Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Thử thách của Tổng thống Obama

Ngô Nhân Dụng

Ngân sách mới của Tổng Thống Barack Obama cho thấy ông thực hiện khẩu hiệu tranh cử: Thay đổi nước Mỹ. Người ủng hộ ông hài lòng. Người đối lập lo ngại. Trong đảng Dân Chủ cũng có những người chống, trong đảng Cộng Hòa cũng có những người chấp nhận. Cuộc bàn cãi, tranh luận sẽ kéo dài trong nhiều tháng sắp tới. Nhưng ai cũng đồng ý, ông Obama muốn thay đổi thật. Câu hỏi là ông sẽ thay đổi như thế nào, và có ích lợi lâu dài cho nước Mỹ hay không.

Ngân sách thường chỉ nêu ra những mục chi tiêu và những con số. Nhưng bản ngân sách dài 134 trang của Tòa Bạch Ốc còn đưa ra những chương trình lớn sẽ thay đổi nhiều khía cạnh trong đời sống dân Mỹ đến mức nền tảng: Cải tổ y tế, khuyến khích nghiên cứu năng lượng thay dầu lửa, giảm bớt trợ cấp cho các đại nông gia, giảm bớt những khoản bớt thuế cho 2% những người giầu nhất nước, vân vân.

Tất cả mọi thay đổi nền tảng trong một nước đều có thể làm cho một số người được lợi và gây thiệt hại cho một số người khác. Họ sẽ tranh đấu với nhau, mỗi nhóm quyền lợi sẽ vận động các đại biểu của họ trong quốc hội. Hai đảng chính trị sẽ tranh luận với nhau. Trong mỗi đảng sẽ có những ý kiến bất đồng, người đảng Dân Chủ vẫn có quyền bỏ phiếu theo đảng Cộng Hòa và ngược lại. Và các đại biểu quốc hội sẽ tranh đấu với Tòa Bạch Ốc. Tranh cãi, lôi kéo thêm người khác ủng hộ mình, tranh cãi tiếp, rồi trao đổi, mặc cả với nhau, làm sao tiến tới một quyết định chung. Sau đó những người được lợi sẽ vui, những người bị thiệt sẽ làu bàu gắt gỏng, đợi cho tới kỳ bầu cử sau sẽ vận động các cử tri theo mình.

Ðó là diễn trình dân chủ luôn luôn diễn ra ở nước Mỹ không lúc nào ngừng. Nhưng chẳng mấy khi nó diễn ra trong khung cảnh sôi nổi như chúng ta sắp chứng kiến trong những tuần lễ, những tháng, và năm sắp tới đây. Chúng ta theo dõi cuộc tranh luận này sẽ thấy và sẽ hiểu rõ hơn diễn trình chính trị ở một nước tự do dân chủ. Chúng ta càng giữ được thái độ khách quan, công bằng, và tìm hiểu mọi vấn đề một cách cặn kẽ, thì càng rút ra được nhiều bài học cho nước Việt Nam.

Câu hỏi chính là: Làm sao 300 triệu người quyết định về những vấn đề sống còn của họ, trong khi mỗi nhóm người, mỗi đảng chính trị có những quyền lợi và ý kiến khác nhau, nhiều khi xung khắc, đối nghịch lẫn nhau? Ðể tiến tới những quyết định trọng đại đó, người ta dùng những thể thức dân chủ tự do, được bản hiến pháp ra đời trước đây hơn 200 năm quy định những nét căn bản.

Một vấn đề lớn đằng sau những cuộc tranh luận về thuế khóa, về bảo hiểm y tế, nghiên cứu năng lượng, vân vân, là quan điểm của người Mỹ về vai trò của chính phủ. Chính phủ nên lớn hay nên nhỏ, nên can thiệp tới mức nào vào đời sống của người dân, như trong hoạt động kinh tế, trong việc giáo dục thanh thiếu niên, trong việc chọn một hợp đồng bảo hiểm y tế, vân vân.

Trong bài diễn văn nhậm chức Tổng Thống Barack Obama đã nói rằng bây giờ vấn đề không còn là chính phủ lớn hay chính phủ nhỏ nữa, mà là câu hỏi chính phủ làm việc có hiệu năng hay không. Nhưng tối Thứ Ba vừa qua ông Obama đã phải xác nhận trước quốc hội rằng ông không chủ trương bành trướng vai trò của chính phủ. Nói như vậy, vì ông biết những ý kiến công kích ông sẽ nhắm vào điểm đó.

Tuy nhiên trong thực tế hầu hết những cuộc tranh luận mà chúng ta sắp nghe ở quốc hội cũng như trên báo chí nước Mỹ sẽ cho thấy đều đặt trên câu hỏi căn bản đó: Chính phủ nên lớn, nên can thiệp vào xã hội đến mức nào?

Vì trong thực tế, hiện nay chính phủ Mỹ đang bành trướng ra rất lớn. Ðây không phải là vấn đề tăng ngân sách hay tăng số người làm việc trong guồng máy nhà nước, vì ngay trong lúc Tổng Thống George W. Bush cầm quyền ông đã bành trướng cả hai lãnh vực đó rồi. Hiện nay, hiện tượng phải chú ý là chính phủ Mỹ đã phải can thiệp vào rất nhiều hoạt động, bao trùm từ lãnh vực tài chánh, ngân hàng, thị trường gia cư, cho tới những công ty bảo hiểm như AIG, những công ty sản xuất xe hơi đang kêu cứu, và chính phủ đang muốn đóng một vai trò lớn hơn trong lãnh vực giáo dục và chăm sóc sức khỏe của người dân.

Tình trạng bành trướng vai trò của chính phủ là do nhu cầu, vì cuộc khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng tín dụng đòi hỏi. Thí dụ, giá cổ phần trên thị trường chứng khoán New York tụt xuống mạnh trong một ngày đầu tuần vì tin chính phủ có thể phải quốc hữu hóa nhiều ngân hàng lớn, để cứu các ngân hàng chứ không phải cứu các vị quản đốc và chủ nhân ngân hàng. Chính phủ Obama đã phủ nhận những tin đồn đó. Nhưng ai cũng biết chính phủ Mỹ đang điều khiển những ngân hàng đã phá sản như IndyMac, quản trị hai cơ sở cho vay hầu hết các món nợ mua nhà là Fannie và Freddie, và có ngày sẽ phải làm chủ 40% các cổ phiếu của ngân hàng Citigroup. Với các chương trình giải cứu hệ thống tài chánh (700 tỷ và sẽ còn lên nữa), kích thích kinh tế (787 tỷ), hiện nay chính phủ Mỹ chi tiêu gần một phần tư số tiền cả nước làm ra trong một năm, gọi là Tổng Sản Lượng Nội Ðịa, GDP.

Với nhu cầu thực tế bắt buộc phải hành động cấp bách, các khái niệm chính trị như phe tả, phe hữu, cấp tiến hoặc bảo thủ, không còn ý nghĩa như trước nữa. Mọi chính trị gia sẽ quyết định theo nhu cầu của cử tri của họ, dù họ thuộc đảng Cộng Hòa hay Dân Chủ, vốn là cấp tiến hay bảo thủ.

Trong số các vị thống đốc Cộng Hòa họp nhau tuần rồi, nhiều vị phản đối kế hoạch kích thích kinh tế của chính phủ Obama như tất cả các đại biểu quốc hội Cộng Hòa đã chống (trừ ba nghị sĩ). Họ từ chối một số khoản trợ cấp mà kế hoạch đó đưa cho tiểu bang mình - nhưng cũng nhiều vị đòi thêm cho các khoản khác. Nhưng thống đốc các tiểu bang như California, Florida, dù thuộc đảng Cộng Hòa vẫn hoan nghênh việc chính phủ liên bang đưa tiền cho mình giúp qua cơn nguy khốn tài chánh. Thái độ của họ là do nhu cầu thực tế của các tiểu bang đòi hỏi, họ hy sinh bỏ qua những bất đồng ý kiến quan trọng khác.

Bên ngoài giới làm chính trị chuyên nghiệp, các nhóm áp lực cũng chọn thái độ tùy theo nhu cầu thực tế hơn là dựa trên những triết lý kinh tế. Hai hội từ xưa nay vẫn ủng hộ chủ trương “chính phủ nhỏ” của đảng Cộng Hòa là Phòng Thương Mại toàn quốc US Chamber of Commerce, và Hội Các Nhà Sản Xuất, Association of Manufacturers lại đứng ra ủng hộ kế hoạch 787 tỷ để kích thích kinh tế. Chủ Tịch Phòng Thương Mại Mỹ Thomas Donohue nói thẳng: Bây giờ chỉ còn có chính phủ có sức để làm cho guồng máy kinh tế chạy lại! Không ai trong đảng Cộng Hòa phản đối ý kiến đó.

Nhưng trong đảng Dân Chủ cũng có nhiều người chống lại kế hoạch 787 tỷ của Tổng Thống Obama. Ðó là những dân biểu thuộc nhóm gọi là “Blue Dog” bảo vệ quy tắc ngân sách cân bằng, và họ không thể chấp nhận được những món chi tiêu mà các dân biểu, nghị sĩ đảng Dân Chủ ghép thêm vào trong kế hoạch để làm vui lòng cử tri trong tiểu bang và đơn vị của mình, nhiều món có thể coi là vô bổ trong việc kích thích kinh tế. Cả một dự luật dày 1,100 trang gọi là kế hoạch kinh tế, khó lòng một đại biểu quốc hội nào có đủ thời giờ đọc hết để mà suy nghĩ, so sánh hơn thiệt. Tổng Thống Obama gần như giao khoán cho các lãnh tụ quốc hội thuộc đảng Dân Chủ soạn thảo, và ông ký ngay không phản đối.

Ông Obama có thể viện lý do là tình hình kinh tế xuống đòi hỏi hành động nhanh chóng. Nhưng những vấn đề quan trọng ông mới nêu ra trong bản ngân sách chuyển qua quốc hội gồm nhiều vấn đề có tính cách lâu dài. Ngưng không giảm thuế cho 2% những người giầu nhất nước, để lấy tiền trang trải cho việc cải tổ y tế, là một vấn đề vừa lớn vừa lâu dài. Nghị sĩ trưởng khối đa số ở Thượng Viện, ông Harry Reid đã nói sẽ bàn về vấn đề này trong tháng Tám, để có thể đưa ra ý kiến trước cuối năm. Như vậy thì không còn tính chất khẩn cấp như kế hoạch kích thích kinh tế nữa.

Một vấn đề trọng yếu trong chương trình của chính phủ Obama là cải tổ hệ thống tài chánh và ngân hàng. Ai cũng đồng ý là hệ thống mà nước Mỹ đã theo từ hai chục năm nay có quá nhiều lỗ hổng giúp cho lòng tham của một số người làm hại chính họ và lây lan tác hại cho cả nước. Phải tìm ra các lỗ hổng đó và tìm cách bịt lại bằng những quy tắc mới ràng buộc những người điều khiển các xí nghiệp, ngân hàng, các công ty môi giới, các hãng bảo hiểm, vân vân. Nhưng làm sao để cho những ràng buộc mới đó không làm ngăn trở sáng kiến tư nhân, không đốt cháy “máu làm ăn,” khích lệ thái độ chấp nhận rủi ro, là động cơ giúp cho kinh tế Mỹ phát triển cao trong vài chục năm qua? Các đại biểu quốc hội Mỹ và các chuyên viên Tòa Bạch Ốc không đủ sức trả lời cho những câu hỏi lớn như vậy, nhưng họ sẽ là những người quyết định. Họ sẽ phải tham khảo rất nhiều người, từ các ngân hàng, các xí nghiệp cho đến giới nghiên cứu ở đại học.

Ðể tiến tới những quyết định chung của các đại biểu quốc hội, tức là của cả nước Mỹ, về những vấn đề quan trọng như thế, bây giờ là lúc ông Obama phải làm đúng những lời kêu gọi của ông trong mùa tranh cử, là vận dụng sự thỏa hiệp lưỡng đảng. Có như vậy thì các quyết định này mới ích lợi cho đa số dân Mỹ và có giá trị lâu dài.

Tổng Thống Obama có thể làm được việc này, nếu ông giữ đúng lời hứa của ông là nhìn xa về tương lai nước Mỹ, chứ không phải chạy theo cách nhìn thiển cận dựa trên quyền lợi đảng phái. Trong vụ biểu quyết kế hoạch kích thích kinh tế, ông Obama đã thất bại trong việc lôi kéo sự hợp tác lưỡng đảng. Mọi người đang chờ đợi ông sẽ làm gì để chữa lại tình trạng đó khi bước vào những cuộc thảo luận lớn như cải tổ y tế, cải tổ ngân hàng.

Nếu ông Obama thành công, ông sẽ thực hiện được một điều tương đương với việc mà cố Tổng Thống Reagan đã làm được. Ông Ronald Reagan đã chuyển trọng tâm chính trị của nước Mỹ sang phía hữu, và ảnh hưởng tới các vị tổng thống kế nhiệm từ Clinton tới Bush 43. Hiện giờ ông Obama có cơ hội để chuyển ngược lại, đưa trọng tâm chính trị sang phía tả. Những kế hoạch ông vạch ra đều mang tính chất đó. Ông đang có cơ hội, vì hai cuộc khủng hoảng tài chánh và kinh tế đang đe dọa lôi nước Mỹ xuống rất sâu, và tác động lẫn nhau để xuống sâu hơn. Nước Mỹ đang trông chờ một trung tâm quyền lực mạnh để trước hết thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn này.

Người dân mất tin tưởng vào hệ thống kinh tế tài chánh cũ, người dân khát khao công bằng xã hội, và trên hết ai cũng muốn kinh tế được tự do phát triển trở lại. Phát triển và công bằng, hai mục tiêu đó cần phải đạt được cả hai, cho nên phải thảo luận để tìm được vị trí trung dung. Muốn đóng vai lãnh đạo thật sự chứ không phải chỉ lợi dụng cơ hội để thực hiện các chủ trương chính trị của riêng đảng mình, ông Obama sẽ phải làm sao thỏa mãn được những khát vọng căn bản trong triết lý chính trị của cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, tức là phải tìm cách cho hai đảng có cơ hội và khả năng hợp tác. Nước Mỹ sẽ không thể nào quá tả hay cực hữu. Hai khuynh hướng bảo thủ hay cấp tiến đều có những ưu điểm không thể nào bỏ qua. Các chính trị gia thường chỉ nhìn vào các ưu điểm của phe cánh mình mà cố ý lấp liếm những ưu điểm của đối phương. Nhưng người lãnh đạo không thể làm như vậy.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Thời sự kinh tế: Obama có lạc quan quá đáng?

Ngô Nhân Dụng

Muốn biết tình trạng kinh tế Mỹ đang lên xuống ra sao, quý vị có thể nhìn vào đoàn xe vận tải thường chiếu đèn sáng chói chạy suốt đêm trên xa lộ. Nước Mỹ có gần 20 triệu xe vận tải chạy đem hàng hóa từ nhà sản xuất đến kho của nhà buôn sỉ, tới tiệm bán lẻ, trước khi đến tay người tiêu thụ. Khi nào dòng xe 18 bánh này chạy nối tiếp nhau không ngừng, tức là kinh tế đang tốt đẹp: Nhiều người mua hàng và nhiều người có việc làm.

Căn cứ trên “chỉ số” đó, kinh tế Mỹ đã xuống rất nặng từ năm ngoái, và tới giờ vẫn còn lo xuống nữa. Trong năm 2008, hơn 3,600 công ty vận tải hàng hóa ngưng hoạt động. Có 137,650 chiếc xe ngưng chạy, đội ngũ xe tải giảm 7%. Theo tin của Hội Xe Tải Toàn Quốc (American Trucking Association) trong ngành vận tải có 1 triệu 320 ngàn công nhân làm việc, năm ngoái đã cho 25 ngàn người nghỉ. Trước đây các công ty lúc nào cũng lo không kiếm ra tài xế cho công việc cực nhọc này, bây giờ số người tới xin lái xe cao hơn nhu cầu.

