Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Thời sự đất nước: Nước Cờ Chiếu Tướng !


Kiến nghị do 3 trí thức trong nước Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Thế Hùng, Phạm Toàn đề xướng ngày 12-4 đã có 165 anh chị em trí thức tiêu biểu trong và ngoài nước hưởng ứng sau chưa đầy 1 tuần lễ. Anh Vũ thư Hiên báo tin vui cho tôi ngay ngày 14-4. Lần này, tôi mừng, có linh cảm nó sẽ gần như Tuyên ngôn 77 của Tiệp. Nguyễn Huệ Chi, những trí thức gốc Việt ở Paris đều biết anh là trí thức "nòi", với những Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Từ Chi...tôi quen, am hiểu văn hóa Tây, Nga, Tàu, lại rất dân tộc;

nhớ lại cảnh đưa tiễn anh Hoàng Minh Chính đầu năm 2008 trên vidéo, Nguyễn Huệ Chi cùng "Trung tâm Minh Triết Việt" khăn đóng áo dài (với Hoàng Hưng, Nguyễn Khắc Mai và Lê Phú Khải) cung kính lễ từ biệt anh Chính theo nghi lễ dân tộc, xuống gối, lên gối, cúi mình rạp chiếu. Đẹp quá !

Anh Phạm Toàn, còn có biệt danh Châu Diên, tôi quen từ hồi 1985, một nhà văn, dịch giả Pháp văn, cũng là một nhà giáo một lòng cùng nhà giáo dục Hồ Ngọc Đại chủ trương mở trường thí nghiệm cải cách giáo dục theo phương thức công nghiệp, "học mà chơi, chơi mà học", "đến trường là hạnh phúc"... tôi rất mê, giới thiệu một vệt dài trên Nhân dân Chủ nhật, nhưng đến nay vẫn bị bộ giáo dục lắc đầu. Anh Phạm Toàn từng tranh luận với tôi trên Talawas, bảo rằng Bùi Tín vội quá, hãy biết chờ, dân chủ rồi sẽ đến. Với kiến nghị cứu nước khỏi đại nguy cơ bôxít, đại nguy cơ mất nước, anh Toàn đã nhận ra thời cơ dấn thân của kẻ sỹ; tôi mừng cho anh, càng mừng cho đại cuộc cứu nước.

Thế là mọi tấm lòng yêu nước thương dân thật lòng đã gặp nhau, vẫy gọi nhau, liên kết với nhau, xiết chặt tay nhau trước đại họa dân tộc đang thành hiển nhiên.
Các linh mục Công giáo, các mục sư Tin lành hoan nghênh, hưởng ứng lời kêu gọi
"bất tuân dân sự" của Hoà thượng Quảng Độ;
Các tướng lĩnh, binh sỹ, cựu chiến binh quân đội hưởng ứng mạnh mẽ lời phát biểu đòi chấm dứt ngay việc khai thác quặng bôxít chứa đựng nhiều nguy cơ to lớn khôn lường, của tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Nguyễn Trọng Vĩnh;

Hàng ngũ các nhà báo, nhà văn, nhà thơ hưởng ứng lá thư tâm huyết của nhà văn-nhà báo Phạm Đình Trọng, thiết thực tưởng nhớ hơn 40 ngàn vong linh tử sỹ hy sinh 30 năm trước để bảo vệ biên cương phía Bắc Tổ quốc ta.
Tháng 4 và 5 lịch sử này, bộ chính trị, 15 người nắm độc quyền cai trị đất nước, phải trả lời rõ ràng, rành rọt cho toàn dân ta rõ rằng họ còn tinh thần yêu nước hay không? rằng họ có quan tâm đến cuộc sống an lành của các dân tộc Việt nam ta hay không ? rằng họ có thật sự bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải và hải đảo của nước Việt nam ta hay không ? rằng họ có bảo vệ người lao động nước ta đang thiếu công ăn việc làm, hay họ vẫn mời gọi và mở toang cửa biên giới cho lao động Trung quốc tràn vào nước ta qua các nhà thầu Trung quốc, như công ty Chalco, với những công cụ kỹ thuật cổ lỗ, cũ kỹ lại bị ép tính theo giá quá cao ?
Họ lấp liếm rằng mới chỉ đang làm thử (!), thí điểm (!), nhưng sao đã lên kế hoạch và ký với nước ngoài những hợp đồng khổng lồ, với thời gian từ năm 2007 đến năm 2025, trên một diện tích rộng đến trên 2 ngàn KM vuông ?

Bộ chính trị đảng CS Việtnam đang bị cô lập và chiếu tướng vô cùng hiểm hóc. Họ bị lâm vào thế pháo lồng, 2 xe địch đã vượt sông, tốt đang dú dí vào cung.
Chính họ đưa ra luật lệ là nhà cầm quyền phải trả lời những khiếu nại, chất vấn, kiến nghị của nhân dân, của cử tri. Không thể giả câm, giả điếc mãi được.

Trí thức đông đảo và quần chúng nông dân, công nhân, binh sỹ yêu cầu những người lãnh đạo cao nhất đang cầm quyền phải trả lời rõ ràng minh bạch một loạt câu hỏi trên đây, ngay trong cuộc họp Quốc hội tháng 5 - 2009 này, tuy quốc hội này không do nhân dân tuyển lựa và bàu ra, mà do đảng CS lựa chọn qua tổ chức mặt trận Tổ quốc cũng do đảng CS tạo ra.

Các cử tri hãy yêu cầu đại biểu quốc hội đặt vấn đề thảo luận ráo riết tại cuộc họp này việc "nên hay không nên" khai thác bôxít ở nước ta, lợi và hại ra sao, có kết luận và kiến nghị với chính quyền được biểu quyết hẳn hoi.

Trước đó, cần yêu cầu Tổng bí thư đảng CS trình bày trước quốc hội vì sao ông đã cam kết trong Tuyên bố chung Việt - Trung năm 2008 rằng hợp tác trong dự án bôxít Đak Nông là đầu vị của hợp tác giữa 2 nước ?, yêu cầu Chủ tịch Nước trình bày việc khai thác bôxít như đang triển khai mạnh mẽ có tác động đến an ninh quốc phòng ra sao, đã được cân nhắc kỹ chưa ? và yêu cầu Thủ tướng báo cáo đầy đủ về kế hoạch đã được ông duyệt về khai thác bôxít từ 2007 đến 2025 cho quốc hội nghe, được truyền hình rộng, để các đại biểu nắm thật chắc mọi mặt của vấn đề thảo luận.
Một cuộc họp quốc hội như thế sẽ được toàn dân theo dõi chặt chẽ, là một cuộc tập dượt dân chủ, theo đúng ước vọng của người dân hiện nay, cũng theo phương châm đảng CS nêu ra từ lâu mà không làm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, cũng như khẩu hiệu : chính quyền của dân, vì dân, do dân vậy.

Chưa bao giờ xã hội dân sự Việt nam tự khẳng định sự tồn tại của mình rõ rệt như hiện nay. Giới trí thức thức tỉnh, vẫy gọi nhau dấn thân khi thời cơ xuất hiện, xứng đáng là lực lượng tuệ giác, của đuốc sáng - trí tuệ xã hội; bà con nông dân sinh ra từ ruộng đất, gắn bó máu thịt với ruộng đất, quyết không để ruộng đất rơi vào tay bọn cường hào đầu cơ mới, đang vươn dậy khắp nơi đòi quyền sở hữu ruộng đất thiêng liêng; anh chị em công nhân lao động từng mở ra hàng ngàn cuộc bãi công đòi quyền sống; tuổi trẻ cả nước dẫn đầu bởi những sinh viên, học sinh yêu nước, yêu tự do, không chịu cảnh "chim lồng, cá chậu ", đang tỏ ra "hậu sinh khả uý" trong đứng dậy bảo vệ chủ quyền quốc gia và lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Chiến lược đấu tranh tổng hợp của mọi giới, mọi vùng, mọi nơi, mọi sáng kiến đang góp gió thành bão táp, đang "đông người vỗ tay nên bộp" - như lời kêu gọi tha thiết của nhà Chí sỹ Tây Hồ - Phan Chu Trinh, tạo nên một cục diện hoàn toàn mới mẻ, có lợi cho dân tộc, dân chủ và dân sinh.
Xin mọi lực yêu nước thương dân thực lòng hãy quý trọng cục diện mới, mỗi người đã dấn thân hãy dấn thân mạnh hơn, sâu hơn, hãy kiếm thêm, tuyển thêm, mời gọi thêm một bạn cùng dấn thân nữa, để hàng ngũ ngày một đông hơn, bền bỉ hơn, quả đoán hơn, để không một ai giữa đường bỏ cuộc, đưa cuộc đấu tranh ôn hoà, không bạo động, nhưng vô cùng khó khăn, gay go, quyết liệt cho đến thắng lợi.

Thắng lợi của cuộc đấu tranh này nhằm xóa bỏ đại nạn bôxít, cứu vãn màu xanh của sức sống Tây nguyên, với suối rừng bạt ngàn, vườn chè, càphê, hạt tiêu, đào lộn hột tươi xanh, đồng thời đẩy lùi quốc nạn "Bắc thuộc mới", như nhận định của nguyên bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, sẽ mở ra chân trời mới cho dân tộc Việt nam ta, chân trời quang đãng đầy hoa thơm cỏ lạ, chân trời tự do, dân chủ, ấm no, hoà thuận và hạnh phúc của nhân dân Việt nam xiết bao yêu quý.

BÙI TÍN Paris 22-4-2009.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Dân Mỹ chịu rủi ro cho các ngân hàng

Ngô Nhân Dụng
Hôm qua, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đưa ra một bản báo cáo về tình hình tài chánh thế giới, trong đó họ ước tính tổng cộng các ngân hàng ở Mỹ sẽ bị mất đến 2 ngàn 700 tỷ Mỹ kim trong cuộc khủng hoảng tín dụng hiện nay. Con số này lớn gấp đôi lời tiên đoán một năm trước đây, cho thấy là chính phủ Barack Obama sẽ còn vất vả trong việc phục hồi kinh tế Mỹ. Vì nếu các ngân hàng không hoạt động bình thường trở lại thì kinh tế khó vươn lên được. Mà nếu các ngân hàng vẫn còn lo mất tiền vì những món nợ không dễ đòi thì chính họ không thể hoạt động bình thường.

Hàng ngàn tỷ đô la trái khoán nhiễm độc vẫn còn treo lơ lửng trên đầu các ngân hàng; gọi là nhiễm độc vì chúng tùy thuộc những món nợ địa ốc khó đòi. Trong khi chính các ngân hàng chưa biết những trái khoán có thu được tiền hay không, thì họ cũng không biết trong nhà còn bao nhiêu tiền “vốn” (equity) sau khi trừ các món nợ nần. Họ sẽ phải tích trữ tiền mặt để đề phòng thua lỗ, do đó cũng không sẵn tiền cho các xí nghiệp và người tiêu thụ vay. Thiếu tiền thì cả việc tiêu thụ lẫn việc sản xuất đều bị trì trệ. Ông Bộ Trưởng Tài Chánh Timothy Geithner hôm qua mới giải thích với các đại biểu Quốc Hội rằng khi các ngân hàng mất một đô la trong “vốn nhà” của họ thì số tiền họ sẽ giảm tiền cho vay từ 8 đến 12 đô la. Cho nên, kế hoạch cứu các ngân hàng vẫn là một ưu tiên hàng đầu của chính phủ Mỹ. Ông Geithner thưa với các đại biểu Quốc Hội rằng chính phủ không thể để mặc cho các ngân hàng ôm đống nợ khó đòi như thế mãi, làm vậy sẽ kéo dài tình trạng kinh tế suy thoái không biết đến bao giờ.

Nhưng cũng trong ngày hôm qua, kế hoạch giải cứu đó lại bị một thanh tra nhà nước chỉ trích là đem tiền của người dân đóng thuế đi cứu các “chủ nhà băng,” trợ giúp những nhà đại tư bản! Bản báo cáo thường lệ dầy 250 trang do thanh tra Neil Barofsky nạp cho Quốc Hội Mỹ ba tháng một lần đã tỏ ý lo ngại rằng kế hoạch “hợp tác công và tư” của ông Geithner để mua những chứng khoán nhiễm độc có vẻ “ưu đãi các nhà đầu tư” và có thể khiến “người dân đóng thuế” gánh chịu quá nhiều rủi ro.

Ông Geithner biện hộ cho kế hoạch “công tư cộng tác” của mình là cân bằng nhất. Vì “người dân thọ thuế sẽ chia sẻ rủi ro với các nhà đầu tư, trong khi đó vẫn để cho lãnh vực tư đánh giá đúng các chứng khoán nhiễm độc” qua việc đấu giá khi mua lại các chứng khoán đó.

Nhưng những lý luận của ông Geithner có nhiều lỗ hổng. Nhiều nhà kinh tế, đặc biệt là những người đã ủng hộ Tổng Thống Barack Obama và đảng Dân Chủ, đã vạch ra nhiều khe hở. Nói chung, họ công kích kế hoạch cộng tác công tư của ông Geithner vì nó cho phép các “nhà băng” nếu thắng thì hưởng tiền lời như của tư hữu, còn nếu thua thì số tiền lỗ lã sẽ được “xã hội hóa,” nghĩa là bắt cả xã hội phải gánh chịu! (Nói bằng tiếng Anh là: privatizing gains and socializing losses).

Thanh tra Neil Barofsky, người phụ trách theo dõi chương trình 700 tỷ cứu các ngân hàng, trình bày trong bản báo cáo của ông là Bộ Tài Chánh sẽ thực hiện kế hoạch hợp tác công tư như thế này: Nhà đầu tư (là các công ty tài chánh, các quỹ đầu tư hoặc ngân hàng) bỏ ra một đô la, chính phủ sẽ bỏ vào một đô la góp vốn. Với 2 đồng vốn đó, chính phủ sẽ cho vay thêm một đô la nữa thành 3 đô la. Ðồng đô la vay nợ này thuộc loại nợ chỉ được bảo đảm bằng vật thế chấp mà thôi (tiếng Anh gọi là non-recourse loan), tức là nếu công việc làm ăn bị thất bại lỗ vốn thì người cho vay cứ lấy vật thế chấp mà đền, còn người đi vay sẽ phải bỏ thêm tiền nhà ra trả thêm nếu giá trị vật thế chấp thấp hơn tiền nợ. Vật thế chấp trong kế hoạch này chính là những chứng khoán nhiễm độc mà hai bên sẽ mua. Tổ hợp đầu tư có 3 đô la rồi, sẽ đi vay thêm tiền của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang. Cuối cùng đem tiền vốn và tiền vay đi mua các chứng khoán nhiễm độc của các công ty tài chánh, ngân hàng. Kế hoạch mua các trái khoán nhiễm độc được thực hiện với 12 chương trình phức tạp liên hệ với nhau mà theo ông Barofsky thì tổng số tiền dùng vào việc mua các chứng khoán nhiễm độc, cả công quỹ lẫn tiền góp vốn của tư nhân, sẽ lên tới vài ngàn tỷ đô la.

Theo kế hoạch được tiết lộ từ tháng trước thì ngoài tiền góp của tư nhân, của chính phủ, và tiền chính phủ cho vay, món nợ có thể vay từ Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang được phép lên tới 92% số vốn đầu tư khi mua các chứng khoán nhiễm độc. Như vậy không khác gì chính phủ cho các nhà đầu tư vay để giải tỏa giúp các ngân hàng khỏi những trái khoán nặng nợ vì địa ốc. Khi mua các trái khoán đó người ta không biết sau cùng sẽ có bao nhiêu chủ nhà không trả được nợ, đó là mối rủi ro mà nhà đầu tư phải gánh. Nhưng trong cuộc hợp tác công tư này các nhà đầu tư lợi quá, còn chính phủ bị thiệt vì gánh quá nhiều rủi ro, tức là những người dân đóng thuế ở Mỹ có thể bị rủi ro mất nhiều tiền hơn các nhà tư bản.

