Rạp hát đầu tiên chúng ta ghé thăm là rạp Hồng Liên ở đường Minh Phụng (dưới dốc cầu Bình Tiên). Rạp này chuyên chiếu phim Tàu chuyển âm tiếng Việt và đặc biệt là con nít ở đâu mà tàu chở hổng hết. Lớp khóc đòi bú, lớp khóc vì nóng nực, lại có đám la hét cưDi giởn om sòm khiến ta có cảm tưởng đi lạc vào nhà trẻ. Thôi thì phải "dĩ đào vi thượng" để tới rạp Victory Lê Ngọc ở đường Tổng Đốc Phương (góc Nguyễn Trải). Rạp này cũng thường chiếu phim Tàu (ngay trung tâm Chinatown mà lị) nhưng được cái tương đối sạch sẽ và có chút trật tự.
Quẹo xuống đường Đồng Khánh về hướng Saigon có một lô rạp Lido, Oscar, Hào Huê cũng thuộc loại khá. Vì ở lằn ranh giới giữa Saigon Chợ Lớn nên những rạp này chiếu phim Tây Tàu lẫn lộn.
Rẽ qua Xóm Củi có rạp Huỳnh Long thuộc loại bình dân học vụ. Tuy nhiên tôi thích nhất cái màn xe ngựa uýnh trống tùng xình quảng cáo, 2 bên thành xe gắn 2 tấm paneau bành ky vẽ những cảnh action của phim20đang trình chiếu. Xe chạy khắp phố phường, ngựa phi nhịp nhàng theo tiếng trống trong khi đám con nít rượt theo 2 bên xe hò hét vang trời để xin cho được tờ giò-ram (programme) đủ màu xanh đỏ trắng vàng.
Đến vùng chợ Thái Bình thì có 3 rạp:
- RạpQuốc Thanh ở đường Nguyễn Trải, bên hông Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia. Rạp khá khang trang, sau trở thành sân khấu cải lương mà đoàn Dạ Lý Hương đóng đô thường trực.
- Rạp Khải Hoàn ngay góc Cống Quỳnh và Phạm Ngũ Lão thường chiếu phim Tây. Coi được nhưng kẹt c ái thiếu máy lạnh nên ai vào xem cũng cứ muốn "yêu nhau cởi áo cho nhau" hết.
- Trên đường Phạm Ngũ Lão cạnh chợ Thái Bình có rạp Thanh Bình sau này sửa sang lại thật lịch sự thì… giặc đến.
- Rẽ ra đường Trần hưng Đạo có rạp Đại Nam của ông Ưng Thi nổi tiếng sang trọng. Vào coi rạp này thì nên ăn mặc cho đàng hoàng một chút. Chứ áo thun quần cụt, còn chơi thêm đôi dép Nhật lủng la lủng lẳng như "Phánh ký Hủ tiếu" thì người ta cười…cha mẹ mình.
Đầu đường Nguyễn Thái Học (ngã ba Phạm ngũ Lão) đỗ xuống tận Cầu Ông Lảnh là nơi tọa lạc 2 rạp: Đình Tân Kiểng và Nam Tiến, dành cho những khán giả dể tính, sau này chỉ để c ho các đoàn cải lương, hát bộ, hồ quảng. Xuống ngay downtown Saigon có rạp Vĩnh Lợi ở đường Lê Lợi gần bệnh viện đô thành. Vào xem phim ở đây có cái tiện lợi là nếu "thả dê" bậy bạ lỡ bị ăn guốc "phun máu đầu" thì chỉ cần mấy bước là tới nhà thương ngay. Rạp thuộc loại trung bình. Coi phim xong rồi tạt vô quán Thanh Bạch đá một dĩa cơm rang "bổn tiệm" hay một ổ bánh mì gà thì thiệt là mát trời ông địa.
Xích lại đường Nguyễn Huệ, các=2 0bạn sẽ thấy ngay rạp Rex, rạp hát đầu tiên có thang cuốn (escalator) cũng của ông Ưng Thi (Đại Nam). Đây là rạp de luxe nhất của thủ đô. Khán giả rất thanh lịch, ai lạng quạng thì ngài đô trưởng ở kế bên sẽ bước qua hỏi thăm sức khỏe liền. Giá vé mắc hơn các rạp khác nhưng money's worth. Nghe tụi bạn nói trong ngày khai trương (chiếu phim Ben Hur với Charton Heston), có một người đẹp nọ đi thang cuốn lúc lên gần tới tầng lầu không hiểu quýnh quáng thế nào mà để cái thang "mắc dịch" nó cuốn luôn cái quần, chỉ còn độc cái quần lót nhỏ xíu. Thế là nhiều khán giả may mắn hôm đó được no con mắt với màn striptease 50%. Tôi chắc kiếp trước vụng đường tu nên không có diểm phúc địa được hình ảnh "kêu gọi" này. Mà thèm thì nói vậy chứ nếu tôi có mặt ở đó trong giờ phút nghiêm trọng như vậy thì chắc bị tẩu hỏa nhập ma đến chết mất thôi.
Đối điện rạp Rex là rạp Eden mà cho tới bây giờ nhắc đến là tôi vẫn còn "Ô Mê ly đời ta". Số là trên lầu 3 của rạp này có chia từng ô riêng rẻ, rất ư là riêng biệt kín đáo để "bàn tay đưa anh vào cuộc đời" và "bú mồm" thả giàn. (danh từ bú mồm là do các đồng chí ta sáng tạo) Kế tiếp, ta đi trên con đường Tự Do xuống tận bến Bạch ĐAng để vào xem phim ở rạp Majestic mà tây đầm coi cũng rất nhiều. Tưởng cũng nói thêm là hầu hết các phim chiếu tại Saigon lúc bấy giờ đều nói tiếng Pháp hoặc chuyển âm tiếng Pháp, phụ đề Việt ngữ. Phim nói tiếng Anh thì chỉ Xuân Thu nhị kỳ. Có lẽ các hảng phim nghĩ rằng Việt Nam là cựu thuộc địa của Pháp nên cứ phạng cho cái Francophonie là tiện việc sổ sách. Hướng về chợ cũ, đi ngang qua các hàng bánh mì nổi tiếng để đến đường Tôn thất Đạm, bạn có thể vào xem phim bình dân ở rạp Nam Việt. Rạp nhỏ và nóng nực lắm. Cách đó không xa là rạp Kim Châu trên đường Nguyễn văn Sâm, (góc Hàm Nghi) tương đối còn mới và chiếu phim cũng "xịn" lắm.
Băng qua 9 1ường Pasteur gần ngã tư Lê Lợi có rạp Casino Saigon thuộc loại trung bình. Tuy nhiên sau khi xem phim xong, dẫn đào tấp qua bên kia đường làm một dĩa bò bía đính kèm ly nước mía Viễn Đông thì cũng có điểm với em lắm chứ bộ. Đi một đoạn ngắn tới đường Công Lý (cũng góc Lê Lợi) ta thấy rạp Asam mà dân Saigon thường gọi là "Á sẩm". Sau đó có lẽ chủ rạp thấy tên "Á sẩm" mất gốc quá nên đổi lại là Hồng Bàng cho nó đúng điệu Giao chỉ. Ném về phương diện phim ảnh và cơ sở thì rạp này "ngang cơ" với Casino Saigon. Còn về tiết mục phụ diễn ăn uống, nếu Casino Saigon có nước mía Viễn Đông thì Hồng Bàng có tuyệt chiêu suông Thanh Thế rất nổi tiếng trong giới có tâm hồn ă n uống.
Nếu muốn thưởng thức văn hóa cari, mời bạn bước chân tới rạp Long Phụng ở đường Gia Long, nơi chuyên chiếu phim của hậu duệ ông Gandhi như Công Chúa Thủy Tề, Sữa Rừng Thay Sữa Mẹ với các than hầm minh tinh: Ganeshan, Savitri… Để xem nữ sinh Saigon hấp dẫn cở nào, mời các bạn đến rạp Lê Lợi đường Lê thánh Tôn. Ở đó bạn sẽ thấy rất nhiều nữ sinh với chiếc áo dài hoa xuân thướt tha, thân liễu dịu dàng trông bắt con mắt lắm. Chính vì thế mà dê thA vào rạp đông nghẹt đến đổi không còn chỗ ngồi. Tội nghiệp nhiều em đứng xem phim mà bỗng cảm thấy như có ai cầm ổ bánh mì nóng hổi vừa thổi vừa ăn kê sát phía sau mình thì đích thị là nó đó! Các cô phải di tản đi chỗ khác gấp gấp chứ không thì bị ô nhiểm môi trường rán chịu à.
Tôi cá với các bạn vào coi phim ở rạp Long Thuận (ngang ga xe lửa Saigon phía đường Lê Lai) mà dám ngồi ghế đàng hoàng. Tại sao lọa vậy? Thưa vì đó là mật khu của rệp. Hổng biết chúng theo con đường nào mà tràn ngập rạp. Từ chân ghế, mặt ghế, thành ghế đến lưng ghế, chỗ nào tụi nó cũng đóng chốt hết. Muốn an toàn thì phải ngồi chồm hổm kiểu cán ngố vào restaurant, mà bố ai ngồi chồm hổm trong suốt 2 tiế ng đồng hồ cho nổi. Thôi thì tránh rệp không xấu mặt nào vậy.
Đi dài theo đường Cao Thắng, bạn có thể vào coi rạp Việt Long (ngay ngã ba Trần quý Cáp) cũng thuộc loại khá. Vào đầu thập niên 70, rạp được tân trang và đổi tên là Thăng Long. Tôi còn nhớ (vì chính tôi đi coi chứ ai) phim cuối cùng được chiếu trước khi bọn cướp ngày từ rừng rú về thành là phim "The French Connection" do tài tử Michael Caines đóng vai chính.
Gần cuối đường Cao Thắng (ngã tư Phan thanh Giản xéo chợ 20), có rạp Đại Đồng Saigon rất ư là bình dân, chiếu toàn phim cũ, giá vé chỉ bằng giá một tô phở xe lửa. Nhưng được cái xe bò viên ngay ngay trước rạp thì tuyệt cú mèo. Quẹo qua đường Phan thanh Giản về hư ng ngã bảy, nơi tọa lạc rạp Long Vân thuộc loại kha khá. Rạp lúc nào cũng đông khán giả, chắc nhờ ở ngay trung tâm nhân mãn của Saigon: cư xá Bàn Cờ, cư xá Đô Thành, chung cư Minh Mạng... Phía bên kia ngã bảy, đường Vĩnh Viễn là rạp Thành Chung (Vườn Lài) mà khán giả vào xem có cái "thú đau thương" là nếu trời nóng thì tắm hơi, còn trời mưa thì tắm nước từ nóc rạp dột xuống.
Chiều mồng một Tết, ta kéo vài người bạn cùng tới đường Hồng Thập Tự (ngang tiệm bàn ghế Phan văn Nhị) để đón xuân bằng tô cháo vịt nóng hổi thơm lừng hành hương nước mắm gừng đậm đà rồi đưa cay một ly nước mắt quê hương. Sau đó ta băng qua đường vô rạp Olympic xem phim "Le M irage de la Vie" do Sandra Dee đóng thì thấy đời còn dễ thương lắm chứ. Rạp Olympic sau đó được đoàn Kim Chung từ Aristo, đường Lê Lai, tới bao rạp làm sân khấu thường trực.
Rời đường Hồng Thập Tự, bạn thừa thắng xông lên tới rạp Kinh Đô đường Lê văn Duyệt (ngã ba Huyền Trân công chúa) ngang Tổng Liên Đoàn Lao Công của bố già Trần quốc Bửu. Có lẽ mang tên là Kinh Đô nên rạp rất sạch sẽ thanh lịch. Tiếc là rạp chỉ hoạt động có 4, 5 năm gì đó rồi đi chỗ khác chơi nhường địa điểm lại cho cơ quan USAID của Mỹ.
Bây giờ mời bạn đàng trước - bước - tới ngã tư Trần quý Cáp, Lê văn Duyệt để vào xem rạp Nam Quang (chợ Đủi) thuộc loại Bình dân học vụ. Cũng nằm trên =C 4ường Lê văn Duyệt, qua khỏi trung tâm nghỉ mát dài hạn Chí Hòa có rạp Thanh Vân, cũng đại loại như rạp Nam Quang. Có điều cần lưu ý các bạn là các rạp này có nhiều Bê-Đê lắm đó. Đang ngồi xem phim mà bạn bỗng "giác ngộ" là có bàn tay năm ngón của thằng ngồi bên cạnh vượt biên vào vùng cấm địa của bạn để bấm nốt nhạc thì chính nó đó. Nó định biểu diễn altosax đó. Bạn chỉ còn có đi chỗ khác xem cho khỏi ngất ngư con tàu đi. Đi một chút tới đường Thoại Ngọc Hầu, rẽ vô chợ Ông Tạ bạn sẽ gặp ngay rạp Đại Lợi chiếu đủ thứ phim Âu Á. Sau ngày đứt phim 30-4, bọn VC xử dụng rạp Đại Lợi (cũng như nhiều cơ sở khác) làm nhà tù. Quẹo xuống đường Trương Min h Giảng có rạp Văn Lang không gì đặc biệt.
Và bây giờ mời bạn ghé vào Đakao để xem rạp Casino Đakao (ngã ba ba Hiền Vương - Đinh tiên Hoàng). Rạp này chung một chain với rạp Casino Saigon nhưng kém thanh lịch, sạch sẻ hơn. Tuy nhiên bạn có thể tự yên ủi bằng tô mì Cây Nhãn danh tiếng gần bên rạp. Đi trên đường Hai Bà Trưng qua khỏi Cầu Kiệu tới chợ Phú Nhuận bạn sẽ gặp rạp Văn Cầm Phú Nhuận chung một chủ với rạp Văn Cầm Chợ Quán (Nguyễn Biểu- Bến Hàm Tử) Theo tôi đây là rạp nhỏ nhất Saigon và giá vé rẽ nhất. Tiền nào của nấy đó các bạn ạ. Nếu không muốn vào xem rạp Văn Cầm thì mời bạn quay trở về Tân Định để tới rạp Kinh Thành bên hông chợ Tân Định. Rạp này rất xưa nên dưới mức trung bình trên mọi phương điện.
