Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Ðồng Congo và bauxite Việt Nam

Ngô Nhân Dụng
Trên một chuyến xe buýt đi ra phi trường Quảng Châu tuần trước, tôi tới ngồi kế bên một thanh niên Phi Châu ăn mặc rất lịch sự. Sau khi chào hỏi nhau bằng tiếng Anh, người bạn đồng hành tự giới thiệu anh từ nước Congo sang Trung Quốc du học một ngành mới về tin học. Anh đang trên đường đi Thượng Hải gặp bạn bè cùng quê ở Congo, trong dịp các trường còn nghỉ Tết Nguyên Ðán. Anh ngưng nói chuyện với tôi nhiều lần để trả lời điện thoại di động. Có lúc anh nói điện thoại với cùng một người bằng hai thứ tiếng, tiếng phổ thông (quan thoại) của người Trung Hoa, và tiếng Pháp.

Khi hỏi thăm đến nước Congo của anh ra sao sau những cuộc chiến tranh gần đây, anh được dịp đả kích chính sách của chính phủ Mỹ, mà anh coi là thủ phạm gây ra những xung đột chết người đó.

Chỉ một lát sau, anh bắt đầu nói đến vai trò của Trung Quốc. Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Pháp cho kín đáo. Anh bạn Congo thổ lộ: Không biết người Trung Hoa họ sang Phi Châu làm gì mà đi đông thế? Anh nhấn mạnh: “Họ không chỉ tới các thành phố lớn đâu! Ở xứ tôi, họ đi tới từng làng một! Tới cả những làng trong miền rừng núi mà chính chúng tôi chẳng ai muốn tới nữa!” Anh vươn vai, quơ tay, thắc mắc hỏi: “Ðể làm gì? Ðể làm gì ở đó?”

Họ đi tìm quặng mỏ, chỉ có lý do đó thôi, anh sinh viên Congo này không biết hoặc không nhớ. Hai chính phủ Congo và Trung Quốc năm ngoái đã ký kết với nhau cho phép Trung Quốc khai thác những mỏ kim loại tới khoảng 10 triệu tấn đồng (copper) và 400 ngàn tấn cobalt, đổi lại Trung Quốc sẽ trao ngay cho chính phủ của Tổng Thống Joseph Kabila 3 tỷ đô la Mỹ, rồi sau 3 năm sẽ thêm hai đợt mỗi lần 3 tỷ nữa, trong đó sẽ xây dựng cho Congo gần 4 ngàn cây số đường sắt, hơn 3000 cây số xa lộ, 32 bệnh viện, 2 đại học, và hàng trăm phòng khám bệnh. Các kỹ sư Trung Quốc đang đi cùng các phụ tá người Congo đi khắp nước, mang theo máy GPS định vị trí bằng vệ tinh nhân tạo, và vẽ bản đồ. Trung Quốc cũng sẽ đi tìm và khai thác kim cương, uranium, măng gan, thép và tantalum, một thứ kim loại dùng trong những điện thoại di động và máy vi tính xách tay (laptop). Congo là một nước có diện tích lớn hơn vùng Tây Âu nhưng lợi tức theo đầu người chỉ có 714 đô la một năm; một nửa dân số 56 triệu người chưa có nước sạch để dùng hàng ngày. Tổng Thống Kabila cầm đầu một chế độ được gọi là “kleptocratic,” độc tài đạo tặc.

Tuy là một nước độc tài nhưng ở Congo vẫn có những người dám dưa ra tiếng nói độc lập. Thỏa ước giữa hai chính phủ Congo và Trung Quốc đã bị giới tranh đấu cho nhân quyền ở Congo phản đối, họ đòi phải đưa ra cho công luận phán xét trước khi thi hành. Luật sư Georges Kapiamba ở Katanga lên án bản thỏa hiệp sơ khởi này là “hoàn toàn tối ám” (totally opaque), cho phép Trung Quốc tận dụng tài nguyên xứ này không khác gì quyền khai thác của các công ty mỏ nước Bỉ khi còn cai trị Congo như một thuộc địa. Các công ty Trung Quốc sẽ được miễn đủ các thứ thuế và quan thuế, cho tới khi việc xây cất hoàn tất.

Với giá các kim loại có triển vọng sẽ còn lên vì nhu cầu gia tăng trên thế giới, các nhà kinh tế Congo đã tính ra Trung Quốc có thể được lợi tới 42 tỷ mỹ kim trong công việc khai thác này, mà vốn đầu tư khai mỏ của Trung Quốc chỉ là 2 tỷ đô la. Người Trung Quốc đã sang Congo đông đảo, đến nỗi có lúc chính quyền tỉnh Katanga giầu quặng mỏ đã trục xuất 600 người Tầu vì họ ở lậu không có phép cư trú. Một người Trung Quốc đã bị bắt ở phi trường khi thấy mang trong túi một miếng đá có quặng mỏ.

Tôi không có dịp nói với anh sinh viên người Congo về những dữ kiện và số liệu trên, nhưng anh có thể vào Google tự tìm lấy được. Tôi chợt nhớ đến anh sau khi đọc bài tường trình của Gia Ðịnh về việc khai thác quặng bô xít (bauxite) ở Việt Nam, đăng trên Nhật Báo Người Việt trong hai ngày trước đây.

Trung Quốc đang hợp tác với một số công ty quốc tế khai thác quặng mỏ bauxite ở vùng Ðắc Nông, cao nguyên miền Tây Trung phần Việt Nam. Tháng Sáu năm 2008 ông Nông Ðức Mạnh sang Bắc Kinh đã ký giấy chấp nhận cho công ty Chalco của Trung Quốc đứng cái vụ khai thác này.

Nhưng họ đã chú ý đến quặng bauxite ở nước ta từ lâu. Ngày 1 Tháng Tám năm 2005, Trung Quốc Nhật Báo (China Daily) đã đăng một bản tin về tài nguyên bauxite ở Việt Nam. Bản tin cho biết vùng Tây Nguyên có 7.9 tỷ tấn quặng bauxite dự trữ. Cộng với 120 triệu tấn ở Cao Bằng, Lạng Sơn và các vùng khác thì nước Việt Nam có hơn 8 tỷ tấn bauxite có thể khai thác. Trong bản tin đó cũng so sánh hiện nay số quặng bauxite dự trữ cao nhất thế giới là ở Guinea, 8.6 tỷ tấn, rồi tới Úc Châu (7.4 tỷ) và Brazil (4.9 tỷ). Nếu Trung Quốc khai thác được bauxite ở Việt Nam, nước Việt Nam sẽ được ghi vào đứng hạng thứ nhì trên thế giới, chỉ thua Guinea.

Như trình bày trong bài của Gia Ðịnh, các chuyên gia Việt Nam, trong đó có cả những người đang làm việc trong Tập Ðoàn Công Nghiệp Than và Khoáng Sản Việt Nam (TKV) đã lên tiếng phản đối việc cho phép Trung Quốc khai thác mỏ bauxite ở cao nguyên Trung phần. Ngoài ra còn những lời phản đối của giới trí thức, văn nghệ, vì những tai hại của công trình khai mỏ này. Những tai họa sẽ giáng xuống trên môi trường sống, trên mặt xã hội và văn hóa, gây tai hại cho nông nghiệp, cho lâm sản, làm cạn nguồn nước, và làm đất đai nhiễm độc không những ở Tây Nguyên mà còn lan xuống tới cả vùng đồng bằng ven biển miền Trung. Khí hậu miền Trung sẽ thay đổi; miền Tây nguyên sẽ thiếu nước, thiếu điện thì các nông trường cà phê, trà, cao su sẽ gặp khó khăn; lớp đất mầu sẽ bị nước cuốn trôi ra biển; hạn hán sẽ kéo dài hơn, và lụt lội sẽ thường xuyên và tàn bạo hơn. Còn rất nhiều tai họa khác nữa.

Trong số những người đã lên tiếng có Tiến Sĩ Nguyễn Thành Sơn, nhà văn Nguyên Ngọc, giáo sư Ðào Công Tiến và Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp. Như đã trình bày trong mục này trước đây, ông Giáp mới viết thư can ngăn Nguyễn Tấn Dũng không nên cho khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Vì chính ông Giáp đã đứng đầu việc nghiên cứu khả năng khai thác bauxite ở đây gần 30 năm trước, khi khối COMECON (hợp tác kinh tế giữa các nước cộng sản Ðông Âu và Nga) có kế hoạch đó. Sau cùng dự án của COMECON bị hủy bỏ, theo lời ông Giáp, vì các chuyên gia COMECON thấy những nguy hại cho môi trường sống quá lớn so với những lợi ích kinh tế.

Tại sao Trung Quốc có thể chấp nhận một dự án kinh doanh mà khối COMECON đã phải bỏ vì thấy không có lợi? Vì việc khai thác bauxite ở Tây nguyên hoàn toàn có tính cách sơ đẳng. Theo ông Nguyễn Thành Sơn, công ty khai thác chỉ đào quặng mỏ lên, biến chế thành chất alumina, rồi alumina được chuyên chở ra nước ngoài để tạo thành nhôm. Khúc đó mới là khúc sinh lợi, người nước ngoài sẽ hưởng.

Cách khai thác như vậy khiến cho chi phí chuyên chở là một khoản chi tiêu rất lớn, nhất là vào thập niên 1980 khi khối COMECON và Liên Xô còn yếu về hàng hải thương thuyền và không sẵn bến cảng trong vùng nước ấm. Cứ 4 tấn quặng bauxite thì tạo được 2 tấn alumina, từ đó làm ra một tấn nhôm. Cho nên việc chuyên chở alumina từ Việt Nam qua vùng Hắc Hải và biển Caspian bên Nga gây tốn phí; khiến hồi đó khối COMECON không muốn khai thác bauxite ở Việt Nam nữa.

Nhưng hiện nay Trung Quốc ở sát bên nước Việt Nam, và kỹ thuật vận tải của loài người đã tiến bộ, giảm được rất nhiều chi phí. Cùng lúc đó, Trung Quốc đang có chiến lược tấn công tất cả các nước Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh để tìm tất cả các loại quặng mỏ kim loại, dầu lửa, vàng và kim cương, vân vân mà họ có thể mua được. Năm 2007 nước Mỹ mua 22% số dầu lửa xuất cảng của châu Phi, còn Trung Quốc mua 28%. Trung Quốc ủng hộ các chế độ độc tài diệt chủng ở Sudan vì mua 60% số dầu lửa xứ này bán ra ngoài. Họ bảo vệ nhóm quân phiệt ở Myanmar vì đây là nơi họ được quyền khai thác gỗ quý, đá, lúa gạo và ngọc thạch.

Trung Quốc lại đang lo bảo vệ tài nguyên khoáng sản trong nước họ, cho nên càng cần phải tìm thêm ở bên ngoài. Giáo sư Chen Qiyuan (Trần Khải Nguyên) thuộc Ðại học Trung Nam ở thành phố Tràng Sa đứng đầu một chương trình mang số 973 chỉ nghiên cứu việc đi tìm nguyên liệu khoáng sản. Ông cho biết các mỏ đồng của Trung Quốc chỉ còn hoạt động được 12 năm nữa thôi, nếu tiếp tục khai thác theo nhịp độ hiện nay. Mỏ kẽm còn được 18 năm và mỏ kền sẽ tồn tại được 40 năm rồi hết. Cho nên Trung Quốc phải nỗ lực đi tìm các nguồn cung cấp mới. Hiện nay họ sử dụng 30% số kẽm, 25% số chì và 25% số nhôm của cả thế giới.

Trung Quốc chú trọng đến việc xây dựng nhiều nhà máy thép và nhôm trong chiến lược phát triển của họ. Năm 2004 Trung Quốc sản xuất 6.7 triệu tấn nhôm, năm 2008 đã lên trên 13 triệu tấn, và còn lên nữa. Cho nên họ sẵn sàng trả bất cứ giá nào, mua chuộc, hối lộ bất cứ ai để đạt mục đích tăng sản xuất, giữ việc làm cho công nhân. Các công nghiệp tại Trung Quốc cũng ngày càng sử dụng nhiều nhôm hơn. Năm 2002 họ dùng 4.3 triệu tấn nhôm, năm 2005 dùng 6 triệu tấn, và dự trù đến năm 2010 sẽ dùng tới 8.8 triệu tấn.

Nhưng Bắc Kinh vẫn phải tìm tài nguyên ở nước ngoài vì họ cũng đang đóng cửa nhiều mỏ bauxite trong nước, khi chúng gây tai hại cho dân Trung Quốc. Tháng Hai năm ngoái, Trung Quốc ký một thỏa hiệp khai thác bauxite ở cao nguyên Boleven, tỉnh Champassack thuộc nước Lào, ba tháng trước khi bắt tay với các ông Nông Ðức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng để bước vào Tây nguyên Việt Nam. Trong bản tin chính thức VNN của chính quyền Việt Nam, khi loan tin ngày 17 tháng 12 năm 2008, cho phép Trung Quốc khai thác mỏ bauxite ở hai huyện Quảng Yên và Phúc Hòa, tỉnh Cao Bằng, đã tiết lộ rằng “Gần đây Trung Quốc đã đóng cửa một trăm mỏ bauxite vì những ảnh hưởng ô nhiễm tai hại môi trường nghiêm trọng.” Bài tường trình của Gia Ðịnh trong tuần qua trên Nhật báo Người Việt cũng cho biết mỏ bauxite ở Nhữ An, Trung Quốc đã đóng cửa sau một năm hoạt động, vì nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề, sinh ra nhiều chứng bệnh lạ.

Nhưng Trung Quốc sẵn sàng khai thác bauxite ở Việt Nam, một nguồn tài nguyên mà họ đã chú ý tới từ lâu. Cũng như họ đã nhắm vào những mỏ đồng, mỏ cobalt, tantalum ở xứ Congo. Tại Congo, cũng như tại Việt Nam, đã nhiều nhà trí thức lên tiếng báo động về việc chính quyền bán rẻ tài nguyên quốc gia cho Trung Quốc. Luật Sư Kapiamba đã yêu cầu thành lập một ủy ban các luật gia độc lập người Congo để nghiên cứu và thẩm định giá trị của những hợp đồng ký kết giữa nhà độc tài Joseph Kabila và chính quyền Bắc Kinh. Không biết sau khi lên tiếng phản đối, các nhà trí thức Việt Nam có khả năng thành lập một ủy ban điều tra độc lập về vụ bán tài nguyên của dân tộc cho nước cộng sản láng giềng phương bắc hay không?

Năm ngoái khi Trung Quốc thành lập quận Tam Sa ở tỉnh Hải Nam để chính thức hóa chủ quyền của họ trên các quần đảo của nước ta ngoài biển Ðông, người Việt ở trong nước và ngoài nước đã gây một phong trào phản đối. Lúc đó không ai chú ý đến cuộc đột kích khác của Trung Quốc đem mấy trăm chuyên viên kỹ thuật âm thầm tiến vào Tây Nguyên khai thác mỏ bauxite! Nhà thơ Bùi Minh Quốc thống thiết báo động “diễn biến hòa bình” của cộng sản Trung Hoa nhằm chiếm trọn Hoàng Sa và Trường Sa; ông cũng quên không nhắc đến việc họ tiến chiếm những mỏ bauxite ở Ðắc Nông và Cao Bằng. Rõ ràng là các đồng chí Trung Quốc đã dùng mẹo “dương Ðông kích Tây!”

