QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

Nhạc Chủ Đề Về Người Lính
Bài đã phát thanh trên Radio SBS Melbourne, Victoria, Australia


Hung Tran
SBS Radio



Trên quê huơng tự do miền Nam Việt Nam, trong hơn 20 năm chiến tranh, có những nguời nhận lãnh phần thức cho nguời khác ngủ, chết cho nguời khác sống. Đó là những nguời lính Việt Nam Cộng Hoà.

Họ là ai?

Họ là những chàng trai mắt sáng, môi tươi, tâm hồn trẻ trung phơi phới tinh tươm, là học sinh, sinh viên, là con em những gia đình lao động ở thành thị hay nông dân chơn chất ở nông thôn.

Họ là những thanh niên tuổi đôi muơi căng tràn nhựa sống, ăm ắp mộng mơ, là những con nguời rất bình thuờng cũng đầy những thuơng ghét vui buồn …

Sinh ra và lớn lên trong buổi loạn ly, dù không ham chém giết, dù ham sống, sợ chết , nhưng họ bình thản chấp nhận bổn phận được chính quyền, đại diện cho nguời dân giao phó trở thành những nguời lính

Những nguời trẻ, 19, 20, hay “21 tuổi vào quân đội mà lòng chưa hề yêu ai” ấy đã lấy đất làm giường, rừng lá làm màn, bỏ lại sau lưng ánh đèn màu của đô thị phồn hoa, mải miết đêm rồi lại ngày, chỉ rừng và núi, chỉ biết yêu những cánh rừng lá thấp vì đấy là màn che cho họ và đồng đội khỏi mắt quân thù , dù không quên những ngày hoa mộng nhưng chẳng cần những tiếng nỉ non đóng kịch rên rỉ câu yêu đương giả tạo.

Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi
Thành phố sau lưng ôm mộng ước gì
Tôi là người đi chinh chiến dài lâu
Nên mộng ước đầu nghe như đã chìm sâụ
Từ máy thâu thanh cô nàng vừa ca
Trọn kiếp yêu anh lính khổ xa nhà
Giữa rừng già vang tiếng hát thật cao
Nhưng giữa già tôi có thấy gì đâu?
Sao không hát cho người giết giặc trên cầu
Khi bùn lầy còn pha sắc áo xanh
Trong khói súng xây thành
Mắt quầng thâm mất ngủ
Tàn đêm chiến cuộc, giờ chỉ còn hai tiếng yêu anh
Sao không hát cho những người còn mải mê
Lá rừng che kín đường về phồn hoa
Không hát cho những bà mẹ hằng đêm nhớ con xa
Hay hát cho những người vừa nằm xuống chiều qua
Rừng lá xanh xanh núi đồi chạy quanh.
Đời lính quen yêu gian khổ quân hành
Nghe từ ngày thơ khói súng triền miên
Đánh giặc lâu bền cho non nước bình yên
Lời hát xin gây rung động thật lâu
Đừng hát như chim giữa rừng lá sầu
Xin thật lòng qua câu hát đầu môi
Như lính giữa rừng yêu lá thấp mà thôi

(Nhạc: Rừng Lá Thấp- Trần Thiện Thanh)

Đất anh ở và rừng anh thở
Sớm anh đi chiều lại trở về
Rừng vi vút những đêm gío thổi
Bóng anh chìm với bóng hư vô
Đôi khi đứng bên triền đá dựng
Anh hoang mang sợ núi đẻ mình
Có khi thấy con chồn con cáo
Anh giật mình lòng thoáng hãi kinh
Anh đi qua rừng cao quá đỗi
Anh đi về rừng quá đỗi cao
Anh thấy rồi, anh: con sâu gạo
Nằm rung rinh trong đám lá rì rào
Và buồn thảm ôi những chiều lặng lẽ
Núi và anh thành hai kẻ đăm chiêu
Núi ngó anh và anh ngó núi
Núi đụng trời anh đụng nỗi đìu hiu
Đất anh ở và rừng anh thở
Quá lâu ngày nên thấy hoang mang
Anh sống dở và anh chết dở
Giữa núi rừng cao ngất ngàn năm

(Thơ: Ở trong rừng lâu ngày -Phạm Cao Hoàng)

Những nguời lính Việt Nam Cộng Hoà ấy, trong hai mươi năm dài, hàng hàng lớp lớp, tai nghe tiếng đạn réo, bom rơi mà lòng vẫn mềm như gió, sinh mạng treo đầu súng nhưng tim chẳng hận thù, ngày lội ruộng, đêm băng rừng nhưng mỗi lúc dừng chân lại tha thiết nhớ về mẹ, về em, về quê hương xóm làng, về những ngày thơ ấu

Phải là nguời đã cùng chia với họ túi cơm sấy nguội lạnh, hớp nuớc hố bom, đi cùng họ hàng muời ngày không thấy ánh mặt trời, và khi dừng chân bên trảng trống ở bià rừng, mới vừa tạm ngả lưng vào gốc cây chưa kịp lại sức , đã nghe lệnh tiếp tục lên đường thì mới cảm được trọn vẹn tấm lòng rất đỗi thô sơ nhưng vô cùng tha thiết của nguời lính trẻ ngâm nga câu hát bên rừng

Lội bùn dơ băng lau lách xuyên đêm
Sương trắng rơi vai tôi buốt lạnh mềm
Chim muôn buồn rủ nhau bay về đâu
Ngẩn ngơ lũ vượn gọi nhau
Nào những khi ôm thép súng tê tay
Đắm mắt theo bao hư ảo thở dài
Nơi chốn xa cuộc đời mẹ quẳng gánh
Em còn khều sáng ánh đèn từ sương mai
Mẹ biết bây giờ con ngồi hố nhỏ
Gió hẹn mưa thề một khi con về quê ngoại xưa
Để mẹ nhắn lời thăm
Trường làng cũ năm nào khi con còn bé nhỏ
Theo mẹ đến trường giờ đây con đường xưa còn đó
Tóc liều vờn gió ru hoài ...
Bận hành quân nên chắc khó thăm nhau
Nhưng có nhau như hơi thở vào đời
Tóc em còn có thơm hương cỏ may
Để anh nói chuyện ngày mai
Bạn bè anh theo lớp tuổi ra đi
Dăm đứa thân đôi khi chẳng trở về
Xin có em nguyện cầu cho đời anh
Đá mềm chân cứng để mẹ còn tương lai ...

(Nhạc: Sương Trắng Miền Quê Ngoại - Đinh Miên Vũ)

“ Lội bùn dơ băng lau lách xuyên đêm…”
bài nhạc đầy cải lương nói về nguời lính
Nam Bắc phân tranh, chiến hào Nguyễn Trịnh
điệu Habanera nón sắt úp trên đầu
“sương trắng rơi vai tôi ướt …” rồi sao?
Vai ai ướt, Bắc kỳ hay Nam bộ?
đời lính thú lưu đồn quên cố thổ
“LÍNH” viết hoa, bao ngôn ngữ đều thừa
gặp lại bạn bè cũ vẫn như xưa
thằng nào cũng hát những bài ca tang chế
điệu Boléro như một lời trách khẽ
tiếng đàn đêm bỗng hoá tiếng than dài
phải rồi tiếng đàn quen thuộc ở Chu Lai
nắp hầm đầy rêu ta ngồi bưng mặt khóc
tay gõ nhịp kiểu sênh tiền lóc cóc
nhạc ngựa reo thấp thỏm giọng nam trầm
phải rồi tiếng đàn quen thuộc ở Chu Prong
dân” sinh Bắc tử Nam” không cần Trương Lương thổi sáo
thằng “ ca sĩ lính Cộng Hoà” cụt đầu cây guitar chảy máu
khan giả hét “xung phong” qua tiếng hát ngậm ngùi
phải rồi tiếng đàn quanh quất đây thôi
thằng Nhái Hải quân, thằng Nhảy dù, thằng Lôi hổ
cũng tiếng đàn ấy xưa mà chẳng cũ
dù đứt một giây, gân cổ vẫn nghẹn ngào
mười năm mới gặp nhau mỗi đứa một cơn đau
cởi áo binh chủng sao hồn còn vằn vện
nói gì đây khi rửa tay gác kiếm
chỉ biết lặng im chờ thái độ tiếng đàn
tiếng đàn của binh nhì không giống sĩ quan
lại habanera, lại bolero, lại những bài hát ấy
không phải tango, không phải valse quý phái
mà rất rưng rưng con mắt kẻ giang hồ
“giải phóng” về ta bỏ súng làm thơ
bạn bè tàn phế phải ăn mày hát dạo
tiếng đàn từ đó trở thành ra giọt máu
máu đã ứa ra không thể ưá hai lần
không thể một gã lính dù đã từng cõng bạn tải thuơng
lại đóng ngược vào đời mình đinh nhọn
cảm ơn lời ca và tiếng đàn chưa muộn
đã đánh thức ta sau mười tuổi công hầu

(Thơ: Đêm lính ngụy – Bùi Chí Vinh)

Người lính ấy suốt hai mươi năm, vai mang balô, tay ghì chặt súng lội qua những cánh đồng sinh lây ở Đồng Tháp Năm Căn , nơi đỉa lội như bánh canh, muỗi kêu như sáo thổi, đi qua những địa danh xa lạ: Ashau, A lưới ,Ia Drang, Toumorong , Pleime... Chu Pao ai oán hờn trong gió, Mỗi tấc khăn tang một khúc đường.

Anh miệt mài những ngày truy lùng địch nơi Cổ Thành Quảng Trị, bên dòng sông Dakbla cuồn cuộn nuớc phù sa đỏ ngầu như máu , đã có những nguời bạn anh nằm yên trong rừng cao su Đồng Xoài, trên bãi cát Sa Huỳnh hay trên cánh đồng miền Tây xanh ngát luống mạ non

trời bỗng xầm đen tóe sấm sét
mặt đất ào ào trận pháo tuôn
trong thành phố tử thần co quắp
viên đạn cuối cùng đã bắn đi
người chết giữa trời - trên đồi cháy
hồn anh thảng thốt bay lên không
suốt dọc Trường Sơn đất run rẩy
mặt trời chưa thấy đêm dài ôi
từng khối lớn mênh mông đặc cứng
qua khe nhìn lại đồi C2
nhớ anh em ta đã nằm xuống

(Thơ: Ngày mưa đọc lại Dấu Binh Lửa- Đỗ Quý Toàn)

Thế nhưng nguời lính ấy, đi chiến đấu với tâm niệm “súng đạn dẫu vô tình nhưng lòng nguời thì độ lượng”, biết quý vô cùng sự sống nhưng cũng không ngại thản nhiên dấn thân vào nơi binh lửa

nửa đêm kẻng giục, quân ra trận
kinh động cả lòng đêm tối bưng
nhận lấy ba ngày cơm gạo sấy
không buồn chỉ một chút bâng khuâng
đời ta là con số không vô tận
may trên đầu còn chiếc mũ rừng
mũ nhẹ nên coi đời cũng nhẹ
chiến tranh. Thì cũng tựa phù vân

(Thơ: Trước Giờ Tiếp Viện - Trần Hoài Thư)

Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm nhưng kỳ vĩ, nguời lính vẫn sống và luôn gắng vượt qua chính mình và số phận, để uớc mơ một giấc mơ hiền hoà về một ngày mai

Rồi có một ngày, sẽ một ngày chinh chiến tàn
Anh chẳng còn chi, chẳng còn chi
Ngoài con tim héo em ơi
Xin trả lại đây, bỏ lại đây
Thép gai giăng với lũy hào sâu
Lổ châu mai với những địa lôi
Ðã bao phen máu anh tuôn, cho còn lại đến mãi bây giờ
Trả súng đạn này, ôi sạch nợ sông núi rồi
Anh trở về quê, trở về quê tìm tuổi thơ mất năm nao
Vui cùng ruộng nương, cùng đàn trâu
Với cây đa khóm trúc hàng cau
Với con đê có chiếc cầu tre
Ðã bao năm vắng chân anh
Nên trở thành hoang phế rong rêu
Rồi anh sẽ dựng căn nhà xưa
Rồi anh sẽ đón cha mẹ về
Rồi anh sẽ sang thăm nhà em
Với miếng cau, với miếng trầu, ta làm lại từ đầu
Rồi anh sẽ dìu em tìm thăm
Mộ bia kín trong nghĩa địa buồn
Bạn anh đó đang say ngủ yên
Xin cám ơn ! Xin cám ơn ! Người nằm xuống
Ðể có một ngày, có một ngày cho chúng mình
Ta lại gặp ta, còn vòng tay mở rộng thương mến bao la
Chuông chùa làng xa, chiều lại vang
Bếp ai lên khói ấm tình thương
Bát cơm rau thắm mối tình quê
Có con trâu, có nương dâu
Thiên đường này mơ ước bao lâu!

(Nhạc: Một mai giã từ vũ khí - Ngân Khánh)

Nguời lính không mơ uớc lớn lao, chỉ mơ có ngày trả súng đạn , cởi chiến y về với em với mẹ, mơ có ngày sống sót để được đi tạ ơn những đồng đội đã nằm xuống cho anh và cho bao nguời được “ làm lại từ đầu”

Nhưng hôm nay, đã hơn 30 năm, có thật chiến tranh đã kết thúc? nguời lính đã giã từ khẩu súng hôm qua, có thật được an phận sống đời một kẻ thường dân, được gặp lại con trâu bên nuơng dâu và có tìm được chốn thiên đường giản dị mà anh, cũng như bao lớp nguời đã bao lâu mơ uớc?

Hai mươi năm chiến tranh, hơn năm trăm ngàn người lính đã để lại một phần thân thể trên chiến truờng, và một số tuơng đương đã vĩnh viễn gục bên súng mũ bỏ quên đời, có ai trong chúng ta nhớ đến họ?

Từ trong tăm tối hận thù, nguời lính đã thắp sáng ý nghĩa đời người, đã từ cõi chết bước vào sự sống bất tử.

Xin cám ơn và chân thành nguyện cầu cho anh.

-----------------------------------
Xin download tại đây:
Chương trình dài 25 phút, file lớn 11Mb (Xin dùng rightclick để download xuống máy nghe offline để không bị đứt quãng)

Người Lính

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Tôi và. . . “Trung tướng” Nguyễn Ðộc Lập_

Chú Cuội Nguyễn Trọng Hoàn.


Ai từng học tập cải tạo ở Trại 3 , Liên trại 4, thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, đều biết và chắc còn nhớ, (kèm thêm một nụ cười chua chát) , vì đã là “ Ðồng môn” của “ Trung tướng” Nguyễn Ðộc Lập tự Lam Sơn, “Tư lệnh” Sư đoàn 23B.
Ðấy là phần giới thiệu về một thanh niên, khoảng chừng 23, 24 tuổi, người cao, gày, khuôn mặt trí thức, hai con mắt lúc nào cũng mở to, như đang tìm một cái gì đó ở cõi xa xăm.
Ðây là lý lịch trích ngang của “Trung tướng” Lập:
Họ và tên : Nguyễn Ðộc Lập.
Bí danh: Lam Sơn, tự Nguyễn Huệ
Ngày và nơi sinh: 12 tháng 9 năm 1940. Tại Tân Trụ, Long An.
Cấp bậc: Trung tướng.
Chức vụ: Tư lệnh Sư đoàn 23 B.

Chúng tôi phải nghe cái bản lý lịch này trong mỗi lần sinh hoạt tổ và đội. Thói đời, cái gì đã không muốn nghe, không muốn để ý. Hoặc khi nghe, gây cho mình cái cảm giác bực bội, khó chịu. Thì cái đó lại gây cho mình những ấn tượng. Cái ấn tượng của tôi về Lập bắt đầu từ ngay đêm 30 tháng 4 năm 1975.

Thay vì sẽ phải đi trình diện để đàng hoàng vào tù, thì tôi bị hốt ngay vào nhà giam Chí Hòa, ngay sau khi quân đội Việt Cộng vừa chiếm xong Dinh Ðộc lập
Vốn là sĩ quan tác chiến, lại bị thương nhiều lần, bị tình yêu làm choáng váng vài lần. Tôi thường có thói quen, thích ứng ngay với những tai nạn, với những nghịch cảnh, chỉ sau một vài giờ bị “ xốc..”
Tôi bị đẩy vào phòng số 3, khu ED Chí Hòa, trời nhờ nhờ tối, tay tôi ôm gói quần áo mà vợ tôi vừa khóc vừa chậy theo dúi vào tay tôi. Tôi kiếm một góc phòng, dựa lưng vào tường, bên tai còn lùng bùng tiếng khóc của vợ con. Vợ tôi, vốn là người đôn hậu, hiền lành, thế mà trước những họng súng, có gắn lưỡi lê, dí vào lưng tôi, nàng kêu gào thảm thiết y như hôm đám ma ông nhạc của tôi vậy. Tôi dặn với:
- Ðừng lo cho anh, ráng lo cho mợ và các con.
Tôi mang tiếng gào thét của vợ và các con tôi vào tận nơi có những tạp âm, trong không khí lùng bùng của phòng giam..
Lại có tiếng cửa sắt mở, tên công an cầm một xấp giấy vào, có tên bộ đội cầm súng có gắn lưỡi lê:
- Tôi điểm danh lại một lần nữa, ai có mặt, giơ tay lên và nói “có”. . . Tôi đọc thứ tự, từ cấp lớn đến cấp nhỏ
- Nguyễn Ðộc Lập, Trung tướng..
Có tiếng rất trẻ, giọng nói như dao sắc…..
- Có mặt.
- Ðỗ Kế Giai, Thiếu tướng
- Có mặt.
- Lê Văn Thân, Chuẩn tướng..
- Có mặt.
Trong những ngày tạm nhốt ở trại giam Chí Hòa. Lớp hệ thống quân giai ấy, trong những lần điểm danh, tập họp. . . Cứ diễn ra như vậy..
Rồi chuyển đến các trại Long Giao, Suối Máu. . . Ra Bắc, trại Tịch Cốc, rồi trại Ba, Liên trại Bốn , Hoàng Liên Sơn... Lập ở chung đội trồng rau xanh với tôi. Quách Vĩnh Chung, đội trưởng. Hùng Sùi đội phó. Tôi làm tổ trưởng tổ phân xanh trong đó có Lập..

Quý vị đọc bài này, ngay tiêu đề không thấy tôi giới thiệu đây là bài viết theo thể loại gì, truyện ngắn hay hồi ký, vì tôi có biết cách viết các thể loại trên là gì đâu, tôi thích viết văn.. Qua bên Mỹ, cùng với mặc cảm thất thế, ăn bám ngay cả với vợ con mình. Tôi lại càng, muốn có chút power, muốn khoe cái quá khứ vàng son, để bù lại cái thân tàn ma dại mà tôi đang mang. . . Tôi lại càng muốn viết, lại thích làm nhà văn có tên một chút.
“ Không có tài văn chương, thì chỉ nên đi buôn”. Bố tôi vẫn dặn tôi như thế.. Cho nên, tôi vẫn tránh xa cái chuyện chữ nghĩa là như vậy. Tôi có một thời gian dài trận mạc. . . Bị thương nhiều lần. Có một vài tình yêu, không thơ mộng như tiểu thuyết, nhưng cũng không quá lôi thôi, như trong chốn giang hồ. Tuy trong đó, tôi có nói dối người ta, và người ta cũng có người không thật với tôi.
Rồi tôi vừa lấy vợ, vừa đẻ con , vừa đánh giặc. . . Rồi đi tù.
Như vậy, tôi cũng có chất liệu để viết lắm chứ ? Nhưng hễ muốn viết một chuyện gì, thì y như chỉ viết được ít trang, là tắc tị. Khi đọc lại những dòng mình viết, cứ đỏ mặt bừng lên vì xấu hổ vì cái sở đoản và vụng về của mình! Từ đó, lại càng cảm phục những nhà văn đã viết cả hàng trăm trang, mà khác với tôi, họ tự tin vào khả năng của họ. Họ lại thường kiêu hãnh, thậm chí chính họ cũng gật gù, đắc ý khi đọc đi đọc lại những chữ, những dòng sáng tác của chính mình.