Góp tiền mua các chứng khoán nhiễm độc là một cuộc chơi may rủi. Chính phủ Mỹ sẽ bảo đảm món nợ mà nhà đầu tư đi vay để cùng mua các chứng khoán đó, cũng không khác gì chính phủ bỏ tiền ra cho họ vay. Nếu sau cùng các chứng khoán đó tốt, thí dụ các con nợ mua nhà trong đó đều trả được đầy đủ, thì hai bên sẽ chia nhau tiền lời sau khi trả nợ. Nếu chẳng may nhiều con nợ khai phá sản, chứng khoán không còn giá trị nữa, thì hai bên cùng bị lỗ mất số tiền họ bỏ ra, nhưng riêng phần chính phủ Mỹ thì còn phải đứng ra trả món nợ đã đứng ra bảo đảm! Tức là lỗ lớn!

Ví dụ có người cùng bạn dự chung một cuộc chơi may rủi. Ðiều kiện là nếu thắng thì cả hai bên cùng ăn, nhưng nếu thua thì người kia chỉ mất một đồng, còn bạn chịu lỗ 9 đồng! Bạn có thấy nên tham dự hay không? Chắc là không, vì người kia lợi quá. Chính phủ Mỹ đang tặng cho các nhà ngân hàng và quỹ đầu tư cơ hội hưởng lợi như thế.

Giáo Sư Joseph E. Stiglitz đã chứng tỏ điều này với một thí dụ giản dị. Ví dụ có một cuộc đánh cá, thẩy đồng xu nếu sấp thì được 200 đồng, nếu ngửa thì không được đồng nào. Cuộc đánh cá này cũng giống như mua xổ số với xác suất 50-50 để thắng 200 đồng, hay là mất tiền luôn. Giả thiết người tham dự không quan tâm đến may rủi thì cái “giá” của tấm vé xổ số này là 100 đồng, con số trung bình của 200 và zero.

Chính phủ Mỹ và nhà tư bản sẽ chung nhau mua vé số 100 đồng đó, nhưng mỗi bên chỉ bỏ ra 4 đồng, chính phủ hứa bảo đảm tất cả món nợ 92 đồng sẽ vay để mua vé số. Nếu khi thẩy đồng tiền mà thấy sấp thì thắng 200 đồng, trả nợ 92 đồng rồi thì chính phủ và nhà đầu tư mỗi bên được 54 đồng tức là mỗi người lời 5 chục bạc với cuộc đầu tư 4 đồng bạc! Nhưng nếu thẩy đồng tiền lên mà kết quả là ngửa, thì cả chính phủ và nhà đầu tư đều mất hết tiền vốn là 4 đồng. Tuy nhiên sau đó ông chính phủ sẽ phải bỏ tiền túi ra trả món nợ 92 đồng nữa! Nói là chính phủ mất tiền, trong thực tế đó là tiền của tất cả 300 triệu dân Mỹ!

Một cuộc đánh cá như vậy là thiên lệch. Nhà tư bản bỏ ra 4 đồng đánh cá, với xác suất là 50% mất hết, và 50% là được trả 54 đồng. Còn ông nhà nước cũng bỏ ra 4 đồng nhưng có 50% xác suất được hưởng 54 đồng và 50% sẽ bị mất 96 đồng! Ðây là một vụ cộng tác rất thiên lệch, các nhà tư bản sẽ hưởng lợi lớn và chịu rủi ro rất nhỏ, còn toàn dân Mỹ quốc sẽ gánh rất nhiều rủi ro mất tiền.

Nhưng 300 triệu dân Mỹ còn lo mất tiền nhiều hơn nữa. Vì cái người bán tấm vé số trên có thể không chịu bán với giá 100 đồng! Nếu họ đòi bán với giá 150 đồng thì sao? Thì mối rủi ro của chính phủ sẽ tăng lên, vì món nợ đi vay sẽ không phải là 92 đồng mà lên tới 138 đồng lận; nếu lỗ vốn thì nhà nước sẽ phải trả món tiền 138 đồng đó.

Nhưng có thể nào người bán vé số đòi được giá 150 đồng hay không? Ở đây chúng ta phải nhìn kỹ xem ai là những người bán vé số, và ai là những người sẽ chung vốn mua vé số với chính phủ Mỹ?

Nhìn thật kỹ, trong thực tế sẽ thấy họ đều là các “nhà băng” tức là các đại công ty tài chánh và ngân hàng ở Mỹ, trong đó có những ngân hàng đang ôm các trái khoán khó đòi nợ. Hiện nay không ai biết các chứng khoán đó trị giá bao nhiêu, vì không bán được trong thị trường, cho nên ông Geithner đã đưa đề nghị bán đấu giá. Có thể tin là những người hiến giá đều biết họ muốn gì và biết món hàng đó có giá trị bao nhiêu đối với họ, do đó sẽ không lo người bán cố ý tăng giá lên quá trớn. Nhưng ông Borofsky đã nêu lên mối nguy là những người bán và người mua có thể thông đồng với nhau để tăng giá các chứng khoán đem đấu giá!

Tất cả những người bán và người mua dù không bàn nhau cũng thấy tự động tăng giá “tấm vé số” của họ lên là cách tốt nhất. Tất cả các nhà băng sẽ được lợi, chỉ người dân đóng thuế bị thiệt hại! Cuộc đấu giá trong đó chính phủ hy vọng sẽ xác định được giá trị “thị trường” của các chứng khoán thì trong thực tế giá sẽ được nâng lên cao hơn!

Còn một mối nguy hiểm nữa là ngay cái xác suất thắng và thua cũng không đúng như mọi người tiên liệu. Vì khi chọn các chứng khoán đem ra bán đấu giá, các ngân hàng sẽ chọn những chứng khoán với các món nợ khó đòi nhất trong đó để bán. Khi đó xác suất bị mất tiền sẽ lên cao, xác suất để có lời rất thấp - cũng giống như đồng tiền bị lệch, dễ lật mặt ngửa lên hơn là mặt sấp!

Những khó khăn kể trên khiến việc thực hiện chương trình cứu trợ các ngân hàng của chính phủ Obama sẽ còn đầy trở ngại. Theo ông Geithner thì nhà nước chỉ còn hơn 100 tỷ trong số 700 tỷ đã được Quốc Hội thông qua từ thời Tổng Thống Bush. Theo thanh tra Borofsky, nhà nước cần phải theo dõi sát việc thực hiện chương trình này để tránh những sự thông đồng giữa các nhà đầu tư khi đóng vai mua, khi đóng vai bán. Phải nghiêm cấm những tình trạng quyền lợi công và tư xung khắc cho những người thực hiện chương trình này. Phải công bố minh bạch danh sách những người và công ty đứng ra góp vốn với chính phủ để mua các chứng khoán nhiễm độc; mà những nhà đầu tư đó phải được xét kỹ trước khi được cộng tác.

Giáo Sư Joseph E. Stiglitz đã được giải Nobel về Kinh Tế, từng làm cố vấn cho chính phủ Clinton và thường được Tổng Thống Obama tham khảo trong thời gian tranh cử.

Nhìn qua thí dụ ông nêu lên thì thấy mối lo dân Mỹ bị mất tiền cho các nhà tư bản ăn là có thật. Một điều người dân ở đây yên tâm là báo chí được tự do, các nhà kinh tế độc lập được tự do phát biểu, mà thanh tra ăn lương của chính phủ cũng không có bổn phận phải bênh vực chính phủ! Vì ở một nước tự do, ai cũng biết chính phủ nhất thời, dân vạn đại.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Liên Minh Quân Sự Việt Cộng-Hoa Kỳ

Nguyễn Ðạt Thịnh
Chuyện nghị sĩ John McCain đòi mở rộng bang giao Việt Cộng-Hoa Kỳ, không phải là chuyện mới, mặc dù ông mới tuyên bố Hoa Kỳ “muốn tăng cường liên hệ quân sự” với Việt Cộng trong cuộc họp báo tại Hà Nội hôm thứ Ba mùng 7 tháng Tư. Ông còn nói việc tăng cường này sẽ đưa đến việc các sĩ quan quân đội Việt Cộng được huấn luyện tại Hoa Kỳ.

McCain là thành viên uỷ ban Quốc Phòng thượng viện, nên chuyến thăm viếng Á Châu của ông trong giai đoạn Á Châu đang là sân khấu cho hai biến chuyển mang tính chất quân sự, cũng chuyên chở nhiều ý nghĩa đặc biệt. Hai biến chuyển đó là vụ chiếc tiểu hạm Impeccable bị 5 tiểu hạm của Trung Cộng khiêu khích trên Biển Ðông, và vụ Bắc Hạn phóng không thành công một vệ tinh không gian.

Trước cuộc họp báo này, McCain còn nói với các sinh viên viện Cao Ðẳng Ngoại Giao Hà Nội là ông nhìn thấy nhu cầu cộng tác quân sự với Việt Cộng sau thái độ tranh dành của Trung Cộng tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Chuyến đi của ông đã hoàn thành, nhưng ông có thành công chút nào không?

Cùng đi với McCain còn có 2 nghị sĩ nữa là Lindsey Graham và Amy Klobuchar; bà Klobuchar là nghị sĩ Dân Chủ, trong lúc cả hai nghị sĩ Graham và McCain đều thuộc đảng Cộng Hòa.

Truớc khi đến Việt Nam, họ đã ghé thăm Nhật, và sau Việt Nam họ sang Trung Cộng; trên bình diện quân sự Nhật là đồng minh của Hoa Kỳ, Trung Cộng và Việt Cộng không hẳn đồng minh với nhau, nhưng cả hai cùng có thái độ bênh vực Bắc Hàn. Thái độ chính trị của Việt Cộng có điểm tế nhị là họ chống Trung Cộng với mức độ “vừa phải” trong những vấn đề tranh chấp hai hải đảo Hoàng Sa và Truờng Sa, nhưng vẫn thần phục Trung Cộng trên những địa hạt khác.

Trong lúc thế giới đang thảo luận biện pháp trừng phạt Bắc Hàn về việc phóng hỏa tiễn, thì Việt Cộng cùng với Nga và Trung Cộng lên tiếng kêu gọi một biện pháp nhẹ nhàng và một thái độ tự chế của thế giới tự do. Ðối với cuộc vận động cộng tác quân sự của ông McCain, Hà Nội không có một thái độ chính thức nào cả.

Cũng trong buổi họp báo tại Hà Nội, nghị sĩ Graham kêu gọi Việt Cộng nên có một phản ứng lên án Bắc Hàn như một nguy cơ quân sự cho vùng Ðông Á; Graham là một cựu đại tá không quân và cựu thẩm phán.

Ngoài ra Hà Nội còn không thích lời McCain kêu gọi cởi mở chính trị hơn, trả tự do cho những người bị giam giữ chi vì bất đồng chính kiến với nhà nuớc, và cho phép người Việt Nam có nhiều tự do hơn, nhất là tự do ngôn luận.

Ông nói, “đồng hành với tiến bộ kinh tế phải là cởi mở chính trị và tôn trọng nhân quyền”, nhiều hãng thông tấn và truyền thông quốc tế tuờng thuật câu tuyên bố này của McCain, nhưng truyền thông trong nuớc không đề cập đến.

Báo Hà Nội Mới viết, “TNS Giôn Mắc-kên bày tỏ ấn tượng mạnh mẽ về sự phát triển của Việt Nam cũng như tiến trình phát triển trong quan hệ song phương giữa hai nước, nhất là trên lĩnh vực kinh tế và giáo dục - đào tạo, đồng thời cho rằng, hai bên cần tăng cường hợp tác hơn nữa trên những lĩnh vực có thế mạnh của hai nước.”

Ngoài việc tuờng thuật McCain nói với Nguyễn Tấn Dũng những “ấn tuợng mạnh mẽ về sự phát triển của Việt Nam”, Hà Nội Mới còn kể lại việc ông McCain đến thăm “chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng”, và được ông Trọng cho biết ông mong rằng, với vốn hiểu biết về Việt Nam, với cương vị và uy tín của mình, TNS Giôn Mắc-kên sẽ tiếp tục có những đóng góp thiết thực vào việc thúc đẩy quan hệ hai nước, hai QH, đồng thời tác động để chính quyền Hoa Kỳ sớm công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, sớm để Việt Nam được hưởng quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), thúc đẩy các doanh nghiệp Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam, cũng như tăng cường giao lưu thương mại giữa hai nước.”

Báo Sài Gòn Giải Phóng tường thuật lại một câu phỏng vấn McCain về liên hệ quốc phòng Mỹ-Việt Cộng:

HỎI: “Ông có muốn thấy sự gia tăng về quan hệ quốc phòng giữa hai nước, theo ông tầm mức và phương pháp nào mà hai nước sẽ áp dụng trong thời gian tới?”

ÐÁP: “Có những chuyến thăm của tàu hải quân Mỹ tới Việt Nam. Ngoài các hoạt động khác, tôi muốn các sĩ quan Việt Nam tham gia các trường quân sự tại Mỹ. Một số trường quân sự Mỹ mà sĩ quan Việt Nam nên tham khảo và chúng tôi khuyến khích họ theo học.

“Tôi tin rằng Mỹ nên hợp tác với quân đội Việt Nam, có thể làm tốt công tác trao đổi thông tin về các mối đe dọa của các tổ chức khủng bố. Các công việc này phải được thực hiện tốt hơn.”

Thái độ của một tờ báo tại Hà Nội, không dám đề cập đến cuộc vận động liên minh quân sự của McCain, và một tờ khác tại Sài Gòn, chỉ nói mơ hồ về cuộc vận động này, cho thấy là McCain đã thất bại, và Hoa Kỳ chỉ là nguồn nước còn rất xa, trong lúc Trung Cộng vẫn là ngọn lửa gần của đám cháy sát nách đang đốt sôi nước Biển Ðông, tàn phá núi rừng Dak Nông và gây vỡ, mẻ biên giới cực Bắc.

Nguyễn Ðạt Thịnh

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

30 Tháng Tư Năm 1975: Ngày Đau Thương Của Cả Nước
Trần -Tinh Bạch Thái Tường

Lịch sử nước Việt Nam trải qua nhiều thăng trầm, biến đổi trong suốt chiều dài lịch sử hơn 4 ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Mỗi giai đoạn biến đổi đều có một mốc thời gian nhất định để đất nước chuyển từ trạng huống này sang trạng huống khác, nói một cách rõ hơn là sự thay đổi của một chính thể hay một thể chế.

Biến cố 30 tháng 4 năm 1975 là một dấu mốc lịch sử, là một bước ngoặc đổi thay cả một thể chế 20 năm Cộng Hoà của miền Nam Việt Nam. Kể từ đó, Cộng sản Việt nam tiến hành cưỡng đặt chính thể Việt nam Dân chủ Cộng hòa trên địa bàn cả nước (sau này đổi thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam, một danh xưng “mỹ miều” của chủ nghĩa Cộng sản).

Đi sâu hoặc phân tích để tìm hiểu cái hay , cái dở của từng chính thể hẳn phải đòi hỏi nhiều thời gian và tài liệu nghiên cứu.

Trong phạm vi của bài cảm nghĩ hôm nay, thử tìm hiểu xem ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày thế nào, hằn chứa những suy tư và ý nghĩa gì ?

Sau khi Tổng Thống (3 ngày) Dương Văn Minh ra lệnh cho toàn thể Quân, Cán, Chính ngưng mọi sinh hoạt để sẵn sàng bàn giao nhiệm sở cho “cái gọi là” lực lượng giải phóng miền Nam Việt Nam (hay theo ngôn từ của Tổng Thống Minh là “người anh em phía bên kia), thì tâm trạng của toàn quân, toàn dân miền Nam Việt Nam đều ngỡ ngàng và uất nghẹn. Sự uất nghẹn và ngỡ ngàng đó thậm chí đã làm cho một số Tướng lãnh, Sĩ quan, Hạ sĩ quan, binh sĩ và Cảnh sát tìm cái chết oanh liệt của họ là tự sát hay cố chiến đấu đến gần hơi thở cuối cùng rồi quay súng tự kết liễu đời mình.

