Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Nhà Văn Huy Phương
với "Nhìn Xuống Cuộc Đời"


letamanh
Nhà Văn Huy Phương gởi tặng vợ chồng tôi tác phẩm mới của anh sắp ra mắt vào ngày 22 tháng 2 năm 2009. Cuốn sách có tựa đề “Nhìn xuống cuộc đời”! Đây là một cuốn sách gồm 59 bài viết. toàn thể đều ở dạng tạp ghi. Hình bià trình bày một người trong tư thế ngồi hay nằm, nhưng đầu gục trên hai cánh tay tréo lại, một bàn tay nắm hờ một thau nhựa hình vuông màu trắng… Đây là hình ảnh của một kẻ không nhà, đói khát đang lê lết bên vệ đường, xin lòng thương của người qua lại. Phải chăng đó là hình ảnh mà tác giả nói với người đọc là hãy nhìn xuống cuộc đời, nơi đó có nhiều người thiếu may mắn hơn mình, để thấy mình là người hạnh phúc.

Bìa sau là hình tác giả và sơ lược “lý lịch trích ngang” cùng với những lời giới thiệu và cái nhìn của những cây bút đang nổi tiếng, nhân vật Cộng đồng viết về tác gỉa và tác phẩm. Nếu chúng ta nhìn kỹ chân dung tác gỉa. chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi đọc hết các bài viết bên trong ẩn chứa nội dung phản ảnh một nhà mô phạm dưới một lăng lính đầy mẩu mực! Mà thực tế tác giả Huy Phương chính là một nhà giáo đứng lớp trước khi mặc áo lính. Cho nên văn phong và ý tưởng tác phẩm của ông đều mang hơi hám một nhà mô phạm với tấm lòng “văn dĩ tải đạo”, nhìn cuộc đời với đôi mắt đầy tình người và tấm long vị tha.

Ngay khi tác giả đặt tên cho các tác phẩm của mình cũng mang một thiên kiến, từ góc nhìn cuả một người Việt Nam đối với đất nước ông đang sống. Từ góc nhìn ấy, ông thấy một nước Mỹ lạnh lùng, một “quê người” chứ chưa bao giờ là “quê mình”, phải lấy chồng xa xứ, phải bỏ cả quảng đời còn lại thương nhớ về một quê hương xa lắc đầy tang thương, đầy bất công và tràn ngập hận thù! Cả khi ông trăn trở “nhìn xuống cuộc đời” phê phán từng hành động của những người đồng hương Việt đang tị nạn với muôn vạn chuyện thường ngày, những chướng tai gai mắt trước đây chưa hề có. Mà thật vậy, “thế hệ 01” của chúng ta sống trên xứ người là cái xác, nhưng tâm hồn và tình cảm, nguyện ước đều gởi về tận quê hương ngàn trùng xa cách.

Các tác phẩm trước đây đã xuất bản và được người đọc yêu thích: “ Nước Mỹ Lạnh Lùng” “Đi Lấy Chồng Xa” Ấm Lạnh Quê Người”, trong đó những bài viết của ông ở dạng tuỳ bút, tạp ghi, theo kiểu nghị luận. Giờ đây tác phẩm “Nhìn Xuống Cuộc Đời “ cũng không thoát ra khỏi lối hành văn nhà giáo; nhìn sự việc bằng một góc cạnh thật bén , thật sâu, thật tinh tường từ một nhà mô phạm!

Khi tôi đem sách về đến nhà thì vợ tôi giật lấy trên tay tôi. Nàng bỏ thì giờ cả buổi chiều ngồi đọc cho tôi nghe. Càng đọc vợ tôi càng thích thú và khuyến khích tôi nghe tiếp từ bài nầy đến bài khác. Có thể nói, toàn thể những bài trong Tuyển tập “ nhìn xuống cuộc đời” đều mang ý hướng mà tác gỉa muốn gởi đến người đọc những trăn trở, những nhận xét đầy nhân bản. Tiêu biểu trong bài mang đề tựa cuốn sách là một ví dụ. Tác gỉa Huy Phương, trong “Nhìn Xuống Cuộc Đời” đã gới đến chúng ta chính cái trăn trở của ông về ý tưởng biết “nhìn xuống” từ bản thân mình. Nhưng trên lãnh vực quốc gia thì phải nhìn lên để nước giàu dân mạnh.

Trong “chị tôi” ta thấy một người vợ, một HO tiêu biểu, một người vợ lính, vợ tù và cũng là nhân chứng lịch sử khi chồng trong nhà tù nhỏ thì chị ở trong nhà tù lớn. Bài “làm đĩ” đã nói hết lên cho chúng ta thấy tác gỉa quả thật tài tình diễn tả, hướng ta vào một câu chuyện đau đầu về tệ nạn đĩ đực đĩ cái. Quả thật nhà Văn Huy Phương xứng đáng đứng trong vị trí một “ông Đồ” tiêu biểu trong một thời đại mà ta cần nhiều ông đồ như thế để bớt đi những điều trái tai gai mắt trong nhân gian… Nghĩ cho cùng, con én Huy Phương có làm được mùa xuân hay không là do chúng ta có hưởng ứng và đồng ý “nhìn xuống” cuộc đời như tác gỉa mong ước hay không !

Ngày chúa Nhật 22 tháng 2 năm 2009 tới đây, Tác Gỉa Huy Phương ra mắt tuyễn tập “Nhìn xuống cuộc đời” lúc 1:00PM, tại Westminster Civic Center - số 8200, Westminster Blvd – CA 92683. Các Diễn gỉa nỗi tiếng như Ký Mục Gia Bùi Bảo Trúc, Nhà văn Nhà Báo Đổ Tiến Đức, Ký Gỉa Đinh Quang Anh Thái… Sẽ giới thiệu cho ta biết về giá trị của “nhìn xuống cuộc đời”! Mong rằng Tác Gỉa - Vốn là một nhà giáo, một HO - Một nhà báo - một nhà mô phạm… Sẽ được mọi người yêu thương hưởng ứng nồng nhiệt!

letamanh

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

CHUYỆN MỘT ÐÊM VALENTINE QUÁ... HOT
Một cặp tình nhân muốn chứng tỏ tình yêu của mình nóng bỏng, nên đã thuê một khách sạn ở thành phố Hull thuộc tỉnh Quebec ở Canada đúng vào đêm Valentine, để dành những giây phút tình tứ nhất cho nhau trong ngày lễ tình yêu. Thế nhưng họ không ngờ rằng trong phòng ngủ của họ không phải chỉ có hai người, mà có thêm... 20 anh chàng nhân viên cứu hỏa cũng đã... có mặt.

Câu chuyện xảy ra theo lời kể của giám đốc khách sạn Holiday Inn ở Hull Quebec cho biết hai người đã đốt những ngọn đèn cầy, và đặt chai rượu vang trong bình đá lạnh để sửa soạn cho giây phút tình tự. Thế nhưng sau đó nàng lại hơi... đói bụng, nên rủ chàng xuống dưới nhà tìm cái gì ăn để lót lòng, nghe tới đây nghe quen quen... Hai người xuống nhà hàng của khách sạn ở dưới tầng 1, và tại đây có quầy buffet all-you-can-eat. Nàng bèn nổi... tinh thần ăn uống, và chơi hết dĩa này tới dĩa khác, quên béng đi cái đèn cầy đã đốt ở trên phòng ngủ.

Thế là chuyện gì phải đến đã đến, cái đèn cầy bị bỏ quên nên... bắt lửa cháy um sùm. Khi hai người trở lại phòng thì phát giác ra phòng đã đầy khói, và chỉ trong vài giây sau hơn hai chục ông cứu hỏa đổ xô vào phòng của họ, xịt nước tung tóe khiến nàng la oai oái. Tội nghiệp hai ông cứu hỏa phải vào nhà thương vì bị hít phải khói quá nhiều, còn hai người tình... quá hot kia thì cũng tiêu tùng đêm Valenine tình tứ, lại còn bị cảnh sát thẩm vấn và làm phiền mất luôn cả mấy ngày trời... Ðúng là... tại cái bao tử nó hại đời em!

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

CAM DAI BAY
Trần Văn Giang




Có nhiều chuyện xẩy ra trong đời sống một cách tự nhiên; chẳng hạn như đi ngủ và đi… tiểu. Các chuyện được xem là tự nhiên sẽ không còn gì là tự nhiên nữa nếu chúng ta bắt buộc phải quan tâm đến nó. Hơn thế, vấn đề bài tiết của cơ thể thật tình không có gì hấp hẫn, thú vị để đề cập đến; nhưng để “tự nhiên” cho đến mức độ mà cả xóm, thành phố, cả nước hôi mùi… nước đái thì vấn đề “nặng mùi” này phải là một phần trách nhiệm của từng công dân, của người lãnh đạo, của người vẽ, hoạch định chính sách của nhà nước - một vấn đề to tát của quốc gia chứ không phải chỉ riêng gì chuyện bầu cử quốc hội, tổng thống, chủ tịch nhà nước… chuyện chống lạm phát kinh tế… chuyện chống tham nhũng…!!

Từ thuở hoang sơ, dân số còn ít và con người còn sống raỉ rác thì “tiểu đồng” không bao giờ là vấn đề. Thực ra, vào thời xưa, vì phương tiện để gỉai trí còn rất thiếu thốn, thì tiểu đồng là một cái thú thật thuận tiện và không tốn kém của nhân lọai. Còn gì thích thú cho bằng vừa đứng xả bầu tâm sự giữa ánh nắng ban ngày vừa nghe chim hót và tiếng gió thổi rì rào chung quanh. Có lẽ thời nay chỉ có “ngồi cầu cá dồ” là có thể tạm so sánh được thôi! Nhưng mà hôm nay, thế kỷ 21, con người sống chen chúc nhau trong các thành phố đông người, thiên nhiên không thể nào bao dung rông lượng với con người như lúc xưa. Vấn đề đái đường, tường, gốc cây, góc phố, góc kẹt… phải cần xét lại. Ngòai lý do dơ bẩn, nguồn gốc của nhiều bệnh tật… nó vừa, một mặt, tè lên danh dự của dân tộc khi du khách ngọai quốc nhìn thấy… nó cũng vừa là dấu hiệu gián tiếp bảo họ (du khách) “đừng nên trở lại đây nữa!” Buồn chưa!

Trước hết nói về người đái bậy. Đã có người tranh luận là “À ! Nếu mót quá mà không có nhà vệ sinh công cộng nào ở gần thì làm sao bây giờ ?” Nhưng phải thành thực công nhận là trong số người hay đái bậy, đại đa số là đàn ông! Tại sao vậy ? Có phải là các bà nín giỏi hơn các ông ? Các “chuyên gia” về đái đường không đồng ý như vậy. Họ nói là các bà không “cẩu thả,” “lười biếng” và “vô trách nhiệm” như các ông (?) Các bà không hay uống rượu (bia), cà phê, trà… đại lọai những thứ làm cho bàng quang đầy tràn bình mau hơn. Ngòai ra, vì lẽ việc thải nước thừa trong người ra ngòai, các bà thường phải cần có nhiều thời giờ hơn, phải cần chỗ kín đáo hơn. Họ không thể đứng tô hô giữa thiên thanh bạch nhật rồi “hit and run” như đàn ông cho nên họ phải cẩn thận hơn. Các bà chỉ đi chợ, shopping… những nơi mà họ biết có nhà vệ sinh công cộng có thể dùng được… trong khi các ông lại ít quan tâm đến các yếu tố lặt vặt mà rất cần thiết này. Vậy đề nghị các bác trai nên bỏ bớt chút ít thời giờ nhậu nhoẹt để học cái “bí quyết thần kỳ” này của các bác gái nhé !