Tôi tạm gác phần viết về Nguyễn Ðộc Lập, để viết về một người, cùng ở tù ngoài Bắc với tôi, người này, tôi rất thích, nhiều lần trong những lúc chén chú chén anh, tôi huyên thuyên kể về anh, như một sự ngưỡng phục.
Bạn thân của tôi,có đứa lấy làm lạ, và cũng vì thế mà chúng hiểu tốt cho tôi. Tôi bị dư luận cho là tôi sinh ra chỉ biết chê người, vạch cái xấu của người để làm đề tài kê kích. Tệ hơn nữa, tôi có cảm tưởng tôi lấy việc bêu rếu người khác làm nguồn vui cho mình. Cũng còn may là, người mà tôi luôn đem ra để dè bỉu, lại luôn luôn chính là. . . Tôi!.. Do đó, tôi cố tình moi trong trí nhớ những hành động sai trái của tôi, thậm chí tác tệ của tôi, thậm chí làm người nghe phải nhăn mặt rồi quay ra thương cảm cho tôi.
Có thể cũng là do thời gian ngồi trên ghế nhà trường thì ít, mà thời gian, lăn lộn chai sạn ngoài đời thì nhiều, nên tôi có một kinh nghiệm là thay vì mình tự tâng bốc mình, điều này ít đắc nhân tâm hơn là mình chửi ngay vào chính mình..
Cái tôi là cái đáng ghét, nhưng cũng phải nói về cái tôi chút xíu chứ..

Tôi tên khai sinh là Nguyễn Trọng Hoàn, tôi biết được cái ý nghĩa tên của tôi, ngay sau khi tôi biết một chút ít chữ nghĩa. Số là tôi sinh ra trong một gia đình đông anh em. Nếu có thuyết nhân quả như nhà Phật nói, thì tổ tiên địa chủ nhà tôi, cũng có một chút vấn đề gì gì đó với trời đất, nên trong 9 anh chị em tôi, không có ai là được hoàn hảo, người thì bị khuyết tật về thân thể, người thì bị thiếu sót về tâm thức. Khi sinh ra tôi là lần thứ mười. Người ta đã phải hy sinh mẹ tôi để cứu tôi. Cái việc này, nó ảnh hưởng đến tôi như thế nào, có dịp tôi sẽ nói sau.
Bố tôi đặt tên tôi, từ tính tự đắc của ông, từ tính sòng phẳng của ông, nghĩa là ông muốn đòi lại những cái thiếu sót mà ông đã làm, khi sinh ra các anh chị tôi..
Tôi không dám mang cái ý nghĩ trên, cho nên lúc được thời, tôi tự nhận tên Hoàn của tôi có nghĩa là Hoàn Hảo. Nhưng ngay sau đó tôi lại phản bác:
- - Thế nhưng, từ tư cách đến con người tôi, chẳng có gì là hoàn hảo cả.
Một trong những cái không hoàn hảo của tôi, là tôi không làm được những gì tôi muốn, những cái tôi muốn, thì ông trời vẫn cho ngược lại. Tôi sắp nói cái nguyên nhân dẫn tôi vào lính..

. . . Hồi còn nhỏ, tôi là một thằng bé, mà dưới mắt mọi người, lẽ dĩ nhiên ngay cả với gia đình tôi thì tôi là thằng bé mất dạy. Có dịp, tôi sẽ viết về thời niên thiếu của tôi. Tôi hay đánh lộn, lại hay bị đòn, xin đừng cười cái nguyên nhân tôi bị đòn đại loại như sau:
Khi mới di cư vào Nam, gia đình tôi ở trại định cư Trung Chánh, huyện Hốc Môn, tỉnh Gia Ðịnh. Nhà chính phủ cất cho, nhà nào cũng giống nhà nào.. Có vườn sau, ở giữa vườn thường mỗi nhà làm một nhà tắm lộ thiên, với vách của nó ghép bằng những thân cây mì ( sắn) được chôn xuống đất. Cây mì, một thời gian ngắn, nẩy lá đủ để chỉ trông thấy những quần áo vắt trên ngọn cây..
Cứ chiều chiều, tôi vác một cái sào dài, đi ngang qua những cái phòng tắm ấy, thò cái sào qua hàng rào, móc lấy những cái quần ấy, hất ra xa rồi... Chạy.
Lúc ấy, tôi chưa có ý niệm gì về giới tính cả. Hình như chỉ đổi lấy một cảm giác thích thú là được nghe những tiếng hét, tiếng la thất thanh, tiếng chửi. Người ta đã nhanh chóng tìm ra tôi. Và.. Tôi bị đòn..
Kể chuyện thì phải có căn có cơ, thế rồi tôi vào lính, ông linh mục bảo rằng ông vào nhà Chúa là theo tiếng vẫy gọi của Thánh linh. Oạng sư bảo: Ôạng nhập Phật môn do duyên, do nghiệp. Người chính khách gốc lính, khoe: Tôi đi lính vì tiếng gọi của hồn thiêng sông núi. Còn lý do Nguyễn Trọng Hoàn đăng lính vì:

Năm đó là năm, tôi đang học ở một trường Hành Chánh, đang học các nguyên tắc quản trị hành chánh cho một phó đốc sự hạng 3 để sẽ cùng làm bạn với một cái bàn giấy, quanh năm suốt tháng cứ ngồn ngộn giấy tờ..
... Rồi một chiều cuối năm, cái chiều “ Không nắng cũng không mưa”. Tôi cảm thấy tâm hồn tôi trống trải như cái nhà hoang. Tôi có cha mẹ, và như trên tôi đã nói, nhà tôi rất đông anh chị em, thế mà chiều hôm ấy, tôi cảm thấy bơ vơ như kẻ lạc đường, như một người đánh rơi báu vật, tìm hoài không thấy..
Tôi đến rủ Hương đi Vĩnh Lợi xem phim. Phim Hồi Chuông Vĩnh Biệt do Audrey Hepburn đóng vai chính. Tôi rất mê người nữ diễn viên này, vì nàng có khuôn mặt hao hao giống Phương là người yêu đầu tiên của tôi, cũng có dịp tôi sẽ kể bạn nghe câu chuyện này... Rồi Soeur bị hiếp, bị chết ngay dưới bụng của nhiều đứa bất lương... Gác chuông nhà thờ đổ dồn làm lung lay mặt nước sông, làm cả không gian nức nở, cau có buồn đau..
Chúng tôi mang cái nỗi buồn ấy đến quán cà phê Ðức ở đường Trương Minh Giảng. Trong khi hai mái đầu đang chụm vào nhau, còn đang ray rứt, còn đang mang mang cái âm vang của tiếng chuông vút lên, rơi xuống như ánh triều dương trên đỉnh non cao...
... Thì bốn thằng người nhái say rượu bước vào. Cả bốn đứa nhìn chằm chằm vào cái gáy trắng ngần của Hương, một tên nói lớn:
- Ê, chú em kia, cho mượn cô bé sang hầu rượu bọn anh một tí..
Tôi giận tím mặt, Hương sợ hãi. Tôi nói nhỏ:
- Em chạy ra đường đi, tụi người nhái này dữ lắm..
Tôi chưa nói hết câu. Một bàn tay hộ pháp tính chộp lấy Hương. Tôi bật lên nhưng bàn tay trói gà không chặt của tôi bị gạt phăng, tiếp theo là những cú đấm túi bụi vào mặt tôi, trong tiếng rú sợ hãi của Hương..
Bỗng may, có một chiếc xe quân cảnh ập tới...

Thế là tôi bỏ trường học vào lính. Khi bắt đầu bước vào quân trường, tôi đã có ngay một cảm giác bơ vơ của một đứa trẻ bị ném vào viện mồ côi, một con chim non vừa mất mẹ. Tất cả diễn ra với tôi không một chút dịu dàng, Tôi ngơ ngác giữa những người đàn anh vừa võ biền vừa tự phụ và đám bạn cùng khóa tinh quái già dặn ...
... Ra trường, tôi lao vào trận mạc. . . Trước cái chết của những thuộc cấp và bạn bè, tôi như người say thuốc súng... Ðể sau đó, nhìn lại mình. Tôi mang cảm giác một người bị móc túi, mà thủ phạm là Chiến tranh và Quân đội ( Tôi xin phép được viết hoa hai danh từ chung này). . . Tôi đã thay đổi từ làn da đến tận xương tủy, từ tiếng nói đến tư duy. Và điều đau xót là nó làm sơ cứng tâm hồn tôi, thậm chí tôi có cảm giác nó thay đổi cả nhịp đập của trái tim tôi.
Tôi, Nguyễn Trọng Hoàn, từ đó trở đi vẫn luôn mang tâm trạng của một người lỡ chuyến đò dọc...

Ðấy phần giới thiệu lòng thòng về tôi, tôi phải dừng lại đây. Tôi phải trở về với người đàn anh của tôi, và trở về với ông “ Tướng” Nguyễn Ðộc Lập của tôi chứ..
Anh tên là Hòa, tôi đã tính đặt cho anh một cái như sở trường của tôi vẫn thường làm khi viết báo, hoặc viết tắt cái tên của anh. Vì tôi biết anh rất khó chịu khi bị ai lôi anh ra công chúng. Tôi biết có thể anh sẽ gọi phôn “ cự” tôi về việc này, nhưng tôi ỷ một điều, là anh rất quý tôi, khi gặp tôi, anh thường vỗ vai nói đúng bốn chữ: “ Thằng Hoàn tốt bụng”. Do vậy, xin anh Trần Tấn Hòa đừng giận “ Thằng Hoàn” này nhé.
Anh là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Dù. Khóa 20 Ðà Lạt. , Tôi gọi anh bằng niên trưởng, như lối gọi của những người trong trường trường tôi với nhau. Từ đáy lòng đã nẩy sinh những tình cảm khắng khít , trong đó như hàm chứa sự kính nể …

Tôi bị biệt giam vì tội tôi đánh Nguyễn Ðộc Lập, chuyện xẩy ra như thế này:
Sau một ngày rã rời lao động, những người tù rất quý những buổi tối vừa lạnh vừa đói, sau một ngày làm việc vất vả chỉ mong được chùm chăn, nằm để nhớ về vợ con, về một miền Nam ấm áp. ( Có lúc bay bổng còn tưởng tượng tôi là một trong đàn chim đang thiên di về nơi cố quận.) . . Bạn chỉ được hưởng cái giây phút ấy, khi tổ, đội bạn không có vấn đề gì trong ngày, khi người quản giáo, trước khi cho tan hàng, thường hỏi:
- ... Ðó là phần nhận xét của tôi, trong quá trình lao động ngày hôm nay, tôi đề nghị các anh hãy phát huy các mặt mạnh, và khắc phục các mặt yếu để học tập cải tạo tiến bộ... Các anh có ý kiến gì không?
Chúng tôi lo lắng nhìn Nguyễn Ðộc Lập, và mười lần như một, viên “Trung tướng Tư lệnh Sư đoàn 23B” dơ tay:
- Xin có ý kiến.
- Nói.
- Tôi, cải tạo viên Nguyễn Ðộc Lập có những ý kiến như sau:
. . . Trong ngày lao động hôm nay, những anh sau đây có lấn cấn trong tư tưởng và trong lao động cũng như chấp hành nội quy, đó là các anh: Ðẩu, anh Hùng, anh Toàn, anh tổ trưởng phân xanh, anh Hoàn, xin cán bộ cho đội sinh hoạt để phê bình, đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực trên..

. . .Chiều Việt Bắc vào Ðông theo gió lạnh kinh người. . . Chúng tôi tê tái.. . . Chiều tối nào cũng vậy, trong khi các đội 1,2,3, rì rầm kể lại nhau nghe những vinh nhục của thời làm quan, rì rầm kể chuyện chưởng, rì rầm với những món ăn hàm thụ, những cuộc trăng hoa, rì rầm san sẻ cho nhau nỗi nhục nhằn của người ngã ngựa. Thì đội rau xanh của tôi lại phải ngồi bó gối để kiểm điểm. Cái đầu hói bóng của Quách Vĩnh Chung, cúi xuống cái đèn dầu leo loét để viết biên bản, Quách Vĩnh Chung bắt đầu nói bằng bài học đã thuộc lòng:
- Tối hôm nay, theo lời đề nghị của anh Lập, theo quyết định của cán bộ quản giáo đội, đội có tổ chức sinh hoạt đặc biệt để kiểm điểm các anh Mai Bắc Ðẩu, Nguyễn Phước Bửu Toàn, Nguyễn Trọng Hoàn, và anh Hùng Sùi..
Có tiếng cười râm ran, chúng tôi tuy quá khổ nhọc nhưng hình như cái máu tếu táo của nguyên quận trưởng quận I vẫn làm chúng tôi quên cả tên họ của anh, mà cứ gọi anh là Hùng Sùi. Vì khi anh hăng say phát biểu, anh nói, nước bọt trong miệng anh bắn tứ tung như vòi rồng cứu hỏa. Tôi cũng sẽ kể về anh trong dịp khác.
Quách Vĩnh Chung cũng quen miệng nên mới gọi như thế. Nguyễn Ðộc Lập giơ tay tức thời:
- Tôi xin nhắc anh đội trưởng Quách Vĩnh Chung, anh là chủ trì phiên họp, anh phải nghiêm túc.. . .Cái gì là Hùng Sùi? Tôi phê bình anh Ðội trưởng, trong tư tưởng anh, anh vẫn chưa dứt bỏ được những hệ lụy của tàn dư Mỹ Ngụy. Tôi yêu cầu ghi vào biên bản..
Mấy chữ sau, trong ánh sáng lù mù của ngọn đèn dầu, đủ cho những ai ngồi gần đấy, thấy khuôn mặt của Quách Vĩnh Chung tối lại, Chung nguyên là một Trung tá, có tuổi, ăn nói từ tốn, chuẩn mực, biết phân biệt rạch ròi câu nào dùng để nói với bọn cán bộ quản giáo, câu nào nói với anh em cùng số phận với mình, thế mà sao hôm nay lại mắc cái “ khuyết điểm” ấy cơ chứ.! Quách dựa lưng vào vách, anh nhắm mắt lại, tiếp tục bài học thuộc lòng của mình.
- Tôi xin kiểm điểm tôi trước, vâng thưa các anh, về tư tưởng, tôi quán triệt đường lối, chính sách của Ðảng và nhà nước, an tâm học tập cải tạo. Về điểm yếu, đôi khi tôi vẫn còn nhớ gia đình, trong thư viết về thăm nhà, tôi vẫn còn phảng phất nỗi nhớ nhà, và ngay tối hôm nay, tôi đã phát ngôn bừa bãi, dùng từ không xứng hợp với một cải tạo viên, tôi nhận khuyết điểm trước đội, và phương hướng của tôi là khắc phục nhược điểm. phát huy ưu điểm để mau chóng tiến bộ, để được Ðảng và Nhà nước sớm cho về xum họp với gia đình.
Về lao động.... Về chấp hành nội quy... Mặt mạnh, mặt yếu. Phương hướng khắc phục...
Phần kiểm điểm của tôi xin chấm dứt, xin lần lượt mời anh...
Ðến phần kiểm điểm của Hùng Sùi. Sau bài học thuộỳc lòng, Hùng Sùi nghiêm trọng:
- Trước khi chấm dứt, xin anh Ðội trưởng viết vào biên bản ý kiến của tôi, cũng như nhiều anh em trong trại những ý như sau:
- Chúng tôi, các cải tạo viên, có mặt tại Trại 3, Liện trại 4, đều là những sĩ quan trên bốn vùng chiến thuật thuộc Ngụy quân, đồng xác nhận là: Trong quân đội mà chúng tôi phục vụ trước năm 1975 : Không hề có viên Trung tướng nào tên là Nguyễn Ðộc Lập. Cũng như không có Sư đoàn nào mang danh Sư đoàn 23B cả. Xin Ban chỉ huy trại xem xét...
Ngay chiều ngày hôm sau, một tên cán bộ văn xã( tên này, tôi có đề cập phần sau) tập họp cả trại. Hắn nói đểu:
- Qua đánh giá của các cán bộ quản giáo, cải tạo viên Nguyễn Ðộc Lập có đủ khả năng và tư cách của một viên Trung tướng, trong một đạo quân như quân đội Ngụy các anh!
Chúng tôi chưng hửng như có ai thọi trúng mạng mỡ của mình. Từ đo,Ô anh em càng thù Lập, và rỉ tai nhau không bao giờ nhắc đến cấp bậc của hắn nữa với trại giam nữa!
... Và, cứ thế cho tới hết người thứ 80 của đội rau xanh. Chúng tôi chui vào chăn, sau khi nghe anh Chung đọc biên bản sinh hoạt. Lần nào tôi cũng nghe thấy tiếng anh Tô Văn Cấp nằm bên càu nhàu nho nhỏ:
- - Khốn nạn, thằng khốn nạn...
Còn tại sao tôi lại đánh Nguyễn Ðộc Lập, việc đó dẫn tới người Niên trưởng của tôi làm sao? Tôi lại lan man rồi, lại bỏ quên cái điểm, cái diện của vị trí các nhân vật mà tôi đã giàn trải theo cảm tính rồi.

Ðấy là nhược điểm của người viết truyện ngắn, hồi ký theo thể văn nói, lại viết liên hồi kỳ trận từ đầu đến cuối không để người đọc có khoảng trống để cảm nhận nữa. . .
Vâng! Ðó là vào ngày 30 tết, không biết hứng tình hay bị “ bốc” vì tôi cũng thích được nịnh như thế này:
- Anh Hoàn làm thơ rất hay, năm hết tết đến cho một tí thơ đi...
Tôi nhìn về phía hồ Tháp Bà, có sương giăng giăng quanh ngọn núi, như một dải voan trắng quấn hờ hững quanh vòng eo thon của một cô sơn nữ. Có khói lam chiều bồng bềnh trên những mái nhà sàn quyện cùng tiếng khèn lửng lơ mời gọi. Có con đường trong bản, nơi tổ phân xanh, cứ hai người một , thằng gánh, thằng cầm xẻng, lui cui súc những bải phân trâu ỉa vãi. Giờ đây hoa đào đã nở rộ, Có biết bao Thôi Hộ bị giam nơi đây, còn người con gái định mệnh biến đi hà xứ?
Tôi bềnh bồng trong những hình ảnh ấy. rồi đọc:

Bữa cơm mắm ruốc, trưa Ba mươi.
Mặn chát, lạnh tanh khóc dở cười.
Cuộc thế đổi rời, rồng hóa rắn.
Trắng hóa thành đen, bọ hóa người..