Sau đó, rồi tới những chuỗi ngày tiếp nối, Sĩ quan các cấp (quân đội cũng như cảnh sát), các Hạ sĩ quan thuộc các thành phần nguy hiểm (theo đánh giá của Việt cộng lúc bấy giờ), các vị chỉ huy hành chánh , các cán binh Cộng sản chiêu hồi , các cảnh sát viên đặc biệt bị lùa vào các trại tập trung cải tạo bằng những thông cáo với ngôn từ mập mờ làm cho mọi người hiểu rằng chỉ đi học tập cải tạo 10 ngày (đối với sĩ quan cấp úy trở xuống) và một tháng (đối với sĩ quan cấp tá trở lên).

Về phần dân chúng thì không an tâm, lúc nào cũng nơm nớp về các vụ đấu tố hay tịch biên gia sản. Nên không ai bảo ai, lũ lượt mang các đồ đạc, tiện nghi trong nhà đi bán.

Thế rồi việc gì đến đã đến.

Những người gọi là đi học tập cải tạo đã không phải là 10 ngày hay một tháng mà bằng những thời gian không hạn định rõ rệt. “Các anh cứ học tập tốt, lao động tốt, rồi sẽ được nhà nước khoan hồng cho trở về xum họp với gia đình để xây dựng cuộc sống mới”. Đại để là ở trại tập trung nào, cán bộ quản giáo (bộ đội hay công an) cũng đều đưa ra những “khuyên nhủ” như vậy để vỗ về và trấn an.

Không có gì ngạc nhiên khi có một số anh em đã tìm cách trốn trại. Ai may mắn thì thoát, người xấu xố thì bị bắt lại hay bị bắn chết.Nguyên do chỉ vì học tập mà không biết thế nào là tiến bộ, mà chỉ biết được rằng khi nào được gọi tên thả về đấy là lúc mình đã học tập tiến bộ. (Điều này phù hợp với câu nói của một số cán bộ quản giáo: “Anh nào được nhà nước cho về tức là đã tiến bộ”.)

Thực tế thì đã có một số được cho về sớm không phải vì lý do “học tập tiến bộ” mà vì họ là những chuyên viên kỹ thuật hay những chuyên viên các ngành mà nhà nước cần sử dụng cấp thời để làm việc hay huấn luyện cho các cán binh Cộng sản trong lúc nhu cầu cho các hoạt động cần thiết đòi hỏi.Một số khác về sớm là vì có giây mơ giẫy má với “gia đình cách mạng”, hoặc giả thuộc thành phần sức khoẻ quá nguy kịch (bệnh nặng, hay sắp chết) không tiện lưu giữ trong trại.

Phải thẳng thắn mà nói rằng những sĩ quan , các hạ sĩ quan, các công chức cao cấp cùng thành phần cảnh sát viên đặc biệt, cán binh chiêu hồi, đã bị cầm tù không tuyên án trong các trại tập trung dưới một mỹ từ “cải tạo” để che mắt nhân dân trong nướcvà dư luận thế giới.

Còn về phần dân chúng và gia đình các tù nhân (cải tạo) thuộc chế độ Việt Nam Cộng Hòa thì sao ? Nhà nước Cộng sản đã minh định: các gia đình giàu có là những thành phần tư sản mại bản, làm giàu trên xương máu của đồng bào. Còn gia đình của các tù nhân thuộc chế độ cũ là thành phần “ngồi mát ăn bát vàng”, phi lao động.

Do đó, họ (Cộng sản) đã trắng trợn tịch biên gia sản của những người giàu có đồng thời mở ra những buổi học tập ngắn hạn trong các phường, khóm lên lớp và tuyên truyền, thậm chí nếu cần cưỡng bức dân chúng thuộc các đối tượng nêu trên đi các vùng kinh tế mới với lý luận muốn giúp họ tạo dựng một cuộc sống mới tốt đẹp hơn theo đạo đức “xã hội chủ nghĩa”. Sự thật quá tàn nhẫn và đau thương khôn xiết khi những gia đình gọi là “tư sản mại bản” sau khi bị cướp đoạt của cải và nhà cửa đã phải lần lượt theo chân các gia đình tù nhân cải tạo đi về các vùng đất hoang vu “gọi là vùng kinh tế mới” để cuốc đất trồng khoai với những trợ giúp quá hạn hẹp của cơ quan chính quyền. Một số không ít những thương gia trước kia, vì quá uất ức, đã tìm cách quyên sinh để giải quyết nợ đời. Một số không nhỏ các gia đình khác vì không chịu được cảnh thiếu thốn quá cơ cực đã phải tìm cách trở về thành phố hay trôi dạt đến những vùng tương đối dễ kiếm sống hơn.

Chính sách “xây dựng các khu kinh tế mới” nhìn một cách khách quan giống như hình thức trả thù cho bõ ghét đối với một số “thành phần” nhất định của miền Nam Viêt Nam. Một vài chứng minh cụ thể (về sự trả thù) không chối cãi được: đó là, ngay sau khi có mặt tại Sài gòn, Cộng sản đã không ngần ngại sua đuổi các anh thương binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa ra khỏi các quân y viện, bệnh xá ngay lập tức dẫu rằng có thương binh vết thương còn đang rỉ máu chưa kịp được băng bó.

Rồi khi tình hình tạm ổn định, việc học được tiếp tục thì các em thuộc thành phần “gia đình ngụy quân ngụy quyền”thì không được thu nhận vào các trường đại học. Ngay cả, việc xin vào làm việc ở các xí nghiệp, công sở cũng bị phân biệt đối sử.

Cộng sản đã áp dụng guồng máy cai trị kềm kẹp một cách hết sức chặt chẽ qua hình thức “tổ dân phố” dưới sự giám sát của tổ trưởng, tổ phó, công an khu vực. Nhân dân trong mỗi tổ dân phố người người đều có một suy nghĩ tự đề phòng và cảnh giác , chỉ sợ nhỡ ra vô ý, sẽ bị có kẻ tố giác mình thế này, thế nọ.

Sau này, qua sự biến đổi của tình hình thế giới, nhất là sau khi có sự tan rã của chủ nghĩa cộng sản ở các nước Đông Âu và sự sụp đổ của Đế quốc Liên sô (cái nôi của chủ nghĩa cộng sản quái gở), tình hình chính trị ở Việt nam có phần nào thay đổi: dân tình dễ chịu hơn, các tù nhân cải tạo được lần lượt cho về xum họp với gia đình và cùng xuất ngoại sang định cư tại Hoa Kỳ theo chương trình HO (Humanitarian Organization Program) dựa trên sự thỏa thuận giữa hai chính phủ Hoa kỳ và Cộng sảnViệt nam.

Tuy đổi mới theo xu thế của thời đại, nhưng nhân dân Việt nam vẫn bị cai trị, kềm kẹp bởi một tập đoàn lãnh đạo bảo thủ thiếu văn hoá. Bộ máy cai trị từ thượng tầng xuống đến cơ sở gồm đa số các cán bộ có “máu” hủ hoá, quan liêu, cửa quyền nhất nhì Đông Nam Á. Chính những thành phần “sâu dân mọt nước” này đã là những thủ phạm tạo cho Việt nam trở thành một trong những quốc gia nghèo khó nhất với mức thu nhập bình quân của nhân dân vào hạng gần chót trên thế giới.

Việt nam ngày nay đã bị liệt kê là một quốc gia không có dân chủ và nhân quyền. Các tệ nạn tham ô nhũng lạm đã là quốc nạn trên địa bàn cả nước. Cờ bạc, đĩ điếm, xì ke, ma tuý,(kể cả căn bệnh hiểm nghèo AIDS) lan tràn đều khắp từ thành thị xuống đến thôn quê, từ đồng bằng ngược lên miền cao, những thiếu nữ đã phải ngậm đắng nuốt cay liều thân chấp nhận trong các cuộc hôn nhân gượng ép với đàn ông Đài loan, Đại hàn bất kể không tương xứng về gia cảnh, tưổi tác miễn là có ít tiền giúp gia đình trang trải những khó khăn cấp thời. Rồi những công nhân phải chạy đôn chạy đáo hay chấp nhận vay nợ cắt cổ để được xuất ngoại lao động cũng với mong mỏi giải quyết được những khó khăn vật chất của gia đình.

Tập đoàn lãnh đạo đã cố tình hay làm ngơ trước việc những phần da thịt của Tổ quốc Việt nam bị xâm phạm và gậm nhấm dần. Hiện tượng khai thác Bâu xít ở Cao nguyên Trung phần theo sự nhận dịnh và phân tích của các vị thức giả, của các khoa học gia là một hình thức xâm phạm chủ quyền Việt nam một cách dưới chiêu bài “hợp tác” kinh tế và phát triển khoa học. Dù rằng nhà cầm quyền Việt nam có bao biện cách nào đi chăng nữa nhưng nhân dân Việt nam và “những người bàng quang’ trên thế giới đều có một nhận định tương tự: Nước Việt nam đang bị xâm thực.

Nhìn vào hoàn cảnh cụ thể ở Trường sa, Hoàng sa, lãnh hải vịnh Bắc bộ, những Nam quan, Bản giốc nơi biên giới Việt Trung, có phải da thịt Mẹ Việt Nam đang bị Phương Bắc gậm nhấm không ?

Dân tộc ta rõ bị một cổ hai tròng: giặc ngoài thì xâm lấn biển, đất, bên trong thì bị “cường hào ác bá tân thời” cưỡng chiếm ruộng vườn mà khiếu kiệu bao năm cũng chẳng đi tới đâu.

Những tỉ phú đô la Việt nam, những thành phần lãnh đạo Việt nam từ 1975 đến nay hẳn biết rõ hơn ai hết về thực trạng của tổ quốc mình.

Làm một việc so sánh cuộc sống của nhân dân miền Nam giữa hai chế độ: Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau 1975 thì rõ ràng cuộc sống trước 1975 tự do, thoải mái hơn nhiều so với cuộc sống hiện tại.

Việt nam ngày nay, nếu chỉ nhìn vào những thay đổi và sinh hoạt nơi phố thị thì sẽ không phủ nhận có nhiều tiến bộ đáng kể. nhưng nếu nhìn dưới một lăng kính tổng thể, nghĩa là “đi sâu đi sát” vào quần chúng, phónh tầm nhìn vào những hang cùng ngõ hẻm “vùng xôi đậu” của thành thị, tỉnh lỵ hay xa hơn nữa nơi các làng mạc xã ấp vùng ngoại ô, vùng đồng bằng , chốn cao nguyên hay những nơi xa chốn đô hội thì người trung thực sẽ khách quan đánh giá : sự phồn vinh hiện hữu chỉ là giả tạo giữa hai bức tranh tương phản “thành thị và thôn quê”. Cái sự thay da đổi thịt nơi chốn phồn hoa không khác gì một thiếu nữ cố trau truốt nhan sắc để thu hút nhãn quan của tha nhân.

Những xa hoa, những tiến bộ của khoa học kỹ thuật đang diễn ra ở thành phố, thị trấn chỉ có thể hiểu được là phát xuất từ những kẻ giàu tiền lắm bạc, của những doanh gia, của những thế lực cầm quyền, của những con ông cháu cha, của những người tiêu xài vô tội vạ do đô la đổ về từ thân nhân sống tha hương nơi xứ người, chứ không phải từ đại đa số quần chúng nghèo khó sống bữa nay lo bữa mai.

Mọi người dân Việt nam, ở hải ngoại cũng như trong nước, ngoại trừ một số ít vinh thân phì gia, gió chiều nào theo chiều đó (không cần biết ý nghĩa của các chữ “tổ quốc” và “dân tộc” là gì ), thảy đều mong muốn một nước Việt nam có TỰ DO, DÂN CHỦ thực sự, được lãnh đạo bởi những người biết vì dân, vì nước, biết tôn trọng nhân quyền, một lòng một dạ đưa dân tộc đến ấm no, hạnh phúc như dân tộc của các nước tiên tiến trên thế giới.

Ngày nào mà nước Việt nam vẫn còn là một Quốc gia thiếu dân chủ và không có nhân quyền thì nhân dân vẫn coi “30 THÁNG TƯ NĂM 1975 LÀ NGÀY ĐAU THƯƠNG CỦA CẢ NƯỚC”.

Trần -Tinh Bạch Thái Tường

dacung
Posts: 409
Joined: Tue Dec 13, 2005 6:26 am
Location: USA
Contact:

Post by dacung »

VIỆT NAM: 34 NĂM TA ĐÃ THẤY GÌ?

Phạm Trần
Việt Báo Thứ Sáu, 4/24/2009, 12:00:00 AM

Hoa Thịnh Đốn - Nhìn lại Việt Nam sau 34 năm xa cách không ai có thể ngờ rằng hòa bình đắt gía hơn chiến tranh và lằn ranh ngăn cách giữa người Việt Nam ở hai bên bờ cuộc chiến vẫn còn nguyên đó.

Hãy nhớ lại thời Cộng sản Việt Nam áp dụng chính sách kinh tế bao cấp, trung ương tập quyền, lao động tập thể hợp tác xã và cảnh người dân xơ xác trong áo quần xốc xếch cầm tem phiếu mua thực phẩm đứng nối đuôi nhau trước các cửa hàng quốc doanh để nghĩ về đời sống bây giờ.

TÌNH HÌNH KINH TẾ

Trước hết, ngày nay trên đất nước Việt Nam không còn cảnh xếp hàng đến lượt mình thì cô thư ký cửa hàng nhà nước bảo hết hàng rồi hay Việt Nam phải nhập cảng gạo như thập niên 70, nhưng vẫn còn hàng chục triệu người dân không có công ăn việc làm ổn định và rất nhiều người vẫn thiếu ăn, thiếu mặc. Và dù đã qua gần 10 năm đầu của Thế kỷ 21 Việt Nam vẫn còn là một trong số quốc gia nghèo nàn và lạc hậu nhất trên thế giới.

Thứ nhì, nhà nước CSVN, từ sau Đại hội đảng IX năm 2000, đã theo đuổi giấc mơ muốn biến đất nước lệ thuộc vào nông nghiệp thành một nước công nghiệp vào năm 2020, nhưng sau hơn 20 năm được gọi là "đổi mới", tiêu chí này đã có những dấu hiệu khó đạt được.

Thứ ba, dù Việt Nam bây giờ đứng hàng thứ nhì xuất cảng gạo trên thế giới, chỉ sau có Thái Lan, nhưng nhiều triệu người vẫn còn bị đói nghèo. Nhà nước Việt Nam, dựa vào tiêu chuẩn của mình chỉ nhận còn chừng từ 11 đến 13% trong số 85 triệu người dân còn trong diện đói nghèo. Nhưng nếu dựa theo tiêu chuẩn nghèo của Liện Hiệp Quốc thì con số này phải là từ 18 đến 20 phần trăm. Số ngưởi Dân tộc (thiểu số) ở vùng cao và cùng sâu vẫn chiếm tỷ lệ đói nghèo cao nhất, nhưng không ai nắm được con số chính xác.

Tuy nhiên, trong một Báo cáo vào tháng 12/2008 nhà nước Việt Nam chỉ nhìn nhận: "Hiện cả nước có 61 huyện thuộc 20 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%, chiếm khoảng 18% tổng số hộ ở nông thôn vào cuối năm 2007, trong đó trên 90% là đồng bào dân tộc thiểu số."

Thứ tư, chủ trương nóng vội của Việt Nam từ năm 2000 khi thu hẹp diện tích trồng lúa để lấy đất xây các khu công nghệ do vốn đầu tư của nhà nước, hay hợp doanh với nước ngoài và tư nhân nhưng vì làm dài trải, có tính thi đua, thiếu quy họach, hàng hóa làm ra thiếu tiêu chuẩn, nhất là về phương diện vệ sinh nên hàng xuất khẩu bị trả về, hay chất lượng không tốt bằng hàng nước ngoài khiến ít người mua mà giá thành lại qúa cao nên nhiều công ty bị thua lỗ hay phá sản.

Thứ năm, hàng trăm ngàn công nhân trong nước mất việc từ cuối năm 2008 do hậu qủa kinh tế suy thoái tòan cầu đã ảnh hưởng đến các công ty nước ngòai và của Việt Nam. Một trong những khuyết điểm kinh tế lớn của nhà nước là đã để lệ thuộc qúa lâu vào việc làm mướn (gia công) cho các công ty nước ngòai. Khi các công ty này phải đóng cửa bỏ về nước, hay vì hàng làm ra không bán được nên phải cho công nhân nghỉ việc thì số công nhân, phần đông không có tay nghề, phải đi lang thang kiếm bất cứ công việc gì. Nhiều người trong số họ phải quay về quê ăn bám gia đình, tăng thêm gánh nặng kinh tế xà xã hội cho nông thôn vốn lệ thuộc phần lớn vào đồng lương của số người đi làm xa nhà.