Ðà suy thoái kinh tế cuối năm ngoái xuống nặng hơn mọi người tưởng tượng. Trong ba tháng sau cùng Tổng Sản Lượng Nội Ðịa đã giảm sụt 6.2%. Ðây là tỷ số tụt giảm nặng nhất kể từ quý đầu năm 1982, khi kinh tế xuống 6.4%. Nhiều nhà kinh tế tin rằng tỷ số giảm sụt trong quý đầu năm 2009 sẽ nặng không kém.

Mới đầu năm 2009 đã quá nhiều tin rất xấu, cho thấy cuộc khủng hoảng trên đà trầm trọng hơn. Số hàng bán trong loại dùng lâu bền trên ba năm đã giảm liên tiếp trong 6 tháng, Tháng Giêng giảm hơn 5%, theo tin của Bộ Thương Mại Mỹ. Số sụt giảm đó thuộc đủ mọi mặt hàng như tủ lạnh, máy giặt, xe hơi và phụ tùng, máy vi tính, vân vân. Số bán của những ngôi nhà mới xây trong Tháng Giêng giảm hơn 10%, số nhà bán thấp nhất kể từ năm 1963 tới nay.

Tình trạng sa thải nhân viên trầm trọng hơn. Tuần lễ thứ ba của Tháng Hai có 667,000 người khai lãnh bảo hiểm thất nghiệp lần đầu, sau khi đã có 631,000 người mới khai lãnh vào tuần trước, nâng tổng số người đang nhận khoản trợ cấp này lên con số 5 triệu. Tỷ lệ thất nghiệp đang 7.6% sẽ lên tới 8%, riêng tiểu bang California tỷ lệ này đã lên trên 10%. Một công ty bán nhiều máy vi tính nhất, Dell Computer cho biết lợi nhuận đã giảm gần một nửa, sẽ cắt giảm chi phí 4 tỷ Mỹ kim từ nay đến năm 2011, tức là sẽ phải sa thải nhiều nhân viên. Công ty xe hơi GM thông báo lỗ 9.6 tỷ Mỹ kim trong ba tháng cuối năm 2008, báo trước có thể sẽ không trả được những món nợ sắp đáo hạn.

Các tín hiệu trên khiến nhiều người lo ngại kinh tế năm nay sẽ xuống mạnh hơn những lời tiên đoán của chính phủ Obama trong bản dự thảo ngân sách mới trình cho quốc hội. Bản ngân sách với số chi 3.6 ngàn tỷ Mỹ kim dự trù sẽ nâng số khiếm hụt lên 1,750 tỷ Mỹ kim; nhưng tiên đoán trong 3 năm sẽ chỉ còn khiếm hụt 533 tỷ. Phép lạ nào có thể giảm bớt số thâm thủng nhanh như vậy? Lời tiên đoán đó dựa trên giả thiết là kinh tế Mỹ sẽ chỉ xuống nhẹ trong năm nay và từ sang năm sẽ lên và 2 năm nữa sẽ lên nhanh. Khi kinh tế lên thì chính phủ sẽ bớt được nhiều khoản chi tiêu trợ cấp xã hội, đồng thời số thuế thu được sẽ tăng lên, do đó ngân sách không còn thâm thủng nặng nữa.

Nhưng các giả thiết trong ngân sách Obama có vẻ quá lạc quan, so với những tiên đoán của nhiều nhà kinh tế. Tòa Bạch Ốc cho là năm nay GDP nước Mỹ sẽ giảm bớt 1.2%, nhưng năm 2010 sẽ tăng được 3.2%, và 2 năm sau tăng trưởng với tỷ lệ 4% và 4.6%. Công ty Blue Chip bề tiên đoán kinh tế đã thăm dò nhiều chuyên gia và tính số trung bình, thấy rằng năm nay kinh tế sẽ xuống nặng hơn với tỷ số giảm 1.9%, và sang năm sẽ chỉ lên được với tỷ số 2.1%, hai năm sau đó lên với tỷ số 2.8%.

Trong những cuộc suy thoái kinh tế gần đây, vào thập niên 1980, 90 và năm 2001, khi số sản xuất xuống thì xuống ít hơn, thường chưa giảm mất 1% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa; và thời gian suy thoái thường chỉ kéo dài dưới một năm. Chính phủ Obama có thể đã dựa trên kinh nghiệm cũ mà tính ra những con số có vẻ lạc quan kể trên. Nhưng kỳ suy thoái này có tính chất khác hẳn mấy lần trước, khiến các nhà kinh tế bi quan hơn. Nhiều người lo rằng cơn suy thoái lần này có thể kéo dài từ 2 năm trở lên.

Nguyên nhân gây ra cơn thoái trào bắt đầu năm 2008 là không phải chỉ do biến chuyển tự nhiên của một chu kỳ kinh tế, mà lại bị tác động bởi một cuộc khủng hoảng tín dụng và ngân hàng nổ ra từ năm trước. Cho nên nước Mỹ đã phải sống trong hai cuộc khủng hoảng song hành, tài chánh và kinh tế. Nhưng điều nguy hiểm là cả hai cuộc khủng hoảng đó thúc đẩy lẫn nhau, lôi cuốn nhau trong một vòng luẩn quẩn ngày càng nghiêm trọng hơn. Cần phải có một sức tác động từ bên ngoài thì cơn xoáy lốc đó mới bắt đầu giảm tốc độ để ngưng lại.

Hai hành động của chính phủ và quốc hội Mỹ nhắm gây ra tác động đó: 700 tỷ giải cứu hệ thống tài chánh, ngân hàng, và 787 tỷ đô la kích thích kinh tế. Chưa ai có thể biết hai hành động trên sẽ có tác dụng đủ mạnh hay không, và bao giờ thì tác dụng bắt đầu. Ông chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang tiên đoán lạc quan nhất là kinh tế sẽ bắt đầu hồi phục từ đầu năm 2010. Nhưng nếu các ngân hàng vẫn không có tiền để cho vay như cũ thì dù kích thích đến đâu kinh tế cũng chưa lên được. Kinh tế chỉ bắt đầu nhúc nhích khi hệ thống tín dụng được tháo gỡ để chạy bình thường.

Cuộc khủng hoảng tín dụng bắt đầu từ năm 2007 khi các ngân hàng không đòi được các món nợ mua nhà với tiêu chuẩn thấp, mà mấy năm trước đó họ được thả lỏng tha hồ cho vay. Tình trạng buông thả đó không được guồng máy chính quyền giám sát đứng đắn đã khiến nhiều ngân hàng cùng phá sản. Bản báo cáo của Tổng Thanh Tra Bộ Tài Chánh Mỹ tuần này cho biết Sở Giám Sát Các Ngân Hàng Tiết Kiệm (OTS) đã thấy những dấu hiệu bất cẩn của ngân hàng IndyMac ở California từ lâu. Báo động đỏ bật lên khi thấy ngân hàng này không kiểm chứng lợi tức của người vay tiền, OTS đã cảnh cáo, nhưng các thanh tra nhiều khi không báo lên cấp trên và không có một hành động nào để bắt buộc ngân hàng này phải sửa chữa. IndyMac là một trong những ngân hàng đầu tiên phá sản vì nợ địa ốc, và hiện chính phủ Mỹ phải quản lý để bảo vệ quyền lợi các người gửi tiền.

Khi các ngân hàng mất tín nhiệm và thị trường không dám mua các trái khoán nhiễm độc của họ nữa, cả hệ thống tín dụng bị tê liệt, người tiêu thụ và các xí nghiệp đều bị ảnh hưởng khiến cho cuộc suy thoái kinh tế trở thành nặng nề hơn.

Trong cơn thoái trào kinh tế, những người mất việc và các xí nghiệp thua lỗ không trả được những món nợ ngân hàng, từ nợ mua nhà đến mua xe, mua đồ dùng hay nợ thẻ tín dụng. Các ngân hàng ôm những trái khoán liên quan tới địa ốc bán không được, thiếu tiền cho vay. Nhưng dù có tiền họ lại không dám cho vay dễ dàng nữa, vì sợ người vay cũng sẽ không trả được nợ. Cả hệ thống tín dụng bị mối sợ rủi ro ám ảnh lâm vào cảnh bất động.

Các ngân hàng muốn có thêm vốn nhưng khó đi gây vốn khi giá cổ phần của họ tụt giảm, bán cổ phần vào lúc này sẽ bị thiệt thòi rất nặng. Khi các xí nghiệp không vay được tiền họ sẽ giảm sản xuất, sa thải công nhân, và số người tiêu thụ có tiền lại chi tiêu bớt đi. Số tiêu thụ giảm sẽ làm cho hàng hóa khó bán, các công ty giảm sản xuất và sa thải công nhân. Hai cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chánh lôi kéo nhau trong một vòng luẩn quẩn.

Cho nên các nhà kinh tế thuộc mọi khuynh hướng chính trị đều đồng ý chính phủ Mỹ phải đưa ra những liều thuốc mạnh, với các hành động quyết liệt, trước hết để phá cái vòng luẩn quẩn này. Nhưng người ta cũng bất đồng ý kiến về cách pha chế phương thuốc chữa trị cấp thời và những hệ quả lâu dài.

Những người phản đối bản ngân sách của chính phủ Obama báo động là số thiếu hụt ngân sách sẽ tăng lên nhiều hơn Tòa Bạch Ốc tiên liệu vì số chi tiêu của chính phủ sẽ chỉ tăng lên không ngừng. Số chi trong năm 2009 sẽ lớn gần bằng 28% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa, tỷ số cao nhất kể từ thời Ðại Chiến Thứ Hai.

Ðiều nguy hiểm trong bản ngân sách Obama là giả thiết quá lạc quan về tương lai gần của nền kinh tế. Người ta có thể tin rằng trong năm 2010 kinh tế bắt đầu hồi phục, nhưng rất khó tin là trong hai năm say tỷ lệ tăng trưởng có thể lên tới 4% và cao hơn. Như vậy thì con số dự trù khiếm hụt ngân sách chỉ có trên 500 tỷ vào năm 2012 là một ảo tưởng. Con số thực có thể lên gấp đôi. Số nợ của chính phủ Mỹ lên hơn một ngàn tỷ đô la, mỗi năm công quỹ sẽ phải dành ra trên 40 tỷ chỉ để trả tiền lãi.

Một giả thiết khác nằm trong ngân sách của Tòa Bạch Ốc là số tiền thuế sẽ thu được từ 2% những người giầu nhất nước Mỹ, nếu bỏ bớt nhiều khoản miễn thuế mà họ đang được hưởng. Chính phủ Obama hy vọng sẽ thu được 338 tỷ Mỹ kim trong 10 năm để trang trải nhiều món chi tiêu mới. Nhưng số tiền thu tưởng tượng trên dựa trên giả thiết là kinh tế hồi phục sớm và mạnh lên nhanh. Nếu kinh tế Mỹ không theo đúng giả thiết đó thì chính lợi tức của 2% những người giầu nhất nước cũng bị giảm và số khiếm hụt ngân sách càng nặng nề hơn.

Liệu những giả thiết của chính phủ Obama có lạc quan quá đáng để gây ảo tưởng cho dân Mỹ hay không? Trong những ngày tới người Mỹ sẽ được nghe những lời kết án và những lời biện hộ.

Cuộc thảo luận về ngân sách chính phủ liên bang sẽ tập trung vào những món chi tiêu và thu nhập mà Tổng Thống Obama đề nghị, nhưng cuối cùng sẽ trở lại một vấn đề căn bản. Ðó là vai trò của nhà nước trong nền kinh tế Mỹ. Một vấn đề khác liên can chặt chẽ là vai trò của hệ thống thuế khóa trong việc san sẻ tài sản trong toàn thể dân chúng Mỹ. Hệ thống hiện nay làm nghiêng cán cân khiến tài sản chảy vào chỗ trũng với 2% các gia đình giầu nhất hưởng 22% lợi tức của cả quốc gia. Nhưng làm thế nào để lập lại thế công bằng mà không làm giảm bớt động cơ giúp kinh tế phát triển? Ðây là những câu hỏi lâu dài nhưng đáng được nêu lên ngay để tìm lời giải đáp trong lúc mọi người đều công nhận có một cơn khủng hoảng cần phải vượt qua.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

“Ma Chiến Hữu” - một bằng chứng khác về việc CSVN muốn bán tất cả cho Trung Quốc
Friday, February 27, 2009

Image
Bìa trước của tiểu thuyết “Ma Chiến Hữu” được xuất bản và phát hành rộng rãi tại Việt Nam.

Image
Bìa sau với những dòng, ý ca tụng ngoại xâm đã xuống tay phá sạch xứ sở, thảm sát đồng bào của mình.




Phan Việt Ðăng


“Ma Chiến Hữu” - một tiểu thuyết của Mạc Ngôn (nhà văn Trung Quốc) viết về những người lính Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979, đã được nhà xuất bản Văn Học và công ty Văn hóa Phương Nam liên kết xuất bản, phát hành rộng rãi tại Việt Nam. Tuy nhiên điểm khiến cuốn tiểu thuyết dày 190 trang này khiến công chúng Việt Nam căm phẫn nhất là những cơ quan liên kết để xuất bản - phát hành cho rằng “Ma Chiến Hữu” là “một cách ca tụng riêng về chủ nghĩa anh hùng”.

“Ma Chiến Hữu” được công ty Văn hóa Phương Nam mua bản quyền, tổ chức dịch rồi liên kết với nhà xuất bản Văn Học xuất bản - phát hành.

Nhân vật chính trong “Ma Chiến Hữu” là một người lính Trung Quốc tên Tiền Anh Hào, lên đường giết “bọn man di” và “hi sinh” trong cuộc chiến xâm lược Việt Nam năm 1979.

“Ma Chiến Hữu” không định danh “bọn man di” là ai nhưng cuộc chiến xâm lược Việt Nam do Trung Quốc thực hiện năm 1979, giúp người ta hiểu “bọn man di” được đề cập trong tiểu thuyết này là những sĩ quan, binh sĩ quân đội CSVN từng cầm súng chống Trung Quốc và những thường dân Việt Nam đã bị cưỡng hiếp, chặt đầu, mổ bụng, thậm chí chôn sống ở Lạng Sơn, Cao Bằng...

Việc xuất bản “Ma Chiến Hữu”, ca ngợi lính xâm lược Trung Quốc như những anh hùng khi họ thực hiện phương châm “phá sạch, giết sạch”, lúc tràn sang Việt Nam, ngay tại Việt Nam, đã gây ra sự căm phẫn sâu sắc trong nhiều giới. Nhà xuất bản Văn học ở Hà Nội liên tục nhận hàng loạt điện thoại, thư phản đối. Ðiều đó khiến nhà xuất bản này đổ hết trách nhiệm cho công ty Văn hóa Phương Nam, nơi mua bản quyền và tổ chức dịch rồi liên kết xuất bản để phát hành cuốn sách này. Những người có liên quan như dịch giả Trần Trung Hỷ, biên tập viên Triệu Xuân cũng bị chỉ trích nặng nề. Một người quen của nhà văn Triệu Xuân kể rằng, nhiều cuộc điện thoại gọi cho nhà văn này đã nguyền rủa ông ta như một kẻ “tham gia bán nước, bán đứng dân tộc cho Trung Quốc”.