Anh em đang trầm trồ, bỗng có ai đó đá vào chân tôi, tôi tái mặt quay lại. Nguyễn Ðộc Lập đứng ngay sau lưng tôi..
Ngay đêm trừ tịch, khi những tiếng pháo chuột lẹt đẹt của bản làng quanh trại, đang tiễn Rồng đi , đón Rắn về thì tôi bị gọi lên trại, viết bản kiểm điểm, tôi viết đến bản thứ ba, thứ tư mà tên cán bộ phụ trách văn xã vẫn không chịu buông tha...
Trong cuộc đời, bạn có thể đã gặp một người uyên bác, cao thâm. . . Và bạn đã gặp không ít đứa vô học, cả hai hạng đó bạn sẽ thoải mái khi đối tiếp với họ. Nhưng bạn sẽ rất khó khăn khi gặp cái đứa dở dở ương ương như cái tên cán bộ văn xã tôi vừa kể.
Trong tờ kiểm điểm, tôi cố bao biện cho câu cuối cùng: “Trắng hóa thành đen, bọ hóa người” khi tôi nghĩ đến những những bạn bè tôi, giai cấp chúng tôi đang xuống bùn nhơ, đất đen. Trong khi bọn thằng mõ, con sen đang thành ông, hóa bà. Thế nhưng, tên cán bộ này không lục vấn tôi câu ấy. Hắn moi hai chữ “ Cuộc thế” và kết luận tôi là có tư tưởng phản động. . .
Cho đến bản kiễm điểm thứ năm. Tiếng gà rừng sau trại, cùng gà nhà dưới bản đã bắt đầu gáy, những tiếng tù và rung rinh sương mù, rúc xa. . . Báo hiệu một năm mới chào đời. Cũng là lúc sức chịu đựng của tôi cạn kiệt.
.. Người tôi nhão ra, tên cán bộ xem chừng cũng có vẻ mệt, và hình như hắn được đi phép thì phải, nên sau một hồi thuyết giáo, hắn cho tôi về...

Tôi bước vào cổng trại, gặp ngay Nguyễn Ðộc Lập đang chắp tay sau lưng đi đi, lại lại. Thấy tôi, hắn cười đểu:
- Sao, thành tâm kiểm điểm chứ ? Ông thi sĩ !
Trời lạnh cắt da. Nỗi căm hận nuốt từ lâu, đến lúc này không còn nuốt thêm được nữa.Câu ấy của Lập làm như cả trăm ngàn cục than hồng bật dậy trong lòng tôi. Tôi nhào tới, tung những cú đấm hận thù vào người Lập. Lạ không, hắn cứ đứng im. Tôi nhổ một bãi nước bọt vào mặt hắn. Rồi ngừng tay, và vào... Biệt giam !

Trưa hôm ấy, anh Trần Tấn Hòa thuộc tổ nhà bếp mang cơm cho tôi. Ba bữa đầu năm, chúng tôi được ăn cơm. hai lưng chén cơm và ba lát thịt heo mỏng dính cho một người tù, đấy là ơn Ðảng ban cho những tù khổ sai với cả một năm trời cật lực phơi lưng cho nắng, đối bụng với đất. gầm mặt với những lời riếc móc. Riêng người bị biệt giam như tôi, khẩu phần bị cắt đi một nửa.
. . . Anh Hòa, để thau đựng cơm và đồ ăn xuống đất. . . “Phòng” biệt giam là một cái hang tối nhờ nhờ. Tôi thấy anh nhìn ra cửa hang, rồi rút trong cái áo bông ra một gói, bên ngoài là lá chuối, ấn vào lòng tôi. Anh ôm lấy đầu tôi lắc lắc. anh nói nhỏ:
-Tội nghiệp Hoàn, tết nhất còn bị cùm thế này, ăn đi, thế nào cũng có ngày anh em mình được về với vợ con. Ráng lên đi em!
Tôi ôm gói đồ ăn âm ấm vào lòng, cái thân vốn to con của anh, tóp đi vì đói. chao qua chao lại, rồi khuất vào đám sương mù ngoài cửa hang.
Lần đầu tiên tôi khóc..

Cho đến một hôm, cách đó khoảng ba tháng. Tôi đi lãnh cơm cho tổ, ngạc nhiên thấy trên cái thau cơm màu vàng ấy, không có mấy miếng cháy đặt ở trên như mọi khi... Tôi đang phân vân, bắt gập ánh mắt của anh Hòa nhìn tôi, hình như anh nháy tôi thì phải..
Tôi ôm thau cơm ra về. Nguyễn Ðộc Lập la lên:
- Tại sao phần cơm của tổ không có cháy..
Tôi nhỏ nhẹ:
- Trời mưa, mình trượt chân, đánh rơi rồi, thôi trừ vào xuất cơm của tôi..

Ðêm hôm ấy, cả trại bừng lên vì tiếng kẻng báo động. Những ánh đèn pin, đèn bão loa lóa trong các láng trại. Chúng tôi bị lùa ra sân, ngồi co ro tập họp chờ cho tụi cán bộ điểm danh..
Sáng sớm, anh Tô Văn Cấp đi lấy nước sôi về nói nhỏ:
- Anh Hòa và nhóm Nhẩy dù trốn trại đêm qua rồi.
Tôi hỏi:
- Nhà bếp có hai Hòa, Hòa nào vậy?
- Cả hai Hòa, anh Hòa khóa 16 và Hòa khóa 20, có các anh Khôi, Khoa nữa.

Tôi ngửa mặt nhìn bầu trời xám xịt. Nơi đàng đông, trên ngọn cây xoan già kia, mọi khi là mặt trời hấp háy, bây giờ vắng bóng. Lậy trời cho các anh đi thoát. Cứ đi về phía chính Tây của cái hồ Tháp Bà này, là vừng hồng của Tự do, là ấm áp của vòng tay thân quyến đang vẫy gọi đấy, các anh ạ! Xin Trời Phật độ cho những bước chân đói rét can trường của các anh..
Năm hôm sau, trong lúc đội rau xanh của tôi, tăng cường cho đội 1, đang tu sửa con đường từ bến phà đến huyện Cẩm Nhân, thì từ bến phà, một toán dân quân cở chừng 20 người, dẫn giải một toán tù, toán dân quân vừa đi, vừa dùng báng súng đánh tới tấp vào những người này. Ðám bụi mịt mù ấy , càng lúc càng gần..
Tôi tái mặt khi nhìn thấy nguyên cả toán năm người của anh Hòa đã bị bắt lại. Trong đời tôi, tôi chưa bao giờ thấy cảnh người đánh người quá tàn bạo như vậy. Tôi cũng chưa bao giờ thấy mức chịu đựng cũng như sức sống của con người lại bền bỉ như vậy, những báng súng trường phang tới tấp vào năm người tù, vào mặt, vào ngực, vào gáy. Con mắt tôi cứ ngơ ngẩn nhìn vào một mình anh Hòa, mặt anh đầm đìa máu, anh chao người qua lại vì cái nện sau cùng của báng súng vào ngay thái dương anh. Cả cái thân hình to lớn của anh bật lên và đổ xuống như một thân cây bị chặt tung gốc….
Một tên, có lẽ là tên chỉ huy , nhẩy lên cái đống rơm cao. hét lên man rợ như cố tình cho cả đám tù đang dừng cuốc nghe thấy, hắn giơ cao khẩu súng:
- Chúng ông đã dùng mũi súng để bắn chúng mày, bây giờ lại dùng báng súng để trừng trị chúng mày. Hoan hô khẩu súng xã hội chủ nghĩa !

Buổi chiều hôm ấy, tên cán bộ quản giáo như thường lệ vẫn hỏi câu sau cùng:
.. .. Qua nhận xét đánh giá của tôi vừa rồi về các mặt yếu và mạnh ngày hôm nay, các anh có ý kiến gì không.
Chúng tôi lại lo lắng nhìn về phía Nguyễn Ðộc Lập, thì kìa, hắn lại giơ tay lên:
- Thưa cán bộ, hồi trưa, khi toán tù vượt trại bị trừng phạt đi ngang qua hiện trường lao động, tôi thấy nhiều cải tạo viên đã khóc. Tôi nghĩ, trước những hành động phản nghịch, chống lại chính sách cải tạo này, chúng ta phải lên án nó, chứ sao lại thương khóc như vậy? Trước những tư tưởng chao đảo như thế. Tôi đề nghị cán bộ cho sinh hoạt kiểm điểm.
Trong cái lạnh cắt da của những ngọn gió mùa Ðông bắc. Chúng tôi đều gục đầu xuống , phần thì thương cảm cho toán vượt trại bị đòn thù, phần ngán ngẩm cho buổi tối hôm nay lại phải ngồi... Tụng kinh!
Tôi không thể kể thêm sau đó anh Hòa phải sống cách ly như thế nào, phải lao động, phải chịu đau đớn với những vết thương hành hạ cơ thể như thế nào. Tôi muốn để dành những chi tiết này để cho những trang viết riêng về anh Hòa… sau này.

Khoảng ba tháng sau, một cuộc trốn trại nữa lại xẩy ra ở ngay tại trại tôi. Tin về người trốn trại này làm kinh ngạc toàn trại. Người trốn trại lại là “ Trung tướng” Nguyễn Ðộc Lập!
Lập trốn trại được gần một tuần, chúng tôi cũng mong sao cho anh ta được thoát. Phần vì anh đã chọn con đường trốn trại, là anh đã mặc nhiên đứng về phía chúng tôi, mặc nhiên vẽ rõ lằn ranh với ngục tù Cộng sản, mà những hành động anh làm, như tôi kể ở trên, cũng chỉ là những hỏa mù anh tung ra để che chắn cho anh, cho việc làm hôm nay của anh mà thôi.
Nhưng cũng y như toán của anh Hòa. Lập cũng bị bắt lại, cũng bị đánh thảm khốc trước mặt chúng tôi, có điều anh bị đánh một mình, không có ai chia sẻ những báng súng tàn nhẫn với anh. Lập đã bị ngất xỉu , khi mới bị lôi từ bến phà lên chưa đầy 500 mét.

Ðêm hôm ấy, tuy mặt mày sưng vù, tím bầm, Lập ngồi giữa đội, anh mất hẳn vẻ sấc sược mọi khi, anh đọc bản kiểm điểm , giọng văn gây xúc động cho toàn đội, ai ai cũng nghĩ không phải anh nhận tội với bọn Cộng Sản, mà y như anh tâm tình với chúng tôi:
- Thưa các bạn sau đây là bản kiểm điểm của tôi:
Họ và tên: Nguyễn văn Chính.
Tên thường gọi: Ðực.
Ngày và nơi sinh: 29 tháng 12 năm 1957. Thủ thừa, Long An.
Cấp bậc, chức vụ: Chuẩn úy, Trung đội trưởng
Quá trình hoạt động của bản thân:
Từ nhỏ, học sinh trường tiểu học Thủ Thừa. Rồi học sinh trung học Long An. Sau đó ra nhập quân đội. Ðơn vị Thám báo tỉnh Long An..
Năm 1974, Trong cuộc hành quân phối hợp Cảnh sát, Chi khu Thủ Thừa. Tôi đã xâm phạm tiết hạnh một nữ sinh, bóp cổ cô ta chết, và ném xuống sông. Ra tòa, bị tù cho đến ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Tôi lấy tên là Nguyễn Ðộc Lập, với cấp bậc mạo là Trung tướng. Chức vụ mạo là Tư lệnh Sư đoàn 23 B do lệnh vô hình của một sai khiến từ vô thức. Ðiều này, tôi không giải thích được..
Tiếng Lập cứ âm u..

Tôi nhìn những bóng tù nhân dựa lưng vào vách, nhập nhoạng như những bức tượng khổ hạnh. Có những hơi lạnh từ núi đá, thấm qua vách lá, thấm tận vào tâm hồn tôi.
Tiếng vạc kêu sương khắc khoải.
Qua khung cửa hẹp, bóng trăng xanh lạnh ngắt…

Nguyễn Trọng Hoàn

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

HÀO KHÍ CA

Từ buổi nắng cao mây lũng thấp
Ai người dựng mộ lấp trăm năm
Trăng xưa rụng mãi không đầy biển
Nên sóng hòang hôn lụy nhỏ thầm

Tóc rối áo nhàu người giữ mộ
Giơ cao chén đá cụng thời gian
Nước ơi vận nước sao hiu hắt
Cho đám dân đen hận ngút ngàn.

Tráng sỉ khi xưa chân đạp đất
Thân tù đâu ngại áo sờn vai
Chỉ e đất lở bồi không kịp
Ngửa mặt kêu trời ai khóc ai.

Đêm tối bít bung đời tứ cố
Cau mày thế sự tỏ lời riêng
Người ơi xin chút hương ngày Tết
Phả nhẹ vào mưa sau mái hiên

Cái nằng đầu xuân nghe nhạt thếch
Đôi bàn tay vỗ lệch bàn tay
Thoáng nghe mắt đỏ màu xanh ngọc
Vời vợi nhìn theo mây trắng bay.

Xin bẻ dùm ta cây trí tuệ
Cúi thêm chút nữa lá tình thương
Tự do ơi đến cùng ta nhé
“Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương

Đặng Phú Phong.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Hoàng Hôn Chụp Xuống Pleiku

Chiều qua, các phố xá đã đóng cửa không buôn bán cầm chừng như trước đây và đồng bào đã đổ xô hết ra đường, nhốn nháo ngược xuôi tìm lối chạy. Người ta thuê bao đủ mọi loại xe, chất hết đồ đạc quần áo để chuẩn bị chạy. Giá xe từ 200 ngàn, nửa triệu một chiếc đã tăng lên nhiều hơn nữa. Những người ít tiền cũng vét túi, chung nhau thuê xe, và các loại xe, từ xe lam, xe vận tải, xe lô, xa nhà, xe Honda, cho đến cả xe ủi đất, xe cứu hỏa, xe cần trục, máy cày v.v...

1. Bài phóng sự ngày 16 tháng 3-1975 trên Chính Luận Sài Gòn: Hoàng hôn chụp xuống Pleiku

Sau Khi Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II Di Tản Về Nha Trang, Hoàng hôn chụp xuống Pleiku, Phố Xá Tràn Ngập Người: Trẻ, Già, Lớn, Bé Không Biết Đi Đâu

Lời giới thiệu: Miền Nam Việt Nam thực sự đã không bị xụp đổ trên phương diện quân sự khi thị trấn Phước Long bị thất thủ. Cũng không do việc mất Ban Mê Thuột. Toàn bộ cuộc tái phối trí trở thành cuộc rút lui bi thảm đưa đến việc mất miền Nam thực sự bắt đầu từ lúc Pleiku ra đi.

Nhân dịp tháng 4-2004, 29 năm sau, Dân Sinh San Jose phổ biến 2 bài báo chụp lại trên vi phim về cuộc rút quân kể trên. Bài báo thứ nhất đăng trên Chính Luận số 3338 ngày thứ Ba 18 tháng 3-1975 với tựa đề: Hoàng hôn chụp xuống Pleiku. Bài báo này do phái viên Nguyễn Tú điện về trong lúc chính ông cũng đang tìm đường tháo chạy.

Bài báo thứ hai trên Chính Luận với tựa đề: 8 giờ đêm Chủ Nhật, Kontum – Pleiku bi thảm ra đi, bỏ lại phía sau những cột khói, những vùng lửa. Bài này đăng ngày 19 tháng 3-1975 và được ghi là do Nguyễn Tú đọc về, xen lẫn tiếng khóc nức nở của chính ông.

Bài báo thứ hai này đăng trang nhất báo Chính Luận số 3339 được coi là tin tức duy nhất được loan báo về cuộc rút quân ở Cao Nguyên. Bài này đã được các báo ngoại quốc dịch lại và đăng tải trên các hệ thống tin tức quốc tế.

Hai bài báo kể trên trích trong tài liệu sưu tầm của IRCC dành cho viện bảo tàng Việt Nam tại San Jose. Ký giả Nguyễn Tú sau thời gian kẹt lại Việt Nam hiện đã qua Mỹ định cư tại DC.

Giao Chỉ - San Jose

(Sài Gòn 17-3) Chiều tối Chủ Nhật ngày 16 tháng 3-1975, bạn Nguyễn Tú, đặc phái viên Chính Luận tại chiến trường Quân khu 2, đã từ Pleiku gọi điện thoại về cho biết tình hình Pleiku, sau khi Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2 di tản về Nha Trang.

Bạn Nguyễn Tú cho biết là trong hai ngày qua, đồng bào trong toàn tỉnh đã hoang mang tới cực độ khi nghe tin các bài phát thanh ngoại quốc loan báo Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2 di tản về Nha Trang. Giới hữu trách không có lời giải thích nào để trấn an đồng bào mỗi phút lại càng mất thêm tinh thần, mạnh ai lo liệu phương tiện di tản ra khỏi vùng giao tranh và tránh mặt quân cộng sản.

Chiều qua, các phố xá đã đóng cửa không buôn bán cầm chừng như trước đây và đồng bào đã đổ xô hết ra đường, nhốn nháo ngược xuôi tìm lối chạy. Người ta thuê bao đủ mọi loại xe, chất hết đồ đạc quần áo để chuẩn bị chạy. Giá xe từ 200 ngàn, nửa triệu một chiếc đã tăng lên nhiều hơn nữa. Những người ít tiền cũng vét túi, chung nhau thuê xe, và các loại xe, từ xe lam, xe vận tải, xe lô, xa nhà, xe Honda, cho đến cả xe ủi đất, xe cứu hỏa, xe cần trục, máy cày v.v... đều chất đầy ắp đồ đạc, đầu nối đuôi dài dài trên các đường phố chính như Hoàng Diệu, Võ Tánh, Phan Bội Châu, Quang Trung, Hai Bà Trưng. Tất cả đều rộn ràng di chuyển, nhưng không biết di chuyển theo lối nào, vì con đường duy nhất có thể chạy về Quy Nhơn là quốc lộ 19 thì đã bị địch cắt. Áp lực của quân cộng sản vẫn nặng nề trên con đường băng rừng băng núi này, cái chết có thể đe dọa tập thể tỵ nạn bất cừ nơi nào và bất cứ giờ phút nào.

Những chuyến bay của Hàng Không Việt Nam đã ngưng từ mấy hôm nay nên phi trường chỉ còn là nơi hoạt động rộn rịp của các loại máy bay quân sự. Tin tức một số gia đình thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn và các ngoại kiều được di tản ra khỏi Pleiku làm cho mọi người càng thêm hốt hoảng. Họ chỉ còn trông ngóng vào con đường sống duy nhất là quốc lộ 19. Họ cầu nguyện và mong ngóng cho quốc lộ này được giải tỏa mau lẹ để lánh xa nơi quân cộng sản kéo tới.

Cảnh hốt hoảng càng thêm mãnh liệt hơn khi một số đồng bào tỵ nạn ở Kontum, Thành An, Phú Nhơn v.v... kéo về Pleiku chờ mở đường chạy giặc. Ám ảnh... đại lộ kinh hoàng và chợ Đông Ba rực cháy ngày nào ở miền Trung là một ám ảnh khó xóa nhòa trong tâm tư mọi người.

Dắt dìu nhau ngược xuôi ngoài đường phố, và đồng bào ngơ ngác thầm hỏi nhau biết chạy đi đâu bây giờ? Từ cả tuần, báo chí không lên Pleiku nữa, do đó có muốn được đọc những lời tuyên bố rất bình tĩnh của các giới chức Sài Gòn cũng không được.

Qua điện thoại, bạn Nguyễn Tú báo tin cho tòa soạn và bạn đọc Chính Luận biết là bạn đang tìm cách thoát khỏi Pleiku cùng đồng bào và sau đây là bản tin cuối cùng của bạn từ Pleiku gửi về cho tòa soạn và bạn đọc Chính Luận.

Lại thêm một hoàng hôn:

Bạn Nguyễn Tú cho biết, qua điện thoại, nguyên văn như sau:

Lại thêm một hoàng hôn, có thể hơn thế nữa, bắt đầu. Trưa hôm nay từ 12 giờ, dân chúng Thanh An, Phú Nhơn và các vùng lân cận Pleiku đều đổ xô về thị xã Pleiku. Họ đang sống những giờ phút lo âu, kinh hoàng ngoài đường phố. Trên khắp ngả đường đều chật các xe đủ loại, xe quân sự, xe dân sự, xe chở hàng, xe ủi đất, xe chữa lửa, xe máy kéo có rờ moọc, bên trên chất đầy những “gia bảo” cuối cùng của dân chúng. Tất cả các gia đình, già trẻ lớn bé, dân sự cũng như quân sự, ngồi sẵn trên xe, để chờ di tản mà họ không biết là đi đường nào. Các lực lượng diện địa của ta và các lực lượng trong ngành an ninh, quân cảnh, cảnh sát đều không còn có thể kiểm soát được nữa. Vì tất cả các nhân viên đó đều lo lắng cho chính gia đình họ. Ngoài đường phố đầy rẫy những người đi bộ. Những quân nhân, và thường dân tay xách nách mang và bồng bế các trẻ thơ, xách những giỏ đồ đạc lang thang khắp phố, không biết đi đâu nữa. Pleiku đang sống trong một không khí kinh hoàng chưa từng thấy, hơn cả cố đô Huế năm 1972.

