Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Dân Chủ không phải mì ăn liền
Ngô Nhân Dụng Những cuộc biểu tình của phe theo cựu thủ tướng Thaksin ở Thái Lan trong một tuần qua, sau những cuộc biểu tình của phe chống Thaksin vào cuối năm 2008, khiến nhiều người nghi ngờ chế độ dân chủ ở vương quốc này. Thái Lan có thật sự là một nước tự do dân chủ hay không? Các quốc gia chậm tiến khác có nên bắt đầu dân chủ hóa hay không?
Có thể trả lời ngay: Dân tộc Thái đang xây dựng các định chế tự do dân chủ thật sự. Nhưng thực hiện nếp sống tự do dân chủ là một diễn trình phức tạp và lâu dài, với những trở ngại từ chính bên trong xã hội tham dự cuộc thử thách đó. Dân chủ không giống như món mì gói cứ đổ nước sôi vào là ăn được ngay. Muốn tiến đến một xã hội dân chủ trưởng thành, phải xây dựng và kinh qua những thử thách.
Chính vì biết quá trình dân chủ hóa diễn ra trong thời gian lâu dài như vậy, cho nên những nước chậm tiến khác phải bắt đầu dân chủ hóa ngay, càng sớm càng tốt. Nếu một dân tộc không bắt đầu thiết lập và tập sống theo các quy tắc, các tập quán dân chủ ngay, thì không biết bao giờ mới được thấy nền nếp tự do dân chủ trưởng thành. Cũng giống như người ta phải xuống nước thì mới có ngày biết bơi vậy.
Những cuộc biểu tình gần đây có vẻ là một cuộc đối đầu giữa hai chính trị gia, cả hai đều gốc người Hẹ (Hakka) mà tổ tiên 4 đời trước đã di cư từ Quảng Ðông sang xứ Thái. Ðó là cựu Thủ Tướng Thaksin Shinawatra (tên chữ Hán là Khâu Ðạt Tân, 59 tuổi) và đương kim Thủ Tướng Abhisit Vijjajiva (44 tuổi, gốc là họ Viên). Thân phụ ông Thaksin đã đổi họ thành Shinawatra, nghĩa là “làm điều thiện” trước khi bước vào chính trị, ứng cử dân biểu ở tỉnh Chiang Mai, nơi gia đình họ Khâu đã gây dựng nên cơ nghiệp. Ông tổ ba đời của Thủ Tướng Abhisit đã lập gia đình với người Thái, đổi họ sang tiếng Thái từ giữa thế kỷ 19 thành Vijjajiva, nghĩa là “thầy thuốc.” Dân Thái Lan không ai nghĩ hai nhà chính trị này là người nước ngoài.
Ông Thaksin vào học trường sĩ quan cảnh sát, sau sang Mỹ học, đậu bằng tiến sĩ ở Texas, về nước làm cảnh sát, lên tới cấp trung tá lúc về hưu. Vợ chồng ông đã kinh doanh trong nhiều ngành, nhưng chỉ thành công khi được trúng thầu trong ngành viễn thông, đặc biệt là khai thác việc phát triển điện thoại di động. Ông lập đảng, ứng cử và trở thành thủ tướng năm 2001, năm 2005 tái đắc cử khi đảng ông chiếm tỷ số lớn trong Quốc Hội.
Bố mẹ ông Abhisit đều là bác sĩ, ông sinh ra ở Anh Quốc, bà vợ ông là một nha sĩ nhưng dậy toán ở đại học. Sống trong một gia đình trí thức, sau khi học hết bậc tiểu học ở Bangkok ông qua Anh học ở Eton rồi Oxford, những trường đã đào tạo nhiều ông thủ tướng ở nước Anh. Ông về nước dậy học, ứng cử dân biểu rồi được bầu làm lãnh tụ sau khi đảng ông thất bại trong cuộc bầu cử năm 2005.
Thaksin thắng vẻ vang trong cuộc bầu cử năm đó vì từ năm 2001 ông đã thi hành những chính sách nâng đỡ vùng nông thôn: giảm chi phí khám bệnh ở thôn quê, lập quỹ tín dụng cho người nghèo vay tiền, vân vân. Ðảng của ông mạnh lên ở miền quê nhất là miền Bắc, nơi gia đình ông lập nghiệp từ giữa thế kỷ 19. Nhưng ông bị tố cáo là lợi dụng quyền hành để gia đình làm thương mại. Gia đình ông trở thành giầu nhất Thái Lan, khi bán công ty viễn thông Shin cho một xí nghiệp Singapore, tiền lời hàng tỷ đô la không bị đánh thuế. Năm 2006 quân đội đảo chính trong lúc ông đang ở New York, phải sống lưu vong ở Anh vì vợ chồng ông bị truy tố ra tòa về nhiều tội lạm dụng quyền thế để thủ lợi. Nhưng một năm sau tổ chức bầu cử thì đảng của ông vẫn chiếm đa số và đứng ra lập chính phủ. Ông Thaksin đã về nước, tuyên bố không làm chính trị nữa, nhưng trước khi tòa án xử thì ông đã trốn ra ngoại quốc. Tòa xử khiếm diện ông 2 năm tù.
Cuối năm 2008, những đảng đối lập với Thaksin tổ chức biểu tình đòi chính phủ từ chức, hàng trăm ngàn người mặc áo mầu vàng xuống đường, sau cùng họ chiếm phi trường Bangkok; cho đến khi ông thủ tướng thuộc đảng của Thaksin từ chức vì bị tòa án phán ông vi phạm luật cấm không được hoạt động chính trị. Sau đó nhiều đại biểu Quốc Hội phe Thaksin đã quay đầu và bầu ông Abhisit thuộc đảng đối lập lên thay. Trong tuần trước, những người ủng hộ Thaksin lại tổ chức biểu tình, họ mặc áo đỏ, làm tắc nghẽn thành phố Bangkok rồi kéo về thành phố biển Pattaya, khiến Thủ Tướng Abhisit phải bãi bỏ cuộc họp hội nghị thượng đỉnh khối ASEAN mở rộng. Ông Abhisit tuyên bố tình trạng khẩn trương, quân đội đứng ra dẹp biểu tình, và ngày Thứ Ba 14 Tháng Tư phe biểu tình đã tuyên bố giải tán, các người lãnh đạo ra trình diện cảnh sát.
Những biến cố chính trị ở Thái Lan trong gần 10 năm qua đều liên quan đến ông Thaksin. Nhưng nếu coi tất cả chỉ là một tấn kịch về cá nhân ông Thaksin thì quá phiến diện. Khi hàng trăm ngàn người đi biểu tình, để ủng hộ hoặc chống Thaksin, họ có những lý do phát xuất từ trong lòng, từ những khát vọng trong cuộc đời của họ. Họ thuộc những nhóm người có quyền lợi khác nhau, nên chính trị khác nhau.
Xã hội Thái Lan cũng như xã hội các nước khác trong vùng Ðông Nam Á đang trải qua một thời kỳ chuyển tiếp, cũng gọi là thời kỳ quá độ từ hàng trăm năm qua. Có nước tiến xa, có nước còn đi chậm. Từ kinh tế nông nghiệp chuyển sang công nghiệp hóa, rồi qua kinh tế dựa trên tri thức, tin học. Từ nếp sống cổ truyền sang nếp sống dựa trên khoa học, kỹ thuật, pháp luật, và cơ chế dân chủ. Từ sinh hoạt văn hóa địa phương, khu vực, khép kín chuyển sang khung cảnh toàn cầu. Các định chế Dân Chủ đã thành hình dần dần, dù lúc bắt đầu ở nhiều nước chỉ có trên hình thức, nhưng ai cũng đồng ý cuối cùng cả xã hội phải sống theo lối dân chủ tự do.
Mọi biến chuyển xã hội đều cần thời gian. Mỗi xã hội đều gồm nhiều nhóm người với những quyền lợi khác biệt, và xung khắc tất nhiên phải có. Trong các chế độ độc tài, chính quyền dùng bạo lực ép không cho những xung đột nổi lên; vì họ không cho ai tự do phát biểu. Xã hội có thể yên ổn vì tình trạng bất công được định chế hóa bằng bạo lực. Tại các nước tự do, mọi nhóm quyền lợi đều có dịp lên tiếng và tranh đua với nhau để giành lấy chính quyền, qua các cuộc bỏ phiếu. Nhiều khi các nhóm đó theo đúng các thủ tục dân chủ, có khi họ vượt ra ngoài. Xã hội dân chủ được ổn định vì mọi nhóm tranh đấu với nhau trong hòa bình, khi tất cả cùng tôn trọng các luật chơi dân chủ.
Không chế độ dân chủ nào dựng lên là có ngay phép lạ giải quyết được những xung đột quyền lợi một cách nhanh chóng và hoàn hảo. Từ lối sống cổ truyền “trên bảo dưới nghe” chuyển sang lối sống bình đẳng, trong luật pháp, có tự do và tôn trọng dân quyền, cần thời giờ để những nhóm quyền lợi khác biệt có cơ hội đụng chạm với nhau và tìm cách giải quyết các xung đột. Cuối cùng người ta sẽ thấy cách tốt nhất là giải quyết bằng luật pháp, một cách hòa bình.
Sau những thập niên 1970, 80 trải qua các chế độ độc tài quân phiệt, người dân Thái đã thí nghiệm lối sống tự do dân chủ, và họ đã tiến những bước dài. Chính nhờ khung cảnh tự do dân chủ mà xã hội Thái có cơ hội biểu lộ những mâu thuẫn quyền lợi chính trị và kinh tế. Tình hình chính trị trong mười năm qua cho thấy trong lúc Thái Lan tiến bộ về kinh tế cũng như chính trị thì một khối dân đã bị tụt lại phía sau, không được hưởng các thành quả của sự tiến bộ chung. Trong khi dân thành thị được đi học nhiều hơn, được chữa bệnh dễ dàng hơn, người có khả năng được nhiều cơ hội tiến thân hơn, thì những người sống ở thôn quê không được hưởng những cơ hội giống như vậy. Nông dân sống nghèo hơn, ý thức về quyền dân thấp hơn, vẫn sống trong tinh thần “gia trưởng” quen nghe lệnh các ông “trùm” trong làng xóm.
Ông Thaksin Shinawatra đã bắt mạch được mối mâu thuẫn tiềm ẩn giữa nông thôn và thành thị. Năm 2000 ông tranh cử với những chương trình nâng cao đời sống của nông dân. Trong bốn năm làm thủ tướng ông đã thực hiện được lời hứa đó một cách cụ thể. Vì vậy ông đã được dân ở miền quê tin tưởng.
Nhưng ông cũng có khuynh hướng độc tài. Ông đã dùng tiền bạc để mua chuộc các nhà chính trị khác ở thủ đô và các địa phương. Ông tìm cách mua các báo, các đài để lấn áp các tiếng nói đối lập. Và ông lợi dụng từ luật pháp đến quyền hành để cho gia đình và phe đảng của ông hưởng lợi. Ông là một nhà kinh doanh biết sử dụng các định chế chính trị, kể cả những định chế dân chủ, như đảng phái, truyền thông, Quốc Hội, bầu cử, luật lệ, vân vân.
Những người chống Thaksin đều sống ở thành phố, đặc biệt là ở thủ đô Bangkok. Họ thuộc giới trung lưu thành thị, rất nhiều người trí thức, các công chức, sĩ quan, các nhà kinh doanh trẻ, thẩm phán và luật sư, vân vân. Họ không chấp nhận những hành động lộng quyền và tham nhũng, các thủ đoạn lấn áp đối lập, họ tố cáo ông Thaksin độc tài. Trong khi đó những người ủng hộ ông Thaksin chỉ chú ý đến một điều là ông đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho họ, những nông dân nghèo bị bỏ quên từ nhiều thế hệ. Cả hai bên đều có những lý do chính đáng đối với họ.
Ở một xã hội mà nền nếp dân chủ đã bám rễ thì những ý kiến khác biệt trên được giải quyết bằng lá phiếu, và chỉ bằng lá phiếu mà thôi. Ðảng nào được nhiều phiếu được nắm quyền. Những nhóm thiểu số sẽ được bảo vệ bằng pháp luật bình đẳng, trong đó có những thứ nhân quyền bất khả xâm phạm. Nếu quý vị không đồng ý với nhà nước thì hãy vận động lật đổ họ bằng lá phiếu trong cuộc bầu cử sau. Nếu kẻ cầm quyền phạm luật, tham nhũng hoặc lộng quyền, thì dùng báo chí phản đối và đưa ra trước pháp luật phán xét.
Ở Thái Lan, người ta chưa tập quen sống dân chủ được như vậy. Cho nên những người chống ông Thaksin trước đây vào năm 2006 đã ủng hộ một cuộc đảo chính không đổ máu lật đổ ông. Khi một bên đã “xóa bỏ luật chơi” thì tất cả chế độ dân chủ bị tổn thương chứ không riêng gì phe bị lật đổ. Năm ngoái, phe chống Thaksin lại tổ chức biểu tình, chiếm phi trường làm tê liệt kinh tế, để đòi ông thủ tướng thân Thaksin từ chức. Lại một lần nữa, họ xóa bỏ luật chơi, mặc dù sau đó chính phủ thay đổi theo đúng thủ tục nghị viện. Cho nên, trong tuần qua, đến lượt phe áo đỏ theo ông Thaksin cũng dùng những chiến thuận phi dân chủ để đòi lật đổ Thủ Tướng Abhisit, thì phe áo vàng đối đầu với họ khó nói.
Nhưng trong xã hội Thai Lan vẫn có những định chế vững vàng không bị ảnh hưởng bởi các xáo trộn chính trị ngoài đường phố. Thứ nhất là vị quốc vương hơn 80 tuổi, được dân chúng tôn quý. Trên nguyên tắc nhà vua đứng bên ngoài chính trị, nhưng các cận thần của ông có ý chống chế độ tham nhũng của Thaksin. Ngoài ra, các tướng lãnh và quân đội Thái Lan vẫn đóng vai trò trọng tài quan trọng trong đời sống chính trị. Lan rộng trong xã hội hơn hoàng gia và quân đội là giới trí thức, giới trung lưu ở thành phố, những người đóng vai rường cột của nền kinh tế cũng như đời sống văn hóa quốc gia.
Giới trí thức thành thị đóng vai trò quyết định trong đời sống quốc gia nhưng trong nửa thế kỷ qua họ không chú ý tới cuộc sống của những người dân ở thôn quê, để cho những chính trị gia như ông Thaksin tiến vào đó như một chỗ trống. Ông Thaksin đã có công tạo cơ hội cho các nông dân nghèo ý thức hơn về quyền lực chính trị của họ khi bỏ phiếu. Có thể họ đã bị những chính trị gia tham nhũng lợi dụng, nhưng từ nay không ai có thể bỏ quên họ được.
Các cuộc biểu tình của phe áo đỏ thân Thaksin có thể thất bại vì họ đã sử dụng nhiều tay côn đồ gây bạo động. Ða số dân Thái không chấp nhận. Trong những năm trước dân Thái biểu tình rất ôn hòa, nhưng lần này phe áo đỏ đã mang vũ khí, đưa cả những xe chở xăng tới để làm bom lửa tại chỗ, đã đốt phá và đã bắn chết người. Thủ Tướng Abhisit đã chứng tỏ được thái độ mềm mỏng nhưng cương quyết của ông, khiến người dân kính trọng. Những đài truyền hình thân Thaksin đã phát hình nhiều lời hiệu triệu của ông. Nhưng phe áo đỏ đã bị mang tiếng khi ông cựu Thủ Tướng Thaksin lên các đài CNN và BBC nói những lời bịa đặt như quả quyết rằng quân đội đã giết chết nhiều người. (Chỉ có 2 người đã chết, mà theo báo ở Thái Lan thì họ bị phe áo đỏ bắn chết)
Các cuộc biểu tình sẽ nguội dần, nhưng vết thương trên chế độ dân chủ của Thái Lan sẽ phải đợi thời gian mới hàn gắn được. Ông Abhisit chỉ có thể xác nhận được địa vị lãnh đạo của ông nếu sớm tổ chức bầu cử, để chính người dân có dịp quyết định ai đáng nắm quyền. Quyết định này sẽ rất khó khăn vì kinh tế Thái Lan đang xuống trong cuộc khủng hoảng toàn cầu, và xuống nặng nhất trong vùng Ðông Nam Á vì hai ngành xuất cảng và du lịch đều xuống. Không chính phủ nào muốn tổ chức bầu cử khi kinh tế đang xuống.
Người Thái vẫn còn đang tiến tới trên bước đường xây dựng dân chủ. Nếu gia đình ông Thaksin không tham nhũng và ông không lộng quyền thì chế độ tự do dân chủ đã tiến những bước vững vàng và ông đã trở thành một anh hùng dân tộc. Nếu những người chống ông đủ kiên nhẫn mà sử dụng các khí cụ dân chủ, các định chế dân chủ để lật đổ ông, thì nền dân chủ Thái Lan không bị những tai nạn như mới xẩy ra.
Nhưng loài người sống trong một thế giới không hoàn hảo. Chúng ta chấp nhận những bước vấp ngã trên đường đi; nhưng vẫn đứng dậy tiếp tục đi tiếp. Các nước tự do dân chủ như Anh, Pháp, Mỹ, phải mất hàng trăm năm mới thành hình được những nếp sống tôn trọng các định chế, và tranh đấu trong vòng luật lệ cuộc chơi. Dân Chủ không phải là một bộ quần áo may sẵn hay gói mì ăn liền. Thái Lan đang đi trên con đường dân chủ hóa đầy chướng ngại từ bên trong. Nhưng nếu không bắt đầu bước đi thì không bao giờ tới được. Nước Việt Nam chúng ta phải khởi hành, càng sớm càng tốt.
Ngô Nhân Dụng Những cuộc biểu tình của phe theo cựu thủ tướng Thaksin ở Thái Lan trong một tuần qua, sau những cuộc biểu tình của phe chống Thaksin vào cuối năm 2008, khiến nhiều người nghi ngờ chế độ dân chủ ở vương quốc này. Thái Lan có thật sự là một nước tự do dân chủ hay không? Các quốc gia chậm tiến khác có nên bắt đầu dân chủ hóa hay không?
Có thể trả lời ngay: Dân tộc Thái đang xây dựng các định chế tự do dân chủ thật sự. Nhưng thực hiện nếp sống tự do dân chủ là một diễn trình phức tạp và lâu dài, với những trở ngại từ chính bên trong xã hội tham dự cuộc thử thách đó. Dân chủ không giống như món mì gói cứ đổ nước sôi vào là ăn được ngay. Muốn tiến đến một xã hội dân chủ trưởng thành, phải xây dựng và kinh qua những thử thách.
Chính vì biết quá trình dân chủ hóa diễn ra trong thời gian lâu dài như vậy, cho nên những nước chậm tiến khác phải bắt đầu dân chủ hóa ngay, càng sớm càng tốt. Nếu một dân tộc không bắt đầu thiết lập và tập sống theo các quy tắc, các tập quán dân chủ ngay, thì không biết bao giờ mới được thấy nền nếp tự do dân chủ trưởng thành. Cũng giống như người ta phải xuống nước thì mới có ngày biết bơi vậy.
Những cuộc biểu tình gần đây có vẻ là một cuộc đối đầu giữa hai chính trị gia, cả hai đều gốc người Hẹ (Hakka) mà tổ tiên 4 đời trước đã di cư từ Quảng Ðông sang xứ Thái. Ðó là cựu Thủ Tướng Thaksin Shinawatra (tên chữ Hán là Khâu Ðạt Tân, 59 tuổi) và đương kim Thủ Tướng Abhisit Vijjajiva (44 tuổi, gốc là họ Viên). Thân phụ ông Thaksin đã đổi họ thành Shinawatra, nghĩa là “làm điều thiện” trước khi bước vào chính trị, ứng cử dân biểu ở tỉnh Chiang Mai, nơi gia đình họ Khâu đã gây dựng nên cơ nghiệp. Ông tổ ba đời của Thủ Tướng Abhisit đã lập gia đình với người Thái, đổi họ sang tiếng Thái từ giữa thế kỷ 19 thành Vijjajiva, nghĩa là “thầy thuốc.” Dân Thái Lan không ai nghĩ hai nhà chính trị này là người nước ngoài.
Ông Thaksin vào học trường sĩ quan cảnh sát, sau sang Mỹ học, đậu bằng tiến sĩ ở Texas, về nước làm cảnh sát, lên tới cấp trung tá lúc về hưu. Vợ chồng ông đã kinh doanh trong nhiều ngành, nhưng chỉ thành công khi được trúng thầu trong ngành viễn thông, đặc biệt là khai thác việc phát triển điện thoại di động. Ông lập đảng, ứng cử và trở thành thủ tướng năm 2001, năm 2005 tái đắc cử khi đảng ông chiếm tỷ số lớn trong Quốc Hội.
Bố mẹ ông Abhisit đều là bác sĩ, ông sinh ra ở Anh Quốc, bà vợ ông là một nha sĩ nhưng dậy toán ở đại học. Sống trong một gia đình trí thức, sau khi học hết bậc tiểu học ở Bangkok ông qua Anh học ở Eton rồi Oxford, những trường đã đào tạo nhiều ông thủ tướng ở nước Anh. Ông về nước dậy học, ứng cử dân biểu rồi được bầu làm lãnh tụ sau khi đảng ông thất bại trong cuộc bầu cử năm 2005.
Thaksin thắng vẻ vang trong cuộc bầu cử năm đó vì từ năm 2001 ông đã thi hành những chính sách nâng đỡ vùng nông thôn: giảm chi phí khám bệnh ở thôn quê, lập quỹ tín dụng cho người nghèo vay tiền, vân vân. Ðảng của ông mạnh lên ở miền quê nhất là miền Bắc, nơi gia đình ông lập nghiệp từ giữa thế kỷ 19. Nhưng ông bị tố cáo là lợi dụng quyền hành để gia đình làm thương mại. Gia đình ông trở thành giầu nhất Thái Lan, khi bán công ty viễn thông Shin cho một xí nghiệp Singapore, tiền lời hàng tỷ đô la không bị đánh thuế. Năm 2006 quân đội đảo chính trong lúc ông đang ở New York, phải sống lưu vong ở Anh vì vợ chồng ông bị truy tố ra tòa về nhiều tội lạm dụng quyền thế để thủ lợi. Nhưng một năm sau tổ chức bầu cử thì đảng của ông vẫn chiếm đa số và đứng ra lập chính phủ. Ông Thaksin đã về nước, tuyên bố không làm chính trị nữa, nhưng trước khi tòa án xử thì ông đã trốn ra ngoại quốc. Tòa xử khiếm diện ông 2 năm tù.
Cuối năm 2008, những đảng đối lập với Thaksin tổ chức biểu tình đòi chính phủ từ chức, hàng trăm ngàn người mặc áo mầu vàng xuống đường, sau cùng họ chiếm phi trường Bangkok; cho đến khi ông thủ tướng thuộc đảng của Thaksin từ chức vì bị tòa án phán ông vi phạm luật cấm không được hoạt động chính trị. Sau đó nhiều đại biểu Quốc Hội phe Thaksin đã quay đầu và bầu ông Abhisit thuộc đảng đối lập lên thay. Trong tuần trước, những người ủng hộ Thaksin lại tổ chức biểu tình, họ mặc áo đỏ, làm tắc nghẽn thành phố Bangkok rồi kéo về thành phố biển Pattaya, khiến Thủ Tướng Abhisit phải bãi bỏ cuộc họp hội nghị thượng đỉnh khối ASEAN mở rộng. Ông Abhisit tuyên bố tình trạng khẩn trương, quân đội đứng ra dẹp biểu tình, và ngày Thứ Ba 14 Tháng Tư phe biểu tình đã tuyên bố giải tán, các người lãnh đạo ra trình diện cảnh sát.
Những biến cố chính trị ở Thái Lan trong gần 10 năm qua đều liên quan đến ông Thaksin. Nhưng nếu coi tất cả chỉ là một tấn kịch về cá nhân ông Thaksin thì quá phiến diện. Khi hàng trăm ngàn người đi biểu tình, để ủng hộ hoặc chống Thaksin, họ có những lý do phát xuất từ trong lòng, từ những khát vọng trong cuộc đời của họ. Họ thuộc những nhóm người có quyền lợi khác nhau, nên chính trị khác nhau.
Xã hội Thái Lan cũng như xã hội các nước khác trong vùng Ðông Nam Á đang trải qua một thời kỳ chuyển tiếp, cũng gọi là thời kỳ quá độ từ hàng trăm năm qua. Có nước tiến xa, có nước còn đi chậm. Từ kinh tế nông nghiệp chuyển sang công nghiệp hóa, rồi qua kinh tế dựa trên tri thức, tin học. Từ nếp sống cổ truyền sang nếp sống dựa trên khoa học, kỹ thuật, pháp luật, và cơ chế dân chủ. Từ sinh hoạt văn hóa địa phương, khu vực, khép kín chuyển sang khung cảnh toàn cầu. Các định chế Dân Chủ đã thành hình dần dần, dù lúc bắt đầu ở nhiều nước chỉ có trên hình thức, nhưng ai cũng đồng ý cuối cùng cả xã hội phải sống theo lối dân chủ tự do.
Mọi biến chuyển xã hội đều cần thời gian. Mỗi xã hội đều gồm nhiều nhóm người với những quyền lợi khác biệt, và xung khắc tất nhiên phải có. Trong các chế độ độc tài, chính quyền dùng bạo lực ép không cho những xung đột nổi lên; vì họ không cho ai tự do phát biểu. Xã hội có thể yên ổn vì tình trạng bất công được định chế hóa bằng bạo lực. Tại các nước tự do, mọi nhóm quyền lợi đều có dịp lên tiếng và tranh đua với nhau để giành lấy chính quyền, qua các cuộc bỏ phiếu. Nhiều khi các nhóm đó theo đúng các thủ tục dân chủ, có khi họ vượt ra ngoài. Xã hội dân chủ được ổn định vì mọi nhóm tranh đấu với nhau trong hòa bình, khi tất cả cùng tôn trọng các luật chơi dân chủ.
Không chế độ dân chủ nào dựng lên là có ngay phép lạ giải quyết được những xung đột quyền lợi một cách nhanh chóng và hoàn hảo. Từ lối sống cổ truyền “trên bảo dưới nghe” chuyển sang lối sống bình đẳng, trong luật pháp, có tự do và tôn trọng dân quyền, cần thời giờ để những nhóm quyền lợi khác biệt có cơ hội đụng chạm với nhau và tìm cách giải quyết các xung đột. Cuối cùng người ta sẽ thấy cách tốt nhất là giải quyết bằng luật pháp, một cách hòa bình.
Sau những thập niên 1970, 80 trải qua các chế độ độc tài quân phiệt, người dân Thái đã thí nghiệm lối sống tự do dân chủ, và họ đã tiến những bước dài. Chính nhờ khung cảnh tự do dân chủ mà xã hội Thái có cơ hội biểu lộ những mâu thuẫn quyền lợi chính trị và kinh tế. Tình hình chính trị trong mười năm qua cho thấy trong lúc Thái Lan tiến bộ về kinh tế cũng như chính trị thì một khối dân đã bị tụt lại phía sau, không được hưởng các thành quả của sự tiến bộ chung. Trong khi dân thành thị được đi học nhiều hơn, được chữa bệnh dễ dàng hơn, người có khả năng được nhiều cơ hội tiến thân hơn, thì những người sống ở thôn quê không được hưởng những cơ hội giống như vậy. Nông dân sống nghèo hơn, ý thức về quyền dân thấp hơn, vẫn sống trong tinh thần “gia trưởng” quen nghe lệnh các ông “trùm” trong làng xóm.
Ông Thaksin Shinawatra đã bắt mạch được mối mâu thuẫn tiềm ẩn giữa nông thôn và thành thị. Năm 2000 ông tranh cử với những chương trình nâng cao đời sống của nông dân. Trong bốn năm làm thủ tướng ông đã thực hiện được lời hứa đó một cách cụ thể. Vì vậy ông đã được dân ở miền quê tin tưởng.
Nhưng ông cũng có khuynh hướng độc tài. Ông đã dùng tiền bạc để mua chuộc các nhà chính trị khác ở thủ đô và các địa phương. Ông tìm cách mua các báo, các đài để lấn áp các tiếng nói đối lập. Và ông lợi dụng từ luật pháp đến quyền hành để cho gia đình và phe đảng của ông hưởng lợi. Ông là một nhà kinh doanh biết sử dụng các định chế chính trị, kể cả những định chế dân chủ, như đảng phái, truyền thông, Quốc Hội, bầu cử, luật lệ, vân vân.
Những người chống Thaksin đều sống ở thành phố, đặc biệt là ở thủ đô Bangkok. Họ thuộc giới trung lưu thành thị, rất nhiều người trí thức, các công chức, sĩ quan, các nhà kinh doanh trẻ, thẩm phán và luật sư, vân vân. Họ không chấp nhận những hành động lộng quyền và tham nhũng, các thủ đoạn lấn áp đối lập, họ tố cáo ông Thaksin độc tài. Trong khi đó những người ủng hộ ông Thaksin chỉ chú ý đến một điều là ông đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho họ, những nông dân nghèo bị bỏ quên từ nhiều thế hệ. Cả hai bên đều có những lý do chính đáng đối với họ.
Ở một xã hội mà nền nếp dân chủ đã bám rễ thì những ý kiến khác biệt trên được giải quyết bằng lá phiếu, và chỉ bằng lá phiếu mà thôi. Ðảng nào được nhiều phiếu được nắm quyền. Những nhóm thiểu số sẽ được bảo vệ bằng pháp luật bình đẳng, trong đó có những thứ nhân quyền bất khả xâm phạm. Nếu quý vị không đồng ý với nhà nước thì hãy vận động lật đổ họ bằng lá phiếu trong cuộc bầu cử sau. Nếu kẻ cầm quyền phạm luật, tham nhũng hoặc lộng quyền, thì dùng báo chí phản đối và đưa ra trước pháp luật phán xét.
Ở Thái Lan, người ta chưa tập quen sống dân chủ được như vậy. Cho nên những người chống ông Thaksin trước đây vào năm 2006 đã ủng hộ một cuộc đảo chính không đổ máu lật đổ ông. Khi một bên đã “xóa bỏ luật chơi” thì tất cả chế độ dân chủ bị tổn thương chứ không riêng gì phe bị lật đổ. Năm ngoái, phe chống Thaksin lại tổ chức biểu tình, chiếm phi trường làm tê liệt kinh tế, để đòi ông thủ tướng thân Thaksin từ chức. Lại một lần nữa, họ xóa bỏ luật chơi, mặc dù sau đó chính phủ thay đổi theo đúng thủ tục nghị viện. Cho nên, trong tuần qua, đến lượt phe áo đỏ theo ông Thaksin cũng dùng những chiến thuận phi dân chủ để đòi lật đổ Thủ Tướng Abhisit, thì phe áo vàng đối đầu với họ khó nói.
Nhưng trong xã hội Thai Lan vẫn có những định chế vững vàng không bị ảnh hưởng bởi các xáo trộn chính trị ngoài đường phố. Thứ nhất là vị quốc vương hơn 80 tuổi, được dân chúng tôn quý. Trên nguyên tắc nhà vua đứng bên ngoài chính trị, nhưng các cận thần của ông có ý chống chế độ tham nhũng của Thaksin. Ngoài ra, các tướng lãnh và quân đội Thái Lan vẫn đóng vai trò trọng tài quan trọng trong đời sống chính trị. Lan rộng trong xã hội hơn hoàng gia và quân đội là giới trí thức, giới trung lưu ở thành phố, những người đóng vai rường cột của nền kinh tế cũng như đời sống văn hóa quốc gia.
Giới trí thức thành thị đóng vai trò quyết định trong đời sống quốc gia nhưng trong nửa thế kỷ qua họ không chú ý tới cuộc sống của những người dân ở thôn quê, để cho những chính trị gia như ông Thaksin tiến vào đó như một chỗ trống. Ông Thaksin đã có công tạo cơ hội cho các nông dân nghèo ý thức hơn về quyền lực chính trị của họ khi bỏ phiếu. Có thể họ đã bị những chính trị gia tham nhũng lợi dụng, nhưng từ nay không ai có thể bỏ quên họ được.
Các cuộc biểu tình của phe áo đỏ thân Thaksin có thể thất bại vì họ đã sử dụng nhiều tay côn đồ gây bạo động. Ða số dân Thái không chấp nhận. Trong những năm trước dân Thái biểu tình rất ôn hòa, nhưng lần này phe áo đỏ đã mang vũ khí, đưa cả những xe chở xăng tới để làm bom lửa tại chỗ, đã đốt phá và đã bắn chết người. Thủ Tướng Abhisit đã chứng tỏ được thái độ mềm mỏng nhưng cương quyết của ông, khiến người dân kính trọng. Những đài truyền hình thân Thaksin đã phát hình nhiều lời hiệu triệu của ông. Nhưng phe áo đỏ đã bị mang tiếng khi ông cựu Thủ Tướng Thaksin lên các đài CNN và BBC nói những lời bịa đặt như quả quyết rằng quân đội đã giết chết nhiều người. (Chỉ có 2 người đã chết, mà theo báo ở Thái Lan thì họ bị phe áo đỏ bắn chết)
Các cuộc biểu tình sẽ nguội dần, nhưng vết thương trên chế độ dân chủ của Thái Lan sẽ phải đợi thời gian mới hàn gắn được. Ông Abhisit chỉ có thể xác nhận được địa vị lãnh đạo của ông nếu sớm tổ chức bầu cử, để chính người dân có dịp quyết định ai đáng nắm quyền. Quyết định này sẽ rất khó khăn vì kinh tế Thái Lan đang xuống trong cuộc khủng hoảng toàn cầu, và xuống nặng nhất trong vùng Ðông Nam Á vì hai ngành xuất cảng và du lịch đều xuống. Không chính phủ nào muốn tổ chức bầu cử khi kinh tế đang xuống.
Người Thái vẫn còn đang tiến tới trên bước đường xây dựng dân chủ. Nếu gia đình ông Thaksin không tham nhũng và ông không lộng quyền thì chế độ tự do dân chủ đã tiến những bước vững vàng và ông đã trở thành một anh hùng dân tộc. Nếu những người chống ông đủ kiên nhẫn mà sử dụng các khí cụ dân chủ, các định chế dân chủ để lật đổ ông, thì nền dân chủ Thái Lan không bị những tai nạn như mới xẩy ra.
Nhưng loài người sống trong một thế giới không hoàn hảo. Chúng ta chấp nhận những bước vấp ngã trên đường đi; nhưng vẫn đứng dậy tiếp tục đi tiếp. Các nước tự do dân chủ như Anh, Pháp, Mỹ, phải mất hàng trăm năm mới thành hình được những nếp sống tôn trọng các định chế, và tranh đấu trong vòng luật lệ cuộc chơi. Dân Chủ không phải là một bộ quần áo may sẵn hay gói mì ăn liền. Thái Lan đang đi trên con đường dân chủ hóa đầy chướng ngại từ bên trong. Nhưng nếu không bắt đầu bước đi thì không bao giờ tới được. Nước Việt Nam chúng ta phải khởi hành, càng sớm càng tốt.
CHUYỆN KỂ
(Gửi anh Thái Hà Chung, để nhớ lại 40 năm Cung đã mất)
Chuyện hôm nay chỉ còn là chuyện kể
Quãng đời qua hay là quãng chiêm bao
Tình yêu đó ta thắp bằng tim nến
Sao ai châm đuốc lửa đốt hai đầu.(tmt)
- Khi anh tìm được về nhà cũ, em và cả gia đình hai bên đã đi rồi. Anh đau đớn quá, nhưng anh không muốn để sự thất vọng giết nốt hồn mình, anh loanh quanh trong thành phố, hy vọng em chưa đi hẳn, em còn tạm trốn ở một nơi nào đó, đợi anh về, nên mấy chục năm nay anh vẫn ở lại trong xóm cũ, dù biết, nhà của cha mẹ em đã có người khác dọn vào lâu rồi.
Người đàn bà vóc vạc mảnh dẻ, đi như dựa hẳn vào lòng người đàn ông, ông không cao lớn lắm, nhưng vững chãi như một bức tường nhỏ, ấm áp. Tóc của bà đã hoa râm, dấu thời gian đã vẽ những vết nhăn đậm nhạt trên vừng trán, trên khóe miệng, trên đuôi mắt; nhưng ở người đàn ông, da vẫn căng và nâu xậm khỏe mạnh, tóc không hề có một sợi bạc, mái tóc xanh, cắt ngắn, của một người lính.
- Em lúc đó hoang mang, bối rối vô cùng, ông chánh văn phòng ở chỗ em làm, bảo sao thì em làm vậy. Bên gia đình anh cũng bỏ đi rồi, em đến nhà thì nhà hoang cửa trống, chỉ có con bé giúp việc đang ngồi khóc. Em đi chung quanh những căn buồng nhỏ, nhớ lại những kỷ niệm từ hồi còn anh, những kỷ niệm như những cánh hoa ứa máu nhưng vẫn còn thơm ngát. Biết là mình rồi cũng sẽ phải bỏ đi thôi. Em xếp kỷ niệm chôn vào bóng nắng trong một góc vườn.
Vì em có một mình nên Sở cho em mang bố mẹ đi với em. Thế là nhà của bố mẹ cũng mất với người.
Hai người đi một vòng trong xóm cũ; mọi nhà, mọi cảnh đều thay đổi, người đàn bà không nhận ra ai trong xóm, những khuôn mặt hình như đều được vẽ lại, xa lạ và lạnh lùng như những người trong tranh. Những ngôi nhà thay đổi đến ngạc nhiên, không cách nào nhận ra, Lần đầu tiên bà về quê, bà phải đếm trong đầu, từng ngôi nhà một, để định chỗ. Khi tìm được cây tầm ruộc, bà mới nhận ra ngôi nhà cũ của mình. Người đàn ông dừng lại trước ngôi nhà, ôm thân hình mảnh mai của người đàn bà trong đôi tay khỏe mạnh của mình xót sa:
- Em gầy quá!
Người đàn bà cười nhẹ:
- Không phải em gầy đâu, tuổi già làm xương em xốp đi đấy.
- Em nhìn kìa, nhà cửa thay mới nhưng họ vẫn không đốn cây tầm ruộc này, nó bây giờ vẫn mỗi năm cho trái, mới lạ chứ!
- Cứ hai năm em về một lần, lần nào cũng ghé qua nhìn ngôi nhà của gia đình mình, sao mãi đến lần thứ tư này mới gặp lại anh.
- Lạ thật đấy, anh thì qua lại đây thường xuyên, anh muốn đến lúc nào cũng đến được, nhớ em quá đỗi, anh đến ngay. Có những đêm trăng anh còn vào cả sau nhà, cây trứng cá thì bị đốn rồi, ánh trăng bây giờ nằm từng vệt riêng rẽ trên cái sân xi măng, trông cô đơn lắm. Tối nay rằm, hay mình ở lại chờ trăng lên đi em.
- Dạ.
Tiếng dạ ngoan hiền ngày xưa âm âm trong trái tim người đàn ông không thay đổi. Ông im lặng một lúc cho cái âm của tiếng “dạ” như vang vào một cõi u minh.
- Cha mẹ hai bên đã mất hết rồi, chỉ có chúng mình là không bao giờ mất nhau, vì chúng mình yêu nhau quá, phải không em? Nhưng này em, cái ổ gà to tướng ở ngay đầu ngõ vào xóm mình bị lấp đi làm anh tiếc mãi. Em còn nhớ không? Cái lần anh ở đơn vị về phép, mình đi ăn kem Givral, khi về, trời mưa to, em cứ loay hoay không biết làm sao đi qua cái vũng nước nằm ngang ngõ, mà không ướt giầy. Anh bế bổng em lên, bước vào vũng nước, anh đi giầy nhà binh mà. Mấy người trong xóm cười trêu mình, làm em ngượng quá, em cứ giẫy trong tay anh đòi xuống, anh lại càng ôm chặt, cuối cùng hai đứa ngã lăn kềnh trong vũng nước, mọi người càng cười to. Hôm đó em xấu hổ giận anh nguyên ngày, anh dỗ mãi không được. Nhưng khi anh sắp phải trở về đơn vị, tự em lại làm hòa trước, em có nhớ không, em còn nhớ không?
Làm sao mà quên được, người đàn bà mặt mũi đầm đìa nước mắt, kín đáo giơ ngang ống tay áo lên chùi, không cho người đàn ông biết mình khóc, nói khẽ:
- Dạ, ( người đàn bà hay dạ trước mỗi câu nói.) Bây giờ em chỉ muốn vẫn còn cái ổ gà to tướng đó, để được anh bế lội qua.
Bà nói xong cúi nhìn xuống chân người đàn ông, ông vẫn đi đôi giầy nhà binh cao cổ, đôi giầy mà lần đầu tiên sau ngày cưới, ông trở về từ đơn vị, bà bắt ông tháo ra ngay để bà mang vớ đi giặt, mang giầy ra rửa, rồi phơi nắng. Bà còn nhớ lại cái cảm giác lúc giặt, rửa, giầy vớ cho chồng, cái cảm giác nhói đau trong ngực người vợ trẻ, khi nghĩ đến một ngày nào đó không được làm cái công việc mong manh xúc động này.
Người đàn ông lại say sưa kể.
- Anh nhớ có một lần xe hư giữa đường, cái xe gắn máy lâu ngày anh không dùng đến. Khi đó, về thăm nhà, anh chẳng kịp thay quần áo, chở em đi uống cà phê ở phố Nguyễn Phi Khanh, Đa Kao. (Có bốn ngày phép thôi mà, đã mất một ngày đi, một ngày về rồi.)Trời mưa tháng sáu, nước ngập đường, chẩy không kịp, chiếc xe chết máy, mình phải gửi quán cà phê đi xích lô về. Trời ơi, anh sung sướng làm sao, một người lính quần áo còn khét mùi khói, được ngồi chung xích lô với cô vợ trẻ như chiêm bao trong một chiều mưa. Chao ôi là lãng mạn! Em nhớ không, em còn nhớ không?
Cứ kể xong một chuyện, người đàn ông lại nồng nàn hỏi. “Em nhớ không? Em còn nhớ không?”
Làm sao mà quên được, người đàn bà thầm thĩ trong đầu; “ trong chiếc xích lô chật hẹp, em ngồi trong lòng anh, em ngửi được mùi tình yêu, mùi vợ chồng, mùi bổn phận, mùi quê hương bốc ra từ hơi thở anh, từ bộ đồ trận trên người anh, trộn vào không gian ẩm ướt. Em lúc đó hoang mang, chẳng biết gọi cái mùi đó là gì. Sau này nghĩ lại em mới biết, đó là: “Mùi Chiến Tranh.”
Ánh trăng ở thành phố này bây giờ đã mờ đi, khói xe bốc lên ô nhiễm không gian, nhòe vào vùng ánh sáng làm bóng trăng rằm trở nên âm u. Hai người im lặng đi trong bóng trăng như đi giữa một giấc mơ, người đàn bả thỉnh thoảng lại kín đáo giơ ống tay áo lên, chùi những dòng nước mắt đang nhòe vào ánh trăng trên mặt mình. Người đàn ông muốn dắt vợ vào tận trong sân nhưng người đàn bà chùn tay lại. Bây giờ đâu còn phải nhà mình nữa. Sau bốn mươi năm, mọi sự đã thay đổi; thành phố đổi tên, nhà đổi chủ, ngay chính mình cũng đã thành vợ người khác. Người đàn bà chưa dám nói cho chồng cũ biết điều đó, và người đàn ông cũng không hỏi, hình như ông không để ý đến chuyện đó, hình như ông vẫn nghĩ mình vừa sống sót, trở về nhà, gặp lại vợ sau một cuộc hành quân. Ông nắm tay bà, vẫn bàn tay ấm áp đầy sức mạnh của một người lính. Người đàn bà bỗng nhớ (rất lơ mơ) là ở một nơi bên kia trái đất mình cũng có một gia đình, có chồng, con đang mong đợi mình (Em đi thăm Việt Nam nhanh lên rồi về nghe.)