Bây giờ nói rộng hơn về vai trò “dân trí” và “văn minh” của dân tộc (dĩ nhiên là trong vấn đề đái bậy!) Có rất nhiều người, trong đó có cả nguyên thủ của các quốc gia như Nam Dương, Đài Loan, Đại Hàn… đã từng tuyên bố nhiều lần đại khái là:

“Nếu muốn xét trình độ văn minh của một dân tộc xem nó đến mức độ nào thì chỉ việc nhìn vào nhà vệ sinh công cộng của họ là đủ!”
(The public toilet is to reflect the civilization index of each country. It also reveals the country’s civilization level and quality of life).

Ngạn ngữ Nhật bản có câu:

“Nhà vệ sinh (buồng tắm) là một phần của đời sống. Chỉ nhìn vào buồng tắm của một gia đình là biết rõ gia đình đó như thế nào: họ có sống ngăn nắp không? có chăm sóc nhà cửa con cái của họ thích đáng không?”

Nếu có lời nói nào đơn giản và dễ hiểu hơn về vấn đề văn minh của dân tộc thì xin các bác làm ơn mách dùm cho cháu biết với? Người Nhật quan niệm đúng theo cái nghĩa “tề gia trị quốc” của dân Á châu chịu ảnh hưởng Khổng Mạnh. Đúng vậy! Nhà ở mà giống như đống rác thì đái đường có gì mà phải ngạc nhiên?

Vì vấn đề cắt giảm ngân sách, giảm chi phí cho tiện nghi công cộng, nhiều thành phố hoa lệ nổi tiếng trước kia như Paris, New York…, nay rất nhiều du khách đã phải lớn tiếng than vãn về “mùi nước tiểu” (New York’s subway systems và các đường hẻm - alleys…) và “phân chó.” ( Paris ngòai vấn đề thiếu nhà vệ sinh công cộng còn bị 200 ngàn con chó tự do sản xuất 160 tấn phân mỗi ngày trên đường đi mà thành phố không đủ nhân lực, phương tiện để dọn dẹp!).

Dầu có che mắt bịt mũi, cũng phải công nhận rằng có sẵn phương tiện và khả năng xây dựng lên các nhà vệ sinh công cộng đã là một chuyện đại sự rồi; phải giữ gìn bảo trì chúng cho sạch sẽ ở mức độ chấp nhận được đòi hỏi ngân sách to lớn và sự ý thức, sự tham gia, sự giáo dục, sự thành tâm hợp tác giữa chính phủ và quần chúng… Kích thước của vấn đề này chỉ nghĩ đến thôi cũng có thể bí đái rồi… nói chi đến chuyện thi hành…

Bây giờ nói về đất nước Việt Nam độc lập tự do hạnh phúc của mình. Nhà cháu xin nói rõ đây không phải là vấn đề vạch áo cho người xem lưng, hay bôi xấu dân tộc mà là bảo nhỏ với nhau bằng tiếng Việt đàng hòang ! Đã có nhiều bác quá khích hấp tấp (nếu chưa nói là vô phép) văng tục một cách vô trật tự là “Việt Nam với 4000 văn hiến đâu chẳng thấy mà chỉ thấy 4000 năm đái đường !” Nhà cháu xin nhờ các bác nóng tính này một tí ! Nhìn qua các chương trình đã và đang thực hiện trong thời buổi “đổi mới,” chúng ta thấy các khách sạn 5 sao, dinh thự “hòanh tráng” của các tay nhà giầu mới (mặc dù lương căn bản mỗi tháng của nhiều người chủ của cơ sở này không quá 200 đô la ?), tượng đài hùng vĩ (kể cà công trình xây “lăng tẩm” cho người chết ở thế kỷ 21 !) mọc lên như nấm… nhưng lại thấy thiếu bóng các xây dựng khiêm nhường, nhỏ bé nhưng cần thiết hơn nhiều. Đó là: “nhà xí công cộng.” Cứ tưởng tượng quang cảnh tương tự như là trong việc thi hành đường lối “đổi mới,” Việt Nam đã xây dựng rất nhiều ngôi nhà (không vệ sinh!?) to lớn nhưng không hiểu đầu óc của giới lãnh đạo “định hướng” thế nào mà quên không cho vào “bàn cầu” một cái lỗ!!! Thiệt là chuyện “văng tùm lum!” Việt Nam đã có cách mạng (nghĩa là thay đổi tất cả những cái cũ) vô sản vinh quang “thành công” rồi; nay lại muốn thay đổi tòan diện (“đổi mới”) thì chỉ có cách “đổi thành cũ” mới đúng chứ! Chữ với nghĩa! “Nói xuôi cũng được, nói ngược cũng hay!” “Nói đi cũng phải, nói lại cũng dễ nghe !”

Tại các thành phố lớn, số bảng “Cấm Đái,” nếu các bác rảnh hơi chịu khó đếm ra cho có con số chính xác, còn thấy nhiều hơn cả các bảng, biểu ngữ ca ngợi sự lãnh đạo sáng suốt của Bác và Đảng. Các bảng lọai này nhiều đến mức độ làm cho du khách ngọai quốc phải hiểu lầm như trong trường hợp có thật đã xẩy ra cười ra nước mắt như sau:

Một du khách tây phương hỏi anh hướng dẫn viên du lịch (tour guide) ở Việt Nam :

- “Tôi đã đến Việt Nam nhiều lần. Ở Việt Nam có hai vịnh (“bay”) rất nổi tiếng mà tôi đã đi thăm. Đó là: "Ha Long Bay" và "Cam Ranh Bay." Nhưng còn một vịnh tôi thấy quảng cáo rất nhiều, ở trên tường, cây đại thụ bên đường, trong hẻm. Mà nó nằm ở đâu vậy? Anh có thể dẫn chúng tôi đi thăm được không?”

Anh hướng dẫn viên vội hỏi:
- “Xin ông cho biết tên của cái vịnh đó là gì?”
Ông khách chỉ lên bức tường bên đường rồi bập bẹ đánh vần:
- “ CAM DAI BAY !”
…

Chỉ đọc cho qua nội dung của các bảng “cấm đái” đã đủ hiểu sự phong phú của tiếng Việt mình đến mức nào. Các bảng “cấm đái” có nhiều lời lẽ dài ngắn với cường độ khác nhau: từ lịch sự năn nỉ sự thông cảm như “Xin dừng đái nơi dây;” cho đến các lời cấm khô khan “Cấm Đái.” “Cấm không được đái;” cho đến lời đe dọa nặng nề có kèm theo cả các biện pháp chế tài (tưởng tượng) như “Cấm tuyệt đối không được đái. Vi phạm sẽ bi phạt nặng.” Dưới hàng chữ hăm dọa “phạt nặng” này lại ghi rõ tên các cơ sở có đầy đủ thẩm quyển như “Công an Phường…” Lời hăm dọa chế tài đôi khi còn được cho thêm “ấn tượng” với hình vẽ một con dao mà phần cạnh bén được sơn màu đỏ, có các giọt sơn đỏ (xem như) còn ướt nhỏ xuống giống như dao vừa mới được “làm việc” xong! Thực tế rất phũ phàng các bác ạ. Tất cả các bảng “cấm đái” đều hòan tòan vô dụng bởi vì không hề thấy có bóng dáng công an cảnh sát nào ở gần đó để các làm các bác muốn đái bậy phải sợ. Công an còn đang bận “làm việc” gì đó mà họ xem là quan trọng hơn chuyện đái bậy. Phải lấy làm lạ là ở Việt Nam công an có thừa thời giờ “bịt mồm” dân mà lại không có thời giờ “bịt chim” của dân cho bỏ cái tật đái bậy!? Đây là chưa kể chính ngay công an cũng thường ra đái ở đây mới chết chứ!!! Óai oăm ở chỗ là các lọai bảng “cấm” này hình như có ảnh hưởng ngược lại (“reverse effect!”). Nó gần như có sức lôi cuốn và nhắc nhở mọi người rằng ở đây “đái đươc không cấm” (các bác thử đọc ngược từng chữ một của câu “cấm không được đái” từ phải qua trái xem sao?!)

Quang cảnh “đái đường” mới thật là một bản bi hài kịch dài vô tận không bao giờ hạ màn. Lần về thăm lại Sàigòn gần đây, nhà cháu chứng kiến cảnh một thanh niên ăn mặc khá bảnh bao, áo bỏ trong quần hẳn hoi, cầm tay đào đi dung dăng dung dẻ trên hè phố rất mùi. Bổng nhiên anh ta quay qua nói với cô bồ câu gì đó (nhà cháu đóan non đoán già là “Anh mắc… quá! Chờ chút xíu để anh…”). Thế là anh ta để cô đào đứng tuỗn ra ở bên lề đường; anh ta quay buớc vào bức tường gần đó rồi xả bình tự nhiên như con “kiki” của nhà cháu lúc nó buồn tình đi vòng vòng “marking territory” chơi chung quanh xóm vậy. Sau khi đóng nút quần xong xuôi, anh chàng ta đi trở ra cầm tay đào (yuck!) và dung dăng dung dẻ tiếp như không có chuyện gì xẩy ra! Hãi thật! Sao có thể như vậy được! Phải có người nào ở chung quanh đó nói lên một tiếng chứ! Hay ít nhất cô đào thơ mộng của anh ta dù không tiện nói cái gì nhưng cũng nên tạm thời không cho cầm tay chứ! Trong một dịp khác được bạn bè chở ra Bình Triệu (ở ngọai ô Sàigòn) để ăn nhậu, nhà cháu thấy có một ông vào tuổi sồn sồn có vẻ bệ vệ của một đại gia (?) mặc “vét tông” lái xe ô tô rất “xịn,” đột ngột dừng xe lại bên lề đường, một tay vạch quần đái vào tường tỉnh bơ con sáo sậu; trong khi tay kia vẫn đang cầm điện thọai di động và miệng thì vẫn đang bi bô ra chỉ thị (qua điện thọai) cứ như đang “làm việc” ở văn phòng riêng!!! Việt Nam vào thời kỳ “đổi mới” có khác! Cũng còn may là các thành phố ở Việt Nam không có mùi phân chó; bởi vì chó không đủ cung cấp cho các tiệm nhậu. Dân nhậu nhìn thấy chó còn sống đi ngang qua mặt là đã thấy chẩy nước miếng rồi. Lấy đâu ra chó sút chuồng đi rong đái bậy, “marking territories?” Nếu có đi nữa thì đây là lọai chó chán sống; chỉ tổ bị hàng xóm lén đập đầu bắt cóc nấu rượu mận “chui” ngay tức thì! Thiệt tình, vào thời buổi “đổi mới,” “kinh tế thị trường,” “định hướng xã hội chủ nghĩa” chỉ thấy có cán bộ và đảng viên CS là sống phè phỡn. Còn lại, đến chó cũng phải hồi hộp khó sống, nói chi đến thường dân khố rách áo ôm!