Kontum – Pleiku coi như bị bỏ ngỏ, vì các nhân viên có trong trách an ninh đã chỉ lo cho riêng gia đình họ và không còn ai còn có tinh thần đảm nhận trách vụ của mình... Sự kiểm soát đã lọt ra ngoài tay của các giới lãnh đạo chính quyền tỉnh. Riêng các lực lượng chính quy còn có kỷ luật và tinh thần chiến đấu. Nhưng tình trạng hỗn loạn xáo trộn của dân chúng Pleiku ra đầy ngoài đường, đã tạo nên một cảnh tượng thật không thể tưởng tượng nổi. Trên khuôn mặt mỗi người đều lộ vẻ lo âu, không tả hết. Chiến tranh thực sự chưa tới Pleiku. Chưa một đạn pháo kích nào của địch bắn vào thị xã Pleiku. Hoàng hôn của Pleiku có thể coi như đã bắt đầu, đồng thời có thể tiếp luôn những cảnh hoàng hôn khác.

Tình trạng Pleiku bi thảm quá!

+ + +
Bài phóng sự tiếp theo viết ngày 17 tháng 3-1975.

8 Giờ Đêm Chủ Nhật, Kontum – Pleiku Bi Thảm Ra Đi Bỏ Lại Phía Sau Những Cột Khói, Những Vùng Lửa

Bản tin này được đọc giữa tiếng khóc nức nở của bản báo đặc phái viên Nguyễn Tú

(Sài Gòn 18-3) Sáng nay bản báo đặc phái viên Nguyễn Tú, tại một địa điểm dừng chân trên đường rút lui của quân dân hai tỉnh Kontum – Pleiku, báo tin qua điện thoại quang cảnh di tản bi thảm của đồng bào. Dưới đây là nguyên văn ghi lại lời bạn Nguyễn Tú đọc qua điện thoại.

Tất cả lên đường:

Tối nay, Pleiku đã thực sự hỗn loạn. Tất cả dân chúng Pleiku thêm vào đó dân chúng ven tỉnh, dân chúng thuộc vài quận gần thị xã Pleiku, và cả dân chúng Kontum đã đổ xô nhau chạy về Pleiku đều xuống đường và tổ chức một đêm không ngủ. Không phải để biểu tình chống ai, mà để vội vàng hốt hoảng tiếp tục chất các hàng hóa, bàn ghế, tủ giường, cùng những vật dụng riêng lên đủ thứ xe: Xe lam, 3 bánh, xe vận tải hạng nặng, xe Jeep, xe dốt rác, xe GMC nhà binh, xe Honda. Thậm chí xe be, xe cần trục, xe máy kéo, trác lơ, xe hốt rác. CẢ đến xe chữa lửa cũng được dùng để chất đồ và chở người. Xe nào chất xong đồ là người leo lên ngồi sẵn, xe nào đôi nhíp cũng gần như thăng bằng, vì chất quá nặng.

Từ trưa, các lực lượng an ninh trong thị xã Pleiku như Quân Cảnh, Cảnh Sát bỏ tất cả nhiệm sở không còn thấy bóng một ai, mặc dù hôm qua thứ Bảy 15 tháng 3 còn canh phòng rất gay gắt các ngã ra vào tỉnh và thị xã Pleiku.

Mọi đường phố không còn một nhân viên công lực nào giữ trật tự nữa. Tất cả mọi người đều về nhà lo việc di tản cho gia đình. Liên lạc vô tuyến của hệ thống quân đội không còn được điều hòa và hữu hiệu như trước nữa tuy vẫn chưa hẳn gián đoạn. Các nhân viên truyền tin cũng thay phiên nhau về nhà để lo việc di tản gia đình. Sự kiểm soát an ninh trật tự có thể coi như đã tuột khỏi tầm tay chính quyền địa phương Pleiku. Tại tư dinh Đại Tá Tỉnh Trưởng Pleiku, các nghị viên, các Trưởng Ty, Sở hấp tấp ra vào họp liên miên.

Chưa bao giờ các đại diện dân cử kể cả đối lập và chính quyền đã sát cánh với nhau như thế. Chưa bao giờ lập pháp, hành pháp, tư pháp đều đồng một lòng, một dạ như thế. Đồng một lòng một dạ trong một câu hỏi duy nhất: Bao giờ thì di tản? Mấy giờ thì di tản? Trên thực tế thì Pleiku đã sống giờ thứ 25 từ hôm qua thứ Bảy 15 tháng 3. Hôm nay Chủ Nhật 16 tháng 3 lúc 19 giờ đã có điện trở lại trong toàn thị xã.

Đèn ngoài đường và trong các tư gia cũng được thắp sáng. Có lẽ là một hội hoa đăng cuối cùng. Khắp các đường phố, dân chúng đi lại hết sức nhộn nhịp, tất tưởi. Ngay từ xế trưa hôm nay 16 tháng 3, các xe nào đã chất xong đồ vật đều chuyển bánh trên Quốc Lộ 14 đi về Phú Bổn thành một đoàn dài. Nhưng phải kể từ 20 giờ ngày hôm nay Chủ Nhật 16 tháng 3, sự di chuyển toàn diện của dân chúng mới thực sự bắt đầu, đoàn xe ước chừng đến hàng ngàn chiếc, bật đèn pha nối đuôi nhau trên hàng chục cây số trông như một cuộc “trở về nhà sau cuộc nghỉ cuối tuần.” Nhưng đây đâu phải là “đoàn xe thanh bình.”

Sáng kiến vĩ đại:

Cuộc di tản đại quy mô của hai tỉnh gom lại là Kontum và Pleiku do sáng kiến tư nhân có thể coi như là “vĩ đại” ở chốn Tây Nguyên hẻo lánh này.

“Mục tiêu đầu tiên là Phú Bổn. Sau đó sẽ tính.” Đó là lời một đồng bào di tản nói với Chính Luận. Nhưng ra khỏi thị xã, được vài cây số thì đoàn xe bị kẹt vì những chiếc xe nhỏ hơn như xe lam, xe ô tô nhỏ, xe Honda muốn vượt trước. Phải một giờ sau vụ kẹt xe này mới được giải tỏa.

Dân chúng nghèo cũng ra đi bằng phương tiện thiên nhiên, trời đã phú cho họ là đôi chân của chính họ. Họ đây là gồm cả già, trẻ, lớn, bé, con nít còn bồng trên tay, đàn bà đang mang bầu, tay xách, nách mang một vài manh chiếu, một vài bọc quần áo, buồn tủi, lo âu, gia đình nọ nối tiếp gia đình kia đi hàng một sát bên lề đường để tránh đoàn xe. Đèn pha của đoàn xe lần lượt chiếu các bóng lưng còng xuống của người lớn, những bóng nhỏ hơn của các trẻ em tay níu vạt áo hoặc ống quần của người bố hay người mẹ. Họ lặng lẻ thất thểu bước nọ trước bước kia trong đêm tối của tâm hồn.

Cuộc di tản này chắc chắn sẽ kéo dài tới ngày hôm sau. Thế là Kontum và Pleiku đã bỏ ngỏ, chính thức và không chính thức. Không chính thức mà chính thức vào hồi 20 giờ đêm ngày Chủ Nhật 16 tháng 3-1975.

Pleiku không còn gì để cho tôi săn tin thêm nữa.

Ba lô vẫn cõng trên vai, hồi 22 giờ 30 tôi theo đoàn người di tản ra khỏi thị xã Pleiku. Bầu trời hôm nay đẹp quá, hàng ngàn vì sao lấp lánh như thiên thần nháy mắt với trần gian, hay đó là những ám hiệu dục dã: “Lẹ lên!”

Nếu tôi có một người bạn đường đi bên tôi, tôi sẽ bảo: “Bạn ơi, trên trời có bao nhiêu vì sao thì lòng tôi đau xót còn hơn thế nữa.”

Đốt, phá, bỏ rơi:

Các kho súng, kho đạn tại tỉnh Pleiku đã được lệnh thiêu hủy, tiếng nổ lớn nối liền tiếng nổ nhỏ. Từng cột khói đen bốc lên trong lửa đỏ từ các bồn nhiên liệu cũng được lệnh phá hủy. Tất cả đều bùng cháy. Nhiều khu phố trong thị xã Pleiku đã bị toán người đập phá nhà cửa của các chủ nhân đã di tản, và đã bị phóng hỏa, ít nhất tôi cũng đếm được 14 đám cháy trong những khu phố khác nhau.

Nhiều tiếng súng cũng đã nổ trong thị xã. Có tin Đại Tá Tỉnh Trưởng Pleiku đã hạ lệnh cho đốt kho giấy bạc trong Ty Ngân Khố, ước lượng khoảng 300 triệu và trong khi tưới xăng để đốt, ông Trưởng Ty Ngân Khố đã bị phỏng. Không còn một bác sĩ tư nào trong thành phố. Quân cũng như dân y viện không còn hoạt động. Một số bệnh nhân tại dân y viện cũng như một số thương binh tại quân y viện Pleiku đã bị bỏ rơi lại vì không còn ai lo cho họ nữa. Chính họ trong tình trạng bệnh hoạn chẳng tự mình làm được. Ngoài sự chịu chết đói dần mòn ngay trên giường bệnh.

Một nguồn tin đáng tin cậy cho hay là Chuẩn tướng Tất, Tư Lệnh Mặt Trận Kontum – Pleiku đang chỉ huy cuộc triệt thoái lực lượng chính quy đi về hướng Nam trên quốc lộ 14.

Trên đường nóng bỏng:

(Pleiku 17-3) Sáng nay, cuộc di tản đang tiếp diễn dưới ánh mặt trời huy hoàng của một ngày đầu tuần. Hàng ngàn chiếc xe dân sự và quân sự vẫn nối tiếp nhau trên quốc lộ 19 đi về hướng Phú Bổn. Nhiều xe vì chở quá nặng không chạy nổi đã bỏ lại trên đường.

Các quân nhân được lệnh triệt thoái dưới quyền tư lệnh của Tướng Tất đã thi hành một cách rất trật tự và kỷ luật. Các đơn vị Biệt Động Quân đã được lệnh đi hai bên quốc lộ 14 ở những chỗ xung yếu để bảo vệ đoàn xe di tản dân sự và quân sự. Các đoàn người đi bộ thật là thảm thương, đàn bà, con trẻ đi bên lộ dưới ánh nắng nóng bỏng không giọt nước để uống.

Dọc quốc lộ từ Pleiku đến Hậu Bổn là tỉnh lỵ của Phú Bổn, đoàn xe cứ nối dài. Đoàn người đi bộ, bị bỏ lại sau, nhưng họ vẫn cứ cố gắng lết đi trên đường nóng bỏng dưới ánh nắng của Pleiku. Chưa biết đêm nay họ có thể tới được Phú Bổn bằng đôi chân của chính họ hay không. Sẽ có nhiều người sẽ bị chết đói, chết khát dọc đường. Dọc Quốc lộ 14 đi về phía Phú Bổn các làng, các ấp, các buôn đều trống trơn không còn một ai. Cảnh hoang tàn dọc quốc lộ 14 tôi không làm sao mà còn có trí óc để nghĩ ra những danh từ tường trình với độc giả.

Bi thảm quá đồng bào ơi!

Hôm nay thay vì lá thư hàng tuần sự tường trình của tôi có thể ngắn ngủi và không mạch lạc. Mong quý vị độc giả phương xa ở tại cái thủ đô đầy ánh sáng hiểu cho.

Cho tới nay vẫn không thể hiểu được lệnh bỏ ngỏ Kontum – Pleiku là ở đâu mà ra và tại sao lại có sự ra đi hấp tấp trong dân chúng trong khi các nhà cầm quyền quân sự đã trù liệu kế hoạch từ trước. Không có giải thích nào cho dân chúng. Không có tổ chức nào để di tản dân chúng trong trật tự và an ninh, không có một sự trợ giúp nào cho các dân nghèo không có phương tiện đi xe.

Từ năm 1954 cho tới nay, chính tôi đã chứng kiến bao cuộc di tản. Cuộc di tản Kontum – Pleiku dể lại cho tôi một mỗi chán chường. Sống với những hy vọng mong manh từ năm 1954 đến năm 1975 tới nay tôi cảm thấy không còn đủ sức, đủ ý chí để bấu víu lấy cái chút hy vọng mong manh ấy nữa. Ngoảnh về phía Pleiku khói vẫn ngùn ngụt bốc lên vì những đám cháy đêm qua.

Dọc lộ xe tăng, đại pháo dạt ra hai bên đường để bảo vệ những chỗ xung yếu để cho đoàn xe di tản dân sự và quân sự có thể đi chót lọt tới Hậu Bổn tức tỉnh lỵ Phú Bổn. Nhưng trên đoạn quốc lộ 14 từ Pleiku tới Hậu Bổn vẫn xảy ra nhiều đoạn đường kẹt xe, có thể kể hàng 5 đến 10 cây số chưa biết rằng đoàn xe có thể tới Hậu Bổn được không. Và từ Hậu Bổn sẽ đi đâu chưa ai rõ. Riêng cho tôi không còn có trí óc nào để nghĩ đến tương lai dù rằng tương lai chỉ là ở một giây, một phút sau đó.

Điện đàm dứt đoạn...

Nguyễn Tú, Chính Luận

Ghi chú: Trên đây phóng viên Nguyễn Tú mới chỉ tường thuật được đoạn mở đầu của chuyến rút quân bi thảm và sau đó thì hết phương tiện liên lạc. Thực sự đoàn quân dân rút từ Tây Nguyên về Duyên Hải đã hoàn toàn làm tan rã cả Quân Khu II với hàng ngàn người chết dọc đường và đưa đến cảnh toàn thể miền Nam vỡ ra thành từng mảnh vụn.

Giao Chỉ - San Jose

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Áo Trắng Nguyễn Bá Tòng
Tấm Lòng của Ngọc Di, cô nữ sinh lớp 12A-1


Bùi Văn Phú

Image
Sĩ quan Không quân Nguyễn Văn Lộc trong thời gian huấn luyện ở Texas, Hoa Kỳ, 1971-72.
Năm Lớp 10 tôi học trường Nguyễn Bá Tòng, Sài Gòn. Niên học sau đó, 1971-1972, trường này chỉ dành cho nữ sinh nên tôi chuyển qua trường mới mở bên Gia Định, học lớp 11B-4 và trở thành học sinh bậc anh cả vì năm đó trường chưa có lớp 12.

Niên học đó cũng là năm của Mùa hè đỏ lửa, khi bộ đội miền Bắc tràn qua sông Bến Hải tấn công nhiều tỉnh phiá Bắc Việt Nam Cộng hoà.

Tình hình đất nước trở nên khẩn trương. Bộ Quốc phòng ban hành lệnh đôn quân nên một số bạn, sinh năm 1954 hay trước đó, dù đậu Tú tài I cũng vẫn phải nhập ngũ tòng quân. Rớt thì vào Trường Hạ sĩ quan ở Đồng Đế, Nha Trang, đậu thì đi sĩ quan Thủ Đức. Thời đó câu chuyện thi cử đậu rớt đối với học sinh con trai là một một mốc thời gian của những định mệnh, như trong lời thơ của Nguyễn Tất Nhiên đã được Phạm Duy phổ nhạc: “Ta hỏng tú tài / Ta hụt tình yêu / Thi hỏng mất rồi / Ta đợi ngày đi / Đau lòng ta muốn khóc…”

Chiến tranh gia tăng. Tin chiến trường gửi về thành phố kèm theo những hình ảnh anh hùng. Có “người anh hùng Mũ đỏ tên Đương” hi sinh bảo vệ căn cứ. Có cánh thép Không quân Trần Thế Vinh với thành tích diệt tăng T-54 và đã hi sinh sau nhiều chuyến phi hành vào vùng lửa đạn.

Đại úy Trần Thế Vinh là một đàn anh, một cựu học sinh Nguyễn Bá Tòng, Sài Gòn.

Chiến trường sôi động. Nơi sân trường bọn học trò chúng tôi được lệnh theo học quân sự học đường. Thực ra chẳng thấy súng ống gì. Học sinh được đoàn ngũ hoá, chia thành đoàn, đội và được đặt tên. Vài tuần tập dượt xếp hàng cho ngay thẳng, đi những bước như theo nhịp quân hành. Chỉ có thế. Như là những buổi tập thể dục hơn là huấn luyện quân sự.
*
Sau mùa hè 1972 chúng tôi trở lại trường, vẫn với đồng phục áo trắng đóng thùng trong quần xanh. Lên lớp 12 tôi đổi từ ban B qua ban A như nhiều bạn khác. Học gạo môn vạn vật gỡ điểm dễ hơn chứng minh giải tích, rút đạo hàm hay lấy nguyên hàm.

Bạn bè đa số trở lại trường, nhưng cũng có đứa phải lên đường theo nghiệp đao binh. Trong số bạn thân nhất với nhau là Phạm Văn Thiêm, Trịnh Hoàng Long, Nguyễn Văn Lý và Lê Minh Châu thì Châu trong lứa tuổi đôn quân nên đã phải xếp bút nghiên lên đường vào Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Trong thời gian huấn nhục ở Quang Trung, cuối tuần chúng tôi rủ nhau lên thăm Châu để bạn khỏi buồn vì làm “con bà phước”, tức là tân binh mà không có gia đình lên thăm.

Niên học 1972-73 lớp 12A-1 học chung với con gái và cũng là lần đầu tiên trong đời tôi học chung với nữ sinh. Cả lớp xôn xao vì những bông hoa biết nói cười.

Nữ sinh trong áo dài trắng tung tăng sân trường trông thật dễ thương. Nhưng trong lớp nghịch phá, có hôm chúng tôi cột tà áo của ba cô ngồi gần nhau để tan lớp các cô lúng túng không biết làm sao gỡ ra, rồi được nghe Ngọc Truyền mắng giọng miền nam “Đồ quỷ” đã cho chúng tôi những trận cười thích thú.

Hơn mười năm đi học, từ tiểu học, trung học đệ nhất cấp rồi đến giờ tôi thường là đứa học sinh ngồi ở bàn đầu, nay tự nhiên cùng các bạn lùi xuống phiá sau, nhường những bàn trước lớp cho các cô, không biết vì bọn con trai mang tính ga lăng, hay xuống ngồi phiá sau để dễ phá phách, chọc ghẹo.

Năm đó có mấy nữ sinh được bọn chúng tôi chú ý: Nguyễn Thị Ngọc Truyền, Nguyễn Thị Ngọc Di, Võ Thị Hằng, Minh Châu và Thuỷ Tiên. Minh Châu trông hiền nhất, dễ thương. Còn Truyền mang cặp kính gọng đen, hay phát biểu trong lớp, là con người chất phác như giọng miền nam của cô. Hằng có dáng cao lớn, trông như Tây lai, nghe nói có bà con gì đó với Tướng Ngô Dzu và nhà cô là một ngôi biệt thự trên đường Chi Lăng, gần trường, đi học có người đưa đón bằng xe hơi. Thuỷ Tiên cũng hay thích cười vui, trò chuyện với bọn học trò con trai. Môn triết chúng tôi học với thày Phan Nguyên và thày Lê Phổ. Thày Phổ dạy tâm lí học và thường nhắc đến cụm từ “Nguyên tắc đầu tiên và chân lí”. Mỗi lần như thế chúng tôi nhìn nhau tủm tỉm cười vì tên của hai bạn Tiên và Lý được ghép chung.