Trăng rằm ở chốn xa xôi, nơi người đàn bà đang cư ngụ, nếu không vào đêm mưa thì rực rỡ lắm, cái rực rỡ làm mỗi khi bà nhìn trăng lại quặn thắt nhớ đến ngày xưa, người cũ.
Bây giờ đi bên người đàn ông cũ trong một đêm trăng ở quê hương, bà cúi nhìn bàn tay đã bắt đầu khô, nhăn, của mình đặt trong bàn tay khỏe mạnh trẻ trung của người đàn ông, bà bỗng thấy có một điều gì rất lạ. Người đàn ông không để cho ý nghĩ của người đàn bà đi xa quá, ông nói:
- Anh đưa em đến một chỗ này, thích lắm. Em sẽ gặp rất nhiều người thân thiết của ngày xưa.
Người đàn bà cứ để nguyên bàn tay mình trong bàn tay người đàn ông, mặc cho ông đưa bà đi. Đi lâu lắm, cuối cùng người đàn ông đưa người đàn bà đến một vùng hoang địa, người đàn bà đoán thế vì trong bóng đêm, mặc dù dưới ánh trăng rằm, bà cũng thấy âm u, hoang lạnh, không đầm ấm như xóm cũ của mình. Hai người bước qua một cái cổng lớn xây gạch nhưng đã đổ nát, người đàn bà cứ phải níu chặt cánh tay người đàn ông; bước cao, bước thấp, qua những bụi gai, cỏ dại, mô đá, mô xi măng, mô đất. Thỉnh thoảng người đàn ông dừng lại, hoặc cúi đầu chào những người đàn ông khác đi qua họ. Người đàn bà cũng cúi đầu chào theo, không nhìn rõ binh chủng và cấp bậc trên quân phục của họ. Cuối cùng, người đàn ông kéo người đàn bà ngồi xuống một mảng xi măng đã vỡ nhưng còn khá rộng, nói:
- Đây là nơi những người bạn của anh cư ngụ, những người ngày trước đã sinh ra, lớn lên, yêu và chết cho mảnh đất này. Nếu thỉnh thoảng em có về, không gặp anh, em cũng nhớ ghé qua đây thăm họ.
Hai người ngồi im lặng trong bóng trăng đã bắt đầu nhàn nhạt, hình như mặt trời đang sửa soạn đi ra. Người đàn bà nhìn vào khuôn mặt người đàn ông cũng đang nhàn nhạt theo ánh trăng. Dưới ánh trăng mờ mờ bà ngước nhìn lên mái tóc dầy xanh thẫm, cắt ngắn, vầng trán phẳng, đôi mắt buồn buồn, có mảnh trăng rơi vào loang loang như bóng nước, lòng bà quặn thắt. Bà tránh cặp mắt, nhìn xuống bộ quần áo ông đang mặc trên người. Bộ quần áo nhà binh, tối xẫm vào bóng trăng thành mầu xanh đen, nhưng cái hoa mai gắn trên vai vẫn đang lấp lánh, bà nhìn xuống đôi giầy nhà binh, rồi nhìn vào từng vệt sáng của trăng trên mặt đất hoang vu, đổ nát của một thành phố đổi chủ. Bà nhớ lại dần dần, về mình, về người đàn ông, về ngôi nhà của cha mẹ mà hai vợ chồng mới cưới còn ở, chưa kịp ra riêng. Bà nhớ là mình lúc đó trẻ lắm, có một người chồng trong quân ngũ như hầu hết những cô gái trẻ ở thời gian đó, ở quê hương đó. Chao ôi! bà bỗng nhớ ra tất cả:
Người đàn ông đó chết rồi, chết rất trẻ; chết thế nào, cách nào bà không biết rõ, nhưng anh chắc chắn đã chết như một người lính chết cho quê hương.
tmt
Viết cho 30/4/2009