Cách đó không xa, trên đường Trần Quang Khải có rạp Văn Hoa. Đây là rạp mới nhất của thủ đô Saigon nên màn ảnh, âm thanh tuyệt hảo, ambiance lại rất khang trang lịch sự, chiếu toàn phim mới. Sau đó, ta cùng hướng về Gia Định qua đường Bạch Đằng (bên hông chợ Bà Chiểu) có rạp Cao đồng Hưng, còn đường Nguyễn văn Học (ngã tư Bình Hòa) có rạp Đại 9 0ồng Gia Định. Cả hai rạp dưới xa mức trung bình, nạn đứt phim rất thường xãy ra. Có điều là cạnh rạp Đại Đồng có quán cơm tấm bì ăn cũng phê lắm. Giờ thì bạn hãy đi dọc theo đường Lê quang Định (Gia Định) để đến trạm cuối của cuộc du xuân là rạp Lạc Xuân nằm trên đường Gia Long (cạnh chợ Gò Vấp). Rạp chiếu toàn phim cũ và cái projecteur chắc của Tây để lại nên phim cứ sọc rằn làm nhức mắt người xem.
Thưa các bạn, sau khi đi một vòng các rạp chiếu bóng Saigon, các bAn có thấy bồi hồi nhớ thương quê hương thân yêu của chúng ta hay không? Chắc hẳn là có vì không ai trong chúng ta không giữ trong tâm tư những hình ảnh, những kỉ niệm êm đềm của một thời hoa mộng. Có thể đó là một buổi tối đi bên người yêu giữa trời lất phất mưa dưới hàng me lá xanh rơi nhè nhẹ trên mái tóc em. Hay có thể cũng là một ngày về thăm quê Ngoại, ăn bửa cơm tép kho canh rau dền trong mái tranh nghèo bàng bạc khói lam chiều, bên dòng sông nước lững lờ đẩy đưa đám lục bình tim tím trôi giạt đến một phương trời vô định.
Nhưng cảm động nhất có lẽ là chuyến tháp tùng đoàn học sinh ngày đầu xuân đi thăm tiền đồn Dakto, Ben-Het. Đến thăm để mà cảm thương cho cuộc đời chiến sỹ Việt Nam Cộng Hòa nơi rừng núi A 2m u, áo bạc màu chiến trận, thân dãi dầu phong sương, tay ghì chặt súng để sẳn sàng chiến đấu. Tất cả đã bỏ lại thành phố những người thân yêu mòn mỏi đợi chờ, những cuộc vui tuổi trẻ, những ước vọng thanh xuân.
Đối với lính, Xuân chỉ là:
"Đón giao thừa một phiên gác đêm
Chào Xuân đến súng xa vang rền"
(Phiên Gác Đêm Xuân, Nguyễn văn Đông)
hoặc:
"Đồn anh đóng ven rừng mai
Nếu mai không nở, Anh đâu biết Xuân về hay chưa?"
(Đồn Vắng Chiều Xuân, - Trần Thiện Thanh)
hay chua xót hơn:
"Quà Xuân anh chẳng có, gác giặc từng giờ,
Đời lính chiến lấy gì về tặng em"
(Phút Giao Mùa, Trần Thiện Thanh)
Trở lại chuyện coi phim Tết, ta không thể không nói đến bói tuồng đầu năm, một tập tục rất thú vị của dân tộc. Này nhé! bạn đừng xem trước quảng cáo phim mà cứ đi thẳng tới một rạp nào đó rồi xem phim mà đoán vận mạng trong năm. Nếu gặp phim cao bồi đấm đá chẳng hạn như Gunfight at the O.K.Corral thì bảo đảm trong năm có chuyện thượng cẳng tay hạ cẳng chân. Còn nếu xem nhằm phim bài bạc như Casino thì quanh năm sẽ ngồi sòng hơi nhiều. Nếu coi trúng phim travel như "Around the world in 80 days" thì cứ chuẩn bị mà đi du lịch. Nếu không đi Mỹ…Tho thì cũng đi Tây… Ninh hoặc Đức… Hòa vậy, Còn như ai mà lỡ coi phải phim cấm trẻ em như Nam Nữ Y Học Bửu Giám "thì cầm chắc là phải tới nhà thuốc Võ văn Vân mua một lô 'Tam tinh hải cẩu bổ thận hoàn" nếu là quý ông, còn quý Bà thì sao? Mắc cở gì mà hổng chịu xài "Dưỡng thai nhành mai" cho fetus nó được nhờ.
Cũng trong mục bói tuồng đầu năm, có một điều mà cho tới bây giờ tôi vẫn còn thắc mắc là hồi Tết Ất Mão (1975), không hiểu có rạp nào chiếu phim "Chúng tôi muốn sống" (Lê Quỳnh, Mai Trâm, Thu Trang…) hay "Ánh sáng miền Nam (Lê Quỳnh, Khánh Ngọc) hay không và đa số đồng bào ta có xem không mà suốt năm phe ta ùn ùn xuống tàu, xuống ghe, xuống bè, xuống cả cần xé để vượt biên quá chừng chừng. Dĩ nhiên trong số những người "chân bước xuống thuyền nước mắt như mưa" có cả bần bút nên mới có được ngày hôm nay ngồi viết lếu láo góp vui cùng các bạn trong ngày đầu Xuân Kỉ Mẹo và nhất là để chúng ta cùng hoài niệm về một "Saigon đẹp lắm! Saigon ơi! Saigon ơi!"
Nguyên Trần
(Nguồn:làngchài.com)

Ớ ha ! Cái rạp đó thì tên là Đông Nhì chứ còn rạp gì nữa , cứ thẳng đường là qua Cầu Hang tới chợ Gò Vâp phải không cô ấy ơi...KhanhVan wrote: Anh ấy ơi.......Còn cái rạp xi nê ma ở Đông Nhì....Phiá dưới Gò Vâấp.....ten ê là...gì nhi.....có phải nó tên là Đại Đồng 2....??
Hồi xưa cái rạp Đông Nhì chỉ có ba đồng với năm đồng một vé , hồi đi học tui thường dẫn bạn vào có coi , nhưng mà có coi được gì đâu cứ mải lo ôm không hà , bởi rạp thì thường vắng hoe nên sợ lắm
Sức mạnh chống Bắc xâm
Tác giả: Đỗ Thái Nhiên
Có thể nói lịch sử Việt Nam là lịch sử chống xâm lược Trung Quốc. Mặt khác, chính lịch sử chống Bắc xâm của dân tộc Việt Nam đã là những bức tranh giúp thế giới thấy được lòng yêu nước của dòng giống Lạc Hồng. Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ… là những thanh âm vang vọng muôn đời rằng hàng rào phòng thủ bao quanh đất nước Việt Nam chính là lòng yêu nước và rằng không phân biệt thành phần xã hội, tuổi tác, nam nữ, mọi người Việt Nam đều yêu nước nồng nhiệt.
Câu hỏi được đặt ra là: Liệu chừng có sự khác biệt hay không giữa lòng yêu nước của người Việt xưa và người Việt nay?
Phát âm hai chữ yêu nước rất dễ. Dùng chính xương máu của mình để biểu lộ lòng yêu nước không phải là chuyện đơn giản. Yêu nước phải có sức mạnh. Sức mạnh của một dân tộc được qui định bởi hai yếu tố: tinh thần và vật chất.
Đời sống thể chất của người dân sẽ lớn mạnh nếu trẻ em không bị nuôi dưỡng bằng sữa pha melamine hoặc sữa giả chỉ có dưới 2% chất đạm (Tin báo chí trong nước: Từ 08/2008 cho đến nay 02/2009 sữa giả bị khám phá nhưng vẫn tràn ngập thị trường Việt Nam, CSVN bất động(1)). Câu chuyện về sữa dành cho trẻ em chỉ là sự nhấn mạnh: đời sống thể chất của người dân chỉ đươc chăm sóc hợp lý trong trường hợp nhà cầm quyền không thối nát.
Đời sống tinh thần hay nói rõ hơn, lòng yêu đồng bào, yêu nước của người dân chỉ cất cánh bay cao nếu người dân được sinh sống trong một môi trường văn hóa truyền thống và lành mạnh. Muốn vậy văn hóa phải được rao giảng từ giáo dục học đường và giáo dục truyền thông xã hội. Cả hai nguồn cội giáo dục trọng yếu kia đều bị què quặt dưới ách cai trị của nhà cầm quyền phi chính thống: CSVN. Năm 1954 Miền Bắc Việt Nam, sau đó năm 1975 toàn thể Việt Nam bị tràn ngập bởi một hình thái văn hóa quái dị: tham ô và hối lộ được nâng lên hàng phong tục. Khi nhà nước muốn cướp đất của dân thì lập tức đất của dân biến thành công viên cây xanh. Sau đó chẳng bao lâu công viên cây xanh trở thành đất làm nhà cho cán bộ thống trị. Khi nhà nước muốn “ổn định chính trị” thì lập tức nhà riêng của những công dân yêu chuộng tự do dân chủ bị bôi trét bởi khối lượng lớn phân người pha trộn dầu nhớt. Hành động pha trộn kia nhằm làm cho công việc tẩy rửa mùi xú uế cực kỳ khó khăn. Khi CSVN muốn bảo vệ “uy tín” của đảng thì tội nhận hối lộ 2 triệu 600 ngàn Mỹ Kim của một công ty Nhật Bản lập tức biến thành tội cho thuê công ốc để bỏ túi riêng 70.000 Mỹ Kim… Sau nhiều thập niên ngụp lặn trong văn hóa đá cá lăn dưa như vừa mô tả dân tộc tình và dân tộc tính của một số người Việt quốc nội đã có những thoái trào nào chăng? Câu trả lời nằm trong các thảm cảnh điển hình sau đây.
Thảm cảnh một − Ngày 1 tháng Giêng, 2009, nhà cầm quyền Hà Nôi long trọng mở lễ hội Hoa Xuân 2009. Sau giờ khai mạc chẳng bao lâu, người Hà Nội, đặc biệt là đông đảo giới trẻ Hà Nội, đã thô bạo nhảy vào hội hoa. Người bẻ cành hoa, kẻ ôm nguyên chậu cây kiểng, mạnh ai nấy cướp hoa, trộm lá. Họ hiên ngang hành động như hội hoa bỗng nhiên hiện ra ở chốn rừng xanh không người. Chỉ thoáng chốc hoa chưa kịp nở đã vội tàn. Nhìn cảnh hội hoa bi tấn công tàn tệ có người thở dài cho rằng văn hóa Hà Nội ngày nay đang bị “Văn hóa của bầy ruồi” đè bẹp.
Một khi quần chúng phải ứng xử với nhau và với xã hội bằng văn hóa của bầy ruồi làm gì quân chúng kia còn có được ý thức yêu nước.
Thảm cảnh hai ─ Tin từ Vietnamnet, báo điện tử của CSVN, cho biết: tối ngày 20/01/2009, trên quốc lộ I, xe vận tải mang bảng số 29z-0495, chở gỗ tràm theo hướng Bắc Nam, khi tới xã Kỳ Đồng, Kỳ Anh, Hà Tĩnh đã đâm thẳng vào một xe chạy ngược chiều. Xe này chở trái cây mang bảng số 34l-2265. Tai nạn xảy ra làm hai tài xế cùng hai phụ xe bị thương rất nặng. Xác người bị thương, trái cây hòa với máu văng tung tóe trên quốc lộ I, tạo thành cảnh tượng tan nát đến rợn người. Ngay khi tai nạn vừa xày ra, dân chúng từ các làng xã chung quanh vội vàng kéo tới. Thế nhưng thay vì cấp cứu những người bị thương, đám dân chúng kia chỉ biết cướp trái cây, mang chạy về nhà.
Đồng bào không thương yêu đồng bào. Làm gì có sự việc đồng bào yêu nước.
Thảm cảnh ba ─ Tin từ Hà Nội cho biết ngày 05/02/2009, lúc 04 giờ sáng trạm kiểm dịch Hà Đông đã bắt giữ một xe vận tải chuyên chở 1500 gà vịt với giấy kiểm dịch bị cạo sửa. Vì vậy nhà cầm quyền thú y quyết định tiêu hủy số gà vịt vừa kể. Buổi chiều cùng ngày, 30 nhân viên y tế mang số gia cầm bị bắt tới bãi cát Hồng Vân, Thường Tín để thực hiện lệnh tiêu hủy. Khi nhân viên hữu trách bắt đầu ném gà vịt xuống hố và châm lửa hỏa thiêu thì dân chúng địa phương ào ạt nhảy vào cướp gà vit. Ngay cả khi 20 lít xăng đã đổ xuống hố và châm lửa, dân chúng vẫn nhảy xuống hố để cướp gà vịt. Có người bỏ gia cầm cướp được vào bao bố. Có người nhảy xuống hố ném gia cầm ngược lên miệng hố để cho người nhà chụp bắt. Có người leo lên xe chở gà vịt và lái xe ra giữa bãi cát để hành động cướp giật được thực hiện dễ dàng hơn… Kết quả chỉ có khoảng 300 gà vịt bị tiêu hủy 1200 con còn lại chạy vào bụng quần chúng địa phương.
Bản tin về vụ cướp gà ngay giữa huyện Thường Tín, Quận 10 Hà Nội cho thấy một số người Hà Nội ngày nay chủ trương thà ăn gà vịt bệnh còn hơn sống trong đói khổ.
Đứng giữa tình huống người dân quyết định “Vì vịt quên mình, vì gà bỏ mạng”, nhóm chữ “Vị quốc vong thân” nghe thật là mơ hồ và xa lạ!