Khi một nước đặt dưới quyền cai trị của một đảng độc tài, chỉ cần nắm đầu được đảng đó là nắm vận mạng quốc gia của họ. Bao giờ chấm dứt chế độ độc tài thì mới bảo vệ được chủ quyền và tài nguyên của dân tộc. Người Congo cũng thông minh như người Việt Nam, cả hai đều biết như vậy! Vậy bao giờ chế độ độc tài mới chấm dứt? Có thể người Congo sẽ đi trước người Việt Nam!

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

PRESIDENT’s DAY NGÀY TỔNG THỐNG HOA KỲ

Giao Chỉ, San Jose
Tình tự dân tộc ở đâu?
Bài này viết nhân ngày President tại nước Mỹ, nhưng xin kèm đến quý độc giả một câu hỏi: Tổng thống Hoa Kỳ có phải là tổng thống của chúng ta hay không. Chúng ta đây là người Việt mang quốc tịch Hoa Kỳ. Trên pháp lý thì đúng đấy, nhưng trên thực tế thì dân ta có vẻ lạnh lùng hờ hững lắm. Như vậy có vẻ bất công với đất nước mà chúng ta đã hưởng phúc lợi khá nhiều.

Vẫn còn nhớ khởi đi từ cuối thập niên 70, anh em gặp nhau trên con đường xuôi ngược tìm nơi định cư. Tay bắt mặt mừng, hỏi rằng bây giờ bạn làm gì ở đâu. Câu trả lời nhẹ nhàng lý thú: trước làm hãng Ford, mới đây thì lãnh lương Carter. Check Carter lãnh đủ 4 năm, rồi qua làm việc với tổng thống Reagan. Cho đến bây giờ có nhiều bạn cao niên chúng tôi sắp sửa lãnh tiền già của vị Tổng thống mới mà vẫn quen mồm gọi là thằng Obama. Hết sức là tự do dân chủ.

Dân ta ở Mỹ đã 10, 20 hay thậm chí 30 năm. Ðã đứng lên nghe đọc lời thề vào quốc tịch. Vui vẻ giơ tay thề bỏ hết những giây mơ rễ má với quê hương cũ, sẽ một lòng cầm súng chiến đấu cho Tổ Quốc mới, nhưng thật sự tấm lòng không hề rung động với Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ.

"Lòng quê gởi áng mây Tần xa xa"...

Người thì làm ăn cật lực để gởi tiền về quê. Mua đất, cất nhà. Người thì đi về như đi chợ. Người thì đốt lửa, thổi gió đấu tranh về quê hương. Hết năm này qua năm khác. Bao nhiêu là đám cưới, bao nhiêu lần khai sinh, bao nhiêu đám ma. Ở trên miền đất đầy cơ hội đã hơn một phần ba thế kỷ mà sao vẫn mang tâm trạng lưu đầy, mãi mãi làm người lưu vong trong hoàn cảnh tạm dung.

Bài học lịch sử và tình tự dành cho Tổ Quốc mới, khi thi xong nhập tịch là buông xuôi hết. Như vậy, phải chăng chúng ta đối xử với nước Mỹ dường như không phải đạo.

Kể từ năm 75 cho đến nay là năm hai không lẻ chín. Qua năm tới 2010 là 35 năm dâu bể. Có lẽ đã đến lúc chúng ta phải dành cho cái đất nước tử tế này một chút tình dân tộc mới.

Xin vui lòng đọc bài viết về ngày President’s Day với mối chân tình.

Xin đọc lại bài học quốc tịch bằng tấm lòng thành.

President’s Day
Ðây là ghi dấu lịch sử đầu tiên dành cho vị tổng thống thứ nhất George Washington. Ông là vị khai quốc công thần, là cha già dân tộc, là quốc phụ của Hoa Kỳ. Vị tướng chỉ huy cuộc tranh cách mạng chống Anh quốc. Thành lập Hiệp chủng Quốc và lên làm tổng thống 2 nhiệm kỳ.

Ông sinh ngày 22 tháng 2 năm 1796. Vì vậy President’s Day cũng gọi là Washington’s Birthday.

Sau đó người ta cũng ghép chung vào ngày lịch này để kỷ niệm thêm ngày sinh nhật của vị tổng thống thứ 16 là Abraham Lincoln. Ông sinh ngày 12 tháng 2-1809

Cho đến nay ngày President trở thành ngày quốc lễ và nước Mỹ chọn ngày Thứ hai của tháng Hai, nằm giữa sinh nhật của hai vị tổng thống vĩ đại. Một người lãnh đạo kháng chiến thành lập quốc gia. Một người chiến thắng cuộc nội chiến, thống nhất đất nước.

Nếu hỏi rằng, ngoài hai vị kể trên trong tất cả 44 vị tổng thống Hoa Kỳ suốt 220 năm qua thì còn có tổng thống nào xếp hạng cao trong lịch sử. Hoa Kỳ có ngay câu trả lời.

Các tổng thống vĩ đại của nước Mỹ.

Câu trả lời không phải bằng văn bản mà bằng cả 1 công viên quốc gia. Không phải là vườn cảnh, tượng đài mà bằng núi đá.

Tại tiểu bang South Dakota có hình tượng khắc trên đá. Các hình tượng vĩ đại của 4 ông tổng thống vĩ đại.

Trái núi chiếm diện tích 1,300 mẫu tây, với tượng đài cao 60 bộ nằm trên khu đất cao 5,700 feet trên mặt biển. Từ trái qua phải là hình tổng thống Washington , Jefferson, Roosevelt, và Lincoln .

Tổng thống Jefferson là người nhậm chức thứ ba, nhưng là cha đẻ của bản Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp Hoa Kỳ.

Ông đã viết ra những câu bất hủ trong các bản văn lịch sử để làm khuôn vàng thước ngọc cho đời đời. Ðó là câu: Con người sinh ra bình đẳng và ai cũng có quyền mưu cầu hạnh phúc.

Vị sau cùng là tổng thống Roosevelt , người đã lãnh đạo nước Mỹ khi nhân loại bước vào thế kỷ 19. Tượng đài khắc trên núi Rushmore là công trình thực hiện cha truyền con nối của gia đình điêu khắc gia Borglum. Ngày nay có hai triệu du khách đến thăm hàng năm.

Tinh hoa của dân chủ
Với hơn 220 năm lập quốc, nền dân chủ của Hoa Kỳ không một lần nào thay đổi người lãnh đạo mà có rối loạn binh đao. Hoàn toàn không có đảo chính, cách mạng, binh biến. Ngay cả những lúc chiến tranh sóng gió hay lúc các vị tổng thống bị truất phế, từ chức thì việc thay đổi cũng tuần tự theo luật lệ hoàn tất rất nhẹ nhàng và an toàn tuyệt đối.



Theo hiến định, khi vị tổng thống tại chức qua đời hay từ chức thì ông phó lên thay. Nếu không có phó tổng thống hay vì lý do gì, ông phó không lên thay thì người thứ ba là chủ tịch hạ viện và kế tiếp là bộ trưởng ngoại giao. Trong thể chế dân chủ, quyền hạn do các chính trị gia nắm giữ nên vai trò bộ trưởng quốc phòng và tham mưu trưởng liên quân thuộc phe quân sự không nằm trong danh sách được giao quyền lãnh đạo đất nước.

Trong hoàn cảnh thuộc về đợt di dân Việt Nam đến Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ thứ 20, nếu chúng ta tìm hiểu về cuộc đời của tất cả 44 vị tổng thống Hoa Kỳ sẽ tìm thấy rất nhiều chi tiết lý thú.

Tuy nhiên, nói đến mối giao tình Việt Mỹ phải kể lại câu chuyện sử liệu từ thời tổng thống thứ 18 của Hiệp Chủng Quốc là ông Grant vào năm 1869.

Việt sử ghi lại rằng vào năm 1870, ông Bùi Viện gốc làng Trình Phố, tỉnh Thái Bình dưới triều Tự Ðức được cử đi sứ qua Hồng Kông rồi nhân dịp này theo tàu viễn dương qua Hoa kỳ vào triều đại Tổng thống Ulysses Grant. Tổng thống Mỹ tiếp kiến hứa hẹn viện trợ cho Việt Nam canh tân. Ông Bùi Viện về nước trình lên kết quả và lại trở lại Mỹ quốc lần thứ hai. Tuy nhiên, kỳ này Hoa Kỳ lại đổi ý nên việc viện trợ không thành.

Dù sao thì đây cũng là một ghi dấu về những ngày bang giao Việt Mỹ đầu tiên.



Nhưng suốt một trăm năm từ thời kỳ1850 đến 1950 miền Ðông Nam Á vẫn trong vòng ảnh hưởng của Pháp nên Việt Nam không có cơ hội liên hệ với Hoa Kỳ. Cho đến năm 1975, cựu đại sứ Bùi Diễm, thuộc giòng họ Bùi Viện, đại diện Việt Nam Cộng Hòa lại thất bại trong lần xin viện trợ cuối cùng.

Tổng thống Hoa Kỳ và chiến tranh Việt nam
Cho đến thời kỳ 1954 của tổng thống thứ 34 là ông Eisenhower, Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò trong lịch sử Hiệp Chủng Quốc.

Vào cuối thập niên 50, trong chuyến đi Mỹ, chúng ta thấy hình ảnh ông Eisenhower đón chào tổng thống Ngô Ðình Diệm và ca ngợi vị nguyên thủ Việt Nam là vĩ nhân của Ðông Nam Á.

Và chẳng bao lâu sau đó, vị tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ là ông Kennedy đã gián tiếp trách nhiệm về cuộc đảo chánh và hạ sát anh em ông Diệm năm 1963 tại Sài Gòn. Ông Kennedy tuy giải tỏa được một chế độ cản đường nhưng cũng rất ân hận về cái chết của ông Diệm. Cả hai ông Ngô Ðình Diệm và Kennedy đều là Thiên Chúa Giáo.

Nhưng niềm ân hận cũng không lâu, chỉ sau một thời gian ngắn đến lượt ông Kennedy bị ám sát chết tại Dallas, Texas .

Cái chết của cả hai vị tổng thống đều vẫn còn nhiều bí ẩn cho đến ngày nay. Ông Johnson lên thay trong vai trò tổng thống thứ 36 với gánh nặng chiến tranh Việt Nam . Ông là người quyết tâm nhưng vẫn không thành công và để cho ông Nixon lên thay với chiêu bài Việt Nam hóa chiến tranh, rút quân về bằng mọi giá.

Năm 1974, Nixon, vị tổng thống thứ 37 vì Watergate phải từ chức. Ông Gerald Ford thứ 38 lên thay, thể theo lòng dân và quốc hội, quay lưng cuộc chiến tranh Việt Nam . Từ nay đối với Hoa Kỳ, Việt Nam chỉ còn là vấn đề nhân đạo. (Evacuation 75)

Với 5 vị tổng thống can dự vào chiến tranh Việt Nam, bắt đầu từ Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon và Ford, người Mỹ gọi đây là The War of the Presidents. Ý nói là cuộc chiến riêng tư của các vị tổng thống, không can dự gì vào nước Mỹ và dân Mỹ. Làn sóng chống chiến tranh của dân Mỹ dâng cao với các cuộc xuống đường hàng triệu người.

Bây giờ sống tại đây chúng ta mới có thể hiểu được là lòng dân của Mỹ quốc thực sự ảnh hưởng đến chính quyền ra sao. Không cần đúng hay sai, không cần giữ lời cam kết. Ðối với dân chúng Hoa Kỳ, lòng kiên nhẫn và sự chịu đựng, hy sinh rất giới hạn. Ðánh không xong thì rút, sống chết mặc bay. Từ các quan niệm đó, định mệnh đưa chúng ta đến Hoa Kỳ.

Tổng thống Hoa Kỳ và dân tỵ nạn Việt Nam
Sau ông Ford, dân tỵ nạn lần lượt sống với 5 vị tổng thống của thời hậu chiến. Bắt đầu từ ông Carter, tổng thống thứ 39, ông già hiền lành đạo đức chính là vị ân nhân đầu tiên mở cửa nước Mỹ cho thuyền nhân từ các trại tỵ nạn vào Hoa Kỳ.

Khi đoàn biểu tình Việt Nam thắp nến đi trước Bạch Cung để than khóc cho thuyền nhân thì ông Carter đã mở cửa ban công ngó xuống vẫy tay chào. Nước mắt dân tỵ nạn Việt Nam di tản đợt đầu, nhỏ giọt xuống đại lộ Constitution đã làm động lòng ông tổng thống chuyên cất nhà Homeless.



Lệnh tổng thống ban ra từ đây các tàu chiến của hạm đội số Bảy bắt đầu xua đuổi hải tặc và vớt người di tản. Các phái đoàn Mỹ lên đường đến phỏng vấn tại trại tỵ nạn Ðông Nam Á.

Rồi tiếp đến ông thứ 40 là Reagan suốt 8 năm đưa ra các đạo luật tỵ nạn, khởi sự các buổi thảo luận thả tù, để sau này ông Bush số 41 tiếp tục mở rộng tấm lòng nhân đạo.

Bước qua thập niên 90, triều đại Bill Clinton, tổng thống thứ 42 là thời kỳ của hòa giải và hàn gắn. Clinton mở đường hiệp thương, giải tỏa cấm vận, đưa tay dắt đường cho Hà Nội trở về với thế giới tự do. Sau cùng ông Clinton chấm dứt nhiệm kỳ bằng một chuyến công du cuối cùng dưới hình thức qua Việt Nam để trình diễn một màn Workshop dân chủ đi từ Hà Nội đến Sài Gòn.

Qua đến ông Bush hiện nay, vị tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ đã đem bài học Việt Nam ra để đánh trận Trung Ðông, nhưng đã gặp nhiều cay đắng. Bây giờ đến lượt tổng thống Obama, với hoàn cảnh thế

giới điên đảo, nợ nần chồng chất, ông có quá nhiều mối bận tâm. Hồ sơ Việt Nam và hồ sơ di dân tỵ nạn sẽ còn lâu mới đem ra thảo luận.
* * *
Xem như vậy, lịch sử cận đại của Hoa Kỳ từ 1954 đến nay có 11 vị tổng thống. Năm vị tham dự vào cuộc chiến Việt Nam. Ba triệu lính lần lượt tham chiến. 58 ngàn người chết. Mỗi vị tổng thống khi nhắc đến Việt Nam đều mang một kỷ niệm cay đắng khôn nguôi.

Kể từ 1975 đến nay, 5 vị tổng thống liên quan đến dân Việt Nam hậu chiến, qua các lãnh vực di dân tỵ nạn và nhân đạo. Cả 5 người đã mang một quan niệm mới mẻ về hai chữ Việt Nam . Ðã bớt phần đau thương cay đắng. Trong những năm gần đây, sự thành công của người Việt tại Hoa Kỳ trong tất cả các lãnh vực đã đem đến cho các ứng cử viên tổng thống một ý niệm mới mẻ tốt đẹp của chúng ta tại quê hương mới. Riêng tổng thống Obama, trong bài diễn văn nhậm chức đã nhắc đến Việt Nam qua trận Khe Sanh.

Bây giờ sẽ đến lượt con cháu chúng ta sẽ làm quen với vị tổng thống da mầu đầu tiên thứ 44 với niềm tự hào của một thế hệ di dân gốc Việt góp phần xây dựng đầy hưng phấn trong tương lai.

Biết đâu sẽ có ngày Hoa kỳ chào mừng một tổng thống Việt Nam da vàng. Mặc dù ngày đó có thể còn rất xa, nhưng bây giờ xin vui lòng nhận chấp nhận tổng thống của chúng ta. Trong niềm tin mới, chúng ta cùng đón ngày President’s Day 2009 của Hoa Kỳ.