(Gửi anh Thái Hà Chung, để nhớ lại 40 năm Cung đã mất)
Chuyện hôm nay chỉ còn là chuyện kể
Quãng đời qua hay là quãng chiêm bao
Tình yêu đó ta thắp bằng tim nến
Sao ai châm đuốc lửa đốt hai đầu.(tmt)
- Khi anh tìm được về nhà cũ, em và cả gia đình hai bên đã đi rồi. Anh đau đớn quá, nhưng anh không muốn để sự thất vọng giết nốt hồn mình, anh loanh quanh trong thành phố, hy vọng em chưa đi hẳn, em còn tạm trốn ở một nơi nào đó, đợi anh về, nên mấy chục năm nay anh vẫn ở lại trong xóm cũ, dù biết, nhà của cha mẹ em đã có người khác dọn vào lâu rồi.
Người đàn bà vóc vạc mảnh dẻ, đi như dựa hẳn vào lòng người đàn ông, ông không cao lớn lắm, nhưng vững chãi như một bức tường nhỏ, ấm áp. Tóc của bà đã hoa râm, dấu thời gian đã vẽ những vết nhăn đậm nhạt trên vừng trán, trên khóe miệng, trên đuôi mắt; nhưng ở người đàn ông, da vẫn căng và nâu xậm khỏe mạnh, tóc không hề có một sợi bạc, mái tóc xanh, cắt ngắn, của một người lính.
- Em lúc đó hoang mang, bối rối vô cùng, ông chánh văn phòng ở chỗ em làm, bảo sao thì em làm vậy. Bên gia đình anh cũng bỏ đi rồi, em đến nhà thì nhà hoang cửa trống, chỉ có con bé giúp việc đang ngồi khóc. Em đi chung quanh những căn buồng nhỏ, nhớ lại những kỷ niệm từ hồi còn anh, những kỷ niệm như những cánh hoa ứa máu nhưng vẫn còn thơm ngát. Biết là mình rồi cũng sẽ phải bỏ đi thôi. Em xếp kỷ niệm chôn vào bóng nắng trong một góc vườn.
Vì em có một mình nên Sở cho em mang bố mẹ đi với em. Thế là nhà của bố mẹ cũng mất với người.
Hai người đi một vòng trong xóm cũ; mọi nhà, mọi cảnh đều thay đổi, người đàn bà không nhận ra ai trong xóm, những khuôn mặt hình như đều được vẽ lại, xa lạ và lạnh lùng như những người trong tranh. Những ngôi nhà thay đổi đến ngạc nhiên, không cách nào nhận ra, Lần đầu tiên bà về quê, bà phải đếm trong đầu, từng ngôi nhà một, để định chỗ. Khi tìm được cây tầm ruộc, bà mới nhận ra ngôi nhà cũ của mình. Người đàn ông dừng lại trước ngôi nhà, ôm thân hình mảnh mai của người đàn bà trong đôi tay khỏe mạnh của mình xót sa:
- Em gầy quá!
Người đàn bà cười nhẹ:
- Không phải em gầy đâu, tuổi già làm xương em xốp đi đấy.
- Em nhìn kìa, nhà cửa thay mới nhưng họ vẫn không đốn cây tầm ruộc này, nó bây giờ vẫn mỗi năm cho trái, mới lạ chứ!
- Cứ hai năm em về một lần, lần nào cũng ghé qua nhìn ngôi nhà của gia đình mình, sao mãi đến lần thứ tư này mới gặp lại anh.
- Lạ thật đấy, anh thì qua lại đây thường xuyên, anh muốn đến lúc nào cũng đến được, nhớ em quá đỗi, anh đến ngay. Có những đêm trăng anh còn vào cả sau nhà, cây trứng cá thì bị đốn rồi, ánh trăng bây giờ nằm từng vệt riêng rẽ trên cái sân xi măng, trông cô đơn lắm. Tối nay rằm, hay mình ở lại chờ trăng lên đi em.
- Dạ.
Tiếng dạ ngoan hiền ngày xưa âm âm trong trái tim người đàn ông không thay đổi. Ông im lặng một lúc cho cái âm của tiếng “dạ” như vang vào một cõi u minh.
- Cha mẹ hai bên đã mất hết rồi, chỉ có chúng mình là không bao giờ mất nhau, vì chúng mình yêu nhau quá, phải không em? Nhưng này em, cái ổ gà to tướng ở ngay đầu ngõ vào xóm mình bị lấp đi làm anh tiếc mãi. Em còn nhớ không? Cái lần anh ở đơn vị về phép, mình đi ăn kem Givral, khi về, trời mưa to, em cứ loay hoay không biết làm sao đi qua cái vũng nước nằm ngang ngõ, mà không ướt giầy. Anh bế bổng em lên, bước vào vũng nước, anh đi giầy nhà binh mà. Mấy người trong xóm cười trêu mình, làm em ngượng quá, em cứ giẫy trong tay anh đòi xuống, anh lại càng ôm chặt, cuối cùng hai đứa ngã lăn kềnh trong vũng nước, mọi người càng cười to. Hôm đó em xấu hổ giận anh nguyên ngày, anh dỗ mãi không được. Nhưng khi anh sắp phải trở về đơn vị, tự em lại làm hòa trước, em có nhớ không, em còn nhớ không?
Làm sao mà quên được, người đàn bà mặt mũi đầm đìa nước mắt, kín đáo giơ ngang ống tay áo lên chùi, không cho người đàn ông biết mình khóc, nói khẽ:
- Dạ, ( người đàn bà hay dạ trước mỗi câu nói.) Bây giờ em chỉ muốn vẫn còn cái ổ gà to tướng đó, để được anh bế lội qua.
Bà nói xong cúi nhìn xuống chân người đàn ông, ông vẫn đi đôi giầy nhà binh cao cổ, đôi giầy mà lần đầu tiên sau ngày cưới, ông trở về từ đơn vị, bà bắt ông tháo ra ngay để bà mang vớ đi giặt, mang giầy ra rửa, rồi phơi nắng. Bà còn nhớ lại cái cảm giác lúc giặt, rửa, giầy vớ cho chồng, cái cảm giác nhói đau trong ngực người vợ trẻ, khi nghĩ đến một ngày nào đó không được làm cái công việc mong manh xúc động này.
Người đàn ông lại say sưa kể.
- Anh nhớ có một lần xe hư giữa đường, cái xe gắn máy lâu ngày anh không dùng đến. Khi đó, về thăm nhà, anh chẳng kịp thay quần áo, chở em đi uống cà phê ở phố Nguyễn Phi Khanh, Đa Kao. (Có bốn ngày phép thôi mà, đã mất một ngày đi, một ngày về rồi.)Trời mưa tháng sáu, nước ngập đường, chẩy không kịp, chiếc xe chết máy, mình phải gửi quán cà phê đi xích lô về. Trời ơi, anh sung sướng làm sao, một người lính quần áo còn khét mùi khói, được ngồi chung xích lô với cô vợ trẻ như chiêm bao trong một chiều mưa. Chao ôi là lãng mạn! Em nhớ không, em còn nhớ không?
Cứ kể xong một chuyện, người đàn ông lại nồng nàn hỏi. “Em nhớ không? Em còn nhớ không?”
Làm sao mà quên được, người đàn bà thầm thĩ trong đầu; “ trong chiếc xích lô chật hẹp, em ngồi trong lòng anh, em ngửi được mùi tình yêu, mùi vợ chồng, mùi bổn phận, mùi quê hương bốc ra từ hơi thở anh, từ bộ đồ trận trên người anh, trộn vào không gian ẩm ướt. Em lúc đó hoang mang, chẳng biết gọi cái mùi đó là gì. Sau này nghĩ lại em mới biết, đó là: “Mùi Chiến Tranh.”
Ánh trăng ở thành phố này bây giờ đã mờ đi, khói xe bốc lên ô nhiễm không gian, nhòe vào vùng ánh sáng làm bóng trăng rằm trở nên âm u. Hai người im lặng đi trong bóng trăng như đi giữa một giấc mơ, người đàn bả thỉnh thoảng lại kín đáo giơ ống tay áo lên, chùi những dòng nước mắt đang nhòe vào ánh trăng trên mặt mình. Người đàn ông muốn dắt vợ vào tận trong sân nhưng người đàn bà chùn tay lại. Bây giờ đâu còn phải nhà mình nữa. Sau bốn mươi năm, mọi sự đã thay đổi; thành phố đổi tên, nhà đổi chủ, ngay chính mình cũng đã thành vợ người khác. Người đàn bà chưa dám nói cho chồng cũ biết điều đó, và người đàn ông cũng không hỏi, hình như ông không để ý đến chuyện đó, hình như ông vẫn nghĩ mình vừa sống sót, trở về nhà, gặp lại vợ sau một cuộc hành quân. Ông nắm tay bà, vẫn bàn tay ấm áp đầy sức mạnh của một người lính. Người đàn bà bỗng nhớ (rất lơ mơ) là ở một nơi bên kia trái đất mình cũng có một gia đình, có chồng, con đang mong đợi mình (Em đi thăm Việt Nam nhanh lên rồi về nghe.)

Trăng rằm ở chốn xa xôi, nơi người đàn bà đang cư ngụ, nếu không vào đêm mưa thì rực rỡ lắm, cái rực rỡ làm mỗi khi bà nhìn trăng lại quặn thắt nhớ đến ngày xưa, người cũ.
Bây giờ đi bên người đàn ông cũ trong một đêm trăng ở quê hương, bà cúi nhìn bàn tay đã bắt đầu khô, nhăn, của mình đặt trong bàn tay khỏe mạnh trẻ trung của người đàn ông, bà bỗng thấy có một điều gì rất lạ. Người đàn ông không để cho ý nghĩ của người đàn bà đi xa quá, ông nói:
- Anh đưa em đến một chỗ này, thích lắm. Em sẽ gặp rất nhiều người thân thiết của ngày xưa.
Người đàn bà cứ để nguyên bàn tay mình trong bàn tay người đàn ông, mặc cho ông đưa bà đi. Đi lâu lắm, cuối cùng người đàn ông đưa người đàn bà đến một vùng hoang địa, người đàn bà đoán thế vì trong bóng đêm, mặc dù dưới ánh trăng rằm, bà cũng thấy âm u, hoang lạnh, không đầm ấm như xóm cũ của mình. Hai người bước qua một cái cổng lớn xây gạch nhưng đã đổ nát, người đàn bà cứ phải níu chặt cánh tay người đàn ông; bước cao, bước thấp, qua những bụi gai, cỏ dại, mô đá, mô xi măng, mô đất. Thỉnh thoảng người đàn ông dừng lại, hoặc cúi đầu chào những người đàn ông khác đi qua họ. Người đàn bà cũng cúi đầu chào theo, không nhìn rõ binh chủng và cấp bậc trên quân phục của họ. Cuối cùng, người đàn ông kéo người đàn bà ngồi xuống một mảng xi măng đã vỡ nhưng còn khá rộng, nói:
- Đây là nơi những người bạn của anh cư ngụ, những người ngày trước đã sinh ra, lớn lên, yêu và chết cho mảnh đất này. Nếu thỉnh thoảng em có về, không gặp anh, em cũng nhớ ghé qua đây thăm họ.
Hai người ngồi im lặng trong bóng trăng đã bắt đầu nhàn nhạt, hình như mặt trời đang sửa soạn đi ra. Người đàn bà nhìn vào khuôn mặt người đàn ông cũng đang nhàn nhạt theo ánh trăng. Dưới ánh trăng mờ mờ bà ngước nhìn lên mái tóc dầy xanh thẫm, cắt ngắn, vầng trán phẳng, đôi mắt buồn buồn, có mảnh trăng rơi vào loang loang như bóng nước, lòng bà quặn thắt. Bà tránh cặp mắt, nhìn xuống bộ quần áo ông đang mặc trên người. Bộ quần áo nhà binh, tối xẫm vào bóng trăng thành mầu xanh đen, nhưng cái hoa mai gắn trên vai vẫn đang lấp lánh, bà nhìn xuống đôi giầy nhà binh, rồi nhìn vào từng vệt sáng của trăng trên mặt đất hoang vu, đổ nát của một thành phố đổi chủ. Bà nhớ lại dần dần, về mình, về người đàn ông, về ngôi nhà của cha mẹ mà hai vợ chồng mới cưới còn ở, chưa kịp ra riêng. Bà nhớ là mình lúc đó trẻ lắm, có một người chồng trong quân ngũ như hầu hết những cô gái trẻ ở thời gian đó, ở quê hương đó. Chao ôi! bà bỗng nhớ ra tất cả:
Người đàn ông đó chết rồi, chết rất trẻ; chết thế nào, cách nào bà không biết rõ, nhưng anh chắc chắn đã chết như một người lính chết cho quê hương.
tmt
Viết cho 30/4/2009

Thành công !
Lúc 5 tuổi thành công có nghĩa là … không đái dầm.
Lên 10 tuổi thành công là … biết đi xe đạp.
Đến 16 tuổi thành công là … có nhiều bạn bè.
Khi 20 tuổi thành công là … có 1 người yêu mình.
Đến 40 tuổi thành công là … rủng rỉnh tiền bạc
Lên 50 tuổi thành công … vẫn là rủng rỉnh tiền bạc.
Lúc 60 tuổi thành công là … vẫn có 1 người yêu mình.
Sang 70 tuổi thành công là … vẫn đi được xe đạp.
Qua 80 tuổi thành công là … vẫn có nhiều bạn bè, và
Khi 85 tuổi thành công là … không đái dầm!
Lúc 5 tuổi thành công có nghĩa là … không đái dầm.
Lên 10 tuổi thành công là … biết đi xe đạp.
Đến 16 tuổi thành công là … có nhiều bạn bè.
Khi 20 tuổi thành công là … có 1 người yêu mình.
Đến 40 tuổi thành công là … rủng rỉnh tiền bạc
Lên 50 tuổi thành công … vẫn là rủng rỉnh tiền bạc.
Lúc 60 tuổi thành công là … vẫn có 1 người yêu mình.
Sang 70 tuổi thành công là … vẫn đi được xe đạp.
Qua 80 tuổi thành công là … vẫn có nhiều bạn bè, và
Khi 85 tuổi thành công là … không đái dầm!
NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC VÀ TÂM SỰ CỦA NHẠC SĨ TÔ HẢI
Nhạc Sĩ Tô Hải viết: "Nhà văn quân đội - Đại Tá Nguyễn Khải, trước khi qua đời đã tuyên bố: ”Miền Bắc đã cho tôi Độc Lập, miền Nam đã cho tôi Tự do…” Còn tớ, vẫn còn sống nhăn răng đây, tuyên bố: ”Miền Nam đã cho tớ cả Độc Lập, cả Tự Do và cả Hạnh phúc nữa”. Độc lập về tư duy, Tự do về viết lách và… không viết lách. Còn Hạnh Phúc thì … ”độc lập và tự do tìm kiếm hạnh phúc cho mình"… Tuy nhiên để có được ba điều thiêng liêng đó, tớ đã phải vứt bỏ biết bao điều mà trước kia, có cho… kẹo cũng chẳng dám nghĩ, dám làm ..."
NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC VÀ TÂM SỰ CỦA NHẠC SĨ TÔ HẢI -
Biên soạn: Phan Anh Dũng
Cách đây 2 tuần, Nhà Văn, Nhà Báo Uyên Thao, người chủ trương Tủ Sách Tiếng Quê Hương ở Virginia có cho tôi biết quyển hồi ký của Nhạc Sĩ Tô Hải sẽ được phát hành vào khoảng tháng 5 năm nay. Anh có gởi 3 bài viết với lời bạt về quyển hồi ký của NS Tô Hải, lời giới thiệu của Nhà Báo Lê Phú Khải và của chính anh. Đề tựa "Hồi Ký Của Một Thằng Hèn" đem đến cho tôi một sự chú ý đặc biệt!
Nhắc đến Nhạc Sĩ Tô Hải, tôi không khỏi không nhớ đến bản nhạc "Nụ Cười Sơn Cước", được nhiều ca sĩ trình bày và thính giả yêu thích. Trong một thời gian ngắn, tôi đã tìm thấy nhiều tài liệu về Ông trên internet. Ông là một trong những thanh niên với bầu nhiệt huyết hăng hái tham gia kháng chiến chống Pháp, ở lại miền Bắc sau hiệp định Genève, gia nhập đảng và được nhiều tưởng thưởng từ chế độ Cộng Sản. Sau 1975, Ông đã nhận thấy sự thật não nề khi vào Sài Gòn (Ông gọi là "Đi Thực Tế Miền Nam sau Gỉải Phóng"). Sau thời kỳ "Đổi Mới" Ông đã không ngại lên tiếng cho biết đã phí nửa con tim để viết hàng trăm bản nhạc tuyên truyền phục vụ đảng trong thời chiến tranh. Tiếc thay, các bản nhạc ấy chỉ nhất thời, không tồn tại với thời gian!
Thích thú nhất là được biết tuy nay trên 80 tuổi nhưng Ông rất cấp tiến, sử dụng máy tính "laptop" mỗi ngày (hình ở dưới) và có trang blog bắt đầu từ năm 2007 trên yahoo để đăng các bài viết rất nóng bỏng và chân thật từ Sài Gòn. Ông cũng dùng phương tiện này để viết thư qua lại với nhiều người - Ông kêu họ là "Bạn, (friend)" và Ông xưng là "Tớ"! Ông có lối viết giản dị, tếu, tự diễu mình và rất thật tình nên được nhiều bạn trẻ, đáng tuổi con cháu yêu mến. Sau 1975, Ông bắt đầu công việc dịch thuật vì thông thạo nhiều ngoại ngữ. Khi tôi khởi sự viết trang này thì mới đây Ông vẫn tiếp tục "dấn thân" chẳng hạn như xuống đường biểu tình phản đối Trung Cộng về Hoàng Sa và Trường Sa. Ông cũng vừa gởi một bài viết cho Đài BBC Luân Đôn trong đó nhắc lại một bản giao hưởng hợp xướng mà Ông bỏ nhiều tâm huyết viết thời còn trẻ nhưng sau đó vì lý do chính trị không được phổ biến. Các bản nhạc tình cảm mà Ông cho là từ "nửa trái tim còn lại" cũng cùng chung số phận: bị dìm và "bỏ tủ lạnh"!
Nhạc Sĩ Tô Hải viết: "Nhà văn quân đội - Đại Tá Nguyễn Khải, trước khi qua đời đã tuyên bố: ”Miền Bắc đã cho tôi Độc Lập, miền Nam đã cho tôi Tự do…” Còn tớ, vẫn còn sống nhăn răng đây, tuyên bố: ”Miền Nam đã cho tớ cả Độc Lập, cả Tự Do và cả Hạnh phúc nữa”. Độc lập về tư duy, Tự do về viết lách và… không viết lách. Còn Hạnh Phúc thì … ”độc lập và tự do tìm kiếm hạnh phúc cho mình"… Tuy nhiên để có được ba điều thiêng liêng đó, tớ đã phải vứt bỏ biết bao điều mà trước kia, có cho… kẹo cũng chẳng dám nghĩ, dám làm ..."
Phan Anh Dũng (Richmond, Virginia USA - 15 tháng 4, 2009)