Đẹp nhất lớp là Ngọc Di, có đôi mắt to đen như cặp mắt bồ câu và làn môi mỏng. Nghe các bạn nói Ngọc Di người Nha Trang vào Sài Gòn trọ học. Ngọc Di ít nói. Tôi nghĩ thế. Hay tại mình thấy người đẹp nên nhát không dám mở miệng nói chuyện thì không biết.

Ngọc Di có người chú là thày Thành, dạy Pháp văn tại trường. Dù thày không dạy chúng tôi nhưng thấy vẻ mặt của thày lúc nào cũng rất nghiêm nên ít ai dám lần mò tìm cách tán tỉnh cô cháu. Có lần tôi đứng nói chuyện với Ngọc Di trong giờ ra chơi, thày trông thấy và tìm cách tách rời. Sau có muốn nói gì thì viết thư, tặng hoa sứ nhặt ở sân trường hay gửi đi những cánh thiệp.

Một hôm chúng tôi nhận được tin không vui. Người yêu của Ngọc Di là một sĩ quan không quân mới trở về sau thời gian huấn luyện bên Mỹ và thường ghé đón Ngọc Di sau buổi tan trường. Thế là mơ mộng của tuổi học trò tan bay.

Lúc đó trong lớp mới biết có một bạn nữa rất say mê vẻ đẹp của Ngọc Di là Nguyễn Duy Nam, tức ca sĩ Duy Nam, là học trò và có giọng ca giống như Duy Khánh. Nam có được một tấm hình nhỏ cỡ 4×6 của Ngọc Di và đem khoe, nhưng chúng tôi không biết từ đâu mà Nam có. Đến ngày bế giảng niên học, trường phát hành kỉ yếu thì trong số ảnh của học sinh lớp 12A-1 không có hình Nguyễn Thị Ngọc Di. Không biết làm sao Nam đã có được hình đó từ ban thực hiện kỉ yếu.

Năm đó tôi được nhà trường chọn là học sinh đứng nhất về hạnh kiểm. Nhưng vui nhất là tôi thi đậu Tú tài II cùng với các bạn thân khác.
Image
Ngày cưới Ngọc Di và Nguyễn Văn Lộc, Nha Trang tháng 2-1974 (trái). Ngọc Di sinh con đầu lòng, trại tị nạn ở Florida tháng 7-1975.


Lên đại học được ít lâu chúng tôi hay tin Ngọc Di lấy chồng là anh sĩ quan không quân hay ghé trường ngày trước. Rồi lại có tin những bạn bè ra đi không bao giờ trở lại. Duy Nam chết ngoài chiến trường. Lê Minh Châu mất tích sau khi đồn của anh ở Cai Lậy bị tấn công.

Chiều ngày 29.4 tôi nhảy xuống tàu ở bến kho 5.
*
Sau ba tháng trôi dạt qua các trại tị nạn, tôi định cư ở thành phố Berkeley, California.

Những tháng năm đầu nơi miền đất lạ người Việt tị nạn thường tìm kiếm nhau qua các mục nhắn tin trên báo. Tôi liên lạc được với Ngọc Di đang ở Pensacola, Florida là bạn học duy nhất từ trường Nguyễn Bá Tòng đã có thể rời Việt Nam trong cơn biến loạn 30.4. Hỏi thăm gia đình, Ngọc Di chỉ viết gọn “Never. Never” như là sẽ không bao giờ còn được gặp lại chồng nữa mà tôi cũng không hiểu tại sao và rồi sau đó mất liên lạc với nhau cho đến giờ.

Tháng trước hay tin Ngọc Di về Việt Nam để lo đem tro than của chồng là cố Trung úy Không quân Nguyễn Văn Lộc qua Mỹ. Tôi điện thoại hỏi thăm và ở đầu giây bên kia từ máy nhắn tin có giọng của Gina Nguyễn. Tên có khác nhưng dù đã hơn ba mươi năm tôi vẫn nhận ra giọng nói của cô nữ sinh lớp 12A-1 ngày nào.

Image
Con gái đầu lòng Đan Vi, tay ôm hoa, và Ngọc Di mang tro than của chồng từ Việt Nam về đến Los Angeles hôm 3.11.2008.
Đọc những thông tin về chồng của Ngọc Di, tôi xúc động và cảm phục. Lo cho vợ ra đi vào những ngày cuối tháng 4.1975 khi Ngọc Di đang mang thai đứa con gái đầu lòng, còn anh ở lại chiến đấu đến giờ phút cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà. Khi đất nước không còn giữ được, anh cũng như bao nhiêu người lính khác phải đi học tập cải tạo. Trong lao tù anh tìm cách vượt ngục, bị bắt lại và bị bắn chết cùng với một đồng đội khác vào ngày 26.3.1976. Thân xác các anh được bạn tù cuốn chiếu, chôn vội nơi ven rừng Long Khánh.

Cảm phục hơn nữa là Ngọc Di vẫn giữ một tấm lòng với người chồng đầu tiên, quyết đi tìm xác người yêu từ những chuyến đi Việt Nam trong phái đoàn Hoa Kỳ tìm lính Mỹ mất tích từ giữa thập niên 1980.

Sau bao năm bền bỉ lặn lội tìm kiếm, Ngọc Di và con gái Đan Vi đã tìm được mộ của chồng, của bố và cải bốc đem về Mỹ. Hôm 8.11 tro than của cố Trung úy Nguyễn Văn Lộc, cùng với đồng đội là sĩ quan không quân Lê Văn Bé, đã được an vị tại Hoa Kỳ trong một buổi lễ truy niệm do gia đình và chiến hữu của các anh tổ chức.

All give some. Some give all. Trong chiến tranh, chúng ta mỗi người đều hi sinh một phần, nhưng có người đã hi sinh tất cả. Đó là những chiến sĩ như anh Nguyễn Văn Lộc. Anh đã sống cho lí tưởng và chết cho quê hương. Xin được nghiêng mình kính phục sự hi sinh đó.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Tháng Tư, ngày cuối

đơn vị dường như còn nguyên
trên đường tăng viện quân bạn
bỗng đâu có lệnh đầu hàng
ô hay miền Nam thất trận!

vứt khẩu súng xuống bìa rừng
vùi chiếc mũ xanh hốc đá
tôi ngang qua đó, Dĩ An
buổi chiều tháng Tư rã ngũ.

xóm Bắc ảm đạm màu tang
mắt những cụ già lệ đẫm
tim tôi ai lấy dao đâm
lúc cởi bỏ đi áo lính.

chị dúi gói xôi vào tay
bác đem cho bộ thường phục
tình dân vẫn bát nước đầy
thẹn mình không giữ được nước.

tôi bước cơ hồ mộng du
dòng người ngược xuôi, hối hả
về đâu đêm nay, về đâu
khi trọn quê hương nhuộm đỏ?


Nguyễn Văn Ngọc

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Khóc người đáy biển

Tháng Tư ra biển khóc người
Oan hồn hỡi, đáy trùng khơi, xin về…
Biển chiều vàng ánh tà huy
Dài tay sóng níu bước đi vô hồn

Đứng trên bờ đá cô đơn
Khóc người bằng tiếng thơ buồn xót xa
Ai hay đáy biển là nhà
Máu pha lệ hận chan hòa đại dương

Thịt da nát dưới bạo cuồng
Ngàn trang huyết sử bên đường tử sinh!
Mắt buồn nhìn sóng biển xanh
Thấy sương khói vẫn vô tình khói sương

Mà lòng đòi đoạn đau thương
Xót người đáy biển đoạn trường chưa nguôi
Tháng Tư ra biển khóc người
Hiển linh,chứng giám đôi lời thơ đau

Tôi viễn xứ, người biển sâu
Chung hồn lưu lạc, chung sầu quê hương
Người trên sóng nước trùng dương
Tôi khung cửa hẹp, gió sương bốn mùa

Bóc tờ lịch. Lại Tháng Tư!
Đau tình sông núi làm thơ khóc người
Người vùi xương trắng biển khơi
Còn tôi sống kiếp dân Hời vì ai?


Ngô Minh Hằng
(Viết để khóc cho mình và cho những thuyền nhân kém may mắn trên đường vượt biển tìm Tự Do sau 1975.)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

BA DÒNG NƯỚC MẮT

Sáng tác: Phạm Tín An Ninh.

Image
Ảnh minh hoạ: Sĩ Quan Không Quân QLVNCH
Tôi vô cùng ngạc nhiên khi nhận đuợc thư Bình, thằng bạn thân tình từ thời nối khố. Nó là đứa cuối cùng trong đám bọn tôi rời xa đất nước, vừa mới được sang định cư bên Mỹ theo diện HO 31. Lá thư chỉ vỏn vẹn mấy dòng:
"Tao đã đến Mỹ vừa đúng hai tuần. Ở đây ồn ào và ngột ngạt quá, tao muốn tìm một chỗ bình yên. Mày có cách nào giúp tao sang Bắc Âu với mày. Bởi tao nghe mày kể bên ấy dù có buồn và mùa đông khá lạnh, nhưng cuộc sống yên bình, thích hợp cho những người cần một nơi để chửa trị những vết thương khó lành được trong lòng.
Tao đang có nhiều vết thương, và cũng đang có nhiều điều rối ren không giải quyết được. Rồi có dịp tao sẽ tâm tình với mày sau. Bây giờ, bằng mọi cách mày giúp tao sang đó với mày. Càng sớm càng tốt.."

Hơn một tháng trước, Định đã báo cho tôi biết việc Bình sẽ sang Mỹ. Nó đã phụ giúp vợ Bình sẵn sàng tất cả mọi thứ để đón Bình. Định còn bảo khi nào Bình đến Mỹ rồi, nó sẽ báo để tôi sang thăm. Ba thằng gặp lại, tha hồ mà kể chuyện xưa. Vậy sao bây giờ vừa mới đoàn tụ vợ con, Bình lại muốn sang Bắc Âu với tôi, một nơi xa tít mịt mùng ?

Gọi điện thoại cho vợ Bình và Định nhiều lần, nhưng không ai bốc máy. Hôm sau tôi vào sở xin lấy trước một tuần hè, và đặt vé máy bay sang Mỹ.
***

Bọn tôi là ba thằng bạn thân từ những ngày mới lớn. Cùng học một lớp ở trường làng, rồi lên trường huyện. Điều đặc biệt là tên của ba thằng đều có vần "inh". Trong lớp bạn bè thường gọi bọn tôi là Ninh-Bình-Định, mặc dù cả ba thằng chưa hề biết quê quán của Quang Trung đại đế, cái nơi nổi tiếng "con gái cầm roi đi quyền" đó nó ra
sao. Tuổi thơ ở nhà quê khá nhọc nhằn, nhưng lại có biết bao kỷ niệm êm đềm của những ngày câu cá tắm sông, những trận bóng sôi nổi trước nhiều khán giả là đám con gái cùng trường, mà trái banh chỉ là những trái bưởi rụng nhặt được phía sau hè. Rồi cả ba thằng được may mắn vào thành phố Nha Trang học trung học. Dù khác lớp nhưng cùng vào một đội bóng của trường. Đội bóng bao lần chiếm giải quán quân. Sau khi đậu tú tài, nhìn thấy con đường học hành sao mà xa xăm diệu vợi quá. Muốn học thêm phải khăn gói vào tận Sài gòn, trong lúc kinh tế gia đình đang lúc khó khăn. Không đành lòng bắt cha mẹ phải còng lưng thêm chút nữa, ba thằng rủ nhau vào lính. Làm đơn tình nguyện vào binh chủng không quân, bởi hình ảnh những chàng phi công hào hoa đi mây về gió, trong bộ đồ bay, khăn quàng cổ tím, đã là thần tượng của bọn tôi từ lâu lắm. Vậy mà chỉ có riêng tôi là mộng ước không thành, vì thiếu thước tấc, bị loại ngay vòng khám sức khỏe đầu tiên. Hai thằng bạn được toại nguyện, nhưng không vui. Vì kể từ hôm nay, không còn "chúng mình ba đứa" nữa. Tôi tiễn hai thằng đến Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân nằm bên bờ biển Nha Trang, rồi một mình khăn gói vào Sài gòn học tiếp.

Khi bọn nó sang Mỹ học phi hành, thì tôi vào quân trường Thủ Đức. Cứ vài tuần tôi nhận thư từ bên Mỹ. Nhìn tấm ảnh hai thằng chụp trước cổng trường, hoặc đứng bên cạnh một chiếc F 5, tôi thấy thèm cái oai phong của tụi nó. Sau khi về nước chỉ có thằng Bình được lái phản lực A-37 cho một phi đoàn đóng ở Biên Hòa, còn thằng Định thì ra phi đoàn trực thăng tận ngoài Vùng 1.

Tôi ra trường, được bổ sung về một tiểu đoàn tác chiến đang làm lực lượng lưu động cho Quân Đoàn, rày đây mai đó, gần như chỗ nào có trận chiến là tôi có mặt. Vậy mà so với mức độ hiểm nguy, chết chóc, chẳng nhằm nhò gì với cái chuyện đi bay của thằng Định. Bởi phi đoàn của nó chuyên thả và bốc những toán biệt kích delta trong các vùng địch. Sau một chuyến công tác, nếu may còn sống, được thưởng một số tiền và mấy ngày phép xài chơi. Bao nhiêu lần nó thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Nó bảo đúng là đạn tránh nó. Nhờ vậy mà nó là thằng thường có mặt ở thành phố Nha Trang. Cứ sau một lần thoát chết, nó trở về đây, còn tôi và thằng Bình, cả năm chỉ được một tuần "anh về với em rồi anh lại đi". Có lẽ nhờ vậy mà nó có khá nhiều mối tình để kể cho bọn tôi nghe mỗi lần có dịp gặp nhau, hay bất ngờ liên lạc được trên các tần số không lục.

Nhưng rồi trong ba thằng, tôi lại là thằng bước lên xe hoa trước nhất. Thằng Định vẫn muốn thoải mái đi mây về gió, không bị vướng chân vướng cẳng, còn thằng Bình thì khá kín miệng nên chuyện tình duyên của nó
bọn tôi cũng mờ mịt lắm.
Một lần tiểu đoàn đổ quân xuống Ninh Hòa lúc hai giờ sáng, khi cả cái thị trấn nhỏ này còn đang say ngủ. Đại đội tôi được chỉ định vào đóng quân trong sân vận động. Sáng hôm sau, quần áo chỉnh tề, tôi rủ thêm hai thằng bạn lính vào một ngôi nhà phía trước "thăm dân cho biết sự tình", không ngờ "hồn lỡ sa vào đôi mắt em", đôi mắt nai tơ của cô bé chủ nhà. Đám cưới tôi có mặt cả hai thằng bạn nối khố, và hai thằng
đều tình nguyện làm phụ rể.

Ba năm sau, Định lên chức quan ba, được thuyên chuyển về một phi đoàn đóng ở Pleiku làm trưởng phòng hành quân, nên chúng tôi có nhiều dịp gặp nhau, khi ở thành phố, khi thì trong các cuộc hành quân trực thăng vận. Lâu lâu nó tình nguyện bay tiếp tế cho đơn vị tôi, thả cho tôi vài ký thịt tươi và chai rượu đế. Mùa hè 72, tôi bị thương ở căn cứ Võ Định, Kontum. Suốt hơn hai tuần bị địch bao vây và pháo kích nặng nề, tôi nhận lệnh phải mở đường máu rút quân ra, nhưng vết thương nặng ở chân phải của tôi là một trở ngại lớn cho đơn vị. Trong lúc Định đang bay chiếc CNC (trực thăng chỉ huy), nhưng đã điều động hai chiếc võ trang (gunship) bắn nghi binh và yểm trợ, rồi một mình nhào xuống bốc tôi trong lưới đạn phòng không dày đặc. Chiếc trực thăng bị nhiều vết đạn mà bọn tôi vẫn an toàn. Mặc dù nó dày dạn kinh nghiệm và bay rất
tài ba, nhưng đúng là đạn đã tránh nó, như nó vẫn thường ba hoa với đám bạn bè.

Chỉ có thằng Bình là "số đẻ bọc điều". Từ A-37 nó chuyển sang lái F-5, nhưng vẫn quanh quẩn ở Biên Hoà, rồi Cần Thơ. Nó là thằng đẹp trai và ít nói. Trước đám con gái, tôi và thằng Định thì líu lo chuyện dưới biển trên trời, còn nó chỉ ngồi cười mỉm. Có lẽ nhờ vậy, mà sau này nó âm thầm về Nha Trang và cua dính Mỵ Khê, một cô bé răng khểnh khá xinh ở trường Nữ, mà ngày xưa cả ba thằng đều quen biết, bởi đã từng thách nhau cùng đạp xe theo "tán", sau các buổi tan trường.

Mỗi lần về Nha Trang thăm bồ, nó đều rủ tôi và Định bay về Nha Trang với nó một vài hôm. Lúc này chiến trường Tây Nguyên khá sôi động, phi đoàn Thần Tượng ở Nha Trang có một biệt đội trực thăng tăng cường cho Pleiku, mà hầu hết các chàng pilot đều là bạn thân của Định, nhờ vậy mà tôi và Định về Nha Trang dễ dàng như đi chợ. Có khi chỉ ở Nha Trang một đêm, rồi sáng hôm sau lại có mặt ở chiến trường. Những lần gặp nhau, đều có mặt Mỵ Khê. Cô bé học trò trường nữ ngày xưa bây giờ đã là cô giáo. Nhưng có lẽ đi dạy học chỉ để làm kiểng, bởi cô ta là con nhà giàu. Ông bà già có mấy tiệm buôn trên đường Độc Lập. Mỵ Khê được nuông chiều, nên ngay cả chuyện bếp núc cũng không rành. Lần nào gặp nhau ở nhà nàng, bọn tôi cũng chỉ được mời một món duy nhất mà nàng
rất tự hào do chính tay mình nấu : cháo trắng ăn với hột vịt muối.

Cuộc tình này cũng kéo dài đến mấy năm. Không phải để tập làm sao "đừng nhìn nhau mà cùng nhìn về một hướng" như lời khuyên trong sách, mà vì cha mẹ Mỵ Khê rất tin vào bói toán. Tuổi tác của hai người chưa thể kết hôn.
Cuối cùng, đến mùa hè 73, thì cuộc tình dài này cũng kết thúc bằng một cái đám cưới khá linh đình ở nhà hàng La Frégate. Khách khứa lên đến trăm người.

Lần này chỉ có thằng Định được làm phụ rể, còn tôi bị loại khỏi vòng chiến bởi "xác thân đã nhuốm mùi trần tục", một vợ mấy con, nên được thằng Bình giao cho cái chức tiếp tân, chỉ đứng mỉm cười đón khách.
Đúng là thằng Định có số đào hoa. Không biết tài tán gái thế nào mà sau đám cưới, tôi đi tìm nó khắp nơi, cuối cùng bất ngờ gặp nó ôm chặt cô bé phù dâu xinh đẹp, ngồi ngoài bờ biển. Có lẽ đúng như mấy ông bà già thường nói "lắm mối tối nằm không", đến ngày mất nước thằng Định đào hoa nhất bọn vẫn cứ còn độc thân.