Ðáng ngạc nhiên là Ban Văn Hóa Tư Tưởng Trung Ương của đảng CSVN, các cơ quan hữu trách thuộc Bộ Thông Tin Truyền Thông CSVN, hoàn toàn im lặng trước sự kiện đang gây xôn xao và khiến dư luận phẫn uất như vậy.

Vào Tháng Mười Hai năm ngoái, chính những cơ quan này từng ra lệnh thu hồi tập truyện ngắn Rồng Ðá, chỉ vì có một truyện ngắn “đụng chạm” tới cuộc chiến ở biên giới phía Bắc giữa Việt Nam với Trung Quốc năm 1979, của nhà văn Vũ Ngọc Tiến. Vì “sai phạm” này, nhà xuất bản Ðà Nẵng đã bị đình chỉ hoạt động trong ba tháng để “tái cơ cấu nhân sự”.

Các sự kiện: “Ma Chiến Hữu”, “Rồng Ðá”, kèm với việc tờ Hà Nội Mới, cơ quan ngôn luận của thành ủy Hà Nội ca ngợi Hứa Thế Hữu - viên tướng chỉ huy việc chiếm đoạt Hoàng Sa, đồng thời là kẻ xua quân tấn công Việt Nam năm 1979 - như một danh tướng đáng noi gương. Hoặc sự kiện “Ðảng ủy, Hội Ðồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân, Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc xã Ðề Thám, thị xã Cao Bằng” (nơi từng bị quân xâm lược Trung Quốc “phá sạch, giết sạch”), sang nghĩa trang liệt sĩ Long Châu (Quảng Tây, Trung Quốc), đặt vòng hoa viếng với dòng chữ “Ðời đời nhớ ơn các liệt sĩ Trung Quốc”... khiến nhiều người tin rằng, Ðảng và chính quyền CSVN thực sự muốn thay đổi lịch sử để làm “chư hầu” của Trung Quốc.

Một nhạc sĩ tên Tuấn Khanh vừa gửi một thư ngỏ đến dịch giả Trần Trung Hỷ, các ông Triệu Xuân, Mạc Nguyên, biên tập viên và những người liên quan tới việc xuất bản, phát hành “Ma Chiến Hữu”. Thư viết:

“Nội dung của lá thư ngỏ này liên quan đến cuốn sách mang tên Ma Chiến Hữu của nhà văn Mạc Ngôn (Trung Quốc) được các ngài thực hiện và hoàn chỉnh ấn hành cho người đọc Việt Nam, qua hệ thống phát hành của nhà sách Phương Nam.

Với tư cách của một người dân, luôn ý thức rằng các hệ thống cầm quyền từ ngàn xưa cho đến hiện nay ở phương Bắc luôn coi Việt Nam như một đất nước phải thu hồi, và lớp lớp các thế hệ người Việt đều ý thức được đâu là kẻ thù xâm lược.

Tôi thật sự ngạc nhiên khi biết quyển sách của các ngài thực hiện, lại là một tác phẩm ngợi ca các binh lính xâm lược Trung Quốc năm 1979 đã tiến đánh Việt Nam, mà nơi đó được họ mô tả như một vùng đất hoang sơ và man rợ. Với tư cách là một công dân, gìn giữ trong mình huyết thống trải ngàn đời của hàng triệu anh linh đã hy sinh dưới tay lính Trung Quốc xâm lược, tôi tin mình có đủ tư cách là chứng nhân của phần lịch sử đẫm máu đó của dân tộc để lên tiếng với các ngài, và tôi cũng muốn nhắc rằng chính phần lịch sử bi hùng đó cũng đã bảo đảm sự an bình cho chính dòng tộc gia đình và cá nhân của các ngài.

Tôi thật sự căm phẫn khi đọc dòng quảng cáo ‘một cách ca tụng riêng về chủ nghĩa anh hùng’ trên bìa sách. Một bìa sách được trau chuốt công phu và số phận được nâng đỡ đầy may mắn, so với những tác phẩm trong nước như tập thơ Trần Dần hay Rồng Ðá của Vũ Ngọc Tiến.

Mạc Ngôn có quyền ca ngợi dân tộc mình, có quyền phủ nhận chủ quyền của các quốc gia khác. Ðó là sứ mệnh của một nhà văn quốc tịch Trung Quốc, ông ta xứng đáng được kính trọng với tài năng và chủ kiến của mình. Tiến Anh Hào, nhân vật trong quyền tiểu thuyết cũng có thể là một siêu anh hùng khi giết người Việt Nam, tàn phá đất nước Việt Nam để xứng đáng với thế giới sống và suy nghĩ của một nước Trung Quốc Cộng Sản.

Nhưng chắc chắn, một người Việt Nam phải có chủ kiến của mình và biết phân định lẽ phải theo lịch sử và lòng kiêu hãnh của dân tộc mình. Phân định điều đó có thể không cần bằng học thức, mà chỉ cần bắt đầu bằng chút lương tri của người ít học ở ngoài hè phố...

Tôi tin là các ngài đã nhận được ít nhiều những phản ứng từ cộng đồng đọc. Và tôi cũng hy vọng các ngài sẽ dành chút thời gian suy nghĩ về những điều mình đã làm.

Một vài người bạn kể với tôi rằng, để trả lời với bên ngoài, ai đó trong số các ngài đã biện minh rằng quả có chút sai sót, và thật lòng chỉ sai sót trên tinh thần của những người làm công việc chạy theo đồng tiền trong ngành buôn bán sách vở.

Thật lòng, tôi cảm thấy tuyệt vọng cho một lớp trí thức của Việt Nam mỗi ngày càng cơ hội - con buôn và đang phát rồ vì lợi nhuận, một lớp tự vẽ mặt trí thức để vượt qua mọi ngưỡng tự trọng và lương tri.

Ðâu đó, có những kẻ bệnh hoạn học đòi tính nguyên tắc yêu nước theo chỉ đạo, hùa nhau dồn đuổi việc dựng tượng nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản ở Bến Tre, phỉ nhổ vào tổ tiên của mình, còn ở nơi khác thì rước những thần tượng xâm lược Trung Quốc vào để bái lạy qua văn chương, chữ nghĩa.

Những lời phỉ nhổ vào Phan Thanh Giản hay ca ngợi Tiến Anh Hào, rốt cuộc cũng chỉ là chuyện buôn bán: buôn bán anh linh hy sinh ngàn đời của tổ tiên mình phải chăng là con đường nhanh nhất để đến được địa vị hoặc được dự phần thái thú trong hệ thống thuộc địa kiểu mới mang nhãn hàng Made in China.

Các ngài đang là kẻ chỉ đường cho bọn xâm lược dồn đuổi dân tộc mình đến chỗ khốn cùng. Vì tôi, các ngài và cùng sống chung trên một mảnh đất thấm máu cha ông. Tôi muốn nói thẳng rằng: Các ngài, kể cả những ai còn giấu mặt nhưng có tham vọng bịt mắt dân tộc này, tất cả các ngài, nếu có thể, thì cứ tự do bán đi tất cả thuộc về các ngài nhưng hãy giữ lại lương tri và những gì tổ tiên đã để lại, để cứu chuộc cho chính bản thân mình”. (Tuấn Khanh - Nhạc sĩ)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

TRÍ THỨC VÀ DÂN CHỦ



Từ xa xưa, câu chuyện về hèn nhát đặc sắc nhất mà cả nhân loại đều biết. Đó là câu chuyện " Ông Vua cởi truồng". Tuyệt đại đa số quan chức triều đình đến những người dân lớn tuổi đều trầm trồ khen ngợi sự hèn nhát của mình. Sau cùng, một cậu bé đã phá tan luồng suy nghĩ đó. Cậu khẳng định là ông vua cởi truồng. Nếu là ở VN, chắc hẳn mọi người sẽ nâng cậu bé đó thành anh hùng. Nhưng đâu phải vậy.

Cậu bé đó chỉ nói lên đúng suy nghĩ của mình, thứ suy nghĩ chưa hề nhuộm màu tư lợi. Cậu bé đó không phải là người anh hùng. Trong vô vàn các cậu bé đi theo đám rước thì cậu chỉ là người phát ngôn theo đúng lứa tuổi. Đó cũng không phải nỗ lực hay tiềm ẩn gì trong con người cậu bé.

Có những người đấu tranh dân chủ có uy tín chê trí thức là một lũ hèn nhát. Nhưng họ đâu biết trong phong trào dân chủ hiện nay đã đa phần là trí thức. Từ ngày xưa đã có sự phân công : sĩ, công, nông, thương, binh. Tất nhiên sự phân công chưa hoàn hảo, nhưng phần nào đã nói lên sự chuyên môn hoá trong cuộc sống. Ai đó đã bắt trí thức phải đi đầu và "lãnh đạn" như những người lính tiên phong ?. Và nếu trí thức không đi đầu thì bị quy là hèn nhát. Vậy, cái logic trong sự phân công xã hội để ở đâu.


Đừng suy nghĩ theo kiểu Mao " trí thức không bằng cục phân" hay là " trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ". Chính vì suy nghĩ như vậy mà hàng loạt chế độ cộng sản đã sụp đổ. Hiện nay đâu còn nhiều chế độ cộng sản. Kể cả Việt nam cũng đâu còn cộng sản theo đúng nghĩa. Nếu vẫn coi trách nhiệm chính trong công cuộc đấu tranh chống độc tài cộng sản phải là trí thức thì đó là chọn nhầm đối tượng. Chọn xong, lại nói họ hèn nhát thì lại càng chứng minh tính hàm hồ, ấu trĩ của người đã chọn. Câu nói đó còn tệ hơn câu nói của Mao. Trách nhiệm chính ở đây là nằm trên vai các nhân tố tiến bộ đang nằm trong các tổ chức đấu tranh và chính cả tập thể các tổ chức đó. Trí thức, như ngày xưa, là những người mà nhân dân đã nói " Hiền tài là nguyên khí quốc gia". Họ phải được "cởi trói", được tự do suy nghĩ, cống hiến, làm giàu...Ngay cả khi "kháng chiến chống Mỹ" thì toàn bộ lực lượng sinh viên miền bắc không bị bắt lính. Chỉ đến khi cao trào thiếu quân cho chiến trường thì mới phải động viên. Cũng trong lúc đó, hàng trăm ngàn sinh viên đã được gửi đi đào tạo ở các khối "XHCN". Tất nhiên, phần con cháu lãnh đạo trốn lính, trốn chiến tranh cũng có, nhưng không phải đa số. Đó cũng chính là sự tôn trọng trí thức, tôn trọng hiền tài và tạo vốn nhân tài cho công cuộc phát triển xã hội. Tuy nhiên, sau khi dược đào tạo, lớp trí thức đó đã không có cơ hội để chứng minh toàn bộ năng lực của họ cũng như họ đã được đào tạo không theo khả năng, nhu cầu của họ. Chế độ mà họ phải sống cũng đã dần dần đưa họ vào lối rèn người "hồng hơn chuyên" và do vậy chế độ đã không phát huy được tri thức của họ. Hậu quả là ngày nay nước Việt Nam ta vẫn đang là những nước tụt hậu về mọi mặt. Những lớp trí thức sau từ 6x, 7x, 8x...đến nay cũng vẫn chịu sự áp đặt và lối đào tạo ép buộc không theo tư tưởng tự do, tiến bộ về quan niệm xã hội, chính trị và do vậy tư tưởng hẹp hòi vẫn còn tồn tại. Sự tiến bộ về khoa học, kỹ thuật, văn hoá... tuy được nâng cao chút ít nhưng vẫn chưa thực sự đáp ứng đòi hỏi của sự hội nhập với thế giới.


Vậy, phong trào dân chủ có nên làm một việc sai lầm nữa là biến tất cả những trí thức thành người lính xung kích ?. Biến sở đoản của họ mà không đào tạo, trau dồi để trở thành sở trường và sở trường của họ thành hàng lưu kho ?. Từ nền tảng là những người trí thức mà yêu cầu ngay tham dự phong trào với bao hiểm nguy, đàn áp...là không tưởng, và cũng đâu có dễ có một môi trường để đào tạo mà không bị phá hoại bởi độc tài cộng sản. Lòng dũng cảm của những người đấu tranh dân chủ đâu phải là tất cả. Tính tổ chức kỷ luật và nguyên tắc hành động hợp lòng dân nói rộng, hay trí thức nói hẹp mới là điểm nhấn về khả năng của từng chiến sĩ dân chủ, từng tổ chức dân chủ. Nếu có thể thì đồng loạt các chiến sĩ dân chủ, các tổ chức hãy kêu gọi trí thức bất hợp tác với chính quyền độc tài để làm lợi cho độc tài chứ đừng kêu gọi họ duy nhất thành người lính xung kích. Một cách khác để coi thường quần chúng nhân dân cũng có thể là bắt trí thức là những người hiểu biết nhất về xã hội. Đôi khi trí thức chưa hẳn đã quan tâm đến các vấn đề xã hội hay chế độ nhiều như những người dân khác. Ông Anhxtanh cũng là một đại trí thức. Ông đã rời bỏ Đức quốc xã để đến Mỹ làm nốt công việc chế tạo bom nguyên tử và rao giảng các nguyên lý vật lý vũ trụ. Ông cũng có tránh khỏi hậu quả của hai quả bom nguyên tử thả xuống Hirosima và Nagasaki đè nặng lên lương tâm, thể xác của ông đâu. Ông cũng đã hối hận rất nhiều trong đời nghĩ lại về việc này. Trí thức , họ giỏi trong chuyên môn của họ và nếu khêu gợi tốt để họ mở lòng cho những việc khác thì mới là dụng nhân như dụng mộc.


Nếu cứ kêu gọi họ đối đầu theo cách họ chưa được đào tạo thì lại làm cho độc tài vốn sẵn có thế thượng phong vô hiệu hoá được họ và nhờ đó chúng dằn mặt được người khác, nhờ đó chúng tiêu được nhiều tiền ngân sách trên tấm lưng còng khốn khổ của người dân. Trí thức là người am hiểu xã hội và tốt đẹp biết bao khi trong số đó họ lại có những người có thêm phẩm chất của người lính tiên phong trong công cuộc cải cách xã hội. Nhưng đâu phải bất cứ ai cũng ôm đồm được nhiều việc. Ai cũng là Nhân tài đất Việt. Từ xa xưa không ai chê những người treo ấn từ quan. Cũng không ai chê những trí thức trong chế độ cũ ra đóng góp cho chế độ mới khi họ được tôn trọng, họ có khoảng trời để vẫy vùng và hệ thống chính trị mới tôn trọng tri thức của họ. Nếu tất cả trí thức đều trở nên những người lính đi đầu, họ sẽ phải gác lại chuyên môn chính và trong môi trường mới khi thành công họ lại phải mài giũa lại những tri thức thuở xưa, phần thời gian gián đoạn sẽ là kẻ thù đối với lối tư duy vẫn đang theo một hướng suy nghĩ. Liệu những công trình dang dở để dành lại chưa hoàn thiện khi "chiến đấu" sẽ trở nên hoàn thiện hơn sau nhiều thời gian cách ly, suy nghĩ bị bào mòn bởi thời gian.