Dân số Việt Nam càng lúc càng tăng nhanh, vấn đề đái bậy mỗi ngày sẽ càng trầm trọng hơn. Xin các bác các thím có thẩm quyền, có quyền cao chức rộng ở Việt Nam hãy ra lệnh cho tạm giảm bớt các chương trình hoa mỹ tuyển lựa “ca sĩ,” “hoa hậu…,” “kỷ niệm chiến thắng…” giảm xây cất (hay đập bỏ bớt đi!) các tượng đài kỷ niệm vô tích sự hao tổn công qũy và bắt đầu quan tâm hơn đến các vấn đề thực tế sát với đời sống hàng ngày của dân ngu khu đen như đái đường, xả rác, cống rãnh, giao thông “ùn tắc…” Nếu không bắt đầu từ bây giờ thì đợi đến lúc nào? Không lẽ các bác lãnh đạo đợi dịp để bán cái cho Việt kiều yêu nước hay con cháu của các bác học tốt nghiệp xong từ các đại học ở Mỹ, Úc, Pháp…


Tóm lại, “nhà xí công cộng” thực sự là cái thuớc để đo sự trưởng thành của một dân tộc. Dân chúng không cần các tượng đài hùng vĩ mà cần các nhà vệ sinh công cộng sạch sẽ chẳng riêng cho người bình thường mà cả trẻ em, người già và ngưới tàn tật cũng có thể xử dụng được. Ở đó nhân viên của nhà vệ sinh được dùng không phải là để ngồi trước cửa thâu tiền; mà lo dọn dẹp cho sạch sẽ bên trong. Hay là nhà cháu mạo muội đề nghị là nhà nước ta nên xúc tiến ngay một chương trình xây cất hàng lọat các nhà xí công cộng miển phí trong nước đồng thời người dân nào đến sử dụng (thay vì phải đi đái đường) còn được phát một món quà nhỏ tượng trưng - chẳng hạn như được tặng miễn phí một ổ bánh mì thịt sau mỗi lần thăm viếng! Nếu đất nước đạt được cái “chỉ tiêu” đó thì thiên đường chắc cũng chỉ đến thế thôi!

Trần Văn Giang
band4 3G McKeno

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Một căn bệnh hiểm nghèo

Ngô Nhân Dụng

Nhiều mạng lưới (blogs) ở Việt Nam đang ồn ào về cuốn tiểu thuyết Ma Chiến Hữu, của Mặc Ngôn dịch từ tiếng Hoa sang tiếng Việt. Nhiều người đã đặt câu hỏi tại sao một nhà văn Trung Quốc như Mặc Ngôn dám viết truyện đặt lại vấn đề cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 còn khi các nhà văn Việt Nam nhắc đến vụ đó, thí dụ trong tập truyện Rồng Ðá của Vũ Ngọc Tiến và Lê Mai, thì sách bị tịch thâu và nhà xuất bản bị đóng cửa?

Chỉ đọc những lời bình trên các blogs thì hiểu lý do chính gây nỗi bất bình là những lời đối thoại của những hồn ma lính chiến trong tiểu thuyết của Mặc Ngôn. Họ ca tụng việc quân Trung Quốc đi đánh một nước ở phía Nam, mà tác giả tế nhị không gọi thẳng tên là Việt Nam. Như khi độc giả người Việt nghe lời của vị chính ủy sư đoàn nói trong sách nói, “chúng ta hy sinh vinh quang, quá khứ của chúng ta là vinh quang, lúc này cũng vinh quang, tương lai cũng vinh quang. Bất kỳ sự hoài nghi nào về vinh quang của chúng ta đều là sai lầm, những sai lầm cực kỳ nghiêm trọng!”

Trong tiểu thuyết có những lời quân Trung Quốc chúc nhau giết được nhiều địch để rạng danh quân đội anh hùng. Tất nhiên người Việt nào đọc cũng phải động lòng. Nhất là tờ báo Hà Nội Mới đã viết một bài ca ngợi Hứa Thế Hữu, viên tướng chỉ huy các trận đánh vào Cao Bằng là Lạng Sơn năm 1979. Ông tướng này cũng được giới thiệu là người chỉ huy trận chiến chiếm Hoàng Sa năm 1974, trong khi Hải quân Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ tổ quốc.

Nhà xuất bản Văn Học viết lời giới thiệu cuốn truyện ngay trang bìa càng làm người đọc sôi giận. Họ ca ngợi sách này là “Một cách nghĩ khác về chiến tranh; và một cách ca tụng riêng về chủ nghĩa anh hùng.” Nếu có một “chủ nghĩa anh hùng” trong đó thì tất nhiên là anh hùng đối với người Trung Quốc, còn với người Việt thì không.

Nhưng cũng nhiều người không đồng ý với thái độ phẫn nộ về những lời lẽ trong cuốn truyện của Mặc Ngôn. Vì tiểu thuyết là tiểu thuyết. Thực ra nhà văn này có một dụng ý khác hẳn. Nhiều người thấy chủ ý của Mặc Ngôn là chống chiến tranh, nói riêng chống ngay cuộc xâm lăng năm 1979. Ông mô tả những “chiến hữu trùng phùng” gồm những nông dân thất học bị bắt lính đẩy ra mặt trận rồi chết uổng, trong một cuộc chiến tranh vô nghĩa. Mặc Ngôn kể chuyện này, để “phê phán thói dối trá trong xã hội Trung Quốc nói chung và quân đội nói riêng,” như nhận xét của một độc giả. Nhân vật Tiền Anh Hào chưa giết được quân địch nào đã chết, chỉ vì anh tiểu đội trưởng có cái mông to quá, nằm xuống chỗ ẩn mà mông vẫn nhô lên để bên địch phát giác ra và bắn. Mặc Ngôn vẫn có lối văn hài hước và bi thương đến rớt nước mắt như vậy.

Nhưng phần lớn các người góp ý trên các blogs không nhằm phê phán Mặc Ngôn. Ý kiến mạnh nhất, nhiều người nói lên nhất, là phê phán đảng Cộng Sản Việt Nam đã cho xuất bản cuốn tiểu thuyết này, trong khi cấm các nhà văn trong nước không được viết gì về cuộc chiến tranh Việt-Trung năm 1979. Tức là, “Người Trung Hoa được nói, người Việt chỉ được nghe thôi.”

Cũng có người bênh vực chính quyền Cộng Sản trong việc xuất bản sách này. Có người ví việc cho xuất bản cuốn sách này ở Việt Nam cũng tương tự như bên Mỹ cho in bản dịch cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, trong đó ông kể chuyện những cảnh thương tâm khốn khổ của người lính miền Bắc trong cuộc nội chiến Việt Nam trước năm 1975.

Nhưng lời bênh vực này lập tức bị phản đối. Vì Mỹ là xứ tự do, người Mỹ tự do in cuốn truyện của Bảo Ninh, nhưng chính phủ Mỹ không bao giờ cấm các cuốn sách trong nước họ mổ xẻ về cuộc chiến đó. Ngay trong thời còn chiến tranh đã có biết bao nhiêu sách ở Mỹ mang tính chất phản chiến. Ở Việt Nam khác hẳn. Truyện ngắn mang tên “Chú Mìn Phủ và tôi “ của Vũ Ngọc Tiến trong tập truyện “ Rồng Ðá” do nhà xuất bản Ðà Nẵng in đã bị đảng Cộng Sản lên án nặng nề.

Trong truyện này tác giả kể chuyện chiến tranh giống khung cảnh cuộc chiến Việt-Trung năm 1979; ông cũng nêu lên những ý nghĩ phản chiến. “Sự thắng bại của cuộc chiến nằm trong dăm ba cái đầu lạnh, còn dân chúng hai bên mãi mãi là kẻ chiến bại, mãi chỉ là công cụ giết người mà thôi.” Có lúc lính hai bên chửi nhau, họ cũng chỉ dùng “toàn những lời lẽ của mấy ông cán bộ tuyên huấn hai bên, chứ họ có hiểu gì đâu chứ!” Ðối chiếu với cảnh con người đối với con người dã man trong thời chiến là cảnh những năm sau này, khi hai nước Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc thân thiện, hợp tác. Tay “lão bản” Trung Quốc nuôi đám đàn em là viên chức người Việt, bị bắt trong ổ mãi dâm. Vũ Ngọc Tiến viết “...biết đâu mai kia hai thằng viên chức mạt hạng này có tiền mua chức sẽ vênh vang cái mặt thớt răn dậy quần chúng, hay sang bên kia cửa khẩu ký kết văn bản ‘hợp tác toàn diện...’”


Có lẽ bốn chữ “hợp tác toàn diện” này là phạm húy nặng nhất. Ðó là những chữ đã được Nông Ðức Mạnh dùng khi sang Bắc Kinh ký kết, ông huênh hoang ca ngợi “hợp tác chiến lược và toàn diện” giữa hai đảng Cộng Sản. Bộ máy kiểm duyệt của đảng Cộng Sản Việt Nam không để cho những chữ “sỏ lá” đó lọt qua! Ðó chắc là một lý do khiến cuốn Rồng Ðá bị cấm, ngoài lý do tác giả dám khơi lại chuyện cuộc chiến tranh tàn khốc giữa hai nước “đồng chí anh em.”

Khi đối chiếu hành động của đảng Cộng Sản Việt Nam cấm cuốn truyện Rồng Ðá, với việc in bản dịch cuốn Ma Chiến Hữu, giới trẻ ở trong nước phải phẫn nộ. Nhiều người lên án đảng Cộng Sản đã theo một chủ trương “văn hóa nô dịch” khi cho in truyện của Mặc Ngôn mà lại cấm sách của Vũ Ngọc Tiến và Lê Mai; không những thế còn làm tội đóng cửa nhà xuất bản Ðà Nẵng. Có người lên án “đây là diễn biến hòa bình,” theo lối nói của nhà thơ Bùi Minh Quốc, trong đó Cộng Sản Trung Quốc nhắm điều khiển cả nước Việt Nam bằng cách nắm cả văn hóa tư tưởng của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Cũng có người bênh vực đảng Cộng Sản Việt Nam, cho là quyết định in cuốn truyện của Mặc Ngôn là một quyết định riêng của nhà xuất bản Văn Học, mà cấp trên trong đảng Cộng Sản không biết. Nhưng lý luận này đã bị bắt bẻ, nêu lên rằng chế độ kiểm soát của đảng Cộng Sản rất chặt chẽ: “Ðể xuất bản một cuốn sách cần phải qua khá nhiều khâu chuẩn bị, trong đó việc quản lý từ phía đảng và nhà nước. Việc cuốn sách này được ra đời cho thấy rõ có khi đây là chủ trương của ai đó!”

Ai đó? Chỉ có Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam chịu trách nhiệm. Cho nên có người không ngần ngại lên án đảng Cộng Sản có chủ trương cấm người Việt nói, chỉ được nghe người Trung Quốc nói thôi. Nhà văn Trung Quốc Mặc Ngôn có quyền viết về “Nỗi buồn chiến tranh” còn trong những hồn ma lính Trung Quốc, nhà văn Vũ Ngọc Tiến không được phép kể chuyện những người lính Việt, dù hai bên cùng dự một cuộc chiến tranh vô nghĩa.

Cuộc thảo luận về bản dịch cuốn tiểu thuyết Ma Chiến Hữu của Mặc Ngôn cuối cùng đi tới một kết luận không tránh được. Ðó là lên án chế độ độc tài đảng trị. Ngay cả một người bên vực chế độ Hà Nội, coi việc xuất bản tiểu thuyết Ma Chiến Hữu chỉ là một hành động đơn lẻ của một nhà xuất bản, cũng phải công nhận là việc in cuốn sách này trong lúc cả nước Việt Nam không ai được phép nhắc đến cuộc chiến tranh Trung-Việt năm 1979, là vô ý thức, do chế độ độc tài mà ra. Một người viết, “Ðây là một triệu chứng của một căn bệnh hiểm nghèo xuất phát từ chứng độc tài.” Lời kết tội đảng Cộng Sản rất rõ, nguyên văn: “Họ đòi quản hết, nhưng thực tế là không quản được bất cứ cái gì, tất cả đều loạn cào cào châu chấu lên hết!”