Thứ sáu, tuy có chủ trương "đổi mới", nhưng đảng CSVN lại vẫn ngông ngênh không chịu "đổi mầu" để mở cửa hộp nhập tòan diện với thế giới bên ngòai. Nhà nước vẫn chỉ muốn làm ăn theo lối "nửa vời", có lợi thì mở, không có lợi và không kiểm soát được thì lại co vòi, đóng lại, cộng thêm nạn giấy tờ, thủ tục chồng chất, thiếu minh bạch và không công bằng khiến cho nhiều nhà đầu tư nản lòng bỏ cuộc. Nền kinh tế đã thiếu bền vững, vì vậy càng lung lay hơn.

Thứ bẩy, như đã quy định trong Cương Lĩnh năm 1991, đảng CSVN tiếp tục làm kinh tế dựa vào lý luận rất mơ hồ và lung tung là: "Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu."

Chủ trương "nửa đom đóm, nửa đèn dầu" này đã biến thành cái gía qúa đắt cho Việt Nam phải trả sau hơn 20 năm đổi mới từ năm 1986 là dù đã được gia nhập WTO (World Trade Organization) được trên 2 năm, nhưng Việt Nam vẫn chưa được Tổ chức thương mại quốc tế này nhìn nhận có nền kinh tế thị trường. Vì lý do này, Việt Nam chưa được hưởng các quyền lợi mậu dịch và tài chính do WTO dành cho các nước có thị trường kinh tế tự do, cởi mở, công bằng và ngay thẳng với mọi đối tượng.

Hồi tháng 6/2008, khi đến Hoa Kỳ, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Việt Nam, đã xin Tổng thống George W. Bush yêu cầu Quốc Hội Hoa Kỳ nhìn nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường nhưng vì ông Bush sắp mãn nhiệm và Quốc Hội sắp phải bầu lại nên yêu cầu này cũng chỉ được "nghe rồi bỏ đấy". Bây giờ việc này nằm trong tay Tổng thống Barack Obama và Quốc Hội do đảng Dân chủ kiểm sóat , nhưng chưa biết đến bao giờ yêu cầu của Việt Nam mới được đem ra thảo luận.

Tuy nhiên, cho đến bây giờ, trong đảng CSVN vẫn còn một số người có đầu óc bảo thủ và cực đoan nhưng lại có ảnh hưởng trong đảng vẫn khư khư cho rằng Việt Nam không cần phải nhượng bộ theo đòi hỏi của WTO mà cứ giữ vững thứ "kinh tế thị trường của Xã hội Chủ nghĩa".

Người đứng đầu nhóm "cãi chầy, cãi cối" này là Nguyễn Đức Bình, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Bình viết trên Tạp chí Tuyên giáo, cơ quan tuyên truyền của đảng rằng:

" WTO không thừa nhận nước ta có kinh tế thị trường vì lẽ ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa, họ cho ta 12 năm nữa để cắt bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa mới được công nhận là kinh tế thị trường! Mặc họ, ta độc lập, tự chủ, đường ta ta cứ đi, không cần xin họ để có kinh tế thị trường "đầy đủ"! Kinh tế thị trường có nhiều dạng thức, nhiều hình thái khác nhau. Có kinh tế thị trường tự do cổ điển, có kinh tế thị trường chủ nghĩa tự do mới, có kinh tế thị trường xã hội của chủ nghĩa xã hội dân chủ, có kinh tế thị trường chỉ huy v.v" Mỗi kiểu thị trường ấy lại có nhiều mầu sắc khác nhau. Ở nước ta, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cũng là một hình thái kinh tế thị trường chứ sao, vậy ai được phép cấm?" (Tạp chí Tuyên Giáo, 11/2008)

Tuy nhiên hiện nay trong đảng CSVN đang có khuynh hướng đòi bỏ chủ trương xây dựng đất nước phải dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những người này cho rằng quan điểm này đã lỗi thời. Nhưng Nguyễn Đức Bình, người đóng vai quan trọng trong việc hòan thành Cương lĩnh năm 1991 đã chống lại khuynh hướng này trên Tạp chí Tuyên giáo hồi tháng 11 năm 2008.

Phe bảo thủ, tiêu biểu như Nguyễn Đức Bình, đã thể hiện trong quan điểm của họ trong Cương lĩnh 1991. Họ lý luận rằng : "Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử."

BẰNG CHỨNG TỤT HẬU

Nhưng cho đến năm 2009, Cương lĩnh năm 1991 "Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội" đã thi hành được 18 năm mà Việt Nam vẫn chưa tiến được một bước trong sự nghiệp gọi là "công nghiệp hóa, hiện đại hóa" đất nước.

Để chứng minh cho những nhận định trên, chúng ta hãy cùng đọc Báo cáo của Nhà nước hồi tháng 3/2009: " Bước sang năm 2009, kinh tế thế giới vẫn tiếp tục suy giảm, khó có khả năng phục hồi sớm, tiếp tục tác động tiêu cực lớn đến kinh tế nước ta. Quý I năm 2009, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước chỉ đạt 3,1%, là mức thấp nhất trong nhiều năm qua; xuất khẩu chỉ tăng 2,4%; công nghiệp tăng 2,1%; khách du lịch nước ngoài giảm 16,1% so với cùng kỳ năm 2008; đầu tư nước ngoài chậm lại."

Mặt khác,Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương cũng đã đưa ra những hình ảnh bi quan của nền kinh tế năm 2009.

Trong báo cáo về "Một số vấn đề cơ bản của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay" tại cuộc Hội thảo dài 2 ngày (13-14/4/2009) của Hội đồng Lý luận Trung ương tại tỉnh Bắc Ninh, Tô Hhuy Rứa nói: "Tốc độ tăng trưởng GDP (Gross Domestic Product, Sản xuất Nội Địa) suy giảm. Hoạt động xuất, nhập khẩu chịu tác động nặng nề. Nguồn vốn đầu tư quốc tế suy giảm, đầu tư nước ngoài vào nước ta cũng chịu ảnh hưởng bất lợi. Các lĩnh vực quan trọng khác cũng chịu những tác động bất lợi của khủng hoảng kinh tế toàn cầu như: sản xuất công nghiệp sụt giảm, thị trường chứng khoán có những biến động rất bất thường, thị trường bất động sản rơi vào tình trạng bị "đóng băng"; nguồn thu ngoại tệ phi mậu dịch - du lịch, xuất khẩu lao động, kiều hối đều giảm. Hoạt động tín dụng có biểu hiện chững lại do xuất khẩu sụt giảm và sức mua trên thị trường nội địa chưa được cải thiện; các ngân hàng đang phải đối mặt với "bài toán" hóc búa về khả năng thanh toán"

"Về thực tiễn: Tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn kém; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hợp lý và hiện đại hoá còn chậm. Các cân đối vĩ mô trong nền kinh tế còn thiếu vững chắc, thực lực kinh tế của quốc gia còn yếu, dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động từ bên ngoài. Con đường và giải pháp tăng trưởng kinh tế những năm vừa qua, về cơ bản, vẫn dựa chủ yếu vào việc gia tăng quy mô các yếu tố đầu vào, vì thế tỷ lệ giá trị gia tăng trong hầu hết các sản phẩm còn rất thấp.

Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu được coi là chủ lực nhiều năm nay vẫn là nguyên liệu thô, hàng sơ chế, hàng gia công cho nước ngoài, kéo theo sự thua thiệt lớn trong quan hệ thương mại quốc tế.
Kinh tế nhà nước chưa thể hiện rõ vai trò chủ đạo. Nhiều doanh nghiệp nhà nước hiệu quả hoạt động thấp; trình độ kỹ thuật, công nghệ và quản lý vẫn tụt hậu xa so với các nước tiên tiến; tính độc quyền còn cao. Kinh tế tập thể còn nhỏ bé, phát triển chậm, vai trò thực tế còn mờ nhạt. Kinh tế tư nhân chưa phát triển mạnh đúng với tiềm năng."

Về lực lượng lao động, Tô Huy Rứa nhìn nhận: "Thị trường sức lao động còn sơ khai: nguồn lao động tuy đông về số lượng, gia tăng với tốc độ nhanh, nhưng chất lượng còn rất thấp. Cơ cấu lao động còn nhiều mặt bất hợp lý, lạc hậu và chuyển dịch chậm. Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm còn nghiêm trọng"

HIỂM HỌA XÃ HỘI-LÃNH THỔ

Do tình trạng kinh tế tụt hậu như Rứa nhìn nhận, nhiều tệ nạn xã hội đã nẩy sinh gây xáo trộn trong xã hội như nạn trộm cắp, mại dâm, ma túy, lường gạt, gây thương tích đều gia tăng.

Tô Huy Rứa chứng minh : "Lĩnh vực xã hội: đã có nhiều vấn đề bức xúc, trong năm 2008 và quý I-2009 lại có những dấu hiệu gay gắt hơn và tình hình này có thể còn diễn biến phức tạp."

Nhưng quan trọng hơn là tình trạng cách biệt giầu-nghèo trong xã hội, giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng xa và cao và giữa các sắc dân càng ngày càng giãn ra. Tuy nhiên không ai biết rõ số phần trăm của khỏang cách mà chỉ biết chắc rằng, trong khi nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là những thành phần có chức và có quyền mỗi ngày một giầu thêm thì những người có đồng lương có định, nông dân và những người dân không có nghề chuyên môn lại nghèo đi, không đủ ăn.

Sự cách biệt giữa nhựng kẻ cầm quyền với người dân còn được chứng minh trong nền giáo dục. Số trẻ em con nhà nghèo thất học ngày một tăng cao, nhất là ở các vùng nông thôn và khu vực thiếu việc làm từ Nam ra Bắc. Một cuộc điều tra ở vùng đồng bằng song Cửu Long cho biết số học sinh con nhà nghèo phải bọ học trung bình từ 30 đến 40 phần trăm. Số con em ở miền Trung cũng tương tự như thế, nhưng ở vùng cao và vùng hải đảo thì có nơi lên đến hơn 50%.

Trong khi đó, con cán bộ, đảng viên có điều kiện đi học lên đến 90% hoặc cao hơn. Và trong số ngót 100 ngàn học sinh du học có trên 2/3 du học tự túc đều là con nhà giầu và cán bộ, đảng viên.

Sự cách biệt quá xa này đã khiến cho người dân,một số Đại biểu Quốc Hội và ít báo trong nước nêu thắc mắc, nếu không tham nhũng và thu thập ngòai luồng thì làm sao mà lương cán bộ có thể cho con đi du học nước ngòai ?
Bằng chứng “quốc nạn” tham nhũng của Việt Nam đã hết thuốc chữa không có gì cần bàn luận sau gần 5 năm có Luật "Phóng, Chống Tham Nhũng" (2005).

Nhân chứng Lê Khả Phiêu, Cựu Tổng Bí thư đảng nói với hãng Thông tấn AFP (22/4/09) về tình hình chống tham nhũng hiện nay: "Tôi luôn luôn mong ước và mong chờ những kết qủa lớn lao hơn trong công tác chống tham nhũng."
Phiêu nói: "Sự tiến triển trong việc chống tham nhũng hiện nay chưa đạt đến được lòng mong muốn."
Tình trạng phân hóa và mất tình đòan kết dân tộc tồn tại không chỉ giới hạn trong các lĩnh vực giầu nghèo và tham nhũng thối nát trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên mà còn lan rộng giữa người dân ở các địa phương khác nhau.
Nổi bật nhất là tình trạng chia rẽ chưa sao hàn gắn được giữa người miền Nam "bại trận" và những kẻ Bắc "thắng trận" sau 34 năm kết thúc chiến tranh. Người dân miền Nam vẫn còn bị kỳ thị trong việc xin việc làm, lý lịch con cái của các cựu viên chức và sỹ quan quân đội VNCH vẫn còn là một "chướng ngại vật" trong việc học hành. Thương bệnh binh, nhất là những người bị tàn tật của quân đội VNCH không bao giờ được nhà nước chữa trị.

Ngoài ra cũng phải kể đến hòan cảnh khó khăn hiện nay của khỏang 5 triệu người Dân tộc (thiều số) trên Tây Nguyên sau 34 năm thống nhất đất nước. Số dân của núi rừng này vẫn bị đối xữ thiếu công bằng trên nhiều phương diện, nhưng quan trọng nhất là họ vẫn bị kỳ thị trong các lĩnh vực giáo dục, kinh tế và xã hội. Số phận đồng bào dân tộc ở vùng Tây Bắc (miền Bắc), đặc biệt số dân theo đạo Thiên Chúa Giáo, cũng vẫn bị nghi kỵ và chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống.

Trong lĩnh vực chính trị, tuy đảng CSVN luôn luôn đề cao chủ trương "hòa hợp" với những người bất đồng ý kiến, nhưng chưa bao giờ đảng CSVN chịu "hòa giải" với những người một thời đối lập với họ. Nghị quyết 36 "Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài", ban hành ngày 26 tháng 3 năm 2004 là bằng chứng thất bại của chính sách không thật lòng của đảng CSVN nên đã bị tẩy chay bởi người Việt tị nạn đang sinh sống ở nước ngòai.

Ngay cả những người tranh đấu đòi dân chủ và tự do ôn hòa trong nước cũng bị đảng CSVN hù hoạ, bỏ tù và loại bỏ. Bằng chứng của thái độ này đã xẩy ra cho các ông Hà Sĩ Phu, Nguyễn Thanh Giang, Bác sỹ Nguyễn Đan Quế, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (Ấn Quang) v.v"

Cũng vào thời điểm kỷ niệm 34 năm ngày VNCH rơi vào tay quân Cộng sản thì nguy cơ đất nước có thể bị Tầu hóa đang diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam bằng sự hiện diện ào ạt và phi pháp của hàng ngàn công nhân Tầu làm việc trong các dự án kinh tế, xây dựng và khai thác quặng Bauxite trên Tây Nguyên.
Một phong trào phản đối sự có mặt của người Tầu và kế họach khai thác quặng Bauxite dành cho người Tầu thực hiện đang nổi lên ở trong nước và trong các cộng đồng người Việt ở nước ngòai. Vì an ninh quốc gia và sự sinh tồn của dân tộc mà nguy cơ Tầu có cơ hội "quản lý" tòan bán đảo Đông Dương bao gồm Việt-Miên-Lào, sau khi đặt chân vào vùng đất Tây Nguyên chiến lược của Việt Nam cũng đã được đặt ra trong các cuộc thảo luận này.

Việc này xẩy ra vào lúc lực lượng hải quân Trung Hoa gia tăng các hoạt động quân sự để bảo vệ cho khu vực lãnh hãi rộng lớn được họ gọi là "Đặc quyền Kinh tế" chiếm tới 75% diện tích của Biển Đông, bao gồm cả hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Đó là hình ảnh của Việt Nam cho đến tháng 4 năm 2009, sau 34 năm Hà Nội xua quân chiếm lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa từ nam Vỹ tuyến 17 xuống mũi Cà Mâu.