Trí thức có thể hẹp bụng khi ta đòi hỏi họ phải vừa giỏi chuyên môn vừa đứng đầu sóng ngọn gió cho cuộc cánh mạng dân chủ vì quyền lợi của mọi người. Nhưng hoàn toàn họ không hèn nhát. Họ có thể trau dồi tri thức để một mai làm động lực cho đất nước dân chủ. Họ có hàng trăm ngàn con đường ủng hộ phong trào dân chủ như lôi kéo quần chúng khi có cơ hội, như dùng tài chính ủng hộ, như bao bọc giúp đỡ những chiến sĩ dân chủ. Hãy để họ tự lựa chọn cách thức giúp đỡ tốt nhất mà họ có thể. Đã có ai kêu gọi họi đóng góp tinh thần, công sức hay tài chính...vv...vv tuỳ theo sức của họ hay chỉ muốn áp đặt họ phải giống như mình- những chiến sĩ dân chủ. Đã chắc rằng ngay sau khi thành công thì các chiến sĩ dân chủ sẽ hoàn toàn là những nhà trí thức, đầy đủ khả năng quản trị xã hội ?.Những người đấu tranh dân chủ nên hoàn thiện mình, học hỏi hàng ngày hàng giờ để ít nhất có thể tham gia vào guồng máy quản trị xã hội ở một công việc nhất định. Có một số chiến sĩ đấu tranh chỉ mong muốn khi thành công sẽ không tham gia quản trị xã hội. Đó là tư tưởng tự ti, chưa dám đương đầu với cả một cuộc cách mạng khác tiếp diễn một cách logic-cuộc cách mạng hoàn thiện mình và chứng minh mình luôn và sẽ luôn là những hạt nhân tốt cho tương lai. Đâu phải ai cũng là bác sĩ, kỹ sư... nhưng đâu phải ai cũng làm được những công tác quần chúng, làm dân biểu đại diện cho quyền lực cũng như đấu tranh cho quyền lợi của nhân dân tốt như những chiến sĩ dân chủ đã cọ xát và được nhiều người tín nhiệm.


Hãy yêu cầu và khêu dậy lòng tự trọng của trí thức để họ đừng làm những việc có lợi cho độc tài, làm kéo dài sự tồn tại của độc tài. Việc này đoan chắc rằng thâm tâm họ đã nghĩ vậy và chỉ cần sự đồng thuận của phong trào thì họ sẽ làm tốt hơn bao giờ hết. Trí thức không hèn nhát. Chỉ có phong trào dân chủ chưa tìm được cách để họ hoà đồng theo khả năng của họ.


Hà Nội,

3/3/2009.

Nguyễn Phương Anh.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Một căn bệnh hiểm nghèo

Ngô Nhân Dụng

Nhiều mạng lưới (blogs) ở Việt Nam đang ồn ào về cuốn tiểu thuyết Ma Chiến Hữu, của Mặc Ngôn dịch từ tiếng Hoa sang tiếng Việt. Nhiều người đã đặt câu hỏi tại sao một nhà văn Trung Quốc như Mặc Ngôn dám viết truyện đặt lại vấn đề cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 còn khi các nhà văn Việt Nam nhắc đến vụ đó, thí dụ trong tập truyện Rồng Ðá của Vũ Ngọc Tiến và Lê Mai, thì sách bị tịch thâu và nhà xuất bản bị đóng cửa?

Chỉ đọc những lời bình trên các blogs thì hiểu lý do chính gây nỗi bất bình là những lời đối thoại của những hồn ma lính chiến trong tiểu thuyết của Mặc Ngôn. Họ ca tụng việc quân Trung Quốc đi đánh một nước ở phía Nam, mà tác giả tế nhị không gọi thẳng tên là Việt Nam. Như khi độc giả người Việt nghe lời của vị chính ủy sư đoàn nói trong sách nói, “chúng ta hy sinh vinh quang, quá khứ của chúng ta là vinh quang, lúc này cũng vinh quang, tương lai cũng vinh quang. Bất kỳ sự hoài nghi nào về vinh quang của chúng ta đều là sai lầm, những sai lầm cực kỳ nghiêm trọng!”

Trong tiểu thuyết có những lời quân Trung Quốc chúc nhau giết được nhiều địch để rạng danh quân đội anh hùng. Tất nhiên người Việt nào đọc cũng phải động lòng. Nhất là tờ báo Hà Nội Mới đã viết một bài ca ngợi Hứa Thế Hữu, viên tướng chỉ huy các trận đánh vào Cao Bằng là Lạng Sơn năm 1979. Ông tướng này cũng được giới thiệu là người chỉ huy trận chiến chiếm Hoàng Sa năm 1974, trong khi Hải quân Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ tổ quốc.

Nhà xuất bản Văn Học viết lời giới thiệu cuốn truyện ngay trang bìa càng làm người đọc sôi giận. Họ ca ngợi sách này là “Một cách nghĩ khác về chiến tranh; và một cách ca tụng riêng về chủ nghĩa anh hùng.” Nếu có một “chủ nghĩa anh hùng” trong đó thì tất nhiên là anh hùng đối với người Trung Quốc, còn với người Việt thì không.

Nhưng cũng nhiều người không đồng ý với thái độ phẫn nộ về những lời lẽ trong cuốn truyện của Mặc Ngôn. Vì tiểu thuyết là tiểu thuyết. Thực ra nhà văn này có một dụng ý khác hẳn. Nhiều người thấy chủ ý của Mặc Ngôn là chống chiến tranh, nói riêng chống ngay cuộc xâm lăng năm 1979. Ông mô tả những “chiến hữu trùng phùng” gồm những nông dân thất học bị bắt lính đẩy ra mặt trận rồi chết uổng, trong một cuộc chiến tranh vô nghĩa. Mặc Ngôn kể chuyện này, để “phê phán thói dối trá trong xã hội Trung Quốc nói chung và quân đội nói riêng,” như nhận xét của một độc giả. Nhân vật Tiền Anh Hào chưa giết được quân địch nào đã chết, chỉ vì anh tiểu đội trưởng có cái mông to quá, nằm xuống chỗ ẩn mà mông vẫn nhô lên để bên địch phát giác ra và bắn. Mặc Ngôn vẫn có lối văn hài hước và bi thương đến rớt nước mắt như vậy.

Nhưng phần lớn các người góp ý trên các blogs không nhằm phê phán Mặc Ngôn. Ý kiến mạnh nhất, nhiều người nói lên nhất, là phê phán đảng Cộng Sản Việt Nam đã cho xuất bản cuốn tiểu thuyết này, trong khi cấm các nhà văn trong nước không được viết gì về cuộc chiến tranh Việt-Trung năm 1979. Tức là, “Người Trung Hoa được nói, người Việt chỉ được nghe thôi.”

Cũng có người bênh vực chính quyền Cộng Sản trong việc xuất bản sách này. Có người ví việc cho xuất bản cuốn sách này ở Việt Nam cũng tương tự như bên Mỹ cho in bản dịch cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, trong đó ông kể chuyện những cảnh thương tâm khốn khổ của người lính miền Bắc trong cuộc nội chiến Việt Nam trước năm 1975.

Nhưng lời bênh vực này lập tức bị phản đối. Vì Mỹ là xứ tự do, người Mỹ tự do in cuốn truyện của Bảo Ninh, nhưng chính phủ Mỹ không bao giờ cấm các cuốn sách trong nước họ mổ xẻ về cuộc chiến đó. Ngay trong thời còn chiến tranh đã có biết bao nhiêu sách ở Mỹ mang tính chất phản chiến. Ở Việt Nam khác hẳn. Truyện ngắn mang tên “Chú Mìn Phủ và tôi “ của Vũ Ngọc Tiến trong tập truyện “ Rồng Ðá” do nhà xuất bản Ðà Nẵng in đã bị đảng Cộng Sản lên án nặng nề.

Trong truyện này tác giả kể chuyện chiến tranh giống khung cảnh cuộc chiến Việt-Trung năm 1979; ông cũng nêu lên những ý nghĩ phản chiến. “Sự thắng bại của cuộc chiến nằm trong dăm ba cái đầu lạnh, còn dân chúng hai bên mãi mãi là kẻ chiến bại, mãi chỉ là công cụ giết người mà thôi.” Có lúc lính hai bên chửi nhau, họ cũng chỉ dùng “toàn những lời lẽ của mấy ông cán bộ tuyên huấn hai bên, chứ họ có hiểu gì đâu chứ!” Ðối chiếu với cảnh con người đối với con người dã man trong thời chiến là cảnh những năm sau này, khi hai nước Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc thân thiện, hợp tác. Tay “lão bản” Trung Quốc nuôi đám đàn em là viên chức người Việt, bị bắt trong ổ mãi dâm. Vũ Ngọc Tiến viết “...biết đâu mai kia hai thằng viên chức mạt hạng này có tiền mua chức sẽ vênh vang cái mặt thớt răn dậy quần chúng, hay sang bên kia cửa khẩu ký kết văn bản ‘hợp tác toàn diện...’”


Có lẽ bốn chữ “hợp tác toàn diện” này là phạm húy nặng nhất. Ðó là những chữ đã được Nông Ðức Mạnh dùng khi sang Bắc Kinh ký kết, ông huênh hoang ca ngợi “hợp tác chiến lược và toàn diện” giữa hai đảng Cộng Sản. Bộ máy kiểm duyệt của đảng Cộng Sản Việt Nam không để cho những chữ “sỏ lá” đó lọt qua! Ðó chắc là một lý do khiến cuốn Rồng Ðá bị cấm, ngoài lý do tác giả dám khơi lại chuyện cuộc chiến tranh tàn khốc giữa hai nước “đồng chí anh em.”

Khi đối chiếu hành động của đảng Cộng Sản Việt Nam cấm cuốn truyện Rồng Ðá, với việc in bản dịch cuốn Ma Chiến Hữu, giới trẻ ở trong nước phải phẫn nộ. Nhiều người lên án đảng Cộng Sản đã theo một chủ trương “văn hóa nô dịch” khi cho in truyện của Mặc Ngôn mà lại cấm sách của Vũ Ngọc Tiến và Lê Mai; không những thế còn làm tội đóng cửa nhà xuất bản Ðà Nẵng. Có người lên án “đây là diễn biến hòa bình,” theo lối nói của nhà thơ Bùi Minh Quốc, trong đó Cộng Sản Trung Quốc nhắm điều khiển cả nước Việt Nam bằng cách nắm cả văn hóa tư tưởng của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Cũng có người bênh vực đảng Cộng Sản Việt Nam, cho là quyết định in cuốn truyện của Mặc Ngôn là một quyết định riêng của nhà xuất bản Văn Học, mà cấp trên trong đảng Cộng Sản không biết. Nhưng lý luận này đã bị bắt bẻ, nêu lên rằng chế độ kiểm soát của đảng Cộng Sản rất chặt chẽ: “Ðể xuất bản một cuốn sách cần phải qua khá nhiều khâu chuẩn bị, trong đó việc quản lý từ phía đảng và nhà nước. Việc cuốn sách này được ra đời cho thấy rõ có khi đây là chủ trương của ai đó!”

Ai đó? Chỉ có Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam chịu trách nhiệm. Cho nên có người không ngần ngại lên án đảng Cộng Sản có chủ trương cấm người Việt nói, chỉ được nghe người Trung Quốc nói thôi. Nhà văn Trung Quốc Mặc Ngôn có quyền viết về “Nỗi buồn chiến tranh” còn trong những hồn ma lính Trung Quốc, nhà văn Vũ Ngọc Tiến không được phép kể chuyện những người lính Việt, dù hai bên cùng dự một cuộc chiến tranh vô nghĩa.

Cuộc thảo luận về bản dịch cuốn tiểu thuyết Ma Chiến Hữu của Mặc Ngôn cuối cùng đi tới một kết luận không tránh được. Ðó là lên án chế độ độc tài đảng trị. Ngay cả một người bên vực chế độ Hà Nội, coi việc xuất bản tiểu thuyết Ma Chiến Hữu chỉ là một hành động đơn lẻ của một nhà xuất bản, cũng phải công nhận là việc in cuốn sách này trong lúc cả nước Việt Nam không ai được phép nhắc đến cuộc chiến tranh Trung-Việt năm 1979, là vô ý thức, do chế độ độc tài mà ra. Một người viết, “Ðây là một triệu chứng của một căn bệnh hiểm nghèo xuất phát từ chứng độc tài.” Lời kết tội đảng Cộng Sản rất rõ, nguyên văn: “Họ đòi quản hết, nhưng thực tế là không quản được bất cứ cái gì, tất cả đều loạn cào cào châu chấu lên hết!”

Ðối với người Việt Nam sống ở trong nước thì cái tội “đòi quản hết, nhưng thực tế là không quản được bất cứ cái gì” không chỉ nằm ở trong lãnh vực báo chí, xuất bản mà thôi. Ðảng Cộng Sản tự bản chất theo chủ trương độc tài toàn trị. Họ muốn nắm đầu người dân nên cấm không ai được tự do phát biểu. Nhưng trong khi thi hành chính sách toàn trị đó đảng Cộng Sản còn làm những việc khác tàn dân, hại nước không thể nào tha thứ được. Họ có “quản” được đám tham quan ô lại mà đảng đã sinh ra và nuôi dưỡng hay không? Cuộc thảo luận về tiểu thuyết Ma Chiến Hữu sẽ giúp cho đồng bào trong nước, nhất là giới thanh niên thấy rõ hơn bản chất độc tài toàn trị này. Người dân đã công nhận, không cần bàn cãi nữa: “độc tài là một căn bệnh hiểm nghèo!”

Thế bao giờ mới lo chữa bệnh?

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Khi các “nạp thuế nhân” lên tiếng!

Ngô Nhân Dụng

Dân xã Trường Yên, huyện Chương Mỹ, thuộc thành phố Hà Nội dám chống lại công an đến cưỡng bách năm gia đình phải bán đất với giá mà họ không chấp nhận. Các chủ đất cương quyết không chịu bán. Ðây là một hiện tượng mới, vì không còn là cảnh người dân để cho chính quyền cướp đất rồi mới mang nhau đi khiếu nại, chẳng ai thèm nghe cả. Biến cố này có ý nghĩa quan trọng hơn những cuộc tụ họp làm nghẽn quốc lộ của người dân ở Ðịnh Quán, tỉnh Ðồng Nai tuần trước, sau khi có người đi xe bị công an gọi phạt rồi hành hung. Từ lâu, người dân Việt Nam đã đã chứng tỏ họ không sợ nữa. Họ dám cưỡng lại cường quyền. Nhưng người Việt cần hành động tích cự hơn nữa, như nhiều người dân Trung Quốc đang làm.

Trong tuần này, ông Nguyễn Tấn Dũng đã công bố một chương trình kích thích số cầu trong nền kinh tế, lớn tới 300 ngàn tỷ đồng, khoảng 17 tỷ đô la. Nhật báo Financial Times ngày hôm qua tính con số thực của kế hoạch này chỉ khoảng 6 tỷ đô la, bằng một phần trăm ngân sách kế hoạch kích thích kinh tế của Trung Quốc (584 tỷ đô la). Tờ báo chuyên về kinh tế tài chánh này đặt câu hỏi không biết chính quyền cộng sản Việt Nam sẽ lấy tiền đâu ra để “kích cầu,” trong khi các ngân hàng thương mại, đại đa số do nhà nước làm chủ, đã cho vay nhiều lần hơn khả năng số tiền do các trương chủ ký thác.

Nhân dịp có chương trình kích thích kinh tế ở hai nước cộng sản cùng một lúc, người Việt nên bắt chước người Trung Quốc một điều, là yêu cầu nhà nước phải công khai hóa những món chi tiêu trong chương trình này. Ở Trung Quốc, một luật sư phát động phong trào này, không biết luật sư đoàn ở thành phố Sài Gòn có dám noi gương đó hay không?

Công khai, minh bạch là biểu hiện của tinh thần dân chủ. Chính phủ Obama ở Mỹ đã báo trước dân chúng có thể tìm đọc trong mạng lưới chính thức của Ủy Ban Ngân Sách số tiền chi ra mỗi tuần trong chương trình 878 tỷ kích thích kinh tế, bao nhiêu tiền đưa cho ai, dùng làm việc gì, ai cũng có thể biết được để theo dõi.