Tiểu sử cực thiệt thà (do chính nhạc sĩ Tô Hải viết ngày 24 tháng 8, 2007) Hôm nay tớ xuýt đứt hơi, xụn lưng vì nhạc Rap, vì cô "phò-ren"(friend) Ho (?) dọa đến học làm rap-pơ. Tớ quá lo lòi cái dốt ông già. Nên vội vã mang sáng tác ra thực nghiệm! Ai ngờ đâu bịa nó ra là một chuyện. Còn thực hành nó mới khó làm sao. Quả rap-pơ phải vất vả biết bao. Vừa phải hát, vừa phải lộn, phải nhào... Không có sức chỉ có mà ... củ tỏi! Thế mới biết vì sao Rap nổi trội: Một bé Kim bỗng sáng chói bầu trời. Được tán dương trên báo chí, trên Đài. Môt thần tượng của các phăng (tê) âm nhạt (à quên âm nhạc).Thôi thì đã định nổi danh bằng Rap, Tớ cũng liều, nhưng chỉ viết mà thôi! Lấy Tình Yêu, Hôn Hít... làm đề tài. Thề đến chết không dám làm ráp sỹ. Biết đâu đấy sẽ có người để ý, lấy vài bài trên blốc tớ hát chơi. Và biết đâu có nhà báo, nhà đài...tung lên sóng, lên khuôn thì thật.. tuyệt! Bạn thấy đấy, hôm nay dù không viết Rap số 3 nhưng quen viết có vần. Nghề viết Rap tớ đã bị nhập tâm. Nên tiểu sử tớ cũng thành bài...Rắp!
Tiểu sử tớ rất chi là "phức tạp". Chỉ xin khai tóm tắt một vài dòng. Còn các bạn trẻ có tin hay không, Thì già này cũng đành lòng cam chịu!...Tớ sinh ra tháng 9 năm Đinh Mão. Tính đến nay (81 tuổi ta.)! Sự học hành rất thiếu thốn, qua loa. Vì Đế Quốc chỉ cho học vừa đủ. Một cái bằng ông tú chưa hoàn thành (tú tài 2 chưa có!) Có nghĩa là bằng trình độ học sinh Lớp 11, nên tớ dốt hoàn dốt. Không những thế tớ cả đời bị nhốt trong trường sơ (soeur), trường đạo, trường giòng. Ở gia đình tớ lại bị cấm cung. Cấm đủ thứ, trừ việc đi học nhạc... Đủ các món nào xướng âm, hòa thanh, sáng tác...Tớ chán quá nên bỏ ngang tìm đọc, đủ thứ văn chương, triết học hầm bà làng... Từ Von-te, Ban Dăc, đến Sa-Găng. Nên ảnh hưởng đủ thứ ba lăng nhăng trong đầu óc. Gia đình tớ, một gia đình công chức. Suốt cả đời hầu ngoại quốc kiếm ăn... Nên sau này từ cách mạng 45. Được xếp loại là gia đình theo "Địch" ! Cá nhân tớ sau này trong lý lịch: Ghi thành phần "tiểu tư sản" rất to. Có nghĩa là luôn chao đảo, mơ hồ, kém "lập trường" dù đã bỏ nhà theo cách mạng! Dù đã được kết nạp Đảng rất sớm! Dù có vài trăm sáng tác đựoc khen. Tớ sống được vượt qua nhiều thành kiến. Nhờ làm ăn tử tế, nhờ sáng tác liên miên. "Tuần chay" nào cũng có nuớc mắt đổ liền. Chiến thắng nào chẳng có tên thằng tớ. Cho đến ngày 30 tháng tư năm đó. Tớ được về Thành phố Bác Hồ... Thì tớ bỗng giật mình rồi nhận ra, coong của mình chính là công con cốc. Cái tên mình chỉ gắn độc môt bài "Nụ cười sơn cước" viết từ thuở 20. Còn tất cả... thế thời đã... xếp só! Tháng 9 mồng 2, nói chung là "ngày giỗ". Đựợc lôi ra để "cúng cụ" mà thôi. Chiến tranh qua đi, Nhạc của tớ hết thời.. Tuổi của tớ 60 không còn kịp "cưa sừng làm nghé". Gặp thời thế, thế thời phải thế. Tớ xoay sang nghề dịch sách kiếm ăn... Sách tớ dịch sáu cuốn in chạy ầm ầm. Tớ sống khỏe cho đến ngày... hưu trí. Về âm nhạc? Vì còn là nhạc sỹ, một vài năm tớ xuất hiện vài lần... Công xéc tô, sô nát theo com-măng... Mong vực dậy nhạc thính phòng, giao hưởng. Nhưng tiếc thay, tất cả là ảo tưởng. Vì thời nay có lẩm cẩm có điên khùng. Mới vùi đầu trong tổng phổ suốt năm để viết ra những thứ chẳng ai nghe ai dựng! Thế là tớ im re,tớ chịu đựng. Kiếp sống nghèo nhờ vợ bán bánh mỳ. Thêm vào lương hưu trí cứ teo đi...Tớ quyết tâm ẩn danh cho đến chết. Nào ai ngờ gặp thời Internet. Tớ tiêu sầu bằng các trang web đủ mầu! Đang chán phè các câu truyện đâu đâu trên Niu uých, trên Lơ poăng, trên Lô-xờ-ăng gơ lét...Thì gặp ngay một ông cụ blốc blếc. "Bạn đánh nhau" của tớ từ khi xưa. Tớ quyết định phen này làm blôc-gơ. Mong giúp đỡ lớp trẻ bằng lý thuyết, bằng thực hành, bằng kinh nghiệm, cuộc đời. Và trước mắt tớ chú trọng đề tài vào nhạc rap, đang là nhạc thời thượng. Tiểu sử tớ viết ra mà phát...ngượng. Nhưng cũng xin lớp trẻ hãy luợng tình...
Tin? Không tin? Tùy mạng mỡ của mình. Muốn biết thêm xin cứ đến building Miếu Nổi hỏi thăm tớ chính danh là Tô Hải./.
Lại Cái Chuyện Nụ Cười Sơn Cước - Tô Hải
Hôm nay, ngồi vào computer thấy mất tiêu đâu bài hát này, phục hồi lại để người nghe bản chính gốc thì lại mất tiêu đâu môt phần chính của bản thuyết minh. Đành viết lại có bổ xung thêm một số đau khổ mới khi vào Google gõ cái tên tớ và tên bài hát đó.. vì những bài tán láo về nó.
Rằng thì là: 1-Tớ cầm ghi ta hát lên (chứ không phải "viết lên" như cô bé Kim -rap-pơ tuyên bố viết (?) nhạc rap trên Tinhvi đâu?) Cái ngày đông rét mướt năm đó Tây nó đánh dữ dội lắm... Bộ Tư Lệnh III mà tớ làm "lính kiểng" lúc đó phải rút vào tận Kim Bôi (Hòa Bình). Tớ đóng quân trong nhà một cô con gái có tên Đinh thị Phẩm, 24 tuổi đời. Thích thì có thích nhưng chưa biết "tán gái" mà chỉ biết làm thơ, làm vài câu thơ rồi ngâm nó lên theo kiểu riêng của tớ gọi là ca khúc (như các cụ ngày xưa khi hát "Chèo lên trên núi thiên thai..."ấy mà.) Thế là, trước khi rời rừng núi về học Lục Quân Trần Quốc Tuấn tớ muốn nói lên mối "tình câm" của mình bằng ... vài câu thơ có giai điệu ... Thế thôi! Như tớ đã viết trong bài "Khai lý lịch thật thà" trên blog, tớ là một kẻ đã bị tiêm nhiễm từ bé bởi những bài ca ở trường sơ, trường giòng, rồi sau này, làm "sói con ("louveteau) , "hướng đạo" (scout) bị các thứ âm nhạc đủ loại nó ăn sâu vào đầu óc, vào trái tim. Tớ hát và thuộc lòng đủ thứ, từ a capella nhà thờ "Gloria in excelsis đê..ê,ề...ồ", đến "Laissez moi vous aimer", "Oh! Rose Marie I love you!" "But where are you?" rồi đến đến cả "Maréchal nous voilà" (thời chính phủ Vichy) sau đó là Aikoku","Shina no yoru" (thời Nhật lật Pháp). Nghĩa là tớ hát tất cả, thích đủ thứ âm nhạc chứ chẳng bao giờ chú ý đến cái "nhời" nó nói cái quái gì. Tóm lại tớ là một thanh niên yêu nước, ghét Tây, mê âm nhạc (mélomane)".. .không có định hướng! Cho nên, sau này, đi lính, bí bài hát cho bộ đội nghe, tớ cứ "bịa"ra đủ thứ ca khúc, rập khuôn theo các bài hát đã hát để tự hát, tự xuất bản bằng mồm. Sáng tác của tớ đều ảnh hưởng của Nhà thờ, của Tây, của Nhật và đặc biệt của Mỹ với Bing Crosby, Bob Hope,.. với các nhịp điệu, tiết tấu của swing,blues ... rất thịnh hành những năm 40. Tớ với Ngọc Bích là "vua swing"ở sư đoàn 304 và Trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn... Chẳng có biết dân tộc, hiên đại là cái quái gi! Ấy vậy mà bài nào mới "bịa" ra cũng được "quân chúng" hoan nghênh ra phết! Những lần xúc cảm về chuyện gì tớ đều "bịa" ra những "câu thơ có giai điệu", nhưng theo một khuôn khổ, hình thức nhất định mà tớ nhặt nhạnh được trong quá trình hát lên cho mình, cho bạn bè, đồng đội nghe...cho vui. Thế thôi!
Nào ngờ..."Nụ cười sơn cước" lại được hoan nghênh đến thế và Ngọc Bích, Canh Thân, Hoàng Thi Thơ.. khi trút áo "lính cụ Hồ", thôi làm "đồng chí", đã mang nó vô thành (dân gian gọi là "dinh-tê") phổ biến khắp nơi. Để cho nó được chấp nhận bởi các cơ quan kiểm duyệt, họ xếp tớ vào loại tác giả tiền chiến! Và từ đó "Nụ cười sơn cước", một trong những "tình ca thời kháng chiến" của bọn tớ sống nhờ cái mác nhạc tiền chiến đến ngày nay! Lại còn cái chuyện "địch" thu đĩa 78 vòng (chung với "Dư âm"của Nguyễn văn Tý) nữa chứ! Tớ bị "đánh hội đồng" khắp nơi, nhất là tiền bản quyền thu đĩa (đúng một chỉ vàng) được gửi từ trong thành ra lại rơi vào đúng tay một CUV cùng chi bộ, "đông chí" (nhưng không đồng hướng) đã nhận được từ tay bà chị hắn chuyên làm kinh tài cho khu ủy Liên khu III, ra vào Thành như đi chợ! Tớ không mang tội "liên hệ với địch" là nhờ có hàng trăm "bức tranh cổ động bằng âm thanh" động viên lính chiến đấu trường kỳ có hiệu quả! Từ đó một loạt bài "thiếu tính chiến đấu"của tớ (sau này có được thu thanh trong cuốn băng cát-xét "Nửa trái tim tôi" mà tớ đã chuyển sang CD nhưng chưa biết cách làm thế nào để các friends nghe thử ???) đều bị cấm bằng mồm, mặc dầu các tướng, tá lớn, bé trong Quân Đội vẫn nhớ tớ với những bài hát đã làm các vị ấy xúc động một thời. (Tháng 5/007 vừa qua, có một ông tướng mê nhạc của tớ, trước lúc qua đời, có thu thanh 3 bài của tớ trong một đĩa VCD, và dặn lại rằng "Thôi Nụ cười..." vì cần giới thiệu những cái "cấm" khác hơn - Ông tướng này chỉ lên có đến Thiếu thôi, có lẽ vì cái "lập trường văn nghệ" của ông ta thiếu ...vững vàng chăng? (VCD này tớ đang giữ nhưng cũng "ngu lâu" về computer nên chả biết làm sao để các friends nghe và xem đươc! Có ai đến giúp được tớ không?)
Trở lại với "Nụ cười sơn cước" Nó ra đời như thế đó. Tình thì có, nhưng mà là tình câm, tình nhát (vì sợ kỷ luật) đã có gì đâu mà nhiều người viết về bài hát này cứ thêu dệt ra lắm chuyện, thậm chí còn đặt cả những cái tên Lò thị nọ, NôngThị kia ra rồi thay cả địa điểm, nơi sinh, ngày sinh của nó nữa mới khổ tớ chứ! Làm bà xã cứ trách tớ": "Có thế mà anh cứ giấu em!" Tớ định kiện báo vì "vi phạm luật báo chí "xâm phạm đến đời tư không được phép" của tớ mấy lần. Nhưng đọc đi, đọc lại thì thấy: họ đều xuất phát từ tình yêu đối với một sáng tác của tớ đã bao năm tưởng chết nay lại hồi sinh, từ tình yêu đối với tớ. Đặc biệt có nhiều đồng đội cũ, nay về già, nghĩ về quá khứ tươi đẹp đã qua, đã viết về "Nụ cười sơn cước" như để tranh thủ viết về một thời một thanh xuân đẹp nhất của chúng tớ mà thôi. Vì vậy tớ lại lặng im ... (trừ một lần tớ lên tiếng phản đối và được xin lỗi và cải chính trên báo An Ninh Thế Giới do quá nhiều điều bịa đặt không có lợi cho gia đình (cũ và mới) của tớ mà thôi).
Tuy nhiên cái "sự tam sao thất bản" thì kiện ai? Hội Nhạc Sỹ VN, rất nhiều Nhà Xuất Bản đã công bố bản chinh thức của tớ trên các "Tuyển tập ca khúc trữ tinh"..."Ca khúc vượt thời gian"... đăng đi, đăng lại trên báo chí... Vậy mà, các ca sỹ thời nay vẫn không chịu hát theo bản nhạc của tác giả! Trừ 2 người là Lê Dung và Đông Đào. Còn trên Tivi, trong các tiệm cà phê-ca nhạc, họ tha hồ "phiêu"bất tử, ngắt câu, ngắt đoạn tùy thích, nhất là bôi mỡ, đánh bóng các nốt nhạc nghe đến rợn người (Ánh Tuyết). Ngay trong câu "Và trong lòng mưa hơn ở ngoài trời..." của tớ, bà Lê Dung vẫn còn "nhịu"ra "mơ" (?) hơn ở ngoài trời".. nữa là! Huống hồ những vị ca sỹ không biết xướng âm thì làm sao sửa được những gì đã trót hát sai qua bản... truyền khẩu. Tớ chán quá nhưng lại nghĩ: Ôi dào! thời buổi này họ nhắc đến tên mấy ông nhạc sỹ già đã là may lắm rồi! Cứ kênh kiệu mãi chúng nó cho cả tác phẩm lẫn người vào sọt rác lịch sử như đã từng cho cả hàng ngàn bài ca ra đời cái thời "Tiếng hát át tiếng bom" cho biết mặt! Thua! Thua! Xin chào thua!
Tiện đây xin post lên bài báo của Thanh Niên tương đối chính xác vì có sự thông qua của "khổ chủ":
Nhạc sĩ Tô Hải với hồi ức buồn Nụ cười sơn cước
28/05/2007 - Hà Đình Nguyên Nhân dịp đến dự lễ trao tặng xe lăn các tướng lĩnh và cán bộ có công do Báo Quân Đội Nhân Dân tổ chức, tôi thật sự xúc động khi thấy một ông già quân phục chỉnh tề, huân chương đỏ ngực, chống gậy lập cập lên nhận xe. Đó chính là nhạc sĩ Tô Hải, tác giả ca khúc nổi tiếng một thời" Nụ cười sơn cước"... Sau buổi đó, tôi đã đến gặp ông tại nhà riêng.
Nhà của ông là căn hộ tập thể tận tầng lầu thứ 11 của chung cư Miếu Nổi (Q.Bình Thạnh - TP.HCM). 81 tuổi, đi đứng khó khăn do từng bị hoại tử khớp xương hông phải thay xương chậu, xương đùi bằng chất liệu titan do Pháp chữa trị... vì những lý do đó nên nhạc sĩ Tô Hải rất ít xuất hiện nơi này, nơi nọ.
Thế nhưng, dù không đi đâu ông lại biết rất nhiều những sự kiện đang diễn ra trên toàn cầu. Với khả năng thông thạo 3 ngoại ngữ, mỗi ngày ông dành từ 10 đến 12 tiếng để đọc tin tức trên internet. Cô Lâm Ái, vợ ông, khoe: "Chỉ một mình anh ấy đọc nhưng sau bữa cơm trưa hoặc tối là tôi và con gái Tô Lâm Phượng (sinh năm 1993) đều biết hết mọi chuyện xảy ra trên thế giới...".
*Thế ông không còn cảm hứng để viết nhạc?
- Đã hơn 20 năm nay tôi không còn làm âm nhạc, vì âm nhạc của lứa chúng tôi không còn đất sống. Thời buổi bây giờ chẳng ai sử dụng ca khúc của lớp già chúng tôi: Chu Minh, Hoàng Vân, Nguyễn Đức Toàn, Huy Du, Hồ Bắc, Doãn Nho... trừ những ngày lễ lạc gì đó họ mới hát lại! Bọn chúng tôi trở nên lạc lõng, hỏi tên chẳng ai biết. Thôi thì, tự an ủi là bọn tôi đã hoàn thành nghĩa vụ đối với một thời kỳ lịch sử.
* Ông đến với âm nhạc từ lúc nào?
- Thời tiểu học, tôi học hát và tham gia ban đồng ca Saint Joseph, từng đoạt giải thưởng âm nhạc Chim Sơn Ca của Hướng đạo sinh toàn Đông Dương. Đang học dở tú tài 2 thì tôi nhập ngũ ngày 19.8.1945. Tôi viết ca khúc đầu tay Trở về đô thành (1946) rồi Nụ cười sơn cước (1947) đều do bản năng và mê nhạc mà thành. Tôi luôn tự cho mình là một người lính làm nhạc cho mình, cho đồng đội mình hát.
Chỉ đến năm 1951, khi về Đoàn văn công Khu 4, tôi có dịp gặp nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Được ông động viên khuyến khích, tôi thấy tự tin hơn để chuyên tâm vào sự nghiệp âm nhạc. Khi hòa bình lập lại, tôi được tham dự lớp sáng tác 18 tháng đầu tiên của Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam (1957-1958) do các chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc và CHDCND Triều Tiên dạy. Cùng lớp với tôi có các nhạc sĩ: Trọng Loan, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Văn Tý, Lưu Cầu, Vũ Trọng Hối, Lương Ngọc Trác, Văn Chung, Nguyên Nhung, Vân Đông...
Năm 1958, tôi là người đầu tiên viết bản giao hưởng đại hợp xướng gồm 4 phần (thể loại cantale) Tiếng hát người chiến sĩ biên thùy. Dạo ấy, ở nước mình làm gì có trống định âm (Timpani), hạc cầm... nhưng tôi vẫn cứ viết. Bản giao hưởng này được biểu diễn năm 1959 và được hàng loạt giải thưởng. Có lẽ vì thế mà trong Bách khoa từ điển của Pháp (Encyclopédie de la Musique) xuất bản năm 1960 có tên tôi, họ ghi là "nhà soạn nhạc" (compositeur) cùng với 11 người viết ca khúc (chansonnier) thời ấy...
* Ca khúc Nụ cười sơn cước đã được ông sáng tác trong hoàn cảnh nào? Và "Ai về sau dãy núi Kim Bôi..." là ở đâu vậy?
- Kim Bôi là một dãy núi thuộc tỉnh Hòa Bình. Dạo đó đơn vị tôi ở nhờ một làng dân tộc Mường. Tôi được ở trong một gia đình có cô con gái rất đẹp, nàng tên là Phẩm. Cũng chỉ là "để ý" thầm vậy thôi! Khi đơn vị tôi chuyển quân, với tình cảm lưu luyến hết sức chân thành tôi đã: "hình dung một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trăng, một chiếc vòng sáng lóng lánh với nụ cười nàng quá xinh !" và chuyển những tình cảm này thành ca khúc, ca ngợi chung những bông hoa rừng mà tôi đã từng gặp.
* Sau này có bao giờ ông gặp lại nàng "sơn nữ" này?
- Có, và đó là nỗi ân hận của tôi. Năm 1973 hay 1974 gì đó tôi có lên Hòa Bình tìm lại "người xưa" dù biết rằng cô ấy đã có chồng con. Sau dãy núi Kim Bôi đã biến thành vùng công nghiệp khai thác suối nước nóng, đường sá mở rộng, người miền xuôi lên ở nhiều. Cô Phẩm ngày xưa giờ đã là một thiếu phụ luống tuổi, ăn mặc theo kiểu người Kinh và... chẳng biết tôi là ai cả ! Nhắc lại chỉ thêm buồn... Biết vậy, cứ hãy sống với kỷ niệm xưa.
* Đã ở bên kia ngưỡng tuổi 80. Nhìn lại hơn 60 năm hoạt động nghệ thuật, ông có điều gì muốn tâm sự?
- Phương châm sống của tôi hiện nay là hãy quên đi quá khứ (để khỏi tiếc nuối, kể công với lịch sử), hãy sống với hiện tại (để luôn vui với những gì mình đang có) và đừng nghĩ đến tương lai (để khỏi thấy mình quá già, sắp chết). Tôi có một valy tác phẩm chưa hề sử dụng. Tôi dặn vợ: khi tôi chết hãy vẫn cứ để chiếc valy ở đấy cho đến khi nó có "duyên" tìm được tri kỷ hoặc có ai cần nghiên cứu về cái thời đẹp nhất đã xa xưa của lũ nhạc sĩ già chúng tôi thì cho mượn... Nhược bằng chẳng ai rỗi hơi "tìm về quá khứ" thì con gái tôi (Tô Lâm Phượng - chơi piano tàm tạm) sau này có điều kiện sẽ dựng lại... cho cháu chắt tôi nghe vậy.
Nhạc Sĩ Tô Hải viết: "Nhà văn quân đội - Đại Tá Nguyễn Khải, trước khi qua đời đã tuyên bố: ”Miền Bắc đã cho tôi Độc Lập, miền Nam đã cho tôi Tự do…” Còn tớ, vẫn còn sống nhăn răng đây, tuyên bố: ”Miền Nam đã cho tớ cả Độc Lập, cả Tự Do và cả Hạnh phúc nữa”. Độc lập về tư duy, Tự do về viết lách và… không viết lách. Còn Hạnh Phúc thì … ”độc lập và tự do tìm kiếm hạnh phúc cho mình"… Tuy nhiên để có được ba điều thiêng liêng đó, tớ đã phải vứt bỏ biết bao điều mà trước kia, có cho… kẹo cũng chẳng dám nghĩ, dám làm ..."
NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC VÀ TÂM SỰ CỦA NHẠC SĨ TÔ HẢI -
Biên soạn: Phan Anh Dũng
Cách đây 2 tuần, Nhà Văn, Nhà Báo Uyên Thao, người chủ trương Tủ Sách Tiếng Quê Hương ở Virginia có cho tôi biết quyển hồi ký của Nhạc Sĩ Tô Hải sẽ được phát hành vào khoảng tháng 5 năm nay. Anh có gởi 3 bài viết với lời bạt về quyển hồi ký của NS Tô Hải, lời giới thiệu của Nhà Báo Lê Phú Khải và của chính anh. Đề tựa "Hồi Ký Của Một Thằng Hèn" đem đến cho tôi một sự chú ý đặc biệt!
Nhắc đến Nhạc Sĩ Tô Hải, tôi không khỏi không nhớ đến bản nhạc "Nụ Cười Sơn Cước", được nhiều ca sĩ trình bày và thính giả yêu thích. Trong một thời gian ngắn, tôi đã tìm thấy nhiều tài liệu về Ông trên internet. Ông là một trong những thanh niên với bầu nhiệt huyết hăng hái tham gia kháng chiến chống Pháp, ở lại miền Bắc sau hiệp định Genève, gia nhập đảng và được nhiều tưởng thưởng từ chế độ Cộng Sản. Sau 1975, Ông đã nhận thấy sự thật não nề khi vào Sài Gòn (Ông gọi là "Đi Thực Tế Miền Nam sau Gỉải Phóng"). Sau thời kỳ "Đổi Mới" Ông đã không ngại lên tiếng cho biết đã phí nửa con tim để viết hàng trăm bản nhạc tuyên truyền phục vụ đảng trong thời chiến tranh. Tiếc thay, các bản nhạc ấy chỉ nhất thời, không tồn tại với thời gian!
Thích thú nhất là được biết tuy nay trên 80 tuổi nhưng Ông rất cấp tiến, sử dụng máy tính "laptop" mỗi ngày (hình ở dưới) và có trang blog bắt đầu từ năm 2007 trên yahoo để đăng các bài viết rất nóng bỏng và chân thật từ Sài Gòn. Ông cũng dùng phương tiện này để viết thư qua lại với nhiều người - Ông kêu họ là "Bạn, (friend)" và Ông xưng là "Tớ"! Ông có lối viết giản dị, tếu, tự diễu mình và rất thật tình nên được nhiều bạn trẻ, đáng tuổi con cháu yêu mến. Sau 1975, Ông bắt đầu công việc dịch thuật vì thông thạo nhiều ngoại ngữ. Khi tôi khởi sự viết trang này thì mới đây Ông vẫn tiếp tục "dấn thân" chẳng hạn như xuống đường biểu tình phản đối Trung Cộng về Hoàng Sa và Trường Sa. Ông cũng vừa gởi một bài viết cho Đài BBC Luân Đôn trong đó nhắc lại một bản giao hưởng hợp xướng mà Ông bỏ nhiều tâm huyết viết thời còn trẻ nhưng sau đó vì lý do chính trị không được phổ biến. Các bản nhạc tình cảm mà Ông cho là từ "nửa trái tim còn lại" cũng cùng chung số phận: bị dìm và "bỏ tủ lạnh"!
Nhạc Sĩ Tô Hải viết: "Nhà văn quân đội - Đại Tá Nguyễn Khải, trước khi qua đời đã tuyên bố: ”Miền Bắc đã cho tôi Độc Lập, miền Nam đã cho tôi Tự do…” Còn tớ, vẫn còn sống nhăn răng đây, tuyên bố: ”Miền Nam đã cho tớ cả Độc Lập, cả Tự Do và cả Hạnh phúc nữa”. Độc lập về tư duy, Tự do về viết lách và… không viết lách. Còn Hạnh Phúc thì … ”độc lập và tự do tìm kiếm hạnh phúc cho mình"… Tuy nhiên để có được ba điều thiêng liêng đó, tớ đã phải vứt bỏ biết bao điều mà trước kia, có cho… kẹo cũng chẳng dám nghĩ, dám làm ..."
Phan Anh Dũng (Richmond, Virginia USA - 15 tháng 4, 2009)