Ngày nay tuy đất nước không còn chiến tranh và lãnh thổ không còn bị chia cắt, nhưng lòng người dân ở 3 miền Nam-Trung-Bắc vẫn chưa có cơ hội xích lại gần nhau thì lại phải lo đến hiểm họa ngoại xâm. -/-

Phạm Trần
(04/09)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

ÐÌNH CÔNG BÃI THỊ ÐỂ CHỐNG NGOẠI XÂM Sau khi ngang nhiên bán đất, dâng biển cho Trung Cộng bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của nhân dân trong và ngoài nước, Cộng sản Việt Nam lại lún sâu vào trong vũng bùn tội lỗi bán nước . Chúng cho phép Trung Cộng đổ người Tàu vào Tây nguyên để khai thác Bô xít , một chuyện làm cực kỳ ngu xuẩn có tác dụng tai hại đến vấn đề địa dư, quân sự và ngay cả văn hóa nữa. Chúng bỏ ra ngoài tai mọi lời phản kháng vì chúng đã biến thành một thứ Lê chiêu Thống thời đại, chỉ còn biết làm tay sai cho Tàu cộng để được Tàu cộng bảo hộ cho địa vị thống trị của chúng. Một làn sóng chống đối từ mọi tàng lớp nhân dân như quân đội, nhà văn, cựu chiến binh, chuyên viên địa chất trong nước nổi lên mãnh liệt trước hiểm họa mất nước qua vấn đề Cộng sản Việt Nam cho phép Tàu cộng khai thác bô-xít ở Tây nguyên. Nói chung phê phán chống đối thì nhiều nhưng đưa ra biện pháp đối phó với chuyện bán nước của Cộng sản Việt Nam thì chưa thấy ai. Chỉ ngoại trừ Hòa thượng Quảng Ðộ đã mạnh dạn ra đưa ra kế hoạch “ biểu tình tại gia “ nhằm đối phó với nguy cơ mất nước. Cần phài triển khai thêm lời kêu gọi của hòa thượng để cho mọi người thấy rõ con đường đấu tranh phải đi trước hiểm họa mất nước đã gần kề.

Những người lên tiếng phê phán sự sai trái trong chuyện để cho Tàu cộng khai thác bô-xít ở Tây nguyên có Tiến sĩ Nguyễn thành Sơn, cựu thiếu tướng Nguyễn trọng Vĩnh, cựu Ðại tướng Võ nguyên Giáp, nhà văn cựu chiến binh Phạm đình Trọng, Tiến sĩ Lê đăng Doanh, công dân Lê phú Khải . Những người này đều lên tiếng nói rõ sự nguy hại về vấn đề đất đai, môi trường sinh thái, quân sự và ngay cả văn hóa nữa. Nhưng rồi xem ra những lời kêu gọi này cũng chỉ là một thứ “ nước đổ đầu vịt “ không có một ảnh hưởng gì đến quyết định đem Tàu cộng vào Tây nguyên khai thác bô-xít của Cộng sản Việt Nam. Một đặc điểm của chế độ cộng sản Việt nam là cái quán tính ù lì không muốn thay đổi trước những phê phán sai trái hay góp ý chân thực . Vì luôn kiêu hãnh tự cho mình là đỉnh cao trí tuệ nên Cộng sản Việt nam đã có những chính sách sai lầm, đã phạm những tội ác với đồng bào và với đất nước Việt Nam.. Chúng chỉ sửa sai khi không còn cách cứu chữa và chống chế gì nữa. Chuyện Hồ chí Minh xin lỗi nhân dân miền Bắc sau khi đã phạm nhiều tội ác trong Cải cách ruộng đất là một ví dụ cụ thể.

Tác giả Lý Nam Bình trong bài viết “ Thị trấn Bô-xít ở Lâm Ðồng “ đã viết những lời thống thiết như sau :

“ ….Rồi nay 20 năm nữa, vùng hạ lưu sông Ðồng Nai, sông Sài Gòn, và hồ Trị An sẽ nhiễm độc và các cháu bé bại liệt, què quặt, ngây ngô chắc sẽ được công kênh qua Tàu để kiện Bắc Kinh chăng? Những người đang nhẫn tâm đặt bút ký đủ loại quyết định cho Trung Quốc vào khai thác Bô-xít ở Trung Nguyên liệu lúc đó có còn sống để thấy hậu quả việc họ làm không?

Nếu bọn lãnh đạo Bắc bộ phủ mà nhìn xa thấy rộng như tác giả Lý nam Bình thì diễm phúc cho dân tộc Việt Nam biết bao nhiêu. Tiếc rằng đây là một bọn trâu bò ngựa chó, chỉ biết đặt quyền lợi của chúng lên trên quyền lợi dân tộc nên chúng bỏ ra ngoài tai mọi lời can gián và quyết tâm đi theo con đường “ phản quốc hại dân “ của chúng cho đến ngày chúng bị nhân dân đứng lên trừng trị. Khó có thể có một đường hưỡng giải pháp nào khác để giải quyết nhanh chóng và tốt đẹp vấn đề bô-xít nhức nhối hiện tại vì chính quyền Việt Cộng hiện nay đã bị Trung Cộng lèo lái và dẫn dắt. Chuyện cho xuất bản tác phẩm “ Ma chiến hữu “ mới đây trong nước ca tụng bọn lính Tàu đỏ xâm lăng biên giới Việt Nam và chuyện nghiêm cấm sinh viên, dân chúng Việt nam biểu tình chống Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa, Trường Sa đã cho thấy Trung Cộng đã nắm phần chủ động sai khiến chính quyền Cộng sản Việt Nam.

Giữa lúc vận nước đen ngòm, sinh linh nức nở thì có một vầng hào quang chói lọi xuất hiện và một tiếng sấm long trời lở đất nổ ra. Ðó là sự lên tiếng của vị sư già Quảng Ðộ. Từ Thanh Minh thiền viện ở Sài gòn , thầy đã dõng dạc đưa ra Lời Kêu Gọi một tháng biểu tình tại gia đề chống việc lấy Vàng dân tộc đổi nhôm nước ngoài. Lời kêu gọi đã có tiếng vang rất lớn trong nhân dân trong và ngoài nước. Khác với những vị thức giả chỉ biết phân tách lợi hại, chỉ rõ nguy cơ khai thác bô-xít, lời kêu gọi của Hòa thượng Quảng Ðộ đã chỉ rõ ra biện pháp để đối đầu với bọn nội xâm Cộng sản Việt Nam nhẫn tâm bán nước cho bọn ngoại xâm Trung Cộng một cách không thương tiếc. Kế hoạch đưa ra rất hợp tình hợp lý để cho bất cứ một người Việt Nam nào, dù ở trong hay ngoài nước, cũng có thể theo đó mà hành động để cứu dân cứu nước một cách cụ thể theo hoàn cảnh riêng của từng người. Ðứng giữa vòng vây quân thù Cộng sản, thầy Quảng Ðộ đã cho thấy tinh thần vô úy của con nhà Phật, không nao núng trước bất cứ thế lực yêu ma gian ác nào. Tấm gương chói lọi của thầy là tấm gương để cho nhiều thế hệ người Việt trông đó mà noi theo. Những tôn giáo khác cũng nên lên tiếng về vấn đề bô-xít và nên kêu gọi tín đồ của đạo mình hưởng úng tham gia lời kêu gọi biểu tình tại gia vào tháng 5- 2009 của Hòa thượng Quảng Ðộ. Tín đồ tôn giáo nào cũng là công dân nước Việt Nam và cũng đều có bổn phận phải đứng lên cúu nước khi tồ quốc lâm nguy hiện nay.

Lởi Kêu gọi của thầy Quảng Ðộ có những điểm chính cần nêu ra như sau :

“ Nguy cơ mất nước bắt đầu

Lần này không chỉ Bắc thuộc một nghìn năm, mà là ba nghìn năm hay lâu hơn nữa khi lãnh đạo nước nhà không là Lý thái Tổ, Trần nhân Tông, Lê thái Tổ, mà là một chính quyền ly khai dân, lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làm đảo loan xã hội và nhân văn Việt Nam

Chỉ còn lại tiếng nói của toàn dân mới có cơ cứu vãn.Trước là chận đứng việc lấy Vàng, tức dân tộc, đồi lấy Nhôm ngoại quốc. Sau là bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng

….. Sống dưới chế độ độc tài, công an trị, người dân đã mất quyền biểu tình công cộng nói lên ngưỡng vọng thiết tha suốt 54 năm tại miền Bắc và 34 năm qua tại miền Nam, thì nay hãy BIỂU TIÌH TẠI GIA như một thái độ bất tuân dân sự: Nông dân không ra đồng, Công nhân không đến xưởng, thương gia, tiểu thương không đến chợ. Sinh viên học sinh không đến trường. Chúng ta có một tháng 4 để chuẩn bị lương thực cho gia đình nhằm thực hiện tháng 5 BẤT TUÂN DÂN SỰ- BIỄU TÌNH TẠI GIA..

.. Tháng 5 BẤT TUÂN DÂN SỰ BIỂU TÌNH TẠI GIA sẽ là thái độ dũng cảm nói lên mối ưu tư bảo vệ sinh thái và vẹn toàn lanõn thổ của toàn dân trong giai đoạn cấp cứu của lịch sử. Dân chủ là tiếng nói, một tiếng nói đối thoại và tranh luận khi quê hương nguy biến để tiến tới giải pháp cứu nguy dân tộc. Nay là cơ hội và thời điềm sinh tử để tiếng nói cất lên thông qua một tháng BIỂU TÌNH TẠI GIA.

Kính xin đồng bào các giới trong nước hưởng ứng THÁNG BIỂU TÌNH TẠI GIA trong suốt tháng 5- 2009 và đồng bào các giới ở hải ngoại hưởng ứng bằng việc không về du lịch và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tháng 5- 2009, ngoại trừ những trường hợp riêng tư khẩn cấp hay bất khả.

Kính xin các cơ quan truyền thông, báo chí giúp đỡ chuyển vận Lời kêu gọi này của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đến các giới đồng bào trong và ngoài nước.

Thanh minh thiền viện, Sài gòn ngày 29 tháng 33 năm 2009

Sa môn Thích Quảng Ðộ.”


Dĩ nhiên chuyện kêu gọi đồng bào xuống đường rầm rộ để biểu tình là chuyện đấu tranh lý tưởng nhưng nên nhớ trong một chế độ cộng sản độc tài toàn trị thì chuyện đó là chuyện bất khả thi. Là một chứng nhân sống , đấu tranh, tù tội trong suốt mấy mươi năm qua ở quê nhà, Hòa thượng Quảng Ðộ đã nhìn thấy điều đó nên thay vì kêu gọi đồng bào xuống đường sẽ không thành công, thầy kêu gọi mọi người tham gia chiến dịch “ đình công bãi thị “ . Chiến dịch này trong có vẻ nhẹ nhàng nhưng sức công phá sẽ không thua gì những cuộc xuống đường rầm rộ vì nếu người dân nhân được thông tin và nhiệt tình tham gia chuyện “ đình công bãi thị “ như Hòa thượng Quảng Ðộ tha thiết kêu gọi thì sẽ đem đến sự tê liệt guồng máy vận hành xã hội và sẽ có sức ép rất lớn đến chính quyền Cộng sản. Hoặc là bọn chúng phải thay đổi đường lối đang đi về chuyện khai thác bô-xít xấu xa, hoặc là chúng sẽ bị tiếp tục hứng chịu những cuộc “ đình công bãi thị” kế tiếp sẽ có nguy cớ làm tê liệt guồng máy cai trị của chúng và chuyện này dần dần sẽ đưa đến sự sụp đổ chế độ của chúng.

Ðường lối đấu tranh đã được vạch ra rõ ràng minh bạch. Bổn phận của người dân trong và ngoài nước chỉ còn có quyết tâm thi hành thì mới mong cứu được đất nước và con người khỏi họa ngoại xâm và diệt vong. Tình thế rất bức bách và nghiêm trọng, mong sao lòng yêu nước trong mỗi người Việt Nam vẫn còn tiềm tàng và lúc này sôi sục nổi dậy để hành động nhằm cứu lấy đất nước, quê hương và con người Việt Nam.

Trong cuốn hổi ký của Giáo sư Nguyễn đăng Mạnh được lưu truyền trên Internet, trong chương viết về Nguyên Ngọc, Giáo sư Mạnh cho biết nhà văn Nguyên Ngọc ( nguyên là một đại tá Cộng sản ) đã nói với ông rằng “ Chế độ này thế nào cũng sụp đổ. Nhưng không biết nó sẽ sụp đổ theo kịch bản nào ?” Xin góp ý với nhà văn Nguyên Ngọc là nếu chiến địch “ đình công bãi thị “ do Hòa thượng Quảng Ðộ được phát động liên tục và được toàn dân hăng hái và dũng cảm tham gia thì chế độ Cộng sản Việt nam sẽ sụp đổ vì chính quyền tê liệt không còn đûủ sức và khả năng cai trị do những cuộc “ đình công bãi thị “ gây ra. Dĩ nhiên sẽ không ai nhỏ một giọt nước mắt để tiếc thương cho bọn cầm quyền bán nước hại dân là bọn Cộng sản Việt Nam.

Giờ hành động đã điểm, mọi sự chần chờ do dự bị coi là một tội ác đối với tổ quốc. Mong mọi công dân Việt đứng lên hành động vì sự chậm trễ đồng nghĩa với họa diệt vong gây ra bởi bọn ngoại xâm được bọn nội xâm bán tháo bán đổ cho chúng mảnh giang sơn gấm vóc Việt Nam một cách không thương tiếc và khốn nạn

Xin kết thúc bài viết với mấy câu thơ của Hà sĩ Phu để mọi người thấy rõ hơn bộ mặt tối bại xấu xa của bọn bán nước hiện nay ở Bắc bộ phủ

LỬA BÔ-XÍT

Giặc đã ngự trên lưng tổ quốc

Bô-xít tuôn lệ đỏ, khóc sơn hà

Hồn dân tộc Triệu Trưng về đốt lửa

Thiêu lũ hèn Chiêu Thống cháy ra ma !

Ðúng vậy ! Số phận nhục nhã khốn nạn của vua Lê chiêu Thống ngày xưa lúc cuối đời cũng sẽ là số phận của bọn cầm đầu Bắc bộ phủ hiện nay. Không có con đường nào khác dành cho bọn chúng ngoài con đường bị đào thải vào đống rác của lịch sử trước sự khinh bỉ và nguyền rủa của nhân dân Việt Nam.

Los Angeles, một đêm hoang vắng lạnh lẽo đầu tháng 4 năm 2009

TRẦN VIẾT ÐẠI HƯNG
Email : dalatogo@yahoo. com Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó

( Muốn đọc tất cả những bài viết của Trần Viết Ðại Hưng , xin vào www.nsvietnam. com rồi bam vào tên Trần viết Ðại Hưng nằm bên trái).

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Mối nhục của một quốc gia

Ngô Nhân Dụng
Một cuốn tiểu thuyết đang bán rất chạy ở Trung Quốc, đã được dịch sang tiếng Anh, kể chuyện loài sói và loài người sống chung trên cánh đồng cỏ ở Nội Mông. Cuốn Wolf Totem của Jiang Rong là một bản anh hùng ca về những cánh đồng cỏ mênh mông. Trong không gian bát ngát đó sói và người vừa đấu trí và đấu sức giành sự sống, vừa cộng tác để gìn giữ cho những thảo nguyên khỏi biến thành sa mạc, suốt mấy ngàn năm từ thời trăm ngàn năm trước cho tới bây giờ. Ðọc đến trang 319 trong bản dịch do Penguin Press xuất bản, thấy một đoạn tả cảnh một con sói xông vào đàn cừu, bắt một con ăn thịt ngay tại chỗ.

Chuyện Wolf Totem, tức Lang Tú Ðằng (Tú Ðằng đọc là Tu Ðen, phiên âm chữ Totem) là câu chuyện một sinh viên đại học Bắc Kinh bị đày lên Mông Cổ đi chăn cừu để “học tập lao động” trong thời “Cách mạng Văn hóa,” giống như cuộc đời tác giả Jiang Rong (Khương Nhung) đã trải qua. Một bữa anh sinh viên này được bạn rủ đi lên trên đồi quan sát những hang ổ chuột chũi và học kế bắt chúng, bỗng anh phải quay lại khi thấy một con sói tấn công đàn cừu.

Anh chứng kiến cảnh con chó sói cắn cổ vật ngã một con cừu, rồi nó xé da xả thịt ăn. Ðó là một con sói đói quá phải mạo hiểm một mình đi bắt cừu giữa ban ngày, thay vì chờ cả bầy tấn công ban đêm theo trận thế. Anh sinh viên vẫn cho rằng đạo quân của Thành Cát Tư Hãn đã học phép bầy binh bố trận của loài sói cho nên mới chinh phục được bao nhiêu mảnh đất từ Âu Châu sang Á Châu. Anh đứng quan sát con sói ăn mồi, theo kế của người bạn Mông Cổ kiên nhẫn chờ con sói ăn no nặng bụng rồi mới động thủ thì sẽ hạ được nó dễ dàng.