Dù rằng nghĩa trang Việt Nam tại Los Gatos có treo đôi câu đối: "Trăm năm xác tục gửi quê người, Vạn dặm hồn thiêng về cố quốc". Tôi cũng chẳng biết còn nhớ đúng hay sai, nhưng xin nhắc lại hai bài học trăm năm của các di dân đến trước chúng ta. Một văn hào Nga đã nói rằng: "Nơi nào tôi sống có tự do, nơi đó chính là quê hương". Một chính khách Ba Lan tỵ nạn lại nói rằng: "Muốn đấu tranh hữu hiệu cho quê hương cũ, hãy làm một công dân tốt trên quê hương mới". Trong tinh thần đó, chúng ta chào mừng President’s Day.

Giao Chỉ - San Jose

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Washington khiếm hụt, Bắc Kinh cho vay

Ngô Nhân Dụng

Quốc hội Mỹ sẽ đặt trên bàn Tổng Thống Barack Obama một “giấy phép” cho chính phủ Mỹ gần 790 tỷ đô la, gọi là để kích thích cho kinh tế chạy mạnh trở lại. Ai cũng biết kinh tế Mỹ đang cần được kích thích. Nhiều nhà kinh tế thuộc các khuynh hướng khác nhau đã đồng thanh nói chính phủ phải đưa tiền cho dân, phải chi, và chi thật nhiều, càng sớm càng tốt; để lấp vào khoảng trống khi người tiêu thụ và các xí nghiệp đang thắt lưng buộc bụng.

Nhưng ông Obama và các đại biểu đảng Dân Chủ đã nhân cơ hội “toàn dân nghe chăng” đó để đưa vào kế hoạch nhiều khoản chi tiêu mà họ vẫn tha thiết muốn thực hiện từ lâu, dù đó không phải là những điều cấp bách đến mức phải chi ngay trong lúc này. Ba nghị sĩ đối lập đã thỏa hiệp, và để bù lại đã đòi được ghi vào kế hoạch một số khoản chi tiêu và cắt giảm thuế mà đảng Cộng Hòa vẫn tha thiết, nâng tỷ số giảm thuế tới 35% tổng số ngân sách 790 tỷ.

Phải quyết định chi thật nhiều, thật nhanh, nhu cầu đó tất nhiên mâu thuẫn với tiêu chuẩn thận trọng, phải tính toán việc chi tiêu cho đúng chỗ, đúng lúc. Làm thế nào để một đô la do chính phủ chi ra hoặc trả lại cho dân sẽ tạo ra hơn một đô la trong Tổng Sản Lượng Nội Ðịa (GDP), trong một thời gian càng sớm càng tốt? Nếu đồng tiền đó được luân lưu ngay lập tức, và được luân chuyển nhiều vòng, thì tác dụng “kích thích” sẽ cao, sẽ tạo được nhiều công việc làm hơn, kinh tế sẽ hồi phục sớm hơn.

Nhà phân tích kinh tế Mark Zandi, thuộc Economy.com đã viết một bài trên nhật báo Wall Street (một tờ báo bảo thủ) ước tính rằng một khoản chi trực tiếp 600 tỷ có khả năng tạo ra được 4.7 công việc làm mới nếu chi đúng chỗ. Tức là sau khi GDP có nguy cơ giảm bớt 1.6% trong năm 2009, đến năm 2010 sẽ tăng lên được 1.9%.

Ông Mark Zandi không ngần ngại nói rằng đồng tiền trợ cấp phát thẳng cho người nghèo, những người cần tiền nhất, là những đồng tiền sẽ kích thích kinh tế mạnh nhất. Một đô la trợ cấp dưới hình thức phiếu mua thực phẩm (food-stamp) sẽ giúp GDP tăng thêm được 1.73 đô la, và chỉ trong vòng ba đến 6 tháng là thấy kết quả. Chi một đô la trong việc xây trường học hay làm cầu, làm đường thì có thể sinh ra 1.59 đô la cho GDP; nhưng kết quả chỉ trông thấy trong khoảng từ 12 tháng đến 24 tháng. Cũng một đồng đô la đó nếu đem trả lại cho người trung lưu đóng thuế, thì nhiều người nhận được có thể sẽ không chi tiêu ngay, cho nên chỉ giúp GDP tăng được có 1.01 đô la.

Nhưng khi chính phủ Mỹ tiêu thêm tiền, một hậu quả chắn chắn là ngân sách nước Mỹ sẽ khiếm hụt, chính phủ phải đi vay nợ, và trong tương lai sẽ phải trả vốn lẫn lời, tức là phải dùng tiền thuế của dân, dân sẽ phải đóng thuế nhiều hơn!

Trong năm 2008, chính phủ Mỹ phải trả 412 tỷ đô la tiền lãi không thôi, trên các món nợ của quốc gia vay từ trước để lại, tính ra ngân sách nhà nước liên bang tiêu 100 đồng thì trong đó 9 đồng chỉ để trả lãi vì đã đi vay.

Hiện chính phủ Obama đã báo trước ngân sách năm 2009 sẽ khiếm hụt 1.2 ngàn tỷ mỹ kim, đó là chưa kể đến những món chi mới và giảm thu thuế trong kế hoạch kích thích đang được quyết định này. Con số 1.2 ngàn tỷ đó tương đương với 8.3 Tổng Sản Lượng Nội Ðịa, một tỷ số khiếm hụt cao nhất từ thời Ðại Chiến Thứ Hai đến nay. Như vậy, nếu kể cả kế hoạch kích thích thì số khiếm hụt của chính phủ Mỹ sẽ lên tới 2 ngàn tỷ đô la!

Nhưng dân Mỹ sẽ phải chấp nhận tình trạng thiếu hụt đó. Vì nếu không kích thích cho kinh tế phục hồi sớm, nhiều xí nghiệp bớt hoạt động, số người thất nghiệp tăng, họ sẽ không đóng thuế được nữa, thì số khiếm hụt ngân sách vẫn lên cao không tránh được. Tình trạng suy sụp kinh tế hiện giờ sẽ khiến cho chính phủ bị mất 2 ngàn tỷ Mỹ kim vì người dân và các xí nghiệp bớt đóng thuế lợi tức, nếu không phục hồi sớm thì nạn thâm thủng sẽ nặng nề hơn.

Bây giờ tới một vấn đề khác: Lấy tiền đâu ra để chi khi ngân sách thâm thủng? Giản dị, phải đi vay.

Tới cuối Tháng Chín năm ngoái, tổng số nợ của chính phủ lên tới 10 ngàn tỷ đô la, bằng 69% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa. Thời ông Clinton tỷ số đó là 67%. Và sau 4 năm của ông Obama chắc sẽ còn tăng thêm nữa; vì tới đầu Tháng Hai năm 2009 con số nợ đã lên tới gần 10.8 ngàn tỷ. Nếu quý vị dùng máy vi tính bấm vào mục National Debt Clocks sẽ thấy mỗi giây đồng hồ con số đó tăng lên hàng trăm ngàn đô la!

Câu hỏi tiếp theo là ai sẽ cho chính phủ Mỹ vay nợ để tiêu xài thong thả như thế?

Ðó là các nhà đầu tư ở Mỹ, ở khắp thế giới có sẵn tiền cho vay, và các quỹ dự trữ của những quốc gia có dư tiền. Nhưng khi chính phủ Mỹ cần đi vay gần 2 ngàn tỷ đô la trong năm tới, thì chính phủ các nước khác cũng đang lo kích thích kinh tế nước họ, chính họ cũng đi vay nữa. Nhật báo Financial Times ước tính trong năm nay các chính phủ toàn cầu sẽ đi vay khoảng 3 ngàn tỷ, gấp ba lần số tiền họ vay trong năm 2008 - hai phần ba của số 3 ngàn tỷ đó sẽ do chính phủ Mỹ vay! Liệu năm nay có vay được không?

Chúng ta đã quen thuộc với hình ảnh chính phủ Trung Quốc, Nhật Bản và các nước bán dầu lửa ở Trung Ðông vẫn đem tiền cho chính phủ Mỹ vay. Lý do chính vì các nước đó chuyên làm công việc xuất cảng, xuất cảng sang Mỹ. Tiền đô la đem về họ chi không hết (các nước Á Rập) hoặc muốn để dành (Trung Quốc, Nhật Bản). Bây giờ, chính phủ Trung Quốc đang có gần 2 ngàn tỷ đô la dự trữ, nhưng số tiền đó chắc chắn đã được đầu tư nơi này, nơi khác rồi. Và Bắc Kinh đã quyết định sẽ dùng gần 600 tỷ để kích thích kinh tế nước họ. Liệu chính phủ Trung Quốc có nhân cơ hội này gây khó dễ cho ông Obama bằng cách lảng đi chỗ khác, không thèm cho Mỹ vay nợ nữa hay không?

Chúng ta không cần tìm cách trả lời câu hỏi đó. Vì một viên chức Trung Quốc mới nói ngày Thứ Tư 11 Tháng Hai vừa qua ở New York, rằng Bắc Kinh chắc chắn sẽ tiếp tục cho Washington vay tiếp.

Ông La Bình (Luo Ping) là tổng giám đốc Hội Ðồng Giám Sát Các Ngân Hàng trong chính phủ, tương đương với chức phó chủ tịch ngân hàng trung ương, cho nên lời nói của ông đáng tin. Ông hỏi: “Ngoài công trái chính phủ Mỹ ra, quý vị có thể để dành tiền vào chỗ nào? Mua vàng ư? Hay là mua công trái chính phủ Nhật Bản, chính phủ Anh quốc? Nói cho cùng, công trái chính phủ Mỹ (US Treasuries) vẫn là nơi an toàn nhất. Ðối với tất cả mọi người, kể cả Trung Quốc.”

Ông La Bình rất thẳng thắn: “Tôi ghét mấy người lắm (I hate you guys!) Khi mấy người bắt đầu in thêm tiền một ngàn tỷ, hai ngàn tỷ, chúng tôi biết là giá trị đồng đô la sắp xuống. Vì vậy mà chúng tôi ghét mấy người lắm, nhưng chúng tôi làm gì khác được?”

Hiện nay chính phủ Trung Quốc đang giữ trong tay 682 tỷ đô la dưới hình thức công trái, tức là giấy nợ của chính phủ Mỹ. Sau khi ông La Bình nói chuyện ở New York, ngày hôm qua tại Bắc Kinh, ông Dư Vĩnh Ðịnh (Yu Yongding) đã lên tiếng chỉ trích chính phủ Mỹ là có những chính sách bất cẩn làm giảm giá trị của đồng đô la, tức là giảm giá số tiền 682 tỷ đô la mà họ đang chờ ngày được chính phủ Mỹ trả nợ; cũng như hàng ngàn tỷ đô la khác đang cho vay bằng tiền Mỹ. Ông Dư vốn là cố vấn của ngân hàng trung ương Trung Quốc, hiện đứng đầu một cơ quan nghiên cứu chính trị và kinh tế. Ông chỉ lập lại lời báo động của Thủ Tướng Ôn Gia Bảo trong tháng trước, nói rằng chiến lược sử dụng 1.95 ngàn tỷ đô la dự trữ là làm sao bảo vệ số tiền đó không bị mất giá! Hiện nay lãi suất thực trên các công trái 10 năm của chính phủ Mỹ lên tới 3% một năm, nghĩa là nếu giá trị đồng đô la Mỹ giảm bớt 3% thì người chủ nợ kể như huề.

Nhưng đúng như ông La Bình thú nhận, Trung Quốc không có lựa chọn nào khác là sẽ tiếp tục mua công trái của chính phủ Mỹ.

Thứ nhất vì nền kinh tế của họ (cũng như của Nhật Bản) dựa trên xuất cảng, nếu không xuất cảng được nữa là nguy. Trung Quốc chưa phát triển được một thị trường nội địa cho đủ mạnh, vì ngay từ đầu họ đã chọn chỉ chú ý đến xuất cảng, trong lúc bắt dân phải nhịn tiêu thụ. Mỗi năm Trung Quốc phải duy trì một số thặng dư mậu dịch từ 500 đến 1000 tỷ, chỉ để giữ cho các xí nghiệp tiếp tục hoạt động, nếu không thì rắc rối vì nạn thất nghiệp.

Số tiền thặng dư đó dùng làm gì? Họ không thể đem chi tiêu hết trong nước được! Vì muốn chi tiêu trong nước thì phải đổi số đô la Mỹ có dư đó sang đồng nhân dân tệ. Ðổi lấy tiền bản xứ, sẽ tạo áp lực khiến giá đồng “nguyên” của họ tăng lên. Giá nhân dân tệ tăng lên đối với đô la Mỹ thì khi đem hàng bán ra ngoài, bán cho bất cứ nước nào, giá cũng đắt hơn! Và như vậy thì sẽ khó xuất cảng! Ðó là một thứ ràng buộc mà chính phủ Trung Quốc tự trói mình khiến họ cứ phải đem tiền cho vay.

Nhưng đúng như ông La Bình nói, không gì bằng cho chính phủ Mỹ vay. Mua vàng được không? Cứ nhìn giá vàng lên xuống hàng ngày chúng ta hiểu được là không một chính phủ nào muốn đầu tư vào một tài sản bất an như vậy. Hay là cho chính phủ các nước khác vay? Ðem đô la Mỹ dự trữ trong nhà sang đổ vào Nhật Bản hay Âu Châu sẽ tạo áp lực khiến cho đồng tiền các xứ này tăng giá. Khi Yen và Euro lên giá, nền kinh tế các nước đó sẽ bị chậm lại, và chính các nước này sẽ không còn nhập cảng hàng hóa của Trung Quốc được như trước nữa! Kinh tế Nhật Bản và Âu Châu chưa đủ sức hấp thụ nếu một số thặng dư lớn của Trung Quốc được đem vào xứ họ!

Cho nên chính phủ Mỹ sẽ tiếp tục chịu khiếm hụt ngân sách mà khỏi lo đi không vay được nợ. Thực ra, nếu các nước khác không cho vay thì nội trong nước Mỹ cũng có đủ tiền để cho chính phủ của họ vay. Nếu dân Mỹ tăng tỷ lệ tiết kiệm thêm 1% thì cả nước sẽ đủ được một ngàn tỷ đô la cho chính phủ vay ngay lập tức. Chỉ cần công trái trả dân Mỹ một lãi suất đủ hấp dẫn mà thôi! Nhưng đó là điều mà chính phủ Bắc Kinh không muốn xẩy ra. Họ sẽ không cần cho Mỹ vay nợ nữa khi nào nền kinh tế Trung Quốc không lệ thuộc vào xuất cảng. Trong những năm qua họ chỉ chú trọng đến đầu tư, đầu tư, mà không quan tâm đến người dân tiêu thụ; cho nên tạo nên tình cảnh này. Nếu không tăng số xuất cảng được thì bao nhiêu nhà máy thép, nhôm, xi măng, bao nhiêu đường cao tốc, phi trường, sẽ dùng vào việc gì?

Cho nên Washington sẽ tiếp tục khiếm hụt, và Bắc Kinh sẽ tiếp tục tài trợ. Mà riêng gì Trung Quốc. Nhật Bản, Dubai, Kuwait, v.v..., cũng sẵn sàng tài trợ. Dân Mỹ chỉ còn lo không biết kế hoạch kích thích của ông Obama sẽ kích được đến mức nào, và bao giờ thì có kết quả!

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Nhìn lại nhân vật Hoàng Văn Hoan & Số phận ông Hoàng Văn Hoan
Tác giả: Quốc Phương



Một sự kiện quan trọng trong giai đoạn xung đột Trung - Việt hồi năm 1979 là vụ bỏ trốn của ông Hoàng Văn Hoan mà đến nay vẫn ít được nói đến.