Tiểu sử cực thiệt thà (do chính nhạc sĩ Tô Hải viết ngày 24 tháng 8, 2007) Hôm nay tớ xuýt đứt hơi, xụn lưng vì nhạc Rap, vì cô "phò-ren"(friend) Ho (?) dọa đến học làm rap-pơ. Tớ quá lo lòi cái dốt ông già. Nên vội vã mang sáng tác ra thực nghiệm! Ai ngờ đâu bịa nó ra là một chuyện. Còn thực hành nó mới khó làm sao. Quả rap-pơ phải vất vả biết bao. Vừa phải hát, vừa phải lộn, phải nhào... Không có sức chỉ có mà ... củ tỏi! Thế mới biết vì sao Rap nổi trội: Một bé Kim bỗng sáng chói bầu trời. Được tán dương trên báo chí, trên Đài. Môt thần tượng của các phăng (tê) âm nhạt (à quên âm nhạc).Thôi thì đã định nổi danh bằng Rap, Tớ cũng liều, nhưng chỉ viết mà thôi! Lấy Tình Yêu, Hôn Hít... làm đề tài. Thề đến chết không dám làm ráp sỹ. Biết đâu đấy sẽ có người để ý, lấy vài bài trên blốc tớ hát chơi. Và biết đâu có nhà báo, nhà đài...tung lên sóng, lên khuôn thì thật.. tuyệt! Bạn thấy đấy, hôm nay dù không viết Rap số 3 nhưng quen viết có vần. Nghề viết Rap tớ đã bị nhập tâm. Nên tiểu sử tớ cũng thành bài...Rắp!
Tiểu sử tớ rất chi là "phức tạp". Chỉ xin khai tóm tắt một vài dòng. Còn các bạn trẻ có tin hay không, Thì già này cũng đành lòng cam chịu!...Tớ sinh ra tháng 9 năm Đinh Mão. Tính đến nay (81 tuổi ta.)! Sự học hành rất thiếu thốn, qua loa. Vì Đế Quốc chỉ cho học vừa đủ. Một cái bằng ông tú chưa hoàn thành (tú tài 2 chưa có!) Có nghĩa là bằng trình độ học sinh Lớp 11, nên tớ dốt hoàn dốt. Không những thế tớ cả đời bị nhốt trong trường sơ (soeur), trường đạo, trường giòng. Ở gia đình tớ lại bị cấm cung. Cấm đủ thứ, trừ việc đi học nhạc... Đủ các món nào xướng âm, hòa thanh, sáng tác...Tớ chán quá nên bỏ ngang tìm đọc, đủ thứ văn chương, triết học hầm bà làng... Từ Von-te, Ban Dăc, đến Sa-Găng. Nên ảnh hưởng đủ thứ ba lăng nhăng trong đầu óc. Gia đình tớ, một gia đình công chức. Suốt cả đời hầu ngoại quốc kiếm ăn... Nên sau này từ cách mạng 45. Được xếp loại là gia đình theo "Địch" ! Cá nhân tớ sau này trong lý lịch: Ghi thành phần "tiểu tư sản" rất to. Có nghĩa là luôn chao đảo, mơ hồ, kém "lập trường" dù đã bỏ nhà theo cách mạng! Dù đã được kết nạp Đảng rất sớm! Dù có vài trăm sáng tác đựoc khen. Tớ sống được vượt qua nhiều thành kiến. Nhờ làm ăn tử tế, nhờ sáng tác liên miên. "Tuần chay" nào cũng có nuớc mắt đổ liền. Chiến thắng nào chẳng có tên thằng tớ. Cho đến ngày 30 tháng tư năm đó. Tớ được về Thành phố Bác Hồ... Thì tớ bỗng giật mình rồi nhận ra, coong của mình chính là công con cốc. Cái tên mình chỉ gắn độc môt bài "Nụ cười sơn cước" viết từ thuở 20. Còn tất cả... thế thời đã... xếp só! Tháng 9 mồng 2, nói chung là "ngày giỗ". Đựợc lôi ra để "cúng cụ" mà thôi. Chiến tranh qua đi, Nhạc của tớ hết thời.. Tuổi của tớ 60 không còn kịp "cưa sừng làm nghé". Gặp thời thế, thế thời phải thế. Tớ xoay sang nghề dịch sách kiếm ăn... Sách tớ dịch sáu cuốn in chạy ầm ầm. Tớ sống khỏe cho đến ngày... hưu trí. Về âm nhạc? Vì còn là nhạc sỹ, một vài năm tớ xuất hiện vài lần... Công xéc tô, sô nát theo com-măng... Mong vực dậy nhạc thính phòng, giao hưởng. Nhưng tiếc thay, tất cả là ảo tưởng. Vì thời nay có lẩm cẩm có điên khùng. Mới vùi đầu trong tổng phổ suốt năm để viết ra những thứ chẳng ai nghe ai dựng! Thế là tớ im re,tớ chịu đựng. Kiếp sống nghèo nhờ vợ bán bánh mỳ. Thêm vào lương hưu trí cứ teo đi...Tớ quyết tâm ẩn danh cho đến chết. Nào ai ngờ gặp thời Internet. Tớ tiêu sầu bằng các trang web đủ mầu! Đang chán phè các câu truyện đâu đâu trên Niu uých, trên Lơ poăng, trên Lô-xờ-ăng gơ lét...Thì gặp ngay một ông cụ blốc blếc. "Bạn đánh nhau" của tớ từ khi xưa. Tớ quyết định phen này làm blôc-gơ. Mong giúp đỡ lớp trẻ bằng lý thuyết, bằng thực hành, bằng kinh nghiệm, cuộc đời. Và trước mắt tớ chú trọng đề tài vào nhạc rap, đang là nhạc thời thượng. Tiểu sử tớ viết ra mà phát...ngượng. Nhưng cũng xin lớp trẻ hãy luợng tình...
Tin? Không tin? Tùy mạng mỡ của mình. Muốn biết thêm xin cứ đến building Miếu Nổi hỏi thăm tớ chính danh là Tô Hải./.
Lại Cái Chuyện Nụ Cười Sơn Cước - Tô Hải
Hôm nay, ngồi vào computer thấy mất tiêu đâu bài hát này, phục hồi lại để người nghe bản chính gốc thì lại mất tiêu đâu môt phần chính của bản thuyết minh. Đành viết lại có bổ xung thêm một số đau khổ mới khi vào Google gõ cái tên tớ và tên bài hát đó.. vì những bài tán láo về nó.
Rằng thì là: 1-Tớ cầm ghi ta hát lên (chứ không phải "viết lên" như cô bé Kim -rap-pơ tuyên bố viết (?) nhạc rap trên Tinhvi đâu?) Cái ngày đông rét mướt năm đó Tây nó đánh dữ dội lắm... Bộ Tư Lệnh III mà tớ làm "lính kiểng" lúc đó phải rút vào tận Kim Bôi (Hòa Bình). Tớ đóng quân trong nhà một cô con gái có tên Đinh thị Phẩm, 24 tuổi đời. Thích thì có thích nhưng chưa biết "tán gái" mà chỉ biết làm thơ, làm vài câu thơ rồi ngâm nó lên theo kiểu riêng của tớ gọi là ca khúc (như các cụ ngày xưa khi hát "Chèo lên trên núi thiên thai..."ấy mà.) Thế là, trước khi rời rừng núi về học Lục Quân Trần Quốc Tuấn tớ muốn nói lên mối "tình câm" của mình bằng ... vài câu thơ có giai điệu ... Thế thôi! Như tớ đã viết trong bài "Khai lý lịch thật thà" trên blog, tớ là một kẻ đã bị tiêm nhiễm từ bé bởi những bài ca ở trường sơ, trường giòng, rồi sau này, làm "sói con ("louveteau) , "hướng đạo" (scout) bị các thứ âm nhạc đủ loại nó ăn sâu vào đầu óc, vào trái tim. Tớ hát và thuộc lòng đủ thứ, từ a capella nhà thờ "Gloria in excelsis đê..ê,ề...ồ", đến "Laissez moi vous aimer", "Oh! Rose Marie I love you!" "But where are you?" rồi đến đến cả "Maréchal nous voilà" (thời chính phủ Vichy) sau đó là Aikoku","Shina no yoru" (thời Nhật lật Pháp). Nghĩa là tớ hát tất cả, thích đủ thứ âm nhạc chứ chẳng bao giờ chú ý đến cái "nhời" nó nói cái quái gì. Tóm lại tớ là một thanh niên yêu nước, ghét Tây, mê âm nhạc (mélomane)".. .không có định hướng! Cho nên, sau này, đi lính, bí bài hát cho bộ đội nghe, tớ cứ "bịa"ra đủ thứ ca khúc, rập khuôn theo các bài hát đã hát để tự hát, tự xuất bản bằng mồm. Sáng tác của tớ đều ảnh hưởng của Nhà thờ, của Tây, của Nhật và đặc biệt của Mỹ với Bing Crosby, Bob Hope,.. với các nhịp điệu, tiết tấu của swing,blues ... rất thịnh hành những năm 40. Tớ với Ngọc Bích là "vua swing"ở sư đoàn 304 và Trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn... Chẳng có biết dân tộc, hiên đại là cái quái gi! Ấy vậy mà bài nào mới "bịa" ra cũng được "quân chúng" hoan nghênh ra phết! Những lần xúc cảm về chuyện gì tớ đều "bịa" ra những "câu thơ có giai điệu", nhưng theo một khuôn khổ, hình thức nhất định mà tớ nhặt nhạnh được trong quá trình hát lên cho mình, cho bạn bè, đồng đội nghe...cho vui. Thế thôi!
Nào ngờ..."Nụ cười sơn cước" lại được hoan nghênh đến thế và Ngọc Bích, Canh Thân, Hoàng Thi Thơ.. khi trút áo "lính cụ Hồ", thôi làm "đồng chí", đã mang nó vô thành (dân gian gọi là "dinh-tê") phổ biến khắp nơi. Để cho nó được chấp nhận bởi các cơ quan kiểm duyệt, họ xếp tớ vào loại tác giả tiền chiến! Và từ đó "Nụ cười sơn cước", một trong những "tình ca thời kháng chiến" của bọn tớ sống nhờ cái mác nhạc tiền chiến đến ngày nay! Lại còn cái chuyện "địch" thu đĩa 78 vòng (chung với "Dư âm"của Nguyễn văn Tý) nữa chứ! Tớ bị "đánh hội đồng" khắp nơi, nhất là tiền bản quyền thu đĩa (đúng một chỉ vàng) được gửi từ trong thành ra lại rơi vào đúng tay một CUV cùng chi bộ, "đông chí" (nhưng không đồng hướng) đã nhận được từ tay bà chị hắn chuyên làm kinh tài cho khu ủy Liên khu III, ra vào Thành như đi chợ! Tớ không mang tội "liên hệ với địch" là nhờ có hàng trăm "bức tranh cổ động bằng âm thanh" động viên lính chiến đấu trường kỳ có hiệu quả! Từ đó một loạt bài "thiếu tính chiến đấu"của tớ (sau này có được thu thanh trong cuốn băng cát-xét "Nửa trái tim tôi" mà tớ đã chuyển sang CD nhưng chưa biết cách làm thế nào để các friends nghe thử ???) đều bị cấm bằng mồm, mặc dầu các tướng, tá lớn, bé trong Quân Đội vẫn nhớ tớ với những bài hát đã làm các vị ấy xúc động một thời. (Tháng 5/007 vừa qua, có một ông tướng mê nhạc của tớ, trước lúc qua đời, có thu thanh 3 bài của tớ trong một đĩa VCD, và dặn lại rằng "Thôi Nụ cười..." vì cần giới thiệu những cái "cấm" khác hơn - Ông tướng này chỉ lên có đến Thiếu thôi, có lẽ vì cái "lập trường văn nghệ" của ông ta thiếu ...vững vàng chăng? (VCD này tớ đang giữ nhưng cũng "ngu lâu" về computer nên chả biết làm sao để các friends nghe và xem đươc! Có ai đến giúp được tớ không?)
Trở lại với "Nụ cười sơn cước" Nó ra đời như thế đó. Tình thì có, nhưng mà là tình câm, tình nhát (vì sợ kỷ luật) đã có gì đâu mà nhiều người viết về bài hát này cứ thêu dệt ra lắm chuyện, thậm chí còn đặt cả những cái tên Lò thị nọ, NôngThị kia ra rồi thay cả địa điểm, nơi sinh, ngày sinh của nó nữa mới khổ tớ chứ! Làm bà xã cứ trách tớ": "Có thế mà anh cứ giấu em!" Tớ định kiện báo vì "vi phạm luật báo chí "xâm phạm đến đời tư không được phép" của tớ mấy lần. Nhưng đọc đi, đọc lại thì thấy: họ đều xuất phát từ tình yêu đối với một sáng tác của tớ đã bao năm tưởng chết nay lại hồi sinh, từ tình yêu đối với tớ. Đặc biệt có nhiều đồng đội cũ, nay về già, nghĩ về quá khứ tươi đẹp đã qua, đã viết về "Nụ cười sơn cước" như để tranh thủ viết về một thời một thanh xuân đẹp nhất của chúng tớ mà thôi. Vì vậy tớ lại lặng im ... (trừ một lần tớ lên tiếng phản đối và được xin lỗi và cải chính trên báo An Ninh Thế Giới do quá nhiều điều bịa đặt không có lợi cho gia đình (cũ và mới) của tớ mà thôi).
Tuy nhiên cái "sự tam sao thất bản" thì kiện ai? Hội Nhạc Sỹ VN, rất nhiều Nhà Xuất Bản đã công bố bản chinh thức của tớ trên các "Tuyển tập ca khúc trữ tinh"..."Ca khúc vượt thời gian"... đăng đi, đăng lại trên báo chí... Vậy mà, các ca sỹ thời nay vẫn không chịu hát theo bản nhạc của tác giả! Trừ 2 người là Lê Dung và Đông Đào. Còn trên Tivi, trong các tiệm cà phê-ca nhạc, họ tha hồ "phiêu"bất tử, ngắt câu, ngắt đoạn tùy thích, nhất là bôi mỡ, đánh bóng các nốt nhạc nghe đến rợn người (Ánh Tuyết). Ngay trong câu "Và trong lòng mưa hơn ở ngoài trời..." của tớ, bà Lê Dung vẫn còn "nhịu"ra "mơ" (?) hơn ở ngoài trời".. nữa là! Huống hồ những vị ca sỹ không biết xướng âm thì làm sao sửa được những gì đã trót hát sai qua bản... truyền khẩu. Tớ chán quá nhưng lại nghĩ: Ôi dào! thời buổi này họ nhắc đến tên mấy ông nhạc sỹ già đã là may lắm rồi! Cứ kênh kiệu mãi chúng nó cho cả tác phẩm lẫn người vào sọt rác lịch sử như đã từng cho cả hàng ngàn bài ca ra đời cái thời "Tiếng hát át tiếng bom" cho biết mặt! Thua! Thua! Xin chào thua!
Tiện đây xin post lên bài báo của Thanh Niên tương đối chính xác vì có sự thông qua của "khổ chủ":
Nhạc sĩ Tô Hải với hồi ức buồn Nụ cười sơn cước
28/05/2007 - Hà Đình Nguyên Nhân dịp đến dự lễ trao tặng xe lăn các tướng lĩnh và cán bộ có công do Báo Quân Đội Nhân Dân tổ chức, tôi thật sự xúc động khi thấy một ông già quân phục chỉnh tề, huân chương đỏ ngực, chống gậy lập cập lên nhận xe. Đó chính là nhạc sĩ Tô Hải, tác giả ca khúc nổi tiếng một thời" Nụ cười sơn cước"... Sau buổi đó, tôi đã đến gặp ông tại nhà riêng.
Nhà của ông là căn hộ tập thể tận tầng lầu thứ 11 của chung cư Miếu Nổi (Q.Bình Thạnh - TP.HCM). 81 tuổi, đi đứng khó khăn do từng bị hoại tử khớp xương hông phải thay xương chậu, xương đùi bằng chất liệu titan do Pháp chữa trị... vì những lý do đó nên nhạc sĩ Tô Hải rất ít xuất hiện nơi này, nơi nọ.
Thế nhưng, dù không đi đâu ông lại biết rất nhiều những sự kiện đang diễn ra trên toàn cầu. Với khả năng thông thạo 3 ngoại ngữ, mỗi ngày ông dành từ 10 đến 12 tiếng để đọc tin tức trên internet. Cô Lâm Ái, vợ ông, khoe: "Chỉ một mình anh ấy đọc nhưng sau bữa cơm trưa hoặc tối là tôi và con gái Tô Lâm Phượng (sinh năm 1993) đều biết hết mọi chuyện xảy ra trên thế giới...".
*Thế ông không còn cảm hứng để viết nhạc?
- Đã hơn 20 năm nay tôi không còn làm âm nhạc, vì âm nhạc của lứa chúng tôi không còn đất sống. Thời buổi bây giờ chẳng ai sử dụng ca khúc của lớp già chúng tôi: Chu Minh, Hoàng Vân, Nguyễn Đức Toàn, Huy Du, Hồ Bắc, Doãn Nho... trừ những ngày lễ lạc gì đó họ mới hát lại! Bọn chúng tôi trở nên lạc lõng, hỏi tên chẳng ai biết. Thôi thì, tự an ủi là bọn tôi đã hoàn thành nghĩa vụ đối với một thời kỳ lịch sử.
* Ông đến với âm nhạc từ lúc nào?
- Thời tiểu học, tôi học hát và tham gia ban đồng ca Saint Joseph, từng đoạt giải thưởng âm nhạc Chim Sơn Ca của Hướng đạo sinh toàn Đông Dương. Đang học dở tú tài 2 thì tôi nhập ngũ ngày 19.8.1945. Tôi viết ca khúc đầu tay Trở về đô thành (1946) rồi Nụ cười sơn cước (1947) đều do bản năng và mê nhạc mà thành. Tôi luôn tự cho mình là một người lính làm nhạc cho mình, cho đồng đội mình hát.
Chỉ đến năm 1951, khi về Đoàn văn công Khu 4, tôi có dịp gặp nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Được ông động viên khuyến khích, tôi thấy tự tin hơn để chuyên tâm vào sự nghiệp âm nhạc. Khi hòa bình lập lại, tôi được tham dự lớp sáng tác 18 tháng đầu tiên của Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam (1957-1958) do các chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc và CHDCND Triều Tiên dạy. Cùng lớp với tôi có các nhạc sĩ: Trọng Loan, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Văn Tý, Lưu Cầu, Vũ Trọng Hối, Lương Ngọc Trác, Văn Chung, Nguyên Nhung, Vân Đông...
Năm 1958, tôi là người đầu tiên viết bản giao hưởng đại hợp xướng gồm 4 phần (thể loại cantale) Tiếng hát người chiến sĩ biên thùy. Dạo ấy, ở nước mình làm gì có trống định âm (Timpani), hạc cầm... nhưng tôi vẫn cứ viết. Bản giao hưởng này được biểu diễn năm 1959 và được hàng loạt giải thưởng. Có lẽ vì thế mà trong Bách khoa từ điển của Pháp (Encyclopédie de la Musique) xuất bản năm 1960 có tên tôi, họ ghi là "nhà soạn nhạc" (compositeur) cùng với 11 người viết ca khúc (chansonnier) thời ấy...
* Ca khúc Nụ cười sơn cước đã được ông sáng tác trong hoàn cảnh nào? Và "Ai về sau dãy núi Kim Bôi..." là ở đâu vậy?
- Kim Bôi là một dãy núi thuộc tỉnh Hòa Bình. Dạo đó đơn vị tôi ở nhờ một làng dân tộc Mường. Tôi được ở trong một gia đình có cô con gái rất đẹp, nàng tên là Phẩm. Cũng chỉ là "để ý" thầm vậy thôi! Khi đơn vị tôi chuyển quân, với tình cảm lưu luyến hết sức chân thành tôi đã: "hình dung một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trăng, một chiếc vòng sáng lóng lánh với nụ cười nàng quá xinh !" và chuyển những tình cảm này thành ca khúc, ca ngợi chung những bông hoa rừng mà tôi đã từng gặp.
* Sau này có bao giờ ông gặp lại nàng "sơn nữ" này?
- Có, và đó là nỗi ân hận của tôi. Năm 1973 hay 1974 gì đó tôi có lên Hòa Bình tìm lại "người xưa" dù biết rằng cô ấy đã có chồng con. Sau dãy núi Kim Bôi đã biến thành vùng công nghiệp khai thác suối nước nóng, đường sá mở rộng, người miền xuôi lên ở nhiều. Cô Phẩm ngày xưa giờ đã là một thiếu phụ luống tuổi, ăn mặc theo kiểu người Kinh và... chẳng biết tôi là ai cả ! Nhắc lại chỉ thêm buồn... Biết vậy, cứ hãy sống với kỷ niệm xưa.
* Đã ở bên kia ngưỡng tuổi 80. Nhìn lại hơn 60 năm hoạt động nghệ thuật, ông có điều gì muốn tâm sự?
- Phương châm sống của tôi hiện nay là hãy quên đi quá khứ (để khỏi tiếc nuối, kể công với lịch sử), hãy sống với hiện tại (để luôn vui với những gì mình đang có) và đừng nghĩ đến tương lai (để khỏi thấy mình quá già, sắp chết). Tôi có một valy tác phẩm chưa hề sử dụng. Tôi dặn vợ: khi tôi chết hãy vẫn cứ để chiếc valy ở đấy cho đến khi nó có "duyên" tìm được tri kỷ hoặc có ai cần nghiên cứu về cái thời đẹp nhất đã xa xưa của lũ nhạc sĩ già chúng tôi thì cho mượn... Nhược bằng chẳng ai rỗi hơi "tìm về quá khứ" thì con gái tôi (Tô Lâm Phượng - chơi piano tàm tạm) sau này có điều kiện sẽ dựng lại... cho cháu chắt tôi nghe vậy.
Thế Giới “phát sốt” vì clip của thí sinh tuổi 47
Hôm 16/4, cư dân mạng đột nhiên xôn xao vì đoạn clip quay cảnh chị Susan Boyle bước lên sân khấu để thể hiện màn trình diễn tài năng âm nhạc của mình trong chương trình Britain's Got Talent của kênh truyền hình ITV. Con số 19 triệu lượt người truy cập sau một tuần được đưa lên mạng (từ ngày 11/4) đủ để nói lên sức hấp dẫn của đoạn clip này. Sẽ không có gì đáng nói nếu nhân vật chính trong clip ăn mặc lịch sự hoặc sang trọng. Điều đáng nói là người phụ nữ 47 tuổi đã bước lên sân khấu trong một bộ trang phục bình dị,
khiến phần lớn khán giả đều cười thầm. Trong màn trò chuyện “khởi động” cùng MC của chương trình, Boyle khiến mọi người cười ồ lên khi nghe chị bày tỏ ước mơ được đua tranh với ngôi sao ca nhạc Elaine Page của ban nhạc West End.
Tuy nhiên, khi Boyle bắt đầu cất giọng hát, ban giám khảo gồm 3 thành viên do nhà sản xuất chương trình truyền hình nổi tiếng Simon Cowell làm trưởng ban, đã thực sự ngạc nhiên trước tài năng ca nhạc của người phụ nữ này. Hầu hết khán giả tại sân khấu ở thành phố Glasgow đều đứng bật dậy khi nghe giọng hát vút cao của Boyle với ca khúc I Dreamed A Dream trong Les Miserables. Thậm chí có người còn gọi chị là một thiên tài âm nhạc.
Thành viên nữ giám khảo duy nhất của cuộc thi Britain's Got Talent đã không khỏi ngạc nhiên khi...

...Susan Boyle cất lên tiếng hát

Từ đời thường...

....người phụ nữ độc thân 47 tuổi này đã trở thành một nhân vật được báo chí quan tâm đặc biệt.

Susan Boyle đã chứng tỏ được hình thức không nói lên được điều gì, chỉ có tài năng là luôn tỏa sáng.
Sau khi chứng kiến tài năng của Boyle, giám khảo Piers Morgan nhận xét: “Thật bất ngờ. Đây rõ ràng là điều ngạc nhiên lớn nhất đối với tôi trong 3 năm chương trình này hoạt động.” Vị giám khảo này thừa nhận trước khi Boyle trình diễn, “mọi người đều cười Boyle. Nhưng bây giờ thì chẳng còn ai cười chị ấy nữa. Đó thực sự là điều đáng ngạc nhiên.”
Boyle hiện sống tại vùng West Lothian. Chị nói rằng trong đời mình chị chưa bao giờ yêu dù chỉ một ngày, và chị cũng chưa bao giờ hôn bất kỳ người con trai nào. Theo nhận xét của giới chuyên môn, sau màn trình diễn ấn tượng vừa qua, Boyle nhiều khả năng sẽ trở thành người chiến thắng trong chương trình Britain's Got Talent. Người ta đã bắt đầu so sánh chị với Paul Potts, một nhà kinh doanh điện thoại di động hát opera và đã trở thành người thắng cuộc của chương trình này năm 2007. Sau đó, Potts đã có nhiều album nhạc đứng đầu bảng xếp hạng các ca khúc được yêu thích nhất tại 15 quốc gia.
Mời độc giả xem thêm clip gây sốt của Susan Boyle tại cuộc thi Britain's Got Talent, tại đây:
Britain's Got Talent là cuộc thi tài năng được tổ chức khá giống với Ameriacan Idol, nhưng nó không chỉ gói gọn trong lĩnh vực ca hát. Nó còn là sân khấu của rất nhiều màn trình diễn khác như biểu diễn, vũ đạo, hài kịch… Thí sinh tham dự rất đa dạng, có thể cá nhân, gia đình, nhóm bạn bè…
Hôm 16/4, cư dân mạng đột nhiên xôn xao vì đoạn clip quay cảnh chị Susan Boyle bước lên sân khấu để thể hiện màn trình diễn tài năng âm nhạc của mình trong chương trình Britain's Got Talent của kênh truyền hình ITV. Con số 19 triệu lượt người truy cập sau một tuần được đưa lên mạng (từ ngày 11/4) đủ để nói lên sức hấp dẫn của đoạn clip này. Sẽ không có gì đáng nói nếu nhân vật chính trong clip ăn mặc lịch sự hoặc sang trọng. Điều đáng nói là người phụ nữ 47 tuổi đã bước lên sân khấu trong một bộ trang phục bình dị,
khiến phần lớn khán giả đều cười thầm. Trong màn trò chuyện “khởi động” cùng MC của chương trình, Boyle khiến mọi người cười ồ lên khi nghe chị bày tỏ ước mơ được đua tranh với ngôi sao ca nhạc Elaine Page của ban nhạc West End.
Tuy nhiên, khi Boyle bắt đầu cất giọng hát, ban giám khảo gồm 3 thành viên do nhà sản xuất chương trình truyền hình nổi tiếng Simon Cowell làm trưởng ban, đã thực sự ngạc nhiên trước tài năng ca nhạc của người phụ nữ này. Hầu hết khán giả tại sân khấu ở thành phố Glasgow đều đứng bật dậy khi nghe giọng hát vút cao của Boyle với ca khúc I Dreamed A Dream trong Les Miserables. Thậm chí có người còn gọi chị là một thiên tài âm nhạc.