Ðàn cừu bị sói tấn công lúc đầu hoảng sợ chạy tán loạn. Nhưng khi thấy con sói bắt đầu ngồi xuống bàn tiệc ăn thịt một đồng loại rồi thì cả đàn cừu yên tâm, vì một con sói thường ăn không hết một con cừu đã no, và khi no rồi thì con sói không màng đến những món ăn trước mắt. Lũ cừu dần dần lại bình thản đứng gặm cỏ như cũ. Nhiều con cừu còn tò mò tiến đến gần ngó xem con sói nó ăn thịt “đồng bào” mình như thế nào, giống như người ta đi xem thiên hạ đánh nhau. Tác giả mô tả bộ mặt của mấy chú cừu kia có vẻ như muốn nói với con cừu đang bị ăn thịt: “May quá! Con sói nó ăn thịt mày! Thành ra nó không ăn thịt tao!” Nhiều con cừu bạo dạn tiến tới sát bên cạnh, cả đám chen chúc nhau để được nhìn rõ xem con sói đang ăn tiệc một mình như thế nào.

Nhân vật của Jiang Rong là một sinh viên ham đọc sách. Nhìn cảnh đó, anh nhớ lại một đoạn văn của Lỗ Tấn. Nhà văn tả cảnh thời trước Ðại Chiến Thứ Hai khi quân Nhật chiếm Trung Quốc, một đám đông người Trung Hoa cũng đứng quan chiêm cảnh một quân nhân Nhật Bản chuẩn bị chém đầu một người Trung Hoa. Anh sinh viên tự nhủ, “Chẳng trách được, những người du mục Mông Cổ họ coi người Hán cũng giống như đàn cừu.”

Các nước Á Ðông đã từng bị quân Nhật chiếm đóng ôm một nỗi hận rất lớn đối với đám quân đội của Thiên Hoàng. Người Việt Nam không chia sẻ cảm tưởng đó vì nước ta chỉ bị quân đội Nhật chính thức chiếm đóng trong một thời gian ngắn, từ cuộc đảo chính vào Tháng Ba tới ngày nước Nhật đầu hàng vào Tháng Tám. Ngược lại, người Việt thường có cảm tình với người Nhật, vì các nhà ái quốc trong phong trào Ðông Du đã sang Nhật tìm học; một phần khác vì quân Nhật đã lật đổ chế độ đô hộ của thực dân Pháp ở nước ta.

Các nước khác ở Á Ðông như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ðài Loan thì không may đã phải sống dưới ách cai trị rất tàn bạo của đoàn quân Nhật Bản, cho nên trong ký ức của họ còn chứa nhiều niềm phẫn uất. Lỗ Tấn từng đánh thức đồng bào của ông bằng cách nhắc nhở đến những mối nhục của người Trung Hoa trong thời đại ông sống. Ông bắt đầu bằng việc mô tả những hình ảnh lạc hậu, chậm tiến, những hủ tục trong xã hội Trung Hoa; với những cảnh người mạnh ức hiếp người yếu, người giàu sống phè phỡn bên cạnh người nghèo đang đói lả chờ chết. Ðồng bào ông sống trong cảnh đó nhưng nhiều người không hề ý thức được rằng sống như vậy đã là một nỗi nhục.

Tuy nhiên chàng sinh viên trong truyện Wolf Totem, và tác giả Khương Nhung, có dịp nhớ lại Lỗ Tấn thì chỉ nhớ tới cảnh nhục nhã khi những người Trung Hoa dửng dưng đứng coi một người Nhật chém cổ đồng bào của họ mà không làm gì để phản kháng. Chắc hình ảnh đó đã làm cho các nhà văn, từ Lỗ Tấn đến Khương Nhung, ghi khắc một nỗi xấu hổ rất lớn trong lòng, có dịp thì phải nhớ lại. Có lẽ loài người không chú ý đến những nỗi nhục nhã chính mình gây cho mình. Trái lại, ai cũng dễ ghi nhớ nỗi nhục khi phải so sánh mình với người khác; so sánh gia đình mình với gia đình khác, dân tộc mình với dân tộc khác. Một người đàn ông đối xử tàn tệ với vợ con mình thường không cảm thấy nhục khi người khác chứng kiến. Nhưng thấy con mình bị người hàng xóm mắng một câu thì, không biết phải trái ra sao, đã rất dễ nổi lòng căm phẫn!

Ngày xưa Phan Bội Châu sang đến Nhật Bản, ngay trong những ngày đầu, đã ba lần cụ cảm thấy xấu hổ khi thấy lối sống của những người dân bình thường ở Nhật Bản và chợt nhớ đến đồng bào mình ở nước “An Nam” và cảm thấy nhục nhã. Ðó là những cảnh mấy người cảnh sát Nhật ở nhà ga xe lửa tận tâm đi tìm hành lý của cụ bị thất lạc, rồi đem tới tận nơi, cúi đầu và nghiêng mình xin lỗi xin trả lại cụ. Ở nước Nam ta, cụ không thấy người Việt ăn ở với nhau như vậy. Một cảnh khác là cụ Phan và cụ Tăng Bạt Hổ kêu một anh kéo xe chở mình đi tìm một người du học sinh Trung Hoa được các nhà cách mạng Trung Hoa khác giới thiệu. Anh phu xe đưa hai cụ đến địa chỉ không tìm thấy, anh hỏi thăm rồi lại đưa đi nữa, quanh quẩn suốt cả buổi mới tìm ra. Nhưng anh chỉ lấy đúng số tiền của chuyến xe đi từ nhà ga tới địa chỉ đó, cụ Phan muốn trả thêm tiền công đi tìm nhưng anh nhất định không nhận. Lại một lần nữa, cụ Phan nhớ tới đồng bào mình và cảm thấy hổ thẹn.

Nỗi hổ thẹn của Phan Bội Châu xuất phát từ nền giáo dục Nho Giáo. Khi cụ trông thấy những người Nhật Bản có nghĩa khí, sống trung trực, giữ danh dự, đúng như hình ảnh mẫu người “quân tử” mà chính cụ đã học từ cha mẹ, thầy giáo của mình; cụ cảm thấy hổ thẹn vì Việt Nam và Nhật Bản cùng chịu ảnh hưởng của Khổng Giáo mà sao nước người ta có những người bình dân ăn ở quân tử như vậy, còn nước mình thì rất ít? Mạnh Tử nói biết hổ thẹn là mầm mống của đức Dũng, Phan Bội Châu chứng tỏ điều đó.

Ông Nông Ðức Mạnh mới qua thăm Nhật Bản, nhưng chắc ông không được trải qua những kinh nghiệm như Phan Bội Châu. Tuy nhiên, thế nào cũng có lúc ông phải cảm thấy đỏ mặt, nếu như làn da mặt của ông cũng bén nhạy như phần lớn loài người. Ðó là khi các quan chức Nhật Bản nhắc nhở các quan chức Việt Nam nên tích cực hơn trong việc chống tham nhũng. Trong việc bang giao, người ta không thể nói rõ hơn.

Tại sao chính phủ Nhật Bản phải lên tiếng nhắc nhở như vậy? Không phải vì người ta cố ý nhắc nhở tới vụ các cán bộ cao cấp của đảng cộng sản đã bắt các nhà thầu Nhật phải hối lộ hàng triệu Mỹ kim, hay những cán bộ ăn cắp tiền Nhật viện trợ làm cầu làm đường để đi đánh cá bóng đá, để làm nhục các vị khách người Việt đang sang thăm nước Nhật. Nhưng chính phủ Nhật Bản phải cảm thấy họ có bổn phận nêu lên vấn đề đó chỉ vì họ chịu áp lực của dư luận dân chúng. Cả nước Nhật biết tiền đóng thuế của họ đem cho Việt Nam đã bị các cán bộ cộng sản ăn cắp như thế nào. Nếu chính phủ Nhật không nói gì đến, thế nào họ cũng bị báo chí và phe đối lập chỉ trích.

Nhưng nếu làn da mặt của ông Nông Ðức Mạnh cũng bén nhạy như những người Việt Nam khác, chắc hẳn không cần chờ đến lúc được nhắc nhở về việc bài trừ tham nhũng thì mới thấy chút hổ thẹn trong lòng. Chỉ cần khi được đưa đi du ngoạn qua những vườn hoa anh đào ở Tokyo thì một người Việt Nam bình thường, tự đáy lòng cũng phải cảm thấy hổ thẹn rồi. Vì ai cũng nhớ lại cảnh hoa anh đào Nhật Bản đem sang Hà Nội đã bị người ta tranh nhau bẻ, hái công khai như thế nào trong ngày Hội Anh Ðào năm ngoái. Chính phủ Hà Nội có thể cảm thấy hãnh diện vì đã giữ được trật tự trong lễ hội năm nay. Nhưng ở một nước mà phải huy động được tới 500 cảnh sát công an tới bảo vệ 6 cây hoa anh đào, thì người dân nghe tới cũng phải cảm thấy không đáng hãnh diện chút nào cả.

Nếu như Phan Bội Châu sống vào thời nay thì chỉ cần nhìn thấy dân Nhật Bản đi coi hoa anh đào mà không có một viên cảnh sát nào phải đứng canh gác hoa, cụ Phan cũng phải thấy xấu hổ rồi. Như rất nhiều người Việt Nam đang sống ở Nhật Bản đang chia sẻ nỗi hổ thẹn đó.

Một nỗi nhục do hành động của một cá nhân gây ra thì chỉ một cá nhân đó ăn năn và xấu hổ. Nhưng khi những đồng bào vô danh của mình tham dự vào những hành động nhục nhã, thì cả dân tộc cũng chia sẻ nỗi nhục đó. Cái nhục càng được chia cho nhiều người thì lại càng lớn hơn.

Tại sao dân tộc Việt Nam mình lại lâm vào cảnh nhục nhã như vậy? Chắc hẳn đồng bào ta cũng biết lý do vì đâu rồi.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Ðảng Bô Xít Việt Nam

Ngô Nhân Dụng
Hàng ngàn người Việt Nam, ở trong nước và bên ngoài, đã ký tên vào bản kiến nghị yêu cầu đảng Cộng Sản Việt Nam ngưng vụ khai thác các mỏ bô xít (bauxite) ở cao nguyên Trung phần. Việc khai mỏ này đe dọa môi trường sống và tài nguyên kinh tế ở các vùng từ Tây nguyên xuống bờ biển miền Trung nước ta. Mỗi ngày càng nhiều người hưởng ứng cuộc tranh đấu của những nhà trí thức đại diện cho lương tâm dân tộc Việt. Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản vẫn cương quyết khai thác bô xít và chưa chịu lùi bước. Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng đều tuyên bố đó là một “đường lối lớn” của đảng, cho nên từ bây giờ có thể gọi tên nhóm người này là đảng Bô Xít.

Trước phong trào phản đối ngày càng lan rộng, ông Thủ Tướng Bô xít Nguyễn Tấn Dũng đã bay qua đảo Hải Nam để xin ý kiến của các đồng chí từ Bắc Kinh bay xuống. Nếu người Việt Nam ở Úc Ðại Lợi (Australia) có thể mô phỏng dư luận nước này mà phong cho ông Nguyễn Tấn Dũng làm phó đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội. Giống như ông Thủ Tướng Úc Kevin Rudd đang được các đại biểu đối lập trong Quốc Hội phong cho tước hiệu Ðại sứ Lưu động của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Thủ Tướng Rudd đang tính chấp thuận cho công ty Nhôm Trung Quốc (China Aluminium Corporation, viết tắt là Chinalco) mua và khai thác các quặng mỏ ở Úc, trong đó cũng có cả quặng bô xít. Tháng Sáu này hội đồng chính phủ phụ trách việc cho phép các công ty ngoại quốc đầu tư vào Úc mới quyết định về việc cho phép Chinalco mua 18% cổ phần của công ty Rio Tinto, để trở thành cổ đông với phần hùn lớn nhất hay không. Nhưng hiện nay phong trào phản đối trong dân chúng Úc đang lên cao, chắc chắn là gây ồn ào náo nhiệt hơn ở Việt Nam vì dân Úc được tự do viết báo, lên đài bầy tỏ ý kiến.

Trung Quốc có chiến lược tìm tài nguyên khắp thế giới. Từ hàng chục năm qua, Bắc Kinh cho người đi mua quyền khai thác quặng mỏ kim loại và dầu lửa ở Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ. Tuần báo Economist đã viết một bài nhan đề “Thực Dân Mới” với hình bìa là một đoàn người Trung Quốc cưỡi ngựa và lạc đã đi trên sa mạc ở Phi Châu, người dẫn đầu trương cao ngọn cờ ngũ tinh mầu đỏ của Trung Quốc. Trong thời đại kinh tế toàn cầu hóa này các nhà thực dân mới không cần dùng súng đạn đi xâm chiếm đất nước khác như đám thực dân vào thế kỷ 18, 19 - trừ khi họ đã dùng súng chiếm từ trước, như Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974, và chiếm thêm Trường Sa năm 1988. Nhưng họ không thể sử dụng đường lối đó với các quốc gia độc lập khác. Bây giờ họ phải dùng thị trường thay cho bãi chiến trường, lấy tiền bạc (tốt nhất là dùng đô la Mỹ) làm khí giới, qua các thị trường chứng khoán họ mua cổ phần của các công ty về quặng mỏ và dầu lửa. Hoặc điều đình trực tiếp mua luôn quyền làm chủ tất cả một công ty, để được hưởng những tài nguyên mà công ty đó được quyền khai thác. Giống như năm 2005 công ty CNOOC của Trung Quốc đã toan mua Unocal của Mỹ để mua lấy quyền khai thác dầu khí của Unocal ở Trung Á, Miến Ðiện và Úc. Hồi đó các đại biểu Quốc Hội đã buộc chính phủ Mỹ phải tìm cách ngăn cản, cho nên Cnooc đành bỏ cuộc khi thấy gặp khó khăn.

Năm ngoái, tổng số tiền mà Trung Quốc đã chi vào việc đầu tư ở nước ngoài là 52 tỷ Mỹ kim, bằng hai phần ba tổng sản lượng nội địa của Việt Nam; trong đó hai phần ba là để nắm quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên. Trong ba tháng đầu năm 2009 họ đã bỏ ra 23 tỷ Mỹ kim trong 65 vụ thương thuyết đầu tư kiểu này. Dùng cơ cấu thị trường đi mua tài nguyên nước khác là phương pháp làm ăn lương thiện, tôn trọng luật chơi kinh tế. Nhưng chính phủ một nước mạnh như Trung Quốc vẫn có thể dùng biện pháp khác, gây ảnh hưởng trực tiếp trên chính quyền các nước khác để được ưu đãi trực tiếp khai thác lâm sản, đá quý (Miến Ðiện và Lào) hoặc quặng mỏ (như ở Việt Nam, Congo). Trong trường hợp đó họ chỉ dùng “diễn biến hòa bình” chứ không dùng vũ lực, mà lại không tốn tiền như khi phải mua cổ phần trên các thị trường.

Vụ Chinalco mua Rio Tinto trở thành một đề tài chính trị ở Úc vì báo chí và các đại biểu Quốc Hội Úc tìm ra rằng chưa đầy một tuần sau khi ông chủ tịch Chinalco ký giấy thuận trả gần 20 tỷ Mỹ kim để mua 18% cổ phần của Rio Tinto, thì ông ta được thăng lên cấp phụ tá bộ trưởng trong chính phủ Bắc Kinh, với trách nhiệm đi mua thêm tài nguyên các nước khác. Một điều ai cũng biết nhưng ở Úc từ trước không ai nêu ra, là Chinalco không phải là một công ty kinh doanh thuần túy. Như tất cả các xí nghiệp lớn ở Trung Quốc, họ là những cánh tay nối dài của đảng Cộng Sản và nhà nước có nhiệm vụ thực hiện các mục tiêu chính trị. Cộng Sản Trung Quốc dùng các xí nghiệp quốc doanh như những đạo quân đi chiếm tài nguyên của thế giới qua thị trường kinh tế tư bản. Ông chủ tịch công ty Chinalco đóng vai trò một nhà kinh doanh khi ra nước ngoài mua bán, nhưng trong đảng Cộng Sản thì ông là một cán bộ do Bộ Chính Trị điều động.