Ðối với người Việt Nam sống ở trong nước thì cái tội “đòi quản hết, nhưng thực tế là không quản được bất cứ cái gì” không chỉ nằm ở trong lãnh vực báo chí, xuất bản mà thôi. Ðảng Cộng Sản tự bản chất theo chủ trương độc tài toàn trị. Họ muốn nắm đầu người dân nên cấm không ai được tự do phát biểu. Nhưng trong khi thi hành chính sách toàn trị đó đảng Cộng Sản còn làm những việc khác tàn dân, hại nước không thể nào tha thứ được. Họ có “quản” được đám tham quan ô lại mà đảng đã sinh ra và nuôi dưỡng hay không? Cuộc thảo luận về tiểu thuyết Ma Chiến Hữu sẽ giúp cho đồng bào trong nước, nhất là giới thanh niên thấy rõ hơn bản chất độc tài toàn trị này. Người dân đã công nhận, không cần bàn cãi nữa: “độc tài là một căn bệnh hiểm nghèo!”

Thế bao giờ mới lo chữa bệnh?

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Từ Hải, anh hùng hay lãng tử đa tình…?
Tác giả: LÊ Vũ


Có những nhân vật như từ trang sách bước ra cuộc đời, sinh động mà trần trụi. Nhận xét đó rất đúng với nhiều nhân vật trong truyện Kiều của Nguyễn Du. Một Sở Khanh lặng nghe lẩm nhẩm gật đầu, một Tú Bà cao lớn đẩy đà, nhờn nhợt màu da, một Mã Giám Sinh mày râu nhẵn nhụi, một Hoạn Thư, một Thúc Sinh…Tất cả những con người đó đã bước vào đời thường , đã ở trên cửa miệng của người Việt Nam, tiêu biểu cho một loại người, một thái độ sống…Nét bút của Tố Như tiên sinh quả thật quán tuyệt với nhiều thủ pháp: khi chấm, khi phá, khi gieo khi gặt, khi tung khi hứng…Nếu bản chất lừa đảo của Sở Khanh hiện lộ trong cái cách nghe lẩm nhẩm gật đầu thì Tú Bà, loại người chuyên sống về đêm lại được trưng bày ở màu da nhờn nhợt, màu da của loại người ăn đêm. Chúng ta yêu Nguyễn Du, yêu truyện Kiều, bởi lẽ, từ trên hình tượng của nhân vật, tiên sinh đã dạy ta căm ghét, yêu thương, buồn vui, cho ta cái hào khí và cả niềm căm giận. Với từng nhân vật, dù là nhân vật nhỏ, Nguyễn Du đã chăm chút, cho họ một đời sống, một cái bên trong sâu thẳm nên họ đã sống hoài với năm tháng cuộc đời . Nhưng còn những nhân vật trung tâm? Tôi muốn khoanh vùng phạm vi trình bày xoay quanh nhân vật Từ Hải . Từ Hải, anh hùng hay lãng tử đa tình…?

Chúng ta, không ai có thể nghi ngờ cái tình cảm nồng hậu của Nguyễn Du dành cho họ Từ. Tiên sinh đã viết cho Từ những vần thơ đẹp nhất, hào sảng nhất, dành cho cuộc đời của Từ gần 400 câu thơ (từ câu 2165 đến 2563 – khi Kiều xin đắp mộ cho người tử sinh). Nếu Kiều là tiếng kêu xé lòng, là bài ca đoạn trường của bao nhiêu kiếp tài hoa mệnh bạc ( có cả Tố Như), thì Từ Hải là cánh chim bằng lướt gió tung mây, là khúc hành quân bi tráng. Nghe chăng tiếng lòng Nguyễn Du mở hội hoan ca khi mà binh uy của Từ như sấm ran trong ngoài, thừa thế tiến công trúc chẻ ngói tan và… Phong trần mài một lưỡi gươm / Những loài giá áo, túi cơm sá gì!...Cái tâm của Nguyễn Du là thế nhưng ngòi bút của tiên sinh liệu đã khắc họa thành công một Từ Hải anh hùng ? Hãy lần lượt điểm lại từ buổi đầu hội ngộ.

Chân dung của Từ Hải được phác họa khá tỉ mỉ trong cái đêm gió mát trăng thanh ở lầu hồng :

Lần thâu gió mát trăng thanh

Bỗng đâu có khách bên đình sang chơi

Râu hùm, hàm én mày ngài

Vai năm tấc rộng lưng mười thước cao

Đường đường một đấng anh hào

Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài

Đội trời đạp đất ở đời

Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông

Giang hồ quen thói vẫy vùng

Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo

Chỉ vỏn vẹn có mấy cặp lục bát nhưng diện mạo khách biên đình của Từ hiện ra mồn một: một đấng trượng phu tài cao chí, lớn một người anh hùng như chính Từ xác nhận với Kiều: một đời được mấy anh hùng…

Đến buổi dứt áo ra đi, cái hào khí của Từ lồng lộng cả trời mây. Mấy ai, trong chốn thanh nhàn lại chỉ mới nửa năm hương lửa đang nồng mà chấp nhận quay lưng vì động lòng bốn phương. Cái lý tưởng của Từ vút lên, kiên định, mạnh mẽ :

Bao giờ mười vạn tinh binh

Tiếng chuông dậy đất, bóng tinh rợp đường…

Trở về thắng lợi, trong rạng rở cân đai, Từ vẫn không đánh mất cái bản sắc anh hùng của mình buổi hàn vi : Hãy còn hàm én, mày ngài như xưa

Và còn sung sướng tự hào

Anh hùng mới biết anh hùng…

Chảy trong tim dòng máu anh hùng, Từ công đã đùng đùng sấm vang vì bất bình, vì căm giận. Thấy bao nhiêu oan khổ mà lũ giá áo túi cơm gây ra cho dân lành, Từ quyết ra tay trừ hại nên phong trần mài một lưỡi gươm…

Nhưng rồi, Từ ở đó:

Tử sinh liền giữa trận tiền
Dạn dày cho biết gan liền tướng quân ?
Khí thiêng khi đã về thần
Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng !

Chao ôi, tôi muốn nhỏ một giọt nước mắt cho người anh hùng của Nguyễn Du, một giọt nước mắt xẻ chia nỗi đau đời của tiên sinh. Những từ – dạn dày – gan liền tướng quân, thêm một dấu hỏi, một dấu chấm than lơ lửng như nỗi chua xót rụng rời trong lòng Tố Như. Cái dáng đứng trơ như đá, vững như đồng của Từ nào phải cái dáng đứng tạc vào thế kỷ để thiên thu bất diệt?

Ôi thôi, Nguyễn Du đã bị triệt buộc để không thể nào vẽ thành một Từ Hải anh hùng, đem thanh gươm công lý dẹp bỏ bất bằng, cất cao tiếng hát thắng lợi, đành để cho Từ nằm xuống …Nếu chúng ta có một ít chú tâm, sẽ thấy Nguyễn Du trốn chạy hiện thực, vội vàng kết thúc bởi không muốn kéo dài sự đau khổ của lòng mình. Từ Hải – trong việc giúp Kiều đền ơn trả oán , thật rạng rở uy phong (đoạn thơ dài đến 138 câu từ 2289 đến 2417) nhưng trong cuộc đối đầu sinh tử với tên mặt sắt Hồ Tôn Hiến lại rất mờ nhạt, mơ hồ (đoạn thơ chỉ vỏn vẹn 85 câu từ 2451 đến 2535). Nghĩa là, kể từ khi Hồ Tôn Hiến vâng chỉ đặc sai, lời thơ của Nguyễn Du nhuộm buồn bởi lẽ tiên sinh đã thấy được cái hậu và cũng vì không thể tiếp tục khắc họa Từ Hải như một mẫu anh hùng đúng nghĩa : Thảo trung chi anh, thú trung chi hùng. Từ Hải, khi chấp nhận làm hàng thần lơ láo, vào luồn ra cúi làm sao có thể là thảo trung chi anh. Lâm địch mà hờ hững biết đâu, bất ý chẳng ngờ, chỉ là liều giữa trận tiền cũng không thể là thú trung chi hùng. Thiếu dũng khí, thiếu chí mưu, thiếu quyết đoán lại thiếu cả sĩ khí (sĩ khả sát bất khả nhục), Từ Hải quả thật làm chúng ta thất vọng !

Nhưng mà, nỗi oan tình của Tố Như xưa nay là ở đây. Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như. Tố Hữu đã khóc cùng Tố Như khi viết :

Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều

Chúng ta, những nguời đương đại, cũng có thể khóc với Tố Như bên xác của Từ Hải trơ vơ giữa trận tiền…Bởi lẽ, bình tỉnh lật lại từng trang thơ, chầm chậm suy nghĩ, ta lại thấy hiển hiện lên một Từ Hải khác không làm ta thất vọng : một Từ Hải lãng tử đa tình…

Cái chất lãng tử giang hồ của Từ Hải nằm ngay trong khung cảnh giới thiệu ban đầu. Từ là khách biên đình sang chơi lầu hồng, tìm vui xác thịt hoàn toàn khác với một Lục Vân Tiên chính nhân quân tử, tả đột hửu xông, ra tay trượng nghĩa. Rồi cái cung cách gươm đàn nữa gánh, cái điệu cười, cái liếc mắt cho đến lời ghẹo nguyệt trêu hoa bướm lả ong lơi… Tất cả đều giới thiệu Từ như một lãng tử đa tình.

Đa tình, phóng túng, hào hoa, Từ sẵn sàng tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn. Không mặc cả, không toan tính thiệt hơn, Từ đem cô gái lầu xanh về làm vợ ngay sau buổi sơ ngộ. Việc giải phóng Kiều như thế, không hề là một nghĩa cử hào hiệp, chỉ có thể nói là đồng thanh tương khí là tài tử ngộ giai nhân –Lãng tử gặp giang hồ…

Trước cái nhan sắc khuynh thành, Từ ngày càng chìm đắm, càng mê càng mệt, càng tình tứ nồng nàn. Trong việc Kiều đền ơn trả oán, Từ đã giao toàn quyền cho nàng mặc nàng xử quyết – phó cho mặc nàng dù sau đó nàng có quẫy động đảo điên đất trời. Tiến thêm một bước, Từ đem cả mười vạn tinh binh, đem tấm thân muôn trượng, đem cả cái ngang tàng đội trời đạp đất đặt vào tay Kiều – Lại mặc nàng. Kiều chỉ là thừa cơ bàn ra nói vào, không mấy vất vả đã khiến Từ công, gã lãng tử từ thế công chuyển sang thế hàng. Từ hàng, không vì chức cao quyền trọng mà vì nàng nói mặn mà, vì nàng là hồng nhan tri kỷ.

Không chỉ khi sống, sau khi chết , Từ vẫn tiếp tục làm gã đa tình lãng tử. Cho nên tấm thân trơ như đá, vững như đồng của Từ liền ngã ra khi Kiều vừa phục xuống với những giọt lệ ăn năn…Thế đó sống làm lãng tử, chết xuống làm gã tình si. Từ phong lưu rất mực mà cũng đa tình thủy chung như nhất. Vì Kiều, Từ dứt bỏ sự nghiệp mưa bá đồ vương, bỏ quên cái ý chí nghênh ngang một cỏi biên thùy, và cả sinh mạng của mình. Quả thật, chí lớn trong thiên hạ không đong đầy đôi mắt mỹ nhân…Từ chết như để tạ lòng tri kỷ.