Không chỉ với chính quyền Việt Nam và cả với dư luận quốc tế, việc một nhân vật cao cấp, công thần của chế độ bỏ đi theo kẻ thù của Hà Nội hồi đó là chuyện 'động trời'.

Báo Time 20/08/1979 có bài đặc biệt về cuộc bỏ trốn của ông Hoàng Văn Hoan sang Trung Quốc.

Bài 'Hanoi's Push' cho rằng vụ ông Hoàng Văn Hoan (1905-1991), nguyên phó chủ tịch Quốc hội, một đồng chí cũ của Hồ Chí Minh bỏ đi vào tháng 7/1979 và tố cáo chế độ là 'cú giáng thứ nhì vào hình ảnh của họ'.

Cú giáng thứ nhất, như tờ báo Mỹ, là 'cuộc tháo chạy của 900 nghìn người' trong vòng bốn năm trước đó, nhắc đến các đợt thuyền nhân bỏ nước ra đi.

Về với Trung Quốc

Time đưa tin rằng tuần trước đó, ông Hoàng Văn Hoan, 74 tuổi, phát biểu tại Bắc Kinh cáo buộc Hà Nội đối xử với người Hoa 'tệ hơn Hitler đối xử người Do Thái'.

Ông Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị cho đến 1976, cũng cho rằng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ông Lê Duẩn, đã 'trở thành tay sai ngoại bang', ám chỉ Liên Xô.

Bỏ trốn sang Trung Quốc, ông Hoan như trở về với những đồng chí chia sẻ quan điểm cộng sản kiểu Trung Quốc của ông.

Các tài liệu của Phương Tây từ 1966 đã xác định ông, cùng những ủy viên BCT khác như Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh là 'phái thân Trung Quốc' (pro-Chinese).

Đại tá Bùi Tín, cựu Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân, người cũng bỏ Việt Nam nhưng sang Phương Tây để vận động cho dân chủ, thì quan điểm 'đặc sệt thân Tàu' của ông Hoan đã được biết đến từ trước năm 1979.

Ông Bùi Tín nói ông Hoan xuất thân từ một gia đình Hán học, hoạt động nhiều năm ở Hoa Nam và 'tiếp thu văn hóa, tư tưởng Trung Quốc trực tiếp từ nguồn':

"Ông không đồng tình với quan điểm đứng giữa Liên Xô và Trung Quốc, ông theo phái nghiêng hẳn về Trung Quốc".

"Ông không thấy Trung Quốc có hai mặt: cách mạng và bành trướng".

Từng sang Trung Quốc hoạt động với bí danh Lý Quang Hoa cùng các ông Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan trở thành nhân vật cao cấp phụ trách ngoại giao của Việt Minh.

Lê Duẩn đã phản bội đường lối Hồ Chí Minh và làm hại tình hữu nghị với Trung Quốc

Quan điểm của Hoàng Văn Hoan

Sau đó ông được Hồ Chí Minh, người đồng hương Nghệ An, cử làm đại sứ đầu tiên của VNDCCH tại Bắc Kinh.

Các tài liệu nước ngoài mô tả ông Hoan có vị trí hơn một đại sứ bình thường vì thường được Mao Trạch Đông tiếp riêng để bàn thảo các vấn đề hai nước, kể cả chiến lược đánh miền Nam của Ban lãnh đạo Hà Nội.

Số phận của ông sau khi sang Trung Quốc qua ngả Pakistan vào tháng 7/1979 cùng gia đình cũng phản ánh thái độ của Trung Quốc với Việt Nam và quan hệ hai bên.

Xuất bản cuốn 'Giọt nước trong biển cả', ông đưa ra quan điểm 'tố cáo tập đoàn Lê Duẩn' đã phản bội đường lối Hồ Chí Minh và làm hại đến 'tình hữu nghị với Trung Quốc'.

Cuốn sách được dịch sang tiếng Anh 'A Drop in the Ocean: Hoang Van Hoan's Revolutionary Reminiscences' do Bắc Kinh xuất bản năm 1988, xác định tư cách của ông như một nhân vật Mao-ít đến cùng.

Ông cũng đưa ra cáo buộc rằng Trung ương Đảng ở Việt Nam từ 1982 đã chỉ đạo việc trồng nha phiến để bán ra quốc tế lấy đôla.

'Không giống Hồ Chí Minh'

Ông Bùi Tín, hiện sống tại Paris cho hay ông Hoan khá đơn độc trong đường lối thân Trung Quốc và bác bỏ cách tuyên truyền của Trung Quốc rằng ông Hoan là người duy nhất 'trung thành với đường lối Hồ Chí Minh'.

Ông nói:

"Ông Hồ khéo léo với Trung Quốc hơn nhiều và luôn cố gắng cân bằng giữa Liên Xô và Trung Quốc"

Ông Hồ khéo léo với Trung Quốc hơn nhiều và luôn cố gắng cân bằng giữa Liên Xô và Trung Quốc.

"Một lần ra đón ông Hồ tại sân bay chúng tôi thấy ông mặc áo khoác có huy hiệu Mao sau chuyến đi thăm Trung Quốc về. Ông hiểu ý và cười rằng 'chỉ đeo ở áo ngoài thôi đấy nhé".

Trái lại, theo ông Tín, Hoàng Văn Hoan hoàn toàn theo đường lối Maoist, ủng hộ Trung Quốc trong cuộc chiến 1979, chế độ Pol Pot và phái bảo thủ tại Trung Quốc.

Ở Việt Nam, ông bị tuyên án tử hình vắng mặt và trở thành biểu tượng của sự phản bội.

Đài báo so sánh Hoàng Văn Hoan với Lê Chiêu Thống và dùng hình ảnh ông để nói về các kẻ thù bên trong.

Đảng cộng sản đã thực hiện một cuộc thanh lọc nội bộ để loại bỏ tất cả những ai bị nghi là có dính líu đến ông Hoàng Văn Hoan.

Trong khi đó, Trung Quốc quyết tâm bảo vệ ông Hoan và coi việc đối xử với ông như một điều kiện để bình thường hóa quan hệ.

Năm 1991, Trung Quốc tổ chức lễ tang cấp nhà nước dành cho ông Hoàng Văn Hoan tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, nơi an nghỉ của nhiều cố lãnh tụ cao cấp nhất của Đảng, Nhà nước, và quân đội Trung Quốc.

Việc chấp nhận vị trí của ông Hoan trong lịch sử đầy biến động của Việt Nam xem ra vẫn còn là điều khó khăn ở trong nước dù gần đây, nhà chức trách đã có động tác để hình ông trên trang web của Quốc hội.

Nhưng cho đến nay, số phận của gia đình ông (xem bài đi kèm) cũng là câu chuyện đáng nói và phản ánh cách giải quyết chuyện nội bộ với những người bị coi là 'phản bội' trong lòng một hệ thống đóng kín.

Quốc Phương
BBC Việt ngữ

Số phận ông Hoàng Văn Hoan

Sau 30 năm kể từ Chiến Tranh Biên Giới, Trung Quốc và Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá... sau một cuộc xung đột vũ trang được cho là lần đầu tiên xảy ra giữa hai quốc gia cùng ý thức hệ cộng sản.

Nhưng câu chuyện về ông Hoàng Văn Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị, Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Trung Quốc, người bỏ trốn theo Trung Quốc vào tháng 7/1979 vẫn chưa được bàn đến công khai.

Trong cuộc trao đổi dành riêng cho BBC hôm 13/2/2009, một trong những người cháu của ông Hoàng Văn Hoan xin không nêu tên, đã kể nhiều chi tiết 'đầy sóng gió' về số phận của họ.

'Bình phản án tử hình'

Người cháu ông Hoan cho biết:

"Ông Hoan có một người con trai duy nhất là ông Hoàng Nhật Tân, năm nay đã ngoài 80 tuổi, sức khoẻ đã rất kém, mà do mới đột quỵ hồi Tết, hiện không nghe, nói được. Trước đây, năm nào ông Tân cũng đề nghị Nhà nước bình phản lại án tử hình với cha ông nhưng đều không được."

"Hồi cụ Đồng (Phạm Văn Đồng) còn sống, ông đến kêu cụ Đồng, hồi cụ Trường Chinh còn sống, thì kêu với cụ Trường Chinh. Bây giờ các ông khác già hết rồi, chẳng biết kêu ai."

"Trước đây, các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng có hứa với gia đình rằng 'Để rồi bác sẽ bàn, đề nghị với Bộ Chính trị', nhưng cũng nói rằng khó lắm vì đó là tương quan với ông Lê Duẩn".

Cuộc chạy trốn bí mật

Cuốn sách 'Giọt nước trong biển cả' của ông Hoan, có đoạn, nói rằng ông đã không theo quyết định của Bộ Chính trị vốn quyết rằng ông bị ung thư phổi và phải bay đi Đức để chữa bệnh.

Người cháu nay thuật lại ông Hoan tin rằng "nếu bay đi Đức thì chắc rằng chỉ một liều thuốc là xong".

Vì thế ông quyết định khi tới Karachi, tìm cách trốn sang sứ quán Trung Quốc và được đưa tới Trung Quốc. Trung Quốc đã mổ thành công và ông đã sống thêm 12 năm nữa. Trong 12 năm này, ông đã viết nhiều công trình mà một trong đó là cuốn 'Giọt nước trong biển cả.'

Trong cuốn sách, ông Hoan cũng nói rằng việc làm của ông là 'thiên thu định luận', tức một nghìn năm sau thì sẽ rõ. Sau đó, ông Hoàng Nhật Tân có viết một cuốn là 'Thiên thu định luận', 500-600 trang, thuyết minh rằng cha ông là một nhà yêu nước vĩ đại, nhưng cuối cùng cũng không được phát hành.

Vẫn theo lời chứng̉, vào năm 1991, khi gia đình được phép sang thăm ông trong vòng bốn tháng liền tại khu Ngọc Trường Sơn, trong Di Hoà Viên, nơi trước đây ông Lâm Bưu từng sống, khi ông già yếu và sắp mất, thì ông vẫn còn rất tỉnh táo, tỉnh táo cho đến phút chót.

"Người nhà cứ hai, ba ngày thay phiên nhau vào chăm sóc ông. Ông hỏi về tình hình Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam vào thời điểm đó. Ông rất tỉnh táo, câu hỏi sắc sảo. Ông không bình luận gì nhưng chịu khó nghe. Ông hỏi về so sánh Liên Xô đang cải tổ, Trung Quốc đang cải cách và Việt Nam đang đổi mới lúc đó, có gì giống nhau, khác nhau,"

"Sự chăm sóc của Trung Quốc đối với ông không có gì để bàn. Lúc đó, ông Giang Trạch Dân là Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước, ông Lý Bằng là Thủ tướng Quốc vụ Viện, các ông coi ông Hoan là người bạn lớn của nhân dân Trung Quốc."

Nghĩa tử, nghĩa tận

Lễ tang của ông Hoan được coi như một lễ tang cấp cao của Đảng và của Nhà nước Trung Quốc vì ông được coi như một lãnh tụ của Đảng Cộng sản TQ. Không có chuyện Đại sứ quán Việt Nam tham dự.

Theo lời kể, khi đó do quan hệ hai bên còn căng thẳng, khi gia đình đi thăm ông Hoan, đều có an ninh của Việt Nam đi cùng.

"Lý do Việt Nam lúc đó đồng ý cho gia đình sang thăm là dàn xếp quan hệ cấp cao và nghĩa tử là nghĩa tận theo truyền thống, cho nên họ phải đồng ý. Khi đi, gia đình hứa là sẽ quay về."

"Gia đình cũng cam kết đảm bảo là không làm điều gì liên quan tới chính trị khi sang Trung Quốc mà đây chỉ là chuyện gia đình. Do đó không có vấn đề gì,"

"Ông Hoan không bao giờ dặn dò gì gia đình về chuyện chính trị hay sự nghiệp. Cùng thời gian đó, có việc Việt Nam chuẩn bị kỷ niệm 100 năm sinh Hồ Chí Minh. Một nhà nghiên cứu có tiếng của Việt Nam đã sang Trung Quốc và đề nghị gặp trực tiếp ông Hoàng Văn Hoan để tìm hiểu về Hồ Chí Minh, đặc biệt tìm hiểu các chi tiết đời tư chứ không phải với tư cách một chính khách."

Người cháu của ông kể tiếp:

"Khi ấy, ông Hoan đã cho thư ký là một cựu sinh viên người Hoa gốc Việt từng tốt nghiệp Đại học Tổng hợp ở Hà Nội, giỏi cả tiếng Việt và tiếng Trung, tiếp. Thư ký sau đó thuật lại việc nhà nghiên cứu này định hỏi ông Hoan về chuyện 'cụ Hồ có con riêng' có đúng hay không,"

Yêu đảng, yêu nước

Ông Hoan bảo: "Bảo ông ta về nước đi, không hỏi những chuyện linh tinh đó làm gì!." Ông Hoan là người rất kín kẽ, ông không bao giờ tuỳ tiện cho ai biết những chuyện quan trọng. Ông thường chỉ làm việc ở cấp cao, còn gia đình thì cứ đi thăm, nói chuyện vui vẻ thôi, không nói chuyện gì về chính trị cả.

Vẫn theo lời thân nhân của ông, "Tuyệt đối không có chuyện họp gia đình, bàn chuyện này, chuyện kia, như là người ta đồn ông Hoan có cả quân đội, đài phát thanh. Đó là xuyên tạc! Ông Hoan ông không làm thế. Ông là nhà yêu nước đứng đắn, ông không làm chuyện gì khuất tất."

Ông Đặng và ông Hoan gặp nhau rất đơn giản vì ông Hoan có khả năng nói tiếng Trung trực tiếp không qua phiên dịch. Quan hệ rất tốt, vừa là đồng chí, vừa là anh em

Lời kể của thân nhân


Ông Hoan muốn giải thích trong sách rằng ông vẫn yêu Đảng, yêu nước và ông muốn sống thêm để chứng minh rằng đã có người phản bội, nhưng ở Việt Nam vẫn không nhận ra, hoặc nhận thức lầm. Có vẻ ông đã cố chứng minh bằng những dữ liệu, số liệu, bằng chứng, quan điểm.

Người cháu kể ông có sự hỗ trợ của Trung Quốc, họ cung cấp mấy người thư ký, văn phòng làm việc, ô tô đi lại, điều kiện rất tốt.

"Phản biện lại những dư luận từ nhà nước Việt Nam, trong đó nhiều ý nói rằng ông là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống v.v..., ông đã chứng minh trong công trình của mình rằng ông không phản bội lợi ích của nhân dân mà chính người khác đã phản bội. Nhưng ông nói chuyện của ông 1.000 năm sau mới định được, còn định ngay lúc đó thì khó," người cháu ông Hoan kể.

'Chính trị phải thế'

"Ông nói rằng bản thân rơi vào tình trạng rắc rối và phải đi, mà bây giờ người ta gọi là bất đồng quan điểm. Ông không thể đi một nước thứ ba, như là Liên Xô, vì quan điểm của ông với Liên Xô không gần nhau,"

"Đúng là Trung Quốc tiếp đãi ông Hoan như thế vì ông thân Trung Quốc và có lợi cho Trung Quốc vào thời điểm bấy giờ. Chính trị phải thế! Trung Quốc coi ông có lợi cho họ. Nhưng đồng thời họ cũng nuôi dưỡng nhiều lực lượng cách mạng thực sự cho Việt Nam," người cháu nhận xét.