Ông Tiêu Á Khánh (Xiao Yaqing) 49 tuổi tốt nghiệp kỹ sư vào lúc Ðặng Tiểu Bình bắt đầu tư bản hóa kinh tế nước Trung Hoa. Ông leo lên dần dần trong guồng máy, được Giang Trạch Dân và Chu Dong Cơ chiếu cố cất nhắc, năm 2004 được lên làm bí thư đảng ủy công ty Chinalco. Năm đó ông đã tranh mua với 10 công ty quốc tế khác, thắng cuộc đấu thầu mua một quặng mỏ bô xít ở Úc với giá 3 tỷ đô la Mỹ. Ðó cũng là thời gian Trung Quốc bắt đầu chú ý tới mỏ bô xít ở Việt Nam. Mỏ bô xít này nằm bên vùng khai thác mỏ của Rio Tinto, công ty khai thác khoáng sản lớn thứ ba trên thế giới. Năm 2007, Chinalco cộng tác với một công ty Á Rập Sau đi mua mỏ đồng ở Peru từ một công ty Canada. Họ tranh thắng dễ dàng vì họ không quản ngại trả giá cao để đạt mục đích chính trị.

Cuối năm 2007, công ty khai thác mỏ lớn nhất thế giới BHP Billiton của Anh đề nghị mua các cổ phần để chiếm đa số kiểm soát công ty Rio Tinto. Lúc đó ai cũng biết Rio Tinto đang mang những món nợ lớn tới 38 tỷ đô la Mỹ, sau khi vay để mua công ty nhôm Alcan của Canada, món nợ này khiến nhiều cổ đông lo sợ muốn bán cổ phần của họ. Nếu thành công, BHP sẽ làm chủ những mỏ sắt lớn nhất thế giới. Rio Tinto không muốn bị BHP “nuốt” cho nên đi tìm các công ty khai mỏ khác điều đình bán cổ phần cho họ, hy vọng rằng làm như vậy BHP sẽ không thể chiếm được đa số cổ phần với khả năng áp đảo. Nghe tin đó, Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc đã họp khẩn cấp các công ty khai mỏ, nằm trong guồng máy dưới sự điều hợp của Cơ Quan Phát Triển và Ðổi Mới (NDRC) của Bắc Kinh. Chinalco được trao nhiệm vụ đóng vai “phò cứu” cho Rio Tinto bằng cách mua cổ phần của hãng này.

Ðể thực hiện “diễn biến hòa bình” trên, Chinalco được hai ngân hàng nhà nước Trung Quốc tài trợ, một ngân hàng do con ông Chu Dong Cơ đứng đầu, ngân hàng kia có con một người phụ tá của ông Ðặng Tiểu Bình điều khiển. Tiếu Á Khánh đã mời công ty nhôm Alcoa của Mỹ hợp tác, góp một phần nhỏ trong cuộc đầu tư này để khỏi lộ liễu.

Ðêm 31 Tháng Giêng năm 2008, sau khi thị trường New York và London đều đóng cửa, đích thân ông Tiếu Á Khánh cùng với các chuyên viên thị trường của công ty cố vấn đầu tư Mỹ Lehman Brothers thức suốt đêm đặt mua các cổ phần của Rio Tinto trên các thị trường quốc tế. Cứ như vậy, họ thu mua được 9% số cổ phần của Rio Tinto với số tiền 14 tỷ Mỹ kim, ngày hôm sau Chinalco trở thành cổ đông có số cổ phần lớn nhất của công ty khai mỏ Anh-Úc này. Sau đó, BHP bỏ ý định mua Rio Tinto. Nhưng cũng từ đó giá cổ phần các công ty mỏ và kim loại tụt xuống vì kinh tế thoái trào khắp nơi khiến nhu cầu kim loại đột ngột giảm bớt. Có lúc giá cổ phần xuống thấp đến mức số tiền đầu tư của Chinalco đã mua cổ phần Rio Tinto chỉ còn trị giá 4 tỷ Mỹ kim, lỗ khoảng 10 tỷ.

Nhưng địa vị của ông Tiếu Á Khánh không bị lung lay. Trái lại, ông còn nghe lời khuyên của công ty cố vấn Mỹ J.P. Morgan đề nghị tăng gấp đôi số cổ phần Chinalco làm chủ. Dịp may vừa tới, công ty Rio Tinto đang mang những món nợ lớn và tới Tháng Mười năm 2009 sẽ phải trả gần 9 tỷ đô la tiền nợ. Tháng Mười Hai năm 2008, ông Douglas Rithcie, giám đốc chiến lược của Rio Tinto đã nói chuyện với đại diện của Chianlco ở Úc, để nhờ giới thiệu với các ngân hàng Trung Quốc ngõ hầu có thể vay nợ mới trả nợ cũ.

Chinalco lúc nào cũng sẵn tiền, đã đề nghị cho Rio Tinto vay hơn 7 tỷ Mỹ kim dưới hình thức trái khoán “khả hoán” (convertible bonds), mà các trái khoán nay có thể đổi thành cổ phần của công ty Úc. Ngoài ra, Chinalco sẽ bỏ ra thêm hơn 12 tỷ đô la mua một số mỏ quặng của Rio Tinto. Ban giám đốc của công ty Úc đã chấp thuận đề nghị này, thay vì bán thêm cổ phiếu trên thị trường để gây vốn lấy tiền trả món nợ đáo hạn Tháng Mười năm nay.

Nhưng khi báo chí loan tin Chinalco sắp bỏ thêm 19.5 tỷ đô la để làm chủ 18% số cổ phần của Rio Tinto, dư luận Úc và cả thế giới phải chú ý. Người ta thấy đây không phải là một cuộc mua bán hoàn toàn vì lý do kinh tế mà đằng sau còn những ẩn ý chính trị. Nhất là khi nghe tin ông Tiếu Á Khánh được thăng quan tiến chức, thì mối nghi ngờ trên càng lớn, khiến các đại biểu Quốc Hội Úc phải chất vấn ông thủ tướng, một người nói thông thạo tiếng phổ thông Trung Quốc và đã từng làm nhà ngoại giao của Úc ở Trung Quốc trước đây. Vì vậy ông Kevin Rudd được dân Úc phong làm Ðại sứ Lưu động của chính phủ Trung Quốc!

Tại Úc Nghị Sĩ Barnaby Joyce lên ti vi đặt câu hỏi: “Chính phủ Trung Quốc không bao giờ cho phép chính phủ Úc mua một mỏ kim loại ở Trung Quốc! Tại sao chúng ta lại để cho người Trung Quốc mua và kiểm soát một tài sản chiến lược của nước ta?” Ở Việt Nam nhiều người cũng muốn đặt câu hỏi giống như vậy, nhưng họ không bao giờ được nói công khai trên báo, trên đài. Vì đảng Bô Xít Việt Nam kiểm soát tất cả các phương tiện truyền thông, bịt miệng tất cả những ý kiến chống Bô xít.

Ðến Tháng Sáu này chúng ta mới biết sau cùng tham vọng làm chủ một phần năm tài sản Rio Tinto của đảng Cộng Sản Trung Quốc có thành công hay không. Trong kinh tế thị trường theo lối tư bản, hiện tượng một công ty nước này làm sở hữu chủ các xí nghiệp của nước khác không làm ai ngạc nhiên. Vì đồng tiền có được tự do tìm chỗ đầu tư sinh lời cao nhất thì kinh tế thế giới mới phát triển mạnh. Nhưng trong trường hợp các công ty Trung Quốc đầu tư thì khác. Vì ai cũng biết các công ty này chỉ là dụng cụ của chính phủ Bắc Kinh để thực hiện tham vọng gây ảnh hưởng chính trị của họ.

Trong vụ khai thác Bô xít ở Việt Nam, họ có tham vọng gì, chắc chỉ có Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc ở Bắc Kinh biết với nhau thôi, mà Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam ở Hà Nội chưa chắc đã biết. Nhưng khi hàng ngàn nhà trí thức ở trong nước và hải ngoại đã lên tiếng yêu cầu ngưng ngay việc này, nếu đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn nhất định bịt tai không nghe thì phải đổi tên họ thành đảng Bô xít thật.

Giáo Sư Tôn Thất Thiện đang cư ngụ ở Canada đã đề nghị người Việt hải ngoại nêu vấn đề môi trường sống ở Tây nguyên bị tàn phá nếu khai thác bô xít để yêu cầu các tổ chức bảo vệ môi trường quốc tế điều tra, can thiệp và can ngăn các lãnh tụ đảng Bô xít Việt Nam. Ðó là một phương pháp đấu tranh mới mà chúng ta cần vận dụng.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ
tổ chức tưởng niệm Tháng Tư Đen


Image
Quang cảnh lễ tưởng niệm Tháng Tư Ðen tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Westminster, hôm Chủ Nhật vừa qua.

Image
Cựu trung úy Phạm Văn Long, hội trưởng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt,
thượng cờ trong lúc chào cờ VNCH tại lễ tưởng niệm Tháng Tư Ðen.
Bài và hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV)- Mặc dù trời nắng gắt, gió lạnh, hơn 500 đồng hương và hàng chục vị dân cử đã có mặt tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ để dự lễ tưởng niệm Tháng Tư Ðen.

Nhân dịp này, Ủy Ban Xây Dựng Tượng Ðài Việt Mỹ cũng kỷ niệm sáu năm ngày dựng tượng đài này.

Trước giờ cử hành lễ, hàng trăm đồng hương đã ngồi kín ba cái lều lớn. Xung quanh khuôn viên tượng đài là hàng chục lá cờ Việt-Mỹ được đặt xen kẽ nhau bay phất phơ trong gió trông thật đẹp và lộng lẫy.

Trong khi đó, hàng chục cựu quân nhân thuộc các binh chủng QLVNCH trong sắc phục binh chủng của mình chuẩn bị cho những thao tác cử hành lễ.

Trước lư hương lớn của tượng đài là một bàn thờ có trái cây, hoa và hương khói nghi ngút, đặt trước di ảnh của năm vị tướng Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú và Lê Nguyên Vỹ, những người đã anh dũng hy sinh trong những ngày cuối của cuộc chiến Việt Nam.

Ở một góc xa, nhóm Tù Ca Xuân Ðiềm và nhóm Thiên Ân, hậu duệ của Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt, tập dợt những tiết mục văn nghệ cho buổi lễ.

Tại một góc khác là những vòng hoa tươi của các hội đoàn và các vị dân cử được sắp xếp cẩn thận chờ giờ khai mạc.

Bắt đầu chương trình là phần chào cờ Việt-Mỹ và phút mặc niệm. Sau đó là phần rước quốc quân kỳ và cầu nguyện.

Kế đến, là 14 vòng hoa của những hội đoàn và dân cử được các đại diện trang nghiêm mang lên lễ đài và sắp hai bên bàn thờ.

Trong phần phát biểu khai mạc, ông Hồ Ngọc Minh Ðức, thành viên Ủy Ban Xây Dựng Tượng Ðài Việt Mỹ và là trưởng ban tổ chức lễ tưởng niệm năm nay, nói: “Không ai trong cộng đồng tị nạn quên ngày miền Nam Việt Nam bị Cộng Sản cưỡng chiếm. Trong ngày này, hàng ngàn người đã tuẫn tiết, thà chết còn hơn sống dưới ách hung tàn. Nhiều người phải ra đi, bỏ lại quê hương. Xin cảm ơn Thượng Ðế ban phước cho chúng ta và cảm ơn Hoa Kỳ mở rộng vòng tay nên nhiều người đã an cư.”

“Hôm nay, tại đây, chúng ta tưởng niệm hàng ngàn anh linh đã hy sinh để bảo vệ tự do dân chủ cho miền Nam Việt Nam. Ngày nay, sau 34 năm, người Việt trong nước vẫn chưa có quyền làm người. Chúng ta phải thay họ để gào lên và đấu tranh không ngừng để Việt Nam có tự do, nhân quyền. Cầu mong Thượng Ðế ban ơn cho chúng ta sớm đạt chiến thắng sau cùng,” ông Ðức nói tiếp trong tiếng vỗ tay của cử tọa.

Nhân dịp này, bốn thành viên trong Hội Ðồng Thành Phố Westminster như Thị Trưởng Margie Rice, Phó Thị Trưởng Tạ Ðức Trí và hai nghị viên Frank Fry và Andy Quách cũng có mặt.

Bà Margie Rice thay mặt mọi người cảm ơn mọi người đến tham dự và nhắc lại công việc xây dựng tượng đài.

Bà nói: “Tôi rất vinh dự có mặt hôm nay và nhớ lại chính Nghị Viên Frank Fry, hiện là chủ tịch Ủy Ban Xây Dựng Tượng Ðài Việt Mỹ, là người có công đưa ra nghị quyết xây dựng tượng đài này sau khi bị thất bại lần đầu. Tôi còn nhớ, lúc đó cuộc bỏ phiếu là 3-2, trong đó tôi có dịp cùng bỏ phiếu với ông Fry và cố nghị viên Russell Paris. Thật là tuyệt vời có tượng đài này tại Westminster.”

“Hôm nay chúng ta phải nhớ rằng có nhiều người đã chết trong cuộc chiến Việt Nam. Họ thuộc đảng phái nào tôi không cần biết. Tôi chỉ biết là họ chết cho tự do, cho chúng ta,” Nghị Viên Frank Fry chia sẻ.

Ban tổ chức sau đó mời bình luận gia Lý Ðại Nguyên lên phát biểu về sự phát triển và thành công của cộng đồng Việt Nam sau 34 năm tị nạn và ý nghĩa lá cờ vàng VNCH.

Nghị Sĩ Lou Correa cũng có mặt và cùng với Dân Biểu Trần Thái Văn trao cho Ủy Ban Xây Dựng Tượng Ðài Việt Mỹ một bản sao của Nghị Quyết SCR 29 mà hai ông là đồng tác giả và vừa được Thượng Viện California thông qua hôm 20 Tháng Tư vừa qua, quy định Tuần Tưởng Niệm Tháng Tư Ðen năm nay kéo dài từ 23 đến 30 Tháng Tư.

Phó Chủ Tịch Hội Ðồng Giám Sát Orange County Janet Nguyễn, Nghị Viên Garden Grove Andrew Ðỗ và Nghị Viên Fountain Valley Steve Nagel cũng có mặt và phát biểu tại buổi lễ tưởng niệm.

Giám Sát Viên Janet Nguyễn nói: “Tôi xin đại diện cho Hội Ðồng Giám Sát Orange County cảm ơn đồng hương đã cho thế hệ trẻ chúng tôi biết lịch sử của cộng đồng tị nạn Việt Nam nhân dịp lễ tưởng niệm này.”

Nghị Viên Andrew Ðỗ phát biểu: “Tôi xin thay mặt Thị Trưởng Bill Dalton và Hội Ðồng Thành Phố Garden Grove đến đây hôm nay để cùng đồng hương tưởng niệm những người đã hy sinh cho tự do và dân chủ.”

“Thay mặt Hội Ðồng Thành Phố Fountain Valley, tôi cảm thấy rất vinh dự có mặt hôm nay để tưởng niệm những người đã ngã xuống vì lý tưởng tự do,” Nghị Viên Steve Nagel phát biểu.

Sau đó là phần phát biểu của cựu đại tá Lê Khắc Lý, cựu tham mưu trưởng Quân Ðoàn II, QLVNCH. Ông đã cảm ơn Hội Ðồng Thành Phố Westminster giúp xây dựng tượng đài. Ông cũng nói về ý nghĩa của tưởng niệm Tháng Tư Ðen...

Kết thúc buổi lễ là chương trình văn nghệ do nhóm Tù Ca Xuân Ðiềm và nhóm Thiên Ân phụ trách qua phần điều khiển của MC Ðỗ Tân Khoa và nhà thơ Nhất Phương.