Tôi đã nhỏ lệ chia buồn với Tố Như. Từ Hải ra đi, bao nhiêu ước vọng, bao nhiêu ước mơ thầm kín của tiên sinh đành tan thành bọt bể, trôi theo mây trắng cuối trời. Từ chết, toàn quân tan rã, bọn phong kiến ca khúc khải hoàn. Đó là sự thật lịch sử: chế độ phong kiến- cái gông xiềng áp bức tàn bạo – vẫn ung dung ngự trên máu và nước mắt lớp lớp người lao khổ. Nhớ hôm nào, Tự Đức đã đòi đánh Nguyễn Du mấy trăm hèo về cái tội đại nghịch bất đạo khi ca tụng Từ Hải dọc ngang nào biết trên đầu có ai . Nguyễn Du chưa nhìn thấy được tương lai, chưa có lối thoát cho nhân vật Từ Hải nhưng cái tài cái khéo của tiên sinh chính là – Tôi lại muốn mỉm cười chia xẻ niềm vui ý nhị của tiên sinh-

Không, Từ Hải không chết vì lũ bất tài Hồ Tôn Hiến. Bỏ đi! Cái đám binh tôm tướng cá của cái triều đình mục ruỗng có thể nào tơ hào đụng chạm đến chân tơ cọng tóc của Từ - một Từ Hải anh minh thần võ, đội trời đạp đất, dọc ngang nào biết trên đầu có ai…Từ chết vì Từ là lãng tử đa tình. Từ chết vì một nhan sắc khuynh thành, vì nụ cười mật ngọt. Nguyễn Du đã không hề vô tình khi tô đậm, phủ lên cái chết của Từ màn sương mù huyền thoại. Cú ngã của Từ cực kỳ vi diệu: những giọt nước mắt của người đẹp, của người tình phải chăng có sức mạnh tan bia vỡ đá, xô ngã cả tường thành?...

Thế đó, dụng tâm khổ nhọc của Nguyễn Du thật rõ ràng. Tiên sinh đã tìm cho người anh hùng mà mình trân trọng nâng niu một lớp vỏ bọc : lãng tử đa tình. Lớp vỏ bọc này, một mặt làm cho người anh hùng Từ Hải rất đời thường , vừa hư vừa thật – hiên ngang mà vẫn có những phút xao lòng, mặt khác lý giải sự thất bại tất yếu của Từ dưới khía cạnh trữ tình : sỹ vị tri kỷ giả tử; lãng tử đa tình tất lụy vì tình bởi lẽ đa tình tự cổ thiên di hận…

Không, Từ Hải không thất bại và cả Nguyễn Du cũng không thua cuộc trước bè lũ phong kiến. Chẳng qua, chỉ vì chữ tình – cái chữ tình chi chi mà kỳ lạ…Trong một chừng mực nào đó, cái chết của gã lãng tử đa tình là đẹp, lại trọn vẹn cả đôi bề…

Mừng 240 năm sinh nhật Nguyễn Du, phải chăng chúng ta nên gở rối tâm tình cho tiên sinh trong việc xây dựng hình tượng Từ Hải : một nhân vật vừa hư vừa thật, vừa khẳng khái hiên ngang, vừa lãng mạn đa tình…? Phải chăng chúng ta nên thông cảm nỗi đau của tiên sinh khi hạ bút viết những vần thơ uất nghẹn ngọn cờ ngơ ngác,trống canh trễ tràng, và để cho thần tượng anh hùng của mình sụp đổ, dù là dưới chân giai nhân? Phải chăng chúng ta nên ngắm nhìn Từ Hải với một quan điểm mới : Anh hùng lãng tử - lãng tử anh hùng ”…

Le-Vu.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Chỉ có Em và Anh cùng Tình Yêu ở lại...
Tác giả: thụyvi



Chỉ có Em và Anh cùng Tình Yêu ở lại

Hai câu thơ của Xuân Quỳnh, ngắt ra làm tựa cho bài viết này, thật đúng với hoàn cảnh của những cặp vợ chồng lớn tuổi như chúng ta, khi những đứa con đủ lông cánh đã bay đi…

Cũng sẽ có không ít người sẽ hứ…“ Già…tình yêu nỗi gì !” Sao không ? hãy nghe nhà văn André Maurois nói “Tại sao chỉ vì tuổi tác mà ngăn cản tình cảm chân chính của con người ? Người già yêu nhau là lố bịch sao? Chỉ lố bịch khi họ quên mất rằng họ là những người già ? Đẹp lắm chứ, một đôi vợ chồng già yêu nhau chân tình. Mỗi người thấy lại như xưa những điều đẹp đẽ mà họ đã say mê ở nhau lúc trẻ. Hơn thế nữa, sau những cơn bão tố, tình già lại trở nên đằm thắm, trang nghiêm, mang một hương vị mộc mạc, chân chất. Bất đồng biến mất, dục vọng bồng bột không còn, lòng ghen tuông cũng hết. Cuộc đời lứa đôi như những dòng sông, đầu nguồn nhiều ghềnh thác, càng ra biển càng trở nên hiền hoà, trong trẻo…Tình yêu của người già có sự trong sáng của tình bạn, lại có sự chăm sóc nhau nồng ấm…”.

Chúng ta thường vô tình đánh mất những giờ phút có riêng bên nhau vì những “ chuyện đâu đâu” mà quên bẵng thời gian đang vùn vụt qua đi. Hoặc thường khi chúng ta cứ ơ thờ những phút giây diệu kỳ ở hiện tại mà cứ đau đáu trong lòng những kỷ niệm đẹp của một thời, giờ tít tắp xa xưa.

Nếu chúng ta được Thượng Đế thương yêu ban cho chúng ta một đời sống kéo dài thêm mươi năm nữa trong một trạng thái bình thường, lúc ấy nhớ lại bây giờ - có lẽ chúng ta sẽ vô cùng ân hận vì mình đã thờ ơ để mất đi biết bao thời gian quý báu mà đáng lẽ chúng ta được tận hưởng.

Tận hưởng những giờ phút bên nhau, có nghiã là cùng đồng cảm, cùng bắt chung một nhịp điệu, là tri kỷ, hiểu thấu nhau mọi chuyện.

Không thiếu gì những cặp vợ chồng thấy mặt nhau mỗi ngày mà vẫn “đồng sàng dị mộng” vì cứ hễ mở miệng ra thì y như rằng ông nói gà, bà hiểu vịt…Như người bạn của tôi, hai vợ chồng “ khắc khẩu” cho nên người chồng ngoài giờ đi làm, thời gian còn lại thì hầu như ông rút xuống basement thui thủi một mình với cái computer ! Nếu bạn bè có thắc mắc, ông lắc đầu nói như tâm sự vì ông muốn êm cửa êm nhà, tránh gây chuyện cải cọ thậm vô lý của vợ mình. Người vợ thì nghĩ mình bị bỏ bê, cứ ấm ức, hễ có ai nhắc tới thì bà hằn học đắng cay “ mê cái máy thiếu điều ôm nó luôn mà ngủ! ” May là ông ôm cái máy, chứ nếu … thì bà đã để ông… ngủ chèo queo một mình ! Ông dường như cũng bực bội nên thường cằn nhằn thở than “… Kỳ thiệt, mấy bà… hình như càng lớn tuổi càng có tật nói nhiều, nói dai, mà nói thì nói không đúng chổ chút nào” Ông giải thích thêm, như có những lần ông đang say sưa nghe một bản nhạc thật truyền cảm thay vì cùng với chồng ngồi yên lặng thưởng thức để cho những rung động thấm đẫm vào tâm hồn của nhau, thì người vợ lại vô ý phá vỡ những giây phút đồng cảm bằng những sôi nỗi ồn ào.

Rõ ràng là cặp vợ chồng này rất thương nhau cho nên đã sống với nhau tới ngày hôm nay, ngày mà hai người răng đã long đầu đã bạc. Nhưng vì họ không biết cách diễn đạt tình cảm của mình cho người hôn phối hiểu để được sự tương giao thông cảm, hoặc là họ không chịu hiểu đối phương muốn gì để chia sẽ và an ủi…Vì thế, tuy chung nhà, hai người thường nhìn nhau đôi mắt hình …viên đạn, có gì vui?

Người đàn ông, tâm sinh lý họ khác biệt với phụ nữ, ngoài ra cách làm việc của họ cũng khác chúng ta. Bởi vì do sự cấu trúc bộ nảo của người nam và người nữ khác nhau, vì thế người phụ nữ có thể làm nhiều việc cùng một lúc như vừa nấu ăn vừa trông con vừa coi phim bộ… nhưng người đàn ông thì không thể được như vậy, thường khi làm việc gì thì họ rất chăm chú tập trung vào công việc đó [ có lẽ nhờ sự tập trung cao độ như vậy cho nên thường thì người đàn ông thành công lẫy lừng hơn người phụ nữ ] Vì lẽ đó mà người đàn ông khi đang làm bất cứ việc gì, điều họ khó chịu nhất là bị ai đó lẩn quẫn làm rộn. Chúng ta nhớ là cứ mặc kệ họ, đừng chăm sóc hỏi han trong những lúc này, hãy cứ lẵng lặng dành cho họ một khoảng không gian êm ả và phải biết tôn trọng thế giới riêng của họ, người chồng chắc chắn biết ơn chúng ta vô cùng, có thể họ không nói ra điều đó, nhưng ánh mắt đã cho chúng ta thấy ngoài sự họ hết lòng thương yêu mà chúng ta còn là sự tương cậy mà họ không thể tìm thấy ở một người đàn bà khác.

Dĩ nhiên, chúng ta không thể nào sống với những chuổi ngày vô vị, nhàm chán, lặng lẽ trong đời sống riêng của hai người. Người vợ chúng ta hãy tìm những dịp để “ khuấy ” lên một cách thật sinh động và duyên dáng. Hãy rủ người chồng cùng nhảy với mình một bản nhạc thật vui. Hãy hát lại với nhau những bản tình ca thật nhiều kỷ niệm. Hãy rủ nhau cùng đi dạo, tay trong tay thật tình tứ. Hãy cùng nhau đùa giởn như những ngày còn trẻ dại. Hãy khôi hài với nhau và cười thật sảng khoái. Hãy cùng sánh vai nhau trong những chuyến viễn du, đến những chân trời mới, nhớ tận hưởng cho thỏa thích những cảnh đẹp đường xa xứ lạ. Hãy cùng nhau bàn luận những tin tức thời sự trên TV. Hãy cùng thưởng thức những áng văn hay…

Nếu chúng ta không biết nhiều về văn học nghệ thuật chính trị [ Hoặc cứ giả đò không biết…]. Người chồng của chúng ta sẽ sẳn lòng và sung sướng để được đọc lại, kể lại, giải thích cho chúng ta nghe…Hãy lợi dụng những dịp này, nắm lấy bàn tay của chồng, nói lời cám ơn, hoặc hôn trên trán ông, trên tóc ông, như ngầm nói rằng “ chàng của ta” là số 1.

Hãy cùng nhau tham gia với các tổ chức của hội đoàn, các đoàn thể tôn giáo. Hãy cùng nhau đi thăm viếng, làm chứng đạo. Hãy cùng nhau nhập cuộc với các Phật tử trong những chương trình cứu trợ. Hãy cùng làm việc chung với nhau trong những công tác xả hội, cộng đồng ..v..v..

Chúng ta hãy cùng nhau tận hưởng những giây phút bên nhau, đó là phương cách bảo vệ hạnh phúc gia đình, duy trì sức khoẻ, sự minh mẫn cùng tình yêu tri kỷ, một đời.

Người vợ già của ông họa sư danh tiếng đời nhà Nguyên tên Trần Mạnh Phủ, khi thấy ông muốn cưới thiếp, bà bèn viết mấy câu thơ:

….Lấy một nắm đất sét,
Nặn thành hình anh,
Đắp thành hình em.
Rồi đập phá cả hai, nhào chung lại.
Lại nắn thành hình anh
Lại đắp thành hình em.
Trong chất đất của em có anh
Trong chất đất của anh có em…

[ Trong SỐNG ĐẸP của Lâm Ngữ Đường ]

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Hoa Kỳ Vẫn Là Số Dzách

Lê Phan
Chỉ khoảng hai năm trước, đã có lúc một số nhà bình luận nói là thăng bằng kinh tế thế giới đã đi đến chỗ là ngay cả nếu Hoa Kỳ có đi vào suy thoái thì Á Châu, nhất là Trung Quốc và Nhật Bản có thể đứng ra thay thế làm động cơ cho kinh tế thế giới.