Ở Trung Quốc, Luật Sư Nghiêm Nghĩa Minh (Yan Yiming) ở Thượng Hải đã nẩy ra ý đòi chính phủ Bắc Kinh phải làm như vậy. Ông Nghiêm đã tới Bộ Tài Chánh đưa ra ý kiến này từ ngày 7 Tháng Giêng năm 2009, trước khi Tổng Thống Barack Obama nhậm chức. Ðiều đó cho thấy ông đã ý thức về tinh thần công khai, minh bạch từ lâu. Ông có thể chưa nghĩ ra phương pháp dùng mạng lưới điện toán để nhà nước báo cáo cho dân biết, nhưng bây giờ chắc nhiều người Trung Hoa sẽ nghĩ ra nên đòi hỏi như vậy. Nhưng đáng khen nhất là ông ta Nghiêm đã dám làm.

Văn phòng của Luật Sư Nghiêm Nghĩa Minh đã nổi tiếng từ lâu vì ông đứng ra biện hộ cho những người thấp cổ bé miệng trong những vụ kiện về thương mại, như bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ chống lại những lạm dụng do các cổ đông lớn và đại diện của nhà nước trong các công ty vi phạm. Ông cũng bảo vệ người dân trong các vụ kiện chống các xí nghiệp phá hoại môi trường sống. Ông đã yêu cầu chính quyền tỉnh An Huy công bố tên các xí nghiệp làm ô nhiễm. Ðây là lần đầu tiên ông nhân danh “những người đóng thuế” đứng lên yêu cầu chính quyền Bắc Kinh phải cho dân biết họ chi tiêu đồng tiền do dân đóng góp như thế nào.

Trong lá thư yêu cầu Bộ Tài Chánh công bố các khoản chi tiêu để kích thích kinh tế, ông Nghiêm viết: “Chúng tôi bây giờ tất cả là những người dân nạp thuế vì vậy chúng tôi có quyền được biết những đồng tiền của chúng tôi đem chi tiêu thế nào.”

Có lẽ đây là lần đầu tiên khái niệm “quyền của những người dân nạp thuế” được công khai phổ biến ở Trung Quốc trong một hoàn cảnh được mọi người chú ý như vậy. Từ xưa đến nay, khi nói đến người dân trong một nước, các chế độ cộng sản thường gọi họ bằng một danh từ trừu tượng, là “quần chúng” hoặc là “nhân dân.” Trong cuộc bàn luận ở Trung Quốc về khái niệm “xã hội công dân” trước đây 30 năm, nhiều nhà lý luận đã bác bỏ từ “xã hội quần chúng” vì nó biểu thị tinh thần nô lệ, như một đàn cừu, họ vạch ra trong khi viết chữ Quần thì người Hán đặt vào bộ Dương, là dê và cừu. Nhưng hai chữ “nhân dân” cũng là một từ trừu tượng bị lạm dụng quá nhiều, vì danh từ này không biểu thị được một quyền lợi nào của người dân cả. Khi đề xướng phát triển “xã hội công dân” (civil society), nhiều học giả Trung Quốc đã nhấn mạnh đến khái niệm “công dân” bao hàm những quyền dân sự và quyền chính trị, nói chung là dân quyền. Chữ “công dân” chỉ bắt đầu được sử dụng trong lịch sử từ khi người dân lật đổ chế độ quân chủ, những người Pháp cuối thế kỷ 18 hãnh diện gọi nhau là “công dân” thay vì gọi là “monsieur,” một từ có gốc gác quý tộc, phong kiến.

Nhưng người dân một nước tự gọi mình là “công dân” cũng chỉ nhấn mạnh đến các quyền chính trị; chỉ khi họ tự gọi mình là “người dân nạp thuế” thì mới đặt vấn đề trong lãnh vực kinh tế. Khi người Mỹ nói đến họ như là những “taxpayers” thì họ muốn nhắc nhở cho người cầm quyền nhớ rằng chính họ là chủ nhân của quốc gia, là những người trả lương cho tất cả guồng máy chính quyền. Bây giờ ông Nghiêm Nghĩa Minh dùng chữ Hán, tự giới thiệu mình và những người dân Trung Hoa khác là “nạp thuế nhân.” Ðây là một “bước nhảy vọt” trong đối thoại chính trị ở Trung Quốc.

Nhân danh những “nạp thuế nhân” như thế, Luật Sư Nghiêm Nghĩa Minh nói thẳng, “Chúng tôi không thỏa mãn với những con số ước tính mà chính phủ vẫn tung ra cho chúng tôi coi. Chúng tôi cần biết nhiều chi tiết hơn. Chúng tôi không muốn bị quý vị lừa nữa!” Khi viết thư yêu cầu, Nghiêm Nghĩa Minh còn dọa sẽ kiện các cơ quan nhà nước nếu không công bố các khoản chi tiêu kích thích kinh tế!

Tại sao người dân có quyền bắt buộc chính phủ phải công bố chi tiết việc chi tiêu của guồng máy nhà nước? Giản dị, vì đó là tiền của họ. Khi người dân là những “nạp thuế nhân” thì họ có quyền biết tiền của họ được chi tiêu ra sao! Quý vị có thể tìm trong hiến pháp các quốc gia để thấy những điều khoản xác nhận rằng dân chúng có quyền này quyền nọ. Nhưng các chế độ độc tài cộng sản lúc nào cũng sẵn sàng bất chấp các bản hiến pháp mà họ viết ra, bằng đủ thứ trò múa rối. Cộng Sản Trung Quốc cũng như Cộng Sản Việt Nam có bao giờ tôn trọng các quyền tự do bầu cử, tự do phát biểu, tự do lập hội, vân vân, được viết trong các bản hiến pháp của họ đâu? Cho nên, bây giờ Luật Sư Nghiêm Nghĩa Minh dùng một lối nói khác: “Chúng tôi, những người đóng thuế. Tức là những người góp tiền vào cái gọi là ngân sách quốc gia, đặc biệt là trong ngân sách kích thích kinh tế!”

Ai cũng hiểu tại sao người dân Trung Hoa cũng như người Việt Nam lại quan tâm đến các khoản chi tiêu kích thích kinh tế. Hãy nhớ lại chính quyền cộng sản Việt Nam chi tiêu quỹ viện trợ ODA của Nhật Bản như thế nào. Hãy nhớ lại những cột bê tông cốt tre trong các công trình xây dựng do nhà nước cộng sản thi hành. Mỗi khoản chi tiêu của nhà nước cộng sản, là một cơ hội cho các cán bộ “rút ruột.” Luật Sư Nghiêm Nghĩa Minh đã từng đứng ra kiện các công ty Trung Quốc ghi tên trên thị trường chứng khoán, yêu cầu Bộ Tài Chánh công bố chi tiết các món chi trong ngân sách năm 2008. Trong bản kiến nghị gần đây, ông viết, “Bí mật là nguyên nhân gây ra tham nhũng. Người dân có quyền biết tiền bạc của họ được chi tiêu ra sao.” Cho nên hành động đòi công khai minh bạch trong việc chi tiêu là một bước rất quan trọng trong việc đòi quyền dân ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam bây giờ.

Bên Trung Quốc người ta không chờ Luật Sư Nghiêm Nghĩa Minh mới bắt đầu phong trào đòi công khai minh bạch. Năm 2007, một nhà phân tích tài chánh, ông Ngô Tuấn Lương (Wu Giunliang) đã làm kiến nghị yêu cầu được coi các tài liệu về ngân sách của chính phủ Bắc Kinh và các tỉnh, các thành phố. Sau cùng, chỉ có chính quyền Thẩm Quyến mời ông tới coi bản ngân sách của thành phố dầy 300 trang. Mới đầu họ chỉ cho phép ông Ngô ghi chép, không cho chụp copy tài liệu này. Nhưng sau khi ông phản đối, họ cũng chịu cho chụp. Ông Ngô Tuấn Lương đã thiết lập một địa chỉ lưới (budgetofchina.com) để những “công dân mạng” (netizen) có thể vào đó tham khảo.

Cuộc vận động của Nghiêm Nghĩa Minh đã gây nên một phong trào trên mạng lưới, bao nhiêu thanh niên Trung Quốc cùng lên tiếng ủng hộ ông. Phong trào đòi minh bạch công khai đã lan rộng khiến đảng Cộng Sản Trung Quốc phải tìm kế xoa dịu. Cho nên đầu tuần này, ông Mục Hồng (Mu Hong), phó chủ nhiệm Ủy ban Phát triển và Cải tổ là cơ quan phụ trách thi hành kế hoạch kích thích kinh tế, đã tuyên bố rằng ủy ban này sẽ công bố những chi tiêu trong kế hoạch mới.

Ðây là một bước tiến trong cuộc vận động khai mở dân trí của các nhà trí thức Trung Hoa. Họ đang đánh thức đồng bào của họ. Phải tỉnh ngủ. Ðừng sợ chính quyền như những bầy tôi sợ vua chúa. Chính mình, những người đóng thuế nuôi nhà nước, là chủ nhân của quốc gia. Các chủ nhân có quyền biết tiền bạc của mình được chi tiêu ra sao.

Năm ngoái, tờ Thanh Niên nhật báo ở Trung Quốc đã nghiên cứu dư luận dân chúng sau khi chính quyền cộng sản làm ra luật về công khai hóa tin tức. Có 77% dân Trung Hoa coi tin tức về tài sản của các quan chức chính quyền là quan trọng muốn biết nhất. Kế đến, họ muốn biết rõ tin tức về những việc tịch thu đất, phá nhà dân, và phản ứng của chính quyền đối với các cuộc biểu tình. Và trong số 3,800 người được phỏng vấn, có 65% cho biết khi nào có luật buộc chính quyền phải công khai, minh bạch, họ sẽ làm đơn yêu cầu biết những tin tức như vậy. Nếu chính quyền không đáp ứng yêu cầu đó thì sao? Có 34% người trả lời nói rằng họ sẽ nhờ báo chí lên tiếng. Ðiều này cho thấy quyền tự do báo chí quan trọng như thế nào.

Ðó là những ước nguyện của người dân, dù ở Trung Quốc hay ở Việt Nam. Giới trí thức cần dẫn đầu phong trào đòi công khai minh bạch. Những hành động đó sẽ góp phần tranh đấu và xây dựng tinh thần dân chủ, không kém gì những cuộc biểu tình đòi quyền sống của người dân xã Trường Yên, huyện Chương Mỹ. Và đây chính là công việc mở mang dân trí mà Phan Châu Trinh đã nêu ra trước đây một thế kỷ. Người dân Trung Quốc cũng như Việt Nam cần ý thức rằng họ là những người đóng thuế lấy tiền nuôi guồng máy cán bộ, công chức, mà bây giờ chỉ nuôi cả một đảng mafia tham nhũng!

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Rút ra được gì từ cuộc chiến biên giới Việt-Trung?
Tác giả: Tiến Hồng



Kỷ niệm 30 năm cuộc chiến biên giới Việt-Trung (17/02/1979), một cuộc chiến mà Trung Quốc tung ra khoảng 150 000 quân với khoảng 80 000 thương vong của cả hai phía, về mặt chính thức chỉ có một câu nói ngắn ngủi của đại diện ngoại giao Trung Quốc «hy vọng khép lại quá khứ, hướng tới tương lai». Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam hoàn toàn im lặng ngoại trừ vòng hoa lạc lõng đặt tại nghĩa trang Long Châu, Quảng Tây của HĐND,UBND,MTTQ xã Đề Thám (Cao Bằng, nơi quân Trung Quốc tàn phá giết hại nặng nhất). Vòng hoa có đề: «Đời đời nhớ ơn các liệt sĩ Trung Quốc» (!). Về phương diện truyền thông, trong khi phía Trung Quốc đã cho đăng trên mạng như Hoàn Cầu, Thiết Huyết Luân Đàn (1) những bài viết kỷ niệm và ca ngợi cuộc «đánh trả tự vệ Việt Nam» (!), lên án Việt Nam phản bội, thì Ban Văn hoá Tư tưởng lại cho phép phát hành cuốn truyện dịch Ma chiến hữu của nhà văn Trung Quốc Mạc Ngôn mà bìa sau đã quảng cáo «một cách ca ngợi riêng về chủ nghĩa anh hùng» (2). Đây chỉ là một vài biểu hiện trong tư tưởng thần phục thiên triều của giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam.

Phải sòng phẳng với lịch sử trước khi hướng tới tương lai. Phải tìm biết nguyên nhân tại sao nhà cầm quyền một nước cộng sản lớn này lại “trừng phạt” một nước cộng sản «núi liền núi, sông liền sông» sau khi đã từng chi viện 20 tỉ MK cho cuộc chiến Việt Nam. Sau khi tìm hiểu nguyên nhân, chúng ta sẽ ghi nhận những hệ quả của cuộc chiến và bài học rút ra.

Có rất nhiều nguyên nhân đã đưa đến mối bất hoà Việt Trung ngày càng trầm trọng mà năm 1978 là cao điểm không thể hàn gắn. Các nhà phân tích thường nêu lên các yếu tố: Việt Nam ngả theo Liên Xô, cuộc tranh chấp ảnh hưởng tại Campuchia, vấn đề nhập tịch, chống tư sản và «nan kiều», vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa. Mối bất hoà này trong bối cảnh cô lập về ngoại giao của Việt Nam đã được Trung Quốc khai thác để biến thành hành động quân sự giới hạn có tính toán. Mối bất hoà nói trên thực ra đã có trước 1975 sau khi thông cáo chung Thượng Hải Mỹ-Trung 1972 ra đời. Chính Mao Trạch Đông đã khuyên Phạm Văn Đồng nên tiếp tục chiến tranh du kích, không nên tổng tấn công chiếm hết miền Nam. Mao nói: “Cái chổi của chúng tôi không quét tới Đài Loan thì cái chổi của các đồng chí cũng không quét tới Sài Gòn” (4). Năm 1973, Chu Ân Lai hứa với Lê Duẩn sẽ viện trợ 2 tỉ MK trong hai năm nếu Bắc Việt không tổng tấn công miền Nam. Lê Duẩn không chấp thuận và xoay qua Liên Xô. Kể từ đó đến 1975,Trung Quốc ngưng viện trợ quân sự cho Bắc Việt. Sau 1975, Trung Quốc muốn Mặt Trận GPMN có vị trí độc lập với Bắc Việt thể hiện nơi cuộc tiếp đãi ân cần phái đoàn của Trương Như Tảng trong khi lạnh nhạt với phái đoàn Bắc Việt.

Yếu tố Liên Xô

Năm 1975 cũng là năm mà vấn đề Trường Sa và nhất là mối quan hệ Việt Nam-Liên Xô trở nên nhức nhối với Trung Quốc. Kể từ cuộc chiến biên giới Xô-Trung năm 1969, Liên Xô được coi là kẻ thù số 1 của Trung Quốc. Cuối năm 1975 khi Đặng Tiểu Bình trở lại nắm quyền, Trung Quốc e ngại Liên Xô liên kết với Việt Nam để gây ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á sau khi Mỹ rút lui.

Lúc đó, Việt Nam rất cần viện trợ sau khi các nước Tây Âu hững hờ. Sau chuyến đi cầu viện thất bại của Lê Thanh Nghị với biệt danh «tên ăn mày», cuối tháng 9/1975, Lê Duẩn và Lê Thanh Nghị lại sang Trung Quốc một lần nữa. Đặng Tiểu Bình trong bữa tiệc khoản đãi đã đề cập đến «chủ nghĩa bá quyền» và gián tiếp kêu gọi Việt Nam liên kết với Trung Quốc để chống lại Liên Xô. Lê Duẩn không đả động đến vấn đề này mà chỉ cám ơn toàn thể «các nước XHCN anh em» dĩ nhiên trong đó có Liên Xô. Lê Duẩn không thảo thông cáo chung và ra về tay không. Trong chuyến đi một tháng sau đó sang Liên Xô, Lê Duẩn ký thông cáo chung nhất trí với đường lối đối ngoại của Liên Xô và được cấp viện 3 tỉ MK từ 1976-1980. Kể từ ngày đó, Việt Nam nằm trong hàng ngũ đối nghịch với Trung Quốc mặc dù phải đến 7/6/1978 họ Đặng mới nói thẳng: «Việt Nam đang ngả về Liên Xô, kẻ thù của Trung Quốc» (5). Lúc đó, Việt Nam vừa chính thức gia nhập COMECON và Trung Quốc cắt đứt mọi viện trợ cho Hà Nội.