Về câu hỏi rằng liệu Việt Nam có thể tránh được cuộc chiến tranh năm 1979 với Trung Quốc, nếu quan điểm, đường lối của ông Hoan trong quan hệ với Trung Quốc được Việt Nam lắng nghe hoặc điều hoà như thế nào đó, người nhà ông Hoan cho rằng cục diện trước đó quá rõ ràng. Hoàn toàn có thể tránh cả hai cuộc chiến Tây Nam và cuộc chiến 79.

"Đường lối của ông Hồ là sau hoà bình, sau cuộc chiến quá dài với Mỹ, mọi người kiệt quệ, là phải an dân, phải tránh chiến tranh, phải khoan sức dân, phải giảm thuế v.v... Ông Hoan rất phản đối và phê bình việc dẫn đến sự thể phải phát động cả hai cuộc chiến."

Người cháu ông Hoan cho BBC biết quan hệ giữa ông Đặng Tiểu Bình và ông Hoàng Văn Hoan rất tốt. "Cả hai ông Giang Trạch Dân và Lý Bằng đều là người của ông Đặng. Trong đám tang ông Hoàng Văn Hoan ông Giang Trạch Dân và ông Lý Bằng đều đến viếng. Ông Đặng Tiểu Bình có gửi vòng hoa, viết rất nhiệt tình, đề cao ông Hoan."

"Ông Đặng và ông Hoan gặp nhau rất đơn giản vì ông Hoan có khả năng nói tiếng Trung trực tiếp không qua phiên dịch. Quan hệ rất tốt, vừa là đồng chí, vừa là anh em."

Bi kịch cha con

Về quan hệ giữa hai cha con mà có dư luận rằng có sự mâu thuẫn, theo đó, ông bố thì được cho là thân Trung Quốc, ông con, Hoàng Nhật Tân, thân Nga Xô, trường hợp ông Tân được cho là một bi kịch.

Thân nhân ông Hoan kể rằng ông Tân học giỏi, ông được cử đi Nga học tập. Sang Nga, ông thấy đường lối của Khrushchev hay, ông có những phát biểu. Vì thế ông Hoan gọi về Việt Nam, thi hành kỷ luật, cho 'đi đầy' một năm, hai năm gì đó, xong rồi cho phục hồi.

"Vừa được phục hồi, nghe đâu đang làm thủ tục làm Phó Viện trưởng Viện Sử học, thì ông Hoan lại bỏ đi Trung Quốc (1979), cho nên người ta ép ông con ra khỏi Đảng, rồi ép đủ thứ. Nghe nói ông Tân đến tận bây giờ vẫn còn có người theo dõi,"

"Trong nhà hiện nay, chỉ có ông Tân là người bị theo hàng ngày, về lý do thì có thể là do họ sợ rò rỉ thông tin hoặc thế nào đó,"

"Thời các năm 1991, 1992 cho tới 1996, 1997, nhiều lúc con cháu của ông Hoan trong gia đình ở Hà Nội đi đâu, cũng có ít nhất một nhân viên công an đi theo sau. Bây giờ thì cũng thoáng rồi vì họ sống cũng đứng đắn, sống đúng theo tư cách công dân."

'Chăm sóc đặc biệt'

Cuộc sống gia đình rất phức tạp và là một câu chuyện dài với việc mỗi thành viên phải tự lo công việc của mình. Một người con gái của ông Hoàng Nhật Tân, cháu nội ruột của ông Hoan, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, ra không có việc làm. Bà phải xin mãi mới về được Viện Triết học làm thư viện.

Theo người nhà ông Hoan thì ông Phạm Như Cương, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Trung và Viện trưởng, phải đứng ra bảo lãnh thì bà mới về làm việc được, chứ không phải tự nhiên mà vào làm nhà nước được, đó là ngay sau khi cụ Hoan ra đi (1979).

Người con trai cả của ông Hoàng Nhật Tân, là đảng viên, phải ra khỏi quân đội. Trong nhà có mấy người là đảng viên đó là bà Tân và ông con cả. Có một người con dâu của ông Tân mới kết nạp mấy năm nay. Còn lại đều không là đảng viên.

Về lý do người ta đưa ông con trai cả của ông Tân ra khỏi quân đội, người nhà ông Hoan tin rằng đó có thể do lý do 'an toàn' nào đó. "Có một sự chăm sóc đặc biệt. Như ông Tân bị ép ra khỏi đảng. Ông phải chủ động viết đơn để ra khỏi đảng."

"Về kinh tế, tài chính thì những năm đó rất khó khăn, mọi người phải tự lo lấy mà sống. Nhưng có một việc không biết ở các gia đình khác ra sao, còn tại gia đình mình, ông Hoan có một đạo đức rất rõ ràng, tức là không ai được sống dựa vào ông ấy."

"Cho nên mọi người phải tự lực từ lâu. Khi ông đi, thì mọi người chẳng làm sao cả."

Ông bà Tân đều là cán bộ nhà nước. Các con cháu về sau cũng dần có được việc làm, với mức lương tối thiểu sống được. Bà Tân, con dâu cụ Hoan, từng làm ở Đảng uỷ Quận Hoàn Kiếm và làm cho đến lúc về hưu.

Khi ông Hoan đi, ông không hề cho ai trong gia đình biết, sau đó ông Tân gần như bị bắt.

"Nhưng người ta cứ nghĩ là ông Tân biết. Thực ra ông không hề biết và cũng chẳng ai biết. Nếu biết là rắc rối ngay. Khi tới Karachi (thủ đô Pakistan), ngay cả ba người tháp tùng ông Hoan là bảo vệ, thư ký và y tá đều không biết," người cháu ông Hoan kể tiếp.

Ở khách sạn tại Karachi, ông Hoan đi ra ngoài đi dạo, ông gọi xe taxi và đi về sứ quán của Trung Quốc. Ba người này về sau bị bắt, và vẫn theo lời kể, nhóm thư ký của ông Hoan đã bị tù mấy năm.

'Không có bản án?'

Đến tận hôm nay, có một điều gia đình vẫn không rõ. Đó là vì sao khi hai nước Trung Quốc, Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ, thậm chí hai Đảng và hai Nhà nước đã hữu hảo hơn, mà bản án tử hình của nhà nước Việt Nam dành cho ông Hoan chưa được huỷ bỏ.

"Hình như năm ngoái, khi còn khoẻ, ông Hoàng Nhật Tân có tới Toà án để xin một bản sao bản án 'xử tử vắng mặt' đối với cha mình. Mục đích là để làm bằng chứng khi đi trình bày với các nơi và xin được hết án này với ông Hoan, thì được họ trả lời rằng không có văn bản nào cả."

"Nhưng đây không phải là Toà án Tối cao hoặc Toà án nhà nước nào khác, mà dường như đây liên quan tới Toà Án Nhân dân TP Hà Nội. Nhưng họ nói là chẳng có văn bản gì cả. Sau đó, ông Tân cũng thôi không làm nữa. "

"Hồi đó người ta cũng không thông báo gì về bản án tử hình vắng mặt đó. Chỉ là thông báo, công bố trên đài báo, không có thông báo gì cho gia đình cả. Còn về kế hoạch có làm tiếp việc xin huỷ bỏ bản án trong tương lai, thì trong gia đình chỉ có một mình cụ Tân làm. Ngoài ra, không có ai nghĩ làm việc đó cả."

Trong lòng quê hương

Theo di chúc, hài cốt hoả táng của ông Hoan được chia thành ba phần. Một phần để ở nghĩa trang Bát Bảo Sơn, tương tự nghĩa trang Mai Dịch ở Hà Nội. Đó là một nghĩa trang dành cho các quan chức cao cấp của Đảng và Nhà nước Trung Quốc.

Ở đó, họ xây một cái mộ, hàng năm họ vẫn cho tiền gia đình, ít nhất hai người, sang đó để viếng thăm. Ông Hoan được để ở một chỗ rất long trọng. Một phần tro cốt được đưa đi Côn Minh để rắc trên đầu nguồn sông Hồng. Vì ông Hoan muốn về nước bằng con đường sông Hồng.

Vẫn theo lời kể của người cháu, một hộp tro nữa sau khi mang về nhà thờ mấy năm, nay được đưa về quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Trung Quốc cho một ít tiền để xây một cái mộ tương đối lịch sự. Tất nhiên là mộ đó không bằng mộ của ông Hồ Tùng Mậu, mà nhà nước xây rất lớn. Ở đó có hai dòng họ là họ Hồ, lớn nhất, rồi đến họ Hoàng.

Hàng năm con cháu về đây viếng thăm. Trong nhà thờ họ Hoàng, đã có thờ ông Hoan. Họ không thờ ông là uỷ viên bộ chính trị, phó chủ tịch quốc hội mà tấm bia thờ chỉ đề ông Hoàng Ngọc Ân (tên tục của ông Hoan) là nhà yêu nước lớn.

Kết luận, người cháu của ông Hoan nói:

"Gần đây có một diễn biến và biểu hiện mới, mà chính sứ quán Trung Quốc nói với gia đình, là một vài hình ảnh của ông Hoan hồi làm Phó Chủ tịch ở Quốc hội, trước đây bị xoá hoặc bỏ đi, nay đã được phục hồi. Còn các hình ảnh ông Hoan bên cạnh ông Hồ thì họ xoá sạch."

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Cuộc đánh cá 787 tỷ

Ngô Nhân Dụng

Tổng Thống Barack Obama đã ký đạo luật 787 tỷ đô la, gọi là để “phục hồi kinh tế và tái đầu tư,” nói giản dị là kích thích kinh tế. Sau khi ký xong, ông Obama sẽ hồi hộp chờ đợi coi chương trình này sẽ có tác dụng phục hồi kinh tế hay không, và bao lâu mới thấy dấu hiệu phục hồi! Và phía đối lập là các đại biểu Quốc Hội đảng Cộng Hòa, tất cả đều chống đạo luật này trừ ba vị nghị sĩ ở Thượng Viện, họ cũng bắt đầu hồi hộp chờ đợi. Ðây là một cuộc đánh cá rất lớn. Kết quả sẽ quyết định đảng nào lên trong cuộc bầu cử Quốc Hội năm 2010, và có thể cả cuộc bầu cử tổng thống năm 2012.

Nếu trong vòng một năm mà kinh tế tiếp tục xuống dốc, thì các đại biểu Cộng Hòa có thể nói họ có lý khi bỏ phiếu chống. Tức là đúng như họ tố cáo, sau mấy trăm tỷ giảm thuế, món tiền 500 tỷ mà chính phủ Obama xin được phép chi tiêu chỉ là những món chi bình thường không kích thích thêm được đồng nào cho Tổng Sản Lượng Nội Ðịa nước Mỹ cả. Và họ còn nói đó là những món chi tiêu chỉ cốt thi hành chính sách cấp tiến của đảng Dân Chủ mà thôi.

Ông Obama sẽ hồi hộp hơn. Vì trong thực tế cả món tiền 787 tỷ này chỉ là để “kích cho máy khởi động” mà thôi. Muốn cho bộ máy kinh tế Mỹ chạy trở lại thật sự thì phải giải quyết cảnh hệ thống ngân hàng đang đứng yên không chuyển. Kinh tế không thể nào chạy được nếu các ngân hàng không bắt đầu cho vay kiếm lời như thường lệ. Mà hiện giờ thì người ta dè dặt không muốn cho vay vì trong nhà nhiều trái khoán ứ đọng không bán được, ít người muốn đem thêm những trái khoán mới vào nhà. Chính phủ George W. Bush đã sử dụng 350 tỷ trong số 700 tỷ của kế hoạch giải cứu hệ thống ngân hàng ù trong bốn tháng cuối cùng, nhưng bộ máy tài chánh vẫn chưa nhúc nhích. Hiện chính phủ Obama còn 300 tỷ để dùng. Ông bộ trưởng tài chánh rất dè dặt chưa công bố chi tiết về việc sử dụng ngân khoản này. Và thị trường chứng khoán vẫn nghi ngại, tỏ ra chưa tin tưởng cơ hội phục hồi sẽ tới sớm, khi chỉ số Dow Jones tụt gần 300 điểm.

Ông Obama sẽ phải tiếp tục chinh phục các đại biểu Quốc Hội để có thêm tiền chi vào việc kích thích kinh tế nhiều hơn số tiền trong đạo luật mới này. Số tiền 300 tỷ cho hệ thống ngân hàng có thể sẽ được xin thêm. Một chương trình ngưng làn sóng siết nhà vì thiếu nợ mà ông Obama sắp công bố cũng cần thêm 50 tỷ đô la nữa. Còn các nhà sản xuất xe hơi đang cầu cứu, cần giúp thêm bao nhiêu? Nếu dân Mỹ không mua nhà, không mua xe thì kinh tế không thể nào hồi phục được. Riêng ba khu vực đó, ngân hàng, nhà cửa và xe cộ cần được “kích thích” riêng, và người nào ngồi trong Tòa Bạch Ốc cũng không thể ngồi yên chờ cho món tiền 787 tỷ đô la tự nó làm việc kích thích.

Cho nên trong thời một năm tới, chúng ta sẽ chứng kiến cảnh hai đảng chính trị ở Mỹ hồi hộp chờ đợi kết quả của chương trình kích thích kinh tế, trong khi suy nghĩ về các đề tài tranh cử năm 2010 và 2012!

Nhưng liệu món tiền 787 tỷ đó có khả năng kích thích những cái gì?

Như đã trình bày trong mục này, có những món chi tiêu sẽ kích thích thật, tức là một đô la chi ra có thể giúp tạo thêm công việc khác, khiến cho Tổng Sản Lượng Nội Ðịa tăng lên hơn một đô la. Thí dụ, khi chính phủ tăng tiền trợ cấp cho người nghèo thì gần như chắc chắn là người đó sẽ đem tiền ra tiêu ngay, đồng tiền được luân chuyển trong nền kinh tế sẽ sinh ra những lợi tức cho người khác, GDP sẽ tăng một đô la rồi lại thêm khoảng ba phần tư của một đô la nữa. Những đồng tiền này khi được phân phát sẽ thúc đẩy thêm những hoạt động kinh tế khác trong vòng 6 tháng. Ngược lại, khi bớt thuế một đô la cho những người trung lưu khá giả thì nhiều người sẽ để dành, hoặc trả nợ chứ không chi tiêu. Hậu quả là GDP chỉ tăng thêm được một xu mà thôi.

Năm ngoái, Tổng Thống George W. Bush đã thi hành một kế hoạch kích thích kinh tế bằng phương pháp bớt thuế. Vào đầu Mùa Xuân năm ngoái chính phủ Mỹ đã gửi trả cho những người thọ thuế những ngân phiếu 300 đô la hoặc 1,200 đô la. Nay người ta được biết là dân chúng nhận được tiền rồi chỉ dùng một phần ba để chi tiêu thôi, còn lại họ để dành hoặc trả nợ (trả nợ cũng là một cách để dành, theo con mắt kinh tế học). Kết quả là vào Tháng Năm năm 2008, khi người ta nhận được tấm ngân phiếu, tỷ lệ tiết kiệm của dân Mỹ đã tăng lên thành gần 5%, mà vào Tháng Tư thì tỷ lệ đó là số không, zero! Cả kế hoạch kích thích 152 tỷ đô la coi như vô hiệu vì dân không chịu tiêu tiền! Một lý do khác khiến dân không chi thêm là vì giá xăng lúc đó vọt lên trên 4 đô la một ga lông, bao nhiêu tiền kích thích được chuyển cho các hãng xăng và các nước Trung Ðông sản xuất dầu lửa!