Tháng 3-75, miền Trung mất vào tay giặc, Định theo phi đoàn di tản về Nha Trang rồi Biên Hoà. Trong cái cảnh dầu sôi lửa bỏng này nó gặp lại vợ chồng Bình. Sau một ngày với bao nhiêu phi vụ hiểm nguy, tối đến hai thằng lại bù khú mày tao mi tớ với nhau như cái thời còn đi học. Mỵ Khê, bà xã của Bình cũng vừa sinh được cô con gái đầu lòng, nên căn cư xá lúc nào cũng rộn rã tiếng cười hoà lẫn tiếng khóc của trẻ thơ. Nhờ vậy mà hai thằng phi công cũng bớt được phần nào những ưu tư lo lắng trong giờ phút lâm nguy của chính mình và đất nước.

Sau những trận đánh lẫy lừng của các đơn vị ở Long Khánh, cũng chỉ có khả năng cầm chân địch hơn một tuần. Biên Hoà bỏ ngỏ. Phi đoàn của Bình nhận lệnh đem máy bay xuống phi trường Trà Nóc tránh pháo. Bình nhờ Định đưa vợ con về Tân Sơn Nhất, cùng ở tạm trong cư xá, nhà của một thằng bạn cùng khoá, sau mấy lần bị thương, không còn khả năng phi hành nên về làm trong Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân.

Ngày 29.4, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích liên tục. Tình hình nguy ngập, cả phi đoàn của Định chỉ còn lại vài chiếc trực thăng. Anh em trong phi đoàn ngồi lại tính chuyện bay ra hạm đội Mỹ đang chờ
ngoài biển..
Trong lúc bạn bè chạy ngược xuôi tìm chỗ cho vợ con, chỉ có Định là một thân một mình nên chẳng lo lắng gì, ngoài cái tâm trạng bực tức, chán chường. Định liên lạc với Bình, báo cho biết việc phi đoàn của nó sẽ bay ra hạm đội, bảo Bình thu xếp gấp về Sài gòn để kịp đưa vợ con đi. Định bảo là nó được dành ba chỗ trên tàu, vừa đủ cho vợ chồng Bình và một đứa con nhỏ. Nhưng Bình từ chối, bảo là vùng 4 còn an toàn, phi đoàn phản lực của nó được đặt dưới quyền của tướng tư lệnh Nguyễn Khoa Nam. Bình chỉ nhờ Định lo cho vợ con nó đi cùng. Tùy tình hình nó sẽ đi sau.

Khi Định và vợ con Bình đến đảo Guam hai ngày,thì biết tin Sài Gòn thất thủ. Định đi tìm Bình khắp nơi nhưng không thấy. Người ta bảo có lẽ Bình đã bay sang Thái Lan.
Ngày tôi khăn gói đến địa điểm trình diện "học tập cải tạo" bất ngờ gặp Bình. Trong cái cảnh "nước mất nhà tan" này mà có được một người bạn thân thì cũng vơi được nỗi buồn. Nó kể là anh em trong phi đoàn không đành rời căn cứ trong lúc hai ông tướng quân đoàn vẫn còn ở lại sống chết với anh em. Sau khi hai ông tự sát, thì tình hình đã quá muộn màng, địch quân bao vây, pháo kích dữ dội vào phi trường, nên anh em chỉ còn kịp phá hủy một vài hệ thống trên phi cơ.

Ở tù chung trong trại tù An Dưỡng Biên Hòa gần một năm, khi chuyển ra ngoài Bắc mỗi thằng bị chia mỗi ngả. Ra tù, tôi ghé lại thăm gia đình Bình. Ông già nó qua đời, chỉ còn bà mẹ và cô em gái, nhưng nhà cửa được xây lại khang trang và cuộc sống khá sung túc so với những người khác trong vùng. Mẹ nó bảo tiền bạc do vợ Bình gởi về đều đặn. Bà còn khoe mấy tấm ảnh của vợ con Bình được phóng lớn treo trên vách.

Đúng một năm ra khỏi tù, tôi vượt biên. Trong trại tỵ nạn Bataan, bên Phi, khi chuẩn bị lên đường định cư thì nhận tin Bình được thả về. Nhưng chỉ vài tháng sau thì lại được tin nó bị bắt khi tổ chức vượt biên. Mãi đến tám năm sau nó mới lên đường sang Mỹ theo diện HO. Tôi định chờ một vài tuần để nó tạm ổn định cuộc sống và gia đình, tôi sẽ bay sang thăm vợ chồng nó và thằng Định, thì bất ngờ nhận lá thư này của nó.

Máy bay đáp xuống phi trường Fayetteville, North Carolina lúc 9 giờ rưởi tối. Một phi trường nhỏ ở một nơi tôi hoàn toàn xa lạ. Anh tài xế taxi người da đen chở tôi chạy lòng vòng qua những rừng thông hoang vắng càng làm đầu óc tôi căng thẳng, lúc nào cũng trong tư thế "ứng chiến" để đối phó với những điều bất trắc. Cuối cùng thì anh ta cũng tìm tới được địa chỉ nhà Bình. Trong nhà tối om. Cổng khoá chặt. Tìm chuông cửa nhưng không thấy. Tôi mở bóp tìm địa chỉ của Định, nhưng lâu nay viết thư cho tôi, Định chỉ dùng P.O.Box. Tôi hỏi anh tài xế
taxi tên một motel gần nhất. Tôi viết vài chữ lên tấm giấy nhỏ, bảo Bình đến tìm tôi ở motel ấy, rồi gắn lên cửa.

Trưa hôm sau, người đến tìm tôi không phải là Bình, nhưng là ông già vợ của Bình. Tôi chỉ gặp và nói chuyện với ông vài lần trong ngày đám cưới của Bình, nhưng nhận ra ngay. Mặc dù bây giờ ông già hơn xưa, nhưng có tướng đẹp lão. Và vẫn còn hàng ria mép. Ông bảo chính Mỵ Khê nhờ ông đi đón tôi. Trên đường đưa tôi về nhà, ông cho biết là ông đang làm chủ một khách sạn nhỏ và một nhà hàng. Ở cách xa nhà vợ chồng Bình chừng hai mươi phút lái xe.

- Tội nghiệp, vợ chồng nó đang có chuyện buồn. Chuyện phức tạp quá nên hai bác đã cố gắng hết sức nhưng không giải quyết được. Cháu là bạn bè thân, hy vọng cháu nói bọn nó nghe.

- Cháu muốn được nói chuyện riêng với bác trưóc khi gặp vợ chồng Bình. Tôi muốn biết rõ ràng việc gì đã xảy ra với vợ chồng Bình, để biết cách ứng xử sao cho thích hợp.

Ông già của Mỵ Khê quay xe lại, tìm đường rẽ sang một hướng khác. Hơn mười phút sau, ông dừng xe trước một nhà hàng Á châu.

- Cháu vào đây với bác. Nhà hàng này là của bác.

Ông bảo người con gái đứng trong quày mang cho tôi một phần ăn, và một tách trà cho ông, rồi kéo tôi ngồi xuống một cái bàn nằm riêng trong góc. Ông bảo tôi cứ dùng cơm tự nhiên, rồi bắt đầu tâm sự :

- Hai bác thật là buồn và khó xử, chẳng biết phải tính làm sao. Khi thằng Định đưa con Mỵ Khê, vợ thằng Bình sang Mỹ với đứa con chưa tròn một tuổi. Một thân một mình nơi xứ lạ quê người, tất cả từ việc lớn đến việc nhỏ gì nó cũng trông cậy vào thằng Định. Mà Định quả là thằng chí tình với bạn bè, Nó hết lòng lo lắng cho vợ con thằng Bình, mê chuyện học hành mà đành phải bỏ, đi làm hai ba ca để vừa có đủ tiền lo cho mẹ con Mỵ Khê, mà còn gởi về Việt Nam giúp gia đình thằng Bình sau tháng 4/75 trải qua bao năm túng quần. Rồi cũng chính nhờ thằng Định giúp việc bảo lãnh gia đình bác từ Việt Nam sang Mỹ đoàn tụ với mẹ con Mỵ Khê. Nhưng rồi tất cả cũng vì Bác mà gây nên cớ sự. Trước khi rời Việt Nam, hai bác có ra chào vợ chồng anh chị sui gia, là ba má của thằng Bình. Ông bà khóc lóc kể cho bác biết là có tin do vợ một người bạn cùng tù với Bình vừa ra thăm chồng ngoài Bắc về, bảo là Bình đã bị bắn chết trong một lần trốn trại với mấy người bạn tù khác nữa ở biên
giới Lào. Chính vì vậy mà hai bác khuyên con Mỵ Khê nên tiếp nối với Định, bởi bao nhiêu năm nay nó đã hy sinh ở vậy để tận tình lo lắng cho mẹ con Mỵ Khê, và cháu Lina, con của Bình cũng xem Định như là cha của nó. Hai bác tâm tình khuyên mãi, tụi nó mới làm đám cưới. Sống với nhau hơn mười năm, tụi nó có hai đứa con, thì mới nhận được tin là thằng Bình vẫn còn sống, chỉ bị thương nhẹ, rồi đem đi biệt giam ở một trại tù nào khác, không ai biết. Từ ngày ấy thằng Định buồn ghê lắm và lúc nào cũng ngồi thơ thẩn một mình. Nó giấu việc này không dám nói với thằng Bình, và cũng chính nó phụ với hai Bác gởi tiền về giúp đỡ gia đình Bình và lo cho Bình sang Mỹ theo diện HO.

Tôi đưa tay xin ngưng lời bác.

- Bây giờ thằng Định đang ở đâu thưa Bác ?

- Trước ngày thằng Bình sang đây, thằng Định mang hai đứa con của nó với Mỵ Khê sang đây nhờ hai bác mướn người giữ hộ, rồi "mu" qua Hawaii. Con Mỵ Khê khóc lóc, bảo nó cứ ở lại đây, khi nào thằng Bình sang Mỵ Khê sẽ nói chuyện với thằng Bình, thằng Bình sẽ hiểu được bao điều khúc mắc và chắc sẽ không buồn. Hai bác cũng giải thích cho nó biết, dù sao thằng Bình với con Mỵ Khê cũng đã xa cách quá lâu, và sự việc xảy ra là do bao nhiêu nghịch cảnh đẩy đưa, chứ Định là một thằng tốt bụng, hết lòng chung thủy với bạn bè. Hai bác cũng sẽ nhận trách
nhiệm này trước mặt thằng Bình, khi nó tới đây.

- Rồi cuối cùng ra sao, thưa Bác ?

- Vợ chồng bác khuyên giải suốt cả mấy ngày liền, nhưng nó vẫn không nghe, nó xin lỗi hai bác và con Mỵ Khê, rồi nhờ bác trao lại cho thằng Bình một lá thư. Nó xin được phép dán lá thư lại nên hai bác cũng chẳng biết nó viết cái gì trong đó. Khi đến Hawaii, nó có gọi phôn về cho bác, bảo đang chạy taxi với một thằng bạn cũ. Chút nữa bác sẽ cho cháu số phôn của nó, để cháu liên lạc khuyên giải nó hộ bác.
Bác chở tôi lại trước nhà vợ chồng Bình, bỏ tôi trước cửa, chỉ tôi cái chuông điện nằm kín phía bên trong cánh cửa, rồi lái xe về. Bác bảo là để đám trẻ bọn tôi gặp nhau sẽ được tự nhiên hơn.
Người ra mở cửa là Mỵ Khê. Vừa nhận ra tôi, Mỵ Khê nắm chặt tay tôi, nhoẻn miệng cười, nhưng lại bật khóc ngay sau đó. Mỵ Khê đưa tôi vào nhà, chỉ cho tôi nơi Bình ở, căn nhà sau, chung vách với gara xe. Tôi gõ mấy lần, cửa mới mở.

Sau bao nhiêu năm hai thằng bạn thân từ thời nối khố gặp lại nhau, nhưng đều không vui, ôm lấy nhau mà lòng dạ bùi ngùi. Suốt đêm hôm ấy tôi ở trong phòng Bình, nhưng hai thằng không ngủ, nằm
tâm sự thâu đêm. Tôi chưa biết phải nói điều gì với Bình, thì Bình mở đầu tâm sự.

- Khi biết việc này, tao có bất ngờ, và dĩ nhiên cũng buồn ghê lắm. Nhưng chỉ sau một đêm suy nghĩ, tao lấy lại được sự bình thản, và nghĩ là Mỵ Khê đã thuộc về Định, và hai người rất xứng đáng trong tình yêu, trong cuộc hôn nhân mới này. Tao phải cám ơn thằng Định, đã hết lòng cưu mang vợ con tao và cho Mỵ Khê một gia đình hạnh phúc, một chỗ dựa vững chắc trên xứ lạ quê người. Hơn nữa tao và Mỵ Khê xa cách khá lâu, trong lúc nàng đã hội nhập vào xã hội Mỹ này từ lâu rồi, còn tao bây giờ cũng đã già, lại là một thằng quê mùa, bệnh hoạn, mà vết thương trên thân xác cũng như trong lòng tao vẫn chưa lành được.Tao tự biết mình thực tình không còn thích hợp, không còn xứng với nàng. Tao cũng đã tâm tình với Mỵ Khê và điện thoại cho thằng Định, nói hết nỗi lòng.
Mong nó trở về đây. Cháu Lina, con gái của tao cũng nhớ nó mà khóc cả ngày. Tao hiểu, con bé còn xa lạ với tao lắm. Mà nó xa lạ là phải. Không dễ dàng gì cho một cô con gái đã hơn 20, không hề biết mặt cha từ lúc mới năm tháng tuổi, bây giờ phải chấp nhận một ông cha bất ngờ từ trên trời rơi xuống

- Thế rồi vợ mày và thằng Định tính sao ?

- Mỵ Khê thì chỉ khóc và im lặng, còn thằng Định thì nhất quyết trả Mỵ Khê lại cho tao. Nó còn bảo là nó nhớ tao lắm, nhưng không muốn gặp tao.

- Bây giờ mày tính sao ? Tao sẽ giúp được gì cho tụi mày ?

- Tao nhờ mày. Chỉ có mày có thể giúp tao trong lúc này. Mày đưa tao qua Hawaii gặp thằng Định và tâm tình giải thích để nó trở về với vợ con tao.

- Còn mày thì sao ?

- Tao một thân một mình. Nếu mày kéo tao sang Nauy ở với mày là phúc cho tao. Có mày tao sẽ dễ quên bao nhiêu chuyện đau lòng. Còn nếu không được thì tao lang thang đâu cũng được. Lâu lâu kiếm được tiền tao lại ghé về đây thăm cháu Lina, cho dù trong lòng nó, có lẽ tao chưa hề là cha của nó.

Ba thằng bọn tôi lại gặp nhau, qua bao nhiêu năm chia cách cùng những dông tố trong đời. Ôm nhau mừng rỡ mà sao nghẹn ngào, không ai nói nên lời, chỉ có nước mắt chảy dài trên má. Ngày xưa, thằng Định là đứa ba hoa, khôi hài nhất trong bọn, vậy mà cũng không mở miệng để nói một lời, dù chỉ là một chữ hello, mà nó đã thường xài từ lúc còn ở Việt nam, mỗi khi gặp bạn bè.

Không biết lúc này trong đầu hai thằng bạn đang nghĩ điều gì. Riêng tôi đang hình dung tới cuộc chiến bi thảm mà kẻ chiến thắng lại là những con người tàn ác nhất đã tạo nên bao chia ly tan tác.

Sáng nay, chủ nhật, mùa đông Bắc Âu khá lạnh. Tôi thức giấc đã lâu nhưng còn đang trùm chăn nằm nán trên giường thì nghe điện thoại reo. Bốc ống nghe chưa kịp hỏi là ai, thì nghe bên kia đầu giây giọng nói quen thuộc của thằng Định :

- Hello! Ninh ơi. Có thằng Bình đây, nó muốn nói chuyện với mày.

Tôi nghe giọng nói yếu ớt nhưng rất vui của Bình :

- Bình đây. Gọi thăm vợ chồng mày và báo cho mày một tin vui. Tao đang ở nhà vợ chồng thằng Định đây. Vừa từ bệnh viện về. Vợ chồng Định lên tận Houston tìm thăm tao, báo tin cháu Lina bị bệnh rất nặng cần phải thay gấp một quả thận. Bác sĩ cho biết cách tốt nhất là lấy thận của nguời cùng huyết thống, nên tao theo Định và Mỵ Khê bay xuống North Carolina ngay để kịp thời lo cho cháu. Bác sĩ bên này giỏi thật.

Mọi việc tiến hành nhanh chóng. Bây giờ đã xong xuôi. Cháu Lina cũng đã khỏe lại. Đáng lẽ tao đã về lại Houston, vì tao vừa mới mở cái tiệm giặt ủi, do vợ chồng thằng Định giúp vốn, vợ chồng nó cũng vừa mua cho tao một ngôi nhà nhỏ, ở bên cạnh hai thằng bạn cùng phi đoàn với tao ngày trước, nhưng vợ chồng nó nhất định giữ tao lại. Cả cháu Lina nữa. Nó cũng muốn có nhiều thời gian để tâm tình với cha của nó. Mày cố
gắng bay sang đây với tụi tao cho vui.

Chưa kịp trả lời, tôi lại nghe giọng nói của đàn bà :
- Ông bà qua đây để tôi còn đãi món cháo trắng ăn với hột vịt muối. Tôi nghe những tiếng cười khúc khích, rồi giọng đùa nghịch của thằng Định xen vào :

- Hello, Ninh ! Mỵ Khê bây giờ nấu ăn nghề lắm đó, biết nấu cả cháo trắng tới bảy món. Vợ chồng mày nhớ bay qua sớm, không thì mất phần đó nghe chưa.

Tôi buông ống nghe, thẫn thờ nhìn ra ngoài cửa sổ như muốn tìm kiếm một điều gì. Trời mùa đông Bắc Âu phủ đầy tuyết trắng, nhưng sao trước mắt tôi đang lung linh bầu trời xanh bao la của cả một thời tuổi thơ. Cái thuở ba thằng chúng tôi vui đùa nghịch ngợm, trong lòng chưa hề vướng bận chuyện chiến tranh kéo theo bao cay đắng cuộc đời.

phạmtínanninh

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Đại Tướng và Tôi_ Nguyễn Trọng Hoàn


1. Lý do tôi phải mào đầu dài dòng để kể câu chuyện này, như sau:
Sau khi Quân đội Việt Nam Cộng Hòa tan rã, cả nước Nam tan rã, chúng ta phải sống tha phương nơi đất khách quê người. Vì nơi dung thân là nước Mỹ, giầu có, nên tấm thân của mình, của gia đình mình, trông lên những người bản xứ thì chẳng bằng ai, nhưng trông xuống những đồng bào của mình đang còn ở quê nhà, thì quả một trời một vực! Tuy vậy, đối với một số người thì là một sự đổi đời, còn với nhưng người khác, niềm hoài vọng ngày trở về cố hương xa lắc cứ dần dần bị xói mòn, riêng những người lính trận chúng tôi. . . Mời bạn đọc tiếp:
Bản tản thân tôi thì không ra gì, dở chàng dở đục, nhưng bạn bè tôi, nhìn ngang nhìn ngửa đứa nào cũng nổi tiếng. Ngày trước, chúng nổi tiếng trên chiến trường, qua Mỹ chúng nổi tiếng bằng cái nghề tay trái: Làm báo viết văn! Tôi thích mang những sở trường của họ ra khoe với những người lạ, làm cứ như những ưu điểm của họ có thể lấp trống giùm cho tôi những nhược điểm của bản thân mình
Ðại tướng Ðỗ Cao Trí lẽ dĩ nhiên không nằm trong trường hợp trên, vì nếu như bây giờ, ai người ta cũng có thể gọi bằng thằng, càng gọi khỏe càng lộ chất “ Ông” trong người mình ra. Thì ngày xưa, cái móng tay của ông ấy tôi cũng không bằng, huống chi nói là bạn với bè?
Có điều, một vị tướng ngày xưa, thì thiếu gì thuộc hạ. Tôi có may mắn là thuộc hạ của ông Ðại tướng tài ba và nhiều tai tiếng này. . .
Sau tết Mậu Thân, Việt cộng ngậm ngùi suy ngẫm học thuyết quân sự cũ rích: Tiến công và nổi dậy! Ðó là sở trường mà chúng gọi là tổng công kích.
Công là đánh tới. Kích là bẩy lên, hay xúi giục ai nổi lên. Thành phần chủ lực ở ngoài tấn công vào. Ðám nằm vùng xúi dân nổi loạn. Khốn thay cho Việt cộng trong cuộc tấn công này, bộ đội chủ lực thì xâm nhập vào được nhưng chẳng có ma nào xúi được dân nổi lên cả, ngay cả những người dẫn đường cũng lặn luôn. Nên bọn cán ngố cứ như con dế bị ngắt mất cọng râu. Thế là làm mồi cho quân ta mà thôi!
Nhân đây, tôi cũng xin mở một dấu hỏi to tướng, về âm mưu “ Thay ngựa giữa dòng” của người Mỹ. Họ đã biết trước cuộc tổng tiến công và nổi dậy của Việt cộng, nhưng họ lờ đi “ Ðể xem mày ( VNCH) có chống cự nổi không, còn sức chống, tao giúp tiếp, dở quá, bỏ luôn.” Một bằng chứng là khoảng 26, 27 tháng Chạp là các cố vấn Mỹ ở các tiểu đoàn bộ binh và các đơn vị biệt lập đã cuốn gói trở về “ hậu phương” rồi!
Thế rồi, thiên bất dung gian, kẻ gian đại bại. Ngay sau đó, trong khi ông Hồ mang cái hận ngàn thu ấy xuống âm ty địa phủ thì đám cán bộ mang tàn quân lết bên Căm Bốt để cùng nhau hát bài : “ Dậy mà đi!”