Năm 1976, giới lãnh đạo Việt Nam lần lượt đưa ra những biện pháp để tránh thù trong như: loại trừ Hoàng Văn Hoan ra khỏi Bộ Chính trị đại hội 4 (1976-80), loại ba cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc trong tư cách uỷ viên dự khuyết. Vấn đề nội thù người Hoa cũng được đặt ra. Đến 3/11/1978, khi Việt Nam ký hiệp ước hợp tác toàn diện với Liên Xô trong đó có điều 6 (quân sự), Trung Quốc không còn chần chừ gì nữa trong hành động quân sự dù là đã được xác định là hạn chế trong thời gian ngắn và mục tiêu. Tất nhiên, lo ngại về phản ứng của Liên Xô đã được nêu ra trong phiên họp của quân uỷ trung ương tháng 12/1978 nhưng Đặng đã lượng định khả năng này rất thấp (khi ấy biên giới Xô Trung đã bố trí 50 sư đoàn chủ lực).

Vấn đề người Hoa

Về vấn đề quốc tịch, trước đây, miền Bắc cho phép người Hoa giữ quốc tịch mà vẫn hưởng đủ quyền lợi, lại không phải đi lính. Tháng 2/1976, để chuẩn bị quốc hội cả nước, những người không nhận quốc tịch Việt Nam bị mất hộ khẩu, khẩu phần. Tháng 3/1978, một chiến dịch đánh tư sản mại bản mà chủ yếu là người Hoa đã làm cho Bắc Kinh bực tức. Trước đó, các người Hoa ở biên giới được khuyến khích, ép buộc để rời Việt Nam. Tháng 5/1978, Trung Quốc đã dự tính đưa tàu ra đón những «nạn kiều» nhưng Việt Nam không cho vào. Trung Quốc đã lên án và kêu gọi những người chưa nhập tịch lập liên minh chống bá quyền. Chính sách lấy vàng cho người Hoa vượt biên bán chính thức bị Bắc Kinh lên án.

Cuộc chiến Campuchia

Mặc dù cùng là cộng sản và quân đội Bắc Việt đã giúp phe Khơ-me đỏ xây dựng lực lượng trong hai năm đầu sau khi Lon Nol đảo chính Sihanouk nhưng lực lượng Pol Pot (Saloth Sar) đã không giúp đỡ và có những đụng chạm với quân đội Bắc Việt. Pol Pot từ Pháp về và sau đó thành lập đảng Lao động Campuchia (1960) không chịu ảnh hưởng của Việt Nam như tiền thân đảng Nhân dân cách mạng (1951) do Sơn Ngọc Minh thành lập. Di chứng đảng cộng sản Đông dương đã khiến Pol Pot luôn luôn lo ngại âm mưu thống trị của Việt Nam và đã đi đến chiến dịch thanh trừng những đảng viên đã từng ở Bắc Việt trở về. Pol Pot có hận thù với Việt Nam tương tự Lon Nol (chiến dịch «cáp duồn» khiến VNCH phải đưa tàu đón người Việt về) và mong ước một thời đại hoàng kim Angkor. Mối hận thù, nghi kỵ lại thêm hoang tưởng (tương tự Lon Nol) đã thể hiện trong một bài diễn văn của Pol Pot (10-5-1978): “Cho đến nay, chúng ta dã đạt được tỉ số một người lính Campuchia chết sau khi giết được ba mươi người Việt (sic). Như vậy chúng ta chỉ cần hy sinh có hai triệu người Khmer để tiêu diệt trên năm chục triệu người Việt, và chúng ta vẫn còn sáu triệu”.

Mối hận thù này đã được Trung Quốc khai thác triệt để, nhưng những tấn công đảo Phú Quốc và chiếm đảo Thổ Châu chỉ ba tháng sau khi chiếm quyền chắc không có bàn tay của Trung Quốc. Chính chuyến đi Bắc Kinh cuối năm 1975 của Pol Pot được Mao hết lời khen ngợi đã là nhân tố quyết định để Pol Pot đi sâu vào con đường chống Việt Nam mà cao điểm là hai trận tấn công quy mô tại An Giang (30/04/1977, gần 1000 thường dân bị chết) và Tây Ninh (24/09/1977) tất nhiên với sự yểm trợ vũ khí của Trung Quốc. Cuối năm 1977, Việt Nam tấn công trả đũa một đòn nặng nhưng phải lui quân (6/1/1978) khi bị tố cáo xâm lược. Sau trận tấn công đó, Campuchia cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam và phái đoàn Trung Quốc do Đặng Dĩnh Siêu dẫn đầu (18/01/1978) đã cam kết giúp đỡ bảo vê Campuchia. Với sự đào thoát của Heng Samrin tiếp theo một cuộc thanh trừng chưa từng có trong nội bộ Pol Pot, Việt Nam đã chuẩn bị kế hoạch chiếm đóng Campuchia và Lê Duẩn đã thông báo cho đại sứ Nga tại Hà Nội (tháng 7/1978) sẽ giải quyết dứt điểm Kampuchia trước đầu năm 1979. Tình báo Trung Quốc đã theo dõi sát và báo cho Đặng trước phiên họp quyết định tấn công Việt Nam của quân uỷ vào tháng 12/ 1978. Về phía Việt Nam, với Nghị quyết 9 vào giữa năm 1978, theo đó Trung Quốc được coi là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất (trong khi Hoa Kỳ chỉ là kẻ thù cơ bản và lâu dài), Việt Nam đã tự đặt mình ở trường hợp có thể bị Trung Quốc tấn công bất cứ lúc nào.

Vấn đề Hoàng Sa & Trường Sa

Sau khi Việt Nam ra công hàm về vấn đề Hoàng Sa (tháng 6/1975), trong chuyến đi Bắc Kinh, khi Lê Duẩn đề cập đến vấn đề này, họ Đặng đã gạt đi và nói «Vấn đề này không cần phải bàn.. (đó) là lãnh thổ Trung Quốc» (6). Cuối năm 1975, Việt Nam đóng giữ một số đảo thuộc Trường Sa đã gây phản ứng từ Trung Quốc. Tháng 6/1977, khi Phạm Văn Đồng đến Bắc Kinh và đặt vấn đề này, phó thủ tướng Lý Tiên Niệm đã yêu cầu Việt Nam trở về lập trường trước 1974 (bản công hàm của chính ông Đồng năm 1958). Ông Đồng bối rối không trả lời.

Tình trạng cô lập về ngoại giao của Việt Nam và chủ thuyết Brzezinski

Đặng Tiểu Bình đã khai thác triệt để tình trạng cô lập về ngoại giao của Việt Nam để tung ra cuộc chiến tranh biên giới có giới hạn. Thực vậy, kể từ sau chiến thắng 30/4/1975, cộng sản Việt Nam quá tự đắc. Không những coi thường các quốc gia trong vùng (những lời tuyên bố của ông Đồng), trợ giúp phiến quân cộng sản Thái Lan, không gia nhập ASEAN. Tất cả đã khiến cộng sản Việt Nam phải trả giá đắt khi Việt Nam bị lên án khi xua quân qua Kampuchia và các nước này cũng yên lặng để Trung Quốc hành động quân sự với Việt Nam. Đặc biệt là Thái Lan đã gián tiếp hỗ trợ tàn quân Pol Pot (khoảng 30000 để đương đầu với 200000 quân Việt Nam). Với Mỹ, trong giai đoạn đầu 1975-1977, khi nước này chìa tay để muốn tiếp nối ngoại giao (kể cả một phái đoàn qua Hà Nội), cộng sản Việt Nam lại đặt điều kiện phải viện trợ 3 tỉ MK mà Nixon đã hứa. Đây là một đòi hỏi hoàn toàn phi hiện thực và lại không đúng theo tinh thần mà Nixon đã hứa: phải tôn trọng hiệp định Paris. Đến lúc biết ra thì đã quá trễ. Mỹ không còn muốn sớm tái lập quan hệ với Việt Nam vì cố vấn Brzezinski qua mặt ngoại trưởng Vance để thúc đẩy tổng thống Carter đặt ưu tiên quan hệ với Trung Quốc hầu cô lập Liên Xô đang sa lầy ở Afghanistan (cuộc chiến 10 năm). Vì thế trong chuyến công du Mỹ tháng 1/1979, khi Đặng tỏ ý là cần lo ngại phản ứng dây chuyền từ Campuchia, Afghanistan, Carter đồng ý. Từ đó Đặng nêu lên cần hạn chế tham vọng của Việt Nam và cho Việt Nam bài học thích hợp, Carter không có phản ứng gì rõ rệt để Đặng lo ngại. Trước đó (tháng 12/1978), khi ghé thăm vài nước Đông Nam Á, họ Đặng đã hùng hổ tuyên bố trước truyền thông quốc tế là «Việt Nam là côn đồ (hooligan), phải dạy một bài học». Dù truyền thông Trung Quốc cắt xén đoạn đầu, chúng ta thấy là Đặng đã chuẩn bị dư luận cho hành động chiến tranh. Kể cả câu tuyên bố tại Tokyo: “Hiệp ước mà Việt Nam và Liên Xô ký kết có tính chất đồng minh quân sự. Việt Nam đã mở cuộc xâm nhập vũ trang vào Campuchia và đang khiêu khích ở biên giới Trung Quốc”.

Thực ra, nguyên nhân chính của cuộc chiến biên giới là vì Việt Nam đã thách thức uy quyền và ảnh hưởng của Trung Quốc tại các nước Đông Dương đặc biệt là tai Campuchia. Cuộc chiến biên giới 1979 nên được coi là «đòn trả thù giới hạn (về không gian và thời gian)» như tuần báo Time đã ghi nhận.

Hệ quả về phía Trung Quốc

Theo đa số các nhà phân tích, cuộc chiến 6 tỉnh biên giới 1979 là một thất bại tương đối về phương diện quân sự đối với Trung Quốc nhưng thành công về ngoại giao và nhiều phương diện khác (7).

Khi chuẩn bị tấn công, Đặng dự tính sẽ đánh chớp nhoáng lấy tỉ lệ 8 chọi 1 để đánh gục quân đội Việt Nam. Nhưng mặc dù có bất ngờ về thời gian (8), Trung Quốc đã không dự đoán được lực lượng quân đội biên phòng (chủ yếu là dân quân) với quân số đông đảo (tỉ lệ thực là 3 chọi 1), huấn luyện thuần thục và trang bị hiện đại (với nhiều loại đại bác, tên lửa do Liên Xô cung cấp) đã làm cho quân đội Trung Quốc hao tổn nặng mới lấy được Lạng Sơn. Phương thức tấn công «biển người» của tư lệnh mặt trận Hứa Thế Hữu đã thất bại, vấn đề phối hợp hành quân yếu kém, các vũ khí thô sơ so với Việt Nam. Phải đơn phương quyết định lui quân ngày 5/3/1979 khi quân đội chính quy Việt Nam chuẩn bị phản công ở Lạng Sơn. Tuy nhiên, Trung Quốc đã chần chờ đến ngày 16/3/1979 mới rút hết quân để tàn phá và giết hại tối đa thường dân hai tỉnh biên giới. Một dấu hiệu cụ thể của thất bại quân sự là các tướng chỉ huy đều bị thất sủng sau cuộc chiến biên giới lần này.

Nhiều nhà phân tích cho rằng Đặng đã nhân thất bại lần tấn công này để xúc tiến kế hoạch 4 hiện đại trong đó quân sự là ưu tiên. Điều này thể hiện trong cuộc chiến biên giới lần 2 (1984-89) để chiếm lĩnh cứ điểm chiến lược 1509 núi Đất (thuộc tỉnh Hà Giang của Việt Nam mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn). Cuộc chiến này đã làm hao tổn hàng chục ngàn quân hai bên để rồi chính thức mất về tay Trung Quốc ngày 13/2/ 1991 (khi hai bên bình thường hoá quan hệ).

Hệ quả về tranh chấp biên giới

Trước cuộc chiến, đã có những đụng độ ở khu vực điểm nối ray Đồng Đăng-Bằng Tường. Sau cuộc chiến, theo ông Lê Công Phụng, đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ (cựu trưởng đoàn đàm phán biên giới) trong cuộc phỏng vấn của đài BBC cuối tháng 9/2008, Trung Quốc vẫn còn giữ 27 cao điểm (kể cả cao điểm 1509) và cuối cùng vẫn còn giữ 6 đỉnh. Như vậy, chúng ta hiểu tại sao Trung Quốc muốn hoàn tất phân giới cắm mốc dứt điểm trước ngày kỷ niệm 30 năm cuộc chiến 1972 (Đặng nói: Người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán!). Đọc kỹ thông cáo của thứ trưởng ngoại giao Vũ Dũng (9) ngày 24/2/2009 về 3 điểm mốc biên giới chúng ta có thể hiểu một phần những thua thiệt (thực ra chưa đầy đủ vì có nhiều chỗ mơ hồ và có giấu giếm nhiều điểm) trong việc phân định này. Việc phân định biên giới trên đất liền và biển trong các hiệp định ký với Trung Quốc năm 1999 và 2000 trong hoàn cảnh cô lập và lệ thuộc vào Trung Quốc mới là nguồn gốc của những thua thiệt ngày nay. Dù sao, việc ổn định về biên giới đất liền dù thua thiệt có thể được coi là tích cực trên một số khía cạnh. Tình trạng không giao thương ở cửa khẩu suốt 10 năm vẫn còn tranh chấp võ trang biên giới đã khiến nền kinh tế Việt Nam thêm khốn khó. Tình trang thâm hụt ngoại thương với Trung Quốc gần 15 tỉ MK như hiện nay đã cho thấy Việt Nam bị thua thiệt trong giao thương với Trung Quốc.

Tuy nhiên, tranh chấp quan trọng nhất hiện nay liên quan đến biển Đông và Hoàng Sa Trường Sa vẫn chưa giải quyết. Trung Quốc nhất quyết không chịu cho các hãng dầu ngoại quốc khai thác vùng biển của Việt Nam và mới đây chỉ chấp nhận để hãng dầu Trung Quốc khai thác với ngân khoản 29 tỉ MK (để rồi sẽ chia cho Việt Nam một phần bé nhỏ) là một điều thua thiệt lớn. Chúng ta sẽ hiểu rõ hơn Việt Nam sẽ nhân nhượng về về vấn đề này hay không khi đưa ra những đề nghị cho Liên Hiệp Quốc về quy định lãnh hải mở rộng trong tháng 5/2009.

Hệ quả chính trị kinh tế

Tất nhiên, nếu coi cuộc chiến biên giới lần 1 và 2 là để quân đội Việt Nam phải rút lui sớm Campuchia thì họ Đặng cũng không thành công. Tuy nhiên, cuộc chiến kéo dài 10 năm ở Campuchia cũng là một thất bại về quân sự và chính trị của Việt Nam khi mà chỉ với 30000 tàn quân Pol Pot, quân đội Việt Nam với 20000 quân vẫn không thể sớm bình định và sa lầy. Hậu quả cuộc chiến với thiệt hại 50000 quân và làm suy yếu kinh tế, cô lập ngoại giao hàng chục năm để cuối cùng phải trở về quỹ đạo Trung Quốc khi khối Liên Xô tan rã không còn chỗ dựa nào khác.