Ngay đầu năm ngoái, ở Âu Châu vẫn còn những người nói là chính khối đồng Euro và Liên Hiệp Âu Châu sẽ tách rời khỏi những vấn đề kinh tế của Hoa Kỳ và sẽ giúp duy trì ổn định cho nền kinh tế thế giới. Nhưng nay thì không thấy ai nói đến điều đó nữa.

Một nhà bình luận đã dí dỏm nhận xét: Muốn thấy nền kinh tế Hoa Kỳ thực sự bệnh hoạn đến mức nào chúng ta phải nhìn ra ngoại quốc. Sự việc đột nhiên người dân Mỹ từ chối chi tiêu đang gây khủng hoảng từ Nhật Bản đến Trung Quốc ở Á Châu đến Ðức ở Âu Châu. Và đột nhiên những biểu đồ khác biệt nhau giữa mức tiêu thụ của người dân Hoa Kỳ và mức xuất cảng của Nhật Bản, Trung Quốc và Ðức Quốc đều bất ngờ giống nhau, đi xuống ở một mức độ chóng mặt. Xuất cảng ở Nhật giảm đến một mức kỷ lục 46% tính toàn năm. Một nhà phân tích của Societé Générale đã bật cười khi những thống kê từ Trung Quốc được đưa ra, bởi theo ông ta, hẳn là con số sụt giảm của Bắc Kinh cũng tệ bằng hay hơn Nhật Bản nữa. Ðức, quốc gia đầu tầu của khối Euro, lại cũng là một quốc gia lệ thuộc vào xuất cảng. Xuất cảng chiếm đến một nửa GDP của Ðức, thành ra khi xuất cảng giảm 7.3% trong riêng Tháng Giêng vừa qua, nền kinh tế giàu có nhất Âu Châu đang lâm nguy.

Ðiều những nhà bình luận và những chính trị gia của nhiều quốc gia trên thế giới nay đột nhiên mới lại khám phá ra là ít nhất trong tương lai gần Hoa Kỳ vẫn là No. One. Tất cả những lời nói là Hoa Kỳ đã đến ngày mất vị trí độc tôn nay không nghe thấy nữa. Hiện nay tất cả con mắt thế giới không đổ dồn vào Tokyo, Bắc Kinh, Brussels, Berlin hay Moscow, mà đang chú mục vào Hoa Kỳ. Mọi người đều trông đợi vào Hoa Kỳ để đưa thế giới ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay.

Một nhà bình luận trên tờ New York Times nhận xét: Trong vòng 50 năm nay chưa bao giờ chúng ta (người Mỹ) cảm thấy mình yếu đến thế, ấy vậy mà chưa bao giờ trong vòng 50 năm nay, thế giới lại cảm thấy Hoa Kỳ quan trọng đến thế.

Trong khi quả đúng là từ sau Chiến Tranh Lanh kết thúc đến nay, những nhà trí thức, những nhà bình luận, nhất là ở Âu Châu, than phiền là Hoa Kỳ hùng mạnh quá. Nhưng bây giờ đột nhiên không thấy ai than phiền cả. Có lẽ là vì hầu hết mọi người công nhận chỉ có Hoa Kỳ hồi phục lại nền kinh tế thì mới có khả năng kéo được nền kinh tế toàn cầu ra khỏi một cuộc khủng hoảng trầm trọng, có thể dẫn đến biến động chính trị. Thật dễ nói đến Hoa Kỳ quá hùng mạnh khi không phải sống trong một thế giới mà Hoa Kỳ quá yếu. Và vào lúc này, điều mà mọi người đang sợ là Hoa Kỳ không đủ mạnh chứ không phải là Hoa Kỳ quá mạnh.

Cũng có thể trong thâm tâm mọi người trên thế giới bây giờ đã ý thức rằng một thế giới không có Hoa Kỳ chế ngự không có nghĩa là một thế giới không có ai chế ngự hay đúng hơn không có ai khác tốt hơn chế ngự. Ðó sẽ là một thế giới không có lãnh đạo. Cả Nga lẫn Trung Quốc đều không có đủ ý chí cũng như phương tiện để trông nom cho lợi ích của toàn thế giới như Hoa Kỳ vẫn bình thường cung cấp. Cái gọi là Liên Hiệp Âu Châu ngày càng lộ diện là một tập hợp của các quốc gia mà quyền lợi quốc gia vẫn được đặt cao hơn quyền lợi của Liên Hiệp.

Ở một khía cạnh nào đó, thế giới đã vừa trải qua khoảng một tháng trời như vậy khi Tổng Thống Bush sắp mãn nhiệm mà Tổng Thống Obama chưa cầm quyền. Trong giai đoạn đó, thế giới quả là cảm thấy thiếu lãnh đạo. Khi Mumbai bị khủng bố tấn công, khi Israel tấn công vào giải Gaza, ai nấy đều ngóng về Hoa Kỳ chờ đợi.

Và có lẽ cũng vì ý thức được điều đó, nên mặc dầu Hoa Kỳ đang gặp khủng hoảng kinh tế, một sự khủng hoảng do chính nợ nần xấu của Hoa Kỳ tạo nên, nhưng cả thế giới nay lại quay trở lại sự an toàn của đồng đô la.

Một viên chức Nam Hàn, trong lúc tâm sự với một nhà báo tháp tùng phái đoàn của bà Clinton, đã khẳng định “Không có quốc gia nào trên thế giới có thể thay thế Hoa Kỳ. Hoa Kỳ vẫn là số 1 về quân sự, số 1 về kinh tế, số 1 về thúc đẩy nhân quyền và số 1 về lý tưởng. Chỉ có Hoa Kỳ mới có thể lãnh đạo thế giới. Không có quốc gia nào có thể thay thế. Trung quốc không thể làm được điều đó. Âu Châu thì quá chia rẽ, vả lại khả năng quân sự của Âu Châu quá yếu kém. Thành ra chỉ có Hoa Kỳ. Chúng ta chưa bao giờ sống ở một thế giới đơn cực bằng giai đoạn hiện nay.”

Người Á Châu có thể bực mình vì đã từng bị Hoa Kỳ “dạy dỗ” khi họ trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế hồi cuối thập niên 1990. Âu Châu có thể khó chịu khi Hoa Kỳ vung vít vay tiền cứu nguy kinh tế. Nhưng tất cả mọi người đều cầu mong sao Hoa Kỳ thành công trong việc phục hồi lại nền kinh tế.

Nhà bình luận của tờ New York Times kể lại là trong những câu chuyên ở Seoul, nhiều người, từ các nhà kinh doanh đến các nhà báo, đều tỏ ra rất lo lắng. Họ hỏi ông ta là có quả thật là Hoa Kỳ không biết đối phó ra sao với tình hình, hay là tệ hơn nữa, họ biết nhưng vấn đề lớn hơn là họ tưởng.

Và dĩ nhiên tất cả mọi người đều lo là Hoa Kỳ sẽ theo đuổi con đường bảo vệ mậu dịch, bởi nếu chuyện đó xảy ra thì hệ thống mậu dịch toàn cầu sẽ sụp đổ. Ông Lee Hong-koo, một cựu đại sứ Nam Hàn tại Hoa Kỳ, giải thích “Không ai có thể thay thế Hoa Kỳ. Không có sự lãnh đạo của Hoa Kỳ là không có lãnh đạo. Ðiều đó đặt một gánh nặng rất lớn lên người dân Hoa Kỳ phải có hành động tích cực. Quí vị không thể bị lôi cuốn vào con đường quốc gia quá khích. Vẫn biết khi mọi sự khó khăn, người ta thường rất dễ bị lôi cuốn trở thành quốc gia quá khích. Và trong thế giới kinh tế, quốc gia quá khích sẽ trở thành bảo hộ mậu dịch. Chúng tôi rất mừng khi Tổng thống Obama không theo con đường đó. Người dân Mỹ, dân tộc Mỹ, phải hiểu là niềm hy vọng và sự trông đợi của tất cả các dân tộc khác nay đặt trên vai họ.”

Dĩ nhiên làm lãnh đạo mệt lắm, nhưng đó là thân phận cường quốc độc tôn.

Lê Phan

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Đời Sống Người Việt ở Hawaii

Người Việt Nam sang làm ăn và định cư ở Hawaii khoảng cỡ 10.000 -15.000 người.
Trong đó làm nails chỉ có người Việt “độc quyền” và có tới khoảng một nửa số lái xe taxi ở Hawaii là người Việt.

Image
Bán hàng là thế mạnh của người Việt.
Thảo, một cô bé người Việt bán hàng ở chợ quốc tế Aloha nằm giữa đường Kuhio với đại lộ Kalakaua - một kiểu chợ trời chủ yếu bán hàng giá rẻ. Tôi tình cờ làm quen với Thảo khi nghe tiếng cô líu ríu với bạn qua điện thoại di động. Thảo theo học ở một trường dạy nghề tại Hawaii, ngày nghỉ đi làm công cho một gia đình người Việt. Cô cho biết người bán hàng ở chợ này chủ yếu là người Việt và người Trung Quốc, có thêm một số ít kiều dân Nhật, Hàn Quốc.

Thảo nói mỗi tháng cô được trả trên 1.000 đô la. Bà chủ của Thảo mới sinh con, ở nhà nên cô phải ra bán hàng liên tục ngoài chợ này từ mấy tháng nay. Thảo nói điều khiến cô hài lòng nhất với cuộc sống ở Hawaii là khí hậu tuyệt vời, quanh năm mát mẻ, chỉ có khoảng cuối năm, dịp Noel mới hơi trở lạnh một chút.

Làm nail, trồng rau và chạy taxi
Còn trong lĩnh vực làm nail, cũng như trên toàn nước Mỹ, người Việt ở Hawaii chiếm địa vị thống trị tuyệt đối. Hầu như tất cả các cửa hiệu làm nail ở Hawaii đều là của người Việt, nhiều người nhờ làm nail mà mua được nhà riêng đàng hoàng.

Người Việt ở Mỹ là vậy, những nghề mà người Mỹ không làm, không nghĩ là có thể làm giàu được thì người Việt lại nhìn ra cơ hội để làm và không ít người có của ăn của để. Như chuyện làm vườn chẳng hạn. Ở Hawaii rau đắt hơn thịt nhiều, một túi rau đóng gói bé tí có giá ngang bằng với cả cân thịt ngon, vậy nên làm trang trại trồng rau cũng khỏe.

Ở Hawaii có nhiều nơi dành cho những người vô gia cư, trong đó cũng có nhiều người Việt. Đi lang bang cả ngày, hai bữa ăn cơm ở những địa điểm tổ chức cho ăn miễn phí, vẫn nhận được khoản tiền trợ cấp của chính phủ đủ sống qua ngày.

Đợt suy thoái ở Mỹ cũng ảnh hưởng nặng đến nhiều người Việt. Trước đây, nhiều người ăn nên làm ra nhờ vay tiền ngân hàng mua bất động sản rồi bán lại kiếm lời. Điều kiện vay tiền của ngân hàng quá dễ nên nhiều người đổ xô vào lĩnh vực này. Bất chợt thị trường đóng băng, nhà không bán được, lãi suất ngân hàng phải è cổ trả, nhiều người Việt méo mặt ôm cả một đống nợ không biết bao giờ mới trả xong.