Tôi tham gia cuộc hành quân Toàn-thắng của Sư đoàn 25 BB, mục đích để tiêu diệt nốt đám tàn quân ấy! Chiến đoàn tôi mang tên 333 từ hướng mật khu Ba Thu, đánh xuôi xuống vùng Mõm Chó, Chi Phu. Bravet rồi theo quốc lộ 1 thọc thẳng lên Svayrieng ( Xoài Riêng). Trận này, diễn tiến như thế nào, tôi sẽ kể sau.

2. Mẫu giáo :
Tôi có một thói quen. mỗi khi sắp tham dự vào một cuộc hành quân xa, tôi thường xin về Sài Gòn một thoáng để thăm mẹ . Phần nghĩ đến một thời gian dài sắp tới phải nhá cái khẩu phần C. chết tiệt. Phải về với mẹ để được ăn một món gì cho khoái khẩu. Phần vì tôi luôn đeo đẳng cái cảm giác, sự sống của những người lính trận chỉ đếm bằng từng ngày một. . . “ Mình không về gặp bả, ngộ có gì. . .”
Tôi lại không bao giờ dám nói với mẹ là mình sắp đi xa:"Con hành quân ở vùng ven biên ấy mà, tạt về thăm đẻ một chút thôi rồi con phải đi liền!"
“ Một chút” của tôi thường bị kéo dài bởi nồi canh cua rau đay nấu với mướp hương hoặc những miếng thịt heo cháy cạnh mà chỉ tự tay mẹ làm thì mới vừa miệng tôi thôi. . .
Làn này, chính cậu “ Tà loọc” đã làm hại tôi:
- Bà có hộp dầu ông hổ nào không, con xin cho Trung úy một hộp? Ở Miên nghe nói mùa này là mùa gió chướng, Trung úy lậi chỉ hợp với loại dầu này!
Mẹ tôi ngừng têm trầu:
- Lại đi đánh nhau tận bên Miên cơ à?
Tôi thấy mẹ tôi lấy khăn lau nước mắt. Ăn cơm xong, mẹ ra đi văng ngồi nhai trầu, giọng bà như muốn khóc:
- Ðánh nhau như vậy đủ rồi, hay để đẻ nói với chú Hạ ( thông gia nhà tôi), nói với bác Thuần xin cho con về văn phòng?
Biết sẽ phải nghe điệp khúc ấy, tôi đứng dậy vuông vai, lấy chiếc áo trận, vừa mặc vừa nói như hát vọng cổ:
- Mẹ ơi! Mai kia mốt nọ yên giặc con cũng trở . . . Dzề!.
Mẹ tôi chì chiết:
- Con người ta, cha mẹ bảo sao nghe vậy, chúng nó ăn trắng mặc trơn, nhơn nhơn ăn học. . . Còn cái thứ con nhà này. . . Ngu như bò!
Mẹ tôi đưa hộp dầu ông hổ cho chú lính, mẹ nói:
- Ở Miên họ hay dùng bùa ngải lắm đấy! Lại hay “thư” nữa đấy! Có người bụng cứ trướng lên, mổ ra một đống toàn răng với tóc không đấy nghe con! Con gái của họ, không phải như gái bên mình , đá gà đá vịt vào rồi không thích thì bỏ đâu đấy! Ðừng dại nghe con..

Khác với những lần trước, mẹ tôi đưa tôi ra tận cổng, hành động này của mẹ khiến tôi vừa xúc động vừa lo lắng. Mẹ tôi chỉ vào chiếc balô căng đầy mà chú lính đang để vào băng sau xe jeep:
- Mẹ có cho mang cho con một cỗ bài chắn, đóng quân ở đâu, trong lúc rảnh rỗi, thày trò rủ nhau đánh cò con cho vui, nhớ đừng đi lang thang nghe con.
Hai mẹ con đang bịn rịn thì Hương phóng xe tới. Mặt cô đỏ au. Mẹ tôi giữ ý, chỉ Hương:
- Thôi cô cậu giã từ rồi lên đường cho sớm, mẹ vào..
Hương cầm lấy hai cánh tay tôi, chân dậm dậm xuống đất:
- Em vừa lên hậu cứ kiếm anh, anh sắp đi Miên hả?
Tôi cười:
- Việc binh cốt ở thần tốc và bất ngờ, anh chưa xuất phát mà ngã ba Ông Tạ đã biết, Hàng Xanh đã biết thì còn đánh đấm cái mẹ gì nữa?
Hương đưa ngón tay dí vào môi tôi:
- Sao lại nói tục với em? Hôm nọ hứa cái gì nào? Em có tin mừng mới phải lên báo cho anh chứ bộ!
Tôi sướng run lên, tôi biết ngay cái tin đó là gì rồi, nhưng cũng giả vờ hỏi:
- Tin gì vậy?
Nàng lại ghé sát vào má tôi, mái tóc có mùi bồ kết làm tôi ngây ngất:
- Em “ Có” rồi. Hú vía, hú vía! Mà này, anh qua bên Miên, ăn bánh trả tiền nhe! Con gái Miên ghê lắm đấy!

3. Ngày N. . .
Lần đầu tiên từ khi tôi ra trường, tôi được “ đối đáp” với một vị Tướng, mà lại là vị tướng nổi danh mới oách chứ:
Trung tướng Ðỗ Cao Trí ngoái cổ lại hàng ghế phía sau hỏi to:
- Ông nào là Ðại đội trưởng Trinh sát đâu?
Tôi đứng bật dậy như lò xo bung:
- Có mặt.
- Nãy giờ ông có nghe kỹ diễn tiến của ngày N và N+1 không?
- Nghe rõ!

Ông Tướng đứng dậy, đưa tay ra hiệu cho Ðại tá Lều Thọ Cường, Chiến đoàn trưởng chiến đoàn 333, đưa que chỉ bảng cho ông.

Bây giờ tôi mới nhìn thấy rất rõ ngoại mạo một ông Tướng khét tiếng này. Vầng trán cao xám ngoét, đôi mắt sáng, đỏ au như mắt cá chầy ( Người ta bảo con mắt ổng có cô hồn đấy! Nhất tướng công thành vạn cốt khô mà!) Phần từ đầu tới thắt lưng, tướng pháp không chê vào đâu được, nhưng từ thắt lưng xuống tới đôi giầy “ Máp”, giống như củ khoai lang cắt đôi, dựng ngược, từ từ teo tóp. . . Tôi bỗng rùng mình, chua chát nghĩ đến chiếc bóng chênh vênh của Kinh Kha bên dòng Dịch Thủy:
Gió hiu hiu sông Dịch lạnh lùng ghê.
Tráng sĩ một đi không trở về!

Tướng Trì xòe nguyên bàn tay mum múp trên tấm bản đồ không ảnh, kéo một đường dài từ Gò Dầu Hạ, dọc theo quốc lộ 1 lên tận Svayrieng:
( Ôi! Những ai từng “ đi” nhận lệnh hành quân, còn nhớ chăng cái cảm giác xương sống lành lạnh, mỗi khi thấy ông đơn vị trưởng của mình xòe tay trên một tấm bản đồ 1/25.000 trong đó một ô vuông nhỏ xíu nhưng ngoài thực tế là một cánh đồng bát ngàn, đi mù con mắt mà vẫn không tới ?)
- Ông Chuyên, cho các mục tiêu vừa thuyết trình, giạt ra xa quốc lộ 1 chừng một cây số...
Bỗng ông ngừng lại:
- Ông Cường, thằng Tiểu đoàn 1 của ông đến đâu rồi?
Ðại tá Cường, rập hai chân lại trong một cữ chỉ vừa nghiêm trang, vừa như lấp ló có tin vui:
- Thưa Trung tướng, thằng 1 của tôi vừa làm chủ Chi-Phu.
- Tốt, như thế này nhá: Ông Cường cho Bộ chỉ huy Chiến đoàn của ông, dời từ đây lên Chi-Phu. Tôi nhắc các ông từ bây giờ bọn cố vấn Mỹ không theo mình vào Miên nữa đâu đấy!
Ông nhìn mấy cố vấn Mỹ, rồi bảo người thông dịch viên:
- Dịch nguyên văn cho “chúng nó” nghe câu này: “ Phải tập đánh độc lập đi, dựa mãi vào mãi thằng Mỹ mai kia mốt nọ, chúng qua cổng rút cầu thì sao?”
Ông lại xòe bàn tay ra, dùng ngón trỏ và ngón giữa căng theo quốc lộ 1, rồi ông dùng que chỉ bảng chỉ ngay vào mặt Thiếu tướng Nguyễn Xuân Thịnh, Tư lệnh sư đoàn 25, gốc pháo binh:
- Ông Thịnh, từ đây lên Xoài Riêng còn trong tầm bắn tác xạ của Tiểu đoàn 252 Pháo binh không?
Tôi thích thú nhìn tướng Thịnh, ông Tướng có mấy sợi lông tài trên nốt ruồi đen, trên khuôn mặt to đen lạnh lùng như ông thần đất, mà mọi khi chúng tôi rất hãi, cũng phải đứng bật lên :
- Thưa, tới!
Bất ngờ tướng Trí chỉ ngay vào tôi:
- Trung úy Hoàn, mở sổ tay ra.

Tôi rụng rời. . . Trong cái nóng hầm hập của phòng hành quân tạm, mọi người đổ dồn về phía tôi, một sĩ quan có cấp bậc nhỏ nhất, lại được tướng Trí nhớ tên. Tôi đỏ mặt, tính háo danh, và sự sung sướng lấn át hết cảm giác sợ hãi. Tự tin hơn là tôi đã chuẩn bị một quyển sổ tay, mà những sĩ quan nào, hơn một lần bị “ ông Tướng sổ tay” hạch hỏi vì: “ Là cấp chỉ huy mà không có quyển các-nê-đờ-nốt là một sĩ quan tồi. . .”
Tôi cầm quyển sổ tay. A! Có một điểm đầu tiên rồi đấy! Tôi thấy Tướng Trí cười:
- Quân số hành quân của ông bao nhiêu?
- Trình Trung tướng: 102. sĩ quan 9. Hạ Sĩ quan 15, binh sĩ. . .
Tướng Trí hét lên:
- Sao nhiều thế, sao sĩ quan nhiều thế, hạ sĩ quan ít thế? Bịa hả?
Ðại tá Cường đỡ cho tôi:
- Thi hành khẩu lệnh của Trung tướng trước đây, quân số các đơn vị Trinh sát phải luôn luôn bổ sung đầy đủ. Sĩ quan nhiều vì trong Trung đội viễn thám, mỗi Toán viễn thám phải có một sĩ quan trưởng toán. . .
Tướng Trí ngắt lời:
- Tôi biết rồi.
Rồi ông lại dùng que thuyết trình chỉ xuống phía dưới, giọng ông chắc nịch:
- Tất cả mở sổ tay ra.
Như cái máy, Tướng, Tá phía dưới đồng loạt để tay lên túi áo trận.
Tướng Trí đọc chính tả:
- Viết đi: Sức mạnh của một đơn vị bộ binh chiến đấu ( phẩy) không phải ở lớp Sĩ quan chuyên chỉ tay năm ngón (phẩy) mà nằm trong lớp Hạ sĩ quan cốt cán( chấm) Tóm lại, bộ binh là hoàng hậu của chiến trường ( phẩy) mà chiến trường thắng hay bại tùy thuộc vào cấp bậc từ Hạ sĩ nhất đến Thượng sĩ nhất, viết rõ chưa? ( Chấm hết)
Rồi ông lại chỉ vào mặt tôi:
- Trung Úy lên đây.
Con người nhỏ con kia sao toát ra cái uy quyền lạ kỳ. Tôi đã vào sinh ra tử nhiều lần nhưng chưa bao giờ tôi lúng túng đến như thế. Tôi ríu tíu đỡ cây que chỉ bảng:
- Trung úy chỉ cho tôi xem đâu là Quốc lộ 1. Tốt. Ðâu là cây cầu chính vào thành phố. Tốt. . . Trung úy có thể chiếm thành phố này chỉ với một mình đại đội của Trung úy được không?
Cả sống lưng của tôi như bị điện giật. . . Một đại đội Trinh sát với một nhúm người như thế này, làm sao đây?
Tính háo danh của tôi lại bật dậy:
- Ðược, thưa Trung Tướng.
- Tốt, thế mới là trinh sát chứ! Như thế này nhá. Ông Cường cho . . .

. . . Máu háo thắng cùng niềm kiêu hãnh cứ dâng lên từng đợt trong con người phàm của tôi cho đến khi tôi tập họp đại đội dưới một thửa ruộng khô vừa xong mùa gặt. Tôi huênh hoang khoe:
- Ðích thân Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn vừa chỉ thị, một mình Ðại đội ta sẽ chiếm Tòa thị sảnh Svâyriêng !
Từ sĩ quan cho tới lính mặt mày nhớn nhác. Có nhiều người nhẩy lên vì thích thú. Có người dơ cao khẩu M16 hét lên:
- Chơi luôn!
Có vài nét mặt đăm chiêu của sĩ quan, tôi lờ đi, nói lớn, ngất ngất hào khí:
- Mọi người có nửa tiếng để sắp xếp lại quân trang quân dụng, bỏ lại hết thực phẩm, quân trang nặng nề. Tóm lại chỉ mang súng đạn cá nhân. Hai Trung đội trưởng trinh sát và Trung đội trưởng viễn thám ra đây nhận lệnh.
Lệnh có gì đâu, nhưng nghe xong, mặt ai cũng như chàm đổ. . .

Sau đấy khoảng hơn một tiếng. Hơn 10 chiếc xe vận tải dân sự từ Gò Dầu Hạ trở về Miên, bị chúng tôi trưng dụng. Trung đội trưởng kè súng vào hông người tài xế Miên, còn lính nằm ở phía sau. Ðạn lên nòng, xe cứ thế mà chạy. Trên quốc lộ phía bên Miên ngày ấy, cứ vài cây số lại có một cái bàn đặt ngay quốc lộ để đơn vị Miên nào đóng gần quốc lộ . . . thâu tiền mãi lộ!

Ðoàn xe của Ðại đội cứ thế mà chạy, qua trạm, chạy luôn, khiến những người lính Miên trên các trạm ấy xả súng vào đoàn xe, cũng may không có ai bị thương.
Tôi ngồi ngay xe thứ 2, xe trước tôi là Toán viễn thám 1 của Chuẩn úy Cừu.
Bỗng tôi thấy đoàn xe chạy chậm lại, cái dốc cầu vào thị xã cong cong làm tôi không quan sát được chiếc xe phía trước.
Có tiếng thằng Một:
- Hải Ðiểu, đây Một.
Tôi chụp máy:
- Tôi nghe đây!
Tiếng của Cừu gấp gáp:
- Trình Thẩm quyền trên đường tụi Miên giăng concertina nhiều quá, có cả mấy con ngựa gỗ nữa. . .
Một tràng súng xé không gian, tiếp theo là những tràng súng khác thi nhau vãi vào đoàn xe.
Tôi hét to trong máy:
- Cho xuống xe ngay, xung phong! Cả đại đội sẽ yểm trợ cho ông, chiếm ngay cái bốt canh kia kìa!

Một chiếc trực thăng xà ngay xuống, tôi thấy rõ Tướng Trí đội nón đỏ đang quần quần ngay trên cái đồn tôi vừa ra lệnh cho Cừu chiếm. Chiếc trực thăng đảo một vòng rồi bay lơ lửng ngay trên đồn Miên. Tôi vừa hô xung phong vừa kinh ngạc nhìn lên thấy Tướng Trí đã ngồi vào vị trí của người xạ thủ đại liên. Ông xoay họng súng vào phía lô cốt, một tay khoác khóac như cổ động cho đám quân dưới đất. Có tiếng hét của Cừu:
- Tụi nó bắn lên máy bay của ông Tướng kìa.
Một khẩu đại liên phòng không từ một cái đồn nhỏ bên phải cầu đang khạc hung hãn lên hông bên kia của chiếc máy bay. Chiếc trực thăng chao nghiêng. . .
Tôi kéo trung sĩ Thuận trong toán Viễn thám , chỉ tay về hướng ổ đại bác phòng không:
- Cậu dẫn toán men theo bên này cầu, diệt phứt cái lô cốt kia đi cho tôi.
Thuận nhận lệnh, anh dẫn toán chạy lên, vừa dùng súng M97 hướng mũi trực xạ, một tiếng nổ làm bật tung khẩu súng phòng không, đồng thời biến mất những tên lính Miên, xạ thủ của khẩu phòng không ấy. .
Chiếc trực thăng chở Tướng Trí lại vòng tới, lần này ông lại bay thấp hơn, ông biến thành xạ thủ của chiếc “ gunship”, chĩa những lằn đạn về phía đồn chính.

Bỗng mọi người dưới đất xanh mặt khi chiếc máy bay rung lên, như con rồng chuyển mình, bốc lên cao. Một cái nón đỏ, đúng là nón của ông Tướng bay vụt ra, xoay vòng vòng như chiếc lá rồi bay vút về phía cây cầu. . .
Những người lính trinh sát vừa hò hét vừa tiến lên, đen kịt thành cầu, những tiếng la phát ra từ những trái tim nóng hổi:
- Việt Nam, Việt Nam!
Tôi kéo chú hiệu thính viên lao tới, hai mắt tôi rưng rưng. . .
Thuận hớn hở chạy về phía tôi giơ cao chiếc mũ đỏ có ba ngôi sao gắn chéo. Người ta bảo nóng giận thì mất khôn, nhưng vui mừng quá cũng mất khôn luôn, với lại tính háo danh nằm sẵn trong tôi, nó sai bàn tay tôi, ném cái mũ sắt đang đội, lấy cái nón đỏ đội vào đầu. Lại nghĩ: “ Có ngày “mày” cũng được “ nằm” vào đầu tao thôi!”
Tôi vừa đắc chí vừa chạy tới, chạy một quãng thì hiệu thính viên đưa cho tôi chiếc combiné:
- Mặt Trời gập Trung úy.
Tôi nghe tiếng Tướng Trí.
- Ðừng bắn, đừng bắn nữa, chúng nó từ chân cầu đang phất cờ trắng kia kìa.
Một hàng dài lính Miên, có cả đàn bà, con nít đang cầm những mảnh khăn trắng giơ cao trên đầu. Tôi vừa ra lệnh ngừng bắn thì hiệu thính viên lại đưa ống nghe cho tôi:
Tiếng tướng Trí:
- Tốt lắm, để một toán nhỏ lại giữ đầu cầu thôi, còn cậu tiếp tục đi.