Theo giáo sư Carl Thayer, cuộc chiến biên giới Trung Quốc đã làm cho tiến trình đổi mới bị chậm đi 7 năm (7). Họ Đặng đã khởi sự đổi mới từ 1978 với phương châm «Bất kể mèo trắng, mèo đen hễ mèo nào bắt được chuột là mèo tốt». Lúc đó, báo chí trong nước đã lên án họ Đặng là đầu hàng tư bản, là phản động. Thế mà hiện nay họ Đặng lại được ca ngợi hết lời về tiến trình đổi mới mà Việt Nam mãi đến 1986 mới mở mắt ra.

Nhưng hệ quả quan trọng nhất là hệ quả tâm lý nơi giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Giáo sư Ngô Vĩnh Long (7) đã có lý khi phát biểu: «Hệ quả cuộc tấn công Việt Nam, theo tôi, là sự kiện nhiều người trong giới lãnh đạo Việt Nam thấy Trung Quốc là sợ và muốn làm hài lòng Trung Quốc. Thế nhưng ta không thể nào chiều ý Trung Quốc 100% được, ví dụ như là việc ký kết các hiệp định nói là Việt Nam sẽ hợp tác toàn diện trong mọi lãnh vực đối với Trung Quốc, kể cả trong vấn đề đào tạo cán bộ, rồi cho Trung Quốc biết về tình hình Việt Nam thế này thế kia.

Tôi nghĩ như vậy ấy là quá mức. Không có một đất nước nào trên thế giới mà có thể hợp tác toàn diện với một nước khác được. Như vậy rất là khó cho vấn đề giao lưu với Trung Quốc về lâu về dài, bởi vì Trung Quốc sẽ càng ngày càng ép Việt Nam. Đến khi mà dân chúng Việt Nam không chiụ được nữa, tôi e rằng đó sẽ là một vấn đề gây rất khó khăn, không những giữa chính quyền Việt Nam với dân chúng mà cả giữa Việt Nam với Trung Quốc. Nếu mà mình muốn có một sự hợp tác ổn định và lâu dài, thì phải có một sự công bằng, và bình đẳng giữa hai bên».

Việc Trung Quốc ngày càng ép giới lãnh đạo cộng sản hiện nay thì mọi người đều biết rõ. Không những về biên giới đất liền, Hoàng Sa Trường Sa, dự án bôxít ở Tây nguyên và dự án lập lò nguyên tử do Trung Quốc xây dựng, trao đổi thương mại, và quan trọng hơn cả là không thực hiện được mối quan hệ đối tác chiến lược với Hoa Kỳ, một đối trọng phải có với Trung Quốc…

Giới lãnh đạo cộng sản hiện nay đã hoàn toàn đi vào quỹ đạo của Trung Quốc và không còn mối quan hệ với nhân dân. Vấn đề là đến khi nào thì nhân dân sẽ có tiếng nói quyết định sau cùng.

Rennes 06/03/2009
Tiến Hồng


(1) Tam Dương, «30 năm cuộc chiến TQ-VN nhìn từ phía TQ». Diễn Đàn, 12/02/2009.
(2) Thực ra trong cuốn truyện này, Mạc Ngôn đã cho thấy những binh sĩ Trung Quốc tham gia nhưng chẳng hề biết lý do cuộc chiến mà chỉ để đỡ miệng ăn cho gia đình nghèo khó. Những lời lẽ tuyên truyền chủ yếu từ viên chính uỷ sư đoàn. Tác giả có thể chỉ muốn đề cao tình chiến hữu như nhan đề cuốn sách. Xem thêm bài viết “Ma chiến hữu - một bằng chứng khác về việc CSVN muốn bán tất cả cho Trung Quốc » của Phan Việt Đăng trên Người Việt, (27/02/2009).
(3) Trung Quốc chính thức đơn phương ngưng chiến ngày 05/03/2009 nhưng phải đến 16/03/2009 mới thực sự rút hết quân sau khi đã phá sạch, giết sạch đặc biệt tại Cao Bằng, Lạng Sơn.
(4) Hoàng Dung, «Chiến tranh Đông Dương 3». Văn Tuyển, ngày 23/03/2007.
(5) TS Nicholas Khoo, «Từ đồng chí thành kẻ thù». BBC Tiếng Việt, ngày 6/2/2009.
(6) Huy Đức, «Cuộc chiến 1979 và Hoàng Sa». BBC Tiếng Việt, ngày13/2/2009.
(7) Trọng Nghĩa, «30 năm sau cuộc chiến biên giới, hai chính quyền muốn xoá nhoà quá khứ». RFI Tiếng Việt, 16/2/2009.
(8 ) Quân đội biên phòng chỉ biết trước có hai ngày và lại lầm về thời điểm tấn công (dự tính là ngày 22/7/1979). Nhưng quân đội chính quy đã tập huấn bộ đội biên phòng 5 tháng trước. Tuy nhiên việc thiếu chuẩn bị tâm lý người dân được coi là sai lầm và gây hậu quả nhiều phương diện.
(9) «Kết quả phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền VN-TQ tại các khu vực: cửa khẩu Hữu Nghị, thác Bản Giốc và cửa sông Bắc Luân». Bộ ngoại giao Việt Nam, 6/3/2009.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Harry Wu vạch trần tội ác diệt chủng của ĐCS Trung Quốc.
Tác giả: "Kẻ phá rối" (Troublemaker)/Harry Wu


WASHINGTON - "Chủ tịch cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông xứng đáng đứng ngang hàng với nhà độc tài Đức Quốc Xã Adolf Hitler vì cách hủy diệt toàn bộ con người Trung Quốc của Mao."

Đó là lời phát biểu của nhà bất đồng chính kiến Harry Wu. Ông là một tù nhân chính trị và cũng là một tù nhân khổ sai trong nhiều năm tại những nhà tù tại Trung Quốc. "Kẻ phá rối" (Troublemaker) cuốn sách mang đến cho người đọc cảm giác ớn lạnh nó phơi bầy cảnh giết chóc trong những trại tù và các phương pháp được sử dụng để che dấu sự tàn bạo của nó để tránh sự chú ý của thế giới ở phương Tây.

"Mao đã giết rất nhiều người như Hitler, thậm chí có thể nhiều hơn," Wu nói. "Mao còn cố tìm cách tiêu diệt truyền thống gia đình của người Trung Quốc vì nó hoàn toàn chống lại triết lý không tưởng cộng sản." Hơn nữa, Mao phải chịu trách nhiệm đối với hàng triệu người tử vong "như là một kết quả của chính sách nông nghiệp điên rồ."

Hitler cẩn thận sử dụng các cụm từ hoa mỹ như "giải pháp cuối cùng cho dân tộc Do Thái" (extermination of the Jews). Còn ngôn ngữ được Mao sử dụng "Tất cả cho cuộc cách mạng vô sản."

Harry Wu hiểu điều đó có nghĩa là. "một mệnh lệnh cho vệ binh đỏ vào đêm của ngày 18 tháng 8 năm1966 trong cơn thịnh nộ đi qua các thành phố, giết chết tất cả những ai không vừa lòng họ, 1741 nạn nhân," chỉ trong một ngày.

Chỉ với một lý do duy nhất : "người hàng xóm của tôi là một tư sản ? Tra tấn Hắn. Hãy giết hắn. "

Wu nói rằng ông "cảm nhận được mối liên kết giữa những sự khủng khiếp trong cuộc sống của người Do Thái trên đường đến Kristallnacht và trong tất cả các cuộc tàn sát."

"Những bức ảnh của Hitler, nụ cười chế ngạo trên mặt, với đôi mắt ốc nhồi, là một cảnh báo với thế giới rằng ông ta sẽ giết những ai cản bước chân ông."

Sự khác biệt giữa Hitler và Mao là:

Mao cười trong lúc hàng triệu người chết đói.

"Không bao giờ thấy Mao với nét mặt giận dữ." và bạn sẽ chỉ nhìn thấy, "Mao với một nụ cười nhân ái", nhưng con người ấy lại là tác giả của những thảm kịch trong đó có hàng triệu người tử vong vì đói khác [và] là hàng triệu bị đầy ải nơi lao tù, hàng triệu người bị hành xử ", Wu nói thế với chúng tôi

"nụ cười nhân ái " có làm cho bạn cảm thấy Mao nhân hậu hơn Hitler không?

Những người thuộc cánh tả tại Hoa Kỳ đã cố thuyết phục rằng ở một khiá cạnh nào đó Mao là biểu tượng của sự nhân ái, vì thế mà chúng ta có được những quyển sách bỏ túi sinh sắng "Lời hay ý đẹp của Chủ tịch Mao"

Harry Wu đã nghiên cứu nhiều về những cuộc thảm sát người Do Thái, và những trại hành quyết ở Buchenwald, Dachau và Sachenhausen.

Khi Harry Wu tham quan Dachau, ông thấy một khẩu hiệu trên vĩ sắt treo trước cửa: "ARBEIT MACHT FREI.", nó có nghĩa là "lao động biến [bạn] thành người Tự Do." thật là một sự mỉa mai! "Ở Trung Quốc, khẩu hiệu cho trại của chúng tôi là "lao động cho bạn cuộc đời mới ".

Nhà giam Dachau nơi mà các tù nhân cư ngụ, thường là từ 500 hoặc 600 người trong một phòng chật trội " họ chỉ được năm phút một ngày để sử dụng phòng tắm nơi đặt một chậu nước. Hàng trăm người tù phải chờ đợi chậu nước bẩn này.

"Những điều kiện sống ở Dachau không thể tệ hơn so với đời sống trong nhà tù CS mà tôi đã kinh qua," ông nghĩ.
Image
Nhà bất đồng chính kiến Harry Wu và vợ của ông, Ching-Lee, trong một khoảnh khắc hiếm hoi của thư giãn. (nguồn: Trouble Maker)
Sự hủy diệt?

Một đoạn qua trong "Troublemaker" Harry Wu viết: "Ở Trung Quốc, người ta không có cái gọi là phòng ngạt Hitler, nhưng họ có chính sách phân biệt đối xử với người Tây Tạng và các dân tộc thiểu số khác trong một thể loại đặc biệt. Và chúng tôi những người bất đồng chính kiến là kẻ thù của cuộc cách mạnh vô sản. Tôi không có nghi ngờ rằng nếu chiến tranh xẩy đến, Trung Quốc sẽ giết mọi người trong trại nếu họ không thể sử dụng được. Trung Quốc đã tạo ra một tầng lớp "kẻ thù", và tù nhân. "

Đức Quốc Xã đã sử dụng tù nhân cho các cuộc "thử nghiệm."

Các bác sĩ Quốc Xã không muốn thử nghiệm trên người của họ, do đó, họ chỉ cần nói với những cai tù rằng, "Hey, tôi có thể có một ai đó." Những tù nhân bị dùng cho các cuộc "thử nghiệm" thường dẫn đến tử vong.

Ở Trung Quốc họ rao bán những bộ phận con người. Trong một dịp tình cờ ông Wu biết được một bác sĩ người Trung Quốc đã tham gia vào ca giải phẩu lấy thận ra khỏi người một "tù nhân."

Ngưòi bác sĩ này đã khó chịu khi Wu gọi ông ta là một kẻ giết người. Không khác gì những bác sĩ thời Đức Quốc Xã, các bác sĩ Trung Quốc đã hủy diệt mạng sống của tù nhân như là một điều cần thiết để đạt được một đời sồng vật chất cao hơn.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Trung Quốc muốn đồng hóa Tây Tạng
Tuesday, March 10, 2009

Ngô Nhân Dụng

Các triều đại phong kiến Trung Quốc đã thành công nhiều lần trong những cuộc xâm lăng và đồng hóa các dân tộc chung quanh. Mãn Châu, Mông Cổ, Khiết Ðan, Thổ Phồn, những tên đó đã thành dĩ vãng! Nước Nam Chiếu vào thế kỷ thứ 8 chiếm lãnh một vùng ở tỉnh Vân Nam bây giờ và đã từng đem quân tấn công Giao Châu những năm 846, 862 và chiếm đóng cả 10 năm từ 863. Cũng trên miền đất này thời Ngũ Quý Ðoàn Tư Bình lập ra nước Ðại Lý. Cả hai quốc gia đó giờ chỉ còn những di tích chùa, tháp; các dân tộc từng xưng hùng một cõi bây giờ là những nhóm thiểu số an phận làm người Trung Hoa. Hiện nay dân Tây Tạng đang trải qua tình trạng giống như người Việt trong một ngàn năm Bắc Thuộc. Họ cũng tranh đấu để bảo vệ nòi giống và văn hóa của mình, không để cho người Trung Hoa đồng hóa. Cùng một hoàn cảnh như người Việt, và kiên cường không kém; chúng ta tin rằng người Tây Tạng sẽ thành công!

Ngày hôm qua kỷ niệm 50 năm ngày nhân dân Tây Tạng nổi dậy chống cuộc đô hộ của Trung Cộng, họ đã bị đàn áp và Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 phải trốn qua Ấn Ðộ tị nạn, công an cảnh sát và quân đội Trung Quốc đã xuất hiện khắp nơi để kiểm soát 6 triệu người dân Tây Tạng sống ở nước họ cũng như những người Tây Tạng ở các tỉnh Cam Túc, Tứ Xuyên, Thanh Hải và Vân Nam. Chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh nhất quyết tiêu diệt nước Tây Tạng, đồng hóa để biến họ thành một phần của Trung Quốc.

Cuộc bành trướng của Hán Tộc bắt đầu từ hai ngàn năm trước, mục tiêu đồng hóa không phải chỉ gồm những người Tây Tạng. Những dân tộc như Việt Nam, Hàn Quốc, Miến Ðiện, Ai Lao vẫn tồn tại được vì người dân cương cường không chịu khuất phục. Nhưng yếu tố mạnh nhất giúp họ bảo vệ được nền độc lập của họ là bản sắc văn hóa. Mặc dù đã chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa hàng ngàn năm, các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam vẫn giữ được ngôn ngữ, hồn tính riêng của mình. Trong khi đó có nhiều sắc dân khác đã hoàn toàn bị đồng hóa.

Cuộc tranh đấu của người dân Tây Tạng trong 50 năm qua cho thấy nền văn hóa của họ rất mạnh. Nhưng hiện nay chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh đang tìm cách xâm lăng cả lãnh vực văn hóa nữa, như trong việc tấn phong các vị lạt ma được coi là tái sinh.

Trong Phật Giáo Tây Tạng vẫn nhiều vị lạt ma qua đời được tin tưởng là sẽ tái sanh dưới hình hài mới. Theo truyền thống, có những thủ tục và quy tắc cho việc đi tìm và nhận diện, tiến tới việc công nhận những vị tái sanh, gọi là tulku. Tiếng Trung Hoa gọi các tulku là những “hoạt Phật,” tức là Phật sống, vì giới hạnh nghiêm trì của họ, nhưng chính người Tây Tạng không dùng hình ảnh này. Hiện nay Cộng Sản Trung Quốc đang tìm cách chiếm lấy quyền công nhận các vị tulku, một hành động “xâm lăng” vượt trên phạm vi chính trị, tiến sâu vào cả lãnh vực tôn giáo.