Thành viên nữ giám khảo duy nhất của cuộc thi Britain's Got Talent đã không khỏi ngạc nhiên khi...

...Susan Boyle cất lên tiếng hát

Từ đời thường...

....người phụ nữ độc thân 47 tuổi này đã trở thành một nhân vật được báo chí quan tâm đặc biệt.

Susan Boyle đã chứng tỏ được hình thức không nói lên được điều gì, chỉ có tài năng là luôn tỏa sáng.
Sau khi chứng kiến tài năng của Boyle, giám khảo Piers Morgan nhận xét: “Thật bất ngờ. Đây rõ ràng là điều ngạc nhiên lớn nhất đối với tôi trong 3 năm chương trình này hoạt động.” Vị giám khảo này thừa nhận trước khi Boyle trình diễn, “mọi người đều cười Boyle. Nhưng bây giờ thì chẳng còn ai cười chị ấy nữa. Đó thực sự là điều đáng ngạc nhiên.”
Boyle hiện sống tại vùng West Lothian. Chị nói rằng trong đời mình chị chưa bao giờ yêu dù chỉ một ngày, và chị cũng chưa bao giờ hôn bất kỳ người con trai nào. Theo nhận xét của giới chuyên môn, sau màn trình diễn ấn tượng vừa qua, Boyle nhiều khả năng sẽ trở thành người chiến thắng trong chương trình Britain's Got Talent. Người ta đã bắt đầu so sánh chị với Paul Potts, một nhà kinh doanh điện thoại di động hát opera và đã trở thành người thắng cuộc của chương trình này năm 2007. Sau đó, Potts đã có nhiều album nhạc đứng đầu bảng xếp hạng các ca khúc được yêu thích nhất tại 15 quốc gia.
Mời độc giả xem thêm clip gây sốt của Susan Boyle tại cuộc thi Britain's Got Talent, tại đây:
Britain's Got Talent là cuộc thi tài năng được tổ chức khá giống với Ameriacan Idol, nhưng nó không chỉ gói gọn trong lĩnh vực ca hát. Nó còn là sân khấu của rất nhiều màn trình diễn khác như biểu diễn, vũ đạo, hài kịch… Thí sinh tham dự rất đa dạng, có thể cá nhân, gia đình, nhóm bạn bè…
Việt Nam, Quê Hương Tôi...!!!
Phạm thanh Phương (Úc Châu)
(Tưởng niệm về ngày 30-4) Tháng tư lại đến, niềm đau lại chất thêm một tuổi, khơi lại trong tâm thức mỗi người dân miền Nam Việt Nam những bất hạnh đau thương, vất vưởng, chập chờn, tưởng chừng như mới xẩy ra, mặc dù đã trải qua hơn ba mươi năm. 30-4-1975, một ngày đen tối của lịch sử, toàn cõi miền Nam bàng hoàng ngơ ngác từ giã những gì thân thương nhất của cuộc đời, để lún dần vào bóng đêm khốn khổ của thế kỷ với những đói rách, hoang tàn, máu lửa, sinh ly, tử biệt... Tuy nhiên, đối với bọn lãnh đạo CSVN, thì đây lại chính là “Chiến thắng vĩ đại” để “hồ hởi, phấn khởi” vênh váo vì đã đưa được cả một dân tộc, nhận chìm sâu trong vũng lầy của nhân loại...
Tất cả chìm sâu chốn khổ đau
Đường đời hun hút cố tìm nhau
Tìm trong vô vọng, trong hoang lạnh
Tìm dấu chân chim, tóc úa màu.
Trên hình thức, không ai phủ nhận đất nước đã im tiếng súng, dòng sông Bến Hải không còn là bức màn sắt, dùng cách chia cắt tình dân tộc như ngày xưa. Nhưng những chữ tự do, dân chủ, hoà bình, no ấm lại trở thành những gì xa xăm, bàng bạc đối với toàn thể dân Việt. Thay vào đó là những khủng bố, thù hận, máu và nước mắt được tiếp tục phát triển một cách mạnh mẽ. Biết bao kẻ ra đi không bao giờ trở lại, hoặc có được trở về cũng “thân tàn ma dại” dưới mỹ từ “Cải Tạo”...
Cũng từ đó, biết bao nhiêu tài nguyên trí tuệ bị chôn vùi, hủy diệt bởi chính sách ngu xuẩn trên những nông trường đồng chua nước mặn và những trại tù được mọc lên như nấm rải rác trên khắp nẻo Quê Hương...Tất cả những uất ức, đau thương ấy đã được đưa vào kho tàng uất hận của dân tộc bằng những câu đối truyền khẩu như những tiếng thở dài của Tổ Quốc.
“Đôi dép râu dẵm nát đời son trẻ
Mũ tai bèo phủ kín cả tương lai”....
Ngay trong việc đổi tên đường, cũng đã như một lời tiên tri, báo trước cho những oan khiên, khủng bố đầy máu tanh trong một xã hội đau khổ, băng hoại đầy rẫy những đe dọa, bất ổn từ một chế độ đầy thú tính CSVN...
“Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do”...
Trước một bối cảnh đen tối đầy máu tanh ấy, người dân Việt đã phải cố gắng tìm đường chạy trốn với biết bao nhiêu tủi nhục trên những chiếc thuyền mong manh trên đại dương đầy sóng gió nguy hiểm, hay lầm lũi trong những cánh rừng chông gai thập tử nhất sinh với những bầy thú dữ đang chực chờ ...
Ta đã thấy Biển Đông từng bỡ ngỡ
Trong những lần vĩnh biệt cõi âm dương
Lòng biển sâu vang tiếng nấc đoạn trường
Bầy hải tặc nhận làm phu đưa đám
Biết thế, nhưng đoàn người vẫn tiếp tục dẫn dắt díu nhau đi, họ đã phải gom góp tất cả tài sản, kể cả sinh mạng để mong đánh đổi lấy hai chữ tự do... Ôi! hai chữ tự do sao mà quá đắt, nó được đánh đổi bằng tất cả những nhục nhằn pha máu và nước mắt. Tuy vậy, những hình ảnh khủng khiếp ấy cũng không làm người dân hãi sợ bằng hai chữ “Bác - Đảng”...
Nhìn lại đoạn đường hơn ba mươi năm, đất nước được mang tiếng là “thống nhất, thanh bình”, nhưng CSVN đã làm gì có ích cho non sông, hay chỉ thấy toàn những khủng bố, bóc lột và đưa cả nước đến tận cùng rách nát , băng hoại như hôm nay.
Biết bao nhiêu người đã bị mất nhà mất ruộng, tôn giáo bị khống chế trù dập, giáo dục suy đồi, trẻ thơ cũng được “xuất khẩu” đi làm nô lệ tình dục trên khắp thế giới, giang sơn cũng bị cắt xén lở loang. Ngoài ra, CSVN còn hãnh diện với chiêu bài “xất khẩu lao động” cũng như chiến dịch lấy chồng ngoại quốc để được ăn bám trên xương máu của những nàng “Kiều” bất đắc dĩ hư một loại ký sinh trùng trên những vết thương loang lở tủi nhục của họ...
Nếu có được những sáng kiến có tính cách ích quốc, lợi dân đi chăng nữa cũng hiếm ai có đủ tự tin và can đảm đóng góp. Những người can đảm đóng góp ý kiến hay nói lên tiếng nói của lương tri như Lm Nguyễn văn Lý, HT Quảng Độ, v, v, thì được hồi đáp bằng hai chữ “Gián điệp”, quản chế và tù đầy. Bọn CS luôn luôn tự hào với “Đỉnh cao trí tuệ” mà lại không thể ý thức để lắng nghe những đóng góp từ những trái tim yêu nước mà chúng lại ngược đãi họ như súc vật...
Nhìn lại quê hương, tình hình hôm nay đã đổi khác, tuy rằng không còn những cảnh tượng hãi hùng của những ngày đen tối khi xưa, nhưng xã hội mỗi ngày một băng hoại, suy đồi. Sự tàn bạo dã man xưa kia không còn quá lộ liễu, nó đã được biến đổi một cách tinh vi hơn lồng trong những chiêu bài màu mè sáng sủa hơn. Một điều đáng uất hận và đau khổ hơn nữa là mảnh giang sơn đã được tạo dụng bằng máu và nước mắt của biết bao đời anh dũng, bất khuất, nay đã và đang mất dần trong tay ngoại bang một cách tức tưởi chưa từng xảy ra trên suốt dòng lịch sử.
CSVN luôn tự hào với những khẩu hiệu ”Đảng CSVN anh hùng, Quang Vinh” ; “Khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.... Nhưng lại cúi đầu làm tay sai cho kẻ thù truyền kiếp Trung Cộng. Thậm chí, cái Đảng “anh hùng” ấy vẫn còn run sợ khi nhắc đến bốn chữ VNCH, mặc dù chế độ ấy đã đi vào qúa khứ. Bằng chứng chỉ có hơn ba triệu người tỵ nạn CS sống rải rác trên khắp thế giới, nhưng đảng CSVN đã tốn biết bao nhiêu công sức, tiền bạc với hết quyết định này, nghị quyết kia mà vẫn đành bó tay. Chính vì quá sợ, nên đã cho một số tay sai cố gắng bội nhọ chính nghĩa và chân dung người lính VNCH trong suốt hơn ba mươi năm qua. Đồng thời, dùng mọi cách xâm nhập đáng phá, lũng loạn, mong làm giảm thiểu và triệt tiêu ý chí đấu tranh và biến cộng đồng ngưởi Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại trở thành thần dân của chế độ đốn mạt CSVN. Từ đó, biết bao nhiêu hiện tượng đã xẩy ra như tung hô CSVN, phỉ báng lá cờ vàng chính nghĩa quốc gia, hiện tượng một vài tờ báo hay đài phát thanh như VietWeekly, báo Người Việt hoặc đài phát thanh Chân Trời Mới, Tiếng Nước Tôi đã từng xẩy ra trước đây,v,v...
Riêng trong những ngày gần đây, người ta lại thấy thêm có một nhóm đang manh tâm tiếm danh cộng đồng người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại trong mục đích nối kết, giao lưu với bọn tội đồ dân tộc qua chiêu bài “Đồng lòng cứu nước, bảo toàn lãnh thổ”. Nhóm nà y lý luận “Trước tình trạng đất nước lâm nguy bởi sự xâm chiếm của bọn bành trướng Trung Cộng. Chúng ta là con dân nước Việt, nên cũng có bổn phận tìm tài liệu xác định chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đưa cho CSVN để đưa ra quốc tế, vì chế độ CSVN là một chế độ khép kín, họ không dủ tài liệu..v.v..”. Đây cũng là một trong những hiện tượng cố tìm cách hợp thức hoá vai trò tập đoàn CSVN một cách khéo léo và để vô hình trung được chấp nhận một cách hợp tình, hợp lý trong khối người Việt tỵ nạn tại hải ngoại. Đây cũng là một hành động phản bội dân tộc, phản bội chính nghĩa của toàn dân.
Do đó, nhân tưởng niệm về một tháng tư đen, mong rằng những người còn ý thức quê hương, nên cảnh giác với những chiêu bài lập lờ này. Tích cực yểm trợ cho những phong trào, mặt trận đang miệt mài trong mục tiêu lật đổ chế độ thối nát, tàn bạo CSVN. Chỉ khi nào CSVN biền mất trên quê hương, lúc đó mới mong có cơ hội đòi lại nhựng mảnh giang sơn mà CSVN đã cắt xén dâng hiến cho ngoại bang và xây dựng lại một nước Việt Nam hùng cường sánh vai cũng thế giới văn minh hôm nay.
· Phạm thanh Phương (Úc Châu)
Phạm thanh Phương (Úc Châu)
(Tưởng niệm về ngày 30-4) Tháng tư lại đến, niềm đau lại chất thêm một tuổi, khơi lại trong tâm thức mỗi người dân miền Nam Việt Nam những bất hạnh đau thương, vất vưởng, chập chờn, tưởng chừng như mới xẩy ra, mặc dù đã trải qua hơn ba mươi năm. 30-4-1975, một ngày đen tối của lịch sử, toàn cõi miền Nam bàng hoàng ngơ ngác từ giã những gì thân thương nhất của cuộc đời, để lún dần vào bóng đêm khốn khổ của thế kỷ với những đói rách, hoang tàn, máu lửa, sinh ly, tử biệt... Tuy nhiên, đối với bọn lãnh đạo CSVN, thì đây lại chính là “Chiến thắng vĩ đại” để “hồ hởi, phấn khởi” vênh váo vì đã đưa được cả một dân tộc, nhận chìm sâu trong vũng lầy của nhân loại...
Tất cả chìm sâu chốn khổ đau
Đường đời hun hút cố tìm nhau
Tìm trong vô vọng, trong hoang lạnh
Tìm dấu chân chim, tóc úa màu.
Trên hình thức, không ai phủ nhận đất nước đã im tiếng súng, dòng sông Bến Hải không còn là bức màn sắt, dùng cách chia cắt tình dân tộc như ngày xưa. Nhưng những chữ tự do, dân chủ, hoà bình, no ấm lại trở thành những gì xa xăm, bàng bạc đối với toàn thể dân Việt. Thay vào đó là những khủng bố, thù hận, máu và nước mắt được tiếp tục phát triển một cách mạnh mẽ. Biết bao kẻ ra đi không bao giờ trở lại, hoặc có được trở về cũng “thân tàn ma dại” dưới mỹ từ “Cải Tạo”...
Cũng từ đó, biết bao nhiêu tài nguyên trí tuệ bị chôn vùi, hủy diệt bởi chính sách ngu xuẩn trên những nông trường đồng chua nước mặn và những trại tù được mọc lên như nấm rải rác trên khắp nẻo Quê Hương...Tất cả những uất ức, đau thương ấy đã được đưa vào kho tàng uất hận của dân tộc bằng những câu đối truyền khẩu như những tiếng thở dài của Tổ Quốc.
“Đôi dép râu dẵm nát đời son trẻ
Mũ tai bèo phủ kín cả tương lai”....
Ngay trong việc đổi tên đường, cũng đã như một lời tiên tri, báo trước cho những oan khiên, khủng bố đầy máu tanh trong một xã hội đau khổ, băng hoại đầy rẫy những đe dọa, bất ổn từ một chế độ đầy thú tính CSVN...
“Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do”...
Trước một bối cảnh đen tối đầy máu tanh ấy, người dân Việt đã phải cố gắng tìm đường chạy trốn với biết bao nhiêu tủi nhục trên những chiếc thuyền mong manh trên đại dương đầy sóng gió nguy hiểm, hay lầm lũi trong những cánh rừng chông gai thập tử nhất sinh với những bầy thú dữ đang chực chờ ...
Ta đã thấy Biển Đông từng bỡ ngỡ
Trong những lần vĩnh biệt cõi âm dương
Lòng biển sâu vang tiếng nấc đoạn trường
Bầy hải tặc nhận làm phu đưa đám
Biết thế, nhưng đoàn người vẫn tiếp tục dẫn dắt díu nhau đi, họ đã phải gom góp tất cả tài sản, kể cả sinh mạng để mong đánh đổi lấy hai chữ tự do... Ôi! hai chữ tự do sao mà quá đắt, nó được đánh đổi bằng tất cả những nhục nhằn pha máu và nước mắt. Tuy vậy, những hình ảnh khủng khiếp ấy cũng không làm người dân hãi sợ bằng hai chữ “Bác - Đảng”...
Nhìn lại đoạn đường hơn ba mươi năm, đất nước được mang tiếng là “thống nhất, thanh bình”, nhưng CSVN đã làm gì có ích cho non sông, hay chỉ thấy toàn những khủng bố, bóc lột và đưa cả nước đến tận cùng rách nát , băng hoại như hôm nay.
Biết bao nhiêu người đã bị mất nhà mất ruộng, tôn giáo bị khống chế trù dập, giáo dục suy đồi, trẻ thơ cũng được “xuất khẩu” đi làm nô lệ tình dục trên khắp thế giới, giang sơn cũng bị cắt xén lở loang. Ngoài ra, CSVN còn hãnh diện với chiêu bài “xất khẩu lao động” cũng như chiến dịch lấy chồng ngoại quốc để được ăn bám trên xương máu của những nàng “Kiều” bất đắc dĩ hư một loại ký sinh trùng trên những vết thương loang lở tủi nhục của họ...
Nếu có được những sáng kiến có tính cách ích quốc, lợi dân đi chăng nữa cũng hiếm ai có đủ tự tin và can đảm đóng góp. Những người can đảm đóng góp ý kiến hay nói lên tiếng nói của lương tri như Lm Nguyễn văn Lý, HT Quảng Độ, v, v, thì được hồi đáp bằng hai chữ “Gián điệp”, quản chế và tù đầy. Bọn CS luôn luôn tự hào với “Đỉnh cao trí tuệ” mà lại không thể ý thức để lắng nghe những đóng góp từ những trái tim yêu nước mà chúng lại ngược đãi họ như súc vật...
Nhìn lại quê hương, tình hình hôm nay đã đổi khác, tuy rằng không còn những cảnh tượng hãi hùng của những ngày đen tối khi xưa, nhưng xã hội mỗi ngày một băng hoại, suy đồi. Sự tàn bạo dã man xưa kia không còn quá lộ liễu, nó đã được biến đổi một cách tinh vi hơn lồng trong những chiêu bài màu mè sáng sủa hơn. Một điều đáng uất hận và đau khổ hơn nữa là mảnh giang sơn đã được tạo dụng bằng máu và nước mắt của biết bao đời anh dũng, bất khuất, nay đã và đang mất dần trong tay ngoại bang một cách tức tưởi chưa từng xảy ra trên suốt dòng lịch sử.
CSVN luôn tự hào với những khẩu hiệu ”Đảng CSVN anh hùng, Quang Vinh” ; “Khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.... Nhưng lại cúi đầu làm tay sai cho kẻ thù truyền kiếp Trung Cộng. Thậm chí, cái Đảng “anh hùng” ấy vẫn còn run sợ khi nhắc đến bốn chữ VNCH, mặc dù chế độ ấy đã đi vào qúa khứ. Bằng chứng chỉ có hơn ba triệu người tỵ nạn CS sống rải rác trên khắp thế giới, nhưng đảng CSVN đã tốn biết bao nhiêu công sức, tiền bạc với hết quyết định này, nghị quyết kia mà vẫn đành bó tay. Chính vì quá sợ, nên đã cho một số tay sai cố gắng bội nhọ chính nghĩa và chân dung người lính VNCH trong suốt hơn ba mươi năm qua. Đồng thời, dùng mọi cách xâm nhập đáng phá, lũng loạn, mong làm giảm thiểu và triệt tiêu ý chí đấu tranh và biến cộng đồng ngưởi Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại trở thành thần dân của chế độ đốn mạt CSVN. Từ đó, biết bao nhiêu hiện tượng đã xẩy ra như tung hô CSVN, phỉ báng lá cờ vàng chính nghĩa quốc gia, hiện tượng một vài tờ báo hay đài phát thanh như VietWeekly, báo Người Việt hoặc đài phát thanh Chân Trời Mới, Tiếng Nước Tôi đã từng xẩy ra trước đây,v,v...
Riêng trong những ngày gần đây, người ta lại thấy thêm có một nhóm đang manh tâm tiếm danh cộng đồng người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại trong mục đích nối kết, giao lưu với bọn tội đồ dân tộc qua chiêu bài “Đồng lòng cứu nước, bảo toàn lãnh thổ”. Nhóm nà y lý luận “Trước tình trạng đất nước lâm nguy bởi sự xâm chiếm của bọn bành trướng Trung Cộng. Chúng ta là con dân nước Việt, nên cũng có bổn phận tìm tài liệu xác định chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đưa cho CSVN để đưa ra quốc tế, vì chế độ CSVN là một chế độ khép kín, họ không dủ tài liệu..v.v..”. Đây cũng là một trong những hiện tượng cố tìm cách hợp thức hoá vai trò tập đoàn CSVN một cách khéo léo và để vô hình trung được chấp nhận một cách hợp tình, hợp lý trong khối người Việt tỵ nạn tại hải ngoại. Đây cũng là một hành động phản bội dân tộc, phản bội chính nghĩa của toàn dân.
Do đó, nhân tưởng niệm về một tháng tư đen, mong rằng những người còn ý thức quê hương, nên cảnh giác với những chiêu bài lập lờ này. Tích cực yểm trợ cho những phong trào, mặt trận đang miệt mài trong mục tiêu lật đổ chế độ thối nát, tàn bạo CSVN. Chỉ khi nào CSVN biền mất trên quê hương, lúc đó mới mong có cơ hội đòi lại nhựng mảnh giang sơn mà CSVN đã cắt xén dâng hiến cho ngoại bang và xây dựng lại một nước Việt Nam hùng cường sánh vai cũng thế giới văn minh hôm nay.
· Phạm thanh Phương (Úc Châu)
Cảm nhận 30-4
Tác giả: Trần Khải Thanh Thủy
Sinh năm 1960 nên ngày 30-4-1975 tôi tròn 15 tuổi, đang còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông trung học. Tin miền Nam hoàn toàn giải phóng dội tới từng công sở , xí nghiệp, trường học làm nức lòng toàn dân , nét mặt ai cũng hân hoan khúc khải hoàn ca. Lây tâm tâm trạng chung của mọi người , tôi cũng cảm thấy nhẹ bỗng như người không trọng lượng. Cảm giác của người chiến thắng, nở hoa trong hồn, vui mừng không sao kể xiết. Khắp góc chợ, vỉa hè, đâu đâu người dân cũng đưa tin nước nhà giải phóng, chế độ nguỵ quyền sụp đổ. Các quầy báo đông nghịt người xếp hàng mua báo quân đội, nhân dân, Hà Nội mới, để xem tin chiến thắng . Một cuộc cách mạng long trời, lở đất, một chiến thắng vĩ đại của quân và dân Việt Nam, cũng là một cuộc cách mạng mùa thu tháng 8 -1945 lần thứ hai của người Việt Nam, thời kỳ khổ ải trường kỳ kháng chiến, thắt lưng buộc bụng qua rồi ,giờ chỉ còn xây dựng đất nước to đẹp đàng hoàng gấp 10 lần xưa thôi....
Mẹ tôi mừng gấp đôi vì đã hơn 20 năm trời xa cách , nay mới gặp được chị cả, di cư vào Nam từ 1954 theo chồng. Người chị mà vì có họ hàng dây mơ, rễ má, máu mủ ruột thịt mà cả nhà phải ngậm đắng, nuốt cay, tám anh chị em trong nhà, kể cả mẹ tôi không ai được kết nạp đảng dù thoát ly, làm đường, thanh niên xung phong từ năm 16 tuổi, phải sống, cống hiến, lao động và chịu đựng hơn gương Bác Hồ vĩ đại cả ngàn vạn lần , vẫn ra rìa, vì trong gia đình có người đầu hàng , theo địch... một vết nhơ trong gia đình, dòng tộc mà ngay cả khi thống nhất đất nước vẫn không thể nào gột rửa được
Loay hay vất vả mãi, tận năm 1976 mẹ tôi mới xin được cán bộ tổ chức cơ quan một tờ giấy phép vào Nam ( thời gian đầu, nhà nước chỉ xét các đối tượng trong diện vợ chồng, con cái, bố mẹ...) khỏi phải nói đến sự mừng tủi của hai chị em sau 21 năm xa cách. Bác ôm lấy mẹ tôi khóc khi hay tin cả bố và mẹ đẻ đã mất ngay sau khi tiến hành cải cách ruộng đất, nhà bị đưa vào diện địa chủ, bóc lột. Ông tôi khi ấy đang làm hiệu trưởng trường cấp I, vì uất ức mà phải giằng kính khỏi mắt đập mạnh xuống nền nhà cho mắt kính vỡ tan để lấy một mảnh nhọn và sắc nhất rạch ruột tự tử ngay trước mặt cán bộ cải cách...Khi cả đoạn ruột lòi ra ngoài ổ bụng, một viên bác sĩ người Pháp vội vàng chạy đến băng bó, cấp cứu, nhưng ông tôi đưa tay ra hiệu không cần thiết, kèm câu nói chứng tỏ sự lựa chọn đúng đắn của mình: "Một xã hội mà kẻ vô văn hoá lên cầm đầu, trừng trị người lương thiện, cũng là người đã góp phần nuôi cả đại đội chiến sĩ trong nhà ăn no đánh thắng, giết giặc, lập công...thì xã hội ấy chỉ còn là sự đồi bại, tha hoá, cướp bóc, trừng trị, không những không đưa đất nước ra khỏi quỹ đạo luẩn quẩn của nghìn năm Bắc thuộc, mà còn không bằng xã hội trong thời kỳ phong kiến thối nát"...Một xã hội bất công, vô lý như thế thì tôi còn sống làm gì ? Làm sao cam tâm nhìn cảnh đất nước bị tàn phá, lương dân bị giày xéo ....Đời người chỉ chết có một lần, sống mà phải mang vết nhơ gia đình mình là địa chủ, chuyên áp bức, bóc lột dân lành thì sống sao nổi?
Nói lại những lời hùng hồn trăng trối cho viên bác sĩ người Pháp nghe xong, ông tôi nhắm mắt trút hơi thở cuối cùng. Bà tôi không chịu đựng nổi cái chết phi lý, đường đột của ông, lại chứng kiến cảnh mất nhà, cướp đất của lũ cán bộ cốt cán, từng ăn mòn bát, ngồi mòn chiếu nhà mình, một điều u, hai điều con, nay giở mặt gọi bà là địa chủ bóc lột, đòi đưa ra đấu tố, trong khi con cái ly tán khắp các phương trời góc bể, Từ Hải Phòng, Lạng Sơn, Hà Tây , Hà Nội v.v nên cũng ốm đau , mòn mỏi, đành nhắm mắt, xuôi tay khi tuổi đời chưa tròn một vòng hoa giáp...
Khóc cho bố mẹ chán, bác tôi quay ra khóc cho mình, cho cả đại gia đình 9 đứa con, gần 30 chục cháu nội ngoại cùng 9 cặp dâu rể đang trong cảnh bấn loạn tinh thần. Chỉ vì tin ông bà còn sống mà nấn ná ở lại, cấm con cái không được "lầm đường lạc bước theo giặc, bỏ quê cha đất tổ mà đi"... Giờ cơ hội đã lỡ, tất cả đều trong cảnh sống giở chết giở, 6 anh con trai là sĩ quan cộng hoà đều phải đi học tập cải tạo mút mùa, vợ con không ai nuôi nấng, chăm sóc ...Đang từ xã hội tiêu thụ, gi gỉ gì gi, cái gì cũng có, thành xã hội bao nhiều, cấp ít, gi gỉ gì gi, cái gì cũng thiếu ...ai cũng hoang mang chán nản, bởi cuộc sống đã bị cướp đi những gì quý giá, căn bản nhất, không còn là sống mà chỉ là sự tồn tại, vạ vật cho qua ngày đoạn tháng, đau khổ đến chết và đói nghèo đến chết, thậm chí có người không chịu đựng nổi cảnh địa ngục trần gian do bọn phát xít mới đưa lại đã lặng lẽ tìm đến cái chết, hòng làm đứt tung mọi sự ràng buộc, gian díu với đời
Khi tôi vào, điều cảm nhận đầu tiên của tôi là sự hụt hẫng, suốt dọc đường trên chuyến tàu xuyệt Việt, tầm mắt chỉ được nuôi dưỡng bằng cảnh nghèo, cái đói . Không phải "Đường vô xứ nghệ quanh quanh, non xanh, nước biếc như tranh hoạ đồ" như thơ Tố Hữu miêu tả mà là :
Đất nước mình đâu cũng mái nhà gianh ,
Gương mặt người ai cũng xám xanh ,
Đơn giản vì đồng đất bạc màu, hoang hoá, hết tím hoa mua lại trắng mùa hoa sở. Thứ hoa dại vốn chỉ mọc ở ven đồi, sườn núi, đẹp thì có đẹp nhưng không nuôi sống nổi con người.
Vào đến Sài gòn, nếu nhà văn Dương Thu Hương đã phải ngồi thụp xuống vỉa hè vì đau xót, hẫng hụt trước một sự thực trần trụi: Nền văn minh mọi rợ chiến tháng nền văn minh hiện đại thì tôi cũng có những nỗi buồn tương tự. Đất nước liền một dải, non sông thu về một mối, nhưng lòng người đầy cách ngăn. Một con sông bến Hải, một vĩ tuyến 17 ngày và đêm, một nhịp cầu Hiền Lương vẫn tồn tại trong lòng mỗi con người. Dù là tình máu mủ, ruột thịt, anh em, họ hàng, bà con, cô bác vẫn không sao xoá nhoà được ranh giới của kẻ thua, người thắng, kẻ bắc, người Nam, kẻ lấn chiếm, người bị động...Khắp thành phố, sự phân biệt kị thì vẫn hằn lên trong từng ánh mắt, giọng nói, điệu cười. Các anh chị tôi tiếp đón một cách vừa phải , qua quýt, không thân cũng chẳng sơ. Nếu không có bác tôi làm cầu nối hẳn cuộc đón tiếp còn gượng gạo, buồn tủi hơn nữa. Đơn giản vì tôi là người miền Bắc, người của phe đối địch, bị đầu độc từ tấm bé, nên mọi lời ăn tiếng nói đều do "cha mẹ sinh con, đảng đoàn xã hội chủ nghĩa sinh tính"...Động mở miệng là nhắc đến bác Hồ, gọi tên thành phố cũng là thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải Sài Gòn, càng không dám nói "Sài Gòn hoa lệ" hay "hòn ngọc Viễn Đông". Đã thế còn luôn bảo vệ ý kiến mình theo đúng đường lối, chủ trương, chính sách, quan điểm của đảng và chính phủ. Ngay cả khi bác hỏi: "Ngoài Bắc, mỗi tháng được phát mấy lon sữa, hả con?" Cũng phải lên gân, lên cốt trả lời theo đúng những lời dạy dỗ khuyên bảo của thầy cô trên lớp học của mình: "Cần gì đâu bác, không một gram sữa, không một ký thịt nào mà vẫn đánh thắng bè lũ đế quốc và tay sai đấy thôi".