Chỉ trong vòng 36 ngày Miền Bắc Việt Nam đã bộc lộ ba thảm trạng nói lên ba điểm xấu chính của văn hóa hiện tại. Một là người dân phủ định giá trị của đời sống xã hội. Hai là người dân chỉ yêu trái cây vấy máu chứ không xót thương đồng bào lâm nạn. Ba là người dân xem miếng thịt gà H5N1 quan trọng hơn mạng sống của chính mình. Đọc đến đây hẳn nhiên đảng CSVN sẽ lớn tiếng tố cáo bài viết này là bài viết có mục đích “Nói xấu người Việt Nam”. Chẳng ai có quyền lợi gì khi phải làm cái công việc bị gọi là “Người Việt nói xấu người Việt”. Vấn đề không là nói xấu hay nói tốt. Vấn đề chính là những tin tức được viện dẫn là những tin tức tuyệt đối chính xác. Vấn đề chính là muốn trị bệnh, bệnh nhân phải nói thật, nói rất thật cho bác sĩ biết mọi chi tiết về diễn tiến của bệnh trạng. Nói thật như thế kia không có nghĩa là bệnh nhân đã “nói xấu” cơ thể của chính đương sự. Một người muốn trị bệnh nhưng lại né tránh nói về bệnh lý của mình, người đó chẳng khác nào loài chim đà điểu. Có truyền thuyết cho rằng chim đà điểu trốn bảo cát bằng cách cắm đầu vào những đống cát. CSVN hãy từ giả bộ óc của chim đà điểu, hãy bình tĩnh đối diện với hiện tượng “văn hóa của bầy ruồi”.
Ba tin tức về văn hóa quần chúng cộng với những tin tức về đời sống cơm áo của người dân đặt cạnh những tin tức về ải Nam Quan, thác Bản Giốc, về Hoàng Sa, Trường Sa, vể bauxite Tây Nguyên… một người dầu lạc quan tới đâu cũng không thể phủ nhận sự thực rằng lịch sử Viêt Nam hiện đang chìm sâu trong đêm đen mênh mông và bất tận. Trong đêm đen kia đi tìm sức dân để chống ngoại xâm Trung Quốc quả là việc làm của một kẻ nhảy xuống đáy giếng để tìm đường tiếp cận với mặt trăng. Sức dân được trình bày như một tổng hợp của hai yếu tố tinh thần và thể chất. Tuy nhiên, không người nào không nhận biết rằng: ngày nào “văn hóa của bầy ruồi” còn tồn tại ngày đó sức dân chỉ là sức sống héo mòn của những người bị bệnh liệt kháng. Liệt kháng tim óc là trọng tâm. Liệt kháng thể xác là hệ lụy. Vì vậy vấn đề tiên quyết là sự phục hồi dân tộc tình, dân tộc tính. Phục hồi văn hóa Việt. Câu hỏi cần nêu lên là: Làm thế nào để có thể xác nhận đâu là nguyên nhân của sự việc văn hóa Việt Nam biến đổi thành văn hóa của bầy ruồi? Câu trả lời nằm ở bài toán trừ. Thực vậy, cùng là người Việt Nam tại sao người Việt ở Nam vỹ tuyến 17 (gọi tắt là người Nam) lễ độ và lịch sự hơn rất nhiều lần so với người Việt sanh ra và lớn lên ở bắc vỹ tuyến 17 (gọi tắt là người Bắc)? Xin thưa rằng: 1975 trừ đi 1954 chúng ta có đáp số là 20 năm. Nói rõ ra: người Bắc đã phải ngụp lặn trong guồng máy giáo dục của đảng CSVN hơn người Nam 20 năm. Đó là lý do giải thích tại sao người Bắc “dữ dằn” hơn người Nam.
Không còn nghi ngờ gì nữa, giáo dục Marx Hồ chính là cội nguồn sản sinh ra “văn hóa của bầy ruồi”. Muốn phục hồi văn hóa Việt, muốn phục hồi sức dân để đương đầu với Bắc xâm, người Việt Nam trong cũng như ngoài nước không còn chọn lựa nào khác hơn là cùng nhau nổ lực đẩy đảng CSVN rơi vào hố đào thải của lịch sử.
Tác giả: Đỗ Thái Nhiên
Có thể nói lịch sử Việt Nam là lịch sử chống xâm lược Trung Quốc. Mặt khác, chính lịch sử chống Bắc xâm của dân tộc Việt Nam đã là những bức tranh giúp thế giới thấy được lòng yêu nước của dòng giống Lạc Hồng. Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ… là những thanh âm vang vọng muôn đời rằng hàng rào phòng thủ bao quanh đất nước Việt Nam chính là lòng yêu nước và rằng không phân biệt thành phần xã hội, tuổi tác, nam nữ, mọi người Việt Nam đều yêu nước nồng nhiệt.
Câu hỏi được đặt ra là: Liệu chừng có sự khác biệt hay không giữa lòng yêu nước của người Việt xưa và người Việt nay?
Phát âm hai chữ yêu nước rất dễ. Dùng chính xương máu của mình để biểu lộ lòng yêu nước không phải là chuyện đơn giản. Yêu nước phải có sức mạnh. Sức mạnh của một dân tộc được qui định bởi hai yếu tố: tinh thần và vật chất.
Đời sống thể chất của người dân sẽ lớn mạnh nếu trẻ em không bị nuôi dưỡng bằng sữa pha melamine hoặc sữa giả chỉ có dưới 2% chất đạm (Tin báo chí trong nước: Từ 08/2008 cho đến nay 02/2009 sữa giả bị khám phá nhưng vẫn tràn ngập thị trường Việt Nam, CSVN bất động(1)). Câu chuyện về sữa dành cho trẻ em chỉ là sự nhấn mạnh: đời sống thể chất của người dân chỉ đươc chăm sóc hợp lý trong trường hợp nhà cầm quyền không thối nát.
Đời sống tinh thần hay nói rõ hơn, lòng yêu đồng bào, yêu nước của người dân chỉ cất cánh bay cao nếu người dân được sinh sống trong một môi trường văn hóa truyền thống và lành mạnh. Muốn vậy văn hóa phải được rao giảng từ giáo dục học đường và giáo dục truyền thông xã hội. Cả hai nguồn cội giáo dục trọng yếu kia đều bị què quặt dưới ách cai trị của nhà cầm quyền phi chính thống: CSVN. Năm 1954 Miền Bắc Việt Nam, sau đó năm 1975 toàn thể Việt Nam bị tràn ngập bởi một hình thái văn hóa quái dị: tham ô và hối lộ được nâng lên hàng phong tục. Khi nhà nước muốn cướp đất của dân thì lập tức đất của dân biến thành công viên cây xanh. Sau đó chẳng bao lâu công viên cây xanh trở thành đất làm nhà cho cán bộ thống trị. Khi nhà nước muốn “ổn định chính trị” thì lập tức nhà riêng của những công dân yêu chuộng tự do dân chủ bị bôi trét bởi khối lượng lớn phân người pha trộn dầu nhớt. Hành động pha trộn kia nhằm làm cho công việc tẩy rửa mùi xú uế cực kỳ khó khăn. Khi CSVN muốn bảo vệ “uy tín” của đảng thì tội nhận hối lộ 2 triệu 600 ngàn Mỹ Kim của một công ty Nhật Bản lập tức biến thành tội cho thuê công ốc để bỏ túi riêng 70.000 Mỹ Kim… Sau nhiều thập niên ngụp lặn trong văn hóa đá cá lăn dưa như vừa mô tả dân tộc tình và dân tộc tính của một số người Việt quốc nội đã có những thoái trào nào chăng? Câu trả lời nằm trong các thảm cảnh điển hình sau đây.
Thảm cảnh một − Ngày 1 tháng Giêng, 2009, nhà cầm quyền Hà Nôi long trọng mở lễ hội Hoa Xuân 2009. Sau giờ khai mạc chẳng bao lâu, người Hà Nội, đặc biệt là đông đảo giới trẻ Hà Nội, đã thô bạo nhảy vào hội hoa. Người bẻ cành hoa, kẻ ôm nguyên chậu cây kiểng, mạnh ai nấy cướp hoa, trộm lá. Họ hiên ngang hành động như hội hoa bỗng nhiên hiện ra ở chốn rừng xanh không người. Chỉ thoáng chốc hoa chưa kịp nở đã vội tàn. Nhìn cảnh hội hoa bi tấn công tàn tệ có người thở dài cho rằng văn hóa Hà Nội ngày nay đang bị “Văn hóa của bầy ruồi” đè bẹp.
Một khi quần chúng phải ứng xử với nhau và với xã hội bằng văn hóa của bầy ruồi làm gì quân chúng kia còn có được ý thức yêu nước.
Thảm cảnh hai ─ Tin từ Vietnamnet, báo điện tử của CSVN, cho biết: tối ngày 20/01/2009, trên quốc lộ I, xe vận tải mang bảng số 29z-0495, chở gỗ tràm theo hướng Bắc Nam, khi tới xã Kỳ Đồng, Kỳ Anh, Hà Tĩnh đã đâm thẳng vào một xe chạy ngược chiều. Xe này chở trái cây mang bảng số 34l-2265. Tai nạn xảy ra làm hai tài xế cùng hai phụ xe bị thương rất nặng. Xác người bị thương, trái cây hòa với máu văng tung tóe trên quốc lộ I, tạo thành cảnh tượng tan nát đến rợn người. Ngay khi tai nạn vừa xày ra, dân chúng từ các làng xã chung quanh vội vàng kéo tới. Thế nhưng thay vì cấp cứu những người bị thương, đám dân chúng kia chỉ biết cướp trái cây, mang chạy về nhà.
Đồng bào không thương yêu đồng bào. Làm gì có sự việc đồng bào yêu nước.
Thảm cảnh ba ─ Tin từ Hà Nội cho biết ngày 05/02/2009, lúc 04 giờ sáng trạm kiểm dịch Hà Đông đã bắt giữ một xe vận tải chuyên chở 1500 gà vịt với giấy kiểm dịch bị cạo sửa. Vì vậy nhà cầm quyền thú y quyết định tiêu hủy số gà vịt vừa kể. Buổi chiều cùng ngày, 30 nhân viên y tế mang số gia cầm bị bắt tới bãi cát Hồng Vân, Thường Tín để thực hiện lệnh tiêu hủy. Khi nhân viên hữu trách bắt đầu ném gà vịt xuống hố và châm lửa hỏa thiêu thì dân chúng địa phương ào ạt nhảy vào cướp gà vit. Ngay cả khi 20 lít xăng đã đổ xuống hố và châm lửa, dân chúng vẫn nhảy xuống hố để cướp gà vịt. Có người bỏ gia cầm cướp được vào bao bố. Có người nhảy xuống hố ném gia cầm ngược lên miệng hố để cho người nhà chụp bắt. Có người leo lên xe chở gà vịt và lái xe ra giữa bãi cát để hành động cướp giật được thực hiện dễ dàng hơn… Kết quả chỉ có khoảng 300 gà vịt bị tiêu hủy 1200 con còn lại chạy vào bụng quần chúng địa phương.
Bản tin về vụ cướp gà ngay giữa huyện Thường Tín, Quận 10 Hà Nội cho thấy một số người Hà Nội ngày nay chủ trương thà ăn gà vịt bệnh còn hơn sống trong đói khổ.
Đứng giữa tình huống người dân quyết định “Vì vịt quên mình, vì gà bỏ mạng”, nhóm chữ “Vị quốc vong thân” nghe thật là mơ hồ và xa lạ!
Chỉ trong vòng 36 ngày Miền Bắc Việt Nam đã bộc lộ ba thảm trạng nói lên ba điểm xấu chính của văn hóa hiện tại. Một là người dân phủ định giá trị của đời sống xã hội. Hai là người dân chỉ yêu trái cây vấy máu chứ không xót thương đồng bào lâm nạn. Ba là người dân xem miếng thịt gà H5N1 quan trọng hơn mạng sống của chính mình. Đọc đến đây hẳn nhiên đảng CSVN sẽ lớn tiếng tố cáo bài viết này là bài viết có mục đích “Nói xấu người Việt Nam”. Chẳng ai có quyền lợi gì khi phải làm cái công việc bị gọi là “Người Việt nói xấu người Việt”. Vấn đề không là nói xấu hay nói tốt. Vấn đề chính là những tin tức được viện dẫn là những tin tức tuyệt đối chính xác. Vấn đề chính là muốn trị bệnh, bệnh nhân phải nói thật, nói rất thật cho bác sĩ biết mọi chi tiết về diễn tiến của bệnh trạng. Nói thật như thế kia không có nghĩa là bệnh nhân đã “nói xấu” cơ thể của chính đương sự. Một người muốn trị bệnh nhưng lại né tránh nói về bệnh lý của mình, người đó chẳng khác nào loài chim đà điểu. Có truyền thuyết cho rằng chim đà điểu trốn bảo cát bằng cách cắm đầu vào những đống cát. CSVN hãy từ giả bộ óc của chim đà điểu, hãy bình tĩnh đối diện với hiện tượng “văn hóa của bầy ruồi”.