Julian T., khi tôi mới gặp cứ tưởng là người Trung Quốc, nhưng ngồi nói mấy câu mới biết hóa ra là người Việt. T. người gốc Long Xuyên, 17 tuổi đi bộ vượt biên sang Campuchia rồi từ đó sang Thái Lan, cuối cùng định cư ở Mỹ.

Đai đen ngũ đẳng taekwondo, có hai bằng thạc sĩ về chính trị và kinh tế học, ngoài tiếng Việt, T. nói lưu loát bốn thứ tiếng Trung Quốc, Anh, Pháp, Thái Lan. Nay T. là nhân viên làm việc cho Chính phủ Mỹ ở Hawaii. Vợ và hai con gái T. cũng theo sang đây được hơn một năm. T. cho biết người Việt làm việc cho Chính phủ Mỹ có nhiều, ngay một nhân viên cấp trên của T. cũng là người Việt!

Một buổi chiều, T. lái xe đưa tôi về thăm nhà anh ở ngoại ô Honolulu. Đây là nhà T. thuê, có hai tầng, sân trước để mấy cây cảnh, sân sau thoáng có thể tổ chức tiệc thịt nướng ngoài trời. Vợ T. làm nghề uốn tóc, mới sinh con nên nghỉ ở nhà trông con. Mẹ vợ T. từ Việt Nam sang trông cháu giúp. Cả gia đình trông vào đồng lương của T. tạm đủ sống. T. cũng dính vào vụ địa ốc đóng băng, có hai căn nhà bên lục địa mà không bán được nên không mua được, ở nhà thuê nhưng do chính phủ trả!

Trong nhà chỉ nói tiếng Việt, xem chương trình âm nhạc bằng DVD (T. có cả ngàn DVD sưu tập được). Bữa cơm tối ở gia đình T. giản dị, ấm cúng, vẫn là một bữa cơm Việt đặc sệt, người trẻ mời người lớn tuổi ăn trước khi cầm đũa. Trong garage nhà T. có hai xe, một xe bảy chỗ của vợ T., một chiếc Lexus của T. Đó là mức sống của một gia đình có thu nhập trung bình ở Hawaii và có lẽ cũng điển hình cho nhiều người Việt ở Mỹ.

“Vùng sâu vùng xa” của nước Mỹ
H. lại là một trường hợp khác. Anh du học sinh ở Đông Âu, ở lại Đức sau khi bức tường Berlin sụp đổ, lấy vợ rồi trở thành công dân Đức. H. là một điển hình của trí thức người Việt ở nước ngoài: bằng trí thông minh và nghị lực, tự học rồi vươn lên giành những vị trí vốn tưởng chừng chỉ dành cho người bản xứ.

H. được phong giáo sư ở Đức, được mời sang dạy ở Harvard một thời gian, sau đó trải qua giảng dạy ở một số trường đại học và viện nghiên cứu có uy tín ở Mỹ trước khi được mời sang giảng dạy ở Hawaii.

Lương ở đây khá cao nhưng theo như lời H. nói với tôi thì “không ăn thua gì vì giá cả ở đây đắt khủng khiếp, gấp đôi trong lục địa”. H. và gia đình phải thuê một căn nhà ở ngay trong khu Waikiki đắt đỏ để tiện cho H. hằng ngày đi làm và đưa đứa con 7 tuổi đi học. Dẫu gì thì với đồng lương giáo sư, cuộc sống của H. và gia đình cũng tạm ổn.

Theo YÊN B

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image


MÌ QUẢNG CỦA BÙI GIÁNG

Mặc Thu
Lần đầu tôi gặp Bùi Giáng vào năm 1957, tại Sài Gòn. Khi ấy, mỗi chiều tối, gần như thường lệ, Đinh Hùng và tôi gặp nhau ở Câu Lạc Bộ Văn Hóa, đường Tự Do (Cati-nat cũ) để uống bia. Quán này của anh chị Phạm Xuân Thái, thường tụ họp khá đông giới văn nghệ sĩ của thủ đô miền Nam. Anh Phạm Xuân Thái lúc ấy đã rời chức Bộ Trưởng Bộ Thông Tin. Anh đại diện giáo phái Cao Đài trong chính phủ Ngô Đình Diệm.

Quán này có hai tầng tiếp khách. Tầng trên lầu và tầng dưới. Tôi và Đinh Hùng thường ngồi ở cái bàn nơi góc cửa ra vào, tầng dưới. Nhiều khi cùng ngồi với chúng tôi, có nàng thơ bé nhỏ (chừng 16, 17 tuổi) người miền Nam học trường Pháp, Marie Curie. Nàng tên diệu hiền (có lẽ chỉ là bút hiệu). Diệu Hiền có nét đẹp thánh thiện, luôn mặc quần áo trắng, tóc buông lơi ngang lưng, không chút phấn son. Diệu Hiền làm thơ, bằng tiếng Pháp nhiều hơn tiếng Việt. Trong thơ nàng thường tự xưng là “Người yêu của Chúa” và thường nói với chúng tôi “không thể yêu ai, ngoài Chúa”; gia đình Diệu Hiền theo đạo Công Giáo gốc đã từ mấy đời. Câu chuyện Diệu Hiền, tôi sẽ nói ở một đoạn sau trong hồi ký này.

Trở lại Câu Lạc Bộ Văn Hóa. Tuy làm chủ, nhưng anh chị Phạm Xuân Thái ít khi xuất hiện. Đôi lần, chị Thái từ nhà trong đi ra phố, ngang qua bàn chúng tôi, khẽ mỉm cười, nghiêng đầu chào. Chị có dáng lả lướt, thanh tao, mơ hồ một nét liêu trai. Nếu khách là kẻ đa tình, không thể không ngơ ngẩn nhìn theo. Cái dáng đẹp ấy có thể dìm chết khách vào trong mộng.
Một buổi, Đinh Hùng bảo tôi:

- Bùi Giáng mời tôi với anh trưa mai 12 giờ tới uống rượu ở nhà anh ta, đường Dis-mude (Cô Giang hay Cô Bắc, phường Cầu Muối: Douaumont gì đó).

Tôi đoán chừng: Bùi Giáng mà tôi thấy có thơ đăng lác đác trên vài tờ tạp chí văn học – hẳn là người đã ngưỡng mộ thơ Đinh Hùng nên đã mời Đinh Hùng, chứ không phải mời tôi. Nhưng Đinh Hùng muốn kéo tôi đi cùng cho có bạn, nên đã nói thác ra như vậy.

Tuy nhiên tôi không từ chối mà chỉ ngồi im, suy nghĩ. Ý hẳn Đinh Hùng hiểu tôi ngần ngại nên xác định thêm:

- Tôi có nói với họ Bùi là sẽ đi với Mặc Thu. Anh vui vẻ nói: Thế càng quí hóa. Vậy khoảng 11 giờ trưa mai tôi tới anh rồi ta cùng đi! (Hùng ngại đi một mình và không muốn tôi từ chối). Vả, chính tôi cũng muốn làm quen với nhà thơ họ Bùi.

Lúc đó, gia đình Đinh Hùng ở đường Đinh Công Tráng, Tân Định. Gia đình tôi ở đường Lý Trần Quán cũng Tân Định. Gần nhau có ba bước chân. Chúng tôi cũng thường đi bộ sang nhà nhau. Hồi đó chúng tôi cũng khá rảnh rỗi vì Đinh Hùng và tôi vừa bị loại ra khỏi tờ nhật báo Tự Do, cùng một lượt với các anh Tam Lang, Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan.

Hôm sau, đúng hẹn, chúng tôi tới nhà Bùi Giáng. Họ Bùi ở một ngôi nhà mặt tiền, nhưng là một ngôi nhà cổ, cũ kỹ, rất nhỏ. Nền nhà, thấp dưới mặt đường chừng nửa thước, có bực để bước xuống. Bàn rượu đã thấy bày ở ngoài thềm, có ba ghế đẩu.

Chủ nhân nhanh nhẹn từ trong nhà bước ra tiếp khách. Phía trong nhà khá tối, thấp thoáng có bóng dáng một giai nhân, quần áo lụa là kiểu bà ba, hẳn đương lo việc bếp núc.

Đây là lần đầu tôi gặp Bùi Giáng. Đó là một thanh niên dáng vẻ rất thư sinh, đầu tóc rẻ đầu ngôi, gọn ghẽ, áo sơ mi trắng, quần màu rêu nhạt, mặt sáng sủa, thanh tú, mắt mang kính cận.

Đinh Hùng để cái cặp da xuống cạnh bàn. Ba chúng tôi cùng ngồi, nhắp từng hớp bia. Qua câu chuyện thăm hỏi giữa họ Đinh và họ Bùi, tôi được biết Bùi Giáng đương dạy học ở một trường tư thục nào gần đó. Còn người phụ nữ trẻ trong nhà, thỉnh thoảng bưng ra món này món nọ bày trên bàn, chúng tôi cùng giữ ý, không hỏi nàng là ai. Mà Giáng cũng không nói gì về nàng.

Tôi nhận thấy Giáng rất ít nói. Chỉ nói những khi cần thiết. Nói rất gọn, chỉ cần đủ ý ! Ví dụ:

- Mấy món quê mùa ! Các anh dùng tạm !

Đinh Hùng bỗng nhiên phải đảm nhận vai trò hoạt náo, phải nói nhiều hơn cả. Phần nhiều là nhận xét về thơ của họ Bùi. Tất nhiên, khen nhiều hơn chê. Tôi rất phục Đinh Hùng ở chỗ anh đọc ra trơn tru từng đoạn thơ của Giáng. Họ bùi cúi đầu nghe nhận xét với vẻ cảm động. Kẻ nói, người nghe đều rất thành thực. Câu chuyện ít tánh chất xã giao, gượng gạo, tự nhiên, thân tình.

Bữa ăn hôm ấy đãi chúng tôi gồm có hai phần. Phần đầu một món ăn chơi: bánh hỏi thịt quay. Phần sau, món mì Quảng được người đẹp bưng ra, còn bốc hơi nóng, thơm lừng. Tôi thầm nghĩ hẳn mặt hoa cũng thơm lừng mùi nước dùng.

Bùi Giáng khẽ cười lỏn lẻn, giới thiệu:

- Mì Quảng! Nhà Làm! Xin mời!

Họ Bùi có vẻ đắc ý về món ăn đặc biệt chất quê của anh. Vừa ăn anh vừa ngẩng nhìn bọn tôi, xem ý ra sao. Mặt anh tươi hẳn lên, có lẽ cũng ngang bằng khi anh làm được câu thơ thích thú. Thỉnh thoảng lại hỏi chúng tôi:
- Được chứ ? Rồi lại tự kết luận – Được đấy chứ !

Đây là lần đầu tôi được ăn món mì Quảng. Tôi thấy lạ miệng, và thấy thật ngon. Tô của tôi hết sạch trước hai bạn. Giáng gọi thêm cho tôi một tô “thiếm xực”. Khi ra lệnh, mặt anh càng tươi hơn. Người đẹp bưng ra một tô nữa cho tôi, mặt hoa cũng có chiều tươi tắn, hớn hở. Hớn hở vì món nàng làm được khách ân cần chiếu cố.

Mấy mảnh bánh đa điểm lác đác vừng đen, cõng theo vài hạt đậu phọng giã nhỏ, quyện với nước dùng nâu vàng, ngậy mà thanh, ngọt lịm sao mà ngon đến thế !

Cái món “quê mùa, nhà làm”, hôm ấy, làm tôi quyết đoán: cô gái xinh đẹp, quá trẻ nọ, phải là người cùng quê xứ Quảng với nhà thơ họ Bùi. Chỉ còn không biết người đó là vợ, là người yêu, hay chỉ là học trò cưng của thầy, nhưng thật không tiện hỏi. Mà Giáng cũng chẳng nói. Vừa ăn tôi cũng vừa nghĩ: mỗi đêm nàng Giáng Kiều kia, từ trong tranh bước ra, bưng cho chàng tú tài họ Bùi một tô mì Quảng bốc khói thơm phức trách gì chàng chẳng làm được Thơ đẹp cho đời.