Cũng nhân dịp này, Ủy Ban Xây Dựng Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ và một số thành viên ban tổ chức lễ tưởng niệm Tháng Tư Ðen đã được các vị dân cử trao nhiều bằng tưởng lệ tại chỗ. (Ð.D.)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Thời Sự Kinh Tế: Tin vui giữa mùa Cúm Lợn
Thursday, April 30, 2009

Ngô Nhân Dụng
Xin tạm dùng tên bệnh Cúm Lợn, theo lối gọi của Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO, trong khi chờ tên gọi mới chính xác hơn. Ở nước Mỹ, hiệp hội các nhà nuôi lợn, các công ty bán thịt lợn đang phản đối việc dùng danh xưng này, gây thiệt hại cho công việc kinh doanh của họ. Chính phủ Israel cũng không bằng lòng; họ nói đối với người theo Do Thái Giáo và cả người Hồi Giáo, nhắc đến tên con vật đó là một sự xúc phạm nặng nề. Có thể ông Ðỗ Mười, cựu tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam cũng đồng ý với chính phủ Israel và các nước Hồi giáo. Tuy nhiên, cứ xin tạm dùng cái tên mà WHO đang sử dụng, gọi là Cúm Heo hay Cúm Lợn, cho nó “chính danh.”

Dịch Cúm Heo đến đúng lúc Tổng Thống Barack Obama đánh dấu 100 ngày cầm quyền của ông. Nhưng có lẽ cái số hên của ông tổng thống vẫn còn. Ðúng vào dịp này, có nhiều tin vui đến cho Tòa Bạch Ốc. Quốc Hội Mỹ đã thông qua bản nghị quyết chấp nhận phần lớn các nguyên tắc trong bản ngân sách gần 3,500 tỷ đô la của ông tổng thống. Trước đó, một nghị sĩ đảng Cộng Hòa đã tuyên bố bước sang đảng Dân Chủ, tăng số người cùng đảng với ông trong Thượng Viện. Ðồng thời, tin tức kinh tế cho thấy mặc dù trong ba tháng đầu tiên năm 2009 kinh tế Mỹ tụt giảm nặng, có nhiều dấu hiệu cho phép mọi người hy vọng phục hồi sớm hơn. Tuy tổng sản lượng nội địa chưa thể nào tăng được nhưng tốc độ sụt giảm đang được hãm bớt lại!

Có thể nói chuyện chính trị trước, vì nó không quan trọng lắm. Nghị Sĩ Arlen Specter, sau 28 năm làm đại biểu Cộng Hòa từ tiểu bang Pennsylvania, đã trở thành một đảng viên Dân Chủ, vì muốn tiếp tục làm nghị sĩ thêm một nhiệm kỳ 6 năm nữa nữa. Ông Specter đã thấy rằng nếu còn ở trong đảng Cộng Hòa thì sẽ mất cái ghế nghị sĩ. Vì sang năm trong mùa bỏ phiếu sơ bộ ở tiểu bang ông sẽ không thể đánh bại được Pat Toomey, một đối thủ lợi hại cùng đảng. Ðang bị Toomey dẫn trước 21% trong dư luận đảng viên Cộng Hòa, ông Specter thấy hết hy vọng sẽ được đảng đưa ra ứng cử vào năm tới. Năm 2004 ông Specter được cựu Tổng Thống Bush đến tận nơi ủng hộ, nếu không đã bị đảng của ông loại rồi. Vì các đảng viên Cộng Hòa ở tiểu bang đó càng ngày càng bảo thủ hơn, trong khi ông Specter thì rất ôn hòa và độc lập. Ông là một trong ba nghị sĩ Cộng Hòa đã bỏ phiếu thuận ngân sách kích thích kinh tế 787 tỷ của Tổng Thống Obama trong lúc cả đảng chống.

Ông Specter đem một tin vui cho ông Obama, vì đảng Dân Chủ sẽ có 59 ghế trong Thượng Viện, kể cả hai nghị sĩ độc lập vẫn đi với họ. Nếu Tối Cao Pháp Viện không xóa kết quả cuộc bỏ phiếu năm ngoái ở tiểu bang Minnesota thì đảng Dân Chủ sẽ có 60 ghế, có khả năng thông qua bất cứ dự luật nào mà không sợ phe đối lập ngăn cản bằng thủ tục filibuster nữa - với điều kiện các nghị sĩ Dân Chủ bỏ phiếu như nhau.

Nhưng điều kiện đó không gì chắc chắn sẽ đạt được. Có 4 nghị sĩ Dân Chủ đã bỏ phiếu chống dự án ngân sách 3.5 ngàn tỷ của Tòa Bạch Ốc, trong đó có ông Specter. Vì những nghị sĩ này vẫn lo ngân sách đó chi nhiều quá, chính phủ liên bang sẽ khiếm hụt nặng nề quá sức! Theo ước tính của phe Dân Chủ thì số khiếm hụt ngân sách 1200 tỷ đô la vào sang năm sẽ giảm xuống chỉ còn một nửa trong 5 năm. Phía Cộng Hòa cho đó là một giấc mơ không tưởng, mà hậu quả là trong tương lai dân Mỹ sẽ phải è cổ ra đóng thuế để giảm bớt khiếm hụt. Nhưng ý kiến của các đại biểu Cộng Hòa không đủ trọng lượng vì trong 8 năm thời Tổng Thống Bush chính họ đã chi tiêu “vô tư,” tăng số khiếm hụt ngân sách quá xá rồi, bây giờ họ muốn đóng vai tiết kiệm cũng khó thuyết phục được dân.

Ðiều an ủi cho ông tổng thống là bản nghị quyết ngân sách 3400 tỷ đô la của quốc hội đã chấp thuận những mục tiêu lớn mà Tòa Bạch Ốc coi là ưu tiên. Những ưu tiên đó không những sẽ thay đổi các món chi tiên của nhà nước Mỹ mà còn định hướng lại các mục tiêu quốc gia nữa. Ngân sách này sẽ lập quỹ đặc biệt chi dùng trong ba phạm vi: Cải tổ y tế, gia tăng số năng lượng mới để nước Mỹ bớt bị lệ thuộc vào dầu lửa nhập cảng, và tăng cường giáo dục.

Nhưng trong tin vui vẫn có tin buồn: Các đại biểu Dân Chủ đã gạt bỏ một số điều quan trọng mà ông Obama đưa vào bản dự thảo ngân sách. Họ không giữ khoản bớt thuế cho giới trung lưu và đánh thuế các người lợi tức trên 250,000 đô la một năm nặng hơn, để có tiền chi cho kế hoạch y tế. Họ bỏ qua không thèm bàn tới món thuế đánh trên khí thải làm ô nhiễm môi trường, một nhượng bộ cho phong trào bảo vệ sinh thái, và cũng để chi cho việc cải tổ y tế. Tòa Bạch Ốc có vẻ nhẫn nhục chấp nhận vụ bác bỏ này. Nhưng bản dự thảo mà quốc hội Mỹ mới thông qua chỉ có tính cách một quyết nghị, chưa phải là bản ngân sách với các con số rõ ràng, tức là đủ để cho ông Obama tuyên bố hài lòng vì đã thắng một trận, nhưng sẽ còn phải tranh đấu cam go với quốc hội trong năm nay. Có 17 dân biểu và 4 nghị sĩ đảng Dân Chủ bỏ phiếu chống cùng với các đồng viện Cộng Hòa của họ. Ðiều này cho thấy ông tổng thống Dân Chủ không thể kiểm soát được quốc hội dù đảng ông chiếm đa số mạnh.

Bây giờ đến bản tin quan trọng nhất: kinh tế nước Mỹ. Mới nhìn thì thấy đây là một tin buồn: Trong ba tháng đầu năm 2009 (ông Obama nhậm chức ngày 20 Tháng Giêng), sản lượng quốc gia đã giảm bớt với tốc độ 6.1% một năm. Con số đó cao hơn các ước tính, nhưng lại thấp hơn tỷ lệ giảm 6.3% trong ba tháng cuối năm 2008. Ðây là lần đầu tiên kể từ cơn suy thoái năm 1975 mà kinh tế Mỹ đi xuống trong ba quý liên tiếp; và chắc sẽ còn đi xuống nữa. Cho tới giờ ông Obama vẫn có thể cơn suy thoái kinh tế là một “di sản” do chính phủ Bush để lại. Nhưng ông sẽ không thể nói như thế mãi được.

Một điều an ủi cho ông Obama là trong khi sản lượng giảm xuống như vậy, nếu nhìn kỹ các chi tiết sẽ thấy những điềm tốt, đủ để cho các nhà đầu tư nuôi hy vọng. Các chỉ số thị trường chứng khoán ở Mỹ và Tokyo đều tăng lên sau khi coi bản tin kinh tế xuống 6.1%, chứng tỏ bên trong tin xấu có những dấu hiệu có thể mừng!

Một dấu hiệu tốt là tình trạng sản lượng đi xuống bắt nguồn từ việc các xí nghiệp bớt đầu tư và cắt sản xuất để đem hàng tồn kho bán ra, trong khi đó giới tiêu thụ ở Mỹ lại chi tiêu thêm và có vẻ lạc quan về tương lai.

Trong quý thứ nhất năm 2009 các công ty sản xuất ở Mỹ đã giảm 52% số tiền đầu tư vào các máy móc, thiết bị. Riêng việc tiết giảm đó đã khiến cho tổng sản lượng nội địa bớt đi gần 9% nếu không có những bộ phận khác tăng lên để bù lại. Một lãnh vực được gia tăng giúp giảm bớt ảnh hưởng xấu trên là do người tiêu thụ đóng góp. Số tiêu thụ của dân Mỹ đã tăng thêm với tỷ lệ 2.2% một năm. Tỷ số nhỏ nhưng quan trọng, vì tiền tiêu thụ vẫn chiếm một bộ phận cao nhất trong kinh tế Mỹ, trước đây lên tới 70% của tổng sản lượng nội địa, bây giờ dù dân chúng tiết kiệm hơn nhưng vẫn chiếm trên 2 phần 3. Việc cứu nguy kinh tế Mỹ vẫn là các công dân Nguyễn Thị Tiêu Thụ - Jane The Consumer! Trong quý chót năm 2008 quý vị “người tiêu thụ” đã thắt lưng buộc bụng, cắt bớt chi tiêu 4.3%, một cú đá mạnh vào cả nền kinh tế! Ba tháng đầu năm nay nhờ giới tiêu thụ đi mua “sale” nên tiêu nhiều hơn 2.2%. Họ đã giúp GDP tăng thêm được 1.5%, nếu không thì tỷ lệ suy sụp toàn thể sẽ không nhỏ như con số 6.1% đã báo cáo. Trong số hàng tiêu thụ thuộc quý đầu năm 2009, một điểm sáng nổi bật là những món hàng lâu bền có thể dùng trên 3 năm đã lên cao, tăng vọt với tỷ lệ 9%. Ðây là một tín hiệu rất đáng mừng.

Trong quý đầu năm nay, số hàng tồn kho của các công ty Mỹ đã giảm bớt 108 tỷ đô la, so với con số giảm 26 tỷ vào ba tháng cuối năm 2008. Ðiều này giải thích được một phần tại sao các công ty giảm bớt sản xuất và giảm số công nhân khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 8.5%. Các xí nghiệp lấy hàng trong kho ra bán trong khi chờ đợi coi tương lai ra sao trước khi tính chuyện sản xuất lại và đầu tư thêm. Nhưng các con số này cũng báo trước một dấu hiệu tốt: Sau khi hàng tồn kho giảm suốt 6 tháng qua rồi thì chắc chắn sắp đến ngày các xí nghiệp ở Mỹ sẽ phải sản xuất trở lại để có hàng bán. Và khi nào thấy kinh tế có vẻ phục hồi thì họ sẽ phải đầu tư và sản xuất nhiều hơn để khỏi bị các xí nghiệp đối thủ cạnh tranh chiếm mất thị trường. Nếu không kể số hàng lấy từ kho ra bán khiến hoạt động sản xuất đã giảm, thì tổng số cầu trong quý đầu năm 2009 chỉ giảm có 4.3%, rất thấp so với tỷ số tụt giảm 6.2% trong quý chót năm 2008. Ðây cũng là một tín hiệu chứng tỏ kinh tế có triển vọng tiếp tục hãm bớt tốc độ trên con đường đi xuống.

Chính phủ liên bang đã đóng vai trò tiêu tiền nhiều hơn trong lúc các xí nghiệp và người dân tiết giảm. Trong ba tháng đầu năm 2009, nhà nước đã tăng số chi tiêu với tốc độ 4%, thấp hơn tỷ lệ 7% vào cuối năm ngoái. Nhưng chúng ta lại biết rằng hiện nay những món chi thuộc chương trình kích thích kinh tế của chính phủ Obama vẫn chưa bắt đầu tuôn mạnh vào nền kinh tế. Trong số gần 800 tỷ đô la kích thích kinh tế mới có 69 tỷ được phát ra, và mới chỉ có 14 tỷ đô la được thực sự chi tiêu. Như vậy thì trong mùa Hè và mùa Thu năm nay các món công chi còn tăng nhanh hơn nữa, giúp cho GDP được nâng lên.

Còn một dấu hiệu tốt nữa là tâm lý người tiêu thụ ở Mỹ đã tỏ ra lạc quan hơn, chỉ số tin tưởng tăng lên với tỷ lệ cao nhất trong ba năm qua, theo cuộc nghiên cứu dư luận vào Tháng Tư. Giá nhà bán vẫn xuống, nhưng tỷ lệ xuống lại thấp hơn tỷ lệ trong tháng Giêng. Ðây là điềm lành cho cả nền kinh tế vì tất cả cuộc khủng hoảng hiện nay bắt đầu từ lãnh vực địa ốc và hy vọng sẽ chấm dứt khi giá nhà ổn định.

Có lẽ cảm thấy yên tâm hơn cho nên trong phiên họp của ủy ban tiền tệ tuần này, Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang (Fed) đã giữ nguyên chính sách cũ không thay đổi. Ðặc biệt là họ vẫn chưa đi mua các công trái của chính phủ trên thị trường, một cách bơm thêm tiền vào nền kinh tế. Tin này khiến nhiều nhà đầu tư chứng khoán buồn nhưng lại giữ được không cho lãi suất giảm quá, một cách phòng ngừa trước nạn lạm phát trong tương lai. Và tình trạng bất động này cũng tạo cho các người lãnh đạo Fed giữ trong tay một khí cụ kích thích kinh tế chưa dùng để khi cần mới đem ra xài.

Còn vài tin chi tiết có vẻ khích lệ nữa trong bản báo cáo về kinh tế Mỹ trong ba tháng đầu năm 2009. Số hàng xuất nhập cảng đều giảm, nhưng hàng xuất giảm chỉ có 30% trong khi hàng nhập giảm 39%. Ði đúng hướng để giảm bớt cảnh thâm thủng trong cán cân thương mại nước Mỹ.

Sau 100 ngày làm tổng thống Mỹ, ông Obama có thể lạc quan hy vọng kinh tế sẽ phục hồi trong năm tới. Ðó là tin vui nhất cho ông, trong lúc cả thế giới đang lo bệnh Cúm Heo. Tuy nhiên, 100 ngày đó một thất bại lớn nhất của ông là đã không tạo được cảnh hai đảng chính trị cộng tác để cứu nguy kinh tế Mỹ, như ông đã hô hào khi tranh cử. Không ai thấy hình ảnh một người lãnh đạo Tòa Bạch Ốc ôn hòa và thỏa hiệp, như ông Obama muốn tạo cho chính mình. Trong các cuộc bỏ phiếu ở Quốc Hội, hầu như toàn thể đảng Cộng Hòa chống lại ông. Ngoài xã hội thì dư luận đảng Cộng Hòa càng ngày càng đi về phía hữu, một thứ “hiệu ứng Obama.” Trước đây cựu Tổng Thống Gorges W. Bush đã được mô tả là một người gây cảnh “phân cực” chính trị nước Mỹ. Ông Obama có thể sẽ tái diễn tình trạng đó, dù đi theo chiều ngược lại. Một bài học cho ông Obama, là phải biết thỏa hiệp nhiều hơn, không nên nuôi tham vọng thay đổi xã hội Mỹ quá trớn. Ngay trong đảng Dân Chủ thành phần ôn hòa cũng đã chứng tỏ họ rất độc lập với ông tổng thống cùng đảng với họ. Ngay cả người mới đổi đảng như Nghị Sĩ Specter, cũng không thể biết chắc lúc nào ông ấy bỏ phiếu ra sao!

Post Reply