Ba tin tức về văn hóa quần chúng cộng với những tin tức về đời sống cơm áo của người dân đặt cạnh những tin tức về ải Nam Quan, thác Bản Giốc, về Hoàng Sa, Trường Sa, vể bauxite Tây Nguyên… một người dầu lạc quan tới đâu cũng không thể phủ nhận sự thực rằng lịch sử Viêt Nam hiện đang chìm sâu trong đêm đen mênh mông và bất tận. Trong đêm đen kia đi tìm sức dân để chống ngoại xâm Trung Quốc quả là việc làm của một kẻ nhảy xuống đáy giếng để tìm đường tiếp cận với mặt trăng. Sức dân được trình bày như một tổng hợp của hai yếu tố tinh thần và thể chất. Tuy nhiên, không người nào không nhận biết rằng: ngày nào “văn hóa của bầy ruồi” còn tồn tại ngày đó sức dân chỉ là sức sống héo mòn của những người bị bệnh liệt kháng. Liệt kháng tim óc là trọng tâm. Liệt kháng thể xác là hệ lụy. Vì vậy vấn đề tiên quyết là sự phục hồi dân tộc tình, dân tộc tính. Phục hồi văn hóa Việt. Câu hỏi cần nêu lên là: Làm thế nào để có thể xác nhận đâu là nguyên nhân của sự việc văn hóa Việt Nam biến đổi thành văn hóa của bầy ruồi? Câu trả lời nằm ở bài toán trừ. Thực vậy, cùng là người Việt Nam tại sao người Việt ở Nam vỹ tuyến 17 (gọi tắt là người Nam) lễ độ và lịch sự hơn rất nhiều lần so với người Việt sanh ra và lớn lên ở bắc vỹ tuyến 17 (gọi tắt là người Bắc)? Xin thưa rằng: 1975 trừ đi 1954 chúng ta có đáp số là 20 năm. Nói rõ ra: người Bắc đã phải ngụp lặn trong guồng máy giáo dục của đảng CSVN hơn người Nam 20 năm. Đó là lý do giải thích tại sao người Bắc “dữ dằn” hơn người Nam.
Không còn nghi ngờ gì nữa, giáo dục Marx Hồ chính là cội nguồn sản sinh ra “văn hóa của bầy ruồi”. Muốn phục hồi văn hóa Việt, muốn phục hồi sức dân để đương đầu với Bắc xâm, người Việt Nam trong cũng như ngoài nước không còn chọn lựa nào khác hơn là cùng nhau nổ lực đẩy đảng CSVN rơi vào hố đào thải của lịch sử.
Bưã ni mới nhìn ra. Đắng ấy chi mới có 50 cái xuân xanh thua ta xa lắc xa lơ.Đằng ấy còn "chẻ quá" Từ nay ta không goi...anh âấy nữa đâu. Gọi là em giai được chứ???.....TheLang wrote:Ớ ha ! Cái rạp đó thì tên là Đông Nhì chứ còn rạp gì nữa , cứ thẳng đường là qua Cầu Hang tới chợ Gò Vâp phải không cô ấy ơi...KhanhVan wrote: Anh ấy ơi.......Còn cái rạp xi nê ma ở Đông Nhì....Phiá dưới Gò Vâấp.....ten ê là...gì nhi.....có phải nó tên là Đại Đồng 2....??
Hồi xưa cái rạp Đông Nhì chỉ có ba đồng với năm đồng một vé , hồi đi học tui thường dẫn bạn vào có coi , nhưng mà có coi được gì đâu cứ mải lo ôm không hà , bởi rạp thì thường vắng hoe nên sợ lắm![]()
![]()
Ừ..cái rạp hát này xa lắc. Ngày xưa văng hoe. Nhất là ban tối...ghê bỏ mẹ !
Ta cũng có một kỷ niêm vui vui. Ngày đó ta nghe lén được thằng em sẽ cúp cua buôi học anh văn ban tôi tại Chuà Giác Hoa ( gần rạp Đại Đồng trên đường Nguyễn Văn Học ) để đi xem phim Má Hồng Ra Trận - do B B đóng với mấy anh lớn trong xóm. Ta đòi đi theo. Nếu không ta mách....
Do đó bắt buộc mấy anh phải đồng ý để con bà chằng theo cùng.
Ngày ấy rất ngây thơ. Đi xem phim mà ta mang theo 1 cái túi sách. Trong đựng nào mận, nào dao,nào chai nước. Có mang theo cả cái quạt giây nưã
Vào đến rạp, sau khi tìm được chỗ ngồi.Ta bèn cất ngay đôi dép vô túi sách ,co 2 chân lên ghế ,khoanh chân lại. Măt nhìn màn ảnh ,tay bổ quả mận...mồm nhai chem chép .Ta biết mấy tay đang nhìn ta ăn ….họ cũng thèm lắm . Nhưng ta tỉnh bơ nhai … không cho ăn ké . sau này ta nghe có 1 anh chàng bảo với em trai cuả ta . Chị mày giống bà già trầu quá . Đi ci nê mà nó mang bị đồ ăn giống mấy bà đi coi hát bội mang theo cau trầu và ống nhổ
Hi chị KVKhanhVan wrote:Bưã ni mới nhìn ra. Đắng ấy chi mới có 50 cái xuân xanh thua ta xa lắc xa lơ.Đằng ấy còn "chẻ quá" Từ nay ta không goi...anh âấy nữa đâu. Gọi là em giai được chứ???.....TheLang wrote:Ớ ha ! Cái rạp đó thì tên là Đông Nhì chứ còn rạp gì nữa , cứ thẳng đường là qua Cầu Hang tới chợ Gò Vâp phải không cô ấy ơi...KhanhVan wrote: Anh ấy ơi.......Còn cái rạp xi nê ma ở Đông Nhì....Phiá dưới Gò Vâấp.....ten ê là...gì nhi.....có phải nó tên là Đại Đồng 2....??
Hồi xưa cái rạp Đông Nhì chỉ có ba đồng với năm đồng một vé , hồi đi học tui thường dẫn bạn vào có coi , nhưng mà có coi được gì đâu cứ mải lo ôm không hà , bởi rạp thì thường vắng hoe nên sợ lắm![]()
![]()
Ừ..cái rạp hát này xa lắc. Ngày xưa văng hoe. Nhất là ban tối...ghê bỏ mẹ !
Ta cũng có một kỷ niêm vui vui. Ngày đó ta nghe lén được thằng em sẽ cúp cua buôi học anh văn ban tôi tại Chuà Giác Hoa ( gần rạp Đại Đồng trên đường Nguyễn Văn Học ) để đi xem phim Má Hồng Ra Trận - do B B đóng với mấy anh lớn trong xóm. Ta đòi đi theo. Nếu không ta mách....
Do đó bắt buộc mấy anh phải đồng ý để con bà chằng theo cùng.
Ngày ấy rất ngây thơ. Đi xem phim mà ta mang theo 1 cái túi sách. Trong đựng nào mận, nào dao,nào chai nước. Có mang theo cả cái quạt giây nưã
Vào đến rạp, sau khi tìm được chỗ ngồi.Ta bèn cất ngay đôi dép vô túi sách ,co 2 chân lên ghế ,khoanh chân lại. Măt nhìn màn ảnh ,tay bổ quả mận...mồm nhai chem chép .Ta biết mấy tay đang nhìn ta ăn ….họ cũng thèm lắm . Nhưng ta tỉnh bơ nhai … không cho ăn ké . sau này ta nghe có 1 anh chàng bảo với em trai cuả ta . Chị mày giống bà già trầu quá . Đi ci nê mà nó mang bị đồ ăn giống mấy bà đi coi hát bội mang theo cau trầu và ống nhổ
hahaha, chị kể nghe vui quá
Phải phim nầy không chị KV? Chắc giờ không còn nữa đâu
[flash width=425 height=344][/flash]
Tuổi trẻ Việt Nam
Học Lịch Sử để làm Lịch Sử
Trần Trung Đạo Tôi còn nhớ rất rõ hình ảnh Sài Gòn những ngày cuối tháng Giêng ba mươi ba năm trước. Sau những trận hải chiến dữ dội chung quanh quần đảo Hoàng Sa để chống lại các lực lượng hải quân Trung Quốc đông hơn và mạnh hơn gấp nhiều lần, chiều 20 tháng 1 năm 1974, các đơn vị hải quân Việt Nam Cộng hoà đã buộc phải triệt thoái khỏi quần đảo Hoàng Sa, nơi tổ tiên chúng ta đã bao đời gìn giữ. Trong vùng biển mẹ thân yêu, từ đó đã nhuộm thêm máu của những người con ruột thịt. Các anh Ngụy Văn Thà, Nguyễn Thành Trí, Vũ Văn Bang, Ngô Chí Thành và nhiều thanh niên Việt Nam khác đã theo dấu chân của bao nhiêu anh hùng dân tộc mà đền nợ nước. Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc.
Sài Gòn ngày tháng đó buồn như một đám ma. Những cụm mai vàng chào đón xuân sang không làm phai đi màu đen tang chế đang phủ trùm lên cả miền Nam. Những cuộc biểu tình rầm rộ từ Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ không làm vơi đi nỗi buồn nhược tiểu trong lòng những người đang ưu tư cho vận nước. Những bản hùng ca xen lẫn với những tiếng kèn truy điệu của các chương trình phát thanh quân đội đã làm người dân rơi nước mắt xót thương cho số phận hẩm hiu của tổ quốc mình. Hạm đội thứ bảy hùng hậu của Mỹ khóa súng an toàn nhìn hải quân Trung Quốc đổ bộ Hoàng Sa, hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam từ chối lời kêu gọi của phái đoàn Việt Nam Cộng hoà tố cáo Trung Quốc xâm lăng. Đồng minh dửng dưng, đồng bào ngoảnh mặt. Có nỗi xót xa nào lớn hơn nỗi xót xa của số phận một tiền đồn và có vết thương tâm linh nào sâu hơn, đau hơn vết thương của một người mẹ bị bỏ rơi bởi chính những đứa con yêu quý của mình.
Chiều năm đó ngồi trong thư viện tôi có làm một bài thơ và viết một đoản văn. Tôi không còn nhớ bài thơ nhưng đoản văn tôi còn nhớ rất rõ, và sau này khi làm website xuQuang tôi có ghi lại trong phần tưởng niệm Hoàng Sa: “Mỗi người Việt Nam phải ghi khắc trong tim mình: Hoàng Sa là đảo Việt Nam, là biển Việt Nam, là đất Việt Nam. Ðất nước Việt Nam có khi thịnh khi suy, lịch sử Việt Nam có khi hưng khi phế, thế hệ hôm nay không giữ được Hoàng Sa nhưng không phải vì thế mà Hoàng Sa trở thành đất của Trung cộng bá quyền hay của bất cứ một quốc gia nào khác. Dân tộc Việt Nam, các thế hệ Việt Nam mai sau phải nhớ rằng: Bất cứ khi nào các điều kiện kinh tế, chính trị và quân sự cho phép, một trong những việc đầu tiên là phải lấy lại Hoàng Sa.”
Ba mươi ba năm sau. Cũng những ngày cuối năm, ngồi xem hình ảnh các cuộc biểu tình ở Hà Nội, đọc bản tin được viết vội vàng trên đường phố Sài Gòn, đọc danh sách của những người ký tên, trong đó đa số là tuổi trẻ, để phản đối Trung Quốc vi phạm lãnh thổ Việt Nam trên Internet, tôi vui mừng và cảm động. Trung Quốc không phải vì các cuộc biểu tình của các em mà trao trả lại Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam, nhưng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách bá quyền của họ trên biển Đông. Để duy trì mức phát triển kinh tế hiện nay và chạy đua với các cường quốc kinh tế, Trung Quốc đang cần sự ổn định chính trị và kinh tế hơn bất cứ quốc gia nào khác trong vùng.
Nhìn các em tôi lại nhớ đến chính mình. Đường phố Sài Gòn, nơi các em đang đứng hôm nay cũng là nơi tôi đã đứng đọc từng tên của những người đã ở lại trong lòng biển cả. Khẩu hiệu “Hoàng Sa là của Việt Nam” cũng là khẩu hiệu mà sinh viên chúng tôi đã hô ba mươi ba năm trước. Chúng ta có thể còn vài điểm khác nhau nhưng có chung một tổ quốc. Đó là điều hệ trọng. Lòng yêu nước đã thúc giục các em vượt qua bức tường sợ hãi, bất chấp sự ngăn cản của Đảng, của nhà nước, của ban lãnh đạo trường để cùng xuống đường nói tiếng của một người Việt Nam khi tổ quốc lâm nguy. Lịch sử bao giờ cũng mang tính thời đại, và trang sử Việt Nam hôm nay đang được viết bởi các em, những người Việt Nam đang đứng trước toà đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội, trước lãnh sự quán Trung Quốc ở Sài Gòn. Và cũng qua những biến cố lịch sử này, các em sẽ có cơ hội thấy những sự thật đắng cay, những bài học bẽ bàng mà từ trước đến nay đã bị che lấp bởi hệ thống tuyên truyền lừa dối của Đảng. Các em đang học lịch sử và đang làm lịch sử.
Trong các cuộc xung đột về lãnh thổ, bằng chứng và di tích lịch sử thì bên nào cũng có thể có nhưng văn kiện pháp lý được cả hai bên xung đột công nhận thì thường rất hiếm hoi. Tôi nhớ có đọc đâu đó một câu chuyện bên lề các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và Liên Xô về chủ quyền của các đảo Trân Bảo, Ẩn Long và Hắc Hạt Tử trong khu vực sông Ussuri. Theo câu chuyện này, mỗi lần có một cuộc họp giữa hai nước, phái đoàn Trung Quốc thường chở theo cả một toa xe lửa chứa đầy tài liệu và đồ vật để chứng minh chủ quyền Trung Quốc trên các đảo này. Trung Quốc là một nước đông dân, diện tích rộng, có nền văn minh phát triển rất sớm, có chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, do đó, việc tổ tiên họ đã từng đến, từng đi đánh cá, từng đặt chân, từng mô tả trong văn chương thơ phú về các hòn đảo đó thì cũng không có gì là đáng ngạc nhiên. Những tài liệu phía Trung Quốc đưa ra hay vật dụng họ góp nhặt được dù bao nhiêu cũng không thuyết phục được Liên Xô về chủ quyền của Trung Quốc trên lãnh thổ đang bị tranh chấp. Sau hơn 20 năm đánh rồi đàm, một hiệp ước biên giới Nga - Hoa đã được ký kết lần đầu vào tháng 10 năm 1995 và lần nữa vào tháng 10 năm 2004. Theo nội dung hiệp ước, phần thắng nghiêng về phía Trung Quốc nhiều hơn. Trung Quốc được kiểm soát cả hai đảo Trân Bảo, Ẩn Long và một nửa Hắc Hạt Tử. Giả thiết hiệp ước này được ký kết vào năm 1969, với nội dung tương tự, có lẽ nhân dân Trung Quốc đã được nghỉ một tuần lễ để ăn mừng chiến thắng và ngày ký đã trở thành ngày lễ lớn của quốc gia. Nhưng hiệp ước ký kết vào tháng 10 năm 2004 trôi qua gần như trong âm thầm. Cả Trung Quốc và Nga đều biết, ngay từ trong căn bản, lý do chính của xung đột không phải là lãnh thổ mà là sự tranh chấp quyền lực, uy thế của hai nước cộng sản đàn anh trong phong trào cộng sản quốc tế. Về phía Nga, sau khi Liên Xô sụp đổ, họ cần sự ổn định để phục hồi nền kinh tế gần như bị phá sản, và do đó sự xung đột chủ quyền trên các đảo vốn không chứng tỏ một tiềm năng kinh tế nào đã không còn lý do để kéo dài thêm.