Nhiều người lo rằng hành động giảm thuế của kế hoạch Obama lần này cũng sẽ vô hiệu giống như năm ngoái, mặc dù tổng số lớn gấp đôi. Gần 70 tỷ giảm thuế AMT cho giới trung lưu khá giả chắc sẽ được để dành chứ không đem chi tiêu. Giảm thuế cho người mua nhà thì những người này chắc cũng không đem chi tiêu ngay, khoản này tốn 6.6 tỷ đô la!

Chỉ có khoản 116 tỷ đô la bớt thuế cho người nghèo và trung lưu, trừ ngay vào thuế công việc (payroll tax) là có vẻ sẽ được đem chi tiêu ngay, vì những người soạn luật cố ý “kích thích” người thọ thuế. Theo kế hoạch, những người lợi tức dưới 75,000 đô la một năm mỗi người sẽ được bớt 400 đô la trong khoản thuế vẫn đóng vào quỹ hưu bổng, hai vợ chồng khai thuế chung được bớt 800 nếu kiếm dưới 150,000 đô la. Những người lợi tức trên 75,000 sẽ được bớt ít hơn, cứ thêm một ngàn thì bị ít đi 20 đô la. Thí dụ người có lợi tức 80,000 sẽ bị bớt 100, chỉ được giảm thuế 300 thôi; người lương 95,000 trở lên sẽ không được bớt đồng nào cả. Ðây là một khoản bớt thuế nhắm vào người nghèo và lớp trung lưu lợi tức thấp. Có 95% dân đóng thuế ở Mỹ thuộc loại lợi tức dưới 75,000 đô la một năm. Từ trước tới nay đảng Dân Chủ vẫn ủng hộ phương pháp giảm thuế này nhưng chưa có dịp thi thố, nay họ được thỏa mãn, cho nên có nhiều triển vọng là sau 2 năm điều khoản này sẽ được giữ lại luôn.

Thời hạn 2 năm là một cách “kích thích” người tiêu thụ. Vì số tiền 400 đô la giảm thuế được hưởng mỗi năm sẽ không được trả thành một món cho người thọ thuế, mà đem chia cho từng kỳ trả lương. Mỗi tuần được bớt gần 8 đô la, những người lương dưới 75 ngàn sẽ thấy ngay số tiền ghi trên ngân phiếu lãnh lương của mình tăng thêm được 8 đô la! Người ta sẽ có cảm tưởng là được tăng lương! (Trong năm 2009, số tiền mỗi tuần sẽ cao hơn chút đỉnh, vì khi luật này được thi hành thì thời gian được hưởng ngắn hơn 52 tuần lễ).

Nếu như cuối năm nhận được ngân phiếu 400 đô la thì có thể người ta sẽ tiết kiệm hoặc đem trả nợ. Nhưng khi được “tăng lương” thêm 8 đô la một tuần thì đa số đem chi tiêu ngay. Ðó là mưu mẹo của những người viết luật để chính phủ bỏ tiền ra là có thể kích thích kinh tế thật! Chỉ có một điều đáng ngại là dân Mỹ đã đổi tính! Trước đây họ chỉ lo tiêu thụ, ngày nay họ lại tập tánh tiết kiệm không khác gì người Việt mình! Tháng Mười Hai năm 2007 tỷ lệ tiết kiệm của dân Mỹ là 0.4%, chưa được nửa phần trăm, Tháng Mười Hai năm 2008 vừa rồi, tỷ lệ tiết kiệm của người Mỹ đã tăng lên thành 3.6%, tăng gấp 9 lần! Nếu họ cứ tiết kiệm thì kết quả của kế hoạch kích thích sẽ chậm lại!

Nhưng có những lý do khác khiến kế hoạch kích thích phải chờ lâu mới đem thi hành được. Giản dị nhất, là đưa tiền cho guồng máy chính phủ tiêu, mà họ không đủ sức đem chi ngay!

Thí dụ, có khoảng 40 tỷ đô la sẽ được trao cho Bộ Năng Lượng (Department of Energy). Ông bộ trưởng mới nhậm chức là một nhà khoa học, ông Steven Chu đã được giải Nobel về Vật Lý học, nhưng ông chưa bao giờ chi một món tiền lớn như vậy! Cả bộ của ông xưa nay có ngân sách 25 tỷ, đã là nhiều lắm rồi. Bây giờ phải chi thêm 40 tỷ, quả là một gánh nặng! Vì thứ nhất là thiếu người. Và khi chi tiền sẽ phải theo những tiêu chuẩn, thủ tục có sẵn, chứ không phải muốn chi thế nào cũng được.

Bộ Năng Lượng đang có ngân sách 140 triệu Mỹ kim để cải thiện mạng lưới phân phối điện. Nay họ sẽ có thêm 11 tỷ đô la nữa! Xưa nay chính phủ vẫn giúp các gia đình nghèo sửa chữa để giảm tiền sưởi, nhưng ngân sách chỉ có 250 triệu; bây giờ sẽ thành 5 tỷ đô la! Việc nghiên cứu năng lượng mới trước là 311 triệu, nay tăng gần gấp mười. Nhiều món tiền này được dùng để bảo đảm nợ cho các công ty nghiên cứu năng lượng để thay thế dầu lửa. Việc xem xét tiêu chuẩn coi các dự án nghiên cứu đó có đúng khoa học hay không, có khả thi hay không, có ít tốn kém hay không, không thể vì muốn “kích thích” thì làm cho nhanh được! Làm sai không những không kích thích được kinh tế mà còn phạm tội đối với người đóng thuế!

Bộ Thương Mại Mỹ cũng sẽ bị tràn ngập vì phải tiêu nhiều tiền quá! Chương trình đem Internet tới các vùng nông thôn sẽ chi 7 tỷ đô la, do bộ này phụ trách. Công việc thuộc thẩm quyền một sở trước tới giờ chỉ chi tiêu 19 triệu đô la, với 20 nhân viên duyệt xét các dự án trước khi cấp tiền. Nếu giữ nguyên số người này thì phải mất 8 năm mới chi hết món tiền mới!

Cuối cùng, cả kế hoạch kích thích 787 tỷ không phải là một cây đũa thần, sẽ tác động thay đổi ngay trên nền kinh tế Mỹ. Từ đây tới cuối năm, công việc của ông Obama là làm sao xin được thêm tiền để kích thích hệ thống ngân hàng cho nó chạy bình thường trở lại. Và ông sẽ phải đi giải thích khắp nước cho dân Mỹ nghe là phải kiên nhẫn, phải chờ đợi. Ông sẽ làm sao cho mọi người không trông đợi nhiều quá. Năm 1981, cố Tổng Thống Ronald Reagan đã lâm vào hoàn cảnh tương tự. Ông ký một kế hoạch kinh tế, với một khoản cắt thuế lớn kỷ lục vào lúc đó, rồi chờ đợi suốt hai năm mới thấy kinh tế phục hồi. Trong khi chờ đợi thì đảng Cộng Hòa của ông đã bị mất 26 ghế dân biểu Hạ Viện. Vẫn kiên nhẫn, ông Reagan kêu gọi đảng ông và dân Mỹ hãy chờ đợi. Ông Reagan có tài là lúc nào cũng lạc quan, và làm cho người chung quanh lạc quan tin tưởng. Khi dân chúng tin tưởng ở tương lai thì họ sẽ tiêu tiền, và kinh tế hồi phục sớm. Cuối cùng thì mọi người công nhận ông Reagan đã thành công. Liệu ông Obama có đủ kiên nhẫn và có khả năng thuyết phục như thế hay không?

Cuối cùng, dân chúng Mỹ sẽ là những vị thẩm phán xét xử trong cuộc bầu cử Quốc Hội năm 2010, và cuộc bầu cử tổng thống năm 2012. Lúc đó chúng ta sẽ biết ai thắng trong cuộc đánh cá lớn này.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Ngoại trưởng Mỹ thăm Indonesia với hai mục đích
Tác giả: Trần Thu

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton chiều qua đến Indonesia trong nỗ lực cải thiện hình ảnh của nước Mỹ đối với thế giới Hồi giáo,
cũng như truyền tải thông điệp: Mỹ dưới thời tân nội các không lãng quên Đông Nam Á.


Là nước có số tín đồ Hồi giáo đông nhất thế giới,
Indonesia nổi lên như một điểm nhấn quan trọng trong nỗ lực cải thiện quan hệ với thế giới Hồi giáo của chính quyền Obama.
Ngoài ra, bà Clinton sẽ không quên cảm ơn Chính phủ Indonesia về nỗ lực chống khủng bố thời gian qua,
cụ thể là việc bắt giữ những phần tử khủng bố Hồi giáo cực đoan đánh bom Bali năm 2002.

Image
Ngoại trưởng Mỹ Clinton đến Indonesia. Nguồn: Jakarta Post.



Tại Jakarta, bà Clinton dự định thông báo về kế hoạch tăng cường quan hệ giữa Mỹ và Đông Nam Á để nhấn mạnh tầm quan trọng của một khu vực trước đây thường có cảm giác bị chính quyền Tổng thống Bush coi nhẹ. Trong chuyến thăm hai ngày này, bà Clinton cũng bày tỏ ý định của Mỹ muốn ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác của ASEAN và sẽ cam kết tham dự hội nghị ngoại trưởng ASEAN năm 2009 diễn ra tại Thái Lan.

Bà Clinton đã gặp người đồng cấp Hassan Wirajuda và thăm Ban thư ký ASEAN. Dự kiến bà gặp Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono vào hôm nay. Phát triển, tình trạng biến đổi khí hậu, tranh cãi về chương trình hạt nhân của Iran và chiến tranh ở Afghanistan là những ưu tiên trong nghị trình của bà Clinton tại các cuộc gặp kể trên. Bà Clinton đến Jakarta sau khi thăm Nhật Bản trong chuyến công du bốn nước Đông Á. Dự kiến, sau đó, bà sẽ đi thăm Hàn Quốc và Trung Quốc.

Trần Thu (Jakarta Post, Reuters, Washington Post)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

2009: GDP Mỹ giảm 1.3% thất nghiệp gần 9%
Washington - Tổng Sản Lượng Nội Ðịa Hoa Kỳ sẽ giảm bớt 1.3% trong năm 2009, theo ước tính của Ngân Hàng Trung Ương Mỹ. Trong ngày Thứ Tư, biên bản cuộc họp ba tuần trước của Hội Ðồng Tiền Tệ của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang (Fed) đã được công bố, cho thấy các người lãnh đạo chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương rất bi quan về tình hình kinh tế năm 2009.

Theo tiên đoán của hội đồng này thì năm nay Tổng Sản Lượng Nội Ðịa của nước Mỹ sẽ giảm với tỷ lệ 1.3%, tức là kinh tế Mỹ sẽ co rút lại mất gần 200 tỷ Mỹ kim. Trước đó 4 tháng giới lãnh đạo này còn tiên đoán GDP của nước Mỹ có thể chỉ giảm 0.4% hoặc có thể tăng tới 1.3% trong năm 2009. Các nước khác trong khối G-7 cũng rất bi quan. Trong quý thứ tư năm 2008, GDP của Ðức đã giảm 2.1% so với quý ba, trong khi các nước Ý và Pháp cũng giảm, lần lượt 1.8% và 1.2%. Kinh tế Nhật Bản đang sa sút mạnh nhất, quý thứ tư năm ngoái GDP đã giảm 3.3% so với quý trước.

Thị trường nhân dụng là phần đen tối nhất trong những lời tiên đoán, vì khi kinh tế xuống các xí nghiệp bắt đầu sa thải nhân viên ào ạt; mà khi kinh tế lên thì người ta vẫn dè dặt không dám tuyển nhân viên mới.

Ngân Hàng Trung Ương Mỹ tiên đoán tỷ lệ thất nghiệp trong toàn quốc sẽ tăng từ 7.6% vào Tháng Giêng năm 2009 lên tới 8,8% cho cả năm. Sang năm 2010 tỷ lệ thất nghiệp có thể sẽ xuống nhưng vẫn còn cao, khoảng 8.3%; phải chờ tới năm 2011 thì mới hy vọng xuống trở lại mức 7.5%. Trong gần 10 năm trước đây tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ thường dưới 6%.

Cũng theo ý kiến của giới lãnh đạo Ngân Hàng Trung Ương thì kế hoạch kích thích kinh tế của Tổng Thống Obama cũng như kế hoạch 700 tỷ đô la giải cứu hệ thống ngân hàng sẽ giúp phục hồi kinh tế tuy nhiên chưa thể tiên đoán được kết quả rõ ràng.

Hiện Ngân Hàng Trung Ương Mỹ cũng có kế hoạch giúp phục hồi hoạt động của hệ thống ngân hàng, sau cơn khủng hoảng tín dụng, để giúp các ngân hàng có tiền mặt sử dụng trong khi có nhiều món nợ bị đọng không bán được. Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đã cho nhiều công ty tài chánh, bảo hiểm và các ngân hàng vay tiền. Dưới kế hoạch mang tên TALF, Ngân Hàng Trung Ương cho vay cả khi những món nợ chỉ được bảo đảm bằng khoản nợ của các ngân hàng thương mại dành cho sinh viên vay, cho vay mua xe hơi, hoặc khi dùng thẻ tín dụng; đó là những thứ nợ mà trước đây Ngân Hàng Trung Ương Mỹ không bao giờ chấp nhận dùng làm bảo đảm. Gần đây đã tăng các món nợ TALF này từ 200 tỷ đô la lên tới một ngàn tỷ đô la, nâng tổng số nợ mà Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đang cho vay lên 2 ngàn tỷ đô la. Theo ông chủ tịch Fed, Ben Bernanke thì những món nợ này sẽ không lo bị mất, do đó không tổn hại cho công quỹ của người dân Mỹ đã đóng thuế.

TALF là viết tắt tên gọi Term Asset Backed Securities Loan Facility; Chương Trình Cho Vay Các Chứng Khoán Bảo Ðảm Bằng Các Món Nợ Có Hạn Kỳ.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Cải thiện hệ thống tài chánh và ngân hàng
Friday, February 20, 2009

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc bị hỏi hai lần rằng chính phủ Obama có ý quốc hữu hóa mấy ngân hàng đang nguy nan hay không. Ông Robert Gibbs nói, “Chính phủ này tin tưởng mạnh mẽ vào hệ thống ngân hàng tư,” nhưng có phóng viên còn hỏi lại, muốn ông nói chắc chắn chính phủ không quốc hữu hóa ngân hàng nào cả.

Người ta đặt câu hỏi đó vì có tin đồn khiến cổ phần của hai ngân hàng lớn hạng nhất là Citigroup và Bank of America đang xuống liên tiếp mặc dù đã được chính phủ trợ cấp. Năm ngoái, hai công ty tài chánh lớn, Fannie và Freddie, đóng vai giống như ngân hàng chuyên tài trợ địa ốc (nhưng không được cho công chúng mở trương mục), đã được chính phủ George W. Bush cứu giúp và chính quyền quản lý để tiếp tục hoạt động, cũng gần như được quốc hữu hóa. Nhưng cho đến nay, chỉ có một số ngân hàng nhỏ bị phá sản phải đặt dưới sự quản trị của chính phủ để bảo vệ những người gửi tiền mà thôi.