Biết bao ông bố bỏ lại vợ con ra căn cứ địa cách mạng rồi tập kết ra Bắc, trở về dắt theo cả vợ lẽ, con thêm . Biết con trai đi học tập cải tạo, con dâu một nách 4,5 con nhỏ, vẫn không một lần lên trại thăm nuôi, còn dài giọng trách: - "Ai biểu nó vô Việt Nam cộng hoà, quay súng bắn lại cách mạng, Giờ tao vô trại cũng có bảo lãnh cho nó ra được đâu"... khiến con dâu vì nghèo, đói, uất ức mà phải tự tử, bỏ lại bốn, năm đứa con côi cút, găm thêm vào lòng người chồng đang ngồi tù cải tạo một vết thương sâu hoắm
Trong khi người miền Bắc thích ăn món cua bể (bê của) hàng hoá rùng rùng chuyển động ra phía bắc, thì trong nam cứ dần dần nghèo đi, câu hát của người dân miền Nam như lưỡi dao đâm vào tim người miền Bắc đau nhói: " Đi ta đi giải phóng miền Nam, đi đến khi nào người dân không còn cái quần, thì ta còn chiến đấu, quét sạch chúng sinh , lời bác sui dại bên tai, chiến đấu cho đến ngày Nam, Bắc nghèo bằng nhau".
Một dân tộc bị qúa khứ lịch sử chia đôi thành hai vùng địa lý, chính trị, thuộc về hai chiến tuyến. Một vết cắt xuyên thấu mỗi gia đình, số phận, tưởng chừng giải phóng được rồi là tình người, no ấm về theo. Ai ngờ, vì những chính sách cai trị man dợ kéo dài mà kéo theo bao cảnh ba đào loạn ly, trước tiên là cảnh chia đàn xẻ nghé của tất cả các gia đình "nguỵ quân, nguỵ quyền" chồng, con, anh em vào trại cải tạo, vợ con ở lại nheo nhóc đói khổ, phải đương đầu với cuộc sống vô cùng khắc nghiệt cùng bao quyết sách man rợ, sai lầm chết người của đảng cộng sản: Tài sản bị cướp trắng sau cải tạo công thương nghiệp, giết chết cái gọi là mầm mống tư sản mại bản để đề cao lý tưởng xoá bỏ chế độ người áp bức bóc lột người. Đổi tiền "Nguỵ " ra tiền đảng với gía trị gần như không, đến mức người dân phải thốt lên đầy cay đắng khi cầm một nhúm tiền của đảng, bác trên tay:
Bố cạn tiền rồi cán bộ ơi,
Đổi tiền mà sao đến nỗi này
Chưa tiêu đã hoá tiêu đi hết
Chú phỉnh tôi rồi, chính phủ ơi"
Trong khi đại bộ phận người dân thành phố nghèo đi trông thấy, thì những anh bộ đội cụ Hồ, ba lô con cóc lép kẹp trên lưng với chiếc khung xe đạp, con búp bê nhựa xấu xí hôm nào, bỗng giàu lên một cách đáng ngờ. Từ vô sản thành hữu sản, còn người dân chịu cảnh đấu tranh giai cấp, cải tạo công thương nghiệp , nên đi từ hữu sản thành vô sản. Không những khốn khổ vì đời sống thấp kém, còn khốn khổ vì bị cán bộ cách mạng đè đầu cưỡi cổ, sách nhiễu lung tung.
Biết bao cán bộ lãnh đạo với khẩu hiệu - tưởng chừng bất di bất dịch như một chân lý sống: "Một cái kim, sợi chỉ của dân không lấy" , bỗng vụt hiện lên thành các quan cách mạng, quan đồng chí. Vừa ngủ quên trên ngai vàng quyền lực, chia nhau quả thực, vừa quay lưng lại nỗi khổ của dân, hà hiếp cai trị dân, dù đó là những người từng nuôi dưỡng bao bọc che chở cho mình trong suốt những ngày cách mạng còn gian khổ cam go nhất. Bao nhiêu tàn dư đế, quốc, phong kiến, tưởng đào tận gốc, trốc tận rễ bỗng rùng rùng trở lại, gấp cả trăm, nghìn lần những tiêu cực yếu kém của thời kỳ tồi tệ, hà khắc, phong kiến trước kia- tàn dư của chế độ mới xã hội chủ nghĩa. Càng giành được chính quyền, giành được quyền tự chủ, tự quyết thì càng lòi sự dốt nát, bất lực trong phương pháp quản lý của đảng cộng sản. Đất nước liền một dải nhưng lại thực hiện chính sách, ngăn sông, cấm chợ, khiến 400 quận, huyện trong cả nước biến thành 400 lô cốt, pháo đài riêng biệt...Từ Lạng Sơn tới mũi Cà Mau, đất nước bị băm nát thành trăm nghìn mảnh vụn bởi các trạm gác, chốt canh, nhân viên thuế vụ v.v Chỉ đem cân gaọ, lạng thịt từ tỉnh này sang tỉnh khác, huyện này sang huyện khác đã bị coi là buôn lậu và bị phạt, bị bắt, bị nhốt vô tội vạ, khiến lòng dân tứ tán ...Làn sóng di tản ồ ạt, di tản bằng mọi giá, gần 90% các sĩ quan ra khỏi trại cải tạo trở về là cùng vợ con bỏ đất nước ra đi, tạo thành một làn sóng lưu vong nhiều không kể xiết, nạn thuyền nhân khủng khiếp nhất thế giới...Chưa kể các trại tù mọc lên như nấm suốt dọc bờ biển Đông để nhốt người vượt biển. Hiếm có người nào đi một lần đã trót lọt. Người bỏ mình trên biển thẳm, người bị bắt hết lần này lần khác, người trở thành nạn nhân của bọn hải tặc Thái Lan v.v Đau thương nhiều không kể xiết... Đất nước không phải của toàn dân tộc Việt Nam như lời cha già dân tộc nói mà chỉ là của một phe nhóm những kẻ lãnh đạo cộng sản, còn những người dân thấp cổ bé học thì thuộc tầng lớp bị trị, bị cai quản, đầy áp đặt thô bạo và phân biệt đối xử không khác gì bài học lịch sử đau xót của cả nghìn năm trước đó: "Được làm vua, thua làm giặc". Hễ là người miền Bắc dù không có chứng chỉ văn bằng, năng lực lãnh đạo, quản lý, nhưng đều được cất nhắc lên thành cán bộ. Con em " Nguỵ quân, nguỵ quyền" bị phân biệt đối xử, bị xem xét về lý lịch, thành phần . Bao nhiêu khẩu hiệu dùng để tập hợp lực lượng, thu hút quần chúng sớm đến ngày chiến thắng, giờ trở thành đầu môi, chót lưỡi , thành sự bội ước với số đông đồng bào, đồng chí, anh em, cô bác. Xã hội bị tha hoá , tuột dốc từng ngày. Thời điểm trước "giải phóng", miền Nam Việt Nam dưới sự chỉ đạo của chính thể cộng hoà, 21 triệu người đã ra khỏi sự đói nghèo luẩn quẩn của nghìn năm lịch sử, nay nhờ được đảng cộng sản "giải phóng" mà cả nước húp chung một niêu cháo loãng, cả nước lặn ngụp trong những ô tem phiếu, nhá bo bo, mì hạt sái hàm, ăn khoai và củ mì đớ họng. Từ chỗ vượt xa Nam Hàn và Thái Lan trong thập kỷ 70, thì ngay sau "giải phóng" một năm, đã kém xa Nam Hàn và Thái Lan về mọi mặt. Mượn lý tưởng "xoá bỏ chế độ người bóc lột người" để liên tục đánh vào tầng lớp hữu sản, để dần dần thay thế vai trò, từ vô sản thành hữu sản và ngược lại . Ngọn cờ của giai cấp vô sản càng giương cao thì tầng lớp cán bộ, lãnh đạo đảng càng giàu lên một cách bất ngờ, trong một thời gian vô cùng ngắn ngủi , trong khi bao nhiêu căn cứ cách mạng, bao nhiêu vùng nông thôn rộng lớn phải sống cảnh giật gấu vá vai, ăn bữa nay, lo bữa mai thì cán bộ cộng sản ăn chơi phè phỡn , ăn luôn cả thành tựu cách mạng bao năm gây dựng trong lòng dân . Khắp thành phố khi đó là một bức tranh hiện thực trơ trụi , xám mgoét, hậu quả tất yếu của sự lãnh đạo dốt nát, cộng với chủ nghĩa cơ hội, ăn xổi ở thì, cũng như kiêu ngạo, ảo tưởng của kẻ chiến thắng. Vừa công kênh cái dốt, đề cao cái ác, lại vừa giày xéo lên lương tâm của những người lương thiện, chưa kể còn cố tình bám vào những lý thuyết sách vở lỗi thời là chủ nghĩa Mác, Lê để níu kéo sự phát triển hài hoà của cuộc sống . Càng giương cao ngọn cờ "bách chiến bách thắng" trong mọi lĩnh vực thì càng khủng hoảng, thua lỗ. Càng nêu cao khẩu hiệu "nói thẳng , nói thật , đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật" thì càng dối lừa, gian trá, khiến cho bài toán kinh tế mỗi ngày lại mang thêm nghiệm âm
Hàng nghìn gia đình bị dồn lên khu kinh tế mới, mới chẳng thấy đâu, chỉ thấy mênh mông mịt mùng là rừng, núi, vách đá dựng đứng. Ngày nắng rát da, đêm lạnh thấu xương. Một ngày trải đủ 4 mùa xuân, hạ, thu, đông, chẳng biết làm gì để ăn, để sống đành ôm nhau mà khóc, ôm nhau mà sợ, rồi không thể ôm nhau mà chết, đành dắt díu lếch thếch kéo nhau về lại nơi ở cũ, vạ vật nơi xó chợ, lề đường, vì nhà cũ đã được quan cách mạng chiếm cứ, trưng dụng vô điều kiện ...
Ba mươi ngày ở lại Miền Nam thâm nhập thực tế, trở ra lòng tôi trĩu nặng. Cũng như tất cả những người dân miền Nam khác trong thời kỳ đó, tôi không nhận được gì từ chế độ mới xã hội chủ nghĩa mà chỉ cảm được nỗi đau, nỗi khổ, nỗi bàng hoàng, hẫng hụt, bất bình của người dân với chính quyền cộng sản
33 năm qua rồi , nỗi đau còn đọng lại, vẹn nguyên, làm tổ, kết kén trong hồn tôi, càng ngày càng mưng mủ, và bây giờ vỡ toác trên trang giấy ...
Bệnh viện Châm Cứu 28-4-2008
Trần Khải Thanh Thuỷ
Tác giả: Trần Khải Thanh Thủy
Sinh năm 1960 nên ngày 30-4-1975 tôi tròn 15 tuổi, đang còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông trung học. Tin miền Nam hoàn toàn giải phóng dội tới từng công sở , xí nghiệp, trường học làm nức lòng toàn dân , nét mặt ai cũng hân hoan khúc khải hoàn ca. Lây tâm tâm trạng chung của mọi người , tôi cũng cảm thấy nhẹ bỗng như người không trọng lượng. Cảm giác của người chiến thắng, nở hoa trong hồn, vui mừng không sao kể xiết. Khắp góc chợ, vỉa hè, đâu đâu người dân cũng đưa tin nước nhà giải phóng, chế độ nguỵ quyền sụp đổ. Các quầy báo đông nghịt người xếp hàng mua báo quân đội, nhân dân, Hà Nội mới, để xem tin chiến thắng . Một cuộc cách mạng long trời, lở đất, một chiến thắng vĩ đại của quân và dân Việt Nam, cũng là một cuộc cách mạng mùa thu tháng 8 -1945 lần thứ hai của người Việt Nam, thời kỳ khổ ải trường kỳ kháng chiến, thắt lưng buộc bụng qua rồi ,giờ chỉ còn xây dựng đất nước to đẹp đàng hoàng gấp 10 lần xưa thôi....
Mẹ tôi mừng gấp đôi vì đã hơn 20 năm trời xa cách , nay mới gặp được chị cả, di cư vào Nam từ 1954 theo chồng. Người chị mà vì có họ hàng dây mơ, rễ má, máu mủ ruột thịt mà cả nhà phải ngậm đắng, nuốt cay, tám anh chị em trong nhà, kể cả mẹ tôi không ai được kết nạp đảng dù thoát ly, làm đường, thanh niên xung phong từ năm 16 tuổi, phải sống, cống hiến, lao động và chịu đựng hơn gương Bác Hồ vĩ đại cả ngàn vạn lần , vẫn ra rìa, vì trong gia đình có người đầu hàng , theo địch... một vết nhơ trong gia đình, dòng tộc mà ngay cả khi thống nhất đất nước vẫn không thể nào gột rửa được
Loay hay vất vả mãi, tận năm 1976 mẹ tôi mới xin được cán bộ tổ chức cơ quan một tờ giấy phép vào Nam ( thời gian đầu, nhà nước chỉ xét các đối tượng trong diện vợ chồng, con cái, bố mẹ...) khỏi phải nói đến sự mừng tủi của hai chị em sau 21 năm xa cách. Bác ôm lấy mẹ tôi khóc khi hay tin cả bố và mẹ đẻ đã mất ngay sau khi tiến hành cải cách ruộng đất, nhà bị đưa vào diện địa chủ, bóc lột. Ông tôi khi ấy đang làm hiệu trưởng trường cấp I, vì uất ức mà phải giằng kính khỏi mắt đập mạnh xuống nền nhà cho mắt kính vỡ tan để lấy một mảnh nhọn và sắc nhất rạch ruột tự tử ngay trước mặt cán bộ cải cách...Khi cả đoạn ruột lòi ra ngoài ổ bụng, một viên bác sĩ người Pháp vội vàng chạy đến băng bó, cấp cứu, nhưng ông tôi đưa tay ra hiệu không cần thiết, kèm câu nói chứng tỏ sự lựa chọn đúng đắn của mình: "Một xã hội mà kẻ vô văn hoá lên cầm đầu, trừng trị người lương thiện, cũng là người đã góp phần nuôi cả đại đội chiến sĩ trong nhà ăn no đánh thắng, giết giặc, lập công...thì xã hội ấy chỉ còn là sự đồi bại, tha hoá, cướp bóc, trừng trị, không những không đưa đất nước ra khỏi quỹ đạo luẩn quẩn của nghìn năm Bắc thuộc, mà còn không bằng xã hội trong thời kỳ phong kiến thối nát"...Một xã hội bất công, vô lý như thế thì tôi còn sống làm gì ? Làm sao cam tâm nhìn cảnh đất nước bị tàn phá, lương dân bị giày xéo ....Đời người chỉ chết có một lần, sống mà phải mang vết nhơ gia đình mình là địa chủ, chuyên áp bức, bóc lột dân lành thì sống sao nổi?
Nói lại những lời hùng hồn trăng trối cho viên bác sĩ người Pháp nghe xong, ông tôi nhắm mắt trút hơi thở cuối cùng. Bà tôi không chịu đựng nổi cái chết phi lý, đường đột của ông, lại chứng kiến cảnh mất nhà, cướp đất của lũ cán bộ cốt cán, từng ăn mòn bát, ngồi mòn chiếu nhà mình, một điều u, hai điều con, nay giở mặt gọi bà là địa chủ bóc lột, đòi đưa ra đấu tố, trong khi con cái ly tán khắp các phương trời góc bể, Từ Hải Phòng, Lạng Sơn, Hà Tây , Hà Nội v.v nên cũng ốm đau , mòn mỏi, đành nhắm mắt, xuôi tay khi tuổi đời chưa tròn một vòng hoa giáp...
Khóc cho bố mẹ chán, bác tôi quay ra khóc cho mình, cho cả đại gia đình 9 đứa con, gần 30 chục cháu nội ngoại cùng 9 cặp dâu rể đang trong cảnh bấn loạn tinh thần. Chỉ vì tin ông bà còn sống mà nấn ná ở lại, cấm con cái không được "lầm đường lạc bước theo giặc, bỏ quê cha đất tổ mà đi"... Giờ cơ hội đã lỡ, tất cả đều trong cảnh sống giở chết giở, 6 anh con trai là sĩ quan cộng hoà đều phải đi học tập cải tạo mút mùa, vợ con không ai nuôi nấng, chăm sóc ...Đang từ xã hội tiêu thụ, gi gỉ gì gi, cái gì cũng có, thành xã hội bao nhiều, cấp ít, gi gỉ gì gi, cái gì cũng thiếu ...ai cũng hoang mang chán nản, bởi cuộc sống đã bị cướp đi những gì quý giá, căn bản nhất, không còn là sống mà chỉ là sự tồn tại, vạ vật cho qua ngày đoạn tháng, đau khổ đến chết và đói nghèo đến chết, thậm chí có người không chịu đựng nổi cảnh địa ngục trần gian do bọn phát xít mới đưa lại đã lặng lẽ tìm đến cái chết, hòng làm đứt tung mọi sự ràng buộc, gian díu với đời
Khi tôi vào, điều cảm nhận đầu tiên của tôi là sự hụt hẫng, suốt dọc đường trên chuyến tàu xuyệt Việt, tầm mắt chỉ được nuôi dưỡng bằng cảnh nghèo, cái đói . Không phải "Đường vô xứ nghệ quanh quanh, non xanh, nước biếc như tranh hoạ đồ" như thơ Tố Hữu miêu tả mà là :
Đất nước mình đâu cũng mái nhà gianh ,
Gương mặt người ai cũng xám xanh ,
Đơn giản vì đồng đất bạc màu, hoang hoá, hết tím hoa mua lại trắng mùa hoa sở. Thứ hoa dại vốn chỉ mọc ở ven đồi, sườn núi, đẹp thì có đẹp nhưng không nuôi sống nổi con người.
Vào đến Sài gòn, nếu nhà văn Dương Thu Hương đã phải ngồi thụp xuống vỉa hè vì đau xót, hẫng hụt trước một sự thực trần trụi: Nền văn minh mọi rợ chiến tháng nền văn minh hiện đại thì tôi cũng có những nỗi buồn tương tự. Đất nước liền một dải, non sông thu về một mối, nhưng lòng người đầy cách ngăn. Một con sông bến Hải, một vĩ tuyến 17 ngày và đêm, một nhịp cầu Hiền Lương vẫn tồn tại trong lòng mỗi con người. Dù là tình máu mủ, ruột thịt, anh em, họ hàng, bà con, cô bác vẫn không sao xoá nhoà được ranh giới của kẻ thua, người thắng, kẻ bắc, người Nam, kẻ lấn chiếm, người bị động...Khắp thành phố, sự phân biệt kị thì vẫn hằn lên trong từng ánh mắt, giọng nói, điệu cười. Các anh chị tôi tiếp đón một cách vừa phải , qua quýt, không thân cũng chẳng sơ. Nếu không có bác tôi làm cầu nối hẳn cuộc đón tiếp còn gượng gạo, buồn tủi hơn nữa. Đơn giản vì tôi là người miền Bắc, người của phe đối địch, bị đầu độc từ tấm bé, nên mọi lời ăn tiếng nói đều do "cha mẹ sinh con, đảng đoàn xã hội chủ nghĩa sinh tính"...Động mở miệng là nhắc đến bác Hồ, gọi tên thành phố cũng là thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải Sài Gòn, càng không dám nói "Sài Gòn hoa lệ" hay "hòn ngọc Viễn Đông". Đã thế còn luôn bảo vệ ý kiến mình theo đúng đường lối, chủ trương, chính sách, quan điểm của đảng và chính phủ. Ngay cả khi bác hỏi: "Ngoài Bắc, mỗi tháng được phát mấy lon sữa, hả con?" Cũng phải lên gân, lên cốt trả lời theo đúng những lời dạy dỗ khuyên bảo của thầy cô trên lớp học của mình: "Cần gì đâu bác, không một gram sữa, không một ký thịt nào mà vẫn đánh thắng bè lũ đế quốc và tay sai đấy thôi".
Biết bao ông bố bỏ lại vợ con ra căn cứ địa cách mạng rồi tập kết ra Bắc, trở về dắt theo cả vợ lẽ, con thêm . Biết con trai đi học tập cải tạo, con dâu một nách 4,5 con nhỏ, vẫn không một lần lên trại thăm nuôi, còn dài giọng trách: - "Ai biểu nó vô Việt Nam cộng hoà, quay súng bắn lại cách mạng, Giờ tao vô trại cũng có bảo lãnh cho nó ra được đâu"... khiến con dâu vì nghèo, đói, uất ức mà phải tự tử, bỏ lại bốn, năm đứa con côi cút, găm thêm vào lòng người chồng đang ngồi tù cải tạo một vết thương sâu hoắm
Trong khi người miền Bắc thích ăn món cua bể (bê của) hàng hoá rùng rùng chuyển động ra phía bắc, thì trong nam cứ dần dần nghèo đi, câu hát của người dân miền Nam như lưỡi dao đâm vào tim người miền Bắc đau nhói: " Đi ta đi giải phóng miền Nam, đi đến khi nào người dân không còn cái quần, thì ta còn chiến đấu, quét sạch chúng sinh , lời bác sui dại bên tai, chiến đấu cho đến ngày Nam, Bắc nghèo bằng nhau".
Một dân tộc bị qúa khứ lịch sử chia đôi thành hai vùng địa lý, chính trị, thuộc về hai chiến tuyến. Một vết cắt xuyên thấu mỗi gia đình, số phận, tưởng chừng giải phóng được rồi là tình người, no ấm về theo. Ai ngờ, vì những chính sách cai trị man dợ kéo dài mà kéo theo bao cảnh ba đào loạn ly, trước tiên là cảnh chia đàn xẻ nghé của tất cả các gia đình "nguỵ quân, nguỵ quyền" chồng, con, anh em vào trại cải tạo, vợ con ở lại nheo nhóc đói khổ, phải đương đầu với cuộc sống vô cùng khắc nghiệt cùng bao quyết sách man rợ, sai lầm chết người của đảng cộng sản: Tài sản bị cướp trắng sau cải tạo công thương nghiệp, giết chết cái gọi là mầm mống tư sản mại bản để đề cao lý tưởng xoá bỏ chế độ người áp bức bóc lột người. Đổi tiền "Nguỵ " ra tiền đảng với gía trị gần như không, đến mức người dân phải thốt lên đầy cay đắng khi cầm một nhúm tiền của đảng, bác trên tay:
Bố cạn tiền rồi cán bộ ơi,
Đổi tiền mà sao đến nỗi này
Chưa tiêu đã hoá tiêu đi hết
Chú phỉnh tôi rồi, chính phủ ơi"
Trong khi đại bộ phận người dân thành phố nghèo đi trông thấy, thì những anh bộ đội cụ Hồ, ba lô con cóc lép kẹp trên lưng với chiếc khung xe đạp, con búp bê nhựa xấu xí hôm nào, bỗng giàu lên một cách đáng ngờ. Từ vô sản thành hữu sản, còn người dân chịu cảnh đấu tranh giai cấp, cải tạo công thương nghiệp , nên đi từ hữu sản thành vô sản. Không những khốn khổ vì đời sống thấp kém, còn khốn khổ vì bị cán bộ cách mạng đè đầu cưỡi cổ, sách nhiễu lung tung.
Biết bao cán bộ lãnh đạo với khẩu hiệu - tưởng chừng bất di bất dịch như một chân lý sống: "Một cái kim, sợi chỉ của dân không lấy" , bỗng vụt hiện lên thành các quan cách mạng, quan đồng chí. Vừa ngủ quên trên ngai vàng quyền lực, chia nhau quả thực, vừa quay lưng lại nỗi khổ của dân, hà hiếp cai trị dân, dù đó là những người từng nuôi dưỡng bao bọc che chở cho mình trong suốt những ngày cách mạng còn gian khổ cam go nhất. Bao nhiêu tàn dư đế, quốc, phong kiến, tưởng đào tận gốc, trốc tận rễ bỗng rùng rùng trở lại, gấp cả trăm, nghìn lần những tiêu cực yếu kém của thời kỳ tồi tệ, hà khắc, phong kiến trước kia- tàn dư của chế độ mới xã hội chủ nghĩa. Càng giành được chính quyền, giành được quyền tự chủ, tự quyết thì càng lòi sự dốt nát, bất lực trong phương pháp quản lý của đảng cộng sản. Đất nước liền một dải nhưng lại thực hiện chính sách, ngăn sông, cấm chợ, khiến 400 quận, huyện trong cả nước biến thành 400 lô cốt, pháo đài riêng biệt...Từ Lạng Sơn tới mũi Cà Mau, đất nước bị băm nát thành trăm nghìn mảnh vụn bởi các trạm gác, chốt canh, nhân viên thuế vụ v.v Chỉ đem cân gaọ, lạng thịt từ tỉnh này sang tỉnh khác, huyện này sang huyện khác đã bị coi là buôn lậu và bị phạt, bị bắt, bị nhốt vô tội vạ, khiến lòng dân tứ tán ...Làn sóng di tản ồ ạt, di tản bằng mọi giá, gần 90% các sĩ quan ra khỏi trại cải tạo trở về là cùng vợ con bỏ đất nước ra đi, tạo thành một làn sóng lưu vong nhiều không kể xiết, nạn thuyền nhân khủng khiếp nhất thế giới...Chưa kể các trại tù mọc lên như nấm suốt dọc bờ biển Đông để nhốt người vượt biển. Hiếm có người nào đi một lần đã trót lọt. Người bỏ mình trên biển thẳm, người bị bắt hết lần này lần khác, người trở thành nạn nhân của bọn hải tặc Thái Lan v.v Đau thương nhiều không kể xiết... Đất nước không phải của toàn dân tộc Việt Nam như lời cha già dân tộc nói mà chỉ là của một phe nhóm những kẻ lãnh đạo cộng sản, còn những người dân thấp cổ bé học thì thuộc tầng lớp bị trị, bị cai quản, đầy áp đặt thô bạo và phân biệt đối xử không khác gì bài học lịch sử đau xót của cả nghìn năm trước đó: "Được làm vua, thua làm giặc". Hễ là người miền Bắc dù không có chứng chỉ văn bằng, năng lực lãnh đạo, quản lý, nhưng đều được cất nhắc lên thành cán bộ. Con em " Nguỵ quân, nguỵ quyền" bị phân biệt đối xử, bị xem xét về lý lịch, thành phần . Bao nhiêu khẩu hiệu dùng để tập hợp lực lượng, thu hút quần chúng sớm đến ngày chiến thắng, giờ trở thành đầu môi, chót lưỡi , thành sự bội ước với số đông đồng bào, đồng chí, anh em, cô bác. Xã hội bị tha hoá , tuột dốc từng ngày. Thời điểm trước "giải phóng", miền Nam Việt Nam dưới sự chỉ đạo của chính thể cộng hoà, 21 triệu người đã ra khỏi sự đói nghèo luẩn quẩn của nghìn năm lịch sử, nay nhờ được đảng cộng sản "giải phóng" mà cả nước húp chung một niêu cháo loãng, cả nước lặn ngụp trong những ô tem phiếu, nhá bo bo, mì hạt sái hàm, ăn khoai và củ mì đớ họng. Từ chỗ vượt xa Nam Hàn và Thái Lan trong thập kỷ 70, thì ngay sau "giải phóng" một năm, đã kém xa Nam Hàn và Thái Lan về mọi mặt. Mượn lý tưởng "xoá bỏ chế độ người bóc lột người" để liên tục đánh vào tầng lớp hữu sản, để dần dần thay thế vai trò, từ vô sản thành hữu sản và ngược lại . Ngọn cờ của giai cấp vô sản càng giương cao thì tầng lớp cán bộ, lãnh đạo đảng càng giàu lên một cách bất ngờ, trong một thời gian vô cùng ngắn ngủi , trong khi bao nhiêu căn cứ cách mạng, bao nhiêu vùng nông thôn rộng lớn phải sống cảnh giật gấu vá vai, ăn bữa nay, lo bữa mai thì cán bộ cộng sản ăn chơi phè phỡn , ăn luôn cả thành tựu cách mạng bao năm gây dựng trong lòng dân . Khắp thành phố khi đó là một bức tranh hiện thực trơ trụi , xám mgoét, hậu quả tất yếu của sự lãnh đạo dốt nát, cộng với chủ nghĩa cơ hội, ăn xổi ở thì, cũng như kiêu ngạo, ảo tưởng của kẻ chiến thắng. Vừa công kênh cái dốt, đề cao cái ác, lại vừa giày xéo lên lương tâm của những người lương thiện, chưa kể còn cố tình bám vào những lý thuyết sách vở lỗi thời là chủ nghĩa Mác, Lê để níu kéo sự phát triển hài hoà của cuộc sống . Càng giương cao ngọn cờ "bách chiến bách thắng" trong mọi lĩnh vực thì càng khủng hoảng, thua lỗ. Càng nêu cao khẩu hiệu "nói thẳng , nói thật , đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật" thì càng dối lừa, gian trá, khiến cho bài toán kinh tế mỗi ngày lại mang thêm nghiệm âm
Hàng nghìn gia đình bị dồn lên khu kinh tế mới, mới chẳng thấy đâu, chỉ thấy mênh mông mịt mùng là rừng, núi, vách đá dựng đứng. Ngày nắng rát da, đêm lạnh thấu xương. Một ngày trải đủ 4 mùa xuân, hạ, thu, đông, chẳng biết làm gì để ăn, để sống đành ôm nhau mà khóc, ôm nhau mà sợ, rồi không thể ôm nhau mà chết, đành dắt díu lếch thếch kéo nhau về lại nơi ở cũ, vạ vật nơi xó chợ, lề đường, vì nhà cũ đã được quan cách mạng chiếm cứ, trưng dụng vô điều kiện ...
Ba mươi ngày ở lại Miền Nam thâm nhập thực tế, trở ra lòng tôi trĩu nặng. Cũng như tất cả những người dân miền Nam khác trong thời kỳ đó, tôi không nhận được gì từ chế độ mới xã hội chủ nghĩa mà chỉ cảm được nỗi đau, nỗi khổ, nỗi bàng hoàng, hẫng hụt, bất bình của người dân với chính quyền cộng sản
33 năm qua rồi , nỗi đau còn đọng lại, vẹn nguyên, làm tổ, kết kén trong hồn tôi, càng ngày càng mưng mủ, và bây giờ vỡ toác trên trang giấy ...
Bệnh viện Châm Cứu 28-4-2008
Trần Khải Thanh Thuỷ
Áo Gấm Về Làng và Cỏ Đuôi Chó
Hãy Nhìn Kỹ Đoạn Phim Này
Mời xem cảnh thuyền nhân VN tai Pulau-Bidong 30 năm về trước trong ống kính của CBS 60 minute
30 năm về truớc với cảnh phóng viên Ed Bradley áo quần chửng chạc nhào xuống biển để tiếp cứu thuyền nhân.
Hình ảnh này của phóng viên Ed Bradley thời còn trai trẻ đó đã huy động biết bao phản ứng quốc tế phối hợp hành động để trợ giúp thuyền nhân nhân.
Không lẽ thảm cảnh đánh động lương tâm thế giới này đã nhạt nhoà trong ký ức của ngừời việt tỵ nạn chúng ta tại hải ngoại?