Việc xung đột lãnh thổ với Việt Nam thì khác. Để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa, chính quyền Trung Quốc không cần phải chở một toa xe lửa tài liệu hay bằng chứng nào cả. Những lời tuyên bố của phát ngôn viên chính phủ Trung Quốc dù nói vòng vo từ chuyện đời xưa đến đời nay cho có lệ, cuối cùng cũng chỉ rút trong túi ra một văn kiện khá mới mẻ, rất hợp pháp, dài vỏn vẹn 121 chữ tính cả phần chào hỏi nhưng lại đầy thuyết phục, đó là công hàm của Thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phạm Văn Đồng. Nội dung chính của công hàm: “Thưa đồng chí Tổng lý. Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.
Khi đọc bản tuyên bố này lần đầu cách đây khá lâu thú thật tôi không tin đó là văn bản thật mà là tài liệu giả mạo do Trung Quốc viết hay chỉ là sản phẩm tuyên truyền của một tổ chức chống cộng nào đó dựng lên để bêu xấu Đảng. Hai tiếng Hoàng Sa và Trường Sa thân thương quen thuộc từ bao đời là một phần của ngôn ngữ Việt Nam như hai quần đảo vẫn được xem là phần da thịt, máu xương bất khả phân ly của thân thể Việt Nam.
Các chính phủ Trung Quốc, Philippines, Malaysia có quyền không công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam hay hoàn toàn của Việt Nam. Nhân dân Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Đài Loan, Brunei cũng có thể cho rằng Trường Sa là đất của họ. Tình cảm đất nước là một tình cảm thiêng liêng nhưng cũng ít nhiều bảo thủ mà dân tộc nào cũng có. Tình cảm đó cũng cần được xem xét và tôn trọng. Các quốc gia tranh chấp phải giới thiệu các bằng chứng lịch sử, các văn kiện pháp lý trong một hội nghị quốc tế đa phương để thương thảo và tìm một giải pháp phù hợp với công pháp quốc tế cũng như quyền lợi của các nước trong vùng tranh chấp. Những hòn đảo không người ở, những triền đá nhọn nhô lên giữa đại dương mênh mông từ mấy ngàn năm, trong thời đại dầu hoả bỗng trở thành quan trọng, việc xung đột vì thế là điều khó tránh, tuy nhiên, sự kiện một ông thủ tướng Việt Nam nhân danh nước Việt Nam để công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc mà không cần phải đưa ra trước quốc hội để biểu quyết, không cần tranh luận, hội họp, không cần phải bắn nhau một viên đạn nào, quả là một việc không thể nào tin được và đương nhiên cũng không thể nào chấp nhận được.
Văn bản do ông Phạm Văn Đồng ký là một vết nhơ trong lịch sử dân tộc và tên tuổi ông Phạm Văn Đồng cũng sẽ dơ như chữ ký của ông. Tuy nhiên, thật bất công nếu chỉ đổ tội lên một mình ông Phạm Văn Đồng. Trong cương vị Thủ tướng, ông phải là người ký công hàm gởi cho Chu Ân Lai, Thủ tướng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng ông Phạm Văn Đồng không phải là người tự quyết định mà chỉ thừa hành quyết định chung của Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Vào thời điểm tháng 9 năm 1958, những người sau đây phải chịu trách nhiệm cho việc triều cống hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc, và danh sách của họ được sắp xếp theo thứ tự trong Bộ Chính trị Đại hội lần II năm 1951 cũng như được bổ túc trong những năm sau đó: Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Hoan.
Tại sao họ đã làm như thế? Họ bị áp lực của Trung Quốc? Không. Không có một tối hậu thư nào của nhà cầm quyền Trung Quốc buộc Việt Nam phải thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc, nếu không họ sẽ dùng võ lực để tiến chiếm hai quần đảo, vượt biên giới Lạng Sơn hay đổ bộ lên Hải Phòng. Cho dù có tối hậu thư đi nữa thì cũng không phải lần đầu Việt Nam nhận tối hậu thư của quân xâm lược. Trước đây, các vua Lý, vua Trần đã nhận và mới đây Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương đã nhận, và các anh hùng dân tộc đã chọn chiến đấu tới cùng và đã chết trên nắm đất của tổ tiên thay vì dâng thành cho giặc.
Trên thế giới chưa có một cuộc phân định biên giới nào giữa hai quốc gia mà không phải trải qua những hội nghị, những cuộc thảo luận, đo đạc cần thiết về các giới hạn trên biển cả cũng như lằn ranh trên đất liền. Trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất là quan trọng nhất. Câu “tấc đất tấc vàng” không chỉ đúng cho trường hợp một nước đất hẹp người đông như Việt Nam mà đúng cho bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Hãy lấy trường hợp Bắc Hàn làm ví dụ. Nếu theo dõi các hội nghị về biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Hàn chúng ta có thể nghĩ rằng Trung Quốc muốn gì chắc là được nấy, muốn vẽ biên giới đâu thì vẽ. Không. Bắc Hàn tự cô lập khỏi thế giới giới văn minh, trong nhiều năm đã lệ thuộc vào Trung Quốc không những chính trị, ngoại giao mà cả từng chén cơm manh áo, nhưng họ nhất định không nhượng cho Trung Quốc một tấc đất nào qua các hội nghị về đường biên giới dài 1416 kilomét giữa hai nước. Mặc dù cai trị đất nước bằng một lý thuyết ngu dân hoang tưởng, bằng một chính sách độc tài sắt máu bị phần lớn nhân loại rẻ khinh, xa lánh, cha con Kim Nhật Thành ít ra có một điểm đáng khen mà giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không có, đó là quyết tâm giữ đất của tổ tiên họ để lại.
Nhiệt tình cao độ của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam chắc đã làm không chỉ Mao mà cả Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phải ngạc nhiên hết sức. Tôi tin bộ chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc hẳn đã tốn rất nhiều thời gian, tổ chức nhiều phiên họp tìm hiểu, phân tích, đánh giá nội dung công hàm của ông Phạm Văn Đồng để xem phía Việt Nam có ẩn ý gì trong 121 chữ đó không, chẳng lẽ Việt Nam tự nguyện dâng hai quần đảo một cách dễ dàng như thế. Không, không có ẩn ý, âm mưu nào cả ngoài việc chứng tỏ lòng trung thành tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam với Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Cấp lãnh đạo Trung ương Đảng thời đó còn lo ngại đàn anh Trung Quốc không tin vào lòng dạ chí thành của mình nên đã cho đăng toàn bộ nội dung công hàm trên báo Nhân dân ngày 22 tháng 9 năm 1958 để toàn Đảng, toàn dân và toàn thế giới biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nay không còn là của Việt Nam nữa. Không giống như hiệp ước biên giới Việt Trung vào các năm 1999 và năm 2000 được ký kết lén lút đến mức ngay cả những ông bà đại biểu quốc hội khi đưa tay phê chuẩn cũng không biết nội dung hiệp ước nói gì, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, qua công hàm 1958, chẳng những “ghi nhận”, “tán thành” mà còn chỉ thị cho các cấp “triệt để tôn trọng” hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của lục địa Trung Hoa, có đính kèm luôn bản đồ về đường ranh giới lãnh hải, bao gồm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa.
Tại sao họ đã làm như thế? Họ không rành lịch sử Việt Nam? Chẳng lẽ họ chưa thấm thía câu “Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt” và không cảm thông cho sự chịu đựng vô bờ bến của tổ tiên suốt một ngàn năm qua bốn lần Bắc thuộc, phải xuống biển tìm ngọc trai, lên non tìm sừng tê, ngà voi, bạc vàng châu báu hay sao? Tôi không nghĩ vậy, vì ít nhất trong số 11 ủy viên Bộ Chính trị thời đó cũng có một người đã từng dạy sử. Họ làm thế chỉ vì niềm tin tuyệt đối vào chủ nghĩa cộng sản. Niềm tin mù quáng vào một xã hội đại đồng đã làm giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam nghĩ rằng Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai và những người cộng sản Trung Quốc mà họ đang thần phục là những bậc thánh hiền chứ không phải là giống dân đã hàng ngàn năm đày đoạ tổ tiên Việt Nam. Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm đã thú nhận sự lệ thuộc vào Trung Quốc hay đúng hơn là quan hệ chủ tớ này trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2 tháng 12 năm 1992 và được Thông tấn xã Việt Nam loan ngày 3 tháng 12 năm 1992: “Tình hữu nghị Việt - Trung đang thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Việt Nam xem Trung Quốc là một nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị. Trong tinh thần đấy thì do tình thế cấp bách, quan điểm của lãnh đạo ta (tức ủng hộ Trung Quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) là cần thiết vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc.” Cuộc chiến bảo vệ tổ quốc mà ông Nguyễn Mạnh Cầm nhắc trong buổi họp báo nêu trên, tương tự như khi ông Phạm Văn Đồng trả lời báo Far Eastern Economic Review tháng 3, 1979 hay hầu hết các lãnh đạo Đảng khác đã nhiều lần viện dẫn là “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước”, thế nhưng, năm 1958, ngoại trừ một số ít nhân viên thuộc Nhóm Cố vấn Quân sự (Military Assistance Advisory Group), làm gì có quân Mỹ để mà chống?
Tại sao họ đã làm như thế? Khi đem hai quần đảo vô cùng quan trọng của đất nước về chiến lược quân sự cũng như về tiềm năng kinh tế dâng hiến cho Trung Quốc để gọi là “ bảo vệ tổ quốc” thì tổ quốc mà các giới lãnh đạo Đảng cần phải bảo vệ là tổ quốc nào? Như giải thích trong hầu hết tài liệu học tập, giáo trình trung, đại học tại Việt Nam, người cộng sản không có tổ quốc theo nghĩa thông thường mà chúng ta thường hiểu. Khái niệm tổ quốc đối với giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đơn thuần là dải giang sơn từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau mà bao nhiêu thế hệ tiền nhân đã dày công gìn giữ, không phải chỉ gồm 40 triệu người ngày đó hay 80 triệu người ngày nay có cùng huyết thống, cùng một ngôn ngữ, cùng một lịch sử, mà phải là tổ quốc xã hội chủ nghĩa, một đất nước bị thống trị trong bàn tay sắt của Đảng Cộng sản. Mụch đích của Đảng như đã đề ra trong Đại hội Đảng lần thứ II tại Tuyên Quang bao gồm giai đoạn từ 1951 đến 1960: “Giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.” Năm 1958, một nửa nước chưa trở thành chủ nghĩa xã hội và do đó mục đích của Đảng chưa hoàn thành. Để thôn tính miền Nam và hoàn thành mục đích cộng sản hóa cả nước, họ cần súng đạn của Liên Xô và Trung Quốc. Hoàng Sa và Trường Sa là giá mà giới lãnh đạo Đảng phải ứng trước để đổi lấy nhiều vạn trái mìn, mấy trăm ngàn khẩu AK, mấy ngàn chiếc tăng đủ loại để đem về cày xéo lên các thành phố miền Nam, đốt cháy thôn làng miền Nam và tàn sát nhiều triệu dân miền Nam vô tội.
Tuổi trẻ phải làm gì?
Đứng trước sự phân hóa, chia rẻ do hậu quả của mấy trăm năm phong kiến, đế quốc thực dân và cộng sản, chọn lựa duy nhất của thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay là đoàn kết và vượt qua mọi thử thách để đoàn kết thành một khối đúng như khẩu hiệu “Ta là một” mà các em đang phát động trong nước. Lịch sử như một dòng sông. Dòng sông Việt Nam vẫn chảy dù phải băng qua bao nhiêu ghềnh đá cheo leo. Tương tự, các thế hệ Việt Nam lớn lên và vẫn phải tiếp tục nhận lãnh trách nhiệm lịch sử của thế hệ mình. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần một ngọn hải đăng của bất cứ cường quốc nào để rọi sáng đêm tối trời dân tộc, nhưng ngay từ trong lòng họ đã bùng cháy lên ngọn đèn tự chủ được thắp sáng bằng tâm thức Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần chờ đợi một minh quân ra đời hay một lãnh tụ xuất hiện để dẫn dắt họ trên đường cứu nước bởi vì chính họ sẽ là những minh quân của thời đại và con đường dẫn đến điểm hẹn lịch sử được soi sáng bằng trí tuệ Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần vay mượn một chủ nghĩa, một ý thức hệ, một lý thuyết ngoại lai nào làm kim chỉ nam để giải phóng dân tộc, bởi vì chính họ đã được trang bị bằng các đặc tính dân tộc, nhân bản và khai phóng kết tinh và kế thừa từ hơn bốn ngàn năm lịch sử.