Ai cũng biết cơn khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay bắt đầu từ cơn sa sút của hệ thống tài chánh và ngân hàng ở Mỹ. Các công ty đầu tư và các ngân hàng đã cho vay mua nhà mà không cứu xét kỹ khả năng trả nợ của người vay. Họ đã phát hành các trái khoán (tức là giấy vay nợ) dùng các món nợ mua nhà làm bảo đảm, gọi là “chứng khoán hóa” các món nợ. Những trái khoán này được đem bán cho các nhà đầu tư khắp thế giới, trong đó có những ngân hàng khác. Công việc này sinh lợi rất dễ dàng cho nên bao nhiêu ngân hàng nhẩy vào, nhất là khi nước Mỹ thừa tiền do người ngoại quốc, nhất là các chính phủ Nhật Bản, Trung Quốc, dư tiền đem vào cho vay.

Nhưng khi một số người vay nợ mua nhà không trả được nợ vì lãi suất tăng hoặc vì lợi tức xuống, các trái khoán dựa trên nợ địa ốc bị sụt giá, rồi không ai mua nữa. Giá nhà xuống khiến càng nhiều chủ nhà bị kẹt. Vì thị trường không biết số phận trái khoán nào sẽ bị ảnh hưởng do tình trạng nhiều người vay sắp bị phá sản, cho nên hầu hết các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư ở Mỹ bị kẹt với hàng chục, hàng trăm tỷ đô la trái khoán không bán được. Họ thiếu tiền, ngưng cho vay, kéo nhau vào một cơn khủng hoảng tín dụng. Các xí nghiệp và người tiêu thụ bị lôi cuốn theo, biến thành một cơn suy thoái kinh tế nặng nề. Có những ngân hàng dè dặt ngay từ đầu, không dính tới những thứ nợ địa ốc khả nghi, cho nên không lâm nạn, nhưng đó là số nhỏ.

Ngày Thứ Năm vừa qua, Tổng Thống Barack Obama đã sang thăm chính thức nước Canada; cuộc công du đầu tiên của một vị tổng thống Mỹ thường là sang nước láng giềng phía Bắc này, trừ Tổng Thống Bush khi ông chọn Mexico. Trước khi qua Canada, được đài CBC nước này phỏng vấn, ông Obama đã khen ngợi hệ thống ngân hàng nước này, vì các ngân hàng Canada không ai phải nhờ chính phủ cứu trợ, mà vẫn sinh lời. Trong năm 2008 năm ngân hàng lớn nhất nước Canada đã kiếm được 8.2 tỷ Mỹ kim tiền lời, trong khi năm ngân hàng lớn nhất nước Mỹ bị lỗ chung nhau 8.3 tỷ đô la. Trong cơn suy thoái của thị trường chứng khoán thế giới, giá cổ phần các ngân hàng Canada cũng bị giảm từ 35% đến 46%, nhưng không tụt mạnh như Citigroup bị mất 90% giá trị. Trong năm qua các ngân hàng Canada đã trả cổ tức, là tiền lời chia cho các cổ đông, tới tỷ lệ 7% giá cổ phần, cứ lời 100 đồng thì họ chia 76 đồng cho các chủ nhân.

Năm ngoái tổ chức World Economic Forum đã phỏng vấn các nhà kinh doanh quốc tế, họ xếp hệ thống ngân hàng Canada vào bậc cao nhất trong số 134 quốc gia, trước các nước Thụy Ðiển, Luxembourg, Úc Châu, và Ðan Mạch. Hệ thống ngân hàng Mỹ đứng vào hạng 40, sau Ðức Quốc. Algeria đứng hạng 134.

Khi kinh tế Mỹ xuống, kinh tế Canada thế nào cũng xuống, vì 70% ngoại thương của nước này là trao đổi với Mỹ. Nhưng hiện nay tình trạng tài chánh của Canada vẫn vững hơn Mỹ, vì trong các năm trước ngân hàng không cho vay mua nhà một cách liều lĩnh, cho nên không rơi vào tai họa như các ngân hàng bên Mỹ. Số nhà bị sai áp hiện không tăng nhanh như ở Mỹ; số nợ của người tiêu thụ ở một tỷ lệ thấp hơn so với lợi tức; chưa có một ngân hàng hay công ty đầu tư lớn nào sụp như CountryWide hay Washington Mutual hoặc Lehman.

Yếu tố nào đã giúp cho nước láng giềng phía Bắc có một hệ thống ngân hàng vững chãi như vậy?

Ðầu tiên là giới kinh doanh và tài chánh bên đó bảo thủ hơn bên Mỹ. Bảo thủ, cho nên họ rất dè dặt, không mấy ai có thể vay nợ mua nhà tới mức trên 75% giá trị cái nhà, dù ngân hàng đã cứu xét kỹ khả năng trả nợ của người vay. Tinh thần bảo thủ đó bắt nguồn từ nền văn hóa bảo thủ, khiến cho người ta tránh rủi ro. Luật lệ ở Canada buộc các ngân hàng phải giữ 7% tài sản làm dự trữ, nhưng các ngân hàng ở đó rất bảo thủ, thường giữ tới 10%, cao hơn các ngân hàng bên Mỹ. Hậu quả xấu của lối làm ăn bảo thủ này là giảm bớt sáng kiến, phát minh, khiến cho kinh tế phát triển chậm hơn. Các xí nghiệp và ngân hàng không thể phát triển nhanh, như kiểu Enron hay Countrywide. Ngược lại, tính dè dặt giúp cho các xí nghiệp và ngân hàng đỡ bị suy sụp vì liều lĩnh quá đáng, như hai công ty Mỹ kể trên.

Nhưng một hệ thống ngân hàng và sinh hoạt kinh doanh không thể chỉ trông cậy vào tính dè dặt của những người tham dự trong đó để tránh những tai họa vì gặp rủi ro. Một hệ thống tài chánh hoạt động tùy theo khung cảnh luật lệ chi phối nó, chứ không thể hoàn toàn dựa trên tính hạnh của những người tham dự. Không quốc gia nào có thể đặt vận mạng cả nền kinh tế, hoặc cả hệ thống ngân hàng trên những lời kêu gọi lương tâm, đạo đức và trách nhiệm của các nhà quản trị. Những người bước vào kinh doanh đều nhắm mục đích kiếm lợi, hành động và phương pháp quản lý của họ bị chi phối bởi các luật lệ và thủ tục, do Quốc Hội và chính phủ quy định.

Luật lệ ngân hàng ở Canada khác ở Mỹ. Gần đây, tuần báo Time đã nêu tên 25 người chịu trách nhiệm về cơn khủng hoảng kinh tế hiện nay. Ðứng hàng thứ hai là cựu Nghị Sĩ Phil Gramm, tiểu bang Texas, đứng hàng thứ 13 là Tổng Thống Bill Clinton. Nghị Sĩ Phil Gramm đã cổ động cho việc giảm bớt các luật lệ về ngân hàng và tài chánh, ông là một trong những người đã đề xướng việc bãi bỏ các ràng buộc của đạo luật Glass-Steagall tách các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư; và cởi trói cho nhiều loại đề ri va ti không bị kiểm soát, trong đó có các hợp đồng bảo hiểm trái khoán, thứ chứng khoán đã đưa công ty bảo hiểm AIG lớn nhất thế giới rơi vào cảnh khánh kiệt. Và Tổng Thống Clinton đã ký các đạo luật đó. Ngày hôm qua ông Gramm đã viết một bài tự bào chữa trên nhật báo Wall Street.

Nhưng ở Canada, các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư vẫn nằm chung trong cùng một cơ sở, mà hệ thống tài chánh không gặp nạn như ở Mỹ. Tại Canada, cả hai loại hoạt động này đều được kiểm soát bởi cùng một thứ luật lệ, trong khi các hoạt động của những ngân hàng đầu tư ở Mỹ không cần được ngân hàng trung ương kiểm soát. Năm ngân hàng đầu tư lớn nhất ở Mỹ năm ngoái đã biến mất sau khi xin sáp nhập hoặc tự biến thành các ngân hàng thương mại. Tại Canada, luật lệ liên bang về ngân hàng được thay đổi mỗi 8 năm hoặc 12 năm, và các ngân hàng đều có quy chế toàn quốc. Trong khi đó, các ngân hàng ở Mỹ do các tiểu bang kiểm soát và việc làm luật cũng được tản quyền cho các tiểu bang.

Một trong những điều gây tai nạn cho hệ thống tài chánh Mỹ là những sáng kiến như chứng khoán hóa các món nợ ngân hàng, và những đê ri va ti, tức là những hợp đồng dựa trên các chứng khoán khác. Những “khí cụ tài chánh” mới này rất hữu ích. Chúng giúp cho tiền tệ được lưu hành rộng rãi, dễ dàng hơn; và giúp phân tản rủi ro của các vụ đầu tư cho nhiều người cùng chịu. Do đó mối rủi ro của mỗi người sẽ thấp hơn, khuyến khích mọi người đầu tư thêm để kinh tế phát triển. Ðó là những sáng kiến, phát minh rất có giá trị. Thí dụ, khi một người đi vay để mua nhà mà lo trong tương lai sẽ có lúc không có tiền trả nợ, thì có người sẵn sàng bán bảo hiểm. Cứ đóng tiền hàng tháng cho hãng bảo hiểm, nếu mình gặp rủi ro mất việc và hết tiền, họ sẽ lo trả nợ thay mình. Nhiều thứ đề ri va ti có vai trò tương tự như thế, đã sinh sôi nẩy nở rất nhanh trong vài thập niên qua.

Tuy nhiên, một điều mà hệ thống luật lệ ở Mỹ đã thiếu sót trong những năm qua là không đặt các phát minh mới đó vào trong vòng kỷ luật. Vì người ta tin tưởng là các người đầu tư bao giờ cũng biết tự kềm chế để tránh rủi ro cho chính họ. Gần đây chính ông Alan Greenspan, cựu chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đã thú nhận rằng trước đây ông cứ tưởng các nhà quản trị ngân hàng thế nào cũng lo giữ tiền cho ngân hàng của họ! Vì tin như vậy cho nên không thấy cần làm thêm luật lệ để kiểm soát.

Nhưng chúng ta phải biết rằng ngay việc thành lập các ngân hàng thương mại, lập ra các công ty cổ phần, cũng là những sáng kiến đã được phát minh từ nhiều thế kỷ trước. Nhờ các phát minh đó mà tài nguyên được tích lũy và được sử dụng hữu hiệu hơn. Nhưng ai cũng biết rằng các ngân hàng thương mại và việc mua bán, phát hành các cổ phần đã được kiểm soát rất chặt chẽ để bảo vệ công chúng. Vì công chúng gồm đa số những người thiếu tin tức và ít hiểu biết so với các chủ ngân hàng và các người môi giới chứng khoán, cho nên phải bảo vệ họ. Ðặt ra luật lệ là bảo vệ cho người dân thường không bị đánh lừa.

Các loại đê ri va ti cũng như các quỹ đầu tư đối trọng (hedge fund) gần đây ra đời không bị kiểm soát, cũng vì các nhà chính trị nghĩ rằng những người tham dự trong đó đều là những người nhiều tiền nhất, khôn ngoan nhất, chứ không phải những người dân bình thường. Chính họ sẽ chịu trách nhiệm về hành động của họ, được thì ăn, thua thì chịu, mặc họ tự lo lấy, nhà nước không cần dính vô.

Nhưng đến nay thì ai cũng thấy giả thiết đó là nhầm. Vì khi những nhà đầu tư, những vị quản đốc ngân hàng quyết định sai, không những họ mất tiền mà cả nước bị họa lây. Không những thế, chính phủ phải lấy tiền do dân đóng thuế để cứu các nhà tư bản này.

Cho nên ai cũng đồng ý là nước Mỹ cần sét lại cả hệ thống luật lệ chi phối những hoạt động tài chánh. Ông Lloyd Blanfein, tổng quản đốc ngân hàng đầu tư Goldman Sachs gần đây đã nêu 7 điều mà dân Mỹ cần nghiên cứu để thay đổi trong hệ thống tài chánh. Ðiều thứ 6 trong đó nói rằng người Mỹ đã sáng tạo ra những khí cụ tài chánh mới khiến hệ thống càng ngày càng phức tạp hơn, mà khả năng quản trị và kiểm soát hệ thống không theo kịp. Hệ thống không được trang bị đầy đủ để đối phó với tính chất phức tạp lên cao đó, cho nên mối rủi ro tăng lên rất mạnh. Ông không ngần ngại đề nghị phải tăng thêm luật lệ và uy quyền của những cơ quan kiểm soát trong công việc cải thiện hệ thống tài chánh của nước Mỹ.

Nước Mỹ đang đứng ở một khúc quanh trong việc tổ chức và quản trị hệ thống tài chánh. Ông Paul Volcker, cựu chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang dưới thời các tổng thống Carter và Reagan, hiện là cố vấn của Tổng Thống Obama về việc cải tổ hệ thống tài chánh và ngân hàng. Tuần trước ông nói với nhật báo Financial Times rằng “Những điều tôi đề nghị coi có vẻ rất giống hệ thống bên Canada.” Dù sao, người Mỹ cũng không có tính bảo thủ, dè dặt như người Canada. Nhưng cái tính người không quan trọng. Ðiều quan trọng là người ta hoạt động trong khung cảnh pháp lý như thế nào.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Thời sự kinh tế: Những người già đi xin việc

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua, trước khi Tổng Thống Barack Obama trình bày trước Quốc Hội về chính sách kinh tế của ông, Chủ Tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang Ben Bernanke đã tuyên bố tại Thượng Viện rằng cuối năm nay kinh tế Mỹ có hy vọng hồi phục. Ðó là một tin mừng cho tất cả những người đang mất việc, nhưng không biết đối với những người trên 75 tuổi và đang đi tìm việc thì liệu họ có hy vọng gì không?

Nghĩ đến những người lớn tuổi (nếu tránh không gọi họ là những người già) đang thất nghiệp này, vì chúng tôi mới đọc một bài báo viết về họ. Nhật báo Wall Street cho biết một thống kê trong Tháng Giêng năm nay, số người lao động trên 75 tuổi ở trong tình trạng thất nghiệp ở Mỹ đang lên tới 73,000 người - tăng gần gấp rưỡi so với một năm trước. Con số 73 ngàn tuy nhỏ nhưng vẫn khiến chúng ta suy nghĩ, vì tuổi trên 75 của họ. Chúng ta biết rằng chỉ những người đã mất việc và đang đi tìm việc làm mới được đếm để liệt kê trong các số thống kê thất nghiệp. Những người không đi xin việc hoặc đã chán nên ngưng đi xin việc thì không được kể trong số người lao động thất nghiệp, lớp người thứ hai đó là những người đã “bỏ cuộc” và ra khỏi thị trường nhân dụng. Khi đọc thống kê về thất nghiệp ở mỗi quốc gia chúng ta không nên quên họ định nghĩa chữ thất nghiệp khác nhau, và họ tính toán cũng khác nhau. Nhất là khi so sánh các con số tỷ lệ thất nghiệp giữa các nước, càng nên thận trọng.

Tờ nhật báo Wall Street, được coi là tiếng nói của thị trường chứng khoán New York, không phải chỉ quan tâm đến giá các cổ phần lên xuống mà còn trình bày cả những bộ mặt khác của xã hội. Một phóng viên đã đi tìm hiểu, lắng nghe và kể lại chuyện nhiều người trong số các “cụ thất nghiệp” này, phải khâm phục công truy tầm thông tin để phục vụ độc giả của họ. Người Việt sống ở Mỹ sẽ hiểu biết thêm về xã hội chung quanh sau khi biết những “chuyện lạ” này.