Như những con gà chọi đang say đấu, chúng tôi lao cả đoàn xe về phía trung tâm thành phố. Dưới đường người ta vẫn thong thả đi lại, những người lính Miên vẫn đeo súng lơ ngơ ngắm phố. Chắc không có một ai hiểu việc gì đang sắp xẩy ra với họ.
Tiếng Cừu báo qua máy:
- Trình Thẩm quyền mục tiêu kia rồi
“Băng ga lo” hoành tráng, nơi tôi phải chiếm, đang ẩn mình dưới những tàn cây cổ thụ, mục tiêu diễm lệ của tôi kia rồi!
Xe của Cừu húc đổ ngay con ngưạ gỗ, tiếp theo xe của tôi và các xe sau trờ tối. . .
Cừu đưa khẩu colt vào ngay ngực tên lính gác, qua một người lính gốc Miên thông dịch.
- Văn phòng Tỉnh trưởng đâu?
Tên lính đưa tay chỉ về phía cổng lớn nơi có hai con ngựa đá rất to. Cả đại đội lại lao về phía đó. Chẳng có đội hình gì cả. Khi Ban chỉ huy của tôi chạy vào trong đại sảnh thì một cảnh tượng vừa tức cười, vừa thống khoái hiện ra trước mặt: Trung úy đại đội phó Trần Như Xuyên đang ghìm khẩu súng M16 về hướng những người mặc toàn lễ phục đang chắp tay lậy như tế sao!
Té ra tại đây đang diễn ra buổi đại tiệc!
Tiếng người thông dịch:
- Trong các ông, ai là Tỉnh trưởng?
Một người chắp tay xá xá. Bỗng có tiếng lao xao phía sau tôi. Có người lính hét to:
- Sao sẹt! Sao sẹt kìa!
- Vào hàng, Phắc!

Tướng Trí xông thẳng đến tôi, ông đến trước tôi khoảng ba bước, ông rập hai chân vào nhau rồi đứng nghiêm chào tôi. Tất cả quan quân mặt ai cũng xanh như tầu lá! Chết mẹ tôi rồi! Cái nón đỏ có hàng lon Trung tướng tôi đang đội trên đầu, chỉ đem cho tôi cái thích thú phù du, nhưng sẽ là một thảm họa khôn lường cho tôi.
Tôi vừa sợ hãi vừa xấu hổ , đưa tay lên đầu, giật ngay cái mũ xuống rồi bằng hai tay, trịnh trọng đưa trả nón, y như kẻ bại trận dâng cây kiếm quy hàng.
Tướng Trí, chìa cả hai tay lấy chiềc nón đỏ. . . Mọi người chờ con thịnh nộ của ông Tướng Sấm Sét. . .
Ông cúi xuống gỡ ba ngôi sao ra cười hiền từ:
- Giữ giùm cậu ba ngôi sao này, còn tặng cậu cái mũ làm kỷ niệm, làm kỷ niệm thôi nhé ! Coi chừng quân cảnh bắt về tội tiếm phục quân hiệu đấy.
Mặt tôi nóng ran lên như người lên cơn sốt.

Tướng Trí đến ngay trước viên Tỉnh trưởng Miên, tính võ biền cố hữu của ông biến mất và y như một chánh khách chuyên nghiệp, ông dơ tay, bắt tay viên Tỉnh trưởng. Ông nói một tràng tiếng Pháp, tôi nghe lỏm bõm, hình như ông ra lệnh cho viên Tỉnh trưởng phải kêu gọi các lực lượng dưới quyền quy hàng, bằng cách ra lệnh cho các đơn vị ấy, tháo hết các cơ bẩm của các loại súng rồi cho chở lên các bộ chỉ huy liên hệ.
. . Rồi y như ông chủ, chính tay ông khui whisky:
- Vào đây, Ðại đội trinh sát vào đây, các chú khá lắm, “moi” phải khao các “toi” một chầu mới được. Tôi bước ra trước, nhưng ông làm tôi quê hết sức khi ông hỏi lớn:
- Chú lính nào ít thâm niên nhất, cấp bậc nhỏ nhất vào đây.
Rồi cũng y như khi lúc xung phong, chẳng kể quan lính, mạnh ai nấy ùa tới vây quanh ông y như một người thân. Chính tay ông rót cho mỗi người một ly ruợu nhỏ.
Bỗng tướng Trí lấy tay đập vào trán:
- Chú nào bắn trái M79 trúng ổ đại liên cứu “ moi” thế?
Tôi chỉ vào viên Trung sĩ viễn thám:
- Trình Trung tướng, Toán phó viễn thám, Trung sĩ Thuận !
- Thấy “moi” nói có đúng không? Nhớ đấy ! Hạ sĩ quan mới là lực lượng nòng cốt của quân đội!
Ông rút trong túi ra quyển sổ tay, nhìn chăm chăm vào bảng tên của Thuận, ghi xong ông hất hàm hỏi:
- Trung sĩ nhất bao lâu rồi?
Thuận hớn hở trả lới:
- Thưa Trung tướng, gần hai năm.
Tướng Trí nghiêm nghị:
- Cho cậu lên Thượng sĩ.
Rồi ông quay lại phía tôi, nhắc lại điệp khúc:
- Phải nằm lòng, Hạ sĩ quan mới là nòng cốt. . .
Lần này không thấy ông bắt ai ghi vào sổ tay cả.

4. Cô gái Miên.
Sau khi chiếm xong dinh Tỉnh trưởng, Ðại đội Trinh sát của tôi, được lệnh kéo trở ngược lại Bravét, một thị trấn nằm giữa Chi-Pu và Svrâyriêng, vừa đóng chốt, vừa giữ an ninh cho một toán công binh chiến đấu làm cầu. Ðây là một cây cầu nhỏ nhưng rất quan trọng về mặt chiến lược đã bị quân lính của Si- Ha-Núc phá sập khi họ rút lui về Nam Vang. . .

Buổi chiều, tôi dẫn các Trung đội trưởng đi tìm chỗ đóng quân. Ðến cây cầu đang xây, tôi nói với Ðại đội phó Xuyên:
- Cái thằng Trưởng toán công binh này, giờ này không đến nhận lệnh đóng quân là làm sao? Chúng nó làm gì mà túm quanh căn nhà sàn kia thế? Thôi ta vào đấy xem sao?
Vừa thấy chúng tôi đến. Toán người đứng xung quanh nhà sàn bỗng bỏ chạy. Biết có việc gì không ổn, toán sĩ quan đi theo tôi chạy đến. Tôi vừa bước lên chân cầu thang đã nghe thấy tiếng quát của Xuyên:
- Sĩ quan mà khốn nạn vậy à ?

Trước mặt tôi là một người con gái Miên thân thể lõa lồ, nằm tênh hênh, bất động giữa sàn nhà, một toán 5, 6 người lính đang lui cui mặc đồ. Tôi hoa mắt lên vì giận, khẩu súng colt 45 run run chĩa vào một người, có lẽ là sĩ quan đang nghênh ngang đứng trước Xuyên:
- Ông cấp bậc gì?
- Chuẩn úy!
- Mấy người hiếp dâm người phụ nữ này?
- Bẩy người.
- Tại sao ông làm cái việc vô lại này?
- Xa vợ lâu ngày, kẹt quá ông ơi!
Bỗng tôi nghe thấy người phụ nữ rên:
- “ Miên tê! Miên tê” ( Trời ơi, trời ơi).
Cô cong người lên, thở hắt ra , hai bàn chân rung rung, rồi xụi lơ. Hành động cuối cùng của một sinh vật trước khi lìa đời.
Cơn giận như một nồi áp suất quá tải, bật tung, tôi nã luôn hai phát vào đôi chân đang giạng ra như thách thức của viên sĩ quan, mà ngay chiều hôm ấy, tôi biết anh ta là em của một ông Chuẩn tướng Chỉ huy trưởng của một Cục. . .

5. Phúc hữu trùng lai!

Sáu tháng sau, tôi dời Ðại đội trinh sát để sang Tiểu đoàn 2, người ta bảo, đi kèm với một sự may mắn thường là một tai nạn . . .
Hai viên đạn súng colt hôm ấy, có một viên trúng bắp vế của viên sĩ quan nọ, và viên đạn này đã đưa tôi đến cái ngưỡng cửa của Quân lao Gò Vấp
Tôi sẽ phải về trình diện phòng dự thẩm 1 ở bến Bạch Ðằng, nới có cái một ông Ðại tá tên X. chẳng tha một ai khi phải trình diện ông ta. . .
Ðại tá Lều Thọ Cường bắt tay tôi như bắt tay một thuộc cấp lần chót. Tôi leo lên trực thăng, rồi nhìn xuống bến phà Neak-Luông. Nơi đóng quân của đơn vị tôi, nước sông cuồn cuộn đục ngầu, phẫn nộ. . . Bỗng lòng tôi chùng hẳn xuống. Tại sao cuộc đời lại có thể bất công thế nhỉ? . . .

Tôi vừa xuống máy bay tại sân bay Trảng Lớn, thì gập máy bay của Trung tướng Ðỗ Cao Trí cùng sĩ quan tham mưu của ông cũng vừa đáp xuống. Tôi đang tính né qua cái cái hunger để tránh mặt ông thì có một Ðại tá cầm tấm bản đồ vẫy tôi:
- Ðại úy, đến trình diện Trung tướng.
Tướng Trí hỏi tôi:
- Cậu đi phép hả?
Tôi chưa kịp trả lời thì ông đã móc quyển sổ tay ra. Nhưng tôi vội nói:
- Trình Trung tướng, tôi không về phép.
Tướng Trí tròn mắt:
- Dù hả, oai nhỉ, dù bằng máy bay cơ à?
Giọng tôi bi ai:
- Trình Trung tướng lần này tôi về Sài Gòn để ra Tòa án binh!
- A! Cái vụ cậu nện cái thằng sĩ quan hiếp dâm chứ gì. Sao không bắn què cả hai chân nó luôn cho rồi? Quân đoàn đã có văn thư gửi Nha quân pháp về vụ này rồi ! Khỏi, khỏi, cho cậu về thăm cha mẹ, thăm bồ bịch 48 tiếng rồi trở lại mặt trận giết giặc cho tốt. . .
Không để tôi cám ơn, ông bỏ đi ngay.

Tôi đứng như trời trồng, giữa trùng vây của bụi, khói và nóng, thế mà người tôi mát lạnh, nhẹ tênh, tôi có cảm giác như đang đi vào cổng nhà Hương. Có giàn hoa thiên lý ngan ngát. Có nếp nhăn áo lụa vàng dậy muộn. Có hương bồ kết thoang thoảng quyện theo bước chân chim. . .

6. Người đi, đi mãi. . .

Một tháng sau, Tiểu đoàn tôi đang hành quân tại Kăm Pông Trapeck, vùng biên giới phía Ðông nam căn cứ Thiện Ngôn, trên một ngọn đồi trọc, một người lính hiệu thính viên chỉ về phía Trảng Lớn la to:
- Một em gẫy cánh rồi!
Tôi ngoảnh lại, một khối đỏ như một quả cầu, đang ôm một chiếc trực thăng xoay vòng vòng rồi đâm nhào xuống đất.
Ngay tối hôm ấy, tôi được biết chiếc máy bay ấy đã chở cố Ðại tướng Ðỗ Cao Trí về miền đất không bao giờ có tiếng súng trận nữa.
Tôi bước ra ngoài lều vải, chòm sao Hiệp sĩ đêm nay có cái đầu bị mây đen che khuất, có thanh gươm mờ nhạt, nhấp nháy như muốn khóc.

Nguyễn Trọng Hoàn

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

MÀU CỜ VÀ SẮC ÁO
Nếu không có Lệnh Tổng Động Viên ban hành năm 1972 thì có lẽ cuộc đời tôi cũng sẽ bình thường như muôn ngàn thanh niên cùng trang lứa và hoàn cảnh: cố gắng học hành để chạy đua với Nha Động Viên và để có một cuộc sống tương đối sau khi tóm được mảnh bằng tốt nghiệp Đại Học. Buồn thay, Luật Uỷ Quyền của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã bứng tôi ra khỏi giảng đường bằng lệnh gọi nhập ngũ của Nha Động Viên. Và như thế, tôi vào lính khi tuổi đời đang độ tươi đẹp nhứt: 20!

Cả một thế giới mộng mị vàng son bỗng dưng tan theo mây khói. Thay vào đó là 10 tháng quân trường ( tính luôn thời gian gần 4 tháng tham gia công tác chiến tranh chính trị ) và 42 ngày Rừng Núi Sình Lầy tại Dục Mỹ đã biến tôi- và hằng ngàn thanh niên khác- từ bạch diện thư sinh thành một Trung Đội Trưởng. Tuổi Lính cũng chẳng là bao: không đầy 3 năm. Thời gian nằm gai nếm mật không dài, nhưng tôi trải qua đủ cay, đắng, ngọt, bùi, và tất cả nhọc nhằn của đời lính tác chiến: từ 2 lần thực tập Trung Đội Trưởng tại Núi Dài, Vùng 4 Chiến Thuật, và Pleime Rong, Quân Khu 2, cho đến khi nhận đơn vị chính thức tại Tiểu Đoàn 37 BĐQ thuộc Liên Đoàn 12 BĐQ đồn trú tại Đà Nẵng, thuộc Quân Đoàn 1, Vùng 1 Chiến Thuật.

Khóac chiến y không đầy 3 năm nhưng cấp bậc sau cùng đủ để phe chiến thắng lùa vào trại khổ sai mà chúng gọi là trại cải tạo dù chỉ mang cấp bậc sĩ quan tép riu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Những ngày được gọi là “ Tù Tàn Binh “ trong trại 4 tại Hiệp Đức thuộc tỉnh Quảng Nam, và 12 năm làm kiếp “ Phó Thường Dân “ - sau đúng một năm “ trả nợ quỉ thần “- đủ để tôi thấy được vị trí của mình ngay trong xã hội mà chế độ cầm quyền cho là “ ưu việt “. Mấy lần trầy vi, tróc vảy tìm đường vượt biên không được. Tưởng đâu cả đời phải đóng kịch để sinh tồn trong cái gọi là chế độ “ xạo hết chỗ nói “ thì gia đình tôi được cô em bảo lãnh qua Mỹ.

Khi mới định cư, tôi thầm khâm phục người nào đó đã nghĩ ra danh xưng “ đất tạm dung “ để nói đến những nơi người Việt đang sinh sống tại hải ngoại. Nhưng dần dà tôi nghiệm ra rằng mình sẽ sống hết cuộc đời tại quốc gia đã cưu mang những người cùng hoàn cảnh như tôi. Và tôi đồng lòng với những ai đã gọi đất nước mà mình đang sinh sống là “ quê hương thứ nhì “. Từ đó, tôi thường để tâm đến những hoạt động của đồng hương về mọi mặt, nhứt là sau khi đã nhập tịch và trở thành công dân Hoa Kỳ.


Là công dân Mỹ nhưng gốc Việt Nam nên có nhiều danh xưng được đặt ra để gọi chúng tôi: những người đang sống xa quê hương. Từ những danh xưng khởi thủy như là di tản, thuyền nhân, tỵ nạn, lưu vong, cho đến những danh từ hoa mỹ mà chế độ cộng sản và cả cộng đồng người Việt khắp nơi cũng đang dần dà chấp nhận: người Việt hải ngoại, Kiều bào,Việt kiều, người Việt quốc gia...v/v…đều được thấy xuất hiện nhan nhản trên báo chí và những phương tiện truyền thông hiện đại. Riêng tôi, tôi gọi mình là một người Việt Nam mất nước vì đã là công dân của một nước Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử, và cũng là quân nhân thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tan rã.

Việt Nam Cộng Hòa đã không còn tồn tại hơn 34 năm qua, nhưng vẫn còn đó biểu tượng thiêng liêng là lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Lá cờ ngày xưa đã từng phất phới trên chính trường thế giới vẫn tung bay khắp năm châu, vẫn thủy chung đậm tình dân tộc trong lòng người dân ly hương và đang được trân trọng ở tất cả những nơi có người dân của chế độ Cộng Hòa sinh sống. Đất nước không còn nhưng hồn thiêng sông núi vẫn ngự trị trên lá cờ thân yêu, và mỗi lần nghe lại quốc ca hay quốc thiều, chắn chắn những con dân chân chính của miền Nam tự do đều không khỏi bùi ngùi tưởng tiếc. Búa rìu dư luận tha hồ chỉ trích và lên án những nhà lãnh đạo của hai nền Công Hòa non trẻ. Họ cũng công khai bày tỏ sự căm phẫn đối với “ những bàn tay lông lá “ một thời đã từng là đồng minh của miền Nam Việt Nam. Nhưng quan trọng hơn hết vẫn là âm mưu thôn tính để dâng hiến tổ quốc cho cái gọi là “ thế giới đại đồng “ của tên đồ tể đã trở thành xác ướp ở Ba Đình.


Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tan hàng trong hận tủi, nhưng người Lính chúng tôi vẫn chưa giải ngũ. Chúng tôi chỉ buông súng, bỏ cuộc chơi. Hoàn cảnh không cho phép chúng tôi tiếp tục chiến đấu ngoài mặt trận. Tình thế phức tạp của miền Nam trước đây đã đẩy phần đất tự do vào tuyệt lộ. Người Lính phải ngậm hờn chịu khuất phục rồi ra đi, hay tuẩn tiết để lưu danh kim cổ. Quê hương đã mất vào tay giặc. Quân Đội cũng không còn. Người công dân và cũng là quân nhân chúng tôi chỉ biết hướng lòng hoài vọng quê xưa để hy vọng một ngày mai quang phục.

Có nhiều người chỉ trích việc phủ quốc kỳ lên linh cửu của những cựu quân nhân qua đời tại hải ngoại. Họ cho những người đó- cũng như chúng tôi- đã hèn nhát trốn chạy, không xứng đáng để được nhận lãnh vinh dự chỉ dành cho những tử sĩ đã hy sinh vì bảo vệ tổ quốc. Nhưng nếu như tôi từ giã cõi đời trước khi Việt Nam cộng sản thay đổi chế độ, thì trên tấm voan trắng phủ áo quan- dấu ấn của nghi thức Công Giáo- tôi sẽ yêu cầu người thân khoác thêm một mảnh Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và cho tôi được khâm liệm trong bộ quân phục tác chiến của binh chủng Biệt Động Quân mà tôi đã từng phục vụ. Không cần nghi lễ phủ kỳ theo quân cách vì tôi không có công trạng gì khi còn trong quân ngũ. Nhưng là công dân của nước Việt Nam Cộng Hòa, và vì là một quân nhân chưa từng giải ngũ, nên tôi vẫn mong mỏi sẽ được mặc bộ quân phục BĐQ và mang lại chiếc Mũ Nâu trên đầu. Ứơc vọng cuối đời của tôi chỉ có thế: Không có đất Mẹ để ấp ủ xương tàn thì có màu cờ và sắc áo để ấm lòng khi về nhà Chúa.


HUY VĂN

Post Reply