Lãnh đạo Đảng đã, đang và chắc sẽ làm tất cả những gì họ có thể làm để ngăn cản các cuộc biểu tình dù ôn hoà và bất bạo động của tuổi trẻ Việt Nam. Tuần trước họ ra chỉ thị cấm biểu tình, tuần này họ chụp mũ các em chống phá trật tự xã hội, tuần sau họ sẽ đem xe chữa lửa đến đàn áp và tuần sau nữa có thể trục xuất khỏi trường, bắt giam, kết án, tù đày. Tuy nhiên, lịch sử đã nhiều lần chứng minh, khi một chế độ chỉ còn trông cậy vào các phương tiện bạo lực trấn áp để tồn tại, chỉ còn biết sử dụng bộ máy công an kềm kệp để duy trì quyền cai trị, ngày tàn của chế độ đó chỉ là vấn đề thời gian. Hành động tuyệt vọng của Nicolae Ceausescu khi ra lệnh công an bắn vào cuộc biểu tình của nhân dân Rumania sáng ngày 17 tháng 12 năm 1989 chỉ để dẫn đến bản án tử hình dành cho vợ chồng ông ta một tuần sau đó. Lãnh tụ cộng sản Slobodan Milosevic một thời là tổng thống Serbia đầy quyền lực nắm trọn quyền sinh sát trong tay, cuối cùng cũng phải chết trong tù. Erich Honecker hung thần Đông Đức, Idi Amin đao thủ phủ của Congo hay Mobuto bạo chúa của Uganda đều đã gởi tấm thân tàn trên đất khách, để lại tiếng xấu muôn đời. Nếu giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam còn nghĩ đến tương lai của chính họ và còn biết lo cho tương lai của đất nước, họ phải chọn đứng về phía dân tộc.
Con đường duy nhất để đạt đến một tương lai tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng là con đường dân tộc và cũng chỉ có một Việt Nam tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng thì các thế hệ Việt Nam mai sau mới có cơ may giành lại được Hoàng Sa và Trường Sa.
Trần Trung Đạo
Học Lịch Sử để làm Lịch Sử
Trần Trung Đạo Tôi còn nhớ rất rõ hình ảnh Sài Gòn những ngày cuối tháng Giêng ba mươi ba năm trước. Sau những trận hải chiến dữ dội chung quanh quần đảo Hoàng Sa để chống lại các lực lượng hải quân Trung Quốc đông hơn và mạnh hơn gấp nhiều lần, chiều 20 tháng 1 năm 1974, các đơn vị hải quân Việt Nam Cộng hoà đã buộc phải triệt thoái khỏi quần đảo Hoàng Sa, nơi tổ tiên chúng ta đã bao đời gìn giữ. Trong vùng biển mẹ thân yêu, từ đó đã nhuộm thêm máu của những người con ruột thịt. Các anh Ngụy Văn Thà, Nguyễn Thành Trí, Vũ Văn Bang, Ngô Chí Thành và nhiều thanh niên Việt Nam khác đã theo dấu chân của bao nhiêu anh hùng dân tộc mà đền nợ nước. Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc.
Sài Gòn ngày tháng đó buồn như một đám ma. Những cụm mai vàng chào đón xuân sang không làm phai đi màu đen tang chế đang phủ trùm lên cả miền Nam. Những cuộc biểu tình rầm rộ từ Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ không làm vơi đi nỗi buồn nhược tiểu trong lòng những người đang ưu tư cho vận nước. Những bản hùng ca xen lẫn với những tiếng kèn truy điệu của các chương trình phát thanh quân đội đã làm người dân rơi nước mắt xót thương cho số phận hẩm hiu của tổ quốc mình. Hạm đội thứ bảy hùng hậu của Mỹ khóa súng an toàn nhìn hải quân Trung Quốc đổ bộ Hoàng Sa, hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam từ chối lời kêu gọi của phái đoàn Việt Nam Cộng hoà tố cáo Trung Quốc xâm lăng. Đồng minh dửng dưng, đồng bào ngoảnh mặt. Có nỗi xót xa nào lớn hơn nỗi xót xa của số phận một tiền đồn và có vết thương tâm linh nào sâu hơn, đau hơn vết thương của một người mẹ bị bỏ rơi bởi chính những đứa con yêu quý của mình.
Chiều năm đó ngồi trong thư viện tôi có làm một bài thơ và viết một đoản văn. Tôi không còn nhớ bài thơ nhưng đoản văn tôi còn nhớ rất rõ, và sau này khi làm website xuQuang tôi có ghi lại trong phần tưởng niệm Hoàng Sa: “Mỗi người Việt Nam phải ghi khắc trong tim mình: Hoàng Sa là đảo Việt Nam, là biển Việt Nam, là đất Việt Nam. Ðất nước Việt Nam có khi thịnh khi suy, lịch sử Việt Nam có khi hưng khi phế, thế hệ hôm nay không giữ được Hoàng Sa nhưng không phải vì thế mà Hoàng Sa trở thành đất của Trung cộng bá quyền hay của bất cứ một quốc gia nào khác. Dân tộc Việt Nam, các thế hệ Việt Nam mai sau phải nhớ rằng: Bất cứ khi nào các điều kiện kinh tế, chính trị và quân sự cho phép, một trong những việc đầu tiên là phải lấy lại Hoàng Sa.”
Ba mươi ba năm sau. Cũng những ngày cuối năm, ngồi xem hình ảnh các cuộc biểu tình ở Hà Nội, đọc bản tin được viết vội vàng trên đường phố Sài Gòn, đọc danh sách của những người ký tên, trong đó đa số là tuổi trẻ, để phản đối Trung Quốc vi phạm lãnh thổ Việt Nam trên Internet, tôi vui mừng và cảm động. Trung Quốc không phải vì các cuộc biểu tình của các em mà trao trả lại Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam, nhưng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách bá quyền của họ trên biển Đông. Để duy trì mức phát triển kinh tế hiện nay và chạy đua với các cường quốc kinh tế, Trung Quốc đang cần sự ổn định chính trị và kinh tế hơn bất cứ quốc gia nào khác trong vùng.
Nhìn các em tôi lại nhớ đến chính mình. Đường phố Sài Gòn, nơi các em đang đứng hôm nay cũng là nơi tôi đã đứng đọc từng tên của những người đã ở lại trong lòng biển cả. Khẩu hiệu “Hoàng Sa là của Việt Nam” cũng là khẩu hiệu mà sinh viên chúng tôi đã hô ba mươi ba năm trước. Chúng ta có thể còn vài điểm khác nhau nhưng có chung một tổ quốc. Đó là điều hệ trọng. Lòng yêu nước đã thúc giục các em vượt qua bức tường sợ hãi, bất chấp sự ngăn cản của Đảng, của nhà nước, của ban lãnh đạo trường để cùng xuống đường nói tiếng của một người Việt Nam khi tổ quốc lâm nguy. Lịch sử bao giờ cũng mang tính thời đại, và trang sử Việt Nam hôm nay đang được viết bởi các em, những người Việt Nam đang đứng trước toà đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội, trước lãnh sự quán Trung Quốc ở Sài Gòn. Và cũng qua những biến cố lịch sử này, các em sẽ có cơ hội thấy những sự thật đắng cay, những bài học bẽ bàng mà từ trước đến nay đã bị che lấp bởi hệ thống tuyên truyền lừa dối của Đảng. Các em đang học lịch sử và đang làm lịch sử.
Trong các cuộc xung đột về lãnh thổ, bằng chứng và di tích lịch sử thì bên nào cũng có thể có nhưng văn kiện pháp lý được cả hai bên xung đột công nhận thì thường rất hiếm hoi. Tôi nhớ có đọc đâu đó một câu chuyện bên lề các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và Liên Xô về chủ quyền của các đảo Trân Bảo, Ẩn Long và Hắc Hạt Tử trong khu vực sông Ussuri. Theo câu chuyện này, mỗi lần có một cuộc họp giữa hai nước, phái đoàn Trung Quốc thường chở theo cả một toa xe lửa chứa đầy tài liệu và đồ vật để chứng minh chủ quyền Trung Quốc trên các đảo này. Trung Quốc là một nước đông dân, diện tích rộng, có nền văn minh phát triển rất sớm, có chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, do đó, việc tổ tiên họ đã từng đến, từng đi đánh cá, từng đặt chân, từng mô tả trong văn chương thơ phú về các hòn đảo đó thì cũng không có gì là đáng ngạc nhiên. Những tài liệu phía Trung Quốc đưa ra hay vật dụng họ góp nhặt được dù bao nhiêu cũng không thuyết phục được Liên Xô về chủ quyền của Trung Quốc trên lãnh thổ đang bị tranh chấp. Sau hơn 20 năm đánh rồi đàm, một hiệp ước biên giới Nga - Hoa đã được ký kết lần đầu vào tháng 10 năm 1995 và lần nữa vào tháng 10 năm 2004. Theo nội dung hiệp ước, phần thắng nghiêng về phía Trung Quốc nhiều hơn. Trung Quốc được kiểm soát cả hai đảo Trân Bảo, Ẩn Long và một nửa Hắc Hạt Tử. Giả thiết hiệp ước này được ký kết vào năm 1969, với nội dung tương tự, có lẽ nhân dân Trung Quốc đã được nghỉ một tuần lễ để ăn mừng chiến thắng và ngày ký đã trở thành ngày lễ lớn của quốc gia. Nhưng hiệp ước ký kết vào tháng 10 năm 2004 trôi qua gần như trong âm thầm. Cả Trung Quốc và Nga đều biết, ngay từ trong căn bản, lý do chính của xung đột không phải là lãnh thổ mà là sự tranh chấp quyền lực, uy thế của hai nước cộng sản đàn anh trong phong trào cộng sản quốc tế. Về phía Nga, sau khi Liên Xô sụp đổ, họ cần sự ổn định để phục hồi nền kinh tế gần như bị phá sản, và do đó sự xung đột chủ quyền trên các đảo vốn không chứng tỏ một tiềm năng kinh tế nào đã không còn lý do để kéo dài thêm.
Việc xung đột lãnh thổ với Việt Nam thì khác. Để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa, chính quyền Trung Quốc không cần phải chở một toa xe lửa tài liệu hay bằng chứng nào cả. Những lời tuyên bố của phát ngôn viên chính phủ Trung Quốc dù nói vòng vo từ chuyện đời xưa đến đời nay cho có lệ, cuối cùng cũng chỉ rút trong túi ra một văn kiện khá mới mẻ, rất hợp pháp, dài vỏn vẹn 121 chữ tính cả phần chào hỏi nhưng lại đầy thuyết phục, đó là công hàm của Thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phạm Văn Đồng. Nội dung chính của công hàm: “Thưa đồng chí Tổng lý. Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.
Khi đọc bản tuyên bố này lần đầu cách đây khá lâu thú thật tôi không tin đó là văn bản thật mà là tài liệu giả mạo do Trung Quốc viết hay chỉ là sản phẩm tuyên truyền của một tổ chức chống cộng nào đó dựng lên để bêu xấu Đảng. Hai tiếng Hoàng Sa và Trường Sa thân thương quen thuộc từ bao đời là một phần của ngôn ngữ Việt Nam như hai quần đảo vẫn được xem là phần da thịt, máu xương bất khả phân ly của thân thể Việt Nam.
Các chính phủ Trung Quốc, Philippines, Malaysia có quyền không công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam hay hoàn toàn của Việt Nam. Nhân dân Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Đài Loan, Brunei cũng có thể cho rằng Trường Sa là đất của họ. Tình cảm đất nước là một tình cảm thiêng liêng nhưng cũng ít nhiều bảo thủ mà dân tộc nào cũng có. Tình cảm đó cũng cần được xem xét và tôn trọng. Các quốc gia tranh chấp phải giới thiệu các bằng chứng lịch sử, các văn kiện pháp lý trong một hội nghị quốc tế đa phương để thương thảo và tìm một giải pháp phù hợp với công pháp quốc tế cũng như quyền lợi của các nước trong vùng tranh chấp. Những hòn đảo không người ở, những triền đá nhọn nhô lên giữa đại dương mênh mông từ mấy ngàn năm, trong thời đại dầu hoả bỗng trở thành quan trọng, việc xung đột vì thế là điều khó tránh, tuy nhiên, sự kiện một ông thủ tướng Việt Nam nhân danh nước Việt Nam để công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc mà không cần phải đưa ra trước quốc hội để biểu quyết, không cần tranh luận, hội họp, không cần phải bắn nhau một viên đạn nào, quả là một việc không thể nào tin được và đương nhiên cũng không thể nào chấp nhận được.
Văn bản do ông Phạm Văn Đồng ký là một vết nhơ trong lịch sử dân tộc và tên tuổi ông Phạm Văn Đồng cũng sẽ dơ như chữ ký của ông. Tuy nhiên, thật bất công nếu chỉ đổ tội lên một mình ông Phạm Văn Đồng. Trong cương vị Thủ tướng, ông phải là người ký công hàm gởi cho Chu Ân Lai, Thủ tướng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng ông Phạm Văn Đồng không phải là người tự quyết định mà chỉ thừa hành quyết định chung của Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Vào thời điểm tháng 9 năm 1958, những người sau đây phải chịu trách nhiệm cho việc triều cống hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc, và danh sách của họ được sắp xếp theo thứ tự trong Bộ Chính trị Đại hội lần II năm 1951 cũng như được bổ túc trong những năm sau đó: Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Hoan.
Tại sao họ đã làm như thế? Họ bị áp lực của Trung Quốc? Không. Không có một tối hậu thư nào của nhà cầm quyền Trung Quốc buộc Việt Nam phải thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc, nếu không họ sẽ dùng võ lực để tiến chiếm hai quần đảo, vượt biên giới Lạng Sơn hay đổ bộ lên Hải Phòng. Cho dù có tối hậu thư đi nữa thì cũng không phải lần đầu Việt Nam nhận tối hậu thư của quân xâm lược. Trước đây, các vua Lý, vua Trần đã nhận và mới đây Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương đã nhận, và các anh hùng dân tộc đã chọn chiến đấu tới cùng và đã chết trên nắm đất của tổ tiên thay vì dâng thành cho giặc.