Bà Mary Appleby năm nay 76 tuổi, đã làm công việc nấu bếp, chạy bàn và lau chùi ở một quán ăn nhỏ trong tòa án tại thị xã Akron, tiểu bang Ohio; gần đây chân bà yếu quá đi đứng phải chống gậy nên được giao việc giữ két thâu tiền. Bà được trả lương tối thiểu, số tiền đó phụ thêm vào số hưu liễm 723 đô la một tháng, đủ để chi tiêu. Cách đây 5 năm bà Appleby mới phá ngôi nhà bà ở từ thời thơ ấu, và cả đời không bao giờ lập gia đình; thay vào đó bà xây một căn nhà nhỏ mới. Nhưng bà mới mất việc làm từ cuối năm ngoái, vì quán ăn lỗ. Các thực khách quen thuộc làm trong khu tòa án, bây giờ họ thường đem thức ăn đi ăn trưa cũng vì thời buổi khó khăn. Bây giờ bà không đủ tiền trả nợ địa ốc! Một tổ hợp luật sư vẫn đến tòa án làm việc đã chung góp tiền giúp bà trả tiền sưởi và tiền nợ xây nhà cho qua Mùa Ðông này. Nhưng sau đây không biết bà sẽ tính sao. Bà quyết định đi mổ đầu gối để đi lại dễ dàng hơn, hy vọng sẽ kiếm được việc làm, dù việc làm trả lương tối thiểu.

Bà Mary Bennett đã làm việc từ năm 17 tuổi cho đến năm nay được 80 tuổi. Cả đời bà chỉ nghỉ việc bẩy lần khi sanh con và một lần khi phải mổ ghép mạch máu (bypass surgery) vào năm 1995. Bà đã từng làm hai công việc song song sau khi ly dị, ban ngày thì làm ở xưởng ráp máy pha cà phê, buổi tối thì làm ở trạm đậu xe vận tải hoặc ở quán rượu. Khi một trong hai công việc bị mất, bà viết bảng “Tìm Việc Làm” dán ngay trên cửa sổ nhà mình. Khi tới tuổi 75 bà đã nghĩ đến việc về hưu, bỏ không làm ở trạm xe vận tải, nhưng thấy rằng nếu nghỉ việc thì thiếu tiền. Bà đã xin vào làm “thợ máy” (machinist) mặc dù cả đời chưa bao giờ làm nghề này. Bà được nhận, vào làm ở cơ xưởng nhưng chỉ làm những bộ phận máy nhỏ, được trả lương 9 đô la một giờ. Tháng Ba năm ngoái bà Bennett bị sa thải. Bà đi xin việc làm ở quán ăn, các cửa tiệm, và xin đi lau chùi nhà cửa trong một thương xá, nhưng không thấy ai trả lời. Năm ngoái bà Bennett đi làm đơn lãnh bảo hiểm thất nghiệp. Và đây là lần đầu tiên trong đời bà xin lãnh trợ cấp thất nghiệp, sau cả một đời đóng góp vào quỹ đó! Tuy nhiên bà vẫn đi kiếm việc, Tháng Giêng năm nay bà đã được một bệnh viện nhận vào làm trong quán ăn, trả 7.15 đô la một giờ, mỗi tuần 20 giờ. Con lớn của bà bây giờ đã về hưu, vẫn khuyên mẹ đừng đi làm nữa. Nhưng bà không thể ngưng, vì không đủ tiền sống. “Nuôi một đời bẩy đứa con, làm sao có thể để dành tiền về hưu được?”

Ông Fred Dase năm nay 81 tuổi đã làm việc suốt 40 năm với nghề pha rượu ở các quán ăn trong thành phố Pittsburg, Pennsylvania. Năm ngoái ông vẫn còn làm việc trong câu lạc bộ các cựu chiến binh Mỹ đã chiến đấu ở hải ngoại. Nhưng ông nghỉ việc từ Tháng Tám vì chân mỏi khi phải đứng lâu quá. Ông đang đi tìm việc ở các cửa hàng, nhưng rất ít hy vọng. Ông cũng biết: “Ai họ đi mướn một ông già 81?” Hai vợ chồng ông mỗi tháng được 1,625 đô la tiền hưu bổng xã hội, Social Security. Nhưng hiện nay ông đang phải trả mỗi tháng 363 đô la tiền nợ trả góp cho ngân hàng. Vì năm ngoái ông thấy món tiền nợ vì dùng thẻ tín dụng (credit card) leo lên tới 29,000 đô la, ông đã cầm thế nhà để vay 26,000 trả bớt. Hiện nay ông vẫn còn nợ 5,000 đô la vì dùng thẻ tín dụng. Ông Dase hiện đang đi tìm việc, trong khi ghi tên vào những lớp huấn nghệ cho người già. Ông làm việc nhẹ, được trả lương 7.15 đô la một giờ, mỗi tuần 20 giờ, trong khi chờ đợi việc chính thức. Nhưng cứ đến cuối tháng là hết cả tiền mua thức ăn, phải nhờ con gái giúp đỡ.

Trong năm 2008 những tiểu bang Rhode Island có tỷ lệ những người trên 65 tuổi thất nghiệp cao nhất, 7.7 và 7,6%; California đứng hạng cao, 5.5%, trong khi số trung bình toàn quốc là 4.2% mà tới đầu năm 2009 đã lên 5.7%, thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp chung ở Mỹ là 7.6%. So sánh hai tỷ số đó, chúng ta có cảm tưởng người “già” không bị thất nghiệp nhiều như người trẻ. Nhưng thực ra tỷ số thấp hơn có thể chỉ vì đại đa số những người trên 65 tuổi mà bị mất việc thì biết thân tự nguyện ra khỏi thị trường nhân dụng, không đi tìm việc nữa và không được đếm nữa!

Tỷ lệ thất nghiệp của những người trên 65 tuổi đầu năm nay đã tăng hơn một phần ba so với cũng tỷ lệ đó trong thời kỳ kinh tế suy thoái nặng vào năm 1981, khi đó chỉ có 4.3%. Nhưng tình trạng gia tăng này cũng không có nghĩa là người già đang thua thiệt hơn thời xưa. Chẳng qua chỉ vì từ mười năm nay số người trên 65 tuổi vẫn còn đi làm tăng lên, cho nên khi kinh tế xuống, tỷ lệ thất nghiệp cũng cao hơn. Mười năm trước, trong lực lượng lao động ở Mỹ chưa tới 12% người trên tuổi 65, nhưng hiện nay họ chiếm gần 17%. Lớp người lao động trên 75 tuổi chỉ chiếm dưới 5% mười năm trước đây, giờ đã lên tới hơn 7% lực lượng lao động cả nước!

Người già ở Mỹ khó kiếm việc hơn, những người trên 55 tuổi trung bình mất việc 25 tuần sau mới tìm lại được việc làm (nửa năm trời). Những người dưới tuổi đó trung bình chỉ đợi 19 tuần đã kiếm được việc.

Người Việt Nam sống ở Mỹ chắc ít người trải qua những kinh nghiệm giống như ba trường hợp mà nhật báo Wall Street kể trên đây, tuy nhiên không phải là không có ở lớp tuổi dưới 75!

Một lý do là dân mình lo xa hơn, khi còn đi làm ai cũng chi tiêu dưới mức lợi tức của mình để dành giụm cho lúc tuổi già. Một lý do khác là gia đình người Việt chặt chẽ hơn, con cái không quên cha mẹ khi về già. Hiện ở trong cộng đồng người Việt tị nạn cũng có những “cụ” trên 65 tuổi vẫn tiếp tục đi làm, từ việc nấu ăn đến việc quét dọn nhà cửa, có cụ còn làm thợ sơn, thợ điện; nhưng nhiều người kiếm tiền chỉ để giúp đỡ người khác chứ không phải vì lo lắng cho riêng mình.

Nhưng chúng ta cũng phải kính phục những người Mỹ trên 75 tuổi mà vẫn kiên trì đi làm, khi mất việc lại đi tìm việc. Trong khi đó xã hội vẫn thấy những người tuổi còn chưa tới 60 mà đã quen sống nhờ đồng tiền trợ cấp của người chung quanh đóng thuế. Những người già sinh trưởng ở nước Mỹ vẫn đi tìm việc làm là những tấm gương sáng cho những di dân mới tới. Nhưng ở đây chúng ta cần nhìn xa hơn những trường hợp cá nhân.

Tình trạng người lớn tuổi vẫn phải đi tìm việc có một nguyên nhân sâu xa, là cơ cấu tổ chức xã hội ở Mỹ. Tổ chức hưu bổng xã hội (social security) không đủ cho người về hưu nếu họ đóng góp ít ỏi vào quỹ đó trong suốt cuộc đời làm việc, vì họ chỉ làm những công việc lương thấp. Những người làm cho xí nghiệp nhỏ hoặc tự làm chủ bình thường không đóng đủ tiền cho quỹ hưu bổng xã hội khi chính họ về già. Chỉ những người may mắn làm việc ở các công ty cỡ trung và lớn mới được chủ nhân đóng góp thêm và yên tâm khi về hưu.

Nhất là về mặt bảo hiểm y tế, trong nước Mỹ có 50 triệu người không có bảo hiểm, người già thì không đủ tiền thuốc men. Những người đang làm ở xí nghiệp lớn, có bảo hiểm tốt, khi mất việc thì mất luôn. Quỹ bảo hiểm y tế xã hội chung cho những người về hưu không đủ trả chi phí bệnh tật vì phí tổn càng ngày càng cao hơn. Ở Canada cứ 100 đồng người dân tạo ra trong nền kinh tế thì chi phí về y tế chỉ hết 9 đô la. Nhưng ở Mỹ cứ 100 đồng trong Tổng Sản Lượng Nội Ðịa thì phải chi trên 15 đồng cho y tế, cho thấy cả hệ thống thiếu hiệu quả kinh tế! Tình trạng chi phí bệnh viện, tiền thuốc và bác sĩ lên cao là một nguyên nhân chính khiến các cụ già trên 65 tuổi vẫn phải đi làm để hưởng bảo hiểm y tế của công ty chủ nhân, hoặc để có tiền mua thuốc. Cho nên, muốn cho mọi người đến tuổi nghỉ hưu không phải lo đi kiếm việc làm, còn phải thay đổi tổ chức bảo hiểm y tế ở Mỹ.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Khai thác Bauxite: Thành tích cộng sản
Tác giả: Lê Vi

Image
Khai thác Bauxit ở Bảo Lộc

Gần đây cả nước xôn xao với quyết định khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Hàng loạt các bài viết của các nhà khoa học phân tích các thiệt hại cả về kinh tế, tài nguyên môi trường và cả an ninh quốc gia khi thực hiện dự án này. Trong đó có cả nhân vật được coi là khai quốc công thần của đảng Cộng sản Việt Nam : Võ Nguyên Giáp.

Bất chấp tất cả mọi phản kháng, bất chấp cả búa rìu dư luận, Thủ tướng Dũng vẫn ngang nhiên chấp thuận dự án này.

Có rất nhiều câu hỏi được đặt sau khi Thủ tướng Dũng công khai chấp thuận dự án này.

- Rằng ông Dũng có sợ dư luận không? Có thể có, bởi ông Dũng vẫn là nô bộc của nhân dân mà.

- Ông Dũng có biết đọc để đọc các bản phân tích của các chuyên gia, các nhà khoa học không? Có thể có. Nghe đâu Thủ tướng Dũng cũng học hết lớp 7, lớp 8 gì đó trước khi vào rừng. Hy vọng ông Dũng không phải là học sinh cá biệt để đến lớp 7 mà không biệt đọc.

- Ông Dũng có lí trí để phân biệt đúng – sai, hơn – thiệt không? Có thể có, bởi vì từ trước đến nay chưa bao giờ nghe nói Thủ tướng Dũng phải nhập viện một bịnh viện nhiệt đới nào.

Vậy tại sao Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại quyết tâm thực hiện dự án này?

Chúng ta hãy nhìn lại suốt thời gian làm Thủ tướng của ông Dũng. Ngoài thành tích kích thích nền kinh tế lạm phát lên tới 30% trong năm qua, ông Dũng vẫn chưa có một việc làm nào để lại di tích trong thời gian điều hành đất nước cả.

Nhìn lại các ông trùm của cộng sản từ khi mới thành lập.

- Hồ Chí Minh với cải cách ruộng đất 1956 và mộ chôn tập thể 1968 lưu danh muôn thuở.

- Phạm Văn Đồng tặng Hoàng Sa cho Trung cộng đến nay nhân dân vẫn cảm ơn (nhưng là nhân dân Trung cộng, ừ thì dân nào cũng là dân ).

- Lê Duẫn với mô hình hợp tác xã đã làm đói nghèo cả dân tộc suốt hàng thập kỷ đến nay vẫn còn nghèo.

- Đỗ Mười và Lê Đức Anh với liên minh MA và Tổng cục 2 khét tiếng giang hồ, chấn động võ lâm.

- Trần Đức Lương có công bán ải Nam Quan được giá cao, đến nay đã được xác nhận bằng Hiệp định biên giới.

- Võ Văn Kiệt với chiêu bài “phục quốc” và “đảng cuội” đã quy tụ toàn bộ những người có ý định chống đối vào nhà đá…

Thế nên, suốt nhiệm kỳ mà không để lại di chứng gì đáng kể cho dân tộc thì thật không xứng mặt với lớp tiền nhân đã có công phá nước.

Nhận được dự án khai thác quặng bauxite từ đàn anh Trung cộng, Thủ tướng Dũng như bắt được vàng. Đây là cơ hội rất tốt để lưu danh hậu thế. Việc khai thác quặng bauxite sẽ để lại một môi trường ô nhiễm hàng chục năm sau đó, phá nát Tây Nguyên, nhân dân sẽ đói khổ. Do đó vài chục năm sau, nếu còn sống, ông Dũng cũng sẽ được nghe nhắc đến mình khi toàn dân cố gắng khắc phụ hậu quả do việc khai thác hôm nay.

Theo nhận xét của các chuyên gia về quân sự, Tây Nguyên là điểm huyết mạch về quốc phòng của Việt Nam. Nếu chiếm được Tây Nguyên, ngoại bang có thể đánh thóc xuống Xuân Lộc hoặc Phan Thiết là có thể dễ dàng chia cắt Việt Nam thành 2 khúc, từ đó có thể bình định miền Nam hay miền Bắc một cách dễ dàng. Việc đưa hơn 1.000 lính Trung cộng dưới dạng công nhân sang thường trú tại đây chẳng khác gì một miếng mỡ treo trước miệng mèo khiến lòng tham vô đáy của Trung Quốc được dịp trỗi dậy mạnh mẽ. Và theo diễn tiến hiện nay, một ngày không xa cờ Trung cộng sẽ tung bay ngạo nghễ trên bầu trời Hà Nội. Cộng sản sẽ “bất chiến tự nhiên thành” (nhưng là cộng sản Trung Hoa, ừ thì cộng nào chẳng là cộng nô).

Lúc này, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Dũng nếu còn, sẽ có cơ hội được nói: “Việt Nam có bằng chứng chứng minh thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là của Việt Nam, yêu cầu Trung Quốc tôn trọng Hiệp Uớc Liên Hiệp Quốc”. (Có quốc gia cộng sản nào tôn trọng hiệp ước đâu mà bảo Trung Quốc phải tôn trọng?!).

Thế là với việc khai thác quặng bauxite này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ có dịp tiếp nối tiền nhân lưu danh hậu thế. Đúng là “Bác đã có công phá nước, các cháu con hãy cùng nhau quậy tiếp”.

Việt Nam ngày 22 tháng 2 năm 2009
Lê Vi

Post Reply