Bữa ăn thanh đạm hôm ấy làm tôi nhớ mãi sau này. Và cũng mãi mấy chục năm sau, tôi mới được biết thêm cái món mì quảng mì Quảng ấy cũng là món ăn thích thú độc nhất của Bùi Giáng. Nó theo anh tới tận những ngày cuối cùng của đời anh.

Từ đấy, đường đời, mỗi người đi mỗi nẻo, tôi không còn có dịp ngồi đối diện đồng ẩm với họ Bùi nữa. Nhưng trong lòng vẫn giữ được hình ảnh đẹp về anh. Tuy nhiên, tôi vẫn theo rõi và thích thú được gặp anh trong thơ anh, những bài đăng trên báo này, báo nọ. Tôi thấy thơ anh cứ chuyển dịch lần, chuyển dịch từ Thực và Ảo. Rồi đất nước cũng chuyển dịch vào cuộc biến “tang điền”. Tôi đi tù (cải tạo) trở về vào năm 1986, lại được nghe tin về Bùi Giáng, qua các bạn trong làng, và qua người cháu của anh: Bùi Ngọc Thơ. Bùi Ngọc Thơ đã là cháu rễ của tôi, Ngọc Thơ kết bạn đời với cháu ngoại của tôi: Chử Mặc Anh Thư.

Nghe người ta nói: Bùi Giáng đã trở nên một cuồng nhân, một cuồng sĩ, suốt năm tháng đi lang thang, vô định, màn trời chiếu đất, với một bầu thơ, đựng toàn cuồng thi bên mình, với một sợi dây dong vài ba con cho lẽo đẽo theo sau...

Một buổi, vào đầu Xuân 1987, tôi đương ngồi uống trà, đọc sách trên căn lầu nhà tôi (94, Nguyễn Huỳnh Đức, Phú Nhuận) bỗng thấy một bóng người nhô lên đầu cầu thang. Người ấy, đầu tóc rối bù, đội chiếc nón rơm te tua, quần áo lụng thụng rách bươm. Nhìn khách thì thấy mặt mũi hốc hác, mồm miệng móm mém, râu ria lởm chởm, giống y như một Lý Thiết Quài. Tôi đương kinh ngạc chưa nhận ra ai thì kịp nhận ra người theo sau là cháu Bùi Ngọc Thơ. Cháu mủm mỉm cười hỏi:

- Ông ngoại không nhận ra ai sao ?

Tôi vội trả lời:

- Nhận ra chứ ! Bạn của ông mà ! Bùi thi sĩ đây chứ ai !

Thì ra đó là Bùi Giáng, bằng xương bằng thịt, người mà tôi vẫn mong được gặp, nhưng hạc nội, mây ngàn, biết đâu mà tìm. Thấy tôi còn nhận ra “người cũ” Bùi có vẻ khoái chí, chưa ngồi xuống ghế đã ghé tai hỏi:

- Đi lâu quá hỉ ? Sao, có khỏe không huynh ?

Cháu Ngọc Thơ nói với tôi:

- Bác Giáng đòi con đưa đi thăm ông ngoại khi biết tin ông ngoại đã được về. Con xin lỗi đã không báo tin trước cho ông ngoại biết vì bác con nói không cần báo trước.

Biết cháu thế nào cũng đã kể lể chuyện đi tù của tôi, nên tôi cũng không nhắc tới chuyện ấy nữa.

Bùi ngồi xuống đã sảng khoái hỏi ngay:

- Nhà có rượu không huynh? Đệ muốn uống một chén tẩy trần, mừng huynh đã về ! Mừng anh em mình hội ngộ.

Tôi thấy Bùi nói năng vẫn duyên dáng, hoàn toàn tỉnh táo, khác hẳn lối phục sức của anh. Bụng đã mừng thầm. May nhà sẵn có vò Mai Quế Lộ mà Đăng Văn Bé (LTS: chủ nhiệm báo Thách Đố)vừa gửi biếu, tôi bèn lấy ra đãi Bùi. Thấy vò rượu dán nhãn đỏ với hàng chữ Hán, anh xoay xoay cái vò nhìn đọc cái nhãn rồi “chậc miệng”:

- Hảo tửu đãi cố nhân... chà, chà, tuyệt hảo !

Anh tự tay mở nút, nghiêng vò rót ra hai chén, đưa mắt cười mỉm có ý mời tôi, rồi nâng chén tợp một hơi cạn. Lại rót thêm chén nữa. Cũng lại tợp một hơi cạn, mà không hề để ý rằng tôi đã có uống hay chưa.
Lấy tay áo quyệt miệng, Bùi lại hỏi:

- Nhà có giấy bút không huynh?

Biết nhà thơ đã nổi hứng, tôi vội đứng lên đi lấy nghiên mực Tàu, cây bút lông và tờ giấy màu vàng.

Bùi dầm ngọn bút lông vào chén rượu của tôi, chấm chấm vào nghiên, phóng tay viết hai câu thơ, chữ nghiêng, chữ ngả, chữ đủ mực, chữ không ra nét. Ý thơ bí hiểm, đượm màu kinh kệ... Rồi dừng bút ngẫm nghĩ, chừng muốn viết thêm. Bỗng ném bút xuống bàn, cười:

- Thôi, đủ ! Nhìn sang Ngọc Thơ ra lệnh: “Ta đi thôi” – ngảnh sang tôi, Bùi khẽ nghiêng đầu: “Đệ xin cáo biệt!

Tôi còn đương ngẩn ngơ, Bùi đã đứng phắt dậy, bước nhanh xuống cầu thang. Ào đến, ào đi, như trận gió thoảng. Phong khí thật... đạo sĩ. Thần thái thật phiêu hốt.

Từ đấy tôi không còn dịp nào gặp lại Bùi Giáng nữa. Ấn tượng lần gặp sau cùng đã in nét đậm trong tôi.

Trước đây, khi hỏi thăm về Bùi, cháu Bùi Ngọc Thơ có kể cho tôi biết nhà thơ họ Bùi vẫn nhận được tiền của thân nhân từ hải ngoại gởi về. Mỗi lần nhận được tiền, Bùi lại chỉ đi tìm ăn mì Quảng. Hoặc nhờ người quen nào đó nấu mì Quảng. Hoặc nhờ người quen nào đó nấu mì Quảng rồi mời cả đám những bọn giang hồ, kể cả đám bạn con nít, lôi thôi lếch thếch tới ăn kỳ đến hết đống tiền “tài trợ” mới thôi. Lại đi, không biết đi đâu, ăn ở đâu, ngủ ở đâu.

Tóm lại, những ngày tháng cuối đời, nhà thơ họ Bùi luôn sống giữa cơn say và cuộc tỉnh, giữa mộng và thực, chuệnh choạng bước giữa hai lằn đường, không biết khi nào tỉnh, khi nào say, khi nào giả, khi nào thực. Có người gặp, kể lại thì Bùi thường hay nói năng lung tung, nhiều khi chỉ nói cho mình nghe. Cũng nhiều khi nói lớn cho người khác nghe như muốn phân bua điều gì. Cũng lắm lúc Bùi “mạ lỵ, phỉ báng” xúc phạm đến nhiều người quyền thế.

Người nghe cảm thấy khó chịu, như chính mình bị xúc phạm thì cũng bỏ qua, cho là lời lẽ của kẻ điên. Người nghe cảm thấy vui thỏa như chính mình được chửi, thì cho rằng đó là lời của người thực tỉnh táo. Thử hỏi mấy ai đã được sống sướng thỏa như nhà thơ Bùi Giáng vào giữa lúc cuộc đời điên đảo như thuở này ?

Khi bác cháu họ Bùi đi khuất, tôi còn mãi ngẩn ngơ, ngồi lại một mình. Bây giờ mới nhớ ra mình chưa hề uống một giọt mai quế lộ. Thế là một mình tự rót, tự mời, độc ẩm, không biết bao nhiêu chén nữa. Rồi viết mấy câu thơ tặng Bùi Giáng. Nhưng thơ này không gửi.

TÁI NGỘ BÙI GIÁNG

(nhân chuyến thăm bất ngờ của nhà thơ họ Bùi 1987)

Đời bảo anh điên! Đâu có điên
Đường thơ anh tới cõi thần tiên
Nói cười dẫu khác người nhân thế
Bởi chẳng cùng chung một hướng duyên

Thôi, hãy cùng ta cạn chén này!
Chuyện đời đâu đáng nửa cơn say
“Trập trùng kim ốc, giai nhân mộng”*
Cũng chẳng hơn gì... hớp rượu cay.
(1987)


(trong hồi ký “Một Hạt Đời” sẽ xuất bản)
(*) Thơ Nguyễn Hoạt (1946)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Một Phút Suy Tư Ngày xưa có một người cha có ba đứa con trai. Ông vốn sinh ra nghèo khổ, nhưng nhờ chuyên cần làm việc và cần kiệm, nên ông trở nên một điền chủ giàu có. Lúc về già, gần đất xa trời, ông nghĩ tới chuyện chia gia tài cho các con. Nhưng ông cũng muốn xem đứa con nào thông minh nhất để phó thác phần lớn gia sản của ông cho nó. Ông liền gọi ba đứa con đến giường bệnh, trao cho mỗi đứa năm đồng bạc và bảo mỗi đứa hãy mua cái gì có thể lấp đầy căn phòng trơ trọi mà ông đang ở.

Ba đứa con vâng lời cha cầm tiền ra phố.

Người anh cả nghĩ rằng đây chỉ là một công việc dễ dàng. Anh ta ra tới chợ mua ngay một bó rơm rất lớn mang ngay về nhà.

Người con thứ hai suy nghĩ kỹ lưỡng hơn: sau khi đi rảo quanh chợ một vòng, anh ta quyết định mua những bao lông vịt rất đẹp mắt.

Còn người con trai thứ ba, suy nghĩ đi, suy nghĩ lại: làm sao mua được cái gì với năm đồng bạc này, để có thể lấp đầy căn phòng lớn của cha mình. Sau nhiều giờ đắn đo, bỗng mắt chàng thanh niên hớn hở, anh ta lại căn tiệm nhỏ mất hút trong đường nhỏ gần chợ, anh ta mua cây đèn cầy và một hộp diêm. Trở về nhà, anh hồi hộp, không biết hai anh mình đã mua được cái gì.

Ngày hôm sau, cả ba người con trai đều họp lại trong phòng của cha già. Mỗi người mang quà tặng của mình cho cha:

Người con cả mang rơm trải trên nền nhà của căn phòng, nhưng phòng quá lớn, rơm chỉ phủ được một góc nền nhà.

Người con thứ hai mang lông vịt ra, nhưng cũng chỉ phủ được hai góc của căn phòng.

Người cha cóvẻ thất vọng.

Bấy giờ người con trai út mới đứng ra giữa phòng, trong tay chẳng mang gì cả. hai người em tò mò chăm chú nhìn em, và hỏi: "Mày không mua cái gì sao?". Bấy giờ đứa em mới từ từ rút trong túi quần ra một cây nến và hộp diêm. Thoáng một cái, căn phòng đầy ánh sáng. Mọi người đều mỉm cười. Người cha già rất sung sướng vì quà tặng của đứa con út. Ông quyết định giao phần lớn ruộng đất và gia sản của mình cho con trai út, vì ông thấy anh ta đủ thông minh để quản trị gia sản của mình và nhờ đó cũng có thể giúp đỡ các anh của nó nữa.

Post Reply