Trên thế giới chưa có một cuộc phân định biên giới nào giữa hai quốc gia mà không phải trải qua những hội nghị, những cuộc thảo luận, đo đạc cần thiết về các giới hạn trên biển cả cũng như lằn ranh trên đất liền. Trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất là quan trọng nhất. Câu “tấc đất tấc vàng” không chỉ đúng cho trường hợp một nước đất hẹp người đông như Việt Nam mà đúng cho bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Hãy lấy trường hợp Bắc Hàn làm ví dụ. Nếu theo dõi các hội nghị về biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Hàn chúng ta có thể nghĩ rằng Trung Quốc muốn gì chắc là được nấy, muốn vẽ biên giới đâu thì vẽ. Không. Bắc Hàn tự cô lập khỏi thế giới giới văn minh, trong nhiều năm đã lệ thuộc vào Trung Quốc không những chính trị, ngoại giao mà cả từng chén cơm manh áo, nhưng họ nhất định không nhượng cho Trung Quốc một tấc đất nào qua các hội nghị về đường biên giới dài 1416 kilomét giữa hai nước. Mặc dù cai trị đất nước bằng một lý thuyết ngu dân hoang tưởng, bằng một chính sách độc tài sắt máu bị phần lớn nhân loại rẻ khinh, xa lánh, cha con Kim Nhật Thành ít ra có một điểm đáng khen mà giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không có, đó là quyết tâm giữ đất của tổ tiên họ để lại.
Nhiệt tình cao độ của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam chắc đã làm không chỉ Mao mà cả Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phải ngạc nhiên hết sức. Tôi tin bộ chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc hẳn đã tốn rất nhiều thời gian, tổ chức nhiều phiên họp tìm hiểu, phân tích, đánh giá nội dung công hàm của ông Phạm Văn Đồng để xem phía Việt Nam có ẩn ý gì trong 121 chữ đó không, chẳng lẽ Việt Nam tự nguyện dâng hai quần đảo một cách dễ dàng như thế. Không, không có ẩn ý, âm mưu nào cả ngoài việc chứng tỏ lòng trung thành tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam với Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Cấp lãnh đạo Trung ương Đảng thời đó còn lo ngại đàn anh Trung Quốc không tin vào lòng dạ chí thành của mình nên đã cho đăng toàn bộ nội dung công hàm trên báo Nhân dân ngày 22 tháng 9 năm 1958 để toàn Đảng, toàn dân và toàn thế giới biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nay không còn là của Việt Nam nữa. Không giống như hiệp ước biên giới Việt Trung vào các năm 1999 và năm 2000 được ký kết lén lút đến mức ngay cả những ông bà đại biểu quốc hội khi đưa tay phê chuẩn cũng không biết nội dung hiệp ước nói gì, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, qua công hàm 1958, chẳng những “ghi nhận”, “tán thành” mà còn chỉ thị cho các cấp “triệt để tôn trọng” hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của lục địa Trung Hoa, có đính kèm luôn bản đồ về đường ranh giới lãnh hải, bao gồm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa.
Tại sao họ đã làm như thế? Họ không rành lịch sử Việt Nam? Chẳng lẽ họ chưa thấm thía câu “Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt” và không cảm thông cho sự chịu đựng vô bờ bến của tổ tiên suốt một ngàn năm qua bốn lần Bắc thuộc, phải xuống biển tìm ngọc trai, lên non tìm sừng tê, ngà voi, bạc vàng châu báu hay sao? Tôi không nghĩ vậy, vì ít nhất trong số 11 ủy viên Bộ Chính trị thời đó cũng có một người đã từng dạy sử. Họ làm thế chỉ vì niềm tin tuyệt đối vào chủ nghĩa cộng sản. Niềm tin mù quáng vào một xã hội đại đồng đã làm giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam nghĩ rằng Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai và những người cộng sản Trung Quốc mà họ đang thần phục là những bậc thánh hiền chứ không phải là giống dân đã hàng ngàn năm đày đoạ tổ tiên Việt Nam. Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm đã thú nhận sự lệ thuộc vào Trung Quốc hay đúng hơn là quan hệ chủ tớ này trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2 tháng 12 năm 1992 và được Thông tấn xã Việt Nam loan ngày 3 tháng 12 năm 1992: “Tình hữu nghị Việt - Trung đang thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Việt Nam xem Trung Quốc là một nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị. Trong tinh thần đấy thì do tình thế cấp bách, quan điểm của lãnh đạo ta (tức ủng hộ Trung Quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) là cần thiết vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc.” Cuộc chiến bảo vệ tổ quốc mà ông Nguyễn Mạnh Cầm nhắc trong buổi họp báo nêu trên, tương tự như khi ông Phạm Văn Đồng trả lời báo Far Eastern Economic Review tháng 3, 1979 hay hầu hết các lãnh đạo Đảng khác đã nhiều lần viện dẫn là “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước”, thế nhưng, năm 1958, ngoại trừ một số ít nhân viên thuộc Nhóm Cố vấn Quân sự (Military Assistance Advisory Group), làm gì có quân Mỹ để mà chống?
Tại sao họ đã làm như thế? Khi đem hai quần đảo vô cùng quan trọng của đất nước về chiến lược quân sự cũng như về tiềm năng kinh tế dâng hiến cho Trung Quốc để gọi là “ bảo vệ tổ quốc” thì tổ quốc mà các giới lãnh đạo Đảng cần phải bảo vệ là tổ quốc nào? Như giải thích trong hầu hết tài liệu học tập, giáo trình trung, đại học tại Việt Nam, người cộng sản không có tổ quốc theo nghĩa thông thường mà chúng ta thường hiểu. Khái niệm tổ quốc đối với giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đơn thuần là dải giang sơn từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau mà bao nhiêu thế hệ tiền nhân đã dày công gìn giữ, không phải chỉ gồm 40 triệu người ngày đó hay 80 triệu người ngày nay có cùng huyết thống, cùng một ngôn ngữ, cùng một lịch sử, mà phải là tổ quốc xã hội chủ nghĩa, một đất nước bị thống trị trong bàn tay sắt của Đảng Cộng sản. Mụch đích của Đảng như đã đề ra trong Đại hội Đảng lần thứ II tại Tuyên Quang bao gồm giai đoạn từ 1951 đến 1960: “Giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.” Năm 1958, một nửa nước chưa trở thành chủ nghĩa xã hội và do đó mục đích của Đảng chưa hoàn thành. Để thôn tính miền Nam và hoàn thành mục đích cộng sản hóa cả nước, họ cần súng đạn của Liên Xô và Trung Quốc. Hoàng Sa và Trường Sa là giá mà giới lãnh đạo Đảng phải ứng trước để đổi lấy nhiều vạn trái mìn, mấy trăm ngàn khẩu AK, mấy ngàn chiếc tăng đủ loại để đem về cày xéo lên các thành phố miền Nam, đốt cháy thôn làng miền Nam và tàn sát nhiều triệu dân miền Nam vô tội.
Tuổi trẻ phải làm gì?
Đứng trước sự phân hóa, chia rẻ do hậu quả của mấy trăm năm phong kiến, đế quốc thực dân và cộng sản, chọn lựa duy nhất của thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay là đoàn kết và vượt qua mọi thử thách để đoàn kết thành một khối đúng như khẩu hiệu “Ta là một” mà các em đang phát động trong nước. Lịch sử như một dòng sông. Dòng sông Việt Nam vẫn chảy dù phải băng qua bao nhiêu ghềnh đá cheo leo. Tương tự, các thế hệ Việt Nam lớn lên và vẫn phải tiếp tục nhận lãnh trách nhiệm lịch sử của thế hệ mình. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần một ngọn hải đăng của bất cứ cường quốc nào để rọi sáng đêm tối trời dân tộc, nhưng ngay từ trong lòng họ đã bùng cháy lên ngọn đèn tự chủ được thắp sáng bằng tâm thức Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần chờ đợi một minh quân ra đời hay một lãnh tụ xuất hiện để dẫn dắt họ trên đường cứu nước bởi vì chính họ sẽ là những minh quân của thời đại và con đường dẫn đến điểm hẹn lịch sử được soi sáng bằng trí tuệ Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần vay mượn một chủ nghĩa, một ý thức hệ, một lý thuyết ngoại lai nào làm kim chỉ nam để giải phóng dân tộc, bởi vì chính họ đã được trang bị bằng các đặc tính dân tộc, nhân bản và khai phóng kết tinh và kế thừa từ hơn bốn ngàn năm lịch sử.
Lãnh đạo Đảng đã, đang và chắc sẽ làm tất cả những gì họ có thể làm để ngăn cản các cuộc biểu tình dù ôn hoà và bất bạo động của tuổi trẻ Việt Nam. Tuần trước họ ra chỉ thị cấm biểu tình, tuần này họ chụp mũ các em chống phá trật tự xã hội, tuần sau họ sẽ đem xe chữa lửa đến đàn áp và tuần sau nữa có thể trục xuất khỏi trường, bắt giam, kết án, tù đày. Tuy nhiên, lịch sử đã nhiều lần chứng minh, khi một chế độ chỉ còn trông cậy vào các phương tiện bạo lực trấn áp để tồn tại, chỉ còn biết sử dụng bộ máy công an kềm kệp để duy trì quyền cai trị, ngày tàn của chế độ đó chỉ là vấn đề thời gian. Hành động tuyệt vọng của Nicolae Ceausescu khi ra lệnh công an bắn vào cuộc biểu tình của nhân dân Rumania sáng ngày 17 tháng 12 năm 1989 chỉ để dẫn đến bản án tử hình dành cho vợ chồng ông ta một tuần sau đó. Lãnh tụ cộng sản Slobodan Milosevic một thời là tổng thống Serbia đầy quyền lực nắm trọn quyền sinh sát trong tay, cuối cùng cũng phải chết trong tù. Erich Honecker hung thần Đông Đức, Idi Amin đao thủ phủ của Congo hay Mobuto bạo chúa của Uganda đều đã gởi tấm thân tàn trên đất khách, để lại tiếng xấu muôn đời. Nếu giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam còn nghĩ đến tương lai của chính họ và còn biết lo cho tương lai của đất nước, họ phải chọn đứng về phía dân tộc.
Con đường duy nhất để đạt đến một tương lai tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng là con đường dân tộc và cũng chỉ có một Việt Nam tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng thì các thế hệ Việt Nam mai sau mới có cơ may giành lại được Hoàng Sa và Trường Sa.
Trần Trung Đạo
Nghĩ Về Người Đi Giữa Chiến Tranh
Trần Thiện Thanh
Người đi giữa chiến tranh và "nghĩ đến điều không dám nghĩ" là cố ca nhạc sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh.
Cuộc chiến đã xa và người lính hát ca cùng lửa đạn cũng không còn ở với chúng ta, nhưng dư âm cuộc chiến bức tử đó vẫn trong tiềm thức máu đỏ da vàng như một oan khuất của cả một dân tộc khi tháng tư về.
Người lính ca nhạc sĩ đã thành thiên cổ trong "tiếc thương vô cùng" của những người cùng thời "chinh chiến điêu linh" và cả những thế hệ về sau. Chú bé năm xưa ngồi chơi vỏ đạn trên những nẻo đường người lính Nhật Trường đã in dấu giày sau cũng không tưởng nổi mình đang ngồi gõ những dòng tri ân về người lính yêu đời, yêu người qua từng nốt nhạc - trên vùng đất cách xa bốn vùng chiến thuật và những vùng hoả châu năm xưa tới nửa vòng địa cầu. Một lần nữa, "Asia 61, Nhật Trường-Trần Thiện Thanh II" lại đưa chúng ta về những hoài niệm đầy cảm xúc với quê hương cũ như tựa đề tác phẩm bất hủ của nữ phóng viên quân đội Kiều Mỹ Duyên - "Chinh Chiến Điêu Linh".
Chiến tranh đến như dịch bệnh, kẻ xâm lược như vi trùng làm băng hoại miền Nam, hư hao lòng người, gieo rắc hận thù và đổ nát quê hương trên hết những dòng lệ đau thương của chiến tranh - tiếng hát Nhật Trường và những dòng nhạc Trần thiện Thanh đã hong lại tình người từ đổ vỡ để yêu thương. Dòng nhân sinh viết bằng nốt nhạc đó sẽ muôn đời bất tử như người lính VNCH.
Cõi đất nước của các vua Hùng khởi nghiệp và một dân tộc liên tục chống ngoại xâm phương Bắc, mở mang bờ cõi phương Nam. Lịch sử oai hùng đã ngậm ngùi "dừng lại đó" với nhà cầm quyền đương đại không đặt Quốc gia, Dân tộc lên hàng đầu như một chính phủ dân cử. Xin mạn phép không bàn về "Nhà cầm quyền" trên trang báo trân trọng, "nghiêng mình" khi viết về cố ca nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Chắc cũng không quá lời khi nghe lại những dòng nhạc Trần Thiện Thanh, những người lính cũ đã già hồi tưởng lại một thời khói lửa xa xôi, những năm tháng "ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay". Thư của lính vẫn còn đó trong âm nhạc Trần Thiện Thanh như một minh chứng về trái tim nhân bản của người đi giữa chiến tranh nhưng không sắt máu, cuồng tín vào một chủ nghĩa phi hiện thực, không tưởng để gieo rắc khổ đau lên ngay đồng bào và đất nước mình.
Chiến tranh đã là quá khứ, những người trai thư sinh, tay trắng mộng đầy bước vào cuộc chiến bảo vệ miền Nam. Để từ đó, máu đã đổ xuống những địa danh "tên vẫn chưa quen người dân thị thành"; những goá phụ thơ ngây, những vành khăn tang trên đầu trẻ em vô tội. Những đau thương ngút trời đó đều hiện hữu trong âm nhạc Trần Thiện Thanh, không khiếp nhược, thỏ đế "anh trở về trên đôi nạng gỗ; anh trở về hòm gỗ cài hoa"... là nét đặc thù của âm nhạc Trần Thiện Thanh. Dòng nhạc không viết theo thể loại nhạc "dụ" như những nhạc nô bên kia giới tuyến, "đường ra trận mùa này đẹp lắm" Nhạc Trần Thiện Thanh đi vào lòng người trai vì sông núi phải lên đường, không than oán cuộc đời khi xếp bút nghiên theo việc đao binh, khoác áo trận để giữ gìn Tự do cho miền Nam trong tâm tư đi giữa chiến tranh nhưng lòng không hận thù, những người trai rời ghế nhà trường đi vào quân ngũ để cùng đồng đội sẻ chia những phiên gác đêm thâu nhớ về góc phố, con đường, khung trời thơ mộng cũ Nhạc Trần Thiện Thanh không đưa người lính đến những bi lụy đời thường hay hô hào chung dung "đi quân dịch là yêu nói giống".