Tháng tư đen, không gởi tiền về VN, không về VN du hý!
Tháng 5/2009, hưởng ứng lời kêu gọi của HT Thích Quảng Độ,
kêu gọi đồng bào VN trong nước phản kháng tại gia,
bất hợp tác với Cộng Sản Hà Nội dày xéo và bán đất nước cho Tầu Cộng.
Hãy Nhìn Kỹ Đoạn Phim Này
Mời xem cảnh thuyền nhân VN tai Pulau-Bidong 30 năm về trước trong ống kính của CBS 60 minute
30 năm về truớc với cảnh phóng viên Ed Bradley áo quần chửng chạc nhào xuống biển để tiếp cứu thuyền nhân.
Hình ảnh này của phóng viên Ed Bradley thời còn trai trẻ đó đã huy động biết bao phản ứng quốc tế phối hợp hành động để trợ giúp thuyền nhân nhân.
Không lẽ thảm cảnh đánh động lương tâm thế giới này đã nhạt nhoà trong ký ức của ngừời việt tỵ nạn chúng ta tại hải ngoại?

Tháng tư đen, không gởi tiền về VN, không về VN du hý!
Tháng 5/2009, hưởng ứng lời kêu gọi của HT Thích Quảng Độ,
kêu gọi đồng bào VN trong nước phản kháng tại gia,
bất hợp tác với Cộng Sản Hà Nội dày xéo và bán đất nước cho Tầu Cộng.
10 bức tượng siêu lạ đời
Bạn sẽ tưởng tượng như thế nào khi một chú cá heo nằm “chổng vó” trên mái nhà?
Tượng chân dung một người lại được đặt ngược hay những bức tượng nửa nằm dưới đất, nửa “trồi” trên mặt đường. Câu trả lời sẽ nằm dưới đây.
1.Cá mập nằm trên mái nhà

Bức tượng này trở thành một điều khiến Headington trở nên nổi tiếng khi có một chú cá mập tọa lạc ngay trên mái nhà
ở đường phố 2 New High, Headington, Oxford được lấy cảm hứng từ một câu chuyện có thật vào ngày 8/9/1986.
Ngôi nhà gốc của nó được xây dựng khoảng năm 1960 nhưng hiện tại đã không còn nguyên vẹn và nó bất ngờ trở thành trung tâm sự chú ý của thế giới.
Và dĩ nhiên hiện tại bức tượng này vẫn còn được đặt ở vị trí này.
2. Chiếc vòi nước lơ lửng

Chiếc vòi nước này nằm lơ lửng giữa không khí và không ngừng cung cấp nước.
Trên thực tế là có một ống dẫn bí ẩn để có thể khiến nó hoạt động tự nhiên. Vòi nước độc đáo này hiện tọa lạc tại Aqualand, Cadiz.
3. La Trobe

Bức tượng Charles La Trobe ở trung tâm Melbourne được thực hiện vào cuối tháng 6/2006.
Điểm độc đáo của nó chính là nó được dựng ngược so với những bức tượng thông thường.
4. Potsdam

Chú hà mã này được treo lơ lửng trên một dàn sắt tại Potsdam
5. Santa Fe, New Mexico

Chân dung của thiếu nữ này một nửa thì nằm dưới mặt đất còn một nửa lại nằm ngay trên đường đi.
Do đó bất kì du khách qua đường nào đều có thể nán lại và vuốt ve nó. Hiện tại nó đang tọa lạc ở Santa Fe, New Mexico.
6. Người đàn ông chăm chỉ ở Bratislava

Chân dung của người đàn ông này chỉ “trồi” trên mặt đất với hai cánh tay khoanh lại và cái đầu với khuôn mặt
nhìn rất mãn nguyện ngắm dòng người qua lại. Nó được đặt tại Bratislava.
7. Qủy lùn khổng lồ Fremont

Bức tượng quỷ lùn khổng lồ này nằm dưới gầm cầu Aurora, Seattle, Washington từ năm 1990.
Nó được sáng tạo bởi 4 nghệ sĩ đến từ vùng Seattle: Steve Badanes, Will Martin, Donna Walter và Ross Whitehead. Bức tượng này cao khoảng hơn 2,5m.
8. Chú bò tan chảy

Chân dung của chú bò màu xanh này không những bị dựng ngược mà còn đang bị tan chảy ra.
Nó đang nằm “bất động” tại một quảng trường ở Budapest. 9. Eating a
9. Tranh nhau một chiếc bánh

Nằm ở Seoul, Hàn Quốc trước bảo tàng Bukcheon. Tác giả của nó là nhà điêu khắc Ku BomJu.
10. Los Angeles

Người đàn ông này bỗng dưng gục đầu vào phần tường của tòa nhà Ernst & Young.
Toàn bộ cơ thể anh ta hoàn toàn bình thường ngoại trừ việc chiếc đầu đã biến mất trong bức tường này.
Khôi Nguyên
Bạn sẽ tưởng tượng như thế nào khi một chú cá heo nằm “chổng vó” trên mái nhà?
Tượng chân dung một người lại được đặt ngược hay những bức tượng nửa nằm dưới đất, nửa “trồi” trên mặt đường. Câu trả lời sẽ nằm dưới đây.
1.Cá mập nằm trên mái nhà

Bức tượng này trở thành một điều khiến Headington trở nên nổi tiếng khi có một chú cá mập tọa lạc ngay trên mái nhà
ở đường phố 2 New High, Headington, Oxford được lấy cảm hứng từ một câu chuyện có thật vào ngày 8/9/1986.
Ngôi nhà gốc của nó được xây dựng khoảng năm 1960 nhưng hiện tại đã không còn nguyên vẹn và nó bất ngờ trở thành trung tâm sự chú ý của thế giới.
Và dĩ nhiên hiện tại bức tượng này vẫn còn được đặt ở vị trí này.
2. Chiếc vòi nước lơ lửng

Chiếc vòi nước này nằm lơ lửng giữa không khí và không ngừng cung cấp nước.
Trên thực tế là có một ống dẫn bí ẩn để có thể khiến nó hoạt động tự nhiên. Vòi nước độc đáo này hiện tọa lạc tại Aqualand, Cadiz.
3. La Trobe

Bức tượng Charles La Trobe ở trung tâm Melbourne được thực hiện vào cuối tháng 6/2006.
Điểm độc đáo của nó chính là nó được dựng ngược so với những bức tượng thông thường.
4. Potsdam

Chú hà mã này được treo lơ lửng trên một dàn sắt tại Potsdam
5. Santa Fe, New Mexico

Chân dung của thiếu nữ này một nửa thì nằm dưới mặt đất còn một nửa lại nằm ngay trên đường đi.
Do đó bất kì du khách qua đường nào đều có thể nán lại và vuốt ve nó. Hiện tại nó đang tọa lạc ở Santa Fe, New Mexico.
6. Người đàn ông chăm chỉ ở Bratislava

Chân dung của người đàn ông này chỉ “trồi” trên mặt đất với hai cánh tay khoanh lại và cái đầu với khuôn mặt
nhìn rất mãn nguyện ngắm dòng người qua lại. Nó được đặt tại Bratislava.
7. Qủy lùn khổng lồ Fremont

Bức tượng quỷ lùn khổng lồ này nằm dưới gầm cầu Aurora, Seattle, Washington từ năm 1990.
Nó được sáng tạo bởi 4 nghệ sĩ đến từ vùng Seattle: Steve Badanes, Will Martin, Donna Walter và Ross Whitehead. Bức tượng này cao khoảng hơn 2,5m.
8. Chú bò tan chảy

Chân dung của chú bò màu xanh này không những bị dựng ngược mà còn đang bị tan chảy ra.
Nó đang nằm “bất động” tại một quảng trường ở Budapest. 9. Eating a
9. Tranh nhau một chiếc bánh

Nằm ở Seoul, Hàn Quốc trước bảo tàng Bukcheon. Tác giả của nó là nhà điêu khắc Ku BomJu.
10. Los Angeles

Người đàn ông này bỗng dưng gục đầu vào phần tường của tòa nhà Ernst & Young.
Toàn bộ cơ thể anh ta hoàn toàn bình thường ngoại trừ việc chiếc đầu đã biến mất trong bức tường này.
Khôi Nguyên

BÀI THƠ cho THÁNG TƯ ĐEN
(gởi về quê hương và đồng bào Việt Nam thân mến)
Năm tháng theo nhau rụng xuống đời
Tháng Tư lại đến, biển sầu khơi !
Tháng Tư này nữa là bao nhỉ
Mà vẫn xa quê, sống phận hời ???
Tóc đã phai xanh, tuổi đã chiều
Chưa ngày thanh thản, vẫn đăm chiêu
Phần thương dân tộc trong sầu tủi
Phần xót quê hương đỏ giáo điều ...
Hỡi những trái tim, những tấm lòng
Cơ trời vận nước buổi suy vong
Hãy xin gìn giữ niềm trung nghĩa
Đừng để ngàn sau hổ giống dòng
Đừng để tàn phai nét đẹp xưa
Của trang thanh sử, dẫu giao mùa
Chao ơi, từ đỏ cơn hồng thủy
Bao kẻ xuôi dòng theo gió mưa !!!
Nhìn những lòng thay, những nắng phai
Mà tim thổn thức nhịp u hoài
Mà đau mà xót niềm hưng phế
Thương bóng Loa Thành, thương Ức Trai !
Giọt lệ đôi phen đã ngỡ ngàng
Khi người đổi bến, kẻ sang ngang
Thịnh suy mới rõ đời đen trắng
Mới thấy thau kia lẫn với vàng !
Dốc thẳm, đường chênh vắng bóng người
Âm thầm chiến sĩ bước đơn côi
Con thuyền chính nghĩa, lòng son sắt
Xin chớ phong ba mãi dập vùi !
Mấy chục năm dài vẫn đợi mong
Đợi anh góp sức, chị chung lòng
Đứng lên trừ hết loài gian ác
Để trả cho tròn nợ núi sông
Rồi sẽ bình minh rực tháng Tư
Quê hương nhất định hết lao tù
Cờ Vàng tô thắm khung trời Việt
Tổ quốc vinh quang, sạch bóng thù
Ngô Minh Hằng