Từ năm 1949 khi Cộng Sản chiếm chính quyền ở Trung Quốc, người Tây Tạng sống rải rác ở nước Trung Hoa, đặc biệt là ở các tỉnh phía Tây như Cam Túc, Thanh Hải, Tứ Xuyên, Vân Nam, không còn được thấy một vị tulku mới nào nữa. Từ năm 1959, quân Trung Quốc chiếm đóng Tây Tạng hoàn toàn thì họ cũng không cho phép Phật tử được công nhận các vị tulku mới. Ðến năm 1991 Trung Cộng mới tái lập việc tấn phong các vị lạt ma tái sanh, và cho tới nay đã công nhận thêm một ngàn vị tulku mới, nâng tổng số lên 2,000 vị trong xứ Tây Tạng. Trước khi Trung Cộng chiếm xứ này, cả nước có từ 3,000 đến 4,000 vị “hoạt Phật” như vậy.

Năm 1992, chính phủ lưu vong Tây Tạng và chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh đã cùng suy tôn một vị lạt ma tái sanh là Karmapa đời thứ 17 thuộc truyền thống Dòng Kagyu. Nhưng tám năm sau Lạt Ma Karmapa đã trốn đi tị nạn, cho biết chính quyền Cộng Sản đã cản trở việc tu học của ngài. Chính quyền Cộng Sản vẫn tiếp tục đứng ra công nhận các vị lạt ma tái sanh, theo cách lựa chọn của họ.

Như vị lạt ma trụ trì Tu viện Shouguo ở thị xã Khang Phụ, tỉnh Vân Nam bên dòng sông Mekong sát biên giới Tây Tạng đã qua đời hơn 50 năm nay, mà chưa có người tái sanh để kế tục. Năm ngoái, chính quyền Cộng Sản đã công nhận một tu sĩ Tây Tạng trong vùng, Celeng Pengchi, 30 tuổi, và đã làm lễ tấn phong cho ông, coi đó là vị tulku hóa kiếp trở về. Từ đó tới nay ông đã sửa sang tu viện và nhiều Phật tử đã trở về, giúp cho đời sống tu viện sống động trở lại.

Tuy nhiên, viên chức Cộng Sản phụ trách việc phong nhậm Celeng Pengchi nói thẳng rằng muốn được coi là một tulku thì vị lạt ma được chọn phải có lý lịch tốt về chính trị!

Thủ tướng chính phủ lưu vong Tây Tạng Samdhong Rinpoche coi việc chính quyền Bắc Kinh bước vào lãnh vực tôn giáo truyền thống Tây Tạng mà một hành động can thiệp rất thô bạo. Năm 1995 Cộng Sản Trung Hoa đã từng làm như vậy, sau khi Ðức Ban Thiền Lạt Ma qua đời.

Sau khi Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đi tị nạn, Trung Cộng đã đưa Ðức Ban Thiền Lạt Ma là người thuộc dòng tu có uy tín bậc nhì ở Tây Tạng về Bắc Kinh, nơi cũng có những chùa Tây Tạng lớn. Ông qua đời năm 1989, đến năm 1995 thì Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã công nhận một thiếu niên người Tây Tạng là Ban Thiền Lạt Ma tái sanh. Thấy vậy, Cộng Sản Trung Quốc lập một thiếu niên Tây Tạng khác, Gyaincain Norbu, công nhận là vị Ban Thiền Lạt Ma tái sanh của họ. Nhưng cho tới giờ các Phật tử Tây Tạng chỉ tôn trọng người đã được Ðức Ðạt Lai Lạt Ma công nhận.

Cuộc tranh đấu của người dân Tây Tạng, ở trong nước và ở bên ngoài, trước hết là để bảo vệ nền văn hóa với truyền thống Phật Giáo. Trước ngày kỷ niệm 50 năm cuộc khởi nghĩa bất thành của người Tây Tạng, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã nhắc lại rằng mục đích những cuộc vận động của ngài là bảo vệ văn hóa dân Tây Tạng. Muốn bảo vệ bản sắc văn hóa đó thì chính quyền Bắc Kinh phải trả lại cho người Tây Tạng một số quyền tự trị mà hiện nay họ đã cướp mất. Ðức Ðạt Lai Lạt Ma chấp nhận không đòi Tây Tạng phải độc lập, và chính ngài có được trở về Tây Tạng hay không cũng không quan trọng. Những ý kiến đó đã được vị lãnh đạo dân Tây Tạng nói đi nói lại từ 50 năm nay, nhưng Cộng Sản Trung Quốc vẫn tiếp tục vu cáo cho Ðức Ðức Ðạt Lai Lạt Ma là một người chủ trương làm loạn, chia rẽ “quốc gia” của họ!

Người Tây Tạng có muốn được gia nhập “quốc gia” của người Trung Quốc hay không? Những cuộc nổi dậy từ 50 năm qua cho thấy là không. Dân Tây Tạng cũng hãnh diện về lịch sử, về văn minh của họ không khác gì dân Việt Nam. Từ thế kỷ thứ 7, khi dân Việt Nam còn sống dưới ách đô hộ của người Trung Hoa thì Tây Tạng đã là một quốc gia độc lập. Cuộc kết hôn giữa một hoàng đế Tây Tạng với một vị công chúa nhà Ðường vào năm 641 được người Tây Tạng coi là một hành động giao hiếu giữa hai quốc gia ngang hàng; nhưng người Trung Hoa lại coi đó là “bước mở đầu” cho việc thống nhất hai dân tộc vào một “gia đình!” Năm 821, hai quốc gia đã ký kết một hòa ước, mà bản văn khắc trên bia đá còn giữ được đến ngày nay. Quân Mông Cổ đã xâm chiếm Tây Tạng, cũng như họ đã chiếm Ðại Lý, xâm lăng Việt Nam và Cao Ly. Nhưng tới đời nhà Minh, Tây Tạng vẫn giao thiệp với triều đình Trung Hoa như một nước độc lập, không khác gì vua nhà Lê ở Việt Nam. Ðời nhà Thanh, người Trung Hoa cai trị Tây Tạng như một nước bảo hộ, nhưng tới khi Trung Hoa Dân Quốc ra đời thì tuy chính quyền vẫn coi Tây Tạng là thuộc Trung Quốc nhưng không gây được ảnh hưởng nào. Cho đến khi Cộng Sản chiếm được nước Trung Hoa thì chính sách của họ là xâm lược, đồng hóa và bành trướng.

Người Việt Nam có thể tặng người Tây Tạng bài họ kinh nghiệm sống 1,000 năm dưới những triều đại Trung Hoa cũng theo đuổi một chính sách tương tự. Hiện nay một nửa dân số Tây Tạng còn sống trong nước, khoảng 6 triệu người; nửa khác sống rải rác ở các tỉnh miền Tây Trung Quốc. Chính tại các tỉnh này, người Tây Tạng vẫn bảo vệ bản sắc của họ. Tại tỉnh Tứ Xuyên, năm ngoái cũng vào dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa bất thành năm 1959, một em học sinh 15 tuổi người Tây Tạng cũng biết đem treo cờ quốc gia, vạch xóa trên những bức hình Mao Trạch Ðông, Ðặng Tiểu Bình, và viết lên tường khẩu hiệu “Ðức Ðạt Lai Lạt Ma Vạn Tuế.” Năm nay em học sinh này đã bị công an ra lệnh cha mẹ phải quản thúc. Nhưng phương pháp công an trị không thể nào tiêu diệt được tinh thần quật cường của một dân tộc có bản sắc và đầu óc độc lập.

Chúng ta có thể tin như vậy, vì người Việt Nam đã sống qua kinh nghiệm đó. Tuy người Tây Tạng đang phải đối phó với một chiến dịch xâm lăng mới trên mặt tôn giáo, văn hóa, nhưng truyền thống văn hóa của họ rất vững mạnh, được hun đúc hàng ngàn năm nay. Có thể nói nền tảng văn hóa của người Tây Tạng bây giờ vững chắc hơn người Việt hai ngàn năm trước, khi người Trung Hoa chiếm đóng nước ta vào đầu công nguyên rất nhiều.

Chính người Việt Nam bây giờ cũng vẫn phải tự vệ trước những cuộc xâm lăng khác của chính quyền Cộng Sản Trung Quốc, trong đó có cả cảnh xâm lăng về văn hóa. Chủ nghĩa Cộng Sản được đem vào Việt Nam với quan điểm của người Trung Hoa, trong lý luận cũng như trong hành động. Hồ Chí Minh đã từng trả lời một kinh tế giả Pháp rằng ông không viết sách chỉ vì có điều gì cần viết thì Mao Trạch Ðông đã viết đầy đủ rồi. Có một thời ngôn ngữ Việt Nam tràn ngập các chữ quen dùng ở Trung Quốc. Các chiến dịch “chỉnh phong,” “cải cách ruộng đất,” “trăm hoa đua nở” cho tới các nhà tù gọi là “lao cải” đều bắt chước Trung Quốc cả ngôn ngữ, khẩu hiệu lẫn chế độ cư xử hà khắc. Sau khi Hồ Chí Minh chết, ảnh hưởng của Trung Quốc đã giảm dần, nhưng gần đây thì ảnh hưởng đó trở lại. Sau khi Nông Ðức Mạnh cùng Nguyễn Tấn Dũng lục tục sang Tàu năm ngoái thì ảnh hưởng Trung Quốc có vẻ “dũng mạnh” hơn thời Hồ Chí Minh nữa! Ðến lúc người Việt Nam cũng phải biết noi gương người Tây Tạng!

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Tàu TC bị cáo buộc gây hấn

Image

Chính phủ Hoa Kỳ nói năm tàu Trung Cộng đã tiến tới quá gần một tàu thăm dò đại dương không có trang bị vũ khí của Mỹ đang hoạt động tại khu vực biển Đông.

Trong khi đó, Trung Cộng tuyên bố tàu thăm dò của Mỹ hoạt động bất hợp pháp tại vùng biển của Trung Cộng.

Các quan chức Mỹ nhận xét sự việc hôm Chủ nhật diễn ra trong bối cảnh các tàu Trung Cộng ngày càng tỏ ra hung hăng.

Phát ngôn nhân của Ngũ Giác Đài nói hành động của Trung Cộng đã vi phạm luật lệ quốc tế về sử dụng lãnh hải.

Mỹ cũng cho hay đã chính thức gửi phản đối tới tùy viên quân sự Trung Cộng tại bộ Quốc phòng Hoa Kỳ.

Vụ việc xảy ra khi tàu thăm dò đại dương USNS Impeccable của Hoa Kỳ đang hoạt động thường lệ tại lãnh hải quốc tế cách đảo Hải Nam 75 dặm (120km) về phía Nam.

Ngũ Giác Đài viết trong một thông cáo rằng tàu của Trung Cộng đã vây quanh tàu Impeccable "một cách hung hăng trong nỗ lực rõ ràng là gây hấn tàu Hoa Kỳ".

Phản ứng trước cáo buộc này, phát ngôn nhân bộ Ngoại giao Trung Cộng Mã Triều Húc nói tại cuộc họp báo hôm thứ Ba: "Cáo buộc của Hoa Kỳ hoàn toàn không đúng sự thật, lẫn lộn đúng sai và không thể chấp nhận được".

Ông Mã nói tàu USNS Impeccable, đã vi phạm luật lệ quốc tế và Trung Cộng khi vào biển Nam Hải mà "không được phép".


Tàu Impeccable có nhiệm vụ thăm dò các vật cản dưới sâu đối với tàu chiến Mỹ.

Việc các tàu hải quân của các nước gây hấn với nhau trong vùng biển quốc tế không phải là không hay xảy ra, nhưng việc Washington bày tỏ lo ngại trong vụ này một cách công khai như vậy cho thấy sự lo lắng của Mỹ.

Image

Phun vòi rồng

Tàu Impeccable đã dùng vòi rồng phun lên một trong các tàu Trung Cộng để bắt tàu này rút lui.

Thế nhưng theo bộ Quốc phòng Mỹ, các thủy th̉ủ Trung Cộng đã cởi quần áo ngoài và tiến tới gần tàu Hoa Kỳ tới dưới 8m.

Ngũ Giác Đài nói trong các tàu của Trung Cộng có một tàu thăm dò tình báo, một tàu tuần dương của bộ Hải sản, một tàu tuần dương của Cục Hải dương học và hai tàu đánh cá nhỏ.

Khi tàu Impeccable phát tín hiệu xin mở đường để rút khỏi khu vực, hai tàu Trung Cộng đã ném gỗ xuống nước, khiến tàu Hoa Kỳ phải dừng khẩn cấp.

Phát ngôn nhân cho quân đội Mỹ Stewart Upton nói: "Hành động thiếu tính chuyên nghiệp của tàu Trung Cộng đã vi phạm luật pháp quốc tế về quyền và an toàn của các bên khác trong sử dụng vùng biển quốc tế".

"Chúng tôi trông đợi phía Trung Cộng hành động một cách có trách nhiệm và tránh các hành động khiêu khích có thể dấn tới sai sót hoặc va chạm trên biển."

Ngũ Giác Đài cũng đưa ra ba sự kiện liên quan tới hải quân Trung Cộng hồi tuần trước:


Hôm thứ Tư, một tàu tuần tra của bộ Hải sản Trung Cộng đã sử dụng đèn cao áp chiếu thẳng vào tàu thăm dò đại dương USNS Victorious của Mỹ tại Hoàng Hải và một hôm sau đó, máy bay thăm dò hải dương Y-12 của Trung Cộng cũng bay vòng quanh trên đầu Victorious.
Hôm thứ Năm, một tàu Trung Cộng đã lại gần tàu Impeccable mà không báo trước và lại gần tới khoảng 100m, sau khi máy bay Y-12 của Trung Cộng cũng quần đảo trên đầu.
Thứ Bảy, tàu thu thập tin tình báo của Trung Cộng đã khiêu khích tàu Impeccable qua vô tuyến điện, nói hoạt động của tàu này là bất hợp pháp và bắt Impeccable phải rút lui nếu không sẽ "phải chịu hậu quả".


Thử thách cho Obama?

Phóng viên BBC Kevin Connolly tại Washington nói điều đáng chú ý là việc hải quân Mỹ nói tàu Trung Cộng đã vượt qua ranh giới thông thường để đuổi và gây hấn với tàu Impeccable.

Phóng viên của chúng tôi nhận định có thể Trung Cộng đang muốn thử thái độ của tân chính phủ Mỹ, giống như đã từng làm ngay sau khi George W Bush lên nhậm chức năm 2001.

Image

Khi đó Trung Cộng đã giữ các phi công một máy bay Hoa Kỳ vừa đụng chạm với chiến đấu cơ của Trung Cộng và phải hạ cánh xuống đảo Hải Nam trong 11 ngày, gây bất đồng nghiêm trọng giữa hai bên.

Tuy nhiên trong khi quan hệ Trung-Mỹ là vô cùng phức tạp, cạnh tranh về quân sự đang bị đẩy về đằng sau vì Mỹ đang cần Trung Cộng giúp trang trải nợ nần và cân bằng ngân sách.


Một số chuyên gia quốc phòng khu vực, như giáo sư Carlyle Thayer từ Học viện Quốc ph̀òng Australia cho vụ hôm Chủ nhật chỉ là một dạng 'gây hấn nhẹ.

Ông Thayer nói hiện còn chưa rõ liệu quyết định của phía Trung Cộng được đưa ra từ trung ương hay chỉ là của các chỉ huy hải quân đóng trên đảo Hải Nam.

"Vào thời điểm này tôi không nghĩ việc xảy ra là nhằm thử thách chính quyền Obama. Ngoại trưởng Clinton vừa đi thăm Bắc Kinh, Tổng thống Obama và người đồng nhiệm Trung Cộng cũng đang có kế hoạch gặp nhau vào tháng tới."

Giáo sư Thayer cho rằng tất cả các chỉ dấu nói trên cho thấy một sự nỗ lực trong kiến tạo quan hệ và "Có thể chính phủ Trung Cộng sẽ phải yêu cầu quân đội giải thích về hành động vừa rồi của mình".

BBC Vietnamese

Post Reply