Âm nhạc Trần Thiện Thanh trong sáng hơn với những người lính không chuyên bắn giết vì xuất thân học trò mơ mộng chưa nguôi trong cuộc chiến tương tàn, người thanh niên vừa thôi học đã khoác áo treillis, kề cận với hiểm nguy, giặc thù nhìn ngó cuộc chiến với cây súng trên vai người học trò vừa xa thành phố là nét độc đáo trong âm nhạc Trần Thiện Thanh. Hoàn toàn khác với những loại nhạc phản chiến cùng thời - không trực diện với sự xâm lăng của cộng quân, "Hát trên những xác người" nói lên được điều gì? Sự tàn nhẫn của chiến tranh không cần nghe nữa mà cần người đi chống giặc để chấm dứt chiến tranh. Và có chiến tranh thì có người nằm xuống- "những người lính không bao giờ chết" trong âm nhạc Trần Thiện Thanh sống mãi với lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc từ ngàn đời. "Anh không chết đâu anh - người anh hùng mũ đỏ tên Đương" là hình tượng người lính trong âm nhạc Trần Thiện Thanh, những người bình thản nằm xuống cho người khác được sống hàng hà trong những ca khúc làm nức lòng người nhưng không hèn nhát, bi lụy... "Phút giao mùa; Giấc ngủ trên đồi xanh; Người ở lại Charlie; Trên đỉnh mùa đông; Rừng lá thấp; Người chết trở về"
Với hơn hai trăm nhạc phẩm để lại cho đời, Trần Thiện Thanh viết về người lính VNCH bằng cảm xúc chân thành, trân trọng, thấu hiểu và sẻ chia của một người lính-Trần Thiện Thanh. Nên âm nhạc của ông thực sự đi vào lòng người bằng rung cảm con tim của cả một thời đại. Những "Thư của lính; Màu mũ xanh; Người yêu của lính; Đồn vắng chiều xuân; Không bao giờ ngăn cách; Tuyết trắng" Là tiếng lòng của cả thế hệ thanh niên miền Nam đi giữ nước. Nhưng không vì thế mà nhạc Trần Thiện Thanh thiếu lãng mạn, tình cảm lứa đôi khi nghe những nhạc phẩm: Trên đỉnh mùa đông; Bảy ngày đợi mong; Khi người yêu tôi khóc; Lâu đài tình ái; Ai nói yêu em đêm nay; Một đời yêu em; Hoa trinh nữ; Từ đó em buồn đến nhạc phẩm bất hủ "Chiều trên phá Tam Giang" thì âm nhạc của Trần Thiện Thanh đã chuyên chở hết một thời kỳ lịch sử vào âm nhạc. Nhạc Trần Thiện Thanh gắn liền với nước mắt, nụ cười của một triệu quân nhân và đồng bào miền Nam.
Dòng nhạc của ông được trân trọng và gìn giữ là lẽ tự nhiên của người đời sau đối với người lính ca nhạc sĩ Trần Thiện Thanh nói riêng; đối với Quân Lực VNCH nói chung. Chương trình ca nhạc Asia 50 "Nhật Trường-Trần Thiện Thanh" ghi lại tình yêu-cuộc đời-và sự nghiệp của ông đã được đồng bào cả trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt. Đặc biệt là những người lính miền Nam đã cùng Nhật Trường chia ngọt sẻ bùi trên bốn vùng chiến thuật của cuộc chiến xa xưa.
Trung tâm Asia với sự gắn bó thâm tình cùng người lính, đồng bào theo thời gian lưu vong, - một lần nữa thực hiện Asia 61 với chủ đề "Nhật Trường-Trần Thiện Thanh II" để vinh danh và tri ân người chiến sĩ - ca nhạc sĩ Trần Thiện Thanh trong mong đợi, hoan nghênh của đồng hương và đồng đội ông trong dịp kỷ niệm 34 năm tháng tư đen. Đại hội sẽ được tổ chức và trực tiếp thu hình ngày thứ bảy 28 tháng 02 năm 2009, tại LONG BEACH CONVENTION CENTER - 300 E. Ocean Boulevard - Long Beach, California 92802.
DVD thu hình sẽ phát hành vào dịp 30 tháng 04 năm nay (2009). Chân thành cảm ơn Trung tâm Asia đã một lòng với người lính cộng hoà, với cố ca nhạc sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh bằng hành động thiết thực để tưởng nhớ đến "người đi giữa chiến tranh". Kính chúc Trung tâm Asia thành công như ý. Và đồng hương một đêm hội ngộ với Nhật Trường nhiều ý nghĩa.
Trân trọng.
Phan
Trần Thiện Thanh
Người đi giữa chiến tranh và "nghĩ đến điều không dám nghĩ" là cố ca nhạc sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh.
Cuộc chiến đã xa và người lính hát ca cùng lửa đạn cũng không còn ở với chúng ta, nhưng dư âm cuộc chiến bức tử đó vẫn trong tiềm thức máu đỏ da vàng như một oan khuất của cả một dân tộc khi tháng tư về.
Người lính ca nhạc sĩ đã thành thiên cổ trong "tiếc thương vô cùng" của những người cùng thời "chinh chiến điêu linh" và cả những thế hệ về sau. Chú bé năm xưa ngồi chơi vỏ đạn trên những nẻo đường người lính Nhật Trường đã in dấu giày sau cũng không tưởng nổi mình đang ngồi gõ những dòng tri ân về người lính yêu đời, yêu người qua từng nốt nhạc - trên vùng đất cách xa bốn vùng chiến thuật và những vùng hoả châu năm xưa tới nửa vòng địa cầu. Một lần nữa, "Asia 61, Nhật Trường-Trần Thiện Thanh II" lại đưa chúng ta về những hoài niệm đầy cảm xúc với quê hương cũ như tựa đề tác phẩm bất hủ của nữ phóng viên quân đội Kiều Mỹ Duyên - "Chinh Chiến Điêu Linh".
Chiến tranh đến như dịch bệnh, kẻ xâm lược như vi trùng làm băng hoại miền Nam, hư hao lòng người, gieo rắc hận thù và đổ nát quê hương trên hết những dòng lệ đau thương của chiến tranh - tiếng hát Nhật Trường và những dòng nhạc Trần thiện Thanh đã hong lại tình người từ đổ vỡ để yêu thương. Dòng nhân sinh viết bằng nốt nhạc đó sẽ muôn đời bất tử như người lính VNCH.
Cõi đất nước của các vua Hùng khởi nghiệp và một dân tộc liên tục chống ngoại xâm phương Bắc, mở mang bờ cõi phương Nam. Lịch sử oai hùng đã ngậm ngùi "dừng lại đó" với nhà cầm quyền đương đại không đặt Quốc gia, Dân tộc lên hàng đầu như một chính phủ dân cử. Xin mạn phép không bàn về "Nhà cầm quyền" trên trang báo trân trọng, "nghiêng mình" khi viết về cố ca nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Chắc cũng không quá lời khi nghe lại những dòng nhạc Trần Thiện Thanh, những người lính cũ đã già hồi tưởng lại một thời khói lửa xa xôi, những năm tháng "ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay". Thư của lính vẫn còn đó trong âm nhạc Trần Thiện Thanh như một minh chứng về trái tim nhân bản của người đi giữa chiến tranh nhưng không sắt máu, cuồng tín vào một chủ nghĩa phi hiện thực, không tưởng để gieo rắc khổ đau lên ngay đồng bào và đất nước mình.
Chiến tranh đã là quá khứ, những người trai thư sinh, tay trắng mộng đầy bước vào cuộc chiến bảo vệ miền Nam. Để từ đó, máu đã đổ xuống những địa danh "tên vẫn chưa quen người dân thị thành"; những goá phụ thơ ngây, những vành khăn tang trên đầu trẻ em vô tội. Những đau thương ngút trời đó đều hiện hữu trong âm nhạc Trần Thiện Thanh, không khiếp nhược, thỏ đế "anh trở về trên đôi nạng gỗ; anh trở về hòm gỗ cài hoa"... là nét đặc thù của âm nhạc Trần Thiện Thanh. Dòng nhạc không viết theo thể loại nhạc "dụ" như những nhạc nô bên kia giới tuyến, "đường ra trận mùa này đẹp lắm" Nhạc Trần Thiện Thanh đi vào lòng người trai vì sông núi phải lên đường, không than oán cuộc đời khi xếp bút nghiên theo việc đao binh, khoác áo trận để giữ gìn Tự do cho miền Nam trong tâm tư đi giữa chiến tranh nhưng lòng không hận thù, những người trai rời ghế nhà trường đi vào quân ngũ để cùng đồng đội sẻ chia những phiên gác đêm thâu nhớ về góc phố, con đường, khung trời thơ mộng cũ Nhạc Trần Thiện Thanh không đưa người lính đến những bi lụy đời thường hay hô hào chung dung "đi quân dịch là yêu nói giống".
Âm nhạc Trần Thiện Thanh trong sáng hơn với những người lính không chuyên bắn giết vì xuất thân học trò mơ mộng chưa nguôi trong cuộc chiến tương tàn, người thanh niên vừa thôi học đã khoác áo treillis, kề cận với hiểm nguy, giặc thù nhìn ngó cuộc chiến với cây súng trên vai người học trò vừa xa thành phố là nét độc đáo trong âm nhạc Trần Thiện Thanh. Hoàn toàn khác với những loại nhạc phản chiến cùng thời - không trực diện với sự xâm lăng của cộng quân, "Hát trên những xác người" nói lên được điều gì? Sự tàn nhẫn của chiến tranh không cần nghe nữa mà cần người đi chống giặc để chấm dứt chiến tranh. Và có chiến tranh thì có người nằm xuống- "những người lính không bao giờ chết" trong âm nhạc Trần Thiện Thanh sống mãi với lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc từ ngàn đời. "Anh không chết đâu anh - người anh hùng mũ đỏ tên Đương" là hình tượng người lính trong âm nhạc Trần Thiện Thanh, những người bình thản nằm xuống cho người khác được sống hàng hà trong những ca khúc làm nức lòng người nhưng không hèn nhát, bi lụy... "Phút giao mùa; Giấc ngủ trên đồi xanh; Người ở lại Charlie; Trên đỉnh mùa đông; Rừng lá thấp; Người chết trở về"
Với hơn hai trăm nhạc phẩm để lại cho đời, Trần Thiện Thanh viết về người lính VNCH bằng cảm xúc chân thành, trân trọng, thấu hiểu và sẻ chia của một người lính-Trần Thiện Thanh. Nên âm nhạc của ông thực sự đi vào lòng người bằng rung cảm con tim của cả một thời đại. Những "Thư của lính; Màu mũ xanh; Người yêu của lính; Đồn vắng chiều xuân; Không bao giờ ngăn cách; Tuyết trắng" Là tiếng lòng của cả thế hệ thanh niên miền Nam đi giữ nước. Nhưng không vì thế mà nhạc Trần Thiện Thanh thiếu lãng mạn, tình cảm lứa đôi khi nghe những nhạc phẩm: Trên đỉnh mùa đông; Bảy ngày đợi mong; Khi người yêu tôi khóc; Lâu đài tình ái; Ai nói yêu em đêm nay; Một đời yêu em; Hoa trinh nữ; Từ đó em buồn đến nhạc phẩm bất hủ "Chiều trên phá Tam Giang" thì âm nhạc của Trần Thiện Thanh đã chuyên chở hết một thời kỳ lịch sử vào âm nhạc. Nhạc Trần Thiện Thanh gắn liền với nước mắt, nụ cười của một triệu quân nhân và đồng bào miền Nam.
Dòng nhạc của ông được trân trọng và gìn giữ là lẽ tự nhiên của người đời sau đối với người lính ca nhạc sĩ Trần Thiện Thanh nói riêng; đối với Quân Lực VNCH nói chung. Chương trình ca nhạc Asia 50 "Nhật Trường-Trần Thiện Thanh" ghi lại tình yêu-cuộc đời-và sự nghiệp của ông đã được đồng bào cả trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt. Đặc biệt là những người lính miền Nam đã cùng Nhật Trường chia ngọt sẻ bùi trên bốn vùng chiến thuật của cuộc chiến xa xưa.
Trung tâm Asia với sự gắn bó thâm tình cùng người lính, đồng bào theo thời gian lưu vong, - một lần nữa thực hiện Asia 61 với chủ đề "Nhật Trường-Trần Thiện Thanh II" để vinh danh và tri ân người chiến sĩ - ca nhạc sĩ Trần Thiện Thanh trong mong đợi, hoan nghênh của đồng hương và đồng đội ông trong dịp kỷ niệm 34 năm tháng tư đen. Đại hội sẽ được tổ chức và trực tiếp thu hình ngày thứ bảy 28 tháng 02 năm 2009, tại LONG BEACH CONVENTION CENTER - 300 E. Ocean Boulevard - Long Beach, California 92802.
DVD thu hình sẽ phát hành vào dịp 30 tháng 04 năm nay (2009). Chân thành cảm ơn Trung tâm Asia đã một lòng với người lính cộng hoà, với cố ca nhạc sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh bằng hành động thiết thực để tưởng nhớ đến "người đi giữa chiến tranh". Kính chúc Trung tâm Asia thành công như ý. Và đồng hương một đêm hội ngộ với Nhật Trường nhiều ý nghĩa.
Trân trọng.
Phan

